Ban đầu, Đức Chúa Trời sáng tạo trời và đất.
Đất không có hình dạng và trống không, bóng tối bao trùm mặt vực, và Thần của Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước.
Đức Chúa Trời phán: “Phải có ánh sáng,” thì có ánh sáng.
Đức Chúa Trời thấy ánh sáng là tốt đẹp. Đức Chúa Trời phân rẽ ánh sáng khỏi bóng tối.
Đức Chúa Trời gọi ánh sáng là “ngày,” và bóng tối là “đêm.” Vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ nhất.
Đức Chúa Trời lại phán: “Phải có một cái vòm giữa khối nước để phân cách nước với nước.”
Đức Chúa Trời làm nên vòm trời và phân cách nước ở dưới vòm với nước ở trên vòm, thì có như vậy.
Đức Chúa Trời gọi cái vòm là “bầu trời.” Vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ hai.
Đức Chúa Trời phán: “Nước dưới bầu trời phải tụ lại một nơi và phải có chỗ khô cạn xuất hiện,” thì có như vậy.
Đức Chúa Trời gọi chỗ khô cạn là “đất,” còn khối nước tụ lại là “biển.” Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp.
Đức Chúa Trời phán: “Đất phải sinh thảo mộc: cỏ kết hạt giống, cây trên đất tùy theo loại mà ra trái và kết hạt,” thì có như vậy.
Đất sinh cây cỏ: cỏ kết hạt tùy theo loại, cây ra trái và trong trái có hạt, tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp.
Vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ ba.
Đức Chúa Trời phán: “Phải có các vì sáng trên vòm trời để phân biệt ngày với đêm, để làm dấu hiệu xác định các mùa, ngày và năm;
và để làm các vì sáng trên vòm trời soi sáng quả đất,” thì có như vậy.
Đức Chúa Trời tạo nên hai vì sáng lớn: vì sáng lớn hơn để cai quản ban ngày, vì sáng nhỏ hơn để cai quản ban đêm. Ngài cũng tạo nên các ngôi sao.
Đức Chúa Trời đặt các vì sáng đó trên vòm trời để soi sáng quả đất,
cai quản ban ngày và ban đêm, và phân rẽ ánh sáng khỏi bóng tối. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp.
Vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ tư.
Đức Chúa Trời phán: “Nước phải đầy dẫy các loài thủy sinh vật, và phải có các loài chim bay lượn trên mặt đất dưới vòm trời.”
Đức Chúa Trời sáng tạo các loài cá khổng lồ, mọi loài động vật thủy sinh, tùy theo loại mà sinh sôi nẩy nở trong nước, và mọi loài chim có cánh tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp.
Đức Chúa Trời ban phước cho các loài đó và phán: “Hãy sinh sôi nẩy nở thật nhiều, làm cho đầy dẫy dưới biển; còn các loài chim hãy gia tăng thật nhiều trên đất.”
Vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ năm.
Đức Chúa Trời phán: “Đất phải sinh các động vật tùy theo loại: gia súc, các loài bò sát và thú rừng tùy theo loại,” thì có như vậy.
Đức Chúa Trời tạo nên các loài thú rừng tùy theo loại, gia súc tùy theo loại, và mọi loài bò sát trên đất tùy theo loại. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp.
Đức Chúa Trời phán: “Chúng Ta hãy tạo nên loài người theo hình ảnh Chúng Ta và giống như Chúng Ta, để quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài gia súc, và khắp cả đất, cùng mọi loài bò sát trên mặt đất.”
Đức Chúa Trời sáng tạo loài người theo hình ảnh Ngài. Ngài sáng tạo loài người theo hình ảnh Đức Chúa Trời. Ngài sáng tạo người nam và người nữ.
Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán: “Hãy sinh sản, gia tăng gấp bội và làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời và mọi loài bò sát trên mặt đất.”
Đức Chúa Trời lại phán: “Nầy, Ta sẽ ban cho các con mọi thứ cỏ kết hạt mọc khắp mặt đất, cùng mọi loài cây ra trái có hạt. Đó sẽ là thức ăn cho các con.
Còn các loài thú rừng, loài chim trên trời, loài vật bò sát trên mặt đất, và bất cứ loài nào có sự sống thì Ta ban mọi thứ cỏ xanh dùng làm thức ăn,” thì có như vậy.
Đức Chúa Trời thấy mọi việc Ngài đã tạo dựng thật rất tốt đẹp. Vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ sáu.
Như vậy, trời đất và muôn vật đã được sáng tạo xong.
Ngày thứ bảy, Đức Chúa Trời hoàn tất các công việc Ngài đã làm. Vì thế, vào ngày thứ bảy Ngài nghỉ. Ngài đã làm xong mọi công việc.
Ngài ban phước cho ngày thứ bảy và thánh hóa ngày đó, vì vào ngày đó Ngài nghỉ sau khi đã làm xong mọi công việc sáng tạo.
Đó là gốc tích sáng tạo trời và đất. Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời làm nên trời và đất,
thì trên đất chưa có bụi cây nào mọc ngoài đồng và cũng chưa có ngọn cỏ nào mọc trong ruộng, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chưa cho mưa xuống đất, và cũng chưa có người cày xới đất đai.
Nhưng có hơi nước từ dưới đất bốc lên, tưới khắp mặt đất.
Bấy giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sinh khí vào lỗ mũi, thì người trở nên một sinh linh.
Sau đó, Giê-hô-va Đức Chúa Trời lập một khu vườn tại Ê-đen, ở hướng đông, và đặt người mà Ngài vừa dựng nên ở đó.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt và ăn ngon. Giữa vườn có cây sự sống và cây biết điều thiện, điều ác.
Một dòng sông từ Ê-đen chảy ra để tưới vườn, và từ đó chia thành bốn nhánh.
Nhánh thứ nhất là Bi-sôn, nhánh nầy chảy quanh vùng đất Ha-vi-la, là nơi có vàng.
Vàng ở vùng nầy rất tốt; ở đó còn có nhũ hương và bích ngọc.
Nhánh sông thứ nhì tên là Ghi-hôn, chảy quanh vùng đất Cút.
Nhánh sông thứ ba tên là Ti-gơ-rít, chảy về phía đông lãnh thổ A-si-ri. Còn nhánh sông thứ tư là sông Ơ-phơ-rát.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời đem con người vào trong vườn Ê-đen để canh tác và gìn giữ vườn.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời truyền phán với con người rằng: “Con được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn,
nhưng về trái của cây biết điều thiện và điều ác thì con không được ăn, vì ngày nào con ăn trái cây đó, chắc chắn con sẽ chết.”
Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán: “Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ tạo nên một người giúp đỡ thích hợp với nó.”
Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy đất nắn nên mọi loài thú đồng và chim trời, rồi đưa đến trước mặt con người để xem con người đặt tên chúng là gì, và bất cứ tên nào con người đặt cho mỗi sinh vật đều thành tên riêng của nó.
A-đam đặt tên cho mọi loài gia súc và chim trời cùng mọi loài thú rừng; nhưng phần A-đam thì chẳng tìm được một ai giúp đỡ thích hợp với mình.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến cho A-đam ngủ mê, và lấy đi một xương sườn, rồi lấp thịt thế vào.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời dùng chiếc xương sườn đã lấy từ A-đam dựng nên một người nữ và đưa đến cho A-đam.
A-đam nói: “Bây giờ mới có người nầy, Là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi. Nàng sẽ được gọi là người nữ, Vì từ người nam mà có.”
Bởi vậy, người nam sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai trở nên một thịt.
A-đam và vợ, cả hai đều trần truồng nhưng không thấy ngượng ngùng.
Trong các loài thú đồng mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã tạo nên, rắn là loài quỷ quyệt hơn cả. Rắn nói với người nữ: “Có thật Đức Chúa Trời đã dặn các người không được ăn trái các cây trong vườn sao?”
Người nữ nói với con rắn: “Chúng tôi được ăn trái của các cây trong vườn,
nhưng về trái của cây trồng giữa vườn, Đức Chúa Trời đã phán: ‘Các con không được ăn, cũng đừng đụng chạm đến trái cây ấy, kẻo các con sẽ chết’”.
Con rắn nói với người nữ: “Các người chắc chắn không chết đâu!
Vì Đức Chúa Trời biết rằng khi nào các người ăn trái cây đó thì mắt mở ra, và các người sẽ giống Đức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác.”
Khi người nữ thấy trái của cây đó bộ ăn ngon, lại đẹp mắt và quý vì làm cho mình khôn ngoan, thì hái và ăn, rồi trao cho chồng đang đứng bên cạnh; chồng cũng ăn nữa.
Bấy giờ mắt cả hai người đều mở ra và nhận biết mình trần truồng. Họ kết lá cây vả làm khố che thân.
Khi nghe tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời đi trong vườn lúc chiều mát, A-đam và vợ ẩn mình giữa các lùm cây trong vườn để tránh mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời kêu A-đam và hỏi: “Con ở đâu?”
A-đam thưa: “Nghe tiếng Chúa trong vườn, con sợ nên đi trốn, vì con trần truồng.”
Đức Chúa Trời hỏi: “Ai đã chỉ cho con biết mình trần truồng? Có phải con đã ăn trái cây mà Ta ra lệnh cấm ăn đó không?”
A-đam thưa: “Người nữ mà Chúa đặt bên con đã cho con trái cây đó và con đã ăn rồi.”
Giê-hô-va Đức Chúa Trời hỏi người nữ: “Con đã làm gì vậy?” Người nữ thưa: “Con rắn đã lừa dối con và con đã ăn rồi.”
Giê-hô-va Đức Chúa Trời quở trách con rắn: “Vì mầy đã làm điều đó Nên trong tất cả các loài gia súc và thú đồng, Chỉ có mầy bị nguyền rủa; Mầy sẽ bò bằng bụng Và ăn bụi đất trọn đời.
Ta sẽ làm cho mầy và người nữ, Dòng dõi mầy và dòng dõi người nữ thù nghịch nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, Còn mầy sẽ cắn gót chân người.”
Ngài phán với người nữ: “Ta sẽ gia tăng nhiều nỗi nhọc nhằn khi con mang thai, Và thêm nhiều đau đớn mỗi khi con sinh đẻ. Tuy nhiên, con vẫn ước muốn sống bên chồng, Và chồng sẽ cai trị con.”
Ngài phán với A-đam: “Vì con đã nghe theo lời vợ, Ăn trái cây mà Ta đã ra lệnh cấm ăn, Nên đất đai sẽ vì con mà bị nguyền rủa; Con phải khổ nhọc suốt đời mới có miếng ăn từ đất sinh ra.
Đất sẽ sinh gai góc và cây tật lê, Và con sẽ ăn rau cỏ ngoài đồng ruộng.
Con phải làm đổ mồ hôi trán Mới có miếng ăn Cho đến ngày con trở về đất, Là nơi con từ đó mà ra. Vì con là cát bụi, Con sẽ trở về với cát bụi.”
A-đam gọi vợ là Ê-va vì bà là mẹ của cả loài người.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy da thú kết thành chiếc áo dài cho vợ chồng A-đam rồi mặc vào cho họ.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời nghĩ: “Nầy, loài người đã trở nên một bậc như Chúng Ta, biết phân biệt điều thiện và điều ác. Vậy bây giờ hãy coi chừng, kẻo loài người đưa tay hái trái cây sự sống mà ăn và được sống đời đời chăng.”
Vì vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời truyền cho loài người ra khỏi vườn Ê-đen để cày xới đất đai, là nơi con người từ đó mà ra.
Ngài đuổi loài người ra khỏi vườn. Tại phía đông vườn Ê-đen, Ngài đặt các chê-ru-bim với thanh gươm sáng chói, xoay mọi hướng, để canh giữ con đường đi đến cây sự sống.
A-đam ăn ở với Ê-va, vợ mình. Bà thụ thai và sinh Ca-in. Bà nói: “Nhờ Đức Giê-hô-va giúp đỡ, tôi đã sinh được một người.”
Bà lại sinh A-bên, em Ca-in. A-bên chăn chiên, còn Ca-in làm ruộng.
Sau một thời gian, Ca-in dùng thổ sản làm lễ vật dâng lên Đức Giê-hô-va.
Còn A-bên dâng phần ngon nhất của chiên đầu lòng trong bầy mình. Đức Giê-hô-va đoái đến A-bên và lễ vật của ông,
nhưng Ngài không đoái đến Ca-in và lễ vật của ông. Vì thế, Ca-in giận lắm và sa sầm nét mặt.
Đức Giê-hô-va hỏi Ca-in: “Tại sao con giận? Sao con sa sầm nét mặt?
Nếu con làm điều tốt thì lẽ nào con không được chấp nhận? Còn nếu con không làm điều tốt thì tội lỗi rình rập trước cửa, nó thèm con lắm; nhưng con phải quản trị nó.”
Ca-in nói chuyện với A-bên, em mình. Khi hai người đang ở ngoài đồng thì Ca-in xông đến A-bên và giết đi.
Đức Giê-hô-va hỏi Ca-in: “A-bên, em con ở đâu?” Ca-in thưa: “Con không biết. Con là người giữ em con sao?”
Đức Giê-hô-va hỏi: “Con đã làm điều gì vậy? Tiếng của máu em con từ dưới đất đã kêu thấu đến Ta.
Bây giờ, con bị nguyền rủa phải rời khỏi mảnh đất nầy, là đất đã hả miệng hút máu em con đổ ra bởi tay con.
Khi con canh tác, đất sẽ chẳng sinh hoa lợi cho con nữa. Con sẽ lẩn trốn và phiêu bạt trên đất.”
Ca-in thưa với Đức Giê-hô-va: “Hình phạt nầy quá sức chịu đựng của con.
Nầy, ngày nay Chúa đuổi con ra khỏi đất nầy, con sẽ bị che khuất khỏi mặt Chúa và lẩn trốn, phiêu bạt trên đất; và rồi, có ai đó gặp con, họ sẽ giết con.”
Đức Giê-hô-va phán: “Không đâu! Nhưng nếu ai giết Ca-in, người ấy sẽ bị báo thù gấp bảy lần.” Đức Giê-hô-va đánh dấu trên người Ca-in để ai gặp Ca-in thì không giết.
Ca-in lui ra khỏi sự hiện diện của Đức Giê-hô-va và ở trong đất Nốt, về phía đông của Ê-đen.
Ca-in ăn ở với vợ, nàng thụ thai và sinh Hê-nóc. Ca-in xây một cái thành và đặt tên là Hê-nóc, theo tên con trai mình.
Hê-nóc sinh Y-rát; Y-rát sinh Mê-hu-da-ên; Mê-hu-da-ên sinh Mê-tu-sa-ên; Mê-tu-sa-ên sinh Lê-méc.
Lê-méc cưới hai vợ; một người tên là A-đa, một người tên là Si-la.
A-đa sinh Gia-banh; Gia-banh là tổ phụ của các dân sống trong lều trại và nuôi gia súc.
Em của Gia-banh là Giu-banh, tổ phụ của những người chơi thụ cầm và thổi sáo.
Còn Si-la sinh Tu-banh Ca-in, là người rèn đủ các loại dụng cụ bén bằng đồng và sắt. Em gái của Tu-banh Ca-in là Na-a-ma.
Lê-méc nói với hai vợ mình: “Hỡi A-đa và Si-la! Hãy nghe tiếng ta; Nầy, các người vợ Lê-méc, hãy lắng tai nghe ta nói: Ta đã giết một người vì gây thương tích cho ta, Và một đứa trẻ vì đánh ta sưng bầm.
Nếu Ca-in được báo thù bảy lần, Thì Lê-méc sẽ được báo oán bảy mươi bảy lần.”
A-đam lại ăn ở với vợ, bà sinh được một trai, đặt tên là Sết, vì bà nói: “Đức Chúa Trời đã cho tôi một đứa con khác thay cho A-bên đã bị Ca-in giết.”
Sết cũng sinh được một trai, đặt tên là Ê-nót. Từ đó, người ta bắt đầu cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va.
Đây là gia phả của A-đam. Khi Đức Chúa Trời sáng tạo loài người, Ngài tạo nên loài người giống như Đức Chúa Trời.
Ngài sáng tạo người nam và người nữ, ban phước cho họ, và đặt tên là “người” khi Ngài sáng tạo họ.
A-đam được một trăm ba mươi tuổi thì sinh một con trai, hình dạng giống như mình và đặt tên là Sết.
Sau khi sinh Sết, A-đam còn sống được tám trăm năm, sinh con trai con gái.
Vậy A-đam sống được chín trăm ba mươi năm, rồi qua đời.
Sết được một trăm lẻ năm tuổi thì sinh Ê-nót.
Sau khi sinh Ê-nót, Sết còn sống được tám trăm lẻ bảy năm, sinh con trai con gái.
Vậy Sết sống được chín trăm mười hai năm, rồi qua đời.
Ê-nót được chín mươi tuổi thì sinh Kê-nan.
Sau khi sinh Kê-nan, Ê-nót còn sống được tám trăm mười lăm năm, sinh con trai con gái.
Vậy Ê-nót sống được chín trăm lẻ năm năm, rồi qua đời.
Kê-nan được bảy mươi tuổi thì sinh Ma-ha-la-le.
Sau khi sinh Ma-ha-la-le, Kê-nan còn sống được tám trăm bốn mươi năm, sinh con trai con gái.
Vậy Kê-nan sống được chín trăm mười năm, rồi qua đời.
Ma-ha-la-le được sáu mươi lăm tuổi thì sinh Giê-rệt.
Sau khi sinh Giê-rệt, Ma-ha-la-le còn sống được tám trăm ba mươi năm, sinh con trai con gái.
Vậy Ma-ha-la-le sống được tám trăm chín mươi lăm năm, rồi qua đời.
Giê-rệt được một trăm sáu mươi hai tuổi thì sinh Hê-nóc.
Sau khi sinh Hê-nóc, Giê-rệt còn sống được tám trăm năm, sinh con trai con gái.
Vậy Giê-rệt sống được chín trăm sáu mươi hai năm, rồi qua đời.
Hê-nóc được sáu mươi lăm tuổi thì sinh Mê-tu-sê-la.
Sau khi sinh Mê-tu-sê-la, Hê-nóc đồng hành với Đức Chúa Trời trong ba trăm năm, sinh con trai con gái.
Vậy Hê-nóc sống ba trăm sáu mươi lăm năm.
Hê-nóc cùng đi với Đức Chúa Trời, rồi biến mất, vì Đức Chúa Trời đón ông đi.
Mê-tu-sê-la được một trăm tám mươi bảy tuổi thì sinh Lê-méc.
Sau khi sinh Lê-méc, Mê-tu-sê-la còn sống được bảy trăm tám mươi hai năm, sinh con trai con gái.
Vậy Mê-tu-sê-la sống được chín trăm sáu mươi chín năm, rồi qua đời.
Lê-méc được một trăm tám mươi hai tuổi thì sinh một trai,
đặt tên là Nô-ê, và nói: “Trong công việc của chúng ta, trong nỗi lao khổ nhọc nhằn của tay chúng ta, đứa con nầy sẽ đem lại cho chúng ta niềm an ủi xuất phát từ đất mà Đức Giê-hô-va đã nguyền rủa.”
Sau khi sinh Nô-ê, Lê-méc còn sống được năm trăm chín mươi lăm năm, sinh con trai con gái.
Vậy Lê-méc sống được bảy trăm bảy mươi bảy năm, rồi qua đời.
Khi Nô-ê được năm trăm tuổi thì sinh Sem, Cham và Gia-phết.
Loài người bắt đầu gia tăng trên mặt đất và sinh ra nhiều con gái.
Các con trai của Đức Chúa Trời thấy con gái loài người xinh đẹp thì cưới những người nào họ chọn để làm vợ.
Đức Giê-hô-va phán: “Thần Ta sẽ không ngự trị mãi trong loài người vì họ chỉ là xác phàm, đời người sẽ chỉ còn một trăm hai mươi năm mà thôi.”
Vào thời bấy giờ và sau đó có những người khổng lồ xuất hiện trên mặt đất, vì con trai Đức Chúa Trời ăn ở với con gái loài người rồi sinh con cái. Đó là những anh hùng thuở xưa, là những người danh tiếng.
Đức Giê-hô-va thấy sự gian ác của loài người lan tràn trên mặt đất và chúng chỉ luôn toan tính những mưu đồ xấu xa,
thì Ngài lấy làm tiếc vì đã tạo dựng loài người trên mặt đất, và đau buồn trong lòng.
Đức Giê-hô-va phán: “Ta sẽ xóa sạch khỏi mặt đất loài người mà Ta đã tạo dựng, từ loài người cho đến loài súc vật, loài bò sát, loài chim trời, vì Ta lấy làm tiếc đã dựng nên chúng.”
Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va.
Đây là dòng dõi của Nô-ê. Trong thế hệ mình, Nô-ê là một người công chính và trọn vẹn; ông cùng đi với Đức Chúa Trời.
Nô-ê sinh ba con trai là Sem, Cham và Gia-phết.
Thế gian bấy giờ đều bại hoại trước mặt Đức Chúa Trời và đầy dẫy điều hung bạo.
Đức Chúa Trời nhìn xem thế gian, thấy chúng bại hoại, vì mọi người trên đất đều theo lối sống băng hoại.
Đức Chúa Trời phán với Nô-ê: “Ta đã quyết định tận diệt mọi người, vì do chúng mà thế gian đầy dẫy điều hung bạo. Nầy, Ta sẽ tiêu diệt chúng khỏi mặt đất.
Con hãy đóng một chiếc tàu bằng gỗ gô-phe, chia thành từng phòng và trét nhựa chai cả trong lẫn ngoài.
Con hãy đóng tàu như thế nầy: Chiều dài một trăm năm mươi mét, chiều rộng hai mươi lăm mét, chiều cao mười lăm mét.
Con cũng làm một mái che cho tàu, mái lợp cách tàu nửa mét, và trổ một cửa bên hông tàu. Con sẽ làm tầng dưới, tầng giữa và tầng trên.
Còn Ta, Ta sẽ dẫn nước lụt đến trên đất để tiêu diệt tất cả các loài xác thịt có hơi thở ở dưới trời. Mọi vật trên đất đều sẽ chết hết.
Nhưng Ta sẽ lập giao ước với con, rồi con sẽ vào tàu cùng với vợ, các con trai và các con dâu của mình.
Về các loài sinh vật, con hãy đem vào tàu mỗi loài một cặp, có đực có cái, có trống có mái, để giữ cho chúng cùng sống với con.
Chim tùy theo loại, súc vật tùy theo loại, loài bò sát tùy theo loại, mỗi loài một cặp, đều sẽ đến với con để con gìn giữ sự sống cho chúng.
Ngoài ra, con cũng đem theo các thứ thức ăn dự trữ để làm lương thực cho con và các loài đó.”
Nô ê làm mọi điều đúng như lời Đức Chúa Trời đã truyền phán.
Đức Giê-hô-va phán với Nô-ê: “Con và cả gia đình con hãy vào tàu, vì trong thế hệ nầy Ta thấy con là người công chính duy nhất trước mặt Ta.
Con hãy đem theo các loài thú vật thanh sạch, mỗi loài bảy cặp, đực và cái; còn loài không thanh sạch thì mỗi loài một cặp, đực và cái.
Con cũng đem theo các loài chim trời, mỗi thứ bảy cặp, trống và mái, để giữ giống trên khắp mặt đất.
Vì còn bảy ngày nữa, Ta sẽ đổ mưa xuống đất suốt bốn mươi ngày bốn mươi đêm, và Ta sẽ quét sạch khỏi mặt đất tất cả các sinh vật mà Ta đã dựng nên.”
Nô-ê làm theo mọi điều Đức Giê-hô-va đã truyền phán.
Nô-ê được sáu trăm tuổi khi trận lụt xảy ra trên đất.
Nô-ê cùng với vợ, các con trai và các con dâu đều vào tàu để tránh nước lụt.
Các loài vật thanh sạch và không thanh sạch, loài chim, loài bò sát trên đất,
từng cặp, đực và cái, đều cùng vào tàu với Nô-ê, đúng như lời Đức Chúa Trời đã truyền phán.
Bảy ngày sau, nước lụt tràn đến trên đất.
Đúng vào ngày mười bảy, tháng hai, năm thứ sáu trăm của đời Nô-ê, các nguồn của vực lớn nổ tung, và các cửa đập trên trời mở toang.
Mưa trút xuống đất suốt bốn mươi ngày và bốn mươi đêm.
Cũng chính trong ngày đó, Nô-ê và vợ, ba con trai là Sem, Cham và Gia-phết, và ba con dâu cùng vào tàu.
Họ và các loài thú rừng tùy theo loại, gia súc tùy theo loại, loài bò sát trên đất tùy theo loại, chim tùy theo loại, tức là tất cả loài có cánh,
đều từng cặp theo Nô-ê vào tàu. Mọi loài xác thịt có hơi thở,
một đực một cái, một trống một mái, tiến vào tàu, đúng như lời Đức Chúa Trời đã truyền phán với Nô-ê. Rồi Đức Giê-hô-va đóng cửa tàu lại.
Nước lụt phủ mặt đất suốt bốn mươi ngày. Nước dâng cao nâng chiếc tàu lên khỏi mặt đất.
Nước cứ lớn, dâng rất cao trên mặt đất và chiếc tàu nổi trên mặt nước.
Nước càng dâng cao trên đất, cao đến nỗi tất cả những ngọn núi cao dưới bầu trời đều bị ngập.
Nước phủ cao hơn các đỉnh núi đến bảy mét rưỡi.
Tất cả các loài xác thịt sống động trên mặt đất đều bị tiêu diệt, từ chim chóc, gia súc, thú rừng, loài bò lúc nhúc trên mặt đất, cho đến loài người.
Tất cả các loài có hơi thở trong lỗ mũi, tức là các loài sống trên đất liền, đều chết hết.
Ngài đã diệt sạch mọi sinh vật trên mặt đất, từ loài người cho đến loài thú, loài bò sát, và loài chim trời. Tất cả đều bị quét sạch khỏi đất, chỉ còn lại Nô-ê và các loài ở với ông trong tàu mà thôi.
Nước bao phủ mặt đất suốt một trăm năm mươi ngày.
Đức Chúa Trời nhớ đến Nô-ê cùng các loài thú rừng và gia súc ở trong tàu với ông, nên Ngài khiến một trận gió thổi ngang qua mặt đất và nước rút xuống.
Các nguồn của vực lớn và các cửa đập trên trời đóng lại, mưa từ trời không đổ xuống nữa.
Nước rút dần khỏi mặt đất. Sau một trăm năm mươi ngày, nước mới xuống thấp.
Vào ngày mười bảy, tháng bảy, chiếc tàu tấp trên núi A-ra-rát.
Nước cứ tiếp tục hạ dần cho đến tháng mười. Ngày mồng một tháng mười, các đỉnh núi mới lộ ra.
Sau bốn mươi ngày Nô-ê mở cửa sổ mà ông đã trổ trên tàu,
và thả con quạ ra. Quạ lượn đi lượn lại cho đến khi mặt đất khô hẳn.
Ông cũng thả con bồ câu ra để xem nước đã rút bớt trên mặt đất chưa.
Nhưng bồ câu không tìm được chỗ đáp nên bay trở về tàu với ông, vì nước còn phủ khắp mặt đất. Nô-ê đưa tay bắt lấy bồ câu đem vào tàu với mình.
Ông đợi thêm bảy ngày, rồi lại thả bồ câu ra khỏi tàu.
Đến chiều, bồ câu trở về với ông, và kìa, mỏ nó tha một lá ô-liu tươi! Nô-ê hiểu rằng nước đã rút bớt trên mặt đất.
Ông lại đợi thêm bảy ngày nữa, rồi thả con bồ câu ra; và lần nầy bồ câu không trở về với ông nữa.
Ngày mồng một, tháng giêng, năm thứ sáu trăm lẻ một, nước đã rút cạn trên mặt đất. Nô-ê giở mui tàu, và nhìn thấy mặt đất đã ráo.
Ngày hai mươi bảy tháng hai, đất đã hoàn toàn khô ráo.
Đức Chúa Trời phán với Nô-ê:
“Con hãy ra khỏi tàu cùng với vợ, các con trai và các con dâu mình.
Hãy đem ra khỏi tàu các sinh vật đã ở với con, là những loài xác thịt như chim, các loài thú, các loài bò sát trên đất, để chúng sinh sôi nẩy nở và gia tăng gấp bội trên đất.”
Vậy, Nô-ê cùng với vợ, các con trai và các con dâu ra khỏi tàu.
Tất cả các loài thú rừng, loài bò sát trên đất, loài chim cùng mọi vật sống động trên đất đều ra khỏi tàu, loài nào theo loài nấy.
Bấy giờ Nô-ê lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va. Ông bắt các loài thú thanh sạch và các loài chim thanh sạch làm tế lễ thiêu dâng lên bàn thờ.
Đức Giê-hô-va vui hưởng mùi thơm và tự nhủ: “Ta sẽ chẳng bao giờ vì loài người mà nguyền rủa đất nữa, dù tâm địa của loài người vẫn xấu xa từ lúc còn niên thiếu. Ta sẽ không bao giờ tiêu diệt các loài sinh vật như Ta đã làm nữa.
Ngày nào quả đất còn, Thì mùa gieo giống và gặt hái, mùa lạnh và nóng, Mùa hạ và mùa đông, ngày và đêm, Sẽ chẳng bao giờ chấm dứt.”
Đức Chúa Trời ban phước cho Nô-ê và các con trai ông. Ngài phán với họ: “Hãy sinh sản, gia tăng gấp bội, và làm cho đầy dẫy đất.
Tất cả các loài thú trên đất, các loài chim trời, các loài bò sát trên đất, và các loài cá biển, đều sẽ kinh sợ các con và bị trao vào tay các con.
Bất cứ loài vật nào di chuyển và có sự sống đều dùng làm thức ăn cho các con. Ta ban cho các con mọi vật ấy như Ta đã ban rau cỏ xanh cho các con.
Nhưng các con không được ăn thịt còn máu, tức là còn sự sống.
Chắc chắn Ta sẽ đòi lại máu của sinh mạng các con. Ta sẽ đòi lại máu đó từ mọi loài thú vật và Ta sẽ đòi lại sinh mạng con người từ tay đồng loại nó, tức là từ tay anh em nó.
Kẻ nào làm đổ máu người, Sẽ bị người khác làm đổ máu lại; Vì Đức Chúa Trời tạo nên loài người Theo hình ảnh của Ngài.
Vậy, các con hãy sinh sản, gia tăng gấp bội, làm cho lan tràn và đầy dẫy trên đất.”
Đức Chúa Trời phán với Nô-ê và các con trai đang ở với ông rằng:
“Nầy, Ta lập giao ước với các con và dòng dõi các con,
và với tất cả sinh vật đang ở với các con như loài chim, gia súc, thú rừng, tức là tất cả các loài ở trong tàu ra, cũng như với mọi loài thú sống trên đất sau nầy.
Vậy Ta lập giao ước với các con: Mọi loài xác thịt sẽ không bị nước lụt tiêu diệt nữa, và cũng không có trận lụt nào để hủy phá quả đất nữa.”
Đức Chúa Trời phán: “Đây là dấu hiệu về giao ước đời đời mà Ta lập giữa Ta với các con, với mọi loài sinh vật đang ở với các con, trải qua các thế hệ.
Ta đặt cầu vồng của Ta trên tầng mây để làm dấu hiệu về giao ước giữa Ta và quả đất.
Mỗi khi Ta giăng mây trên bầu trời và cầu vồng xuất hiện trên tầng mây,
Ta sẽ nhớ lại giao ước mà Ta đã lập với các con, cũng như với mọi sinh vật, mọi loài xác thịt, thì nước sẽ chẳng bao giờ trở thành trận lụt để hủy diệt mọi loài xác thịt nữa.
Khi cầu vồng xuất hiện trên tầng mây, Ta nhìn xem nó để nhớ lại giao ước đời đời giữa Đức Chúa Trời và mọi sinh vật, mọi loài xác thịt trên đất.”
Đức Chúa Trời lại phán với Nô-ê: “Đó là dấu hiệu về giao ước mà Ta đã lập giữa Ta và mọi loài xác thịt trên đất.”
Các con trai của Nô-ê ở trong tàu ra là Sem, Cham và Gia-phết. Cham chính là cha của Ca-na-an.
Đó là ba con trai của Nô-ê, và từ họ mà có loài người phân bố khắp mặt đất.
Nô-ê làm nghề nông. Ông là người đầu tiên trồng nho.
Ông uống rượu say mèm, rồi cởi áo quần nằm giữa trại mình.
Cham, là cha Ca-na-an, thấy sự trần truồng của cha thì ra ngoài thuật lại cho hai anh mình.
Sem và Gia-phết lấy áo choàng, vắt trên vai, rồi đi thụt lùi đến đắp lại cho cha. Họ quay mặt đi chỗ khác nên hoàn toàn không nhìn thấy sự trần truồng của cha mình.
Khi Nô-ê tỉnh rượu, biết được việc người con út đã làm cho mình,
thì nói: “Ca-na-an đáng nguyền rủa! Nó sẽ làm nô lệ thấp hèn nhất cho anh em nó.”
Ông còn nói: “Chúc tạ Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Sem; Ca-na-an phải làm nô lệ cho Sem!
Cầu xin Đức Chúa Trời mở rộng bờ cõi Gia-phết, Và cho nó sống trong trại của Sem; Còn Ca-na-an phải làm nô lệ cho Gia-phết.”
Sau trận lụt, Nô-ê còn sống được ba trăm năm mươi năm nữa.
Nô-ê hưởng thọ chín trăm năm mươi tuổi, rồi qua đời.
Sau trận lụt, các con trai Nô-ê là Sem, Cham và Gia-phết sinh con cái. Đây là dòng dõi của họ:
Con trai của Gia-phết là Gô-me, Ma-gốc, Ma-đai, Gia-van, Tu-banh, Mê-siếc, và Ti-ra.
Con trai của Gô-me là Ách-kê-na, Ri-phát, và Tô-ga-ma.
Con trai của Gia-van là Ê-li-sa và Ta-rê-si, Kít-tim và Rô-đa-nim.
Từ họ mà có các dân tộc lan đến các đảo; mỗi dân tộc tùy theo ngôn ngữ, gia tộc riêng, mà sống trên đất nước mình.
Con trai của Cham là Cút, Ai Cập, Phút và Ca-na-an.
Con trai của Cút là Xê-ba, Ha-vi-la, Sáp-ta, Ra-ê-ma và Sáp-tê-ca; con trai của Ra-ê-ma là Sê-ba và Đê-đan.
Cút sinh Nim-rốt. Nim-rốt là anh hùng đầu tiên trên mặt đất.
Ông là một thợ săn dũng mãnh trước mặt Đức Giê-hô-va; vì thế mới có câu tục ngữ: “Giống như Nim-rốt, một thợ săn dũng mãnh trước mặt Đức Giê-hô-va!”
Khởi đầu vương quốc của ông gồm Ba-bên, Ê-rết, A-cát và Ca-ne trong đất Si-nê-a.
Từ vùng đất đó, ông tiến vào A-si-ri, và xây dựng thành Ni-ni-ve, Rê-hô-bô-ti, Ca-lách,
và Rê-sen. Rê-sen nằm giữa thành Ni-ni-ve và thành lớn Ca-lách.
Ai Cập là tổ tiên dân Lu-đim, A-na-mim, Lê-ha-bim, Náp-tu-him,
Phát-ru-sim, Cách-lu-him (là tổ tiên của dân Phi-li-tin), và Cáp-tô-rim.
Ca-na-an sinh Si-đôn, là trưởng nam, và Hếch.
Ca-na-an là tổ tiên của các dân Giê-bu-sít, A-mô-rít, Ghi-rê-ga-sít,
Hê-vít, A-rê-kít, Si-nít,
A-va-đít, Xê-ma-rít, Ha-ma-tít. Sau đó, các gia tộc Ca-na-an phân tán khắp nơi.
Còn lãnh thổ Ca-na-an mở rộng từ Si-đôn, theo hướng Ghê-ra thì đến tận Ga-xa; theo hướng Sô-đôm, Gô-mô-rơ, Át-ma và Sê-bô-im thì đến tận Lê-sa.
Đó là con cháu của Cham, phân bố theo gia tộc, ngôn ngữ, đất đai và dân tộc của họ.
Sem, anh cả của Gia-phết, là tổ phụ của dòng dõi Hê-be, cũng có các con trai.
Con trai của Sem là Ê-lam, A-su-rơ, A-pác-sát, Lút và A-ram.
Con trai của A-ram là Út-xơ, Hu-lơ, Ghê-te và Mách.
Còn A-pác-sát sinh Sê-lách; Sê-lách sinh Hê-be,
Hê-be sinh được hai con trai: người anh tên là Pê-léc, vì vào thời của ông các dân trên đất phân tán ra; người em tên là Giốc-tan.
Giốc-tan sinh A-mô-đát, Sê-lép, Ha-sa-ma-vết, Giê-rách,
Ha-đô-ram, Út-xơ, Điếc-la,
Ô-banh, A-bi-ma-ên, Sê-ba,
Ô-phia, Ha-vi-la và Giô-báp. Tất cả những người đó đều là con trai của Giốc-tan.
Lãnh thổ của họ từ Mê-sa mở rộng về hướng Sê-pha, là vùng đồi núi phía đông.
Đó là con cháu của Sem, phân bố theo gia tộc, ngôn ngữ, đất đai và dân tộc của họ.
Trên đây là các gia tộc của ba con trai Nô-ê, sắp xếp theo phổ hệ, dân tộc của họ. Từ nơi họ mà các dân tộc được phân bố khắp trên mặt đất sau trận lụt.
Bấy giờ cả thế giới đều có cùng một ngôn ngữ và dùng chung các ngôn từ.
Từ phương Đông, họ ra đi và gặp một đồng bằng trong đất Si-nê-a và định cư tại đó.
Họ nói với nhau: “Nào, chúng ta hãy làm gạch và nung trong lửa.” Thời đó, người ta dùng gạch thay cho đá, và nhựa chai thế cho hồ.
Họ còn nói: “Nào, chúng ta hãy xây cho mình một thành và dựng một tháp có đỉnh cao đến tận trời để chúng ta được nổi danh và không bị tản lạc khắp trên mặt đất.”
Đức Giê-hô-va ngự xuống để xem thành và tháp mà con cái loài người đang xây dựng.
Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, chúng cùng một dân tộc, chung một ngôn ngữ. Chúng mới khởi công mà đã như thế thì về sau sẽ không có việc gì chúng đã hoạch định mà không làm được.
Thôi! Chúng Ta hãy xuống, làm lộn xộn tiếng nói của chúng, để chúng không hiểu được tiếng nói của nhau.”
Rồi từ nơi đó, Đức Giê-hô-va làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ ngưng công việc xây cất thành.
Bởi vậy, chỗ đó được gọi là Ba-bên, vì tại đó Đức Giê-hô-va làm lộn xộn tiếng nói của cả thế giới, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp mặt đất.
Đây là dòng dõi của Sem. Hai năm sau trận lụt, Sem được một trăm tuổi, sinh A-bác-sát.
Sau khi sinh A-bác-sát, Sem còn sống được năm trăm năm, sinh thêm con trai con gái.
A-bác-sát được ba mươi lăm tuổi, sinh Sê-lách.
Sau khi sinh Sê-lách, A-bác-sát còn sống được bốn trăm lẻ ba năm, sinh con trai con gái.
Sê-lách được ba mươi tuổi, sinh Hê-be.
Sau khi sinh Hê-be, Sê-lách còn sống được bốn trăm lẻ ba năm, sinh thêm con trai con gái.
Hê-be được ba mươi bốn tuổi, sinh Pê-léc.
Sau khi sinh Pê-léc, Hê-be còn sống được bốn trăm ba mươi năm, sinh thêm con trai con gái.
Pê-léc được ba mươi tuổi, sinh Rê-hu.
Sau khi sinh Rê-hu, Pê-léc còn sống được hai trăm lẻ chín năm, sinh thêm con trai con gái.
Rê-hu được ba mươi hai tuổi, sinh Sê-rúc.
Sau khi sinh Sê-rúc, Rê-hu còn sống được hai trăm lẻ bảy năm, sinh thêm con trai con gái.
Sê-rúc được ba mươi tuổi, sinh Na-cô.
Sau khi sinh Na-cô, Sê-rúc còn sống được hai trăm năm, sinh thêm con trai con gái.
Na-cô được hai mươi chín tuổi, sinh Tha-rê.
Sau khi sinh Tha-rê, Na-cô còn sống được một trăm mười chín năm, sinh thêm con trai con gái.
Còn Tha-rê được bảy mươi tuổi, sinh Áp-ram, Na-cô và Ha-ran.
Đây là dòng dõi của Tha-rê: Tha-rê sinh Áp-ram, Na-cô và Ha-ran; Ha-ran sinh Lót.
Ha-ran qua đời tại quê hương mình, tức là U-rơ, thuộc xứ Canh-đê, khi cha của ông là Tha-rê còn sống.
Áp-ram và Na-cô cưới vợ; vợ Áp-ram tên là Sa-rai, còn vợ Na-cô tên là Minh-ca. Minh-ca và Dích-ca là con gái của Ha-ran.
Sa-rai hiếm muộn, không có con.
Tha-rê dẫn Áp-ram, con trai mình, Lót, con trai Ha-ran, cháu mình, và Sa-rai, vợ Áp-ram, tức dâu mình, cùng ra khỏi U-rơ, thuộc xứ Canh-đê, hướng đến Ca-na-an. Nhưng khi đến Cha-ran thì họ định cư tại đó.
Tha-rê hưởng thọ được hai trăm lẻ năm tuổi, rồi qua đời tại Cha-ran.
Đức Giê-hô-va phán với Áp-ram: “Hãy ra khỏi quê hương, bà con thân tộc và nhà cha của con để đi đến vùng đất Ta sẽ chỉ cho con.
Ta sẽ làm cho con thành một dân lớn, Ta sẽ ban phước cho con, Làm rạng rỡ danh con, Và con sẽ thành một nguồn phước.
Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước con, Nguyền rủa kẻ nào nguyền rủa con; Mọi dân trên đất Sẽ nhờ con mà được phước.”
Áp-ram ra đi theo lời Đức Giê-hô-va đã phán bảo; Lót cùng đi với ông. Áp-ram được bảy mươi lăm tuổi khi rời Cha-ran.
Áp-ram đưa Sa-rai, vợ mình, Lót, cháu mình, tất cả tài sản dành dụm được, và các gia nhân đã có tại Cha-ran, đến xứ Ca-na-an. Sau khi đến xứ Ca-na-an,
Áp-ram đi khắp xứ, đến chỗ cây sồi của Mô-rê tại Si-chem. Lúc đó, dân Ca-na-an đang còn ở trong xứ.
Đức Giê-hô-va hiện ra với Áp-ram và phán: “Ta sẽ ban xứ nầy cho dòng dõi con.” Tại đây, Áp-ram lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, là Đấng đã hiện ra với ông.
Từ đó, ông di chuyển đến vùng đồi núi phía đông Bê-tên, rồi đóng trại giữa Bê-tên ở phía tây, và A-hi ở phía đông. Ông cũng lập tại đó một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va và cầu khẩn danh Ngài.
Rồi Áp-ram tiếp tục di chuyển dần xuống vùng Nê-ghép.
Bấy giờ có một nạn đói xảy ra trong xứ. Áp-ram xuống Ai Cập tạm cư, vì nạn đói rất nghiêm trọng.
Khi sắp vào Ai Cập, Áp-ram bảo Sa-rai, vợ mình: “Anh biết em là một phụ nữ xinh đẹp.
Khi người Ai Cập thấy em, họ sẽ nói: ‘Đó là vợ hắn’; rồi họ sẽ giết anh, nhưng để em sống.
Vậy, em hãy xưng là em gái anh, để vì em mà anh được đối xử tốt, và nhờ em mà mạng sống anh được an toàn.”
Khi Áp-ram vào Ai Cập, người Ai Cập thấy người phụ nữ nầy rất xinh đẹp.
Các quan chức của Pha-ra-ôn thấy nàng thì trầm trồ trước mặt vua, và người phụ nữ nầy bị triệu vào cung Pha-ra-ôn.
Nhờ nàng mà Pha-ra-ôn hậu đãi Áp-ram, và Áp-ram được nhiều chiên, bò, lừa đực, lừa cái, lạc đà, tôi trai và tớ gái.
Nhưng cũng vì Sa-rai, vợ Áp-ram, Đức Giê-hô-va đã giáng trên Pha-ra-ôn và cả hoàng gia những tai ương nặng nề.
Pha-ra-ôn đòi Áp-ram đến và hỏi: “Ngươi đã làm gì cho ta vậy? Sao không cho ta biết nàng là vợ ngươi?
Tại sao ngươi nói: ‘Nàng là em gái tôi’ khiến ta đã lấy nàng làm vợ? Bây giờ, vợ ngươi đây, hãy nhận lại và đi đi.”
Pha-ra-ôn truyền lệnh cho thuộc hạ đưa Áp-ram và vợ ra đi cùng với tất cả tài sản ông có.
Từ Ai Cập, Áp-ram đưa vợ và các tài sản mình có cùng với Lót trở lên vùng Nê-ghép.
Áp-ram rất giàu về gia súc, bạc và vàng.
Từ Nê-ghép, ông đi từng chặng về Bê-tên, đến chỗ lần trước ông đã đóng trại, nằm giữa Bê-tên và A-hi,
là nơi lần đầu tiên ông lập bàn thờ. Tại đây, Áp-ram cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va.
Lót, người cùng đi với Áp-ram, cũng có nhiều chiên, bò, và lều trại.
Vùng đất đó không đủ chỗ cho hai người ở chung, vì tài sản họ nhiều đến nỗi không thể sống chung nhau được.
Hơn nữa, giữa những người chăn bầy của Áp-ram và Lót đã xảy ra tranh chấp. Bấy giờ dân Ca-na-an và dân Phê-rê-sít đang còn ở trong xứ.
Vậy, Áp-ram nói với Lót: “Chúng ta là cốt nhục, giữa bác và cháu, giữa những người chăn bầy của bác và của cháu, đừng tranh chấp nhau nữa.
Toàn vùng chẳng phải đang ở trước mặt cháu đó sao? Cháu hãy rời khỏi bác. Nếu cháu chọn bên trái, bác sẽ sang bên phải; nếu cháu chọn bên phải, bác sẽ sang bên trái.”
Lót ngước mắt lên và thấy khắp đồng bằng sông Giô-đanh đến tận thành Xoa. Trước khi Đức Giê-hô-va hủy diệt thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ, vùng nầy chỗ nào cũng có nước tưới tựa như vườn của Đức Giê-hô-va, như đất Ai Cập vậy.
Lót chọn cho mình toàn bộ đồng bằng sông Giô-đanh và đi về hướng đông. Vậy, hai bác cháu chia tay nhau.
Áp-ram định cư trong đất Ca-na-an, còn Lót định cư trong các thành của đồng bằng và dời trại mình đến Sô-đôm.
Dân Sô-đôm rất gian ác và phạm tội nghiêm trọng với Đức Giê-hô-va.
Sau khi Lót lìa khỏi Áp-ram, Đức Giê-hô-va phán với Áp-ram: “Từ chỗ con đang đứng, hãy ngước mắt lên nhìn khắp bốn phương, đông, tây, nam, bắc.
Tất cả vùng đất mà con thấy, Ta sẽ ban cho con và cho dòng dõi con đời đời.
Ta sẽ làm cho dòng dõi con đông như bụi trên đất; nếu ai đếm được bụi trên đất thì cũng đếm được dòng dõi của con.
Nào, hãy đi khắp chiều dài, chiều ngang của vùng đất, vì Ta sẽ ban đất ấy cho con.”
Áp-ram dời trại đến định cư gần những cây sồi của Mam-rê, thuộc Hếp-rôn, và lập tại đó một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va.
Trong thời Am-ra-phên làm vua Si-nê-a, A-ri-óc làm vua Ê-la-sa, Kết-rô-lao-me làm vua Ê-lam, và Ti-đanh làm vua Gô-im,
thì họ liên kết nhau gây chiến với vua Bê-ra của Sô-đôm, vua Bi-rê-sa của Gô-mô-rơ, vua Si-nê-áp của Át-ma, vua Sê-mê-bê của Xê-bô-im, và vua của Bê-la, tức là Xoa.
Năm vua vừa kể phối hợp lực lượng tại thung lũng Si-điêm, tức là Biển Chết.
Họ đã từng thần phục vua Kết-rô-lao-me suốt mười hai năm, nhưng đến năm thứ mười ba, thì họ nổi loạn.
Vào năm thứ mười bốn, Kết-rô-lao-me và các vua đồng minh đem quân đánh dẹp dân Rê-pha-im ở Ách-tê-rót Ca-na-im, dân Xu-xin tại Ham, dân Ê-mim ở đồng bằng Ki-ri-a-ta-im,
và dân Hô-rít trong vùng đồi núi Sê-i-rơ, cho đến tận Ên Pa-ran, giáp ranh với hoang mạc.
Rồi họ quay về Suối Phán Xét, tức Ca-đe, tiến chiếm toàn bộ lãnh thổ của dân A-ma-léc và dân A-mô-rít đang ở tại Hát-sát-sôn Tha-ma.
Các vua Sô-đôm, Gô-mô-rơ, Át-ma, Xê-bô-im và Bê-la, tức là Xoa, cùng hiệp lực và dàn quân tại thung lũng Si-điêm
để chống lại vua Kết-rô-lao-me của Ê-lam, vua Ti-đanh của Gô-im, vua Am-ra-phên của Si-nê-a, và vua A-ri-óc của Ê-la-sa; trong thế bốn vua đánh năm vua.
Thung lũng Si-điêm có rất nhiều hố nhựa chai; trong lúc thua chạy, vua Sô-đôm và vua Gô-mô-rơ đã rơi xuống đó, số còn lại thì chạy trốn lên núi.
Bốn vua ấy cướp hết của cải và lương thực của Sô-đôm và Gô-mô-rơ, rồi đi.
Họ cũng bắt cháu của Áp-ram là Lót, đang sống ở Sô-đôm, đem đi cùng với gia sản của ông.
Có một người thoát được đến báo cho Áp-ram, người Hê-bơ-rơ. Áp-ram đang sống gần các cây sồi của Mam-rê, người A-mô-rít, anh của Ếch-côn và A-ne; cả ba người nầy đều đã liên kết với Áp-ram.
Khi hay tin cháu mình bị bắt, Áp-ram huy động các gia nhân đã được huấn luyện, gồm ba trăm mười tám người, và truy đuổi các vua đó đến tận Đan.
Áp-ram phân bố lực lượng, ban đêm cho các đầy tớ tiến đánh và truy đuổi địch quân đến đất Hô-ba, nằm ở phía bắc của Đa-mách.
Ông đoạt lại tất cả các tài sản, và đưa cháu mình là Lót cùng tài sản, các phụ nữ và dân chúng trở về.
Sau khi Áp-ram chiến thắng Kết-rô-lao-me và các vua đồng minh trở về, vua Sô-đôm ra đón rước ông tại thung lũng Sa-ve, tức là thung lũng Vua.
Mên-chi-xê-đéc, vua Sa-lem, cũng là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời Chí Cao, đem bánh và rượu ra đón,
và chúc phước cho Áp-ram. Ông nói: “Nguyện Đức Chúa Trời Chí Cao, Đấng dựng nên trời và đất, Ban phước cho Áp-ram!
Chúc tụng Đức Chúa Trời Chí Cao Đấng đã trao kẻ thù vào tay ngươi!” Áp-ram dâng cho vua một phần mười chiến lợi phẩm.
Vua Sô-đôm nói với Áp-ram: “Ngươi chỉ cần giao người lại cho ta, còn tài sản thì ngươi giữ lấy.”
Nhưng Áp-ram nói: “Tôi đã giơ tay lên trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời Chí Cao, Đấng sáng tạo trời và đất, và thề rằng
tôi không lấy bất cứ thứ gì của vua, dù chỉ là một sợi chỉ, hay là một sợi dây giày, kẻo vua lại nói: ‘Ta làm giàu cho Áp-ram’.
Tôi không nhận gì cả ngoại trừ những gì các thanh niên tôi đã ăn, và phần thuộc về những người cùng đi với tôi, là A-ne, Ếch-côn và Mam-rê; hãy cho họ nhận phần của họ.”
Sau các việc đó, lời của Đức Giê-hô-va đến với Áp-ram qua một khải tượng: “Hỡi Áp-ram, đừng sợ! Ta là cái thuẫn cho con; phần thưởng của con sẽ rất lớn.”
Nhưng Áp-ram thưa: “Lạy Chúa là Đức Giê-hô-va, Chúa sẽ cho con điều gì? Con vẫn không có con cái, và người thừa kế gia sản của con là Ê-li-ê-se, người Đa-mách.”
Áp-ram còn nói: “Nầy, Chúa làm cho con tuyệt tự, và người nô lệ sinh ra trong nhà con sẽ là người thừa kế của con.”
Đức Giê-hô-va phán với Áp-ram: “Đó không phải là người thừa kế của con đâu, nhưng người từ gan ruột con mà ra mới là người thừa kế của con.”
Ngài dẫn ông ra ngoài và bảo: “Hãy nhìn lên bầu trời và nếu con đếm được các ngôi sao, thì hãy đếm đi.” Rồi Ngài lại nói với ông: “Dòng dõi con cũng sẽ như thế.”
Áp-ram tin Đức Giê-hô-va, nên Ngài kể ông là người công chính.
Đức Giê-hô-va cũng phán với Áp-ram: “Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng đã đem con ra khỏi U-rơ thuộc Canh-đê, để ban cho con đất nầy làm sản nghiệp.”
Nhưng Áp-ram thưa: “Lạy Chúa là Đức Giê-hô-va, làm sao con biết rằng mình sẽ được thừa hưởng đất nầy?”
Ngài đáp: “Con hãy đem cho Ta một con bò cái ba tuổi, một con dê cái ba tuổi, một con chiên đực ba tuổi, một con chim ngói và một con bồ câu con.”
Áp-ram dâng lên Ngài tất cả những lễ vật trên, xẻ chúng làm đôi và để mỗi bên một nửa đối nhau, nhưng không xẻ đôi các loài chim.
Chim săn mồi sà xuống trên các con thú chết đó, nhưng Áp-ram đuổi chúng đi.
Khi mặt trời vừa lặn, Áp-ram chìm vào một giấc ngủ mê; và nầy, bóng tối mịt mùng, kinh hãi và dày đặc ập xuống trên ông.
Đức Giê-hô-va phán với Áp-ram: “Con phải biết chắc rằng dòng dõi con sẽ làm kiều dân nơi đất khách, phải phục dịch cho dân bản xứ, và bị chúng áp bức trong bốn trăm năm.
Nhưng Ta sẽ phán xét dân tộc đã bắt dòng dõi con phục dịch, và sau đó họ sẽ ra khỏi đất đó với rất nhiều của cải.
Về phần con, con sẽ hưởng tuổi già hạnh phúc, rồi bình an trở về với tổ phụ mình trong mồ yên mả đẹp.
Đến thế hệ thứ tư, dòng dõi con sẽ trở lại đây, vì tội ác của dân A-mô-rít hiện chưa đến cực độ.”
Khi mặt trời lặn và bóng tối bao trùm, kìa, có một lò lửa đang bốc khói, và một ngọn đuốc cháy rực đi ngang qua giữa các con vật đã bị xẻ đôi.
Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va lập giao ước với Áp-ram rằng: “Ta ban cho dòng dõi con đất nầy, từ sông Ai Cập cho đến sông lớn kia, tức sông Ơ-phơ-rát,
là đất đai của các dân Kê-nít, Kê-nê-sít, Cát-mô-nít,
Hê-tít, Phê-rê-sít, Rê-pha-im,
A-mô-nít, Ca-na-an, Ghi-rê-ga-sít và Giê-bu-sít.”
Bấy giờ, Sa-rai, vợ của Áp-ram, vẫn không sinh con. Bà có một đầy tớ gái người Ai Cập, tên là A-ga.
Sa-rai bàn với Áp-ram: “Nầy, Đức Giê-hô-va đã không cho tôi sinh con. Vậy, ông hãy ăn ở với đầy tớ gái của tôi, có lẽ nhờ nó mà tôi được có con cái chăng.” Áp-ram nghe theo lời Sa-rai.
Sau khi Áp-ram cư trú mười năm trong đất Ca-na-an, Sa-rai, vợ Áp-ram, đem người đầy tớ gái Ai Cập của mình là A-ga đưa cho chồng làm hầu thiếp.
Ông đi lại với A-ga, và nàng mang thai. Khi biết mình mang thai, A-ga coi thường bà chủ mình.
Sa-rai nói với Áp-ram: “Ông phải chịu trách nhiệm về nỗi sỉ nhục của tôi. Tôi đã giao đầy tớ gái tôi vào lòng ông, và khi biết mình mang thai, nó lại coi thường tôi. Cầu xin Đức Giê-hô-va phân xử giữa tôi và ông!”
Áp-ram nói với Sa-rai: “Kìa, đứa tớ gái đó ở trong tay bà, bà muốn xử thế nào tùy ý.” Sa-rai hành hạ A-ga khiến nàng phải trốn khỏi bà.
Thiên sứ của Đức Giê-hô-va gặp nàng bên một suối nước trong hoang mạc, cạnh con đường đi về Su-rơ,
và hỏi: “Nầy A-ga, tớ gái của Sa-rai, ngươi từ đâu đến, và định sẽ đi đâu?” Nàng thưa: “Tôi trốn khỏi Sa-rai, bà chủ tôi.”
Thiên sứ của Đức Giê-hô-va bảo nàng: “Ngươi hãy trở về với chủ ngươi, và chịu lụy dưới tay bà ấy.”
Thiên sứ của Đức Giê-hô-va còn nói: “Ta sẽ làm cho dòng dõi ngươi tăng gấp bội, đông đến nỗi không thể đếm được.”
Thiên sứ lại nói: “Nầy, ngươi đang mang thai và sẽ sinh một trai, Hãy đặt tên nó là Ích-ma-ên, Vì Đức Giê-hô-va đã lắng nghe tiếng kêu than của ngươi.
Đứa trẻ đó sẽ như một con lừa rừng, Tay nó sẽ chống lại mọi người, Và tay mọi người chống lại nó. Nó sẽ ở trong thế đối nghịch với tất cả anh em mình.”
Nàng gọi Đức Giê-hô-va, Đấng đã phán với mình, là “Đức Chúa Trời đoái xem,” vì nàng nói: “Chẳng phải chính nơi nầy tôi đã thấy Đấng đoái xem tôi sao?”
Vì thế, giếng nầy được gọi là giếng La-chai Roi, nằm giữa Ca-đe và Bê-re.
A-ga sinh cho Áp-ram một con trai, và Áp-ram đặt tên con trai đó là Ích-ma-ên.
Khi A-ga sinh Ích-ma-ên cho Áp-ram thì Áp-ram đã được tám mươi sáu tuổi.
Khi Áp-ram được chín mươi chín tuổi, Đức Giê-hô-va hiện đến với ông và phán: “Ta là Đức Chúa Trời Toàn Năng; con hãy bước đi trước mặt Ta và sống thật trọn vẹn.
Ta sẽ lập giao ước với con, và làm cho dòng dõi con gia tăng gấp bội.”
Áp-ram quỳ sấp mặt xuống đất. Đức Chúa Trời phán với ông:
“Về phần Ta, đây là giao ước Ta lập với con: Con sẽ là tổ phụ của nhiều dân tộc.
Người ta sẽ không còn gọi con là Áp-ram, nữa, nhưng tên của con sẽ là Áp-ra-ham vì Ta lập con làm cha của nhiều dân tộc.
Ta sẽ làm cho con sinh sôi nẩy nở thật nhiều, từ nơi con sẽ ra nhiều dân tộc, và các vua cũng sẽ từ nơi con mà ra.
Ta sẽ lập giao ước với con và với dòng dõi con từ thế hệ nầy qua thế hệ khác; vì đây là giao ước đời đời để Ta làm Đức Chúa Trời của con và của dòng dõi con.
Ta sẽ ban cho con và dòng dõi con đất mà con đang tạm cư, tức toàn xứ Ca-na-an, làm cơ nghiệp đời đời. Ta sẽ là Đức Chúa Trời của họ.”
Đức Chúa Trời phán với Áp-ra-ham: “Chính con và dòng dõi con phải giữ giao ước của Ta từ thế hệ nầy qua thế hệ khác.
Đây là giao ước của Ta mà các con phải giữ, là giao ước giữa Ta và con cũng như dòng dõi con sau nầy: Đó là mọi người nam trong các con phải chịu cắt bì.
Các con phải chịu cắt da quy đầu, và đó sẽ là dấu hiệu của giao ước giữa Ta và các con.
Trải qua mọi thế hệ, mỗi người nam trong các con, dù được sinh ra trong nhà hay được mua về bằng tiền từ người ngoại bang, không thuộc về dòng giống của con, sau khi sinh được tám ngày đều phải chịu cắt bì.
Cả người được sinh ra trong nhà lẫn người được mua về bằng tiền đều buộc phải cắt bì. Như thế, giao ước của Ta trên thân thể các con là giao ước đời đời.
Người nam nào không chịu cắt bì, tức là không cắt da quy đầu, thì sẽ bị trục xuất khỏi dân chúng, vì người đó đã phá vỡ giao ước của Ta.”
Đức Chúa Trời phán với Áp-ra-ham: “Còn Sa-rai, vợ con, con đừng gọi nàng là Sa-rai nữa vì tên của nàng là Sa-ra.
Ta sẽ ban phước cho nàng, và qua nàng Ta sẽ ban cho con một con trai. Ta sẽ ban phước cho nàng, nàng sẽ là tổ mẫu của các dân tộc; vua chúa của các dân tộc đều từ nàng mà ra.”
Áp-ra-ham quỳ sấp mặt xuống đất, cười và thầm nghĩ trong lòng: “Một người đã trăm tuổi mà vẫn có con chăng? Sa-ra đã chín mươi tuổi mà còn sinh đẻ được sao?”
Áp-ra-ham thưa với Đức Chúa Trời: “Ước gì Ích-ma-ên được phước trước mặt Ngài!”
Đức Chúa Trời phán: “Không phải vậy đâu, Sa-ra, vợ của con sẽ sinh cho con một trai, và con sẽ đặt tên nó là Y-sác. Ta sẽ lập giao ước với nó, là giao ước đời đời cho dòng dõi nó.
Còn Ích-ma-ên, Ta đã nghe lời con cầu xin. Nầy, Ta sẽ ban phước cho nó, làm cho nó sinh sôi nẩy nở thật nhiều. Nó sẽ là tổ phụ của mười hai công hầu, và Ta sẽ làm cho nó thành một dân lớn.
Nhưng Ta sẽ lập giao ước với Y-sác mà Sa-ra sẽ sinh cho con vào khoảng thời gian nầy năm sau.”
Sau khi phán xong, Đức Chúa Trời rời Áp-ra-ham và ngự lên trời.
Ngay hôm ấy, Áp-ra-ham cắt bì cho Ích-ma-ên, con trai mình, và tất cả người nam, hoặc được sinh ra trong nhà hoặc được mua về bằng tiền, đúng như lời Đức Chúa Trời đã phán dạy ông.
Áp-ra-ham được chín mươi chín tuổi khi chịu cắt bì;
còn con ông là Ích-ma-ên được mười ba tuổi khi chịu cắt bì.
Áp-ra-ham và Ích-ma-ên cùng chịu cắt bì trong chính ngày đó.
Mọi người nam khác, hoặc được sinh ra trong nhà, hoặc được mua về bằng tiền từ người ngoại bang, đều cùng chịu cắt bì với ông.
Đức Giê-hô-va hiện ra với Áp-ra-ham gần các cây sồi của Mam-rê, khi ông đang ngồi nơi cửa trại vào lúc trời nắng gắt trong ngày.
Áp-ra-ham ngước mắt lên, thấy ba người đứng trước mặt mình. Vừa thấy họ, ông liền từ cửa trại chạy ra đón và quỳ sấp mặt xuống đất.
Ông nói: “Thưa chúa, nếu tôi được ơn trước mặt chúa, xin đừng bỏ qua đầy tớ Chúa.
Xin cho tôi lấy ít nước, mời quý ngài rửa chân rồi nằm nghỉ dưới bóng cây nầy.
Dù gì quý ngài cũng đã quá bộ đến nhà đầy tớ rồi, xin cho phép tôi đem một ít bánh để quý ngài lót dạ rồi hãy lên đường.” Các vị ấy nói: “Hãy cứ làm như điều ông nói.”
Áp-ra-ham vội vàng trở về trại, đến nói với Sa-ra: “Hãy mau lấy hai mươi ký tinh bột, nhồi và làm bánh đi.”
Áp-ra-ham chạy đến chỗ bầy gia súc, bắt một con bê béo tốt, giao cho đầy tớ để nhanh chóng nấu dọn.
Ông đem sữa tươi, sữa chua và thịt bê đã nấu xong, dọn ra trước mặt các vị ấy. Trong lúc họ ăn, ông đứng hầu dưới bóng cây.
Các vị ấy hỏi Áp-ra-ham: “Sa-ra vợ của con đâu?” Ông thưa: “Kìa, nàng đang ở trong trại.”
Một vị nói: “Khoảng thời gian nầy năm sau, ta chắc chắn sẽ trở lại đây với con, và lúc ấy Sa-ra, vợ con, sẽ có một con trai.” Sa-ra nghe được lời đó tại cửa trại, sau lưng vị ấy.
Cả Áp-ra-ham và Sa-ra đều đã già, tuổi đã cao. Sa-ra không còn khả năng sinh sản.
Vì thế, Sa-ra cười thầm và tự nhủ: “Già như tôi thế nầy mà còn được hưởng niềm vui đó sao? Hơn nữa, chúa tôi cũng đã già rồi!”
Đức Giê-hô-va hỏi Áp-ra-ham: “Tại sao Sa-ra cười và nghĩ rằng: ‘Có thật tôi già thế nầy mà vẫn sinh con được sao?’
Có điều gì quá khó cho Đức Giê-hô-va không? Đến kỳ đã định, năm sau Ta sẽ trở lại với con, và Sa-ra sẽ có một con trai.”
Vì sợ nên Sa-ra chối rằng: “Con có cười đâu!” Nhưng Ngài phán: “Thật con đã cười!”
Các vị ấy đứng dậy, rời khỏi đó và nhìn về hướng Sô-đôm. Áp-ra-ham cũng đi theo để tiễn bước họ.
Đức Giê-hô-va nói: “Lẽ nào Ta giấu Áp-ra-ham điều Ta sắp làm sao?
Áp-ra-ham chắc chắn sẽ thành một dân lớn và hùng mạnh; tất cả các dân tộc trên thế giới đều sẽ nhờ người mà được phước.
Ta đã chọn người để truyền dạy con cái và dòng dõi người sau nầy gìn giữ đường lối của Đức Giê-hô-va bằng cách làm điều công chính và ngay thẳng, để Đức Giê-hô-va thực hiện điều Ngài đã hứa với Áp-ra-ham.”
Đức Giê-hô-va phán: “Tiếng than trách về Sô-đôm và Gô-mô-rơ thật quá lớn, tội lỗi các thành đó thật nghiêm trọng!
Ta phải ngự xuống để xem chúng có làm như tiếng đã kêu thấu đến Ta không. Có hay không thì Ta sẽ biết.”
Vậy, các vị từ đó đi về phía Sô-đôm, nhưng Áp-ra-ham vẫn đứng chầu trước mặt Đức Giê-hô-va.
Áp-ra-ham đến gần và thưa: “Chúa sẽ tiêu diệt cả người công chính lẫn người gian ác sao?
Giả sử trong thành có năm mươi người công chính thì Ngài cũng sẽ tiêu diệt hết sao? Chẳng lẽ Ngài không vì năm mươi người công chính ở trong thành mà tha thứ cho thành đó sao?
Không bao giờ Chúa làm như vậy! Chẳng lẽ Chúa tiêu diệt người công chính chung với kẻ gian ác, xem người công chính cũng như kẻ gian ác sao? Không bao giờ Chúa làm như vậy! Đấng phán xét toàn thế gian lại không thực thi công lý sao?”
Đức Giê-hô-va đáp: “Nếu Ta tìm được trong Sô-đôm năm mươi người công chính, Ta sẽ vì những người đó mà tha thứ cả thành.”
Áp-ra-ham thưa tiếp: “Dù con vốn là thân tro bụi, cũng xin đánh bạo mà thưa với Chúa:
Nếu nhỡ trong năm mươi người công chính thiếu năm người thì sao? Vì thiếu năm người mà Chúa sẽ tiêu diệt cả thành chăng?” Ngài đáp: “Nếu Ta tìm được trong đó bốn mươi lăm người thì Ta sẽ không tiêu diệt thành đâu.”
Áp-ra-ham lại thưa: “Giả sử trong thành chỉ tìm thấy bốn mươi người công chính thì sao?” Ngài đáp: “Vì bốn mươi người đó Ta sẽ không diệt đâu.”
Rồi Áp-ra-ham lại nói: “Xin Chúa đừng giận, cho con được thưa tiếp: Giả sử trong thành chỉ có ba mươi người thì sao?” Ngài đáp: “Nếu Ta tìm được ba mươi người, thì Ta sẽ không diệt thành đâu.”
Áp-ra-ham thưa: “Con xin đánh bạo thưa với Chúa: Nếu chỉ có hai mươi người thì sao?” Ngài đáp: “Vì hai mươi người đó, Ta sẽ không tiêu diệt thành đâu.”
Áp-ra-ham lại thưa: “Xin Chúa đừng giận, cho con thưa chỉ một lần nầy nữa thôi: Nếu trong đó chỉ có mười người thì sao?” Ngài đáp: “Vì mười người đó Ta sẽ không tiêu diệt thành đâu.”
Khi phán với Áp-ra-ham xong, Đức Giê-hô-va ra đi, còn Áp-ra-ham trở về trại mình.
Chiều tối, hai thiên sứ đến Sô-đôm; lúc đó Lót đang ngồi tại cổng thành. Khi thấy hai thiên sứ đến, Lót đứng dậy tiếp đón và quỳ sấp mặt xuống đất.
Ông nói: “Thưa quý ngài, xin mời quá bước đến nhà của đầy tớ quý ngài, nghỉ đêm và rửa chân, rồi sáng mai quý ngài có thể dậy sớm lên đường.” Nhưng hai thiên sứ đáp: “Không, đêm nay chúng tôi sẽ ở ngoài phố.”
Lót hết sức nài ép nên hai thiên sứ phải ghé vào nhà ông. Lót dọn tiệc, nướng bánh không men, và hai thiên sứ dùng bữa.
Nhưng khi hai thiên sứ chưa đi nghỉ thì những người đàn ông thành Sô-đôm, mọi người từ trẻ đến già, không thiếu một ai, đã đến bao vây nhà.
Chúng gọi Lót ra và hỏi: “Những người khách vào nhà ông tối nay đang ở đâu? Hãy dẫn họ ra đây để chúng tôi ăn nằm với họ.”
Lót ra ngoài gặp chúng, đóng cửa lại sau lưng mình,
và nói: “Xin anh em đừng làm điều gian ác đó!
Đây tôi có hai con gái chưa chồng, để tôi trao chúng cho anh em, tùy anh em muốn làm gì thì làm. Nhưng đừng làm bất cứ điều gì với hai người kia, vì họ đã đến tá túc dưới bóng mái nhà tôi.”
Bọn chúng hét: “Tránh chỗ khác! Tên nầy đến tạm cư ở đây mà nay lại muốn làm quan tòa sao! Chúng ta sẽ xử ngươi còn tệ hơn hai người kia nữa.” Rồi chúng xô mạnh Lót và xông đến phá cửa.
Nhưng hai thiên sứ giơ tay ra kéo Lót vào nhà, đóng cửa lại,
rồi trừng phạt đám đàn ông ở ngoài cửa, từ trẻ đến già đều bị quáng mắt, đến nỗi chúng mệt nhọc tìm cửa mà không được.
Hai thiên sứ hỏi Lót: “Ngươi còn có ai khác ở đây nữa không? Con rể, con trai, con gái và bất cứ ai trong thành có liên hệ với ngươi, hãy đưa tất cả ra khỏi nơi nầy.
Chúng ta sắp hủy diệt chỗ nầy, vì tiếng than oán về dân thành nầy đã thấu đến Đức Giê-hô-va, và Ngài đã sai chúng ta xuống để hủy diệt nó.”
Vậy Lót đi ra nói với các chàng rể sắp cưới con gái mình: “Hãy mau ra khỏi nơi nầy, vì Đức Giê-hô-va sắp hủy diệt thành.” Nhưng các chàng rể tưởng ông nói đùa.
Rạng sáng, hai thiên sứ hối thúc Lót: “Hãy mau dẫn vợ và hai con gái ngươi đang ở đây đi ngay, kẻo ngươi cũng bị chết lây khi thành phố nầy bị trừng phạt chăng.”
Bởi lòng thương xót của Đức Giê-hô-va nên trong lúc Lót còn chần chừ, hai thiên sứ đã nắm tay kéo ông, vợ và hai con gái ông ra khỏi thành.
Khi hai thiên sứ đã dẫn họ ra ngoài rồi, một trong hai vị nói: “Hãy chạy trốn để cứu mạng sống mình, đừng ngó lại đằng sau và cũng đừng dừng lại bất cứ nơi nào ngoài đồng bằng! Hãy chạy trốn lên núi kẻo ngươi phải thiệt mạng chăng!”
Lót nói: “Thưa ngài, không thể được!
Nầy, đầy tớ ngài đã được ơn trước mặt ngài, và ngài đã tỏ lòng nhân từ rất lớn cùng tôi mà bảo toàn mạng sống tôi. Nhưng tôi sợ chưa kịp trốn lên núi thì tai họa đã ập đến và tôi chết mất.
Kìa, đằng kia có một thành nhỏ, lại cũng gần, có thể trốn kịp. Xin ngài cho tôi trốn vào đó, chỉ một thành nhỏ thôi, để mạng sống tôi được bảo toàn.”
Thiên sứ đáp: “Được, ta chấp nhận lời cầu xin nầy, và ta sẽ không hủy diệt thành mà ngươi vừa nói đó đâu.
Hãy nhanh chóng trốn vào đó đi, vì ta không thể làm gì được khi ngươi chưa vào đến nơi.” Vì vậy, thành nầy được gọi là Xoa.
Khi mặt trời vừa mọc lên khỏi mặt đất thì Lót vào đến thành Xoa.
Đức Giê-hô-va khiến mưa lưu huỳnh và lửa của Đức Giê-hô-va từ trời trút xuống Sô-đôm và Gô-mô-rơ,
hủy diệt hai thành nầy, cả vùng đồng bằng, cùng với tất cả cư dân trong thành và mọi cây cỏ mọc trên đất.
Nhưng vợ của Lót ngoảnh nhìn lại đằng sau nên biến thành một tượng muối.
Sáng hôm sau, Áp-ra-ham dậy sớm và đi đến chỗ mà ông đã đứng chầu Đức Giê-hô-va.
Ông nhìn về hướng Sô-đôm và Gô-mô-rơ, và khắp vùng đồng bằng, thì thấy một luồng khói từ dưới đất bốc lên như khói của một lò lửa lớn.
Khi Đức Chúa Trời hủy diệt các thành trong đồng bằng, nơi Lót đang ở, Ngài nhớ đến Áp-ra-ham nên đã cứu Lót ra khỏi cuộc tàn phá đó.
Lót không dám ở Xoa nên đã cùng hai con gái bỏ lên núi. Ông sống trong một hang đá với hai con gái mình.
Cô chị bảo cô em: “Cha đã già, trong vùng lại không còn người nam nào đến kết duyên với chúng ta theo cách thông thường trong thiên hạ.
Nào, chúng ta hãy phục rượu cho cha, rồi lại nằm với ông, để chúng ta có thể duy trì dòng giống bởi cha chúng ta.”
Vì thế, đêm đó hai cô phục rượu cho cha mình, rồi cô chị đến nằm với cha, nhưng ông chẳng biết lúc nào nàng nằm, lúc nào nàng dậy.
Hôm sau, cô chị nói với cô em: “Nầy, đêm qua chị đã nằm với cha rồi. Tối nay chúng ta cũng hãy phục rượu cho cha, rồi em đến nằm với cha để chúng ta có thể duy trì dòng giống bởi cha chúng ta.”
Đêm đó, hai cô lại phục rượu cho cha mình, rồi cô em đến nằm với cha, nhưng ông cũng chẳng biết lúc nào nàng nằm, lúc nào nàng dậy.
Vậy, cả hai con gái của Lót đều mang thai bởi cha mình.
Cô chị sinh một con trai, đặt tên là Mô-áp. Đó là tổ phụ của dân Mô-áp ngày nay.
Cô em cũng sinh một con trai, đặt tên là Bên Am-mi. Đó là tổ phụ của dân Am-môn ngày nay.
Từ đó, Áp-ra-ham đi xuống vùng Nê-ghép, cư ngụ giữa Ca-đe và Su-rơ. Trong khi tạm trú ở Ghê-ra,
Áp-ra-ham nói với người ta về Sa-ra, vợ ông rằng: “Cô ấy là em gái tôi.” Vì thế, A-bi-mê-léc, vua Ghê-ra, truyền đem Sa-ra đến.
Nhưng ban đêm, Đức Chúa Trời hiện đến và phán với A-bi-mê-léc trong chiêm bao: “Ngươi sẽ chết vì người phụ nữ mà ngươi đã bắt. Nàng đã có chồng.”
Vua A-bi-mê-léc chưa đến gần nàng nên thưa rằng: “Lạy Chúa, Chúa nỡ tiêu diệt một dân vô tội sao?
Chẳng phải chính Áp-ra-ham đã nói với con: ‘Nàng là em gái tôi’ sao? Và chẳng phải chính cô ta cũng nói: ‘Đó là anh tôi’ sao? Con làm điều nầy với tấm lòng trung thực và bàn tay trong sạch.”
Đức Chúa Trời lại phán với vua trong chiêm bao: “Ta biết ngươi làm điều đó với lòng trung thực. Vì vậy, chính Ta đã ngăn cản ngươi phạm tội với Ta, và không cho ngươi động đến nàng.
Bây giờ, hãy giao nàng lại cho chồng, vì chồng nàng là một nhà tiên tri, người sẽ cầu nguyện cho ngươi và ngươi sẽ được sống. Nhưng nếu ngươi không giao lại thì phải biết rằng ngươi và tất cả những người thuộc về ngươi chắc chắn sẽ chết.”
A-bi-mê-léc dậy sớm, triệu tập triều thần đến, thuật lại rõ ràng những lời đó. Mọi người đều khiếp sợ.
Rồi, A-bi-mê-léc đòi Áp-ra-ham đến và nói: “Ngươi đã làm gì cho chúng ta vậy? Ta có làm điều gì không phải với ngươi đâu mà ngươi làm cho ta và cả nước phải phạm tội lớn như vậy? Ngươi đã làm cho ta những điều không nên làm.”
A-bi-mê-léc lại hỏi Áp-ra-ham: “Ngươi có ý gì mà lại làm như vậy?”
Áp-ra-ham đáp: “Tôi làm vậy vì nghĩ rằng nơi nầy chắc không có người nào kính sợ Đức Chúa Trời. Họ có thể vì vợ tôi mà giết tôi mất.
Thật ra thì nàng cũng là em gái tôi, em một cha khác mẹ; nhưng tôi đã cưới nàng làm vợ.
Khi Đức Chúa Trời khiến tôi lưu lạc khỏi nhà cha tôi, tôi có nói với nàng: ‘Đây là cách nàng bày tỏ tình yêu đối với ta: Bất cứ nơi nào chúng ta đi đến, nàng hãy giới thiệu ta là anh của nàng.’”
Vua A-bi-mê-léc đem chiên, bò, tôi trai tớ gái tặng Áp-ra-ham, và giao trả Sa-ra, vợ ông lại cho ông.
Vua nói: “Nầy, xứ sở ta sẵn dành cho ngươi, ngươi thích đâu thì ở đó.”
Rồi vua nói với Sa-ra: “Nầy, ta ban cho anh ngươi một nghìn miếng bạc; đây là bức màn che mắt mọi người ở với ngươi, và ngươi sẽ được minh oan trước mặt mọi người.”
Sau đó, Áp-ra-ham cầu nguyện với Đức Chúa Trời và Ngài chữa lành cho A-bi-mê-léc, vợ và các nữ tì của vua để họ có thể sinh con cái.
Trước đó, do vụ Sa-ra, vợ Áp-ra-ham, nên Đức Giê-hô-va đã khiến cho mọi người nữ trong hoàng gia A-bi-mê-léc không sinh sản được.
Đức Giê-hô-va thăm viếng Sa-ra như lời Ngài đã phán và làm cho bà như lời Ngài đã hứa.
Sa-ra thụ thai, sinh cho Áp-ra-ham một con trai khi tuổi ông đã già, đúng kỳ hạn mà Đức Chúa Trời đã hứa với ông.
Áp-ra-ham đặt tên con trai mà Sa-ra đã sinh cho mình là Y-sác.
Khi Y-sác được tám ngày, Áp-ra-ham cắt bì cho con trai như lời Đức Chúa Trời đã truyền phán.
Y-sác ra đời khi Áp-ra-ham đã được một trăm tuổi.
Sa-ra nói: “Đức Chúa Trời làm cho tôi vui cười, ai nghe đến cũng sẽ vui mừng cho tôi.”
Bà còn nói: “Ai dám nói với Áp-ra-ham rằng Sa-ra sẽ cho con bú? Thế mà tôi đã sinh cho ông một con trai trong lúc ông đã già.”
Y-sác lớn lên và dứt sữa. Vào ngày cậu bé dứt sữa, Áp-ra-ham tổ chức một bữa tiệc linh đình.
Sa-ra thấy con trai mà A-ga, người Ai Cập, đã sinh cho Áp-ra-ham đang đùa giỡn,
thì bà nói với Áp-ra-ham: “Xin ông đuổi hai mẹ con đứa tớ gái nầy đi vì con trai của đứa tớ gái nầy sẽ không được cùng thừa kế với Y-sác, con trai tôi đâu.”
Lời nầy làm cho Áp-ra-ham đau lòng lắm bởi vì đó là con trai mình.
Nhưng Đức Chúa Trời phán với Áp-ra-ham: “Con đừng nặng lòng về đứa con trai và đứa tớ gái của mình nữa. Sa-ra nói gì con cứ nghe lời nàng, vì bởi Y-sác, sẽ có một dòng dõi được gọi theo tên con.
Ta cũng sẽ làm cho con trai của đứa tớ gái nầy trở thành một dân tộc, vì nó cũng từ nơi con mà ra.”
Sáng hôm sau, Áp-ra-ham dậy sớm, lấy bánh và một bầu nước đưa cho A-ga. Ông đặt các thứ đó trên vai nàng, trao đứa con trai cho nàng rồi bảo đi. Nàng ra đi, lang thang trong hoang mạc Bê-e Sê-ba.
Khi nước trong bầu đã hết, nàng để đứa trẻ dưới một bụi cây
rồi đi và ngồi phía đối diện, cách xa khoảng một tầm tên bắn, vì nàng nói: “Tôi nỡ nào nhìn đứa trẻ chết!” Nàng ngồi đối diện đó, cất tiếng than khóc.
Đức Chúa Trời nghe tiếng đứa trẻ khóc, thiên sứ của Đức Chúa Trời từ trên trời gọi A-ga và nói: “A-ga, có việc gì với con vậy? Đừng sợ! Vì Đức Chúa Trời đã nghe tiếng đứa trẻ khóc ở đâu đó rồi.
Hãy đứng dậy, đỡ đứa trẻ lên và ôm chặt nó trong tay, vì Ta sẽ làm cho nó thành một dân lớn.”
Đức Chúa Trời mở mắt cho nàng và nàng thấy một giếng nước. Nàng đến múc đầy bầu da và đem cho đứa trẻ uống.
Đức Chúa Trời ở với đứa trẻ. Nó lớn lên, sống trong hoang mạc và trở thành người có tài bắn cung.
Ích-ma-ên sống trong hoang mạc Pha-ran. Mẹ chàng cưới cho chàng một cô vợ người Ai Cập.
Bấy giờ, vua A-bi-mê-léc và Phi-côn, chỉ huy trưởng quân đội, nói với Áp-ra-ham: “Đức Chúa Trời giúp đỡ ngươi trong mọi việc ngươi làm.
Vậy bây giờ, trước mặt Đức Chúa Trời hãy thề với ta rằng ngươi sẽ không lừa dối ta, con cái hay dòng dõi ta, nhưng ngươi sẽ đối xử với ta và xứ mà ngươi đang trú ngụ thật tử tế, như ta đã đối xử với ngươi vậy.”
Áp-ra-ham đáp: “Tôi xin thề.”
Sau đó, Áp-ra-ham phàn nàn với vua A-bi-mê-léc về một giếng nước bị đầy tớ A-bi-mê-léc chiếm đoạt.
A-bi-mê-léc nói: “Ta không biết ai đã làm việc nầy. Ngươi không báo cho ta biết, mãi đến hôm nay ta mới nghe đến thôi.”
Áp-ra-ham bắt chiên và bò, tặng cho vua A-bi-mê-léc rồi hai người kết ước với nhau.
Áp-ra-ham lựa riêng ra bảy con chiên cái tơ trong bầy.
A-bi-mê-léc hỏi: “Ngươi lựa riêng bảy con chiên cái tơ đó ra để làm gì vậy?”
Áp-ra-ham đáp: “Xin vua hãy nhận từ tay tôi bảy con chiên cái tơ nầy như một lời chứng rằng tôi đã đào cái giếng nầy.”
Vì vậy, người ta gọi chỗ đó là Bê-e Sê-ba; vì tại đó hai người đã thề nguyện với nhau.
Sau khi hai bên đã kết ước với nhau tại Bê-e Sê-ba, vua A-bi-mê-léc và chỉ huy trưởng Phi-côn lên đường trở về xứ Phi-li-tin.
Áp-ra-ham trồng một cây me tại Bê-e Sê-ba, và tại đó ông cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời hằng hữu.
Áp-ra-ham cư trú lâu ngày trong đất của người Phi-li-tin.
Sau các việc đó, Đức Chúa Trời thử nghiệm Áp-ra-ham. Ngài gọi ông: “Áp-ra-ham!” Ông thưa: “Dạ, có con đây.”
Đức Chúa Trời phán: “Hãy dẫn con trai của con, đứa con một mà con yêu dấu, là Y-sác, đi đến đất Mô-ri-a. Tại đó, con hãy dâng đứa trẻ làm tế lễ thiêu trên một trong những ngọn núi mà Ta sẽ chỉ cho con.”
Vậy Áp-ra-ham dậy sớm, thắng lừa và đem hai đầy tớ cùng con mình là Y-sác đi theo. Ông cũng chặt củi để dùng cho tế lễ thiêu rồi lên đường đi đến nơi mà Đức Chúa Trời đã chỉ dẫn.
Đến ngày thứ ba, Áp-ra-ham ngước mắt lên và thấy địa điểm đó từ đằng xa.
Ông nói với hai đầy tớ: “Các ngươi ở lại đây với con lừa, ta và đứa trẻ sẽ đi đến chỗ kia để thờ phượng rồi sẽ trở lại.”
Áp-ra-ham lấy củi dùng cho tế lễ thiêu chất trên Y-sác, con mình, còn ông cầm lửa và dao trong tay, rồi hai cha con cùng đi.
Y-sác nói với Áp-ra-ham, cha mình: “Thưa cha!” Ông đáp: “Con ơi! Cha đây.” Y-sác hỏi: “Củi và lửa đã sẵn sàng, nhưng chiên con ở đâu để dâng tế lễ thiêu?”
Áp-ra-ham nói: “Con ơi! Chính Đức Chúa Trời sẽ cung cấp chiên con cho tế lễ thiêu.” Rồi cả hai cha con cùng tiếp tục đi.
Khi đã đến nơi Đức Chúa Trời chỉ định, Áp-ra-ham lập tại đó một bàn thờ, xếp củi lên rồi trói Y-sác con mình lại, đặt lên đống củi trên bàn thờ.
Áp-ra-ham đưa tay ra cầm lấy dao để giết con mình.
Nhưng thiên sứ của Đức Giê-hô-va từ trời gọi ông: “Áp-ra-ham, Áp-ra-ham!” Ông thưa: “Có con đây.”
Thiên sứ bảo: “Đừng ra tay hại đứa trẻ và cũng không được làm gì nó cả. Bây giờ, Ta biết rằng con thật lòng kính sợ Đức Chúa Trời vì con không tiếc con mình với Ta, dù là đứa con duy nhất của con.”
Áp-ra-ham ngước mắt nhìn và thấy một con chiên đực, sừng mắc trong bụi cây. Áp-ra-ham bắt con chiên đực đó dâng làm tế lễ thiêu thay cho con trai mình.
Áp-ra-ham gọi địa điểm đó là “Giê-hô-va Cung Ứng.” Vì vậy, ngày nay người ta còn nói: “Trên núi của Đức Giê-hô-va điều ấy sẽ được cung ứng”
Thiên sứ của Đức Giê-hô-va từ trời gọi Áp-ra-ham lần thứ nhì
và bảo: “Đức Giê-hô-va phán: Vì con đã làm điều nầy, không tiếc con mình, dù là đứa con duy nhất của con, nên Ta lấy chính mình mà thề rằng,
Ta sẽ ban phước dồi dào cho con, làm cho dòng dõi con đông như sao trời, nhiều như cát biển, và dòng dõi con sẽ chiếm được cổng thành quân địch.
Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sẽ nhờ dòng dõi con mà được phước, vì con đã vâng lời Ta.”
Áp-ra-ham trở lại chỗ hai người đầy tớ; họ đứng dậy và cùng nhau trở về Bê-e Sê-ba. Áp-ra-ham tiếp tục sống tại Bê-e Sê-ba.
Sau các việc đó, người ta báo cho Áp-ra-ham: “Nầy, Minh-ca cũng sinh con cho em ông là Na-cô.
Con trưởng là Út-xơ, các con thứ là Bu-xơ, Kê-mu-ên là cha của A-ram,
Kê-sết, Ha-xô, Phin-đát, Dít-láp và Bê-tu-ên.”
Bê-tu-ên là cha của Rê-bê-ca. Đó là tám người con trai mà Minh-ca sinh cho Na-cô, em của Áp-ra-ham.
Còn người vợ bé tên là Rê-u-ma cũng sinh Tê-ba, Ga-ham, Ta-hách và Ma-a-ca.
Sa-ra hưởng thọ được một trăm hai mươi bảy tuổi.
Sa-ra qua đời tại Ki-ri-át A-ra-ba, tức Hếp-rôn, thuộc đất Ca-na-an. Áp-ra-ham đến chịu tang Sa-ra và than khóc bà.
Sau đó, Áp-ra-ham đứng dậy rời khỏi chỗ người quá cố và đến nói với con cháu gia tộc Hếch:
“Tôi chỉ là một kiều dân sống giữa các anh; xin các anh nhượng cho tôi một chỗ an táng trong đất các anh để tôi chôn cất người vợ quá cố của tôi.”
Con cháu gia tộc Hếch trả lời:
“Thưa chúa, xin nghe chúng tôi. Ngài là bậc vương hầu của Đức Chúa Trời ở giữa chúng tôi. Xin chôn cất người quá cố của ngài trong mộ phần nào tốt nhất của chúng tôi. Không ai trong chúng tôi tiếc mộ phần mình mà không để ngài an táng người quá cố của ngài đâu.”
Áp-ra-ham đứng dậy, sấp mình trước mặt dân bản địa, tức con cháu gia tộc Hếch,
và nói: “Nếu các anh bằng lòng cho tôi an táng người quá cố của tôi thì xin nghe tôi và can thiệp với Ép-rôn, con của Xô-ha,
để anh ấy nhượng cho tôi hang đá Mặc-bê-la ở cuối cánh đồng. Xin anh ấy nhượng lại đúng giá để tôi có được nơi an táng ở giữa các anh.”
Ép-rôn, người Hê-tít, đang ngồi giữa con cháu gia tộc Hếch, trả lời Áp-ra-ham trước sự chứng kiến của con cháu gia tộc Hếch, tức là trước tất cả những người có mặt tại cổng thành rằng:
“Không, thưa chúa, xin nghe tôi. Trước mặt con dân tôi, tôi xin tặng ngài cánh đồng, và tặng luôn cái hang đá ở trong đó nữa. Xin an táng người quá cố của ngài đi.”
Áp-ra-ham sấp mình trước mặt dân bản địa,
và nói với Ép-rôn, trước sự chứng kiến của dân chúng rằng: “Xin nghe tôi. Xin cho tôi được trả tiền để mua cánh đồng nầy. Xin nhận thì tôi mới có thể chôn người quá cố của tôi ở đó được.”
Ép-rôn trả lời Áp-ra-ham:
“Thưa chúa, xin nghe tôi. Miếng đất đáng giá bốn ký rưỡi bạc, nhưng chỗ tôi với ngài thì có đáng gì đâu! Xin cứ an táng người quá cố của ngài đi.”
Áp-ra-ham đồng ý với Ép-rôn; và trước sự chứng kiến của con cháu gia tộc Hếch, Áp-ra-ham cân cho Ép-rôn số bạc mà ông đã nêu là bốn trăm siếc-lơ, theo cân lượng đang lưu hành trong giới con buôn.
Vậy, cánh đồng của Ép-rôn tại Mặc-bê-la, phía đông Mam-rê, gồm cánh đồng có hang đá và tất cả cây cối trong cánh đồng,
được chuyển thành sản nghiệp của Áp-ra-ham trước sự chứng kiến của con cháu gia tộc Hếch, là tất cả những người có mặt tại cổng thành.
Sau đó, Áp-ra-ham an táng vợ mình là Sa-ra nơi hang đá trong cánh đồng Mặc-bê-la, phía đông Mam-rê, tức Hếp-rôn, thuộc đất Ca-na-an.
Như vậy, cánh đồng trong đó có hang đá đã được con cháu gia tộc Hếch chuyển nhượng cho Áp-ra-ham làm nơi an táng.
Áp-ra-ham đã già, tuổi đã cao; Đức Giê-hô-va đã ban phước cho ông trong mọi việc.
Áp-ra-ham nói với người đầy tớ sống lâu năm nhất trong nhà, là người quản trị tất cả tài sản của mình: “Hãy đặt tay dưới đùi ta.
Ta muốn ngươi nhân danh Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của trời và đất, mà thề rằng ngươi sẽ không cưới cho con trai ta một người vợ trong số những con gái của người Ca-na-an, nơi ta đang cư ngụ,
nhưng ngươi sẽ về quê hương ta, đến với bà con ta mà cưới vợ cho con trai ta là Y-sác.”
Người đầy tớ thưa: “Có thể cô gái ấy sẽ không chịu theo tôi về xứ nầy đâu; vậy tôi có được đưa con trai ông về xứ mà ông từ đó ra đi không?”
Áp-ra-ham nói: “Không, đừng bao giờ đưa con ta về xứ đó!
Giê-hô-va là Đức Chúa Trời trên trời, Đấng đã đem ta ra khỏi nhà cha ta và quê hương ta, đã phán và thề với ta rằng: ‘Ta sẽ ban cho dòng dõi con đất nầy!’ Chính Ngài sẽ sai thiên sứ đi trước ngươi, và tại đó ngươi hãy cưới cho con trai ta một người vợ.
Nếu cô gái ấy không chịu theo ngươi, thì ngươi sẽ khỏi mắc lời thề với ta. Dù thế nào ngươi cũng không được đưa con ta về đó.”
Vậy người đầy tớ đặt tay dưới đùi Áp-ra-ham, chủ mình, và thề sẽ làm theo lời ông dặn bảo.
Người đầy tớ chọn mười con lạc đà trong bầy của chủ rồi lên đường, đem theo tất cả các lễ vật quý từ tay chủ giao. Ông đi đến vùng Mê-sô-pô-ta-mi, vào thành của Na-cô.
Ông cho lạc đà quỳ gối nằm nghỉ bên ngoài thành, cạnh một giếng nước, vào buổi chiều là giờ các cô gái ra múc nước.
Ông cầu nguyện: “Lạy Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham chủ con ơi! Xin cho con hôm nay được toại nguyện và xin tỏ lòng nhân từ với chủ con là Áp-ra-ham!
Nầy, con đứng cạnh giếng nước, và các cô gái của dân trong thành sẽ ra đây múc nước.
Khi con nói với cô gái nào rằng: ‘Xin cô vui lòng nghiêng vò cho tôi uống một ngụm nước,’ mà cô ấy trả lời: ‘Xin mời ông, tôi cũng sẽ cho lạc đà của ông uống nữa,’ thì đó chính là người mà Chúa định cho Y-sác, đầy tớ Ngài. Qua việc nầy con sẽ biết rằng Chúa đã tỏ lòng nhân từ đối với chủ con.”
Người đầy tớ chưa dứt lời cầu nguyện, thì kìa, Rê-bê-ca vác vò trên vai đi ra. Nàng là con gái của Bê-tu-ên. Bê-tu-ên là con trai của Minh-ca, vợ Na-cô; Na-cô là em trai của Áp-ra-ham.
Cô gái rất xinh đẹp, còn trinh trắng, chưa gả cho ai. Cô xuống giếng múc đầy vò nước rồi trở lên.
Người đầy tớ chạy đến trước mặt cô và nói: “Xin cô cho tôi uống một ngụm nước trong vò.”
Cô gái nói: “Thưa chúa, xin mời ngài uống nước”, rồi cô vội vàng hạ vò nước xuống tay và cho ông uống.
Sau khi cho ông uống, cô nói tiếp: “Tôi cũng sẽ múc nước cho mấy con lạc đà của ông uống nữa, chúng sẽ uống cho đến khi đã khát mới thôi.”
Cô gái vội vàng đổ nước trong vò ra máng rồi chạy xuống giếng múc thêm nữa cho tất cả các con lạc đà uống.
Người đầy tớ cứ lặng lẽ nhìn cô gái để xem Đức Giê-hô-va có làm cho chuyến đi của mình thành công hay không.
Khi lạc đà vừa uống xong, người đầy tớ lấy một chiếc khoen vàng khoảng hai chỉ, và một đôi xuyến vàng khoảng ba lượng
và hỏi cô gái: “Xin cho tôi biết cô là con ai? Trong nhà cha cô có chỗ nào cho chúng tôi nghỉ qua đêm được không?”
Cô gái đáp: “Tôi là con gái của Bê-tu-ên, cháu nội của Minh-ca và Na-cô.”
Rồi cô nói tiếp: “Nhà chúng tôi có nhiều rơm và cỏ, cũng có chỗ nghỉ đêm nữa.”
Người đầy tớ cúi đầu và sấp mình trước mặt Đức Giê-hô-va,
và nói: “Cảm tạ Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham chủ con! Ngài luôn nhân từ và thành tín đối với chủ con! Về phần con, Đức Giê-hô-va đã đưa đường con đến tận nhà anh em của chủ con.”
Cô gái trẻ chạy về, thuật mọi chuyện cho cả nhà mẹ mình nghe.
Rê-bê-ca có một người anh tên là La-ban. La-ban chạy ra chỗ người đầy tớ, bên giếng nước.
Vừa thấy chiếc khoen vàng và đôi xuyến trên tay cô em gái, và nghe Rê-bê-ca thuật lại những gì người ấy nói, thì La-ban đến chỗ ông ta và thấy ông đang đứng gần bên mấy con lạc đà, cạnh giếng nước.
Anh ta nói: “Xin mời người được Đức Giê-hô-va ban phước vào nhà! Sao ông lại đứng ngoài nầy? Tôi đã chuẩn bị chỗ nghỉ cho ông và cho cả mấy con lạc đà rồi.”
Người đầy tớ vào nhà. La-ban tháo yên cho lạc đà, đem cỏ và rơm cho các con thú đó rồi lấy nước cho người đầy tớ và những người cùng đi với ông rửa chân.
Thức ăn đã dọn sẵn, nhưng người đầy tớ nói: “Tôi sẽ không ăn cho đến khi tôi nói được những gì cần phải nói.” La-ban đáp: “Xin ông cứ nói.”
Ông nói: “Tôi là đầy tớ của Áp-ra-ham.
Đức Giê-hô-va đã ban phước dồi dào cho chủ tôi và làm cho chủ tôi trở nên thịnh vượng. Ngài ban cho chủ tôi chiên bò, bạc vàng, tôi trai tớ gái, lạc đà và lừa.
Bà Sa-ra, vợ chủ tôi lúc về già đã sinh cho chủ tôi một con trai và ông đã giao tất cả gia tài mình cho con trai đó.
Chủ tôi đã bắt tôi thề rằng: ‘Ngươi sẽ không cưới cho con trai ta một người vợ trong số những con gái của người Ca-na-an, nơi ta đang cư ngụ,
mà phải về nhà cha ta, đến với bà con ta, và cưới cho con trai ta một người vợ.’
Tôi đã thưa với chủ tôi rằng: ‘Có thể cô gái ấy sẽ không chịu theo tôi.’
Nhưng ông chủ bảo: ‘Đức Giê-hô-va là Đấng ta phụng sự sẽ sai thiên sứ theo ngươi và giúp cho chuyến đi của ngươi thành công. Ngươi sẽ cưới cho con trai ta một người vợ trong vòng bà con ta, từ nhà cha ta.
Ngươi sẽ không mắc lời thề với ta khi ngươi đến với bà con ta; dù họ không chịu gả thì ngươi không bị ràng buộc bởi lời thề với ta.’
Hôm nay, khi đến giếng nước, tôi có cầu nguyện rằng: ‘Lạy Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham chủ con! Xin Ngài giúp cho chuyến đi của con được thành công.
Bây giờ con đứng bên giếng nước nầy, nếu có một cô gái trẻ nào ra múc nước và con nói với cô đó rằng: “Xin cô cho tôi uống một ngụm nước trong vò,”
mà cô ấy trả lời: “Xin mời ông, tôi cũng sẽ múc nước cho các con lạc đà của ông uống nữa,” thì kể như cô gái trẻ đó là người mà Đức Giê-hô-va đã định cho con trai của chủ con!’
Tôi chưa dứt lời thầm nguyện, bỗng dưng Rê-bê-ca vác vò trên vai đi ra, xuống giếng múc nước. Tôi nói với nàng: ‘Xin cho tôi miếng nước.’
Cô gái nhanh nhẹn hạ vò trên vai xuống rồi nói: ‘Xin mời ông uống nước, tôi cũng sẽ cho lạc đà của ông uống nữa.’ Thế là tôi uống và cô cũng đã cho các lạc đà uống nữa.
Tôi hỏi: ‘Cô là con gái nhà ai?’ Nàng đáp: ‘Tôi là con gái Bê-tu-ên, cháu nội của Na-cô và Minh-ca.’ Tôi đeo chiếc khoen vào mũi và đôi xuyến vào tay cô.
Tôi cúi đầu và sấp mình trước mặt Đức Giê-hô-va, ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham chủ tôi, Đấng đã dẫn tôi vào con đường chính đáng để chọn cô cháu nội của em trai chủ tôi cho con trai ông ấy.
Vậy bây giờ, nếu các ông muốn tỏ lòng ưu ái và chân thành với chủ tôi, xin nói cho tôi biết. Nếu không đồng ý cũng xin cứ nói, để tôi liệu bề xoay xở.”
La-ban và Bê-tu-ên đáp: “Điều nầy đến từ Đức Giê-hô-va, chúng tôi không thể nói với ông nên hay không nên được.
Kìa, Rê-bê-ca đang ở trước mặt ông. Ông hãy dẫn cháu đi để nó được làm vợ của con trai chủ ông như lời Đức Giê-hô-va phán dạy.”
Vừa nghe họ nói, người đầy tớ của Áp-ra-ham sấp mình xuống thờ lạy Đức Giê-hô-va.
Ông lấy các thứ nữ trang bằng bạc vàng và y phục trao cho Rê-bê-ca; ông cũng lấy các tặng vật quý giá dâng cho anh và mẹ nàng.
Rồi người đầy tớ và các người cùng đi, ăn uống và nghỉ đêm tại đó. Sáng hôm sau, khi họ thức dậy, người đầy tớ nói: “Xin cho tôi trở về với chủ của tôi.”
Nhưng anh và mẹ cô gái nói: “Xin cho cháu ở lại với chúng tôi thêm ít ngày nữa, khoảng chừng mười bữa rồi nó sẽ đi.”
Người đầy tớ nói: “Xin đừng cầm giữ tôi, vì Đức Giê-hô-va đã cho chuyến đi của tôi thành công. Xin cho tôi lên đường để tôi trở về với chủ tôi.”
Họ nói: “Chúng tôi sẽ gọi cô gái và hỏi ý kiến nó thế nào.”
Họ gọi Rê-bê-ca và hỏi: “Con có muốn đi với người nầy không?” Nàng đáp: “Con muốn đi.”
Vậy họ đưa em gái họ là Rê-bê-ca và người vú của nàng lên đường cùng với người đầy tớ của Áp-ra-ham và những người cùng đi.
Họ chúc phước cho Rê-bê-ca rằng: “Em gái chúng ta ơi! Chúc em được trở thành người mẹ Của muôn triệu người, Và dòng dõi em chiếm được Cổng thành quân địch.”
Rê-bê-ca và các nữ tì đứng dậy, cưỡi lạc đà và đi theo người đầy tớ đó. Vậy, người đầy tớ đưa Rê-bê-ca lên đường.
Bấy giờ, Y-sác đang ở Nê-ghép và từ giếng La-chai Roi trở về.
Trời về chiều, Y-sác đi ra ngoài đồng để suy ngẫm. Chàng ngước mắt lên và chợt thấy đàn lạc đà từ đâu đang đến gần.
Nàng Rê-bê-ca cũng ngước mắt lên và thấy Y-sác. Nàng liền xuống khỏi lạc đà,
và hỏi người đầy tớ: “Người đàn ông ở đằng kia đang vượt cánh đồng để đón chúng ta là ai vậy?” Người đầy tớ thưa: “Đó là chủ của tôi.” Nàng liền lấy lúp che mặt lại.
Người đầy tớ thuật lại cho Y-sác mọi việc ông đã làm.
Y-sác đưa Rê-bê-ca vào trại của Sa-ra, mẹ mình, cưới nàng làm vợ và yêu thương nàng. Vậy, Y-sác được khuây khỏa sau cái chết của mẹ mình.
Áp-ra-ham cưới một người vợ khác tên là Kê-tu-ra.
Bà sinh cho ông: Xim-ram, Giốc-chan, Mê-đan, Ma-đi-an, Dích-bác và Su-ách.
Giốc-chan sinh Sê-ba và Đê-đan. Con cháu của Đê-đan là gia tộc A-chu-rim, Lê-tu-chim và Lê-um-mim.
Con trai của Ma-đi-an là Ê-pha, Ê-phe, Ha-nóc, A-bi-đa và Ên-đa. Tất cả những người trên thuộc dòng dõi Kê-tu-ra.
Áp-ra-ham cho Y-sác tất cả gia tài mình.
Nhưng đang khi còn sống, ông cho các con dòng thứ một số phẩm vật và bảo họ đến ở vùng đất phía đông, cách xa Y-sác là con dòng chính.
Áp-ra-ham hưởng thọ được một trăm bảy mươi lăm tuổi.
Ông trút hơi thở cuối cùng và qua đời khi tuổi cao tác lớn, được mãn nguyện trong cuộc sống, và được trở về với tổ tông mình.
Hai con trai ông là Y-sác và Ích-ma-ên đã an táng ông trong hang đá Mặc-bê-la, thuộc cánh đồng của Ép-rôn, con trai Sô-ha, người Hê-tít, phía đông Mam-rê.
Đó là cánh đồng mà Áp-ra-ham đã mua lại của con cháu gia tộc Hếch. Áp-ra-ham được an táng tại đó cùng với vợ ông là Sa-ra.
Sau khi Áp-ra-ham qua đời, Đức Giê-hô-va ban phước cho Y-sác, con trai ông. Y-sác cư ngụ gần giếng La-chai Roi.
Đây là dòng dõi Ích-ma-ên, con trai Áp-ra-ham, do A-ga, nữ tì người Ai Cập của Sa-ra, sinh ra.
Đây là tên các con trai của Ích-ma-ên, sắp xếp theo thứ tự ngày sinh: Con trưởng nam của Ích-ma-ên là Nê-ba-giốt, kế đến là Kê-đa, Át-bê-ên, Mi-bô-sam,
Mích-ma, Đu-ma, Ma-sa,
Ha-đát, Thê-ma, Giê-thu, Na-phích, và Kết-ma.
Đó là các con trai của Ích-ma-ên và tên của họ, đặt theo tên làng và nơi họ đóng trại. Đó là mười hai thủ lĩnh của dân tộc họ.
Ích-ma-ên hưởng thọ được một trăm ba mươi bảy tuổi, rồi trút hơi và qua đời, được trở về với tổ tông mình.
Dòng dõi ông định cư trong vùng từ Ha-vi-la đến Xu-rơ, phía đông Ai Cập, về hướng A-si-ri. Họ sống trong tình trạng thù nghịch với tất cả anh em mình.
Đây là dòng dõi của Y-sác, con trai Áp-ra-ham. Áp-ra-ham sinh Y-sác.
Khi được bốn mươi tuổi, Y-sác cưới Rê-bê-ca, con gái của Bê-tu-ên và là em gái của La-ban, đều là người A-ram, thuộc xứ Pha-đan A-ram.
Y-sác khẩn cầu Đức Giê-hô-va cho vợ mình vì bà hiếm muộn. Đức Giê-hô-va nhậm lời khẩn cầu của ông nên Rê-bê-ca mang thai.
Nhưng các thai nhi đụng nhau trong bụng nên bà nói: “Tại sao điều nầy xảy ra cho tôi?” Rồi bà cầu hỏi Đức Giê-hô-va.
Đức Giê-hô-va phán: Hai nước đang ở trong bụng con, Và hai dân tộc từ bụng con sẽ phân rẽ; Dân nầy mạnh hơn dân kia, Và đứa lớn phải phục vụ đứa nhỏ.
Khi đến ngày sinh nở, quả nhiên bà sinh đôi.
Đứa ra trước đỏ hồng, lông toàn thân trông như cái áo choàng bằng lông nên được đặt tên là Ê-sau.
Sau đó, đứa em ra đời, tay nắm gót Ê-sau nên được đặt tên là Gia-cốp. Khi hai đứa trẻ ra đời, Y-sác đã được sáu mươi tuổi.
Khi hai đứa trẻ lớn lên, Ê-sau trở nên một thợ săn giỏi, thích rong ruổi ngoài đồng ruộng, còn Gia-cốp là người trầm tĩnh, thường ở trong trại.
Y-sác thương Ê-sau hơn vì ông thích ăn thịt rừng, còn Rê-bê-ca lại thương Gia-cốp hơn.
Một hôm, khi Gia-cốp đang hầm một món súp thì Ê-sau từ ngoài đồng về, đói lả.
Ê-sau nói với Gia-cốp: “Em cho anh ăn ngay món gì đo đỏ kia đi, vì anh đang đói lả người!” — Vì vậy, người ta gọi Ê-sau là Ê-đôm.
Gia-cốp nói: “Anh bán quyền trưởng nam cho em trước đi.”
Ê-sau bảo: “Sắp chết đến nơi rồi, anh còn dùng quyền trưởng nam làm gì nữa?”
Gia-cốp nói: “Vậy thì anh hãy thề trước đi.” Ê-sau liền thề và bán quyền trưởng nam cho Gia-cốp.
Rồi Gia-cốp cho Ê-sau ăn bánh và súp đậu. Ăn uống xong, Ê-sau đứng dậy và đi. Ê-sau đã khinh rẻ quyền trưởng nam như thế đấy.
Ngoài trận đói đã xảy ra trước đây trong thời Áp-ra-ham, bây giờ trong xứ lại xảy ra một trận đói nữa. Vì thế, Y-sác đi đến Ghê-ra, gặp A-bi-mê-léc, vua Phi-li-tin.
Đức Giê-hô-va hiện đến với ông và phán: “Đừng xuống Ai Cập, hãy ở trong xứ mà Ta sẽ chỉ cho con.
Hãy tạm cư trong xứ nầy, Ta sẽ ở cùng con và ban phước cho con; vì Ta sẽ ban cho con và dòng dõi con tất cả các vùng đất nầy và Ta sẽ làm trọn lời Ta đã thề với Áp-ra-ham, cha của con.
Ta sẽ làm cho dòng dõi con nhiều như sao trên trời và ban cho dòng dõi con tất cả các vùng đất nầy. Mọi dân tộc trên thế giới đều sẽ nhờ dòng dõi con mà được phước;
vì Áp-ra-ham đã vâng lời Ta, tuân giữ những điều Ta truyền dạy cũng như các điều răn, mệnh lệnh và luật lệ của Ta.”
Vậy Y-sác ở tại Ghê-ra.
Vì Rê-bê-ca có nhan sắc nên khi dân địa phương hỏi Y-sác về vợ ông thì ông bảo: “Cô ấy là em gái tôi”. Ông ngại nói: “Cô ấy là vợ tôi” vì sợ những người đàn ông trong xứ có thể vì nàng mà giết mình.
Y-sác đã ở đó một thời gian dài thì một hôm, A-bi-mê-léc, vua Phi-li-tin, nhìn qua cửa sổ và thấy Y-sác đang âu yếm vợ là Rê-bê-ca.
A-bi-mê-léc đòi Y-sác đến và nói: “Cô ấy chính là vợ ngươi! Tại sao ngươi lại nói: ‘Cô ấy là em gái tôi’?” Y-sác thưa với vua: “Vì tôi thầm nghĩ không khéo mình phải bỏ mạng vì nàng chăng.”
A-bi-mê-léc hỏi: “Ngươi đã làm gì cho chúng ta vậy? Nếu lỡ có một người dân đến nằm với vợ ngươi thì ngươi đã làm cho chúng ta mắc tội rồi!”
Vì thế, A-bi-mê-léc truyền lệnh cho toàn dân rằng: “Ai đụng đến người nầy hoặc vợ ông ta thì sẽ bị xử tử.”
Y-sác gieo hạt giống trong xứ đó và năm ấy ông thu hoạch gấp trăm lần, vì Đức Giê-hô-va ban phước cho ông.
Ông trở nên thịnh vượng, của cải ngày một nhiều thêm đến nỗi ông thành một người vô cùng giàu có.
Ông có nhiều bầy chiên, bầy bò và rất nhiều đầy tớ nên bị người Phi-li-tin ghen tị.
Tất cả những giếng mà trước đây các đầy tớ của Áp-ra-ham, cha ông, đã đào, bây giờ đều bị người Phi-li-tin lấy đất bít lại.
A-bi-mê-léc nói với Y-sác: “Ngươi hãy rời xa chúng ta, vì ngươi đã trở nên quá hùng mạnh so với chúng ta.”
Vậy, Y-sác bỏ nơi ấy, đến đóng trại tại thung lũng Ghê-ra và cư ngụ tại đó.
Y-sác đào lại mấy cái giếng đã đào trong đời Áp-ra-ham, cha mình. Các giếng ấy đã bị người Phi-li-tin lấp lại sau khi Áp-ra-ham qua đời. Ông gọi tên các giếng đó theo tên mà cha ông đã đặt.
Nhưng khi các đầy tớ của Y-sác đào giếng trong thung lũng và gặp được một mạch nước phun,
thì những người chăn chiên ở Ghê-ra đến tranh giành với các người chăn chiên của Y-sác. Họ nói: “Mạch nước nầy là của chúng tôi”, nên ông đặt tên giếng nầy là Ê-sết, vì họ đã tranh giành với ông.
Sau đó, các đầy tớ đào một giếng khác và cũng bị tranh giành, nên ông đặt tên giếng nầy là Sít-na.
Y-sác bỏ chỗ đó đi đào một giếng khác và giếng nầy không bị tranh giành, nên ông đặt tên là Rê-hô-bốt, và nói: “Bây giờ Đức Giê-hô-va đã cho chúng ta chỗ ở rộng rãi, và chúng ta sẽ được thịnh vượng trong xứ nầy.”
Từ chỗ đó, Y-sác đi lên Bê-e Sê-ba.
Đêm ấy, Đức Giê-hô-va hiện đến và phán với ông: “Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, cha của con. Đừng sợ, vì Ta ở với con. Ta sẽ ban phước cho con và làm cho dòng dõi con gia tăng, vì Áp-ra-ham là đầy tớ Ta!”
Y-sác lập một bàn thờ, cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va và đóng trại tại đó. Rồi các đầy tớ của ông đào ở đó một cái giếng.
Vua A-bi-mê-léc từ Ghê-ra đến viếng thăm Y-sác. Cùng đi có cố vấn A-hu-sát và chỉ huy trưởng Phi-côn.
Y-sác hỏi: “Các ông ghét tôi và đã đuổi tôi xa các ông, sao các ông còn đến tìm tôi làm gì nữa?”
Họ trả lời: “Chúng ta thấy rõ Đức Giê-hô-va đã phù hộ ngươi, nên chúng ta nghĩ là giữa ngươi với chúng ta phải có một lời thề để kết ước với nhau.
Ngươi phải thề chẳng bao giờ làm hại chúng ta cũng như chúng ta đã không đụng đến ngươi, trái lại còn hậu đãi và để ngươi ra đi bình an. Bây giờ ngươi là người được Đức Giê-hô-va ban phước.”
Y-sác dọn một bữa tiệc và họ cùng ăn uống với nhau.
Sáng hôm sau họ dậy sớm, lập lời thề với nhau. Rồi Y-sác tiễn các người đó lên đường và họ ra đi bình an.
Cũng trong ngày đó, các đầy tớ của Y-sác đến báo với ông về cái giếng họ mới đào. Họ nói: “Chúng tôi đã tìm thấy nước.”
Ông đặt tên giếng đó là Si-ba. Vì vậy mà thành ấy có tên là Bê-e Sê-ba cho đến ngày nay.
Khi được bốn mươi tuổi thì Ê-sau cưới vợ, một người tên là Giu-đít, con gái của Bê-ê-ri, người Hê-tít, và một người tên là Bách-mát, con gái của Ê-lôn, cũng người Hê-tít.
Hai cô dâu nầy là nỗi đắng cay cho cuộc đời Y-sác và Rê-bê-ca.
Y-sác tuổi cao, mắt mờ không còn thấy được nữa. Ông gọi Ê-sau, con trưởng nam, và nói: “Con ơi!” Ê-sau thưa: “Dạ, con đây.”
Ông nói: “Nầy, cha đã già rồi, chẳng biết chết ngày nào.
Bây giờ, con hãy lấy khí giới, ống tên và cây cung của con, ra đồng săn thú rừng cho cha.
Rồi con làm một món thật ngon theo sở thích của cha, và dọn lên cho cha ăn để cha chúc phước cho con trước khi qua đời.”
Lúc Y-sác nói với Ê-sau, con trai mình, thì Rê-bê-ca nghe được. Vì vậy, trong khi Ê-sau ra đồng săn thú rừng để đem về
thì Rê-bê-ca nói với Gia-cốp, con trai mình: “Nầy, mẹ vừa nghe cha con nói với Ê-sau, anh con, và dặn:
‘Hãy đem thịt rừng về nấu cho cha một món thật ngon để cha ăn và chúc phước cho con trước mặt Đức Giê-hô-va trước khi cha qua đời.’
Vậy, con ơi, bây giờ hãy nghe lời mẹ bảo.
Con mau ra ngoài bầy gia súc, bắt cho mẹ hai dê con thật mập, rồi mẹ sẽ làm một món thật ngon, đúng với sở thích của cha con.
Con sẽ đem đến cho cha ăn để ông chúc phước cho con trước khi qua đời.”
Nhưng Gia-cốp thưa với mẹ: “Mẹ xem, Ê-sau, anh con, người thì đầy lông, còn con thì nhẵn nhụi.
Biết đâu cha sẽ rờ con và con bị phát hiện là kẻ lừa gạt. Vậy thì con tự chuốc lấy sự rủa sả chứ chẳng phải phước lành đâu.”
Mẹ Gia-cốp bảo: “Con ơi, để mẹ chịu sự rủa sả đó cho con; con cứ nghe lời mẹ, ra bắt hai dê con đi.”
Vậy, Gia-cốp đi bắt hai dê con đem đến cho mẹ, và bà làm món ăn ngon, hợp với sở thích của người cha.
Rê-bê-ca lấy quần áo tốt nhất của Ê-sau, con trưởng nam, để sẵn trong nhà mà mặc vào cho Gia-cốp, con trai út.
Bà còn lấy da dê con bọc hai tay và phần cổ nhẵn nhụi của Gia-cốp.
Rồi Rê-bê-ca đặt món ăn ngon và bánh mà bà đã sửa soạn vào tay Gia-cốp, con trai mình.
Gia-cốp đến gần cha và thưa: “Cha ơi!” Y-sác đáp: “Cha đây, con là đứa nào đấy?”
Gia-cốp thưa: “Con là Ê-sau, con trưởng nam của cha đây. Con đã làm như lời cha dặn bảo. Xin cha ngồi dậy, ăn món thịt săn của con rồi cha đích thân chúc phước cho con.”
Y-sác hỏi: “Sao con săn được nhanh thế?” Gia-cốp thưa: “Nhờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của cha giúp con được may mắn.”
Y-sác nói với Gia-cốp: “Con ơi, con lại gần đây để cha rờ xem con có phải là Ê-sau, con của cha không.”
Gia-cốp lại gần cha mình là Y-sác. Ông rờ và nói: “Giọng nói thì của Gia-cốp, mà tay lại của Ê-sau.”
Y-sác không nhận ra Gia-cốp, vì hai tay cũng có lông như của anh là Ê-sau, nên Y-sác chúc phước cho Gia-cốp.
Ông lại hỏi: “Có đúng con là Ê-sau, con trai của cha không?” Gia-cốp thưa: “Dạ phải, chính con đây.”
Rồi Y-sác bảo: “Đem cho cha món thịt rừng con săn được để cha ăn và chúc phước cho con.” Gia-cốp dọn cho cha ăn và cũng mang rượu đến cho cha uống nữa.
Rồi Y-sác nói với Gia-cốp: “Con ơi, hãy lại gần và hôn cha đi.”
Gia-cốp lại gần và hôn cha. Y-sác ngửi mùi thơm từ áo con, liền chúc phước cho. Ông nói: “Nầy, mùi hương của con ta Khác nào mùi hương của cánh đồng mà Đức Giê-hô-va đã ban phước.
Cầu xin Đức Chúa Trời ban cho con sương móc từ trời, Đượm màu mỡ của đất, Dư dật lúa mì và rượu nho.
Nguyện các dân phục vụ con, Các nước quỳ lạy con! Hãy cai trị anh em con, Các con trai của mẹ con đều quỳ lạy con! Ai nguyền rủa con sẽ bị nguyền rủa lại, Ai cầu phước cho con sẽ được ban phước lại!”
Khi Y-sác vừa chúc phước cho Gia-cốp xong và Gia-cốp vừa lui ra khỏi chỗ cha mình thì Ê-sau, anh của chàng, đi săn trở về.
Ê-sau cũng nấu một món thật ngon và đem vào mời cha. Chàng thưa: “Xin cha ngồi dậy và ăn món thịt săn của con trai cha để cha chúc phước cho con.”
Y-sác, cha của Ê-sau, hỏi: “Con là đứa nào?” Ê-sau thưa: “Con là Ê-sau, con trưởng nam của cha đây.”
Y-sác giật bắn cả người, run rẩy hỏi: “Vậy chứ đứa nào đã săn thịt rừng và đem vào mời cha đó? Trước khi con về, cha đã ăn hết và đã chúc phước cho nó rồi; vậy là nó vẫn được ban phước.”
Vừa nghe lời cha nói xong, Ê-sau bật lên một tiếng kêu rất lớn và vô cùng thảm thiết. Chàng nói với cha mình: “Cha ơi! Xin cha cũng chúc phước cho cả con nữa!”
Nhưng Y-sác nói: “Em con đã dùng thủ đoạn mà đến và cướp mất lời chúc phước dành cho con rồi.”
Ê-sau nói: “Có phải đúng như tên gọi nó là Gia-cốp mà đã hai lần nó chiếm chỗ của con chăng? Nó đã chiếm quyền trưởng nam của con, bây giờ còn chiếm luôn phước lành của con nữa.” Rồi ông nói tiếp: “Cha không dành lại cho con một phước lành nào sao?”
Y-sác đáp: “Nầy, cha đã lập nó làm chủ của con, đã cho anh em nó làm đầy tớ nó, và đã chu cấp lúa mì và rượu cho nó. Vậy cha còn làm được gì cho con đây, con ơi!”
Ê-sau thưa: “Cha ơi! Cha chỉ có một lời chúc phước thôi sao? Xin cha chúc phước cho con với, cha ơi!” Rồi, Ê-sau khóc òa lên.
Y-sác, cha của Ê-sau, nói: “Nầy, nơi con ở sẽ thiếu màu mỡ của đất, Và sương móc từ trời.
Con sẽ sống nhờ thanh gươm, Và làm đầy tớ cho em con. Nhưng khi còn rày đây mai đó, Con sẽ bẻ cái ách của em con trên cổ con.”
Từ đó, Ê-sau căm ghét Gia-cốp vì lời chúc phước mà cha ban cho Gia-cốp. Ê-sau tự nhủ: “Cha ta sắp qua đời rồi; sau khi lo tang chế cho cha, ta sẽ giết Gia-cốp, em ta.”
Nhưng ý đồ của Ê-sau, con trưởng nam, đã đến tai Rê-bê-ca. Bà cho gọi Gia-cốp, con trai út đến và nói: “Nầy, Ê-sau anh con có ý định giết con cho hả giận.
Bây giờ, con ơi, hãy nghe lời mẹ, mau đứng dậy và trốn sang nhà La-ban, cậu con, ở Cha-ran đi.
Con cứ ở với cậu một thời gian cho đến khi anh con nguôi giận.
Khi cơn giận anh con qua rồi và anh con quên đi việc con đã gây ra cho nó, thì mẹ sẽ sai người đón con về. Lẽ nào mẹ phải mất cả hai đứa con trong một ngày sao?”
Sau đó, Rê-bê-ca nói với Y-sác: “Tôi chán không còn muốn sống nữa vì mấy cô dâu người Hê-tít. Nếu Gia-cốp kết hôn với một trong các con gái người Hê-tít, tức là một trong những cô gái của xứ nầy, thì tôi còn sống làm gì nữa?”
Y-sác gọi Gia-cốp đến, chúc phước và căn dặn: “Con không được kết hôn với bất cứ cô gái Ca-na-an nào cả.
Nhưng hãy mau đứng dậy, đi qua Pha-đan A-ram, đến nhà Bê-tu-ên, ông ngoại con, và tại đó con cưới một trong các con gái của cậu La-ban làm vợ.
Cầu xin Đức Chúa Trời Toàn Năng ban phước cho con, làm cho dòng dõi con sinh sôi nẩy nở thật nhiều và trở thành một cộng đồng các dân tộc.
Cầu xin Ngài ban cho con và dòng dõi con phước lành của Áp-ra-ham để con sở hữu miền đất mà con đang cư ngụ, tức là miền đất mà Đức Chúa Trời đã ban cho Áp-ra-ham!”
Vậy, Y-sác sai Gia-cốp đi qua Pha-đan A-ram, đến nhà La-ban, con trai Bê-tu-ên người A-ram, là anh của Rê-bê-ca, mẹ của Gia-cốp và Ê-sau.
Ê-sau thấy Y-sác đã chúc phước cho Gia-cốp và sai đến Pha-đan A-ram để cưới vợ, và trong lúc chúc phước cha còn dặn: “Con không được cưới con gái Ca-na-an.”
Ông cũng thấy Gia-cốp vâng lời cha mẹ đi đến Pha-đan A-ram.
Ê-sau biết rằng các cô dâu Ca-na-an không vừa ý Y-sác, cha mình,
cho nên ngoài hai người vợ đã có, Ê-sau đến nhà Ích-ma-ên cưới thêm Ma-ha-lát là con gái của Ích-ma-ên, cháu nội của Áp-ra-ham và em của Nê-ba-giốt.
Gia-cốp rời Bê-e Sê-ba đi đến Cha-ran.
Ông đến một chỗ kia và nghỉ đêm tại đó vì mặt trời đã lặn. Ông lấy một hòn đá gối đầu và nằm ngủ tại đó.
Ông nằm mơ thấy một cái cầu thang nối liền từ đất lên trời và các thiên sứ của Đức Chúa Trời đi lên, đi xuống trên các bậc thang đó.
Kìa, Đức Giê-hô-va đứng trước mặt ông và phán: “Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, tổ phụ con, cũng là Đức Chúa Trời của Y-sác. Ta sẽ ban cho con và dòng dõi con đất mà con đang nằm ngủ.
Dòng dõi con sẽ đông như cát bụi trên đất, lan tràn khắp đông tây nam bắc, và mọi gia tộc trên đất sẽ nhờ con và dòng dõi con mà được phước.
Nầy, Ta ở với con, con đi đâu, Ta sẽ theo gìn giữ đó, và đem con trở về xứ nầy. Ta không bao giờ bỏ con cho đến khi Ta hoàn tất những điều Ta đã hứa với con.”
Gia-cốp thức giấc và nói: “Thật Đức Giê-hô-va đang ngự tại nơi nầy mà tôi không biết!”
Ông phát sợ và nói: “Nơi nầy thật đáng sợ! Đây chính là đền của Đức Chúa Trời, chính là cổng thiên đàng!”
Sáng hôm sau, Gia-cốp dậy sớm, lấy hòn đá gối đầu của mình dựng đứng lên làm cây trụ và đổ dầu lên đỉnh trụ đó.
Ông đặt tên nơi nầy là Bê-tên; trước đó thành nầy có tên là Lu-xơ.
Gia-cốp khấn nguyện rằng: “Nếu Đức Chúa Trời ở với con, gìn giữ con trong lúc đi đường và ban cho con bánh ăn, áo mặc,
và cho con được bình an trở về nhà cha của con, thì Đức Giê-hô-va sẽ là Đức Chúa Trời của con.
Hòn đá mà con đã dựng làm trụ sẽ là đền của Đức Chúa Trời, và con sẽ dâng lên Ngài một phần mười mọi thứ mà Ngài ban cho con.”
Gia-cốp lên đường đi đến xứ của dân phương Đông.
Ông nhìn thấy một cái giếng trong cánh đồng, cạnh đó có ba bầy chiên đang nằm nghỉ, vì đây là nơi các bầy súc vật uống nước. Có một tảng đá lớn đậy miệng giếng lại.
Khi các bầy súc vật tụ về đông đủ rồi, người ta lăn tảng đá trên miệng giếng đi và cho chiên uống nước, rồi lăn tảng đá về chỗ cũ, đậy miệng giếng lại.
Gia-cốp hỏi thăm mấy người chăn chiên: “Các anh ơi! Các anh từ đâu đến?” Họ đáp: “Chúng tôi từ Cha-ran đến.”
Ông hỏi: “Các anh có biết La-ban, con trai Na-cô không?” Họ nói: “Chúng tôi biết.”
Gia-cốp hỏi tiếp: “Ông ấy có mạnh giỏi không?” Họ trả lời: “Ông ấy vẫn mạnh giỏi. Ra-chên con gái của ông đang dẫn bầy chiên đến kìa.”
Gia-cốp nói: “Nầy, trời hãy còn sáng, chưa phải là lúc nhóm súc vật về. Sao các anh không cho chúng uống nước rồi thả cho chúng đi ăn tiếp?”
Họ đáp: “Chúng tôi không thể làm như vậy mà phải đợi cho tất cả các bầy súc vật về đủ, rồi mới lăn tảng đá trên miệng giếng cho chúng uống nước được.”
Khi Gia-cốp còn đang trò chuyện với các người chăn thì Ra-chên dẫn bầy chiên của cha cô đến, vì cô cũng là người chăn chiên.
Vừa thấy Ra-chên, con gái La-ban, cậu mình, Gia-cốp liền đến gần lăn tảng đá khỏi miệng giếng, và cho bầy chiên của cậu mình là La-ban, uống nước.
Gia-cốp hôn Ra-chên rồi khóc òa lên,
và nói cho cô biết rằng mình là bà con với cha cô, là con trai của Rê-bê-ca. Ra-chên liền chạy về báo tin cho cha.
Khi được tin về Gia-cốp, con trai của em gái mình, thì La-ban chạy ra đón, ôm chầm lấy Gia-cốp mà hôn, rồi đưa về nhà. Gia-cốp thuật cho La-ban mọi việc đã xảy ra cho mình.
La-ban nói: “Cháu đúng là cốt nhục của cậu.” Gia-cốp ở với cậu trong một tháng.
Một hôm La-ban nói với Gia-cốp: “Không lẽ vì là bà con của cậu mà cháu phục vụ không công cho cậu sao? Cháu cứ cho cậu biết tiền công của cháu là bao nhiêu.”
Bấy giờ, La-ban có hai con gái: cô chị tên là Lê-a, cô em tên là Ra-chên.
Mắt Lê-a yếu, còn Ra-chên có dáng người cân đối, nét mặt xinh tươi.
Gia-cốp yêu Ra-chên nên thưa với La-ban: “Vì Ra-chên, con gái út của cậu, cháu xin giúp việc cho cậu bảy năm.”
La-ban trả lời: “Thà cậu gả nó cho cháu còn hơn là gả cho người khác. Hãy ở lại đây với cậu.”
Vì Ra-chên, Gia-cốp đã giúp việc trong bảy năm. Nhưng bởi yêu nàng, Gia-cốp xem bảy năm như đôi ba ngày.
Sau đó, Gia-cốp nhắc La-ban: “Cháu đã hoàn tất thời gian giúp việc rồi, xin cậu giao vợ cháu lại để cháu được lui tới với nàng.”
La-ban tổ chức một bữa tiệc và mời tất cả xóm giềng đến dự.
Nhưng tối đó ông đưa Lê-a, con gái mình, đến với Gia-cốp, rồi Gia-cốp ăn nằm với Lê-a.
La-ban cũng cho nữ tì Xinh-ba theo hầu Lê-a, con gái mình.
Sáng hôm sau Gia-cốp mới biết đó là Lê-a. Ông hỏi La-ban: “Cha đã làm gì cho con vậy? Có phải vì Ra-chên mà con giúp việc cho nhà cha không? Sao cha lừa gạt con?”
La-ban đáp: “Ở đây không có lệ gả cô em trước khi gả cô chị.
Con cứ ở với Lê-a trọn tuần lễ cưới nầy đi, rồi cha sẽ gả luôn Ra-chên cho con; bù lại, con phải làm việc cho cha thêm bảy năm nữa.”
Gia-cốp làm theo lời, ở với Lê-a trọn tuần lễ cưới đó, rồi La-ban gả Ra-chên, con gái mình, cho Gia-cốp.
La-ban cũng cho nữ tì Bi-la theo hầu Ra-chên, con gái mình.
Gia-cốp cũng đi lại với Ra-chên, và yêu Ra-chên hơn Lê-a. Vậy, Gia-cốp giúp việc cho La-ban thêm bảy năm nữa.
Đức Giê-hô-va thấy Lê-a ít được thương yêu nên cho bà sinh con, còn Ra-chên lại hiếm muộn.
Lê-a mang thai và sinh con trai, đặt tên là Ru-bên và nói: “Đức Giê-hô-va đã thấy nỗi ưu phiền của tôi, bây giờ chồng sẽ yêu tôi.”
Bà lại mang thai và sinh con trai, đặt tên là Si-mê-ôn và nói: “Đức Giê-hô-va đã nghe biết tôi ít được yêu thương nên cho thêm đứa nầy.”
Bà mang thai lần nữa và sinh con trai. Bà nói: “Lần nầy chồng tôi sẽ gắn bó với tôi vì tôi đã sinh cho ông ba đứa con trai.” Vì vậy, bà đặt tên con là Lê-vi.
Bà lại mang thai và sinh con trai. Bà nói: “Lần nầy tôi ca ngợi Đức Giê-hô-va”. Vì thế, bà đặt tên con là Giu-đa. Rồi bà ngưng sinh đẻ.
Khi Ra-chên thấy mình không sinh con cho Gia-cốp thì ghen tị với chị, và nói với Gia-cốp: “Ông phải cho tôi có con, nếu không chắc tôi chết mất!”
Gia-cốp nổi giận nói với Ra-chên: “Tôi có quyền thay Đức Chúa Trời là Đấng không cho bà sinh đẻ được sao?”
Ra-chên nói: “Đây có Bi-la, nữ tì của tôi, ông hãy đi lại với nó, để nó thay tôi sinh con và nhờ nó mà tôi cũng có con nữa.”
Vậy, Ra-chên giao nữ tì Bi-la cho Gia-cốp làm hầu thiếp, và ông đi lại với nàng.
Bi-la mang thai và sinh cho Gia-cốp một đứa con trai.
Ra-chên nói: “Đức Chúa Trời đã minh xét cho tôi, nghe tiếng van nài của tôi, và ban cho tôi một con trai.” Vì vậy, bà đặt tên đứa bé là Đan.
Bi-la, nữ tì của Ra-chên, lại mang thai và sinh cho Gia-cốp một con trai thứ hai.
Ra-chên nói: “Tôi đã dốc sức chiến đấu với chị tôi, và tôi đã thắng.” Vì vậy, bà đặt tên đứa bé nầy là Nép-ta-li.
Khi Lê-a thấy mình ngưng sinh sản thì bắt nữ tì Xinh-ba giao cho Gia-cốp làm hầu thiếp.
Xinh-ba, nữ tì của Lê-a, sinh cho Gia-cốp một con trai.
Lê-a nói: “May mắn quá!” Rồi bà đặt tên đứa bé là Gát.
Xinh-ba, nữ tì của Lê-a, sinh một con trai thứ nhì cho Gia-cốp.
Lê-a nói: “Tôi hạnh phúc biết bao! Vì các cô gái sẽ gọi tôi là người có phước.” Bà đặt tên đứa trẻ là A-se.
Vào mùa gặt lúa mì, Ru-bên đi ra đồng, tìm được những trái táo rừng, và đem về biếu mẹ là Lê-a. Ra-chên nói với Lê-a: “Xin chị cho em vài trái táo rừng của con chị.”
Nhưng Lê-a nói: “Cướp chồng của tôi chưa đủ hay sao mà cô còn muốn lấy luôn mấy trái táo rừng của con trai tôi nữa?” Ra-chên nói: “Thế thì, em nhường ông ấy ở với chị đêm nay để đổi mấy trái táo rừng của con chị.”
Đến chiều tối, khi Gia-cốp từ ngoài đồng về, Lê-a ra đón ông và nói: “Ông hãy đến với tôi, vì tôi đã đổi ông bằng những trái táo rừng của con tôi rồi.” Vậy, đêm ấy Gia-cốp lại nằm với Lê-a.
Đức Chúa Trời nhậm lời Lê-a. Bà mang thai và sinh cho Gia-cốp đứa con trai thứ năm.
Lê-a nói: “Đức Chúa Trời đã trả công cho tôi, vì tôi đã giao nữ tì mình cho chồng.” Bà đặt tên cho đứa trẻ đó là Y-sa-ca.
Lê-a lại mang thai và sinh đứa con trai thứ sáu cho Gia-cốp.
Bà nói: “Đức Chúa Trời đã ban cho tôi một món quà quý giá. Bây giờ chồng tôi sẽ quý trọng tôi vì tôi đã sinh cho ông sáu người con trai.” Bà đặt tên đứa trẻ nầy là Sa-bu-lôn.
Sau đó, bà sinh một đứa con gái và đặt tên là Đi-na.
Đức Chúa Trời nhớ đến Ra-chên, nhậm lời bà và cho bà sinh sản.
Bà mang thai và sinh một con trai. Bà nói: “Đức Chúa Trời đã cất bỏ nỗi nhục nhã cho tôi rồi.”
Bà đặt tên đứa trẻ là Giô-sép và nói: “Cầu xin Đức Giê-hô-va ban thêm cho tôi một con trai nữa!”
Sau khi Ra-chên sinh Giô-sép, Gia-cốp thưa với La-ban: “Xin cha cho con đi để con trở về quê hương, xứ sở con.
Xin giao hai vợ và con cái của con lại để con ra đi. Cha thừa biết con đã vì họ mà phục vụ cha thế nào rồi.”
La-ban nói: “Ước gì cha được ơn trước mặt con! Cha linh cảm rằng Đức Giê-hô-va đã vì con mà ban phước cho cha.”
Ông nói thêm: “Con cứ định tiền công đi, cha sẽ trả.”
Gia-cốp nói: “Cha biết con đã giúp đỡ cha thế nào, và nhờ con mà đàn gia súc của cha đã gia tăng ra sao rồi.
Trước khi con đến, đàn gia súc của cha ít oi, nhưng bây giờ thì tăng lên gấp bội. Bàn chân con bước đến đâu, Đức Giê-hô-va ban phước cho cha đến đấy. Vậy, khi nào con mới được lo cho gia đình riêng của mình?”
La-ban nói: “Cha sẽ cho con cái gì đây?” Gia-cốp thưa: “Cha sẽ chẳng phải cho con thứ gì cả. Nếu cha đồng ý điều nầy thì con sẽ tiếp tục chăn giữ đàn gia súc cho cha.
Hôm nay, cha cho con kiểm soát tất cả các bầy gia súc của cha và tách ra khỏi bầy những con chiên và dê có vằn, có đốm, cũng như những chiên con màu đen. Đó sẽ là tiền công của con.
Sau nầy, khi cha xem xét tiền công của con thì lòng trung thực của con sẽ làm chứng cho con. Nếu trong bầy của con có bất cứ con dê nào không có vằn và đốm, hoặc chiên con nào lông không đen thì sẽ bị xem là vật ăn cắp.”
La-ban nói: “Được! Cha đồng ý với con.”
Nhưng ngay hôm ấy, La-ban tách riêng các dê đực có sọc và đốm, các dê cái có vằn và đốm, tất cả các con vật có đốm trắng và các chiên con có lông đen, rồi giao cho các con trai mình chăn giữ.
Ông để Gia-cốp ở xa mình một khoảng cách ba ngày đường. Gia-cốp chăn phần gia súc còn lại trong bầy của La-ban.
Gia-cốp tìm những cành bạch dương, cành bồ đào và cành bá tiên còn tươi, rồi lột vỏ theo từng đường sọc để lộ ra màu trắng trong thân cây.
Ông đặt những cành đã lột vỏ vào trong máng nước, trước mặt bầy thú, chỗ chúng đến uống nước. Vì các con thú thường bị kích dục khi đến uống nước
nên khi chúng nhìn những cành cây ấy mà giao phối thì sinh những con vật có sọc, có vằn và có đốm.
Gia-cốp tách riêng các chiên cái ra và cho chúng quay mặt về phía những con có sọc và màu đen trong bầy của La-ban. Ông làm vậy để gầy riêng cho mình một bầy gia súc, không để chung với bầy của La-ban.
Mỗi khi các con vật mập mạnh giao phối, thì Gia-cốp đặt các cành lột vỏ trong máng nước, trước mắt chúng, để chúng giao phối trước các cành đó.
Nhưng với các con vật gầy ốm thì ông không để các cành đó; vì vậy, các con vật ốm yếu thuộc về La-ban, còn những con mập mạnh thuộc về Gia-cốp.
Như vậy, ông càng lúc càng phát đạt, có nhiều đàn gia súc, tôi trai, tớ gái, lạc đà và lừa.
Gia-cốp nghe được lời của các con trai La-ban nói với nhau: “Gia-cốp đã sang đoạt tài sản của cha chúng ta, và nhờ tài sản đó mà trở nên giàu có.”
Gia-cốp cũng để ý đến nét mặt La-ban và thấy thái độ của ông đối với mình không còn như trước nữa.
Đức Giê-hô-va phán với Gia-cốp: “Hãy trở về nơi quê cha đất tổ và họ hàng của con. Ta sẽ ở với con.”
Gia-cốp sai người gọi Ra-chên và Lê-a ra đồng, nơi ông đang chăn bầy,
và nói: “Tôi thấy thái độ của cha các bà đối với tôi không còn như trước nữa; nhưng Đức Chúa Trời của cha tôi vẫn ở với tôi.
Chính các bà cũng biết rằng tôi đã dốc sức phục vụ cha các bà
mà ông ấy lại lường gạt tôi, và thay đổi tiền công của tôi đến mười lần. Nhưng Đức Chúa Trời không cho phép ông ấy làm hại tôi.
Nếu ông nói: ‘Những con vật có đốm sẽ là tiền công của con’, thì cả bầy đều đẻ con có đốm. Còn nếu ông nói: ‘Những con vật có sọc sẽ là tiền công của con’, thì cả bầy đều đẻ con có sọc.
Đức Chúa Trời đã lấy bầy gia súc của cha các bà mà ban cho tôi như vậy đó.
Trong mùa giao phối của gia súc, tôi nằm chiêm bao thấy mình ngước mắt nhìn các dê đực giao phối trong bầy đều có sọc, có vằn và có đốm.
Thiên sứ của Đức Chúa Trời gọi tôi trong chiêm bao: ‘Gia-cốp!’ Tôi thưa: ‘Có con đây!’
Thiên sứ nói: ‘Hãy ngước mắt lên mà nhìn, tất cả các dê đực đang giao phối đều có sọc, có vằn và có đốm, vì Ta đã thấy cách La-ban đối xử với con rồi.
Ta là Đức Chúa Trời tại Bê-tên, nơi con đã đổ dầu trên trụ đá và khấn nguyện với Ta. Bây giờ, con hãy đứng dậy, rời khỏi xứ nầy và trở về quê cha đất tổ của mình.’”
Ra-chên và Lê-a đáp: “Chúng tôi nào có gia tài hay sản nghiệp gì trong nhà cha chúng tôi nữa đâu.
Chẳng phải chúng tôi đã bị cha xem như người dưng đó sao? Vì ông đã gả bán chúng tôi và tiêu sạch cả tiền bạc bán gả chúng tôi.
Tất cả tài sản mà Đức Chúa Trời lấy từ cha chúng tôi đương nhiên thuộc về chúng ta và con cái chúng ta. Vậy bây giờ, ông cứ làm theo mọi điều Đức Chúa Trời đã phán dạy.”
Gia-cốp liền đứng dậy, đỡ vợ và con lên lạc đà,
dẫn theo tất cả súc vật và mọi tài sản mình có, tức là bầy súc vật mà ông đã gây dựng được ở Pha-đan A-ram, để trở về với Y-sác, cha mình, ở Ca-na-an.
Nhân lúc La-ban đi hớt lông chiên, Ra-chên lấy trộm các tượng thần trong nhà cha mình.
Gia-cốp đánh lừa La-ban, người A-ram, không cho ông biết ý định bỏ trốn của mình.
Vậy, ông trốn đi, đem theo tất cả những gì mình có, bắt đầu vượt qua sông và hướng thẳng về vùng đồi núi Ga-la-át.
Đến ngày thứ ba, khi được báo tin Gia-cốp đã trốn đi,
La-ban đem bà con anh em mình đuổi theo Gia-cốp suốt bảy ngày, và bắt kịp tại núi Ga-la-át.
Nhưng ban đêm, trong giấc chiêm bao, Đức Chúa Trời hiện đến với La-ban, người A-ram, và phán với ông: “Dù lành hay dữ, hãy thận trọng, đừng nặng lời với Gia-cốp.”
Khi La-ban bắt kịp Gia-cốp thì Gia-cốp đã đóng trại trên núi; La-ban và bà con anh em mình cũng đóng trại trên núi.
La-ban nói với Gia-cốp: “Con đã làm gì vậy? Tại sao con đánh lừa cha và dẫn các con gái của cha đi như tù binh vậy?
Tại sao con lén lút trốn đi và lừa gạt cậu? Sao không cho cha biết để cha tiễn các con đi cách vui vẻ trong tiếng hát, tiếng đàn và tiếng trống?
Sao con không để cho cha hôn từ biệt con cháu của cha? Con đã hành động thật dại dột!
Cha thừa sức để làm hại con, nhưng đêm qua Đức Chúa Trời của tổ phụ con đã phán với cha rằng: ‘Dù lành hay dữ, hãy thận trọng, đừng nặng lời với Gia-cốp.’
Bây giờ, vì quá mong muốn trở về quê cha đất tổ mà con đã ra đi, nhưng tại sao con lại lấy trộm các tượng thần của cha?”
Gia-cốp nói với La-ban: “Vì con sợ cha sẽ bắt hai người con gái của cha lại.
Còn nếu cha tìm thấy các tượng thần của cha nơi ai thì người đó sẽ phải chết. Bây giờ, trước sự chứng kiến của bà con chúng ta, cha cứ lục soát hành lý của con, vật gì thuộc về cha, xin cha lấy lại.” Gia-cốp thực tình không biết rằng Ra-chên đã lấy trộm các tượng thần đó.
Vậy, La-ban vào trại Gia-cốp, trại Lê-a, trại hai nữ tì, nhưng chẳng tìm được gì cả. Từ trại Lê-a ông bước sang trại Ra-chên.
Ra-chên đã lấy các tượng thần đó và giấu dưới bành lạc đà rồi ngồi lên trên. La-ban lục soát khắp trại nhưng chẳng thấy các tượng thần.
Ra-chên thưa với cha: “Vì trong con có việc riêng của phụ nữ, con không tiện đứng dậy trước mặt cha, xin cha đừng giận con.” La-ban lục lọi nhưng chẳng thấy các tượng thần đâu cả.
Bấy giờ Gia-cốp nổi giận và trách La-ban: “Con có tội gì, có lỗi gì mà cha hằm hằm truy đuổi con như vậy!
Cha đã lục soát tất cả hành lý của con, cha có tìm được vật gì thuộc về nhà cha không? Cha cứ đem tang vật đó ra trước mặt anh em bà con hai bên, để họ phân xử cho chúng ta.
Suốt hai mươi năm con ở với cha, chiên và dê của cha không hề bị sẩy thai, và con chẳng bao giờ ăn thịt chiên đực trong bầy của cha.
Con cũng chưa hề đem về cho cha một con vật nào bị thú rừng cắn xé; nếu có thì chính con đã bồi thường cho cha rồi. Cha còn đòi luôn những con bị mất cắp ban ngày hay bị bắt trộm ban đêm.
Ban ngày con bị nắng thiêu, ban đêm chịu lạnh lẽo, ngủ không an giấc.
Hai mươi năm con ở trong nhà cha là thế đấy. Con phải giúp việc cho cha mười bốn năm để được hai cô con gái của cha, sáu năm để có được bầy súc vật từ bầy của cha, mà cha còn thay đổi tiền công của con đến mười lần.
Nếu Đức Chúa Trời của tổ phụ con, là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, là Đấng mà Y-sác kính sợ, không phù hộ con, chắc bây giờ cha đã đuổi con đi với hai bàn tay trắng. Đức Chúa Trời đã nhìn thấy nỗi đớn đau và công lao của con nên đêm qua Ngài đã phân xử rồi.”
La-ban trả lời Gia-cốp: “Các cô gái nầy là con gái của cha, các đứa trẻ nầy là cháu của cha, các bầy súc vật nầy là bầy của cha. Tất cả những gì con thấy đều là của cha. Nhưng hôm nay cha có thể làm gì được với các con gái và các cháu của cha đây?
Bây giờ, hãy đến, chúng ta cùng kết ước với nhau để làm bằng chứng giữa cha và con.”
Gia-cốp lấy một tảng đá, dựng lên làm trụ;
rồi bảo anh em họ hàng mình: “Hãy gom đá lại.” Họ gom đá lại, chất thành một đống, và ngồi ăn bên đống đá.
La-ban đặt tên đống đá đó là Y-ê-ga Sa-ha-đu-ta; còn Gia-cốp gọi là Ga-lét.
La-ban nói: “Hôm nay đống đá nầy làm chứng giữa cha và con.” Vì thế, người đặt tên nó là Ga-lét.
Đống đá nầy cũng được gọi là Mích-pa, vì La-ban có nói: “Cầu xin Đức Giê-hô-va canh giữ cha và con khi chúng ta xa cách nhau.
Nếu con bạc đãi các con gái của cha, hoặc ngoài các con gái của cha ra con còn cưới vợ khác, thì hãy nhớ rằng, dù không có người nào xem xét chúng ta, Đức Chúa Trời vẫn là nhân chứng giữa cha và con.”
La-ban còn nói với Gia-cốp: “Nầy là đống đá, nầy là trụ đá mà cha đã dựng lên giữa cha và con.
Đống đá nầy và trụ đá nầy làm chứng rằng cha không được vượt quá nơi nầy để đến chỗ con, và con cũng không được vượt quá nơi nầy để đến chỗ cha, với ý đồ xấu.
Cầu xin Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham và Đức Chúa Trời của Na-cô phân xử giữa chúng ta!” Gia-cốp nhân danh Đấng mà cha mình là Y-sác kính sợ mà thề,
rồi dâng sinh tế tại trên núi, và mời các anh em bà con dùng bữa. Sau khi dùng bữa, họ nghỉ qua đêm trên núi.
Hôm sau, La-ban dậy sớm, hôn từ biệt và chúc phước cho con cháu, rồi lên đường trở về nhà.
Gia-cốp tiếp tục cuộc hành trình; các thiên sứ của Đức Chúa Trời gặp ông.
Khi thấy các vị đó, Gia-cốp nói: “Đây là trại quân của Đức Chúa Trời!”. Vì thế ông đặt tên chỗ đó là Ma-ha-na-im.
Gia-cốp sai sứ giả đi trước đến gặp Ê-sau, anh mình, tại xứ Sê-i-rơ thuộc địa phận Ê-đôm.
Ông dặn họ: “Các ngươi hãy thưa với Ê-sau, chúa ta rằng Gia-cốp, đầy tớ chúa, có nói: ‘Tôi đã tạm trú tại nhà La-ban và ở mãi đó cho đến ngày nay.
Tôi có bò, lừa, chiên, tôi trai, tớ gái. Tôi sai người đến thưa trước với anh để được anh vui lòng tiếp nhận.’”
Các sứ giả trở về nói với Gia-cốp: “Chúng tôi đã đi đến Ê-sau, anh của chủ. Ông ấy đang đem bốn trăm người đến để đón chủ.”
Gia-cốp vô cùng kinh hãi và lo lắng. Ông chia các gia nhân cũng như các bầy chiên, bò, lạc đà thành hai toán.
Ông nghĩ: “Nếu Ê-sau đến và tấn công toán nầy thì toán kia sẽ chạy thoát được.”
Gia-cốp cầu nguyện: “Kính lạy Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, tổ phụ con! Đức Chúa Trời của Y-sác, cha con! Kính lạy Đức Giê-hô-va, là Đấng đã phán với con rằng: ‘Hãy trở về quê hương con và họ hàng con. Ta sẽ hậu đãi con.’
Con thật không xứng đáng với tình yêu thương và đức thành tín mà Ngài đã dành cho đầy tớ Ngài. Khi vượt qua sông Giô-đanh con chỉ có cây gậy thôi, thế mà hôm nay con đã có hai toán người và tài sản nầy.
Lạy Đức Chúa Trời, xin giải cứu con khỏi tay Ê-sau, anh con, vì con sợ anh ấy sẽ đến đánh giết con cùng vợ và các con của con nữa.
Nhưng chính Ngài đã hứa với con: ‘Chắc chắn Ta sẽ hậu đãi con và làm cho dòng dõi con đông như cát biển, không thể đếm được vì quá đông.’”
Ông nghỉ đêm tại đó, rồi chọn trong các thứ mình đang có để làm quà biếu cho Ê-sau, anh mình.
Quà biếu gồm có: Hai trăm dê cái và hai mươi dê đực; hai trăm chiên cái và hai mươi chiên đực;
ba mươi lạc đà cái và đàn con còn bú; bốn mươi bò cái và mười bò đực; hai mươi lừa cái và mười lừa đực.
Rồi ông giao vào tay các đầy tớ từng bầy riêng rẽ và dặn họ: “Các ngươi hãy đi trước ta và nhớ giữ khoảng cách giữa bầy nầy với bầy kia.”
Ông dặn người dẫn đầu: “Khi Ê-sau, anh ta, gặp và hỏi: ‘Chủ ngươi là ai? Ngươi đi đâu? Bầy súc vật đi trước ngươi đó thuộc về ai?’
Ngươi hãy trả lời: ‘Bầy súc vật nầy của đầy tớ ông là Gia-cốp. Đây là món quà ông ấy gửi biếu chúa tôi là Ê-sau; và nầy, ông ấy đang đi đằng sau chúng tôi.’”
Gia-cốp cũng dặn người thứ hai, thứ ba và tất cả những người đi theo giữ bầy rằng: “Khi gặp Ê-sau, các ngươi hãy lấy lời lẽ đó mà thưa gửi,
và nói: ‘Kìa, đầy tớ ngài là Gia-cốp, đang theo sau chúng tôi.’” Vì Gia-cốp thầm nghĩ: “Ta đưa các tặng vật nầy đi trước để làm cho Ê-sau nguôi giận, rồi sau đó hẳn giáp mặt; có lẽ anh ấy sẽ tiếp ta tử tế.”
Vậy, tặng vật đưa đi trước, còn Gia-cốp nghỉ đêm trong trại.
Đêm ấy Gia-cốp thức dậy, dẫn hai bà vợ, hai nữ tì và mười một người con đi qua chỗ cạn của sông Gia-bốc.
Ông đưa họ qua rạch cùng với tài sản mình.
Đang khi Gia-cốp ở lại một mình thì có một người vật lộn với ông cho đến rạng đông.
Trong lúc vật lộn, người đó thấy mình không thắng nổi nên đánh vào xương hông Gia-cốp, làm cho xương hông bị trặc.
Người đó nói: “Trời đã sáng rồi, hãy để cho ta đi.” Nhưng Gia-cốp đáp: “Tôi không cho ngài đi đâu, nếu ngài không ban phước cho tôi.”
Người đó hỏi: “Ngươi tên gì?” Ông trả lời: “Tên tôi là Gia-cốp.”
Người đó bảo: “Tên ngươi sẽ không còn là Gia-cốp nữa, nhưng là Y-sơ-ra-ên, vì ngươi đã tranh đấu với Đức Chúa Trời và người ta, và ngươi đều thắng cả.”
Gia-cốp hỏi: “Xin cho con biết tên Ngài.” Người ấy đáp: “Tại sao ngươi hỏi tên ta?” Rồi người ấy ban phước cho Gia-cốp tại đó.
Gia-cốp đặt tên chỗ đó là Phê-ni-ên, và giải thích: “Vì tôi đã thấy Đức Chúa Trời mặt đối mặt nhưng mạng sống tôi vẫn được bảo toàn.”
Khi ông đi qua Phê-ni-ên thì mặt trời đã mọc, bước chân ông khập khễnh vì bị trặc xương hông.
Bởi vậy, cho đến nay dân Y-sơ-ra-ên không bao giờ ăn gân bắp đùi, chỗ khớp xương hông, vì người đó đã đánh vào xương hông Gia-cốp, chỗ gân bắp đùi.
Gia-cốp ngước mắt nhìn, và kìa, Ê-sau đang dẫn bốn trăm người tiến đến. Gia-cốp liền chia các con cho Lê-a, Ra-chên, và hai nữ tì.
Ông xếp cho hai nữ tì và các con của họ đi trước, rồi đến Lê-a và các con bà, và sau cùng là Ra-chên và Giô-sép.
Còn ông thì vượt lên trước họ, sấp mặt xuống đất bảy lần, cho tới khi đến gần anh mình.
Nhưng Ê-sau chạy đến đón, ôm chầm Gia-cốp, bá lấy cổ mà hôn, rồi cả hai cùng khóc.
Khi ngẩng lên thấy đám phụ nữ và trẻ con, Ê-sau hỏi: “Những người đi với em là ai vậy?” Gia-cốp trả lời: “Đó là những đứa con mà Đức Chúa Trời đã đoái ban cho đầy tớ anh.”
Hai nữ tì cùng con cái họ đến gần Ê-sau và sấp mặt xuống đất.
Rồi Lê-a và các con cái bà đến gần, sấp mặt xuống, và sau cùng, Ra-chên và Giô-sép cũng đến gần, và sấp mặt xuống.
Ê-sau hỏi: “Em định làm gì với các bầy súc vật mà anh vừa gặp đó?” Gia-cốp đáp: “Ấy là để được anh đoái thương.”
Ê-sau nói: “Nầy em, anh có nhiều rồi, cái gì của em thì em cứ giữ.”
Gia-cốp nài nỉ: “Không, em van anh. Nếu em được ơn trước mặt anh, xin anh nhận lấy món quà biếu từ tay em. Được thấy mặt anh thật chẳng khác gì được thấy mặt Đức Chúa Trời, vì anh đã vui lòng tiếp nhận em.
Xin anh vui nhận món quà em biếu anh, vì Đức Chúa Trời đã thương xót em và ban cho em đầy đủ mọi sự.” Ông nài ép mãi và Ê-sau đã phải nhận.
Ê-sau nói: “Nào, chúng ta hãy lên đường! Anh sẽ đi trước em.”
Gia-cốp đáp: “Như chúa biết đó, mấy đứa trẻ còn yếu lắm, mà em thì lại phải chăm sóc đàn chiên và bò cái đang còn cho con bú. Nếu ép chúng đi nhanh, dù chỉ một ngày thôi, thì cả bầy sẽ chết hết.
Xin chúa cứ đi trước đầy tớ chúa, còn em sẽ đi chậm chậm, theo chân của đám trẻ con và bầy súc vật cho đến khi gặp chúa tại Sê-i-rơ.”
Ê-sau nói: “Vậy anh để lại cho em một vài tùy tùng của anh nhé.” Gia-cốp trả lời: “Nhưng để làm gì? Em chỉ mong được ơn trước mặt chúa của em thôi!”
Ngay hôm ấy, Ê-sau trở về Sê-i-rơ.
Nhưng Gia-cốp đi đến Su-cốt, cất cho mình một cái nhà và mấy túp lều cho súc vật. Vì vậy, ông đặt tên chỗ đó là Su-cốt.
Sau khi từ Pha-đan A-ram về, Gia-cốp đến thành Si-chem, thuộc xứ Ca-na-an, bình an vô sự. Ông đóng trại đối diện với thành,
và mua lại của con cháu Hê-mô, cha Si-chem, miếng đất mà ông đang đóng trại, với giá một trăm miếng bạc.
Tại đây, Gia-cốp lập một bàn thờ và đặt tên là Ên Ên-lô-hê Y-sơ-ra-ên.
Một hôm, Đi-na, người con gái mà Lê-a sinh cho Gia-cốp, đi ra làm quen với các cô gái trong vùng.
Si-chem, con trai của thủ lĩnh Hê-mô, người Hê-vít, trông thấy cô thì bắt đi rồi cưỡng ép cô nằm với mình.
Tâm hồn Si-chem vương vấn Đi-na, con gái Gia-cốp. Chàng yêu thương cô gái và dùng lời ngọt dịu vỗ về cô.
Si-chem thưa với Hê-mô, cha mình, rằng: “Xin cha cưới cô gái nầy cho con.”
Lúc Gia-cốp được tin Si-chem xâm phạm tiết hạnh Đi-na, con gái mình, thì các con trai ông vẫn còn ở ngoài đồng với bầy súc vật, nên ông giữ yên lặng cho đến khi họ trở về.
Hê-mô, cha Si-chem, đến gặp Gia-cốp để thưa chuyện với ông.
Các con trai Gia-cốp ở ngoài đồng trở về. Vừa nghe chuyện, những người nầy đã nổi nóng và giận dữ vì Si-chem đã làm điều đồi bại trong Y-sơ-ra-ên khi nằm với con gái Gia-cốp, là điều không bao giờ được phép làm.
Nhưng Hê-mô nói với họ: “Tâm hồn Si-chem, con trai tôi, đã say đắm con gái các ông. Xin gả cô ấy cho con trai tôi.
Hãy kết nghĩa thông gia với chúng tôi. Các ông gả con gái cho chúng tôi và cưới các con gái chúng tôi cho các ông.
Các ông sẽ ở với chúng tôi, xứ nầy sẵn sàng đón tiếp các ông. Xin cứ sinh sống, buôn bán và tạo dựng sự nghiệp tại đây.”
Si-chem thưa với cha và các anh của cô gái: “Xin quý vị làm ơn cho tôi, bất cứ yêu cầu nào của quý vị, tôi cũng xin đáp ứng.
Xin cứ đòi sính lễ và quà cưới thật cao, tôi xin nộp đúng như quý vị đòi hỏi; chỉ xin quý vị gả cô gái đó cho tôi.”
Các con trai Gia-cốp dùng mưu mà trả lời Si-chem và Hê-mô, cha chàng, vì Si-chem đã xâm phạm tiết hạnh của Đi-na, em gái họ.
Họ nói: “Gả em gái chúng tôi cho người chưa chịu cắt bì là một việc chúng tôi không thể làm được, vì đó sẽ là một điều sỉ nhục đối với chúng tôi.
Chúng tôi chỉ nhận lời các ông với điều kiện là các ông phải trở nên giống như chúng tôi, nghĩa là mọi người nam phải chịu cắt bì.
Được vậy, chúng tôi sẽ gả con gái chúng tôi cho các ông, và sẽ cưới con gái các ông cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ sống chung với các ông và chúng ta sẽ trở nên một dân tộc.
Còn nếu các ông không nghe lời chúng tôi, và không chịu cắt bì, thì chúng tôi sẽ bắt con gái lại và dọn đi nơi khác.”
Lời lẽ của họ làm vừa lòng Hê-mô và Si-chem, con trai ông.
Chàng trai trẻ đó không chậm trễ thực hiện các yêu cầu vì cậu đã say mê con gái của Gia-cốp. Hơn nữa, Si-chem là người được tôn trọng nhất trong gia đình.
Vậy, Hê-mô và Si-chem, con trai ông, đến cổng thành và nói với dân trong thành rằng:
“Những người nầy rất thuận thảo với chúng ta. Hãy để họ ở trong xứ và buôn bán, vì đất nầy còn đủ chỗ cho họ. Chúng ta sẽ cưới con gái của họ và gả con gái chúng ta cho họ.
Nhưng họ chỉ đồng ý sống với chúng ta để trở thành một dân tộc, với điều kiện mọi người nam trong chúng ta cũng chịu cắt bì như mọi người nam của họ.
Các bầy súc vật, tài sản và tất cả gia súc của họ sẽ chẳng thuộc về chúng ta sao? Chỉ cần chúng ta đồng ý với họ thì họ sẽ sống chung với chúng ta.”
Tất cả những người ra họp ở cổng thành đều nghe theo lời Hê-mô và Si-chem, con trai ông, và mọi người nam trong thành đều chịu cắt bì.
Đến ngày thứ ba, khi mọi người còn đang đau, hai con trai Gia-cốp là Si-mê-ôn và Lê-vi, tức là các anh của Đi-na, cầm gươm, bất thần xông vào thành giết tất cả các người nam.
Họ dùng gươm giết Hê-mô và Si-chem, con trai ông, đem Đi-na ra khỏi nhà Si-chem, rồi đi.
Các con trai Gia-cốp đạp lên những xác chết mà cướp phá thành, vì em gái họ đã bị xâm phạm tiết hạnh.
Họ bắt các bầy chiên, bò, lừa, và lấy hết những gì ở trong thành cũng như ngoài đồng.
Họ cướp đoạt và đem đi tất cả tài sản, đàn bà, con trẻ và bất cứ vật gì có trong nhà.
Gia-cốp nói với Si-mê-ôn và Lê-vi: “Các con gây rắc rối cho cha, làm cho cư dân xứ nầy, là người Ca-na-an và người Phê-rê-sít, ghê tởm cha. Cha chỉ có một ít người, nếu họ liên kết lại chống đối và tấn công cha thì cha và cả nhà mình sẽ bị tiêu diệt.”
Nhưng họ phân trần: “Chẳng lẽ để cho chúng đối xử với em gái chúng con như một gái điếm sao?”
Đức Chúa Trời phán với Gia-cốp: “Hãy mau đi lên Bê-tên và ở đó. Cũng hãy lập tại đó một bàn thờ cho Đức Chúa Trời, là Đấng đã hiện ra với con khi con chạy trốn anh con là Ê-sau.”
Gia-cốp bảo người nhà và những người cùng đi với ông: “Hãy dẹp bỏ các tượng thần ngoại bang khỏi các ngươi, thanh tẩy chính mình và thay áo quần.
Chúng ta hãy chuẩn bị đi lên Bê-tên. Ta sẽ lập tại đó một bàn thờ cho Đức Chúa Trời, là Đấng đã nhậm lời ta trong ngày nguy khốn, và đã phù hộ ta trong suốt chặng đường.”
Họ liền nộp cho Gia-cốp tất cả các tượng thần ngoại bang mà họ đang giữ, cũng như các khoen họ đang đeo trên tai. Gia-cốp đem chôn những thứ đó dưới gốc cây sồi gần thành Si-chem.
Gia đình Gia-cốp lên đường. Đức Chúa Trời giáng kinh hãi trên các thành chung quanh đó nên không một ai dám đuổi theo các con trai Gia-cốp.
Gia-cốp và những người đi theo ông cùng đến Lu-xơ (tức là Bê-tên), thuộc xứ Ca-na-an.
Ông lập tại đó một bàn thờ và đặt tên chỗ nầy là Ên Bê-tên, vì tại đây Đức Chúa Trời đã hiện ra với ông khi ông chạy trốn anh mình.
Bấy giờ Đê-bô-ra, vú nuôi của Rê-bê-ca, qua đời, được chôn dưới gốc cây sồi ở thành Bê-tên. Vì vậy, người ta gọi là cây A-lôn Ba-cút.
Khi Gia-cốp từ Pha-đan A-ram về, Đức Chúa Trời lại hiện ra với Gia-cốp và ban phước cho ông.
Đức Chúa Trời phán: “Tên con là Gia-cốp, nhưng con sẽ không được gọi là Gia-cốp nữa mà tên con sẽ là Y-sơ-ra-ên.” Rồi Ngài đặt tên cho ông là Y-sơ-ra-ên.
Đức Chúa Trời lại phán với ông: “Ta là Đức Chúa Trời Toàn Năng; hãy sinh sản và gia tăng gấp bội. Một dân tộc rồi một cộng đồng nhiều dân tộc sẽ ra từ con, và các vua chúa sẽ từ dòng dõi con mà ra.
Vùng đất Ta đã ban cho Áp-ra-ham và Y-sác thì Ta cũng sẽ ban cho con và dòng dõi con.”
Rồi Đức Chúa Trời ngự lên từ chỗ Ngài đã phán với Gia-cốp.
Ông liền dựng một trụ đá tại nơi Đức Chúa Trời đã phán với ông, làm lễ quán và đổ dầu lên đó.
Vậy Gia-cốp đặt tên địa điểm mà Đức Chúa Trời đã phán với ông là Bê-tên.
Gia đình Gia-cốp rời Bê-tên ra đi. Khi họ còn cách Ép-ra-ta một quãng đường, thì Ra-chên chuyển dạ và sinh rất khó khăn.
Khi bà đang đau đớn, bà mụ nói: “Đừng sợ vì bà lại có thêm một con trai nữa.”
Trong cơn hấp hối, lúc sắp trút linh hồn, bà đặt tên cho đứa con trai đó là Bên Ô-ni. Nhưng người cha thì lại đặt tên là Bên-gia-min.
Ra-chên qua đời, được an táng cạnh con đường đi về Ép-ra-ta, tức là Bết-lê-hem.
Gia-cốp dựng một mộ bia; đó là mộ bia của Ra-chên vẫn còn cho đến ngày nay.
Y-sơ-ra-ên tiếp tục hành trình và khi qua khỏi tháp Ê-đe thì đóng trại.
Trong thời gian Y-sơ-ra-ên ngụ tại xứ đó, Ru-bên đã đến nằm với Bi-la, hầu thiếp của cha mình. Y-sơ-ra-ên hay được việc nầy.
Gia-cốp có mười hai con trai. Con của Lê-a là Ru-bên, trưởng nam của Gia-cốp, kế đến là Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, Y-sa-ca và Sa-bu-lôn.
Con của Ra-chên là Giô-sép và Bên-gia-min.
Con của Bi-la, nữ tì của Ra-chên, là Đan và Nép-ta-li;
và con của Xinh-ba, nữ tì của Lê-a, là Gát và A-se. Đó là các con trai của Gia-cốp sinh tại xứ Pha-đan A-ram.
Gia-cốp về đến chỗ Y-sác, cha mình, ở Mam-rê, tại thành Ki-ri-át A-ra-ba, tức là Hếp-rôn. Đây là nơi Áp-ra-ham và Y-sác đã từng tạm cư.
Y-sác hưởng thọ được một trăm tám mươi tuổi.
Y-sác trút hơi thở cuối cùng. Ông qua đời, trở về với tổ tông khi tuổi đã cao, mãn nguyện trong cuộc sống, và được hai con trai là Ê-sau và Gia-cốp lo an táng.
Đây là dòng dõi của Ê-sau, tức là Ê-đôm.
Ê-sau cưới ba bà vợ trong số con gái xứ Ca-na-an, đó là: A-đa, con gái Ê-lôn, người Hê-tít; Ô-hô-li-ba-ma, con gái A-na, cháu ngoại của Xi-bê-ôn, người Hê-vít;
và Bách-mát, con gái Ích-ma-ên, cũng là em gái của Nê-ba-giốt.
A-đa sinh Ê-li-pha cho Ê-sau; Bách-mát sinh Rê-u-ên;
còn Ô-hô-li-ba-ma sinh Giê-úc, Gia-lam và Cô-ra. Đó là các con trai của Ê-sau sinh tại xứ Ca-na-an.
Ê-sau đưa vợ, con trai, con gái mình, toàn bộ người nhà, các bầy chiên, gia súc, và tài sản mà ông đã gây dựng tại xứ Ca-na-an, qua xứ khác, cách xa Gia-cốp, em mình.
Vì tài sản của hai anh em rất lớn, nên khó có thể sống chung với nhau; vùng đất mà họ đang cư ngụ không thể đủ cho các bầy súc vật của cả hai anh em.
Vậy, Ê-sau, tức Ê-đôm, ở trong vùng đồi núi Sê-i-rơ.
Đây là dòng dõi Ê-sau, tổ phụ dân Ê-đôm, ở vùng đồi núi Sê-i-rơ.
Các con trai của Ê-sau là Ê-li-pha con của A-đa, vợ Ê-sau, Rê-u-ên con của Bách-mát, cũng vợ Ê-sau.
Con trai của Ê-li-pha là Thê-ma, Ô-ma, Xê-phô, Ga-tham và Kê-na.
Thim-na, vợ lẽ Ê-li-pha, con trai của Ê-sau, sinh A-ma-léc. Đó là các cháu của A-đa, vợ Ê-sau.
Còn đây là các con trai của Rê-u-ên: Na-hát, Xê-rách, Sam-ma và Mích-xa. Đó là các cháu của Bách-mát, vợ Ê-sau.
Và đây là các con trai của Ô-hô-li-ba-ma, vợ của Ê-sau, con gái của A-na, cháu ngoại Xi-bê-ôn. Bà sinh cho Ê-sau: Giê-úc, Gia-lam, và Cô-ra.
Đây là các trưởng gia tộc thuộc con cháu Ê-sau: Các con trai Ê-li-pha, trưởng nam của Ê-sau, gồm: trưởng gia tộc Thê-man, trưởng gia tộc Ô-ma, trưởng gia tộc Xê-phô, trưởng gia tộc Kê-na,
trưởng gia tộc Cô-ra, trưởng gia tộc Ga-tham, và trưởng gia tộc A-ma-léc. Đó là các trưởng gia tộc ra từ Ê-li-pha tại xứ Ê-đôm, là các cháu của A-đa.
Đây là các con trai của Rê-u-ên, con Ê-sau: trưởng gia tộc Na-hát, trưởng gia tộc Xê-rách, trưởng gia tộc Sam-ma, và trưởng gia tộc Mích-xa. Đó là các trưởng gia tộc ra từ Rê-u-ên tại xứ Ê-đôm, là các cháu của Bách-mát.
Đây là các con trai của Ô-hô-li-ba-ma, vợ Ê-sau: trưởng gia tộc Giê-úc, trưởng gia tộc Gia-lam, và trưởng gia tộc Cô-ra. Đó là các trưởng gia tộc ra từ Ô-hô-li-ba-ma, vợ Ê-sau, con gái của A-na.
Trên đây là các con trai của Ê-sau, tức là Ê-đôm, và các trưởng gia tộc của họ.
Đây là các con trai của Sê-i-rơ, người Hô-rít, là người bản địa: Lô-than, Sô-banh, Xi-bê-ôn, A-na,
Đi-sôn, Ét-xe, và Đi-san. Đó là các con trai của Sê-i-rơ, trưởng gia tộc dân Hô-rít, trong đất Ê-đôm.
Các con trai của Lô-than là: Hô-ri và Hê-man; em gái của Lô-than là Thim-na.
Các con trai của Sô-banh là: Anh-van, Ma-na-hát, Ê-banh, Sê-phô, và Ô-nam.
Các con trai của Xi-bê-ôn là: Ai-gia và A-na. Chính A-na là người tìm được suối nước nóng trong hoang mạc trong khi chăn chiên cho cha mình là Xi-bê-ôn.
Các con của A-na là: Đi-sôn và Ô-hô-li-ba-ma, con gái của A-na.
Các con trai của Đi-sôn là: Hem-đan, Ếch-ban, Dít-ran và Kê-ran.
Các con trai của Ét-xe là: Binh-han, Xa-van và A-can.
Các con trai của Đi-san là: Út-xơ và A-ran.
Còn đây là các trưởng gia tộc của dân Hô-rít: trưởng gia tộc Lô-than, trưởng gia tộc Sô-banh, trưởng gia tộc Xi-bê-ôn, trưởng gia tộc A-na,
trưởng gia tộc Đi-sôn, trưởng gia tộc Ét-xe, và trưởng gia tộc Đi-san. Đó là các trưởng gia tộc của dân Hô-rít, trong đất Sê-i-rơ.
Đây là các vua cai trị xứ Ê-đôm trước khi Y-sơ-ra-ên có vua cai trị:
Bê-la, con trai Bê-ô, cai trị xứ Ê-đôm; tên thành của vua là Đin-ha-ba.
Vua Bê-la băng, Giô-báp, con trai Xê-rách, người Bốt-ra, lên kế vị.
Vua Giô-báp băng, Hu-sam, người xứ Thê-man, lên kế vị.
Vua Hu-sam băng, Ha-đát, con trai Bê-đát, lên kế vị. Chính vua nầy đã đánh thắng dân Ma-đi-an tại cánh đồng Mô-áp; và tên thành của vua là A-vít.
Vua Ha-đát băng, Sam-la, người Ma-rê-ca, lên kế vị.
Vua Sam-la băng, Sau-lơ, người Rê-hô-bốt, ở trên mé sông, lên kế vị.
Vua Sau-lơ băng, Ba-anh Ha-nan, con trai Ạc-bồ, lên kế vị.
Vua Ba-anh Ha-nan băng, Ha-đa lên kế vị. Tên thành của vua là Ba-u; vợ vua là Mê-hê-ta-bê-ên, con gái của Mát-rết, cháu ngoại Mê-xa-háp.
Sau đây là các trưởng gia tộc của Ê-sau, gọi theo gia tộc, địa hạt và tên của họ: trưởng gia tộc Thim-na, trưởng gia tộc Anh-va, trưởng gia tộc Giê-hết,
trưởng gia tộc Ô-hô-li-ba-ma, trưởng gia tộc Ê-la, trưởng gia tộc Phi-nôn,
trưởng gia tộc Kê-na, trưởng gia tộc Thê-man, trưởng gia tộc Mép-xa,
trưởng gia tộc Mác-đi-ên và trưởng gia tộc Y-ram. Đó là các trưởng gia tộc của Ê-đôm, tùy theo nơi ở của họ trong đất mà họ sở hữu. Tổ phụ của dân Ê-đôm là Ê-sau.
Gia-cốp ở tại Ca-na-an là xứ mà cha của ông đã tạm cư.
Đây là câu chuyện về dòng dõi của Gia-cốp. Bấy giờ Giô-sép ở tuổi mười bảy, thường đi chăn chiên với các anh mình. Cậu kết bạn với các con của Bi-la và Xinh-ba, hai vợ của cha mình, và mách lại với cha những chuyện không hay của họ.
Y-sơ-ra-ên thương yêu Giô-sép hơn bất cứ người con nào khác vì cậu là con muộn của mình, nên may cho cậu một cái áo choàng dài tay nhiều màu sắc.
Khi các anh thấy cha thương Giô-sép hơn họ thì sinh lòng ganh ghét, và không thể nói năng tử tế với cậu được.
Một đêm kia, Giô-sép nằm mộng và thuật lại cho các anh nghe nên họ càng thêm ganh ghét.
Giô-sép nói: “Xin nghe em kể giấc mộng mà em đã thấy:
Khi chúng ta đang bó lúa ngoài đồng thì bó lúa của em vươn dậy, đứng thẳng lên, còn những bó lúa của các anh đều tụ họp chung quanh và cúi rạp xuống trước bó lúa của em.”
Các anh bảo: “Vậy mầy định cai trị chúng ta à? Mầy sẽ thống trị chúng ta thật sao?” Họ càng ganh ghét Giô-sép hơn vì giấc mộng và những lời cậu nói.
Một lần khác, Giô-sép lại nằm mộng và cũng thuật cho các anh. Cậu nói: “Em còn một giấc mộng nữa. Em thấy mặt trời, mặt trăng và mười một ngôi sao đều cúi rạp xuống trước mặt em.”
Khi cậu thuật lại giấc mộng đó cho cha và các anh mình nghe thì cha cậu quở trách và nói: “Giấc mộng con thấy đó có nghĩa gì vậy? Có phải cả cha, mẹ, và các anh con đều phải cúi rạp xuống trước mặt con không?”
Các anh ganh ghét cậu, còn cha cậu lại ghi nhớ điều đó.
Một hôm, các anh Giô-sép đi chăn các bầy súc vật của cha tại Si-chem.
Y-sơ-ra-ên bảo Giô-sép: “Các anh con đang chăn bầy tại Si-chem phải không? Lại đây để cha sai con đi đến với các anh con.” Giô-sép thưa: “Dạ, có con đây.”
Y-sơ-ra-ên bảo: “Con hãy đi xem các anh con ra sao, các bầy súc vật thế nào, rồi về báo cho cha biết.” Từ thung lũng Hếp-rôn, ông sai Giô-sép đi. Khi Giô-sép đến Si-chem,
có một người gặp cậu đi lạc trong đồng ruộng, và hỏi: “Cậu đi tìm gì vậy?”
Cậu trả lời: “Tôi đi tìm các anh tôi. Xin vui lòng chỉ giúp tôi họ chăn bầy ở đâu.”
Người ấy nói: “Họ đã đi khỏi đây rồi, vì tôi có nghe họ nói: ‘Chúng ta hãy chuyển đến Đô-than.’” Vậy, Giô-sép tìm theo các anh và gặp họ tại Đô-than.
Thoáng thấy Giô-sép từ đằng xa và trước khi cậu đến gần thì các anh đã lập mưu giết cậu.
Họ bàn với nhau: “Thằng nằm mộng đến kìa!
Nào! Chúng ta hãy giết nó đi, ném xuống một cái hố nước nào đó, và nói rằng nó đã bị thú dữ xé xác, rồi xem các giấc mộng của nó sẽ đi đến đâu!”
Nhưng khi nghe vậy, Ru-bên liền tìm cách giải cứu em khỏi tay họ nên đã can: “Đừng giết nó.
Chúng ta chớ gây đổ máu. Cứ ném nó xuống cái hố kia trong hoang mạc, nhưng đừng ra tay hại nó.” Ru-bên nói vậy vì muốn giải cứu em khỏi tay họ để đưa về cho cha.
Khi Giô-sép vừa đến chỗ các anh thì họ lột áo choàng, là chiếc áo nhiều màu sắc cậu đang mặc trên người,
rồi bắt cậu ném xuống hố. Nhưng hố đó khô, không có nước.
Khi các anh của Giô-sép đang ngồi dùng bữa, chợt ngước nhìn và thấy một đoàn lái buôn Ích-ma-ên từ Ga-la-át đến. Lạc đà của họ chở đầy hương liệu, nhũ hương và mộc dược để đưa xuống Ai Cập.
Giu-đa nói với các anh em: “Giết em rồi giấu máu nó đi thì ích gì cho chúng ta chứ?
Thôi, chúng ta bán nó cho dân Ích-ma-ên và đừng động tay vào nó vì nó là em, là cốt nhục của chúng ta.” Các anh em đều đồng ý.
Khi các lái buôn Ma-đi-an đi ngang qua đó, các anh kéo Giô-sép lên khỏi hố rồi bán cậu cho họ với giá hai mươi miếng bạc. Họ đem Giô-sép xuống Ai Cập.
Khi Ru-bên trở lại hố, thấy Giô-sép không còn ở dưới đó nữa thì xé áo mình,
chạy đến chỗ các em và nói: “Đứa nhỏ đâu mất rồi? Còn tôi, tôi biết đi đâu bây giờ!”
Các anh Giô-sép giết một con dê đực, rồi lấy áo choàng của Giô-sép nhúng áo vào trong máu.
Họ gửi áo choàng dài tay đó về cho cha mình và nói: “Chúng con đã tìm thấy cái áo nầy. Xin cha xem có phải đây là áo của con trai cha không?”
Gia-cốp nhận ra cái áo và nói: “Đây là áo của con trai ta! Một con thú dữ đã xé xác nó! Giô-sép chắc chắn đã bị xé ra từng mảnh rồi!”
Ông xé quần áo, lấy vải thô quấn ngang lưng và để tang cho con trong nhiều ngày.
Tất cả các con trai, con gái đều đến an ủi ông, nhưng ông từ chối mọi lời an ủi. Ông nói: “Ta cứ để tang mà xuống âm phủ với con ta!” Vậy, cha cậu cứ khóc thương cậu.
Các lái buôn Ma-đi-an đem Giô-sép xuống Ai Cập, bán cho Phô-ti-pha, quan chỉ huy vệ binh của Pha-ra-ôn.
Bấy giờ, Giu-đa rời anh em, xuống ở với một người A-đu-lam tên là Hi-ra.
Tại đó, Giu-đa gặp con gái của Su-a, một người Ca-na-an. Ông cưới và ăn ở với nàng.
Nàng mang thai, sinh một con trai và đặt tên là Ê-rơ.
Nàng lại mang thai, sinh thêm một con trai và đặt tên là Ô-nan.
Sau đó nàng lại sinh thêm một con trai nữa và đặt tên là Sê-la. Khi vợ sinh đứa con thứ ba thì Giu-đa đang ở Kê-xíp.
Giu-đa cưới cho Ê-rơ, con trưởng nam, một người vợ, tên là Ta-ma.
Nhưng Ê-rơ gian ác dưới cái nhìn của Đức Giê-hô-va nên Ngài khiến cậu phải chết.
Giu-đa bảo Ô-nan: “Con hãy đến với vợ của anh con, làm nhiệm vụ của người em chồng, để có con nối dõi cho anh.”
Nhưng Ô-nan biết rằng dòng dõi nầy sẽ chẳng thuộc về mình, nên khi đến với chị dâu thì làm rơi rớt xuống đất để không lưu lại dòng dõi cho anh.
Điều Ô-nan làm không đẹp lòng Đức Giê-hô-va nên Ngài cũng khiến cậu phải chết.
Giu-đa nói với Ta-ma, con dâu ông: “Con cứ về ở góa bên nhà cha con cho đến khi Sê-la, con trai cha, khôn lớn.” Vì ông ngại rằng: “Không khéo nó cũng chết như hai anh nó!” Ta-ma trở về sống trong nhà cha mình.
Sau một thời gian dài, con gái của Su-a, vợ Giu-đa, qua đời. Khi đã bớt đau buồn, Giu-đa cùng với bạn là Hi-ra, người A-đu-lam, đi lên Thim-na, nơi những người thợ đang hớt lông cho chiên của ông.
Người ta báo cho Ta-ma: “Nầy, cha chồng của chị đang đi lên Thim-na để hớt lông chiên.”
Ta-ma cởi bỏ áo góa phụ, lấy mạng che mặt, phủ kín người, rồi đến ngồi bên lối vào thành Ê-na-im, trên đường đi về Thim-na. Nàng làm vậy vì thấy Sê-la đã khôn lớn rồi mà người ta vẫn chưa cho nàng được làm vợ chàng.
Giu-đa thấy nàng, tưởng là gái bán dâm vì nàng che mặt.
Ông rẽ qua phía nàng bên lề đường và nói: “Cho tôi đến với cô,” vì ông không biết nàng là con dâu của mình. Nàng hỏi: “Ông sẽ cho tôi thứ gì khi đến với tôi?”
Giu-đa đáp: “Tôi sẽ gửi cho cô một con dê con từ trong bầy của tôi.” Nàng lại hỏi: “Ông có thể cho tôi một món gì đó để làm tin cho đến khi ông gửi con dê đến không?”
Ông hỏi: “Tôi sẽ cho cô thứ gì để làm tin đây?” Nàng đáp: “Con dấu với sợi dây và cây gậy mà ông đang cầm trên tay.” Ông trao cho nàng những thứ đó rồi đến với nàng. Thế là nàng có thai với ông.
Rồi nàng đứng dậy và đi, cởi bỏ khăn trùm, mặc lại quần áo góa phụ.
Giu-đa nhờ bạn người A-đu-lam mang dê con đến để chuộc lại các thứ làm tin từ tay người đàn bà, nhưng không tìm thấy nàng đâu cả.
Bạn ông hỏi dân địa phương: “Cô gái bán dâm thường ngồi bên lề đường gần cửa thành Ê-na-im đâu rồi?” Họ trả lời: “Ở đây không hề có gái mại dâm.”
Người bạn trở về nói với Giu-đa: “Tôi không tìm thấy cô ta. Dân địa phương còn bảo là ở đó không hề có một gái bán dâm nào cả.”
Giu-đa nói: “Thôi cứ để cô ta giữ các thứ ấy, miễn sao chúng ta không bị chê cười. Tôi đã gửi dê con đến, còn anh thì không tìm thấy cô ta.”
Khoảng ba tháng sau, người ta báo cho Giu-đa rằng: “Ta-ma, con dâu ông, đã làm gái bán dâm, lại còn hoang thai nữa.” Giu-đa nói: “Hãy đem nó ra mà thiêu sống đi.”
Đang khi bị đem đi, Ta-ma nhờ người nhắn với cha chồng rằng: “Con mang thai là do chính chủ nhân của các vật nầy. Xin cha xem lại con dấu với sợi dây và cây gậy nầy là của ai.”
Giu-đa nhận ra ngay các thứ đó và nói: “Ta-ma đúng hơn ta, vì ta đã không giao Sê-la, con trai ta, cho nàng.” Từ đó, ông không ăn ở với nàng nữa.
Đến ngày sinh, người ta mới biết trong bụng nàng có thai đôi.
Trong lúc nàng đang sinh, một trong hai đứa trẻ đưa tay ra trước. Bà mụ nắm tay nó, buộc một sợi chỉ đỏ, và nói: “Đứa nầy ra trước.”
Nhưng nó lại rút tay vào, và kìa, anh nó lại ra. Bà mụ nói: “Mầy đã xé rào!” Vì thế, nó được đặt tên là Phê-rết.
Sau đó, đứa em là đứa trên tay có sợi chỉ đỏ, mới ra đời và được đặt tên là Sê-rách.
Các lái buôn Ích-ma-ên đem Giô-sép xuống Ai Cập bán cho Phô-ti-pha, một người Ai Cập làm quan chỉ huy vệ binh của Pha-ra-ôn.
Đức Giê-hô-va ở với Giô-sép nên cậu rất thành công trong nhà người chủ Ai Cập.
Người chủ cũng thấy rằng Đức Giê-hô-va phù hộ chàng và khiến cho mọi việc tay chàng làm đều được thịnh vượng.
Giô-sép được ơn trước mặt chủ và trở thành phụ tá cho ông. Ông lập chàng làm quản gia và giao tất cả tài sản cho chàng.
Từ khi ông giao cho Giô-sép quản trị nhà cửa và mọi tài sản trong nhà, Đức Giê-hô-va vì Giô-sép ban phước cho nhà Phô-ti-pha. Phước lành của Đức Giê-hô-va bao phủ trên mọi tài vật của ông, trong nhà cũng như ngoài đồng.
Ông trao hết tài sản cho Giô-sép cai quản, không cần bận tâm đến bất cứ việc gì ngoài phần thức ăn của mình. Giô-sép rất khôi ngô tuấn tú.
Sau các việc ấy, bà vợ ông chủ liếc mắt đưa tình với Giô-sép và nói: “Hãy nằm với tôi.”
Nhưng chàng từ chối và nói rằng: “Bà xem, ông chủ không còn phải bận tâm đến bất cứ việc gì trong nhà nầy cả. Ông đã trao cho tôi quản lý mọi tài sản của ông.
Trong nhà nầy, không có ai lớn hơn tôi, và ông chủ cũng không giữ lại thứ gì đối với tôi, chỉ trừ một mình bà, vì bà là vợ ông. Làm sao tôi dám làm điều đại ác như thế mà phạm tội với Đức Chúa Trời?”
Ngày lại ngày, bà cứ quyến dụ, nhưng Giô-sép từ chối không chịu ăn nằm với bà.
Một ngày kia, Giô-sép vào nhà để làm công việc. Vì không có một người nhà nào ở đó
nên bà chủ nắm áo, kéo chàng lại và bảo: “Hãy nằm với tôi đi!” Nhưng chàng bỏ áo lại trong tay bà, chạy trốn ra ngoài.
Khi bà thấy chàng bỏ áo lại trong tay mình và chạy trốn ra ngoài
thì gọi người nhà vào và nói: “Các người xem đó! Thằng Hê-bơ-rơ mà chồng ta đem về đã làm nhục chúng ta. Nó đến gần tính nằm với ta, nhưng ta đã la lớn lên.
Khi nghe ta cất tiếng kêu cứu, nó bỏ áo lại bên ta, chạy trốn ra ngoài.”
Bà để áo của Giô-sép bên cạnh chờ ông chủ về,
và cũng dùng lời lẽ tương tự mà nói với ông: “Tên nô lệ Hê-bơ-rơ mà ông khéo đem về nhà đã đến gần tính làm nhục tôi.
Nhưng khi tôi cất tiếng kêu cứu thì nó bỏ áo lại bên tôi, rồi chạy trốn ra ngoài.”
Khi chủ của Giô-sép nghe lời bà vợ nói: “Tên nô lệ của ông đã đối xử với tôi như vậy đó,” thì ông nổi giận phừng phừng.
Ông chủ bắt Giô-sép bỏ vào ngục, nơi giam cầm các phạm nhân của vua. Vậy, Giô-sép bị cầm tù tại đó.
Nhưng Đức Giê-hô-va phù hộ Giô-sép. Ngài tỏ lòng nhân từ với chàng và làm cho chàng được ơn trước mặt cai ngục.
Cai ngục giao cho Giô-sép quản lý tất cả các tù nhân; mọi việc trong tù đều thông qua chàng.
Cai ngục chẳng phải bận tâm gì đến những việc đã giao cho Giô-sép, vì Đức Giê-hô-va phù hộ chàng, khiến cho mọi việc chàng làm đều thành công.
Một thời gian sau, quan hầu rượu và quan hầu bánh của vua Ai Cập phạm tội khi quân.
Pha-ra-ôn nổi giận với hai vị quan nầy là quan hầu rượu và quan hầu bánh,
và giam họ vào ngục, trong dinh của quan chỉ huy vệ binh, là nơi Giô-sép đang bị giam giữ.
Quan chỉ huy vệ binh giao cho Giô-sép phục vụ hai quan đó. Họ bị giam giữ một thời gian.
Một đêm kia, khi đang bị giam trong ngục, cả quan hầu rượu và quan hầu bánh của vua Ai Cập đều nằm mộng, mỗi người thấy một giấc mộng khác nhau, và có một ý nghĩa riêng.
Sáng hôm sau, Giô-sép đến phục vụ họ và thấy họ buồn bã.
Chàng hỏi: “Hôm nay sao trông nét mặt hai ông rầu rĩ thế?”
Họ nói: “Chúng tôi đã thấy một giấc mộng nhưng không có ai giải thích cả.” Giô-sép nói: “Việc giải mộng chẳng phải thuộc về Đức Chúa Trời sao? Xin hai vị cứ thuật lại các giấc mộng ấy cho tôi đi.”
Quan dâng rượu thuật lại giấc mộng của mình cho Giô-sép nghe; ông nói: “Trong giấc mộng, tôi thấy trước mặt mình có một cây nho.
Cây nho đó có ba cành. Khi cành vừa đâm chồi thì hoa nở và trở thành các chùm nho chín.
Tay tôi đang cầm chén của Pha-ra-ôn. Tôi hái nho, ép nước, đổ vào chén rồi dâng vào tay Pha-ra-ôn.”
Giô-sép nói: “Đây là ý nghĩa của giấc mộng: Ba cành nho tức là ba ngày.
Trong ba ngày nữa, Pha-ra-ôn sẽ ân xá và phục hồi chức vụ cho ông; ông sẽ dâng rượu vào tay Pha-ra-ôn như trước đây khi còn làm quan dâng rượu.
Nhưng khi mọi việc của ông đã tốt đẹp rồi, xin ông nhớ đến tôi, làm ơn tâu với Pha-ra-ôn về trường hợp của tôi, và đem tôi ra khỏi chỗ nầy.
Vì thật ra, tôi đã bị người ta bắt cóc đem ra khỏi đất của người Hê-bơ-rơ, và ngay tại đây tôi cũng chẳng làm điều gì đáng để bị giam trong ngục tối nầy.”
Quan hầu bánh thấy lời giải thích của Giô-sép tốt đẹp, nên nói: “Tôi cũng có một giấc mộng: tôi thấy mình đội ba giỏ bánh trên đầu.
Giỏ trên cùng có đủ các thứ bánh mà thợ làm riêng cho Pha-ra-ôn, nhưng chim đáp xuống ăn hết bánh trong giỏ trên đầu tôi.”
Giô-sép nói: “Đây là ý nghĩa của giấc mộng: ba giỏ tức là ba ngày.
Trong ba ngày nữa, Pha-ra-ôn sẽ xử trảm ông và treo ông lên cây. Chim chóc sẽ ăn thịt ông.”
Đến ngày thứ ba, là sinh nhật của Pha-ra-ôn, vua mở tiệc thết đãi tất cả triều thần, và cho quan hầu rượu và quan hầu bánh ra khỏi ngục.
Vua phục hồi chức vụ cho quan hầu rượu và ông được dâng rượu vào tay Pha-ra-ôn.
Nhưng vua lại hạ lệnh treo cổ quan hầu bánh, như lời Giô-sép đã giải thích.
Quan hầu rượu không nhớ gì đến Giô-sép, ông quên bẵng chàng đi.
Hai năm sau, Pha-ra-ôn nằm mộng, thấy mình đứng bên bờ sông Nin.
Chợt có bảy con bò đẹp đẽ, béo tốt từ dưới sông đi lên, gặm cỏ trong đám sậy.
Tiếp đến lại có bảy con bò khác, xấu xí, gầy guộc từ dưới sông lên theo, đến đứng cạnh bảy con bò kia, trên bờ sông.
Bảy con bò xấu xí, gầy guộc ăn thịt bảy con bò đẹp đẽ, béo tốt. Rồi Pha-ra-ôn tỉnh giấc.
Vua lại ngủ tiếp và nằm mộng lần thứ nhì. Vua thấy bảy bông lúa chắc hạt và tốt tươi mọc chung trên một cọng lúa.
Kế đó, có bảy bông lúa khác, lép hạt và héo úa vì gió đông, mọc theo bảy bông lúa kia.
Bảy bông lúa lép hạt nuốt chửng bảy bông lúa chắc hạt. Pha-ra-ôn thức giấc, và thấy đó là một giấc mộng.
Sáng hôm sau, tinh thần vua bị xao động, vua truyền gọi tất cả các thuật sĩ và các nhà hiền triết Ai Cập đến. Vua kể lại cho họ giấc mộng của mình, nhưng không một ai giải thích được ý nghĩa của giấc mộng đó cho vua cả.
Bấy giờ quan hầu rượu mới tâu với Pha-ra-ôn: “Hôm nay tôi nhớ lại những lầm lỗi của tôi.
Trước đây, có lần bệ hạ nổi giận với quần thần, đã giam quan dâng bánh và tôi trong dinh của quan chỉ huy vệ binh.
Một đêm kia, ông ấy và tôi cùng nằm mộng, và mỗi giấc mộng có ý nghĩa khác nhau.
Cùng bị giam chung với chúng tôi có một thanh niên người Hê-bơ-rơ, nô lệ của quan chỉ huy vệ binh. Chúng tôi đã kể lại cho anh ta giấc mộng của chúng tôi và anh ta đã giải thích ý nghĩa giấc mộng của mỗi người.
Rồi mọi việc đã xảy ra đúng như lời anh ta giải thích: Tôi được phục hồi chức vụ, còn quan kia bị treo cổ.”
Pha-ra-ôn truyền gọi Giô-sép. Người ta lập tức đưa chàng ra khỏi ngục, cạo mặt mày, thay áo xống, rồi vào chầu Pha-ra-ôn.
Pha-ra-ôn nói với Giô-sép: “Trẫm có một giấc mộng mà không ai có thể giải thích được. Trẫm nghe nói rằng ngươi chỉ cần nghe kể lại giấc mộng là có thể giải nghĩa được.”
Giô-sép thưa với vua: “Đó chẳng phải hạ thần mà là Đức Chúa Trời sẽ đem lời giải đáp an lành cho bệ hạ.”
Pha-ra-ôn nói với Giô-sép: “Nầy, trong giấc mộng trẫm thấy mình đang đứng trên bờ sông.
Từ dưới sông có bảy con bò đẹp đẽ, béo tốt đi lên và gặm cỏ trong đám sậy.
Rồi lại có bảy con bò khác xấu xí, gầy guộc lên theo. Thật, trẫm chưa từng thấy trong cả xứ Ai Cập nầy có con bò nào xấu xí gầy guộc như vậy bao giờ.
Bảy con bò xấu xí gầy guộc đó ăn thịt bảy con bò béo tốt,
nuốt chúng vào bụng mà trông như không nuốt, vì các con bò đó vẫn xấu xí gầy guộc như trước. Rồi trẫm tỉnh dậy.
Sau đó, trẫm lại thấy một giấc mộng khác, có bảy bông lúa chắc hạt, tốt tươi mọc chung trên một cọng lúa.
Rồi lại có bảy bông lúa lép hạt, khô héo, và cháy nám vì gió đông, mọc theo bảy bông lúa kia;
và bảy bông lúa lép đó lại nuốt chửng bảy bông lúa chắc hạt. Trẫm đã kể chiêm bao nầy cho các thuật sĩ, nhưng không ai có thể giải thích ý nghĩa cho trẫm được.”
Giô-sép tâu với Pha-ra-ôn: “Hai giấc mộng của bệ hạ có cùng một ý nghĩa. Đức Chúa Trời đã báo cho bệ hạ biết trước những việc Ngài sẽ làm.
Bảy con bò béo tốt đó là bảy năm, bảy bông lúa chắc hạt đó cũng là bảy năm; hai giấc mộng đó chỉ là một.
Bảy con bò xấu xí, gầy guộc đi lên sau bảy con bò kia tức là bảy năm; và bảy bông lúa lép bị héo úa vì gió đông cũng vậy, đó là bảy năm đói kém.
Như điều hạ thần đã tâu với bệ hạ: Đức Chúa Trời đã cho bệ hạ thấy những việc Ngài sẽ làm.
Khắp Ai Cập sẽ có bảy năm được mùa dư dật.
Nhưng tiếp theo bảy năm đó sẽ là bảy năm đói kém. Cả Ai Cập sẽ quên đi tất cả sự sung túc đã có, và nạn đói sẽ làm cho cả xứ kiệt quệ.
Vì nạn đói tiếp theo nầy quá nghiêm trọng nên trong xứ sẽ không còn ai biết đến thời kỳ sung túc là gì nữa.
Giấc mộng của bệ hạ được lặp lại hai lần có nghĩa là Đức Chúa Trời đã quyết định điều đó rồi, và Ngài sẽ nhanh chóng thực hiện.
Vậy bây giờ bệ hạ nên chọn một người thông minh sáng suốt, và lập người ấy cai quản đất nước Ai Cập.
Xin bệ hạ tiến hành bổ nhiệm các viên chức trên khắp nước và thu một phần năm sản lượng của xứ trong bảy năm mùa màng sung túc.
Xin bệ hạ truyền cho họ thu góp tất cả lương thực của những năm được mùa sắp đến, và cho họ được quyền tồn trữ lúa mì trong các thành để làm lương thực. Họ có nhiệm vụ canh giữ các kho lương thực ấy.
Số lương thực nầy là để dự trữ cho bảy năm đói kém sẽ đến trong xứ Ai Cập, nhờ đó xứ nầy không bị tiêu diệt vì nạn đói.”
Lời đề nghị nầy làm hài lòng Pha-ra-ôn và các triều thần.
Pha-ra-ôn bàn với các triều thần: “Chúng ta tìm đâu ra một người như người nầy, một người có Thần của Đức Chúa Trời?”
Pha-ra-ôn nói với Giô-sép: “Vì Đức Chúa Trời bày tỏ cho ngươi biết tất cả những việc nầy, nên chẳng còn ai khôn ngoan sáng suốt hơn ngươi cả.
Vậy, ngươi sẽ cai trị nhà của trẫm, toàn dân của trẫm sẽ phục tùng mệnh lệnh của ngươi. Trẫm lớn hơn ngươi chỉ vì ngai vua mà thôi.”
Pha-ra-ôn lại nói với Giô-sép: “Nầy, trẫm lập ngươi cai trị toàn cõi Ai Cập.”
Vua liền cởi chiếc nhẫn khỏi tay mình và đeo vào tay Giô-sép, truyền mặc cho ông y phục bằng vải gai mịn và đeo vòng vàng vào cổ.
Vua truyền cho ông ngồi trên chiếc xe dành cho nhân vật số hai sau vua và có người đi trước hô lên: “Hãy quỳ xuống!” Như vậy, Giô-sép được vua lập lên cầm quyền cả xứ Ai Cập.
Pha-ra-ôn lại nói với Giô-sép: “Trẫm là Pha-ra-ôn, nhưng nếu không có lệnh của ngươi, thì không ai trong cả đất Ai Cập nầy động đậy nổi tay chân.”
Pha-ra-ôn đặt tên cho Giô-sép là Xa-phơ-nát Pha-nê-ách, và gả Ách-nát, con gái của Phô-ti-phê-ra, thầy tế lễ thành Ôn, cho ông làm vợ. Giô-sép thường tuần hành khắp xứ Ai Cập.
Giô-sép được ba mươi tuổi khi ra mắt Pha-ra-ôn, vua Ai Cập. Ông từ giã Pha-ra-ôn để đi kinh lý toàn cõi Ai Cập.
Trong bảy năm được mùa, đất sinh hoa lợi dư dật.
Giô-sép thu góp tất cả lương thực của bảy năm được mùa tại Ai Cập, và trữ lại trong các thành. Lương thực thu hoạch được từ các đồng ruộng chung quanh thành nào thì ông cho chứa vào thành đó.
Giô-sép thu trữ lúa mì rất nhiều, nhiều như cát biển, đến mức ông không đong lường nữa, vì không thể đong lường nổi.
Trước năm đói kém, Ách-nát, con gái của Phô-ti-phê-ra, thầy tế lễ thành Ôn, sinh cho Giô-sép hai con trai.
Giô-sép đặt tên cho con đầu lòng là Ma-na-se, và nói: “Đức Chúa Trời đã làm cho ta quên đi mọi gian khổ và cả nhà cha ta.”
Ông đặt tên cho con thứ nhì là Ép-ra-im, và nói: “Đức Chúa Trời làm cho ta được hưng thịnh trong xứ mà ta chịu nhiều khốn khổ.”
Bảy năm được mùa dư dật tại Ai Cập chấm dứt
thì bảy năm đói kém bắt đầu, đúng như lời Giô-sép đã nói. Tất cả các xứ khác đều bị đói, nhưng trong toàn cõi Ai Cập thì có bánh ăn.
Rồi cả xứ Ai Cập cũng bị đói, dân chúng kêu xin Pha-ra-ôn cấp lương thực. Pha-ra-ôn nói với mọi người Ai Cập: “Hãy đến với Giô-sép và làm theo điều người chỉ bảo.”
Khi nạn đói lan rộng khắp xứ, Giô-sép mở các kho lúa mì và bán cho dân Ai Cập.
Các nước khác cũng kéo đến Ai Cập gặp Giô-sép để mua lúa mì, vì nạn đói hoành hành khắp nơi trên thế giới.
Gia-cốp được tin ở Ai Cập có bán lúa mì nên nói với các con trai: “Sao các con cứ ngồi nhìn nhau vậy?
Nầy, cha nghe dưới Ai Cập có lúa. Các con hãy xuống đó mua lúa về cho chúng ta, để chúng ta sống mà khỏi phải chết.”
Mười người anh của Giô-sép lên đường xuống Ai Cập để mua lúa.
Nhưng Gia-cốp không cho Bên-gia-min, em Giô-sép, đi cùng các anh, vì ông sợ điều không hay xảy đến cho cậu.
Vậy, trong số những người đến Ai Cập mua lúa có các con trai của Y-sơ-ra-ên, vì xứ Ca-na-an cũng rơi vào nạn đói.
Bấy giờ Giô-sép làm tể tướng của Ai Cập; chính ông là người bán lúa cho toàn dân trong xứ. Các anh Giô-sép đến sấp mình xuống đất trước mặt ông.
Giô-sép thấy các anh thì nhận ra ngay, nhưng ông làm như người xa lạ đối với họ và hỏi họ một cách lạnh lùng: “Các ngươi từ đâu đến?” Họ trả lời: “Từ xứ Ca-na-an đến để mua lương thực.”
Giô-sép nhận biết các anh, nhưng họ không nhận ra ông.
Giô-sép nhớ lại những giấc mộng mà ông đã thấy về anh em mình, nên bảo họ: “Các ngươi là gián điệp đến đây để do thám những chỗ sơ hở của xứ nầy.”
Họ nói: “Thưa ngài, không phải vậy! Các đầy tớ ngài chỉ đến đây để mua lương thực.
Chúng tôi đều là con một cha, vốn là người lương thiện chứ không phải là gián điệp đâu.”
Ông quả quyết: “Không! Các ngươi đến để dò xét những chỗ sơ hở của xứ nầy.”
Họ nói: “Các đầy tớ ngài có mười hai anh em, con cùng một cha, ở đất Ca-na-an. Đứa em út hiện ở nhà với cha chúng tôi, còn một người mất tích.”
Giô-sép nói: “Thật, đúng như ta đã nói, các ngươi là gián điệp.
Nhưng đây là cách ta sẽ thử các ngươi: Ta lấy mạng sống của Pha-ra-ôn mà thề rằng, các ngươi sẽ không được rời khỏi nơi nầy nếu người em út của các ngươi không đến đây.
Hãy cử một người trong các ngươi về đưa cậu em út xuống, những người còn lại thì phải ở tù tại đây. Lời các ngươi phải được thử nghiệm xem có đúng sự thật hay không. Nếu sai sự thật thì ta chỉ mạng sống Pha-ra-ôn mà thề rằng các ngươi là gián điệp.”
Rồi ông giam chung họ vào ngục ba ngày.
Đến ngày thứ ba, Giô-sép bảo họ: “Vì ta kính sợ Đức Chúa Trời nên các ngươi muốn sống thì hãy làm thế nầy.
Nếu các ngươi là người lương thiện thì hãy để một người ở lại trong ngục nầy, còn những người khác thì đem lương thực về cứu đói gia đình.
Sau đó, các ngươi phải đưa người em út xuống gặp ta để minh chứng lời các ngươi là thật, và các ngươi sẽ không phải chết.” Họ đồng ý như vậy.
Các anh em bảo nhau: “Thật chúng ta đã có lỗi với em chúng ta. Chúng ta đã thấy nỗi khổ đau trong tâm hồn nó khi nó năn nỉ chúng ta mà chúng ta không đoái hoài đến. Vì vậy mà nay chúng ta phải chịu nỗi khổ đau nầy.”
Ru-bên trách họ: “Chẳng phải anh đã nói với các chú là đừng mắc tội làm hại thằng bé sao? Nhưng các chú không nghe. Bây giờ thì phải đền nợ máu nó thôi.”
Họ không biết rằng Giô-sép hiểu điều họ nói, vì ông vẫn dùng một người thông dịch.
Giô-sép quay đi chỗ khác mà khóc, rồi mới tiếp tục nói chuyện với họ. Trong số họ, ông truyền bắt Si-mê-ôn ra và trói lại trước mặt họ.
Giô-sép truyền xúc lúa mì đổ đầy các bao và trả tiền lại; tiền của ai thì để trong bao người nấy, đồng thời cũng cấp thêm lương thực đi đường. Người ta làm đúng như vậy.
Các anh em chất lúa lên lưng lừa rồi ra đi.
Đến quán trọ, một người trong họ mở bao lấy lúa cho lừa ăn thì thấy tiền của mình nằm ở miệng bao.
Người ấy nói với anh em: “Xem nầy, người ta đã trả tiền lại cho tôi. Nó nằm trong miệng bao tôi đây!” Như người mất hồn, họ run sợ nói với nhau: “Đức Chúa Trời đã làm gì cho chúng ta thế nầy?”
Khi trở về gặp cha là Gia-cốp tại xứ Ca-na-an, họ thuật lại cho ông nghe mọi việc đã xảy ra. Họ nói:
“Người đang làm chúa tể xứ Ai Cập đã nói với chúng con cách gay gắt, gán cho chúng con là gián điệp đến do thám xứ ấy.
Chúng con đã thưa với ông ta: ‘Chúng tôi vốn là người lương thiện chứ không phải là gián điệp.
Chúng tôi có mười hai anh em, con một cha; một người đã mất tích, người em út hiện đang ở nhà với cha tại Ca-na-an.’
Nhưng người đang làm chúa tể của xứ ấy bảo: ‘Đây là cách giúp ta biết các ngươi có phải là người lương thiện không. Hãy để một người trong các ngươi ở lại đây với ta, còn những người khác hãy đi, đem lương thực về cứu đói gia đình,
rồi đưa người em út đến gặp ta. Như vậy, ta mới chắc rằng các ngươi không phải là gián điệp mà là những người lương thiện. Ta sẽ giao lại người anh em kia, và các ngươi sẽ được buôn bán trong xứ nầy.’”
Khi trút lúa ra khỏi bao, họ thấy trong bao người nào cũng có gói tiền của mình. Thấy những gói tiền, họ và cả người cha đều rất sợ hãi.
Gia-cốp, cha họ, nói: “Chúng mầy đã cướp đi các con ta! Giô-sép mất tích, Si-mê-ôn không còn, bây giờ lại còn muốn dẫn Bên-gia-min đi nữa! Mọi chuyện đều đổ lên đầu ta hết!”
Ru-bên nói với cha: “Xin cha giao em cho con, con sẽ đưa nó về cho cha. Nếu con không đem nó về, xin cha cứ giết hai đứa con của con.”
Nhưng Gia-cốp nói: “Con út ta sẽ chẳng xuống đó với các con đâu, vì anh nó đã chết rồi, chỉ còn lại một mình nó thôi. Nếu dọc đường nó gặp phải tai họa thì các con làm cho kẻ đầu bạc nầy đau lòng xót dạ mà xuống âm phủ.”
Nạn đói trong xứ càng trở nên trầm trọng.
Khi gia đình đã ăn hết lúa từ Ai Cập đem về thì người cha bảo họ: “Các con hãy trở lại mua một ít lương thực cho chúng ta.”
Giu-đa thưa: “Người đó đã quả quyết với chúng con: ‘Nếu không có người em út cùng đi thì các ngươi sẽ không được gặp ta.’
Nếu cha cho em cùng đi thì chúng con mới xuống mua lương thực cho cha được.
Nếu cha không cho nó đi thì chúng con không xuống đâu, vì người đó đã bảo: ‘Nếu không có người em út cùng đi thì các ngươi sẽ không được gặp ta.’”
Y-sơ-ra-ên trách: “Sao các con hại ta mà nói với người ấy rằng các con còn một đứa em nữa?”
Họ thưa: “Người ấy hỏi rất kỹ về chúng con và họ hàng chúng con, nào là: ‘Thân phụ các ngươi còn sống không? Còn người anh em nào nữa không?’ Chúng con đâu có nói gì khác ngoài trả lời các câu hỏi đó. Làm sao chúng con biết ông ấy bảo rằng hãy đem em các ngươi xuống đây?”
Giu-đa lại thưa với Y-sơ-ra-ên, cha mình: “Xin cha cho thằng bé đi với con, chúng con sẽ đứng dậy đi ngay để tất cả chúng ta được sống; cả chúng con, cha và các cháu nhỏ đều khỏi phải chết đói.
Chính con sẽ bảo lãnh cho em và xin chịu trách nhiệm với cha. Nếu con không đưa em về cho cha và đặt nó trước mặt cha thì con sẽ mang tội với cha suốt đời.
Nếu không chần chừ thì bây giờ chúng con đã đi được hai chuyến rồi.”
Y-sơ-ra-ên, cha họ, nói: “Nếu vậy thì các con nên làm thế nầy: Trong hành lý của các con phải đem theo một số đặc sản địa phương như một ít nhũ hương và mật ong, hương liệu, mộc dược, hạt dẻ và hạnh nhân để làm quà cho người ấy.
Hãy đem gấp đôi số tiền, vì các con phải hoàn lại số tiền mà có thể do sơ suất người ta đã để vào miệng bao của các con.
Hãy mau đem em các con theo và lên đường trở lại gặp người ấy đi.
Cầu xin Đức Chúa Trời Toàn Năng làm cho các con được ơn trước mặt người ấy, để Si-mê-ôn và Bên-gia-min được về với các con. Còn cha, nếu phải mất các con thì cha đành cam chịu!”
Vậy, các anh em đem theo quà biếu, một số tiền gấp đôi và Bên-gia-min, rồi cùng lên đường xuống Ai Cập và ra mắt Giô-sép.
Khi Giô-sép thấy Bên-gia-min cùng đến với họ thì nói với người quản gia: “Đưa những người nầy vào nhà, bắt một con thú làm thịt và dọn bữa ăn, vì trưa nay họ sẽ dùng bữa với ta.”
Quản gia làm như lời Giô-sép dặn, đưa họ vào nhà Giô-sép.
Thấy mình bị dẫn vào nhà Giô-sép, mấy anh em sợ hãi. Họ nói với nhau: “Chính vì số tiền đã để lại trong bao chúng ta lần trước mà họ đưa chúng ta vào đây để tìm cớ xông vào đánh chúng ta, bắt chúng ta làm nô lệ và chiếm đoạt mấy con lừa của chúng ta.”
Rồi họ đến gần người quản gia của Giô-sép, và từ ngoài cửa, họ nói với ông:
“Thưa ngài, lần trước chúng tôi đã đến đây để mua lương thực.
Nhưng khi về đến quán trọ, mở các bao lúa ra thì mới thấy tiền của người nào nằm trong miệng bao của người nấy, đúng với số bạc đã cân. Chúng tôi có mang số tiền đó đến đây.
Ngoài ra, chúng tôi cũng có đem thêm số tiền khác để mua lương thực. Chúng tôi chẳng biết ai đã để tiền lại trong các bao lúa chúng tôi.”
Người quản gia nói: “Mọi việc đều bình an, đừng sợ! Chính Đức Chúa Trời của các anh, cũng là Đức Chúa Trời của thân phụ các anh, đã ban báu vật vào bao các anh. Còn tiền của các anh đã đến tay tôi rồi.” Nói xong, ông đưa Si-mê-ôn ra gặp họ,
rồi đưa mọi người vào nhà Giô-sép, đem nước cho họ rửa chân, và lấy cỏ cho lừa ăn.
Các anh em chuẩn bị sẵn quà tặng, đợi trưa Giô-sép về, vì họ nghe rằng mình sẽ dùng bữa tại đây.
Khi Giô-sép về, các anh em lấy quà tặng mà họ đã đem theo, dâng cho Giô-sép và sấp mình xuống đất trước mặt ông.
Ông thăm hỏi họ và nói: “Người cha già mà các ngươi nói với ta đó có mạnh khỏe không? Cụ còn sống không?”
Họ đáp: “Đầy tớ ngài, là cha chúng tôi, vẫn mạnh khỏe và còn sống.” Rồi họ cúi đầu và sấp mình xuống.
Giô-sép ngước mắt lên thấy Bên-gia-min, người em cùng mẹ với mình, liền hỏi: “Đây có phải là người em út mà các ngươi đã nói với ta không?” Rồi ông tiếp: “Út ơi! Cầu xin Đức Chúa Trời đoái thương em!”
Trông thấy em, Giô-sép vô cùng xúc động nên vội vã ra ngoài, tìm chỗ để khóc. Ông vào phòng riêng và khóc.
Rồi ông rửa mặt, bước ra, cố trấn tĩnh và nói: “Dọn thức ăn lên!”
Người ta dọn riêng cho Giô-sép, dọn riêng cho các anh em, và cũng dọn riêng cho những người Ai Cập thường ăn với ông, vì việc dùng bữa chung với người Hê-bơ-rơ là điều đáng ghê tởm đối với người Ai Cập.
Các anh em được xếp ngồi đối diện với Giô-sép, theo thứ tự từ anh cả đến em út. Họ sững sờ nhìn nhau.
Phần thức ăn dọn cho Giô-sép được đem qua bàn của các anh em, nhưng phần của Bên-gia-min lại nhiều gấp năm lần của những người khác. Họ ăn uống no say và vui vẻ với Giô-sép.
Giô-sép ra lệnh cho quản gia: “Hãy đổ đầy lương thực vào bao của những người nầy. Họ chở được bao nhiêu thì đổ cho họ bấy nhiêu, còn tiền của người nào thì để vào bao của người nấy.
Cũng để cái chén bạc của ta vào miệng bao của người em út, chung với tiền mua lúa của nó.” Quản gia làm đúng như lời Giô-sép dặn.
Vừa rạng sáng hôm sau, người ta để cho anh em của Giô-sép cùng với lừa của họ ra đi.
Họ ra khỏi thành chưa được bao xa thì Giô-sép bảo người quản gia: “Hãy mau đuổi theo những người kia; khi đuổi kịp rồi, hãy nói: ‘Sao các người lấy oán đền ân?
Chẳng phải đây là cái chén mà chủ ta dùng để uống rượu và bói toán sao? Các người đã làm một việc thật tệ hại.’”
Người quản gia đuổi kịp và lặp lại những lời ấy.
Họ đáp: “Sao ngài lại nói vậy? Không bao giờ các đầy tớ ngài lại làm một việc như thế!
Ngài xem, từ Ca-na-an chúng tôi còn đem tiền tìm thấy trong miệng bao xuống trả lại cho ngài, thử hỏi làm sao chúng tôi lại ăn cắp bạc hay vàng trong nhà chủ ngài được chứ?
Nếu vật đó được tìm thấy nơi người nào thì người đó phải chết, còn chúng tôi sẽ làm nô lệ cho ngài.”
Người quản gia nói: “Được, hãy làm như lời các người nói. Nếu tìm thấy chén nơi người nào thì người đó sẽ làm nô lệ cho tôi, còn những người khác thì vô tội.”
Mỗi người vội vàng hạ bao lúa mình xuống đất và mở ra.
Người quản gia lần lượt lục soát, bắt đầu từ người anh cả đến người em út. Cái chén được tìm thấy trong bao của Bên-gia-min.
Họ xé áo mình, mỗi người chất đồ lên lưng lừa, rồi trở lại thành.
Khi Giu-đa và các anh em vào đến nhà Giô-sép thì ông vẫn còn ở đó. Họ sấp mình xuống đất trước mặt ông.
Giô-sép hỏi: “Các người đã làm gì vậy? Các người không biết rằng ta có khả năng bói toán sao?”
Giu-đa đáp: “Chúng tôi biết nói gì với ngài? Trình bày gì đây? Biện minh như thế nào? Đức Chúa Trời đã vạch ra tội lỗi của các đầy tớ ngài rồi. Bây giờ, cả chúng tôi lẫn người bị bắt gặp đang giữ cái chén đều là nô lệ của ngài.”
Nhưng Giô-sép nói: “Ta không bao giờ muốn làm như vậy! Người bị bắt gặp đang giữ cái chén sẽ làm nô lệ cho ta, còn các ngươi cứ an tâm trở về với cha mình.”
Giu-đa đến gần Giô-sép và nói: “Thưa ngài, xin thứ lỗi và cho đầy tớ ngài được giải bày đôi lời. Xin ngài đừng trút giận trên đầy tớ ngài, vì ngài ngang hàng với Pha-ra-ôn.
Ngài đã có lần hỏi các đầy tớ ngài rằng: ‘Các ngươi còn cha hay là anh em nào không?’
Chúng tôi đã thưa với ngài: ‘Chúng tôi còn cha già và một em út ra đời lúc cha đã cao tuổi. Anh ruột của nó đã chết nên trong các con của mẹ nó chỉ còn một mình nó và cha thương nó lắm.’
Ngài có bảo các đầy tớ ngài: ‘Hãy đưa nó xuống gặp ta để ta được thấy nó tận mắt.’
Chúng tôi cũng đã thưa với ngài: ‘Đứa trẻ không thể rời cha được vì nếu nó rời cha, thì cha sẽ chết.’
Nhưng ngài lại bảo: ‘Nếu người em út không cùng xuống đây với các ngươi thì các ngươi sẽ không được gặp ta nữa.’
Khi trở về với đầy tớ ngài là cha tôi thì chúng tôi có thuật lại cho người nghe những lời ngài nói.
Sau đó, cha lại bảo chúng tôi: ‘Hãy trở xuống mua về một ít lương thực.’
Chúng tôi thưa: ‘Chúng con không thể xuống đó được. Nếu có chú út cùng đi thì chúng con mới xuống được, vì chúng con không thể gặp người ấy nếu chú út không cùng đi.’
Đầy tớ ngài là cha tôi, nói với chúng tôi: ‘Các con biết rằng vợ ta sinh cho ta hai đứa con trai;
một đứa đã đi mất biệt, và ta cũng đã nói, chắc nó đã bị thú dữ xé xác rồi, vì đến nay ta vẫn chưa thấy lại nó.
Nếu các con còn đem đứa nầy đi xa ta nữa, và nó gặp phải tai họa, thì các con làm cho kẻ đầu bạc nầy đau lòng xót dạ mà xuống âm phủ.’
Sự sống của cha tôi ràng buộc vào sự sống của em tôi. Vậy, nếu bây giờ tôi trở về với đầy tớ ngài là cha tôi, mà không có thằng bé đi cùng
thì cha tôi sẽ chết khi không thấy thằng bé. Nếu vậy, các đầy tớ ngài sẽ làm cho cha già tóc bạc của chúng tôi, cũng là đầy tớ ngài, đau lòng xót dạ mà xuống âm phủ.
Kẻ đầy tớ nầy đã đứng bảo lãnh cho thằng bé, và nói: ‘Nếu con không đem em về cho cha thì con sẽ mang tội với cha suốt đời.’
Vậy bây giờ, xin cho đầy tớ ngài được làm nô lệ cho ngài thay cho thằng bé, và cho thằng bé cùng về với các anh nó.
Thật, làm sao tôi dám trở về với cha tôi mà không có thằng bé chứ? Không, tôi không thể nào chứng kiến điều bất hạnh giáng xuống trên cha tôi được!”
Bấy giờ, Giô-sép không thể cầm lòng trước mặt các người hầu chung quanh được nữa nên ông thét lên: “Bảo mọi người ra khỏi đây đi!” Vì vậy, không ai có mặt ở đó khi Giô-sép tỏ thật với các anh em mình.
Ông bật khóc lớn đến nỗi những người Ai Cập và cả hoàng gia Pha-ra-ôn đều nghe.
Giô-sép nói với các anh em: “Tôi là Giô-sép đây! Cha tôi còn sống không?” Nhưng trước mặt ông, các anh em đều sợ hãi, không thốt nên lời.
Giô-sép nói: “Xin anh em hãy đến gần tôi.” Họ lại gần. Ông nói: “Tôi là Giô-sép, đứa em mà các anh đã bán sang Ai Cập đây.
Nhưng bây giờ, các anh đừng đau buồn và cũng đừng tự trách mình vì đã bán tôi sang đây. Vì để bảo tồn sự sống mà Đức Chúa Trời đã sai tôi đến đây trước các anh.
Nạn đói đã xảy ra trong xứ hai năm rồi, và sẽ còn năm năm không cày cấy, không gặt hái được nữa.
Đức Chúa Trời sai tôi đến đây trước để duy trì cho các anh một dòng dõi trên đất, và cứu mạng sống các anh bằng một cuộc giải cứu vĩ đại.
Vậy không phải các anh mà chính Đức Chúa Trời đã sai tôi đến đây. Ngài lập tôi làm cha Pha-ra-ôn, làm chúa của triều đình, và cai trị toàn cõi Ai Cập.
Các anh hãy mau mau trở về gặp cha tôi và thưa: ‘Giô-sép, con của cha, nói thế nầy: Đức Chúa Trời đã lập con làm chúa của toàn cõi Ai Cập. Xin cha xuống đây với con, xin đừng chậm trễ.
Cha sẽ cư ngụ trong đất Gô-sen và ở gần con. Cha sẽ ở với các con, các cháu của cha, bầy chiên, bầy bò cùng tất cả những gì thuộc về cha.
Ở đó con sẽ phụng dưỡng cha, vì còn năm năm đói kém nữa, để cha, gia đình cha, và tất cả đàn gia súc của cha không rơi vào cảnh đói khát.’
Các anh và em Bên-gia-min đã thấy tận mắt là chính miệng tôi nói chuyện với các anh em đó.
Các anh hãy thuật cho cha nghe về mọi vinh quang của tôi tại Ai Cập cũng như những gì anh em đã thấy, rồi mau chóng đưa cha xuống đây.”
Nói xong, Giô-sép ôm choàng lấy Bên-gia-min, em mình, mà khóc. Bên-gia-min cũng ôm cổ anh mà khóc.
Rồi Giô-sép ôm hôn tất cả các anh và khóc với họ. Sau đó, anh em trò chuyện với ông.
Khi tin tức đến tai hoàng gia Pha-ra-ôn rằng: “Anh em Giô-sép đã đến,” Pha-ra-ôn và quần thần đều vui mừng.
Pha-ra-ôn nói với Giô-sép: “Hãy bảo anh em ngươi làm điều nầy: ‘Hãy chất đồ lên lừa và trở về xứ Ca-na-an
rước cha và gia đình của các ngươi xuống ở với ta. Ta sẽ ban cho các ngươi phần tốt nhất trong xứ Ai Cập, và các ngươi sẽ hưởng màu mỡ của đất.’
Còn ngươi hãy nói lại với họ thế nầy: ‘Hãy đem xe từ Ai Cập về chở vợ con và rước cha các ngươi xuống đây.
Đừng tiếc tài sản mình, vì những gì tốt nhất của xứ Ai Cập sẽ thuộc về các ngươi.’”
Các con trai của Y-sơ-ra-ên đã làm đúng như thế. Giô-sép theo lệnh Pha-ra-ôn cấp xe cộ cũng như lương thực cho anh em dùng trong lúc đi đường.
Ông tặng cho mỗi người một bộ quần áo, còn Bên-gia-min thì ông tặng ba trăm miếng bạc và năm bộ quần áo.
Ông cũng gửi về cho cha mười con lừa chở đầy các vật quý nhất trong xứ Ai Cập, mười con lừa cái chở lúa mì, bánh, và lương thực để cha dùng trong lúc đi đường.
Rồi Giô-sép tiễn anh em mình lên đường. Ông dặn họ: “Đừng cãi cọ nhau dọc đường.”
Các anh em từ Ai Cập trở về Ca-na-an, gặp Gia-cốp, cha mình.
Họ báo với ông: “Giô-sép hãy còn sống và đang cai trị toàn cõi Ai Cập!” Nhưng lòng Gia-cốp vẫn dửng dưng vì ông không tin lời họ nói.
Nhưng khi họ kể lại cho ông tất cả những lời Giô-sép đã nói với họ, và khi thấy xe cộ mà Giô-sép gửi về để rước mình thì tâm thần Gia-cốp, cha họ, mới hồi tỉnh.
Y-sơ-ra-ên nói: “Thế là đủ rồi! Giô-sép, con trai ta, vẫn còn sống. Ta sẽ đi thăm nó trước khi ta qua đời.”
Y-sơ-ra-ên lên đường, đem theo tất cả tài sản. Đến Bê-e Sê-ba, ông dâng sinh tế lên Đức Chúa Trời của Y-sác, cha mình.
Một đêm kia, Đức Chúa Trời phán với Y-sơ-ra-ên qua khải tượng. Ngài gọi: “Gia-cốp, Gia-cốp!” Y-sơ-ra-ên thưa: “Có con đây.”
Đức Chúa Trời phán: “Ta là Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời của thân phụ con. Đừng sợ khi xuống Ai Cập, vì tại đó Ta sẽ làm cho con trở nên một dân lớn.
Chính Ta sẽ xuống Ai Cập với con, và cũng chính Ta sẽ dẫn con trở về. Bàn tay Giô-sép sẽ vuốt mắt cho con.”
Rồi Gia-cốp rời Bê-e Sê-ba. Các con trai Y-sơ-ra-ên tức Gia-cốp, đưa cha mình, các con trẻ và các bà vợ của họ lên các xe mà Pha-ra-ôn đã gửi về để rước cha.
Họ cũng mang theo súc vật và của cải đã gây dựng được tại Ca-na-an xuống Ai Cập.
Vậy, Gia-cốp và cả dòng dõi ông gồm con trai, cháu trai, con gái, cháu gái, cùng xuống Ai Cập.
Đây là tên các con trai của Y-sơ-ra-ên, tức là Gia-cốp và dòng dõi ông, đã đến Ai Cập: Trưởng nam của Gia-cốp là Ru-bên.
Các con trai của Ru-bên là Hê-nóc, Pha-lu, Hết-rôn, và Cạt-mi.
Các con trai của Si-mê-ôn là Giê-mu-ên, Gia-min, Ô-hát, Gia-kin, Xô-ha, và Sau-lơ, con của người vợ Ca-na-an.
Các con trai của Lê-vi là: Ghẹt-sôn, Kê-hát, và Mê-ra-ri.
Các con trai của Giu-đa là Ê-rơ, Ô-nan, Sê-la, Phê-rết và Xê-rách. Nhưng Ê-rơ và Ô-nan đã chết tại Ca-na-an. Con của Phê-rết là: Hết-rôn và Ha-mun.
Các con trai của Y-sa-ca là: Thô-la, Phu-va, Gióp, và Sim-rôn.
Các con trai của Sa-bu-lôn là: Sê-rết, Ê-lôn, và Gia-lê-ên.
Đó là các con trai và một con gái tên là Đi-na mà Lê-a sinh cho Gia-cốp tại Pha-đan A-ram. Cộng thêm các cháu thì tất cả là ba mươi ba người.
Các con trai của Gát là: Xi-phi-ôn, Ha-ghi, Su-ni, Ét-bôn, Ê-ri, A-rô-đi và A-rê-li.
Các con trai của A-se là: Dim-na, Dích-va, Dích-vi, và Bê-ri-a. Em gái của họ là Sê-rách. Các con trai của Bê-ri-a là: Hê-be và Manh-ki-ên.
Đó là các con trai của Xinh-ba, người mà La-ban đã cho theo hầu Lê-a, con gái ông, sinh cho Gia-cốp. Tất cả là mười sáu người.
Các con trai của Ra-chên, vợ Gia-cốp, là: Giô-sép và Bên-gia-min.
Giô-sép đã có con tại Ai Cập là Ma-na-se và Ép-ra-im mà Ách-nát, con gái của Phô-ti-phê-ra, thầy tế lễ thành Ôn, đã sinh cho ông.
Các con trai của Bên-gia-min là: Bê-la, Bê-ke, Ách-bên, Giê-ra, Na-a-man, Ê-hi, Rô-sơ, Mốp-bim, Hốp-bim, và A-rết.
Đó là các con trai mà Ra-chên sinh cho Gia-cốp. Cộng thêm các cháu, tất cả là mười bốn người.
Con trai của Đan là: Hu-sim.
Các con trai của Nép-ta-li là: Giát-sê-ên, Gu-ni, Giê-xe, và Si-lem.
Đó là các con trai của Bi-la, người mà La-ban đã cho theo hầu Ra-chên, con gái ông, sinh cho Gia-cốp. Cộng thêm các cháu, tất cả là bảy người.
Số người cùng Gia-cốp đi xuống Ai Cập, tức là dòng giống của ông, không kể các con dâu của Gia-cốp, là sáu mươi sáu người.
Các con trai của Giô-sép đã sinh tại Ai Cập là hai người. Vậy, tổng số những người thuộc gia đình Gia-cốp đi đến Ai Cập là bảy mươi người.
Gia-cốp sai Giu-đa đi trước gặp Giô-sép để Giô-sép dẫn đường vào Gô-sen. Khi họ đến địa phận Gô-sen,
Giô-sép đã chuẩn bị sẵn xe và lên Gô-sen đón Y-sơ-ra-ên, cha mình. Vừa thấy cha, ông ôm choàng lấy cha mà khóc một hồi lâu.
Y-sơ-ra-ên nói với Giô-sép rằng: “Bây giờ cha có chết cũng được, vì cha đã thấy được mặt con và biết con vẫn còn sống.”
Giô-sép nói với các anh em và những người trong gia đình cha mình: “Tôi sẽ lên tâu cho Pha-ra-ôn hay rằng: ‘Anh em và cả gia đình cha tôi ở xứ Ca-na-an đã đến với tôi.
Những người nầy vốn làm nghề chăn chiên, chuyên nuôi súc vật. Họ có đem theo bầy chiên, bò và tất cả các tài sản của mình.’
Vậy khi Pha-ra-ôn truyền gọi anh em và hỏi: ‘Các ngươi làm nghề gì?’
thì hãy tâu: ‘Từ thuở bé đến giờ, các đầy tớ vua chỉ chuyên nghề nuôi súc vật như tổ tiên mình.’ Nói vậy để anh em có thể ở lại đất Gô-sen, vì dân Ai Cập hay ghê tởm những người chăn chiên.”
Giô-sép đến tâu trình với Pha-ra-ôn: “Cha tôi và anh em tôi từ xứ Ca-na-an đã đến cùng với chiên, bò, và tất cả những gì họ có. Bây giờ họ đang ở tại Gô-sen.”
Ông chọn năm người trong số các anh em và đưa vào yết kiến Pha-ra-ôn.
Pha-ra-ôn hỏi: “Các ngươi làm nghề gì?” Họ thưa: “Các đầy tớ bệ hạ làm nghề chăn chiên như tổ tiên đã làm.”
Rồi họ thưa tiếp: “Chúng tôi đến tạm trú trong đất nầy vì ở Ca-na-an không còn đồng cỏ cho súc vật và nạn đói đã trở nên trầm trọng. Vậy, xin bệ hạ cho các đầy tớ ngài được cư ngụ tại xứ Gô-sen.”
Pha-ra-ôn nói với Giô-sép: “Cha ngươi và các anh em đã đến với ngươi.
Đất nước Ai Cập đang ở trước mặt ngươi, hãy cho cha và anh em ngươi ở nơi nào tốt nhất trong xứ nầy. Hãy cứ để họ ở đất Gô-sen. Nếu ngươi biết trong số họ ai có tài thì giao cho họ trông nom các đàn súc vật của ta.”
Sau đó, Giô-sép đưa cha mình là Gia-cốp vào yết kiến Pha-ra-ôn. Gia-cốp chúc phước cho Pha-ra-ôn.
Pha-ra-ôn hỏi Gia-cốp: “Cụ được bao nhiêu tuổi rồi?”
Gia-cốp đáp: “Những năm tháng phiêu bạt của tôi tổng cộng là một trăm ba mươi năm. Những năm tháng đời tôi ngắn ngủi và nhọc nhằn, không so được với cuộc đời phiêu bạt của tổ phụ tôi.”
Gia-cốp lại chúc phước cho Pha-ra-ôn rồi cáo biệt vua.
Theo lệnh Pha-ra-ôn, Giô-sép ổn định chỗ ở cho cha và anh em, cấp đất đai để họ làm sản nghiệp trong Ai Cập, tại vùng tốt nhất của xứ sở nầy, thuộc địa hạt Ram-se.
Giô-sép cấp lương thực cho cha, anh em và mọi người trong nhà cha, tùy theo số con cái của họ.
Trong khắp xứ không còn thức ăn nữa, vì nạn đói trở nên nghiêm trọng. Cả Ai Cập và Ca-na-an đều bị kiệt quệ vì nạn đói.
Giô-sép thu tất cả số tiền bạc trong xứ Ai Cập và Ca-na-an, tức là tiền người ta mua lúa, rồi đưa vào kho Pha-ra-ôn.
Khi tiền bạc trong xứ Ai Cập và Ca-na-an đã hết thì mọi người Ai Cập đều kéo đến với Giô-sép và yêu cầu: “Xin cấp lương thực cho chúng tôi. Chẳng lẽ vì hết tiền mà chúng tôi phải chết trước mặt ngài sao?”
Giô-sép đáp: “Nếu hết tiền bạc thì đem súc vật các ngươi đến, ta sẽ đổi lương thực lấy súc vật.”
Dân chúng dẫn súc vật đến cho Giô-sép. Giô-sép đổi lương thực lấy ngựa, bầy chiên, bầy bò, và lừa. Năm đó, ông cung cấp lương thực cho họ và đổi lấy tất cả các bầy súc vật của họ.
Hết năm đó, qua năm sau dân chúng lại đến với ông và nói: “Chúng tôi không giấu gì ngài, tiền bạc của chúng tôi đã hết sạch, bầy súc vật đã giao cho ngài. Bây giờ, như ngài thấy đó, chúng tôi chẳng còn gì ngoài bản thân và đất ruộng.
Chẳng lẽ chúng tôi phải chết và ruộng đất chúng tôi phải hoang vu trước mặt ngài sao? Xin ngài lấy lương thực mà mua chúng tôi và đất đai chúng tôi. Chúng tôi và đất đai chúng tôi sẽ làm nô lệ cho Pha-ra-ôn. Xin cho chúng tôi hạt giống để chúng tôi sống chứ không phải chết, và đất đai không bị bỏ hoang.”
Giô-sép mua tất cả ruộng đất trong Ai Cập về cho Pha-ra-ôn. Vì nạn đói thúc bách nên mọi người Ai Cập đem bán đồng ruộng mình; vậy đất đai đều thuộc về Pha-ra-ôn.
Còn dân chúng thì ông biến họ thành nô lệ từ đầu nầy đến đầu kia của lãnh thổ Ai Cập.
Tuy nhiên, Giô-sép không mua ruộng đất của những thầy tế lễ, vì các thầy tế lễ được một phần trợ cấp nhất định của Pha-ra-ôn. Họ sống nhờ phần lương thực Pha-ra-ôn trợ cấp nên không phải bán đất của mình.
Giô-sép nói với dân chúng: “Hôm nay ta đã mua các ngươi và đất đai của các ngươi cho Pha-ra-ôn. Đây là hạt giống để các ngươi gieo xuống đất đó.
Đến mùa gặt, các ngươi phải nộp cho Pha-ra-ôn một phần năm, còn bốn phần kia là phần của các ngươi để làm giống và làm lương thực cho bản thân, cho người nhà và nuôi con cái.”
Dân chúng nói: “Ngài đã cứu mạng chúng tôi! Chúng tôi mong được vừa lòng ngài, và sẽ làm nô lệ cho Pha-ra-ôn.”
Vậy Giô-sép lập thành một luật về đất đai tại Ai Cập, đến nay vẫn còn giá trị, tức là phải nộp cho Pha-ra-ôn một phần năm hoa lợi mình có. Chỉ có đất ruộng của các thầy tế lễ là không thuộc về Pha-ra-ôn.
Vậy Y-sơ-ra-ên định cư trong miền Gô-sen, thuộc Ai Cập. Con cháu ông đã gây dựng cơ nghiệp tại đó và sinh sôi nẩy nở bội phần.
Gia-cốp sống tại Ai Cập được mười bảy năm, hưởng thọ một trăm bốn mươi bảy tuổi.
Gần đến ngày qua đời, Y-sơ-ra-ên gọi Giô-sép, con trai mình đến và bảo: “Nếu thương cha, con hãy đặt tay dưới đùi cha, lấy lòng nhân từ và thành thật mà hứa rằng con sẽ không chôn cha tại Ai Cập.
Nhưng khi cha đã an giấc với tổ phụ, con hãy đem cha ra khỏi Ai Cập, chôn cạnh phần mộ của tổ tiên.” Giô-sép thưa: “Con sẽ làm đúng như lời cha dặn.”
Gia-cốp nói: “Con hãy thề với cha đi.” Giô-sép liền thề. Y-sơ-ra-ên quỳ lạy ngay trên đầu giường mình.
Sau các việc đó, người ta báo cho Giô-sép: “Cha ngài bị bệnh.” Giô-sép đưa hai con mình là Ma-na-se và Ép-ra-im cùng đến thăm.
Khi Gia-cốp được báo tin: “Con trai ông là Giô-sép đến thăm ông,” Y-sơ-ra-ên cố gượng ngồi dậy trên giường.
Gia-cốp nói với Giô-sép: “Đức Chúa Trời Toàn Năng đã hiện ra và ban phước cho cha tại Lu-xơ, trong đất Ca-na-an.
Ngài phán: ‘Nầy, Ta sẽ làm cho con sinh sôi nẩy nở thật nhiều. Ta sẽ làm cho con thành một cộng đồng gồm nhiều dân tộc và ban cho dòng dõi con đất nầy làm cơ nghiệp đời đời.’
Bây giờ, hai đứa con trai đã sinh cho con tại Ai Cập trước khi cha đến, là Ép-ra-im và Ma-na-se, sẽ thuộc về cha như Ru-bên và Si-mê-ôn vậy.
Còn những đứa mà con sinh sau sẽ thuộc về con. Chúng sẽ hưởng cơ nghiệp dưới danh nghĩa của hai anh mình.
Vì khi từ Pha-đan trở về Ca-na-an thì cha đau lòng chứng kiến Ra-chên chết dọc đường, gần Ép-ra-ta. Cha đã chôn mẹ con bên đường đi Ép-ra-ta (tức là Bết-lê-hem).”
Khi thấy các con trai Giô-sép, Y-sơ-ra-ên hỏi: “Những đứa nầy là ai?”
Giô-sép thưa: “Đây là các con trai mà Đức Chúa Trời đã ban cho con tại xứ nầy.” Y-sơ-ra-ên bảo: “Đưa chúng đến đây để cha chúc phước cho chúng.”
Vì tuổi cao, mắt của Y-sơ-ra-ên đã mờ, không nhìn thấy rõ. Giô-sép đem chúng lại gần ông. Ông ôm chúng và hôn.
Y-sơ-ra-ên nói với Giô-sép: “Cha tưởng không còn thấy được mặt con, thế mà bây giờ Đức Chúa Trời lại cho cha được thấy cả dòng dõi của con nữa.”
Giô-sép đỡ hai con trai ra khỏi đầu gối cha mình, rồi sấp mặt xuống đất.
Ông đem hai đứa trẻ lại gần cha. Tay phải dắt Ép-ra-im sang phía trái của cha, còn tay trái thì dắt Ma-na-se sang phía phải của cha.
Nhưng Y-sơ-ra-ên đưa tay phải ra và đặt trên đầu Ép-ra-im, là đứa nhỏ, còn tay trái lại đặt trên đầu Ma-na-se. Ông bắt chéo tay dù Ma-na-se là con cả.
Rồi ông chúc phước cho Giô-sép: “Lạy Đức Chúa Trời Mà tổ phụ con là Áp-ra-ham và Y-sác đã thờ phượng, Là Đức Chúa Trời đã chăn dắt con Từ khi mới ra đời cho đến ngày nay,
Là Thiên Sứ đã cứu con khỏi mọi tai họa, Xin Chúa ban phước cho hai đứa trẻ nầy, Cho chúng nối danh con Và tổ phụ con là Áp-ra-ham và Y-sác. Xin cho chúng gia tăng bội phần trên mặt đất!”
Khi Giô-sép thấy cha đặt tay phải trên đầu Ép-ra-im thì không bằng lòng, nên ông cầm tay cha đổi từ đầu Ép-ra-im sang đầu Ma-na-se.
Ông nói: “Thưa cha, không phải vậy. Đứa nầy mới là con cả, xin cha đặt tay phải trên đầu nó.”
Nhưng cha ông không chịu và nói: “Con ơi, cha biết rõ lắm. Ma-na-se sẽ trở thành một dân tộc và nó cũng sẽ lớn mạnh. Tuy nhiên em nó sẽ lớn hơn và dòng dõi em nó sẽ trở thành vô số nước.”
Ngày hôm đó, ông chúc phước cho hai đứa trẻ: “Dân Y-sơ-ra-ên sẽ nhân danh các cháu mà chúc phước cho nhau rằng: ‘Cầu xin Đức Chúa Trời làm cho bạn được như Ép-ra-im và Ma-na-se!’” Vậy, Gia-cốp đặt Ép-ra-im trước Ma-na-se.
Y-sơ-ra-ên còn nói với Giô-sép: “Nầy, cha sắp qua đời, nhưng Đức Chúa Trời sẽ phù hộ và đưa các con trở về quê cha đất tổ.
Riêng con, cha sẽ cho con một phần trội hơn các anh em con, đó là sườn núi Si-chem mà cha đã dùng cung kiếm chiếm lấy từ tay dân A-mô-rít.”
Gia-cốp gọi các con trai lại và nói: “Hãy tụ họp lại đây, cha sẽ nói những điều sẽ xảy đến cho các con trong tương lai.
Hỡi các con trai Gia-cốp, hãy tụ họp lại và nghe; Lắng nghe Y-sơ-ra-ên, cha các con:
Hỡi Ru-bên! Con trưởng nam của cha, Là sức mạnh của cha, và là bông trái đầu tiên của sinh lực cha, Vốn có địa vị cao trọng và quyền hạn tột đỉnh;
Cuồn cuộn như nước lũ, nên con chẳng hơn ai, Vì con đã lên giường cha Làm cho giường cha ô uế!
Si-mê-ôn và Lê-vi là anh em. Thanh gươm của chúng là khí giới bạo tàn.
Cầu cho tâm hồn cha không thông đồng với chúng, Linh hồn cha chẳng kết giao với chúng; Vì trong cơn giận dữ chúng đã giết người, Trong lúc ngông cuồng chúng cắt nhượng bò đực.
Đáng nguyền rủa cho cơn giận của chúng, vì nó quá hung hãn! Đáng nguyền rủa cho cơn phẫn nộ của chúng, vì nó quá bạo tàn! Cha sẽ tách chúng ra trong nhà Gia-cốp, Và phân tán chúng trong dân Y-sơ-ra-ên.
Giu-đa! Các anh em sẽ ca tụng con, Tay con sẽ nắm cổ quân thù, Các con trai cha sẽ quỳ lạy trước mặt con.
Giu-đa! Con là một sư tử tơ; Con ơi! Săn được mồi con lại trở về. Nó quỳ xuống, nằm rình như sư tử đực, Và giống sư tử cái. Ai dám quấy rầy nó?
Vương trượng chẳng rời xa Giu-đa, Cây gậy chỉ huy không cách xa chân nó, Cho đến khi Đấng Si-lô đến, Và các dân vâng phục Đấng đó.
Người buộc lừa tơ mình vào gốc nho, Và lừa con vào cành nho tươi tốt nhất. Người sẽ giặt y phục trong rượu nho, Và áo mình trong huyết nho.
Mắt người đỏ hơn rượu, Răng người trắng hơn sữa.
Sa-bu-lôn sẽ sống cạnh bờ biển, Nơi ẩn náu cho tàu bè; Bờ cõi nó chạy về hướng Si-đôn.
Y-sa-ca là một con lừa mạnh mẽ, Nằm nghỉ giữa chuồng;
Thấy rằng nơi nghỉ ngơi thật là thoải mái, Và đất đai thật đáng yêu. Nên đã nghiêng vai gánh vác, Và lao động khổ sai như nô lệ.
Đan sẽ xét xử dân mình, Như một trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên.
Đan sẽ là một con rắn bên đường, Một con rắn độc trên lối đi, Cắn gót chân ngựa, Khiến người cưỡi ngựa phải té nhào.
Lạy Đức Giê-hô-va! Con trông chờ ơn cứu rỗi của Ngài!
Gát sẽ bị một toán quân tấn công, Nhưng nó sẽ phản công và rượt đuổi chúng.
A-se có thức ăn bổ béo, Nó sẽ cung cấp cao lương mỹ vị cho vua.
Nép-ta-li là nai cái thả chuồng Sinh ra những chú nai con xinh đẹp.
Giô-sép là cành cây trĩu quả, Cành cây trĩu quả bên bờ suối; Nhánh nó phủ trên tường.
Những kẻ cầm cung đã tấn công nó mãnh liệt Bắn tên và áp đảo nó.
Nhưng nhờ tay Đấng Quyền Năng của Gia-cốp, Mà cung nó vẫn vững bền; Nhờ Đấng Chăn Chiên, là Vầng Đá của Y-sơ-ra-ên, Mà đôi tay nó vẫn lẹ làng.
Đức Chúa Trời của cha sẽ giúp đỡ con; Đấng Toàn Năng sẽ ban phước cho con, Tức là phước lành từ trời cao sa xuống, Cùng phước lành từ vực thẳm dâng lên, Phước lành của vú mẹ và dạ con.
Phước lành cha chúc cho con Trổi hơn các phước lành của tổ phụ chúc cho cha, Vượt trên các đỉnh núi từ nghìn xưa. Nguyện các phước lành nầy ngự trên đầu Giô-sép, Trên trán của ông hoàng giữa các anh em mình.
Bên-gia-min là một con sói ưa cấu xé; Buổi sáng nó vồ lấy con mồi, Buổi chiều nó chia phần mồi đã săn được.”
Đó là mười hai bộ tộc Y-sơ-ra-ên và những gì người cha đã nói với họ khi ông chúc phước cho họ, mỗi người một lời chúc phước riêng biệt.
Sau đó ông dặn bảo các con: “Cha sắp về sum họp với tổ tiên. Các con hãy chôn cất cha cạnh các tổ phụ, trong hang đá ở cánh đồng của Ép-rôn, người Hê-tít,
tức là hang đá trong cánh đồng Mặc-bê-la, gần Mam-rê, thuộc xứ Ca-na-an mà Áp-ra-ham đã mua của Ép-rôn, người Hê-tít, để làm nơi an táng.
Ở đó, người ta đã chôn Áp-ra-ham và vợ là Sa-ra, Y-sác và vợ là Rê-bê-ca, và cũng tại đó cha đã chôn Lê-a.
Cánh đồng và hang đá trong đó đã được mua lại từ gia tộc Hếch.”
Vừa dứt lời trăn trối với các con, Gia-cốp rút chân lên giường, rồi trút hơi thở cuối cùng, và được về sum họp với tổ tiên.
Giô-sép cúi xuống mặt cha, vừa hôn vừa khóc.
Giô-sép truyền lệnh cho các thầy thuốc đang phục vụ ông, dùng thuốc thơm ướp xác cha mình, và các thầy thuốc đã ướp xác Y-sơ-ra-ên.
Họ phải thực hiện việc nầy trong suốt bốn mươi ngày, vì đó là thời gian cần cho việc ướp xác. Dân Ai Cập để tang Gia-cốp trong bảy mươi ngày.
Khi những ngày tang chế đã qua, Giô-sép nói với các triều thần Pha-ra-ôn: “Nếu tôi được ơn trước mặt các ông, xin các ông tâu với Pha-ra-ôn như thế nầy:
Cha tôi đã bắt tôi thề rằng: ‘Nầy, cha sắp chết. Con hãy chôn cha trong phần mộ mà cha đã đục sẵn ở Ca-na-an.’ Vậy bây giờ, xin cho tôi lên đó chôn cha tôi, rồi tôi sẽ trở lại.”
Pha-ra-ôn bảo: “Ngươi hãy lên chôn cha ngươi như lời cụ đã bắt ngươi thề.”
Vậy, Giô-sép lên Ca-na-an để an táng cha. Cùng đi với ông có tất cả các triều thần Pha-ra-ôn, các trưởng lão trong triều, các trưởng lão trong xứ Ai Cập,
cũng như tất cả người nhà, các anh em và những thân quyến của cha ông. Trong đất Gô-sen chỉ còn lại trẻ con và chiên, bò của họ mà thôi.
Ngoài ra còn có chiến xa và kỵ binh hộ tống. Thật là một đoàn người rất đông.
Khi đến sân đập lúa của A-tát, ở phía đông sông Giô-đanh, họ cử hành một tang lễ rất long trọng và xúc động. Giô-sép để tang cha trong bảy ngày.
Dân địa phương, tức là người Ca-na-an thấy đám tang trong sân đập lúa A-tát, thì nói: “Đây là một đám tang long trọng của người Ai Cập.” Vì vậy người ta gọi nơi nầy là A-bên Mích-ra-im, ở phía đông sông Giô-đanh.
Vậy, các con trai Gia-cốp đã làm theo lời trăn trối của cha.
Họ đưa ông về xứ Ca-na-an, chôn trong hang đá ở cánh đồng Mặc-bê-la, gần Mam-rê, mà Áp-ra-ham đã mua của Ép-rôn, người Hê-tít, để làm nơi an táng.
Sau khi chôn cất cha, Giô-sép và các anh em cùng những người đưa tang trở về Ai Cập.
Các anh Giô-sép thấy cha mình chết thì nói với nhau: “Nếu Giô-sép còn giữ lòng thù hận và báo thù chúng ta về những việc ác mà chúng ta đã làm cho nó thì sao?”
Họ sai người đến nói với Giô-sép: “Trước khi qua đời, cha em có truyền dặn rằng:
‘Các con hãy nói với Giô-sép thế nầy: Xin con hãy tha thứ lỗi lầm và điều ác mà các anh con đã phạm khi muốn làm hại con.’ Vậy, bây giờ xin em hãy tha tội cho các đầy tớ của Đức Chúa Trời của cha.” Khi nghe những lời nầy, Giô-sép khóc.
Các anh của ông đích thân đến quỳ trước mặt ông và nói: “Nầy, các anh chỉ là nô lệ của em.”
Giô-sép nói với họ: “Các anh đừng sợ! Tôi thay thế cho Đức Chúa Trời được sao?
Các anh định hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại định cho nó thành điều lành để thực hiện việc đang xảy ra hôm nay, tức là bảo tồn sự sống cho bao nhiêu người.
Vậy, xin các anh đừng sợ, tôi sẽ cấp dưỡng cho các anh và con cái các anh.” Giô-sép an ủi các anh, dùng lời lẽ êm dịu mà nói chuyện với họ.
Giô-sép và gia đình cha của ông sinh sống ở Ai Cập. Giô-sép sống được một trăm mười tuổi.
Ông được thấy con cháu Ép-ra-im đến đời thứ ba, và cả các con của Ma-ki, con của Ma-na-se, cũng được sinh ra trên đầu gối Giô-sép.
Giô-sép nói với các anh em: “Tôi sắp qua đời, nhưng chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ thăm viếng anh em, đem anh em ra khỏi xứ nầy để trở về xứ mà Ngài đã thề hứa với Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp.”
Giô-sép bắt con cháu Y-sơ-ra-ên thề rằng: “Khi Đức Chúa Trời thực sự thăm viếng anh em, thì anh em sẽ đưa hài cốt của tôi ra khỏi xứ nầy.”
Vậy Giô-sép qua đời, hưởng thọ được một trăm mười tuổi. Người ta dùng thuốc thơm ướp xác Giô-sép, và liệm trong một quan tài tại Ai Cập.
Đây là tên các con trai của Y-sơ-ra-ên đã theo Gia-cốp đến Ai Cập cùng với gia đình mình:
Ru-bên, Si-mê-ôn, Lê-vi, và Giu-đa;
Y-sa-ca, Sa-bu-lôn, và Bên-gia-min;
Đan, Nép-ta-li, Gát, và A-se.
Tất cả con cháu của Gia-cốp là bảy mươi người, còn Giô-sép thì đã ở tại Ai Cập rồi.
Rồi Giô-sép, các anh em của ông và những người cùng thế hệ lần lượt qua đời.
Con cháu Y-sơ-ra-ên sinh sôi nẩy nở rất nhanh; dân số gia tăng, lan tràn khắp xứ và trở nên vô cùng hùng mạnh.
Bấy giờ có một vị vua mới lên ngôi cai trị Ai Cập, không biết đến Giô-sép.
Vua nói với dân mình rằng: “Kìa, dân Y-sơ-ra-ên đông và mạnh hơn chúng ta.
Nào! Chúng ta hãy đối xử khôn ngoan với họ; nếu không, dân số họ cứ gia tăng và một khi chiến tranh xảy đến, họ sẽ bắt tay với quân thù đánh lại chúng ta, rồi trốn ra khỏi xứ.”
Vì vậy, người Ai Cập đặt các đốc công để hành hạ dân Y-sơ-ra-ên bằng những công việc nặng nề, bắt họ xây thành Phi-thom và Ram-se để làm kho tàng cho Pha-ra-ôn.
Nhưng người Ai Cập càng hành hạ chừng nào, dân số Y-sơ-ra-ên càng gia tăng và lan rộng chừng nấy. Người Ai Cập lo sợ về dân Y-sơ-ra-ên
nên bắt họ làm việc cực nhọc,
khiến cuộc đời họ thêm đắng cay với bao công việc nặng nề như nhồi đất, làm gạch và đủ thứ việc đồng áng khác. Bất cứ việc gì người Ai Cập cũng bắt dân Y-sơ-ra-ên lao dịch nhọc nhằn.
Vua Ai Cập truyền cho các cô đỡ người Hê-bơ-rơ, một người tên Siếp-ra và một người tên Phu-a,
rằng: “Khi đỡ đẻ cho các sản phụ Hê-bơ-rơ, hễ các ngươi thấy trên bàn sinh là con trai thì phải giết đi, còn con gái thì để cho sống.”
Nhưng các cô đỡ kính sợ Đức Chúa Trời, không làm theo lệnh của vua Ai Cập, vẫn cứ để cho các bé trai sống.
Vua Ai Cập gọi các cô đỡ đến và hỏi: “Sao các ngươi làm thế? Tại sao lại để cho các bé trai sống?”
Các cô đỡ tâu rằng: “Vì đàn bà Hê-bơ-rơ không giống như đàn bà Ai Cập. Họ khỏe lắm, đã sinh trước khi cô đỡ đến.”
Đức Chúa Trời ban ơn cho các cô đỡ; dân số Y-sơ-ra-ên gia tăng và họ trở nên rất hùng mạnh.
Vì các cô đỡ có lòng kính sợ Đức Chúa Trời, nên Ngài làm cho nhà họ được thịnh vượng.
Pha-ra-ôn truyền lệnh cho toàn thể dân chúng rằng: “Hãy ném tất cả con trai sơ sinh của người Hê-bơ-rơ xuống sông, còn con gái thì để cho sống.”
Bấy giờ có một người thuộc dòng họ Lê-vi cưới một cô gái Lê-vi làm vợ.
Nàng thụ thai và sinh một con trai. Thấy đứa bé kháu khỉnh, nàng đem đi giấu trong ba tháng.
Khi không thể giấu lâu hơn được, nàng lấy một cái thúng bằng cói, trét chai và nhựa thông, đặt đứa bé vào đó rồi đem thả giữa đám sậy ven sông.
Chị đứa bé đứng xa xa để trông chừng em mình.
Công chúa Pha-ra-ôn xuống sông tắm, còn các nữ tì đi dạo dọc bờ sông. Công chúa phát hiện một cái thúng bằng cói giữa đám sậy, liền sai nữ tì vớt lên.
Khi mở thúng ra, công chúa thấy đứa trẻ, một bé trai đang khóc. Cảm thương cho đứa bé, nàng nói: “Bé nầy chắc là một trong những đứa con của người Hê-bơ-rơ.”
Chị đứa bé nói với công chúa: “Tôi có thể đi tìm một người vú trong số những người đàn bà Hê-bơ-rơ để nuôi đứa trẻ cho bà không?”
Công chúa Pha-ra-ôn đáp: “Hãy đi đi.” Cô gái đi gọi mẹ của đứa bé đến.
Công chúa nói: “Hãy đem đứa trẻ nầy về nuôi cho ta, rồi ta sẽ trả tiền công cho.” Người đàn bà ẵm đứa trẻ về nuôi dưỡng.
Khi đứa trẻ đã lớn khôn, người mẹ đem nó vào cho công chúa. Nàng nhận làm con và đặt tên là Môi-se, vì nàng nói: “Ta đã vớt nó ra khỏi nước.”
Một hôm, khi Môi-se đã trưởng thành, ông đi ra ngoài, tìm đến đồng bào mình và thấy công việc nhọc nhằn của họ. Ông cũng thấy một người Ai Cập đánh một người Hê-bơ-rơ là anh em mình.
Nhìn quanh không thấy ai, Môi-se liền giết người Ai Cập đó rồi vùi xác trong cát.
Ngày hôm sau, Môi-se lại ra ngoài và thấy hai người Hê-bơ-rơ đang đánh nhau, ông nói với người có lỗi rằng: “Sao anh đánh đồng bào mình?”
Người đó trả lời: “Ai đã lập ông làm người cai trị và thẩm phán trên chúng tôi? Có phải ông cũng muốn giết tôi như đã giết tên Ai Cập kia chăng?” Môi-se sợ và nghĩ rằng: “Chắc chắn việc nầy đã bị lộ rồi.”
Nghe được chuyện nầy, Pha-ra-ôn tìm giết Môi-se. Nhưng Môi-se trốn khỏi Pha-ra-ôn. Ông dừng chân trong xứ Ma-đi-an và ngồi bên một giếng nước.
Thầy tế lễ Ma-đi-an có bảy cô con gái. Các cô ấy đến giếng múc nước đổ đầy máng cho bầy gia súc của cha mình uống.
Có một bọn chăn chiên đến đuổi các cô đi, nhưng Môi-se đứng ra bênh vực các cô và cho bầy gia súc uống nước.
Khi các cô trở về nhà cha mình là Rê-u-ên, thì người cha hỏi: “Sao hôm nay các con về sớm vậy?”
Họ thưa: “Có một người Ai Cập đã cứu chúng con khỏi tay bọn chăn chiên, lại còn múc nước cho bầy chiên uống nữa.”
Người cha hỏi tiếp: “Người đó bây giờ ở đâu? Sao các con lại bỏ người ta vậy? Hãy mời người đó về dùng bữa.”
Môi-se bằng lòng ở lại với Rê-u-ên, và ông gả Sê-phô-ra, con gái mình, cho Môi-se.
Nàng sinh một con trai và Môi-se đặt tên là Ghẹt-sôm, vì ông nói: “Tôi kiều ngụ trên đất khách.”
Sau một thời gian dài, vua Ai Cập qua đời. Dân Y-sơ-ra-ên than thở, kêu van dưới ách nô lệ, tiếng ta thán của họ thấu đến Đức Chúa Trời.
Ngài nghe tiếng than thở của họ và nhớ lại giao ước đã kết lập với Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp.
Đức Chúa Trời đoái đến dân Y-sơ-ra-ên và thấu hiểu cảnh ngộ của họ.
Bấy giờ Môi-se đang chăn bầy chiên cho Giê-trô, ông gia mình, là thầy tế lễ xứ Ma-đi-an. Ông dẫn bầy chiên qua bên kia hoang mạc và đến Hô-rếp là núi của Đức Chúa Trời.
Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện ra với ông trong ngọn lửa, giữa một bụi gai. Ông nhìn thấy bụi gai cháy nhưng không hề tàn.
Môi-se tự nhủ: “Ta phải lại xem cảnh tượng kỳ lạ nầy, tại sao bụi gai không hề bị thiêu rụi.”
Đức Giê-hô-va thấy ông đến gần để xem, Đức Chúa Trời từ giữa bụi gai gọi: “Hỡi Môi-se, Môi-se!” Ông thưa rằng: “Có con đây!”
Đức Chúa Trời phán: “Đừng đến gần! Hãy cởi dép khỏi chân con vì chỗ con đang đứng là đất thánh.”
Rồi Ngài lại phán: “Ta là Đức Chúa Trời của tổ phụ con, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp.” Môi-se liền che mặt vì sợ nhìn thấy Đức Chúa Trời.
Đức Giê-hô-va phán: “Ta đã thấy rõ nỗi khốn khổ của dân Ta tại Ai Cập và đã nghe thấu tiếng họ kêu than vì các đốc công. Phải, Ta biết được nỗi đau đớn của họ.
Ta ngự xuống để giải cứu dân nầy khỏi tay người Ai Cập, đem họ ra khỏi xứ ấy, đưa đến một vùng đất tốt đẹp và rộng rãi, đượm sữa và mật, tức là nơi ở của dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít.
Nầy, tiếng kêu than của dân Y-sơ-ra-ên đã thấu đến Ta; Ta đã thấy người Ai Cập áp bức họ như thế nào.
Vậy bây giờ, hãy lại đây, Ta sẽ sai con đến Pha-ra-ôn để con đem dân Ta, là dân Y-sơ-ra-ên, ra khỏi Ai Cập.”
Nhưng Môi-se thưa với Đức Chúa Trời rằng: “Con là ai mà dám đến với Pha-ra-ôn và đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập?”
Đức Chúa Trời phán: “Ta sẽ ở với con. Đây là dấu hiệu để con biết rằng Ta đã sai con đi: Khi con đã đem dân chúng ra khỏi Ai Cập rồi thì các con sẽ thờ phượng Đức Chúa Trời trên núi nầy.”
Môi-se thưa với Đức Chúa Trời: “Nếu con đi đến với dân Y-sơ-ra-ên và nói với họ: ‘Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em sai tôi đến với anh em;’ và họ hỏi con: ‘Tên Ngài là gì?’ thì con sẽ nói với họ thế nào?”
Đức Chúa Trời phán: “TA LÀ ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU.” Ngài lại phán: “Hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘ĐẤNG TỰ HỮU đã sai tôi đến với anh em.’”
Đức Chúa Trời lại phán với Môi-se: “Con hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên thế nầy: ‘Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp, sai tôi đến với anh em’: Đây là danh đời đời của Ta, Là danh ghi nhớ qua mọi thế hệ.
Hãy đi triệu tập các trưởng lão Y-sơ-ra-ên lại và nói với họ rằng: ‘Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của tổ phụ các ông, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp, đã hiện ra với tôi và phán: Ta đã thật sự quan tâm đến các con và thấy những điều người ta đối xử với các con tại Ai Cập.
Ta hứa rằng Ta sẽ đưa các con ra khỏi cảnh khổ đau tại Ai Cập và đem các con vào đất của dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít, là vùng đất đượm sữa và mật.’
Họ sẽ vâng theo lời con. Vậy con và các trưởng lão Y-sơ-ra-ên hãy đi yết kiến vua Ai Cập và nói rằng: ‘Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ, đã hiện ra với chúng tôi. Bây giờ, xin bệ hạ cho chúng tôi đi ba ngày đường vào hoang mạc để dâng sinh tế cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi.’
Tuy nhiên, Ta biết rằng vua Ai Cập sẽ chẳng bao giờ cho các con đi, nếu không có bàn tay quyền năng can thiệp.
Vì vậy, Ta sẽ ra tay trừng phạt Ai Cập bằng các phép lạ mà Ta sẽ làm giữa xứ đó, và rồi họ sẽ cho các con đi.
Ta sẽ làm cho dân nầy được ơn dưới mắt người Ai Cập để khi ra đi, các con sẽ chẳng ra đi tay không.
Nhưng mỗi phụ nữ sẽ xin người lân cận và người nữ tạm trú trong nhà mình các món đồ bằng vàng, bằng bạc và quần áo, rồi mặc vào cho con trai con gái mình. Như thế, các con sẽ tước đoạt của cải người Ai Cập.”
Môi-se thưa rằng: “Nhưng họ sẽ không tin và không nghe lời con, vì họ sẽ nói: ‘Đức Giê-hô-va nào có hiện ra với ông đâu.’”
Đức Giê-hô-va hỏi: “Con đang cầm vật gì trong tay?” Môi-se thưa: “Một cây gậy.”
Chúa phán: “Hãy ném nó xuống đất đi”. Ông ném gậy xuống đất và cây gậy biến thành một con rắn. Môi-se chạy trốn con rắn.
Nhưng Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy đưa tay nắm lấy đuôi nó.” Ông đưa tay bắt con rắn và nó lại biến thành cây gậy trong tay ông.
Đức Giê-hô-va phán: “Việc nầy là để họ tin rằng Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp, đã hiện ra với con.”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se: “Hãy đặt tay con vào ngực.” Ông đặt tay vào ngực, và khi lấy tay ra, kìa, tay ông nổi phong hủi trắng như tuyết.
Rồi Ngài phán: “Hãy đặt tay con vào ngực một lần nữa.” Ông lại đặt tay vào ngực, và khi lấy tay ra, kìa, da thịt tay ông trở lại bình thường.
Ngài lại phán: “Nếu họ không tin con mà cũng không nghe tiếng phán qua dấu lạ thứ nhất, thì sẽ tin dấu lạ thứ hai.
Nhưng nếu họ chẳng tin cả hai dấu lạ ấy và cũng không vâng theo lời con, thì hãy lấy nước dưới sông mà đổ tràn trên đất khô; nước mà con đã lấy từ dưới sông đó sẽ biến thành máu trên mặt đất.”
Môi-se thưa với Đức Giê-hô-va rằng: “Ôi! Lạy Chúa, từ trước đến nay và ngay cả lúc Chúa phán bảo đầy tớ Ngài, con vốn không có tài ăn nói, miệng lưỡi con hay ngập ngừng.”
Đức Giê-hô-va phán với ông: “Ai tạo ra môi miệng loài người? Ai đã làm cho con người thành câm, thành điếc, thành sáng, thành mù? Chẳng phải bởi Ta, là Đức Giê-hô-va đó sao?
Vậy bây giờ hãy đi đi, Ta sẽ ở với miệng con và dạy con những lời phải nói.”
Môi-se thưa: “Ôi! Lạy Chúa, xin Chúa sai người khác.”
Đức Giê-hô-va nổi giận với Môi-se, Ngài phán: “Chẳng phải A-rôn, người Lê-vi, là anh con đó sao? Ta biết người ấy có tài ăn nói. Kìa, anh ta đang đến gặp con đó; gặp được con, lòng anh ta sẽ vui lắm.
Con hãy nói với anh con, và sắp đặt lời lẽ vào miệng anh ta. Chính Ta sẽ ở với miệng con cũng như miệng anh con và dạy các con những gì phải làm.
Chính anh con sẽ là người phát ngôn cho con trước dân chúng, là cái miệng cho con, còn con sẽ như là Đức Chúa Trời cho anh ta vậy.
Con hãy cầm gậy nầy trên tay để dùng làm các dấu lạ.”
Môi-se trở về với Giê-trô, ông gia mình và thưa: “Xin cha cho con trở lại với anh em con tại Ai Cập để xem họ sống chết ra sao.” Giê-trô nói với Môi-se: “Con hãy đi bình an.”
Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se tại Ma-đi-an rằng: “Hãy trở về Ai Cập vì tất cả những người tìm hại mạng sống con đã chết hết rồi.”
Môi-se đỡ vợ và các con trai mình lên lưng lừa và lên đường trở về Ai Cập. Ông cũng cầm trong tay cây gậy của Đức Chúa Trời.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Khi trở về Ai Cập, con hãy thi thố các dấu lạ Ta đã giao vào tay con để thực hiện trước mặt Pha-ra-ôn. Nhưng Ta sẽ khiến vua Ai Cập cứng lòng, không cho dân chúng ra đi.
Vậy con phải nói với Pha-ra-ôn rằng Đức Giê-hô-va có phán: ‘Y-sơ-ra-ên là con Ta, là con trưởng nam của Ta,
nên Ta phán với ngươi rằng: Hãy cho con Ta đi, để nó phụng sự Ta. Nếu ngươi từ chối không chịu cho nó đi, nầy, Ta sẽ giết con trưởng nam của ngươi.’”
Dọc đường, tại một quán trọ, Đức Giê-hô-va hiện ra với Môi-se và tìm cách giết ông.
Sê-phô-ra lấy con dao bằng đá, cắt dương bì của con mình, rồi lấy nó chạm vào chân Môi-se, và nói: “Thật, chàng là người chồng huyết cho tôi!”
Đức Giê-hô-va tha cho Môi-se. Do việc cắt bì nầy mà Sê-phô-ra nói: “Chàng là người chồng huyết”.
Đức Giê-hô-va phán với A-rôn: “Hãy vào trong hoang mạc để đón Môi-se.” A-rôn đi gặp Môi-se trên núi của Đức Chúa Trời và hôn ông.
Môi-se thuật lại cho A-rôn mọi lời Đức Giê-hô-va sai ông nói và mọi dấu lạ Ngài truyền ông làm.
Môi-se và A-rôn đi triệu tập tất cả các trưởng lão của dân Y-sơ-ra-ên.
A-rôn thuật lại tất cả những lời Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se, và làm những dấu lạ trước mặt dân chúng.
Dân chúng tin. Khi nghe rằng Đức Giê-hô-va đã thăm viếng dân Y-sơ-ra-ên cũng như đã thấy cảnh khổ đau của họ, thì họ cúi đầu thờ lạy.
Sau đó, Môi-se và A-rôn đến trình với Pha-ra-ôn rằng: “Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của người Y-sơ-ra-ên, có phán: ‘Hãy cho dân Ta đi để họ cử hành lễ thờ phượng Ta tại hoang mạc.’”
Nhưng Pha-ra-ôn nói: “Giê-hô-va là ai mà ta phải vâng lời để cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi? Ta không biết Giê-hô-va nào hết và cũng chẳng cho dân Y-sơ-ra-ên đi đâu cả.”
Môi-se và A-rôn nói: “Đức Chúa Trời của người Hê-bơ-rơ đã hiện đến với chúng tôi. Xin bệ hạ cho phép chúng tôi đi ba ngày đường vào hoang mạc để dâng sinh tế cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi; nếu không, Ngài sẽ giáng dịch hạch hoặc gươm đao xuống chúng tôi.”
Vua Ai Cập nói: “Hỡi Môi-se và A-rôn, sao các ngươi xúi dân chúng bỏ việc? Hãy đi làm công việc của mình đi!”
Pha-ra-ôn lại nói: “Kìa, dân cư trong xứ bây giờ đông đúc quá mà hai ngươi lại muốn cho chúng nghỉ làm việc sao!”
Ngay trong ngày đó, Pha-ra-ôn truyền lệnh cho các đốc công và các trưởng toán:
“Các ngươi đừng phát rơm cho dân chúng làm gạch như trước nữa. Hãy để cho chúng tự đi kiếm rơm lấy mà làm.
Nhưng số lượng gạch thì các ngươi phải buộc chúng giữ như cũ, không được giảm bớt. Vì rảnh tay nên chúng mới rủ nhau: ‘Hãy đi dâng sinh tế cho Đức Chúa Trời chúng ta!’
Hãy giao thêm việc nặng nhọc cho chúng để vì bận rộn công việc, chúng chẳng còn quan tâm đến những lời dối trá đó nữa.”
Các đốc công và trưởng toán đi ra nói với dân chúng: “Pha-ra-ôn đã bảo thế nầy: ‘Ta chẳng cấp rơm cho các ngươi nữa.
Hãy tự đi kiếm rơm ở đâu đó thì kiếm; nhưng công việc của các ngươi thì không được giảm tí nào cả.’”
Dân chúng phải tản mác khắp đất Ai Cập để gom góp gốc rạ thế cho rơm.
Các đốc công lại thúc hối: “Hãy làm cho xong việc đi, mỗi ngày phải làm đủ số quy định như khi còn phát rơm vậy.”
Những trưởng toán người Y-sơ-ra-ên do các đốc công của Pha-ra-ôn chỉ định để theo dõi những người Y-sơ-ra-ên khác đã bị đánh và tra hỏi: “Tại sao hôm qua và hôm nay các ngươi không làm đủ số gạch đã định như trước kia?”
Các trưởng toán người Y-sơ-ra-ên đến kêu van với Pha-ra-ôn: “Sao bệ hạ nỡ đối xử với các đầy tớ bệ hạ như thế?
Đầy tớ bệ hạ không được phát rơm, nhưng họ lại cứ buộc: ‘Hãy làm gạch đi!’ Nầy, đầy tớ của bệ hạ bị đánh đập; nhưng lỗi là do chính dân của bệ hạ.”
Vua đáp: “Các ngươi là quân lười biếng, quân lười biếng! Vì vậy mà các ngươi nói với nhau: ‘Hãy đi dâng sinh tế cho Đức Giê-hô-va!’
Bây giờ hãy đi làm việc đi, chẳng ai phát rơm cho đâu; nhưng các ngươi vẫn phải nộp đủ số gạch.”
Các trưởng toán Y-sơ-ra-ên thấy mình đang lâm vào cảnh rắc rối khi người ta bảo: “Các ngươi không được giảm số gạch đã ấn định mỗi ngày.”
Ra khỏi cung điện Pha-ra-ôn, họ gặp Môi-se và A-rôn đang đợi tại đó.
Các trưởng toán nói: “Hai ông đã làm cho chúng tôi thành vật đáng tởm trước mặt Pha-ra-ôn và quần thần, đã trao gươm vào tay họ để giết chúng tôi. Cầu xin Đức Giê-hô-va xem xét và xử đoán các ông!”
Môi-se trở về và thưa với Đức Giê-hô-va: “Lạy Chúa! Tại sao Chúa ngược đãi dân nầy? Sao Chúa lại sai con đến đây?
Từ khi con yết kiến Pha-ra-ôn và nhân danh Chúa mà nói thì vua ấy lại ngược đãi dân nầy, và Chúa chẳng giải cứu dân Ngài.”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Bây giờ con sẽ thấy những gì Ta làm cho Pha-ra-ôn. Thật, bởi bàn tay quyền năng của Ta, vua ấy sẽ để cho Y-sơ-ra-ên ra đi; bởi bàn tay quyền năng của Ta, vua ấy sẽ đuổi họ ra khỏi xứ.”
Đức Chúa Trời lại phán với Môi-se: “Ta là Đức Giê-hô-va.
Ta đã hiện ra với Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp với tư cách là Đức Chúa Trời Toàn Năng; nhưng Ta chưa hề tỏ cho họ biết danh Ta là Giê-hô-va.
Ta cũng đã lập giao ước với họ để ban đất Ca-na-an, là đất họ đã cư ngụ như những khách lạ.
Ta cũng đã nghe lời thở than của dân Y-sơ-ra-ên bị người Ai Cập bắt làm nô lệ và nhớ lại giao ước của Ta.
Vì vậy, con hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Ta là Đức Giê-hô-va, Ta sẽ đem các con ra khỏi gánh nặng của người Ai Cập và giải phóng các con khỏi ách nô lệ. Ta sẽ giơ thẳng tay, dùng sự đoán phạt nặng nề mà chuộc các con.
Ta sẽ nhận các con làm dân Ta, và Ta sẽ là Đức Chúa Trời của các con. Các con sẽ biết Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con, Đấng đã đem các con ra khỏi gánh nặng của người Ai Cập.
Ta sẽ đem các con vào miền đất Ta đã thề ban cho Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, và ban đất ấy cho các con làm sản nghiệp: Ta là Đức Giê-hô-va.’”
Môi-se nói tất cả điều đó với dân Y-sơ-ra-ên nhưng họ không nghe Môi-se vì tinh thần họ sa sút và ách nô lệ quá nặng nề.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy đi nói với Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, để vua ấy cho dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ mình.”
Nhưng Môi-se thưa với Đức Giê-hô-va: “Thưa Chúa, con là người không có tài ăn nói; dân Y-sơ-ra-ên đã chẳng nghe con, làm sao Pha-ra-ôn nghe con được?”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se và A-rôn, truyền cho hai ông phải đến với dân Y-sơ-ra-ên và Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, để đưa dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập.
Đây là trưởng gia tộc của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên. Các con trai của Ru-bên, trưởng nam của Y-sơ-ra-ên, là: Hê-nóc, Pha-lu, Hết-rôn và Cạt-mi. Đó là gia tộc nhà Ru-bên.
Các con trai của Si-mê-ôn là: Giê-mu-ên, Gia-min, Ô-hát, Gia-kin, Xô-ha, và Sau-lơ là con của người vợ Ca-na-an. Đó là gia tộc nhà Si-mê-ôn.
Đây là tên các con trai của Lê-vi, theo bảng phả hệ của họ, là: Ghẹt-sôn, Kê-hát và Mê-ra-ri. Lê-vi hưởng thọ một trăm ba mươi bảy tuổi.
Các con trai của Ghẹt-sôn, theo từng gia tộc là: Líp-ni, và Si-mê-i.
Các con trai của Kê-hát là: Am-ram, Dít-sê-ha, Hếp-rôn, và U-xi-ên. Kê-hát hưởng thọ một trăm ba mươi ba tuổi.
Các con trai của Mê-ra-ri là: Mách-li và Mu-si. Đó là gia tộc nhà Lê-vi, theo phả hệ của họ.
Am-ram cưới Giô-kê-bết, cô mình; bà sinh cho ông hai người con là A-rôn và Môi-se. Am-ram hưởng thọ một trăm ba mươi bảy tuổi.
Các con trai của Dít-sê-ha là: Cô-ra, Nê-phết và Xiếc-ri.
Các con trai của U-xi-ên là: Mi-sa-ên, Ên-sa-phan và Sít-ri.
A-rôn cưới Ê-li-sê-ba, con gái của A-mi-na-đáp, em của Na-ha-sôn; nàng sinh cho ông mấy người con là Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma.
Các con trai của Cô-ra là: Át-si, Ên-ca-na và A-bi-a-sáp. Đó là gia tộc của Cô-ra.
Ê-lê-a-sa, con trai của A-rôn, cưới một trong các con gái của Phu-ti-ên; bà sinh Phi-nê-a cho ông. Đây là các trưởng gia tộc của bộ tộc Lê-vi, theo gia tộc nhà Lê-vi.
Chính A-rôn và Môi-se là những người mà Đức Giê-hô-va đã phán dạy: “Hãy theo từng đội ngũ mà đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập.”
Cũng chính Môi-se và A-rôn là hai người đã nói với Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, về việc đưa dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập.
Trong ngày Đức Giê-hô-va phán với Môi-se tại Ai Cập,
Ngài đã nói với Môi-se rằng: “Ta là Đức Giê-hô-va. Hãy thuật lại với Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, tất cả những gì Ta đã phán với con.”
Môi-se thưa: “Thưa, con là người không có tài ăn nói thì làm sao Pha-ra-ôn chịu nghe con?”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Nầy, Ta lập con như là Đức Chúa Trời đối với Pha-ra-ôn; còn A-rôn, anh con, sẽ là người phát ngôn của con.
Con hãy thuật lại mọi điều Ta đã truyền dạy con; rồi A-rôn, anh con, sẽ trình với Pha-ra-ôn để vua ấy cho phép dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập.
Nhưng Ta sẽ làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng, và dù Ta có gia tăng các dấu lạ phép mầu trong Ai Cập
thì Pha-ra-ôn cũng sẽ chẳng nghe các con đâu. Ta sẽ ra tay đoán phạt Ai Cập một cách nặng nề để đem đạo quân Ta, là dân Y-sơ-ra-ên, ra khỏi xứ đó.
Khi Ta giang tay chống lại Ai Cập để đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi đó thì người Ai Cập sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.”
Môi-se và A-rôn làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán truyền.
Lúc yết kiến Pha-ra-ôn, Môi-se đã được tám mươi tuổi, còn A-rôn tám mươi ba.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn:
“Khi nào Pha-ra-ôn bảo các con: ‘Hãy làm phép lạ đi,’ thì con nói với A-rôn rằng: ‘Lấy cây gậy của anh ra và ném xuống trước mặt Pha-ra-ôn thì nó sẽ biến thành con rắn.’”
Vậy Môi-se và A-rôn đến với Pha-ra-ôn và làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán truyền. A-rôn ném cây gậy xuống trước mặt Pha-ra-ôn và quần thần, gậy liền biến thành con rắn.
Pha-ra-ôn triệu tập các pháp sư và thầy phù thủy là những thuật sĩ Ai Cập đến, họ cũng dùng ma thuật mà làm y như vậy.
Mỗi người ném gậy mình xuống; chúng cũng biến thành rắn. Nhưng cây gậy của A-rôn nuốt các gậy của họ.
Lòng Pha-ra-ôn vẫn cứng cỏi, không chịu nghe Môi-se và A-rôn, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Lòng Pha-ra-ôn đã chai cứng; vua ấy từ chối, không chịu để dân chúng ra đi.
Hãy đến gặp Pha-ra-ôn vào buổi sáng, lúc vua đi ra bờ sông. Hãy đợi vua bên bờ sông và cầm trong tay cây gậy đã từng biến thành con rắn.
Con hãy tâu với vua rằng Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ đã sai tôi đến gặp bệ hạ và thưa với bệ hạ: ‘Hãy để cho dân Ta đi để chúng phụng sự Ta trong hoang mạc; nhưng đến bây giờ bệ hạ vẫn không vâng lời.’
Vì thế, Đức Giê-hô-va phán: ‘Bởi việc nầy ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.’ Nầy, tôi sẽ lấy cây gậy trong tay tôi mà đập xuống nước sông, và nước sẽ biến thành máu;
cá dưới sông sẽ chết; dòng sông sẽ hôi thối; người Ai Cập sẽ kinh tởm khi uống phải nước sông ấy.”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy bảo A-rôn: ‘Cầm lấy cây gậy của anh và đưa tay trên các nguồn nước của Ai Cập, tức là các sông, rạch, ao, và các hồ chứa nước, để nước đó biến thành máu. Máu sẽ có khắp nơi trong xứ Ai Cập, cả trong những bình chứa bằng gỗ, bằng đá.’”
Môi-se và A-rôn làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán truyền. Trước mặt Pha-ra-ôn và quần thần, A-rôn giơ gậy lên, đập nước sông, và tất cả nước sông đều biến thành máu.
Cá dưới sông chết, dòng sông trở nên hôi thối, người Ai Cập không thể nào uống nước sông được. Cả Ai Cập chỗ nào cũng có máu.
Nhưng các thuật sĩ Ai Cập cũng dùng ma thuật làm giống như vậy nên lòng Pha-ra-ôn vẫn cứng cỏi, không nghe lời Môi-se và A-rôn, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán.
Pha-ra-ôn trở về cung điện, không chút bận tâm về điều đó.
Còn cả dân Ai Cập phải đào dọc theo sông để tìm nước vì họ không thể uống nước sông được.
Việc này kéo dài bảy ngày kể từ khi Đức Giê-hô-va giáng tai vạ trên sông.
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se: “Hãy đi gặp Pha-ra-ôn, và nói với vua ấy rằng: Đức Giê-hô-va phán: ‘Hãy cho dân Ta đi để chúng phụng sự Ta.
Nếu ngươi từ chối không chịu cho đi, nầy, Ta sẽ giáng tai vạ ếch nhái trên khắp bờ cõi ngươi.
Sông sẽ lúc nhúc ếch nhái; chúng sẽ bò vào cung điện, phòng ngủ, và lên cả giường ngươi, vào nhà quần thần và dân chúng ngươi, vào trong lò bếp và thùng nhồi bột của ngươi.
Ếch nhái sẽ bò lên mình ngươi, lên mình dân chúng và tất cả quần thần ngươi.’”
Rồi Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy bảo A-rôn rằng: ‘Hãy cầm gậy đưa tay trên các nguồn nước, sông, rạch, ao, và khiến ếch nhái tràn lên đất Ai Cập.’”
A-rôn đưa tay trên các nguồn nước của Ai Cập và ếch nhái bò lên bao phủ khắp đất.
Các thuật sĩ cũng dùng ma thuật làm giống như vậy, và khiến ếch nhái bò lên đất Ai Cập.
Pha-ra-ôn gọi Môi-se và A-rôn đến và bảo: “Hãy cầu xin Đức Giê-hô-va khiến ếch nhái tránh xa ta và dân ta thì ta sẽ để cho dân Hê-bơ-rơ đi dâng sinh tế cho Đức Giê-hô-va.”
Môi-se thưa với Pha-ra-ôn rằng: “Xin vui lòng ấn định thì giờ để tôi vì bệ hạ, vì quần thần và dân chúng của bệ hạ mà cầu khẩn Đức Giê-hô-va, để ếch nhái bị tiêu diệt khỏi bệ hạ và cung điện, chỉ còn lại dưới sông mà thôi.”
Vua đáp: “Ngày mai.” Môi-se nói: “Sẽ đúng như lời bệ hạ nói để bệ hạ biết rằng chẳng có ai giống như Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi.
Ếch nhái sẽ đi khỏi bệ hạ, cung điện, quần thần, và dân chúng của bệ hạ; chỉ còn lại dưới sông mà thôi.”
Sau khi Môi-se và A-rôn rời khỏi Pha-ra-ôn, Môi-se kêu cầu Đức Giê-hô-va về nạn ếch nhái mà Ngài đã đưa đến cho Pha-ra-ôn.
Đức Giê-hô-va làm theo lời Môi-se cầu xin. Ếch nhái trong nhà, trong làng, ngoài đồng đều chết hết.
Người ta dồn ếch nhái lại thành từng đống, khắp xứ bị hôi thối.
Nhưng khi Pha-ra-ôn thấy mình được thoát nạn thì lại cứng lòng, không chịu nghe lời Môi-se và A-rôn, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy bảo A-rôn rằng: ‘Hãy giơ gậy ra, đập bụi trên đất, bụi sẽ biến thành muỗi tràn khắp đất Ai Cập.’”
Hai ông làm đúng như vậy. A-rôn tay cầm gậy giơ ra, đập bụi trên đất, bụi biến thành muỗi bám trên người và súc vật; tất cả bụi đều biến thành muỗi tràn khắp đất Ai Cập.
Các thuật sĩ cũng cố gắng dùng ma thuật để hóa muỗi nhưng họ không thể làm được. Muỗi cứ thế bám trên người và súc vật.
Các thuật sĩ tâu với Pha-ra-ôn: “Đây là ngón tay của Đức Chúa Trời.” Nhưng lòng Pha-ra-ôn vẫn chai lì, không chịu nghe lời Môi-se và A-rôn, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán.
Sau đó, Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy dậy thật sớm và ra mắt Pha-ra-ôn khi vua đi ra bờ sông và nói với vua rằng Đức Giê-hô-va phán: ‘Hãy cho dân Ta đi để chúng phụng sự Ta.
Vì nếu ngươi không cho dân Ta đi, nầy, Ta sẽ sai ruồi nhặng đến trên ngươi, quần thần, dân chúng và cung điện ngươi. Nhà cửa người Ai Cập và khắp các vùng đất họ sinh sống đều sẽ nhung nhúc ruồi nhặng.
Nhưng ngày đó, Ta sẽ để riêng đất Gô-sen là nơi dân Ta cư trú; nơi đó sẽ không có ruồi nhặng để ngươi biết rằng Ta là Giê-hô-va đang ngự giữa xứ nầy.
Ta sẽ phân biệt giữa dân Ta với dân ngươi. Dấu lạ nầy sẽ xảy ra vào ngày mai.’”
Đức Giê-hô-va làm đúng như vậy. Những đàn ruồi nhặng nhung nhúc kéo vào cung điện Pha-ra-ôn và nhà cửa của quần thần. Khắp đất Ai Cập đều bị ruồi nhặng tàn phá.
Pha-ra-ôn gọi Môi-se và A-rôn vào và bảo: “Hãy đi và dâng sinh tế cho Đức Chúa Trời các ngươi ngay trong xứ nầy.”
Nhưng Môi-se thưa: “Làm như thế không tiện vì người Ai Cập rất ghê tởm các sinh tế mà chúng tôi dâng lên Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Nếu chúng tôi dâng những sinh tế mà người Ai Cập xem là ghê tởm, liệu họ không ném đá chúng tôi sao?
Chúng tôi phải đi vào trong hoang mạc ba ngày đường để dâng sinh tế cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi như Ngài đã dạy bảo chúng tôi.”
Pha-ra-ôn nói: “Ta sẽ để các ngươi đi dâng sinh tế cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi trong hoang mạc, nhưng không được đi quá xa. Bây giờ hãy cầu nguyện cho ta.”
Môi-se thưa: “Vâng, tôi sẽ rời khỏi bệ hạ và cầu nguyện với Đức Giê-hô-va; ngày mai ruồi nhặng sẽ bay khỏi bệ hạ, quần thần và dân chúng. Nhưng xin bệ hạ đừng lừa gạt mà không cho dân chúng đi dâng sinh tế cho Đức Giê-hô-va.”
Môi-se rời khỏi Pha-ra-ôn, và cầu nguyện với Đức Giê-hô-va.
Ngài làm đúng như lời Môi-se cầu xin, đuổi hết ruồi nhặng khỏi Pha-ra-ôn, quần thần, và dân chúng, không còn lại một con nào.
Nhưng lần nầy, Pha-ra-ôn cũng lại cứng lòng, không cho dân chúng ra đi.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy đi ra mắt Pha-ra-ôn và nói rằng Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ phán: ‘Hãy để cho dân Ta đi, để chúng phụng sự Ta.
Vì nếu ngươi không chịu cho chúng đi mà cứ cầm giữ lại
thì nầy, tay của Đức Giê-hô-va sẽ giáng ôn dịch nặng nề trên các súc vật của ngươi ngoài đồng, trên ngựa, lừa, lạc đà, bò, và chiên.
Đức Giê-hô-va sẽ phân biệt giữa súc vật của dân Y-sơ-ra-ên và súc vật của người Ai Cập; không một con vật nào thuộc về dân Y-sơ-ra-ên bị chết cả.’”
Đức Giê-hô-va ấn định thời hạn và phán: “Ngày mai Đức Giê-hô-va sẽ làm việc đó tại Ai Cập.”
Ngay hôm sau, Đức Giê-hô-va thực hiện việc ấy; tất cả súc vật của người Ai Cập đều chết, nhưng không một con vật nào của dân Y-sơ-ra-ên phải chết cả.
Pha-ra-ôn sai người đi xem xét; thật, chẳng có một con vật nào của dân Y-sơ-ra-ên bị chết cả. Nhưng lòng Pha-ra-ôn vẫn chai cứng, không cho dân chúng ra đi.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn: “Hãy hốt tro trong lò đầy tay các con, rồi Môi-se tung tro đó lên không trước sự chứng kiến của Pha-ra-ôn.
Tro ấy sẽ biến thành bụi khắp đất Ai Cập, sinh ra ung nhọt và cương mủ trên thân thể người và súc vật trong cả xứ.”
Vậy hai ông hốt tro trong lò và đứng trước mặt Pha-ra-ôn; Môi-se tung tro lên không, tro ấy sinh ra ung nhọt và cương mủ trên thân thể người và súc vật.
Vì bị ung nhọt, các thuật sĩ không thể đứng trước mặt Môi-se. Ung nhọt đã nổi trên thân thể họ cũng như trên tất cả người Ai Cập.
Đức Giê-hô-va làm cho lòng Pha-ra-ôn chai cứng, không nghe lời Môi-se và A-rôn, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se.
Sau đó, Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Sáng mai hãy thức dậy sớm, đứng trước mặt Pha-ra-ôn và nói rằng Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ phán: ‘Hãy cho dân Ta đi để chúng phụng sự Ta.
Vì lần nầy Ta sẽ giáng các tai ương trên lòng ngươi, quần thần, và dân ngươi, để ngươi biết rằng khắp thế gian không có ai bằng Ta.
Bây giờ, Ta có thể đưa tay ra trừng phạt ngươi và dân ngươi bằng dịch hạch để tiêu diệt ngươi và dân ngươi khỏi đất rồi.
Nhưng sở dĩ Ta để ngươi sống là để ngươi thấy quyền năng của Ta, và để danh Ta được truyền rao khắp đất.
Nếu ngươi còn cản trở, không để cho dân Ta đi,
thì ngày mai, vào giờ nầy, Ta sẽ giáng một trận mưa đá lớn chưa từng có ở Ai Cập từ ngày dựng nước cho đến ngày nay.
Vậy bây giờ, hãy cho dẫn súc vật và những gì thuộc về ngươi ở ngoài đồng vào chỗ an toàn hơn. Mọi người và vật còn ở ngoài đồng, chưa được đem vào nhà, sẽ chết hết khi mưa đá trút xuống.’”
Trong số các bề tôi Pha-ra-ôn, người nào kính sợ lời Đức Giê-hô-va thì rút nô lệ và súc vật mình về nhà;
còn kẻ nào thờ ơ với lời Đức Giê-hô-va thì để nô lệ và súc vật mình ở ngoài đồng.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Con hãy đưa tay lên trời để mưa đá rơi xuống khắp đất Ai Cập, trên người, súc vật, và mọi cây cỏ ngoài đồng.”
Môi-se giơ gậy lên trời, Đức Giê-hô-va khiến sấm sét vang động, mưa đá trút xuống, và tia chớp sáng lòe trên mặt đất. Vậy là Đức Giê-hô-va đã khiến mưa đá trút xuống Ai Cập.
Mưa đá trút xuống, pha trộn với lửa chớp nhoáng tạo nên một trận mưa đá khủng khiếp chưa từng có kể từ ngày Ai Cập dựng nước cho đến bây giờ.
Khắp Ai Cập, mưa đá tàn phá mọi vật ở ngoài đồng, cả người lẫn súc vật; rau cỏ ngoài đồng bị giập, tất cả cây cối đều bị gãy đổ.
Chỉ có đất Gô-sen, nơi cư trú của dân Y-sơ-ra-ên, là không bị mưa đá mà thôi.
Pha-ra-ôn triệu tập Môi-se và A-rôn vào và bảo: “Lần nầy trẫm đã phạm tội. Đức Giê-hô-va là công chính, còn trẫm và dân của trẫm đều lầm lỗi.
Hãy khẩn cầu Đức Giê-hô-va cho sấm sét và mưa đá chấm dứt, rồi trẫm sẽ để cho các ngươi ra đi, không phải ở lại nữa đâu!”
Môi-se đáp: “Ngay khi ra khỏi thành, tôi sẽ giơ tay hướng về Đức Giê-hô-va; sấm sét sẽ ngừng, mưa đá sẽ dứt để bệ hạ biết rằng đất nầy thuộc về Đức Giê-hô-va.
Nhưng tôi biết rằng bệ hạ và quần thần chưa kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời.”
(Bấy giờ đang là lúc lúa mạch trổ bông, cây gai sợi ra hoa, nên lúa mạch và gai sợi bị giập nát;
lúa mì và tiểu mạch trổ muộn, nên không bị hư hại.)
Môi-se rời Pha-ra-ôn, đi ra ngoài thành, giơ tay hướng về Đức Giê-hô-va; sấm sét và mưa đá ngưng lại; mưa cũng không rơi trên mặt đất nữa.
Khi thấy mưa, mưa đá và sấm sét đã tạnh rồi, Pha-ra-ôn và quần thần lại phạm tội, lại cứng lòng như cũ.
Lòng Pha-ra-ôn lại chai cứng, không để cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán qua Môi-se.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy đến gặp Pha-ra-ôn, vì Ta đã làm cứng lòng vua ấy và quần thần để Ta bày tỏ các dấu lạ ra giữa họ,
và để con thuật lại cho con cháu mình những việc Ta đã làm cho dân Ai Cập, cũng như các dấu lạ Ta đã thực hiện giữa họ như thế nào, nhờ đó các con biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.”
Môi-se và A-rôn đi đến Pha-ra-ôn và tâu: “Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ phán: ‘Ngươi không chịu hạ mình trước mặt Ta cho đến bao giờ? Hãy cho dân Ta đi để chúng phụng sự Ta.
Nếu ngươi không chịu để dân Ta ra đi, nầy, ngày mai Ta sẽ sai châu chấu tràn vào xứ sở ngươi.
Chúng sẽ phủ kín mặt đất đến nỗi người ta không còn thấy đất nữa. Chúng sẽ cắn phá những gì còn lại, tức là những gì mà trận mưa đá chưa tàn phá. Chúng cũng cắn phá cây cối của các ngươi ngoài đồng ruộng,
vào đầy cung điện ngươi, dinh thất của tất cả quần thần ngươi, và nhà cửa của mọi người Ai Cập. Đây là điều mà cha ông ngươi và cả tổ phụ ngươi cũng chưa từng thấy, từ ngày họ có mặt trên đất nầy cho đến ngày nay.’” Nói xong, Môi-se quay đi và rời khỏi Pha-ra-ôn.
Quần thần Pha-ra-ôn tâu: “Người nầy cứ là cái bẫy cho chúng ta cho đến bao giờ? Hãy cho dân ấy đi để chúng phụng sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng! Bệ hạ chưa biết rằng Ai Cập đang bị nguy vong sao?”
Môi-se và A-rôn lại được gọi đến gặp Pha-ra-ôn. Nhà vua nói: “Hãy đi phụng sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đi. Nhưng ai là người sẽ phải đi?”
Môi-se đáp: “Chúng tôi sẽ đi với cả nam phụ lão ấu và bầy chiên bầy bò, vì chúng tôi phải cử hành một kỳ lễ cho Đức Giê-hô-va.”
Pha-ra-ôn nói: “Thế thì Đức Giê-hô-va cứ ở với các ngươi đi để xem ta có cho các ngươi và con cái các ngươi cùng ra đi chăng! Rõ ràng là các ngươi có âm mưu độc ác!
Không được! Chỉ có đàn ông các ngươi đi và phụng sự Đức Giê-hô-va thôi, vì đó là điều các ngươi đã yêu cầu.” Rồi họ đuổi Môi-se và A-rôn khỏi Pha-ra-ôn.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Con hãy giơ tay trên Ai Cập để khiến châu chấu tràn lên xứ đó, cắn phá cây cỏ và mọi vật trên đất mà mưa đá còn chừa lại.”
Vậy Môi-se giơ gậy ra trên Ai Cập. Đức Giê-hô-va dẫn luồng gió đông thổi trên xứ ấy suốt cả ngày lẫn đêm hôm đó; sáng hôm sau, gió đông đem châu chấu đến.
Châu chấu tràn lên khắp đất Ai Cập và đáp xuống toàn lãnh thổ. Châu chấu nhiều vô kể; trước kia chưa từng có và sau nầy cũng chẳng bao giờ có như vậy.
Chúng bao phủ khắp mặt đất làm cho cả xứ đen kịt, cắn phá tất cả cây cỏ ngoài đồng và các thứ trái cây mà mưa đá còn chừa lại. Khắp lãnh thổ Ai Cập chẳng còn chút cây cối hay là rau cỏ xanh ngoài đồng ruộng.
Pha-ra-ôn vội vàng gọi Môi-se và A-rôn đến và nói: “Ta đã phạm tội với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi và với các ngươi nữa.
Vậy bây giờ, xin tha tội cho ta, chỉ lần nầy thôi! Hãy cầu khẩn Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi; ít ra Ngài cũng lấy đi khỏi ta cái tai vạ chết người nầy.”
Môi-se lui ra khỏi Pha-ra-ôn và khẩn nguyện với Đức Giê-hô-va.
Đức Giê-hô-va dẫn một luồng gió tây rất mạnh đến cuốn châu chấu đi và đùa chúng xuống Biển Đỏ. Khắp lãnh thổ Ai Cập không còn một con châu chấu nào.
Nhưng Đức Giê-hô-va làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng; vua ấy không để cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Con hãy giơ tay lên trời để bóng tối bao trùm Ai Cập, thứ bóng tối như sờ được.”
Vậy Môi-se giơ tay lên trời, bóng tối dày đặc bao trùm cả Ai Cập trong ba ngày.
Trong ba ngày đó, người ta không nhìn thấy nhau, không ai rời khỏi chỗ mình được. Nhưng chỗ nào dân Y-sơ-ra-ên ở thì có ánh sáng.
Pha-ra-ôn gọi Môi-se đến và bảo: “Hãy đi phục vụ Đức Giê-hô-va. Con cái các ngươi cũng đi với các ngươi, chỉ để bầy chiên và bò ở lại thôi.”
Nhưng Môi-se thưa: “Bệ hạ phải để cho chúng tôi có các sinh tế và lễ vật để làm tế lễ thiêu dâng lên Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi.
Các bầy gia súc cũng phải theo chúng tôi, không để lại một móng chân nào. Chúng tôi sẽ dùng chúng để phụng sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi; chỉ khi nào đến nơi đó chúng tôi mới biết phải dùng thứ gì để thờ phượng Đức Giê-hô-va.”
Nhưng Đức Giê-hô-va làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng, không chịu cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi.
Pha-ra-ôn nói: “Hãy lui đi cho khuất mắt ta! Hãy giữ mình, đừng bao giờ nhìn mặt ta nữa, vì ngày nào ngươi thấy mặt ta thì ngươi sẽ chết!”
Môi-se nói: “Đúng như bệ hạ nói, tôi sẽ chẳng còn thấy mặt bệ hạ nữa đâu.”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Ta sẽ giáng cho Pha-ra-ôn và Ai Cập một tai vạ nữa. Sau đó, vua ấy sẽ để cho các con ra đi. Không những vua ấy để cho các con ra đi mà còn đuổi sạch các con khỏi đây nữa.
Vậy hãy dặn bảo dân chúng rằng mỗi người, cả nam lẫn nữ, phải xin người láng giềng mình những món đồ bằng bạc và vàng.”
Đức Giê-hô-va làm cho dân chúng được ơn dưới mắt người Ai Cập. Đặc biệt, dưới mắt quần thần của Pha-ra-ôn cũng như dưới mắt dân Ai Cập, Môi-se là một nhân vật rất quan trọng.
Môi-se nói: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Khoảng nửa đêm Ta sẽ tuần hành khắp Ai Cập.
Tất cả các con trưởng nam trong xứ Ai Cập sẽ chết, từ thái tử của Pha-ra-ôn đang trị vì cho đến con cả của người hầu gái đang xay cối, và cả đến con đầu lòng của súc vật nữa.’
Khắp Ai Cập sẽ có tiếng kêu khóc inh ỏi như chưa từng có và cũng sẽ chẳng bao giờ có như vậy.
Trái lại, trong dân Y-sơ-ra-ên, ngay đến chó cũng sẽ chẳng sủa người hoặc súc vật, để các người biết rằng Đức Giê-hô-va phân biệt dân Y-sơ-ra-ên với dân Ai Cập như thế nào.
Bấy giờ, quần thần của bệ hạ sẽ xuống gặp tôi, cúi mình trước mặt tôi và nói: ‘Ông và cả dân chúng theo ông hãy đi đi!’ Sau đó tôi sẽ ra đi.” Nói xong, Môi-se rời Pha-ra-ôn trong cơn nóng giận.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Pha-ra-ôn không chịu nghe con là để Ta gia tăng các dấu lạ trong xứ Ai Cập.”
Môi-se và A-rôn thực hiện các dấu lạ đó trước mặt Pha-ra-ôn; nhưng Đức Giê-hô-va làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng, nên vua ấy không chịu để cho dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ mình.
Tại Ai Cập, Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn rằng:
“Tháng nầy sẽ là tháng thứ nhất cho các con, tức là tháng giêng trong năm.
Hãy nói với toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng vào ngày mùng mười tháng nầy, mỗi gia trưởng phải bắt một con chiên con, mỗi nhà một con.
Nếu nhà nào ít người quá, không ăn hết một con, thì tùy theo số người mà chung với người hàng xóm gần mình nhất; và tùy theo sức ăn của mỗi người mà tính số chiên con.
Hãy bắt trong bầy chiên hoặc trong bầy dê của các con, một chiên con đực hay là dê con đực một năm tuổi, không tì vết;
giữ đó cho đến ngày mười bốn tháng nầy; đó là ngày cả hội chúng Y-sơ-ra-ên sẽ giết con vật vào lúc chiều tối.
Họ sẽ lấy máu bôi lên hai thanh dọc và thanh ngang cửa ra vào của nhà nào ăn thịt chiên con đó.
Đêm ấy họ sẽ ăn thịt quay trên lửa với bánh không men và rau đắng.
Các con chớ ăn thịt chưa chín hay là thịt luộc mà phải quay trên lửa cả đầu, giò, và bộ lòng.
Đừng để vật gì thừa đến sáng mai; nếu còn lại thứ gì, hãy thiêu đi.
Các con phải ăn bữa ấy theo cách nầy: Lưng thắt lại, chân mang giày, tay cầm gậy, ăn hối hả. Đó là lễ Vượt Qua của Đức Giê-hô-va.
Đêm ấy, Ta sẽ đi khắp đất Ai Cập, hành hại tất cả các con đầu lòng của Ai Cập, cả người lẫn súc vật. Ta sẽ phán xét tất cả các thần của Ai Cập vì Ta là Đức Giê-hô-va.
Máu bôi trên nhà các con đang ở sẽ là dấu hiệu cho các con. Khi Ta hành hại Ai Cập, thấy máu đó thì Ta sẽ lướt qua và sẽ không có tai nạn nào giáng xuống tiêu diệt các con.
Ngày ấy sẽ là một kỷ niệm cho các con. Qua mọi thế hệ các con hãy giữ nó như một ngày lễ cho Đức Giê-hô-va, tức là một luật phải tuân giữ đời đời.
Trong bảy ngày các con phải ăn bánh không men. Ngay trong ngày thứ nhất, các con phải loại bỏ men khỏi nhà mình; vì nếu ai ăn bánh có men từ ngày thứ nhất đến ngày thứ bảy thì sẽ bị loại trừ khỏi Y-sơ-ra-ên.
Ngày thứ nhất, các con sẽ có cuộc nhóm họp thánh; đến ngày thứ bảy các con cũng sẽ có cuộc nhóm họp thánh nữa. Trong những ngày ấy, các con không nên làm việc gì cả, chỉ lo chuẩn bị thức ăn cần thiết cho mỗi người mà thôi.
Vậy các con hãy giữ lễ Bánh Không Men vì trong chính ngày đó Ta đã đem đạo quân các con ra khỏi Ai Cập. Vì vậy, qua mọi thế hệ các con phải giữ ngày nầy như một luật đời đời.
Từ buổi chiều ngày mười bốn tháng giêng các con sẽ ăn bánh không men cho đến chiều ngày hai mươi mốt tháng đó.
Trong bảy ngày, không nên để men trong nhà; vì dù là người ngoại bang hay là người bản xứ, nếu ai ăn bánh có men sẽ bị loại trừ khỏi hội chúng Y-sơ-ra-ên.
Chớ nên ăn thức ăn gì có men. Dù ở đâu các con cũng phải ăn bánh không men.”
Vậy Môi-se mời tất cả trưởng lão Y-sơ-ra-ên đến và nói: “Hãy đi bắt một chiên con tùy theo gia đình mình và giết nó làm lễ Vượt Qua.
Rồi lấy một bó bài hương nhúng vào máu trong chậu, bôi lên thanh ngang và hai thanh dọc cửa ra vào. Từ đó cho đến sáng, không ai trong anh em được ra khỏi cửa nhà mình.
Đức Giê-hô-va sẽ đi qua để hành hại người Ai Cập; khi thấy máu nơi khung cửa ra vào, Ngài sẽ đi lướt qua và không cho thiên sứ hủy diệt vào nhà anh em để hành hại.
Hãy giữ lễ nầy như một luật đời đời cho anh em và con cháu anh em.
Khi nào anh em vào đất mà Đức Giê-hô-va sẽ ban cho, như lời Ngài đã hứa, thì hãy giữ lễ nầy.
Khi con cháu anh em hỏi: ‘Lễ nầy nghĩa là gì?’
Hãy trả lời: ‘Ấy là lễ dâng sinh tế Vượt Qua của Đức Giê-hô-va. Vì khi hành hại người Ai Cập, Ngài đã vượt qua các nhà của dân Y-sơ-ra-ên và dung tha nhà chúng ta.’”
Nghe xong, dân Y-sơ-ra-ên cúi đầu thờ phượng, rồi họ đi và làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán truyền Môi-se và A-rôn.
Vào nửa đêm, Đức Giê-hô-va hành hại tất cả các con đầu lòng tại Ai Cập, từ thái tử của Pha-ra-ôn đang trị vì cho đến con cả của các tù nhân đang bị giam trong ngục, và tất cả con đầu lòng của súc vật.
Đang đêm, Pha-ra-ôn và quần thần cùng tất cả người Ai Cập đều thức dậy. Có tiếng kêu khóc inh ỏi trong Ai Cập vì chẳng một nhà nào là không có người chết.
Trong đêm đó, Pha-ra-ôn gọi Môi-se và A-rôn đến và nói: “Hai ngươi và dân Y-sơ-ra-ên hãy trỗi dậy, ra khỏi dân ta và đi phục vụ Đức Giê-hô-va như các ngươi đã nói.
Cũng hãy dẫn bầy chiên và đàn gia súc đi như lời các ngươi đã nói, và cầu phước cho ta nữa.”
Người Ai Cập thúc giục dân Y-sơ-ra-ên mau ra khỏi bờ cõi vì họ nói: “Chúng ta sẽ chết cả thôi!”
Vậy dân chúng đem bột nhồi chưa lên men đi và gói luôn cả những thùng nhồi bột vào trong áo tơi rồi vác lên vai.
Dân Y-sơ-ra-ên cũng đã làm theo lời Môi-se dặn, họ xin người Ai Cập các thứ châu báu bằng bạc, bằng vàng và quần áo.
Đức Giê-hô-va làm cho dân chúng được ơn dưới mắt người Ai Cập, nên họ sẵn lòng cho những gì dân Y-sơ-ra-ên xin. Như thế, dân Y-sơ-ra-ên đã tước đoạt của cải người Ai Cập.
Dân Y-sơ-ra-ên đi từ Ram-se đến Su-cốt; có khoảng sáu trăm nghìn đàn ông đi bộ, không tính trẻ con.
Cũng có một số đông người ngoại bang cùng đi, mang theo rất nhiều đàn chiên và gia súc.
Họ nướng bánh không men bằng bột đã đem theo từ Ai Cập. Bột không có men vì họ bị đuổi khỏi Ai Cập một cách gấp rút nên không kịp chuẩn bị lương thực.
Thời gian dân Y-sơ-ra-ên cư ngụ tại Ai Cập là bốn trăm ba mươi năm.
Đúng vào ngày cuối cùng của bốn trăm ba mươi năm, tất cả các đạo quân của Đức Giê-hô-va ra khỏi Ai Cập.
Ấy là đêm Đức Giê-hô-va canh giữ, vì trong đêm đó Ngài đã đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập. Vì thế, qua mọi thế hệ, dân Y-sơ-ra-ên phải giữ đêm đó để tôn kính Đức Giê-hô-va.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn: “Đây là luật về lễ Vượt Qua: Người ngoại bang không được ăn lễ đó.
Còn với nô lệ đã được mua bằng tiền thì chỉ sau khi chịu cắt bì, họ mới được ăn.
Khách vãng lai và người làm thuê cũng không được ăn.
Lễ đó chỉ được ăn trong nhà; đừng đem thịt ra ngoài và cũng đừng làm gãy một cái xương nào.
Toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên phải giữ lễ Vượt Qua.
Khi có ngoại kiều tạm trú trong nhà các con muốn giữ lễ Vượt Qua của Đức Giê-hô-va, thì mọi người nam của họ phải chịu cắt bì rồi mới được đến gần và giữ lễ nầy; người ấy được coi như người bản xứ. Nhưng ai không chịu cắt bì thì sẽ không được ăn.
Đó là một luật chung cho người bản xứ cũng như cho ngoại kiều cư ngụ giữa các con.”
Toàn dân Y-sơ-ra-ên đều làm như lời Đức Giê-hô-va đã truyền bảo Môi-se và A-rôn.
Chính trong ngày đó, Đức Giê-hô-va đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập theo đội ngũ.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy cung hiến cho Ta tất cả các con đầu lòng được sinh ra trong dân Y-sơ-ra-ên, cả người lẫn súc vật, vì mọi con đầu lòng đều thuộc về Ta.”
Môi-se nói với dân chúng rằng: “Hãy kỷ niệm ngày nầy vì đây là ngày Đức Giê-hô-va dùng cánh tay quyền năng đem anh em ra khỏi Ai Cập, tức là khỏi nhà nô lệ; chớ ăn bánh có men.
Hôm nay, anh em ra đi nhằm vào tháng A-bíp
Vậy, khi nào Đức Giê-hô-va đưa anh em vào đất của dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít, là miền đất đượm sữa và mật mà Ngài đã thề với tổ phụ là sẽ ban cho anh em, thì cứ đến tháng nầy anh em nhớ cử hành nghi lễ đó.
Trong bảy ngày, anh em sẽ ăn bánh không men; đến ngày thứ bảy, phải tổ chức ngày lễ cho Đức Giê-hô-va.
Phải ăn bánh không men trong bảy ngày; bánh có men, hoặc men sẽ không được xuất hiện ở bất cứ nơi nào trên khắp lãnh thổ.
Trong ngày đó, hãy giải thích cho con trai anh em rằng: ‘Cha làm vậy vì những gì Đức Giê-hô-va làm cho cha khi ra khỏi Ai Cập.’
Và đối với anh em, đó sẽ như một dấu ấn trên tay, một kỷ niệm giữa hai mắt để cho luật pháp của Đức Giê-hô-va ở trên miệng anh em; vì Đức Giê-hô-va đã dùng cánh tay quyền năng đem anh em ra khỏi Ai Cập.
Vậy nên hằng năm, anh em phải giữ lễ nầy đúng kỳ ấn định.”
“Khi Đức Giê-hô-va đã đưa anh em vào đất Ca-na-an, như Ngài đã thề với anh em và tổ phụ anh em, và khi Ngài đã ban xứ đó cho anh em rồi,
thì hãy đem dâng cho Đức Giê-hô-va con trưởng nam cùng những con đực đầu lòng của bầy súc vật anh em, vì chúng nó thuộc về Đức Giê-hô-va.
Nhưng với con lừa đầu lòng, anh em phải dùng chiên con hay là dê con mà chuộc; nếu không, anh em hãy bẻ cổ nó. Anh em cũng phải chuộc mọi trưởng nam trong số các con trai mình.
Một ngày kia con trai anh em có hỏi: ‘Điều nầy có ý nghĩa gì?’ anh em hãy nói: ‘Vì Đức Giê-hô-va đã dùng cánh tay quyền năng đem chúng ta ra khỏi Ai Cập, thoát khỏi nhà nô lệ.
Khi Pha-ra-ôn cứng lòng không chịu để chúng ta ra đi, Ngài đã giết hết các con đầu lòng trong xứ Ai Cập, từ con trưởng nam của người ta cho đến con đầu lòng của súc vật. Vì thế mà cha dâng lên Đức Giê-hô-va mọi con đực đầu lòng để làm sinh tế, và chuộc lại con trưởng nam trong số các con trai của cha.’
Đó sẽ là một dấu hiệu nơi tay và biểu tượng trên trán giữa hai mắt của anh em, để nhắc rằng Đức Giê-hô-va đã dùng cánh tay quyền năng đem chúng ta ra khỏi Ai Cập.”
Khi Pha-ra-ôn để dân Y-sơ-ra-ên ra đi, Đức Chúa Trời không dẫn họ đi bằng con đường xuyên qua đất Phi-li-tin, dù đường ấy gần hơn, vì Ngài nói: “E khi dân chúng thấy chiến trận, họ sẽ đổi ý và quay lại Ai Cập chăng.”
Cho nên Đức Chúa Trời dẫn dân chúng đi vòng theo đường trong hoang mạc, về hướng Biển Đỏ. Khi ra khỏi Ai Cập, dân Y-sơ-ra-ên được trang bị khí giới để chiến đấu.
Môi-se đem theo hài cốt của Giô-sép, vì trước đây Giô-sép đã bắt dân Y-sơ-ra-ên thề khi ông nói: “Chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ thăm viếng các con; hãy đem hài cốt ta theo các con ra khỏi đây.”
Sau khi rời Su-cốt, họ đóng trại tại Ê-tam, ven hoang mạc.
Đức Giê-hô-va đi trước dân chúng; ban ngày thì ở trong một trụ mây để dẫn đường, ban đêm trong một trụ lửa để soi sáng; nhờ vậy họ đi được cả ngày lẫn đêm.
Trụ mây ban ngày, trụ lửa ban đêm chẳng bao giờ cách xa dân chúng.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên quay lại đóng trại trước Phi Ha-hi-rốt, giữa Mít-đôn và biển, đối diện Ba-anh Sê-phôn. Các con hãy đóng trại ngang đó, trên bờ biển.
Vì Pha-ra-ôn sẽ nói về dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Dân đó đang luẩn quẩn trong xứ; hoang mạc đã vây kín chúng rồi.’
Ta sẽ làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng, và sẽ đuổi theo dân đó. Nhưng Ta sẽ được tôn vinh vì Pha-ra-ôn và cả quân đội của vua ấy; người Ai Cập sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.” Dân Y-sơ-ra-ên đã làm đúng như vậy.
Khi vua Ai Cập được báo tin rằng dân Hê-bơ-rơ đã trốn đi rồi, lòng Pha-ra-ôn và quần thần đối với dân đó liền thay đổi, họ nói: “Chúng ta đã làm gì vậy, tha cho dân Y-sơ-ra-ên đi để chúng không còn phục dịch chúng ta nữa sao?”
Pha-ra-ôn chuẩn bị chiến xa và dẫn quân đi.
Vua đem sáu trăm chiến xa tốt nhất và tất cả các chiến xa khác trong Ai Cập; trên mỗi xe đều có các sĩ quan chỉ huy.
Đức Giê-hô-va làm cho Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, cứng lòng và đuổi theo dân Y-sơ-ra-ên, trong khi dân nầy cứ hiên ngang ra đi.
Người Ai Cập với ngựa, chiến xa, kỵ binh, cùng quân đội của Pha-ra-ôn đuổi theo và bắt kịp dân Y-sơ-ra-ên khi họ đang đóng trại trên bờ biển, gần Phi Ha-hi-rốt, đối diện với Ba-anh Sê-phôn.
Khi Pha-ra-ôn đến gần, dân Y-sơ-ra-ên nhìn lên thấy quân Ai Cập đang đuổi theo. Họ vô cùng kinh hãi, kêu van Đức Giê-hô-va.
Họ nói với Môi-se: “Ở Ai Cập không đủ mồ chôn hay sao mà ông đem chúng tôi vào chết trong hoang mạc nầy? Ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai Cập để làm gì chứ?
Chẳng phải chúng tôi đã nói với ông tại Ai Cập rằng: ‘Mặc kệ chúng tôi, cứ để chúng tôi phục dịch dân Ai Cập’ đó sao? Vì thà phục dịch họ còn hơn phải chết trong hoang mạc!”
Môi-se nói với dân chúng: “Đừng sợ, cứ đứng vững mà xem sự giải cứu Đức Giê-hô-va sẽ làm cho anh em hôm nay. Những người Ai Cập mà anh em nhìn thấy hôm nay sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy nữa.
Đức Giê-hô-va sẽ chiến đấu cho anh em, còn anh em cứ yên lặng.”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Sao con kêu van Ta? Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên cứ tiến bước.
Còn con, hãy cầm gậy lên, đưa tay trên mặt biển và rẽ nước ra để dân Y-sơ-ra-ên đi trên đất khô mà qua biển.
Ta sẽ làm cho dân Ai Cập cứng lòng để chúng theo dân Y-sơ-ra-ên xuống biển; Ta sẽ được tôn vinh vì Pha-ra-ôn, vì cả quân đội, chiến xa, và kỵ binh của ông ta.
Khi Ta được tôn vinh vì Pha-ra-ôn, chiến xa, và kỵ binh của ông ta, thì người Ai Cập sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.”
Thiên sứ Đức Chúa Trời vốn đi trước trại quân của dân Y-sơ-ra-ên, đã di chuyển và đi phía sau; còn trụ mây cũng chuyển từ phía trước mặt họ ra phía sau,
đứng giữa trại quân Ai Cập và trại quân Y-sơ-ra-ên. Áng mây làm cho bên nầy bị tối tăm nhưng bên kia được soi sáng nên suốt đêm hai bên không tiến gần nhau được.
Môi-se giơ tay trên biển; suốt đêm đó, Đức Giê-hô-va khiến một trận gió đông thổi mạnh để dồn biển lại. Ngài làm cho nước rẽ ra, biển thành đất khô.
Dân Y-sơ-ra-ên đi trên đất khô mà qua biển; còn nước làm thành một bức tường ngăn bên phải và bên trái của họ.
Người Ai Cập đuổi theo. Tất cả ngựa, chiến xa và kỵ binh của Pha-ra-ôn đều theo họ xuống biển.
Vào sáng sớm, Đức Giê-hô-va từ trong trụ mây và lửa nhìn xuống quân đội Ai Cập và làm cho họ bị rối loạn.
Ngài tháo bánh xe của họ, khiến họ điều khiển xe một cách nặng nhọc. Người Ai Cập nói với nhau: “Chúng ta hãy trốn khỏi dân Y-sơ-ra-ên, vì Đức Giê-hô-va thay dân đó mà chiến đấu với người Ai Cập.”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Con hãy giơ tay trên biển để nước trở lại phủ lấp người Ai Cập, các chiến xa và kỵ binh của chúng.”
Rạng sáng, Môi-se giơ tay trên biển thì biển trở lại mực nước cũ. Người Ai Cập chạy trốn nhưng Đức Giê-hô-va ném họ xuống biển.
Nước trở lại phủ lấp chiến xa, kỵ binh, cả đoàn quân của Pha-ra-ôn và những kẻ đã theo dân Y-sơ-ra-ên xuống biển chẳng một ai sống sót.
Còn dân Y-sơ-ra-ên đi trên đất khô mà vượt qua biển, nước làm thành bức tường ngăn bên phải và bên trái của họ.
Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay người Ai Cập; họ thấy người Ai Cập phơi xác trên bãi biển.
Dân Y-sơ-ra-ên chứng kiến công việc kinh khiếp mà Đức Giê-hô-va đã làm cho người Ai Cập nên họ kính sợ Ngài, tin Ngài và tin Môi-se, đầy tớ Ngài.
Bấy giờ, Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên hát lên bài ca nầy cho Đức Giê-hô-va: “Tôi ca tụng Đức Giê-hô-va, Vì Ngài rất cao cả uy nghiêm. Ngài đã ném xuống biển Ngựa và người cưỡi ngựa.
Đức Giê-hô-va là sức mạnh và là bài ca của tôi: Ngài là Đấng cứu rỗi tôi. Ngài là Đức Chúa Trời tôi, tôi tôn ngợi Ngài; Là Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi, tôi tôn kính Ngài.
Đức Giê-hô-va là một chiến sĩ; Danh Ngài là Giê-hô-va.
Ngài đã ném xuống biển chiến xa và cả quân lực Pha-ra-ôn; Quan tướng ưu tú của người bị nhận chìm trong Biển Đỏ,
Vực thẳm đã vùi lấp họ; Họ chìm xuống đáy biển sâu như một hòn đá.
Lạy Đức Giê-hô-va! Tay phải Ngài rạng ngời quyền uy. Lạy Đức Giê-hô-va! Tay phải Ngài nghiền nát quân thù.
Bằng sự uy nghiêm cao cả, Ngài đánh đổ kẻ thù nghịch. Ngài nổi giận phừng phừng, Thiêu đốt họ như rơm rạ.
Hơi thở từ lỗ mũi Ngài khiến nước dồn lại, Các dòng nước dựng đứng như một bức tường; Nước sâu đóng băng trong lòng biển.
Địch quân nói rằng: ‘Ta đuổi theo; ta sẽ bắt kịp; Ta sẽ chia nhau chiến lợi phẩm. Thèm muốn của ta sẽ được thỏa mãn. Ta rút gươm ra; tay ta sẽ tiêu diệt họ.’
Ngài đã thở hơi ra, biển vùi lấp chúng lại; Chúng chìm xuống như cục chì trong dòng nước cuồn cuộn.
Lạy Đức Giê-hô-va! Trong số các thần, có ai giống như Ngài? Ai so được với Ngài, rạng ngời trong thánh khiết, Đáng kính sợ và tôn vinh, Làm những việc nhiệm mầu?
Ngài đã đưa tay phải ra, Đất đã nuốt lấy chúng.
Ngài lấy tình yêu thương dìu dắt dân mà Ngài đã chuộc lại; Ngài đã dùng quyền năng đưa họ về nơi ngự thánh của Ngài.
Các dân tộc nghe đến đều run sợ, Nỗi hãi hùng xâm chiếm dân Phi-li-tin.
Các thủ lĩnh Ê-đôm bối rối; Những dũng sĩ Mô-áp run rẩy; Cả dân Ca-na-an đều hoảng kinh.
Nỗi khiếp sợ và kinh hoàng giáng xuống chúng; Lạy Đức Giê-hô-va! Vì quyền năng của cánh tay Ngài, Chúng bị câm như đá, cho đến khi dân Ngài vượt qua; Cho đến khi dân mà Ngài cứu chuộc vượt qua rồi.
Đức Giê-hô-va ôi! Ngài đem dân ấy vào, và cho họ cư ngụ trên núi cơ nghiệp Ngài, Tức là chỗ Ngài đã sắm sẵn để làm nơi ngự Ngài, Lạy Chúa! Đó là Đền Thánh mà tay Ngài đã lập.
Đức Giê-hô-va sẽ trị vì đời đời, mãi mãi.”
Khi ngựa, chiến xa, và kỵ binh của Pha-ra-ôn đã xuống biển thì Đức Giê-hô-va đem nước biển phủ lấp họ. Nhưng dân Y-sơ-ra-ên đi trên đất khô giữa lòng biển cả.
Bấy giờ, nữ tiên tri Mi-ri-am, chị của A-rôn, tay cầm trống cơm, và tất cả phụ nữ đi theo bà đều cầm trống cơm nhảy múa.
Mi-ri-am cất tiếng ca rằng: “Hãy ca tụng Đức Giê-hô-va Vì Ngài rất cao cả uy nghiêm. Ngài đã ném xuống biển Ngựa và người cưỡi ngựa.”
Sau đó, Môi-se đem dân Y-sơ-ra-ên rời khỏi Biển Đỏ, đi vào hoang mạc Su-rơ. Họ đi trọn ba ngày trong hoang mạc nhưng không tìm thấy nước.
Khi đến đất Ma-ra, vì nước ở Ma-ra đắng nên họ không thể uống được; do đó nơi nầy có tên là Ma-ra.
Dân chúng phàn nàn với Môi-se rằng: “Chúng tôi sẽ lấy gì mà uống đây?”
Môi-se kêu cầu Đức Giê-hô-va. Ngài chỉ cho ông một khúc gỗ, ông ném xuống nước thì nước trở nên ngọt. Tại đây Đức Giê-hô-va lập luật lệ và quy tắc cho dân chúng, và cũng tại đây Ngài thử lòng họ.
Ngài phán: “Nếu các con chăm chú nghe lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con, làm điều ngay thẳng trước mặt Ta, lắng tai nghe các điều răn và gìn giữ mọi luật lệ Ta thì Ta sẽ không giáng trên các con một bệnh nào trong các bệnh mà Ta đã giáng trên dân Ai Cập. Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng chữa bệnh cho các con.”
Kế đó, dân chúng đến Ê-lim nơi có mười hai suối nước và bảy mươi cây chà là. Dân chúng đóng trại bên cạnh các suối nước.
Vào ngày mười lăm tháng thứ hai sau khi ra khỏi Ai Cập, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rời Ê-lim để đi vào hoang mạc Sin, nằm giữa Ê-lim và Si-na-i.
Trong hoang mạc, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên oán trách Môi-se và A-rôn.
Dân Y-sơ-ra-ên nói với hai ông: “Ước gì chúng tôi chết bởi tay Đức Giê-hô-va trong đất Ai Cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh no nê! Nhưng hai ông lại dẫn chúng tôi vào trong hoang mạc nầy để cả đoàn dân phải chết đói.”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Nầy, để thử xem họ có đi theo luật lệ của Ta không. Ta sẽ ban mưa bánh từ trời cho các con và mỗi ngày dân chúng sẽ đi ra lượm phần bánh trong ngày.
Vào ngày thứ sáu, phần họ chuẩn bị đem về sẽ gấp đôi phần họ lượm hằng ngày.”
Môi-se và A-rôn nói với tất cả dân Y-sơ-ra-ên: “Chiều nay, anh em sẽ nhận biết rằng chính Đức Giê-hô-va đã đem anh em ra khỏi Ai Cập;
và sáng mai, anh em sẽ thấy vinh quang của Đức Giê-hô-va, vì Ngài đã nghe lời anh em oán trách Ngài. Còn chúng tôi có là ai đâu mà anh em oán trách chúng tôi?”
Môi-se nói: “Buổi chiều Đức Giê-hô-va sẽ ban phát thịt cho anh em ăn, và buổi sáng bánh sẽ dư dật vì Ngài đã nghe lời anh em oán trách Ngài. Còn chúng tôi có là ai? Không phải anh em oán trách chúng tôi đâu, mà là oán trách Đức Giê-hô-va đó.”
Môi-se bảo A-rôn: “Hãy nói với cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Anh em hãy đến trước mặt Đức Giê-hô-va, vì Ngài đã nghe lời oán trách của anh em rồi.’”
Trong lúc A-rôn đang nói với cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, họ nhìn về phía hoang mạc và chợt thấy hào quang của Đức Giê-hô-va hiện ra trong đám mây.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Ta đã nghe lời oán trách của dân Y-sơ-ra-ên. Vậy, con hãy nói lại với họ rằng: ‘Buổi chiều các con sẽ ăn thịt, buổi sáng sẽ ăn bánh no nê, rồi các con sẽ biết Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.’”
Chiều hôm ấy, chim cút bay đến và bao phủ trại quân; còn buổi sáng thì có một lớp sương đọng quanh trại quân.
Khi lớp sương đó tan đi, trên mặt hoang mạc hiện ra thứ gì nho nhỏ, tròn mịn như hạt sương đọng trên mặt đất.
Thấy vậy, dân Y-sơ-ra-ên hỏi nhau: “Cái gì vậy?” Vì họ chẳng biết vật đó là gì. Môi-se nói với dân chúng: “Đó là bánh mà Đức Giê-hô-va ban cho anh em để làm thức ăn.”
“Đây là điều Đức Giê-hô-va đã phán truyền: ‘Mỗi người hãy ra lượm theo sức ăn của mình, mỗi nhân khẩu một ô-me tùy theo số người trong mỗi trại của mình.’”
Dân Y-sơ-ra-ên làm như vậy, kẻ lượm nhiều, người lượm ít.
Nhưng khi đong thì theo từng hai lít, ai lượm nhiều chẳng được hơn, ai lượm ít cũng chẳng thiếu. Mỗi người lượm vừa đủ sức mình ăn.
Môi-se nói với dân chúng: “Đừng ai để dành đến sáng mai.”
Nhưng dân chúng chẳng nghe lời Môi-se; một vài người đã để lại đến sáng mai thì bánh sinh ra sâu và có mùi hôi thối. Môi-se nổi giận với họ.
Như thế, mỗi buổi sáng họ ra lượm bánh, mỗi người lượm theo sức mình ăn. Khi mặt trời nắng nóng thì vật đó tan ra.
Vào ngày thứ sáu, dân chúng lượm gấp đôi số bánh, mỗi người bốn lít. Các người lãnh đạo hội chúng đến trình cho Môi-se rõ.
Ông nói: “Đây là lời Đức Giê-hô-va đã phán: ‘Ngày mai là ngày nghỉ, là ngày sa-bát thánh cho Đức Giê-hô-va, hãy nướng món gì anh em muốn nướng, hãy nấu món gì anh em muốn nấu, và những gì còn thừa, hãy để dành đến sáng mai.’”
Vậy họ để dành đến sáng mai, như lời Môi-se đã truyền dạy, vật đó chẳng có mùi hôi thối và cũng không sinh sâu bọ.
Môi-se nói: “Hôm nay, hãy ăn thức ăn đó vì là ngày sa-bát cho Đức Giê-hô-va. Hôm nay, anh em sẽ chẳng tìm thấy thức ăn ấy ngoài đồng đâu.
Anh em lượm trong sáu ngày, nhưng ngày thứ bảy là ngày sa-bát, sẽ chẳng có gì cả.”
Tuy vậy, vào ngày thứ bảy cũng có một vài người trong dân chúng đi ra lượm và họ chẳng tìm được gì hết.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Các con không chịu vâng giữ điều răn và luật pháp Ta cho đến bao giờ?
Hãy nhớ rằng Đức Giê-hô-va đã cho các con ngày sa-bát, vì thế vào ngày thứ sáu Ngài ban cho các con hai ngày bánh. Trong ngày thứ bảy, mỗi người phải ở yên chỗ mình, không ai được ra khỏi nhà.”
Như vậy, vào ngày thứ bảy dân chúng được nghỉ ngơi.
Nhà Y-sơ-ra-ên đặt tên thức ăn nầy là ma-na. Nó giống như hột ngò, màu trắng, vị như bánh ngọt pha mật ong.
Môi-se nói: “Đây là điều Đức Giê-hô-va đã phán truyền: ‘Hãy đong đầy hai lít ma-na, và lưu giữ qua các thế hệ để họ thấy thứ bánh Ta đã cho các con ăn nơi hoang mạc khi Ta đem các con ra khỏi đất Ai Cập.’”
Môi-se nói với A-rôn: “Hãy lấy một cái bình và đựng đầy hai lít ma-na, rồi đặt trước mặt Đức Giê-hô-va để lưu truyền qua các thế hệ.”
A-rôn đặt bình đó trước Bảng Chứng Ước để được lưu giữ như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.
Dân Y-sơ-ra-ên ăn ma-na suốt bốn mươi năm, cho đến khi vào vùng đất định cư. Họ đã ăn ma-na cho đến khi vào bờ cõi đất Ca-na-an.
Một ô-me là một phần mười của ê-pha.
Từ hoang mạc Sin, theo lệnh của Đức Giê-hô-va, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên di chuyển từng chặng, đến đóng trại tại Rê-phi-đim. Ở đây không có nước cho dân chúng uống.
Dân chúng gây chuyện với Môi-se rồi nói: “Hãy cho chúng tôi nước uống.” Môi-se đáp rằng: “Tại sao anh em gây chuyện với tôi? Tại sao anh em dám thử Đức Giê-hô-va?”
Nhưng ở đó dân chúng khát nước và họ oán trách Môi-se: “Tại sao ông đem chúng tôi ra khỏi Ai Cập rồi để cho chúng tôi, con cái và đàn súc vật của chúng tôi phải chịu chết khát thế nầy?”
Môi-se kêu cầu Đức Giê-hô-va: “Con phải làm gì với dân nầy? Thiếu điều họ ném đá con!”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy đi trước dân chúng, dẫn theo một số trưởng lão Y-sơ-ra-ên và cầm trong tay cây gậy mà con đã đập dưới sông, rồi đi.
Nầy, Ta sẽ đứng trước mặt con, trên tảng đá tại Hô-rếp kia. Con hãy đập tảng đá thì nước từ đó sẽ chảy ra cho dân chúng uống.” Môi-se làm như vậy trước mặt các trưởng lão Y-sơ-ra-ên.
Môi-se đặt tên nơi nầy là Ma-sa và Mê-ri-ba, vì dân Y-sơ-ra-ên đã gây chuyện với ông và dám thử Đức Giê-hô-va khi nói: “Đức Giê-hô-va có ở giữa chúng ta không?”
Bấy giờ quân A-ma-léc đến khiêu chiến với Y-sơ-ra-ên tại Rê-phi-đim.
Môi-se nói với Giô-suê: “Hãy chọn cho chúng ta những tráng sĩ đi chiến đấu với quân A-ma-léc. Ngày mai tôi sẽ đứng trên đỉnh đồi với cây gậy của Đức Chúa Trời trong tay.”
Giô-suê đã chiến đấu với quân A-ma-léc theo lệnh Môi-se truyền; còn Môi-se, A-rôn và Hu-rơ đi lên đỉnh đồi.
Mỗi khi Môi-se giơ tay lên thì quân Y-sơ-ra-ên thắng thế; nhưng khi ông hạ tay xuống thì quân A-ma-léc lại thắng thế.
Khi đôi tay Môi-se đã mỏi, họ lấy một hòn đá kê cho ông ngồi lên; rồi A-rôn và Hu-rơ đứng hai bên, mỗi người một phía, đỡ tay ông lên; nhờ vậy tay ông chẳng lay động cho đến khi mặt trời lặn.
Giô-suê dùng gươm đánh bại vua và dân A-ma-léc.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy chép điều nầy vào một cuốn sách để lưu niệm và nói cho Giô-suê biết rằng Ta sẽ xóa sạch kỷ niệm về A-ma-léc trong thiên hạ.”
Môi-se lập một bàn thờ và đặt tên là “Giê-hô-va là ngọn cờ của tôi”.
Ông nói: “Vì một bàn tay của A-ma-léc đã giơ lên chống lại ngôi Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va sẽ chinh chiến với chúng từ thế hệ nầy qua thế hệ khác.”
Giê-trô, thầy tế lễ Ma-đi-an và là ông gia của Môi-se, nghe được tất cả những gì Đức Chúa Trời đã làm cho Môi-se và cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài cũng như Ngài đã dẫn Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập như thế nào.
Lúc trước, khi Môi-se gửi vợ là Sê-phô-ra về nhà Giê-trô là ông gia của Môi-se; Giê-trô đã nhận Sê-phô-ra
cùng hai con trai, một đứa tên là Ghẹt-sôm, vì Môi-se nói rằng: “Tôi kiều ngụ trên đất khách”;
và một đứa tên là Ê-li-ê-se, vì ông nói: “Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi là sự cứu giúp của tôi, đã giải cứu tôi khỏi gươm Pha-ra-ôn.”
Bây giờ Giê-trô, ông gia của Môi-se, đem hai con trai và vợ Môi-se đến thăm ông trong hoang mạc, nơi ông đóng trại gần bên núi Đức Chúa Trời.
Giê-trô sai người báo với Môi-se: “Ta là Giê-trô, ông gia của con, ta cùng vợ của con và hai con trai con đến thăm con.”
Môi-se ra đón rước ông gia mình, cúi chào và hôn người. Họ hỏi thăm nhau, rồi vào trại.
Môi-se thuật lại cho ông gia mình tất cả những gì mà Đức Giê-hô-va đã vì Y-sơ-ra-ên làm cho Pha-ra-ôn và người Ai Cập, mọi gian khổ mà dân Y-sơ-ra-ên gặp phải trên đường đi, và Đức Giê-hô-va đã giải cứu họ như thế nào.
Giê-trô vui mừng về các ơn lành mà Đức Giê-hô-va đã làm cho Y-sơ-ra-ên khi giải cứu họ khỏi tay người Ai Cập.
Giê-trô nói: “Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va, là Đấng đã giải cứu anh em khỏi tay người Ai Cập và tay Pha-ra-ôn, và cũng giải cứu dân chúng khỏi quyền lực của người Ai Cập.
Bây giờ ta biết rằng Đức Giê-hô-va vĩ đại hơn tất cả các thần, vì khi người Ai Cập đối xử ngạo mạn với dân Ngài thì Ngài đánh bại chúng nó.”
Giê-trô, ông gia của Môi-se, dâng tế lễ thiêu và các sinh tế lên Đức Chúa Trời. A-rôn và các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đến dùng bữa với ông gia của Môi-se, trước mặt Đức Chúa Trời.
Qua ngày sau, Môi-se ngồi xét xử dân chúng. Họ đứng quanh ông từ sáng sớm đến chiều tối.
Quan sát những gì Môi-se đang làm cho dân chúng, ông gia Môi-se hỏi: “Con đang làm gì cho dân chúng vậy? Tại sao chỉ một mình con ngồi, còn tất cả dân chúng đứng quanh con từ sáng sớm cho đến chiều tối?”
Môi-se thưa: “Dân chúng đến với con để tìm cầu ý muốn Đức Chúa Trời.
Mỗi khi có vấn đề gì thì họ đến với con và con xét xử giữa người nầy với kẻ kia, và cho họ biết những mệnh lệnh và luật pháp của Đức Chúa Trời.”
Ông gia Môi-se nói: “Con làm như thế không tiện đâu.
Cả con và những người dân đến với con chắc chắn sẽ bị đuối sức vì việc đó quá nặng nề đối với con, một mình con không sao làm nổi.
Bây giờ, cha có lời khuyên con, hãy nghe lời cha. Cầu xin Đức Giê-hô-va ở với con! Con phải là người đại diện cho dân chúng trước mặt Đức Chúa Trời, và trình dâng mọi vấn đề của họ lên Đức Chúa Trời.
Hãy dạy họ các mệnh lệnh và luật pháp, chỉ cho họ biết con đường họ phải đi, và công việc họ phải làm.
Hơn nữa, hãy chọn trong dân chúng những người tài năng, kính sợ Đức Chúa Trời, chân thật, ghét lợi bất chính, và lập họ đứng đầu để cai quản hàng nghìn người, hàng trăm người, hàng năm mươi người, hoặc mười người.
Hãy để họ túc trực xét xử dân chúng và sẽ trình cho con những vấn đề lớn; còn những việc nhỏ, chính họ sẽ tự xét xử. Như vậy sẽ dễ dàng hơn cho con, và họ sẽ san sẻ gánh nặng với con.
Nếu con làm việc nầy, và nếu Đức Chúa Trời cũng truyền cho con như vậy, thì chắc con sẽ chịu đựng nổi, và cả dân tộc nầy sẽ đến nơi đến chốn bình an.”
Môi-se nghe theo lời ông gia mình và làm theo mọi điều ông khuyên bảo.
Từ trong Y-sơ-ra-ên, Môi-se chọn ra những người tài năng, lập họ đứng đầu để cai quản hàng nghìn người, hàng trăm người, hàng năm mươi người, hoặc mười người.
Họ túc trực để xét xử dân chúng và trình cho Môi-se những việc lớn, còn chính họ xét xử các việc nhỏ.
Sau đó, Môi-se tiễn ông gia mình lên đường trở về quê hương.
Vào tháng thứ ba kể từ khi ra khỏi Ai Cập, chính ngày đó dân Y-sơ-ra-ên đến hoang mạc Si-na-i.
Khởi hành từ Rê-phi-đim, họ đến hoang mạc Si-na-i, và đóng trại trong hoang mạc. Tại đó, dân Y-sơ-ra-ên đóng trại đối diện với núi.
Môi-se lên gặp Đức Chúa Trời. Từ trên núi, Đức Giê-hô-va gọi ông và phán: “Con hãy nói với nhà Gia-cốp, và bảo với con dân Y-sơ-ra-ên thế nầy:
‘Các con đã thấy điều Ta làm cho người Ai Cập, Ta đã chở các con trên cánh đại bàng, và dẫn các con đến với Ta như thế nào.
Vậy bây giờ, nếu các con thật lòng vâng lời Ta và giữ giao ước Ta thì trong tất cả các dân tộc, các con sẽ là tài sản riêng của Ta; dù cả thế gian đều thuộc về Ta.
Các con sẽ trở thành một vương quốc thầy tế lễ và một dân tộc thánh cho Ta.’ Đó là những lời con phải nói lại với con dân Y-sơ-ra-ên.”
Vậy Môi-se đến và gọi các trưởng lão trong dân chúng lại, thuật cho họ mọi lời Đức Giê-hô-va đã truyền dặn mình.
Toàn dân đồng thanh trả lời: “Chúng tôi sẽ làm theo mọi điều Đức Giê-hô-va đã truyền phán.” Môi-se trình lại lời của dân chúng lên Đức Giê-hô-va.
Ngài phán: “Nầy, Ta sẽ đến với con trong một đám mây dày đặc để khi Ta truyền bảo con thì dân chúng có thể nghe và tin tưởng con suốt đời.” Khi Môi-se đem lời của dân chúng thưa lại với Đức Giê-hô-va,
thì Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy đến với dân chúng, biệt riêng họ ra thánh hôm nay và ngày mai. Bảo họ phải giặt y phục mình;
đến ngày thứ ba, họ phải sẵn sàng vì vào ngày đó Đức Giê-hô-va sẽ giáng lâm trước mắt toàn thể dân chúng tại núi Si-na-i.
Con cũng phải phân định giới hạn cho dân chúng ở chung quanh núi, và dặn họ: ‘Hãy cẩn thận đừng leo lên núi hoặc chạm đến chân núi. Ai chạm đến núi sẽ bị xử tử.
Kẻ đó phải bị ném đá hoặc bị bắn bằng tên; đừng chạm tay vào kẻ đó. Dù là người hay súc vật cũng không được để cho sống.’ Khi nào kèn thổi lên, dân chúng mới được lên núi.”
Từ trên núi xuống, Môi-se đến với dân chúng và biệt riêng dân chúng ra thánh. Họ phải giặt y phục mình.
Ông dặn dân chúng: “Hãy sẵn sàng cho đến ngày thứ ba. Không được đến gần đàn bà.”
Vào sáng ngày thứ ba, có sấm chớp và một đám mây dày đặc ở trên núi cùng tiếng kèn vang dội. Tất cả dân chúng ở trong trại đều run sợ.
Môi-se dẫn dân chúng ra khỏi trại để nghênh đón Đức Chúa Trời; dân chúng dừng lại dưới chân núi.
Cả núi Si-na-i nghi ngút khói, vì Đức Giê-hô-va ngự trong lửa mà giáng lâm tại đó. Khói bốc lên như khói của một lò lửa hực, và cả hòn núi đều rúng động mãnh liệt.
Tiếng kèn càng lúc càng vang dội. Môi-se nói và Đức Chúa Trời đáp lại trong tiếng sấm rền.
Đức Giê-hô-va giáng lâm trên đỉnh núi Si-na-i. Đức Giê-hô-va gọi Môi-se lên đỉnh núi và Môi-se đi lên.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy xuống và cảnh cáo dân chúng đừng cố vượt giới hạn để nhìn Đức Giê-hô-va; nếu không nhiều người trong họ phải chết.
Ngay cả những thầy tế lễ khi đến gần Đức Giê-hô-va cũng phải thanh tẩy chính mình; nếu không họ cũng bị Đức Giê-hô-va đánh phạt.”
Môi-se thưa với Đức Giê-hô-va: “Dân chúng không thể lên núi Si-na-i được, vì Ngài đã cảnh cáo chúng con rằng: ‘Hãy phân định giới hạn chung quanh núi, và biệt riêng núi ấy ra thánh.’”
Đức Giê-hô-va phán với ông: “Hãy đi xuống và đưa A-rôn cùng lên với con. Nhưng những thầy tế lễ và dân chúng thì chớ vượt giới hạn để đến gần Đức Giê-hô-va, nếu không Ngài sẽ đánh phạt họ.”
Vậy Môi-se trở xuống với dân chúng và căn dặn họ.
Bấy giờ, Đức Chúa Trời phán tất cả những lời nầy:
“Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, Đấng đã đem con ra khỏi đất Ai Cập, khỏi nhà nô lệ.
Trước mặt Ta con không được có các thần nào khác.
Con không được làm cho mình một hình tượng nào theo hình dạng của những vật trên trời cao, hoặc nơi đất thấp, hoặc trong nước dưới mặt đất.
Con không được cúi lạy trước các hình tượng đó hay phụng thờ chúng; vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, là Đức Chúa Trời kỵ tà. Đối với những kẻ ghét Ta, Ta sẽ vì tội đó của tổ tiên mà trừng phạt con cháu họ đến thế hệ thứ ba, thứ tư.
Nhưng Ta sẽ ban ơn đến hàng nghìn thế hệ cho những người yêu mến Ta và vâng giữ các điều răn của Ta.
Con không được lạm dụng danh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, vì Đức Giê-hô-va sẽ chẳng dung tha kẻ nào lạm dụng danh Ngài.
Hãy nhớ ngày nghỉ để giữ làm ngày thánh.
Con phải làm tất cả công việc mình trong sáu ngày,
nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ dành cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con. Trong ngày đó, con, con trai, con gái, tôi trai tớ gái, súc vật của con, cả đến khách lạ trong nhà con, đều không được làm bất cứ công việc gì cả.
Vì trong sáu ngày Đức Giê-hô-va đã tạo dựng trời, đất, biển, và muôn vật ở trong đó, nhưng Ngài nghỉ ngày thứ bảy. Vì vậy, Đức Giê-hô-va ban phước cho ngày nghỉ và thánh hóa ngày ấy.
Hãy hiếu kính cha mẹ của con, để con được sống lâu trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho con.
Con không được giết người.
Con không được phạm tội tà dâm.
Con không được trộm cắp.
Con không được làm chứng dối hại người lân cận mình.
Con không được tham muốn nhà người lân cận con, cũng không được tham muốn vợ, hoặc tôi trai tớ gái, bò, lừa hay bất cứ vật gì thuộc về người lân cận con.”
Khi chứng kiến cảnh sấm chớp, tiếng kèn thổi và núi bốc khói thì dân chúng run sợ và đứng xa ra.
Họ nói với Môi-se: “Xin chính ông nói thẳng với chúng tôi, và chúng tôi sẽ nghe; nhưng xin Đức Chúa Trời đừng phán với chúng tôi, e chúng tôi chết mất.”
Môi-se nói với dân chúng: “Đừng sợ, vì Đức Chúa Trời giáng lâm để thử lòng anh em, để anh em luôn kính sợ Ngài mà không phạm tội.”
Dân chúng đứng xa xa, còn Môi-se đến gần đám mây dày đặc, nơi Đức Chúa Trời đang ngự.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Con hãy nói với con dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Chính các con đã thấy Ta từ trên trời tuyên phán.
Vậy các con không được làm bất cứ tượng thần nào bên cạnh Ta; cũng đừng tự tạo các tượng thần bằng bạc hay bằng vàng nào cả.’
Con hãy lập cho Ta một bàn thờ bằng đất và trên đó dâng tế lễ thiêu, tế lễ bình an, hoặc chiên hay bò của mình. Bất cứ nơi nào Ta tỏ danh Ta để ghi nhớ, Ta sẽ đến và ban phước cho con.
Nếu con lập cho Ta một bàn thờ bằng đá thì không được dùng đá đẽo, vì nếu con dùng dụng cụ để đẽo thì con đã làm cho đá đó ra ô uế.
Con không được đi lên bàn thờ Ta bằng các bậc thang để thân thể con không hở hang trước bàn thờ.”
Đây là những luật lệ con phải truyền cho dân chúng:
Khi con mua một người nô lệ Hê-bơ-rơ, người đó sẽ phục vụ sáu năm; đến năm thứ bảy người đó sẽ được tự do ra đi mà không phải trả tiền.
Nếu người đó vào ở một mình thì sẽ ra đi một mình; nếu có vợ thì sẽ ra đi với vợ.
Nếu người chủ cưới vợ cho, và nếu vợ sinh được con trai hay gái thì người đó sẽ ra đi một mình; vợ và các con thuộc về chủ.
Nếu người nô lệ nói: “Tôi thương chủ, vợ và con cái tôi; tôi không muốn ra đi tự do,”
thì người chủ sẽ dẫn người đó đến trước mặt Đức Chúa Trời, đem lại gần cửa hay trụ cửa, rồi lấy mũi dùi xỏ tai; người đó sẽ phục vụ người chủ ấy trọn đời.
Nếu ai bán con gái mình làm nữ tì thì cô gái đó sẽ không được ra đi như các nam nô lệ.
Nếu nàng không làm hài lòng chủ là người đã lấy nàng làm hầu thiếp, thì chủ phải để cho nàng được chuộc ra chứ không có quyền bán nàng cho người ngoại bang.
Còn nếu chủ muốn dành nàng cho con trai mình thì phải cư xử với nàng như với con gái mình.
Nếu người chủ cưới một người vợ khác thì không được cắt giảm phần thức ăn, quần áo và tình nghĩa vợ chồng với người vợ trước.
Nếu người chủ không thực hiện ba điều nầy, nàng được tự do ra đi mà không phải trả tiền lại.
Kẻ nào đánh chết một người sẽ bị tử hình.
Tuy nhiên, nếu người đó không cố sát nhưng Đức Chúa Trời đã trao kẻ bị giết vào tay người đó thì Ta sẽ định cho con một chỗ để người đó ẩn náu.
Nếu người nào chủ ý tấn công và cố ý giết người lân cận mình thì hãy lôi nó ra khỏi bàn thờ Ta mà giết đi.
Kẻ nào đánh cha hay mẹ mình sẽ bị tử hình.
Kẻ nào bắt cóc người, hoặc đã bán đi hay còn đang giữ trong tay mình, sẽ bị tử hình.
Kẻ nào nguyền rủa cha hay mẹ mình sẽ bị xử tử.
Khi hai người cãi nhau, người nầy đánh người kia bằng một viên đá hay bằng nắm đấm, người kia không đến nỗi chết, nhưng phải nằm liệt giường;
nếu sau đó người ấy đứng dậy chống gậy đi ra ngoài được thì kẻ đánh người đó sẽ được tha, chỉ phải đền bù thiệt hại trong thời gian nghỉ việc, và chăm lo cho đến khi hoàn toàn bình phục.
Khi người chủ nô lấy gậy đánh chết ngay tại chỗ nam hay nữ nô lệ của mình thì người chủ ấy phải bị phạt.
Nhưng nếu người nô lệ ấy còn sống một hai ngày thì người chủ khỏi tội, vì nô lệ đó vốn là tài sản của chủ.
Nếu người ta đánh nhau và gây thương tích cho một phụ nữ có thai, làm hư thai nhưng không gây thương tổn gì khác, thì kẻ gây thương tích phải bồi thường theo yêu cầu của người chồng và trả tiền trước mặt các thẩm phán.
Nhưng nếu có gây thương tổn thì con phải lấy mạng đền mạng,
lấy mắt đền mắt, lấy răng đền răng, lấy tay đền tay, lấy chân đền chân,
lấy phỏng đền phỏng, lấy vết bầm đền vết bầm, lấy thương tích đền thương tích.
Nếu chủ nô đánh vào mắt của nam hay nữ nô lệ mình và làm hỏng mắt đó thì người chủ phải để cho người nô lệ được ra đi tự do, để đền lại con mắt.
Nếu người chủ đánh gãy răng của một nam hay nữ nô lệ mình thì người chủ phải để cho người nô lệ được ra đi tự do, để đền lại chiếc răng.
Khi có một con bò húc chết một người đàn ông hay đàn bà thì con bò ấy phải bị ném đá chết; người ta không được ăn thịt nó; người chủ bò sẽ vô can.
Nhưng nếu trước đó con bò vốn có tật hay húc người và chủ bò đã từng được cảnh cáo nhưng vẫn không canh giữ, để nó húc chết một người đàn ông hay đàn bà thì bò phải bị ném đá và chủ bò sẽ bị tử hình.
Tuy nhiên, nếu người ta ra giá cho chủ bò chuộc mạng thì chủ phải trả theo giá đã định để chuộc mạng sống mình.
Nếu bò húc phải một người con trai hay con gái thì chủ bò cũng sẽ bị xử theo luật nầy.
Còn nếu bò húc nhằm một nam hay nữ nô lệ thì chủ bò phải trả cho chủ nô lệ đó ba trăm gam bạc; còn con bò phải bị ném đá chết.
Nếu người nào mở nắp miệng hầm hay đào hầm mà không đậy lại, và nếu có một con bò hay lừa té xuống đó
thì chủ hầm sẽ phải bồi thường cho chủ của con vật, nhưng con vật chết đó sẽ thuộc về chủ hầm.
Nếu bò của người nầy húc chết bò của người kia thì hai người hãy bán con bò còn sống rồi chia đôi tiền và thịt của con bò chết.
Tuy nhiên, nếu người chủ biết rõ con bò mình từ lâu đã có tật hay húc nhau mà không chịu canh giữ thì chủ ấy phải lấy bò thường bò, nhưng con bò chết sẽ thuộc về mình.
Nếu ai bắt trộm một con bò hay một con chiên rồi giết hoặc bán đi, thì phải đền gấp năm lần cho mỗi con bò và gấp bốn lần cho mỗi con chiên.
Nếu kẻ trộm bị bắt quả tang đang lúc cạy cửa và bị đánh chết thì kẻ đánh chết không mắc tội làm đổ máu;
nhưng nếu việc xảy ra sau khi mặt trời mọc thì kẻ đánh chết người sẽ mắc tội làm đổ máu. Kẻ trộm phải bồi thường; nếu kẻ trộm không có gì để bồi thường thì sẽ bị bán vì tội trộm cắp.
Nếu tìm thấy trong tay kẻ trộm vật mà nó đã lấy, hoặc bò, lừa hay chiên còn sống thì kẻ trộm đó phải bồi thường gấp đôi.
Nếu ai gây hư hại cho ruộng hay vườn nho, hoặc thả súc vật mình vào cắn phá ruộng người khác thì người ấy phải lấy hoa lợi tốt nhất của ruộng hay là vườn nho mình mà bồi thường.
Nếu lửa bùng phát và bắt sang bụi gai rồi thiêu hủy các bó lúa, lúa chưa gặt, hay là đồng ruộng thì kẻ gây hỏa hoạn đó phải bồi thường toàn bộ mọi vật đã bị cháy.
Khi ai giao tiền bạc hay đồ vật cho người lân cận mình giữ, chẳng may bị mất trộm trong nhà người đó; nếu tên trộm bị bắt thì nó phải đền gấp đôi.
Còn nếu tên trộm không bị bắt thì chủ nhà sẽ bị đem đến trước mặt Đức Chúa Trời để xác định là mình có lấy tài vật của người lân cận mình hay không.
Trong mọi việc tranh tụng liên quan đến tài sản, hoặc bò, lừa, chiên, áo xống hay bất cứ vật gì bị mất, mà có người nói: “vật nầy là của tôi” thì cả hai bên phải đến trước mặt Đức Chúa Trời. Bên nào bị kết án sẽ phải bồi thường gấp đôi cho người lân cận mình.
Nếu người nào giao lừa, bò, chiên, hoặc súc vật nào khác cho người lân cận mình giữ, và nó bị chết, bị thương hay bị bắt mất mà không ai thấy
thì hai bên phải nhân danh Đức Giê-hô-va mà thề để xác định rằng người giữ súc vật không hề lấy tài vật của người lân cận mình. Người chủ phải chấp nhận lời thề, và người kia không phải bồi thường gì hết.
Nhưng nếu con vật bị người đó bắt trộm thì phải bồi thường cho chủ nó.
Nếu con vật bị thú rừng xé ra từng mảnh, người giữ con vật đưa ra được bằng chứng thì sẽ không phải bồi thường con vật bị xé đó.
Nếu ai mượn người lân cận mình một con vật, rồi nó bị thương hay bị chết trong lúc chủ không có mặt, thì người đó phải bồi thường.
Nhưng, nếu chủ có mặt tại đó thì không phải bồi thường. Nếu con vật đã cho thuê thì giá thuê thế cho tiền bồi thường.
Khi một người dụ dỗ một trinh nữ chưa đính hôn và nằm với nàng, thì kẻ đó phải nộp sính lễ và cưới nàng làm vợ.
Nếu cha nàng cương quyết không gả thì kẻ đó phải nộp một số tiền tương đương với sính lễ dành cho các trinh nữ.
Không được tha mạng cho các mụ phù thủy.
Kẻ nào nằm với một con vật sẽ bị tử hình.
Kẻ nào dâng sinh tế cho các thần khác ngoài Đức Giê-hô-va sẽ bị tận diệt.
Con chớ nên bạc đãi hay áp bức người tha hương vì các con đã từng là kẻ tha hương trên đất Ai Cập.
Các con chớ ức hiếp bất cứ một bà góa hay một trẻ mồ côi nào.
Nếu cứ ức hiếp họ, và họ kêu van Ta, Ta chắc chắn sẽ nghe tiếng kêu của họ;
cơn giận của Ta sẽ bừng lên, Ta sẽ dùng gươm giết các con; vợ các con sẽ trở nên góa bụa và con các con sẽ mồ côi.
Nếu con cho bất cứ ai trong dân Ta, là những người nghèo khó ở giữa con, mượn tiền thì đừng đối xử với họ như chủ nợ, và cũng đừng bắt họ chịu lời.
Nếu con giữ áo choàng của người lân cận mình làm vật thế chấp thì phải trả cho họ trước khi mặt trời lặn;
vì đó là tấm đắp duy nhất của họ, là chiếc áo khoác che thân; lấy đi người ấy lấy gì mà ngủ? Nếu nó kêu van với Ta, thì Ta sẽ lắng nghe, vì Ta là Đấng nhân từ.
Con không được phạm thượng với Đức Chúa Trời, cũng đừng rủa sả người lãnh đạo dân tộc mình.
Con đừng chậm trễ trong việc dâng hiến những sản phẩm đầu mùa và rượu của con. Con cũng phải dâng cho Ta các con trai đầu lòng của con.
Con cũng phải làm như thế với chiên và bò của con. Hãy để con đầu lòng ở với mẹ nó trong bảy ngày, đến ngày thứ tám con hãy dâng nó cho Ta.
Các con là người thánh của Ta, vì vậy không được ăn thịt của con vật bị thú rừng cắn xé ở ngoài đồng; hãy ném nó cho chó ăn.
“Con chớ tung tin đồn thất thiệt. Con cũng không được tiếp tay với kẻ ác để làm chứng dối.
Con chớ theo số đông để làm điều gian ác. Khi làm nhân chứng trong một vụ kiện tụng, con đừng đứng về phía số đông mà bẻ cong công lý.
Con cũng chớ thiên vị người nghèo trong việc kiện tụng.
Nếu con gặp bò hay lừa của kẻ thù mình đi lạc thì phải dẫn về cho chủ nó.
Nếu con thấy lừa của kẻ ghét mình bị ngã quỵ vì chở nặng thì không được làm ngơ mà phải giúp người ấy đỡ con lừa dậy.
Con chớ bẻ cong công lý trong các vụ kiện của người nghèo.
Con phải tránh xa các lời giả dối và chớ giết kẻ vô tội hay người công chính, vì Ta sẽ không xưng công chính cho kẻ gian ác đâu.
Con chớ nhận của hối lộ vì của hối lộ làm mờ mắt người sáng suốt và xuyên tạc lời nói của người công chính.
Con chớ áp bức người tha hương, chính các con đã hiểu thấu lòng người tha hương là thế nào, vì các con đã từng là kẻ tha hương trên đất Ai Cập.”
“Trong sáu năm con hãy gieo trồng và thu hoa lợi trong đất mình.
Nhưng sang năm thứ bảy hãy cho đất nghỉ, không canh tác để kẻ nghèo khổ trong dân tộc con tìm được thức ăn từ đó; những gì còn lại thì thú vật ngoài đồng sẽ ăn. Con cũng hãy làm như thế với vườn nho và vườn ô-liu của mình nữa.
Con hãy làm công việc của mình trong sáu ngày, sang ngày thứ bảy con hãy nghỉ để cho bò và lừa của con được nghỉ, con trai của nữ nô lệ và người ngoại bang lấy lại sức.
Hãy cẩn thận về mọi lời Ta phán với con. Không được nhắc đến danh của các thần khác, cũng đừng để người ta nghe miệng con thốt ra các danh ấy.”
“Mỗi năm ba lần con phải giữ lễ kính Ta.
Con hãy giữ lễ Bánh Không Men. Trong bảy ngày, phải ăn bánh không men vào thời gian đã định trong tháng A-bíp, như Ta đã truyền dạy con, vì trong tháng đó con đã ra khỏi Ai Cập. Không ai được đi tay không đến trước mặt Ta.
Con hãy giữ lễ Mùa Gặt tức là lễ dâng hoa quả đầu tiên do công lao con đã gieo trồng ngoài đồng. Con cũng hãy giữ lễ Thu Hoạch vào cuối năm, sau khi con đã đem kết quả của công sức mình từ ngoài đồng về.
Mỗi năm ba lần, tất cả các người nam phải đến trước mặt Chúa, là Đức Giê-hô-va.
Con chớ dâng cho Ta máu của sinh tế chung với bánh có men, cũng đừng để mỡ sinh tế dâng trong ngày lễ kính Ta đến sáng hôm sau.
Hãy đem những hoa quả đầu mùa tốt nhất của đất đai con vào đền thờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Con chớ nấu dê con trong sữa mẹ nó.”
“Nầy, Ta sai một thiên sứ đi trước con để gìn giữ con trên đường đi và đưa con vào nơi Ta đã chuẩn bị.
Trước mặt thiên sứ, hãy cẩn thận và vâng lời người. Chớ nổi loạn chống lại người, vì người sẽ chẳng tha sự phản bội của các con đâu, vì danh Ta ở trong người.
Nhưng nếu con chăm chú vâng lời người và làm theo mọi lời Ta truyền phán thì Ta sẽ là kẻ thù của những kẻ thù con, đối thủ của những đối thủ con.
Vì thiên sứ Ta sẽ đi trước con, dẫn con vào đất của dân A-mô-rít, Hê-tít, Phê-rê-sít, Ca-na-an, Hê-vít, và Giê-bu-sít; rồi Ta sẽ xóa sạch chúng.
Con chớ quỳ lạy và phục vụ các thần của chúng; đừng bắt chước công việc chúng làm. Con phải phá hủy hoàn toàn các thần và đập vụn các trụ thờ của chúng.
Hãy phụng thờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con; Ngài sẽ ban phước trên bánh con ăn, trên nước con uống, và đem tật bệnh tránh xa con.
Sẽ chẳng có đàn bà sẩy thai hoặc hiếm muộn trong xứ sở con. Ta sẽ cho con được trường thọ.
Ta sẽ gieo kinh hoàng và rối loạn trên bất cứ dân tộc nào mà con sắp đến. Ta sẽ làm cho kẻ thù con quay lưng bỏ chạy trước mặt con.
Ta sẽ sai ong lỗ đi trước con, chúng sẽ đánh đuổi dân Hê-vít, dân Ca-na-an, dân Hê-tít trước mặt con.
Ta sẽ không đuổi chúng đi hết trong một năm đâu, vì nếu vậy thì xứ sở sẽ trở nên hoang vu, và thú rừng sẽ sinh sôi nẩy nở, tác hại đến ngươi.
Nhưng Ta sẽ đuổi chúng từ từ khỏi con, cho đến khi con trở nên đông đúc và có thể thừa hưởng đất nầy.
Ta sẽ ấn định lãnh thổ con từ Biển Đỏ đến biển Phi-li-tin, từ hoang mạc đến sông cái; vì Ta sẽ trao các cư dân trong đất đó vào tay con, và con sẽ đuổi chúng khuất mắt con.
Con đừng kết ước với chúng hoặc với các thần của chúng.
Chúng sẽ không được cư ngụ trong xứ sở con vì chúng có thể khiến con phạm tội với Ta mà phục vụ các thần của chúng; điều đó chắc chắn là một cạm bẫy cho con.”
Đức Chúa Trời phán với Môi-se: “Con và A-rôn, Na-đáp và A-bi-hu cùng bảy mươi trưởng lão Y-sơ-ra-ên hãy lên với Đức Giê-hô-va, và đứng đằng xa mà thờ phượng.
Chỉ một mình con là Môi-se được đến gần Đức Giê-hô-va; những người khác không được đến gần. Dân chúng không được theo con lên núi.”
Khi Môi-se đến và thuật lại cho dân chúng mọi lời phán và các luật lệ của Đức Giê-hô-va, dân chúng đồng thanh đáp rằng: “Chúng tôi sẽ thi hành mọi lời Đức Giê-hô-va đã phán truyền.”
Môi-se ghi lại mọi lời của Đức Giê-hô-va. Ông dậy sớm, xây một bàn thờ ở chân núi và dựng mười hai trụ đá tượng trưng cho mười hai bộ tộc Y-sơ-ra-ên.
Ông sai các thanh niên Y-sơ-ra-ên dâng tế lễ thiêu và sinh tế bằng bò tơ, tức là tế lễ bình an lên Đức Giê-hô-va.
Môi-se lấy một nửa máu đựng trong các chậu, còn nửa kia thì rảy trên bàn thờ.
Ông cầm quyển sách giao ước và đọc cho dân chúng nghe. Họ nói: “Chúng tôi sẽ làm theo và tuân giữ mọi lời Đức Giê-hô-va đã phán truyền.”
Môi-se lấy máu rảy trên dân chúng và nói: “Đây là máu của giao ước mà Đức Giê-hô-va đã lập với anh em dựa trên mọi lời nầy.”
Sau đó, Môi-se và A-rôn, Na-đáp và A-bi-hu cùng bảy mươi trưởng lão Y-sơ-ra-ên lên núi;
họ trông thấy Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Dưới chân Ngài có một vật gì giống như cái bệ bằng bích ngọc trong suốt như bầu trời xanh.
Ngài không đưa tay hành hại các nhà lãnh đạo của dân Y-sơ-ra-ên; họ đã nhìn thấy Đức Chúa Trời rồi sau đó ăn uống.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy lên núi, đến với Ta và đợi Ta tại đó. Ta sẽ ban cho con các bảng đá mà trên đó Ta đã viết luật pháp và điều răn để dạy dỗ dân chúng.”
Môi-se cùng với Giô-suê, người trợ lý của mình, đứng dậy rồi Môi-se đi lên núi Đức Chúa Trời.
Ông nói với các trưởng lão: “Hãy đợi chúng tôi tại đây cho đến khi chúng tôi trở lại. Nầy, A-rôn và Hu-rơ sẽ ở lại với các ông; ai cần việc gì có thể đến với họ.”
Môi-se lên núi, và mây bao phủ núi.
Vinh quang của Đức Giê-hô-va ngự trên núi Si-na-i. Trong sáu ngày, mây bao phủ núi; sang ngày thứ bảy Đức Giê-hô-va gọi Môi-se từ giữa đám mây.
Vinh quang của Đức Giê-hô-va tỏa ra như một đám lửa đang bừng cháy trên đỉnh núi trước mắt dân Y-sơ-ra-ên.
Môi-se bước vào giữa đám mây và đi lên núi. Môi-se ở trên núi bốn mươi ngày bốn mươi đêm.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên dâng lễ vật cho Ta. Các con hãy nhận lễ vật của tất cả những ai thành tâm dâng hiến.
Đây là lễ vật các con sẽ nhận từ họ: vàng, bạc, và đồng;
chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm; vải gai mịn, lông dê;
da chiên đực nhuộm đỏ, da cá nược, gỗ si-tim;
dầu thắp đèn, các hương liệu để làm dầu xức và hương thơm;
mã não và các thứ ngọc khác để gắn vào ê-phót và bảng đeo ngực.
Họ sẽ làm cho Ta một Đền Thánh để Ta ngự giữa họ.
Các con hãy làm đền đó đúng như kiểu mẫu Đền Tạm và các vật dụng trang trí mà Ta chỉ cho con.”
“Vậy, hãy bảo chúng đóng một cái hòm bằng gỗ si-tim, dài một trăm mười cen-ti-mét, rộng sáu mươi sáu cen-ti-mét, và cao sáu mươi sáu cen-ti-mét.
Con hãy lấy vàng ròng bọc hòm, bọc cả trong lẫn ngoài và chạy đường viền bằng vàng chung quanh hòm.
Con cũng đúc bốn khoen bằng vàng gắn vào bốn góc hòm, hai khoen bên nầy và hai khoen bên kia;
và làm mấy cây đòn bằng gỗ si-tim bọc vàng;
xỏ đòn vào các khoen hai bên để khiêng hòm.
Cứ giữ đòn ở luôn trong khoen, không nên rút ra.
Con hãy đặt vào trong hòm Bảng Chứng Ước mà Ta sẽ ban cho con.”
“Con hãy làm một nắp thi ân bằng vàng ròng, dài một trăm mười cen-ti-mét, rộng sáu mươi sáu cen-ti-mét.
Rồi làm hai chê-ru-bim bằng vàng dát mỏng, đặt ở hai đầu nắp thi ân.
Hãy làm một chê-rúp ở đầu nầy, một chê-rúp ở đầu kia và gắn liền với hai đầu nắp.
Hai chê-ru-bim sẽ xòe rộng đôi cánh che phủ nắp thi ân. Các chê-ru-bim mặt đối mặt, cùng hướng vào nắp thi ân.
Con hãy để nắp thi ân trên hòm và đặt vào trong đó Bảng Chứng Ước mà Ta sẽ ban cho con.
Ta sẽ gặp con tại đó; từ bên trên nắp thi ân, giữa hai chê-ru-bim nằm trên Hòm Chứng Ước, Ta sẽ truyền cho con mọi mệnh lệnh về dân Y-sơ-ra-ên.”
“Con cũng hãy đóng một cái bàn bằng gỗ si-tim dài tám mươi tám cen-ti-mét, rộng bốn mươi bốn cen-ti-mét và cao sáu mươi sáu cen-ti-mét,
bọc bằng vàng ròng, và chạy một đường viền bằng vàng chung quanh.
Con cũng làm một bờ khung chung quanh bàn, cao khoảng bốn ngón tay, và chạy một đường viền vàng quanh khung ấy.
Rồi đúc bốn khoen vàng gắn vào bốn góc, chỗ có bốn chân bàn.
Khoen sẽ gắn gần khung để xỏ các đòn khiêng.
Con hãy làm các đòn bằng gỗ si-tim, bọc vàng để khiêng bàn đó.
Cũng hãy dùng vàng ròng mà làm khay, đĩa dâng hương, và lọ, bát để làm lễ quán.
Trên bàn con phải luôn luôn đặt bánh cung hiến trước mặt Ta.”
“Con cũng hãy làm chân đèn bằng vàng ròng; đế và thân của chân đèn được làm bằng vàng dát; đài đèn, nụ đèn và cánh hoa đèn đều được gắn vào chân đèn.
Có sáu nhánh nứt ra hai bên chân đèn, ba nhánh bên nầy và ba nhánh bên kia.
Trong sáu nhánh nứt ra từ chân đèn, trên mỗi nhánh đều có ba cái đài đèn tạo thành hình hoa hạnh nhân với nụ đèn và cánh hoa đèn.
Ngay trên chân đèn cũng có bốn đài đèn hình hoa hạnh nhân với nụ đèn và cánh hoa đèn.
Trong sáu nhánh từ chân đèn nứt ra, cứ dưới mỗi hai nhánh thì gắn một nụ đèn.
Các nụ đèn và các nhánh của chân đèn được gắn kết với chân đèn; tất cả đều được làm bằng vàng ròng dát mỏng.
Con cũng hãy làm bảy ngọn đèn cho chân đèn; đặt những ngọn đèn đó thế nào để khi thắp lên thì ánh sáng tỏa ra phía trước chân đèn.
Kéo cắt tim đèn và khay đựng tàn đèn cũng sẽ bằng vàng ròng.
Một ta-lâng vàng ròng sẽ được dùng làm chân đèn và các dụng cụ khác.
Vậy, con hãy xem xét và làm đúng như kiểu mẫu đã chỉ cho con trên núi.”
“Con hãy dùng mười bức màn để làm Đền Tạm. Màn dệt bằng sợi gai mịn, màu xanh, đỏ tía và đỏ thắm, có thêu các hình chê-ru-bim thật mỹ thuật.
Tất cả các bức màn đều cùng kích cỡ như nhau: dài khoảng mười hai mét, rộng hai mét.
Cứ năm bức màn kết lại thành một bộ, năm bức kia cũng vậy.
Con hãy thắt các vòng bằng chỉ xanh trên biên của bức màn ngoài cùng của bộ màn thứ nhất; và cũng làm như vậy trên biên của bức màn ngoài cùng của bộ màn thứ hai.
Rồi cũng thắt năm mươi cái vòng trên bức màn thứ nhất và năm mươi cái vòng trên biên bức màn cuối của bộ màn thứ hai; các vòng hai bên phải đối nhau.
Cũng hãy làm năm mươi cái móc bằng vàng, rồi móc các bức màn lại với nhau để Đền Tạm kết thành một.
Con cũng hãy kết mười một bức màn bằng lông dê để làm tấm bạt phủ trên Đền Tạm.
Cả mười một bức màn đều có cùng kích cỡ như nhau: dài khoảng mười ba mét, rộng khoảng hai mét.
Con hãy kết các bức màn nầy thành hai bộ: một bộ năm bức và một bộ sáu bức; nhưng phải gấp làm đôi bức màn thứ sáu trước Đền Tạm.
Rồi cũng thắt năm mươi cái vòng trên biên của bức màn cuối của bộ màn thứ nhất, và năm mươi cái vòng trên biên màn đầu của bộ màn phủ hai.
Con cũng làm năm mươi cái móc bằng đồng cài vào vòng rồi nối hai bộ màn lại để Đền Tạm kết thành một.
Phần còn dư, tức là một nửa bức màn dư của tấm bạt, sẽ phủ phía sau Đền Tạm;
phần chiều dài mỗi bên dư khoảng nửa mét của tấm bạt sẽ phủ xuống để che hai bên hông Đền Tạm.
Con cũng làm một tấm bạt bằng da chiên đực nhuộm đỏ và một tấm bạt bằng da cá nược che lên trên.
Con hãy dựng những tấm ván bằng gỗ si-tim để làm vách Đền Tạm.
Mỗi tấm ván dài khoảng bốn mét, rộng khoảng sáu mươi sáu cen-ti-mét.
Mỗi tấm có hai cái mộng để ghép các tấm ván lại với nhau. Tất cả các vách của Đền Tạm con đều làm như thế.
Con hãy làm hai mươi tấm ván cho phía nam Đền Tạm;
dưới hai mươi tấm ván ấy, hãy làm bốn mươi lỗ mộng bằng bạc; dưới mỗi tấm ván có hai lỗ mộng khớp với hai cái mộng, và hai lỗ mộng dưới tấm kế tiếp sẽ khớp với hai mộng của tấm tiếp theo.
Cũng hãy làm hai mươi tấm ván cho phía bắc Đền Tạm,
và bốn mươi lỗ mộng bằng bạc, mỗi tấm ván có hai lỗ mộng, và tấm kế tiếp cũng có hai lỗ mộng.
Con cũng hãy làm sáu tấm ván về phía tây Đền Tạm.
Và làm hai tấm ván cho hai góc phía sau Đền Tạm;
chúng sẽ được ghép lại với nhau từ dưới lên trên bởi một cái khoen trên cùng. Cả hai góc đều phải làm như vậy.
Như thế, có tám tấm ván và mười sáu lỗ mộng bằng bạc, dưới mỗi tấm ván có hai lỗ mộng và tấm kế tiếp cũng vậy.
Con cũng làm những thanh ngang bằng gỗ si-tim: năm thanh cho các tấm ván ở bên nầy của Đền Tạm;
năm thanh cho các tấm ván ở phía bên kia Đền Tạm, và năm thanh khác nữa ở phía sau của Đền Tạm, tức là phía tây.
Thanh ngang giữa, nằm khoảng nửa trên của các tấm ván, sẽ cài suốt từ đầu nầy đến đầu kia.
Cũng hãy lấy vàng bọc ván và làm những khoen bằng vàng để giữ các thanh ngang. Con cũng bọc vàng các thanh ngang.
Con phải dựng Đền Tạm theo đúng như kiểu mẫu đã chỉ dẫn cho con trên núi.
Con hãy làm một bức màn bằng sợi gai mịn, màu xanh, đỏ tía, đỏ thắm, có thêu những hình chê-ru-bim thật mỹ thuật;
treo màn đó trên bốn trụ bằng gỗ si-tim bọc vàng, dựng trên bốn lỗ trụ bằng bạc; các móc trụ đều bằng vàng.
Con hãy treo màn đó vào các móc rồi đem Hòm Chứng Ước vào bên trong màn. Bức màn nầy sẽ giúp các con phân biệt Nơi Thánh và Nơi Chí Thánh.
Con hãy để nắp thi ân trên Hòm Chứng Ước trong Nơi Chí Thánh.
Con cũng đặt cái bàn bên ngoài bức màn về phía bắc Đền Tạm, và đặt chân đèn đối diện với cái bàn về phía nam Đền Tạm.
Tại cửa Đền Tạm con hãy làm một bức màn bằng chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm, sợi gai mịn, được thêu thật mỹ thuật;
rồi con làm cho bức màn nầy năm cây trụ bằng gỗ si-tim bọc vàng; các móc của nó cũng bằng vàng và đúc cho nó năm lỗ trụ bằng đồng.”
“Con hãy đóng một bàn thờ bằng gỗ si-tim hình vuông, mỗi cạnh hai mét hai, và cao khoảng một mét ba.
Con làm sừng gắn ở bốn góc bàn thờ; các sừng ấy phải thành một khối với bàn thờ. Con cũng dùng đồng bọc bàn thờ.
Những dụng cụ của bàn thờ như bình đựng tro, xẻng, chậu, nĩa và lư hương đều phải làm bằng đồng.
Con cũng làm cho bàn thờ một cái rá bằng lưới đồng có bốn khoen đồng ở bốn góc,
và để rá đó dưới thành bàn thờ, khoảng nửa chiều cao của bàn thờ.
Con cũng làm các đòn khiêng bàn thờ bằng gỗ si-tim bọc đồng,
rồi xỏ đòn vào các khoen, để khi khiêng đi thì đòn sẽ ở hai bên bàn thờ.
Bàn thờ sẽ ghép bằng ván, rỗng bên trong. Hãy làm đúng như Ta đã chỉ dẫn cho con trên núi vậy.”
“Con hãy làm hành lang cho Đền Tạm. Phía nam của hành lang có các tấm rèm bằng sợi gai mịn dài bốn mươi bốn mét;
hai mươi cây trụ và hai mươi lỗ trụ bằng đồng; còn các móc trụ và thanh liên kết thì bằng bạc.
Cũng vậy, theo chiều dài của hành lang phía bắc có các tấm rèm dài bốn mươi bốn mét, hai mươi cây trụ và hai mươi lỗ trụ bằng đồng; nhưng các móc trụ và thanh liên kết thì bằng bạc.
Theo chiều rộng của hành lang phía tây có các tấm rèm dài hai mươi hai mét với mười cây trụ và mười lỗ trụ.
Chiều rộng của hành lang phía đông là hai mươi hai mét.
Ở một bên cổng có các tấm rèm sáu mét sáu, với ba cây trụ và ba lỗ trụ;
ở bên kia cũng có các tấm rèm sáu mét sáu, với ba cây trụ và ba lỗ trụ.
Còn ở cửa hành lang sẽ có một bức màn dài tám mét tám bằng vải gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm, được thêu mỹ thuật, cùng với bốn cây trụ và bốn lỗ trụ.
Tất cả các trụ chung quanh hành lang đều phải có các thanh bằng bạc, móc trụ bằng bạc, và lỗ trụ bằng đồng.
Chiều dài của hành lang phải là bốn mươi bốn mét, rộng hai mươi hai mét, cao hai mét hai với các rèm bằng vải gai mịn và lỗ trụ bằng đồng.
Tất cả các dụng cụ dùng vào việc tế lễ trong Đền Tạm, các cây cọc của Đền Tạm và cây cọc của hành lang, đều phải làm bằng đồng.”
“Con hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên đem đến cho con dầu nguyên chất ép từ trái ô-liu để thắp đèn và giữ cho đèn được thắp sáng liên tục.
Trong Lều Hội Kiến, bên ngoài bức màn trước Hòm Chứng Ước, A-rôn và các con trai người sẽ gìn giữ cho ngọn đèn luôn sáng trước mặt Đức Giê-hô-va từ tối cho đến sáng. Đây sẽ là một luật đời đời cho các thế hệ con dân Y-sơ-ra-ên.”
“Từ trong dân Y-sơ-ra-ên, con hãy chọn A-rôn, anh con, và các con trai người là Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa, và Y-tha-ma, phong làm chức tế lễ cho Ta.
Con hãy may lễ phục thánh thật trang trọng và vinh dự cho A-rôn, anh con.
Hãy truyền cho tất cả những người có tài năng, những người mà Ta đã ban năng khiếu đặc biệt, may lễ phục cho A-rôn, để cung hiến người vào chức vụ tế lễ cho Ta.
Đây là bộ lễ phục mà họ phải may: Bảng đeo ngực, ê-phót, áo dài, áo lót có thêu, mũ và thắt lưng. Vậy, họ sẽ may lễ phục thánh cho A-rôn và các con trai người để những người nầy thi hành chức vụ tế lễ cho Ta.
Họ sẽ dùng vải gai mịn, dây kim tuyến, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm mà làm.”
“Họ sẽ may ê-phót một cách mỹ thuật với sợi gai mịn, dây kim tuyến, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm.
Có hai cầu vai gắn vào hai bên ê-phót; như vậy ê-phót dính liền nhau.
Đai thắt trên ê-phót cũng được may cùng một cách và chất liệu như ê-phót, tức là sợi gai mịn, sợi kim tuyến, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm.
Con cũng lấy hai viên ngọc mã não và khắc lên đó tên các con trai Y-sơ-ra-ên:
sáu tên trên viên ngọc nầy, sáu tên trên viên ngọc kia, theo thứ tự ngày sinh của họ.
Phải khắc tên các con trai Y-sơ-ra-ên trên hai viên ngọc đó theo cách của thợ khắc con dấu, rồi khảm trong khuôn khảm bằng vàng.
Con sẽ gắn hai viên ngọc đó trên hai cầu vai ê-phót, như là những viên ngọc kỷ niệm về các con trai Y-sơ-ra-ên. A-rôn sẽ mang tên của họ trên hai vai mình trước mặt Đức Giê-hô-va như một kỷ niệm.
Con cũng hãy làm khuôn khảm bằng vàng
và hai dây chuyền bằng vàng ròng xoắn như dây thừng, rồi gắn hai dây chuyền đó vào khuôn khảm.”
“Con cũng phải làm một bảng đeo ngực về sự phán xét thật mỹ thuật. Con phải làm theo cách đã làm ê-phót, tức là với sợi gai mịn, dây kim tuyến, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm.
Bảng đeo ngực có hình vuông và may hai lớp, dài một gang tay, rộng một gang tay.
Con hãy đính vào bảng đeo ngực bốn hàng ngọc: hàng thứ nhất là ngọc mã não, ngọc hồng bích, và ngọc lục bửu;
hàng thứ nhì là ngọc phỉ túy, ngọc lam bửu và ngọc kim cương;
hàng thứ ba là ngọc hồng bửu, ngọc bạch mã não, và ngọc tử tinh,
hàng thứ tư là ngọc hoàng bích, ngọc hồng mã não, và bích ngọc. Các viên ngọc nầy phải được khảm vào khuôn bằng vàng.
Tổng số ngọc đó là mười hai viên, tương ứng với tên các con trai Y-sơ-ra-ên; trên mỗi viên ngọc sẽ khắc tên của một trong mười hai bộ tộc Y-sơ-ra-ên, như người ta khắc con dấu vậy.
Con hãy làm cho bảng đeo ngực các dây chuyền bằng vàng ròng xoắn như dây thừng,
làm hai khoen bằng vàng và đính hai khoen ấy vào hai góc trên của bảng đeo ngực.
Con hãy xâu hai dây chuyền vàng vào hai khoen ở góc trên của bảng đeo ngực,
còn đầu kia của hai dây chuyền thì gắn vào khuôn khảm, và gắn vào phía trước cầu vai của ê-phót.
Con cũng làm hai khoen bằng vàng khác và gắn chúng vào hai góc dưới của bảng đeo ngực, phía trong ê-phót.
Con lại làm hai khoen bằng vàng khác gắn trước phần phía dưới của hai cầu vai ê-phót, ngay chỗ mối giáp phía trên đai thắt của ê-phót.
Rồi người ta sẽ dùng một sợi dây màu xanh buộc các khoen của bảng đeo ngực với các khoen ê-phót; như thế bảng đeo ngực dính với đai thắt, không bị rời khỏi ê-phót.
Như vậy, khi vào Nơi Thánh A-rôn sẽ mang trên ngực tên các con trai Y-sơ-ra-ên nơi bảng đeo ngực về sự phán xét, như một kỷ niệm thường xuyên trước mặt Đức Giê-hô-va.
Con hãy gắn U-rim và Thu-mim trên bảng đeo ngực về sự phán xét, để chúng sẽ ở trên ngực A-rôn khi ông đến trước mặt Đức Giê-hô-va. Vì vậy, trước mặt Đức Giê-hô-va, A-rôn sẽ thường xuyên mang sự phán xét các con trai Y-sơ-ra-ên trên lòng mình.”
“Con cũng hãy may áo dài của ê-phót toàn bằng vải xanh.
Giữa áo phải khoét một lỗ tròng đầu, có viền chung quanh, như cổ áo giáp để khỏi bị tưa.
Trên lai áo hãy thắt những trái lựu màu xanh, đỏ tía, đỏ thắm, với các chuông vàng nhỏ đính vòng theo lai áo,
cứ một cái chuông vàng thì xen kẽ một trái lựu và vòng hết cả lai áo.
A-rôn sẽ mặc áo đó mỗi khi hành lễ; khi đi vào hay ra Nơi Thánh trước mặt Đức Giê-hô-va, tiếng chuông vàng sẽ khua lên; nhờ vậy A-rôn khỏi phải chết.
Con cũng hãy làm một thẻ bằng vàng ròng và khắc trên đó, như cách người ta khắc con dấu, những chữ: ‘THÁNH CHO ĐỨC GIÊ-HÔ-VA.’
Con buộc thẻ đó trên mũ bằng một sợi dây màu xanh ở phía trước mũ.
Thẻ đó sẽ ở trên trán A-rôn và A-rôn sẽ gánh lấy bất cứ tội lỗi nào liên quan đến lễ vật thánh mà con dân Y-sơ-ra-ên đã cung hiến. Thẻ sẽ luôn ở trên trán A-rôn, để dân chúng được chấp nhận trước mặt Đức Giê-hô-va.
Con hãy đan một áo lót bằng vải gai mịn, một cái mũ cũng bằng vải gai mịn và một thắt lưng thêu.
Con cũng hãy đan cho các con trai A-rôn áo lót, thắt lưng và mũ; con hãy làm cho họ được trang trọng và vinh dự.
Con hãy lấy các bộ lễ phục đó mặc cho A-rôn, anh con, và các con trai người. Hãy xức dầu cho họ, phong chức và cung hiến họ để họ thi hành chức vụ tế lễ cho Ta.
Hãy may cho họ quần lót bằng vải gai, để che kín từ ngang lưng đến bắp đùi.
A-rôn và các con trai người sẽ mặc quần đó mỗi khi vào Lều Hội Kiến hay đến gần bàn thờ để phục vụ trong Nơi Thánh; nếu không họ sẽ mắc tội và phải chết. Ấy là một luật đời đời cho A-rôn và dòng dõi người.”
“Đây là việc con phải làm khi cung hiến A-rôn và các con trai người để họ thi hành chức vụ tế lễ cho Ta. Hãy bắt một con bò tơ đực và hai con chiên đực không tì vết,
dùng bột mì mịn làm bánh mì không men, bánh ngọt không men pha dầu, và bánh xốp không men pha dầu.
Con hãy đặt những thứ bánh đó trong một cái giỏ rồi dâng giỏ bánh cùng với bò tơ đực và hai chiên đực.
Con sẽ đưa A-rôn và các con trai người đến cửa Lều Hội Kiến rồi lấy nước tẩy rửa họ.
Sau đó, lấy lễ phục mặc cho A-rôn tức là: áo lót, áo dài của ê-phót, ê-phót, và bảng đeo ngực; rồi thắt đai ê-phót cho người;
đội mũ lên đầu và đặt thẻ thánh trên mũ;
lấy dầu xức đổ trên đầu và xức cho người.
Con cũng đưa các con trai A-rôn đến gần và mặc áo lót cho họ
rồi thắt lưng và đội mũ cho A-rôn và các con trai người. Chức vụ tế lễ sẽ thuộc về họ bằng một luật đời đời. Như vậy con đã phong chức cho A-rôn và các con trai người.
Con hãy dẫn con bò tơ đực đến trước Lều Hội Kiến. A-rôn và các con trai người sẽ đặt tay trên đầu con bò
và con hãy giết con bò đực trước mặt Đức Giê-hô-va, tại cửa Lều Hội Kiến,
rồi lấy máu con bò, dùng ngón tay bôi lên các sừng của bàn thờ và đổ phần máu còn lại dưới chân bàn thờ.
Con cũng hãy lấy tất cả lớp mỡ bọc ngoài bộ lòng, các phần phụ của gan, hai quả thận và mỡ trên đó, mà đốt trên bàn thờ.
Nhưng thịt, da, và phẩn của con bò đực đó thì hãy thiêu bên ngoài trại quân. Đó là một tế lễ chuộc tội.
Con cũng dắt một trong hai con chiên đực đến để A-rôn và các con trai người sẽ đặt tay trên đầu nó;
rồi con hãy giết chiên đực đó, lấy máu mà rảy khắp mọi phía của bàn thờ.
Tiếp đó, con hãy cắt con chiên ra từng miếng, rửa sạch bộ lòng và giò, để chung với các miếng thịt và đầu nó;
rồi thiêu toàn bộ con chiên đực trên bàn thờ. Đó là một tế lễ thiêu dâng lên Đức Giê-hô-va, tức là một tế lễ dùng lửa dâng hương thơm làm vừa lòng Đức Giê-hô-va.
Con cũng dắt con chiên đực thứ hai đến để A-rôn và các con trai người đặt tay trên đầu nó;
rồi con giết chiên đực đó, lấy máu bôi lên trái tai bên phải của A-rôn và các con trai người, bôi lên ngón cái bàn tay phải và ngón cái bàn chân phải của họ, và lấy máu còn lại rảy khắp mọi phía của bàn thờ.
Con cũng lấy một ít máu trên bàn thờ và ít dầu xức mà rảy trên mình A-rôn và lễ phục của người cũng như trên mình và trên lễ phục của các con trai người. Như vậy, A-rôn cùng các lễ phục mình, các con trai người cùng các lễ phục của họ đều sẽ được thánh hóa.
Vì đó là chiên đực dùng vào lễ tấn phong nên con hãy lấy mỡ, đuôi, lớp mỡ bọc ngoài bộ lòng, các phần phụ của gan, hai quả thận cùng lớp mỡ trên đó, và đùi phải;
và cũng lấy một ổ bánh mì, một cái bánh ngọt pha dầu, và một bánh xốp từ trong giỏ bánh không men ở trước mặt Đức Giê-hô-va;
rồi con đặt tất cả các món đó vào lòng bàn tay A-rôn và lòng bàn tay của các con trai người và con cử hành việc dâng tế lễ đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va.
Sau đó, con hãy lấy lại các thứ ấy từ tay họ và thiêu trên bàn thờ cùng với tế lễ thiêu dâng lên Đức Giê-hô-va. Đó là một tế lễ dùng lửa dâng hương thơm làm vừa lòng Đức Giê-hô-va.
Con cũng lấy cái ức chiên đực dùng trong lễ tấn phong A-rôn và dâng lên như một tế lễ đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va; đó sẽ là phần của con.
Vậy, con phải cung hiến cái ức và đùi của chiên đực như một tế lễ đưa qua đưa lại trong lễ tấn phong A-rôn và các con trai người.
Những lễ vật từ con dân Y-sơ-ra-ên dâng thì sẽ thuộc về A-rôn và các con trai người theo luật đời đời, vì đây là phần lấy từ sinh tế trong tế lễ bình an mà con dân Y-sơ-ra-ên dâng lên Đức Giê-hô-va.
Những lễ phục thánh của A-rôn sẽ được chuyển sang các con trai nối nghiệp người để họ mặc khi được xức dầu và phong chức.
Người con trai được thay thế A-rôn để làm thầy tế lễ sẽ mặc lễ phục đó trong bảy ngày khi đến Lều Hội Kiến để phục vụ trong Nơi Thánh.
Con hãy bắt con chiên đực dùng trong lễ phong chức mà nấu thịt nó trong một chỗ thánh.
A-rôn và các con trai người sẽ ăn thịt chiên đực đó với bánh trong giỏ, tại cửa Lều Hội Kiến.
Như vậy, họ sẽ ăn các lễ vật chuộc tội đó để được tấn phong và thánh hóa. Nhưng người ngoài không được ăn vì là thức ăn thánh.
Nếu thịt hoặc bánh tế lễ tấn phong còn dư lại đến sáng hôm sau, con phải thiêu trong lửa, không được ăn vì là thức ăn thánh.
Vậy con hãy làm cho A-rôn và các con trai người đúng như mọi điều Ta đã truyền cho con, và con sẽ phong chức cho họ trong bảy ngày.
Mỗi ngày con hãy dâng một bò tơ đực để làm tế lễ chuộc tội. Con cũng dâng một tế lễ chuộc tội cho bàn thờ cũng như phải xức dầu và thánh hóa bàn thờ.
Trong bảy ngày, con hãy làm lễ chuộc tội và thanh tẩy bàn thờ. Như vậy bàn thờ sẽ trở nên rất thánh, bất cứ vật gì chạm đến bàn thờ đều sẽ trở nên thánh.”
“Đây là những gì con phải dâng đều đặn trên bàn thờ: mỗi ngày con hãy dâng hai chiên con một tuổi:
một con vào buổi sáng và một con vào chiều tối.
Với con chiên thứ nhất, con hãy trộn khoảng một ký bột mì mịn với khoảng một lít dầu ép, và một lít rượu nho cho lễ quán.
Về con chiên thứ nhì, con hãy dâng vào chiều tối với một tế lễ chay và một lễ quán giống như tế lễ buổi sáng. Đó là một tế lễ dùng lửa dâng hương thơm làm vừa lòng Đức Giê-hô-va.
Tế lễ thiêu phải được dâng liên tục qua mọi thế hệ, tại cửa Lều Hội Kiến trước mặt Đức Giê-hô-va, là nơi Ta sẽ gặp gỡ các con và phán dạy con.
Ta sẽ gặp gỡ con dân Y-sơ-ra-ên tại đó; nơi nầy sẽ được thánh hóa bởi vinh quang của Ta.
Ta sẽ thánh hóa Lều Hội Kiến và bàn thờ cũng như thánh hóa A-rôn và các con trai người để họ thi hành chức vụ tế lễ cho Ta.
Ta sẽ ngự giữa con dân Y-sơ-ra-ên và làm Đức Chúa Trời của họ.
Họ sẽ biết Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ, đã đem họ ra khỏi đất Ai Cập để ngự giữa họ. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ.”
“Con cũng hãy đóng một bàn thờ bằng gỗ si-tim để xông hương.
Mặt bàn vuông, mỗi cạnh bốn mươi bốn cen-ti-mét, chiều cao của bàn thờ khoảng tám mươi tám cen-ti-mét. Các sừng được gắn liền với bàn thờ.
Con cũng bọc mặt bàn thờ, bốn cạnh chung quanh và các sừng bằng vàng ròng; chung quanh bàn chạy một đường viền vàng.
Dưới đường viền đó, con gắn hai khoen bằng vàng ở hai bên bàn thờ để xỏ đòn khiêng.
Hãy làm các đòn bằng gỗ si-tim bọc vàng.
Con hãy đặt bàn thờ đó trước bức màn che Hòm Chứng Ước, đối diện với nắp thi ân ở trên Chứng Ước, nơi Ta sẽ gặp con.
Mỗi buổi sáng, khi sửa soạn đèn, A-rôn sẽ đốt hương thơm trên bàn thờ.
Vào buổi tối, khi thắp đèn, A-rôn cũng sẽ đốt hương thơm; đó là một thứ hương phải thường xuyên dâng lên trước mặt Đức Giê-hô-va qua mọi thế hệ.
Trên bàn thờ nầy, các con không được xông thứ hương nào khác hoặc dâng tế lễ thiêu, tế lễ chay hay là lễ quán nào cả.
Mỗi năm một lần, A-rôn sẽ cử hành lễ chuộc tội trên các sừng bàn thờ. Qua mọi thế hệ, máu của sinh tế chuộc tội phải được dùng trong lễ chuộc tội hằng năm. Đây là một lễ rất thánh cho Đức Giê-hô-va.”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Khi con kiểm tra dân số Y-sơ-ra-ên, mỗi người dân đều phải nộp tiền chuộc mạng sống mình cho Đức Giê-hô-va để không ai mắc tai ương gì trong khi kiểm tra dân số.
Đây là thuế mà mỗi người được kiểm tra phải nộp: khoảng sáu gam theo đơn vị đo lường của Nơi Thánh (tức là mỗi siếc-lơ cân nặng mười hai gam); sáu gam nầy là lễ vật dâng lên Đức Giê-hô-va.
Những ai thuộc diện kiểm tra dân số, từ hai mươi tuổi trở lên, đều phải dâng lễ vật nầy lên Đức Giê-hô-va.
Khi dâng lễ vật nầy lên Đức Giê-hô-va để chuộc mạng sống mình, người giàu cũng như người nghèo không ai được nộp nhiều hơn hay ít hơn sáu gam.
Vậy con thu tiền chuộc mạng sống của con dân Y-sơ-ra-ên và dùng tiền đó vào công việc của Lều Hội Kiến. Đây sẽ là một kỷ niệm cho dân Y-sơ-ra-ên trước mặt Đức Giê-hô-va để chuộc mạng sống mình.”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
“Con hãy làm một cái bồn bằng đồng để rửa; các chân bồn cũng bằng đồng. Con hãy đặt bồn đó ở giữa khoảng Lều Hội Kiến và bàn thờ rồi đổ nước vào.
A-rôn và các con trai người sẽ dùng nước đó rửa tay chân.
Khi vào Lều Hội Kiến hay khi đến gần bàn thờ để hành lễ như dâng tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va, họ sẽ lấy nước đó tẩy rửa mình để khỏi phải chết.
Họ phải rửa tay chân, nếu không, họ sẽ phải chết. Đó là một luật đời đời cho A-rôn và dòng dõi người qua mọi thế hệ.”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
“Con hãy thu thập các hương liệu tốt nhất gồm: sáu ký mộc dược nước, hương nhục quế bằng nửa số đó, tức ba ký, và ba ký hương xương bồ;
sáu ký quế bì, đều theo đơn vị đo lường của Nơi Thánh, và bốn lít dầu ô-liu.
Con hãy dùng các hương liệu đó, pha chế theo nghệ thuật hòa hương thành một thứ dầu thánh. Đó là dầu xức thánh.
Rồi con lấy dầu đó xức cho Lều Hội Kiến và Hòm Chứng Ước,
bàn thờ và các dụng cụ, chân đèn và các dụng cụ, bàn thờ xông hương,
bàn thờ tế lễ thiêu và các dụng cụ, bồn rửa và chân bồn.
Con sẽ giữ các vật nầy trong sự thánh khiết để chúng trở nên rất thánh; bất cứ vật gì chạm đến đều sẽ được thánh.
Con cũng hãy xức dầu cho A-rôn và các con trai người, cung hiến họ để họ phục vụ Ta trong chức tế lễ.
Con cũng hãy nói với con dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Với Ta, đây là dầu xức thánh qua mọi thế hệ.
Không được đổ dầu nầy trên xác thịt loài người và cũng không được pha chế một thứ dầu nào khác theo công thức nầy. Dầu nầy là thánh và cũng sẽ thánh đối với các con.
Bất cứ ai pha chế một thứ dầu giống như vậy hoặc đem dầu ấy xức cho người ngoài đều sẽ bị loại trừ khỏi dân chúng.’”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se: “Hãy dùng các hương liệu như tô hiệp hương, loa yểm hương, phong chi hương và thanh nhũ hương với cân lượng bằng nhau;
theo nghệ thuật hòa hương, pha chế thành một thứ hương đốt có vị mặn, thuần chất và thánh khiết.
Con lấy một ít và nghiền thành bột rồi để một phần trước Hòm Chứng Ước trong Lều Hội Kiến, tức là nơi Ta sẽ gặp con. Hương nầy sẽ trở nên rất thánh đối với các con.
Không được chế hương theo công thức nầy để dùng cho mình; phải xem đây là vật thánh cho Đức Giê-hô-va.
Kẻ nào pha chế giống như vậy để ngửi, sẽ bị loại trừ khỏi dân chúng.”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
“Nầy, Ta đã gọi đích danh Bết-sa-lê-ên, con trai của U-ri, cháu của Hu-rơ, thuộc bộ tộc Giu-đa.
Ta đã cho người đầy dẫy Thần của Đức Chúa Trời cùng với sự khéo tay, thông minh và hiểu biết trong lãnh vực thủ công mỹ nghệ
để thiết kế và chế tạo các vật bằng vàng, bạc và đồng;
khắc đá khảm ngọc, chạm gỗ thuộc lãnh vực thủ công mỹ nghệ.
Nầy, Ta đã chọn cho người một phụ tá tên là Ô-hô-li-áp, con trai của A-hi-sa-mạc, thuộc bộ tộc Đan. Ta cũng đã ban sự khôn ngoan cho những người khéo tay để họ có thể làm được mọi việc Ta đã truyền dạy con,
như làm Lều Hội Kiến, Hòm Chứng Ước, nắp thi ân ở trên Hòm Chứng Ước và các vật dụng khác trong Lều Hội Kiến;
bàn thờ và các dụng cụ, chân đèn bằng vàng ròng và các dụng cụ, bàn thờ xông hương,
bàn thờ dâng tế lễ thiêu và các dụng cụ, bồn rửa và chân bồn,
lễ phục bằng hàng dệt, lễ phục thánh cho thầy tế lễ A-rôn và lễ phục cho các con trai người để thi hành chức vụ tế lễ,
dầu xức và hương thơm cho Nơi Thánh. Họ phải làm đúng theo tất cả những gì Ta đã truyền dạy con.”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Con hãy nói với con dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Các con phải tuyệt đối giữ ngày sa-bát của Ta vì đây là một dấu hiệu giữa Ta và các con qua mọi thế hệ, để các con biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng thánh hóa các con.
Vậy, các con phải giữ ngày sa-bát vì đó là ngày thánh đối với các con. Kẻ nào xúc phạm đến ngày đó, phải bị tử hình; kẻ nào làm bất cứ việc gì trong ngày đó sẽ bị loại trừ khỏi dân chúng.
Người ta sẽ làm việc trong sáu ngày; ngày thứ bảy là ngày sa-bát, tức là ngày yên nghỉ và ngày thánh cho Đức Giê-hô-va. Ai làm bất cứ việc gì trong ngày sa-bát đều sẽ bị tử hình.
Vì vậy, con dân Y-sơ-ra-ên phải tuân giữ ngày sa-bát qua mọi thế hệ như một giao ước đời đời.
Đó là một dấu hiệu đời đời giữa Ta và con dân Y-sơ-ra-ên vì Đức Giê-hô-va đã dựng nên trời và đất trong sáu ngày, sang ngày thứ bảy Ngài ngưng công việc và nghỉ ngơi.’”
Sau khi đã phán với Môi-se tại núi Si-na-i, Đức Giê-hô-va trao cho ông hai Bảng Chứng Ước bằng đá do chính ngón tay Đức Chúa Trời viết ra.
Khi thấy Môi-se ở trên núi mãi chưa xuống, dân chúng tụ họp chung quanh A-rôn và nói: “Nào! Ông hãy làm cho chúng tôi những vị thần đi trước chúng tôi, vì chúng tôi không biết việc gì đã xảy đến cho ông Môi-se, người đã dẫn chúng tôi ra khỏi đất Ai Cập.”
A-rôn bảo họ: “Hãy lột những vòng vàng đeo trên tai vợ, con trai và con gái anh em, rồi đem đến cho tôi.”
Tất cả dân chúng đều lột vòng vàng trên tai mình và đem đến cho A-rôn.
Ông nhận vàng từ tay họ, dùng dụng cụ làm khuôn rồi đúc thành một bò con. Dân chúng nói: “Hỡi Y-sơ-ra-ên! Đây là thần của ngươi, thần đã đem ngươi ra khỏi đất Ai Cập.”
Thấy vậy, A-rôn lập một bàn thờ trước mặt tượng bò con đó rồi tuyên bố rằng: “Ngày mai sẽ là ngày lễ cho Đức Giê-hô-va!”
Sáng hôm sau dân chúng thức dậy sớm, dâng các tế lễ thiêu và tế lễ bình an. Họ ngồi xuống ăn uống, rồi đứng dậy đùa bỡn.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy xuống đi, vì dân mà con đưa ra khỏi đất Ai Cập đã hư hỏng rồi.
Chúng đã vội rời bỏ đường lối mà Ta truyền dạy, đúc cho mình một tượng bò con, thờ lạy tượng đó, dâng tế lễ cho nó và nói: ‘Hỡi Y-sơ-ra-ên! Đây là thần đã dẫn ngươi ra khỏi đất Ai Cập!’”
Đức Giê-hô-va cũng phán với Môi-se: “Ta đã nhìn thấy dân nầy, thật là một dân cứng cổ.
Vậy bây giờ hãy để mặc Ta, để cơn thịnh nộ Ta nổi lên và tiêu diệt chúng. Nhưng Ta sẽ làm cho con thành một dân lớn.”
Môi-se kêu cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của mình rằng: “Lạy Đức Giê-hô-va, tại sao cơn thịnh nộ Ngài lại nổi lên với dân Ngài, là dân mà Ngài đã dùng quyền uy lớn lao và cánh tay mạnh mẽ đem ra khỏi đất Ai Cập?
Tại sao lại để cho người Ai Cập nói: ‘Ngài cố ý đem họ ra khỏi đây để giết chết họ trong núi, và tiêu diệt họ khỏi mặt đất’? Cầu xin Chúa nguôi giận và từ bỏ ý định giáng họa cho dân Ngài.
Xin Chúa nhớ lại Áp-ra-ham, Y-sác và Y-sơ-ra-ên, là các đầy tớ Ngài, mà Ngài đã lấy chính mình ra và thề với họ rằng: ‘Ta sẽ làm cho dòng dõi các con đông như sao trên trời. Ta sẽ ban cho dòng dõi các con cả vùng đất nầy, là đất mà Ta đã phán hứa, và chúng sẽ thừa hưởng đất ấy đời đời.’”
Đức Giê-hô-va đổi ý không giáng tai họa mà Ngài định giáng xuống trên dân Ngài.
Môi-se từ trên núi đi xuống, tay cầm hai Bảng Chứng Ước. Các Bảng Chứng Ước được viết trên cả hai mặt, mặt trước và mặt sau.
Hai Bảng đó do Đức Chúa Trời làm ra, chữ là chữ của Đức Chúa Trời khắc trên các bảng đá.
Khi Giô-suê nghe tiếng dân chúng la lên, thì nói với Môi-se: “Trong trại quân có tiếng giao chiến.”
Nhưng Môi-se nói: “Đây không phải là tiếng reo hò chiến thắng, Cũng chẳng phải là tiếng kêu van thất trận; Nhưng ta nghe tiếng ca hát.”
Khi đến gần trại quân, thấy tượng bò con và cảnh nhảy múa, Môi-se nổi giận, ném hai Bảng Chứng Ước khỏi tay mình, vỡ nát dưới chân núi.
Ông lấy tượng bò con mà chúng đã đúc đem đốt trong lửa, nghiền thành bột, rồi rải trên mặt nước và bắt con dân Y-sơ-ra-ên uống.
Môi-se nói với A-rôn: “Dân nầy đã làm gì anh mà anh đẩy họ vào một tội lỗi nặng nề như vậy?”
A-rôn đáp: “Xin chúa tôi đừng nổi giận, chúa biết dân nầy là dân chuyên làm điều ác!
Họ đã nói với tôi: ‘Ông hãy làm cho chúng tôi những vị thần đi trước chúng tôi, vì chúng tôi chẳng biết việc gì đã xảy đến cho ông Môi-se, người đã dẫn chúng tôi ra khỏi xứ Ai Cập,’
Tôi nói với họ rằng: ‘Ai có vàng hãy lột ra!’ Họ đưa cho tôi, tôi ném vào lửa và thành ra bò con nầy.”
Khi Môi-se thấy dân chúng buông tuồng, vì A-rôn đã để họ buông tuồng, đến nỗi thành trò cười trước mặt kẻ thù,
thì ông đứng tại cổng trại quân và nói: “Ai thuộc về Đức Giê-hô-va, hãy đến với ta!” Tất cả các con trai Lê-vi đều tụ họp quanh ông.
Ông nói với họ: “Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đã truyền rằng mỗi người trong anh em hãy đeo gươm bên mình, đi qua đi lại khắp trại quân, từ cửa nầy đến cửa kia, và mỗi người hãy giết anh em, bạn hữu, và kẻ lân cận mình.”
Các con trai Lê-vi làm đúng theo lời Môi-se; trong ngày đó có khoảng ba nghìn người trong dân chúng bị giết chết.
Môi-se nói: “Hôm nay chính anh em đã tự cung hiến cho Đức Giê-hô-va con trai hay anh em mình, nên ngày nay Ngài ban phước cho anh em.”
Ngày hôm sau, Môi-se nói với dân chúng: “Anh em đã phạm một trọng tội. Nhưng bây giờ ta sẽ lên gặp Đức Giê-hô-va, có lẽ ta sẽ chuộc được tội cho anh em.”
Vậy Môi-se trở lên gặp Đức Giê-hô-va và thưa với Ngài rằng: “Ôi! Dân nầy đã phạm một trọng tội, họ đã làm cho mình tượng thần bằng vàng.
Nhưng bây giờ xin Chúa tha tội cho họ! Nếu không, xin Ngài xóa tên con khỏi sách Ngài đã viết.”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Kẻ nào phạm tội chống lại Ta, Ta sẽ xóa người ấy khỏi sách Ta.
Nhưng bây giờ, hãy đi, dẫn dân chúng đến nơi Ta đã chỉ cho con. Nầy, thiên sứ của Ta sẽ đi trước con. Tuy nhiên, đến ngày trừng phạt, Ta sẽ trừng phạt tội lỗi của chúng.”
Đức Giê-hô-va giáng tai họa trên dân chúng vì họ làm tượng bò con bằng vàng mà A-rôn đã đúc ra.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Con và dân chúng mà con đã dẫn ra khỏi đất Ai Cập hãy rời khỏi nơi nầy và đi lên đất mà Ta đã thề với Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp, rằng: ‘Ta sẽ ban đất nầy cho dòng dõi con.’
Ta sẽ sai một thiên sứ đi trước con, và sẽ đuổi dân Ca-na-an, dân A-mô-rít, dân Hê-tít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít và dân Giê-bu-sít,
để đưa các con vào một vùng đất đượm sữa và mật; nhưng Ta sẽ không cùng lên với các con đâu, vì các con là một dân tộc cứng cổ, e rằng Ta sẽ tiêu diệt các con dọc đường chăng.”
Khi dân chúng nghe những lời chẳng lành nầy thì than khóc, không một ai đeo đồ trang sức cả.
Vì Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se: “Hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên: ‘Các con là một dân tộc cứng cổ, nếu Ta cùng lên với các con dù chỉ trong một lúc, thì Ta sẽ tiêu diệt các con! Vậy, bây giờ, hãy lột bỏ trang sức đi, rồi Ta xem sẽ phải làm gì với các con.’”
Thế nên, từ núi Hô-rếp trở đi, dân Y-sơ-ra-ên lột bỏ các đồ trang sức.
Bấy giờ, Môi-se đem lều ra dựng ở bên ngoài trại quân và gọi đó là Lều Hội Kiến. Ai muốn cầu khẩn Đức Giê-hô-va thì đến Lều Hội Kiến, ở bên ngoài trại quân.
Mỗi khi Môi-se ra đến Lều thì toàn dân đứng dậy; mỗi người đứng tại cửa trại mình, nhìn theo Môi-se cho đến khi ông vào hẳn trong Lều.
Ngay khi Môi-se vào trong Lều thì trụ mây giáng xuống, dừng tại cửa Lều; Đức Giê-hô-va nói chuyện với Môi-se.
Khi thấy trụ mây dừng tại cửa Lều, toàn thể dân chúng đều đứng dậy, rồi mỗi người phủ phục tại cửa trại mình.
Đức Giê-hô-va nói chuyện với Môi-se mặt đối mặt như một người nói chuyện với bạn mình. Rồi Môi-se trở về trại quân, nhưng người phụ tá trẻ của ông là Giô-suê, con trai của Nun, không ra khỏi Lều.
Môi-se thưa với Đức Giê-hô-va: “Thưa Chúa, Ngài đã phán với con rằng: ‘Hãy dẫn dân nầy lên’ nhưng Ngài lại không cho con biết Ngài sẽ sai ai đi với con, dù Ngài có phán: ‘Ta biết đích danh con, và con đã được ơn trước mặt Ta.’
Vậy bây giờ, nếu con được ơn trước mặt Ngài, xin tỏ cho con biết đường lối của Ngài để con biết Ngài và được ơn trước mặt Ngài. Xin cũng nghĩ đến dân tộc nầy là dân của Ngài!”
Đức Giê-hô-va phán: “Chính Ta sẽ đi với con, và Ta sẽ cho con được an nghỉ.”
Môi-se thưa: “Nếu chính Ngài không cùng đi, xin đừng đem chúng con lên khỏi đây.
Nếu Ngài không cùng đi với chúng con thì làm sao người ta biết được rằng con và dân của Ngài được ơn trước mặt Ngài? Có Ngài đi cùng thì con và dân của Ngài sẽ được phân biệt với muôn dân trên mặt đất.”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Ta sẽ làm điều con cầu xin Ta vì con được ơn trước mặt Ta, và Ta biết đích danh con.”
Môi-se thưa: “Xin cho con được chiêm ngưỡng vinh quang của Ngài!”
Đức Giê-hô-va phán: “Ta sẽ thể hiện sự toàn hảo của Ta trước mặt con; Ta sẽ công bố danh Giê-hô-va trước mặt con; Ta sẽ làm ơn cho ai Ta muốn làm ơn và thương xót ai Ta muốn thương xót.”
Ngài phán: “Nhưng con không thể thấy mặt Ta, vì không ai thấy mặt Ta mà còn sống.”
Đức Giê-hô-va lại phán: “Nầy, có một chỗ gần Ta, con hãy đứng trên tảng đá.
Khi vinh quang Ta đi ngang qua, Ta sẽ để con trong kẽ đá và lấy bàn tay Ta che con cho đến khi đi qua rồi
Ta mới rút tay lại. Con sẽ thấy phía sau Ta, nhưng không được thấy mặt Ta.”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy đẽo hai bảng đá như hai bảng trước, rồi Ta sẽ viết trên hai bảng nầy những lời đã có trên hai bảng mà con đã làm vỡ.
Sáng mai, hãy chuẩn bị sẵn sàng. Vừa sáng, hãy lên núi Si-na-i và đứng trước mặt Ta tại đỉnh núi đó.
Không một ai được lên cùng con, không người nào được lảng vảng trên núi; ngay cả chiên, bò cũng không được ăn cỏ phía trước núi nầy.”
Môi-se đẽo hai bảng đá giống hai bảng trước. Ông dậy sớm, tay mang hai bảng đá lên núi Si-na-i, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy.
Đức Giê-hô-va ngự xuống trong đám mây, đứng bên Môi-se và xưng danh Ngài là Giê-hô-va.
Đức Giê-hô-va đi qua trước mặt ông và tuyên bố: “Giê-hô-va! Giê-hô-va! Là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, Chậm giận, Dư dật ân huệ và thành thực,
Giữ lòng yêu thương đến nghìn đời, Tha thứ điều gian ác, sự vi phạm và tội lỗi; Nhưng không kể kẻ có tội là vô tội, Mà nhân tội tổ phụ phạt con cháu đến ba bốn đời.”
Môi-se vội vàng cúi đầu xuống đất và thờ phượng.
Ông thưa: “Lạy Chúa! Nếu con được ơn trước mặt Chúa, xin Chúa cùng đi với chúng con. Dù đây là một dân tộc cứng cổ, xin Chúa tha sự gian ác và tội lỗi của chúng con và nhận chúng con làm cơ nghiệp Ngài.”
Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, Ta lập một giao ước. Trước mặt toàn thể dân chúng của con, Ta sẽ làm những việc kỳ diệu, những việc chưa bao giờ được thực hiện trên khắp trái đất hay giữa một quốc gia nào. Mọi dân tộc chung quanh con sẽ nhìn thấy công việc của Đức Giê-hô-va, vì việc Ta sắp làm với con là một điều đáng sợ.
Hãy cẩn trọng về điều Ta truyền cho con hôm nay. Nầy, Ta sẽ đuổi dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít khỏi trước mặt con.
Hãy cẩn trọng, đừng lập giao ước với dân cư sinh sống trong đất mà con sẽ vào, kẻo họ sẽ trở thành một cái bẫy cho con.
Nhưng các con phải phá hủy các bàn thờ, đập bể các trụ thờ và đánh hạ các thần chúng nó.
Đừng thờ lạy một thần nào khác vì Đức Giê-hô-va, danh Ngài là Đấng kỵ tà; Ngài thật là một Đức Chúa Trời kỵ tà.
Không được lập giao ước với dân bản xứ, kẻo khi chúng hành dâm với các tà thần và cúng tế các thần của chúng rồi mời các con và các con sẽ ăn của cúng thần tượng.
Cũng đừng cưới con gái chúng nó cho con trai các con, kẻo con gái chúng hành dâm với các tà thần rồi quyến dụ con trai các con cũng hành dâm với các tà thần của chúng.
Con không được đúc tượng thần.”
“Con phải giữ lễ Bánh Không Men. Như Ta đã truyền dạy, các con hãy ăn bánh không men trong bảy ngày vào thời gian đã được ấn định trong tháng A-bíp, vì trong tháng A-bíp các con đã ra khỏi Ai Cập.
Tất cả các con đầu lòng đều thuộc về Ta; tất cả các con đực trong bầy súc vật của các con, hoặc bò hoặc chiên đầu lòng, cũng vậy.
Con phải chuộc con lừa đầu lòng bằng một chiên con hay là dê con. Nếu không chuộc thì con hãy bẻ cổ nó. Phải chuộc tất cả các con trưởng nam mình. Không ai được đi tay không khi đến trình diện Ta.
Con hãy làm việc trong sáu ngày, nhưng vào ngày thứ bảy con phải nghỉ dù đang là mùa cày cấy hay mùa gặt con cũng phải nghỉ.
Con phải giữ lễ Các Tuần với sản vật đầu mùa gặt lúa mì, và lễ Thu Hoạch vào cuối năm.
Mỗi năm ba lần, tất cả nam giới đều phải trình diện Giê-hô-va Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Vì Ta sẽ đuổi các dân khỏi trước mặt con và mở rộng bờ cõi con; sẽ chẳng một ai tham muốn xứ sở của con khi con lên trình diện Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con mỗi năm ba lần.
Con không được dâng cho Ta máu sinh tế chung với bánh có men; cũng không được giữ sinh tế của lễ Vượt Qua đến sáng hôm sau.
Con phải dâng hoa quả đầu mùa tốt nhất của đất vào đền thờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con. Con chớ nấu dê con trong sữa mẹ nó.”
Đức Giê-hô-va cũng phán với Môi-se: “Hãy chép các lời nầy vì dựa trên các lời nầy mà Ta lập giao ước với con và với Y-sơ-ra-ên.”
Môi-se ở đó với Đức Giê-hô-va trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, không ăn bánh, cũng không uống nước. Đức Giê-hô-va chép trên hai bảng đá các lời giao ước, tức là Mười Điều Răn.
Khi mang trên tay hai Bảng Chứng Ước từ núi Si-na-i đi xuống, Môi-se không biết rằng da mặt mình rực sáng vì ông đã được hầu chuyện với Đức Giê-hô-va.
A-rôn cũng như tất cả con dân Y-sơ-ra-ên nhìn Môi-se, thấy da mặt ông sáng rực thì sợ và không dám lại gần.
Nhưng Môi-se gọi họ. A-rôn cùng tất cả các nhà lãnh đạo hội chúng đều quay lại; Môi-se nói chuyện với họ.
Sau đó, tất cả con dân Y-sơ-ra-ên đều đến gần; ông truyền cho họ các mệnh lệnh mà Đức Giê-hô-va đã phán với ông trên núi Si-na-i.
Khi đã ngưng nói chuyện với họ, Môi-se liền lấy lúp che mặt lại.
Nhưng mỗi khi Môi-se đến trước mặt Đức Giê-hô-va để hầu chuyện Ngài, thì ông giở lúp lên cho đến lúc đi ra ngoài và thuật lại với con dân Y-sơ-ra-ên những gì mà Ngài đã phán dặn mình.
Lúc ấy dân Y-sơ-ra-ên thấy gương mặt của Môi-se sáng rực nên ông phải lấy lúp che mặt lại cho đến khi vào hầu chuyện Đức Giê-hô-va.
Môi-se tập hợp toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên lại và nói: “Đây là những việc Đức Giê-hô-va đã truyền dạy anh em phải thi hành:
Người ta sẽ làm việc trong sáu ngày; nhưng anh em phải giữ thứ bảy làm ngày thánh, là ngày sa-bát tức là ngày yên nghỉ, dành cho Đức Giê-hô-va. Người nào làm bất cứ việc gì trong ngày đó đều sẽ bị tử hình.
Trong ngày sa-bát anh em không được đốt lửa tại những nơi mình cư ngụ.”
Môi-se nói với cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: “Đây là lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy:
Hãy lấy từ của cải mình có mà dâng cho Đức Giê-hô-va. Ai có nhiệt tâm hãy đem lễ vật dâng lên Đức Giê-hô-va như vàng, bạc, và đồng;
chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm, vải gai mịn, lông dê;
da chiên đực nhuộm đỏ, da cá nược; gỗ si-tim;
dầu thắp, các hương liệu để pha chế dầu xức và hương thơm,
bích ngọc và các thứ ngọc khác để khảm vào ê-phót và bảng đeo ngực.”
“Trong anh em ai là người khéo tay hãy đến làm tất cả những gì Đức Giê-hô-va đã truyền dạy:
lều và tấm bạt, móc, ván, thanh ngang, trụ và lỗ trụ;
Hòm Chứng Ước và các đòn khiêng; nắp thi ân và bức màn che;
cái bàn với các đòn khiêng và tất cả dụng cụ cùng bánh cung hiến;
chân đèn, đồ dụng cụ, đèn và dầu thắp đèn;
bàn thờ xông hương và các đòn khiêng; dầu xức, hương thơm, và bức màn cửa Đền Tạm;
bàn thờ dâng tế lễ thiêu và rá đồng; đòn khiêng và các dụng cụ của bàn thờ; bồn rửa và chân bồn;
các tấm rèm che hành lang, trụ, lỗ trụ, và bức màn của cửa hành lang;
các cọc của Đền Tạm, các cọc và dây của hành lang;
bộ lễ phục bằng hàng dệt để phục vụ trong Nơi Thánh; bộ lễ phục thánh cho thầy tế lễ A-rôn và lễ phục cho các con trai người để thi hành chức vụ tế lễ.”
Nghe xong, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đều rút lui khỏi Môi-se.
Những người được thúc giục trong lòng, và có tinh thần tự nguyện đều đã đến, đem lễ vật dâng lên Đức Giê-hô-va để dùng vào việc cất Đền Tạm, trang bị các vật dụng trong Đền và may các lễ phục thánh.
Vậy cả nam lẫn nữ, tất cả những ai có lòng tự nguyện đều đến. Họ đem trâm, bông tai, nhẫn, kiềng, các thứ trang sức bằng vàng và dâng lễ vật bằng vàng lên Đức Giê-hô-va.
Người nào có chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm, vải gai mịn, lông dê, da chiên đực nhuộm đỏ, và da cá nược cũng đã đem đến.
Ai có vật gì bằng bạc hay đồng đều có thể làm lễ vật dâng lên Đức Giê-hô-va; ai có gỗ si-tim dùng được vào việc gì đều đem đến.
Tất cả những phụ nữ khéo tay đều đem đến những thứ mà tự mình đã kéo như vải gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm.
Còn những phụ nữ được thúc giục và có năng khiếu thì kéo chỉ lông dê.
Các nhà lãnh đạo thì đem bích ngọc và các thứ ngọc khác để khảm vào ê-phót và bảng đeo ngực.
Họ cũng đem dầu thắp đèn, các hương liệu để pha chế dầu xức và hương thơm.
Tất cả con dân Y-sơ-ra-ên, cả nam lẫn nữ, ai được thúc giục muốn dâng bất cứ thứ gì vào các công việc mà Đức Giê-hô-va đã truyền phán qua Môi-se, đều đã tự nguyện đem dâng lên Đức Giê-hô-va.
Môi-se nói với con dân Y-sơ-ra-ên: “Nầy, Đức Giê-hô-va đã gọi đích danh Bết-sa-lê-ên, con trai của U-ri, cháu của Hu-rơ, thuộc bộ tộc Giu-đa.
Ngài đã ban cho người đầy dẫy Thần của Đức Chúa Trời, cùng với sự khéo tay, thông minh và hiểu biết trong lãnh vực thủ công mỹ nghệ
để thiết kế và chế tạo các vật bằng vàng, bạc, và đồng,
khắc đá khảm ngọc, chạm gỗ thủ công mỹ nghệ.
Ngài ban cho người khả năng dạy nghề và cũng ban cho cả Ô-hô-li-áp, con của A-hi-sa-mạc, thuộc bộ tộc Đan nữa.
Ngài cho họ đầy dẫy sự khôn ngoan để làm tất cả các công việc của một nghệ nhân chạm trổ, thiết kế, thêu và dệt sợi nhiều màu như xanh, đỏ tía, đỏ thắm và vải gai mịn; cũng như công việc của bất cứ nghệ nhân hay người có tài thiết kế nào khác.”
“Bết-sa-lê-ên, Ô-hô-li-áp và những người khéo tay mà Đức Giê-hô-va đã ban sự khéo léo và hiểu biết để chu toàn công tác xây dựng Đền Thánh đúng với những gì Đức Giê-hô-va đã truyền phán.”
Vậy Môi-se gọi Bết-sa-lê-ên, Ô-hô-li-áp và những người khéo tay mà Đức Giê-hô-va đã đặt trong lòng họ sự khôn ngoan, cùng với những người có tinh thần tự nguyện đến để bắt tay vào việc.
Trước mặt Môi-se, họ tiếp nhận tất cả các lễ vật mà con dân Y-sơ-ra-ên đã tự nguyện đem đến để thực hiện việc xây dựng Đền Thánh. Nhưng, vì mỗi buổi sáng dân chúng cứ tiếp tục đem những lễ vật tình nguyện đến
nên các nghệ nhân đang làm các công việc của Đền Thánh phải tạm ngưng.
Họ đến gặp Môi-se và nói: “Dân chúng đem đến quá mức cần thiết so với công việc mà Đức Giê-hô-va đã truyền phải làm.”
Vì vậy, Môi-se phải ra lệnh cho họ loan báo khắp trại quân: “Xin mọi người, nam cũng như nữ, đừng dâng thêm gì cho việc xây dựng Đền Thánh nữa!” Vậy là dân chúng bị ngăn cản đem thêm lễ vật;
vì vật liệu họ dâng không những đã đủ mà còn dư cho toàn bộ công việc.
Trong số những người làm việc, những thợ nào khéo tay đều tham gia xây dựng Đền Tạm. Họ dệt mười bức màn bằng sợi gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm, có thêu hình chê-ru-bim thật mỹ thuật.
Mỗi bức màn dài khoảng mười hai mét, rộng hai mét; tất cả đều có cùng kích cỡ như nhau.
Họ kết từng năm bức màn lại với nhau;
thắt vòng bằng chỉ xanh trên biên bức màn chót của bộ màn thứ nhất; và cũng làm như vậy trên biên bức màn đầu của bộ màn thứ hai.
Họ thắt năm mươi cái vòng trên biên bức màn thứ nhất và năm mươi cái vòng trên biên của bức màn cuối của bộ màn thứ hai; các vòng nằm đối nhau.
Họ cũng làm năm mươi cái móc bằng vàng, rồi móc các bức màn lại với nhau để Đền Tạm kết lại thành một.
Họ cũng kết mười một bức màn bằng lông dê làm tấm bạt phủ trên Đền Tạm.
Mỗi bức màn dài khoảng 13 mét, rộng khoảng hai mét; cả mười một bức màn đều có kích cỡ như nhau.
Họ kết các bức màn nầy thành hai bộ: một bộ năm bức và một bộ sáu bức.
Họ thắt năm mươi cái vòng trên biên bức màn cuối của bộ màn thứ nhất, và năm mươi cái vòng trên biên bức màn đầu của bộ màn thứ hai;
họ cũng làm năm mươi cái móc bằng đồng để kết hai bộ màn phủ lại với nhau làm cho Đền Tạm thành một.
Họ cũng làm một tấm bạt bằng da chiên đực nhuộm đỏ và một tấm bạt bằng da cá nược phủ bên ngoài.
Họ dựng vách Đền Tạm bằng ván gỗ si-tim.
Mỗi tấm ván dài khoảng bốn mét, rộng khoảng sáu mươi sáu cen-ti-mét.
Trong mỗi tấm có hai cái mộng để ghép lại với nhau. Tất cả các tấm ván vách Đền Tạm đều làm như thế.
Họ làm vách cho Đền Tạm như sau: hai mươi tấm cho phía nam;
dưới hai mươi tấm ấy họ làm bốn mươi lỗ mộng bằng bạc, dưới mỗi tấm ván có hai lỗ mộng khớp với hai cái mộng, và hai lỗ mộng dưới tấm kế tiếp sẽ khớp với hai cái mộng của tấm tiếp theo.
Ở mặt bên kia, tức là phía bắc Đền Tạm, họ cũng làm hai mươi tấm ván
và bốn mươi lỗ mộng bằng bạc; dưới mỗi tấm ván đều có hai lỗ mộng, và dưới tấm kế tiếp cũng có hai lỗ mộng.
Ở mặt sau của Đền Tạm, tức là phía tây, họ làm sáu tấm ván;
ở hai góc sau của Đền Tạm họ làm hai tấm ván.
Hai tấm ván đó được ghép lại với nhau từ dưới lên trên, chỗ cái khoen thứ nhất. Cả hai góc họ đều làm như vậy.
Vì thế, có tám tấm ván và mười sáu lỗ mộng bằng bạc; dưới mỗi tấm có hai lỗ mộng.
Họ cũng làm những thanh ngang bằng gỗ si-tim: năm thanh cho những tấm ván ở bên nầy của Đền Tạm,
năm thanh cho các tấm ván ở phía bên kia Đền Tạm và năm thanh khác ở phía sau Đền Tạm, tức là phía tây.
Họ làm thanh ngang giữa nằm khoảng nửa trên của các tấm ván để cài từ đầu nầy đến đầu kia.
Họ bọc vàng mấy tấm ván và làm các khoen bằng vàng để giữ các thanh ngang; các thanh ngang cũng được bọc vàng.
Họ cũng làm một bức màn bằng sợi gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm, thêu hình chê-ru-bim thật mỹ thuật;
rồi dựng cho bức màn đó bốn cây trụ bằng gỗ si-tim bọc vàng, các móc trụ cũng bằng vàng và đúc bốn lỗ trụ bằng bạc cho bốn cây trụ đó.
Họ cũng dệt một tấm màn cửa lều bằng sợi gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm, được thêu mỹ thuật.
Họ còn làm năm cây trụ có móc rồi bọc vàng các đầu trụ và các thanh liên kết, còn năm lỗ trụ thì bằng đồng.
Bết-sa-lê-ên đóng một cái hòm bằng gỗ si-tim dài một trăm mười cen-ti-mét, rộng sáu mươi sáu cen-ti-mét và cao sáu mươi sáu cen-ti-mét.
Ông bọc vàng ròng cả trong lẫn ngoài và chạy một đường viền vàng chung quanh.
Ông đúc bốn cái khoen bằng vàng gắn ở bốn góc: hai cái bên nầy, hai cái bên kia.
Ông cũng làm các cây đòn bằng gỗ si-tim bọc vàng,
rồi xỏ đòn vào các khoen hai bên để khiêng hòm.
Ông cũng làm một nắp thi ân bằng vàng ròng dài một trăm mười cen-ti-mét, rộng sáu mươi sáu cen-ti-mét.
Sau đó ông làm hai chê-ru-bim bằng vàng dát mỏng, đặt ở hai đầu nắp thi ân:
một cái ở đầu nầy và một cái ở đầu kia, gắn liền với hai đầu nắp.
Hai chê-ru-bim xòe rộng đôi cánh che phủ nắp thi ân. Mặt đối mặt, các chê-ru-bim cùng hướng vào nắp thi ân.
Ông cũng đóng một cái bàn bằng gỗ si-tim: dài tám mươi tám cen-ti-mét, rộng bốn mươi bốn cen-ti-mét và cao sáu mươi sáu cen-ti-mét,
bọc bằng vàng ròng và chạy một đường viền bằng vàng chung quanh.
Ông cũng đóng nẹp chung quanh bàn cao chừng bốn ngón tay và chạy một đường viền vàng theo nẹp ấy.
Ông đúc bốn cái khoen vàng gắn vào bốn góc, chỗ có bốn chân bàn.
Các khoen gắn gần khung để xỏ các đòn khiêng.
Ông làm các đòn bằng gỗ si-tim bọc vàng để khiêng bàn đó.
Ông cũng lấy vàng ròng để làm các đồ dùng bày trên bàn như: khay, đĩa dâng hương, lọ và bát để làm lễ quán.
Ông cũng làm chân đèn bằng vàng ròng; đế và thân của chân đèn được làm bằng vàng dát; đài đèn, nụ đèn, và cánh hoa đèn đều được gắn vào chân đèn.
Có sáu nhánh nứt ra hai bên chân đèn, ba nhánh bên nầy và ba nhánh bên kia.
Trong sáu nhánh nứt ra từ chân đèn đó, trên mỗi nhánh đều có ba cái đài đèn tạo thành hình hoa hạnh nhân với nụ và cánh hoa đèn.
Ngay trên chân đèn cũng có bốn đài đèn hình hoa hạnh nhân với nụ và cánh hoa đèn.
Trong sáu nhánh từ chân đèn nứt ra, cứ dưới mỗi hai nhánh thì gắn một nụ đèn.
Các nụ và nhánh của chân đèn đều được gắn với chân đèn; tất cả đều được làm bằng vàng ròng dát mỏng.
Ông cũng làm bảy ngọn đèn, kéo cắt tim đèn và khay đựng tàn bằng vàng ròng.
Ông dùng một ta-lâng vàng ròng để làm chân đèn và các dụng cụ khác.
Ông cũng đóng một bàn thờ xông hương bằng gỗ si-tim hình vuông, mỗi cạnh bốn mươi bốn cen-ti-mét và cao tám mươi tám cen-ti-mét; các sừng được gắn liền với bàn thờ.
Ông cũng bọc bàn thờ, mặt bàn thờ, bốn cạnh chung quanh, các sừng bằng vàng ròng và chạy một đường viền vàng chung quanh.
Dưới đường viền đó, ông gắn hai khoen bằng vàng ở hai bên bàn thờ để xỏ đòn khiêng.
Ông làm các đòn bằng gỗ si-tim bọc vàng.
Ông cũng pha chế dầu thánh để xức, và hương thơm nguyên chất theo phương thức pha chế nước hoa.
Ông cũng đóng bàn thờ dâng tế lễ thiêu bằng gỗ si-tim hình vuông, mỗi cạnh hai mét hai và cao một mét ba.
Ông làm các sừng gắn ở bốn góc bàn thờ; các sừng ấy hợp thành một khối với bàn thờ. Bàn thờ được bọc đồng.
Sau đó ông làm các dụng cụ của bàn thờ như các bình đựng tro, xẻng, chậu, nĩa, và lư hương. Tất cả đều bằng đồng.
Ông cũng làm cho bàn thờ một cái rá có lưới bằng đồng để dưới thành bàn thờ, khoảng nửa chiều cao của bàn thờ,
và đúc bốn cái khoen ở bốn góc rá đồng để xỏ đòn khiêng.
Ông làm các đòn khiêng bằng gỗ si-tim bọc đồng,
và xỏ đòn đó vào khoen ở hai bên bàn thờ để khiêng đi. Ông đóng bàn thờ rỗng bằng ván ghép lại.
Ông dùng những tấm gương soi của các phụ nữ phục vụ tại cửa Lều Hội Kiến để làm một cái bồn rửa có chân bồn bằng đồng.
Ông cũng làm hành lang. Phía nam của hành lang có các tấm rèm làm bằng vải gai mịn, dài khoảng bốn mươi bốn mét,
với hai mươi cây trụ và hai mươi lỗ trụ bằng đồng; nhưng các móc trụ và thanh liên kết thì bằng bạc.
Phía bắc cũng có bốn mươi bốn mét rèm với hai mươi cây trụ và hai mươi lỗ trụ bằng đồng; nhưng các móc trụ và thanh liên kết thì bằng bạc.
Phía tây có hai mươi hai mét rèm với mười cây trụ và mười lỗ trụ bằng đồng; các móc trụ và thanh liên kết bằng bạc.
Phía trước, tức là phía đông, là hướng mặt trời mọc, cũng có hai mươi hai mét rèm;
các tấm rèm che bên nầy cửa hành lang dài sáu mét sáu với ba cây trụ và ba lỗ trụ;
bên kia cũng có sáu mét sáu rèm với ba cây trụ và ba lỗ trụ.
Tất cả các tấm rèm chung quanh hành lang đều bằng vải gai mịn;
các lỗ trụ đều bằng đồng nhưng móc trụ và thanh liên kết thì bằng bạc; các đầu trụ cũng bọc bạc. Tất cả các trụ của hành lang đều nối nhau nhờ các thanh liên kết bằng bạc.
Tấm màn nơi cửa hành lang được thêu mỹ thuật bằng sợi gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm; màn dài tám mét tám, cao hai mét hai, tương xứng với các tấm rèm chung quanh hành lang.
Bốn cây trụ và bốn lỗ trụ bằng đồng, móc trụ bằng bạc, đầu trụ bọc bạc, và những thanh liên kết cũng bằng bạc.
Các cây cọc của Đền Tạm và hành lang chung quanh đều bằng đồng.
Đây là tổng số các vật liệu dùng cho Đền Tạm, là Đền Tạm Chứng Ước, được kết toán theo lệnh Môi-se truyền cho những người Lê-vi, dưới sự hướng dẫn của Y-tha-ma, con trai của thầy tế lễ A-rôn.
Bết-sa-lê-ên, con trai U-ri, cháu Hu-rơ, thuộc bộ tộc Giu-đa, làm tất cả những gì Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se,
cùng với người phụ tá Ô-hô-li-áp, con trai A-hi-sa-mạc, thuộc bộ tộc Đan, là thợ chạm, người thiết kế, thợ thêu sợi gai mịn với chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm.
Tổng số vàng đã dâng được dùng vào việc xây dựng Nơi Thánh khoảng một nghìn ký, theo đơn vị đo lường của Nơi Thánh.
Tổng số bạc của những người được kể vào hội chúng là ba nghìn bốn trăm ba mươi ký, theo đơn vị đo lường của Nơi Thánh.
Tất cả những người thuộc diện kiểm tra dân số từ hai mươi tuổi trở lên, tức là sáu trăm lẻ ba nghìn năm trăm năm mươi người, mỗi đầu người nộp sáu gam, theo đơn vị đo lường của Nơi Thánh.
Ba nghìn bốn trăm ký bạc dùng để đúc các lỗ trụ của Đền Thánh và các lỗ trụ màn; ba nghìn bốn trăm ký cho một trăm lỗ trụ, tức ba mươi bốn ký cho mỗi lỗ trụ.
Ba mươi ký còn lại thì dùng làm móc trụ, bọc các đầu trụ và làm thanh liên kết cho các trụ.
Tổng số đồng được đóng góp là hai ngàn bốn trăm ký.
Đồng đó được dùng làm lỗ trụ của cửa Lều Hội Kiến, bàn thờ bằng đồng, rá đồng và các dụng cụ của bàn thờ,
các lỗ trụ chung quanh hành lang, các lỗ trụ cửa hành lang, các cọc của Đền Tạm, và các cọc chung quanh hành lang.
Họ dùng chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm để may lễ phục bằng hàng dệt dành cho việc phụng vụ trong Nơi Thánh. Họ may bộ lễ phục thánh cho A-rôn như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.
Họ may ê-phót bằng sợi gai mịn, kim tuyến, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm.
Họ cán vàng thành lá mỏng và cắt thành từng sợi rồi may xen vào sợi gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm, một cách rất mỹ thuật.
Họ may cầu vai cho ê-phót, đính hai đầu vào ê-phót.
Đai thắt ngoài ê-phót được may cùng một cách và chất liệu như ê-phót, tức là sợi kim tuyến, sợi gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm, như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.
Họ chuẩn bị các viên ngọc mã não để khảm vào khuôn khảm bằng vàng và khắc tên các con trai Y-sơ-ra-ên lên các viên ngọc như cách người ta khắc con dấu.
Họ gắn các viên ngọc đó trên cầu vai ê-phót như là những viên ngọc kỷ niệm về con trai Y-sơ-ra-ên, theo lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.
Họ cũng làm bảng đeo ngực rất mỹ thuật như công việc của ê-phót, tức là làm bằng kim tuyến, sợi gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía, và đỏ thắm.
Bảng đeo ngực có hình vuông và may hai lớp, dài một gang tay, rộng một gang tay.
Họ đính lên đó bốn hàng ngọc: hàng thứ nhất có ngọc mã não, ngọc hồng bích và ngọc lục bửu;
hàng thứ nhì có ngọc phỉ túy, ngọc lam bửu và ngọc kim cương;
hàng thứ ba có ngọc hồng bửu, ngọc bạch mã não và ngọc tử tinh;
hàng thứ tư có ngọc hoàng bích, ngọc hồng mã não và bích ngọc. Các viên ngọc nầy đều được khảm vào khuôn khảm bằng vàng.
Tổng số ngọc đó là mười hai viên, tương ứng với tên các con trai Y-sơ-ra-ên. Mỗi viên ngọc có khắc tên của một trong mười hai bộ tộc Y-sơ-ra-ên, như người ta khắc con dấu vậy.
Trên bảng đeo ngực, họ làm các sợi dây chuyền bằng vàng ròng xoắn như dây thừng.
Họ cũng làm hai cái khuôn khảm và hai cái khoen bằng vàng, rồi gắn hai khoen đó vào hai góc của bảng đeo ngực.
Họ xâu hai sợi dây chuyền vàng vào hai khoen ở góc trên của bảng đeo ngực
và gắn hai đầu kia của hai sợi dây chuyền vào khuôn khảm, tức là gắn phía trước cầu vai của ê-phót.
Sau đó họ làm hai khoen vàng khác và gắn chúng vào hai góc dưới của bảng đeo ngực, phía trong ê-phót.
Họ còn làm hai khoen vàng khác nữa và gắn chúng trước phần dưới của cầu vai ê-phót, ngay chỗ giáp mối phía trên đai thắt của ê-phót.
Họ dùng một sợi dây màu xanh buộc các khoen của bảng đeo ngực với các khoen ê-phót, như thế bảng đeo ngực dính với đai thắt, không bị rớt khỏi ê-phót như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.
Họ cũng may áo dài của ê-phót toàn bằng sợi màu xanh.
Cổ áo dài nằm chính giữa áo như cổ áo giáp và có viền chung quanh để khỏi bị tưa.
Trên lai áo, họ thắt những trái lựu bằng sợi gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm,
và làm những cái chuông nhỏ bằng vàng ròng gắn xen kẽ giữa hai trái lựu, vòng theo suốt lai áo;
nghĩa là cứ một trái lựu đến một cái chuông rồi một trái lựu, đính vòng quanh lai áo hành lễ, như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.
Họ cũng may cho A-rôn và các con trai người những áo lót bằng vải gai mịn
cùng với mũ, khăn chít và quần lót; tất cả đều bằng vải gai mịn.
Dây thắt lưng được thêu mỹ thuật bằng sợi gai mịn, chỉ xanh, chỉ đỏ tía và đỏ thắm như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.
Họ cũng làm một thẻ như vương hiệu thánh bằng vàng ròng, khắc trên đó những chữ: “THÁNH CHO ĐỨC GIÊ-HÔ-VA.” như cách người ta khắc con dấu,
rồi buộc thẻ đó bằng một sợi dây màu xanh để giữ chặt trên mũ, như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.
Như vậy, tất cả công việc của Đền Tạm, tức là Lều Hội Kiến, đã được hoàn tất. Dân Y-sơ-ra-ên đã làm mọi việc đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.
Họ đem Đền Tạm đến cho Môi-se: lều và các dụng cụ của lều, móc, ván, thanh ngang, trụ và lỗ trụ;
tấm bạt bằng da chiên đực nhuộm đỏ, tấm bạt bằng da cá nược, và bức màn che Nơi Chí Thánh;
Hòm Chứng Ước có đòn khiêng, và nắp thi ân;
bàn và đồ dùng của bàn và bánh cung hiến;
chân đèn bằng vàng ròng có các đèn đã được sắp xếp, các đồ dùng của chân đèn và dầu thắp,
bàn thờ bằng vàng, dầu xức, hương thơm, tấm màn cho cửa lều;
bàn thờ bằng đồng và rá đồng, đòn khiêng, các dụng cụ của bàn thờ, bồn và chân bồn;
các tấm rèm của hành lang, trụ, lỗ trụ, màn cửa hành lang, dây, cọc, và tất cả các dụng cụ cho việc tế lễ của Đền Tạm và Lều Hội Kiến;
các lễ phục bằng hàng dệt dành cho việc phụng vụ trong Nơi Thánh, bộ áo thánh cho thầy tế lễ A-rôn, và những lễ phục của các con trai người để thi hành chức vụ tế lễ.
Dân Y-sơ-ra-ên đã hoàn tất mọi việc đúng như những gì Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.
Môi-se xem xét tất cả các công việc và thấy họ đã hoàn tất đúng như lời Đức Giê-hô-va truyền dạy. Vậy Môi-se chúc phước cho họ.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Vào ngày mồng một tháng giêng, con hãy dựng Đền Tạm, tức Lều Hội Kiến.
Hãy đặt Hòm Chứng Ước vào đó rồi lấy màn che lại.
Con cũng đem cái bàn vào và sắp đặt ngăn nắp các thứ. Rồi con đem chân đèn ra và đặt đèn lên đó.
Cũng hãy đặt bàn thờ bằng vàng dùng cho việc xông hương trước Hòm Chứng Ước, rồi treo màn nơi cửa Đền Tạm.
Con cũng đặt bàn thờ dâng tế lễ thiêu trước cửa Đền Tạm, tức là Lều Hội Kiến,
và đặt bồn rửa ở khoảng giữa Lều Hội Kiến và bàn thờ rồi đổ nước vào.
Con cũng dựng hành lang chung quanh và treo màn ở cửa hành lang.
Sau đó, con lấy dầu xức mà xức Đền Tạm và tất cả những gì trong đó. Hãy biệt ra thánh Đền Tạm và các vật dụng trang trí trong Đền Tạm để Đền Tạm trở nên thánh.
Con cũng hãy xức dầu bàn thờ dâng tế lễ thiêu và các dụng cụ của bàn thờ, rồi biệt bàn thờ ra thánh, để bàn thờ trở nên rất thánh.
Con cũng xức dầu cho bồn cùng chân bồn, và biệt chúng ra thánh.
Rồi con dẫn A-rôn và các con trai người đến cửa Lều Hội Kiến và lấy nước tẩy rửa họ.
Con hãy mặc lễ phục thánh cho A-rôn, xức dầu và biệt riêng người ra thánh để người thi hành chức vụ tế lễ cho Ta.
Con cũng đưa các con trai A-rôn đến và mặc áo lá,
xức dầu cho họ như con đã xức dầu cho cha họ để họ thi hành chức vụ tế lễ cho Ta. Sự xức dầu sẽ thừa nhận họ làm chức tế lễ đời đời qua mọi thế hệ.”
Môi-se thi hành mọi việc đúng như những gì Đức Giê-hô-va đã truyền dạy mình.
Vào ngày mồng một tháng giêng năm thứ hai, Đền Tạm đã được dựng lên.
Môi-se dựng Đền Tạm. Ông đặt các lỗ trụ, đóng ván, đặt thanh ngang và dựng trụ.
Ông căng lều phủ trên Đền Tạm rồi trải tấm bạt lên trên, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.
Ông cũng lấy Bảng Chứng Ước đặt vào trong hòm, xỏ đòn khiêng, đặt nắp thi ân lên trên
rồi đưa Hòm Chứng Ước vào Đền Tạm và buông màn che lại. Hòm Chứng Ước đã được che khuất đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.
Ông cũng đặt cái bàn trong Lều Hội Kiến, về phía bắc của Đền Tạm, bên ngoài bức màn,
rồi sắp xếp bánh lên một cách ngay ngắn trước mặt Đức Giê-hô-va, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.
Ông cũng đặt chân đèn trong Lều Hội Kiến, đối diện với cái bàn, ở phía nam Đền Tạm
và đặt các đèn lên trước mặt Đức Giê-hô-va, đúng như lời Ngài đã truyền dạy Môi-se.
Ông cũng đặt bàn thờ bằng vàng trước bức màn trong Lều Hội Kiến
và xông hương trên đó đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.
Ông cũng treo màn nơi cửa Đền Tạm.
Ông đặt bàn thờ dâng tế lễ thiêu tại cửa Đền Tạm, tức là Lều Hội Kiến và dâng trên đó tế lễ thiêu và tế lễ chay, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
Ông đặt bồn rửa giữa khoảng Lều Hội Kiến và bàn thờ rồi đổ nước vào để tẩy rửa.
Môi-se, A-rôn và các con trai của A-rôn rửa tay chân tại đó.
Khi vào Lều Hội Kiến cũng như lúc đến gần bàn thờ, họ đều tẩy rửa đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dạy Môi-se.
Chung quanh Đền Tạm và bàn thờ, ông đều dựng hành lang và treo màn ở cửa hành lang. Như thế, Môi-se đã hoàn thành mọi công việc.
Rồi có một đám mây bao phủ Lều Hội Kiến và vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy Đền Tạm.
Môi-se không thể vào Lều Hội Kiến được vì đám mây bao phủ trên đó; vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy Đền Tạm.
Trong mỗi chặng đường của cuộc hành trình, mỗi khi đám mây từ Đền Tạm được cất lên thì con dân Y-sơ-ra-ên ra đi.
Nhưng nếu đám mây không cất lên thì họ không ra đi cho đến ngày nào đám mây được cất lên.
Vì trong mỗi chặng đường của cuộc hành trình, đám mây của Đức Giê-hô-va ngự trên Đền Tạm vào ban ngày và có lửa trong đám mây vào ban đêm trước mặt cả nhà Y-sơ-ra-ên.
Đức Giê-hô-va từ trong Lều Hội Kiến gọi Môi-se và phán:
“Con hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Khi có một người trong các con muốn dâng sinh tế lên Đức Giê-hô-va thì phải dâng bò, chiên hay dê từ đàn gia súc.
Nếu lễ vật của người ấy là tế lễ thiêu bằng bò thì phải chọn một con bò đực không tì vết. Người ấy phải dâng nó tại cửa Lều Hội Kiến, trước mặt Đức Giê-hô-va, để được Ngài vui nhậm.
Người dâng lễ vật sẽ đặt tay trên đầu con vật làm tế lễ thiêu và nó sẽ được chấp nhận như một sinh tế chuộc tội thay cho người ấy.
Con bò đực sẽ bị giết trước mặt Đức Giê-hô-va, rồi các con cháu A-rôn là những thầy tế lễ lấy máu nó dâng lên và rảy chung quanh bàn thờ tại cửa Lều Hội Kiến.
Người ấy lột da con vật làm tế lễ thiêu và sả thịt ra từng miếng.
Các thầy tế lễ là con cháu A-rôn sẽ nhóm lửa trên bàn thờ và chất củi lên.
Rồi các thầy tế lễ sắp các miếng thịt, đầu và mỡ lên củi đang cháy trên bàn thờ.
Người dâng lễ vật phải lấy nước rửa bộ lòng và giò, rồi thầy tế lễ đem thiêu tất cả trên bàn thờ. Đó là tế lễ thiêu, tức là một sinh tế dùng lửa dâng lên, có hương thơm đẹp lòng Đức Giê-hô-va.
Nếu lễ vật của người đó là tế lễ thiêu bằng gia súc nhỏ, hoặc chiên hay dê thì phải dâng một con đực không tì vết.
Người dâng lễ vật phải giết nó tại phía bắc của bàn thờ, trước mặt Đức Giê-hô-va, rồi các con cháu A-rôn là những thầy tế lễ sẽ rảy máu chung quanh bàn thờ.
Người ấy phải sả thịt ra từng miếng, cả đầu và mỡ. Thầy tế lễ sắp tất cả lên củi đang cháy trên bàn thờ.
Người ấy cũng phải lấy nước rửa bộ lòng và giò, rồi thầy tế lễ đem thiêu tất cả trên bàn thờ. Đó là tế lễ thiêu, tức là một sinh tế dùng lửa dâng lên, có hương thơm đẹp lòng Đức Giê-hô-va.
Nếu lễ vật của người đó dâng lên Đức Giê-hô-va là một tế lễ thiêu bằng chim thì phải dùng chim gáy hoặc bồ câu con.
Thầy tế lễ sẽ đem nó đến bàn thờ, vặn đứt đầu ra rồi thiêu nó trên bàn thờ; còn máu thì cho chảy ra cạnh bàn thờ.
Thầy tế lễ sẽ lấy cái diều và bộ lông ném bên cạnh bàn thờ, về phía đông, là chỗ đổ tro,
rồi nắm hai cánh xé con chim ra, nhưng không xé đứt hẳn. Thầy tế lễ sẽ thiêu nó trên bàn thờ nơi củi đang cháy. Đó là tế lễ thiêu, tức là sinh tế dùng lửa dâng lên, có hương thơm đẹp lòng Đức Giê-hô-va.’”
“‘Khi có người muốn dâng một tế lễ chay lên Đức Giê-hô-va thì lễ vật đó phải làm bằng bột lọc. Người ấy phải chế dầu vào và để nhũ hương lên trên,
rồi đem đến cho các con cháu A-rôn, là những thầy tế lễ. Thầy tế lễ sẽ lấy một nắm bột lọc, dầu và tất cả nhũ hương rồi đốt trên bàn thờ tượng trưng cho cả tế lễ chay. Đó là tế lễ dùng lửa dâng lên, có hương thơm đẹp lòng Đức Giê-hô-va.
Phần còn lại của tế lễ chay sẽ thuộc về A-rôn và con cái người. Đó là phần rất thánh lấy từ các tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va.
Khi các con dâng tế lễ chay bằng bánh nướng trong lò thì bánh đó phải làm bằng bột không men nhồi với dầu, hoặc làm thành bánh tráng không men thoa dầu.
Nếu các con dùng bánh nướng trên vỉ làm tế lễ chay thì bánh đó phải làm bằng bột không men nhồi với dầu,
phải bẻ ra từng miếng và chế dầu lên. Đó là tế lễ chay.
Nếu tế lễ chay là bánh chiên trong chảo lớn thì bánh đó phải làm bằng bột nhồi với dầu.
Các con sẽ đem tế lễ chay đã được chuẩn bị như thế dâng lên Đức Giê-hô-va; khi đã trao cho thầy tế lễ thì ông ấy sẽ đem đến bàn thờ.
Thầy tế lễ sẽ lấy một phần từ tế lễ chay đó để tượng trưng cho cả tế lễ và thiêu trên bàn thờ. Đó là một tế lễ dùng lửa dâng lên, có hương thơm đẹp lòng Đức Giê-hô-va.
Phần còn lại của tế lễ chay sẽ thuộc về A-rôn và con cái người. Đó là một phần rất thánh lấy từ tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va.
Tế lễ chay mà các con dâng lên Đức Giê-hô-va không được pha men vì các con không được thiêu men hay mật ong trong tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va.
Các con có thể dâng những thứ đó lên Đức Giê-hô-va như lễ vật đầu mùa nhưng không được đốt trên bàn thờ như tế lễ có hương thơm.
Phải nêm muối vào các tế lễ chay. Không được dâng tế lễ chay thiếu muối vì muối là giao ước của Đức Chúa Trời mình. Các con phải dâng muối chung với tất cả các lễ vật.
Nếu các con dùng hoa quả đầu mùa làm tế lễ chay dâng lên Đức Giê-hô-va thì phải lấy lúa mới, rang trên lửa rồi xay thành bột,
chế dầu vào và để nhũ hương lên trên. Đó là tế lễ chay.
Thầy tế lễ sẽ lấy một phần hạt xay nhồi với dầu cùng tất cả nhũ hương và thiêu đi để tượng trưng cho cả tế lễ. Đó là tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va.’”
“‘Người nào muốn dâng tế lễ bình an bằng bò đực hoặc bò cái thì phải dâng lên trước mặt Đức Giê-hô-va một con bò không tì vết.
Người ấy sẽ đặt tay trên đầu con sinh tế rồi giết nó tại cửa Lều Hội Kiến. Các con cháu A-rôn, tức là những thầy tế lễ, sẽ rảy máu nó chung quanh bàn thờ.
Rồi lấy một phần từ sinh tế của tế lễ bình an nầy làm lễ vật dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va. Đó là lớp mỡ bọc bộ lòng và lớp mỡ dính vào bộ lòng,
hai trái cật, mỡ trên hai trái cật gần lưng và phần ngon nhất của gan mà người ấy phải gỡ theo hai trái cật.
Các con cháu A-rôn sẽ thiêu những thứ đó tại bàn thờ chung với tế lễ thiêu đã đặt trên củi đang cháy. Đó là một tế lễ dùng lửa dâng lên, có hương thơm đẹp lòng Đức Giê-hô-va.
Người nào muốn dâng sinh tế của tế lễ bình an bằng chiên hay dê thì phải dâng lên Đức Giê-hô-va một con đực hoặc cái không tì vết.
Khi người ấy dâng chiên con làm lễ vật thì phải dâng nó trước mặt Đức Giê-hô-va,
đặt tay trên đầu con chiên rồi giết nó trước cửa Lều Hội Kiến. Các con cháu A-rôn sẽ rảy máu nó chung quanh bàn thờ.
Rồi lấy một phần từ tế lễ bình an nầy làm lễ vật dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va. Đó là mỡ, nguyên cái đuôi chặt gần cuối xương sống, lớp mỡ bọc bộ lòng và lớp mỡ dính vào bộ lòng,
hai trái cật, mỡ trên hai trái cật gần lưng và phần ngon nhất của gan mà người ấy phải gỡ theo hai trái cật.
Thầy tế lễ sẽ thiêu những thứ đó trên bàn thờ như là thức ăn dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va.
Khi lễ vật của người ấy là một con dê cái thì phải dâng nó lên trước mặt Đức Giê-hô-va,
đặt tay mình trên đầu con dê rồi giết nó trước Lều Hội Kiến. Các con cháu A-rôn sẽ rảy máu nó chung quanh bàn thờ.
Rồi lấy một phần từ tế lễ bình an làm lễ vật dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va. Đó là lớp mỡ bọc bộ lòng và lớp mỡ dính vào bộ lòng,
hai trái cật, mỡ trên hai trái cật gần lưng và phần ngon nhất của gan mà người ấy phải gỡ theo hai trái cật.
Thầy tế lễ sẽ thiêu các thứ đó trên bàn thờ như là thức ăn dùng lửa dâng lên có mùi thơm. Tất cả mỡ đều thuộc về Đức Giê-hô-va.
Đây là luật lệ đời đời cho dòng dõi các con tại khắp nơi các con cư trú: các con không được ăn mỡ hoặc huyết.’”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
“Con hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi có người vô ý phạm một trong các điều răn của Đức Giê-hô-va và làm điều không được phép làm:
Nếu là thầy tế lễ thượng phẩm chịu xức dầu rồi mà phạm tội gây cho dân chúng mắc tội, thì vì tội mình đã phạm, thầy tế lễ đó phải dâng lên Đức Giê-hô-va một con bò không tì vết để làm sinh tế chuộc tội.
Người ấy sẽ dẫn con bò đó đến cửa Lều Hội Kiến, trước mặt Đức Giê-hô-va, đặt tay trên đầu nó rồi giết nó trước mặt Đức Giê-hô-va.
Thầy tế lễ thượng phẩm đã được xức dầu sẽ lấy một phần máu bò đó đem vào trong Lều Hội Kiến,
nhúng ngón tay vào máu và rảy bảy lần trước mặt Đức Giê-hô-va, phía trước bức màn của Đền Thánh.
Thầy tế lễ sẽ bôi máu trên các sừng của bàn thờ xông hương đặt trong Lều Hội Kiến, trước mặt Đức Giê-hô-va, rồi đổ tất cả phần máu còn lại dưới chân bàn thờ dâng tế lễ thiêu đặt trước cửa Lều Hội Kiến.
Người ấy phải gỡ hết mỡ của con bò dùng làm sinh tế chuộc tội, như lớp mỡ bọc quanh bộ lòng và mỡ dính vào bộ lòng,
hai trái cật, mỡ trên hai trái cật gần lưng và phần ngon nhất của gan mà người ấy phải gỡ theo hai trái cật,
như cách gỡ các phần nầy của con bò dâng trong tế lễ bình an vậy. Thầy tế lễ sẽ đốt các thứ đó trên bàn thờ dâng tế lễ thiêu.
Còn da, tất cả thịt, đầu, giò, bộ lòng và phân của nó,
tức là tất cả phần còn lại của con bò, thầy tế lễ phải đem ra ngoài trại, đến một nơi tinh sạch là chỗ đổ tro, rồi chất trên củi để thiêu đi, tức là thiêu tại chỗ đổ tro.
Nếu cả hội chúng Y-sơ-ra-ên vô ý phạm một trong các điều răn của Đức Giê-hô-va và làm điều không được phép làm, thì hội chúng đã phạm tội, dù họ không nhận thấy điều đó.
Nhưng khi họ biết được tội mình đã phạm thì hội chúng phải dâng một con bò làm tế lễ chuộc tội và dẫn nó đến trước Lều Hội Kiến.
Các trưởng lão của hội chúng phải đặt tay trên đầu con bò rồi giết nó trước mặt Đức Giê-hô-va.
Thầy tế lễ thượng phẩm đã được xức dầu sẽ đem một phần máu của con bò vào Lều Hội Kiến,
nhúng ngón tay vào máu và rảy bảy lần trước mặt Đức Giê-hô-va, phía trước bức màn.
Thầy tế lễ thượng phẩm cũng sẽ bôi máu lên các sừng của bàn thờ trong Lều Hội Kiến, trước mặt Đức Giê-hô-va, và đổ phần máu còn lại dưới chân bàn thờ dâng tế lễ thiêu đặt trước cửa Lều Hội Kiến.
Thầy tế lễ cũng gỡ tất cả mỡ đem thiêu trên bàn thờ.
Thầy tế lễ thượng phẩm phải dâng con bò nầy như cách dâng con bò trong lễ chuộc tội. Như vậy, thầy tế lễ sẽ chuộc tội cho hội chúng và tội của họ sẽ được tha.
Sau đó, ông phải đem con bò ra ngoài trại quân và thiêu nó như đã thiêu con bò trước. Đó là tế lễ chuộc tội cho hội chúng.
Khi một cấp lãnh đạo vô ý phạm một trong các điều răn của Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời mình, làm điều không được phép làm, nên đã phạm tội.
Nếu người ấy nhận biết tội mình đã phạm thì phải đem đến một con dê đực không tì vết để làm lễ vật.
Người ấy sẽ đặt tay trên đầu con dê đực đó rồi giết nó trước mặt Đức Giê-hô-va, tại nơi giết các con vật làm tế lễ thiêu. Đó là tế lễ chuộc tội.
Thầy tế lễ sẽ dùng ngón tay lấy một ít máu của sinh tế chuộc tội và bôi trên các sừng bàn thờ dâng tế lễ thiêu, rồi đổ phần máu còn lại dưới chân bàn thờ.
Ông cũng đốt tất cả mỡ trên bàn thờ như cách xông mỡ của sinh tế trong tế lễ bình an. Như vậy, thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người lãnh đạo và tội người ấy sẽ được tha.
Nếu một thường dân vô ý phạm một trong các điều răn của Đức Giê-hô-va, làm điều không được phép làm, nên đã phạm tội.
Khi người ấy nhận biết tội mình đã phạm thì phải đem đến một con dê cái không tì vết để làm tế lễ chuộc tội mình đã phạm.
Người ấy sẽ đặt tay trên đầu của sinh tế chuộc tội rồi giết nó tại nơi giết các con vật làm tế lễ thiêu.
Thầy tế lễ sẽ dùng ngón tay lấy một ít máu và bôi trên các sừng bàn thờ dâng tế lễ thiêu rồi đổ hết phần máu còn lại dưới chân bàn thờ.
Ông cũng gỡ hết mỡ như cách làm trong tế lễ bình an rồi đem thiêu trên bàn thờ, làm cho tế lễ có hương thơm đẹp lòng Đức Giê-hô-va. Như vậy, thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người ấy, và tội người ấy sẽ được tha.
Nếu người ấy dâng chiên con làm sinh tế chuộc tội thì phải đem đến một chiên cái không tì vết.
Người ấy sẽ đặt tay trên đầu của sinh tế chuộc tội rồi giết nó tại nơi giết các con vật làm tế lễ thiêu.
Thầy tế lễ sẽ dùng ngón tay lấy một ít máu và bôi trên các sừng bàn thờ dâng tế lễ thiêu rồi đổ hết phần máu còn lại dưới chân bàn thờ.
Ông cũng gỡ hết mỡ như cách làm với chiên con dâng trong tế lễ bình an rồi đem thiêu trên bàn thờ, cùng với các tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va. Như vậy, thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người ấy, và tội người ấy sẽ được tha.”
“Khi một người phạm tội vì không chịu nói ra một việc mà mình đã thấy hoặc biết, mặc dù được yêu cầu tuyên thệ làm nhân chứng cho việc ấy, thì người ấy phải chịu hình phạt.
Khi một người chạm đến một vật ô uế như xác của một thú rừng không tinh sạch, hoặc xác của một gia súc không tinh sạch, hoặc xác của một loài sâu bọ không tinh sạch, dù không biết đi nữa, thì người ấy vẫn bị ô uế và mắc tội.
Hoặc người ấy chạm đến cái gì đó không tinh sạch của loài người, bất kể bị ô uế cách nào và dù không biết đi nữa, thì cũng sẽ mắc tội.
Khi một người vô tình thề sẽ làm điều gì đó xấu hay tốt, thề thốt cách vô ý thức bất cứ việc gì, về sau mới nhận ra, thì người ấy sẽ mắc tội về một trong các điều đó.
Vậy người nào mắc tội về một trong các điều trên thì phải xưng nhận tội mình đã phạm,
và phải mang lễ vật đền tội dâng lên Đức Giê-hô-va là một chiên cái hoặc một con dê cái từ bầy súc vật để làm tế lễ chuộc tội. Thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người ấy.
Nhưng nếu người ấy không đủ khả năng dâng một con chiên cái hay một con dê cái, thì để đền tội mình đã phạm, người ấy phải dâng lên Đức Giê-hô-va một cặp chim gáy hay là một cặp bồ câu con: một con dùng làm tế lễ chuộc tội, một con dùng làm tế lễ thiêu.
Người ấy sẽ đem cặp chim đó đến thầy tế lễ. Trước hết, thầy tế lễ phải dâng con chim làm tế lễ chuộc tội. Ông sẽ vặn cổ nó nhưng không để cho đầu con chim đứt lìa ra,
rồi sẽ rảy một phần máu của sinh tế chuộc tội trên một cạnh của bàn thờ, phần máu còn lại thì được vắt dưới chân bàn thờ. Đó là tế lễ chuộc tội.
Còn con chim thứ hai, thầy tế lễ dâng làm một tế lễ thiêu như luật định. Như vậy, thầy tế lễ sẽ vì tội người đó đã phạm mà làm lễ chuộc tội và người đó sẽ được tha thứ.
Nếu người ấy không có sẵn một cặp chim gáy hay cặp bồ câu con, thì người ấy phải vì tội đã phạm mà đem một ký bột lúa mì làm tế lễ chuộc tội; không nên chế dầu và cũng không để nhũ hương lên trên bột ấy, vì đó là một tế lễ chuộc tội.
Người ấy sẽ đem bột đó đến thầy tế lễ; thầy tế lễ sẽ bốc một nắm bột đem thiêu trên bàn thờ, cùng với các lễ vật dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va. Nắm bột đó nhắc nhở rằng tất cả bột thuộc về Đức Giê-hô-va. Đó là một tế lễ chuộc tội.
Như vậy, thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người ấy về tội mà người ấy đã phạm vào một trong những điều trên, và người ấy sẽ được tha tội. Phần bột còn lại sẽ thuộc về thầy tế lễ như trong tế lễ chay vậy.”
Đức Giê-hô-va lại phán dặn Môi-se rằng:
“Khi có một người không trung tín, vô tình phạm lỗi vì không dâng lên Đức Giê-hô-va những vật thuộc về Ngài, thì người ấy phải vì lỗi mình đã phạm mà dâng lên Đức Giê-hô-va một con chiên đực không tì vết bắt từ trong bầy, đánh giá bằng siếc-lơ bạc theo siếc-lơ chuẩn của Nơi Thánh. Đó là tế lễ chuộc lỗi.
Người ấy phải bồi thường lại vật thánh và cộng thêm một phần năm giá trị của vật thánh mà mình đã phạm, rồi giao vật đó cho thầy tế lễ. Thầy tế lễ sẽ dùng con chiên đực làm tế lễ chuộc lỗi để chuộc tội cho người ấy, và người ấy sẽ được tha thứ.
Khi một người vô tình phạm một trong những điều răn của Đức Giê-hô-va và làm điều không được phép làm thì người ấy sẽ mắc tội và phải chịu hình phạt.
Người ấy phải đem đến thầy tế lễ một con chiên đực không tì vết, bắt từ trong bầy, theo giá đã định cho tế lễ chuộc lỗi. Thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc lỗi cho người ấy về lầm lỗi mà người ấy vô ý phạm, và người ấy sẽ được tha thứ.
Đó là tế lễ chuộc lỗi vì người ấy đã có lỗi với Đức Giê-hô-va.”
Đức Giê-hô-va lại phán dặn Môi-se:
“Khi một người phạm tội và không trung tín với Đức Giê-hô-va vì đã lừa dối người lân cận mình về vật họ nhờ gìn giữ hay bảo quản, hoặc trộm cắp, hoặc đã bóc lột người lân cận mình,
hoặc lượm được của rơi mà chối đi, hoặc thề dối về mọi chuyện mà người ta có thể vi phạm.
Người nào đã phạm và mắc lỗi như vậy thì phải trả lại vật mình đã trộm cắp, hoặc vật đã bóc lột, hoặc vật người ta gửi, hoặc vật bị mất mà mình lượm được,
hoặc bất cứ thứ gì mà mình có do thề dối. Người ấy phải bồi thường đầy đủ cộng với một phần năm giá trị, rồi nộp cho chủ của vật đó trong ngày dâng tế lễ chuộc lỗi.
Người ấy phải đem đến thầy tế lễ một con chiên đực không tì vết, bắt từ trong bầy, trị giá đúng quy định, để dâng lên Đức Giê-hô-va làm sinh tế chuộc lỗi.
Thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc lỗi cho người ấy trước mặt Đức Giê-hô-va, và người ấy sẽ được tha thứ mọi lỗi lầm mà mình đã phạm.”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
“Con hãy truyền lệnh nầy cho A-rôn và con cháu người: Đây là các luật về tế lễ thiêu. Sinh tế thiêu phải ở trên lửa bàn thờ suốt đêm cho đến sáng, và lửa của bàn thờ phải giữ cho cháy luôn.
Thầy tế lễ sẽ mặc quần lót ngắn bằng vải gai để che thân, rồi mặc áo tế lễ vào. Sau đó, thầy tế lễ sẽ hốt tro trên bàn thờ tế lễ thiêu và đổ bên cạnh bàn thờ.
Rồi thầy tế lễ thay y phục đó ra và mặc y phục khác vào, đem tro nầy đến một chỗ tinh sạch ở bên ngoài trại.
Lửa trên bàn thờ phải cháy luôn, không được tắt. Mỗi buổi sáng, thầy tế lễ sẽ thêm củi, đặt tế lễ thiêu lên trên và đốt mỡ của tế lễ bình an trên đó.
Lửa phải cháy liên tục trên bàn thờ, không bao giờ tắt.”
“Đây là luật lệ về tế lễ chay: Một thầy tế lễ dòng A-rôn phải dâng tế lễ nầy trước mặt Đức Giê-hô-va, tại bàn thờ.
Thầy tế lễ sẽ lấy một nắm bột mì, dầu và tất cả nhũ hương trên tế lễ chay rồi đem đốt trên bàn thờ, dâng mùi thơm lên Đức Giê-hô-va, để nhắc nhở rằng tất cả tế lễ chay đều thuộc về Đức Giê-hô-va.
A-rôn và các thầy tế lễ dòng A-rôn sẽ ăn phần còn lại, nhưng dưới dạng bánh không men và ăn tại một nơi thánh, tức là tại hành lang của Lều Hội Kiến.
Không được pha men vào bột đó mà nướng. Ta đã ban phần đó cho họ từ trong các tế lễ dùng lửa dâng lên Ta. Đó là phần rất thánh, như tế lễ chuộc tội và tế lễ chuộc lỗi.
Tất cả người nam thuộc dòng dõi A-rôn đều được ăn phần ấy. Đó là luật lệ đời đời cho mọi thế hệ của các con về các tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va. Người nào khác chạm đến những tế lễ đó sẽ bị thiệt hại vì tế lễ đó được biệt ra thánh.”
Đức Giê-hô-va lại phán dặn Môi-se:
“Đây là lễ vật mà A-rôn và các thầy tế lễ thuộc dòng dõi A-rôn phải dâng lên Đức Giê-hô-va trong ngày họ được xức dầu: Một ký bột mì như một tế lễ chay thường lệ, sáng một nửa, chiều một nửa.
Lễ vật đó phải được trộn kỹ với dầu và nướng trên vỉ. Sau khi chín, bánh ấy phải được cắt thành miếng dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.
Trong các con trai A-rôn, thầy tế lễ nào được xức dầu để kế nhiệm chức tế lễ thượng phẩm đều phải dâng tế lễ nầy lên Đức Giê-hô-va. Đó là một luật lệ đời đời. Tế lễ chay phải được thiêu hoàn toàn.
Mọi tế lễ chay của thầy tế lễ đều phải thiêu hoàn toàn, không được ăn.”
Đức Giê-hô-va lại phán dặn Môi-se:
“Con hãy truyền cho A-rôn và con cháu người luật về tế lễ chuộc tội như sau: Sinh tế cho lễ chuộc tội phải được giết trước mặt Đức Giê-hô-va, phía bắc bàn thờ, tại nơi giết các con vật làm tế lễ thiêu. Đó là sinh tế rất thánh.
Thầy tế lễ dâng sinh tế chuộc tội sẽ ăn lễ vật đó trong một nơi thánh, tức là trong hành lang của Lều Hội Kiến.
Người nào hoặc vật nào chạm đến thịt sinh tế sẽ bị thiệt hại, vì thịt đó được biệt ra thánh. Nếu huyết sinh tế văng lên áo thì phải giặt áo đó trong một nơi thánh.
Nồi đất dùng nấu thịt sinh tế sẽ phải đập bể đi; nhưng nếu nấu bằng nồi đồng thì phải cạo nồi và rửa bằng nước cho sạch.
Tất cả người nam thuộc gia đình thầy tế lễ đều được ăn phần ấy, đó là một phần rất thánh.
Nhưng không được ăn thịt sinh tế chuộc tội mà phải đốt đi, vì huyết nó đã được đem vào Lều Hội Kiến để làm lễ chuộc tội tại Nơi Thánh.”
“Đây là luật về tế lễ chuộc lỗi, một tế lễ rất thánh:
Hãy giết sinh tế chuộc lỗi tại nơi giết các con vật làm tế lễ thiêu, rồi rảy máu nó chung quanh bàn thờ.
Hãy dâng tất cả mỡ, mỡ đuôi và mỡ bọc bộ lòng,
hai trái cật, mỡ trên hai trái cật gần lưng và phần ngon nhất của gan gỡ chung với hai trái cật.
Thầy tế lễ sẽ thiêu những thứ đó trên bàn thờ như một tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va. Đó là tế lễ chuộc lỗi.
Tất cả người nam thuộc gia đình thầy tế lễ đều được ăn phần ấy trong một nơi thánh; đó là phần rất thánh.
Tế lễ chuộc lỗi cũng giống tế lễ chuộc tội, cả hai đều có cùng một luật. Sinh tế sẽ thuộc về thầy tế lễ nào dâng nó làm lễ chuộc tội.
Thầy tế lễ dâng tế lễ thiêu cho người nào thì da của sinh tế dâng làm tế lễ thiêu sẽ thuộc về thầy tế lễ đó.
Tất cả tế lễ chay hoặc nướng trong lò hoặc chiên trong chảo hay nướng trên vỉ đều thuộc về thầy tế lễ đứng dâng.
Nhưng mọi lễ vật chay khác chưa nấu, đã pha dầu hoặc để khô, đều được chia đều cho các con cháu A-rôn.”
“Đây là luật lệ về tế lễ bình an mà người nào cũng có thể dâng lên Đức Giê-hô-va.
Nếu người ấy dâng tế lễ để cảm tạ thì cùng với lễ vật cảm tạ, phải dâng bánh nhỏ không men pha dầu, bánh tráng không men phết dầu, và bánh làm bằng bột lúa mì trộn kỹ với dầu.
Cùng với sinh tế của tế lễ bình an để cảm tạ, người ấy cần dâng thêm bánh có men nữa.
Người ấy cũng lấy một ổ bánh trong mỗi loại như một lễ vật đặc biệt trình dâng lên Đức Giê-hô-va. Phần ấy thuộc về thầy tế lễ đã rảy máu sinh tế trong tế lễ bình an.
Thịt của sinh tế trong tế lễ bình an để cảm tạ phải được ăn trong ngày dâng tế lễ, không nên để gì sót lại đến sáng hôm sau.
Nếu tế lễ là do lời khấn nguyện hay lòng tự nguyện thì phải ăn sinh tế ngay trong ngày dâng hiến, phần còn lại được ăn ngày hôm sau.
Nhưng sang ngày thứ ba thì phải thiêu hết những gì còn lại.
Nếu ai ăn thịt tế lễ bình an trong ngày thứ ba thì tế lễ mà người đó dâng sẽ không được nhậm và không được kể là đã dâng tế lễ. Đó là một điều đáng ghê tởm, ai ăn thịt đó sẽ phải chịu hình phạt.
Thịt đã chạm đến vật gì ô uế thì không được ăn mà phải thiêu trong lửa. Còn thịt khác thì mọi người tinh sạch đều có thể ăn.
Người nào ở trong tình trạng ô uế mà ăn thịt tế lễ bình an dâng lên Đức Giê-hô-va thì sẽ bị trục xuất khỏi dân chúng.
Nếu ai chạm đến vật ô uế, hoặc của loài người hoặc của loài vật hoặc điều gì đáng ghê tởm, mà lại ăn thịt tế lễ bình an dâng lên Đức Giê-hô-va, thì người ấy sẽ bị trục xuất khỏi dân chúng.”
Đức Giê-hô-va lại phán dặn Môi-se:
“Con hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: Không được ăn một thứ mỡ nào, mỡ bò, mỡ chiên hay mỡ dê.
Mỡ của con thú chết tự nhiên hay bị thú dữ xé có thể dùng cho bất cứ việc gì, nhưng không được ăn.
Người nào ăn mỡ của con vật dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va sẽ bị trục xuất khỏi dân chúng.
Các con không được ăn huyết tại bất cứ nơi nào các con cư trú, dù đó là huyết chim hay súc vật.
Người nào ăn huyết sẽ bị trục xuất khỏi dân chúng.”
Đức Giê-hô-va còn phán dặn Môi-se:
“Con hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: Người nào dâng tế lễ bình an lên Đức Giê-hô-va thì chính người đó phải đem sinh tế về tế lễ bình an đến cho Ngài.
Tự tay người đó sẽ mang những lễ vật dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va tức là mỡ và bộ sườn non; bộ sườn non dâng lên Đức Giê-hô-va như là một lễ vật đặc biệt.
Thầy tế lễ sẽ đốt mỡ trên bàn thờ, còn bộ sườn non thì thuộc về các thầy tế lễ dòng dõi A-rôn.
Các con cũng phải tặng phần trên của đùi phải, phía sau, cho thầy tế lễ nào thuộc dòng dõi A-rôn dâng máu và mỡ của sinh tế.
Người nào trong các con trai A-rôn dâng máu và mỡ sinh tế của tế lễ bình an thì sẽ nhận cái đùi phải đó.
Từ những sinh tế của tế lễ bình an, Ta lấy và ban cho thầy tế lễ A-rôn và các con trai người bộ sườn non đã qua nghi thức đưa qua đưa lại và cái đùi mà dân chúng đã dâng cho Ta, theo luật lệ đời đời mà dân Y-sơ-ra-ên phải tuân giữ.
Đó là phần của A-rôn và các con trai người, lấy từ những tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va, biệt riêng cho họ từ ngày họ được lập làm chức tế lễ trước mặt Đức Giê-hô-va.
Đó là điều Đức Giê-hô-va truyền dặn dân Y-sơ-ra-ên phải trao cho họ vào ngày họ được xức dầu. Đây là một luật lệ đời đời trải qua mọi thế hệ.”
Đó là luật về tế lễ thiêu, tế lễ chay, tế lễ chuộc tội, tế lễ chuộc lỗi, tế lễ phong chức và tế lễ bình an
mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se trên núi Si-na-i, vào ngày Ngài phán dặn dân Y-sơ-ra-ên dâng tế lễ lên Đức Giê-hô-va, trong hoang mạc Si-na-i.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se rằng:
“Con hãy đem theo A-rôn và các con trai ông cùng các lễ phục, dầu xức, con bò làm tế lễ chuộc tội, hai con chiên đực và giỏ bánh không men,
rồi tập hợp toàn thể hội chúng tại cửa Lều Hội Kiến.”
Môi-se làm đúng theo lời Đức Giê-hô-va phán dặn, và hội chúng tập hợp tại cửa Lều Hội Kiến.
Môi-se nói với hội chúng rằng: “Đây là điều Đức Giê-hô-va truyền phải làm.”
Môi-se mời A-rôn và các con trai ông đến, rồi lấy nước rửa cho họ.
Ông mặc áo lót cho A-rôn, thắt đai lưng, mặc áo dài, mang ê-phót và thắt đai ê-phót.
Ông cũng mang bảng đeo ngực và gắn U-rim và Thu-mim vào cho A-rôn,
đội mũ lên đầu, gắn thẻ vàng trước mũ, tức là mão triều thánh, như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
Sau đó, Môi-se lấy dầu xức bôi lên đền tạm và mọi vật trong đó để biệt riêng ra thánh.
Ông cũng rảy dầu trên bàn thờ bảy lần và xức dầu bàn thờ cùng các vật dụng của bàn thờ, bồn và chân bồn để biệt riêng ra thánh.
Ông cũng đổ dầu xức trên đầu A-rôn và xức dầu để biệt riêng ông ra thánh.
Môi-se gọi các con trai A-rôn đến, mặc áo lót cho họ, thắt đai lưng, đội mũ lên đầu, như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
Ông cũng cho đem con bò đến để làm tế lễ chuộc tội. A-rôn và các con trai ông đặt tay trên đầu nó.
Môi-se giết nó, rồi dùng ngón tay lấy máu bôi lên các sừng chung quanh bàn thờ, thanh tẩy bàn thờ, và đổ máu còn lại dưới chân bàn thờ. Như vậy, ông đã biệt riêng bàn thờ ra thánh để làm lễ chuộc tội tại đó.
Ông lấy hết lớp mỡ bọc bộ lòng và phần ngon nhất của gan, hai trái cật và lớp mỡ bọc hai trái cật, rồi đem thiêu trên bàn thờ.
Còn con bò, da, thịt và phân thì ông đem thiêu bên ngoài trại, như Đức Giê-hô-va đã phán dặn ông.
Môi-se cũng cho đem con chiên đực dùng làm tế lễ thiêu đến. A-rôn và các con trai ông đặt tay trên đầu nó,
rồi Môi-se giết nó và rảy máu chung quanh bàn thờ.
Ông sả con chiên ra từng miếng, rồi đem thiêu đầu, các miếng thịt và mỡ.
Sau khi lấy nước rửa sạch bộ lòng và đùi, Môi-se đem thiêu toàn bộ con chiên trên bàn thờ. Đó là một tế lễ thiêu dùng lửa dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va, như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
Ông cũng cho đem con chiên đực thứ nhì đến, tức là con chiên đực dùng cho lễ phong chức. A-rôn và các con trai ông đặt tay trên đầu con chiên đó.
Môi-se giết nó, lấy máu bôi lên trái tai bên phải của A-rôn, trên ngón cái của bàn tay phải và trên ngón cái của bàn chân phải.
Môi-se cũng bảo các con trai A-rôn đến gần và bôi máu lên trái tai bên phải của họ, trên ngón cái của bàn tay phải và trên ngón cái của bàn chân phải của họ. Môi-se rảy phần máu còn lại chung quanh bàn thờ.
Ông lấy mỡ, gồm có mỡ đuôi, tất cả mỡ bọc bộ lòng, phần ngon nhất của gan, hai trái cật với mỡ của hai trái cật và đùi phải;
ông cũng lấy từ trong giỏ bánh không men để trước mặt Đức Giê-hô-va một cái bánh không men, một cái bánh có dầu, một cái bánh tráng, rồi xếp các thứ bánh đó trên mỡ và đùi phải.
Rồi ông đặt tất cả những thứ đó vào tay A-rôn và tay các con trai ông để họ dâng lên Đức Giê-hô-va như là một lễ vật đặc biệt.
Sau đó, Môi-se lấy các thứ đó từ tay họ và đem đốt trên bàn thờ, bên trên tế lễ thiêu. Đó là tế lễ phong chức, là tế lễ dùng lửa dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.
Môi-se lấy bộ sườn non của chiên đực dâng trong lễ phong chức, và dâng lên Đức Giê-hô-va như là một lễ vật đặc biệt; đó là phần thuộc về Môi-se như Đức Giê-hô-va đã phán dặn.
Tiếp đến, Môi-se lấy dầu xức và máu trên bàn thờ rảy trên A-rôn và trên lễ phục người, trên các con trai người và trên lễ phục họ. Như thế, Môi-se đã biệt riêng ra thánh A-rôn và lễ phục ông cũng như các con trai ông và lễ phục của họ.
Môi-se nói với A-rôn và các con trai ông: “Hãy nấu thịt tại cửa Lều Hội Kiến và ăn tại đó với bánh trong giỏ dùng trong lễ phong chức, như Chúa đã dặn rằng: ‘A-rôn và các con trai người sẽ ăn các thứ ấy.’
Nhưng thịt và bánh còn thừa phải đem đốt đi.
Trong bảy ngày, anh và các cháu không được ra khỏi cửa Lều Hội Kiến, cho đến khi mãn thời gian phong chức, vì lễ phong chức của anh và các cháu sẽ kéo dài bảy ngày.
Đức Giê-hô-va đã truyền dạy phải làm như chúng ta đã làm hôm nay để chuộc tội cho anh và các cháu.
Vậy trong bảy ngày, anh và các cháu phải ở tại cửa Lều Hội Kiến cả ngày lẫn đêm, gìn giữ mọi điều Đức Giê-hô-va truyền phán để anh và các cháu khỏi chết; vì đó là lệnh Ngài đã truyền dặn tôi.”
A-rôn và các con trai ông làm đúng mọi điều Đức Giê-hô-va đã truyền dạy qua Môi-se.
Đến ngày thứ tám, Môi-se mời A-rôn và các con trai ông cùng các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đến
và nói với A-rôn: “Hãy bắt một con bò con đực làm tế lễ chuộc tội, một con chiên đực làm tế lễ thiêu; cả hai đều không có tì vết và dâng lên trước mặt Đức Giê-hô-va.
Anh hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Anh em hãy bắt một con dê đực làm tế lễ chuộc tội, một con bò con và một con chiên con, cả hai đều không có tì vết và được một tuổi, để làm tế lễ thiêu,
một con bò và một con chiên đực để làm tế lễ bình an dâng lên trước mặt Đức Giê-hô-va và một tế lễ chay có pha dầu, vì hôm nay Đức Giê-hô-va sẽ hiện ra với anh em.’”
Họ đem đến trước Lều Hội Kiến những gì Môi-se đã truyền bảo, rồi cả hội chúng đến gần và đứng trước mặt Đức Giê-hô-va.
Môi-se nói: “Đây là điều Đức Giê-hô-va phán dặn anh em phải làm để vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra với anh em.”
Rồi Môi-se nói với A-rôn: “Anh hãy đến gần bàn thờ dâng tế lễ chuộc tội và tế lễ thiêu của anh để làm lễ chuộc tội cho chính anh và cho dân chúng, rồi dâng tế lễ của dân chúng và làm lễ chuộc tội cho họ, như Đức Giê-hô-va đã phán dạy.”
A-rôn đến gần bàn thờ và giết bò con đực để làm tế lễ chuộc tội cho chính mình.
Các con trai A-rôn đem máu sinh tế đến cho ông; ông nhúng ngón tay vào máu, bôi lên các sừng bàn thờ, rồi đổ máu dưới chân bàn thờ.
Ông lấy mỡ, hai trái cật và phần gan ngon nhất của sinh tế chuộc tội đốt trên bàn thờ, như Đức Giê-hô-va đã phán dạy Môi-se.
Còn thịt và da, ông đem đốt bên ngoài trại,
A-rôn giết con vật dùng làm tế lễ thiêu. Các con trai A-rôn đem máu sinh tế đến cho ông và ông rảy chung quanh bàn thờ.
Họ cũng đem đến thịt tế lễ thiêu đã sả ra từng miếng cùng với cái đầu để ông đốt tất cả trên bàn thờ.
Ông rửa bộ lòng và các chân rồi đem đốt bên trên tế lễ thiêu nơi bàn thờ.
Tiếp đó, ông đem tế lễ của dân chúng đến. Ông bắt con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội cho dân chúng, giết nó và dâng lên làm lễ chuộc tội như đã làm với tế lễ chuộc tội trước đó.
Ông cũng dâng tế lễ thiêu và tiến hành theo luật lệ đã định.
Rồi ông dâng tế lễ chay. Ông bốc một nắm đầy lễ vật chay và thiêu trên bàn thờ, chung với tế lễ thiêu buổi sáng.
Ông cũng giết con bò và con chiên đực làm sinh tế bình an cho dân chúng. Các con trai A-rôn đem máu sinh tế đến cho ông và ông rảy chung quanh bàn thờ.
Còn mỡ của con bò và con chiên đực, mỡ đuôi, mỡ bọc bộ lòng, hai trái cật và phần ngon nhất của gan,
thì họ đặt trên bộ sườn, và ông thiêu mỡ đó trên bàn thờ.
Nhưng bộ sườn và đùi sau bên phải thì A-rôn lấy và tiến hành nghi thức đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va, như Môi-se đã truyền dặn.
A-rôn giơ tay trên dân chúng và chúc phước cho họ. Sau khi dâng tế lễ chuộc tội, tế lễ thiêu và tế lễ bình an thì ông bước xuống khỏi bàn thờ.
Môi-se và A-rôn vào Lều Hội Kiến rồi đi ra chúc phước cho dân chúng. Vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra với toàn dân.
Một ngọn lửa phát ra từ trước mặt Đức Giê-hô-va thiêu hủy tế lễ thiêu và mỡ trên bàn thờ. Thấy vậy, toàn dân cất tiếng reo mừng và cúi rạp xuống đất.
Hai con trai A-rôn là Na-đáp và A-bi-hu, mỗi người đều cầm lư hương, bỏ than đang cháy vào rồi để hương lên trên và dâng một thứ lửa lạ trước mặt Đức Giê-hô-va, là điều Ngài không phán dạy họ.
Một ngọn lửa phát ra từ trước mặt Đức Giê-hô-va thiêu nuốt họ; họ chết trước mặt Đức Giê-hô-va.
Môi-se nói với A-rôn: “Đó là điều Đức Giê-hô-va đã phán: ‘Giữa những người đến gần Ta Ta sẽ tỏ bày đức thánh khiết; Và trước mặt toàn dân Ta sẽ được tôn vinh.’” A-rôn nín lặng.
Môi-se gọi Mi-sa-ên và Ên-sa-phan, hai con trai của U-xi-ên là chú của A-rôn, và bảo họ: “Hãy đến khiêng xác của hai cháu khỏi nơi thánh và đem ra ngoài trại.”
Họ đến gần, dùng áo lót hai người kia đang mặc, kéo xác họ đưa ra ngoài trại, như lời Môi-se đã bảo.
Sau đó, Môi-se nói với A-rôn và hai con trai ông là Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma: “Đừng làm rối tóc, cũng đừng xé áo để anh và các cháu khỏi phải chết, và để Đức Giê-hô-va không nổi giận với cả hội chúng. Nhưng anh em của anh và cả nhà Y-sơ-ra-ên có thể khóc than những người vừa bị Đức Giê-hô-va thiêu đốt đó.
Đừng ra khỏi cửa Lều Hội Kiến trong lúc nầy để anh em khỏi chết, vì anh em đã được Đức Giê-hô-va xức dầu.” Họ làm theo lời Môi-se.
Đức Giê-hô-va phán với A-rôn:
“Con và các con trai của con không được uống rượu nho hay thức uống có men khi vào Lều Hội Kiến, kẻo các con phải chết. Đó là một mệnh lệnh đời đời cho mọi thế hệ.
Các con phải biết phân biệt giữa thánh khiết và phàm tục, giữa ô uế và thanh sạch,
và phải dạy dân Y-sơ-ra-ên mọi mệnh lệnh mà Đức Giê-hô-va đã phán dạy họ qua Môi-se.”
Môi-se nói với A-rôn và hai người con trai còn lại của ông là Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma rằng: “Hãy lấy phần tế lễ chay còn lại sau khi đã dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va làm thành bánh không men và ăn gần bàn thờ, vì đó là phần rất thánh.
Phải ăn tế lễ nầy tại một nơi thánh vì đó là phần của anh và các con anh trích từ các lễ vật dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va. Tôi đã được truyền dặn như vậy.
Còn bộ sườn non đã dâng lên Đức Giê-hô-va như là một lễ vật đặc biệt và cái đùi đã trình dâng lên Chúa thì anh cùng các con trai con gái anh sẽ ăn tại một nơi thanh sạch. Các món đó đã được ban làm phần riêng cho anh và các con anh, trích từ tế lễ bình an của con dân Y-sơ-ra-ên.
Họ sẽ đem đến cái đùi đã dâng lên và bộ sườn non đã qua nghi thức đưa qua đưa lại, cùng với các phần mỡ của tế lễ thiêu bằng lửa, dâng lên theo nghi thức đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va. Đó là phần thuộc về anh và các con anh, theo quy định vĩnh viễn mà Đức Giê-hô-va đã truyền dạy.”
Khi Môi-se hỏi về con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội thì thấy nó đã bị thiêu. Vì thế ông nổi giận với Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma là hai con trai còn lại của A-rôn, và nói:
“Tại sao các cháu không ăn thịt sinh tế chuộc tội trong một nơi thánh? Đó là một phần rất thánh mà Đức Giê-hô-va đã ban cho các cháu để gánh lấy tội của hội chúng và làm lễ chuộc tội cho họ trước mặt Đức Giê-hô-va.
Vì huyết sinh tế nầy không được đem vào nơi thánh, nên các cháu phải ăn sinh tế đó trong một nơi thánh như lời ta đã căn dặn.”
A-rôn nói với Môi-se: “Hôm nay hai cháu đã dâng tế lễ chuộc tội và tế lễ thiêu trước mặt Đức Giê-hô-va. Nhưng những việc rủi ro như thế đã xảy đến cho tôi mà hôm nay tôi còn ăn sinh tế chuộc tội, thì liệu có đẹp lòng Đức Giê-hô-va không?”
Nghe những lời nầy, Môi-se đồng ý.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn rằng:
“Hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên: ‘Trong các loài vật sống trên đất, đây là những loài các con được phép ăn:
Những loài vật nào có móng chẻ làm hai và nhai lại, thì các con được ăn.
Tuy nhiên, trong các loài nhai lại hoặc có móng chẽ, các con không được ăn các con nầy: lạc đà, vì nó nhai lại nhưng không có móng chẽ, nó là loài không thanh sạch cho các con;
con chồn núi, vì nó nhai lại nhưng không có móng chẽ, nó là loài không thanh sạch cho các con;
con thỏ rừng, vì nó nhai lại nhưng không có móng chẽ, nó là loài không thanh sạch cho các con;
con heo, vì nó có móng chẽ nhưng không nhai lại nên nó là loài không thanh sạch cho các con.
Thịt của chúng các con không được ăn, xác chết của chúng các con không đụng đến, chúng là loài không thanh sạch cho các con.
Trong các sinh vật sống dưới nước, đây là những loài các con được phép ăn: Tất cả những loài sống dưới nước, dù biển hay sông, nếu có vây và có vảy thì các con được ăn.
Nhưng loài nào sống dưới biển hay sông mà không có vây, không có vảy, sống lúc nhúc cả bầy hay sống giữa các loài khác dưới nước, đều đáng ghê tởm đối với các con.
Những loài nầy rất đáng kinh tởm cho các con; không được ăn thịt của chúng, còn xác chết của chúng là vật ghê tởm đối với các con.
Tất cả các loài vật sống dưới nước mà không có vây, không có vảy thì phải xem là đáng ghê tởm cho các con.
Trong các loài chim, đây là những giống các con phải xem là kinh tởm, không được ăn vì chúng rất đáng tởm: đại bàng, diều hâu, kên kên;
chim ó, diều và các con cùng loài;
mọi thứ quạ,
đà điểu, cú mèo, mòng biển, các loài bồ cắt,
chim mèo, bồ nông, cò lửa,
chim hạc, chim chàng bè, con cồng cộc,
con cò, con diệc và các con cùng loại; chim rẽ quạt và dơi.
Tất cả các loài bọ có cánh và chân đều đáng ghê tởm cho các con.
Tuy nhiên, trong các loài bọ có cánh và chân, các con có thể ăn những con nào chân có khớp để nhảy trên đất,
như các loài cào cào, các loài châu chấu đầu nhẵn, các loài dế, và các loài châu chấu khác.
Các loài bọ có cánh và chân khác, thì các con phải xem là kinh tởm.
Các con có thể bị ô uế vì những lý do nầy: ai đụng đến xác chết các loài thú sau đây sẽ bị ô uế đến chiều tối:
ai mang xác chết của chúng sẽ phải giặt quần áo và bị ô uế đến chiều tối.
Những loài thú nào có móng chẽ nhưng bàn chân không chẻ và không nhai lại đều ô uế cho các con; ai đụng đến sẽ bị ô uế.
Trong các loài đi bằng bốn chân, hễ con nào đi bằng bàn chân thì phải xem là không thanh sạch cho các con; ai đụng đến xác chết của chúng sẽ bị ô uế đến chiều tối,
còn ai mang xác chết của chúng sẽ phải giặt quần áo và bị ô uế đến chiều tối; các loài đó là vật không thanh sạch cho các con.
Trong các loài vật bò lúc nhúc trên mặt đất, đây là những loài không thanh sạch cho các con: chuột nhũi, chuột nhắt, các loại thằn lằn lớn;
cắc kè, kỳ đà, thạch sùng, kỳ nhông và cắc ké.
Trong các loài bò sát, đó là những con vật không thanh sạch cho các con; ai đụng đến xác chết của chúng sẽ bị ô uế đến chiều tối.
Khi một con nào trong các loài đó chết, xác nó rơi trên bất cứ vật nào thì vật ấy sẽ bị ô uế, dù đó là vật dụng bằng gỗ, bằng vải, bằng da, bao bố, hay bất cứ thứ gì; phải ngâm các vật ấy vào trong nước, và chịu ô uế cho đến chiều tối mới được thanh sạch.
Nếu xác đó rơi nhằm bình sành thì các vật chứa trong đó đều bị ô uế, các con phải đập bể bình đó đi.
Thức ăn nào bị nước từ trong bình sành đó đổ lên thì sẽ bị ô uế; thức uống nào chứa trong bình sành đó đều bị ô uế.
Bất cứ vật nào dù bị một phần của xác chết đó rơi nhằm cũng sẽ bị ô uế; dù là lò hay bếp cũng phải đập bể đi; chúng đã bị ô uế rồi và các con phải xem chúng là ô uế.
Tuy nhiên, một suối nước hoặc một hồ chứa nước vẫn được kể là tinh sạch nếu có xác của các loài thú đó; nhưng ai đụng đến xác chết của chúng thì sẽ bị ô uế.
Nếu một xác chết rơi trên hạt giống sắp được gieo trồng thì hạt giống đó vẫn được tinh sạch.
Nhưng nếu hạt giống đã được tưới nước và xác chết rớt nhằm thì các con phải xem hạt giống đó là ô uế.
Nếu một con thú được phép ăn thịt mà chết, thì ai đụng đến xác nó sẽ bị ô uế đến chiều tối.
Ai ăn thịt xác chết đó phải giặt quần áo mình và bị ô uế cho đến chiều tối; còn ai khiêng xác chết đó cũng phải giặt quần áo và bị ô uế cho đến chiều tối.
Mọi loài sâu bọ bò trên mặt đất đều đáng kinh tởm, không được ăn.
Các loài nào bò bằng bụng, đi bằng bốn chân hay nhiều chân, nói chung là các loài vật bò lúc nhúc trên mặt đất, thì các con không được ăn, vì chúng là vật đáng kinh tởm.
Các con đừng làm cho mình đáng kinh tởm vì các loài vật đó, cũng đừng vì chúng mà mình trở nên ô uế.
Vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con; hãy biệt mình ra thánh và phải thánh, vì Ta là thánh. Đừng vì bất cứ một loài sâu bọ bò trên mặt đất mà làm cho mình bị ô uế.
Vì Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng đã đem các con ra khỏi Ai Cập để làm Đức Chúa Trời của các con; vậy các con phải thánh vì Ta là thánh.
Đó là luật lệ liên quan đến loài súc vật, loài chim trời, các sinh vật bơi lội trong nước và các loài sâu bọ bò trên mặt đất,
để phân biệt giữa con vật không sạch với con vật tinh sạch, giữa các loài ăn được với các loài không ăn được.’”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se rằng:
“Con hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên: ‘Khi một phụ nữ mang thai và sinh con trai thì sẽ bị ô uế trong bảy ngày, như trong kỳ kinh nguyệt.
Đến ngày thứ tám phải làm lễ cắt bì cho đứa trẻ.
Người phụ nữ ấy phải ngồi nhà thêm ba mươi ba ngày nữa cho trọn thời kỳ thanh tẩy. Bà ấy không được đụng đến vật thánh hay đi vào nơi thánh, cho đến khi kỳ thanh tẩy chấm dứt.
Còn nếu sinh con gái thì người phụ nữ sẽ bị ô uế trong hai tuần như trong kỳ kinh nguyệt. Sau đó, bà phải ngồi nhà thêm sáu mươi sáu ngày nữa cho trọn thời kỳ thanh tẩy.
Khi kỳ thanh tẩy chấm dứt, dù sinh con trai hay con gái, người phụ nữ ấy phải đem đến cho thầy tế lễ tại cửa Lều Hội Kiến một chiên con một tuổi để làm tế lễ thiêu và một bồ câu hoặc một chim gáy để làm tế lễ chuộc tội.
Thầy tế lễ sẽ dâng sinh tế đó trước mặt Đức Giê-hô-va để làm lễ thanh tẩy cho bà, và bà sẽ được thanh sạch sau khi mất huyết. Đây là luật liên quan đến người phụ nữ sinh con trai hay con gái.
Nếu người phụ nữ không đủ khả năng dâng một chiên con thì phải dâng một cặp chim gáy hoặc một cặp bồ câu con, một con làm tế lễ thiêu, một con làm tế lễ chuộc tội. Thầy tế lễ sẽ làm lễ thanh tẩy cho bà và bà sẽ được thanh sạch.’”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se và A-rôn:
“Khi một người thấy trên da mình sưng lên hoặc nổi mụt nhọt hoặc đốm trắng có thể biến thành bệnh phong hủi thì người ấy phải được đưa đến gặp thầy tế lễ A-rôn hoặc một trong các thầy tế lễ là con cháu A-rôn.
Thầy tế lễ sẽ khám vết thương trên da thịt người ấy. Nếu lông chỗ vết thương đó đã chuyển sang màu trắng và nếu vết ấy lõm xuống sâu hơn mặt da, thì đó là bệnh phong hủi. Sau khi khám, thầy tế lễ sẽ tuyên bố người ấy là ô uế.
Nhưng nếu đốm trắng trên da thịt người ấy không lõm sâu hơn da, và nếu lông không chuyển sang màu trắng thì thầy tế lễ phải cách ly người ấy trong bảy ngày.
Đến ngày thứ bảy, thầy tế lễ sẽ khám lại người ấy. Nếu thấy vết thương đó không ăn lan ra trên da thì thầy tế lễ phải cách ly người ấy thêm bảy ngày nữa.
Đến ngày thứ bảy, thầy tế lễ sẽ khám lại người ấy. Nếu vết thương đó có vẻ mờ đi, không lan ra trên da, thì thầy tế lễ sẽ tuyên bố người ấy là thanh sạch; đó chỉ là một mụt nhọt thông thường. Người ấy phải giặt quần áo và được thanh sạch.
Nhưng nếu sau khi đã trình diện thầy tế lễ để được tuyên bố là thanh sạch mà mụt nhọt vẫn lan ra trên da thì người ấy phải đến gặp thầy tế lễ một lần nữa.
Thầy tế lễ sẽ khám lại, nếu mụt nhọt đó đã lan ra trên da thì thầy tế lễ phải tuyên bố người ấy là ô uế, vì đó là bệnh phong hủi.
Khi có một người bị nhiễm bệnh phong hủi thì phải đưa người đó đến gặp thầy tế lễ.
Thầy tế lễ sẽ khám, nếu trên da có nổi nhọt trắng làm cho lông chuyển sang màu trắng, và nếu trong nhọt có lớp thịt đỏ lồi ra
thì đó là bệnh phong hủi kinh niên trên da thịt người ấy. Thầy tế lễ sẽ tuyên bố người ấy là ô uế mà không cần cách ly để khám lại nữa, vì đã bị ô uế rồi.
Còn nếu thấy triệu chứng ngoài da nguy hiểm đã phát và lan khắp cơ thể người bệnh từ đầu đến chân, chỗ nào thầy tế lễ nhìn thấy được
thì thầy tế lễ phải khám kỹ; nếu bệnh ấy đã lan phủ khắp cơ thể thì thầy tế lễ sẽ tuyên bố người bệnh là thanh sạch, vì cả cơ thể đã chuyển thành màu trắng nên người ấy được thanh sạch.
Nhưng khi thấy có chỗ thịt đỏ xuất hiện thì người ấy phải bị ô uế;
thầy tế lễ phải khám kỹ và tuyên bố người ấy là ô uế, vì đó là bệnh phong hủi.
Nhưng nếu chỗ thịt đỏ chuyển sang màu trắng thì người ấy phải đến với thầy tế lễ.
Thầy tế lễ khám, nếu vết thương đã chuyển sang màu trắng thì phải tuyên bố người có bệnh là thanh sạch, vì người ấy đã được thanh sạch rồi.
Nếu một người có một mụt nhọt trên da đã lành,
nhưng tại chỗ mụt đó lại nổi một cái nhọt trắng hay một đốm đỏ tái thì phải đến cho thầy tế lễ khám.
Nếu thấy cái đốm đó lõm sâu hơn mặt da và lông chuyển sang màu trắng thì thầy tế lễ phải tuyên bố người ấy là ô uế; đó là một vết do bệnh phong hủi đã phát ra từ mụt nhọt.
Nhưng nếu thầy tế lễ khám mà không thấy lông trắng, chỗ đốm không lõm sâu hơn mặt da và màu nhạt đi, thì thầy tế lễ phải cho cách ly người ấy trong bảy ngày.
Nếu thấy đốm ấy ăn lan trên da thì thầy tế lễ phải tuyên bố người ấy là ô uế, vì đó là bệnh phong hủi.
Nhưng nếu đốm ấy vẫn ở nguyên một chỗ, không ăn lan ra, thì đó là vết sẹo của mụt nhọt; thầy tế lễ sẽ tuyên bố người đó là thanh sạch.
Khi một người có vết bỏng trên da và vết bỏng đó trở thành một đốm đỏ tái hay trắng,
thì thầy tế lễ sẽ khám. Nếu lông trong đốm đã chuyển thành màu trắng và lõm sâu hơn mặt da thì đó là bệnh phong hủi phát ra từ vết bỏng. Thầy tế lễ phải tuyên bố người nầy là ô uế, vì đó là bệnh phong hủi.
Nhưng nếu thầy tế lễ khám vết bỏng mà không thấy lông trắng, không lõm sâu hơn mặt da và đã mờ đi thì thầy tế lễ cho cách ly người ấy trong bảy ngày.
Đến ngày thứ bảy, thầy tế lễ khám lại người ấy, nếu đốm ấy lan ra trên da thì phải tuyên bố người ấy là ô uế, vì đó là bệnh phong hủi.
Nhưng nếu đốm đó vẫn ở nguyên một chỗ, không lan ra trên da và đã mờ đi, thì đó là vết thương do bỏng lửa. Thầy tế lễ sẽ tuyên bố người ấy là tinh sạch, vì đó là sẹo của vết bỏng.
Khi một người đàn ông hay đàn bà có vết thương trên đầu hoặc nơi cằm,
thì thầy tế lễ sẽ khám vết thương đó. Nếu nó lõm sâu hơn mặt da, lông mọc trong đó thưa và có màu hơi vàng thì thầy tế lễ phải tuyên bố người ấy là ô uế, đó là chứng ghẻ chốc, tức là bệnh phong hủi ở đầu hay ở cằm.
Nhưng nếu thầy tế lễ khám chỗ ghẻ chốc đó mà thấy nó không lõm sâu hơn mặt da và không có lông đen mọc trong đó, thì thầy tế lễ phải cho cách ly người ấy trong bảy ngày.
Đến ngày thứ bảy, thầy tế lễ sẽ khám, nếu chỗ ghẻ chốc đó không lan ra, không có lông hơi vàng và không lõm sâu hơn mặt da,
thì người ấy phải cạo đầu và râu nhưng không cạo chỗ vết ghẻ chốc, rồi thầy tế lễ sẽ lại cách ly người ấy thêm bảy ngày nữa.
Đến ngày thứ bảy, thầy tế lễ khám lại, nếu chỗ ghẻ chốc không lan ra trên da, không lõm sâu hơn mặt da thì thầy tế lễ sẽ tuyên bố người ấy là thanh sạch. Người ấy sẽ giặt quần áo và sẽ được thanh sạch.
Nhưng nếu chỗ ghẻ chốc đó lại lan ra trên da sau khi được tuyên bố thanh sạch
thì thầy tế lễ phải khám lại. Nếu chỗ ghẻ chốc đó đã lan ra trên da thì thầy tế lễ không cần tìm xem có lông hơi vàng hay không; người ấy đã bị ô uế rồi.
Nhưng nếu chính mắt thầy tế lễ thấy chỗ ghẻ chốc đó vẫn như trước và có lông đen đã mọc ở đó, thì chỗ ghẻ chốc đó đã lành và người đó đã được thanh sạch. Thầy tế lễ sẽ tuyên bố người ấy là thanh sạch.
Khi trên da thịt của một người đàn ông hay một người đàn bà nổi lên những đốm trắng
thì thầy tế lễ sẽ khám. Nếu những đốm trên da thịt người nào có màu trắng đục thì đó chỉ là mụn phát ra trên da, người ấy vẫn thanh sạch.
Khi một người bị rụng tóc, hói đầu thì người ấy vẫn thanh sạch.
Người rụng tóc phía trước đầu là một người hói trán, người ấy vẫn thanh sạch.
Nhưng nếu chỗ hói đầu hay hói trán có một vết trắng hồng thì đó là bệnh phong hủi phát ra từ chỗ hói đầu hay là hói trán.
Thầy tế lễ phải khám người ấy, nếu thấy vết sưng ở chỗ hói đầu hay hói trán có màu trắng hồng, giống như bệnh phong hủi trên da thịt,
thì người ấy bị bệnh ngoài da nguy hiểm; thầy tế lễ sẽ tuyên bố người ấy là ô uế vì vết thương trên đầu.
Người mắc bệnh phong hủi phải mặc quần áo rách, xõa tóc, che râu lại và kêu lên: ‘Ô uế! Ô uế!’
Ngày nào người ấy còn mắc bệnh thì còn bị ô uế và phải sống một mình bên ngoài doanh trại.”
“Khi quần áo bị lên mốc như vết phong hủi, dù trên quần áo bằng len hay quần áo bằng vải gai,
trên hàng dệt, hàng đan bằng vải gai hay len, trên da hay là trên bất cứ vật gì làm bằng da,
nếu thấy vết đó màu hơi xanh hay hơi đỏ xuất hiện trên quần áo hoặc trên da, trên hàng dệt, hàng đan hoặc trên bất cứ vật gì bằng da, thì phải coi như vết mốc và phải đem đến trình cho thầy tế lễ.
Thầy tế lễ sẽ khám và để riêng vật đó ra trong bảy ngày.
Đến ngày thứ bảy, thầy tế lễ sẽ khám lại, nếu vết ấy lan ra trên quần áo, trên hàng dệt, hàng đan hoặc trên đồ vật bằng da, thì đó là vết mốc lây lan; vật đó bị ô uế.
Thầy tế lễ phải đốt quần áo, hàng dệt, hàng đan bằng len hoặc bằng gai, hoặc bất cứ vật gì bằng da đã bị mốc meo, vì đó là vết mốc dễ lây lan cần phải đốt trong lửa.
Trái lại, nếu thầy tế lễ khám và không thấy vết mốc đó lan ra trên quần áo, trên hàng dệt, hàng đan hoặc trên các vật dụng bằng da,
thì ông sẽ bảo họ đem giặt món đồ có vết mốc đó, rồi để riêng nó ra thêm bảy ngày nữa.
Khi giặt rồi, thầy tế lễ sẽ khám lại, nếu vết đó không đổi màu thì dù mốc không lan ra, món đó vẫn bị ô uế; các con phải đốt trong lửa dù vết mốc ăn vào mặt phải hay mặt trái.
Nhưng nếu sau khi giặt, vết mốc ấy mờ đi thì thầy tế lễ phải lột bỏ vết mốc ấy khỏi quần áo, đồ da hay hàng dệt, hàng đan.
Nếu vết mốc lại xuất hiện trên quần áo, trên hàng dệt, hàng đan hoặc trên các đồ vật bằng da, thì đó là một vết mốc lây lan, cần phải đốt đi.
Nhưng quần áo, hàng dệt, hàng đan hoặc món nào bằng da mà các con đã giặt và vết mốc đã biến mất thì phải đem giặt lần thứ hai và món đồ ấy sẽ được thanh sạch.”
Đó là luật về vết mốc meo trên quần áo bằng len hoặc bằng vải gai, trên hàng dệt, hàng đan, hoặc trên vật gì bằng da, để căn cứ vào đó mà tuyên bố vật ấy là thanh sạch hay ô uế.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se rằng:
“Đây là luật lệ dành cho người mắc bệnh phong hủi trong ngày được thanh tẩy. Người ấy sẽ được đưa đến gặp thầy tế lễ;
thầy tế lễ sẽ ra ngoài doanh trại để khám. Nếu người mắc bệnh phong hủi đã khỏi rồi
thì thầy tế lễ sẽ truyền đem cho người sắp được thanh tẩy hai con chim sống và tinh sạch, một khúc gỗ hương nam, một sợi chỉ màu đỏ sậm và cành bài hương.
Thầy tế lễ ra lệnh giết một trong hai con chim đó, hứng máu chim trong một chậu sành, có chứa nước suối.
Sau đó, bắt con chim còn sống cùng với khúc gỗ hương nam, sợi chỉ màu đỏ và cành bài hương, nhúng hết vào máu của con chim đã bị giết trong chậu sành có chứa nước suối.
Thầy tế lễ phải rảy máu đó bảy lần trên người được thanh tẩy và tuyên bố người ấy được thanh sạch, rồi thả con chim còn sống ra ngoài đồng.
Người được thanh tẩy phải giặt quần áo, cạo sạch tóc lông, tắm trong nước và sẽ được tinh sạch. Sau đó, người ấy phải ở bên ngoài trại trong bảy ngày rồi mới được vào trại.
Đến ngày thứ bảy, người ấy sẽ cạo sạch lông, tóc, râu và lông mày, giặt quần áo và tắm trong nước để được tinh sạch.
Ngày thứ tám, người ấy sẽ bắt hai con chiên đực không tì vết, một chiên con cái một tuổi không tì vết, ba ký bột mịn pha dầu làm tế lễ chay và một phần ba lít dầu.
Thầy tế lễ làm lễ thanh tẩy sẽ đem người được thanh tẩy và các lễ vật đó đến trước mặt Đức Giê-hô-va tại cửa Lều Hội Kiến.
Thầy tế lễ sẽ bắt một trong hai con chiên đực dâng làm tế lễ chuộc lỗi cùng với một phần ba lít dầu và làm nghi thức đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va.
Rồi thầy tế lễ giết con chiên đó tại nơi thường giết sinh tế chuộc tội và tế lễ thiêu, trong nơi thánh; vì tế lễ chuộc lỗi cũng thuộc về thầy tế lễ như tế lễ chuộc tội, đó là vật rất thánh.
Thầy tế lễ sẽ lấy máu của con sinh chuộc lỗi bôi lên trái tai phải của người được thanh tẩy, lên ngón cái tay phải và ngón cái chân phải;
rồi lấy một ít dầu đổ vào lòng bàn tay trái,
nhúng ngón tay phải vào dầu trong lòng bàn tay trái và rảy bảy lần trước mặt Đức Giê-hô-va.
Thầy tế lễ lấy dầu còn lại trong lòng bàn tay bôi lên trái tai phải của người được thanh tẩy, ngón cái tay phải và ngón cái chân phải, tức trên lớp máu của tế lễ chuộc lỗi.
Phần dầu còn lại trong lòng bàn tay, thầy tế lễ sẽ xức lên đầu của người được thanh tẩy. Thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người ấy trước mặt Đức Giê-hô-va.
Thầy tế lễ sẽ dâng tế lễ chuộc tội để chuộc tội cho người ấy được thanh tẩy khỏi mọi ô uế. Sau đó, thầy tế lễ sẽ giết con vật làm tế lễ thiêu.
Thầy tế lễ sẽ dâng tế lễ thiêu cùng với tế lễ chay trên bàn thờ. Như vậy, thầy tế lễ sẽ dâng lễ chuộc tội cho người ấy, và người ấy sẽ được thanh sạch.
Nhưng nếu người ấy nghèo khó, không đủ khả năng dâng những lễ vật trên, thì phải bắt một con chiên đực dùng làm tế lễ chuộc lỗi theo nghi thức đưa qua đưa lại để chuộc tội cho mình cùng một ký bột lọc pha dầu làm tế lễ chay và một phần ba lít dầu,
hai con chim gáy hoặc một cặp bồ câu, tùy theo khả năng, một con dùng làm tế lễ chuộc tội, một con dùng làm tế lễ thiêu.
Đến ngày thứ tám, để được thanh tẩy, người ấy phải đem các lễ vật đó đến cho thầy tế lễ tại cửa Lều Hội Kiến, trước mặt Đức Giê-hô-va.
Thầy tế lễ sẽ bắt con chiên con dùng làm tế lễ chuộc lỗi và một phần ba lít dầu dâng lên theo nghi thức đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va.
Thầy tế lễ sẽ giết chiên con dùng làm sinh tế chuộc lỗi, lấy máu bôi lên trái tai phải, lên ngón cái tay phải và ngón cái chân phải của người được thanh tẩy.
Thầy tế lễ cũng đổ một ít dầu vào lòng bàn tay trái,
dùng ngón tay phải nhúng vào dầu đổ trong bàn tay trái và rảy bảy lần trước mặt Đức Giê-hô-va
và bôi lên trái tai phải, ngón cái tay phải và ngón cái chân phải của người được thanh tẩy, cũng như trên lớp máu của tế lễ chuộc lỗi.
Phần dầu còn lại trong lòng bàn tay, thầy tế lễ sẽ xức lên đầu người được thanh tẩy để làm lễ chuộc tội cho người ấy trước mặt Đức Giê-hô-va.
Rồi thầy tế lễ sẽ dâng hai con chim gáy hoặc hai con bồ câu, tùy theo khả năng người ấy,
một con dùng làm tế lễ chuộc tội, một con dùng làm tế lễ thiêu, cùng với tế lễ chay. Như vậy, thầy tế lễ dâng lễ chuộc tội cho người được thanh tẩy trước mặt Đức Giê-hô-va.”
Đó là luật lệ cho người mắc bệnh phong hủi mà không đủ khả năng dâng những lễ vật cần thiết cho lễ thanh tẩy của mình.
Đức Giê-hô-va cũng phán với Môi-se và A-rôn rằng:
“Khi các con vào đất Ca-na-an mà Ta sẽ ban cho các con làm sản nghiệp, nếu Ta đặt một vết mốc vào một nhà nào đó trong đất mà các con sẽ chiếm hữu,
thì chủ nhà đó phải đến báo với thầy tế lễ rằng: ‘Tôi thấy có một vết gì như vết mốc trong nhà tôi.’
Trước khi vào khám vết mốc đó, thầy tế lễ phải ra lệnh dọn trống nhà để không có vật gì trong nhà bị uế nhiễm; sau đó, thầy tế lễ sẽ vào khám nhà.
Thầy tế lễ sẽ khám vết đó, nếu vết đó ở trong vách tường với những đốm màu hơi xanh hoặc hơi đỏ, lõm sâu hơn mặt vách,
thì thầy tế lễ phải ra khỏi cửa nhà và niêm phong nhà lại trong bảy ngày.
Ngày thứ bảy, thầy tế lễ trở lại, nếu thấy các đốm ấy lan ra trên vách nhà
thì phải ra lệnh gỡ các viên đá bị đốm đó xuống và ném vào một chỗ ô uế bên ngoài thành;
rồi cho người cạo sạch bên trong nhà, đổ lớp hồ vừa cạo đó vào một chỗ ô uế bên ngoài thành,
và đem đá khác thay vào chỗ đá cũ, rồi lấy hồ mới tô lại căn nhà.
Nhưng nếu sau khi đã gỡ đá, cạo nhà và tô lại rồi mà đốm mốc đó vẫn còn xuất hiện trong nhà
thì thầy tế lễ phải đến khám lại. Nếu thấy đốm đó vẫn lan ra trong nhà thì đó là vết mốc ăn lan trong nhà, và nhà đó đã bị ô uế.
Người ta phải phá nhà đó đi; tất cả đá, gỗ và hồ của nhà ấy phải đem đổ vào một nơi ô uế bên ngoài thành.
Trong lúc nhà bị niêm phong, ai đi vào đó sẽ bị ô uế cho đến chiều tối.
Ai ngủ hoặc ăn trong nhà đó phải giặt quần áo mình.
Nhưng nếu sau khi nhà đã tô lại, thầy tế lễ đến khám và thấy các vết không lan ra trong nhà, thì phải tuyên bố căn nhà đó là thanh sạch, vì các vết mốc đó đã lành.
Để thanh tẩy nhà, thầy tế lễ phải lấy hai con chim, gỗ hương nam, chỉ màu đỏ và cành bài hương;
rồi giết một trong hai con chim đó trên miệng chậu sành có chứa nước suối,
lấy gỗ hương nam, cành bài hương, chỉ màu đỏ và con chim còn sống nhúng hết vào trong máu con chim đã giết pha trộn với nước suối và rảy trên nhà bảy lần.
Như vậy thầy tế lễ đã dùng máu chim, nước suối, con chim sống, gỗ hương nam, cành bài hương và chỉ màu đỏ để thanh tẩy căn nhà.
Thầy tế lễ cũng thả con chim sống bay ra đồng bên ngoài thành. Như thế, sau khi thầy tế lễ làm lễ chuộc tội cho căn nhà thì căn nhà sẽ được thanh sạch.”
Trên đây là luật lệ liên quan đến các bệnh ngoài da nguy hiểm: ghẻ chốc,
các vết mốc trên quần áo và nhà ở,
các chỗ sưng, chỗ lở loét và các đốm,
để xác định khi nào là ô uế và khi nào là thanh sạch. Đó là luật về bệnh ngoài da nguy hiểm.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn:
“Các con hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên biết rằng: Khi một người đàn ông mắc bệnh lậu trong thân thể thì bệnh lậu đó sẽ làm cho người ấy bị ô uế.
Sự ô uế do bệnh lậu gây ra dù khi thân thể đang tiết mủ ra hay đã được cầm lại thì người đó vẫn bị ô uế.
Bất cứ giường nào người mắc bệnh lậu nằm đều bị ô uế; mọi đồ vật người đó ngồi lên cũng bị ô uế.
Ai đụng đến giường người đó phải giặt quần áo, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
Ai ngồi trên vật gì mà người mắc bệnh lậu đã ngồi thì phải giặt quần áo, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
Ai đụng đến thân thể người bệnh lậu sẽ phải giặt quần áo, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
Nếu người bệnh lậu phun nhằm người tinh sạch thì người đó phải giặt quần áo, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
Bất cứ yên ngựa nào người mắc bệnh lậu ngồi lên đều bị ô uế.
Người nào đụng đến bất cứ vật gì mà người mắc bệnh lậu nằm hay ngồi lên đều sẽ bị ô uế đến chiều tối. Còn ai mang các đồ vật đó thì phải giặt quần áo, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
Người mắc bệnh lậu chưa rửa tay mà chạm phải người nào thì người đó phải giặt quần áo, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
Vật dụng bằng sành mà bị người bệnh lậu đụng đến thì phải đập bể, đồ gỗ thì phải rửa trong nước.
Khi một người mắc bệnh lậu được lành thì phải tính thêm bảy ngày nữa mới được thanh tẩy. Người ấy phải giặt quần áo, tắm trong suối nước, và sẽ được thanh sạch.
Đến ngày thứ tám, người ấy sẽ bắt hai con chim gáy hoặc hai bồ câu, đến trước mặt Đức Giê-hô-va tại cửa Lều Hội Kiến và đưa cho thầy tế lễ.
Thầy tế lễ sẽ dâng một con làm tế lễ chuộc tội, một con làm tế lễ thiêu. Như vậy, thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội trước mặt Đức Giê-hô-va cho người mắc bệnh lậu.
Khi một người đàn ông xuất tinh thì phải tắm toàn thân trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
Các vật dụng bằng vải hay bằng da bị dính tinh dịch phải được giặt rửa trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
Khi một người đàn ông giao hợp với một người đàn bà thì cả hai đều phải tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
Một phụ nữ khi có kinh nguyệt thì phải chịu ô uế trong bảy ngày. Ai chạm đến người ấy sẽ bị ô uế đến chiều tối.
Bất cứ vật gì người nữ ấy nằm hay ngồi lên trong thời kỳ không tinh sạch nầy đều bị ô uế.
Ai đụng đến giường của người nữ ấy phải giặt quần áo, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
Ai đụng đến vật gì người nữ ấy đã ngồi lên thì phải giặt quần áo, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
Ai đụng đến giường hoặc vật gì người nữ ấy ngồi lên sẽ bị ô uế đến chiều tối.
Người đàn ông nào giao hợp với người đàn bà ấy thì sự ô uế sẽ lây sang người đàn ông và người ấy sẽ bị ô uế trong bảy ngày; giường người ấy nằm cũng sẽ bị ô uế.
Khi một phụ nữ bị rong huyết nhiều ngày không phải trong thời kỳ kinh nguyệt, hoặc rong huyết kéo dài quá thời kỳ kinh nguyệt, thì sẽ bị ô uế suốt thời gian rong huyết như trong thời gian có kinh vậy.
Bất cứ giường nào mà người nữ ấy nằm trong suốt thời gian bị rong huyết sẽ bị ô uế như giường của thời kỳ kinh nguyệt; và vật gì người nữ đó ngồi lên đều sẽ bị ô uế như trong thời gian có kinh.
Ai đụng đến các vật đó sẽ bị ô uế, phải giặt quần áo, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
Khi huyết cầm lại, người đó phải đợi thêm bảy ngày nữa mới được xem là tinh sạch.
Đến ngày thứ tám người ấy phải bắt hai con chim gáy hoặc hai bồ câu đem đến thầy tế lễ tại cửa Lều Hội Kiến.
Thầy tế lễ phải dâng một con làm tế lễ chuộc tội và một con làm tế lễ thiêu. Như vậy, thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội trước mặt Đức Giê-hô-va cho người bị rong huyết.
Các con phải giữ cho dân Y-sơ-ra-ên cách ly trong thời gian họ bị ô uế; nếu không, họ sẽ chết trong sự ô uế mình vì đã làm ô uế Đền Tạm của Ta đang ở giữa họ.”
Đó là luật về sự ô uế của người mắc bệnh lậu hay người xuất tinh,
của người phụ nữ trong kỳ kinh nguyệt, của người nam mắc bệnh lậu hay người nữ bị rong huyết, và của người đàn ông giao hợp với đàn bà trong thời kỳ kinh nguyệt.
Sau cái chết của hai con trai A-rôn khi họ đến gần Đức Giê-hô-va, Ngài phán với Môi-se:
“Con hãy nói với A-rôn, anh con, rằng không phải lúc nào cũng có thể vào Nơi Chí Thánh ở phía trong bức màn, trước nắp thi ân đặt trên Hòm Chứng Ước được đâu; nếu bất tuân sẽ phải chết, vì Ta hiện ra trong đám mây trên nắp thi ân.
A-rôn sẽ vào Nơi Chí Thánh như thế nầy: Người phải đem một con bò đực tơ để làm tế lễ chuộc tội và một con chiên đực để làm tế lễ thiêu.
A-rôn sẽ mặc áo dài thánh bằng vải gai, quần ngắn bằng vải gai, thắt đai lưng bằng vải gai và đội một cái mũ cũng bằng vải gai. Đó là bộ lễ phục thánh mà A-rôn sẽ mặc sau khi đã tắm trong nước.
A-rôn cũng nhận từ hội chúng Y-sơ-ra-ên hai con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội và một con chiên đực dùng làm tế lễ thiêu.
A-rôn sẽ dâng con bò để làm tế lễ chuộc tội cho chính mình và cử hành lễ chuộc tội cho mình và cho nhà mình.
Sau đó, người phải đem hai con dê đực đến trước mặt Đức Giê-hô-va tại cửa Lều Hội Kiến.
A-rôn sẽ bắt thăm chọn giữa hai con dê, một thăm thuộc về Đức Giê-hô-va, một thăm thuộc về A-xa-sên.
A-rôn sai đem con dê đực thuộc về Đức Giê-hô-va đến gần và dâng làm tế lễ chuộc tội.
Còn con dê thuộc về A-xa-sên sẽ dâng sống trước mặt Đức Giê-hô-va để làm lễ chuộc tội trên nó rồi thả vào hoang mạc cho A-xa-sên.
Vậy, A-rôn sẽ đem con bò làm sinh tế chuộc tội cho chính mình và giết nó để làm lễ chuộc tội cho mình và cho nhà mình.
A-rôn sẽ lấy một lư hương đầy than đỏ hực từ trên bàn thờ trước mặt Đức Giê-hô-va và bốc hai nắm bột hương thơm rồi đem vào bên trong bức màn.
A-rôn phải bỏ hương vào lửa trước mặt Đức Giê-hô-va để cho đám mây của khói hương bao phủ nắp thi ân đặt trên Hòm Chứng Ước, và nhờ vậy A-rôn mới khỏi chết.
A-rôn lấy một ít máu của con bò đó, dùng ngón tay rảy bảy lần về phía đông của nắp thi ân, nghĩa là phía trước nắp thi ân.
Sau đó, A-rôn giết con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội cho dân chúng, rồi đem máu vào phía trong bức màn, và cũng dùng máu nó rảy phía đông của nắp thi ân, nghĩa là phía trước nắp thi ân, như đã dùng máu con bò vậy.
Như vậy, A-rôn làm lễ chuộc tội cho Nơi Chí Thánh vì sự bất khiết của dân Y-sơ-ra-ên, sự vi phạm và tội lỗi của họ. Người cũng làm như thế với phần còn lại của Lều Hội Kiến đang ở với họ, giữa sự bất khiết của họ.
Trong lúc thầy tế lễ vào Nơi Chí Thánh để làm lễ chuộc tội, không một ai được ở trong Lều Hội Kiến cho đến khi người trở ra. Như vậy, người làm lễ chuộc tội cho chính mình, cho nhà mình và cho cả hội chúng Y-sơ-ra-ên.
Rồi người đi ra chỗ bàn thờ trước mặt Đức Giê-hô-va để làm lễ chuộc tội cho bàn thờ; người lấy một ít máu bò đực tơ và máu dê đực bôi lên các sừng của bàn thờ,
và dùng ngón tay rảy huyết bảy lần trên bàn thờ để thanh tẩy và thánh hóa bàn thờ khỏi những sự bất khiết của dân Y-sơ-ra-ên.”
“Sau khi làm xong lễ chuộc tội cho Nơi Chí Thánh, Lều Hội Kiến và bàn thờ, A-rôn phải đem con dê đực còn sống đến,
đặt cả hai tay trên đầu con dê đực còn sống đó, xưng tất cả gian ác của dân Y-sơ-ra-ên, mọi vi phạm và tội lỗi của chúng, và chất tất cả lên đầu con thú, rồi giao cho một người được chỉ định dẫn nó vào hoang mạc và thả đi.
Con dê đó sẽ mang trên mình tất cả tội ác của dân Y-sơ-ra-ên được thả vào nơi vắng vẻ trong hoang mạc.
A-rôn sẽ trở vào Lều Hội Kiến, cởi lễ phục bằng vải gai mịn mình đã mặc khi vào Nơi Chí Thánh và để ở đó.
Người sẽ tắm rửa thân thể tại một nơi thánh, mặc lại lễ phục và đi ra dâng tế lễ thiêu của mình và tế lễ thiêu của dân chúng để làm lễ chuộc tội cho chính mình và cho dân chúng.
Người cũng phải đốt mỡ của sinh tế chuộc tội trên bàn thờ.
Người nào dẫn con dê đực thuộc về A-xa-sên phải giặt quần áo, tắm mình trong nước rồi mới được vào trại.
Con bò đực tơ và con dê đực đã dâng làm tế lễ chuộc tội mà máu đã được đem vào Nơi Chí Thánh để làm lễ chuộc tội, phải được đem ra ngoài trại; da, thịt và phân của hai con thú đó phải đem đốt trong lửa.
Người đứng đốt những thứ đó phải giặt quần áo, tắm mình trong nước rồi mới được vào trại.
Đây sẽ là một quy định vĩnh viễn cho các con: Vào ngày mùng mười tháng bảy, các con dù là người bản xứ hay ngoại kiều sống giữa các con đều phải kiêng ăn, từ bỏ mình, không làm việc,
vì trong ngày đó, lễ chuộc tội sẽ được cử hành cho các con để các con được tinh sạch; mọi tội lỗi của các con sẽ được thanh tẩy trước mặt Đức Giê-hô-va.
Đó sẽ là một ngày sa-bát để các con nghỉ ngơi và hạ mình tĩnh tâm. Đây là một quy định vĩnh viễn.
Thầy tế lễ đã được xức dầu và phong chức tế lễ thay thế cha mình sẽ mặc lễ phục bằng vải gai, tức là lễ phục thánh, để cử hành lễ chuộc tội.
Ông sẽ làm lễ chuộc tội cho Nơi Chí Thánh, cho Lều Hội Kiến, cho bàn thờ, cho những thầy tế lễ và toàn thể hội chúng.
Đây là quy định vĩnh viễn cho các con: Mỗi năm một lần phải làm lễ chuộc tội cho dân Y-sơ-ra-ên để thanh tẩy mọi tội lỗi của chúng.” A-rôn đã thực hiện đúng như lời Đức Giê-hô-va truyền phán qua Môi-se.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy nói với A-rôn và các con trai người cùng toàn dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Đây là lời Đức Giê-hô-va phán truyền:
Bất cứ một người nam nào thuộc nhà Y-sơ-ra-ên giết một con bò, một con chiên con hoặc một con dê trong trại hay ngoài trại,
thay vì đem đến cửa Lều Hội Kiến để dâng lên Đức Giê-hô-va trước Đền Tạm của Ngài, thì người ấy sẽ bị kể là mắc tội làm đổ máu; người làm đổ máu sẽ bị truất khỏi cộng đồng dân cư.
Luật nầy nhằm chấm dứt việc dân Y-sơ-ra-ên dâng sinh tế giết ngoài đồng. Họ phải mang sinh tế đến cho thầy tế lễ để dâng lên Đức Giê-hô-va làm tế lễ bình an tại cửa Lều Hội Kiến.
Thầy tế lễ sẽ rảy máu con sinh trên bàn thờ của Đức Giê-hô-va tại cửa Lều Hội Kiến và thiêu mỡ cho có mùi thơm dâng lên Đức Giê-hô-va.
Họ không được dâng tế lễ cho ma quỷ là những thần họ thông dâm nữa. Đây là một quy định đời đời cho họ trải qua các thế hệ.’
Vậy con hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Bất cứ người nào thuộc nhà Y-sơ-ra-ên, hoặc các ngoại kiều ở giữa họ, dâng một tế lễ thiêu hay sinh tế
mà không đem đến cửa Lều Hội Kiến để dâng lên Đức Giê-hô-va, thì người đó sẽ bị truất khỏi dân tộc mình.’
‘Người nào thuộc nhà Y-sơ-ra-ên hoặc các ngoại kiều ở giữa họ mà ăn huyết thì Ta sẽ chống lại kẻ đó, và truất nó khỏi dân tộc mình.
Vì sinh mạng của xác thịt ở trong huyết, và Ta đã ban huyết cho các con rảy trên bàn thờ để làm lễ chuộc tội linh hồn các con. Vì chính huyết là sinh mạng nên mới chuộc tội được.
Vì thế, Ta phán với dân Y-sơ-ra-ên rằng không một ai trong các con được ăn huyết, và cả các ngoại kiều đang sống giữa các con cũng không được ăn huyết.
Nếu có một người trong dân Y-sơ-ra-ên hoặc trong các ngoại kiều đang sống giữa họ đi săn được một con thú hay con chim có thể ăn thịt được thì phải đổ huyết nó ra hết rồi lấy bụi đất lấp lại,
vì sinh mạng của mọi xác thịt ở trong huyết của nó. Vì vậy, Ta phán với dân Y-sơ-ra-ên: “Các con không được ăn huyết của bất cứ loài sinh vật nào vì sinh mạng của mọi sinh vật chính là huyết của nó; ai ăn huyết sẽ bị trục xuất.”
Người nào, dù là dân bản địa hay ngoại kiều, ăn thịt của một con thú chết tự nhiên hoặc chết vì bị thú dữ xé, thì phải giặt quần áo, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối mới được tinh sạch lại.
Còn người nào không giặt quần áo và không tắm rửa thì sẽ mắc tội.’”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.
Các con đừng làm những gì người ta làm trong xứ Ai Cập, nơi các con đã kiều ngụ, cũng đừng làm những gì người ta làm trong xứ Ca-na-an, nơi Ta sắp đưa các con đến. Không được theo các thói tục của họ.
Các con phải tuân theo các quy định và giữ gìn luật pháp của Ta. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.
Vậy hãy tuân giữ luật pháp và các quy định của Ta; ai làm theo những điều nầy thì sẽ nhờ đó mà được sống. Ta là Đức Giê-hô-va.
Không ai trong các con được quan hệ tình dục với bà con ruột thịt của mình. Ta là Đức Giê-hô-va.
Đừng sỉ nhục cha mà đi quan hệ tình dục với mẹ. Bà ấy là mẹ; không được quan hệ tình dục với bà.
Đừng quan hệ tình dục với bất cứ người vợ nào của cha; làm vậy là sỉ nhục cha mình.
Đừng quan hệ tình dục với chị em mình, dù là cùng cha cùng mẹ, hoặc cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha, dù được sinh ra trong nhà hay sinh ở ngoài.
Đừng quan hệ tình dục với cháu nội hoặc cháu ngoại gái; làm vậy là tự sỉ nhục chính mình.
Đừng quan hệ tình dục với em cùng cha khác mẹ; vì đó là em gái của mình.
Đừng quan hệ tình dục với chị em của cha vì là cốt nhục của cha mình.
Đừng quan hệ tình dục với chị em của mẹ vì là cốt nhục của mẹ mình.
Đừng quan hệ tình dục với bác gái hay thím; làm vậy là sỉ nhục anh em của cha mình.
Đừng quan hệ tình dục với con dâu vì là vợ của con trai mình.
Đừng quan hệ tình dục với chị dâu hay em dâu; làm vậy là sỉ nhục anh em mình.
Đừng quan hệ tình dục với một người đàn bà cùng với con gái của người ấy. Đừng lấy cháu nội hay cháu ngoại gái của người ấy, vì họ là cốt nhục của nhau. Đó là một việc đồi bại.
Đừng lấy chị em của vợ khi người vợ còn sống; như vậy sẽ gây ra cảnh ganh ghét nhau.
Đừng quan hệ tình dục với người đàn bà đang ô uế lúc kinh nguyệt.
Không được giao hợp với vợ người lân cận để mình khỏi bị ô uế.
Không được đem con cái mình dâng cho thần Mo-lóc, vì làm như thế là xúc phạm đến danh Đức Chúa Trời mình. Ta là Đức Giê-hô-va.
Đừng nằm với một người đàn ông như nằm với người đàn bà; đó là điều đáng ghê tởm.
Đừng giao hợp với thú vật nào để mình khỏi bị ô uế vì nó; đàn bà cũng không được buông mình giao hợp với thú vật; đó là một điều đáng kinh tởm.
Các con đừng làm cho mình trở nên ô uế bởi các việc đó, vì bởi chính các việc đó mà các dân tộc kia đã bị ô uế và sắp bị Ta đuổi khỏi các con.
Đất đã bị ô uế. Ta đã trừng phạt nó vì tội ác nó, và đất đã mửa dân nó ra.
Còn các con, dù là dân trong xứ hay ngoại kiều đang sống giữa các con, đều phải tuân giữ luật pháp và mệnh lệnh của Ta, đừng làm bất cứ việc nào trong những việc đáng ghê tởm đó.
Chính những người sống trên đất nầy trước các con đã làm những việc đáng ghê tởm đó mà đất đã trở nên ô uế.
Vậy, đừng làm cho đất trở thành ô uế; nếu không, đất cũng sẽ mửa các con ra như đã mửa dân tộc từng sống ở đó trước các con.
Người nào làm một trong những điều đáng ghê tởm ấy sẽ bị trục xuất khỏi dân chúng.
Vậy, các con phải tuân giữ điều Ta phán dạy, không được theo các thói tục ghê tởm mà dân chúng sống ở đó trước các con đã làm, và đừng để các thói tục đó làm cho các con ô uế. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy truyền cho cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Các con phải thánh vì Ta, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con, là thánh.
Mọi người phải tôn kính cha mẹ và giữ những ngày sa-bát của Ta. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.
Đừng hướng về hình tượng và cũng không được đúc cho mình tượng tà thần. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.
Khi các con dâng tế lễ bình an cho Đức Giê-hô-va thì phải dâng cách nào để được Ngài chấp nhận.
Phải ăn lễ vật đó ngay trong ngày dâng và ngày hôm sau; phần còn thừa lại đến ngày thứ ba thì phải đem đốt sạch.
Nếu sang ngày thứ ba rồi mà có người vẫn ăn thì đó là điều ghê tởm, Ngài không chấp nhận.
Người đó sẽ mang tội vì đã xúc phạm đến vật thánh của Đức Giê-hô-va và phải bị trục xuất khỏi dân chúng.
Khi các con gặt lúa trong đất mình thì đừng gặt đến cuối bờ ruộng, cũng đừng mót những bông lúa còn sót.
Đừng hái sạch vườn nho hay nhặt những trái rớt xuống đất; hãy để lại cho người nghèo khó và kẻ tha hương. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.
Các con không được trộm cắp, không được nói dối và lừa đảo nhau.
Các con không được lấy danh Ta mà thề dối, vì như vậy là xúc phạm đến danh của Đức Chúa Trời mình. Ta là Đức Giê-hô-va.
Không được bóc lột người lân cận mình, cũng đừng cướp giật của họ. Không được giữ tiền công của người làm thuê trong nhà mình cho đến hôm sau.
Không được rủa sả người điếc hay đặt vật cản cho người mù vấp chân, nhưng phải kính sợ Đức Chúa Trời. Ta là Đức Giê-hô-va.
Các con không được bất công trong việc xét xử; không thiên vị người nghèo cũng đừng nể nang kẻ quyền thế, nhưng hãy phân xử người lân cận mình một cách công minh.
Không được phao vu trong bà con, cũng đừng làm chứng dối nhằm hại mạng sống của người lân cận. Ta là Đức Giê-hô-va.
Đừng để lòng ghen ghét anh em mình; hãy quở trách người lân cận để khỏi mắc tội chung với họ
Đừng trả thù, đừng mang mối oán hận với đồng bào mình, nhưng hãy yêu thương người lân cận như chính mình. Ta là Đức Giê-hô-va.
Các con phải giữ các mệnh lệnh của Ta. Đừng để loài vật khác giống phủ lẫn nhau; đừng gieo hai thứ hạt giống trong ruộng và đừng mặc áo quần dệt bằng hai loại chỉ khác nhau.
Nếu một người đàn ông ăn nằm với một nữ nô lệ đã hứa gả cho một người đàn ông khác nhưng chưa được chuộc ra hoặc chưa được trả tự do, thì cả hai đều sẽ bị phạt nhưng không bị tử hình vì nữ nô lệ đó chưa được trả tự do.
Tuy nhiên, người đàn ông phải đem một con chiên đực đến trước cửa Lều Hội Kiến, dâng lên Đức Giê-hô-va làm tế lễ chuộc lỗi.
Thầy tế lễ sẽ dâng con chiên đực làm tế lễ chuộc lỗi cho người đã phạm trước mặt Đức Giê-hô-va và tội mà người đó phạm sẽ được tha.
Khi các con vào đất hứa và trồng các thứ cây ăn trái, thì hãy kể các trái đó như trái cấm. Các con phải xem đó là trái cấm và không được ăn trong ba năm.
Nhưng đến năm thứ tư các trái cây đó sẽ được thánh hóa, làm lễ vật tôn vinh Đức Giê-hô-va.
Đến năm thứ năm các con vẫn còn được ăn trái cây đó. Nếu các con giữ lời Ta dạy, hoa lợi sẽ gia tăng cho các con. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.
Các con không được ăn thịt còn máu. Không được hành nghề bói toán hay ma thuật.
Đừng xén tóc vòng quanh đầu và đừng tỉa râu.
Đừng vì người chết mà cắt da thịt hay xăm vẽ trên thân thể bất cứ hình ảnh nào. Ta là Đức Giê-hô-va.
Đừng làm nhục con gái mà bắt nó làm gái mại dâm trong các đền miếu, khiến cho cả xứ rơi vào dâm loạn và đầy dẫy sự đồi bại.
Các con phải giữ các ngày sa-bát và tôn kính đền thánh của Ta. Ta là Đức Giê-hô-va.
Các con không được đến với bọn đồng bóng hay thầy bói; không được cầu hỏi chúng mà trở thành ô uế. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.
Các con phải đứng dậy trước mặt người tóc bạc, tôn kính người già cả và kính sợ Đức Chúa Trời của các con. Ta là Đức Giê-hô-va.
Khi có ngoại kiều cư ngụ trong xứ các con thì đừng ức hiếp họ.
Ngoại kiều cư ngụ giữa các con phải được xem như người bản địa; các con phải thương yêu họ như chính mình, vì các con đã từng là kiều dân trong xứ Ai Cập. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.
Các con không được làm điều bất nghĩa trong khi xét xử cũng như khi cân đo, đong đếm.
Các con phải dùng cân chính xác, trái cân chính xác, ê-pha và hin chính xác. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con, Đấng đã đem các con ra khỏi Ai Cập.
Vậy các con phải tuân giữ và thực hành tất cả các luật lệ và mệnh lệnh của Ta. Ta là Đức Giê-hô-va.’”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Con hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Bất cứ người Y-sơ-ra-ên hay ngoại kiều nào cư ngụ trong xứ Y-sơ-ra-ên mà đem một trong số các con cháu mình dâng cho Mo-lóc thì chắc chắn phải bị xử tử; dân trong xứ sẽ ném đá người ấy.
Còn Ta, Ta sẽ không nhìn mặt kẻ ấy nữa và loại trừ nó khỏi dân tộc mình vì nó đã dâng một trong số các con cháu mình cho Mo-lóc, làm ô uế đền thánh và xúc phạm danh thánh Ta.
Khi kẻ ấy dâng một trong các con cháu nó cho Mo-lóc mà dân trong xứ nhắm mắt làm ngơ và không xử tử nó,
thì chính Ta sẽ không nhìn mặt kẻ ấy và gia tộc nó nữa, nhưng loại trừ nó và những kẻ đồng lõa khỏi dân chúng về tội thông dâm với Mo-lóc.’
‘Nếu người nào hướng về đồng bóng và thầy bói mà thông dâm với chúng thì Ta sẽ đối mặt chống lại kẻ ấy và loại trừ nó khỏi dân chúng.
Các con hãy biệt mình riêng ra thánh và nên thánh vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.
Các con hãy tuân giữ và làm theo luật pháp của Ta; Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng thánh hóa các con.’
‘Người nào nguyền rủa cha mẹ mình thì phải bị xử tử. Nó đã nguyền rủa cha mẹ thì máu nó sẽ đổ lại trên nó.’
‘Nếu một người phạm tội tà dâm với một người đàn bà có chồng, hay với vợ của người lân cận, thì cả người đàn ông lẫn người đàn bà đó đều phải bị xử tử.
Nếu người nào quan hệ tình dục với vợ của cha mình, tức là đã làm nhục cha, thì cả hai đều phải bị xử tử; máu của chúng sẽ đổ lại trên chúng.
Nếu người nào quan hệ tình dục với con dâu mình thì cả hai đều phải bị xử tử, chúng đã làm điều ghê tởm; máu của chúng sẽ đổ lại trên chúng.
Nếu một người đàn ông nằm với một người đàn ông khác như nằm với một người đàn bà thì cả hai đều phải bị xử tử, chúng đã làm một điều ghê tởm; máu của chúng sẽ đổ lại trên chúng.
Nếu một người đàn ông lấy cả mẹ và con làm vợ thì đó là một tội ác; cả ba đều phải bị thiêu sống để tội ác đó không tồn tại giữa các con.
Nếu một người đàn ông giao hợp với thú vật thì phải bị xử tử; các con phải giết con thú đó đi.
Nếu một người đàn bà đến gần một con thú để giao hợp với nó thì các con hãy giết người đàn bà và con thú đó đi; chúng phải bị xử tử, máu của chúng sẽ đổ lại trên chúng.
Nếu một người đàn ông lấy chị hay em ruột, hoặc cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha, thì đó là điều sỉ nhục đáng xấu hổ, chúng phải bị loại trừ khỏi dân chúng. Người đã làm nhục chị em mình sẽ phải mang tội ác.
Nếu một người đàn ông quan hệ tình dục với một người đàn bà trong kỳ kinh nguyệt và người đàn ông để lộ ra kinh nguyệt của người đàn bà và chính người đàn bà cũng để lộ ra máu ấy, thì cả hai đều sẽ bị loại trừ khỏi dân chúng.
Không được quan hệ tình dục với chị em của mẹ hay là chị em của cha vì làm vậy là sỉ nhục thân tộc mình; cả hai đều phải mang hình phạt về tội ác đó.
Nếu một người đàn ông quan hệ tình dục với bác gái hay thím mình tức là làm nhục chú bác mình; cả hai đều sẽ chịu hình phạt về tội mình. Chúng sẽ chết tuyệt tự.
Nếu một người đàn ông lấy chị dâu hay em dâu mình thì đó là điều nhơ nhuốc; người đó đã làm nhục anh em mình. Chúng sẽ bị tuyệt tự.
Các con hãy vâng giữ và làm theo các luật lệ và mệnh lệnh Ta để xứ mà Ta đem các con vào sẽ không mửa các con ra.
Các con không được noi theo thói tục của các dân tộc mà Ta sẽ đuổi khỏi các con vì chúng đã làm những điều đó và Ta ghê tởm chúng.
Ta đã phán với các con: “Các con sẽ hưởng đất đai của chúng, Ta sẽ ban xứ ấy cho các con làm sản nghiệp; đó là một xứ đượm sữa và mật.” Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con, đã phân rẽ các con khỏi các dân tộc khác.
Vậy các con phải phân biệt giữa thú thanh sạch với thú ô uế, giữa chim ô uế với chim thanh sạch; đừng làm cho mình ra kinh tởm vì thú vật, vì chim chóc hay các loài sâu bọ trên mặt đất, là các loài mà Ta đã phân biệt để các con biết là ô uế.
Các con hãy nên thánh cho Ta, vì Ta là Đức Giê-hô-va, là thánh; Ta đã phân rẽ các con khỏi các dân tộc để các con thuộc riêng về Ta.
Khi một người đàn ông hay đàn bà làm đồng bóng hay bói khoa thì phải bị xử tử; chúng phải bị ném đá và máu của chúng sẽ đổ lại trên chúng.’”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se: “Con hãy nói với những thầy tế lễ là các con trai A-rôn rằng: ‘Một thầy tế lễ không được để cho mình bị ô uế vì một người chết trong thân tộc mình,
ngoại trừ vì đó là người bà con ruột thịt như mẹ, cha, con trai, con gái, anh em
hoặc chị em ruột còn độc thân, nương dựa thầy tế lễ vì không có chồng; thầy tế lễ có thể vì chị em đó mà bị ô uế.
Vì là người lãnh đạo dân chúng nên thầy tế lễ không được để cho mình bất khiết và phàm tục.
Các thầy tế lễ không được cạo đầu, tỉa râu mép hoặc cắt da thịt mình.
Họ phải được biệt riêng ra thánh cho Đức Chúa Trời và không được xúc phạm đến danh Ngài, vì họ là những người dùng lửa dâng tế lễ lên Đức Giê-hô-va, là thức ăn của Đức Chúa Trời mình; vì vậy họ phải nên thánh.
Thầy tế lễ không được kết hôn với một gái mại dâm hay một phụ nữ lăng loàn, hoặc một người đàn bà ly dị, vì thầy tế lễ là người được biệt riêng ra thánh cho Đức Chúa Trời.
Vậy các con hãy xem thầy tế lễ như thánh vì là người dâng thức ăn lên Đức Chúa Trời của các con. Họ là thánh đối với các con, vì Ta, Đức Giê-hô-va là thánh, là Đấng thánh hóa các con.
Nếu con gái của thầy tế lễ tự sỉ nhục mình vì làm gái mại dâm, xúc phạm đến cha mình, thì cô gái đó phải bị thiêu sống.
Thầy tế lễ có vị trí cao nhất trong các anh em mình, người đã được rảy dầu thánh trên đầu, được biệt riêng ra thánh để mặc lễ phục, thì không được xõa tóc hoặc xé áo,
không được đến gần xác chết, không được làm cho mình ra ô uế dù là vì cha hay mẹ mình.
Người ấy không được ra khỏi đền thánh, hoặc xúc phạm đến đền thánh của Đức Chúa Trời vì dầu thánh của Đức Chúa Trời đã được xức trên người. Ta là Đức Giê-hô-va.
Người ấy phải kết hôn với một trinh nữ.
Không được cưới đàn bà góa, đàn bà ly dị, đàn bà lăng loàn hay gái mại dâm mà phải cưới một trinh nữ trong gia tộc mình;
như vậy, người ấy sẽ không làm sỉ nhục dòng giống của thân tộc mình, vì Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng thánh hóa người ấy.’”
Đức Giê-hô-va còn phán với Môi-se:
“Hãy nói với A-rôn rằng: ‘Qua mọi thế hệ, không một người nào trong dòng dõi ngươi có khuyết tật mà được đến gần để dâng thức ăn lên Đức Chúa Trời mình.
Không một ai có khuyết tật như sau mà được đến gần: người mù lòa, què quặt, dị tướng, dị dạng;
người bị gãy chân hay gãy tay,
gù lưng, còi cọc, mắt có tật, ghẻ chốc, vảy nấm, hay tinh hoàn bị giập.
Bất cứ người nào trong dòng dõi thầy tế lễ A-rôn bị khuyết tật đều không được đến gần để dùng lửa dâng tế lễ lên Đức Giê-hô-va. Vì bị khuyết tật, người đó cũng không được đến gần dâng thức ăn lên Đức Chúa Trời mình.
Người ấy được ăn thức ăn của Đức Chúa Trời, cả các vật chí thánh lẫn các vật biệt riêng ra thánh,
nhưng không được lại gần bức màn hay đến bên bàn thờ vì bị khuyết tật. Như vậy người ấy không xúc phạm các nơi thánh Ta, vì Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng thánh hóa các nơi ấy.’”
Môi-se nói như thế với A-rôn và các con trai ông ấy cùng toàn thể con dân Y-sơ-ra-ên.
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
“Hãy bảo A-rôn và các con trai người phải thận trọng với những lễ vật thánh mà dân Y-sơ-ra-ên cung hiến cho Ta để không xúc phạm đến danh thánh Ta. Ta là Đức Giê-hô-va.
Hãy bảo họ rằng: ‘Qua mọi thế hệ, bất cứ người nào trong dòng dõi A-rôn đang trong tình trạng ô uế mà đến gần các lễ vật thánh do dân Y-sơ-ra-ên cung hiến lên Đức Giê-hô-va, thì người đó sẽ bị khai trừ khỏi sự hiện diện của Ta. Ta là Đức Giê-hô-va.
Không một người nào trong dòng dõi A-rôn mắc bệnh phong hủi hay bệnh lậu được phép ăn những lễ vật thánh cho đến khi người ấy được thanh sạch. Người nào chạm vào bất cứ thứ gì đã bị ô uế bởi xác chết, người mắc chứng di tinh,
kẻ bị ô uế vì đụng đến loài sâu bọ, hay người bị ô uế vì chạm vào một kẻ nào đó, hoặc bất cứ thứ ô uế nào,
thì người ấy sẽ bị ô uế đến chiều tối và không được ăn lễ vật thánh khi chưa tắm mình trong nước.
Khi mặt trời lặn, người ấy được thanh sạch, và sau đó được ăn các lễ vật thánh, là thức ăn của mình.
Người ấy không được ăn thịt thú vật chết hay bị thú dữ xé để khỏi bị ô uế. Ta là Đức Giê-hô-va.
Vậy, họ phải tuân giữ điều Ta truyền phán, nếu không họ sẽ mắc tội và chết vì đã phỉ báng các lễ vật thánh. Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng thánh hóa họ.
Không người nào ngoài gia đình thầy tế lễ được ăn các lễ vật thánh. Khách trọ hay người làm thuê trong nhà thầy tế lễ đều không được ăn lễ vật thánh.
Nhưng người nô lệ được thầy tế lễ mua về hoặc được sinh ra trong nhà sẽ được phép ăn thức ăn của thầy tế lễ.
Nếu con gái của thầy tế lễ lấy chồng không phải là thầy tế lễ thì sẽ không được ăn phần từ lễ vật thánh.
Nhưng nếu con gái của thầy tế lễ đã góa chồng hay ly dị mà không có con, nay trở về ở với cha như khi còn trẻ thì nàng sẽ được ăn thức ăn của cha. Không người nào ngoài gia đình thầy tế lễ được phép ăn các lễ vật thánh cả.
Nếu người nào vô ý ăn lễ vật thánh thì phải đền lại cho thầy tế lễ vật thánh đã ăn, cộng thêm một phần năm giá trị vật ấy.
Thầy tế lễ không được làm ô uế lễ vật thánh mà dân Y-sơ-ra-ên dâng lên Đức Giê-hô-va
khi để cho người ngoài ăn lễ vật thánh, khiến họ mắc tội và phải đền lễ vật. Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng thánh hóa các vật đó.’”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy truyền bảo A-rôn, các con trai người và toàn dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Nếu một người trong nhà Y-sơ-ra-ên hoặc ngoại kiều sống giữa họ đã hứa dâng hay tự nguyện dâng tế lễ thiêu lên Đức Giê-hô-va
thì phải dâng một con đực không tì vết bắt từ bầy bò, hoặc chiên con hay dê cái.
Các con không được dâng một con vật có tì vết vì sẽ không được đoái nhậm.
Khi một người đã hứa dâng hay tự nguyện dâng lên Đức Giê-hô-va một tế lễ bình an bằng bò hay chiên thì phải dâng một con vật không tì vết mới được đoái nhậm.
Các con không được dâng cho Đức Giê-hô-va một con vật mù mắt, què chân, bị thương tích, ghẻ chốc hay lở lói. Đừng bao giờ đem những con vật như thế đặt lên bàn thờ làm tế lễ thiêu dâng lên Đức Giê-hô-va.
Các con có thể dâng một con bò hay chiên con có chân quá dài hay quá ngắn làm lễ vật tự nguyện, nhưng nếu dâng nó làm lễ vật khấn nguyện thì sẽ không được đoái nhậm.
Trong toàn xứ, các con không được dâng lên Đức Giê-hô-va con vật có tinh hoàn bị giập, bị rách hay bị thiến.
Các con cũng không chấp nhận một con vật nào như thế từ người nước ngoài để làm thức ăn cho Đức Chúa Trời. Chúng sẽ không được đoái nhậm vì đã bị thương tật và tì vết.’”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
“Một bò con, chiên con hay dê con mới sinh ra phải được ở bên mẹ nó bảy ngày. Từ ngày thứ tám trở đi nó có thể được chấp nhận làm tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va.
Không được giết cả bò mẹ lẫn bò con, chiên mẹ lẫn chiên con trong cùng một ngày.
Khi các con dâng tế lễ tạ ơn lên Đức Giê-hô-va thì phải dâng thế nào để được đoái nhậm.
Phải ăn tế lễ trong chính ngày đó, không nên để lại bất cứ thứ gì đến sáng hôm sau. Ta là Đức Giê-hô-va.
Vậy các con hãy gìn giữ và làm theo các điều răn của Ta. Ta là Đức Giê-hô-va.
Không được xúc phạm đến danh thánh Ta để Ta được tôn thánh giữa con dân Y-sơ-ra-ên. Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng thánh hóa các con,
là Đấng đã đem các con ra khỏi Ai Cập để làm Đức Chúa Trời của các con. Ta là Đức Giê-hô-va.”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Con hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Đây là những ngày lễ Đức Giê-hô-va đã ấn định mà các con phải công bố như các kỳ hội họp thánh.
Mọi công việc được làm trong sáu ngày, nhưng thứ bảy là ngày sa-bát, một ngày nghỉ, là ngày hội họp thánh, các con không được làm một công việc nào cả; dù sinh sống ở đâu thì đó vẫn là ngày sa-bát dành cho Đức Giê-hô-va.
Đây là những ngày lễ của Đức Giê-hô-va, những kỳ hội họp thánh, mà các con phải công bố theo thời gian được ấn định.
Lễ Vượt Qua của Đức Giê-hô-va bắt đầu vào buổi tối ngày mười bốn tháng giêng.
Sang ngày mười lăm tháng ấy là ngày lễ Bánh Không Men dâng lên Đức Giê-hô-va; các con phải ăn bánh không pha men trong bảy ngày.
Ngày đầu các con sẽ có kỳ hội họp thánh, các con không được làm bất cứ một công việc thường ngày nào cả.
Trong bảy ngày các con phải dùng lửa dâng các lễ vật lên Đức Giê-hô-va. Đến ngày thứ bảy lại có một kỳ hội họp thánh nữa, các con không được làm bất cứ công việc thường ngày nào cả.’”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
“Con hãy truyền bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Khi các con đã vào xứ mà Ta ban cho các con và đã gặt hái mùa màng thì hãy đem bó lúa đầu mùa đến cho thầy tế lễ.
Vào ngày sau ngày sa-bát, thầy tế lễ sẽ dâng bó lúa đó bằng nghi thức đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va để các con được đoái nhậm.
Cũng trong ngày dâng bó lúa bằng nghi thức đưa qua đưa lại đó, các con phải dâng lên Đức Giê-hô-va một chiên con đực một tuổi không tì vết để làm tế lễ thiêu,
và một tế lễ chay bằng hai ký bột lọc trộn với dầu, là tế lễ dùng lửa dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va, cùng một lít rượu để làm lễ quán.
Các con không được ăn hoặc bánh hoặc hạt lúa rang hoặc gié lúa non cho đến ngày đó, tức là ngày các con dâng tế lễ lên Đức Chúa Trời mình. Đây là quy định đời đời cho mọi thế hệ, tại bất cứ nơi nào các con sinh sống.
Các con hãy tính bảy tuần lễ trọn kể từ ngày sau ngày sa-bát tức là ngày dâng bó lúa với nghi thức đưa qua đưa lại;
vào ngày thứ năm mươi, tức là ngày sau ngày sa-bát thứ bảy, thì các con phải dâng lên Đức Giê-hô-va một tế lễ chay mới.
Mỗi gia đình phải đem đến hai ổ bánh để làm lễ vật dâng theo nghi thức đưa qua đưa lại; mỗi ổ bánh được làm bằng hai ký bột mịn có pha men và nướng lên, đó là lễ vật đầu mùa dâng lên Đức Giê-hô-va.
Cùng với bánh, toàn thể hội chúng các con cũng phải dâng bảy chiên con một tuổi không tì vết, một con bò và hai con chiên đực làm tế lễ thiêu dâng lên Đức Giê-hô-va kèm theo tế lễ chay và lễ quán; tế lễ thiêu là tế lễ dùng lửa dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.
Hội chúng các con cũng phải dâng một con dê đực làm tế lễ chuộc tội và hai chiên con một tuổi làm tế lễ bình an.
Thầy tế lễ sẽ dâng lên trước mặt Đức Giê-hô-va các tế lễ đó với hai ổ bánh bằng lúa đầu mùa và hai chiên con theo nghi thức đưa qua đưa lại. Các lễ vật đó được biệt ra thánh cho Đức Giê-hô-va và được dành cho thầy tế lễ.
Chính ngày đó, các con phải triệu tập dân chúng lại và có cuộc hội họp thánh; không được làm bất cứ công việc thường ngày nào cả. Đây là quy định đời đời cho mọi thế hệ, tại bất cứ nơi nào các con sinh sống.
Khi các con gặt lúa trong đất mình thì đừng gặt đến cuối bờ ruộng, cũng đừng mót những bông lúa còn sót. Hãy để phần đó cho người nghèo và ngoại kiều. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.’”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
“Con hãy truyền bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Ngày mồng một tháng bảy là ngày nghỉ cho các con, một ngày kỷ niệm với tiếng kèn thổi lên, và một kỳ hội họp thánh.
Các con không được làm việc thường ngày nào cả, nhưng phải dùng lửa dâng các lễ vật lên Đức Giê-hô-va.’”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
“Ngày mồng mười tháng bảy là ngày lễ chuộc tội, sẽ có kỳ hội họp thánh cho các con; hãy kiêng ăn và dùng lửa dâng các lễ vật lên Đức Giê-hô-va.
Ngày đó không ai được làm việc, vì đó là ngày chuộc tội, là ngày cử hành lễ chuộc tội cho các con trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời.
Trong ngày đó, ai không kiêng ăn sẽ bị khai trừ khỏi dân chúng;
và ai làm bất cứ việc gì trong ngày đó thì Ta sẽ tiêu diệt họ khỏi dân chúng.
Các con không được làm công việc gì cả. Đây là quy định đời đời cho mọi thế hệ, tại bất cứ nơi nào các con sinh sống.
Với các con, đây là ngày sa-bát, một ngày nghỉ hoàn toàn, và các con phải kiêng ăn. Các con phải giữ ngày sa-bát từ lúc mặt trời lặn ngày mùng chín đến lúc mặt trời lặn ngày hôm sau.”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
“Con hãy truyền bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Ngày rằm tháng bảy nầy là lễ Lều Tạm và sẽ kéo dài bảy ngày để tôn kính Đức Giê-hô-va.
Ngày thứ nhất là ngày hội họp thánh, các con không được làm bất cứ công việc thường ngày nào cả.
Mỗi ngày trong bảy ngày, các con phải dùng lửa dâng các lễ vật lên Đức Giê-hô-va. Đến ngày thứ tám các con lại có một cuộc hội họp thánh nữa và cũng dùng lửa dâng các lễ vật lên Đức Giê-hô-va. Đây là một lễ hội trọng thể, các con không được làm một công việc thường ngày nào cả.
Đó là các lễ trọng thể của Đức Giê-hô-va mà các con phải công bố như là những kỳ hội họp thánh để dâng lên Đức Giê-hô-va những lễ vật dâng bằng lửa, tế lễ thiêu, tế lễ chay, tế lễ bình an, và lễ quán, lễ nào theo ngày nấy.
Ngoài ra, các con còn phải giữ những ngày sa-bát của Đức Giê-hô-va, các lễ vật, các tế lễ hứa nguyện và tự nguyện dâng lên Đức Giê-hô-va.
Vậy, vào ngày rằm tháng bảy, sau khi thu hoạch thổ sản, các con phải giữ một lễ cho Đức Giê-hô-va trong bảy ngày. Ngày thứ nhất sẽ là ngày nghỉ và ngày thứ tám sau kỳ lễ cũng là ngày nghỉ.
Ngày thứ nhất các con phải chọn các loại trái như cam chanh, các cành chà là, các nhánh cây đầy lá, và những cành liễu mọc bên suối, rồi liên hoan suốt bảy ngày trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.
Mỗi năm, vào tháng bảy các con phải giữ lễ nầy cho Đức Giê-hô-va trong bảy ngày. Đây là quy định đời đời cho mọi thế hệ của các con.
Các con phải ở trong lều bảy ngày. Tất cả những người sinh ra là dân Y-sơ-ra-ên đều phải ở trong lều,
để mọi thế hệ các con biết rằng khi Ta đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập, Ta đã cho họ ở trong các lều trại. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.’”
Vậy Môi-se truyền dạy cho dân Y-sơ-ra-ên biết giữ các ngày lễ Đức Giê-hô-va đã ấn định.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Con hãy truyền bảo dân Y-sơ-ra-ên đem dầu ô-liu ép nguyên chất đến thắp đèn để giữ cho đèn luôn cháy.
A-rôn sẽ đặt đèn đó trong Lều Hội Kiến, bên ngoài bức màn che Hòm Chứng Ước, để đèn luôn cháy trước mặt Đức Giê-hô-va từ chiều đến sáng. Đây là quy định đời đời cho mọi thế hệ của các con.
A-rôn sẽ đặt các đèn trên chân đèn bằng vàng ròng để đèn thường xuyên cháy trước mặt Đức Giê-hô-va.”
“Hãy lấy bột lọc nướng mười hai ổ bánh, mỗi ổ cân nặng hai ký,
rồi xếp thành hai hàng, mỗi hàng sáu ổ, trên bàn bọc vàng ròng trước mặt Đức Giê-hô-va.
Trên mỗi hàng, hãy rắc nhũ hương nguyên chất để tượng trưng cho việc dâng bánh, như một tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va.
Mỗi ngày sa-bát, A-rôn phải thường xuyên sắp xếp các ổ bánh nầy trước mặt Đức Giê-hô-va thay cho dân Y-sơ-ra-ên như một giao ước đời đời.
Bánh đó thuộc về A-rôn và các con trai người, họ phải ăn tại một nơi thánh vì đó là phần rất thánh dành cho họ từ các tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va. Đây là quy định đời đời cho mọi thế hệ của các con.”
Có một đứa con trai, mẹ là người Y-sơ-ra-ên, cha là người Ai Cập, đến giữa con dân Y-sơ-ra-ên và đánh nhau với một người Y-sơ-ra-ên trong trại.
Con trai của người đàn bà Y-sơ-ra-ên ấy xúc phạm và nguyền rủa danh Đức Giê-hô-va. Người ta dẫn nó đến Môi-se. Tên của mẹ nó là Sê-lô-mít con gái của Điệp-ri, thuộc bộ tộc Đan.
Người ta nhốt nó vào ngục cho đến khi ý muốn Đức Giê-hô-va được bày tỏ rõ ràng.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy đem kẻ nguyền rủa đó ra ngoài trại. Tất cả những ai đã nghe nó nói phải đặt tay trên đầu nó, và toàn thể hội chúng phải ném đá nó.
Rồi con hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Người nào nguyền rủa Đức Chúa Trời sẽ phải mang tội.
Ai xúc phạm đến danh Đức Giê-hô-va hẳn sẽ bị xử tử, cả hội chúng sẽ ném đá người đó. Dù là ngoại kiều hay người bản xứ, ai xúc phạm đến danh Đức Giê-hô-va đều sẽ bị xử tử.’
‘Ai đánh chết bất cứ một người nào thì sẽ bị xử tử.
Ai đánh chết một con vật thì phải bồi thường, vật sống đền vật sống.
Người nào gây thương tích cho người lân cận mình thì phải xử với nó như nó đã gây ra cho người ta;
xương đền xương, mắt đền mắt, răng đền răng; đã gây thương tích cho người khác thế nào thì phải chịu thương tích thế ấy.
Kẻ nào làm chết một súc vật thì phải bồi thường; ai đánh chết người thì phải bị xử tử.
Các con chỉ có một luật được áp dụng cho cả ngoại kiều lẫn người bản địa; vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.’”
Môi-se truyền lại cho dân Y-sơ-ra-ên những điều nầy. Họ đem kẻ xúc phạm ra khỏi trại và ném đá nó. Dân Y-sơ-ra-ên làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền dặn Môi-se.
Trên núi Si-na-i, Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy truyền bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Khi các con vào xứ Ta sắp ban cho thì phải để đất nghỉ một năm sa-bát cho Đức Giê-hô-va.
Trong sáu năm các con sẽ gieo cấy ruộng đồng, cắt tỉa vườn nho và thu hoa lợi.
Nhưng năm thứ bảy phải là năm sa-bát để cho đất nghỉ, tức là năm sa-bát cho Đức Giê-hô-va, các con không được gieo cấy đồng ruộng hay cắt tỉa vườn nho mình;
không được gặt những gì tự mọc lên sau mùa gặt và cũng đừng hái nho từ vườn nho không cắt tỉa. Đó là một năm cho đất nghỉ.
Sản vật mà đất sinh ra trong năm sa-bát sẽ dùng làm thức ăn cho các con, cho tôi trai tớ gái của các con, cho người làm thuê, khách trọ giữa các con,
và cho gia súc cùng thú vật ở trong xứ các con. Tất cả thổ sản đều được dùng làm thức ăn.’
‘Các con cũng hãy tính bảy tuần năm, nghĩa bảy lần bảy năm; thời gian của bảy tuần năm nầy sẽ là bốn mươi chín năm.
Vào ngày mùng mười tháng bảy tức là ngày chuộc tội, các con phải thổi tù và vang rền khắp xứ.
Các con phải làm cho năm thứ năm mươi nên thánh và công bố tự do cho mọi người dân trong khắp xứ. Đó là năm hân hỉ cho các con; mỗi người nhận lại cơ nghiệp mình, và mỗi người trở về với gia tộc mình.
Năm thứ năm mươi nầy là năm hân hỉ cho các con; các con không nên gieo cũng không gặt vật gì đất tự sinh sản, hoặc hái trái từ vườn nho không cắt tỉa,
vì đây là năm hân hỉ và thánh cho các con; các con chỉ ăn sản vật từ ruộng đồng.’
‘Trong năm hân hỉ, mỗi người trong các con sẽ lấy lại phần sản nghiệp của mình.
Nếu các con bán hay là mua vật gì từ người lân cận mình thì đừng lường gạt nhau.
Các con phải căn cứ vào số năm từ sau năm hân hỉ mà mua từ người lân cận mình, còn người ấy sẽ căn cứ vào năm có hoa lợi mà bán cho các con.
Nếu còn nhiều năm thì các con bù thêm giá, nếu còn ít năm thì các con giảm giá, vì theo số năm có hoa lợi mà người ấy bán cho các con.
Không được lường gạt nhau nhưng phải kính sợ Đức Chúa Trời vì Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các con.
Các con phải làm theo mệnh lệnh của Ta, gìn giữ và thực hành luật pháp Ta để các con được sống an lành trong xứ.
Đất sẽ sinh sản hoa lợi cho các con, các con sẽ ăn no nê và được sống an lành trong xứ.
Có thể các con sẽ thắc mắc: “Nếu chúng tôi không gieo, không thu hoa lợi thì chúng tôi sẽ lấy gì mà ăn trong năm thứ bảy?”
Năm thứ sáu Ta sẽ ban phước cho các con đến nỗi hoa lợi sẽ đủ cho ba năm.
Năm thứ tám các con sẽ gieo và ăn hoa lợi của mùa màng cũ và tiếp tục ăn cho đến mùa màng mới của năm thứ chín.
Đất không được bán đứt vì đất đai thuộc về Ta, còn các con ở với Ta chỉ như ngoại kiều và người tạm cư.
Trong khắp xứ mà các con sẽ nhận làm sản nghiệp, hãy cho người ta quyền chuộc lại đất đai.
Nếu anh em con rơi vào cảnh túng thiếu và phải bán một phần sản nghiệp, thì người bà con gần nhất có quyền chuộc lại phải đến chuộc lại phần đất mà anh em mình đã bán.
Nếu người nào không có bà con chuộc cho mình nhưng tự mình có thể xoay xở để chuộc lại được,
thì người ấy phải tính số năm từ khi bán và trả số trội cho người mua, rồi nhận lại sản nghiệp mình.
Nếu nguyên chủ không có điều kiện để trả lại tiền cho người kia thì đất bán sẽ thuộc về chủ mua cho đến năm hân hỉ; trong năm hân hỉ, đất ấy sẽ ra khỏi tay người mua và trở về nguyên chủ.
Nếu người nào bán một cái nhà ở trong thành có tường bao bọc thì người đó có quyền chuộc lại trong vòng một năm sau khi bán; vì quyền chuộc lại được kéo dài một năm.
Còn nếu trong vòng một năm mà người bán không chuộc lại thì nhà ở trong thành có tường bao bọc đó sẽ vĩnh viễn thuộc về chủ mua và con cháu họ. Nhà đó sẽ không bị trả lại trong năm hân hỉ.
Trái lại, nhà cửa ở trong các làng mạc không có tường thành bao bọc thì được kể như ruộng đồng, người bán có quyền chuộc lại. Nhà đó sẽ được trả lại nguyên chủ vào năm hân hỉ.
Tuy nhiên, về các thành và nhà cửa trong các thành thuộc sở hữu của người Lê-vi thì họ có quyền chuộc lại bất cứ lúc nào.
Nếu người Lê-vi không chuộc lại cái nhà trong thành thuộc quyền sở hữu của họ mà họ đã bán thì đến năm hân hỉ nhà đó sẽ về nguyên chủ, vì nhà cửa trong thành của người Lê-vi là sản nghiệp của họ giữa dân Y-sơ-ra-ên.
Những ruộng đồng thuộc về thành của người Lê-vi không được phép bán; đó là sản nghiệp đời đời của họ.’
‘Nếu người anh em của các con lâm vào cảnh nghèo khó, không thể tự nuôi sống mình, thì các con phải giúp đỡ người ấy, dù là ngoại kiều hay người tạm trú, để người ấy vẫn có thể sống chung với các con.
Không được lấy lãi hay trục lợi người ấy, nhưng phải kính sợ Đức Chúa Trời để anh em của các con có thể sống bên các con.
Không được cho người ấy vay tiền để lấy lãi, cũng đừng bán lương thực cho người ấy để kiếm lời.
Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời các con, Đấng đã đem các con ra khỏi Ai Cập, để ban cho các con đất Ca-na-an và làm Đức Chúa Trời của các con.’
‘Nếu người anh em ở gần các con lâm vào cảnh nghèo khó và phải bán mình cho các con thì đừng bắt người ấy làm việc như một nô lệ.
Người ấy sẽ ở với các con như người làm thuê, một khách trọ, và sẽ giúp việc trong nhà con cho đến năm hân hỉ.
Khi đó, người ấy được tự do, cùng con cái trở về với gia đình và nhận lại sản nghiệp của tổ phụ mình.
Vì họ là những đầy tớ của Ta đã được Ta đem ra khỏi Ai Cập nên không được bán họ như bán nô lệ.
Các con không được cai trị họ cách hà khắc nhưng phải kính sợ Đức Chúa Trời.
Còn các con muốn có tôi trai tớ gái thì có thể mua chúng từ các dân tộc chung quanh mình.
Các con cũng có thể mua nô lệ từ những người tha hương đang kiều ngụ giữa các con, và từ những gia đình có con cái sinh ra trên xứ sở của các con; chúng sẽ là sản nghiệp của các con.
Các con có thể giữ chúng lại làm cơ nghiệp cho con cháu mình, và để chúng làm nô lệ suốt đời. Nhưng với anh em mình là con dân Y-sơ-ra-ên thì không một ai được cai trị hà khắc với họ.
Nếu một ngoại kiều hay là một người tạm cư ở giữa các con trở nên giàu có, còn anh em các con ở cạnh họ lại lâm vào cảnh nghèo đói và phải bán mình cho ngoại kiều hay người tạm cư đó, hoặc cho một thành viên nào trong nhà của ngoại kiều ấy,
thì sau khi bán mình, người anh em đó vẫn có thể được chuộc lại: một trong các anh em của người ấy,
hoặc chú bác hay con của chú bác hoặc một người thân thích cũng có thể chuộc người ấy lại, hoặc nếu người ấy giàu lên và có thể tự chuộc mình.
Người ấy sẽ tính với chủ mua từ năm người ấy bán mình cho đến năm hân hỉ và giá tiền chuộc sẽ tùy thuộc vào số năm đó, và được tính theo lương công nhật của người làm thuê.
Nếu còn nhiều năm thì hãy căn cứ vào số năm đó mà khấu trừ vào giá đã bán để chuộc lại;
nếu còn ít năm trước khi đến năm hân hỉ thì hãy căn cứ vào số năm đó mà trả tiền chuộc.
Vì được xem như người làm công từ năm nầy sang năm khác nên người chủ không được cư xử hà khắc với người ấy.
Nếu người ấy không được chuộc bằng những phương cách trên thì người ấy và các con cái mình cũng sẽ được trả tự do vào năm hân hỉ.
Vì con dân Y-sơ-ra-ên là đầy tớ của Ta, những người mà Ta đã đem ra khỏi Ai Cập. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.’”
“‘Các con không được làm những hình tượng hoặc dựng tượng chạm hay trụ đá; cũng không được dựng lên trong xứ một hòn đá có hình dạng rồi sấp mình thờ lạy, vì Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các con.
Hãy giữ ngày sa-bát của Ta và tôn kính Nơi Thánh của Ta. Ta là Đức Giê-hô-va.
Nếu các con tuân theo luật lệ Ta, gìn giữ các điều răn của Ta và làm theo,
thì Ta sẽ ban mưa thuận gió hòa, đất sẽ sinh hoa màu và cây ngoài đồng sẽ kết bông trái.
Mùa đập lúa sẽ kéo dài đến mùa hái nho, mùa hái nho sẽ kéo dài đến mùa gieo mạ. Các con sẽ ăn bánh no nê và sống an lành trong xứ mình.
Ta sẽ ban hòa bình trong xứ, và các con sẽ ngủ mà không sợ ai đe dọa. Ta sẽ đuổi thú dữ khỏi xứ và gươm đao sẽ không đi qua lãnh thổ các con.
Các con sẽ truy đuổi quân thù và chúng sẽ gục ngã dưới lưỡi gươm của các con.
Năm người trong các con sẽ truy đuổi một trăm; một trăm trong các con sẽ truy đuổi một vạn, và quân thù sẽ gục ngã dưới lưỡi gươm của các con.
Ta sẽ quan tâm đến các con, làm cho các con sinh sôi nẩy nở thật nhiều, và xác lập giao ước với các con.
Các con đang còn ăn thóc lúa cũ của mùa trước đã phải dọn chỗ cho thóc lúa mùa sau.
Ta sẽ lập nơi ngự của Ta giữa các con, tâm hồn Ta không hề ghét bỏ các con.
Ta sẽ đi giữa các con, làm Đức Chúa Trời của các con và các con sẽ làm dân Ta.
Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con, Đấng đã đem các con ra khỏi Ai Cập để không làm nô lệ nữa. Ta đã bẻ gãy ách cho các con để các con ngẩng cao đầu mà bước đi.’
‘Nhưng nếu các con không nghe Ta, không làm theo các điều răn nầy,
khước từ mệnh lệnh Ta và tâm hồn các con chán ghét luật lệ Ta để không làm theo những điều răn và phá vỡ giao ước của Ta,
thì Ta sẽ làm những điều nầy cho các con: Ta sẽ giáng trên các con nỗi kinh hoàng, bệnh lao phổi và bệnh sốt làm cho mắt các con mờ đi và tâm hồn héo hon. Các con sẽ hoài công gieo giống vì quân thù sẽ ăn hết.
Ta sẽ nổi giận cùng các con, các con sẽ bị quân thù đánh bại; những kẻ thù ghét các con sẽ thống trị các con và các con sẽ chạy trốn dù không ai đuổi theo cả.
Nếu đến vậy mà các con vẫn không chịu nghe Ta, thì Ta sẽ vì tội lỗi các con mà trừng phạt các con gấp bảy lần
và bẻ gãy tính kiêu hãnh về sức lực của các con. Ta sẽ làm cho trời của các con cứng như sắt và đất trơ như đồng;
năng lực của các con sẽ tiêu hao vô ích, đất không sinh sản hoa màu, cây cối không ra trái.
Nếu các con vẫn chống lại Ta và không muốn nghe Ta thì Ta sẽ vì tội lỗi các con mà giáng tai ương gấp bảy lần nữa.
Ta sẽ sai thú dữ đến và bắt con cái của các con đi, tiêu diệt gia súc và làm cho dân số giảm xuống để đường sá trở nên hoang vắng.
Sau những việc như thế mà các con vẫn không trở lại với Ta, vẫn tiếp tục chống lại Ta,
thì Ta cũng sẽ chống lại các con, chính Ta sẽ vì tội lỗi các con mà giáng tai ương trên các con gấp bảy lần nữa.
Ta sẽ đem gươm giáo đến trên các con để báo trả tội bội ước của các con. Khi các con hội họp trong thành thì Ta sẽ giáng dịch bệnh trên các con và các con sẽ rơi vào tay kẻ thù.
Khi Ta cắt nguồn cung cấp lương thực thì mười phụ nữ sẽ nướng bánh chung một cái lò và cân bánh chia phần; các con sẽ ăn mà không no.
Nếu đến mức đó mà các con vẫn không chịu nghe Ta, cứ chống lại Ta,
thì Ta sẽ phẫn nộ mà chống lại các con, và vì tội lỗi các con Ta sẽ trừng phạt gấp bảy lần.
Các con sẽ ăn thịt con trai con gái mình;
Ta sẽ phá hủy những nơi cao của các con, triệt hạ các bàn thờ xông hương và chất thây của các con trên thây của thần tượng mình. Tâm hồn Ta sẽ ghê tởm các con.
Ta sẽ làm cho thành của các con trở nên hoang vu, các nơi thánh quạnh quẽ và Ta sẽ không hưởng mùi thơm từ tế lễ của các con nữa.
Ta sẽ làm cho xứ sở điêu tàn đến nỗi kẻ thù của các con vào sống ở đó cũng phải sững sờ.
Ta sẽ phân tán các con khắp các dân và rút gươm ra truy đuổi các con. Đất đai sẽ hoang vu, thành trì sẽ vắng vẻ.
Bấy giờ đất sẽ được hưởng những năm sa-bát bù lại thời gian đất bị hoang vu khi các con phải ở trong đất của kẻ thù; như vậy, đất sẽ được nghỉ và hưởng những năm sa-bát.
Theo thời gian đã bị bỏ hoang mà đất sẽ được nghỉ vì đất đó đã không được nghỉ suốt những năm sa-bát mà các con sống trên đó.
Những người trong các con còn sống sót, Ta sẽ làm cho chúng sờn lòng trên đất kẻ thù. Tiếng của chiếc lá rơi cũng đủ làm cho chúng chạy trốn như chạy trốn lưỡi gươm, và ngã gục dù không ai truy đuổi cả.
Người nầy vấp ngã trên người kia như chạy trốn lưỡi gươm dù chẳng ai rượt đuổi theo họ. Các con không thể đương đầu với quân thù.
Các con sẽ bị diệt vong giữa các dân tộc, và đất của kẻ thù sẽ nuốt chửng các con.
Ai trong các con còn sống sót sẽ héo hon trên đất của kẻ thù vì sự gian ác của mình. Chúng cũng vì sự gian ác của tổ phụ mà héo hon trên đất kẻ thù như tổ phụ mình.
Nhưng nếu chúng xưng nhận tội ác của mình và tội ác của tổ phụ mình làm, tức là tội bội bạc với Ta và chống lại Ta,
khiến Ta phải chống trả và đẩy chúng vào xứ của kẻ thù; nếu tấm lòng không chịu cắt bì của chúng biết hạ xuống và thuận phục sự sửa phạt về tội ác mình,
thì Ta sẽ nhớ lại giao ước đã lập với Gia-cốp, Ta sẽ nhớ lại giao ước đã lập với Y-sác, cũng như giao ước với Áp-ra-ham, và Ta sẽ nhớ lại xứ nầy.
Đất đai bị chúng bỏ hoang sẽ được hưởng những năm sa-bát bù lại thời gian đất bị chúng bỏ hoang không người ở. Chúng phải chịu hình phạt vì chúng khinh bỉ mệnh lệnh Ta và tâm hồn chúng đã chán ghét các luật lệ Ta.
Tuy nhiên, dù khi chúng đang ở trong xứ kẻ thù, Ta cũng không bỏ chúng, không ghê tởm chúng đến nỗi phải tận diệt chúng và hủy bỏ giao ước giữa Ta với chúng đâu, vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng.
Nhưng vì chúng, Ta sẽ nhớ lại giao ước đã lập với tổ phụ chúng là những người mà Ta đã đem ra khỏi Ai Cập trước mắt các dân để làm Đức Chúa Trời của chúng. Ta là Đức Giê-hô-va.’”
Đó là các luật lệ, mệnh lệnh và luật pháp mà Đức Giê-hô-va thiết lập giữa Ngài với con dân Y-sơ-ra-ên trên núi Si-na-i qua Môi-se.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Con hãy truyền bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Nếu người nào có lời khấn nguyện đặc biệt liên quan đến việc dâng con người lên Đức Giê-hô-va, thì con phải tính theo giá trị tương đương mà dâng.
Nếu là nam giới từ hai mươi đến sáu mươi tuổi thì định giá gần sáu trăm gam bạc, theo siếc-lơ chuẩn của Nơi Thánh.
Nếu là nữ giới thì định giá khoảng ba trăm năm mươi gam bạc.
Nếu là thanh thiếu niên từ năm đến hai mươi tuổi thì định giá khoảng hai trăm ba mươi gam bạc cho một đứa con trai và một trăm mười lăm gam bạc cho một đứa con gái.
Trẻ con từ một tháng đến năm tuổi thì định giá gần sáu mươi gam cho một bé trai và gần ba mươi lăm gam bạc cho một bé gái.
Người già từ sáu mươi tuổi trở lên thì định giá khoảng một trăm bảy mươi gam bạc cho nam giới và một trăm mười lăm gam bạc cho nữ giới.
Nếu người khấn nguyện quá nghèo khó, không trả nổi số tiền quy định, thì hãy đem người ấy đến trước mặt thầy tế lễ. Thầy tế lễ sẽ tùy theo khả năng của người khấn nguyện mà định giá.
Nếu một người hứa dùng con vật làm tế lễ dâng lên Đức Giê-hô-va thì con thú được dâng lên Đức Giê-hô-va sẽ trở thành vật thánh.
Không được đổi hay thay thế con vật tốt bằng một con xấu hay một con xấu bằng một con tốt. Nếu cứ thay thế con nầy bằng một con khác thì cả hai con vật đều trở thành vật thánh.
Nếu con vật hứa dâng thuộc loài ô uế, không được dùng làm tế lễ dâng lên Đức Giê-hô-va, thì phải đem con vật đó đến trước mặt thầy tế lễ,
rồi thầy tế lễ sẽ đánh giá tốt hay xấu; thầy tế lễ định giá nào thì theo giá nấy.
Còn nếu muốn chuộc lại thì phải trả thêm một phần năm giá đã định.
Nếu có người muốn hiến dâng ngôi nhà mình làm vật thánh cho Đức Giê-hô-va thì thầy tế lễ sẽ tùy theo nhà tốt hay xấu mà định giá; thầy tế lễ định giá nào phải theo giá nấy.
Còn nếu người đã hiến dâng ngôi nhà đó muốn chuộc lại thì phải trả thêm một phần năm giá đã định, và nhà sẽ thuộc về người ấy.
Nếu ai hiến dâng một phần đất của gia đình mình cho Đức Giê-hô-va thì việc định giá phải dựa vào lượng hạt giống cần cho đất đó: cứ khoảng sáu trăm gam bạc cho hai trăm hai mươi lít lúa mạch giống.
Nếu cánh đồng được hiến dâng từ năm hân hỉ thì vẫn theo giá đã định.
Nhưng nếu dâng sau năm hân hỉ thì thầy tế lễ căn cứ theo số năm còn lại đến năm hân hỉ mà định giá và trừ lại giá đã định.
Nếu người đã hiến dâng cánh đồng muốn chuộc lại thì phải trả thêm một phần năm giá đã định, rồi cánh đồng sẽ thuộc về người ấy.
Còn nếu người ấy không muốn chuộc lại hoặc đã bán cánh đồng cho người khác thì không được chuộc lại nữa.
Đến năm hân hỉ, cánh đồng ra khỏi tay chủ mua sẽ trở nên đất thánh vì đã được hiến dâng lên Đức Giê-hô-va; thầy tế lễ sẽ sở hữu cánh đồng đó.
Nếu ai dâng cho Đức Giê-hô-va một cánh đồng mà mình đã mua chứ không phải là đất của gia đình,
thì thầy tế lễ sẽ định giá cánh đồng cho đến năm hân hỉ rồi ngay trong ngày đó, người ấy phải trả theo giá đã định; đó là vật thánh dâng lên Đức Giê-hô-va.
Đến năm hân hỉ, cánh đồng đó sẽ trở về chủ bán tức là trở về nguyên chủ.
Việc định giá phải căn cứ vào siếc-lơ chuẩn của Nơi Thánh. Một siếc-lơ giá hai chục ghê-ra.
Tuy nhiên, không ai được hiến dâng con đầu lòng của đàn súc vật mình như bò hay chiên, vì các con đầu lòng vốn đã thuộc về Đức Giê-hô-va rồi.
Còn nếu con vật thuộc loài thú không thanh sạch thì có thể mua lại theo giá đã định cộng thêm một phần năm; nếu con thú không được chuộc lại thì phải đem bán theo giá đã định.
Ngoài ra, bất cứ lễ vật gì mà một người đã biệt hiến cho Đức Giê-hô-va như người, thú vật hay đất đai của gia đình, đều không được phép bán hay chuộc lại. Mọi vật đã được biệt hiến đều trở nên rất thánh cho Đức Giê-hô-va.
Một người đã bị phó cho sự hủy diệt thì không được phép chuộc lại; người đó phải bị giết.’
‘Tất cả một phần mười thổ sản, từ ngũ cốc ngoài đồng đến hoa quả của cây cối đều thuộc về Đức Giê-hô-va; đó là vật thánh dâng lên Đức Giê-hô-va.
Nếu ai muốn chuộc lại vật gì trong một phần mười đó thì phải trả thêm một phần năm của một phần mười đó.
Còn về một phần mười của đàn bò hay chiên, tức là con thứ mười đi qua dưới cây gậy của người chăn, đều là vật thánh dâng lên Đức Giê-hô-va.
Không nên phân biệt con tốt hay con xấu và cũng không nên đổi. Nếu đổi thì cả con thú bị đổi và con đổi đều là vật thánh, không được chuộc lại.’”
Đó là các mệnh lệnh mà Đức Giê-hô-va bảo Môi-se truyền lại cho dân Y-sơ-ra-ên tại trên núi Si-na-i.
Ngày mồng một tháng hai năm thứ hai, sau khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập, Đức Giê-hô-va phán với Môi-se ở Lều Hội Kiến trong hoang mạc Si-na-i rằng:
“Hãy kiểm tra dân số cả hội chúng Y-sơ-ra-ên theo từng bộ tộc và gia tộc, liệt kê tất cả nam đinh
từ hai mươi tuổi trở lên, tức là tất cả người Y-sơ-ra-ên có thể ra trận được. Con và A-rôn sẽ đếm họ theo từng đơn vị.
Mỗi bộ tộc phải có một người sẽ giúp đỡ các con; người ấy phải là trưởng tộc.
Đây là danh sách những người sẽ giúp đỡ các con: Bộ tộc Ru-bên có Ê-lít-su, con trai của Sê-đêu;
bộ tộc Si-mê-ôn có Sê-lu-mi-ên, con trai của Xu-ri-ha-đai;
bộ tộc Giu-đa có Na-ha-sôn, con trai của A-mi-na-đáp;
bộ tộc Y-sa-ca có Na-tha-na-ên, con trai của Xu-a;
bộ tộc Sa-bu-lôn có Ê-li-áp, con trai của Hê-lôn;
con cháu Giô-sép, tức là bộ tộc Ép-ra-im, có Ê-li-sa-ma con trai của A-mi-hút; bộ tộc Ma-na-se có Ga-ma-li-ên, con trai của Phê-đát-su;
bộ tộc Bên-gia-min có A-bi-đan, con trai của Ghi-đeo-ni;
bộ tộc Đan có A-hi-ê-xe, con trai của A-mi-sa-đai;
bộ tộc A-se có Pha-ghi-ên, con trai của Óc-ran;
bộ tộc Gát có Ê-li-a-sáp, con trai của Đê-u-ên;
bộ tộc Nép-ta-li có A-hi-ra con trai của Ê-nan.”
Đó là những người được kêu gọi từ hội chúng vốn là những người lãnh đạo các bộ tộc của ông cha họ và là những thủ lĩnh của các đơn vị Y-sơ-ra-ên.
Môi-se và A-rôn tiếp nhận những người đã được chỉ định,
và triệu tập cả hội chúng vào ngày mồng một tháng hai. Họ khai phả hệ từng người theo từng bộ tộc và gia đình từ hai mươi tuổi trở lên.
Vậy Môi-se kiểm tra dân số tại hoang mạc Si-na-i như Đức Giê-hô-va đã phán dặn:
Con cháu Ru-bên là trưởng nam của Y-sơ-ra-ên, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên từng người theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Ru-bên có thể ra trận,
đếm được bốn mươi sáu nghìn năm trăm người.
Con cháu Si-mê-ôn, theo gia phả của họ, được ghi tên từng người theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Si-mê-ôn có thể ra trận,
đếm được năm mươi chín nghìn ba trăm người.
Con cháu Gát, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Gát có thể ra trận,
đếm được bốn mươi lăm nghìn sáu trăm năm mươi người.
Con cháu Giu-đa, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Giu-đa có thể ra trận,
đếm được bảy mươi bốn nghìn sáu trăm người.
Con cháu của Y-sa-ca, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Y-sa-ca có thể ra trận,
đếm được năm mươi bốn nghìn bốn trăm người.
Con cháu của Sa-bu-lôn, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Sa-bu-lôn có thể ra trận,
đếm được năm mươi bảy nghìn bốn trăm người.
Con cháu Giô-sép, gọi là con cháu Ép-ra-im, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Ép-ra-im có thể ra trận,
đếm được bốn mươi nghìn năm trăm người.
Con cháu Ma-na-se, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Ma-na-se có thể ra trận,
đếm được ba mươi hai nghìn hai trăm người.
Con cháu Bên-gia-min, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Bên-gia-min có thể ra trận,
đếm được ba mươi lăm nghìn bốn trăm người.
Con cháu Đan, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Đan có thể ra trận,
đếm được sáu mươi hai nghìn bảy trăm người.
Con cháu A-se, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc A-se có thể ra trận,
đếm được bốn mươi mốt nghìn năm trăm người.
Con cháu Nép-ta-li, tùy theo gia phả của họ, được ghi tên theo từng bộ tộc và gia đình, tức là tất cả nam đinh từ hai mươi tuổi trở lên trong bộ tộc Nép-ta-li có thể ra trận,
đếm được năm mươi ba nghìn bốn trăm người.
Đó là những người mà Môi-se, A-rôn và mười hai người lãnh đạo Y-sơ-ra-ên kiểm tra; mỗi trưởng bộ tộc kiểm tra cho bộ tộc mình.
Như vậy, toàn dân Y-sơ-ra-ên đã được kiểm tra tùy theo gia tộc, từ hai mươi tuổi trở lên, tức là mọi người Y-sơ-ra-ên có thể ra trận được,
tổng số là sáu trăm lẻ ba nghìn năm trăm năm mươi người.
Nhưng người Lê-vi theo bộ tộc của ông cha mình không được tính chung với những bộ tộc khác.
Vì Đức Giê-hô-va có phán với Môi-se rằng:
“Con đừng tính bộ tộc Lê-vi và cũng đừng kiểm tra dân số chung với dân Y-sơ-ra-ên,
nhưng hãy chỉ định người Lê-vi trông coi Đền Tạm Chứng Ước, tất cả đồ đạc và mọi vật thuộc về Đền Tạm. Họ sẽ vận chuyển Đền Tạm và tất cả đồ đạc trong đó, cũng như trông coi và đóng trại chung quanh Đền Tạm.
Mỗi khi dời Đền Tạm thì người Lê-vi sẽ tháo dỡ nó, và khi cần dựng Đền Tạm thì họ sẽ dựng lên. Những người khác đến gần sẽ bị xử tử.
Dân Y-sơ-ra-ên phải đóng trại theo từng đơn vị; mỗi người ở trong trại riêng của mình và phải đóng dưới ngọn cờ mình.
Nhưng người Lê-vi sẽ đóng trại chung quanh Đền Tạm Chứng Ước để cơn thịnh nộ không giáng trên hội chúng Y-sơ-ra-ên. Người Lê-vi sẽ coi sóc Đền Tạm Chứng Ước.
Dân Y-sơ-ra-ên làm đúng theo mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn:
“Dân Y-sơ-ra-ên phải đóng trại đối diện và chung quanh Lều Hội kiến, mỗi người ở dưới ngọn cờ và bảng hiệu của bộ tộc mình.
Trại quân Giu-đa sẽ đóng về hướng đông, phía mặt trời mọc, theo ngọn cờ và đơn vị của mình. Thủ lĩnh của người Giu-đa là Na-ha-sôn, con trai của A-mi-na-đáp,
quân số của ông được bảy mươi bốn nghìn sáu trăm người.
Đóng trại bên cạnh Giu-đa là bộ tộc Y-sa-ca. Thủ lĩnh của người Y-sa-ca là Na-tha-na-ên, con trai Xu-a,
quân số của ông được năm mươi bốn nghìn bốn trăm người.
Kế đến là bộ tộc Sa-bu-lôn. Thủ lĩnh của người Sa-bu-lôn là Ê-li-áp, con trai của Hê-lôn,
quân số của ông được năm mươi bảy nghìn bốn trăm người.
Tổng quân số dẫn đầu bởi trại quân Giu-đa, theo từng đơn vị, là một trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm người. Họ sẽ đi tiên phong.
Đội quân Ru-bên đóng trại về hướng nam theo từng đơn vị dưới ngọn cờ mình. Thủ lĩnh của người Ru-bên là Ê-li-su, con trai của Sê-đêu,
quân số của ông được bốn mươi sáu nghìn năm trăm người.
Bộ tộc Si-mê-ôn đóng trại bên cạnh bộ tộc Ru-bên. Thủ lĩnh của người Si-mê-ôn là Sê-lu-mi-ên, con trai của Xu-ri-ha-đai,
quân số của ông được năm mươi chín nghìn ba trăm người.
Kế đến là bộ tộc Gát. Thủ lĩnh của người Gát là Ê-li-a-sáp, con trai của Rê-u-ên,
quân số của ông được bốn mươi lăm nghìn sáu trăm năm mươi người.
Tổng quân số dẫn đầu bởi trại quân Ru-bên, theo từng đơn vị là một trăm năm mươi mốt nghìn bốn trăm năm mươi người. Họ sẽ đi thứ nhì.
Sau đó, Lều Hội kiến với trại quân Lê-vi sẽ đi giữa các trại quân khác. Trại quân Lê-vi sẽ ra đi theo thứ tự đã đóng trại, mỗi người theo từng đơn vị dưới ngọn cờ mình.
Trại quân Ép-ra-im đóng về hướng tây theo từng đơn vị, dưới ngọn cờ mình. Thủ lĩnh của người Ép-ra-im là Ê-li-sa-ma, con trai A-mi-hút
và quân số của ông được bốn mươi nghìn năm trăm người.
Bộ tộc Ma-na-se đóng trại bên cạnh bộ tộc Ép-ra-im. Thủ lĩnh của người Ma-na-se là Ga-ma-li-ên, con trai của Phê-đát-su,
quân số của ông được ba mươi hai nghìn hai trăm người.
Kế đến là bộ tộc Bên-gia-min. Thủ lĩnh của người Bên-gia-min là A-bi-đan, con trai của Ghi-đeo-ni,
quân số của ông được ba mươi lăm nghìn bốn trăm người.
Như vậy, tổng quân số dẫn đầu bởi trại quân Ép-ra-im, theo từng đơn vị, là một trăm lẻ tám nghìn một trăm người. Họ sẽ đi thứ ba.
Trại quân Đan đóng về hướng bắc theo từng đơn vị, dưới ngọn cờ của mình. Thủ lĩnh của người Đan là A-hi-ê-xe con trai của A-mi-sa-đai,
quân số của ông được sáu mươi hai nghìn bảy trăm người.
Bộ tộc A-se sẽ đóng trại bên cạnh bộ tộc Đan. Thủ lĩnh của người A-se là Pha-ghi-ên, con trai của Óc-ran,
quân số của ông được bốn mươi mốt nghìn năm trăm người.
Kế đến là bộ tộc Nép-ta-li. Thủ lĩnh của người Nép-ta-li là A-hi-ra, con trai của Ê-nan,
quân số của ông được năm mươi ba nghìn bốn trăm người.
Như vậy, tổng quân số dẫn đầu bởi trại quân Đan là một trăm năm mươi bảy nghìn sáu trăm người. Họ sẽ đi sau cùng, dưới ngọn cờ mình.
Đó là những người Y-sơ-ra-ên được kiểm tra theo từng bộ tộc của họ. Tất cả những người trong các trại quân được kiểm tra theo từng đơn vị, là sáu trăm lẻ ba nghìn năm trăm năm mươi người.
Nhưng người Lê-vi không được tính chung với những người Y-sơ-ra-ên khác như Đức Giê-hô-va đã truyền phán với Môi-se.
Vậy dân Y-sơ-ra-ên làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền phán qua Môi-se. Họ đóng trại theo từng đơn vị và ra đi theo từng gia tộc và gia đình của mình.”
Trên đây là danh sách các gia tộc mà A-rôn và Môi-se ghi chép lại trong thời gian Đức Giê-hô-va phán với Môi-se trên núi Si-na-i.
Tên các con trai của A-rôn là Na-đáp, trưởng nam, kế đến là A-bi-hu, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma.
Đó là tên các con trai A-rôn, những thầy tế lễ đã được xức dầu và lập lên để làm chức tế lễ.
Nhưng Na-đáp và A-bi-hu đã chết trước mặt Đức Giê-hô-va khi hai người dâng một thứ lửa lạ lên Đức Giê-hô-va trong hoang mạc Si-na-i. Họ không có con nên chỉ có Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma làm chức tế lễ dưới sự giám sát của A-rôn là cha mình.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy đem bộ tộc Lê-vi trình diện trước thầy tế lễ A-rôn để phụ giúp người.
Họ sẽ thi hành các công tác cho A-rôn và cho cả hội chúng nơi Lều Hội Kiến bằng cách phục vụ trong Đền Tạm.
Họ cũng phải coi sóc tất cả dụng cụ của Lều Hội Kiến và làm công tác mà dân Y-sơ-ra-ên giao phó nơi Đền Tạm.
Vậy con phải giao người Lê-vi cho A-rôn và các con trai người vì họ đã được tuyển chọn từ dân Y-sơ-ra-ên để giao cho A-rôn.
Vậy con sẽ lập A-rôn và các con trai người làm chức tế lễ, còn những người khác đến gần sẽ bị xử tử.”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
“Ta đã chọn người Lê-vi từ trong dân Y-sơ-ra-ên để thay thế cho tất cả con đầu lòng trong dân Y-sơ-ra-ên. Vậy người Lê-vi sẽ thuộc về Ta,
vì tất cả con đầu lòng đều thuộc về Ta. Vào ngày Ta trừng phạt các con đầu lòng ở Ai Cập, Ta đã biệt riêng cho Ta mọi con đầu lòng trong Y-sơ-ra-ên, bất luận loài người hay thú vật đều thuộc về Ta. Ta là Đức Giê-hô-va.”
Đức Giê-hô-va cũng phán với Môi-se trong hoang mạc Si-na-i rằng:
“Hãy kê khai con cháu Lê-vi tùy theo bộ tộc và gia tộc. Kê khai tất cả người nam từ một tháng trở lên.”
Môi-se kiểm tra người Lê-vi đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền phán với mình.
Đây là tên các con trai của Lê-vi: Ghẹt-sôn, Kê-hát và Mê-ra-ri.
Đây là tên các con trai của Ghẹt-sôn theo từng gia tộc mình: Líp-ni và Si-mê-i.
Đây là các con trai của Kê-hát theo từng gia tộc mình: Am-ram, Dít-sa, Hếp-rôn và U-xi-ên.
Các con trai của Mê-ra-ri theo từng gia tộc mình là: Mách-li và Mu-si. Đó là những gia tộc thuộc bộ tộc Lê-vi.
Gia tộc Líp-ni và gia tộc Si-mê-i thuộc về Ghẹt-sôn. Đó là hai gia tộc của Ghẹt-sôn.
Số người nam của họ từ một tháng tuổi trở lên được kiểm tra là bảy nghìn năm trăm người.
Các gia tộc của Ghẹt-sôn đóng trại về hướng tây, phía sau Đền Tạm.
Trưởng gia tộc Ghẹt-sôn là Ê-li-a-sáp, con trai của La-ên.
Trách nhiệm của con cháu Ghẹt-sôn trong Lều Hội Kiến là coi sóc mọi vật thuộc về Đền Tạm, lều với các tấm phủ và tấm màn nơi cửa vào Lều Hội Kiến,
các tấm màn của hành lang, tấm màn nơi cửa vào hành lang bao quanh Đền Tạm và bàn thờ cùng các dây thừng dùng cho Đền Tạm.
Gia tộc Am-ram, gia tộc Dít-sa, gia tộc Hếp-rôn và gia tộc U-xi-ên là những gia tộc của Kê-hát.
Số người nam của họ từ một tháng tuổi trở lên là tám nghìn sáu trăm người. Họ có trách nhiệm coi sóc nơi thánh.
Các gia tộc thuộc con cháu Kê-hát đóng trại về hướng nam của Đền Tạm.
Trưởng gia tộc Kê-hát là Ê-li-sa-phan, con trai của U-xi-ên.
Người Kê-hát coi sóc Hòm Giao Ước, cái bàn, chân đèn, các bàn thờ, những vật dụng nơi thánh dùng vào việc thờ phượng, tấm màn và các vật dụng liên quan đến sự bảo trì nơi thánh.
Đứng đầu các thủ lĩnh của người Lê-vi là Ê-lê-a-sa, con trai của thầy tế lễ A-rôn. Ông được chỉ định để giám sát những người coi sóc nơi thánh.
Gia tộc Mách-li và gia tộc Mu-si thuộc về Mê-ra-ri. Đó là các gia tộc của Mê-ra-ri.
Số những người nam của họ từ một tháng trở lên được kiểm tra là sáu nghìn hai trăm người.
Trưởng gia tộc Mê-ra-ri là Xu-ri-ên, con trai của A-bi-hai. Con cháu Mê-ra-ri đóng trại về phía bắc của Đền Tạm.
Họ có trách nhiệm coi sóc các khung của Đền Tạm, cây xà ngang, trụ, đế, những vật dụng và mọi thứ phụ thuộc;
những trụ ở chung quanh hành lang và đế, cây cọc và dây thừng nữa.
Những người đóng trại trước Đền Tạm về phía đông, trước Lều Hội Kiến về hướng mặt trời mọc, là Môi-se, A-rôn và các con trai ông. Họ có trách nhiệm thay cho dân Y-sơ-ra-ên để coi sóc nơi thánh. Những người khác đến gần đó sẽ bị xử tử.
Tổng số người Lê-vi mà Môi-se và A-rôn kê khai theo lệnh của Đức Giê-hô-va, theo từng gia tộc, gồm tất cả người nam từ một tháng trở lên, là hai mươi hai nghìn người.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy kê khai tất cả con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên từ một tháng trở lên và lập danh sách.
Ta là Đức Giê-hô-va. Hãy chọn cho Ta những người Lê-vi thay thế cho các con trưởng nam trong dân Y-sơ-ra-ên, và cũng phải bắt súc vật của người Lê-vi thay thế cho mọi súc vật đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên.”
Như vậy, Môi-se kiểm tra các con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn.
Tổng số con trưởng nam từ một tháng trở lên được kiểm tra là hai mươi hai nghìn hai trăm bảy mươi ba người.
Đức Giê-hô-va cũng phán với Môi-se:
“Hãy chọn những người Lê-vi thay thế cho tất cả con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên và súc vật của người Lê-vi thay thế cho súc vật của dân Y-sơ-ra-ên. Như thế, những người Lê-vi sẽ thuộc về Ta. Ta là Đức Giê-hô-va.
Để chuộc lại hai trăm bảy mươi ba con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên vượt hơn số người Lê-vi
thì con phải thu năm siếc-lơ bạc theo siếc-lơ nơi thánh; một siếc-lơ là hai chục ghê-ra.
Con hãy giao số bạc chuộc lại những con trưởng nam vượt hơn đó cho A-rôn và các con trai người.”
Vậy Môi-se thu số bạc chuộc lại những con trưởng nam vượt hơn số người Lê-vi đó.
Số bạc mà ông thu từ những con trưởng nam của dân Y-sơ-ra-ên là một nghìn ba trăm sáu mươi lăm siếc-lơ theo siếc-lơ nơi thánh.
Môi-se vâng lệnh Đức Giê-hô-va giao số bạc chuộc lại đó cho A-rôn và các con trai ông như Đức Giê-hô-va đã phán dặn.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn:
“Hãy kiểm tra dân số Lê-vi thuộc con cháu Kê-hát theo từng gia tộc và bộ tộc của họ,
từ ba mươi đến năm mươi tuổi, tức là tất cả những người có thể phục vụ trong Lều Hội Kiến.
Đây là công việc của con cháu Kê-hát tại Lều Hội Kiến: Họ sẽ coi sóc các vật chí thánh.
Khi trại quân dời đi, A-rôn và các con trai người sẽ đến gỡ bức màn mà phủ lên Hòm Chứng Ước,
và phủ trên đó một tấm da dê; kế đến, trải thêm một tấm nỉ màu xanh lên rồi xỏ đòn khiêng vào.
Họ cũng trải một tấm nỉ màu xanh trên bàn bánh cung hiến và đặt trên đó đĩa, chén, tô và bình dùng cho lễ quán; bánh được bày thường xuyên trên bàn vẫn cứ giữ nguyên trên đó.
Họ phủ lên trên các vật đó một tấm nỉ màu đỏ sậm, trải thêm một tấm da dê, rồi xỏ đòn khiêng vào.
Họ cũng phải lấy một tấm nỉ màu xanh phủ trên chân đèn, đèn, kéo cắt tim, đồ đựng tro và các bình dầu để thắp đèn.
Rồi họ để chân đèn và tất cả đồ phụ tùng trong một tấm da cá nược đặt trên cáng để khiêng đi.
Họ phải trải trên bàn thờ bằng vàng một tấm nỉ màu xanh và phủ thêm một tấm da dê rồi xỏ đòn khiêng vào.
Họ cũng phải lấy tất cả các vật dụng dùng cho nơi thánh gói lại trong một tấm nỉ màu xanh và phủ lên trên một tấm da dê rồi đặt trên cáng để khiêng.
Họ phải hốt tro của bàn thờ ra và trải trên đó một tấm nỉ màu điều,
rồi đặt lên đó tất cả các vật dụng của bàn thờ như lư hương, nĩa, vá, bát cùng những vật dụng liên quan đến bàn thờ. Họ cũng phủ trên bàn thờ một tấm da cá nược và xỏ đòn khiêng vào.
Sau khi A-rôn và các con trai người đã phủ nơi thánh và các vật dụng thánh xong, và khi trại quân sẵn sàng ra đi thì con cháu Kê-hát phải đến để khiêng các vật dụng đó, nhưng họ không được đụng vào những vật thánh, kẻo phải chết. Đó là những vật dụng trong Lều Hội Kiến mà con cháu Kê-hát phải khiêng đi.
Ê-lê-a-sa, con trai thầy tế lễ A-rôn, sẽ coi sóc về dầu thắp đèn, hương liệu, tế lễ chay hằng hiến, dầu xức, và cả Đền Tạm cùng tất cả các vật dụng trong đó, bao gồm nơi thánh và các dụng cụ.”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se và A-rôn rằng:
“Đừng để gia tộc Kê-hát bị tiêu diệt khỏi bộ tộc Lê-vi.
Đây là điều mà các con phải làm để họ được sống, không phải chết khi đến gần các vật chí thánh: A-rôn và các con trai người phải đến nơi thánh, phân chia công việc cho mỗi người và các vật dụng họ phải khiêng đi.
Nhưng người Kê-hát không được vào xem các vật thánh dù chỉ trong một lát, kẻo phải chết.”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
“Hãy kiểm tra dân số người Ghẹt-sôn theo từng bộ tộc và gia tộc của họ.
Hãy lập danh sách những người từ ba mươi đến năm mươi tuổi, là những người có thể làm công việc trong Lều Hội Kiến.
Đây là công việc mà gia tộc Ghẹt-sôn phải làm hoặc khiêng:
Họ sẽ mang những tấm màn của Đền Tạm và Lều Hội Kiến, tấm phủ trong và tấm phủ ngoài bằng da dê và bức màn nơi cửa vào Lều Hội Kiến,
các màn của hành lang chung quanh Đền Tạm và bàn thờ, bức màn nơi cửa vào hành lang, những dây thừng và tất cả các vật dụng liên quan đến việc phụng vụ.
Tất cả công việc của con cháu Ghẹt-sôn, hoặc khuân vác hoặc làm việc gì đều phải theo sự chỉ dẫn của A-rôn và các con trai người. Các con phải giao cho họ chịu trách nhiệm mọi vật dụng khiêng đi.
Đó là những công việc của gia tộc Ghẹt-sôn trong Lều Hội Kiến. Công việc của họ ở dưới quyền giám sát của Y-tha-ma, con trai thầy tế lễ A-rôn.
Con phải kiểm tra dân số người Mê-ra-ri theo từng bộ tộc và gia tộc của họ,
từ ba mươi đến năm mươi tuổi, là những người có thể phục vụ nơi Lều Hội Kiến.
Đây là các công việc của họ trong Lều Hội Kiến: Họ phải khiêng những tấm ván của Đền Tạm, các xà ngang, trụ, đế trụ,
các trụ chung quanh hành lang và đế trụ, cọc, dây thừng, cùng tất cả vật dụng và các thứ liên quan. Các con sẽ giao cho mỗi người chịu trách nhiệm cụ thể về các vật khiêng đi.
Đó là công việc mà gia tộc Mê-ra-ri phải làm trong Lều Hội Kiến dưới quyền giám sát của Y-tha-ma, con trai thầy tế lễ A-rôn.”
Vậy Môi-se, A-rôn và những người lãnh đạo kiểm tra con cháu Kê-hát theo từng gia tộc và bộ tộc của họ,
từ ba mươi đến năm mươi tuổi, tức là tất cả những người có thể phục vụ trong Lều Hội Kiến.
Số người được kiểm tra theo từng gia tộc là hai nghìn bảy trăm năm mươi.
Đó là số người thuộc gia tộc Kê-hát, tức là tất cả những người phục vụ trong Lều Hội Kiến mà Môi-se và A-rôn đã kiểm tra theo lệnh của Đức Giê-hô-va phán qua Môi-se.
Con cháu của Ghẹt-sôn được kiểm tra theo từng bộ tộc và gia tộc,
từ ba mươi đến năm mươi tuổi, tức là những người có thể phục vụ trong Lều Hội Kiến,
tổng cộng là hai nghìn sáu trăm ba mươi.
Đó là con cháu thuộc gia tộc Ghẹt-sôn, tức là tất cả những người phục vụ trong Lều Hội Kiến mà Môi-se và A-rôn đã kiểm tra theo lệnh của Đức Giê-hô-va.
Còn số con cháu thuộc gia tộc Mê-ra-ri được kiểm tra theo từng gia tộc và bộ tộc của họ,
từ ba mươi cho đến năm mươi tuổi, tức là mọi người có thể phục vụ trong Lều Hội Kiến,
tổng cộng là ba nghìn hai trăm.
Đó là số con cháu thuộc các gia tộc Mê-ra-ri được Môi-se và A-rôn kiểm tra theo lệnh của Đức Giê-hô-va đã phán qua Môi-se.
Tất cả người Lê-vi mà Môi-se, A-rôn và các người lãnh đạo Y-sơ-ra-ên kiểm tra theo từng gia đình và gia tộc của họ,
từ ba mươi đến năm mươi tuổi, tức là mọi người có thể phục vụ và khiêng vật dụng trong Lều Hội Kiến,
tổng cộng là tám nghìn năm trăm tám mươi.
Người ta kiểm tra người Lê-vi theo lệnh của Đức Giê-hô-va đã phán qua Môi-se và phân chia cho mỗi người công việc cùng vật dụng phải khiêng đi. Như vậy, họ được kiểm tra dân số theo lệnh Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy ra lệnh cho dân Y-sơ-ra-ên đuổi khỏi trại quân tất cả người phong hủi, người mắc bệnh lậu và người bị ô uế vì đụng phải xác chết.
Phải đuổi họ khỏi trại quân bất luận nam hay nữ để họ không làm ô uế trại quân là nơi Ta ngự ở đó.”
Dân Y-sơ-ra-ên đuổi họ khỏi trại quân đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền phán với Môi-se.
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
“Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Khi một người nam hay nữ gây thiệt hại cho người khác, tức là phạm tội bất trung với Đức Giê-hô-va thì người ấy mắc tội.
Người ấy phải xưng tội và bồi thường đầy đủ, ngoài ra còn phải trả thêm một phần năm cho người mình làm thiệt hại.
Nếu người bị thiệt hại qua đời và không có bà con ruột thịt nào để lãnh số bồi thường thì số bồi thường đó sẽ thuộc về Đức Giê-hô-va và phải trao cho thầy tế lễ, cộng thêm một con chiên đực làm tế lễ chuộc tội cho người mắc tội đó.
Tất cả tế lễ thánh mà dân Y-sơ-ra-ên đem đến cho thầy tế lễ đều sẽ thuộc về người.
Những vật thánh mà mỗi người dâng hiến, sẽ thuộc về thầy tế lễ; vật gì mỗi người tặng cho thầy tế lễ sẽ thuộc về người vậy.’”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
“Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Nếu một người đàn bà lỗi đạo và không chung thủy với chồng;
nếu có một người nam ăn nằm với nàng mà chồng không biết và sự thất tiết chưa bị phát hiện (vì không có bằng chứng để tố cáo và nàng không bị bắt quả tang),
nếu người chồng nổi ghen với vợ mình vì nàng đã thật sự bị thất tiết hoặc nổi ghen mặc dù nàng không bị thất tiết,
thì người ấy phải dẫn vợ mình đến trước mặt thầy tế lễ và đem theo hai lít bột mạch nha làm tế lễ cho nàng. Người chồng đừng đổ dầu vào tế lễ và cũng đừng bỏ nhũ hương lên trên vì là một tế lễ chay về sự ghen tuông, một tế lễ chay để ghi nhớ về tội lỗi.
Thầy tế lễ sẽ bảo nàng đến gần và đứng trước mặt Đức Giê-hô-va.
Kế đó, thầy tế lễ lấy chút nước thánh đổ trong một cái bình gốm và hốt một nhúm đất nơi sân Đền Tạm bỏ trong nước.
Thầy tế lễ bảo người nữ đứng trước mặt Đức Giê-hô-va, xả tóc nàng xuống và đặt tế lễ ghi nhớ trong bàn tay nàng, tức là tế lễ chay về sự ghen tuông. Còn thầy tế lễ cầm bình nước đắng của sự nguyền rủa trong tay mình.
Thầy tế lễ bắt người nữ thề và nói với nàng: “Nếu không có người nam nào nằm cùng ngươi và nếu ngươi không lỗi đạo với chồng và không thất tiết thì nước đắng của sự nguyền rủa nầy sẽ vô hại cho ngươi.
Nhưng, nếu ngươi đã có chồng mà lỗi đạo và thất tiết với một người khác không phải là chồng ngươi...”
(bấy giờ thầy tế lễ bắt người nữ lấy một lời thề độc mà thề) và nói tiếp rằng: “Cầu xin Đức Giê-hô-va khiến ngươi trở nên cớ nguyền rủa và trù ẻo trong dân chúng, khiến người ốm lòi hông và bụng phình lên, dạ ngươi héo đi,
Nguyện nước đắng nguyền rủa nầy vào trong ruột gan làm cho bụng ngươi phình lên và ốm lòi hông.” Người nữ sẽ nói rằng: “A-men. A-men!”
Sau đó, thầy tế lễ phải viết các lời trù ẻo nầy vào một cuốn sách rồi lấy nước đắng rửa đi.
Thầy tế lễ sẽ bắt người nữ uống nước đắng của sự nguyền rủa, và nước đắng nầy sẽ vào trong người nàng, làm cho nàng đau khổ, đắng cay.
Thầy tế lễ sẽ lấy nơi tay nàng tế lễ chay về sự ghen tuông đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va và dâng trên bàn thờ.
Thầy tế lễ lấy một nắm bột tế lễ chay về sự ghi nhớ và xông trên bàn thờ, rồi bảo người nữ uống nước đắng.
Khi thầy tế lễ bảo nàng uống nước đắng, nếu quả nàng bị thất tiết và không chung thủy với chồng thì nước đắng của sự nguyền rủa sẽ vào trong người, làm nàng đau khổ, cay đắng, bụng nàng sẽ phình lên và ốm lòi hông. Người nữ nầy sẽ trở thành cớ nguyền rủa trong dân chúng.
Còn nếu người nữ không bị thất tiết, vẫn còn trong trắng thì nàng sẽ không bị tổn hại và có thể sinh con.
Đó là luật về ghen tuông khi một người đàn bà đã có chồng mà lỗi đạo và thất tiết,
hoặc khi nào người chồng nổi ghen với vợ mình. Người chồng phải đem vợ đến trước mặt Đức Giê-hô-va và thầy tế lễ sẽ áp dụng toàn bộ luật lệ nầy đối với nàng.
Người chồng sẽ không có lỗi gì, còn người vợ sẽ chịu lấy hậu quả nếu phạm tội.’”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Nếu một người nam hay nữ nào đặc biệt hứa nguyện làm người Na-xi-rê để biệt riêng mình cho Đức Giê-hô-va,
thì phải kiêng rượu và thức uống có men; không được uống giấm làm từ rượu hoặc thức uống có men. Người ấy cũng không được uống nước nho hoặc ăn nho tươi hay nho khô.
Trong suốt thời gian biệt mình riêng ra, đừng ăn bất cứ món gì làm từ nho, cả hột lẫn vỏ.
Trong suốt thời gian hứa nguyện Na-xi-rê, người ấy không được cạo tóc trên đầu. Người ấy sẽ biệt ra thánh và để tóc mọc dài cho đến khi hoàn tất thời kỳ biệt riêng cho Đức Giê-hô-va.
Trong suốt thời gian biệt riêng cho Đức Giê-hô-va, người ấy không được đến gần xác chết.
Người ấy cũng không vì cha hay mẹ, hoặc vì anh em hay chị em đã chết mà làm cho mình bị ô uế, bởi vì dấu hiệu biệt riêng cho Đức Chúa Trời vẫn còn ở trên đầu người ấy.
Trong suốt thời gian hứa nguyện Na-xi-rê, người ấy được biệt ra thánh cho Đức Giê-hô-va.
Nếu có ai chết thình lình gần bên người ấy và làm ô uế đầu mình đã biệt riêng ra thánh thì phải cạo tóc trên đầu trong ngày người ấy được thanh tẩy, tức là ngày thứ bảy.
Qua ngày thứ tám, người ấy phải đem một cặp chim cu hay một cặp bồ câu con đến thầy tế lễ tại cửa vào Lều Hội Kiến.
Thầy tế lễ sẽ dâng một con làm tế lễ chuộc tội, một con làm tế lễ thiêu để chuộc tội cho người ấy vì cớ xác chết. Vậy trong ngày đó, người ấy sẽ biệt riêng đầu mình ra thánh.
Người ấy phải biệt riêng cho Đức Giê-hô-va trong những ngày tái hứa nguyện Na-xi-rê và dâng một con chiên đực một tuổi làm tế lễ chuộc lỗi, nhưng các ngày trước đó không được tính vì đã bị ô uế trong thời gian Na-xi-rê.
Đây là luật về người Na-xi-rê khi những ngày biệt riêng đã mãn: Người ta phải đem người ấy đến tại cửa vào Lều Hội Kiến,
người ấy phải dâng tế lễ cho Đức Giê-hô-va gồm một con chiên đực một tuổi không tì vết làm tế lễ thiêu, một con chiên cái một tuổi không tì vết làm tế lễ chuộc tội và một con chiên đực không tì vết làm tế lễ bình an,
một giỏ bánh không men, bánh bột lọc nhồi dầu, bánh sốp không men thoa dầu cùng với tế lễ chay và lễ quán.
Thầy tế lễ sẽ đem những lễ vật nầy đến trước mặt Đức Giê-hô-va và dâng tế lễ chuộc tội cùng với tế lễ thiêu.
Ông cũng dâng giỏ bánh không men luôn với con chiên đực làm tế lễ bình an cùng với tế lễ chay và lễ quán nữa.
Tại cửa Lều Hội Kiến, người Na-xi-rê phải cạo tóc trên đầu đã biệt riêng và lấy tóc đó bỏ vào lửa đang cháy phía dưới tế lễ bình an.
Sau khi người Na-xi-rê đã cạo tóc, thầy tế lễ sẽ đặt trong lòng hai bàn tay người ấy nguyên miếng thịt vai luộc của chiên đực, một cái bánh không men trong giỏ và một cái bánh sốp không men.
Tiếp theo, thầy tế lễ dâng các lễ vật ấy bằng cách đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va. Đó là một vật thánh thuộc về thầy tế lễ cùng với cái ức dâng đưa qua đưa lại và cái đùi dâng giơ lên. Sau đó người Na-xi-rê được phép uống rượu.
Đó là luật về người Na-xi-rê đã hứa nguyện và tế lễ người ấy phải dâng cho Đức Giê-hô-va theo sự hứa nguyện, bên cạnh các tế lễ khác mà người ấy có khả năng dâng thêm. Người ấy phải tuân theo luật Na-xi-rê mà mình đã hứa nguyện.’”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy bảo A-rôn và các con trai người rằng: ‘Các ngươi phải chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên như thế nầy:
Cầu xin Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi Và phù hộ ngươi!
Cầu xin Đức Giê-hô-va chiếu sáng mặt Ngài trên ngươi Và làm ơn cho ngươi!
Cầu xin Đức Giê-hô-va đoái thương ngươi Và ban bình an cho ngươi!’
Họ phải đặt danh Ta trên dân Y-sơ-ra-ên như vậy thì Ta sẽ ban phước cho dân nầy.”
Khi đã dựng xong Đền Tạm, Môi-se xức dầu và biệt riêng ra thánh tất cả vật dụng của Đền Tạm, cũng như xức dầu và biệt riêng ra thánh bàn thờ và tất cả vật dụng cho bàn thờ.
Sau đó, những người lãnh đạo Y-sơ-ra-ên, tức là các trưởng gia tộc, các trưởng bộ tộc đã chịu trách nhiệm kiểm tra dân số đều đem dâng lễ vật của mình.
Họ đem các lễ vật đến trước mặt Đức Giê-hô-va: Sáu cỗ xe kiệu và mười hai con bò đực; mỗi người lãnh đạo dâng một con bò và hai người dâng một cỗ xe. Họ dâng các lễ vật đó trước Đền Tạm.
Đức Giê-hô-va bảo Môi-se:
“Hãy tiếp nhận các lễ vật của họ để dùng vào công việc nơi Lều Hội Kiến và giao chúng cho người Lê-vi tùy theo công tác của mỗi người.”
Vậy Môi-se tiếp nhận các cỗ xe và những bò đực rồi giao lại cho người Lê-vi.
Ông giao cho con cháu Ghẹt-sôn hai cỗ xe và bốn con bò đực tùy theo công tác của họ.
Ông giao cho con cháu Mê-ra-ri bốn cỗ xe và tám con bò đực tùy theo công tác của họ. Họ ở dưới sự giám sát của Y-tha-ma, con trai thầy tế lễ A-rôn.
Nhưng ông không giao vật gì cho con cháu Kê-hát vì họ phải lo coi sóc những vật thánh mà họ gánh vác trên vai mình.
Trong ngày bàn thờ được xức dầu, những người lãnh đạo đem lễ vật cho việc cung hiến bàn thờ đến dâng trước bàn thờ.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Những người lãnh đạo luân phiên mỗi ngày một người, đem lễ vật để cung hiến bàn thờ.”
Người dâng lễ vật vào ngày đầu tiên là Na-ha-sôn, con trai của A-mi-na-đáp, thuộc bộ tộc Giu-đa.
Lễ vật của ông gồm một cái đĩa bạc nặng một kí rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam, theo siếc-lơ nơi thánh; cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay,
một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm,
một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của Na-ha-sôn, con trai A-mi-na-đáp.
Ngày thứ hai, Na-tha-na-ên, con trai của Xu-a, thủ lĩnh của Y-sa-ca, đến dâng lễ vật.
Ông dâng một cái đĩa bạc nặng một ký rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam theo siếc-lơ nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm;
một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của Na-tha-na-ên, con trai Xu-a.
Ngày thứ ba, Ê-li-áp, con trai của Hê-lôn, thủ lĩnh của Sa-bu-lôn đến dâng lễ vật.
Lễ vật của ông gồm một cái dĩa bạc nặng một ký rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam theo siếc-lơ nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm;
một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của Ê-li-áp, con trai Hê-lôn.
Ngày thứ tư, Ê-lít-su, con trai Sê-đêu, thủ lĩnh của Ru-bên, đến dâng lễ vật.
Lễ vật của ông gồm một cái đĩa bạc nặng một kí rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam theo siếc-lơ nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm,
một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của Ê-lít-su, con trai Sê-đêu.
Ngày thứ năm, Sê-lu-mi-ên, con trai Xu-ri-ha-đa, thủ lĩnh của Si-mê-ôn, đến dâng lễ vật.
Lễ vật của ông gồm một cái đĩa bạc nặng một ký rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam theo siếc-lơ nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam, đựng đầy thuốc thơm;
một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của Sê-lu-mi-ên, con trai Xu-ri-ha-đai.
Ngày thứ sáu, Ê-li-a-sáp, con trai Đê-u-ên, thủ lĩnh của Gát, đến dâng lễ vật.
Lễ vật của ông gồm một cái đĩa bạc nặng một ký rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam theo siếc-lơ nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm;
một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của Ê-li-a-sáp, con trai Đê-u-ên.
Ngày thứ bảy, Ê-li-sa-ma, con trai A-mi-hút, thủ lĩnh của Ép-ra-im, đến dâng lễ vật.
Lễ vật của ông gồm một cái đĩa bạc nặng một kí rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam theo siếc-lơ nơi thánh; cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm;
một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của Ê-li-sa-ma, con trai A-mi-hút.
Ngày thứ tám, Ga-ma-li-ên, con trai Phê-đát-su, thủ lĩnh của Ma-na-se, đến dâng lễ vật.
Lễ vật của ông gồm một cái đĩa bạc nặng một ký rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam, theo siếc-lơ nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm;
một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của Ga-ma-li-ên, con trai Phê-đát-su.
Ngày thứ chín, A-bi-đan, con trai Ghi-đeo-ni, thủ lĩnh của Bên-gia-min, đến dâng lễ vật.
Lễ vật của ông gồm một cái đĩa bạc nặng một ký rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam, theo siếc-lơ nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm;
một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của A-bi-đan, con trai Ghi-đeo-ni.
Ngày thứ mười, A-hi-ê-xe, con trai A-mi-sa-đai, thủ lĩnh của Đan, đến dâng lễ vật.
Lễ vật của ông gồm một cái đĩa bạc nặng một ký rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam, theo siếc-lơ nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm;
một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của A-hi-ê-xe, con trai A-mi-sa-đai.
Ngày thứ mười một, Pha-ghi-ên, con trai của Óc-ran, thủ lĩnh của A-se, đến dâng lễ vật.
Lễ vật của ông gồm một cái đĩa bạc nặng một ký rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam, theo siếc-lơ nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm;
một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của Pha-ghi-ên, con trai Óc-ran.
Ngày thứ mười hai, A-hi-ra, con trai Ê-nan, thủ lĩnh của Nép-ta-li, đến dâng lễ vật.
Lễ vật của ông gồm một cái đĩa bạc nặng một ký rưỡi, một cái chậu bạc nặng tám trăm gam, theo siếc-lơ nơi thánh, cả hai cái đều đầy bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay;
một cái chén vàng nặng một trăm mười lăm gam đựng đầy thuốc thơm;
một con bò đực tơ, một con chiên đực, một con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ thiêu;
một con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội
và hai con bò đực, năm con chiên đực, năm con dê đực và năm con chiên con một tuổi dùng làm tế lễ bình an. Đó là lễ vật của A-hi-ra, con trai Ê-nan.
Đây là những lễ vật của các thủ lĩnh dân Y-sơ-ra-ên dâng cho việc cung hiến bàn thờ khi bàn thờ được xức dầu: Mười hai đĩa bạc, mười hai chậu bạc, mười hai chén vàng.
Mỗi cái đĩa bạc nặng một ký rưỡi và mỗi cái chậu bạc nặng tám trăm gam. Tổng số bạc của các đĩa và chậu khoảng hai mươi tám ký, theo siếc-lơ nơi thánh.
Mười hai cái chén vàng đựng đầy thuốc thơm, mỗi cái một trăm mười lăm gam, theo siếc-lơ nơi thánh. Tổng số vàng của chén nặng khoảng một ký bốn trăm gam.
Tổng số bò đực dùng làm tế lễ thiêu là mười hai con với mười hai con chiên đực, mười hai con chiên con một tuổi cùng với tế lễ chay và mười hai con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội.
Tổng số bò đực dùng làm tế lễ bình an là hai mươi bốn con với sáu mươi con chiên đực, sáu mươi con dê đực, và sáu mươi con chiên con một tuổi. Đó là lễ vật dâng về việc cung hiến bàn thờ sau khi bàn thờ được xức dầu.
Khi Môi-se vào Lều Hội Kiến để hầu chuyện với Đức Giê-hô-va, ông nghe tiếng Chúa phán với mình từ nắp thi ân trên Hòm Chứng Ước, ở giữa hai chê-ru-bim. Và như thế ông hầu chuyện với Đức Giê-hô-va.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy bảo A-rôn rằng: Khi sắp xếp cây đèn thì phải cho bảy ngọn đèn chiếu sáng phía trước chân đèn.”
A-rôn làm đúng như vậy; ông đặt bảy ngọn đèn chiếu sáng phía trước chân đèn như Đức Giê-hô-va đã truyền phán với Môi-se.
Chân đèn được làm bằng vàng dát mỏng từ đế đèn cho đến các hoa đèn. Người ta làm chân đèn đúng theo kiểu mẫu Đức Giê-hô-va đã chỉ dẫn Môi-se.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy biệt riêng người Lê-vi khỏi dân Y-sơ-ra-ên và làm lễ thanh tẩy họ.
Đây là cách con thanh tẩy họ: Hãy rảy nước thanh tẩy trên họ; bảo họ dùng dao cạo sạch toàn thân, giặt quần áo và dọn mình cho thanh sạch.
Sau đó, bảo họ bắt một con bò đực cùng với tế lễ chay bằng bột lọc nhồi dầu, rồi con phải bắt một con bò đực tơ thứ nhì dùng làm tế lễ chuộc tội.
Con phải bảo người Lê-vi đến trước Lều Hội Kiến và họp cả hội chúng Y-sơ-ra-ên lại.
Khi con trình diện người Lê-vi trước Đức Giê-hô-va, dân Y-sơ-ra-ên sẽ đặt tay trên người Lê-vi.
A-rôn sẽ trình diện người Lê-vi như một tế lễ đưa qua đưa lại của dân Y-sơ-ra-ên trước mặt Đức Giê-hô-va để họ sẵn sàng phục vụ Đức Giê-hô-va.
Người Lê-vi sẽ đặt tay trên đầu hai con bò đực và con phải dâng một con làm tế lễ chuộc tội, một con làm tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va để chuộc tội cho người Lê-vi.
Kế đó, con hãy bảo người Lê-vi đứng trước mặt A-rôn và các con trai người rồi dâng họ như một tế lễ đưa qua đưa lại cho Đức Giê-hô-va.
Như vậy, con sẽ biệt riêng người Lê-vi khỏi dân Y-sơ-ra-ên và người Lê-vi sẽ thuộc về Ta.
Sau khi con đã thanh tẩy và dâng người Lê-vi như một tế lễ đưa qua đưa lại, họ sẽ đến phục vụ tại Lều Hội Kiến.
Vì người Lê-vi đã được dâng trọn cho Ta từ giữa dân Y-sơ-ra-ên; Ta đã chọn lấy họ cho Ta thế cho tất cả con đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên.
Mọi con đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên đều thuộc về Ta, bất luận người hay vật. Ta đã biệt riêng họ cho Ta trong ngày Ta hình phạt mọi con đầu lòng tại Ai Cập
và Ta đã chọn người Lê-vi thế cho mọi con đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên.
Từ giữa Y-sơ-ra-ên, Ta đã ban người Lê-vi cho A-rôn và các con trai người để làm công việc của dân Y-sơ-ra-ên trong Lều Hội Kiến, cùng làm lễ chuộc tội cho dân Y-sơ-ra-ên hầu cho họ sẽ không gặp tai họa nào khi đến gần nơi thánh.”
Vậy Môi-se, A-rôn và cả hội chúng Y-sơ-ra-ên làm cho người Lê-vi mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
Người Lê-vi tự tẩy sạch mình và giặt áo quần, rồi A-rôn dâng họ như tế lễ đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va và làm lễ chuộc tội để họ được thanh tẩy.
Sau đó, người Lê-vi đến làm công việc mình trong Lều Hội Kiến dưới sự giám sát của A-rôn và các con trai ông. Người ta làm cho người Lê-vi đúng như Đức Giê-hô-va đã phán về họ qua Môi-se.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Đây là những quy định về người Lê-vi: Từ hai mươi lăm tuổi trở lên, người Lê-vi phải đến tham gia vào công việc nơi Lều Hội Kiến.
Nhưng đến năm mươi tuổi, họ sẽ nghỉ, không làm việc nữa.
Họ có thể phụ giúp anh em mình trong Lều Hội Kiến, nhưng chính họ không đảm trách công việc nữa. Đó là cách con phân chia trách nhiệm cho người Lê-vi.”
Vào tháng giêng năm thứ hai sau khi ra khỏi Ai Cập, Đức Giê-hô-va phán với Môi-se trong hoang mạc Si-na-i rằng:
“Dân Y-sơ-ra-ên phải giữ lễ Vượt Qua vào thời gian ấn định.
Các ngươi phải giữ lễ đó vào thời gian ấn định, tức là ngày mười bốn tháng nầy vào lúc chiều tối, và phải làm theo mọi quy định cùng luật lệ về lễ đó.”
Như vậy, Môi-se truyền cho dân Y-sơ-ra-ên phải tổ chức lễ Vượt Qua.
Dân Y-sơ-ra-ên giữ lễ Vượt Qua vào chiều tối ngày mười bốn tháng giêng tại hoang mạc Si-na-i như Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se.
Nhưng có mấy người không được dự lễ Vượt Qua vì bị ô uế bởi xác chết, đến với Môi-se và A-rôn;
họ thưa với Môi-se rằng: “Chúng tôi bị ô uế vì xác chết, nhưng tại sao chúng tôi phải bị cất phần dâng tế lễ cho Đức Giê-hô-va theo thời gian ấn định?”
Môi-se đáp: “Hãy đợi để ta tìm biết điều Đức Giê-hô-va muốn truyền dạy cho anh em.”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Khi một người trong anh em hay con cháu anh em bị ô uế bởi xác chết hoặc bận đi xa thì họ vẫn phải giữ lễ Vượt Qua cho Đức Giê-hô-va.
Họ phải giữ lễ nầy vào chiều tối ngày mười bốn tháng hai và ăn bánh không men cùng rau đắng.
Họ không được để dư lại đến sáng mai, cũng không được bẻ gãy bất cứ xương nào. Họ phải giữ theo mọi luật lệ về lễ Vượt Qua.
Nhưng ai tinh sạch và không đi xa mà không giữ lễ Vượt Qua thì sẽ bị khai trừ khỏi dân tộc mình vì người ấy không dâng tế lễ cho Đức Giê-hô-va trong thời gian ấn định. Người ấy sẽ mang lấy tội mình.
Khi một người ngoại quốc sống giữa anh em mà muốn giữ lễ Vượt Qua cho Đức Giê-hô-va thì phải theo quy định và luật lệ về lễ Vượt Qua. Các ngươi phải có một luật chung cho cả ngoại kiều lẫn người sinh trong xứ.’
‘Vào ngày người ta dựng Đền Tạm thì đám mây bao phủ Đền Tạm, là Lều Chứng Ước. Từ chiều tối đến sáng mai, đám mây giống như vầng lửa ở trên Đền Tạm.
Ban ngày, đám mây bao phủ Đền Tạm và ban đêm nó giống như vầng lửa và cứ xảy ra liên tục như thế.
Mỗi khi đám mây cất lên khỏi Lều thì dân Y-sơ-ra-ên ra đi; nơi nào đám mây dừng lại thì dân Y-sơ-ra-ên đóng trại ở đó.
Dân Y-sơ-ra-ên ra đi theo lệnh của Đức Giê-hô-va và đóng trại theo lệnh của Đức Giê-hô-va. Bao lâu đám mây còn ngự trên Đền Tạm thì dân Y-sơ-ra-ên cứ đóng trại.
Khi nào đám mây ngự lâu trên Đền Tạm thì dân Y-sơ-ra-ên cứ vâng theo lệnh của Đức Giê-hô-va và không ra đi.
Nhưng khi nào đám mây ngự một vài ngày trên Đền Tạm thì dân Y-sơ-ra-ên vâng lệnh Đức Giê-hô-va mà đóng trại; sau đó theo lệnh Đức Giê-hô-va, họ lại ra đi.
Đôi khi đám mây chỉ ngự tại đó từ buổi chiều đến sáng mai; khi đến sáng mai đám mây cất lên thì họ ra đi. Hoặc nếu đám mây tiếp tục ngự một ngày và một đêm nữa thì khi đám mây cất lên, họ mới ra đi.
Khi đám mây ngự trên Đền Tạm hai ngày hoặc một tháng hoặc lâu hơn nữa thì dân Y-sơ-ra-ên cứ đóng trại và không ra đi; nhưng khi đám mây cất lên thì họ lại ra đi.
Dân Y-sơ-ra-ên đóng trại theo lệnh của Đức Giê-hô-va và ra đi theo lệnh của Đức Giê-hô-va. Họ vâng lệnh của Đức Giê-hô-va, theo như Ngài đã truyền phán qua Môi-se.’”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Con hãy làm hai cây kèn bằng bạc dát mỏng và dùng chúng để triệu tập hội chúng cũng như truyền lệnh cho các trại quân ra đi.
Khi nào người ta thổi cả hai kèn thì toàn hội chúng sẽ họp lại trước mặt con tại lối vào Lều Hội kiến.
Nếu người ta chỉ thổi một kèn thì các thủ lĩnh tức là những người lãnh đạo của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên phải họp lại trước mặt con.
Khi các con thổi kèn tiếng vang thì những trại quân phía đông sẽ ra đi.
Khi các con thổi kèn tiếng vang lần thứ nhì thì những trại quân phía nam sẽ ra đi. Người ta sẽ thổi kèn tiếng vang khi nào các trại quân phải ra đi.
Khi nhóm hội chúng, các con cũng phải thổi kèn nhưng không thổi tiếng vang.
Các con trai A-rôn là những thầy tế lễ sẽ thổi những kèn ấy. Đó là quy định vĩnh viễn cho các con qua các thế hệ.
Khi nào trong xứ có chiến tranh và các con phải ra chiến đấu chống kẻ thù xâm lược thì phải thổi kèn tiếng thúc quân. Lúc ấy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời các con sẽ nhớ lại các con và giải cứu các con khỏi kẻ thù.
Trong những ngày vui mừng, trong các kỳ lễ trọng thể và ngày đầu tháng thì các con phải thổi kèn trong khi dâng những tế lễ thiêu và tế lễ bình an. Trước mặt Đức Chúa Trời, tiếng kèn sẽ dùng để nhắc các con nhớ rằng Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.”
Vào ngày hai mươi tháng hai của năm thứ hai, đám mây cất lên khỏi Đền Tạm Chứng Ước.
Từ hoang mạc Si-na-i, dân Y-sơ-ra-ên ra đi từng chặng cho đến khi đám mây dừng lại tại hoang mạc Pha-ran.
Đây là lần thứ nhất dân Y-sơ-ra-ên ra đi theo lệnh Đức Giê-hô-va đã truyền qua Môi-se.
Ngọn cờ của trại quân Giu-đa ra đi trước, theo từng đội ngũ. Na-ha-sôn, con trai A-mi-na-đáp, chi huy quân đội Giu-đa.
Na-tha-na-ên, con trai Xu-a, chỉ huy quân đội của bộ tộc Y-sa-ca.
Ê-li-áp, con trai Hê-lôn, chỉ huy quân đội của bộ tộc Sa-bu-lôn.
Bấy giờ Đền Tạm đã được tháo dỡ, rồi con cháu Ghẹt-sôn và con cháu Mê-ra-ri khiêng Đền Tạm ra đi.
Kế đó, ngọn cờ của trại quân Ru-bên ra đi, theo từng đội ngũ. Ê-lít-su, con trai Sê-đêu, chỉ huy quân đội Ru-bên.
Sê-lu-mi-ên, con trai Xu-ri-ha-đai, chỉ huy quân đội của bộ tộc Si-mê-ôn.
Ê-li-sáp, con trai Đê-u-ên, chỉ huy quân đội của bộ tộc Gát.
Bấy giờ các người Kê-hát khiêng những vật thánh ra đi. Người ta dựng Đền Tạm trước khi họ đến.
Ngọn cờ của trại quân Ép-ra-im ra đi, theo đội ngũ. Ê-li-sa-ma, con trai A-mi-hút, chỉ huy quân đội Ép-ra-im.
Ga-ma-li-ên, con trai Phê-đát-su, chi huy quân đội của bộ tộc Ma-na-se.
A-bi-đan, con trai Ghi-đeo-ni, chỉ huy quân đội của bộ tộc Bên-gia-min.
Sau cùng, ngọn cờ của trại quân Đan ra đi, theo từng đội ngũ, như đội hậu vệ của các trại quân khác. A-hi-ê-xe, con trai A-mi-sa-đai, chi huy quân đội Đan.
Pha-ghi-ên, con trai Óc-ran, chi huy quân đội của bộ tộc A-se.
A-hi-ra, con trai Ê-nan, chỉ huy quân đội của bộ tộc Nép-ta-li.
Đó là trình tự mà dân Y-sơ-ra-ên ra đi theo từng đội ngũ mình.
Môi-se nói với Hô-báp, con trai Rê-u-ên, người Ma-đi-an là anh vợ mình rằng: “Chúng tôi đi đến xứ mà Đức Giê-hô-va có phán: ‘Ta sẽ ban xứ đó cho các con.’ Xin anh hãy đi cùng chúng tôi, chúng tôi sẽ đối đãi tử tế với anh vì Đức Giê-hô-va có hứa ban ơn cho dân Y-sơ-ra-ên.”
Hô-báp trả lời: “Tôi không đi đâu, nhưng tôi sẽ trở về xứ sở tôi là nơi quê cha đất tổ.”
Môi-se lại nói: “Xin anh đừng bỏ chúng tôi vì anh biết nơi nào trong hoang mạc chúng tôi có thể đóng trại được và anh sẽ như con mắt cho chúng tôi vậy.
Nếu anh đi cùng chúng tôi thì chúng tôi sẽ chia sẻ với anh mọi ơn lành mà Đức Giê-hô-va sẽ ban cho chúng tôi.”
Vậy dân Y-sơ-ra-ên khởi hành từ núi Đức Giê-hô-va trong ba ngày đường. Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va đi trước dân chúng trong ba ngày đường để tìm cho họ một nơi an nghỉ.
Ban ngày khi dân Y-sơ-ra-ên dời trại quân đi thì đám mây của Đức Giê-hô-va ở trên họ.
Khi Hòm Giao Ước di chuyển thì Môi-se nói rằng: “Lạy Đức Giê-hô-va, xin trỗi dậy để các kẻ thù Ngài bị tản lạc, Và kẻ nào ghét Ngài chạy trốn trước mặt Ngài!”
Khi Hòm Giao Ước dừng lại thì Môi-se nói rằng: “Lạy Đức Giê-hô-va, xin trở lại Với muôn vàn con dân Y-sơ-ra-ên!”
Bây giờ, dân chúng phàn nàn và điều đó khiến Đức Giê-hô-va không hài lòng. Đức Giê-hô-va nghe và cơn thịnh nộ Ngài nổi lên. Lửa của Đức Giê-hô-va bùng cháy trong dân chúng và thiêu hủy phần đầu của trại quân.
Dân chúng kêu cứu Môi-se. Môi-se cầu nguyện với Đức Giê-hô-va thì lửa dừng lại.
Người ta đặt tên chỗ nầy là Tha-bê-ra vì lửa của Đức Giê-hô-va đã cháy giữa dân chúng.
Bọn dân tạp trong dân Y-sơ-ra-ên thèm muốn thức ăn đến nỗi dân Y-sơ-ra-ên lại than khóc rằng: “Ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt?
Chúng tôi nhớ cá mà chúng tôi ăn không phải trả tiền tại Ai Cập cùng với dưa chuột, dưa gang, củ kiệu, hành và tỏi.
Bây giờ thể xác chúng tôi hao mòn, không có gì ăn hết, chỉ thấy ma-na mà thôi.”
Ma-na giống như hạt ngò, màu như nhựa thông.
Dân chúng đi tản ra, nhặt về và nghiền bằng cối xay hay giã bằng cối giã, rồi bỏ vào nồi nấu hay làm bánh. Hương vị nó giống như bánh pha dầu.
Khi sương xuống ban đêm trên trại quân thì ma-na cũng xuống theo.
Môi-se nghe dân chúng trong các gia tộc than van, mọi người đều khóc lóc trước cửa trại mình. Cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi bừng lên và Môi-se rất buồn bực về điều đó.
Môi-se thưa với Đức Giê-hô-va: “Sao Ngài làm khổ cho đầy tớ Ngài? Sao con không được ơn trước mặt Ngài? Sao Ngài lại chất gánh nặng cả dân tộc nầy trên con?
Con có mang thai dân nầy đâu? Con có sinh ra họ đâu mà Ngài bảo con: ‘Hãy bồng ẵm dân nầy trong lòng con như người vú bồng đứa trẻ đang bú, cho đến khi họ vào xứ mà Ngài đã thề hứa ban cho tổ tiên của họ?’
Con sẽ lấy thịt ở đâu mà phát cho cả đoàn dân nầy? Vì họ kêu khóc với con rằng: ‘Hãy cho chúng tôi ăn thịt.’
Con không thể một mình gánh hết dân nầy vì họ thật là một gánh nặng quá cho con!
Nếu Chúa đãi con như vậy và nếu con được ơn trước mặt Chúa, xin thà giết con đi để con không thấy cảnh khốn nạn của con!”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy họp bảy mươi người trong số trưởng lão Y-sơ-ra-ên, tức là những người con nhìn nhận là các trưởng lão và nhà lãnh đạo dân chúng. Hãy dẫn họ đến Lều Hội Kiến để họ đứng tại đó với con.
Ta sẽ ngự xuống và nói chuyện với con tại đó. Ta sẽ lấy Thần Ta ngự trên con mà ban cho họ để họ mang gánh nặng về dân tộc nầy với con, chứ không phải con gánh một mình.
Con hãy bảo dân chúng rằng: ‘Ngày mai phải dọn mình thánh sạch và anh em sẽ được ăn thịt. Vì tai Đức Giê-hô-va có nghe anh em khóc than rằng “ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt” vì chúng tôi đã từng được sung sướng tại Ai Cập. Vì thế, Đức Giê-hô-va sẽ ban thịt cho anh em và anh em sẽ được ăn thịt.
Không phải anh em sẽ ăn thịt một ngày, hai ngày, năm ngày, mười ngày hay là hai mươi ngày đâu,
mà ăn trọn một tháng, cho đến chừng nào thịt tràn ra lỗ mũi và chán ngấy, vì anh em đã chối bỏ Đức Giê-hô-va đang ngự giữa anh em và kêu khóc trước mặt Ngài rằng: “Tại sao chúng tôi lại lìa khỏi Ai Cập?”’”
Môi-se thưa: “Con đang đứng giữa một dân có sáu trăm nghìn đàn ông mà Ngài bảo rằng: ‘Ta sẽ phát thịt cho chúng ăn trọn một tháng.’
Nếu người ta giết hết chiên và bò, liệu có đủ cho họ không? Nếu người ta bắt hết cá dưới biển, liệu có đủ cho họ không?”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Tay của Đức Giê-hô-va quá ngắn sao? Con hãy chờ xem điều Ta phán với con có trở thành sự thật hay không!”
Môi-se đi ra và thuật lại lời của Đức Giê-hô-va cho dân chúng rồi tập hợp bảy mươi trưởng lão của dân chúng chung quanh Lều Hội Kiến.
Đức Giê-hô-va ngự xuống trong đám mây và phán với Môi-se. Ngài lấy Thần ở trên ông mà ban cho bảy mươi trưởng lão. Khi Thần ngự trên bảy mươi trưởng lão thì họ nói tiên tri. Nhưng họ không tiếp tục nói tiên tri nữa.
Có hai người ở lại trong trại quân, một người tên là Ên-đát, một người tên là Mê-đát. Thần ngự trên hai người nầy. Họ có tên trong danh sách trưởng lão nhưng không đến Lều Hội Kiến. Vậy họ nói tiên tri trong trại quân.
Một thanh niên chạy đến báo cho Môi-se rằng: “Ên-đát và Mê-đát đang nói tiên tri trong trại quân.”
Giô-suê, con trai của Nun, là đầy tớ Môi-se từ thời trẻ tuổi, nói: “Thưa Môi-se, chúa tôi, xin ngăn cấm họ!”
Môi-se trả lời: “Có phải anh ganh tị giùm tôi không? Ôi! Ước gì tất cả con dân của Đức Giê-hô-va đều là những nhà tiên tri và Đức Giê-hô-va ban Thần của Ngài cho họ!”
Môi-se và các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên đều trở về trại quân.
Bấy giờ, Đức Giê-hô-va khiến một trận gió đùa chim cút từ biển về hướng trại quân và rải chim cút chung quanh trại quân, mỗi bên rộng khoảng một ngày đường và từ mặt đất trở lên dày khoảng một mét.
Dân chúng đứng dậy nhặt chim cút trong ngày đó, đêm đó và cả ngày hôm sau. Ai nhặt ít nhất cũng được mười hô-me. Họ căng ra phơi chim cút chung quanh trại quân.
Trong khi thịt vẫn còn nơi răng, chưa nhai, thì cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi bừng lên với dân chúng và họ bị Ngài trừng phạt bằng một tai họa nặng nề.
Nơi nầy được đặt tên là Kíp-rốt Ha-tha-va vì tại đó người ta chôn một đám dân tham ăn.
Từ Kíp-rốt Ha-tha-va, dân chúng đi đến Hát-sê-rốt rồi dừng lại tại đó.
Mi-ri-am và A-rôn nói hành Môi-se về người nữ Ê-thi-ô-pi mà ông đã cưới vì ông đã cưới một người Ê-thi-ô-pi làm vợ.
Hai người nói rằng: “Đức Giê-hô-va chỉ phán qua Môi-se thôi sao? Không phải Ngài cũng phán qua chúng ta nữa sao?” Đức Giê-hô-va nghe điều đó.
Môi-se là người rất khiêm hòa, khiêm hòa hơn hết mọi người trên thế gian.
Thình lình Đức Giê-hô-va phán với Môi-se, A-rôn và Mi-ri-am rằng: “Cả ba người hãy đến Lều Hội Kiến.” Vậy là cả ba đều đi.
Đức Giê-hô-va ngự xuống trong trụ mây đứng tại cửa Lều Hội Kiến rồi gọi A-rôn và Mi-ri-am. Khi hai người đến,
Ngài phán: “Hãy lắng nghe lời Ta. Khi có một nhà tiên tri ở giữa các con Thì Ta là Đức Giê-hô-va sẽ hiện ra với người ấy trong khải tượng Và phán với người ấy trong giấc chiêm bao.
Nhưng với đầy tớ Ta là Môi-se thì không giống như vậy. Người thật trung tín trong cả nhà Ta.
Ta nói chuyện với người miệng đối miệng một cách rõ ràng, không lời bí ẩn Và người thấy hình dạng Đức Giê-hô-va. Vậy tại sao các con không sợ mà nói hành đầy tớ Ta là Môi-se?”
Cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi phừng lên với hai người và Ngài lìa khỏi họ.
Khi đám mây lìa khỏi Lều Hội Kiến thì Mi-ri-am bị phong hủi trắng như tuyết. A-rôn quay về phía Mi-ri-am và thấy bà đã mắc bệnh phong hủi.
A-rôn nói với Môi-se: “Ôi, chúa tôi, xin đừng trừng phạt chúng tôi về tội lỗi mà chúng tôi đã phạm cách dại dột.
Xin chớ để nàng như một hài nhi sảo thai, da thịt đã bị thối rữa hết phân nửa.”
Môi-se kêu cầu Đức Giê-hô-va rằng: “Đức Chúa Trời ôi! Xin chữa lành cho nàng!”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Nếu cha nàng phỉ nhổ trên mặt nàng, không phải nàng chịu xấu hổ trong bảy ngày sao? Nàng phải bị giữ ngoài trại quân trong bảy ngày, sau đó nàng sẽ được nhận vào lại.”
Như vậy, Mi-ri-am bị giữ ngoài trại quân trong bảy ngày. Dân chúng không ra đi cho đến khi Mi-ri-am được nhận vào trại quân.
Sau đó, dân chúng từ Hát-sê-rốt ra đi và đóng trại trong hoang mạc Pha-ran.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy sai người đi do thám đất Ca-na-an mà Ta ban cho dân Y-sơ-ra-ên. Mỗi bộ tộc phải gửi một người, là một trong số những người lãnh đạo của họ.”
Như vậy, Môi-se từ hoang mạc Pha-ran sai họ ra đi theo lệnh của Đức Giê-hô-va. Tất cả đều là những thủ lĩnh của dân Y-sơ-ra-ên.
Đây là tên của các người ấy: Về bộ tộc Ru-bên, có Sam-mua, con trai Xa-cu;
về bộ tộc Si-mê-ôn, có Sa-phát, con trai của Hô-ri;
về bộ tộc Giu-đa, có Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê;
về bộ tộc Y-sa-ca, có Di-ganh, con trai của Giô-sép;
về bộ tộc Ép-ra-im, có Hô-sê con trai của Nun;
về bộ tộc Bên-gia-min, có Phan-thi, con trai của Ra-phu;
về bộ tộc Sa-bu-lôn, có Gát-đi-ên, con trai của Sô-đi;
về bộ tộc Giô-sép (tức là bộ tộc Ma-na-se) có Ga-đi, con trai của Su-si;
về bộ tộc Đan, có A-mi-ên, con trai của Ghê-ma-li;
về bộ tộc A-se, có Sê-thu, con trai của Mi-ca-ên;
về bộ tộc Nép-ta-li, có Nách-bi, con trai của Vấp-si;
về bộ tộc Gát, có Gu-ên, con trai của Ma-ki.
Đó là tên những người mà Môi-se sai đi do thám xứ. Môi-se đặt tên cho Hô-sê, con trai Nun, là Giô-suê.
Khi sai người đi do thám đất Ca-na-an, Môi-se dặn rằng: “Hãy đi lên Nê-ghép, vào miền đồi núi,
và xem vùng đất ấy ra sao, người ở đó mạnh hay yếu, ít hay nhiều,
xứ sở dân đó tốt hay xấu; các thành dân đó ở như thế nào, có vách thành kiên cố hay chỉ là những trại quân, không tường vách;
đất đai màu mỡ hay cằn cỗi, có cây cối hay là không. Hãy can đảm, và mang về một ít trái cây của xứ đó.” Bấy giờ là đầu mùa nho.
Vậy những người ấy đi lên do thám xứ từ hoang mạc Xin cho đến Rê-hốp gần Ha-mát.
Họ đi lên Nê-ghép, đến thành Hếp-rôn là nơi có A-hi-man, Sê-sai và Thanh-mai, con cháu A-nác. Thành Hếp-rôn xây trước thành Xô-an của Ai Cập bảy năm.
Họ đến khe Ếch-côn, tại đó cắt một cành nho có vỏn vẹn một chùm nho mà phải hai người dùng đòn mới khiêng nổi. Họ cũng mang về những trái lựu và trái vả.
Người ta gọi chỗ nầy là khe Ếch-côn vì có chùm nho mà dân Y-sơ-ra-ên đã cắt tại đó.
Họ đi do thám xứ trong bốn mươi ngày và trở về.
Những người đi do thám đến với Môi-se, A-rôn và cả hội chúng Y-sơ-ra-ên trong hoang mạc Pha-ran tại Ca-đe và thuật lại mọi điều cho hai người và cả hội chúng nghe, cùng đưa cho xem hoa quả của xứ ấy.
Các người ấy thuật cho Môi-se rằng: “Chúng tôi đi đến vùng đất mà các ông đã sai chúng tôi đi. Đó quả là một vùng đất đượm sữa và mật; đây là hoa quả của nó.
Tuy nhiên, dân ở trong xứ nầy khỏe mạnh, thành trì vững chắc và rộng lớn. Chúng tôi cũng có thấy con cháu A-nác ở đó.
Dân A-ma-léc ở Nê-ghép; dân Hê-tít, dân Giê-bu-sít và dân A-mô-rít ở vùng đồi núi; dân Ca-na-an ở gần biển và dọc theo mé sông Giô-đanh.”
Lúc ấy, Ca-lép làm cho dân chúng đang cằn nhằn với Môi-se phải im lặng khi ông nói: “Chúng ta hãy đi lên và chiếm xứ đi, vì chúng ta có thể thắng được.”
Nhưng các người đi với Ca-lép nói rằng: “Chúng ta không thể đi lên chống cự nổi dân nầy vì chúng mạnh hơn ta.”
Họ phúc trình cho dân Y-sơ-ra-ên về vùng đất đã do thám một cách bất lợi khi nói rằng: “Vùng đất mà chúng tôi đã do thám là một vùng đất ăn nuốt dân mình. Tất cả những người chúng tôi đã thấy tại đó đều là những người cao lớn.
Chúng tôi đã thấy những người cao lớn ấy, tức là con cháu của A-nác, là giống dân khổng lồ ở đó. Chúng tôi thấy mình như con cào cào và chúng thấy chúng tôi cũng vậy.”
Cả hội chúng cất tiếng la lớn; dân chúng khóc than trong đêm đó,
Tất cả dân Y-sơ-ra-ên phàn nàn với Môi-se và A-rôn; cả hội chúng nói với hai ông: “Phải chi chúng tôi chết trong đất Ai Cập hay chết trong hoang mạc nầy cho rồi!
Tại sao Đức Giê-hô-va dẫn chúng tôi vào đất nầy để ngã chết bởi gươm? Vợ con chúng tôi sẽ bị giặc bắt đi. Chúng tôi quay trở lại Ai Cập không tốt hơn sao?”
Rồi họ nói với nhau: “Chúng ta hãy lập một người lãnh đạo và trở về Ai Cập.”
Môi-se và A-rôn sấp mình xuống trước mặt cả hội chúng Y-sơ-ra-ên.
Giô-suê, con trai của Nun, và Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, là hai trong số những người đi do thám xứ, xé áo quần mình.
Hai người nói với cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: “Đất mà chúng tôi đã đi do thám thật là một vùng đất tốt.
Nếu Đức Giê-hô-va hài lòng về chúng ta, Ngài sẽ đem chúng ta vào đó và ban cho chúng ta vùng đất đượm sữa và mật ấy.
Chỉ cần một điều là anh em chớ nổi loạn với Đức Giê-hô-va và đừng sợ hãi dân xứ đó vì chúng sẽ làm đồ ăn cho chúng ta. Chúng không được che chở, bảo vệ nữa nhưng Đức Giê-hô-va ở cùng chúng ta. Đừng sợ chúng!”
Bấy giờ cả hội chúng đòi ném đá hai người nhưng vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra trong Lều Hội Kiến trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se rằng: “Dân nầy khinh Ta và không tin Ta cho đến chừng nào, mặc dù Ta đã làm nhiều phép lạ giữa họ?
Ta sẽ giáng dịch bệnh trên họ và tiêu diệt họ, nhưng Ta sẽ làm cho con thành một dân lớn hơn và mạnh hơn họ.”
Môi-se thưa với Đức Giê-hô-va rằng: “Dân Ai Cập sẽ nghe việc nầy vì Chúa đã dùng quyền năng đem dân nầy ra khỏi Ai Cập,
và chúng sẽ thuật điều đó cho dân xứ mình. Lạy Đức Giê-hô-va, dân Ai Cập đã biết rằng Chúa ngự giữa dân Y-sơ-ra-ên và hiện ra cho họ thấy tận mắt. Trụ mây Chúa ở trên dân nầy và Ngài đi trước họ, ban ngày trong trụ mây, ban đêm trong trụ lửa.
Nếu Chúa giết hết dân nầy như giết một người thì các nước đã nghe nói về Chúa sẽ nói rằng:
‘Đức Giê-hô-va không thể dẫn dân nầy vào đất mà Ngài đã thề hứa cho họ; do đó Ngài đã giết họ trong hoang mạc.’
Vì thế, bây giờ con xin quyền năng của Chúa bày tỏ cách oai nghiêm như Chúa đã phán rằng:
‘Đức Giê-hô-va chậm nóng giận, Và đầy lòng thương xót, Tha thứ tội lỗi và sự phản nghịch, Nhưng không kể kẻ có tội là vô tội, Và phạt con cháu ba bốn đời Vì tội của cha ông.’
Con xin Chúa tha thứ tội lỗi cho dân nầy tùy theo ơn thương xót lớn lao của Chúa, như Ngài đã bao lần tha thứ cho họ từ khi rời khỏi Ai Cập đến nay.”
Đức Giê-hô-va đáp: “Ta đã tha thứ cho họ theo lời con cầu xin.
Nhưng, Ta lấy sự sống và vinh quang đầy dẫy khắp đất của Ta là Đức Giê-hô-va mà quả quyết rằng:
tất cả những người đã thấy vinh quang và phép lạ Ta đã làm tại Ai Cập và trong hoang mạc rồi, nhưng đã thử Ta mười lần, cũng như không vâng lời Ta,
thì chẳng một ai trong họ sẽ thấy xứ mà Ta đã thề hứa ban cho ông cha họ. Không người nào khinh thường Ta mà được thấy xứ đó.
Nhưng vì đầy tớ Ta là Ca-lép không đồng tình với họ mà theo Ta một cách trung tín nên Ta sẽ đem người vào xứ mà người đã do thám; dòng dõi người sẽ được xứ ấy làm sản nghiệp.
Vì dân A-ma-léc và dân Ca-na-an đang ở trong các thung lũng, nên ngày mai các con hãy quay trở lại và đi vào hoang mạc, về hướng Biển Đỏ.”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn:
“Hội chúng hung dữ nầy cứ phàn nàn với Ta cho đến chừng nào? Ta đã nghe dân Y-sơ-ra-ên phàn nàn oán trách Ta.
Hãy nói với họ rằng ‘Đức Giê-hô-va phán: Ta lấy sự sống Ta mà quả quyết rằng Ta sẽ làm cho các con đúng như lời Ta đã nghe các con phàn nàn:
thây các con sẽ ngã chết trong hoang mạc. Tất cả những người đã được kiểm tra từ hai mươi tuổi trở lên, là những kẻ đã cằn nhằn với Ta,
sẽ không được vào xứ mà Ta đã thề ban cho các con, ngoại trừ Ca-lép con trai của Giê-phu-nê và Giô-suê, con trai của Nun.
Nhưng Ta sẽ đem vào xứ đó những đứa con nhỏ đó mà các con nói rằng chúng sẽ bị giặc bắt đem đi, và chúng sẽ vui hưởng xứ mà các con đã khinh bỏ.
Còn các con sẽ phải bỏ thây trong hoang mạc nầy.
Con cái các con sẽ chăn chiên nơi hoang mạc trong bốn mươi năm và sẽ mang hình phạt về tội bất trung của các con cho đến chừng người cuối cùng của các con ngã chết trong hoang mạc.
Các ngươi đi do thám xứ bao nhiêu ngày, tức là bốn mươi ngày, thì các con cũng sẽ mang hình phạt vì tội lỗi mình bấy nhiêu năm, nghĩa là bốn mươi năm, mỗi ngày phải đền một năm. Bấy giờ các con sẽ hiểu sự trừng phạt của Ta như thế nào.
Ta, Đức Giê-hô-va, đã phán: Chắc chắn Ta sẽ thi hành những điều ấy cho cả hội chúng độc ác nầy. Họ đã liên kết với nhau để chống lại Ta, nên họ sẽ bị tiêu hao và hủy diệt trong hoang mạc nầy.’”
Những người mà Môi-se sai đi do thám xứ trở về đã làm cho cả hội chúng phàn nàn vì tường trình bất lợi về đất hứa,
thì họ bị trừng phạt bằng một tai vạ và đã chết trước mặt Đức Giê-hô-va.
Nhưng trong những người đi do thám xứ chỉ có Giô-suê, con trai của Nun, và Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, được sống mà thôi.
Môi-se thuật lại những lời nầy cho cả dân Y-sơ-ra-ên và họ khóc lóc thảm thiết.
Họ dậy sớm đi lên đỉnh núi mà nói rằng: “Chúng tôi sẽ đi đến chỗ Đức Giê-hô-va đã phán hứa vì chúng tôi đã phạm tội.”
Nhưng Môi-se nói: “Sao anh em làm trái lệnh của Đức Giê-hô-va? Việc nầy sẽ không thành công đâu.
Đừng đi lên đó, e anh em bị quân thù đánh bại, vì Đức Giê-hô-va không còn ở giữa anh em nữa.
Kìa, dân A-ma-léc và dân Ca-na-an đang ở trước mặt anh em; anh em sẽ bị ngã gục dưới lưỡi gươm của chúng. Vì anh em đã phản bội Đức Giê-hô-va nên Ngài sẽ không ở cùng anh em nữa.”
Nhưng họ ngoan cố cứ đi lên đỉnh núi mặc dù Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va cũng như Môi-se không ra khỏi trại quân.
Dân A-ma-léc và dân Ca-na-an sống trong vùng đồi núi đổ xuống đánh tan tác dân Y-sơ-ra-ên và truy đuổi họ đến tận Họt-ma.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Khi các con vào ở trong xứ mà Ta ban cho các con,
và khi các con dâng bò hay chiên như một tế lễ dâng bằng lửa, có hương thơm lên Đức Giê-hô-va, hoặc tế lễ thiêu, hoặc sinh tế để hoàn nguyện hoặc tế lễ lạc ý, hoặc tế lễ trong những kỳ lễ hội,
thì cũng phải dâng lên Đức Giê-hô-va một tế lễ chay bằng hai lít bột lọc nhồi với một lít dầu.
Cứ mỗi con chiên dùng làm tế lễ thiêu hay tế lễ khác, con phải dâng một lít rượu làm lễ quán.
Nếu sinh tế là con chiên đực thì phải kèm theo một tế lễ chay bằng bốn lít bột lọc nhồi với hơn một lít dầu,
đồng thời dùng hơn một lít rượu làm lễ quán, có hương thơm dâng lên Đức Giê-hô-va.
Khi dâng một con bò tơ làm tế lễ thiêu hoặc sinh tế hoàn nguyện hay tế lễ bình an lên Đức Giê-hô-va
thì phải dâng chung với con bò tơ một tế lễ chay bằng sáu lít bột lọc nhồi với hai lít dầu
và dâng hai lít rượu làm lễ quán. Đó là một tế lễ dùng lửa dâng hương thơm lên Đức Giê-hô-va.
Người ta cũng sẽ làm như vậy cho mỗi con bò đực, mỗi con chiên đực, mỗi con chiên con hay mỗi con dê con.
Tùy theo số sinh tế sẽ dâng mà chuẩn bị theo cách ấy cho mỗi con.
Mỗi người được sinh ra trong xứ đều phải làm như vậy khi dùng lửa dâng một tế lễ có hương thơm lên Đức Giê-hô-va.
Nếu một ngoại kiều sống giữa anh em hay là một người nào khác ở giữa anh em từ thế hệ nầy sang thế hệ kia, dùng lửa dâng một tế lễ có hương thơm lên Đức Giê-hô-va thì cũng phải làm đúng như cách anh em đã làm.
Trong hội chúng, chỉ có một luật lệ chung áp dụng cho các con và cho cả ngoại kiều sống giữa các con. Đó là một quy định đời đời cho mọi thế hệ. Các con và ngoại kiều đều như nhau trước mặt Đức Giê-hô-va.
Sẽ có một luật pháp và một quy định như nhau cho các con và cho ngoại kiều sống giữa các con.’”
Đức Giê-hô-va cũng phán với Môi-se:
“Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Khi nào các con vào xứ mà Ta sẽ dẫn các con vào
và ăn bánh của xứ đó thì các con phải dâng theo cách đưa lên một lễ vật cho Đức Giê-hô-va.
Từ bột nhồi đầu tiên của các con, các con phải làm một cái bánh nhỏ và dâng theo cách đưa lên. Các con phải dâng như dâng một lễ vật từ sân đập lúa.
Từ thế hệ nầy sang thế hệ kia, các con phải dâng theo cách đưa lên cho Đức Giê-hô-va một lễ vật bằng bột nhồi đầu tiên của các con.’”
“‘Khi các con vô ý phạm tội, không giữ tất cả các điều răn mà Đức Giê-hô-va đã truyền phán qua Môi-se,
tức là mọi điều Đức Giê-hô-va đã dùng Môi-se truyền phán cho các con từ ngày Đức Giê-hô-va ban những điều răn nầy và từ đó về sau qua các thế hệ,
nếu hội chúng vô ý phạm tội mà không hay biết thì cả hội chúng theo luật định phải dùng một con bò đực tơ làm tế lễ thiêu có hương thơm dâng lên Đức Giê-hô-va, luôn với tế lễ chay cùng lễ quán cặp theo và một con dê đực làm tế lễ chuộc tội.
Thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho cả hội chúng Y-sơ-ra-ên; họ sẽ được tha thứ vì đó là tội lỗi không cố ý và vì hội chúng đã đem đến trước mặt Đức Giê-hô-va một tế lễ, tức là một tế lễ dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va, cùng với tế lễ chuộc tội, để chuộc lỗi lầm của mình.
Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên và ngoại kiều sống giữa họ sẽ được tha tội vì cả dân chúng đều liên lụy đến tội không cố ý nầy.
Nhưng nếu chỉ một người vô ý phạm tội thì người đó phải dâng một con dê cái một tuổi làm tế lễ chuộc tội.
Thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người vô ý phạm tội trước mặt Đức Giê-hô-va; khi đã làm lễ chuộc tội cho người ấy rồi thì người ấy sẽ được tha thứ.
Chỉ có một luật lệ chung áp dụng cho bất cứ người nào phạm tội không cố ý, bất luận là con dân Y-sơ-ra-ên hay là kiều dân sống giữa họ.
Nhưng ai cố ý phạm tội, dù là dân bản xứ hay ngoại kiều thì người đó xúc phạm đến Đức Giê-hô-va và sẽ bị khai trừ khỏi con dân Ngài.
Bởi vì người ấy đã khinh thường lời Đức Giê-hô-va, vi phạm điều răn của Ngài nên bị khai trừ; tội lỗi của người ấy đổ lại trên chính người ấy.’”
Khi dân Y-sơ-ra-ên đang ở tại hoang mạc, người ta bắt gặp một người lượm củi trong ngày sa-bát.
Những người bắt gặp người đang lượm củi nầy dẫn anh ta đến Môi-se, A-rôn và cả hội chúng.
Họ bắt giam anh ta vì không biết phải xử lý như thế nào.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Người nầy phải bị xử tử. Cả hội chúng phải ném đá nó ngoài trại quân.”
Như vậy, cả hội chúng đem người ra ngoài trại quân mà ném đá; người chết đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
“Hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên và bảo họ rằng: ‘Từ thế hệ nầy sang thế hệ kia, hãy làm một cái tua nơi các chéo áo mình; trên mỗi tua kết một sợi dây màu điều.
Các con phải mang cái tua nầy để khi nhìn thấy nó, các con nhớ lại tất cả điều răn của Đức Giê-hô-va mà vâng theo, chứ không theo tư dục của lòng và mắt mình, là điều làm cho các con sa vào tà dâm.
Như vậy, các con sẽ nhớ lại và làm theo mọi điều răn của Ta và như vậy, các con sẽ biệt riêng ra thánh cho Đức Chúa Trời của các con.
Chính Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con, Đấng đã đem các con ra khỏi Ai Cập để làm Đức Chúa Trời của các con. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con.’”
Cô-ra, con trai của Dít-sê-ha, cháu của Kê-hát, chít của Lê-vi, lôi kéo Đa-than và A-bi-ram, con trai của Ê-li-áp, và Ôn, con trai của Phê-lết, cháu Ru-bên,
nổi lên chống lại Môi-se. Cùng với họ có hai trăm năm mươi người trong dân Y-sơ-ra-ên vốn là những thủ lĩnh của hội chúng, là những người được tuyển chọn và có danh tiếng;
họ cấu kết với nhau chống lại Môi-se và A-rôn. Họ tố cáo: “Các người quá lắm rồi! Vì cả hội chúng đều là thánh và Đức Giê-hô-va đang ngự giữa chúng ta. Vậy tại sao các người tự nhấc mình lên trên hội chúng của Đức Giê-hô-va?”
Môi-se nghe điều đó thì sấp mặt xuống đất,
và nói với Cô-ra cùng tất cả những người theo ông rằng: “Sáng mai, Đức Giê-hô-va sẽ tỏ cho biết ai thuộc về Ngài và ai là thánh, và Ngài sẽ khiến người đó lại gần Ngài; người nào Ngài chọn sẽ được đến gần Ngài.
Hỡi Cô-ra, hãy làm điều nầy: Ngươi và tất cả những người theo ngươi hãy cầm lư hương;
sáng mai, trước mặt Đức Giê-hô-va, hãy bỏ lửa vào lư hương và bỏ hương liệu lên trên. Người nào mà Đức Giê-hô-va sẽ chọn lựa ấy là người thánh. Hỡi con cháu Lê-vi, thôi đủ rồi!”
Môi-se nói với Cô-ra: “Hỡi con cháu Lê-vi, hãy nghe đây!
Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã biệt riêng anh em khỏi hội chúng Y-sơ-ra-ên, và đem anh em đến gần Ngài để làm công việc trong Đền Tạm của Đức Giê-hô-va và phục vụ trước mặt hội chúng. Việc ấy anh em cho là nhỏ mọn sao?
Ngài cho phép anh và tất cả anh em của anh là con cháu Lê-vi đến gần Ngài, nhưng anh em lại còn đòi chức tế lễ nữa sao?
Vì thế, anh và tất cả những người theo anh hiệp lại để chống Đức Giê-hô-va! A-rôn là ai mà anh em cằn nhằn với người?”
Môi-se sai người gọi Đa-than và A-bi-ram, con trai Ê-li-áp, nhưng hai người đó nói: “Chúng tôi không đi lên đâu!
Ông đã đem chúng tôi ra khỏi xứ đượm sữa và mật để chết trong hoang mạc chưa đủ sao mà ông còn muốn làm vua làm chúa trên chúng tôi nữa?
Hơn nữa, ông không dẫn chúng tôi vào một xứ đượm sữa và mật, cũng không cho chúng tôi đồng ruộng hay là vườn nho làm sản nghiệp. Ông toan khoét mắt dân nầy chăng? Chúng tôi không đi lên đâu!”
Môi-se giận lắm và thưa với Đức Giê-hô-va rằng: “Xin Chúa đừng chấp nhận tế lễ của họ nữa. Con không bắt một con lừa nào của họ và cũng không làm hại một ai trong bọn họ.”
Môi-se nói với Cô-ra: “Ngày mai, anh cùng tất cả những người theo anh, và A-rôn, hãy ra mắt Đức Giê-hô-va.
Mỗi người hãy cầm lư hương và bỏ hương liệu vào, rồi mỗi người dâng lư hương mình trước mặt Đức Giê-hô-va, tức là hai trăm năm mươi lư hương. Anh và A-rôn, cũng phải có lư hương.”
Vậy mỗi người lấy lư hương bỏ lửa vào và bỏ hương liệu lên trên, rồi đứng tại cửa Lều Hội Kiến cùng với Môi-se và A-rôn.
Cô-ra họp cả hội chúng để chống lại Môi-se và A-rôn tại cửa Lều Hội Kiến. Vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra cùng toàn thể hội chúng.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn rằng:
“Hãy tách khỏi hội chúng nầy, Ta sẽ tiêu diệt chúng trong giây lát.”
Hai người sấp mặt xuống và nói: “Lạy Chúa là Đức Chúa Trời ban hơi thở cho mọi loài xác thịt! Chỉ có một người phạm tội mà Ngài lại nổi giận với cả hội chúng sao?”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy bảo hội chúng tránh xa khu vực nơi Cô-ra, Đa-than và A-bi-ram ở.”
Môi-se đứng dậy đi về phía Đa-than và A-bi-ram; các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đi theo ông.
Ông nói với hội chúng rằng: “Bây giờ, hãy tránh xa trại của những kẻ hung ác nầy và chớ đụng đến vật gì thuộc về họ, kẻo anh em sẽ chết vì tội của họ chăng.”
Vậy dân chúng tránh xa khỏi chỗ ở của Cô-ra, Đa-than và A-bi-ram. Đa-than và A-bi-ram ra đứng tại cửa trại với vợ con và cháu chắt mình.
Môi-se nói: “Nhờ điều nầy, anh em sẽ biết rằng Đức Giê-hô-va có sai tôi làm tất cả các điều ấy chứ không tự ý tôi.
Nếu những người nầy chết như mọi người khác, hoặc nếu họ đồng chịu số phận chung như mọi người thì Đức Giê-hô-va không sai tôi.
Nhưng nếu Đức Giê-hô-va làm một việc mới lạ; nếu đất hả miệng ra nuốt họ cùng mọi vật thuộc về họ, và nếu họ còn đang sống mà xuống âm phủ thì anh em sẽ biết rằng những người nầy đã xúc phạm đến Đức Giê-hô-va.”
Khi Môi-se vừa dứt lời thì đất ngay dưới chân họ nứt ra,
hả miệng nuốt họ, gia quyến và tất cả những người theo Cô-ra cùng tài sản của họ.
Những người đó còn đang sống mà xuống âm phủ cùng với mọi vật thuộc về họ; đất lấp lại và họ bị tiêu diệt khỏi hội chúng.
Cả Y-sơ-ra-ên ở chung quanh nghe tiếng họ kêu la thì chạy trốn, vì nói rằng: “Hãy coi chừng kẻo đất nuốt chúng ta nữa đó!”
Rồi một ngọn lửa từ Đức Giê-hô-va lòe ra thiêu hóa hai trăm năm mươi người đã dâng hương.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy bảo Ê-lê-a-sa, con trai thầy tế lễ A-rôn, lượm các lư hương từ chỗ lửa cháy và đổ lửa trong các lư hương nơi xa, vì chúng đã được thánh hóa.
Còn các lư hương của những người vì phạm tội mà phải mất mạng thì hãy lấy dát thành những tấm mỏng để bọc bàn thờ, vì các lư hương đó đã dâng trước mặt Đức Giê-hô-va và đã được thánh hóa. Hãy để những tấm dát ấy làm một dấu hiệu cho dân Y-sơ-ra-ên.”
Vậy thầy tế lễ Ê-lê-a-sa lấy những lư hương bằng đồng của các người bị thiêu hóa khi dâng lễ và sai làm thành những tấm dát mỏng để bọc bàn thờ.
Điều nầy nhắc nhở dân Y-sơ-ra-ên rằng không người nào, ngoại trừ dòng A-rôn, được phép đến gần để xông hương trước mặt Đức Giê-hô-va; nếu không, người ấy sẽ đồng số phận với Cô-ra và những người theo ông ấy, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền phán qua Môi-se.
Ngày mai, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên cằn nhằn chống lại Môi-se và A-rôn. Họ nói: “Các người đã giết con dân của Đức Giê-hô-va!”
Khi đang hiệp nhau chống lại Môi-se và A-rôn, hội chúng nhìn về phía Lều Hội Kiến, thấy đám mây bao phủ Lều và vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra.
Môi-se và A-rôn đến đứng trước Lều Hội Kiến,
và Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy tránh xa hội chúng nầy, Ta sẽ tiêu diệt họ trong giây lát.” Nhưng hai người sấp mặt xuống đất,
rồi Môi-se bảo A-rôn rằng: “Anh hãy lấy lư hương bỏ lửa từ bàn thờ vào và bỏ hương liệu lên trên, rồi mau mau đi đến hội chúng mà làm lễ chuộc tội cho họ, vì cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va đã nổi lên và tai họa đã bắt đầu.”
A-rôn làm như Môi-se đã bảo và chạy đến giữa hội chúng. Kìa, tai họa đã phát khởi giữa dân chúng. A-rôn dâng hương và làm lễ chuộc tội cho dân chúng.
Ông đứng giữa kẻ chết và người sống thì tai họa liền dừng lại.
Có mười bốn nghìn bảy trăm người chết vì tai họa nầy, không kể số người chết trong vụ Cô-ra.
Khi tai họa dừng lại thì A-rôn trở lại với Môi-se nơi Lều Hội Kiến.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: Mỗi bộ tộc phải đem nộp một cây gậy, nghĩa là mười hai cây gậy. Hãy viết tên mỗi thủ lĩnh trên cây gậy của họ.
Cũng viết tên A-rôn trên cây gậy của Lê-vi, vì phải có một cây gậy cho mỗi trưởng bộ tộc.
Con phải để các gậy đó trong Lều Hội Kiến trước Hòm Chứng Ước, nơi Ta gặp các con.
Nếu người nào Ta chọn thì cây gậy người đó sẽ trổ hoa. Như thế, Ta sẽ làm câm nín những tiếng cằn nhằn của dân Y-sơ-ra-ên chống lại con.”
Môi-se nói lại với dân Y-sơ-ra-ên, và tất cả các thủ lĩnh tùy theo bộ tộc mình đem nộp cho ông mỗi người một cây gậy, tức là mười hai cây. Gậy của A-rôn ở giữa các cây gậy khác.
Môi-se đặt những gậy đó trong Lều Chứng Ước trước mặt Đức Giê-hô-va.
Hôm sau, khi Môi-se vào Lều Chứng Ước thì thấy cây gậy A-rôn thuộc nhà Lê-vi đã đâm chồi; không những đâm chồi mà còn trổ hoa và ra trái hạnh nhân chín.
Môi-se rút tất cả cây gậy trước mặt Đức Giê-hô-va và đưa cho cả dân Y-sơ-ra-ên xem. Họ đều thấy và mỗi người lấy cây gậy của mình về.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy đem cây gậy của A-rôn đặt lại trước Hòm Chứng Ước để giữ làm một dấu hiệu cảnh cáo về sự nổi loạn. Con phải làm câm nín những lời cằn nhằn chống lại Ta kẻo họ phải chết chăng.”
Môi-se làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn mình.
Dân Y-sơ-ra-ên nói với Môi-se rằng: “Nầy chúng tôi bị diệt, chúng tôi bị chết, chúng tôi chết hết!
Ai đến gần Đền Tạm của Đức Giê-hô-va sẽ chết. Không lẽ chúng tôi sẽ chết hết sao?”
Đức Giê-hô-va phán với A-rôn: “Con, các con trai của con, gia tộc con cùng với con phải chịu trách nhiệm về những tội lỗi liên quan đến Nơi Thánh; riêng con, các con trai của con cùng với con phải chịu trách nhiệm về những tội lỗi liên quan đến chức tế lễ.
Cũng hãy đem các anh em con thuộc bộ tộc Lê-vi, tức bộ tộc của ông cha con, đến với con để phụ giúp con trong khi con và các con trai con phục vụ trước Lều Chứng Ước.
Họ sẽ chịu trách nhiệm trước con về mọi công việc thuộc về Lều, nhưng không được đến gần những vật trong Nơi Thánh hoặc bàn thờ, kẻo họ và con phải chết chăng.
Vậy họ sẽ cộng tác với con coi sóc Lều Hội Kiến và làm công việc trong Lều; người ngoại không được đến gần các con.
Các con phải coi sóc công việc thuộc về Nơi Thánh và bàn thờ để cơn thịnh nộ không giáng trên dân Y-sơ-ra-ên nữa.
Nầy, chính Ta đã chọn anh em các con là những người Lê-vi trong dân Y-sơ-ra-ên và ban cho các con, vì họ đã được dâng cho Đức Giê-hô-va để làm công việc nơi Lều Hội Kiến.
Nhưng con và các con trai con phải thận trọng thi hành chức tế lễ trong tất cả các việc liên quan đến bàn thờ và phía trong màn. Ta cho các con thi hành chức tế lễ như một đặc ân. Người ngoại nào đến gần sẽ bị xử tử.”
Đức Giê-hô-va lại phán với A-rôn: “Nầy, Ta giao cho con trông coi các lễ vật của Ta, tức là tất cả những tế lễ thánh mà dân Y-sơ-ra-ên đã dâng. Ta ban những lễ vật ấy cho con và cho các con trai của con như là phần riêng của chức tế lễ theo luật vĩnh viễn.
Đây là phần của con trích từ các vật rất thánh không bị thiêu hóa mà dân Y-sơ-ra-ên dâng cho Ta: Tất cả lễ vật của họ, tế lễ chay, tế lễ chuộc tội, tế lễ chuộc sự mắc lỗi. Những vật rất thánh đó đều thuộc về con và các con trai của con.
Con phải ăn phần ấy như là một vật rất thánh; mọi người nam phải ăn và phần ấy sẽ là một vật thánh đối với con.
Các lễ vật nầy cũng sẽ thuộc về con: Tức là tế lễ và mọi lễ vật dân Y-sơ-ra-ên dâng đưa qua đưa lại thì Ta ban cho con và các con trai, con gái của con như một luật vĩnh viễn. Tất cả những người tinh sạch trong nhà con sẽ được ăn các món đó.
Ta cũng ban cho con những lễ vật đầu mùa mà dân Y-sơ-ra-ên dâng cho Đức Giê-hô-va, tức là tất cả các phần dầu, rượu nho và lúa miến hạng nhất.
Mọi hoa quả đầu mùa của đất mà dân Y-sơ-ra-ên dâng cho Đức Giê-hô-va đều sẽ thuộc về con. Tất cả những người tinh sạch trong nhà con sẽ được ăn các vật ấy.
Tất cả vật gì mà dân Y-sơ-ra-ên hiến dâng sẽ thuộc về con.
Mọi con đầu lòng của người hoặc súc vật mà dân Y-sơ-ra-ên dâng cho Đức Giê-hô-va đều sẽ thuộc về con. Nhưng con phải chuộc lại con đầu lòng của loài người và con đầu lòng của thú vật không thanh sạch.
Về giá chuộc lại, con phải chuộc lại những con từ một tháng trở lên và định giá là năm mươi lăm gam bạc, theo siếc-lơ nơi thánh; một siếc-lơ bằng hai mươi ghê-ra.
Nhưng con đừng chuộc lại con đầu lòng của bò cái hoặc chiên cái hoặc dê cái; chúng là những vật thánh. Con phải rưới huyết chúng trên bàn thờ và xông mỡ làm tế lễ dùng lửa dâng lên có hương thơm đẹp lòng Đức Giê-hô-va.
Thịt của chúng sẽ thuộc về con, cũng như cái ức dâng đưa qua đưa lại và cái đùi bên phải đều thuộc về con.
Tất cả lễ vật thánh mà dân Y-sơ-ra-ên dâng lên Đức Giê-hô-va, thì Ta ban cho con, các con trai và các con gái con như một luật vĩnh viễn. Đó là một giao ước bằng muối đời đời trước mặt Đức Giê-hô-va cho con và cho dòng dõi con.”
Đức Giê-hô-va phán với A-rôn: “Con sẽ không có cơ nghiệp trong đất nầy và cũng không có phần giữa dân đó; chính Ta là phần của con và là cơ nghiệp của con giữa dân Y-sơ-ra-ên.
Còn về con cháu Lê-vi, nầy Ta đã ban mọi thuế phần mười của Y-sơ-ra-ên làm cơ nghiệp để trả cho công khó họ làm trong Lều Hội Kiến.
Từ nay trở đi, dân Y-sơ-ra-ên không được đến gần Lều Hội Kiến, kẻo mắc tội và chết chăng.
Nhưng người Lê-vi sẽ làm công việc của Lều Hội Kiến và sẽ chịu trách nhiệm về tội lỗi của họ. Họ sẽ không có phần cơ nghiệp giữa dân Y-sơ-ra-ên. Đó là một luật vĩnh viễn trải qua các thế hệ.
Vì Ta đã ban cho người Lê-vi các phần mười của dân Y-sơ-ra-ên, là tế lễ dâng lên Đức Giê-hô-va, làm cơ nghiệp. Cho nên, Ta đã phán về họ rằng: ‘Họ sẽ không có cơ nghiệp giữa dân Y-sơ-ra-ên.’”
Rồi Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Con cũng phải truyền bảo người Lê-vi rằng: ‘Khi nào các con nhận từ dân Y-sơ-ra-ên phần mười mà Ta đã ban cho các con làm cơ nghiệp, thì các con phải lấy một phần mười của phần mười đó làm tế lễ dâng lên Đức Giê-hô-va.
Tế lễ mà các con dâng sẽ được kể như lúa mì nơi sân đập lúa và như rượu nho dư dật nơi hầm ép rượu.
Như thế, trong những phần mười mà các con nhận nơi dân Y-sơ-ra-ên thì cũng phải lấy ra một phần mười làm lễ vật dâng lên Đức Giê-hô-va và giao lễ vật của Đức Giê-hô-va đó cho thầy tế lễ A-rôn.
Trong tất cả những lễ vật nhận được, các con phải lấy ra tất cả phần tốt nhất từ mọi lễ vật biệt ra thánh mà dâng lên Đức Giê-hô-va.’
Con cũng bảo người Lê-vi rằng: ‘Khi nào các con dâng phần tốt nhất của phần mười thì sẽ được kể cho các con là người Lê-vi như hoa lợi của sân đập lúa và như hoa lợi của hầm ép rượu vậy.
Các con và gia quyến các con có thể ăn các lễ vật ấy nơi nào cũng được, vì là phần thưởng cho công khó phục vụ trong Lều Hội Kiến.
Vì lý do ấy, khi các con dâng lên phần tốt nhất, các con sẽ không mắc tội, cũng không làm ô uế những vật thánh của dân Y-sơ-ra-ên, và các con sẽ khỏi phải chết.’”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se và A-rôn:
“Đây là quy định của luật pháp mà Đức Giê-hô-va đã truyền phán: ‘Hãy nói với dân Y-sơ-ra-ên, bảo họ mang đến con một con bò cái màu đỏ không tật nguyền, không tì vết và chưa mang ách.
Rồi giao nó cho thầy tế lễ Ê-lê-a-sa; người ta dẫn nó ra ngoài trại quân và giết trước mặt ông.
Thầy tế lễ Ê-lê-a-sa sẽ dùng ngón tay nhúng huyết nó rảy bảy lần phía trước cửa Lều Hội Kiến.
Người ta sẽ thiêu con bò cái đó trước mắt ông; thiêu cả da, thịt, huyết và phân của nó.
Kế đó, thầy tế lễ sẽ lấy gỗ bá hương, cành bài hương và chỉ len đỏ sậm ném vào giữa đám lửa đang thiêu bò cái.
Sau đó, thầy tế lễ phải giặt áo quần và tắm mình trong nước rồi mới được vào trại quân. Nhưng thầy tế lễ phải bị ô uế đến chiều tối.
Người nào thiêu con bò cái phải giặt áo quần, tắm trong nước và bị ô uế đến chiều tối.
Một người tinh sạch sẽ hốt tro của con bò cái đổ ở ngoài trại quân, nơi tinh sạch. Người ta phải giữ tro đó cho hội chúng Y-sơ-ra-ên để dùng làm nước tẩy uế, vì là một tế lễ thanh tẩy tội lỗi.
Kẻ nào hốt tro của con bò cái phải giặt áo quần mình và bị ô uế đến chiều tối. Đây sẽ là một luật vĩnh viễn cho dân Y-sơ-ra-ên và cho ngoại kiều sống giữa họ.
Ai đụng đến xác chết của người nào đó thì sẽ bị ô uế trong bảy ngày.
Ngày thứ ba và ngày thứ bảy, người ấy phải dùng nước tẩy uế thanh tẩy mình thì sẽ được tinh sạch. Còn nếu ngày thứ ba và ngày thứ bảy mà người ấy không thanh tẩy mình thì chưa được tinh sạch.
Người nào đụng đến xác chết của ai đó mà không thanh tẩy mình thì sẽ làm ô uế Đền Tạm của Đức Giê-hô-va và sẽ bị khai trừ khỏi Y-sơ-ra-ên. Vì nước tẩy uế không được rảy trên mình nên người ấy vẫn bị ô uế; sự ô uế vẫn còn trên người ấy.’”
“‘Đây là luật phải giữ khi có một người chết trong trại: Bất kỳ ai vào trại và mọi vật ở trong trại đều sẽ bị ô uế trong bảy ngày.
Bình nào không đậy, không buộc nắp lại thì bị ô uế.
Ai ở ngoài đồng đụng vào một người bị gươm giết hoặc một xác chết hoặc hài cốt hay mồ mả thì sẽ bị ô uế trong bảy ngày.
Để thanh tẩy người bị ô uế, người ta phải lấy tro của con sinh tế bị thiêu trong tế lễ thanh tẩy tội lỗi để trong một cái bình và pha với nước lấy ngoài sông hay suối.
Một người tinh sạch sẽ lấy cành bài hương nhúng vào nước ấy rồi rảy trên trại, trên đồ đạc, trên những người có mặt tại đó và trên người nào đã đụng vào hài cốt hoặc người bị giết hoặc xác chết hoặc mồ mả.
Vào ngày thứ ba và ngày thứ bảy, người tinh sạch phải rảy nước ấy trên người bị ô uế và ngày thứ bảy người tinh sạch sẽ thanh tẩy cho người ấy. Người được tẩy uế phải giặt áo quần, tắm trong nước và đến chiều tối mới được tinh sạch.
Còn người nào bị ô uế mà không được thanh tẩy, thì người ấy sẽ bị khai trừ khỏi hội chúng, vì người đã làm ô uế Nơi Thánh của Đức Giê-hô-va. Vì không được rảy nước tẩy uế nên người ấy vẫn còn ô uế.
Đây sẽ là một luật vĩnh viễn cho dân chúng. Người nào rảy nước tẩy uế sẽ giặt áo quần mình; ai đụng đến nước tẩy uế sẽ bị ô uế đến chiều tối.
Bất cứ vật gì mà người bị ô uế đụng đến đều trở nên ô uế; còn ai đụng đến vật ấy sẽ bị ô uế đến chiều tối.’”
Vào tháng giêng, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đến hoang mạc Xin và dừng lại tại Ca-đe. Mi-ri-am qua đời và được chôn tại đó.
Bấy giờ, không có nước cho hội chúng uống nên họ tụ họp lại để chống đối Môi-se và A-rôn.
Dân chúng gây chuyện với Môi-se và nói: “Anh em chúng tôi đã chết trước mặt Đức Giê-hô-va; phải chi chúng tôi cũng chết với họ cho rồi!
Sao ông đem hội chúng của Đức Giê-hô-va vào hoang mạc nầy để chúng tôi và súc vật của chúng tôi phải chết ở đây?
Sao ông đem chúng tôi ra khỏi Ai Cập rồi dẫn chúng tôi đến chỗ khủng khiếp nầy, là nơi người ta không thể gieo mạ, cũng chẳng trồng được cây vả, cây nho, cây lựu và lại không có nước uống nữa?”
Môi-se và A-rôn rời khỏi hội chúng, đến trước cửa Lều Hội Kiến và sấp mặt xuống đất. Vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra với hai ông.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy cầm gậy, rồi con và anh con là A-rôn triệu tập hội chúng lại. Hãy truyền cho tảng đá trước mắt hội chúng thì nó sẽ phun nước ra. Con sẽ khiến nước từ tảng đá phun ra cho hội chúng và súc vật của họ uống.”
Như vậy, Môi-se cầm gậy trước mặt Đức Giê-hô-va như Ngài đã phán dặn.
Môi-se và A-rôn triệu tập hội chúng đến trước tảng đá và nói: “Hỡi dân nổi loạn, Hãy nghe! Chúng tôi có thể khiến nước từ tảng đá nầy phun ra cho các người được không?”
Tay Môi-se cầm gậy giơ lên đập tảng đá hai lần. Nước liền phun trào ra; hội chúng và súc vật của họ cùng uống.
Nhưng Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn: “Vì các con không tin Ta để tôn thánh Ta trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, nên các con sẽ không được dẫn hội chúng nầy vào đất mà Ta đã ban cho họ.”
Nước uống đó được gọi là nước uống Mê-ri-ba, là nơi dân Y-sơ-ra-ên đã gây chuyện với Đức Giê-hô-va và Ngài được tôn thánh trước mặt họ.
Từ Ca-đe, Môi-se sai sứ giả đến gặp vua Ê-đôm, nói rằng: “Y-sơ-ra-ên là em vua có nói: Vua biết những điều khốn khổ đã xảy đến cho chúng tôi
và việc ông cha chúng tôi đi xuống Ai Cập. Chúng tôi đã ở đó một thời gian lâu; người Ai Cập đã ngược đãi chúng tôi và ông cha chúng tôi.
Chúng tôi kêu cầu với Đức Giê-hô-va; Ngài đã nghe tiếng kêu của chúng tôi và sai thiên sứ dẫn chúng tôi ra khỏi Ai Cập. Nầy, chúng tôi hiện ở Ca-đe là thành giáp với địa phận của vua.
Xin cho phép chúng tôi đi ngang qua xứ sở của vua. Chúng tôi sẽ không đi ngang qua đồng ruộng hay vườn nho, và chúng tôi cũng sẽ không uống nước trong các giếng. Chúng tôi sẽ đi theo con đường hoàng gia không xây qua bên phải hay bên trái, cho đến khi qua khỏi địa phận của vua.”
Nhưng vua Ê-đôm trả lời: “Ngươi không được đi ngang địa phận của ta; nếu không, ta sẽ cầm gươm ra đón ngươi.”
Người Y-sơ-ra-ên lại thưa: “Chúng tôi đi theo đường cái, và nếu chúng tôi và bầy súc vật chúng tôi có uống nước của vua thì chúng tôi sẽ trả tiền. Chỉ xin cho chúng tôi đi ngang qua đó thôi chứ không làm điều gì khác.”
Nhưng vua Ê-đôm đáp: “Ngươi không được đi qua đâu!” Rồi người Ê-đôm đem một đạo quân hùng hậu ra ngăn chận dân Y-sơ-ra-ên.
Như thế, Ê-đôm không cho phép người Y-sơ-ra-ên đi ngang địa phận của mình nên Y-sơ-ra-ên đi tránh xa khỏi họ.
Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đi từ Ca-đe đến núi Hô-rơ.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và A-rôn trên núi Hô-rơ, gần biên giới xứ Ê-đôm, rằng:
“A-rôn sẽ về với tổ tiên mình; người không được vào xứ mà Ta ban cho dân Y-sơ-ra-ên vì các con đã nổi loạn không vâng theo mệnh lệnh Ta về nước uống Mê-ri-ba.
Hãy đem A-rôn và Ê-lê-a-sa, con trai người, lên núi Hô-rơ,
rồi cởi y phục A-rôn ra mà mặc cho Ê-lê-a-sa, con trai người. Tại đó, A-rôn sẽ được tiếp về với tổ tiên và qua đời.”
Vậy, Môi-se làm đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn. Ba người đi lên núi Hô-rơ trước mặt toàn thể hội chúng.
Môi-se cởi y phục của A-rôn và mặc cho Ê-lê-a-sa, con trai người. A-rôn qua đời ở đó, trên đỉnh núi. Rồi Môi-se và Ê-lê-a-sa từ trên núi đi xuống.
Khi thấy A-rôn đã qua đời thì toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên khóc thương người trong ba mươi ngày.
Khi vua A-rát, người Ca-na-an, ở Nê-ghép nghe tin rằng dân Y-sơ-ra-ên đang tiến đến bằng con đường A-tha-rim, thì vua tiến đánh Y-sơ-ra-ên và bắt một số người làm tù binh.
Dân Y-sơ-ra-ên hứa nguyện với Đức Giê-hô-va rằng: “Nếu Chúa phó dân nầy vào tay chúng con thì chúng con sẽ tận diệt các thành của chúng.”
Đức Giê-hô-va nhậm lời dân Y-sơ-ra-ên và trao dân Ca-na-an vào tay họ. Họ tận diệt dân ấy và các thành của nó, rồi đặt tên chỗ ấy là Họt-ma
Từ núi Hô-rơ, dân Y-sơ-ra-ên đi về hướng Biển Đỏ để vòng qua xứ Ê-đôm. Nhưng giữa đường dân chúng ngã lòng.
Dân chúng chống đối Đức Chúa Trời và Môi-se. Họ nói: “Tại sao ông đem chúng tôi ra khỏi Ai Cập để chết trong hoang mạc nầy? Vì ở đây không có bánh cũng không có nước và chúng tôi đã chán ngấy thứ đồ ăn đạm bạc nầy.”
Đức Giê-hô-va sai rắn lửa đến trong dân chúng và cắn chết nhiều người Y-sơ-ra-ên.
Dân chúng đến với Môi-se và nói: “Chúng tôi phạm tội vì đã xúc phạm đến Đức Giê-hô-va và ông. Xin ông kêu cầu Đức Giê-hô-va khiến rắn lìa xa chúng tôi.” Vậy Môi-se cầu nguyện cho dân chúng.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se rằng: “Hãy làm một con rắn lửa rồi treo nó trên một cây sào. Ai bị rắn cắn mà nhìn nó thì sẽ được sống.”
Vậy Môi-se làm một con rắn bằng đồng rồi treo lên một cây sào. Người nào bị rắn cắn mà nhìn con rắn bằng đồng thì được sống.
Kế đó, dân Y-sơ-ra-ên ra đi và đóng trại tại Ô-bốt.
Từ Ô-bốt, họ ra đi và đóng trại tại Y-giê A-ba-rim, trong hoang mạc đối diện Mô-áp, về hướng mặt trời mọc.
Từ đó họ ra đi và đóng trại tại thung lũng Xê-rết.
Rồi họ đi tiếp và đóng trại phía bên kia sông Ạt-nôn, trong hoang mạc. Hoang mạc nầy trải rộng đến địa phận dân A-mô-rít. Sông Ạt-nôn là biên giới của dân Mô-áp, nằm giữa địa phận Mô-áp và địa phận dân A-mô-rít.
Vì thế, trong sách Chiến Trận Của Đức Giê-hô-va có chép: “Va-hép ở tại Su-pha Và thung lũng sông Ạt-nôn,
Cùng những triền dốc Chạy xuống phía A-rơ Và đụng ranh giới Mô-áp.”
Từ đó, dân Y-sơ-ra-ên tiếp tục đến Bê-e Đó là cái giếng mà Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se rằng: “Hãy tập hợp dân chúng và Ta sẽ cho chúng nước uống.”
Bấy giờ, dân Y-sơ-ra-ên hát bài nầy: “Hỡi giếng, hãy tuôn nước lên! Hãy hát mừng giếng nước!
Giếng mà các vua chúa đã khai, Các quý tộc của dân Chúa đã đào, Bằng vương trượng và cây gậy mình!” Sau đó, dân Y-sơ-ra-ên từ hoang mạc đi đến Ma-tha-na,
từ Ma-tha-na đi đến Na-ha-li-ên, từ Na-ha-li-ên đi đến Ba-mốt,
và từ Ba-mốt đi đến thung lũng trong vùng Mô-áp, trên đỉnh núi Phích-ga là nơi người ta nhìn thấy hoang mạc.
Dân Y-sơ-ra-ên sai sứ giả đến Si-hôn, vua dân A-mô-rít, nói rằng:
“Xin cho phép chúng tôi đi ngang qua lãnh thổ của vua. Chúng tôi sẽ không dòm ngó đồng ruộng hay vườn nho hoặc uống nước giếng. Chúng tôi chỉ đi theo con đường hoàng gia cho đến khi qua khỏi địa phận của vua.”
Nhưng Si-hôn không cho phép dân Y-sơ-ra-ên đi ngang qua địa phận mình. Vua ấy tập hợp toàn quân và tiến đánh Y-sơ-ra-ên từ phía hoang mạc. Ông đến Gia-hát và giao tranh với dân Y-sơ-ra-ên.
Dân Y-sơ-ra-ên dùng gươm đánh bại vua nầy và chiếm đất từ sông Ạt-nôn đến Gia-bốc và dừng lại ở biên giới của dân Am-môn, vì lãnh thổ họ được bảo vệ vững chắc.
Dân Y-sơ-ra-ên chiếm tất cả các thành của dân A-mô-rít và định cư trong các thành ấy, luôn cả Hết-bôn và các làng mạc chung quanh.
Hết-bôn là thành của Si-hôn, vua dân A-mô-rít, là vua đã từng giao chiến với vị vua trước kia của Mô-áp và chiếm lấy tất cả đất đai của vua ấy cho đến sông Ạt-nôn.
Vì thế, thi nhân có viết: “Hãy đến Hết-bôn! Hãy xây thành của Si-hôn, Hãy phục hồi thành ấy!
Vì có lửa từ Hết-bôn, Một ngọn lửa từ thành của Si-hôn, Thiêu đốt A-rơ Mô-áp, Và các lãnh chúa của nơi cao của Ạt-nôn.
Hỡi Mô-áp, khốn nạn cho ngươi! Hỡi dân Kê-móc ngươi đã bị diệt mất! Ngươi đã nộp con trai mình làm kẻ lưu lạc, Con gái mình làm thân lưu đày Cho Si-hôn, vua dân A-mô-rít.
Nhưng chúng ta đã bắn tên vào chúng; Hết-bôn đã bị tiêu diệt cho đến Đi-bôn. Chúng ta đã tàn phá chúng đến Nô-phách, Lửa đã lan đến Mê-đê-ba.”
Vậy dân Y-sơ-ra-ên định cư trong đất của dân A-mô-rít.
Môi-se sai người đi do thám Gia-ê-xe. Họ chiếm các làng mạc và đuổi dân A-mô-rít khỏi đó.
Dân Y-sơ-ra-ên quay trở lại và đi lên về hướng Ba-san. Óc, vua Ba-san, và toàn quân đi ra và dàn trận tại Ết-rê-i.
Nhưng Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Đừng sợ! Vì Ta đã phó nó, quân đội và đất của nó vào tay con. Hãy xử nó như con đã xử Si-hôn, vua dân A-mô-rít ở tại Hết-bôn.”
Vậy dân Y-sơ-ra-ên đánh bại Óc, các con trai và toàn quân của nó, không để một người nào sống sót. Và dân Y-sơ-ra-ên chiếm đất đai của vua Óc.
Sau đó, dân Y-sơ-ra-ên đi đến đóng trại trong thảo nguyên Mô-áp bên kia sông Giô-đanh, đối diện Giê-ri-cô.
Ba-lác, con trai Xếp-bô, thấy rõ mọi điều Y-sơ-ra-ên đã làm cho dân A-mô-rít.
Dân Mô-áp rất kinh hãi trước dân Y-sơ-ra-ên vì dân đó rất đông.
Vậy người Mô-áp bàn với các trưởng lão Ma-đi-an: “Đoàn dân đông nầy đang nuốt chửng các dân chung quanh chúng ta như bò ăn cỏ trong đồng vậy.” Lúc bấy giờ, Ba-lác, con trai Xếp-bô, đang làm vua Mô-áp.
Vua sai sứ giả đến Ba-la-am, con trai Bê-ô ở Phê-thô-rơ, gần sông Ơ-phơ-rát, xứ của con cháu Am-mô, và nói: “Nầy, một dân đã ra khỏi Ai Cập, phủ khắp mặt đất và đang đóng trại đối diện với ta.
Bây giờ, ngươi hãy đến nguyền rủa dân nầy cho ta vì nó mạnh hơn ta. Có lẽ ta sẽ đủ sức đánh bại dân nầy và đuổi nó khỏi xứ được. Vì ta biết rằng kẻ nào ngươi chúc phước thì được phước, còn kẻ nào ngươi nguyền rủa thì bị rủa.”
Vậy các trưởng lão Mô-áp và các trưởng lão Ma-đi-an lên đường, mang theo lễ vật cho thầy bói. Họ gặp Ba-la-am và thuật lại những lời của Ba-lác.
Ba-la-am đáp: “Hãy ở lại đây đêm nay và tôi sẽ trả lời cho các ông theo lời Đức Giê-hô-va sẽ phán với tôi.” Vậy, các quan chức Mô-áp ở lại nhà Ba-la-am.
Đức Chúa Trời hiện đến với Ba-la-am và phán: “Những người đang ở trong nhà của con là ai?”
Ba-la-am thưa với Đức Chúa Trời rằng: “Ba-lác, con trai Xếp-bô, vua Mô-áp, đã sai người đến với con và nói:
‘Nầy, một dân đã ra khỏi Ai Cập và phủ khắp mặt đất. Bây giờ hãy đến nguyền rủa dân đó cho ta. Có lẽ ta sẽ đủ sức đánh đuổi dân nầy.’”
Đức Chúa Trời phán với Ba-la-am: “Đừng đi với chúng, cũng đừng nguyền rủa dân nầy vì đó là dân được ban phước.”
Sáng hôm sau, Ba-la-am thức dậy và nói với các quan chức của Ba-lác: “Các ông hãy trở về xứ vì Đức Giê-hô-va không cho tôi đi với các ông.”
Vậy các quan chức Mô-áp liền trở về với Ba-lác mà tâu rằng: “Ba-la-am không chịu đi với chúng tôi.”
Ba-lác lại sai một đoàn quan chức đông hơn và cao cấp hơn những người trước,
đến gặp Ba-la-am và nói: “Ba-lác, con trai Xếp-bô, có nói như sau: ‘Xin đừng để điều gì ngăn trở ngươi đến với ta,
vì ta sẽ trọng thưởng ngươi và làm cho ngươi bất cứ điều gì ngươi muốn. Ngươi hãy đến nguyền rủa dân nầy cho ta.’”
Ba-la-am trả lời với bầy tôi của vua Ba-lác rằng: “Dù Ba-lác có cho tôi tòa lâu đài đầy vàng bạc của vua, tôi cũng không thể vượt qua mệnh lệnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tôi để làm việc gì dù nhỏ hay lớn.
Nhưng tôi xin các ông hãy ở lại đêm nay để tôi biết Đức Giê-hô-va sẽ phán với tôi điều gì nữa.”
Ban đêm, Đức Chúa Trời hiện đến với Ba-la-am mà phán rằng: “Vì các người ấy đến mời, nên con cứ đi với chúng, nhưng chỉ làm theo những gì Ta phán dặn.”
Sáng hôm sau, Ba-la-am thức dậy thắng yên lừa và đi với các quan chức Mô-áp.
Nhưng cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời nổi phừng lên vì ông ra đi, và thiên sứ của Đức Giê-hô-va đứng trên đường ngăn cản ông. Lúc ấy, ông đang cưỡi lừa của mình và có hai đầy tớ đi theo.
Lừa cái thấy thiên sứ của Đức Giê-hô-va đứng trên đường với cây gươm trần nơi tay thì tránh qua một bên và đi xuống ruộng. Ba-la-am đánh nó, để bắt nó đi trở lại trên đường.
Kế đến, thiên sứ của Đức Giê-hô-va đứng trên con đường nhỏ giữa các vườn nho, có vách hai bên đường.
Khi lừa cái thấy thiên sứ của Đức Giê-hô-va thì nép vào vách và ép chân Ba-la-am, nên ông đánh nó nữa.
Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đi xa hơn và đứng tại một chỗ rất hẹp không thể xoay qua bên phải hay bên trái.
Khi lừa cái thấy thiên sứ của Đức Giê-hô-va liền nằm quỵ xuống; Ba-la-am nổi giận lấy gậy đánh nó.
Bấy giờ, Đức Giê-hô-va mở miệng con lừa cái, và nó nói với Ba-la-am: “Tôi làm gì đâu mà ông đánh tôi đến ba lần?”
Ba-la-am nói với con lừa: “Vì mầy khinh nhạo ta. Nếu có gươm trong tay thì ta đã giết mầy rồi!”
Lừa cái nói với Ba-la-am: “Tôi không phải là con lừa mà ông vẫn cưỡi từ trước đến nay sao? Tôi có thường làm như vậy với ông bao giờ không?” Ông đáp: “Không.”
Lúc ấy, Đức Giê-hô-va mở mắt Ba-la-am và ông thấy thiên sứ của Đức Giê-hô-va đứng giữa đường, tay cầm thanh gươm trần. Ông cúi rạp mình, sấp mặt xuống đất.
Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hỏi: “Sao ngươi đánh lừa cái của ngươi đến ba lần? Nầy, ta đi ra để ngăn cản ngươi, vì ta thấy ngươi đi theo con đường bại hoại.
Con lừa đã thấy ta và đi tránh một bên đến ba lần. Nếu nó không tránh ta, chắc ta đã giết ngươi và để cho nó sống.”
Ba-la-am thưa với thiên sứ của Đức Giê-hô-va rằng: “Con đã phạm tội vì không biết Ngài đã đứng trên đường để cản con. Bây giờ, nếu Ngài không bằng lòng cho con đi, con sẽ trở về.”
Thiên sứ của Đức Giê-hô-va nói với Ba-la-am: “Hãy đi với các người đó, nhưng chỉ nói điều gì Ta sẽ phán dặn ngươi.” Vậy Ba-la-am đi với các quan chức của Ba-lác.
Khi Ba-lác nghe tin Ba-la-am đến thì ra tận A-rơ Mô-áp bên bờ sông Ạt-nôn, tức là biên giới của xứ, để nghênh tiếp ông.
Ba-lác nói với Ba-la-am: “Không phải ta đã tha thiết mời ngươi sao? Tại sao ngươi không đến với ta? Ta không thể ban thưởng xứng đáng cho ngươi được sao?”
Ba-la-am trả lời với Ba-lác rằng: “Bây giờ, tôi đã đến với vua, nhưng tôi có quyền nói bất cứ điều gì chăng? Tôi chỉ nói điều mà Đức Chúa Trời đặt trong miệng tôi.”
Ba-la-am đi với Ba-lác đến Ki-ri-át Hút-sốt.
Ba-lác giết bò và chiên, sai người đem biếu Ba-la-am và các quan chức Mô-áp đang ở với ông.
Sáng hôm sau, Ba-lác đem Ba-la-am lên Ba-mốt Ba-anh là nơi ông có thể thấy một phần trại quân Y-sơ-ra-ên.
Ba-la-am nói với Ba-lác: “Hãy xây tại đây cho tôi bảy bàn thờ và chuẩn bị cho tôi bảy bò đực và bảy chiên đực.”
Ba-lác làm đúng như Ba-la-am đã nói. Ba-lác và Ba-la-am dâng một con bò đực và một con chiên đực trên mỗi bàn thờ.
Ba-la-am nói với Ba-lác: “Vua hãy đứng gần tế lễ thiêu của mình, còn tôi sẽ đi. Có lẽ Đức Giê-hô-va sẽ hiện ra với tôi và tôi sẽ thuật lại cho vua điều gì Ngài cho tôi thấy.” Rồi ông đi lên một ngọn đồi trống.
Đức Chúa Trời hiện ra với Ba-la-am. Ba-la-am thưa với Ngài: “Con có lập bảy bàn thờ và trên mỗi bàn thờ, con đã dâng một bò đực và một chiên đực.”
Đức Giê-hô-va đặt lời trong miệng Ba-la-am và phán: “Hãy trở về với Ba-lác và nói như thế đó.”
Ba-la-am trở về với vua, thấy vua và các quan chức Mô-áp đứng gần tế lễ thiêu của vua.
Ba-la-am nói tiên tri rằng: “Ba-lác, vua Mô-áp sai mời tôi từ A-ram, Từ đồi núi đông phương, và nói: ‘Hãy đến nguyền rủa Gia-cốp cho ta! Hãy đến tố cáo Y-sơ-ra-ên!’
Người mà Đức Chúa Trời không nguyền rủa, tôi sẽ nguyền rủa làm sao? Kẻ mà Đức Chúa Trời không tố cáo, tôi sẽ tố cáo thế nào?
Vì từ đỉnh núi tôi thấy Y-sơ-ra-ên, Từ đỉnh cao, tôi nhìn họ: Kìa là một dân sống biệt riêng, Và không đồng hóa với các nước.
Ai đếm được bụi cát của Gia-cốp? Ai tính được chỉ một phần tư của Y-sơ-ra-ên? Xin cho tôi được chết cái chết của người công chính; Xin cho tôi được mãn phần giống như họ!”
Bấy giờ, Ba-lác nói với Ba-la-am: “Ngươi đã làm gì cho ta thế? Ta thỉnh ngươi để nguyền rủa những kẻ thù của ta mà ngươi lại chúc phước cho chúng!”
Ba-la-am đáp: “Không phải tôi nên cẩn thận nói điều mà Đức Giê-hô-va đặt trong miệng tôi sao?”
Ba-lác nói với Ba-la-am: “Hãy đi với ta đến một chỗ khác là nơi ngươi sẽ thấy dân nầy. Nhưng ngươi sẽ thấy chỉ một phần thôi chứ không thấy tất cả. Tại đó, hãy nguyền rủa chúng cho ta.”
Vậy người dẫn Ba-la-am đến cánh đồng Xô-phim, trên đỉnh núi Phích-ga, rồi lập bảy bàn thờ, trên mỗi bàn thờ dâng một bò đực và một chiên đực.
Ba-la-am nói với Ba-lác: “Xin vua đứng đây, gần tế lễ thiêu của vua, còn tôi sẽ đi gặp Đức Giê-hô-va ở đàng kia”
Đức Giê-hô-va hiện ra với Ba-la-am và dạy lời ông phải nói. Ngài bảo: “Hãy trở lại với Ba-lác và nói như thế đó.”
Ba-la-am trở về với vua, thấy nhà vua và các quan chức của Mô-áp đứng gần tế lễ thiêu của vua. Ba-lác hỏi: “Đức Giê-hô-va đã phán điều gì?”
Ba-la-am nói tiên tri rằng: “Hỡi Ba-lác, hãy đứng dậy và nghe! Hỡi con trai Xếp-bô, hãy lắng tai!
Đức Chúa Trời không phải là người mà nói dối, Cũng chẳng phải là con loài người mà ăn năn. Điều Ngài đã phán, Ngài không thi hành sao? Lời Ngài đã hứa, Ngài chẳng thực hiện sao?
Nầy, tôi đã nhận mệnh lệnh chúc phước; Ngài đã ban phước, tôi không thể thay đổi được.
Ngài thấy Gia-cốp chẳng đáng chịu bất hạnh Cũng thấy Y-sơ-ra-ên không đáng bị khốn cùng. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ ở với họ, Trong Y-sơ-ra-ên có tiếng reo mừng của vua.
Đức Chúa Trời đã đem dân đó ra khỏi Ai Cập; Họ có sức mạnh như bò rừng vậy.
Không có bùa ngải nơi Gia-cốp, Cũng chẳng có bói toán trong Y-sơ-ra-ên; Vì đến lúc người ta sẽ nói về Gia-cốp và Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Đức Chúa Trời đã làm những việc lạ lùng!’
Kìa một dân tộc trỗi dậy như sư tử cái, Và vùng dậy như sư tử đực; Nó chỉ nằm xuống khi nào cắn xé được mồi Và uống máu những con thú bị giết.”
Bấy giờ, Ba-lác nói với Ba-la-am: “Chớ nguyền rủa họ nhưng cũng đừng chúc phước.”
Ba-la-am trả lời Ba-lác: “Không phải tôi đã nói với vua rằng tôi phải làm theo mọi điều Đức Giê-hô-va phán dặn sao?”
Ba-lác lại nói với Ba-la-am: “Hãy lại đây, ta sẽ dẫn ngươi đến một chỗ khác. Có lẽ Đức Chúa Trời sẽ bằng lòng cho ngươi nguyền rủa dân nầy tại đó chăng.”
Ba-lác dẫn Ba-la-am đến đỉnh núi Phê-ô, đối diện hoang mạc.
Ba-la-am nói với Ba-lác: “Hãy lập cho tôi bảy bàn thờ tại đây và chuẩn bị bảy con bò đực và bảy con chiên đực.”
Vậy, Ba-lác làm theo lời Ba-la-am đã nói. Ông dâng một con bò đực và một con chiên đực làm tế lễ thiêu trên mỗi bàn thờ.
Khi Ba-la-am thấy rõ Đức Giê-hô-va muốn ban phước cho Y-sơ-ra-ên thì không tìm cách bói toán như những lần trước, nhưng ông xây mặt về hướng hoang mạc.
Khi ngước mắt lên, ông thấy Y-sơ-ra-ên đóng trại theo từng bộ tộc, Thần của Đức Chúa Trời tác động trên ông
và ông nói tiên tri rằng: “Lời tiên tri của Ba-la-am, con trai Bê-ô, Lời tiên tri của người có mắt mở ra,
Lời tiên tri của người nghe lời Đức Chúa Trời, Là người thấy khải tượng của Đấng Toàn Năng, Liền té quỵ xuống và mở mắt ra:
Hỡi Gia-cốp! Trại ngươi tốt dường bao! Hỡi Y-sơ-ra-ên! Nơi ngươi ở đẹp biết mấy!
Như thung lũng trải dài, Như khu vườn gần bờ sông, Tựa như cây trầm hương mà Đức Giê-hô-va đã trồng, Giống như cây hương nam nơi mé nước.
Nước từ trong thùng chảy tràn ra, Hạt giống của người được dư dật nước, Vua người sẽ vượt trội A-gát, Vương quốc người sẽ được tôn cao.
Đức Chúa Trời đã dẫn Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập; Họ có sức mạnh như bò rừng, Sẽ nuốt các nước thù địch, Bẻ gãy xương chúng ra từng mảnh, Và bắn tên tiêu diệt chúng.
Họ nằm xuống, co quắp người như sư tử đực Và như sư tử cái. Ai dám đánh thức? Đáng chúc phước cho người nào chúc phước ngươi, Đáng nguyền rủa kẻ nào nguyền rủa ngươi.”
Bấy giờ, Ba-lác nổi giận với Ba-la-am, hai tay đập vào nhau và nói với Ba-la-am: “Ta thỉnh ngươi đến để nguyền rủa kẻ thù của ta mà ngươi lại chúc phước cho chúng đến ba lần!
Thôi bây giờ hãy cút về xứ ngươi đi! Ta hứa sẽ ban thưởng xứng đáng, nhưng Đức Giê-hô-va đã không cho ngươi nhận lãnh.”
Ba-la-am nói với Ba-lác rằng: “Không phải tôi đã nói với các sứ giả mà vua đã sai đến rằng:
‘Dù Ba-lác có cho tôi tòa lâu đài đầy bạc vàng của vua, tôi cũng không được vượt qua mệnh lệnh Đức Giê-hô-va để tự ý làm điều gì, dù tốt hay xấu’ đó sao? Tôi chỉ nói điều gì Đức Giê-hô-va phán dạy thôi!
Nầy bây giờ tôi trở về với dân tộc tôi. Nhưng hãy đến, tôi sẽ báo cho vua biết điều dân ấy sẽ làm cho dân của vua trong những ngày sắp đến.”
Ba-la-am nói tiên tri rằng: “Lời tiên tri của Ba-la-am con trai Bê-ô, Lời tiên tri của người có mắt mở ra,
Lời tiên tri của người nghe lời Đức Chúa Trời, Biết tri thức của Đấng Chí Cao, Thấy khải tượng về Đấng Toàn Năng Liền té quỵ xuống và mắt mở ra:
Tôi thấy Ngài, nhưng chẳng phải bây giờ; Tôi trông Ngài, nhưng không phải ở gần; Một ngôi sao hiện ra từ Gia-cốp, Một vương trượng sẽ trỗi dấy từ Y-sơ-ra-ên; Ngài sẽ đập vỡ màng tang của Mô-áp Và vương miện của dòng dõi Sết.
Ê-đôm sẽ bị chinh phục, Sê-i-rơ là kẻ thù, sẽ bị xâm chiếm, Nhưng Y-sơ-ra-ên sẽ được cường thịnh.
Đấng ra từ Gia-cốp sẽ cầm quyền; Ngài sẽ tiêu diệt những kẻ sống sót của thành.”
Ba-la-am cũng thấy dân A-ma-léc và nói tiên tri rằng: “A-ma-léc đứng đầu các nước, Nhưng cuối cùng nó sẽ bị diệt vong.”
Sau đó, Ba-la-am thấy người Kê-nít và nói tiên tri rằng: “Chỗ ở ngươi có vẻ bền vững, Ngươi làm tổ mình trong tảng đá.
Nhưng ngươi, Kê-nít, sẽ bị lửa thiêu đốt Khi A-su-rơ bắt ngươi làm tù binh.”
Ông cũng nói tiên tri rằng: “Ôi! Khi Đức Chúa Trời làm các việc ấy, Ai là những người tụ họp ở phương bắc?
Đó là những kẻ từ bờ biển Kít-tim Đến ngược đãi A-su-rơ và Hê-be. Nhưng rồi chính chúng cũng sẽ bị diệt vong.”
Sau đó, Ba-la-am đứng dậy đi về xứ mình và Ba-lác cũng lên đường.
Khi dân Y-sơ-ra-ên đang ở Si-tim, họ bắt đầu phạm tội tà dâm với các thiếu nữ Mô-áp.
Các thiếu nữ nầy mời dân chúng ăn các sinh tế cúng cho các thần của chúng. Dân chúng ăn và quỳ lạy trước các thần của chúng.
Thế là dân Y-sơ-ra-ên tự mình mang ách thờ cúng thần Ba-anh Phê-ô khiến cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi phừng lên với Y-sơ-ra-ên.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy bắt các thủ lĩnh của dân chúng, treo họ lên trước mặt Đức Giê-hô-va, dưới ánh nắng mặt trời, để làm nguôi cơn giận phừng phừng của Đức Giê-hô-va đối với dân Y-sơ-ra-ên.”
Vậy, Môi-se nói với các thẩm phán của Y-sơ-ra-ên rằng: “Mỗi người trong anh em phải giết những người trong vòng bà con mình mang ách cúng thờ Ba-anh Phê-ô.”
Bấy giờ, một người trong dân Y-sơ-ra-ên dẫn một người phụ nữ Ma-đi-an đến giữa anh em mình, trước sự chứng kiến của Môi-se và cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, đang khi cả hội chúng khóc lóc tại cửa Lều Hội Kiến.
Khi Phi-nê-a, con trai Ê-lê-a-sa, cháu thầy tế lễ A-rôn thấy việc nầy liền đứng dậy giữa hội chúng, tay cầm một cây giáo,
đi theo người Y-sơ-ra-ên vào trong trại, ông đâm xuyên bụng của người Y-sơ-ra-ên với người phụ nữ ấy. Tai họa trong dân Y-sơ-ra-ên liền dừng lại.
Tuy nhiên, có hai mươi bốn nghìn người chết do tai họa nầy.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Phi-nê-a, con trai Ê-lê-a-sa, cháu thầy tế lễ A-rôn, đã làm nguôi cơn giận Ta đối với dân Y-sơ-ra-ên, vì giữa họ, người mang lòng sốt sắng của Ta chống lại tội tà dâm; nhờ đó, Ta không tiêu diệt dân Y-sơ-ra-ên trong cơn kỵ tà.
Vì thế, hãy bảo với người rằng: ‘Ta lập giao ước bình an với người.
Người và dòng dõi người sẽ nhận được giao ước về chức tế lễ đời đời, vì người có lòng sốt sắng về Đức Chúa Trời mình và đã chuộc tội cho dân Y-sơ-ra-ên.’”
Người Y-sơ-ra-ên bị giết chung với người phụ nữ Ma-đi-an đó tên là Xim-ri, con trai Sa-lu, một thủ lĩnh thuộc bộ tộc Si-mê-ôn.
Tên người phụ nữ Ma-đi-an bị giết là Cốt-bi, con gái Xu-rơ, một thủ lĩnh người Ma-đi-an.
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
“Hãy quấy phá người Ma-đi-an và tiến đánh chúng.
Vì chúng đã quấy phá và dụ dỗ các con trong việc cúng thờ Phê-ô, và trong vụ Cốt-bi, con gái của một thủ lĩnh Ma-đi-an, là chị em của chúng. Cốt-bi bị giết khi tai họa xảy đến vì dân chúng cúng thờ Phê-ô.”
Sau tai họa ấy, Đức Giê-hô-va phán với Môi-se và Ê-lê-a-sa, con trai thầy tế lễ A-rôn rằng:
“Hãy kiểm tra dân số cả hội chúng Y-sơ-ra-ên từ hai mươi tuổi trở lên theo gia tộc của họ, tức là tất cả những người Y-sơ-ra-ên có thể ra trận được.”
Vậy Môi-se và thầy tế lễ Ê-lê-a-sa nói với dân Y-sơ-ra-ên trong vùng cao nguyên Mô-áp gần sông Giô-đanh, đối diện Giê-ri-cô, rằng:
“Hãy kiểm tra dân số từ hai mươi tuổi trở lên như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.” Đây là những người Y-sơ-ra-ên đã ra khỏi xứ Ai Cập:
Con cháu Ru-bên, con trưởng nam của Y-sơ-ra-ên. Con cháu Ru-bên gồm có: Hê-nóc sinh ra gia tộc Hê-nóc; Pha-lu sinh ra gia tộc Pha-lu;
từ Hết-rôn sinh ra gia tộc Hết-rôn; từ Cạt-mi sinh ra gia tộc Cạt-mi.
Đó là các gia tộc của Ru-bên; tổng số được kiểm tra là bốn mươi ba nghìn bảy trăm ba mươi người.
Con trai Pha-lu là Ê-li-áp.
Các con trai của Ê-li-áp là Nê-mu-ên, Đa-than và A-bi-ram. Đa-than và A-bi-ram nầy là những người được tuyển chọn từ hội chúng nhưng theo phe Cô-ra, nổi loạn chống lại Môi-se và A-rôn, cũng như chống lại Đức Giê-hô-va.
Đất đã hả miệng nuốt hai người ấy cùng với Cô-ra; những kẻ theo hắn đều chết khi lửa thiêu đốt hai trăm năm mươi người. Họ trở thành một lời cảnh cáo cho dân chúng.
Tuy nhiên, con cháu Cô-ra không chết hết.
Con cháu Si-mê-ôn tùy theo gia tộc mình gồm có: Nê-mu-ên sinh ra gia tộc Nê-mu-ên; Gia-min sinh ra gia tộc Gia-min; Gia-kin sinh ra gia tộc Gia-kin;
Xê-rách sinh ra gia tộc Xê-rách; Sau-lơ sinh ra gia tộc Sau-lơ.
Đó là các gia tộc của Si-mê-ôn; tổng số là hai mươi hai nghìn hai trăm người.
Con cháu của Gát tùy theo gia tộc mình gồm có: Xê-phôn sinh ra gia tộc Xê-phôn; Ha-ghi sinh ra gia tộc Ha-ghi; Su-ni sinh ra gia tộc Su-ni;
Óc-ni sinh ra gia tộc Óc-ni; Ê-ri sinh ra gia tộc Ê-ri;
A-rốt sinh ra gia tộc A-rốt; A-rê-li sinh ra gia tộc A-rê-li.
Đó là các gia tộc của bộ tộc Gát; tổng số là bốn mươi nghìn năm trăm người.
Các con trai của Giu-đa là Ê-rơ và Ô-nan nhưng họ đã qua đời tại Ca-na-an.
Con cháu Giu-đa tùy theo gia tộc mình gồm có: Sê-la sinh ra gia tộc Sê-la; Phê-rết sinh ra gia tộc Phê-rết; Xê-rách sinh ra gia tộc Xê-rách.
Con cháu của Phê-rết gồm có: Hết-rôn sinh ra gia tộc Hết-rôn; Ha-mun sinh ra gia tộc Ha-mun.
Đó là các gia tộc của Giu-đa; tổng số là bảy mươi sáu nghìn năm trăm người.
Con cháu Y-sa-ca tùy theo gia tộc của họ gồm có: Thô-la sinh ra gia tộc Thô-la; Phu-va sinh ra gia tộc Phu-va;
Gia-súp sinh ra gia tộc Gia-súp; Sim-rôn sinh ra gia tộc Sim-rôn.
Đó là các gia tộc của Y-sa-ca; tổng số là sáu mươi bốn nghìn ba trăm người.
Con cháu Sa-bu-lôn tùy theo từng gia tộc gồm có: Từ Sê-rết sinh ra gia tộc Sê-rết; từ Ê-lôn sinh ra gia tộc Ê-lôn; từ Gia-lê-ên sinh ra gia tộc Gia-lê-ên.
Đó là các gia tộc của Sa-bu-lôn; tổng số là sáu mươi nghìn năm trăm người.
Con cháu Giô-sép tùy theo từng gia tộc gồm có Ma-na-se và Ép-ra-im.
Con cháu Ma-na-se gồm có: Ma-ki sinh ra gia tộc Ma-ki; Ma-ki sinh Ga-la-át và Ga-la-át sinh ra gia tộc Ga-la-át.
Đây là con cháu Ga-la-át: Giê-xe sinh ra gia tộc Giê-xe; Hê-léc sinh ra gia tộc Hê-léc;
Ách-ri-ên sinh ra gia tộc Ách-ri-ên; Si-chem sinh ra gia tộc Si-chem;
Sê-mi-đa sinh ra gia tộc Sê-mi-đa; từ Hê-phe sinh ra gia tộc Hê-phe.
Xê-lô-phát, con trai Hê-phe không có con trai nhưng có con gái. Tên các con gái của Xê-lô-phát là Mách-la, Nô-a, Hốt-la, Minh-ca và Tiệt-sa.
Đó là các gia tộc của Ma-na-se; tổng số là năm mươi hai nghìn bảy trăm người.
Đây là con cháu Ép-ra-im tùy theo gia tộc: Su-thê-lách sinh ra gia tộc Su-thê-lách; Bê-ke sinh ra gia tộc Bê-ke; Tha-han sinh ra gia tộc Tha-han.
Đây là con cháu của Su-thê-lách: Ê-ran sinh ra gia tộc Ê-ran.
Đó là các gia tộc của con cháu Ép-ra-im; tổng số là ba mươi hai nghìn năm trăm người. Đó là con cháu Giô-sép tùy theo gia tộc của họ.
Con cháu Bên-gia-min theo gia tộc gồm có: Bê-la sinh ra gia tộc Bê-la; Ách-bên sinh ra gia tộc Ách-bên; A-hi-ram sinh ra gia tộc A-hi-ram;
Sê-phu-pham sinh ra gia tộc Sê-phu-pham; Hu-pham sinh ra gia tộc Hu-pham.
Con cháu Bê-la là A-rết và Na-a-man. A-rết sinh ra gia tộc A-rết; Na-a-man sinh ra gia tộc Na-a-man.
Đó là con cháu Bên-gia-min tùy theo gia tộc; tổng số là bốn mươi lăm nghìn sáu trăm người.
Đây là con cháu của Đan tùy theo gia tộc: Su-cham sinh ra gia tộc Su-cham. Đó là gia tộc của Đan.
Tất cả gia tộc Su-cham được kiểm tra là sáu mươi bốn nghìn bốn trăm người.
Con cháu A-se tùy theo gia tộc gồm có: Dim-na sinh ra gia tộc Dim-na; Dích-vi sinh ra gia tộc Dích-vi; Bê-ri-a sinh ra gia tộc Bê-ri-a.
Về con cháu Bê-ri-a: Hê-be sinh ra gia tộc Hê-be; Manh-ki-ên sinh ra gia tộc Manh-ki-ên.
Tên của con gái A-se là Sê-rách.
Đó là các gia tộc của con cháu A-se; tổng số là năm mươi ba nghìn bốn trăm người.
Con cháu Nép-ta-li tùy theo từng gia tộc gồm có: Giát-sê-ên sinh ra gia tộc Giát-sê-ên; Gu-ni sinh ra gia tộc Gu-ni;
Giê-xe sinh ra gia tộc Giê-xe, Si-lem sinh ra gia tộc Si-lem.
Đó là các gia tộc của bộ tộc Nép-ta-li; tổng số là bốn mươi lăm nghìn bốn trăm người.
Tổng số người Y-sơ-ra-ên được kiểm tra là sáu trăm lẻ một nghìn bảy trăm ba mươi người.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Tùy theo số người trên danh sách mà chia đất cho họ làm sản nghiệp.
Bộ tộc nào có dân số đông hơn thì con phải chia cho một sản nghiệp lớn hơn, và bộ tộc nào có dân số ít hơn thì phải chia cho một sản nghiệp nhỏ hơn. Mỗi bộ tộc sẽ được cấp sản nghiệp tùy theo con số đã kiểm tra,
nhưng phải bắt thăm để phân chia đất. Dân Y-sơ-ra-ên sẽ lãnh phần sản nghiệp mình theo tên của bộ tộc mình.
Phải bắt thăm mà phân chia sản nghiệp cho mỗi bộ tộc tùy theo số dân đông hay ít.”
Đây là người Lê-vi được kiểm tra theo từng gia tộc của họ: Ghẹt-sôn sinh ra gia tộc Ghẹt-sôn; Kê-hát sinh ra gia tộc Kê-hát; Mê-ra-ri sinh ra gia tộc Mê-ra-ri.
Đây cũng là các gia tộc Lê-vi: Gia tộc Líp-ni, gia tộc Hếp-rôn, gia tộc Mách-li, gia tộc Mu-si, gia tộc Cô-ra. Kê-hát sinh Am-ram.
Vợ của Am-ram tên là Giô-kê-bết, con gái của Lê-vi, sinh ở Ai Cập; nàng sinh cho Am-ram: A-rôn, Môi-se và chị của hai người là Mi-ri-am.
Còn A-rôn sinh Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma.
Nhưng Na-đáp và A-bi-hu chết trong khi dâng một thứ lửa lạ trước mặt Đức Giê-hô-va.
Tất cả những người nam từ một tháng trở lên được kiểm tra là hai mươi ba nghìn. Người Lê-vi không được tính chung với dân số Y-sơ-ra-ên vì người Lê-vi không nhận sản nghiệp nào giữa dân Y-sơ-ra-ên.
Đó là những người mà Môi-se và thầy tế lễ Ê-lê-a-sa lập danh sách khi kiểm tra dân số Y-sơ-ra-ên trong cao nguyên Mô-áp, gần sông Giô-đanh đối diện Giê-ri-cô.
Trong số người nầy không có ai thuộc về số người mà Môi-se và thầy tế lễ A-rôn đã kiểm tra trong cuộc kiểm tra dân Y-sơ-ra-ên tại hoang mạc Si-na-i.
Vì Đức Giê-hô-va có phán về họ rằng: “Họ sẽ chết trong hoang mạc!” Vậy, chẳng còn một ai sống sót trừ Ca-lép, con trai Giê-phu-nê và Giô-suê, con trai Nun.
Bây giờ các con gái của Xê-lô-phát, con của Hê-phe, cháu của Ga-la-át, chắt của Ma-ki, chít của Ma-na-se, thuộc về các gia tộc Ma-na-se, là con trai của Giô-sép, tiến đến. Tên của các con gái nầy là: Mách-la, Nô-a, Hốt-la, Minh-ca và Tiệt-sa.
Họ ra mắt Môi-se, thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, các nhà lãnh đạo và cả hội chúng tại cửa Lều Hội Kiến, và nói:
“Cha chúng tôi đã chết trong hoang mạc. Ông không theo phe Cô-ra là những kẻ hiệp lại chống đối Đức Giê-hô-va nhưng ông đã chết vì tội lỗi mình và không có con trai.
Tại sao danh cha chúng tôi bị loại ra khỏi gia tộc chỉ vì không có con trai? Hãy cho chúng tôi phần đất làm sản nghiệp giữa các anh em của cha chúng tôi.”
Môi-se đem trường hợp của các người con gái ấy đến trước mặt Đức Giê-hô-va.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se rằng:
“Các người con gái Xê-lô-phát nói có lý. Con phải chia cho họ đất làm sản nghiệp giữa các anh em của cha họ và chuyển giao cho họ sản nghiệp của cha họ.
Con cũng phải nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Nếu người nào chết mà không có con trai thì anh em phải giao sản nghiệp của người ấy lại cho con gái của họ.
Nếu người ấy không có con gái thì phải giao sản nghiệp cho anh em của người ấy.
Lại nếu người ấy không có anh em thì phải giao sản nghiệp cho chú bác của người ấy.
Và nếu người ấy không có chú bác thì phải giao sản nghiệp người cho người bà con gần nhất làm sở hữu’”. Đó là luật lệ quy định cho dân Y-sơ-ra-ên đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy lên trên núi A-ba-rim nầy và nhìn xứ mà Ta đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên.
Khi con đã nhìn thấy xứ đó rồi, con cũng sẽ được về cùng tổ phụ như anh con là A-rôn vậy,
bởi vì tại hoang mạc Xin, các con đã nổi loạn chống lại mệnh lệnh Ta khi hội chúng cãi cọ về nước uống và các con đã không tôn thánh Ta trước mặt họ.” Đó là nước về sự cãi cọ tại Ca-đe trong hoang mạc Xin.
Môi-se thưa với Đức Giê-hô-va:
“Lạy Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của thần linh mọi xác thịt! Xin Ngài lập trên hội chúng một người
để đi ra và đi vào trước mặt họ, là người sẽ dẫn họ đi ra và đem họ đi vào; như thế hội chúng của Đức Giê-hô-va sẽ không như chiên không có người chăn.”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Hãy chọn Giô-suê, con trai của Nun, người có Thần ngự vào, và đặt tay trên người,
rồi đem người ra mắt thầy tế lễ Ê-lê-a-sa cùng toàn thể hội chúng, và ủy thác trách nhiệm cho người trước mặt mọi người.
Hãy trao một phần thẩm quyền của con cho người để cả hội chúng Y-sơ-ra-ên vâng theo người.
Giô-suê phải ra mắt thầy tế lễ Ê-lê-a-sa và thầy tế lễ sẽ vì người tìm hiểu ý Đức Giê-hô-va bằng cách cầu hỏi U-rim trước mặt Đức Giê-hô-va. Theo lệnh Ê-lê-a-sa, người và cả hội chúng Y-sơ-ra-ên sẽ đi ra và đi vào.”
Vậy Môi-se làm đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn. Ông chọn Giô-suê và đem người ra trước mặt thầy tế lễ Ê-lê-a-sa và cả hội chúng.
Ông đặt tay trên người và ủy thác trách nhiệm đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn mình.
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
“Hãy truyền lệnh nầy cho dân Y-sơ-ra-ên và nói: ‘Các con phải lo dâng cho Ta đúng kỳ định các tế lễ và thực phẩm làm tế lễ, dùng lửa dâng lên có hương thơm cho Ta.’
Vậy con hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Đây là tế lễ dùng lửa đốt mà các con sẽ dâng cho Đức Giê-hô-va: Mỗi ngày hai con chiên con đực một tuổi không tì vết làm tế lễ thiêu hằng hiến.
Phải dâng một con vào buổi sớm mai, một con vào buổi chiều tối,
và dâng chung với tế lễ chay gồm một ký bột lọc, nhồi với khoảng một lít dầu ô-liu.
Đó là tế lễ thiêu hằng hiến đã lập tại núi Si-na-i, tức là một tế lễ dùng lửa dâng lên có hương thơm cho Đức Giê-hô-va.’
Lễ quán sẽ là một lít rượu cho mỗi chiên con. Con phải dâng lễ quán cho Đức Giê-hô-va trong Nơi Thánh.
Con phải dâng chiên con kia vào buổi chiều tối cùng với tế lễ chay và lễ quán giống như buổi sớm mai. Đó là một tế lễ dùng lửa dâng có hương thơm, hài lòng Đức Giê-hô-va.”
“Vào ngày sa-bát, con phải dâng hai chiên con đực một tuổi không tì vết, chung với lễ quán và tế lễ chay gồm khoảng hai ký bột lọc nhồi dầu.
Đây là tế lễ thiêu vào mỗi ngày sa-bát ngoài các tế lễ thiêu hằng hiến và lễ quán.”
“Vào mỗi đầu tháng, các con phải dâng cho Đức Giê-hô-va hai con bò đực tơ, một con chiên đực và bảy chiên con đực một tuổi không tì vết làm tế lễ thiêu;
dâng chung với ba ký bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay cho mỗi con bò đực, hai ký bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay cho con chiên đực;
một ký bột lọc nhồi dầu dùng làm tế lễ chay cho mỗi chiên con. Đó là một tế lễ thiêu, tức một tế lễ dùng lửa dâng có hương thơm, hài lòng Đức Giê-hô-va,
Lễ quán sẽ là hai lít rượu nho cho mỗi con bò đực, một lít rưỡi cho con chiên đực và một lít cho mỗi chiên con. Đó là tế lễ thiêu vào mỗi đầu tháng trong năm.
Ngoài tế lễ thiêu hằng hiến và lễ quán, cũng phải dâng cho Đức Giê-hô-va một con dê đực làm tế lễ chuộc tội.”
“Vào ngày mười bốn tháng giêng, phải giữ lễ Vượt Qua cho Đức Giê-hô-va.
Ngày mười lăm của tháng ấy sẽ là lễ hội và phải ăn bánh không men trong bảy ngày.
Vào ngày thứ nhất, các con sẽ có cuộc hội họp thánh và không được làm công việc thường lệ nào cả.
Các con phải dâng cho Đức Giê-hô-va hai con bò đực tơ và bảy chiên con đực một tuổi làm tế lễ thiêu, tất cả đều không có tì vết.
Tế lễ chay sẽ là ba ký bột lọc nhồi dầu cho một con bò đực, hai ký cho con chiên đực,
và một ký cho mỗi chiên con.
Kèm theo một con dê đực làm tế lễ chuộc tội để làm lễ chuộc tội cho các con.
Các con phải dâng các lễ vật nầy ngoài tế lễ thiêu buổi sớm mai, tức là tế lễ thiêu hằng hiến.
Các con phải dùng lửa dâng những tế lễ hằng hiến như thế trong suốt bảy ngày có hương thơm, hài lòng Đức Giê-hô-va. Tế lễ đó phải được dâng ngoài tế lễ thiêu hằng hiến và lễ quán.
Và ngày thứ bảy, các con sẽ có cuộc hội họp thánh và không được làm một công việc thường lệ nào cả.”
“Trong kỳ lễ Các Tuần nhằm ngày hoa quả đầu mùa, khi các con dâng cho Đức Giê-hô-va tế lễ chay mới thì phải có cuộc hội họp thánh và không được làm một công việc thường lệ nào cả.
Các con sẽ dâng hai con bò đực tơ, một con chiên đực và bảy chiên con đực một tuổi làm tế lễ thiêu có hương thơm, hài lòng Đức Giê-hô-va.
Cũng dâng tế lễ chay bằng bột lọc nhồi dầu: ba ký cho mỗi con bò đực, hai ký cho con chiên đực,
và một ký cho mỗi chiên con.
Cũng phải dâng một con dê đực để làm lễ chuộc tội cho mình.
Ngoài tế lễ thiêu hằng hiến và tế lễ chay, các con cũng phải dâng các lễ vật đó cùng với lễ quán. Các sinh tế không được có tì vết nào cả.”
Vào ngày mồng một tháng bảy, các con sẽ có cuộc hội họp thánh và không được làm một công việc thường lệ nào cả. Đó là một ngày để các con thổi kèn.
Các con phải dâng một con bò đực tơ, một con chiên đực và bảy chiên con đực một tuổi không tì vết làm tế lễ thiêu có hương thơm, hài lòng cho Đức Giê-hô-va.
Phải dâng chung với tế lễ chay bằng bột lọc nhồi dầu: ba ký cho con bò đực, hai ký cho con chiên đực,
một ký cho mỗi con trong số bảy chiên con ấy;
và phải dâng một con dê đực làm sinh tế chuộc tội cho các con.
Các con phải dâng những lễ vật nầy ngoài tế lễ thiêu đầu tháng kèm theo tế lễ chay, tế lễ thiêu hằng hiến kèm theo tế lễ chay với lễ quán theo quy định. Những tế lễ nầy phải dùng lửa để dâng có hương thơm, hài lòng Đức Giê-hô-va.
Vào ngày mùng mười tháng bảy nầy, các con sẽ có buổi hội họp thánh, phải ép linh hồn mình và không được làm một công việc thường lệ nào cả.
Các con phải dâng một con bò đực tơ, một con chiên đực và bảy chiên con đực một tuổi không tì vết làm tế lễ thiêu có hương thơm, hài lòng Đức Giê-hô-va.
Phải dâng chung với tế lễ chay bằng bột lọc nhồi dầu: ba ký cho con bò đực, hai ký cho con chiên đực,
và một ký cho mỗi trong số bảy chiên con ấy.
Các con cũng dâng một con dê đực làm sinh tế chuộc tội ngoài tế lễ trong Ngày Chuộc Tội, tế lễ thiêu hằng hiến, tế lễ chay và lễ quán.
Vào ngày rằm tháng bảy, các con sẽ có cuộc hội họp thánh. Không được làm một công việc thường lệ nào, nhưng các con phải giữ một lễ cho Đức Giê-hô-va trong bảy ngày.
Các con phải dâng mười ba con bò đực tơ, hai con chiên đực và mười bốn chiên con đực một tuổi không tì vết làm tế lễ thiêu, tức là tế lễ dùng lửa dâng có hương thơm, hài lòng Đức Giê-hô-va.
Phải dâng chung với tế lễ chay bằng bột lọc nhồi dầu: ba ký cho mỗi con bò đực, hai ký cho mỗi con chiên đực
và một ký cho mỗi con trong số mười bốn chiên con ấy.
Các con cũng phải dâng một con dê đực làm sinh tế chuộc tội ngoài tế lễ thiêu hằng hiến, tế lễ chay và lễ quán.
“Vào ngày thứ hai, các con phải dâng mười hai con bò đực tơ, hai con chiên đực, và mười bốn chiên con đực một tuổi không tì vết.
Phải dâng tế lễ chay và các lễ quán chung với những bò đực, chiên đực và chiên con theo số lượng đã quy định.
Các con cũng phải dâng một con dê đực làm sinh tế chuộc tội ngoài tế lễ thiêu hằng hiến và lễ quán.
Vào ngày thứ ba, các con phải dâng mười một con bò đực, hai con chiên đực, và mười bốn chiên con đực một tuổi không tì vết.
Phải dâng tế lễ chay và các lễ quán chung với những bò đực, chiên đực và chiên con theo số lượng đã quy định.
Các con cũng phải dâng một con dê đực làm sinh tế chuộc tội ngoài tế lễ thiêu hằng hiến, tế lễ chay và lễ quán.
Vào ngày thứ tư, các con phải dâng mười con bò đực, hai con chiên đực, và mười bốn chiên con đực một tuổi không tì vết.
Phải dâng tế lễ chay và các lễ quán chung với những bò đực, chiên đực và chiên con theo số lượng đã quy định.
Các con cũng phải dâng một con dê đực làm sinh tế chuộc tội ngoài tế lễ thiêu hằng hiến, tế lễ chay và lễ quán.
Vào ngày thứ năm, các con phải dâng chín con bò đực, hai con chiên đực, và mười bốn chiên con đực một tuổi không tì vết.
Phải dâng tế lễ chay và các lễ quán chung với những bò đực, chiên đực và chiên con theo số lượng đã quy định.
Các con cũng phải dâng một con dê đực làm sinh tế chuộc tội ngoài tế lễ thiêu hằng hiến, tế lễ chay và lễ quán.
Vào ngày thứ sáu, các con phải dâng tám con bò đực, hai con chiên đực, và mười bốn chiên con đực một tuổi không tì vết.
Phải dâng tế lễ chay và các lễ quán chung với những bò đực, chiên đực và chiên con theo số lượng đã quy định.
Các con cũng phải dâng một con dê đực làm sinh tế chuộc tội ngoài tế lễ thiêu hằng hiến, tế lễ chay và lễ quán.
Vào ngày thứ bảy, các con phải dâng bảy con bò đực, hai con chiên đực, và mười bốn chiên con đực một tuổi không tì vết.
Phải dâng tế lễ chay và các lễ quán chung với những bò đực, chiên đực và chiên con theo số lượng đã quy định.
Các con cũng phải dâng một con dê đực làm sinh tế chuộc tội ngoài tế lễ thiêu hằng hiến, tế lễ chay và lễ quán.
Vào ngày thứ tám, các con phải có cuộc hội họp trọng thể và không được làm một công việc thường lệ nào cả.
Phải dâng một con bò đực, một con chiên đực và bảy chiên con đực một tuổi không tì vết làm tế lễ thiêu, tức là tế lễ dùng lửa dâng có hương thơm, hài lòng Đức Giê-hô-va.
Cũng dâng tế lễ chay và các lễ quán chung với những bò đực, chiên đực và chiên con theo số lượng đã quy định.
Các con cũng phải dâng một con dê đực làm của sinh tế chuộc tội ngoài tế lễ thiêu hằng hiến, tế lễ chay và lễ quán.
Đó là những lễ vật mà các con phải dâng cho Đức Giê-hô-va vào những ngày lễ trọng thể để làm tế lễ thiêu, tế lễ chay, lễ quán và tế lễ bình an ngoài những tế lễ hứa nguyện và những tế lễ tự nguyện của các con.”
Môi-se truyền lại cho con dân Y-sơ-ra-ên mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán dạy mình.
Môi-se nói với các thủ lĩnh của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên rằng: “Đây là điều Đức Giê-hô-va đã phán dạy:
Khi một người nam khấn hứa với Đức Giê-hô-va hoặc thề nguyện điều gì buộc phải giữ thì đừng thất tín. Người ấy phải làm đúng như lời miệng mình đã nói ra.
Khi một người nữ, trong thời niên thiếu ở nhà cha mình, có hứa nguyện với Đức Giê-hô-va và buộc phải giữ điều mình đã hứa,
nếu cha nàng nghe lời thề hứa mà nàng buộc phải giữ lấy đó nhưng không nói gì, thì những lời khấn hứa hay thề nguyện mà nàng đã thề hứa vẫn có hiệu lực.
Nhưng nếu cha nàng khi nghe lời thề hứa và phản đối, thì những lời khấn hứa hay thề nguyện mà nàng đã thề hứa sẽ không còn hiệu lực nữa, và Đức Giê-hô-va sẽ tha tội cho nàng, vì cha nàng ngăn cấm nàng.
Nếu người nữ ấy đã kết hôn và sau đó lỡ khấn hứa hoặc miệng nàng đã vội thốt ra điều gì tự ràng buộc mình,
và nếu ngày ấy chồng nàng nghe biết điều đó mà vẫn không nói gì, thì những lời khấn hứa và thề nguyện mà nàng đã thề hứa vẫn có hiệu lực.
Còn nếu ngày ấy chồng nàng biết được và phản đối, thì lời khấn hứa hoặc thề nguyện vội vàng đó sẽ không có hiệu lực, và Đức Giê-hô-va sẽ tha tội cho nàng.
Bất cứ lời hứa nguyện của một đàn bà góa hoặc một người đàn bà ly dị thì buộc phải giữ lấy.
Nếu một người đàn bà đã khấn hứa trong khi sống ở nhà chồng mình, hoặc thề nguyện điều gì buộc phải giữ lấy,
và nếu người chồng đã nghe mà không nói gì và không phản đối, thì những lời khấn hứa và thề nguyện mà nàng đã thề hứa vẫn có hiệu lực.
Nhưng nếu ngày mà chồng nàng nghe biết và hủy bỏ lời thề hứa đó, thì mọi lời khấn hứa và thề nguyện mà miệng nàng đã thốt ra sẽ không còn hiệu lực. Vì chồng nàng đã hủy bỏ các lời đó nên Đức Giê-hô-va sẽ tha thứ cho nàng.
Chồng nàng có quyền xác lập hay hủy bỏ mọi lời hứa nguyện mà nàng tự ràng buộc mình.
Nếu chồng nàng vẫn không nói gì với nàng cho đến hôm sau, có nghĩa là chồng nàng đã xác nhận mọi lời khấn hứa hay thề nguyện của nàng. Chồng nàng đã xác nhận lời đó, vì anh ta đã không phản ứng gì khi nghe vợ mình thề hứa.
Còn nếu người chồng hủy bỏ các lời hứa nguyện đó một thời gian sau khi nghe biết, thì người chồng sẽ mang lấy tội lỗi của vợ mình.”
Đó là các quy định mà Đức Giê-hô-va truyền dạy cho Môi-se liên hệ đến người chồng và vợ mình, người cha và con gái mình khi nàng còn niên thiếu ở nhà cha mình.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy báo thù người Ma-đi-an cho dân Y-sơ-ra-ên, sau đó con sẽ được về cùng tổ tiên.”
Vậy Môi-se truyền bảo dân chúng rằng: “Anh em hãy trang bị khí giới để tiến đánh dân Ma-đi-an và báo thù dân đó cho Đức Giê-hô-va.
Mỗi bộ tộc Y-sơ-ra-ên phải gửi một nghìn quân ra trận.”
Vậy trong mỗi bộ tộc Y-sơ-ra-ên, người ta chọn một nghìn quân và có mười hai nghìn người được trang bị khí giới để ra trận.
Môi-se sai mười hai nghìn người đó ra trận tức là sai mỗi bộ tộc một nghìn người, cùng với Phi-nê-a, con trai của thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, đem theo những khí giới thánh và kèn thúc quân.
Họ giao tranh với dân Ma-đi-an như Đức Giê-hô-va đã phán dạy Môi-se và họ giết tất cả người nam.
Trong số những người bị giết có năm vua Ma-đi-an là: Ê-vi, Rê-kem, Xu-rơ, Hu-rơ và Rê-ba. Họ cũng dùng gươm giết Ba-la-am, con trai của Bê-ô.
Dân Y-sơ-ra-ên bắt phụ nữ và trẻ em Ma-đi-an làm tù binh, cướp tất cả súc vật, bầy chiên và của cải của chúng.
Họ đốt hết các thành nơi dân Ma-đi-an ở và các doanh trại,
rồi thu hết của cải, chiến lợi phẩm, kể cả người lẫn súc vật.
Họ đem những tù binh và những chiến lợi phẩm đến trước Môi-se, thầy tế lễ Ê-lê-a-sa và hội chúng Y-sơ-ra-ên đang đóng trại tại đồng bằng Mô-áp, gần sông Giô-đanh đối diện Giê-ri-cô.
Bấy giờ Môi-se, thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, và tất cả những người lãnh đạo đi ra ngoài trại quân để gặp họ.
Môi-se nổi giận với các cấp chỉ huy quân đội vừa đánh trận trở về, tức là những chỉ huy trưởng một nghìn quân và những chỉ huy trưởng một trăm quân.
Môi-se nói với họ: “Sao anh em để tất cả phụ nữ sống sót?
Những phụ nữ nầy theo mưu kế của Ba-la-am mà dụ dỗ dân Y-sơ-ra-ên cúng thờ Phê-ô, phạm tội trọng với Đức Giê-hô-va và khiến hội chúng của Đức Giê-hô-va phải mang họa.
Vậy bây giờ, hãy giết hết trẻ em nam và phụ nữ nào đã ăn nằm với người nam,
nhưng chừa lại tất cả những thiếu nữ chưa ăn nằm với người nam nào.
Còn về phần anh em, hãy đóng trại ngoài trại quân trong bảy ngày. Ai giết người hoặc đụng đến xác chết thì người đó phải tự thanh tẩy mình vào ngày thứ ba và ngày thứ bảy.
Cũng phải thanh tẩy tất cả quần áo, mọi vật bằng da, mọi vật bằng lông dê và mọi đồ đạc bằng gỗ.”
Thầy tế lễ Ê-lê-a-sa nói với những người lính đi đánh trận về rằng: “Đây là quy định của luật pháp mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se:
Vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc, chì,
tức là mọi vật có thể chịu được lửa thì anh em phải đưa ngang qua lửa để được tẩy sạch. Tuy nhiên, cũng phải dùng nước tẩy uế để thanh tẩy cho vật ấy nữa. Còn bất cứ vật gì không thể chịu được lửa thì phải cho qua nước tẩy uế đó.
Vào ngày thứ bảy, các con phải giặt áo quần mình cho sạch sẽ rồi mới được vào trại quân.”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
“Con và thầy tế lễ Ê-lê-a-sa cùng với các thủ lĩnh của hội chúng hãy kiểm kê các chiến lợi phẩm đã thu được, cả người lẫn súc vật,
rồi chia đôi chiến lợi phẩm đó cho những chiến sĩ và cả hội chúng.
Trong phần thuộc về các chiến sĩ đã ra trận, hoặc người hoặc bò hoặc lừa hoặc chiên, con phải lấy một phần năm trăm đem dâng cho Đức Giê-hô-va.
Hãy lấy phần dâng hiến đó trong một nửa thuộc về các chiến sĩ giao cho thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, làm lễ vật dâng lên Đức Giê-hô-va.
Còn trong một nửa kia thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, con hãy lấy một phần năm mươi, hoặc người hoặc bò hoặc lừa hoặc chiên, tức là tất cả súc vật, và giao cho người Lê-vi, là người chịu trách nhiệm coi sóc Đền Tạm của Đức Giê-hô-va.”
Môi-se và thầy tế lễ Ê-lê-a-sa làm đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dạy Môi-se.
Số chiến lợi phẩm còn lại mà quân lính thu được là sáu trăm bảy mươi lăm nghìn con chiên;
bảy mươi hai nghìn con bò,
sáu mươi mốt nghìn con lừa đực,
và ba mươi hai nghìn trinh nữ.
Trong một nửa thuộc về những người đã ra trận là ba trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm con chiên,
thì dâng cho Đức Giê-hô-va sáu trăm bảy mươi lăm con;
ba mươi sáu nghìn con bò, thì dâng cho Đức Giê-hô-va là bảy mươi hai con;
ba nghìn năm trăm con lừa đực, thì dâng cho Đức Giê-hô-va sáu mươi mốt con;
mười sáu nghìn người, thì dâng cho Đức Giê-hô-va là ba mươi hai người.
Môi-se giao cho thầy tế lễ Ê-lê-a-sa phần dâng hiến làm lễ vật dâng cho Đức Giê-hô-va đúng như Ngài đã phán dạy Môi-se.
Một nửa kia thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, tức là một nửa mà Môi-se đã chia với những người ra trận.
Một nửa nầy thuộc về hội chúng, gồm có: ba trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm con chiên,
ba mươi sáu nghìn con bò,
ba mươi nghìn năm trăm con lừa,
và mười sáu nghìn người.
Trong một nửa nầy thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, Môi-se lấy ra một phần năm mươi từ người hay súc vật và giao cho người Lê-vi, là những người có trách nhiệm coi sóc Đền Tạm của Đức Giê-hô-va đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dạy mình.
Các cấp chỉ huy tức là chỉ huy trưởng một nghìn quân và chỉ huy trưởng một trăm quân đến gần Môi-se,
và nói: “Các đầy tớ ông đã kiểm tra các chiến sĩ là những người ở dưới quyền chúng tôi và không thiếu một người nào.
Mỗi người trong chúng tôi có đem lễ vật bằng vàng đã thu được như dây chuyền, xuyến, nhẫn, bông tai, và kiềng, dâng lên Đức Giê-hô-va để chuộc tội cho mình trước mặt Ngài.”
Môi-se và thầy tế lễ Ê-lê-a-sa tiếp nhận số vàng, tức là tất cả đồ trang sức ấy.
Tất cả lễ vật bằng vàng mà những chỉ huy trưởng một nghìn quân và chỉ huy trưởng một trăm quân dâng cho Đức Giê-hô-va, tổng cộng khoảng một trăm chín mươi ký.
Mỗi chiến sĩ ra trận đều lấy chiến lợi phẩm cho riêng mình.
Vậy Môi-se và thầy tế lễ Ê-lê-a-sa tiếp nhận số vàng của các chỉ huy trưởng một nghìn quân và chỉ huy trưởng một trăm quân, rồi đem vào Lều Hội Kiến làm kỷ niệm cho dân Y-sơ-ra-ên trước mặt Đức Giê-hô-va.
Con cháu Ru-bên và con cháu Gát có rất nhiều bầy súc vật. Họ thấy đất Gia-ê-xe và Ga-la-át là đất thích hợp cho việc chăn nuôi súc vật
nên đến thưa với Môi-se, thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, và các nhà lãnh đạo rằng:
“Đất A-ta-rốt, Đi-bôn, Gia-ê-xe, Nim-ra, Hết-bôn, Ê-lê-a-sa, Sê-bam, Nê-bô và Bê-ôn
mà Đức Giê-hô-va đã chinh phục trước mặt hội chúng Y-sơ-ra-ên, là đất thích hợp cho việc chăn nuôi súc vật. Hơn nữa, các đầy tớ ông lại có nhiều bầy súc vật.
Nếu chúng tôi được ơn trước mặt ông, xin ông ban đất ấy cho các đầy tớ ông làm sản nghiệp. Xin đừng bắt chúng tôi đi qua sông Giô-đanh.”
Nhưng Môi-se trả lời với con cháu Gát và con cháu Ru-bên rằng: “Trong khi anh em mình ra trận mà anh em ở lại đây sao?
Tại sao anh em làm cho dân Y-sơ-ra-ên nản lòng không chịu đi vào xứ mà Đức Giê-hô-va đã ban cho họ?
Tổ phụ anh em cũng làm như vậy khi từ Ca-đe Ba-nê-a tôi sai họ đi do thám xứ.
Vì tổ phụ anh em sau khi đi đến thung lũng Ếch-côn để quan sát xứ, thì đã làm cho dân Y-sơ-ra-ên nản lòng không chịu vào xứ mà Đức Giê-hô-va đã ban cho họ.
Trong ngày đó, cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi phừng lên và Ngài thề rằng:
‘Những người đi ra khỏi Ai Cập từ hai mươi tuổi trở lên sẽ chẳng hề thấy xứ mà Ta đã hứa ban cho Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, vì họ không hết lòng đi theo Ta,
ngoại trừ Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, là người Kê-nít và Giô-suê, con trai của Nun, vì hai người đó đã hết lòng đi theo Đức Giê-hô-va.’
Vì thế, cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi phừng lên với dân Y-sơ-ra-ên, và Ngài khiến họ phải đi lang thang trong hoang mạc bốn mươi năm, cho đến khi cả thế hệ làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va đều bị tiêu diệt.
Bây giờ, anh em là dòng dõi của những kẻ tội lỗi, lại thay thế tổ phụ mình nổi lên và làm cho cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va với Y-sơ-ra-ên càng tăng thêm.
Nếu anh em tiếp tục từ bỏ Ngài thì Ngài sẽ bỏ dân nầy trong hoang mạc và anh em sẽ khiến cho họ bị tiêu diệt.”
Nhưng các người đó đến với Môi-se và nói: “Chúng tôi sẽ xây chuồng súc vật và thành trì cho con cái chúng tôi,
và chúng tôi sẵn sàng cầm vũ khí đi trước dân Y-sơ-ra-ên cho đến khi đưa họ vào địa phận của họ. Chỉ có con cái chúng tôi sẽ ở lại trong thành kiên cố vì sợ dân địa phương tấn công.
Chúng tôi sẽ không quay trở về nhà chúng tôi cho đến khi mọi người Y-sơ-ra-ên đều nhận sản nghiệp mình.
Chúng tôi sẽ không nhận sản nghiệp với dân Y-sơ-ra-ên ở bên kia sông Giô-đanh hay là xa hơn nữa vì chúng tôi đã được sản nghiệp mình ở phía đông sông Giô-đanh nầy rồi.”
Môi-se trả lời với họ: “Nếu anh em làm điều đó, cầm vũ khí chiến đấu trước mặt Đức Giê-hô-va,
và nếu tất cả đều cầm vũ khí vượt qua sông Giô-đanh trước mặt Đức Giê-hô-va cho đến khi Ngài đuổi hết quân thù khỏi trước mặt Ngài
và chỉ quay về sau khi đã chinh phục đất ấy trước mặt Đức Giê-hô-va, thì anh em đã làm xong trách nhiệm đối với Đức Giê-hô-va và Y-sơ-ra-ên. Và khi ấy, đất nầy sẽ là sản nghiệp của anh em trước mặt Đức Giê-hô-va.
Nhưng, nếu anh em không làm như thế, anh em thật đã phạm tội với Đức Giê-hô-va và phải biết rằng tội ấy chắc sẽ đổ lại trên anh em.
Vậy, hãy xây thành cho con cái, dựng chuồng cho bầy súc vật và làm điều anh em đã nói.”
Con cháu Gát và con cháu Ru-bên nói với Môi-se: “Các đầy tớ ông sẽ làm điều mà ông là chúa chúng tôi đã dặn bảo.
Vợ và con nhỏ, bầy chiên và tất cả gia súc của chúng tôi sẽ ở lại đây trong các thành của Ga-la-át,
còn tất cả đầy tớ ông sẽ cầm khí giới vượt qua sông mà chiến đấu trước mặt Đức Giê-hô-va như ông là chúa chúng tôi đã dặn bảo.”
Vậy Môi-se truyền lệnh liên quan đến hai bộ tộc ấy cho thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, cho Giô-suê con trai Nun, và cho các thủ lĩnh của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên.
Ông nói với họ: “Nếu con cháu Gát và con cháu Ru-bên cầm vũ khí đi qua sông Giô-đanh với anh em để chiến đấu trước mặt Đức Giê-hô-va và khi đất đã được chinh phục rồi, thì anh em phải ban cho họ đất Ga-la-át làm sản nghiệp.
Nhưng nếu họ không cầm vũ khí đi qua sông với anh em thì họ sẽ nhận sản nghiệp giữa anh em trong đất Ca-na-an.”
Con cháu Gát và con cháu Ru-bên thưa: “Chúng tôi sẽ làm theo điều Đức Giê-hô-va đã phán với các đầy tớ ông.
Chúng tôi sẽ cầm vũ khí đi vào xứ Ca-na-an trước mặt Đức Giê-hô-va, nhưng chúng tôi sẽ nhận sản nghiệp mình về phía bên nầy sông Giô-đanh.”
Vậy Môi-se ban cho con cháu Gát, con cháu Ru-bên và một nửa bộ tộc Ma-na-se là con cháu của Giô-sép, vương quốc của Si-hôn, vua dân A-mô-rít, và vương quốc của Óc, vua xứ Ba-san, gồm có đất và các thành của nó cùng các vùng phụ cận.
Con cháu Gát xây thành Đi-bôn, A-ta-rốt, A-rô-e,
Ạt-rốt Sô-phan, Gia-ê-xe, Giô-bê-ha,
Bết Nim-ra và Bết Ha-ran là những thành kiên cố. Họ cũng làm chuồng cho bầy súc vật nữa.
Con cháu Ru-bên xây thành Hết-bôn, Ê-lê-a-lê, Ki-ri-a-ta-im,
Nê-bô, Ba-anh Mê-ôn (tên các thành nầy đã thay đổi) và Síp-ma. Họ đặt tên cho các thành mình xây cất.
Con cháu Ma-ki là con trai Ma-na-se đi vào chiếm đất Ga-la-át và đuổi người A-mô-rít ở đó đi.
Vậy Môi-se ban đất Ga-la-át cho Ma-ki, con trai Ma-na-se, và ông định cư tại đó.
Giai-rơ là con trai Ma-na-se đi đánh chiếm các làng mạc của dân A-mô-rít và đổi tên là làng Giai-rơ.
Nô-bách đi đánh chiếm Kê-nát và các làng của nó rồi đặt tên là Nô-bách theo tên mình.
Đây là các cuộc hành trình của dân Y-sơ-ra-ên khi họ ra khỏi xứ Ai Cập theo từng đội ngũ, dưới sự lãnh đạo của Môi-se và A-rôn.
Môi-se vâng lệnh Đức Giê-hô-va ghi lại cuộc hành trình của dân chúng theo từng chặng đường. Sau đây là các chặng đường kể theo những điểm khởi hành:
Dân Y-sơ-ra-ên khởi hành từ Ram-se vào ngày rằm tháng giêng, một ngày sau lễ Vượt Qua. Họ ra đi một cách dạn dĩ trước sự chứng kiến của người Ai Cập.
Trong lúc đó, người Ai Cập lo chôn cất những con đầu lòng mà Đức Giê-hô-va đã trừng phạt vì Ngài đã phán xét các thần của chúng.
Dân Y-sơ-ra-ên rời Ram-se và đến đóng trại tại Su-cốt,
rồi rời Su-cốt đến đóng trại tại Ê-tam ở cuối hoang mạc.
Kế đó, họ rời Ê-tam, đi vòng về hướng Phi Ha-hi-rốt đối diện với Ba-anh Sê-phôn và đóng trại trước Mít-đôn.
Dân Y-sơ-ra-ên rời Phi Ha-hi-rốt, vượt qua biển hướng về hoang mạc và đi ba ngày đường trong hoang mạc Ê-tam rồi đóng trại tại Ma-ra.
Họ rời Ma-ra đến Ê-lim. Ở Ê-lim có mười hai suối nước và bảy mươi cây chà là; rồi họ đóng trại tại đó.
Rời Ê-lim, họ đến đóng trại gần Biển Đỏ.
Họ rời Biển Đỏ và đóng trại trong hoang mạc Sin.
Rời hoang mạc Sin, họ đóng trại tại Đáp-ca.
Họ rời Đáp-ca và đóng trại tại A-lúc.
Rời A-lúc, họ đóng trại tại Rê-phi-đim là nơi không có nước cho dân chúng uống.
Họ rời Rê-phi-đim và đóng trại trong hoang mạc Si-na-i.
Kế đó, họ rời hoang mạc Si-na-i và đóng trại tại Kíp-rốt Ha-tha-va.
Rời Kíp-rốt Ha-tha-va, họ đóng trại tại Hát-sê-rốt.
Họ rời Hát-sê-rốt và đóng trại tại Rít-ma.
Rời Rít-ma, họ đóng trại tại Ri-môn Phê-rết.
Họ rời Ri-môn Phê-rết và đóng trại tại Líp-na.
Rời Líp-na, họ đóng trại tại Ri-sa.
Kế đó, họ rời Ri-sa và đóng trại tại Kê-hê-la-tha.
Rời Kê-hê-la-tha, họ đóng trại tại núi Sê-phe.
Họ rời Sê-phe và đóng trại tại Ha-ra-đa.
Rời Ha-ra-đa, họ đóng trại tại Mác-hê-lốt.
Họ rời Mác-hê-lốt và đóng trại tại Ta-hát.
Rời Ta-hát, họ đóng trại tại Ta-rách.
Họ rời Ta-rách và đóng trại tại Mít-ga.
Rời Mít-ga, họ đóng trại tại Hách-mô-na.
Họ rời Hách-mô-na và đóng trại tại Mô-sê-rốt.
Rời Mô-sê-rốt, họ đóng trại tại Bê-nê Gia-a-can.
Họ rời Bê-nê Gia-a-can và đóng trại tại Hô Ghi-gát.
Rời Hô Ghi-gát, họ đóng trại tại Dốt-ba-tha.
Họ rời Dốt-ba-tha và đóng trại tại Áp-rô-na.
Rời Áp-rô-na, họ đóng trại tại Ê-xi-ôn Ghê-be.
Họ rời Ê-xi-ôn Ghê-be và đóng trại tại hoang mạc Xin nghĩa là tại Ca-đe.
Kế đó, họ rời Ca-đe và đóng trại trên núi Hô-rơ, biên giới của Ê-đôm.
Thầy tế lễ A-rôn lên núi Hô-rơ theo lệnh của Đức Giê-hô-va và qua đời tại đó nhằm ngày mồng một tháng năm, năm thứ bốn mươi sau khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập.
A-rôn qua đời trên núi Hô-rơ, hưởng thọ một trăm hai mươi ba tuổi.
Bấy giờ, vua A-rát là người Ca-na-an ở Nê-ghép của xứ Ca-na-an, nghe tin dân Y-sơ-ra-ên đã đến.
Dân Y-sơ-ra-ên rời núi Hô-rơ và đóng trại tại Xa-mô-na.
Rời Xa-mô-na, họ đóng trại tại Phu-nôn.
Họ rời Phu-nôn và đóng trại tại Ô-bốt.
Kế đó, họ rời Ô-bốt và đóng trại tại Y-giê A-ba-rim trên biên giới Mô-áp.
Rời Y-giê A-ba-rim, họ đóng trại tại Đi-bôn Gát.
Họ rời Đi-bôn Gát và đóng trại tại Anh-môn Đíp-la-tha-im.
Kế đó, họ rời Anh-môn Đíp-la-tha-im và đóng trại tại núi A-ba-rim trước Nê-bô.
Rời A-ba-rim, họ đóng trại tại đồng bằng Mô-áp, gần sông Giô-đanh đối diện Giê-ri-cô.
Họ đóng trại gần sông Giô-đanh, từ Bết Giê-si-mốt đến A-bên Si-tim trong đồng bằng Mô-áp.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se trong đồng bằng Mô-áp gần sông Giô-đanh, đối diện Giê-ri-cô, rằng:
“Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên: ‘Khi các con vượt qua sông Giô-đanh để vào xứ Ca-na-an
thì phải đuổi tất cả dân bản địa khỏi các con, phá hủy hết tượng chạm và tượng đúc cùng triệt hạ tất cả các nơi cao của chúng.
Các con sẽ nhận xứ ấy làm sản nghiệp và định cư tại đó, vì Ta đã ban xứ ấy cho các con làm sản nghiệp.
Hãy bắt thăm để phân chia đất tùy theo gia tộc các con. Gia tộc nào đông người thì cho một sản nghiệp lớn hơn; còn gia tộc nào ít người thì cho một sản nghiệp nhỏ hơn. Mỗi người sẽ nhận lãnh phần mình tùy theo thăm bắt được. Cứ theo từng bộ tộc của tổ phụ các con mà phân chia xứ.
Nhưng nếu các con không đuổi hết dân bản địa đi thì các dân mà các con còn để lại sẽ như gai trong con mắt và như chông nơi hông các con. Chúng sẽ theo quấy nhiễu các con trong đất mình đang ở.
Rồi đến lúc Ta cũng sẽ đối xử với các con như Ta định đối xử với chúng vậy.’”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy truyền lệnh cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Khi các con vào xứ Ca-na-an là đất mà các con nhận làm sản nghiệp, thì ranh giới của đất ấy như sau:
Về phía nam, đất ấy sẽ từ hoang mạc Xin chạy dài theo Ê-đôm. Như thế, ranh giới phía nam của các con sẽ chạy từ cuối Biển Chết, về hướng đông.
Ranh giới nầy chạy vòng phía nam của núi Ạc-ráp-bim đi ngang qua hướng Xin và tiếp giáp phía nam Ca-đe Ba-nê-a, rồi chạy qua Hát-sa Át-đa và đi về hướng Át-môn.
Ranh giới chạy từ Át-môn đi vòng về suối Ai Cập và dừng lại ở biển.
Ranh giới phía tây của các con sẽ là Biển Lớn. Đó là ranh giới phía tây của các con.
Ranh giới phía bắc của các con sẽ chạy từ Biển Lớn đến tận núi Hô-rơ.
Từ núi Hô-rơ, ranh giới chạy về lối vào Ha-mát, qua Xê-đát,
rồi chạy về hướng Xíp-rôn và kết thúc tại Hát-sa Ê-nan. Đó là ranh giới của các con về phía bắc.
Ranh giới phía đông của các con sẽ từ Hát-sa Ê-nan đến Sê-pham,
và chạy từ Sê-pham xuống đến Ríp-la về hướng đông của A-in, rồi chạy xuống nữa cho đến khi tiếp giáp với biển Ki-nê-rết về phía đông.
Như thế ranh giới sẽ chạy xuống phía sông Giô-đanh và kết thúc ở Biển Chết. Đó là lãnh thổ của các con với các ranh giới chung quanh.’”
Môi-se truyền lệnh cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: “Đó là xứ mà anh em sẽ bắt thăm nhận làm sản nghiệp, như Đức Giê-hô-va đã phán dặn ban cho chín bộ tộc rưỡi.
Vì bộ tộc Ru-bên theo từng gia tộc; bộ tộc Gát theo từng gia tộc, và nửa bộ tộc Ma-na-se đã lãnh phần sản nghiệp của họ rồi.
Hai bộ tộc rưỡi trên đã nhận sản nghiệp mình bên kia sông Giô-đanh, đối diện Giê-ri-cô về hướng đông, tức về hướng mặt trời mọc.”
Đức Giê-hô-va lại phán với Môi-se:
“Đây là tên những người sẽ đứng ra chia xứ: Thầy tế lễ Ê-lê-a-sa và Giô-suê, con trai Nun.
Các con cũng phải chọn mỗi bộ tộc một người lãnh đạo để phân chia xứ.
Sau đây là tên những người ấy: Bộ tộc Giu-đa có Ca-lép, con trai Giê-phu-nê.
Bộ tộc Si-mê-ôn có Sê-mu-ên, con trai A-mi-hút.
Bộ tộc Bên-gia-min có Ê-li-đát, con trai Kít-lon.
Bộ tộc Đan có người lãnh đạo tên là Bu-ki, con trai Giốc-li.
Con cháu Giô-sép gồm bộ tộc Ma-na-se, có người lãnh đạo tên là Ha-ni-ên, con trai Ê-phát,
và bộ tộc Ép-ra-im có người lãnh đạo tên là Kê-mu-ên, con trai Síp-tan.
Bộ tộc Sa-bu-lôn có người lãnh đạo tên là Ê-lít-sa-phan, con trai Phác-nát.
Bộ tộc Y-sa-ca có người lãnh đạo tên là Pha-ti-ên, con trai A-xan.
Bộ tộc A-se có người lãnh đạo tên là A-hi-hút, con trai Sê-lô-mi.
Và bộ tộc Nép-ta-li có người lãnh đạo tên là Phê-đa-ên, con trai A-mi-hút.”
Đó là những người mà Đức Giê-hô-va đã chỉ định đứng ra phân chia sản nghiệp cho dân Y-sơ-ra-ên trong xứ Ca-na-an.
Tại đồng bằng Mô-áp gần sông Giô-đanh, đối diện Giê-ri-cô, Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên cấp cho người Lê-vi những thành lấy từ trong phần sản nghiệp mình để họ ở. Cũng hãy cho họ những cánh đồng cỏ chung quanh các thành đó.
Họ sẽ cư trú trong thành, còn đất chung quanh các thành ấy sẽ dùng cho gia súc, tài vật và tất cả loài thú khác.
Cánh đồng cỏ chung quanh thành mà các con cấp cho người Lê-vi sẽ rộng bốn trăm năm chục mét kể từ vách ngoài của thành.
Vậy các con phải đo phía ngoài thành về hướng đông chín trăm mét, về hướng nam chín trăm mét, về hướng tây chín trăm mét, về hướng bắc chín trăm mét, còn thành sẽ ở chính giữa. Đó sẽ là cánh đồng cỏ cho những thành của người Lê-vi.”
“Trong số thành các con cấp cho người Lê-vi sẽ có sáu thành ẩn náu để kẻ sát nhân có thể trốn ở đó. Ngoài sáu thành đó, các con phải cấp cho người Lê-vi bốn mươi hai thành nữa.
Tất cả thành mà các con sẽ cấp cho người Lê-vi luôn với cánh đồng cỏ là bốn mươi tám thành.
Những thành mà các con lấy trong sản nghiệp của dân Y-sơ-ra-ên để cấp cho người Lê-vi thì bộ tộc có nhiều đất sẽ bị lấy nhiều; bộ tộc có ít đất sẽ bị lấy ít. Mỗi bộ tộc sẽ cấp cho người Lê-vi những thành tỉ lệ theo sản nghiệp mà họ sẽ có.”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Khi đã vượt qua sông Giô-đanh để vào xứ Ca-na-an,
các con phải chọn những thành dùng làm thành ẩn náu cho mình, tức là nơi kẻ vô ý đánh chết người có thể chạy đến ẩn náu.
Những thành đó sẽ là nơi ẩn náu của kẻ ngộ sát trốn khỏi kẻ đòi nợ máu và không phải chết, cho đến khi đứng trước mặt hội chúng để chịu xét xử.
Vậy, trong những thành các con cấp đó sẽ có sáu thành ẩn náu cho các con.
Các con sẽ cấp ba thành phía bên kia sông Giô-đanh và ba thành khác trong đất Ca-na-an để làm những thành ẩn náu.
Sáu thành nầy sẽ dùng làm chỗ ẩn náu cho dân Y-sơ-ra-ên, cho khách lạ và kiều dân ở giữa họ, để ai vô ý đánh chết người có thể chạy trốn ở đó.
Nhưng nếu ai dùng đồ sắt đánh chết một người thì người ấy là kẻ sát nhân. Kẻ sát nhân phải bị xử tử.
Nếu ai cầm trong tay một cục đá có thể gây chết người và đánh chết một người thì người đó là một kẻ sát nhân. Kẻ sát nhân phải bị xử tử.
Hoặc nếu ai cầm trong tay vật bằng gỗ có thể gây chết người và đánh chết một người thì người ấy là một kẻ sát nhân. Kẻ sát nhân phải bị xử tử.
Chính người đòi nợ máu sẽ giết kẻ sát nhân. Khi gặp kẻ sát nhân thì người đòi nợ máu sẽ giết hắn.
Nếu ai vì lòng ganh ghét xô đẩy một người hay là cố ý ném vật gì vào một người và gây chết người,
hoặc nếu ai vì thù hiềm mà dùng tay đánh người nào đó và gây chết người thì người ấy sẽ phải bị xử tử; đó là một kẻ sát nhân. Người đòi nợ máu sẽ giết kẻ sát nhân khi gặp hắn.
Nhưng nếu ai vì vô ý chứ không phải do thù hiềm mà xô lấn hoặc ném vật gì vào một người,
hoặc nếu ai vì vô ý chứ không phải thù hiềm và không thấy mà làm rớt một cục đá trên một người, gây chết người,
thì hội chúng phải phân xử giữa kẻ ngộ sát đó với người đòi nợ máu theo luật nầy:
Hội chúng sẽ giải cứu kẻ ngộ sát khỏi tay người đòi nợ máu và gửi nó trở về thành ẩn náu là nơi nó đã chạy trốn và nó phải ở đó cho đến khi thầy tế lễ thượng phẩm, là người được xức dầu thánh, qua đời.
Nhưng nếu kẻ sát nhân đi ra ngoài giới hạn của thành ẩn náu là nơi nó đã chạy đến ẩn mình,
và nếu kẻ đòi nợ máu gặp và giết nó ở ngoài giới hạn thành ẩn náu thì kẻ đòi nợ máu sẽ không phạm tội sát nhân.
Vì kẻ sát nhân phải ở trong thành ẩn náu cho đến khi thầy tế lễ thượng phẩm qua đời. Kẻ sát nhân chỉ được trở về trong sản nghiệp mình sau khi thầy tế lễ qua đời.
Đó là luật phân xử mà các con phải tuân theo trải qua mọi thế hệ và ở bất cứ nơi đâu.
Nếu ai giết người thì sẽ bị xử tử như kẻ sát nhân dựa trên lời khai của các nhân chứng. Nhưng chỉ một nhân chứng thì không đủ để kết án tử hình.
Các con không được nhận tiền chuộc mạng của một kẻ sát nhân can án chết. Nó phải bị xử tử.
Cũng không được nhận tiền để cho kẻ cố sát được ở trong thành ẩn náu rồi sau nó được trở về xứ khi thầy tế lễ qua đời.
Các con chớ làm ô uế đất mà các con sẽ ở. Vì chính máu làm ô uế đất và không thể thanh tẩy đất đã thấm máu ngoại trừ máu của kẻ đã làm đổ máu.
Vậy các con đừng làm ô uế đất là nơi các con sẽ ở, vì chính Ta là Đức Giê-hô-va sẽ ngự giữa dân Y-sơ-ra-ên.’”
Các trưởng tộc của Ga-la-át là con trai Ma-ki, cháu Ma-na-se, thuộc dòng dõi Giô-sép, đến trước Môi-se và các nhà lãnh đạo là những trưởng tộc của dân Y-sơ-ra-ên và nói:
“Đức Giê-hô-va truyền phán với chúa tôi bắt thăm để chia đất cho dân Y-sơ-ra-ên làm sản nghiệp và Đức Giê-hô-va đã bảo chúa tôi giao sản nghiệp của anh chúng tôi là Xê-lô-phát cho các con gái anh ấy.
Nếu các con gái kết hôn với một trong những con trai thuộc các bộ tộc khác của dân Y-sơ-ra-ên thì sản nghiệp của họ sẽ bị truất khỏi sản nghiệp của tổ phụ chúng tôi và thêm vào sản nghiệp của bộ tộc nào mà họ kết hôn. Như vậy phần đó bị truất khỏi sản nghiệp thuộc về chúng tôi.
Đến Năm Hân Hỉ của dân Y-sơ-ra-ên, sản nghiệp của họ sẽ thêm vào sản nghiệp của bộ tộc nào mà họ kết hôn. Như vậy, sản nghiệp của họ sẽ bị truất khỏi sản nghiệp của bộ tộc tổ phụ chúng tôi.”
Vậy, Môi-se truyền lệnh nầy của Đức Giê-hô-va cho dân Y-sơ-ra-ên: “Con cháu của bộ tộc thuộc Giô-sép nói có lý.
Đây là điều Đức Giê-hô-va đã truyền phán liên quan đến các con gái Xê-lô-phát: ‘Họ muốn kết hôn với ai tùy ý, nhưng chỉ được kết hôn với một trong những gia đình của bộ tộc tổ phụ mình.
Như vậy, trong dân Y-sơ-ra-ên không một sản nghiệp nào được chuyển từ bộ tộc nầy qua bộ tộc khác, vì mỗi người trong dân Y-sơ-ra-ên sẽ giữ gìn sản nghiệp thuộc về bộ tộc của tổ phụ mình.
Mỗi người con gái muốn được hưởng một phần sản nghiệp trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên thì phải kết hôn với một người thuộc một trong các gia tộc của bộ tộc tổ phụ mình. Như vậy, mỗi người trong dân Y-sơ-ra-ên đều được thừa hưởng phần sản nghiệp của tổ phụ mình.
Vậy không một phần sản nghiệp nào được chuyển từ bộ tộc nầy qua bộ tộc kia, vì mỗi bộ tộc Y-sơ-ra-ên sẽ gìn giữ sản nghiệp mình.’”
Các con gái Xê-lô-phát làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
Các con gái của Xê-lô-phát là Mách-la, Tiệt-sa, Hốt-la, Minh-ca và Nô-a đều kết hôn cùng các con trai của chú mình.
Họ kết hôn với những người nam trong các gia tộc thuộc con cháu Ma-na-se là con trai Giô-sép; phần sản nghiệp của họ còn giữ lại trong bộ tộc tổ phụ mình.
Đó là những mệnh lệnh và luật lệ mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho dân Y-sơ-ra-ên qua Môi-se tại đồng bằng Mô-áp, gần sông Giô-đanh đối diện Giê-ri-cô.
Đây là những lời Môi-se nói với toàn dân Y-sơ-ra-ên trong hoang mạc phía đông sông Giô-đanh, tức là trong cao nguyên đối diện với Su-phơ, giữa Pha-ran và Tô-phên, La-ban, Hát-sê-rốt và Đi-xa-háp.
Từ núi Hô-rếp đến Ca-đe Ba-nê-a bằng đường núi Sê-i-rơ phải mất mười một ngày đường.
Vào ngày mồng một tháng mười một năm thứ bốn mươi, Môi-se nói với dân Y-sơ-ra-ên tất cả những gì mà Đức Giê-hô-va bảo ông phải truyền đạt cho họ.
Việc nầy xảy ra sau khi ông đánh bại Si-hôn, vua dân A-mô-rít, tại Hết-bôn, và Óc, vua Ba-san, tại Ách-ta-rốt và Ết-rê-i.
Tại phía đông sông Giô-đanh, trong đất Mô-áp, Môi-se bắt đầu giảng giải luật pháp. Ông nói:
“Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã phán với chúng ta tại Hô-rếp rằng: ‘Các ngươi ở trong núi nầy đã khá lâu.
Bây giờ, hãy quay hướng và tiếp tục hành trình, tiến vào vùng đồi núi dân A-mô-rít và các miền lân cận, tức là vào vùng A-ra-ba, vùng đồi núi, vùng Sơ-phê-la, vùng Nê-ghép, và vùng duyên hải, tiến đến đất dân Ca-na-an và Li-ban, đến tận sông lớn tức là sông Ơ-phơ-rát.
Kìa, Ta phó xứ nầy cho các ngươi! Hãy vào và chiếm hữu xứ mà Đức Giê-hô-va đã thề ban cho tổ phụ các ngươi là Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp và con cháu họ.’
Lúc ấy tôi có nói với anh em: ‘Một mình tôi không đủ sức gánh vác anh em.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã gia tăng dân số đến nỗi ngày nay đông như sao trời.
Cầu xin Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em gia tăng dân số gấp nghìn lần và ban phước cho anh em như Ngài đã hứa với anh em.
Một mình tôi làm sao có thể gánh vác nổi những trách nhiệm, nan đề, và việc kiện tụng của anh em?
Vậy mỗi bộ tộc hãy chọn ra những người khôn ngoan, hiểu biết và kinh nghiệm để tôi cử họ làm người lãnh đạo anh em.’
Anh em đã trả lời rằng: ‘Kế hoạch ông đưa ra rất tốt.’
Vì vậy, tôi đã chọn những người khôn ngoan, hiểu biết trong các bộ tộc và lập họ làm người lãnh đạo anh em, chỉ huy hàng nghìn, hàng trăm, hàng năm mươi hay hàng chục người, và cũng lập các viên chức cho từng bộ tộc của anh em nữa.
Lúc bấy giờ tôi đã ra lệnh cho các thẩm phán của anh em rằng: ‘Hãy lắng nghe anh em mình và xét xử cách công minh, dù là giữa người Y-sơ-ra-ên với nhau, hay là giữa người Y-sơ-ra-ên với ngoại kiều sống giữa anh em cũng vậy.
Không được thiên vị trong khi xét xử: hãy lắng nghe kẻ nhỏ cũng như người lớn. Đừng sợ ai cả vì sự phán xét thuộc về Đức Chúa Trời. Gặp trường hợp khó xử cho anh em, hãy trình với tôi, tôi sẽ nghe.’
Như vậy, lúc đó tôi đã truyền cho anh em mọi điều anh em phải làm.
Sau đó, theo lệnh Giê-hô-va Đức Chúa Trời, chúng ta rời Hô-rếp đi về hướng đồi núi của người A-mô-rít, xuyên qua hoang mạc mênh mông khủng khiếp mà anh em đã thấy đó, rồi chúng ta đến Ca-đe Ba-nê-a.
Bấy giờ tôi có nói với anh em: ‘Anh em đã đến vùng đồi núi của người A-mô-rít, là đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta ban cho chúng ta.
Kìa, Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã ban đất nầy cho anh em. Hãy đi lên, tiếp nhận sản nghiệp, như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em đã phán với anh em. Đừng sợ hãi hay nản lòng.’
Nhưng tất cả anh em đã đến nói với tôi: ‘Chúng ta nên phái người đi trước chúng ta để do thám xứ và bảo cho chúng ta biết phải đi lên theo con đường nào và sẽ phải vào thành nào’.
Tôi thấy ý kiến nầy tốt nên đã chọn mười hai người trong anh em, mỗi bộ tộc một người.
Họ đã ra đi, và lên vùng đồi núi, rồi khi đến lòng sông cạn Ếch-côn, họ do thám xứ nầy.
Họ hái hoa quả xứ đó đem về cho chúng ta và báo với chúng ta: ‘Vùng đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho chúng ta thật là tốt đẹp.’
Nhưng anh em đã không muốn lên đó và chống lại mệnh lệnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời.
Anh em lằm bằm trong trại và nói: ‘Đức Giê-hô-va ghét chúng ta nên mới đem chúng ta ra khỏi Ai Cập và phó chúng ta vào tay dân A-mô-rít để tiêu diệt chúng ta.
Chúng ta sẽ đi đâu? Những anh em mà chúng ta sai đi do thám đã làm cho chúng ta nản lòng nhụt chí khi nói rằng: Dân đó lực lưỡng và cao lớn hơn chúng ta. Các thành thì rộng lớn, tường lũy thì cao tận trời. Ngoài ra chúng tôi còn thấy con cháu của dân A-na-kim ở đó nữa.’
Nhưng tôi đã bảo anh em: ‘Đừng khiếp đảm hay sợ hãi chúng nó.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em là Đấng đi trước anh em, chính Ngài sẽ chiến đấu cho anh em như Ngài đã từng làm trước mắt anh em tại Ai Cập.
Còn trong hoang mạc, là nơi anh em thấy Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã bồng ẵm anh em như một người cha bồng ẵm con qua từng chặng đường cho đến khi tới nơi nầy.’
Dù vậy, anh em vẫn không tin Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em
là Đấng đi trước anh em trên mọi nẻo đường để tìm nơi cho anh em hạ trại; ban đêm trong đám lửa, ban ngày trong đám mây để chỉ cho anh em con đường phải đi.
Khi Đức Giê-hô-va nghe lời lẽ của anh em thì nổi giận và thề rằng:
‘Không một ai thuộc thế hệ gian ác nầy được thấy xứ sở tốt đẹp mà Ta đã thề ban cho tổ phụ các ngươi,
ngoại trừ Ca-lép con trai của Giê-phu-nê. Người sẽ thấy xứ đó và Ta sẽ ban cho người và con cháu người đất mà người đã đặt chân lên, vì người đã trọn thành theo Đức Giê-hô-va.’
Cũng vì anh em mà Đức Giê-hô-va nổi giận với tôi và phán: ‘Con cũng sẽ không được vào đó.
Nhưng đầy tớ con là Giô-suê, con trai Nun sẽ được vào đó. Hãy khích lệ người, vì chính người sẽ lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên tiếp nhận đất nầy làm sản nghiệp.
Còn những con trẻ mà các con nghĩ rằng chúng sẽ trở thành chiến lợi phẩm cho giặc, và những con trai các con mà hôm nay chưa phân biệt điều thiện điều ác, chúng sẽ được vào xứ đó. Ta sẽ ban cho chúng xứ nầy làm sản nghiệp.
Nhưng các con hãy quay lại, đi vào hoang mạc, theo hướng Biển Đỏ.’
Lúc đó anh em đã trả lời tôi rằng: ‘Chúng tôi đã phạm tội với Đức Giê-hô-va; chúng tôi sẽ đi lên và chiến đấu như lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã phán dặn chúng tôi.’ Mỗi người trong anh em đều trang bị vũ khí và tưởng rằng đi lên núi là việc dễ dàng.
Đức Giê-hô-va đã phán với tôi: ‘Hãy bảo chúng: Đừng đi lên và chớ tham chiến vì Ta không ngự giữa các ngươi đâu; nếu lên đó, các ngươi sẽ bị quân thù đánh bại.’
Tôi đã thuật lại những lời nầy nhưng anh em không nghe tôi. Anh em chống lại mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va, bướng bỉnh kéo lên núi.
Bấy giờ, người A-mô-rít ở trong núi đã đổ ra tấn công anh em như ong đuổi và đánh anh em tan tác từ Sê-i-rơ cho đến Họt-ma.
Khi trở về anh em đã khóc lóc trước mặt Đức Giê-hô-va, nhưng Đức Giê-hô-va không nghe và cũng chẳng để ý đến tiếng khóc của anh em.
Vì thế mà chúng ta phải lưu lại Ca-đe nhiều ngày, ở đó trong một thời gian rất lâu.”
“Sau đó chúng ta quay lại, đi vào hoang mạc về hướng Biển Đỏ như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn tôi, và chúng ta đi lòng vòng khá lâu ngày chung quanh vùng đồi núi Sê-i-rơ.
Rồi Đức Giê-hô-va phán với tôi:
‘Dân chúng đi lòng vòng núi nầy đã lâu rồi, bây giờ hãy quay về hướng bắc.
Con hãy truyền lệnh nầy cho dân chúng: Các ngươi sắp đi ngang qua địa phận của anh em mình là con cháu Ê-sau, đang sống tại Sê-i-rơ. Chúng sẽ sợ các ngươi, nhưng các ngươi phải cẩn thận.
Đừng khiêu chiến với chúng vì Ta sẽ không cho các ngươi xứ của chúng, dù chỉ là một miếng đất bằng bàn chân. Ta đã ban cho Ê-sau núi Sê-i-rơ làm sản nghiệp rồi.
Các ngươi sẽ dùng tiền bạc mà mua lương thực của chúng để ăn, nước để uống.
Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã ban phước cho mọi công việc của tay các ngươi. Ngài biết hành trình xuyên qua hoang mạc mênh mông nầy của các ngươi. Trong bốn mươi năm qua, Giê-hô-va Đức Chúa Trời vẫn ở với các ngươi; các ngươi không thiếu thốn gì cả.’
Vậy chúng ta tránh đi ngang bờ cõi của anh em chúng ta là con cháu Ê-sau. Họ đang sống trong vùng đồi núi Sê-i-rơ. Chúng ta chuyển về hướng hoang mạc Mô-áp để tránh con đường xuyên qua vùng cao nguyên A-ra-ba, tránh xa con đường từ Ê-lát và Ê-xi-ôn Ghê-be đến Biển Chết.
Đức Giê-hô-va lại phán với tôi: ‘Đừng gây hấn hay khiêu chiến với dân Mô-áp là con cháu của Lót, vì Ta sẽ không cho con một phần nào trong đất của họ để làm sản nghiệp đâu. Ta đã ban A-rơ cho con cháu Lót làm sản nghiệp.’
(Trước kia người Ê-mim ở tại đó. Họ là một dân lớn, đông, cao to như người A-na-kim vậy.
Như người A-na-kim, họ cũng được xem là người Rê-pha-im, nhưng dân Mô-áp gọi họ là Ê-mim.
Dân Hô-rít lúc trước cũng ở tại Sê-i-rơ nhưng con cháu Ê-sau trục xuất họ, tiêu diệt và chiếm đoạt xứ sở họ, như Y-sơ-ra-ên đã làm tại xứ mà Đức Giê-hô-va đã ban cho họ làm sản nghiệp.)
‘Bây giờ hãy đứng dậy và vượt qua khe Xê-rết.’ Vậy chúng ta đã vượt qua khe Xê-rết.
Thời gian từ khi chúng ta rời Ca-đe Ba-nê-a đến khi vượt qua khe Xê-rết là ba mươi tám năm. Trong thời gian đó, các chiến binh thuộc thế hệ ấy đã bị tiêu diệt khỏi trại quân, như Đức Giê-hô-va đã thề với họ.
Thật, tay của Đức Giê-hô-va đã chống lại họ để tiêu diệt họ khỏi trại quân, cho đến khi không còn một ai cả.
Khi tất cả các chiến sĩ trong dân chúng đã chết
thì Đức Giê-hô-va phán với tôi:
‘Hôm nay con sẽ đi ngang qua lãnh thổ của dân Mô-áp, gần thành A-rơ.
Khi đến gần con cháu Am-môn, con chớ gây hấn hay tấn công chúng, vì Ta sẽ không ban đất của người Am-môn cho con làm sản nghiệp đâu. Ta đã ban đất đó cho con cháu Lót làm sản nghiệp rồi.’
(Đất nầy cũng được xem là đất của người Rê-pha-im. Trước kia người Rê-pha-im ở đó, dù người Am-môn gọi họ là Xam-xu-mim.
Họ là một dân lớn, đông, cao to như người A-na-kim. Nhưng Đức Giê-hô-va đã tiêu diệt họ trước mặt người Am-môn. Người Am-môn trục xuất dân ấy rồi vào ở thế chỗ họ.
Ngài cũng làm như vậy cho con cháu Ê-sau tại Sê-i-rơ khi Ngài tiêu diệt dân Hô-rít trước mặt con cháu Ê-sau. Con cháu Ê-sau cũng trục xuất dân ấy rồi vào ở thế chỗ họ cho đến ngày nay.
Còn người A-vim, trước kia ở trong các làng mạc xa tận Ga-xa, cũng bị dân Cáp-tô-rim, từ Cáp-tô đến, tiêu diệt và vào ở thế chỗ họ.)
‘Hãy đứng dậy, tiếp tục hành trình, vượt qua sông Ạt-nôn. Kìa, Ta đã phó Si-hôn, vua Hết-bôn là người A-mô-rít, và xứ sở người vào tay các con. Hãy bắt đầu chiếm đất và tranh chiến với vua ấy.
Chính hôm nay Ta bắt đầu làm cho các dân tộc trong thiên hạ kinh khiếp và sợ hãi các con. Khi nghe nói đến các con, các dân tộc đó sẽ run rẩy và khiếp đảm trước mặt các con.’”
“Vậy, từ hoang mạc Kê-đê-mốt tôi phái sứ giả đến gặp Si-hôn, vua Hết-bôn, dùng lời hòa dịu nói với vua ấy:
‘Xin cho tôi đi ngang qua đất của vua. Tôi sẽ chỉ đi trên đường cái, không quay qua bên phải hay bên trái.
Vua sẽ bán cho chúng tôi thức ăn, nước uống để đổi lấy bạc. Chỉ xin cho chúng tôi được đi ngang qua xứ của vua,
như con cháu Ê-sau ở Sê-i-rơ và dân Mô-áp ở A-rơ đã cho phép chúng tôi, cho đến khi chúng tôi vượt qua sông Giô-đanh để vào xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi ban cho chúng tôi.’
Nhưng Si-hôn, vua Hết-bôn, không muốn chúng ta đi ngang qua địa phận của vua ấy. Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã khiến cho tâm tính vua ấy ương ngạnh, lòng dạ cứng cỏi để phó vua ấy vào tay anh em như hôm nay anh em đã thấy.
Đức Giê-hô-va lại phán với tôi: ‘Nầy, từ nay Ta phó Si-hôn và xứ sở nó cho con. Hãy bắt đầu tiến chiếm đất nó làm sản nghiệp.’
Si-hôn đem toàn dân ra nghênh chiến với chúng ta tại Gia-hát.
Nhưng Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã phó Si-hôn cho chúng ta, và chúng ta đã đánh bại vua ấy, cùng các con trai và tất cả dân chúng của vua.
Bấy giờ chúng ta chiếm tất cả các thành và tiêu diệt cả đàn ông, đàn bà lẫn con trẻ, không để một ai sống sót.
Chúng ta chỉ giữ lại cho mình gia súc và các chiến lợi phẩm cướp được từ các thành vừa chiếm đoạt.
Từ A-rô-e trên bờ sông Ạt-nôn, và từ thành trong thung lũng đến tận Ga-la-át không có một thành nào quá kiên cố đối với chúng ta. Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã phó mọi thứ cho chúng ta rồi.
Tuy nhiên, chúng ta không được đụng đến đất đai của con cháu Am-môn nằm dọc suốt sông Gia-bốc và các thành trên vùng đồi núi hoặc những chỗ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã cấm chúng ta.”
“Khi chúng ta chuyển sang con đường đi lên Ba-san thì Óc, vua Ba-san, đem toàn quân ra nghênh chiến với chúng ta tại Ếch-rê-i.
Đức Giê-hô-va phán với tôi: ‘Đừng sợ vua ấy vì Ta đã phó cả vua cùng dân chúng và lãnh thổ vua ấy vào tay con. Con sẽ xử vua ấy như đã xử Si-hôn, vua A-mô-rít, ở Hết-bôn.’
Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta cũng đã phó vào tay chúng ta Óc, vua Ba-san, và toàn quân của vua. Chúng ta đã đánh vua ấy tan tác cho đến khi không còn một người sống sót.
Lúc đó, chúng ta đánh chiếm tất cả các thành của vua, không có thành nào mà chúng ta không chiếm. Tổng cộng là sáu mươi thành và toàn miền Ạt-gốp, là vương quốc của Óc trong xứ Ba san.
Tất cả các thành nầy đều kiên cố, có tường cao, cổng đóng then cài. Ngoài ra cũng có rất nhiều làng mạc không có thành chung quanh.
Chúng ta đã tận diệt các thành nầy như chúng ta đã làm cho Si-hôn, vua Hết-bôn, tức là tiêu diệt tất cả các thành, cả đàn ông, đàn bà lẫn trẻ con.
Nhưng chúng ta giữ lại cho mình tất cả súc vật và chiến lợi phẩm từ các thành.
Vậy, vào thời đó chúng ta đã chiếm của hai vua A-mô-rít vùng đất ở phía đông sông Giô-đanh, từ sông Ạt-nôn đến núi Hẹt-môn.
(Người Si-đôn gọi núi Hẹt-môn là Si-ri-ôn, còn người A-mô-rít đặt tên là Sê-ni-rơ.)
Chúng ta cũng chiếm các thành của đồng bằng, toàn vùng Ga-la-át và Ba-san, cho đến Sanh-ca và Ết-rê-i, là hai thành của vương quốc Óc, trong Ba-san.
(Chỉ có Óc, vua Ba-san, người Rê-pha-im, còn sống sót. Giường của vua ấy làm bằng sắt chẳng phải vẫn còn tại thành Ráp-ba của con cháu Am-môn đó sao? Giường nầy dài hơn bốn mét, rộng một mét tám.)
Lúc chúng ta chiếm xứ nầy làm sản nghiệp, tôi giao cho người Ru-bên và người Gát vùng đất từ phía bắc thành A-rô-e, bên bờ sông Ạt-nôn, đến một nửa vùng đồi núi Ga-la-át cùng các thành của nó.
Tôi giao phần còn lại của núi Ga-la-át và toàn vùng Ba-san là vương quốc của Óc cho một nửa bộ tộc Ma-na-se. (Toàn vùng Ạt-gốp và cả vùng Ba-san thường được gọi là xứ Rê-pha-im.
Giai-rơ thuộc bộ tộc Ma-na-se đã chiếm toàn vùng Ạt-gốp cho đến biên giới người Ghê-ru-sít và Ma-ca-thít, và lấy tên mình đặt cho các làng mạc Ba-san, tức là làng Giai-rơ, cho đến ngày nay.)
Tôi cũng giao cho Ma-ki xứ Ga-la-át.
Còn bộ tộc Ru-bên và Gát thì tôi giao phần đất từ Ga-la-át cho đến sông Ạt-nôn, lấy giữa sông làm ranh giới, và chạy đến sông Gia-bốc, là ranh giới của con cháu Am-môn.
Về phía tây, lãnh thổ của ba bộ tộc chạy dài đến vùng cao nguyên A-ra-ba, lấy sông Giô-đanh làm ranh giới, từ hồ Ga-li-lê đến biển A-ra-ba, tức là Biển Chết dưới sườn núi Phích-ga về phía đông.
Lúc đó tôi có truyền lệnh nầy cho anh em: ‘Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã phó xứ nầy cho anh em làm sản nghiệp. Tất cả những dũng sĩ trong anh em phải cầm vũ khí đi qua trước anh em mình là con dân Y-sơ-ra-ên.
Chỉ vợ con và súc vật của anh em sẽ ở lại trong các thành mà tôi đã giao cho anh em (vì tôi biết anh em có nhiều súc vật).
Khi nào Đức Giê-hô-va ban cho các anh em của anh em được an cư lạc nghiệp như chính mình, tức là khi họ nhận được xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho họ tại phía tây sông Giô-đanh, thì bấy giờ anh em mới trở về phần sản nghiệp mà tôi đã giao cho anh em.’
Đang lúc ấy tôi cũng truyền lệnh nầy cho Giô-suê: ‘Anh đã thấy tận mắt mọi việc Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã làm cho hai vua nầy. Đức Giê-hô-va sẽ làm như vậy với các vương quốc mà anh sẽ đi qua.
Đừng sợ chúng vì chính Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em sẽ chiến đấu cho anh em.’
Lúc ấy tôi cầu khẩn Đức Giê-hô-va rằng:
‘Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời, Ngài đã bắt đầu cho đầy tớ Ngài thấy sự oai nghiêm và cánh tay quyền năng của Ngài. Vì có thần nào trên trời dưới đất có thể làm được những công việc và hành động quyền năng như Ngài không?
Con xin Chúa cho con được phép đi qua và ngắm nhìn miền đất tốt tươi, vùng núi đồi xinh đẹp và dãy Li-ban ở bên kia sông Giô-đanh.’
Nhưng vì anh em mà Đức Giê-hô-va nổi giận cùng tôi và không nhậm lời tôi. Ngài phán với tôi: ‘Đủ rồi! Con đừng bao giờ nói với Ta về chuyện nầy nữa!
Hãy lên đỉnh Phích-ga, ngước mắt về hướng tây, hướng bắc, hướng nam và hướng đông mà nhìn ngắm xứ ấy, vì con sẽ không được đi qua sông Giô-đanh nầy.
Nhưng con hãy truyền lệnh cho Giô-suê, khích lệ và củng cố tinh thần Giô-suê vì chính người phải đi qua trước mặt dân nầy và dẫn họ vào nhận làm sản nghiệp xứ mà con sẽ thấy.’
Vì vậy, chúng ta đã ở lại trong thung lũng đối diện với Bết Phê-ô.”
“Hỡi Y-sơ-ra-ên, bây giờ hãy nghe những mệnh lệnh và luật lệ mà tôi dạy anh em đây. Hãy tuân giữ những điều ấy để anh em được sống mà vào nhận xứ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em ban cho anh em làm sản nghiệp.
Anh em đừng thêm, đừng bớt điều gì mà tôi truyền cho anh em, nhưng phải giữ các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mà tôi đã truyền cho anh em.
Mắt anh em đã thấy điều Đức Giê-hô-va làm trong vụ Ba-anh Phê-ô khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời trừ diệt khỏi anh em những kẻ theo Ba-anh Phê-ô.
Nhưng anh em là những người vẫn trung kiên với Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, thì vẫn sống cho đến ngày nay.
Nầy, tôi đã dạy cho anh em những mệnh lệnh và luật lệ đúng như Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi đã phán dặn tôi, để anh em tuân giữ khi ở trong xứ mà mình sẽ vào nhận làm sản nghiệp.
Vậy, anh em phải giữ và thực hành các mệnh lệnh và luật lệ nầy, vì nhờ vậy mà các dân tộc sẽ thấy sự khôn ngoan và hiểu biết của anh em. Khi nghe về các mệnh lệnh nầy họ sẽ nói: ‘Chỉ có dân tộc vĩ đại nầy mới thực sự là một dân tộc khôn ngoan và hiểu biết!’
Vì có dân tộc vĩ đại nào có được một vị thần ở gần như chúng ta có Giê-hô-va Đức Chúa Trời ở gần chúng ta mỗi khi chúng ta cầu khẩn Ngài không?
Có dân tộc vĩ đại nào có được những mệnh lệnh và luật lệ công minh như toàn bộ luật pháp mà ngày nay tôi đặt trước mặt anh em không?
Anh em hãy thận trọng và canh giữ cẩn mật linh hồn mình, đừng quên những điều chính mắt anh em đã thấy, và suốt đời đừng để những điều đó lìa khỏi lòng anh em. Trái lại, phải dạy cho con và cháu anh em biết điều đó.
Hãy nhớ ngày anh em đứng trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời tại Hô-rếp khi Đức Giê-hô-va phán với tôi: ‘Hãy tập trung dân chúng lại. Ta sẽ cho họ nghe lời Ta để đang khi còn sống trên thế gian, họ học tập kính sợ Ta và biết dạy lại lời đó cho con cái mình.’
Rồi anh em đến gần và đứng dưới chân núi, trong khi trên núi thì lửa bốc cháy cao đến tận trời, mây đen mù mịt, bóng tối bao trùm.
Từ trong đám lửa Đức Giê-hô-va phán với anh em. Anh em nghe tiếng nói nhưng không thấy một hình dạng nào cả, chỉ có tiếng nói thôi.
Ngài công bố cho anh em giao ước mà Ngài truyền cho anh em phải tuân giữ, tức là Mười Điều Răn mà Ngài đã viết trên hai bảng đá.
Trong lúc đó, Đức Giê-hô-va cũng truyền dặn tôi phải dạy anh em những mệnh lệnh và luật lệ để anh em làm theo tại xứ mà anh em sẽ vào nhận làm sản nghiệp.”
“Anh em phải thận trọng và canh giữ cẩn mật linh hồn mình vì anh em không thấy một hình dạng nào trong ngày Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán với anh em từ giữa đám lửa tại Hô-rếp.
Vì thế, anh em đừng hành động một cách bại hoại khi chạm cho mình một hình tượng mang hình ảnh của bất cứ hình dạng nào giống như người nam hay người nữ,
hoặc hình của thú vật dưới đất, hoặc hình của chim chóc trên trời,
hoặc hình côn trùng bò trên mặt đất, hay là hình cá lội trong nước sâu.
Khi anh em ngước mắt lên trời thấy mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, toàn thể thiên binh thì đừng để bị lôi cuốn mà quỳ lạy hay phụng thờ chúng, vì đó chỉ là những vật mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã phân chia cho mọi dân thiên hạ.
Còn anh em, Đức Giê-hô-va đã chọn và đem anh em ra khỏi lò luyện sắt kia, tức là Ai Cập, để anh em trở nên một dân riêng của Ngài, sản nghiệp của Ngài, như anh em đang có ngày nay.
Vì anh em mà Đức Giê-hô-va nổi giận cùng tôi và Ngài đã thề là tôi sẽ không được vượt qua sông Giô-đanh và không được vào xứ tốt đẹp mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em làm sản nghiệp.
Tôi phải chết trong xứ nầy, không được vượt qua sông Giô-đanh, nhưng anh em sẽ đi qua và nhận lấy xứ tốt đẹp ấy làm sản nghiệp.
Phải cẩn thận đừng quên giao ước mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã lập với anh em. Chớ làm cho mình một hình tượng mang hình ảnh của bất cứ vật gì mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã cấm anh em.
Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em là một đám lửa thiêu đốt và là Đức Chúa Trời kỵ tà.
Khi anh em đã sinh con đẻ cháu và sống lâu trong xứ, nếu anh em còn hành động một cách bại hoại như làm hình tượng mang hình dạng của bất cứ vật gì, hoặc làm điều ác dưới mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em để chọc Ngài nổi giận,
thì hôm nay tôi xin đất trời chứng giám rằng anh em sẽ nhanh chóng bị diệt sạch khỏi xứ mà anh em sắp nhận làm sản nghiệp bên kia sông Giô-đanh; anh em sẽ không được ở đó lâu dài nhưng sẽ bị tận diệt.
Đức Giê-hô-va sẽ phân tán anh em giữa các dân tộc, chỉ một số ít còn lại trong các nước mà Đức Giê-hô-va sẽ đẩy anh em đến.
Tại đó, anh em sẽ thờ cúng những thần bằng gỗ và bằng đá, là công việc của tay loài người làm ra, nên chẳng thấy, chẳng nghe, chẳng ăn cũng chẳng ngửi.
Nhưng cũng từ trong hoàn cảnh đó anh em sẽ tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời, và khi nào anh em hết lòng, hết linh hồn tìm kiếm Ngài thì sẽ gặp Ngài.
Khi ở trong cảnh gian truân, và khi tất cả những điều nầy xảy đến cho anh em rồi, trong những ngày cuối cùng anh em sẽ trở lại với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em và vâng theo tiếng Ngài.
Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em là Đức Chúa Trời đầy lòng thương xót; Ngài sẽ không bỏ anh em, không tiêu diệt anh em, cũng không quên giao ước mà Ngài đã thề với tổ phụ anh em.”
“Vậy, anh em hãy suy nghĩ về những ngày xa xưa, thời kỳ trước anh em, từ ngày Đức Chúa Trời tạo dựng loài người trên đất; hãy suy nghĩ xem từ chân trời nầy đến cuối trời kia, có bao giờ xảy ra việc vĩ đại như thế chưa, hay đã từng nghe việc gì tương tự như vậy không?
Có dân tộc nào nghe tiếng một vị thần phán từ trong đám lửa, như anh em đã nghe, mà vẫn còn sống không?
Hoặc có thần nào bỏ công đi chọn cho mình một dân tộc từ giữa một dân tộc khác bằng những thử thách, bằng dấu lạ phép mầu, bằng chiến tranh, bằng cánh tay uy quyền dang rộng, bằng những việc kinh thiên động địa, như những gì Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã làm cho anh em tại Ai Cập ngay trước mắt anh em không?
Anh em đã chứng kiến những việc đó để anh em nhận biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, ngoài Ngài không có chúa nào khác.
Từ trời, Ngài cho anh em nghe tiếng Ngài để dạy dỗ anh em. Trên đất, Ngài cho anh em thấy đám lửa lớn của Ngài, và từ trong đám lửa anh em nghe tiếng phán của Ngài.
Vì Ngài yêu thương các tổ phụ của anh em nên đã chọn dòng dõi họ, và đích thân Ngài dùng quyền năng vô hạn của Ngài, đem anh em ra khỏi Ai Cập,
đánh đuổi trước mặt anh em những dân tộc lớn hơn và mạnh hơn anh em, để đem anh em vào đó, ban đất đai của họ cho anh em làm sản nghiệp như điều anh em có ngày nay.
Vậy ngày nay anh em phải biết và ghi lòng tạc dạ rằng trên trời cao kia hoặc nơi đất thấp nầy, Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, chẳng có chúa nào khác.
Hãy giữ những luật lệ và điều răn của Ngài mà hôm nay tôi truyền cho anh em để anh em và con cháu anh em về sau được phước, và được ở lâu dài trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời vĩnh viễn ban cho anh em.”
Môi-se để riêng ra ba thành ở phía đông sông Giô-đanh
để làm nơi ẩn náu cho kẻ sát nhân vô ý giết người lân cận mà trước đó không hề thù ghét. Người đó có thể trốn và ẩn náu vào một trong các thành nầy và sẽ được sống.
Đó là thành Bết-se trong hoang mạc, trên cao nguyên, dành cho người Ru-bên; thành Ra-mốt trong Ga-la-át dành cho người Gát; và thành Gô-lan thuộc Ba-san dành cho người Ma-na-se.
Đây là luật pháp mà Môi-se đặt trước mặt con dân Y-sơ-ra-ên:
Đó là những quy tắc, mệnh lệnh và luật lệ mà Môi-se đã truyền cho dân Y-sơ-ra-ên khi họ ra khỏi Ai Cập,
lúc họ còn ở bên kia sông Giô-đanh, trong thung lũng đối diện Bết Phê-ô. Đất nầy thuộc Si-hôn, vua dân A-mô-rít, người đã trị vì tại Hết-bôn và bị Môi-se cùng dân Y-sơ-ra-ên đánh bại khi họ ra khỏi Ai Cập.
Dân Y-sơ-ra-ên đã chiếm hữu xứ sở của vua ấy cũng như xứ sở của Óc, vua Ba-san. Đó là hai vua A-mô-rít sống ở bên kia sông Giô-đanh, về hướng mặt trời mọc.
Vùng nầy kéo dài từ A-rô-e, trên bờ sông Ạt-nôn cho đến núi Si-ri-ôn, tức là Hẹt-môn,
gồm cả vùng cao nguyên A-ra-ba bên kia sông Giô-đanh, về phía đông, cho đến Biển Chết, dưới chân núi Phích-ga.
Môi-se triệu tập toàn dân Y-sơ-ra-ên lại và nói: “Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe những luật lệ và mệnh lệnh mà ngày nay tôi rao truyền vào tai anh em; anh em phải học tập và cẩn thận làm theo những điều đó.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã lập giao ước với chúng ta tại núi Hô-rếp.
Không phải Đức Giê-hô-va lập giao ước nầy với tổ phụ chúng ta mà với chúng ta, là tất cả những người hôm nay đang còn sống tại đây.
Từ trong đám lửa trên núi, Đức Giê-hô-va đã phán mặt đối mặt với anh em.
Lúc đó, tôi đứng giữa Đức Giê-hô-va và anh em để truyền đạt lời của Ngài cho anh em vì anh em thấy lửa và sợ, không đi lên núi. Ngài phán:
‘Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, Đấng đã đem con ra khỏi đất Ai Cập là nhà nô lệ.
Ngoài Ta, con không được thờ phượng thần nào khác.
Con không được làm cho mình một hình tượng nào theo hình dạng của những vật trên trời cao kia, hoặc nơi đất thấp nầy, hoặc trong nước sâu.
Con không được quỳ lạy trước các hình tượng đó hay phụng thờ chúng, vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, là Đức Chúa Trời kỵ tà. Đối với những kẻ ghét Ta, Ta sẽ vì tội đó của tổ tiên mà trừng phạt con cháu họ đến ba bốn thế hệ.
Nhưng Ta sẽ làm ơn đến hàng nghìn thế hệ cho những người yêu mến Ta và vâng giữ các điều răn Ta.
Con không được lạm dụng danh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, vì Đức Giê-hô-va sẽ không dung tha kẻ lạm dụng danh Ngài.
Hãy giữ ngày nghỉ để làm nên ngày thánh như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con đã truyền dạy.
Con phải làm tất cả công việc mình trong sáu ngày,
nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ dành cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con. Trong ngày đó, con, con trai con gái, tôi trai tớ gái, bò lừa hay bất cứ súc vật nào của con, cả đến ngoại kiều ở trong thành của con đều không được làm việc, để cho tôi trai tớ gái của con cũng được nghỉ như con.
Hãy nhớ rằng con đã làm nô lệ trong xứ Ai Cập, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con đã dang cánh tay đầy quyền năng đem con ra khỏi đó. Vì vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con đã truyền dạy con phải giữ ngày nghỉ.
Hãy hiếu kính cha mẹ của con, như Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã truyền dạy, để con được sống lâu và hưởng phước trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con ban cho con.
Con không được giết người.
Con không được phạm tội tà dâm.
Con không được trộm cắp.
Con không được làm chứng dối hại người lân cận mình.
Con không được tham muốn vợ của người lân cận, cũng không được tham muốn nhà cửa, đồng ruộng, tôi trai tớ gái, bò, lừa hay bất cứ vật gì thuộc về người lân cận của con.’
Đó là những lời mà từ trên núi Đức Giê-hô-va đã dùng tiếng lớn truyền phán với toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên qua đám lửa, giữa đám mây đen mù mịt. Ngài không thêm điều gì khác nhưng Ngài viết những lời đó trên hai bảng đá và trao cho tôi.
Khi nghe tiếng phát ra từ giữa bóng tối và núi đang bốc lửa thì anh em cùng tất cả các trưởng bộ tộc, các trưởng lão của anh em, đến gần tôi và nói:
‘Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi đã cho chúng tôi thấy vinh quang và sự oai nghiêm Ngài, và chúng tôi đã nghe tiếng Ngài phán từ trong đám lửa. Hôm nay, chúng tôi đã thấy rằng Đức Chúa Trời phán với loài người mà loài người vẫn còn sống.
Nhưng bây giờ tại sao chúng tôi phải gặp nguy cơ bị đám lửa lớn nầy thiêu rụi? Nếu cứ tiếp tục nghe tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, thì chúng tôi chết mất.
Vì có người phàm nào nghe tiếng Đức Chúa Trời hằng sống phán ra từ giữa đám lửa như chúng tôi mà còn sống không?
Vậy, xin ông đến gần và lắng nghe mọi điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi phán dạy, rồi truyền lại cho chúng tôi mọi điều Ngài phán bảo ông. Chúng tôi sẽ nghe và làm theo.’
Đức Giê-hô-va nghe những lời anh em nói với tôi nên Ngài phán với tôi: ‘Ta đã nghe những lời dân nầy nói với con. Những gì họ nói với con là đúng.
Nếu như dân nầy luôn có lòng kính sợ Ta, thường xuyên vâng giữ các điều răn Ta, thì họ và con cháu họ sẽ được phước đời đời!
Con hãy đi nói với dân chúng trở về trại đi.
Nhưng con hãy ở lại đây với Ta, Ta sẽ truyền cho con các điều răn, luật lệ và mệnh lệnh mà con sẽ dạy lại cho dân chúng để họ thực hành trong xứ mà Ta sẽ ban cho họ làm cơ nghiệp.’
Vậy, anh em phải cẩn thận thực hành mọi việc đúng như Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã truyền dạy; anh em không được xây qua bên phải hoặc bên trái.
Nhưng phải đi đúng đường lối mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã truyền dạy để anh em được sống, hưởng phước hạnh và được trường thọ trong xứ mà anh em sẽ nhận làm sản nghiệp.”
“Đây là điều răn, luật lệ và mệnh lệnh mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã ra lệnh cho tôi phải dạy lại cho anh em, để anh em tuân giữ khi ở trong xứ mà anh em sắp tiến vào nhận làm sản nghiệp.
Nhờ vậy, anh em, con cháu anh em sẽ trọn đời kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời, vâng giữ các luật lệ và điều răn của Ngài mà tôi truyền cho anh em, để anh em được sống lâu.
Vậy, hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe và cẩn thận làm theo để anh em được phước và gia tăng thật đông đảo trong miền đất đượm sữa và mật, như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em đã phán hứa với anh em.
Hỡi Y-sơ-ra-ên! Hãy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai.
Anh em phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực mà kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời.
Hãy ghi lòng tạc dạ những lời mà tôi truyền cho anh em ngày nay.
Hãy ân cần dạy dỗ điều đó cho con cái anh em, và phải nhắc đến khi anh em ngồi trong nhà cũng như lúc ra ngoài đường, khi anh em đi ngủ cũng như lúc thức dậy.
Hãy buộc những lời ấy vào tay làm dấu, đeo lên trán làm hiệu,
và viết các lời đó lên khung cửa nhà và trước cổng.
Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã đưa anh em vào xứ mà Ngài đã thề với tổ phụ anh em là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, để ban cho anh em những thành lớn và tốt đẹp mà anh em đã không xây cất,
những căn nhà đầy đủ mọi vật tốt mà anh em không sắm sửa, những giếng nước mà anh em không phải đào, cây nho và cây ô-liu mà anh em không trồng; khi anh em được ăn uống no nê,
thì phải cẩn thận kẻo anh em quên Đức Giê-hô-va là Đấng đã đem anh em ra khỏi Ai Cập, tức khỏi nhà nô lệ.
Anh em phải kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời, phụng sự Ngài và nhân danh Ngài mà thề nguyện.
Không được theo các thần khác, bất cứ thần nào trong các thần của những dân tộc ở chung quanh anh em,
vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời, Đấng ngự giữa anh em, là Đức Chúa Trời kỵ tà. Hãy cẩn thận kẻo Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ nổi thịnh nộ với anh em và tiêu diệt anh em khỏi mặt đất.
Anh em đừng thách thức Giê-hô-va Đức Chúa Trời như anh em đã thách thức Ngài tại Ma-sa.
Phải cẩn thận tuân giữ những điều răn, chứng cớ và luật lệ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã truyền cho anh em.
Anh em phải làm điều ngay thẳng và tốt đẹp dưới mắt Đức Giê-hô-va để anh em được phước và vào nhận làm sản nghiệp vùng đất tốt tươi mà Đức Giê-hô-va đã thề hứa với tổ phụ anh em.
Đức Giê-hô-va cũng sẽ đánh đuổi mọi kẻ thù khỏi anh em như Ngài đã phán.
Sau nầy, khi con cái anh em hỏi: ‘Các quy tắc, luật lệ và mệnh lệnh nầy là gì mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời lại truyền dạy cho cha?’
thì anh em hãy trả lời: ‘Ngày xưa chúng ta là nô lệ của Pha-ra-ôn tại Ai Cập, nhưng Đức Giê-hô-va đã dùng tay quyền uy đem chúng ta ra khỏi xứ ấy.
Đức Giê-hô-va đã làm trước mắt chúng ta những dấu lạ phép mầu rất lớn lao và đáng sợ để trừng phạt xứ Ai Cập, Pha-ra-ôn và cả hoàng tộc.
Ngài đã đem chúng ta ra khỏi xứ ấy, dẫn chúng ta vào và ban cho chúng ta xứ mà Ngài đã thề hứa với tổ phụ chúng ta.
Đức Giê-hô-va đã truyền dạy chúng ta phải tuân giữ các luật lệ nầy và kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời để chúng ta luôn luôn được phước và được Ngài bảo tồn sự sống, như ngày nay chúng ta đang có.
Nếu chúng ta cẩn thận tuân giữ mọi điều răn nầy trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, như Ngài đã truyền dạy, thì chúng ta sẽ được kể là công chính.’”
“Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã đưa anh em vào xứ mà anh em sắp tiếp nhận làm sản nghiệp, Ngài sẽ đuổi khỏi anh em nhiều dân tộc như người Hê-tít, Ghi-rê-ga-sít, A-mô-rít, Ca-na-an, Phê-rê-sít, Hê-vít và Giê-bu-sít, là bảy dân tộc mạnh hơn và đông hơn anh em.
Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã phó các dân ấy cho anh em và anh em đã đánh bại chúng, thì phải tận diệt chúng, không được lập giao ước với chúng và cũng đừng thương xót chúng.
Không được kết thông gia với chúng, không gả con gái cho con trai chúng và cũng đừng cưới con gái chúng cho con trai anh em,
vì chúng sẽ làm cho con cái anh em lìa bỏ Chúa mà phục vụ các thần khác, làm cho Đức Giê-hô-va nổi thịnh nộ với anh em và nhanh chóng tiêu diệt anh em.
Nhưng với các dân tộc ấy anh em phải xử thế nầy: đập vỡ các bàn thờ, nghiền nát các trụ thờ, triệt hạ các tượng A-sê-ra, và đốt những hình chạm của chúng.
Vì anh em là một dân thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Trong muôn dân trên mặt đất, Ngài đã chọn anh em để làm dân Ngài, một sản nghiệp riêng của Ngài.
Đức Giê-hô-va tỏ lòng yêu mến và chọn lựa anh em không phải vì anh em đông hơn mọi dân khác, thật ra anh em là dân tộc ít nhất trong các dân tộc.
Nhưng vì yêu thương anh em và để giữ lời thề hứa với tổ phụ anh em mà Đức Giê-hô-va đã dùng tay quyền uy đưa anh em ra, cứu chuộc anh em khỏi nhà nô lệ và khỏi tay Pha-ra-ôn, vua Ai Cập.
Vì vậy, anh em phải nhận biết rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em là Đức Chúa Trời, tức là Đức Chúa Trời thành tín, Đấng gìn giữ giao ước và lòng nhân từ đến hàng nghìn thế hệ cho những người yêu mến Ngài và tuân giữ các điều răn Ngài.
Nhưng với những kẻ ghét Ngài, thì Ngài báo ứng nhãn tiền bằng cách tiêu diệt chúng. Ngài không trì hoãn nhưng báo ứng nhãn tiền những kẻ ghét Ngài.
Vậy, anh em hãy tuân giữ các điều răn, luật lệ và mệnh lệnh mà hôm nay tôi truyền cho anh em.
Nếu anh em đã nghe các luật lệ nầy, gìn giữ và làm theo, thì đối với anh em, Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ giữ lời giao ước và lòng nhân từ mà Ngài đã thề với tổ phụ anh em.
Ngài sẽ yêu thương anh em, ban phước cho anh em, làm cho dân số anh em gia tăng. Ngài cũng ban phước cho dòng dõi anh em, cho thổ sản anh em, cho ngũ cốc, rượu và dầu của anh em, cho đàn bò và đàn lừa của anh em gia tăng, trên vùng đất mà Ngài đã thề với tổ phụ anh em là sẽ ban cho anh em.
Anh em sẽ được phước hơn mọi dân; giữa anh em sẽ không có người nam hay nữ nào bị hiếm muộn, hoặc súc vật nào của anh em mất khả năng sinh sản.
Đức Giê-hô-va sẽ đẩy các tật bệnh lìa xa anh em. Ngài không giáng trên anh em những dịch bệnh hiểm nghèo của Ai Cập mà anh em đã từng biết, nhưng sẽ giáng trên những kẻ nào thù ghét anh em.
Vậy anh em phải tiêu diệt các dân tộc mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã phó cho anh em, đừng để mắt đoái thương chúng, cũng không được phục vụ các thần của chúng, vì đó sẽ là một cái bẫy cho anh em.
Có thể trong lòng anh em đang bảo rằng: ‘Các dân tộc nầy đông hơn ta, làm sao ta đánh đuổi được chúng?’
Nhưng anh em đừng sợ. Hãy nhớ lại những gì Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã làm cho Pha-ra-ôn và cả xứ Ai Cập.
Chính mắt anh em đã thấy Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã dùng những thử thách lớn lao, những dấu lạ phép mầu, dang rộng cánh tay quyền uy để đem anh em ra khỏi Ai Cập. Giê-hô-va Đức Chúa Trời cũng sẽ làm như vậy với các dân tộc mà anh em đang sợ hãi đó.
Ngoài ra, Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ sai cả ong lỗ đến đánh chúng cho đến khi những kẻ sống sót và đang chạy trốn anh em đều bị tiêu diệt.
Đừng sợ hãi các dân ấy, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời đang ngự giữa anh em là Đức Chúa Trời vĩ đại và đáng kính sợ.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ dần dần đánh đuổi các dân tộc ấy khỏi anh em. Anh em không thể tiêu diệt chúng ngay tức khắc được, vì nếu vậy thì thú rừng sẽ sinh sôi nẩy nở, tác hại đến anh em.
Tuy nhiên, Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ phó chúng vào tay anh em, và sẽ làm cho chúng rơi vào tình trạng hoảng loạn kinh khiếp cho đến khi chúng bị tiêu diệt.
Ngài sẽ phó vua của các dân ấy vào tay anh em và anh em phải xóa tên các vua đó khỏi thiên hạ. Sẽ không còn một ai chống cự anh em, tất cả sẽ bị anh em tiêu diệt.
Anh em phải thiêu hủy hình tượng các thần của chúng. Đừng tham muốn rồi lấy cho mình bạc hay vàng trên các tượng ấy kẻo anh em bị mắc bẫy, vì đó là thứ ghê tởm đối với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.
Không được đem thứ ghê tởm ấy về nhà vì anh em cũng sẽ bị rủa sả như nó. Anh em phải kinh tởm và ghét cay ghét đắng nó vì đó là vật đáng bị tiêu diệt.”
“Anh em hãy cẩn thận làm theo tất cả điều răn mà hôm nay tôi truyền cho anh em để anh em được sống, gia tăng dân số, và vào nhận làm sản nghiệp vùng đất mà Đức Giê-hô-va đã thề với tổ phụ anh em.
Hãy nhớ lại suốt chặng đường trong hoang mạc mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã dẫn anh em đi trong bốn mươi năm nay, Ngài hạ anh em xuống và thử thách anh em để biết rõ lòng anh em thế nào, có tuân giữ điều răn của Ngài hay không.
Ngài hạ anh em xuống, khiến anh em gặp cảnh đói khổ rồi cho anh em ăn ma-na mà anh em và tổ phụ anh em chưa từng biết, để dạy anh em biết rằng loài người sống không chỉ nhờ bánh, nhưng nhờ mọi lời phán từ miệng Đức Giê-hô-va.
Suốt bốn mươi năm nay áo quần anh em không sờn rách, chân anh em chẳng sưng phù.
Vậy, anh em phải nhận biết trong lòng rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời sửa phạt anh em như người cha sửa phạt con trai mình.
Vậy, anh em hãy tuân giữ những điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, đi trong các đường lối Ngài và kính sợ Ngài.
Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ đưa anh em vào một vùng đất tốt tươi, có nhiều sông suối và mạch nước tuôn chảy trong các thung lũng và trên đồi núi;
vùng đất có lúa mì, lúa mạch, cây nho, cây vả, cây lựu, cây ô-liu và mật ong.
Trong vùng đất đó, anh em sẽ ăn bánh đầy đủ, không thiếu một thứ gì; đá trong vùng đó có quặng sắt và anh em có thể khai thác đồng từ đồi núi.
Vậy, khi anh em được ăn no nê thì nhớ chúc tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời, vì Ngài đã ban cho anh em vùng đất tốt tươi nầy.
Hãy cẩn thận kẻo anh em quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời, không tuân giữ những điều răn, mệnh lệnh và luật lệ của Ngài mà ngày nay tôi truyền lại cho anh em.
Đừng để sau khi đã ăn no nê, xây nhà tốt để ở,
thấy bò chiên gia tăng, bạc vàng và mọi tài sản mình đều dư dật,
thì lòng anh em kiêu ngạo, quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời là Đấng đã đem anh em ra khỏi Ai Cập, tức khỏi nhà nô lệ.
Ngài đã dẫn anh em đi xuyên qua hoang mạc mênh mông khủng khiếp, vùng đất khô cằn không có nước, đầy rắn lửa và bọ cạp. Ngài khiến nước từ tảng đá rất cứng tuôn ra cho anh em.
Trong hoang mạc Ngài cho anh em ăn ma-na, thức ăn mà tổ phụ anh em chưa từng biết, cho anh em nếm trải đói khổ và thử thách để cuối cùng ban phước hạnh cho anh em.
Vậy, phải cẩn thận, đừng tự bảo rằng: ‘Chính năng lực và sức mạnh của đôi tay ta đã tạo dựng cho ta cơ đồ nầy.’
Nhưng phải tưởng nhớ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, vì chính Ngài là Đấng ban cho anh em sức lực tạo dựng cơ đồ nầy, để thực hiện giao ước mà Ngài đã thề với tổ phụ anh em, như Ngài đang làm ngày nay.
Nếu anh em quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em mà theo các thần khác, phục vụ và thờ lạy chúng, thì hôm nay tôi cảnh báo anh em rằng chắc chắn anh em sẽ bị diệt vong.
Anh em sẽ bị tiêu diệt như các dân tộc mà Đức Giê-hô-va tiêu diệt trước mặt anh em, vì anh em đã không vâng theo tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.”
“Hỡi Y-sơ-ra-ên hãy nghe! Hôm nay anh em sẽ vượt qua sông Giô-đanh để đánh đuổi các dân tộc đông hơn và mạnh hơn anh em, có những thành lớn và tường lũy cao ngất trời.
Đây là giống dân khổng lồ, con cháu A-na-kim, mà anh em đã biết và đã nghe nói: ‘Ai có thể đương đầu với con cháu A-nác?’
Hôm nay, anh em phải biết rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em sẽ đi trước anh em như một đám lửa hừng, sẽ tiêu diệt và hạ các dân nầy xuống trước mặt anh em. Anh em sẽ nhanh chóng trục xuất và tiêu diệt chúng, như Đức Giê-hô-va đã hứa.
Nhưng khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã đánh đuổi chúng trước mặt anh em thì anh em đừng tự nhủ rằng: ‘Nhờ sự công chính của ta nên Đức Giê-hô-va đã đem ta vào chiếm hữu đất nầy.’ Thật ra, chính vì tội ác của các dân tộc đó mà Đức Giê-hô-va đánh đuổi chúng khỏi anh em.
Không phải vì sự công chính hay lòng chính trực của anh em mà anh em được vào chiếm hữu đất đai của các dân tộc ấy; nhưng vì tội ác của chúng mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ trục xuất chúng khỏi anh em để làm ứng nghiệm lời hứa mà Ngài đã thề với các tổ phụ anh em là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.
Như vậy, anh em phải biết rằng không phải nhờ sự công chính của anh em mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời cho anh em chiếm hữu vùng đất tốt tươi nầy đâu, vì anh em là một dân tộc cứng cổ.”
“Anh em hãy nhớ, đừng quên rằng trong hoang mạc anh em đã chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời như thế nào. Từ ngày ra khỏi Ai Cập cho đến chốn nầy, anh em đã thường xuyên phản nghịch Đức Giê-hô-va.
Tại núi Hô-rếp, anh em đã chọc giận Đức Giê-hô-va và Ngài đã giận anh em đến nỗi định tiêu diệt anh em.
Khi tôi lên núi để nhận hai bảng đá trên đó Đức Giê-hô-va đã ghi bản giao ước mà Ngài đã lập với anh em, tôi đã ở lại trên núi bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, không ăn bánh cũng chẳng uống nước.
Đức Giê-hô-va đã trao cho tôi hai bảng đá do chính ngón tay Đức Chúa Trời viết, trên đó có đủ những lời mà Đức Giê-hô-va đã phán với anh em tại trên núi, từ đám lửa, trong ngày hội họp.
Cuối thời gian bốn mươi ngày bốn mươi đêm đó, Đức Giê-hô-va đã trao cho tôi hai bảng đá trên đó đã có bản giao ước mà Ngài đã lập với anh em.
Đức Giê-hô-va phán với tôi: ‘Hãy đứng dậy, mau xuống khỏi đây vì dân mà con đem ra khỏi Ai Cập đã trở nên bại hoại. Chúng đã vội bỏ đường lối mà Ta đã truyền dạy, và đúc cho mình một hình tượng.’
Đức Giê-hô-va còn phán với tôi: ‘Ta đã thấy dân nầy thật là một dân cứng cổ!
Cứ để mặc Ta, Ta sẽ tiêu diệt chúng và xóa tên chúng khỏi thiên hạ. Nhưng Ta sẽ làm cho con trở thành một dân tộc hùng mạnh và đông hơn dân ấy.’
Vậy, tôi liền quay xuống núi với hai bảng đá có ghi giao ước trên tay, trong khi cả núi vẫn còn bốc lửa.
Tôi thấy anh em đã thật sự phạm tội với Giê-hô-va Đức Chúa Trời, anh em đã vội vàng từ bỏ đường lối mà Đức Giê-hô-va đã truyền dạy anh em, tự đúc cho mình hình tượng một con bò con.
Tôi cầm hai bảng đá và ném xuống đất. Hai bảng đá vỡ nát thành từng mảnh trước mặt anh em.
Sau đó, vì tội lỗi anh em đã phạm khi làm điều dữ để chọc giận Đức Giê-hô-va, tôi đã phủ phục trước mặt Ngài suốt bốn mươi ngày đêm, và như lần trước, tôi không ăn bánh cũng chẳng uống nước.
Tôi run sợ trước cơn thịnh nộ mà Đức Giê-hô-va đã nổi lên với anh em; Ngài giận đến nỗi sẵn sàng tiêu diệt anh em. Nhưng cả lần nầy nữa, Đức Giê-hô-va đã nhậm lời tôi.
Đức Giê-hô-va cũng nổi thịnh nộ với A-rôn đến nỗi muốn giết ông, nhưng ngay lúc đó tôi cũng cầu thay cho A-rôn.
Tôi đem cái sản phẩm tội lỗi của anh em, tức là tượng con bò con, ra đốt trong lửa, nghiền nát, tán nhuyễn thành bụi rồi đổ bụi ấy vào khe nước từ trên núi chảy xuống.
Anh em cũng đã chọc giận Đức Giê-hô-va tại Tha-bê-ra, tại Ma-sa và tại Kíp-rốt Ha-tha-va.
Khi sai anh em đi từ Ca-đe Ba-nê-a, Đức Giê-hô-va đã dặn: ‘Hãy đi lên chiếm hữu vùng đất mà Ta đã ban cho các ngươi,’ nhưng anh em đã chống lại mệnh lệnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, không tin cậy, cũng không vâng lời Ngài.
Từ ngày tôi biết anh em đến nay, anh em luôn phản nghịch Đức Giê-hô-va.
Vậy, tôi đã phủ phục trước mặt Đức Giê-hô-va suốt bốn mươi ngày bốn mươi đêm, vì Đức Giê-hô-va đã phán rằng Ngài quyết định tiêu diệt anh em.
Tôi đã cầu nguyện với Đức Giê-hô-va rằng: ‘Lạy Chúa Giê-hô-va, xin Chúa đừng tiêu diệt dân Chúa là cơ nghiệp của Ngài, là dân mà Chúa đã chuộc bằng sự uy nghi cao cả của Ngài, và đã đem họ ra khỏi Ai Cập bằng cánh tay quyền uy của Ngài.
Xin Chúa nhớ đến các đầy tớ Chúa là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp mà bỏ qua cho sự cứng lòng, tính hung dữ và tội ác của dân nầy.
Nếu không, dân của xứ mà Ngài đã đem chúng con ra, sẽ nói: Vì Đức Giê-hô-va không thể đem dân ấy vào xứ mà Ngài đã hứa, và vì ghét họ nên Ngài đem họ ra và để cho họ chết trong hoang mạc.
Nhưng họ là dân Ngài, là sản nghiệp mà Ngài đã dùng quyền uy lớn lao và dang rộng cánh tay mạnh mẽ đem ra khỏi Ai Cập.’”
“Lúc đó Đức Giê-hô-va phán với tôi: ‘Con hãy đẽo hai bảng đá giống hai bảng trước và lên gặp Ta trên núi. Con cũng đóng một cái hòm bằng gỗ.
Ta sẽ viết trên hai bảng nầy những lời đã có trên hai bảng trước mà con đã đập bể, và con phải để hai bảng ấy vào trong hòm.’
Vậy tôi đóng một cái hòm bằng gỗ si-tim, đẽo hai bảng đá giống hai bảng trước, rồi cầm hai bảng đó trong tay và đi lên núi.
Ngài viết trên hai bảng nầy những lời Ngài đã viết lần trước, tức là Mười Điều Răn mà Đức Giê-hô-va đã phán với anh em từ đám lửa trên núi trong ngày hội họp. Sau đó, Đức Giê-hô-va trao cho tôi các bảng đó.
Tôi quay xuống núi và để hai bảng đá vào hòm mà tôi đã đóng; hai bảng ấy vẫn còn đó như Đức Giê-hô-va đã truyền dạy tôi.”
Dân Y-sơ-ra-ên đi từ Bê-rốt Bê-nê Gia-can đến Mô-sê-ra. A-rôn qua đời và được chôn cất tại đây. Ê-lê-a-sa con trai ông thay ông làm chức tế lễ.
Từ chỗ đó dân Y-sơ-ra-ên đi đến Gút-gô-đa, rồi từ Gút-gô-đa đến Dốt-ba-tha là xứ có nhiều sông rạch.
Lúc ấy, Đức Giê-hô-va biệt riêng bộ tộc Lê-vi để khiêng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va, chầu chực trước mặt Đức Giê-hô-va để phụng sự Ngài và nhân danh Ngài mà chúc phước, cho đến ngày nay.
Vì thế, bộ tộc Lê-vi không được chia phần đất làm cơ nghiệp như các bộ tộc anh em, vì Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp của họ, như lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã phán với họ.
“Tôi ở lại trên núi bốn mươi ngày bốn mươi đêm như lần đầu, và một lần nữa Đức Giê-hô-va lại nhậm lời tôi, Ngài từ bỏ ý định tiêu diệt anh em.
Đức Giê-hô-va phán với tôi: ‘Con hãy đứng dậy, tiếp tục lãnh đạo dân chúng, để họ có thể vào và chiếm hữu vùng đất mà Ta dành cho họ như đã thề với tổ phụ họ.’”
“Vậy, hỡi Y-sơ-ra-ên, điều mà bây giờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời đòi hỏi anh em là gì nếu không phải là tôn kính Giê-hô-va Đức Chúa Trời, đi trong đường lối Ngài, hết lòng hết linh hồn mà kính mến và phục vụ Giê-hô-va Đức Chúa Trời,
tuân giữ các điều răn và luật lệ của Đức Giê-hô-va mà tôi truyền cho anh em ngày nay, để anh em được phước?
Kìa, trời và các tầng trời cao nhất, đất và mọi vật trên đất đều thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.
Thế nhưng Đức Giê-hô-va lại tỏ lòng yêu thương tổ phụ anh em và trong muôn dân Ngài đã chọn anh em là dòng dõi họ, như anh em thấy ngày nay.
Vậy hãy cắt bì tấm lòng của anh em và đừng cứng cổ nữa,
vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em là Thần của các thần và Chúa của các chúa, là Đức Chúa Trời vĩ đại, đầy quyền năng và đáng kính sợ, là Đấng không thiên vị, và không nhận hối lộ.
Ngài phân xử công minh cho kẻ mồ côi, người góa bụa, yêu thương người tha hương, ban cho họ bánh ăn áo mặc.
Vậy anh em phải yêu thương người tha hương vì anh em đã từng tha hương trong đất Ai Cập.
Anh em phải kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, phục vụ Ngài, gắn bó với Ngài và nhân danh Ngài mà thề nguyện.
Chính Ngài là Đấng anh em phải ca tụng. Ngài là Đức Chúa Trời của anh em, là Đấng đã làm cho anh em những việc to lớn và đáng sợ mà chính mắt anh em đã nhìn thấy.
Khi xuống Ai Cập để sinh sống, tổ phụ anh em chỉ vỏn vẹn có bảy mươi người, mà bây giờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã làm cho anh em đông như sao trên trời.”
“Anh em phải luôn luôn kính yêu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, và tuân giữ những điều Ngài truyền dạy, tức là luật lệ, mệnh lệnh và điều răn của Ngài.
Ngày nay, tôi không nói với con cái anh em, là những đứa nhỏ chưa từng biết, chưa từng chứng kiến sự dạy dỗ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, nhưng với chính anh em là những người đã nhận biết sự vĩ đại, sự uy nghiêm, cánh tay quyền năng rộng mở của Ngài,
những phép lạ và công việc Ngài làm tại Ai Cập để trừng phạt Pha-ra-ôn, vua Ai Cập và cả nước của vua nầy,
cũng như những gì Ngài đã làm cho quân đội và ngựa xe Ai Cập khi chúng truy đuổi anh em. Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã dùng nước của Biển Đỏ nhận chìm và tiêu diệt chúng cho đến ngày nay.
Anh em biết những gì Ngài đã làm cho anh em trong hoang mạc, cho đến khi tới được nơi nầy,
cũng như những gì Ngài làm cho Đa-than, A-bi-ram, các con của Ê-li-áp, cháu Ru-bên, khi đất hả miệng nuốt hai người, gia quyến, lều trại và tất cả những gì thuộc về họ, ngay giữa toàn dân Y-sơ-ra-ên.
Chính mắt anh em đã thấy tất cả những việc lớn mà Đức Giê-hô-va đã làm.
Vậy, anh em phải vâng giữ tất cả điều răn mà tôi truyền cho anh em ngày nay để anh em đủ sức lực tiến chiếm xứ mà anh em sắp chiếm hữu,
và để anh em được sống lâu trên đất mà Đức Giê-hô-va đã thề ban cho tổ phụ anh em và cho dòng dõi họ, là xứ đượm sữa và mật.
Vì xứ anh em sắp tiến chiếm không giống xứ Ai Cập là nơi anh em đã ra khỏi, nơi mà sau khi gieo giống anh em phải dùng chân đạp xe nước mà tưới như tưới một vườn rau.
Trái lại, xứ anh em sắp vào chiếm hữu là một xứ có núi đồi và thung lũng, nhuần tưới bởi mưa trời,
là xứ được Giê-hô-va Đức Chúa Trời chăm sóc. Mắt của Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em luôn đoái xem xứ ấy từ đầu năm đến cuối năm.
Vậy nếu anh em thực tâm vâng theo các điều răn mà tôi truyền cho anh em hôm nay, hết lòng, hết linh hồn kính yêu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em và phụng sự Ngài,
thì Ngài sẽ cho mưa trên đất đúng mùa, cả mưa mùa thu và mưa mùa xuân, để anh em thu hoạch ngũ cốc, rượu và dầu.
Ngài cũng khiến cỏ mọc ngoài đồng cho đàn súc vật của anh em. Anh em sẽ ăn uống no nê.
Anh em hãy cẩn thận, đừng để lòng mình bị quyến dụ mà xây bỏ Chúa, phục vụ các thần khác và quỳ lạy chúng,
khiến cho cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi phừng trên anh em, rồi Ngài đóng các tầng trời lại để không có mưa, đất không sinh sản hoa màu, và anh em sẽ sớm bị diệt khỏi vùng đất tốt tươi mà Đức Giê-hô-va ban cho anh em.
Vậy hãy ghi lòng tạc dạ những lời tôi nói với anh em, buộc chúng vào tay làm dấu và đeo lên trán làm hiệu.
Hãy dạy dỗ những lời đó cho con cái anh em, và phải nhắc đến khi anh em ngồi trong nhà cũng như lúc ra ngoài đường, khi anh em đi ngủ cũng như lúc thức dậy.
Cũng phải viết các lời đó lên khung cửa nhà và trước cổng thành
để ngày nào các tầng trời còn che trên đất thì anh em và con cái anh em còn được sống trong xứ mà Đức Giê-hô-va đã thề ban cho tổ phụ anh em.
Vì nếu anh em cẩn thận vâng giữ mọi điều răn mà tôi truyền cho anh em phải thực hành, kính yêu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, đi trong đường lối Ngài và gắn bó với Ngài,
thì Đức Giê-hô-va sẽ đuổi tất cả các dân tộc nầy khỏi anh em, và anh em sẽ trục xuất những dân tộc lớn và mạnh hơn anh em.
Nơi nào bàn chân anh em đặt đến đều sẽ thuộc về anh em. Lãnh thổ anh em sẽ chạy từ hoang mạc đến Li-ban, từ sông Ơ-phơ-rát đến Biển Tây.
Không một ai có thể đương đầu với anh em. Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ gieo sự sợ hãi và kinh hoàng trên khắp các miền đất anh em sẽ đi qua, như Ngài đã phán với anh em.
Kìa, hôm nay tôi đặt trước mặt anh em phước lành và nguyền rủa.
Anh em sẽ hưởng phước lành nếu vâng theo các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mà tôi truyền cho anh em hôm nay;
hoặc anh em sẽ bị nguyền rủa nếu không vâng theo các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, nhưng quay lưng lại với đường lối tôi truyền cho anh em hôm nay, để đi theo các thần khác mà anh em chưa từng biết.
Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã đem anh em vào xứ mà anh em sắp vào nhận làm sản nghiệp, thì anh em sẽ đặt lời chúc lành trên núi Ga-ri-xim và lời nguyền rủa trên núi Ê-banh.
Hai núi nầy chẳng phải ở bên kia sông Giô-đanh, trên con đường phía tây, cạnh những cây sồi của Mô-rê, trong lãnh thổ của người Ca-na-an là dân sống trong vùng cao nguyên, đối diện với Ghinh-ganh đó sao?
Anh em sắp vượt qua sông Giô-đanh để vào chiếm hữu xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em. Vậy khi anh em chiếm hữu và cư ngụ trong xứ đó,
thì phải cẩn thận thực hành tất cả những luật lệ và mệnh lệnh mà tôi ban bố trước mặt anh em hôm nay.”
“Đây là những luật lệ và mệnh lệnh mà anh em phải cẩn thận làm theo trong suốt thời gian sống trên đất, khi ở trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em đã ban cho anh em làm sản nghiệp.
Anh em phải phá hủy toàn bộ các địa điểm mà các dân tộc anh em sắp đuổi đã dùng làm nơi cúng bái các thần của họ, hoặc trên núi cao, trên gò nổng hay dưới các tàng cây xanh.
Phải đập vỡ các bàn thờ, nghiền nát các tượng, thiêu hủy những trụ thờ A-sê-ra, triệt hạ tượng chạm các thần của chúng và xóa tên các thần ấy khỏi những chỗ đó.
Đừng thờ phượng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em theo cách các dân tộc ấy thờ thần của chúng.
Nhưng anh em phải tìm đến địa điểm mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ chọn từ giữa các bộ tộc để đặt danh Ngài, tức là nơi ngự của Ngài và là nơi anh em phải đi đến.
Anh em sẽ đem đến đó những tế lễ thiêu, các sinh tế, thuế một phần mười, lễ vật dâng giơ lên, lễ vật hoàn nguyện, lễ vật tự nguyện, và các con đầu lòng trong đàn bò và chiên.
Tại đó, trước sự hiện diện của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, anh em sẽ cùng gia đình ăn uống và hân hoan về mọi việc tay mình làm, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã ban phước cho anh em.
Anh em đừng làm như chúng ta đang làm ở đây hôm nay, tức là mỗi người làm theo điều mình cho là phải,
vì anh em chưa vào nơi nghỉ ngơi và chưa được hưởng cơ nghiệp mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em.
Nhưng khi anh em qua sông Giô-đanh và ở trong đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em làm sản nghiệp, Ngài sẽ ban cho anh em sự an nghỉ, thoát khỏi sự vây hãm của mọi kẻ thù, và cho anh em một cuộc sống yên ổn.
Bấy giờ sẽ có một địa điểm mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em chọn lựa để danh Ngài ngự tại đó, và là nơi anh em sẽ đem đến những thứ mà tôi đã truyền cho anh em như tế lễ thiêu, các sinh tế, thuế một phần mười, lễ vật dâng giơ lên, và các lễ vật hoàn nguyện mà anh em hứa dâng cho Đức Giê-hô-va.
Anh em sẽ hân hoan trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời cùng với con trai, con gái, tôi trai tớ gái của anh em, và cả với người Lê-vi ở trong thành anh em, vì họ không được chia phần hay hưởng cơ nghiệp với anh em.
Phải cẩn thận đừng dâng tế lễ thiêu tại bất cứ nơi nào anh em thấy,
nhưng phải dâng tại địa điểm mà Đức Giê-hô-va chọn từ một trong các bộ tộc của anh em, và tại đó anh em sẽ làm theo mọi điều tôi truyền dặn.
Tuy nhiên, anh em có thể giết súc vật và ăn thịt trong bất cứ thành nào anh em thích, tùy theo phước lành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em. Cả người thanh sạch lẫn người không thanh sạch đều có thể ăn thịt đó như ăn thịt linh dương hay nai đực.
Nhưng anh em chớ nên ăn huyết; phải đổ huyết trên đất như đổ nước vậy.
Còn thuế một phần mười về ngũ cốc, rượu, dầu hay các con đầu lòng của đàn bò, chiên, hoặc bất cứ lễ vật hoàn nguyện nào mà anh em thề hứa, các tế lễ tự nguyện hay lễ vật dâng giơ lên thì anh em không nên ăn tại trong các thành mình.
Nhưng anh em phải ăn các thứ đó trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời tại địa điểm mà Ngài chọn, cùng với các con trai, con gái, tôi trai tớ gái và người Lê-vi ở trong thành anh em, và anh em sẽ hân hoan trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời về mọi việc mà tay anh em đã làm.
Phải chú ý, không được quên người Lê-vi suốt thời gian anh em sống trong xứ.
Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em mở rộng bờ cõi cho anh em như Ngài đã phán, và anh em nói: ‘Tôi sẽ ăn thịt,’ vì anh em ước ao được ăn thịt, thì anh em có thể ăn tùy thích.
Nếu địa điểm mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời chọn để đặt danh Ngài ở xa chỗ anh em, thì anh em có thể giết bò hay chiên mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em như tôi đã dặn, rồi ăn trong các thành mình bao nhiêu tùy ý anh em.
Phải ăn thịt ấy như ăn thịt linh dương hay nai đực; cả người thanh sạch lẫn người không thanh sạch đều được phép ăn.
Nhưng nhất quyết không được ăn huyết, vì huyết là sự sống nên anh em không được ăn thịt cùng với sự sống.
Anh em không được ăn huyết, phải đổ huyết trên đất như đổ nước vậy.
Đừng ăn huyết để anh em và con cháu anh em được phước, vì anh em đã làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va.
Còn về những thú vật anh em đã biệt riêng ra thánh hay các lễ vật hoàn nguyện thì anh em phải đem đến địa điểm mà Đức Giê-hô-va đã chọn,
rồi dâng cả thịt và huyết nó làm tế lễ thiêu trên bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em. Huyết các sinh tế phải đổ trên bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, còn thịt thì anh em được phép ăn.
Hãy vâng giữ cẩn thận mọi lời mà tôi truyền dặn anh em để anh em và con cháu anh em được phước đời đời, vì anh em làm điều tốt đẹp và ngay thẳng dưới mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em.
Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã diệt khỏi anh em những dân tộc mà anh em sẽ phải vào để trục xuất, và khi đã trục xuất chúng rồi định cư trong đất đó
thì hãy cẩn thận, đừng để sau khi chúng đã bị trừ diệt khỏi anh em, anh em lại mắc bẫy rồi bắt chước chúng mà nói rằng: ‘Các dân tộc nầy phụng thờ thần của họ thế nào thì ta cũng sẽ làm như vậy.’
Anh em không được làm như thế đối với Giê-hô-va Đức Chúa Trời vì Đức Giê-hô-va ghét các việc ghê tởm mà chúng đã làm cho các thần của chúng. Chúng thiêu cả con trai và con gái mình trong lửa để tế các thần của chúng.
Anh em hãy cẩn thận làm theo mọi điều tôi dặn bảo anh em, không được thêm bớt gì cả.”
“Nếu giữa anh em xuất hiện một nhà tiên tri hay một kẻ đoán mộng và người ấy báo trước với anh em một dấu lạ hoặc phép mầu.
Nếu dấu lạ hoặc phép mầu mà người ấy nói với anh em có xảy ra, và nếu nó bảo: ‘Chúng ta hãy đi theo và thờ lạy các thần khác’ là các thần mà anh em không hề biết,
thì chớ nên nghe lời nhà tiên tri hay kẻ đoán mộng ấy, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời đang thử nghiệm anh em để xem anh em có hết lòng hết linh hồn kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em không.
Anh em phải theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, kính sợ Ngài, tuân giữ các điều răn Ngài, vâng theo tiếng phán Ngài, phục vụ Ngài và gắn bó với Ngài.
Còn nhà tiên tri hay kẻ đoán mộng đó phải bị tử hình vì nó đã xúi giục nổi loạn chống lại Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em, là Đấng đã đem anh em ra khỏi đất Ai Cập, chuộc anh em khỏi nhà nô lệ. Nó đẩy anh em ra khỏi đường lối mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã truyền dạy anh em phải đi. Như vậy phải loại trừ sự gian ác khỏi anh em.
Nếu người anh em ruột, con trai, con gái, hay người vợ yêu quý của anh em hoặc người bạn thân thiết nhất của anh em bí mật dụ dỗ anh em rằng: ‘Chúng ta hãy đi và thờ lạy các thần khác’ là những thần mà anh em hay tổ phụ anh em chưa từng biết,
là các thần của những dân tộc chung quanh, hoặc gần hay xa anh em, từ đầu xứ cho đến cuối xứ,
thì chớ nhượng bộ hay nghe lời nó. Đừng để mắt đoái thương hoặc cảm thông hay bao che cho nó.
Anh em phải nhất quyết xử tử nó. Anh em phải ra tay giết nó trước rồi tiếp đó toàn dân mới ra tay.
Phải ném đá giết chết người đó vì nó đã tìm cách lôi kéo anh em xa cách Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, là Đấng đã đem anh em ra khỏi Ai Cập, thoát khỏi nhà nô lệ.
Cả Y-sơ-ra-ên sẽ nghe điều đó và sợ hãi, không bao giờ làm một việc ác như thế giữa anh em nữa.
Nếu anh em nghe nói về một trong các thành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em ở,
có những kẻ gian tà ra từ giữa anh em, lôi kéo dân chúng trong thành rằng: ‘Chúng ta hãy đi và thờ lạy các thần khác’, là những thần mà anh em không hề biết,
thì anh em phải điều tra, tìm hiểu, xem xét kỹ càng. Nếu tin tức đó là thật, và chắc chắn là điều ghê tởm như thế đã xảy ra giữa anh em,
thì anh em phải dùng gươm giết dân chúng trong thành ấy. Phải tiêu diệt hoàn toàn thành và mọi vật trong đó; tiêu diệt toàn bộ dân chúng và mọi súc vật trong thành. Phải dùng gươm mà giết sạch.
Hãy gom tất cả của cải thu được vào giữa quảng trường rồi phóng hỏa đốt thành cùng với mọi thứ chiếm được, như một tế lễ toàn thiêu dâng lên Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em. Thành ấy sẽ mãi mãi hoang phế và không bao giờ được xây dựng lại.
Đừng để bất cứ vật đáng tận diệt nào dính lại trên tay anh em. Ngày nay anh em hãy tuân giữ các điều răn Ngài mà tôi truyền lại cho anh em và làm điều ngay thẳng dưới mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Như vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ nguôi cơn thịnh nộ và tỏ lòng thương xót đối với anh em. Trong ơn thương xót của Ngài, dân số anh em sẽ gia tăng như lời Ngài đã thề hứa với tổ phụ anh em.”
“Anh em là con dân của Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Anh em đừng vì người chết mà cắt da thịt mình, hoặc cạo tóc phía trên trán,
vì anh em là một dân thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em. Đức Giê-hô-va đã chọn anh em từ giữa muôn dân trên mặt đất để anh em làm một dân thuộc quyền sở hữu của Ngài.
Anh em không được ăn bất cứ vật gì đáng ghê tởm.
Đây là những loài vật mà anh em được ăn: bò, cừu, dê,
nai, hoàng dương, hươu, dê rừng, sơn dương, bò rừng, và linh dương.
Những loài vật nào có móng chẽ và nhai lại, thì anh em được ăn.
Tuy nhiên trong các loài nhai lại hoặc có móng chẽ, anh em không được ăn các con nầy: lạc đà, thỏ rừng, và chồn núi, vì chúng nhai lại nhưng không có móng chẽ; chúng là loài không thanh sạch cho anh em.
Con heo tuy có móng chẽ, nhưng không nhai lại nên cũng là loài không thanh sạch cho anh em. Đừng ăn thịt các loài vật đó, cũng đừng đụng đến xác chết của chúng.
Trong các sinh vật sống dưới nước, anh em chỉ được ăn những loài nào có vây và có vảy.
Nhưng loài nào không có vây, không có vảy thì không được ăn; chúng không thanh sạch cho anh em.
Anh em được ăn các loài chim sạch.
Nhưng đây là các loài chim mà anh em không được ăn: đại bàng, diều hâu, kên kên;
con diều, con ó, và mọi loài diều hâu;
mọi loài quạ;
đà điểu, cú mèo, gà nước, và loài bồ các;
chim mèo, chim cú, chim hạc,
chim chàng bè, cồng cộc, bồ nông,
các loài cò, diệc; chim rẽ quạt, và dơi.
Tất cả các loài côn trùng có cánh đều không thanh sạch cho anh em; không được ăn đến.
Anh em được ăn các loài có cánh thanh sạch.
Đừng ăn thịt một con thú đã chết. Anh em có thể đem nó cho các ngoại kiều trong thành để họ ăn, hoặc anh em có thể bán cho người ngoại quốc. Vì anh em là một dân tộc biệt riêng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em. Đừng nấu thịt dê con trong sữa mẹ nó.”
“Mỗi năm anh em phải để riêng một phần mười tất cả sản phẩm từ hạt giống được gieo trong đồng ruộng sinh ra.
Anh em sẽ ăn một phần mười về ngũ cốc, dầu, rượu, cũng như những con đầu lòng trong bầy chiên, bầy bò của anh em trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em, tại địa điểm mà Ngài sẽ chọn để danh Ngài ngự tại đó. Đây là cách anh em học tập để suốt đời kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.
Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban phước cho anh em, nếu đường đi đến địa điểm mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ chọn để danh Ngài ngự quá xa khiến anh em không thể đem thuế một phần mười ấy đi được,
thì bấy giờ anh em có thể đổi thành bạc rồi mang bạc đó theo mình đi đến địa điểm mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ chọn.
Anh em dùng bạc ấy đổi các thứ như bò, chiên, rượu hay thức uống có men hoặc bất cứ thứ gì anh em thích. Anh em sẽ cùng gia đình ăn uống vui vẻ trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em.
Đừng quên những người Lê-vi ở trong thành anh em, vì họ không có phần cũng không chung hưởng cơ nghiệp với anh em.
Cuối mỗi ba năm anh em phải trích trọn một phần mười sản phẩm của năm ấy và trữ lại trong thành mình.
Bấy giờ những người Lê-vi vốn không có phần và cũng không chung hướng cơ nghiệp với anh em, các ngoại kiều, kẻ mồ côi và người góa bụa ở trong thành của anh em đều có thể đến ăn uống no nê. Như vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ ban phước cho mọi công việc tay anh em làm.”
“Vào cuối mỗi bảy năm anh em phải tha nợ.
Đây là cách thức tha nợ: Mỗi chủ nợ sẽ tha món nợ mà mình đã cho người lân cận vay, không được thúc ép người lân cận hay anh em mình phải trả, vì lệnh tha nợ của Đức Giê-hô-va đã được công bố.
Anh em có thể thúc ép người ngoại quốc trả nợ nhưng với anh em mình thì phải xóa bất cứ món nợ nào mà họ đã mắc với anh em.
Giữa anh em sẽ không có người nghèo khó vì Đức Giê-hô-va chắc chắn sẽ ban phước cho anh em khi sống trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em làm cơ nghiệp,
miễn là anh em chăm chú lắng nghe tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời và cẩn thận làm theo các điều răn mà tôi truyền cho anh em ngày nay.
Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ ban phước cho anh em như Ngài đã hứa. Anh em sẽ cho nhiều nước vay nhưng anh em không vay mượn ai cả; anh em sẽ cai trị nhiều nước nhưng các nước ấy sẽ chẳng cai trị anh em.
Nếu giữa anh em có người anh em nghèo khó, sống trong các thành của xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho, thì chớ cứng lòng hoặc bo bo giữ của đối với những người lân cận nghèo khó của mình.
Nhưng hãy mở rộng tay mình, cho người ấy vay bất cứ thứ gì họ cần.
Hãy cẩn thận, đừng nuôi dưỡng tư tưởng xấu xa trong lòng anh em rằng: ‘Sắp đến năm thứ bảy là năm tha nợ rồi’ và nhìn anh em túng thiếu của mình với ánh mắt ghét bỏ, không giúp gì cho họ cả. Họ sẽ khiếu nại với Đức Giê-hô-va về anh em và anh em sẽ phải mang tội.
Anh em hãy sẵn lòng giúp đỡ họ, đừng làm cách miễn cưỡng, vì nhờ vậy mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ ban phước cho mọi công việc của anh em và mọi công trình mà tay anh em thực hiện.
Vì trong xứ lúc nào cũng có người nghèo nên tôi truyền dặn anh em rằng: ‘Hãy mở rộng bàn tay giúp đỡ người túng thiếu, nghèo khó trong xứ anh em.’”
“Khi một anh em hay chị em là người Hê-bơ-rơ bán mình cho anh em, thì họ sẽ phục vụ anh em trong sáu năm, nhưng đến năm thứ bảy thì anh em phải trả tự do cho họ.
Khi trả tự do cho họ anh em đừng để họ đi ra tay không.
Phải cung cấp cho họ đầy đủ chiên bò từ bầy gia súc, các sản phẩm từ sân đập lúa, từ hầm ép rượu, tức là từ những gì mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã ban phước cho anh em.
Hãy nhớ rằng anh em đã từng làm nô lệ trong đất Ai Cập và Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã cứu chuộc anh em. Vì thế mà hôm nay tôi truyền đạt cho anh em điều nầy.
Nhưng nếu người nô lệ nói: ‘Tôi không muốn ra khỏi nhà ông’, vì người ấy quý mến anh em và gia quyến anh em cũng như cảm thấy thỏa lòng khi ở với anh em,
thì bấy giờ anh em phải lấy một cái dùi kê tai người ấy vào cửa mà xỏ tai, và người ấy sẽ làm nô lệ suốt đời cho anh em. Anh em cũng làm tương tự với các nữ nô lệ.
Anh em đừng cho là nặng nề khi phải trả tự do cho họ vì họ đã phục dịch anh em sáu năm, bằng hai lần công việc của một người làm thuê. Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho anh em trong mọi công việc anh em làm.”
“Anh em phải biệt riêng ra thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời mọi con đầu lòng đực sinh ra trong bầy bò, bầy chiên hoặc bầy dê của anh em. Đừng bắt bò đực đầu lòng làm việc, cũng đừng hớt lông con chiên đực đầu lòng.
Hằng năm anh em sẽ cùng gia đình ăn những con đầu lòng đó trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời tại địa điểm mà Ngài sẽ chọn.
Nhưng nếu chúng có khuyết tật như què, đui hay bất cứ dị tật nào khác thì đừng dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em,
mà phải ăn thịt chúng trong thành mình. Cả người ô uế và người được tinh sạch đều được phép ăn, như ăn thịt hoàng dương hay thịt nai vậy.
Nhưng anh em không được ăn huyết mà phải đổ huyết xuống đất như đổ nước.”
“Anh em hãy giữ lễ Vượt Qua cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta vào tháng A-bíp vì chính trong tháng A-bíp Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã đem anh em ra khỏi Ai Cập trong ban đêm.
Hãy dâng sinh tế lễ Vượt Qua lên Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta từ trong bầy chiên, dê hoặc bò của anh em, tại địa điểm mà Đức Giê-hô-va sẽ chọn để danh Ngài ngự tại đó.
Không được ăn tế lễ đó với bánh có men. Trong bảy ngày anh em sẽ ăn bánh không men, là bánh hoạn nạn, vì anh em đã phải vội vàng ra khỏi Ai Cập, để trọn đời anh em nhớ đến ngày mình đã ra khỏi Ai Cập.
Trong bảy ngày đó, không được có men trong nhà anh em cũng như trên khắp lãnh thổ. Thịt sinh tế mà anh em đã dâng vào buổi tối ngày thứ nhất cũng không được để đến sáng hôm sau.
Anh em cũng không được dâng sinh tế Vượt Qua trong bất cứ thành nào mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã ban cho anh em,
nhưng chỉ tại địa điểm mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ chọn để danh Ngài ngự. Tại đó anh em phải dâng sinh tế Vượt Qua vào buổi tối, khi mặt trời vừa lặn, là thời điểm anh em ra khỏi Ai Cập.
Anh em phải nấu thịt sinh tế và ăn tại địa điểm mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ chọn, rồi sáng hôm sau trở về trại mình.
Trong sáu ngày, anh em phải ăn bánh không men và đến ngày thứ bảy sẽ có một buổi lễ long trọng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em; anh em không được làm bất cứ việc gì trong ngày đó cả.”
“Anh em phải tính bảy tuần; bắt đầu tính bảy tuần kể từ thời điểm anh em mang liềm ra gặt lúa.
Rồi anh em sẽ giữ lễ Các Tuần cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em và tự tay dâng lễ vật tự nguyện tùy theo phước lành Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em.
Anh em hãy cùng với con trai, con gái, tôi trai tớ gái anh em, người Lê-vi ở trong thành, người khách lạ, kẻ mồ côi và người góa bụa ở giữa anh em, vui vẻ dự lễ tại địa điểm mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ chọn để danh Ngài ngự tại đó.
Phải nhớ rằng anh em đã từng làm nô lệ tại Ai Cập và phải cẩn thận làm theo các mệnh lệnh nầy.”
“Sau khi đã thu hoạch hoa lợi từ sân đập lúa và hầm ép rượu, anh em phải giữ lễ Lều Tạm trong bảy ngày.
Suốt trong kỳ lễ, anh em, con trai con gái anh em, tôi trai tớ gái anh em, người Lê-vi, khách lạ, kẻ mồ côi và người góa bụa, đều phải vui vẻ mà giữ lễ đó.
Trong bảy ngày anh em phải giữ lễ nầy cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em tại địa điểm mà Đức Giê-hô-va sẽ chọn, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ ban phước cho mùa màng cùng mọi công việc tay anh em làm, và anh em sẽ vui mừng trọn vẹn.
Mỗi năm ba lần, mọi người nam đều phải trình diện Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em tại địa điểm mà Ngài sẽ chọn, đó là vào dịp lễ Bánh Không Men, lễ Các Tuần và lễ Lều Tạm. Người ta sẽ không trình diện Đức Giê-hô-va với hai bàn tay trắng,
nhưng mỗi người sẽ theo khả năng mà dâng hiến tùy theo phước hạnh mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em ban cho anh em.”
“Anh em phải bổ nhiệm thẩm phán và quan chức cho các bộ tộc trong các thành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ ban cho anh em. Họ sẽ phân xử dân chúng cách công minh.
Anh em không được làm sai lệch công lý, không thiên vị, không nhận hối lộ, vì của hối lộ làm mù mắt kẻ khôn ngoan và xuyên tạc lý lẽ của người công chính.
Anh em phải theo đuổi công lý và chỉ công lý mà thôi, để anh em được sống và nhận lấy xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho anh em.”
“Anh em không được dựng trụ thờ bằng gỗ để thờ thần A-sê-ra bên cạnh bàn thờ mà anh em sẽ lập cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.
Cũng không được dựng một trụ thờ bằng đá nào, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em ghét các thứ ấy.”
“Anh em không được dâng lên Giê-hô-va Đức Chúa Trời một con bò đực hoặc một con chiên có tì vết hay có khuyết tật, vì đó là điều ghê tởm đối với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.
Nếu giữa anh em, tại một trong các thành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho anh em, có một người nam hay nữ làm điều ác dưới mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời, vi phạm giao ước Ngài,
phục vụ và thờ phượng các thần khác, hoặc thờ mặt trời, mặt trăng hay tất cả tinh tú, là điều mà tôi không truyền dặn,
thì anh em phải điều tra thật cặn kẽ sau khi được báo hay được nghe về điều đó. Nếu điều đó là thật và có bằng cớ về một việc đáng ghê tởm như vậy đã xảy ra trong Y-sơ-ra-ên,
thì anh em phải đem người nam hay nữ đã làm việc tội ác đó đến cổng thành và ném đá cho đến chết.
Phải căn cứ trên lời khai của hai hoặc ba nhân chứng mới được xử tử kẻ đáng bị chết; còn nếu chỉ có lời khai của một người thì không được xử tử.
Các nhân chứng phải là người đầu tiên ra tay xử kẻ bị tử hình rồi sau đó dân chúng mới tiếp tay. Như vậy anh em sẽ loại trừ sự gian ác khỏi anh em.”
“Khi gặp một vụ án quá khó như giết người, tranh tụng về pháp lý hoặc gây thương tích, xảy ra trong thành, thì anh em phải nhanh chóng đi đến địa điểm mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ chọn,
gặp và xin ý kiến các thầy tế lễ dòng Lê-vi và các thẩm phán đương nhiệm. Họ sẽ cho anh em lời phán quyết.
Anh em phải làm đúng theo phán quyết mà họ đã công bố cho anh em tại địa điểm mà Đức Giê-hô-va sẽ chọn. Phải cẩn thận làm theo mọi lời chỉ giáo của họ.
Anh em phải thực thi đúng mọi lời chỉ giáo cũng như phán quyết mà họ đã công bố cho anh em, không quay sang bên phải hay bên trái.
Người nào kiêu căng không vâng lời vị thẩm phán hay thầy tế lễ đang phục vụ Giê-hô-va Đức Chúa Trời, thì người đó phải chết. Anh em phải diệt trừ tội ác khỏi Y-sơ-ra-ên.
Toàn dân sẽ nghe điều ấy và run sợ, không dám kiêu căng nữa.”
“Khi anh em đã vào xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em, nhận làm cơ nghiệp và định cư trong xứ đó, thì anh em lại nói: ‘Chúng ta sẽ lập một vua cai trị chúng ta như các dân tộc chung quanh.’
Nếu vậy thì anh em phải lập vị vua mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ chọn để cai trị anh em. Vua đó phải là người từ giữa anh em, không được lập một người ngoại quốc, không phải là anh em mình, lên cai trị anh em.
Chỉ có điều là vua ấy không được có thêm nhiều ngựa, cũng không vì muốn thêm nhiều ngựa mà đưa dân chúng trở lại Ai Cập, vì Đức Giê-hô-va đã phán với anh em rằng: ‘Các ngươi không được trở lại con đường đó nữa.’
Vua cũng không được có nhiều vợ kẻo lòng dạ lầm lạc. Vua cũng không được thâu trữ nhiều bạc vàng.
Khi lên ngôi, căn cứ trên bản luật pháp do các thầy tế lễ dòng Lê-vi giữ, vua phải chép lại cho mình một bản sao luật pháp nầy.
Bản ấy phải ở bên vua, và vua phải đọc suốt đời, để học tập kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời, tuân giữ mọi lời trong luật pháp và thực hành các mệnh lệnh nầy.
Như vậy lòng vua sẽ không kiêu căng với anh em mình, không xa cách điều răn, quay bên phải hay bên trái, để vua và con cháu vua được trị vì lâu ngày giữa Y-sơ-ra-ên.”
“Các thầy tế lễ dòng Lê-vi và cả bộ tộc Lê-vi sẽ không được chia phần sản nghiệp với Y-sơ-ra-ên. Họ sẽ sống bằng các sinh tế dùng lửa dâng lên Đức Giê-hô-va, là phần thuộc về Ngài.
Họ sẽ không có cơ nghiệp giữa anh em mình; chính Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp của họ như Ngài đã phán.
Đây là phần mà các thầy tế lễ được hưởng từ trong các lễ vật như bò hoặc chiên mà dân chúng dâng hiến, người ta sẽ biếu các thầy cái vai, hai cái má và bao tử.
Anh em cũng biếu cho thầy tế lễ các sản vật đầu mùa gồm ngũ cốc, rượu, dầu và lông chiên mới hớt lần đầu.
Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã chọn họ và các con trai họ từ các bộ tộc, để họ nhân danh Đức Giê-hô-va mà ứng hầu và phục vụ trước mặt Ngài đời đời.
Nếu một người Lê-vi rời bất cứ thành nào trong toàn cõi Y-sơ-ra-ên, nơi họ đang cư ngụ, và tha thiết muốn đến nơi Đức Giê-hô-va sẽ chọn,
thì họ có thể nhân danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời mà phục vụ như tất cả anh em dòng Lê-vi khác đang ứng hầu và phục vụ trước mặt Đức Giê-hô-va.
Người ấy sẽ hưởng phần lương thực ngang bằng với các anh em mình, không kể lợi tức thu được từ việc bán tài sản của gia đình.”
“Khi đã vào xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho, anh em đừng học đòi những tập tục ghê tởm của các dân tộc ở đó.
Giữa anh em không một ai được làm lễ thiêu sống con trai hay con gái mình, không ai được làm thầy bói, chiêm tinh, phù thủy, thầy pháp,
dùng bùa ngải, đồng bóng, chiêu hồn;
vì Đức Giê-hô-va ghê tởm kẻ nào làm các việc ấy. Chính vì các việc ghê tởm ấy mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã trục xuất các dân tộc đó khỏi anh em.
Anh em phải tuyệt đối trung thành với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.
Dù những dân tộc mà anh em sắp đuổi đi có theo tà thuật và bói khoa, nhưng Giê-hô-va Đức Chúa Trời không cho phép anh em làm như vậy.”
“Từ trong đồng bào của anh em, Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ dấy lên một nhà tiên tri như tôi. Anh em phải nghe lời vị tiên tri ấy.
Đó chính là điều anh em đã cầu xin Giê-hô-va Đức Chúa Trời tại Hô-rếp trong ngày hội họp: ‘Xin đừng để chúng tôi nghe tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời hay thấy đám lửa hừng nầy nữa, kẻo chúng tôi phải chết chăng!’
Bấy giờ Đức Giê-hô-va phán với tôi: ‘Chúng nói đúng.
Từ giữa anh em của chúng, Ta sẽ lập cho chúng một nhà tiên tri như con. Ta sẽ đặt lời Ta trong miệng người ấy và người ấy sẽ nói với chúng mọi điều Ta truyền dặn.
Kẻ nào không nghe theo lời Ta, là những lời mà nhà tiên tri nhân danh Ta nói, thì Ta sẽ hỏi tội kẻ ấy.
Nhưng nhà tiên tri nào cả gan nhân danh Ta nói những điều Ta không bảo nói, hoặc nhân danh các thần khác mà nói thì kẻ tiên tri ấy phải chết.’
Anh em có thể thắc mắc trong lòng: ‘Làm sao chúng ta nhận biết được lời nào là lời Đức Giê-hô-va không phán?’
Khi có một kẻ tiên tri nhân danh Đức Giê-hô-va mà nói, nhưng lời người đó nói không xảy đến và không ứng nghiệm thì đó không phải là lời mà Đức Giê-hô-va đã phán. Kẻ tiên tri đó đã nói cách tự phụ, anh em đừng sợ người ấy.”
“Khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã tiêu diệt các dân tộc của xứ mà Ngài ban cho anh em, và khi anh em đã trục xuất được chúng rồi định cư trong các thành và các nhà của chúng,
thì anh em phải dành riêng ba thành ở giữa xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em làm sản nghiệp.
Anh em phải lập đường sá và chia lãnh thổ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em làm sản nghiệp thành ba phần, để kẻ giết người có thể ẩn náu tại đó.
Đây là trường hợp mà kẻ giết người có thể đến ẩn náu để được sống: Người đó vì vô ý mà làm chết người lân cận chứ trước đó không hề có thù ghét gì.
Giả sử có một người cùng vào rừng đốn củi với người lân cận. Khi vung rìu đốn cây, lưỡi rìu sút khỏi cán trúng nhằm người lân cận làm người nầy chết. Người gây án mạng có thể đến ẩn náu tại một trong ba thành ấy để được sống.
Nếu không, trong lúc giận dữ, người đòi nợ máu sẽ rượt đuổi kẻ gây án mạng, và vì đường xa quá nên có thể đuổi kịp và đánh chết người đó, mặc dù người đó không đáng phải chết, vì trước đó anh ta không hề thù hận gì với người lân cận mình.
Vì vậy mà tôi truyền cho anh em phải dành riêng ba thành.
Nếu Giê-hô-va Đức Chúa Trời mở rộng bờ cõi anh em, như Ngài đã thề với tổ phụ anh em, và nếu Ngài ban cho anh em toàn bộ vùng đất mà Ngài đã hứa với tổ phụ anh em,
vì anh em cẩn thận làm theo các điều răn mà tôi truyền cho anh em ngày nay, tức là kính mến Chúa là Đức Chúa Trời và luôn bước đi trong đường lối Ngài, thì bấy giờ, anh em phải thêm ba thành nữa vào ba thành đã nói trên.
Như vậy máu vô tội sẽ không đổ ra giữa xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho anh em làm cơ nghiệp và anh em cũng không mắc tội làm đổ máu.
Nhưng nếu ai vì thù hận người lân cận mà rình rập, tấn công và giết chết người đó rồi trốn vào một trong các thành ấy,
thì các trưởng lão của thành có kẻ giết người đó phải sai người đi bắt thủ phạm về giao cho người đòi nợ máu và nó phải chết.
Đừng để mắt đoái thương nó, nhưng phải tẩy sạch máu của người vô tội ra khỏi Y-sơ-ra-ên thì anh em mới được phước.
Anh em không được dời ranh giới của người lân cận vốn đã được các tiền nhân dựng lên trong phần cơ nghiệp mà anh em sẽ nhận được trong xứ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em.
Một nhân chứng duy nhất thì không đủ để buộc tội một người về bất cứ tội ác hay hành vi sai quấy nào mà họ phạm. Phải căn cứ trên lời khai của hai hay ba nhân chứng mới xác định được vấn đề.
Nếu có một người làm chứng gian đứng lên tố cáo một người khác về hành vi sai phạm,
thì cả hai bên tranh chấp phải đứng trước mặt Đức Giê-hô-va, trước mặt các thầy tế lễ và các thẩm phán đương nhiệm.
Các thẩm phán phải thẩm tra kỹ lưỡng. Nếu thấy nhân chứng là kẻ chứng gian đã vu cáo anh em mình
thì anh em phải làm cho hắn như hắn đã định làm cho anh em mình; như vậy anh em sẽ diệt trừ tội ác khỏi anh em.
Khi nghe tin nầy những người khác sẽ sợ, không bao giờ làm điều gian ác như thế giữa anh em nữa.
Anh em không nên thương xót những người như vậy. Mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân.”
“Khi đi ra giao chiến với quân thù, nếu anh em thấy chúng có nhiều ngựa, nhiều xe và binh lực đông hơn thì đừng sợ, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em là Đấng đã đem anh em lên từ Ai Cập sẽ ở với anh em.
Trước giờ anh em tham chiến, thầy tế lễ sẽ tiến đến phía trước và phát biểu với dân chúng.
Ông sẽ nói: ‘Hỡi Y-sơ-ra-ên hãy nghe! Hôm nay anh em sẽ giao chiến với quân thù. Đừng sờn lòng, hoảng sợ, đừng hãi hùng, kinh khiếp khi đối diện với chúng,
vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, là Đấng cùng đi với anh em để tiến đánh quân thù và giải cứu anh em.’
Bấy giờ các quan chức sẽ nói với dân chúng rằng: ‘Có ai vừa mới cất nhà mà chưa kịp khánh thành không? Hãy cho người ấy trở về nhà, vì nếu người ấy tử trận thì người khác sẽ khánh thành nhà ấy chăng.
Có ai đã trồng một vườn nho mà chưa kịp hưởng hoa lợi không? Hãy cho người ấy trở về nhà, vì nếu người ấy tử trận thì người khác sẽ hưởng hoa lợi vườn nho đó chăng.
Có ai đã đính hôn với một phụ nữ mà chưa kịp cưới không? Hãy cho người ấy trở về nhà, vì nếu người đó tử trận thì người khác sẽ cưới người vợ hứa ấy chăng.’
Các quan chức còn nói thêm với dân chúng: ‘Có ai cảm thấy sợ hãi và nao núng không? Hãy cho người ấy trở về nhà, nếu không người ấy có thể làm cho đồng đội nản lòng như chính người đó chăng.’
Khi các quan chức phát biểu xong, các cấp chỉ huy sẽ được bổ nhiệm để lãnh đạo dân chúng.
Khi kéo quân tấn công một thành nào, anh em phải đưa điều kiện hòa giải cho dân chúng trong thành ấy trước.
Nếu họ chấp thuận điều kiện giải hòa và mở cửa thành cho anh em thì toàn dân trong thành sẽ phải phục dịch và làm nô lệ cho anh em.
Nếu họ từ chối điều kiện giải hòa và khai chiến với anh em thì anh em sẽ bao vây thành ấy.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em sẽ phó thành ấy vào tay anh em và anh em sẽ dùng gươm giết tất cả đàn ông con trai trong thành.
Tuy nhiên, anh em có thể giữ lại cho mình đàn bà, con trẻ, súc vật và mọi vật khác trong thành làm chiến lợi phẩm. Anh em được hưởng các chiến lợi phẩm thu được của quân thù, là những gì mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho anh em.
Anh em hãy xử như vậy với các thành ở rất xa anh em, là những thành không thuộc về các dân tộc ở đây.
Nhưng trong các thành thuộc lãnh thổ của những dân tộc mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em làm cơ nghiệp thì đừng để cho một sinh vật nào được sống.
Phải tận diệt dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, dân Giê-bu-sít như lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã phán dặn.
Như thế chúng sẽ không dạy anh em làm theo những điều ghê tởm mà chúng đã làm để cúng thờ các thần của chúng, khiến anh em phạm tội với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.
Khi anh em bao vây và tấn công lâu ngày để tiến chiếm một thành thì đừng lấy rìu đốn chặt cây cối chung quanh thành. Anh em có thể ăn trái của các cây đó nhưng không được chặt phá, vì cây cối ngoài đồng chứ có phải con người đâu mà anh em bao vây?
Anh em có thể đốn phá những cây mà anh em biết không phải là cây ăn trái. Anh em có thể đốn và dùng chúng để xây cất chiến lũy tiến đánh thành đang gây chiến với anh em, cho đến khi thành ấy thất thủ.”
“Nếu phát hiện có một người bị giết nằm ngoài đồng, trên mảnh đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho anh em làm sản nghiệp, nhưng không biết ai đã giết,
thì các trưởng lão và thẩm phán của anh em phải ra đo khoảng cách từ chỗ xác chết đến các thành chung quanh đó.
Các trưởng lão của thành gần xác chết nhất phải bắt một con bò cái tơ chưa từng làm việc hay chưa mang ách,
rồi dắt con bò ấy xuống một dòng suối có nước chảy, một nơi không cày cấy gieo trồng, và đánh gãy cổ con bò cái tơ đó tại suối nước.
Bấy giờ các thầy tế lễ là con cháu Lê-vi sẽ đến gần vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã chọn họ để phụng vụ Ngài, để nhân danh Đức Giê-hô-va mà chúc phước, và căn cứ vào lời họ mà mọi vụ tranh tụng và đả thương được giải quyết.
Tất cả các trưởng lão của thành gần người bị giết nhất sẽ rửa tay trên con bò cái tơ vừa bị đánh gãy cổ trong suối,
rồi cùng nói: ‘Tay chúng con không làm đổ máu nầy; mắt chúng con không nhìn thấy án mạng nầy.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin Chúa tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên, là dân mà Ngài đã chuộc! Xin đừng buộc tội làm đổ máu vô tội cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài và tha thứ cho họ về vụ đổ máu nầy.’
Như vậy anh em đã làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va và giải trừ máu vô tội ra khỏi anh em.”
“Khi nào anh em ra giao chiến với quân thù và được Giê-hô-va Đức Chúa Trời phó chúng vào tay anh em, và anh em bắt chúng làm tù binh;
nếu thấy trong các tù binh có một phụ nữ xinh đẹp, anh em đem lòng yêu mến và muốn cưới làm vợ,
thì phải đưa cô ấy về nhà. Người nữ ấy phải cạo đầu, cắt móng tay,
thay áo tù và ở trong nhà anh em, khóc cha mẹ trọn một tháng. Sau đó anh em có thể sống với người nữ ấy, cưới làm vợ và cô ấy sẽ là vợ của anh em.
Về sau, nếu anh em không yêu thích cô ấy nữa thì phải để cho cô ấy tự do ra đi, không được bán để lấy tiền hoặc đối xử như một nô lệ, vì anh em đã làm chiếm đoạt cô ấy.”
“Nếu một người có hai vợ, nhưng yêu bà nầy mà ghét bà kia, và nếu cả hai đều đã sinh con cho người ấy, nhưng con trai trưởng lại là con của người vợ bị ghét,
thì đến ngày chia gia tài cho các con, người đó không được trao quyền trưởng nam cho con trai của người vợ được yêu mà phải trao cho con trai của người vợ bị ghét, vì nó mới chính là trưởng nam.
Người chồng đó phải công nhận con trai của người vợ bị ghét là con trai trưởng và chia cho nó một phần gấp đôi về mọi tài sản mình có, vì nó vốn là hoa quả đầu tiên của sức lực người đó, nên quyền trưởng nam phải thuộc về nó.”
“Nếu người nào có một đứa con cứng đầu ngỗ nghịch, không vâng lời cha mẹ, cho dù cha mẹ có sửa trị mà nó vẫn không nghe,
thì cha mẹ phải bắt nó và dẫn đến trước cổng thành giao cho các trưởng lão của thành.
Cha mẹ sẽ nói với các trưởng lão của thành rằng: ‘Con chúng tôi cứng đầu ngỗ nghịch, không vâng lời chúng tôi, chỉ biết ăn chơi nhậu nhẹt.’
Bấy giờ mọi người dân trong thành sẽ ném đá cho nó chết. Như vậy anh em sẽ loại trừ được tội ác khỏi anh em, và cả Y-sơ-ra-ên đều sẽ sợ hãi khi hay tin nầy.”
“Nếu có một người phạm tội tử hình và bị xử tử, thì hãy treo lên cây,
nhưng không được để xác nó trên cây qua đêm mà phải chôn ngay trong ngày đó, vì ai bị treo trên cây là kẻ bị Đức Chúa Trời nguyền rủa. Anh em không được làm ô uế mảnh đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho anh em làm sản nghiệp.”
“Khi thấy bò hay chiên của anh em mình đi lạc thì anh em đừng làm ngơ, nhưng nhất định phải dẫn chúng về cho anh em mình.
Nếu người chủ không ở gần anh em, hoặc anh em không biết người ấy thì phải dắt con vật về nhà mình cho đến khi chủ nó đến tìm. Bấy giờ anh em sẽ trả lại cho chủ nó.
Anh em cũng phải làm như vậy khi anh em bắt gặp lừa, áo xống hay là bất cứ vật gì mà anh em mình đánh mất, chứ không được làm ngơ.
Nếu anh em thấy lừa hay bò của anh em mình ngã trên đường thì đừng làm ngơ, nhưng nhất định phải giúp người ấy đỡ con vật dậy.
Đàn bà không được mặc quần áo của đàn ông, đàn ông cũng không được mặc quần áo của đàn bà, vì ai làm điều đó thật đáng ghê tởm đối với Giê-hô-va Đức Chúa Trời.
Nếu trên đường đi, anh em bắt gặp trên cây hay dưới đất một tổ chim, với chim mẹ đang ủ chim con hay ấp trứng thì không được bắt cả chim mẹ lẫn chim con.
Anh em được bắt chim con, nhưng phải thả chim mẹ, vì như vậy anh em sẽ được phước và sống lâu.
Khi xây nhà mới, anh em phải làm lan can quanh mái nhà để tránh trường hợp có người rơi từ mái nhà xuống gây tội đổ máu trong nhà anh em.
Đừng gieo hai loại hạt giống trong vườn nho, nếu không thì toàn bộ hoa lợi, từ cả hạt giống lẫn vườn nho, đều sẽ sung vào nơi thánh.
Đừng bắt một con bò cày chung với một con lừa.
Đừng mặc vải dệt bằng vải gai pha lẫn lông chiên.
Phải kết tua vào bốn chéo áo choàng mà anh em mặc.”
“Nếu một người cưới vợ và đã ăn ở với nàng, rồi sau đó lại ghét bỏ,
vu khống và bôi nhọ danh dự nàng rằng: ‘Tôi đã cưới người nữ nầy, nhưng khi gần gũi nàng, tôi không thấy dấu hiệu chứng tỏ nàng còn trinh.’
Bấy giờ cha mẹ của cô gái đó sẽ đem những bằng chứng trinh tiết của con gái mình trình cho các trưởng lão thành đó tại cổng thành.
Ngươi cha của cô gái sẽ nói với các trưởng lão: ‘Tôi đã gả con gái tôi cho người nầy nhưng anh ta lại ghét bỏ nó.
Bây giờ anh ta vu khống con tôi và nói rằng anh ta không thấy dấu hiệu chứng tỏ con gái tôi còn trinh. Nhưng đây là bằng chứng cho thấy nó còn trinh tiết.’ Rồi cha mẹ sẽ trải áo xống nàng ra trước mặt các trưởng lão của thành đó.
Bấy giờ các trưởng lão trong thành sẽ bắt người chồng, và trừng phạt người chồng ấy bằng roi.
Họ sẽ bắt người ấy nộp một trăm miếng bạc và sẽ trao số bạc đó cho cha của cô gái trẻ, vì người ấy đã bêu xấu danh dự của một trinh nữ Y-sơ-ra-ên. Nàng sẽ tiếp tục làm vợ người ấy và suốt đời người ấy không được ruồng bỏ nàng.
Tuy nhiên, nếu chuyện đó là thật, vì không tìm thấy bằng cớ chứng tỏ cô gái còn trinh tiết,
thì họ phải dẫn cô gái đến cửa nhà cha nàng, và dân trong thành sẽ ném đá cho chết vì nàng đã làm điều đồi bại trong Y-sơ-ra-ên, phạm tội tà dâm khi còn trong nhà cha mình. Phải diệt trừ tội ác khỏi anh em.
Nếu một người đàn ông bị bắt gặp đang nằm với vợ của người khác, thì cả người đàn ông và người đàn bà đó đều phải chết. Như vậy anh em sẽ diệt trừ tội ác khỏi Y-sơ-ra-ên.
Nếu một trinh nữ đã đính hôn rồi mà có một người đàn ông khác gặp cô trong thành và nằm với cô,
thì anh em phải dẫn cả hai người ra cổng thành và ném đá cho đến chết. Cô gái có tội vì đã không kêu cứu dù đang ở trong thành; còn người đàn ông kia có tội vì đã chiếm đoạt vợ của người lân cận mình. Phải trừ diệt tội ác khỏi anh em.
Nhưng nếu người đàn ông gặp cô gái đã đính hôn ở ngoài đồng và cưỡng hiếp nàng, thì chỉ một mình người đàn ông đã nằm với nàng phải chết mà thôi;
đừng làm gì với cô gái đó vì nàng không phạm tội đáng chết. Trường hợp nầy cũng tương tự như trường hợp một người tấn công và giết chết người lân cận mình,
vì người đàn ông nầy gặp cô gái đã đính hôn ngoài đồng, cô gái đã la lên nhưng không có ai đến cứu.
Nếu một người đàn ông gặp một trinh nữ chưa đính hôn, cưỡng hiếp nàng và bị bắt quả tang,
thì người đàn ông đã nằm với cô gái trẻ đó phải nộp cho cha nàng nửa ký bạc và nàng sẽ làm vợ người ấy vì người ấy đã chiếm đoạt nàng. Suốt đời người ấy không được ruồng bỏ nàng.
Không ai được lấy vợ lẽ của cha, vì như thế là làm nhục cha mình.”
“Người nào bị giập tinh hoàn hoặc bị cắt dương vật sẽ không được gia nhập hội của Đức Giê-hô-va.
Con ngoại hôn không được gia nhập hội của Đức Giê-hô-va, dù đến thế hệ thứ mười cũng không được gia nhập.
Người Am-môn và Mô-áp không được gia nhập hội Đức Giê-hô-va, dù đến thế hệ thứ mười cũng không bao giờ được gia nhập hội của Đức Giê-hô-va.
Vì khi anh em ra khỏi Ai Cập, chúng đã không đem bánh và nước ra đón tiếp anh em, và chúng đã thuê Ba-la-am con trai Bê-ô từ Phê-thô-rơ thuộc A-ram Na-ha-ra-im đến để nguyền rủa anh em.
Nhưng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em không nghe Ba-la-am nên đã đổi lời nguyền rủa thành lời chúc phước cho anh em, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em yêu thương anh em.
Trọn đời anh em và mãi mãi về sau, anh em không được mưu cầu hòa bình hay thịnh vượng với chúng.
Đừng ghê tởm người Ê-đôm vì là anh em mình. Cũng đừng ghê tởm người Ai Cập vì anh em đã từng là kiều dân trong xứ sở của họ.
Thế hệ thứ ba của họ có thể được gia nhập hội của Đức Giê-hô-va.
Khi anh em đóng quân để đương đầu với quân thù thì phải giữ mình khỏi mọi điều ô uế.
Nếu trong anh em có người không được thanh sạch vì mộng tinh thì người đó phải đi ra khỏi doanh trại, không được trở vào.
Nhưng đến chiều người ấy phải tắm rửa bằng nước, và khi mặt trời lặn người ấy sẽ trở vào trại quân.
Anh em phải dành một khu vực riêng ở ngoài trại quân để đi vệ sinh.
Trong vật dụng cá nhân, anh em phải có một cái xẻng nhỏ để khi muốn đi ngoài thì dùng nó mà đào lỗ phóng uế, rồi sau đó lấp phân lại.
Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời đi lại giữa trại quân anh em để giải cứu và phó kẻ thù cho anh em, nên trại quân anh em phải thánh để Ngài không thấy sự bất xứng nào giữa anh em đến nỗi phải xây mặt khỏi anh em.”
“Nếu có một nô lệ trốn khỏi nhà chủ chạy đến với anh em thì đừng giao nó lại cho chủ.
Hãy để nó ở lại với anh em và ở giữa anh em, tại nơi nào nó chọn trong bất cứ thành nào của anh em mà nó thích, không được hà hiếp nó.
Không một người con gái hay con trai Y-sơ-ra-ên nào được làm nghề mại dâm trong đền miếu.
Anh em không được đem vào nhà của Giê-hô-va Đức Chúa Trời tiền công của một gái mại dâm hay giá trả cho một con chó, dù là để hoàn trả sự hứa nguyện, vì cả hai điều đó đều ghê tởm đối với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.
Không được cho anh em mình vay để lấy lãi, dù là tiền bạc, lương thực hay là bất cứ thứ gì sinh lãi.
Anh em được phép lấy lãi người nước ngoài nhưng không được lấy lãi anh em mình. Như vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho anh em trong mọi công việc anh em sẽ làm trong xứ mà anh em sắp vào nhận làm sản nghiệp.
Khi hứa nguyện với Giê-hô-va Đức Chúa Trời điều gì, anh em đừng chậm hoàn nguyện, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ đòi điều đó nơi anh em, và anh em sẽ mắc tội.
Nhưng nếu anh em không hứa nguyện thì không mắc tội.
Điều gì môi miệng anh em nói ra thì anh em phải gìn giữ và thi hành, vì chính miệng anh em đã tự nguyện thề hứa với Giê-hô-va Đức Chúa Trời.
Khi vào vườn nho của người lân cận thì anh em có thể ăn nho bao nhiêu tùy thích, nhưng không được hái bỏ vào giỏ mình.
Khi vào đồng lúa mì của người lân cận thì anh em có thể lấy tay bứt các bông lúa nhưng không được dùng liềm cắt lúa của người lân cận mình.”
“Nếu một người đàn ông đã cưới vợ, nhưng sau đó người chồng không thỏa lòng về vợ vì thấy nơi nàng có điều gì không đoan chính, thì người đó có thể viết cho vợ một giấy ly hôn, trao vào tay nàng rồi đuổi nàng ra khỏi nhà.
Khi ra khỏi nhà, nàng lại đi làm vợ một người khác,
và nếu người chồng sau cũng không ưa và cũng viết giấy ly hôn, trao vào tay nàng rồi đuổi khỏi nhà, hoặc nếu chồng sau chết đi,
thì người chồng đầu tiên, là người đã đuổi nàng đi, không được phép lấy nàng làm vợ một lần nữa, sau khi nàng đã bị ô uế. Đó là điều ghê tởm trước mặt Đức Giê-hô-va; anh em không được đem tội lỗi vào xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho anh em làm sản nghiệp.
Một người mới cưới vợ thì không phải đi đánh trận hoặc phải đảm nhiệm công tác gì khác. Người ấy sẽ được thong thả ở nhà trong một năm để đem lại niềm vui cho người vợ mình mới cưới.
Không được giữ cối xay hay chỉ là thớt cối trên làm vật thế chấp, vì như thế là lấy mạng sống của người lân cận mình làm vật thế chấp.
Nếu bắt được kẻ bắt cóc một người anh em trong Y-sơ-ra-ên về làm nô lệ hay đem bán đi thì tên bắt cóc đó phải bị xử tử. Như vậy anh em sẽ diệt trừ tội ác khỏi anh em.
Hãy lưu ý đến sự lây lan của bệnh ngoài da nguy hiểm. Anh em phải hết sức cẩn thận và tuân giữ mọi điều mà các thầy tế lễ dòng Lê-vi chỉ dạy anh em; hãy làm đúng những gì tôi đã truyền dạy họ.
Hãy nhớ lại điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã làm cho Mi-ri-am trên lộ trình anh em rời Ai Cập.
Khi anh em cho người lân cận vay mượn cái gì thì không được vào nhà người ấy để lấy vật thế chấp.
Nhưng phải đứng bên ngoài đợi người mà anh em cho vay đó đem vật thế chấp ra cho anh em.
Nếu người ấy nghèo thì anh em đừng giữ vật thế chấp ấy mà đi ngủ.
Hãy trả lại áo choàng cho người ấy khi mặt trời lặn để anh ta đắp mà ngủ và chúc phước cho anh em; đó là điều công chính cho anh em trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.
Không được ức hiếp người làm thuê nghèo khó và bần cùng, dù người đó là anh em mình hay là ngoại kiều tạm cư trong xứ và trong thành của anh em.
Phải thanh toán tiền công cho người ấy mỗi ngày, trước khi mặt trời lặn, vì người ấy vốn nghèo khó chỉ còn biết trông chờ vào đó. Nếu không, người ấy sẽ kêu van Đức Giê-hô-va về anh em và anh em phải mắc tội.
Cha mẹ sẽ không bị xử tử vì tội của con cái, và con cái cũng không bị xử tử vì tội của cha mẹ. Mỗi người sẽ bị xử tử theo tội của mình.
Không được cư xử bất công với ngoại kiều hay trẻ mồ côi, và cũng đừng giữ áo xống của người góa bụa làm vật thế chấp.
Hãy nhớ rằng anh em đã từng làm nô lệ tại Ai Cập, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã chuộc anh em ra khỏi đó. Vì vậy, tôi truyền cho anh em phải làm điều nầy.
Khi anh em thu hoạch trong đồng ruộng mà có quên một bó lúa ngoài đó thì cũng đừng trở lại lấy. Bó lúa ấy dành cho ngoại kiều, trẻ mồ côi và người góa bụa. Như thế, Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho anh em trong mọi công việc tay anh em làm.
Khi rung cây ô-liu thì đừng mót những trái còn sót lại trên cành, đó là phần dành cho ngoại kiều, trẻ mồ côi và người góa bụa.
Khi hái nho trong vườn nho mình, anh em đừng mót những trái còn sót lại, đó là phần cho ngoại kiều, trẻ mồ côi và người góa bụa.
Hãy nhớ rằng anh em đã từng làm nô lệ tại Ai Cập. Vì vậy, tôi truyền cho anh em phải làm như tôi đã dặn.”
“Khi đôi bên có chuyện tranh tụng và đưa nhau ra tòa thì các thẩm phán sẽ phân xử cho họ: Tuyên bố công chính cho người công chính và định tội kẻ có tội.
Nếu kẻ có tội đáng bị đánh đòn thì thẩm phán sẽ bắt người đó nằm sấp xuống và sai đánh trước mặt mình theo số đòn quy định cho mỗi tội.
Có thể đánh đến bốn mươi đòn nhưng không được quá số đó. Nếu đánh nhiều hơn thì người bị đòn sẽ bị sỉ nhục trước mắt anh em.
Chớ khớp miệng con bò đang đạp lúa.
Khi anh em sống chung với nhau trên sản nghiệp của gia đình, nếu một người chết mà không có con trai thì vợ của người chết không được kết hôn với người ngoài gia đình. Một anh em chồng phải đến với nàng, lấy nàng làm vợ để làm tròn bổn phận của anh em chồng đối với nàng.
Con trai đầu lòng mà nàng sinh ra sẽ mang tên người anh em đã chết, để tên của người ấy không bị xóa khỏi Y-sơ-ra-ên.
Nếu người đàn ông đó không thích lấy chị hay em dâu mình, thì nàng phải đến cổng thành gặp và thưa với các trưởng lão rằng: ‘Người anh em chồng tôi không chịu lưu truyền tên tuổi của anh em mình trong Y-sơ-ra-ên, không muốn làm tròn bổn phận của một anh em chồng đối với tôi.’
Các trưởng lão của thành sẽ gọi người đàn ông đó đến để nói chuyện. Nếu người đó cứ khăng khăng nói rằng: ‘Tôi không thích cưới cô ấy,’
thì người chị hay em dâu sẽ đến gần người đó, lột dép khỏi chân người đó và nhổ vào mặt anh ta trước mặt các trưởng lão, rồi nói: ‘Kẻ nào không chịu gây dựng dòng họ cho anh em mình sẽ phải chịu như thế đó!’
Trong Y-sơ-ra-ên người ta sẽ gọi nhà người ấy là ‘nhà của kẻ bị lột dép.’
Khi hai người đàn ông đánh nhau, nếu vợ của một trong hai người đến gần để giải vây chồng khỏi tay địch thủ và đưa tay nắm lấy chỗ kín của người kia,
thì anh em phải chặt tay người đàn bà ấy. Không được thương xót nàng.
Anh em đừng để trong bao mình hai thứ quả cân một già, một non.
Trong nhà anh em đừng có hai thứ đơn vị đo lường một già, một non.
Nhưng chỉ sử dụng một loại quả cân và một loại đơn vị đo lường chuẩn xác và trung thực để anh em được sống lâu trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em.
Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ghê tởm những ai làm các điều bất công, bất nghĩa như vậy.
Hãy nhớ những gì dân A-ma-léc đã làm cho anh em trên bước đường anh em rời khỏi Ai Cập.
Vì không kính sợ Đức Chúa Trời nên họ đã đón đường và chặn đánh tập hậu những người lê bước phía sau anh em trong lúc anh em mệt lả và kiệt sức.
Vì vậy, khi Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em sự an nghỉ và giải cứu anh em khỏi mọi kẻ thù bao vây trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em làm sản nghiệp, thì anh em phải xóa sạch mọi dấu tích của dân A-ma-léc trong thiên hạ. Anh em không được quên!”
“Khi anh em đã vào trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em làm sản nghiệp, đã sở hữu và ở trong đất đó rồi,
thì anh em phải lấy một phần thổ sản đầu mùa thu hoạch được từ miền đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em, bỏ vào một cái giỏ, và đem đến địa điểm mà Đức Giê-hô-va sẽ chọn cho danh Ngài ngự.
Anh em sẽ đến gặp thầy tế lễ đương nhiệm và nói rằng: ‘Hôm nay tôi xin thưa với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta rằng tôi đã vào miền đất mà Đức Giê-hô-va đã thề với tổ phụ chúng ta là sẽ ban cho chúng ta.’
Thầy tế lễ sẽ nhận cái giỏ từ tay anh em và đặt trước bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.
Sau đó, anh em phải thưa trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời rằng: ‘Tổ phụ chúng con là người A-ram đã phiêu bạt xuống Ai Cập, trú ngụ tại đó với một số người ít ỏi, nhưng cũng từ đó đã trở thành một dân tộc lớn, mạnh và đông.
Người Ai Cập đã ngược đãi, hành hạ chúng con và đặt trên chúng con ách nô dịch nặng nề.
Bấy giờ chúng con đã kêu cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng con. Đức Giê-hô-va đã lắng nghe và nhìn thấy cảnh gian nan, lao khổ và sự áp bức mà chúng con phải chịu.
Đức Giê-hô-va đã dang rộng cánh tay quyền năng, thực thi các dấu lạ, phép mầu to lớn và kinh khiếp để đem chúng con ra khỏi Ai Cập,
dẫn chúng con vào nơi nầy và ban xứ sở đượm sữa và mật nầy cho chúng con.
Lạy Đức Giê-hô-va! Bây giờ chúng con xin dâng lên Ngài những sản phẩm đầu mùa từ mảnh đất mà Ngài đã ban cho chúng con.’ Nói xong, anh em hãy đặt lễ vật đó trên bàn thờ, trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời và sấp mình xuống thờ phượng Ngài.
Rồi anh em sẽ cùng với người Lê-vi và các ngoại kiều đang sống giữa anh em ăn mừng về các phước lành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã ban cho anh em và gia đình anh em.
Vào năm thứ ba, tức là năm nộp thuế một phần mười, anh em trích một phần mười hoa lợi đem đến cho người Lê-vi, ngoại kiều, trẻ mồ côi và người góa bụa, để họ được ăn no đủ trong thành của anh em,
và anh em sẽ đến trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời mà thưa rằng: ‘Chúng con đã đem phần biệt riêng trong nhà đến cho người Lê-vi, ngoại kiều, trẻ mồ côi và người góa bụa, theo mọi mệnh lệnh mà Ngài đã phán dặn chúng con; chúng con không vi phạm hoặc quên một mệnh lệnh nào của Ngài cả.
Chúng con không ăn phần biệt riêng đó trong lúc tang chế, không đụng đến nó khi chúng con không thanh sạch, và cũng không dùng nó mà cúng cho người chết. Chúng con vâng lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng con và làm đúng mọi điều Ngài đã phán dặn.
Từ nơi ngự thánh của Ngài trên chốn trời cao, xin Chúa đoái xem và ban phước cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, cho xứ sở đượm sữa và mật mà Ngài đã ban cho chúng con, như Ngài đã thề hứa với tổ phụ chúng con.’”
“Hôm nay, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em truyền bảo anh em phải tuân giữ các luật lệ và mệnh lệnh nầy. Vậy anh em phải cẩn thận tuân giữ với cả tấm lòng và linh hồn mình.
Hôm nay, anh em tuyên nhận rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của anh em, rằng anh em sẽ đi trong đường lối Ngài, gìn giữ các luật lệ, điều răn và mệnh lệnh Ngài, và lắng nghe tiếng Ngài.
Hôm nay, Đức Giê-hô-va cũng thừa nhận anh em là một dân thuộc quyền sở hữu của Ngài như Ngài đã phán với anh em, và anh em sẽ gìn giữ tất cả các điều răn của Ngài,
để Ngài làm cho anh em được khen ngợi, danh tiếng và tôn trọng, vượt trên mọi dân tộc mà Ngài đã tạo dựng, và anh em trở nên một dân tộc thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em như Ngài đã phán.”
Môi-se cùng với các trưởng lão Y-sơ-ra-ên truyền bảo dân chúng: “Hãy tuân giữ tất cả các điều răn mà tôi truyền cho anh em hôm nay.
Ngày anh em vượt qua sông Giô-đanh để vào miền đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em, thì anh em phải dựng các bia đá lớn và quét vôi lên.
Sau khi đã qua sông để vào xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho, tức là xứ đượm sữa và mật như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em đã hứa với anh em thì hãy viết trên các bia đó những lời của luật pháp nầy.
Vậy khi đã ở bên kia sông Giô-đanh rồi thì anh em phải dựng các bia đá nầy trên núi Ê-banh và quét vôi như lệnh tôi truyền cho anh em ngày nay.
Tại đó, anh em phải lập một bàn thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, một bàn thờ bằng đá chưa đục đẽo với dụng cụ bằng sắt.
Anh em phải lập bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời bằng đá nguyên khối và dâng trên đó những tế lễ thiêu cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.
Anh em cũng phải dâng tế lễ bình an, ăn mừng tại đó trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.
Anh em phải khắc tất cả lời của luật pháp thật rõ ràng vào các bia đá nầy.”
Môi-se và những thầy tế lễ dòng Lê-vi nói với toàn thể Y-sơ-ra-ên rằng: “Hỡi Y-sơ-ra-ên hãy yên lặng và nghe đây! Hôm nay anh em đã được làm dân của Giê-hô-va Đức Chúa Trời.
Vì vậy, anh em phải lắng nghe tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời và làm theo các điều răn và luật lệ của Ngài mà tôi truyền cho anh em hôm nay.”
Cũng hôm ấy, Môi-se truyền cho dân chúng mệnh lệnh nầy:
“Sau khi anh em qua sông Giô-đanh rồi, các bộ tộc Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, Y-sa-ca, Giô-sép và Bên-gia-min sẽ đứng trên núi Ga-ri-xim để chúc phước cho dân chúng.
Còn các bộ tộc Ru-bên, Gát, A-se, Sa-bu-lôn, Đan và Nép-ta-li sẽ đứng trên núi Ê-banh để nguyền rủa.
Người Lê-vi sẽ cất tiếng nói lớn với mọi người Y-sơ-ra-ên rằng:
‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào tạc tượng hay đúc tượng, là vật gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va, là tác phẩm của thợ thủ công, và đặt trong nơi bí mật mà thờ!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’
‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào khinh bỉ cha mẹ mình!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’
‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào dời ranh giới của láng giềng mình!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’
‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào làm cho người mù lạc đường!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’
‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào bẻ cong công lý đối với ngoại kiều, kẻ mồ côi và người góa bụa!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’
‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào nằm với vợ kế của cha mình, vì kẻ đó làm nhục cha mình!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’
‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào nằm với một con thú!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’
‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào nằm với chị em mình, hoặc cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’
‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào nằm với mẹ vợ mình!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’
‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào bí mật đánh chết người láng giềng mình!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’
‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào nhận của hối lộ để giết người vô tội!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’
‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào không thực thi những quy định của luật pháp nầy!’ Toàn dân phải đáp: ‘A-men!’”
“Nếu anh em thật lòng lắng nghe tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, cẩn thận làm theo mọi điều răn của Ngài mà tôi truyền cho anh em ngày nay thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em sẽ làm cho anh em trổi vượt mọi dân tộc trên đất nầy.
Mọi phước lành sau đây sẽ giáng trên anh em nếu anh em lắng nghe tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em:
Anh em sẽ được ban phước trong thành cũng như ngoài đồng ruộng.
Bông trái của thân thể anh em, hoa quả của đất đai anh em, bầy con của đàn gia súc, và cả chiên con lẫn bò con của anh em đều sẽ được ban phước.
Cái giỏ và thùng nhồi bột của anh em đều sẽ được ban phước!
Anh em sẽ được ban phước khi đi ra cũng như lúc đi vào.
Đức Giê-hô-va sẽ làm cho kẻ thù nổi lên chống anh em bị đánh bại trước mặt anh em. Từ một đường chúng kéo ra đánh anh em, thì phải theo bảy đường mà chạy trốn khỏi anh em.
Đức Giê-hô-va sẽ truyền cho phước lành đến với anh em trong kho lúa và trong mọi công việc của tay anh em. Ngài sẽ ban phước cho anh em trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em.
Nếu anh em tuân giữ các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời và đi theo đường lối Ngài thì Đức Giê-hô-va sẽ lập anh em làm một dân thánh cho Ngài như Ngài đã thề với anh em.
Mọi dân tộc trên địa cầu sẽ thấy rằng anh em được mang danh Đức Giê-hô-va và chúng sẽ sợ anh em.
Đức Giê-hô-va sẽ làm cho anh em thịnh vượng, bông trái của thân thể anh em, bầy con của đàn gia súc, hoa quả của đất ruộng anh em sẽ được dồi dào trong xứ mà Ngài sẽ ban cho anh em theo lời thề với các tổ phụ.
Đức Giê-hô-va sẽ mở kho báu từ trời của Ngài cho anh em, ban mưa đúng mùa trên đất đai anh em và ban phước cho mọi công việc của tay anh em. Anh em sẽ cho nhiều dân tộc vay nhưng anh em không vay mượn ai cả.
Đức Giê-hô-va sẽ đặt anh em đứng đầu chứ không phải đứng chót, anh em sẽ luôn ở trên chóp chứ không ở dưới đáy; nếu anh em vâng theo các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mà hôm nay tôi truyền cho anh em, tuân giữ và thực hành,
và nếu anh em không lìa bỏ một lời nào tôi truyền cho anh em hôm nay, không quay sang bên phải hoặc bên trái, không chạy theo và phụng thờ các thần khác.”
“Nhưng nếu anh em không nghe theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, không cẩn thận làm theo các điều răn và luật lệ của Ngài mà tôi truyền cho anh em hôm nay thì những lời nguyền rủa nầy sẽ giáng trên anh em và đuổi kịp anh em.
Anh em sẽ bị nguyền rủa trong thành cũng như ngoài đồng ruộng.
Cái giỏ và thùng nhồi bột của anh em đều sẽ bị nguyền rủa.
Bông trái của thân thể anh em, hoa quả của đất đai anh em, cả chiên con lẫn bò con của anh em đều sẽ bị nguyền rủa.
Anh em sẽ bị nguyền rủa khi đi ra cũng như lúc đi vào.
Nếu anh em làm điều gian ác và lìa bỏ Đức Giê-hô-va thì Ngài sẽ giáng tai ương, sự kinh hoàng và hoang mang trên anh em, trên mọi công việc tay anh em làm, cho đến khi anh em bị tiêu trừ và mau chóng bị diệt vong.
Đức Giê-hô-va sẽ khiến dịch bệnh bám đuổi anh em cho đến khi nó tận diệt anh em khỏi đất mà anh em sắp chiếm hữu.
Đức Giê-hô-va sẽ hành hạ anh em bằng bệnh lao phổi, bệnh sốt, bệnh phù, bằng nắng cháy và hạn hán làm cho cây cỏ héo úa, mốc meo. Các tai ương đó đuổi theo anh em cho đến khi anh em bị diệt vong.
Bầu trời trên đầu anh em sẽ như đồng và đất dưới chân anh em sẽ như sắt.
Thay vì mưa trên đất anh em, Đức Giê-hô-va sẽ khiến cát và bụi từ trời rơi xuống cho đến khi anh em bị tiêu diệt.
Đức Giê-hô-va sẽ khiến anh em bị kẻ thù đánh bại. Anh em sẽ từ một đường kéo ra đánh chúng, rồi phải theo bảy đường chạy trốn khỏi chúng. Anh em sẽ trở thành một thứ ghê tởm đối với mọi vương quốc trên đất.
Xác chết của anh em sẽ làm thức ăn cho chim trời và thú vật trên đất mà chẳng ai xua đuổi chúng đi.
Đức Giê-hô-va sẽ hành hạ anh em bằng bệnh ung nhọt của Ai Cập, bệnh bướu, ghẻ chốc, ngứa ngáy mà không sao chữa khỏi.
Ngài cũng làm cho anh em bị điên khùng, mù lòa và lảng trí.
Đang giữa trưa mà anh em quờ quạng như người mù trong đêm tối. Anh em bị thất bại trong công việc mình; anh em bị ức hiếp và cướp bóc thường xuyên mà chẳng ai cứu giúp.
Anh em sẽ đính hôn với một phụ nữ nhưng một người đàn ông khác lại nằm với nàng. Anh em sẽ cất một cái nhà nhưng không được ở; anh em trồng một vườn nho nhưng không được ăn trái.
Bò của anh em sẽ bị làm thịt trước mắt mình nhưng anh em không được ăn. Lừa của anh em sẽ bị cướp ngay trước mặt mình nhưng không được trả lại. Chiên của anh em sẽ bị nộp cho kẻ thù mà chẳng ai cứu giúp anh em.
Con trai con gái anh em sẽ bị giao cho một dân tộc khác ngay trước mắt anh em và suốt ngày anh em mỏi mòn trông chờ chúng, nhưng anh em đành bó tay.
Một dân tộc mà anh em chưa hề biết sẽ ăn sạch sản vật của đất đai và công sức lao động của anh em; anh em thường xuyên bị hiếp đáp, bị giày đạp,
và những điều trông thấy sẽ khiến anh em phát điên.
Đức Giê-hô-va sẽ hành hạ anh em bằng một thứ ung độc ở đầu gối và chân, rồi lan từ bàn chân lên đỉnh đầu, không thể chữa lành được.
Đức Giê-hô-va sẽ đày anh em và vua mà anh em đã lập đến một nước mà anh em và tổ phụ anh em chưa từng biết. Tại đó, anh em sẽ thờ cúng các thần khác bằng gỗ, bằng đá.
Anh em sẽ trở thành nỗi kinh hoàng, đề tài đàm tiếu và giễu cợt giữa các dân tộc mà Đức Giê-hô-va sẽ đẩy anh em đến.
Anh em sẽ gieo thật nhiều giống ngoài đồng nhưng gặt hái được rất ít vì bị châu chấu ăn sạch.
Anh em sẽ trồng và chăm sóc vườn nho nhưng không có trái để hái và rượu để uống vì sâu bọ sẽ ăn hết.
Anh em sẽ có cây ô-liu trên toàn lãnh thổ nhưng không có dầu mà xức vì trái ô-liu sẽ rụng hết.
Anh em sẽ sinh con trai con gái nhưng chúng không thuộc về anh em vì chúng sẽ bị bắt làm nô lệ.
Bọ rầy sẽ ăn sạch cây cối và hoa màu của anh em.
Các kiều dân sống giữa anh em sẽ càng ngày càng vượt xa anh em; còn anh em càng ngày càng xuống dốc.
Họ sẽ cho anh em vay, còn anh em chẳng có gì để cho họ vay lại. Họ sẽ đứng đầu, còn anh em đứng chót.
Tất cả những lời nguyền rủa nầy sẽ giáng trên anh em, đuổi theo và bắt kịp anh em cho đến khi anh em bị tiêu diệt vì anh em đã không vâng theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời cũng như không tuân giữ các điều răn và luật lệ mà Ngài truyền cho anh em.
Các lời nguyền rủa nầy sẽ mãi mãi là dấu hiệu và điềm báo cho anh em và dòng dõi anh em.
Vì khi được thịnh vượng anh em không phụng thờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời với cả tấm lòng hân hoan vui vẻ,
nên trong cảnh đói khát, trần truồng và thiếu thốn mọi thứ, anh em phải phục dịch kẻ thù mà Đức Giê-hô-va sai đến đánh anh em. Ngài sẽ đặt ách sắt trên cổ anh em cho đến khi anh em bị tiêu diệt hết.
Đức Giê-hô-va sẽ đưa một dân tộc từ nơi xa xôi đến, từ tận cùng trái đất, như đại bàng lao xuống vồ lấy anh em, một dân tộc mà anh em không hiểu được ngôn ngữ của chúng,
một dân tộc mặt mày dữ tợn, không kính trọng người già, chẳng xót thương người trẻ.
Chúng sẽ ăn đàn gia súc, sản vật của đất đai anh em cho đến khi anh em bị tiêu diệt. Chúng không chừa lại cho anh em ngũ cốc, rượu, dầu hay bò con hoặc chiên con cho đến khi anh em bị diệt vong.
Chúng sẽ vây hãm anh em trong các thành cho đến khi những vách thành cao và kiên cố mà anh em trông cậy kia phải sụp xuống. Chúng sẽ vây hãm khắp xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em ban cho anh em.
Trong khi bị vây hãm và bị quân thù làm cho túng thế cùng đường, anh em sẽ ăn bông trái của thân thể mình tức là ăn thịt con trai con gái mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ban cho anh em.
Ngay cả người đàn ông hiền lành nhạy cảm nhất trong anh em, trong lúc cùng đường túng thế vì sự vây hãm khắp các thành của quân thù, anh ta cũng sẽ nhìn người anh em mình, người vợ mình yêu dấu và những đứa con còn lại của mình với ánh mắt dữ tợn,
và không muốn chia cho bất cứ ai thịt của con cái mà mình đang ăn, vì ngoài thứ ấy anh ta không còn gì cả.
Người phụ nữ dịu dàng nhạy cảm nhất trong anh chị em, dịu dàng nhạy cảm đến nỗi chưa dám đặt bàn chân xuống đất, trong lúc cùng đường túng thế vì sự vây hãm khắp các thành của quân thù, nàng cũng sẽ nhìn người chồng yêu dấu, con trai con gái mình với ánh mắt dữ tợn,
rồi lén lút ăn sạch cả cái nhau ra từ bụng mình lẫn những đứa con do mình sinh ra, vì nàng quá thiếu thốn.
Nếu anh em không cẩn thận tuân giữ các lời của luật pháp được ghi trong sách nầy, không tôn kính danh vinh hiển và đáng sợ nầy là GIÊ-HÔ-VA ĐỨC CHÚA TRỜI CỦA ANH EM,
thì Đức Giê-hô-va sẽ giáng trên anh em và dòng dõi anh em những tai ương lạ thường, những tai ương nặng nề và dai dẳng, những dịch bệnh hiểm nghèo và dai dẳng.
Ngài sẽ cho tái hiện giữa anh em các dịch bệnh của Ai Cập mà anh em đã từng run sợ và chúng sẽ bám theo anh em.
Ngoài ra còn có cả các thứ dịch bệnh và tai ương không được ghi trong sách luật pháp nầy thì Đức Giê-hô-va cũng sẽ giáng trên anh em cho đến khi anh em bị tiêu diệt.
Dân số anh em vốn đông như sao trời sẽ chỉ còn lại một ít vì anh em không vâng theo tiếng phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em.
Đức Giê-hô-va đã vui thích khi làm cho anh em được thịnh vượng và đông đúc thế nào thì Ngài cũng vui thích mà làm cho anh em bị diệt vong và tiêu tán thế ấy. Anh em sẽ bị trục xuất khỏi xứ mà anh em sắp vào chiếm hữu.
Đức Giê-hô-va sẽ phân tán anh em giữa mọi dân tộc, từ đầu nầy cho đến cuối đầu kia của địa cầu. Tại đó, anh em sẽ thờ cúng các thần khác bằng gỗ, bằng đá mà cả anh em lẫn tổ phụ anh em đều không biết.
Trong các nước đó anh em không được an ổn, không có chỗ nghỉ chân. Tại đó, Đức Giê-hô-va sẽ làm cho lòng anh em run sợ, đôi mắt mỏi mòn và tâm linh tàn tạ.
Mạng sống anh em bị treo lơ lửng trước mặt anh em; cả ngày lẫn đêm anh em sống trong phập phồng lo sợ, không biết sống chết thể nào.
Buổi sáng anh em sẽ nói: ‘Ước gì đêm đến!’ Buổi chiều thì anh em lại nói: ‘Ước gì trời sáng!’, vì nỗi khiếp sợ tràn ngập lòng anh em và vì những gì mắt anh em trông thấy.
Đức Giê-hô-va sẽ bắt anh em trở lại Ai Cập bằng tàu thuyền, bằng con đường mà tôi đã từng nói rằng anh em không phải thấy nó nữa. Tại đó anh em sẽ đem bán mình làm nô lệ cho kẻ thù nhưng chẳng có ai mua!”
Đây là những lời trong giao ước mà Đức Giê-hô-va truyền dạy Môi-se lập với dân Y-sơ-ra-ên trong xứ Mô-áp, ngoài giao ước mà Ngài đã lập với họ tại Hô-rếp.
Môi-se triệu tập toàn dân Y-sơ-ra-ên và nói: “Anh em đã tận mắt thấy mọi điều mà Đức Giê-hô-va đã làm tại Ai Cập cho Pha-ra-ôn, quần thần và cả xứ sở của vua ấy.
Chính mắt anh em đã thấy những thử thách lớn lao, là những dấu lạ, phép mầu phi thường.
Nhưng cho đến ngày nay Đức Giê-hô-va chưa ban cho anh em tấm lòng để biết, con mắt để thấy hay lỗ tai để nghe.
Ngài phán: ‘Ta đã dẫn dắt các ngươi bốn mươi năm trong hoang mạc, áo các ngươi mặc không rách, dép các ngươi mang không mòn.
Các ngươi không ăn bánh, uống rượu hay thức uống có men để các ngươi biết rằng Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi.’
Khi anh em đến nơi nầy, Si-hôn vua Hết-bôn và Óc vua Ba-san đã ra nghênh chiến với chúng ta và chúng ta đã đánh bại họ,
chiếm đất đai của họ rồi cấp cho bộ tộc Ru-bên, Gát và phân nửa bộ tộc Ma-na-se làm sản nghiệp.
Vậy anh em phải tuân giữ và thực hành những lời của giao ước nầy để anh em được thành công trong mọi việc anh em làm.
Hôm nay, tất cả anh em gồm trưởng các bộ tộc, các trưởng lão, các quan chức, mọi người nam trong Y-sơ-ra-ên,
cùng với đàn bà con trẻ của anh em, các kiều dân ở trong trại của anh em, từ người chặt củi đến người xách nước cho anh em, đang đứng trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời,
để bước vào giao ước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời và lời thề mà Ngài lập với anh em,
để hôm nay Ngài xác nhận anh em là dân của Ngài và chính Ngài sẽ là Đức Chúa Trời của anh em như Ngài đã phán với anh em và thề hứa với tổ phụ anh em là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.
Không phải tôi chỉ lập giao ước và lời thề nầy với anh em thôi đâu,
nhưng cả với người nào hôm nay đang đứng đây với chúng ta trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, cũng như với những người không có mặt tại đây với chúng ta hôm nay.
Anh em biết chúng ta đã kiều ngụ trong xứ Ai Cập như thế nào và chúng ta đi ngang qua địa phận các nước ra làm sao.
Anh em đã thấy ở giữa họ các vật gớm ghiếc và những thần tượng bằng gỗ, đá, bạc, vàng.
Hôm nay, nhất quyết không có một người nào trong anh em, dù nam hay nữ, dù gia tộc hay bộ tộc nào được thay lòng đổi dạ với Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta mà đi thờ cúng các thần của những dân tộc đó. Trong anh em cũng đừng có rễ sinh ra trái độc và quả đắng.
Người nào nghe được các lời thề ước nầy thì đừng có tự mãn trong lòng rằng: ‘Ta sẽ được bình an dù ta có cứng lòng đi theo đường lối riêng của mình’, như thể đất bùn cũng bị trôi đi như đất bụi.
Đức Giê-hô-va sẽ không tha thứ cho người ấy đâu nhưng cơn giận và sự kỵ tà của Đức Giê-hô-va sẽ đốt cháy người ấy. Tất cả các lời nguyền rủa chép trong sách nầy sẽ đổ xuống trên nó và Đức Giê-hô-va sẽ xóa tên nó trong thiên hạ.
Ngài sẽ tách người ấy khỏi các bộ tộc Y-sơ-ra-ên để chịu tai họa, theo mọi lời nguyền rủa của giao ước đã được ghi trong sách luật pháp nầy.
Con cháu tiếp nối anh em trong các thế hệ tương lai và người nước ngoài từ phương xa đến sẽ thấy những tai ương mà Đức Giê-hô-va đã giáng trên đất cũng như các dịch bệnh mà Ngài dùng để trừng phạt xứ nầy.
Toàn xứ chỉ là đồng khô cỏ cháy với diêm sinh và muối, không gieo trồng, không canh tác, không có cây cối đâm chồi, không có rau cỏ mọc lên, giống như cảnh điêu tàn của Sô-đôm và Gô-mô-rơ, Át-ma và Sê-bô-im là các thành đã bị Đức Giê-hô-va tiêu diệt trong cơn thịnh nộ kinh khiếp của Ngài.
Tất cả các nước sẽ hỏi rằng: ‘Tại sao Đức Giê-hô-va đã làm như thế cho xứ nầy? Tại sao lại có cơn thịnh nộ kinh khiếp như vậy?’
Người ta sẽ trả lời rằng: ‘Vì họ đã chối bỏ giao ước mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ đã lập với họ khi Ngài đem họ ra khỏi Ai Cập.
Họ đi thờ phượng và quỳ lạy các thần khác là những thần mà họ chưa từng biết và Ngài cũng không cho phép họ thờ lạy.’
Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã trút cơn thịnh nộ trên xứ nầy và giáng trên nó mọi lời nguyền rủa ghi trong sách nầy.
Trong cơn thịnh nộ, lôi đình và vô cùng tức giận Đức Giê-hô-va đã trục xuất dân nầy khỏi đất họ và ném họ vào một xứ khác, như điều đang có ngày nay.”
Những điều huyền nhiệm thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, nhưng những điều được mặc khải thuộc về chúng ta và con cháu chúng ta đến đời đời, để chúng ta làm theo mọi lời của luật pháp nầy.
“Khi tất cả những điều nầy đã xảy đến cho anh em, tức là các phước lành và lời nguyền rủa mà tôi đã đưa ra trước mặt anh em, và khi đang sống giữa các nước mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đày anh em đến, anh em biết hồi tâm suy nghĩ đến những điều đó
mà quay lại với Giê-hô-va Đức Chúa Trời, và anh em cùng con cái mình hết lòng hết linh hồn vâng theo tiếng phán của Ngài, như mọi điều tôi truyền cho anh em hôm nay,
thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ giải cứu anh em khỏi cảnh lưu đày, sẽ thương xót anh em và sẽ tập hợp anh em về từ mọi dân tộc mà Ngài đã phân tán anh em.
Dù anh em có bị lưu đày đến cuối trời thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em cũng sẽ tập hợp anh em lại và đem anh em trở về.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ đưa anh em về xứ mà tổ phụ anh em chiếm hữu và anh em sẽ sở hữu nó. Ngài sẽ làm cho anh em thịnh vượng và đông đúc hơn tổ phụ anh em.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ cắt bì tấm lòng anh em và tấm lòng của dòng dõi anh em để anh em hết lòng hết linh hồn kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình và nhờ đó mà anh em được sống.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ giáng các lời nguyền rủa nầy trên kẻ thù anh em, trên những kẻ ghen ghét và bắt bớ anh em.
Còn anh em sẽ trở lại và vâng theo tiếng phán của Đức Giê-hô-va, thực hành các điều răn của Ngài mà tôi truyền cho anh em hôm nay.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em sẽ làm cho anh em thịnh vượng trong mọi công việc tay anh em làm, từ bông trái của thân thể anh em đến bầy con của đàn gia súc và hoa quả của đất đai anh em. Vì Đức Giê-hô-va sẽ vui về hạnh phúc của anh em như Ngài đã vui về hạnh phúc của tổ phụ anh em,
miễn là anh em vâng theo tiếng phán của Đức Giê-hô-va, tuân giữ các điều răn và luật lệ của Ngài đã ghi trong sách luật pháp nầy, cũng như hết lòng hết linh hồn trở về với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.”
“Điều răn mà tôi truyền cho anh em hôm nay không quá khó khăn hay nằm ngoài tầm tay của anh em.
Điều đó chẳng phải ở trên trời để anh em phải thắc mắc: ‘Ai sẽ lên trời đem nó xuống để chúng tôi nghe và làm theo?’
Nó cũng không ở bên kia biển để anh em phải hỏi: ‘Ai sẽ đi qua bên kia biển đem nó về để chúng tôi nghe và làm theo?’
Nhưng lời nầy rất gần anh em, ở trong miệng và trong lòng anh em để anh em làm theo.
Hãy xem, hôm nay tôi đặt trước mặt anh em sự sống và phước lành, sự chết và tai họa.
Nếu anh em tuân giữ các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mà hôm nay tôi truyền cho anh em, yêu mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời, đi trong đường lối Ngài, tuân giữ những điều răn, luật lệ và mệnh lệnh Ngài, thì anh em được sống và thêm đông đúc. Giê-hô-va Đức Chúa Trời sẽ ban phước cho anh em trong xứ mà anh em sắp vào chiếm hữu.
Nhưng nếu anh em thay lòng đổi dạ, không muốn nghe theo, lại bị quyến dụ đi cúng lạy và phụng thờ các thần khác,
thì hôm nay, tôi công bố với anh em rằng anh em chắc chắn sẽ bị diệt vong, không được sống lâu trong xứ mà anh em sắp vượt qua sông Giô-đanh để tiếp nhận.
Hôm nay, tôi xin trời và đất làm chứng rằng tôi đã đặt trước mặt anh em sự sống và sự chết, phước lành và sự nguyền rủa. Vậy hãy chọn sự sống để anh em và dòng dõi anh em được sống.
Hãy yêu mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời, vâng theo tiếng phán Ngài và gắn bó với Ngài, vì Ngài là sự sống của anh em; Ngài sẽ cho anh em được ở lâu dài trên đất mà Đức Giê-hô-va đã thề ban cho các tổ phụ anh em là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.”
Môi-se đến và công bố những lời nầy với toàn dân Y-sơ-ra-ên.
Ông nói: “Hôm nay tôi được một trăm hai mươi tuổi, không thể đi ra đi vào được nữa, và Đức Giê-hô-va đã phán với tôi rằng: ‘Con sẽ không được qua sông Giô-đanh nầy đâu.’
Chính Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em sẽ qua sông trước anh em. Ngài sẽ diệt các dân tộc nầy trước mặt anh em và anh em sẽ chiếm đất của chúng. Giô-suê sẽ lãnh đạo và dẫn anh em qua sông như Đức Giê-hô-va đã phán dặn.
Đức Giê-hô-va sẽ tiêu diệt chúng như Ngài đã tiêu diệt Si-hôn và Óc, vua dân A-mô-rít, và xứ sở của chúng.
Đức Giê-hô-va sẽ phó chúng cho anh em và anh em phải xử chúng theo mọi mệnh lệnh tôi đã truyền cho anh em.
Hãy mạnh dạn và can đảm! Đừng sợ, đừng kinh khiếp trước mặt các dân tộc đó, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đi với anh em. Ngài chẳng lìa khỏi anh em, chẳng từ bỏ anh em đâu!”
Nói xong, Môi-se gọi Giô-suê đến và nói với ông trước mặt toàn dân Y-sơ-ra-ên: “Hãy mạnh dạn và can đảm lên vì chính anh sẽ cùng với dân nầy vào đất mà Đức Giê-hô-va đã thề ban cho tổ phụ họ, và anh sẽ chia xứ đó cho họ làm sản nghiệp.
Chính Đức Giê-hô-va sẽ đi trước anh; Ngài sẽ ở với anh, không lìa anh, không từ bỏ anh đâu. Đừng sợ và đừng kinh khiếp!”
Môi-se ghi lại luật nầy và trao cho các thầy tế lễ, các con cháu Lê-vi, là những người khiêng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va, cũng như trao cho tất cả các trưởng lão Y-sơ-ra-ên.
Môi-se truyền cho họ: “Cuối mỗi bảy năm, vào năm tha nợ, trong dịp lễ Lều Tạm,
khi toàn dân Y-sơ-ra-ên đến trình diện trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời tại địa điểm Ngài sẽ chọn, thì các ông phải đọc luật pháp nầy trước toàn dân Y-sơ-ra-ên để ai cũng được nghe.
Hãy triệu tập dân chúng lại, cả đàn ông, đàn bà, trẻ con và những ngoại kiều đang ở trong các thành của các ông để họ được nghe và học tập kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ông và cẩn thận làm theo mọi lời của luật pháp nầy.
Con cháu họ là những người chưa từng biết luật nầy sẽ được nghe và học tập kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ông, suốt thời gian sống trong xứ mà các ông sẽ chiếm hữu sau khi vượt qua sông Giô-đanh.”
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Kìa, ngày qua đời của con đã gần rồi. Hãy gọi Giô-suê đến, rồi cả hai sẽ trình diện tại Lều Hội Kiến để Ta truyền lệnh cho nó.” Vậy Môi-se và Giô-suê đến trình diện tại Lều Hội Kiến.
Đức Giê-hô-va hiện ra tại Lều, trong một trụ mây. Trụ mây dừng lại tại cửa Lều.
Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: “Nầy, con sắp an giấc với các tổ phụ con. Còn dân nầy sẽ nổi loạn và thông dâm với các thần của dân ngoại tại trong xứ mà họ sắp vào. Họ sẽ bỏ Ta và phá vỡ giao ước mà Ta đã lập với họ.
Trong ngày ấy, Ta sẽ nổi cơn thịnh nộ với họ. Ta sẽ lìa bỏ họ và ẩn mặt khỏi họ, mặc cho họ bị cắn nuốt và tai ương, thảm họa đổ xuống trên họ. Trong ngày đó, họ sẽ nói rằng: ‘Có phải vì Đức Chúa Trời không còn ở với tôi nên những thảm họa nầy đổ xuống cho tôi không?’
Còn Ta, trong ngày đó, chắc chắn Ta sẽ ẩn mặt đi vì mọi điều gian ác mà họ đã làm khi chạy theo các thần khác.
Vậy bây giờ hãy chép bài ca nầy và dạy cho dân Y-sơ-ra-ên. Hãy đặt nó vào miệng họ để bài ca nầy trở thành lời chứng của Ta cáo buộc dân Y-sơ-ra-ên.
Vì Ta sẽ đưa dân nầy vào xứ mà Ta đã thề hứa với tổ phụ của họ, tức là xứ đượm sữa và mật; nhưng khi họ ăn no nê và mập mạnh thì sẽ chạy theo các thần khác và phụng thờ chúng, khinh thường Ta và phá bỏ giao ước với Ta.
Khi nhiều tai ương và thảm họa trút xuống trên họ thì bài ca nầy sẽ là lời chứng cáo buộc họ, vì dòng dõi họ sẽ không quên bài ca nầy. Thật, Ta đã biết những ý định của họ hôm nay trước khi đưa họ vào xứ mà Ta đã thề ban cho họ.”
Hôm ấy, Môi-se chép bài ca nầy và dạy cho con dân Y-sơ-ra-ên.
Đức Giê-hô-va truyền lệnh cho Giô-suê, con trai Nun rằng: “Hãy mạnh dạn và can đảm vì con sẽ đưa dân Y-sơ-ra-ên vào xứ mà Ta đã thề ban cho họ. Còn Ta, Ta sẽ ở với con.”
Sau khi đã ghi những lời của luật pháp nầy vào một cuốn sách,
Môi-se truyền cho những người Lê-vi khiêng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va rằng:
“Hãy lấy cuốn sách luật pháp nầy đặt cạnh Hòm Giao Ước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em. Sách ấy ở đó sẽ như lời chứng cáo buộc anh em,
vì tôi biết tính phản trắc và ngoan cố của anh em. Hôm nay, khi tôi còn sống giữa anh em mà anh em đã phản nghịch với Đức Giê-hô-va, huống chi là sau khi tôi qua đời!
Hãy triệu tập cho tôi trưởng lão của các bộ tộc và quan chức của anh em; tôi sẽ nói thẳng với họ những lời nầy và lấy đất trời làm chứng cho họ.
Vì tôi biết rằng sau khi tôi qua đời, chắc chắn anh em sẽ bại hoại, quay lưng lại với con đường mà tôi đã truyền dạy cho anh em. Trong tương lai, tai ương sẽ đổ xuống trên anh em vì anh em làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, chọc giận Ngài bằng những công việc tay anh em làm.”
Sau đó, Môi-se đọc từ đầu đến cuối lời của bài ca nầy cho toàn dân Y-sơ-ra-ên nghe:
Hỡi trời hãy lắng tai, tôi sẽ nói, Hỡi đất hãy nghe những lời từ miệng tôi.
Xin cho giáo huấn của tôi rơi xuống như mưa, Lời tôi nhỏ xuống như sương móc, Khác nào mưa phùn trên cỏ non, Như mưa rào trên cánh đồng xanh.
Vì tôi sẽ tung hô danh Đức Giê-hô-va. Tôn cao sự oai nghiêm của Đức Chúa Trời chúng ta.
Ngài là Vầng Đá, công việc Ngài thật toàn hảo, Vì mọi đường lối Ngài đều là công lý. Một Đức Chúa Trời thành tín và vô tội, Luôn chính trực công minh.
Họ đã hành động gian dối với Ngài Một dòng dõi nhuốc nhơ, ương ngạnh và gian tà, Không còn đáng làm con của Ngài nữa.
Hỡi dân tộc ngu si khờ dại, Các người đền ơn Đức Giê-hô-va như vậy sao? Chẳng phải Ngài là Cha, là Đấng sáng tạo, Đã tạo dựng và lập các người thành một dân tộc sao?
Hãy nhớ lại những ngày xa xưa, Suy ngẫm về những thế hệ đã qua; Hãy hỏi cha mình, ông sẽ chỉ cho. Hỏi các trưởng lão, họ sẽ giãi bày.
Khi Đấng Tối cao phân chia sản nghiệp cho muôn dân, Và phân tán con cái loài người Thì Ngài định biên giới cho mọi dân tộc Theo số con dân Y-sơ-ra-ên.
Vì phần của Đức Giê-hô-va là dân Ngài, Gia-cốp là sản nghiệp Ngài.
Ngài tìm được họ trong một nơi hoang vắng, Giữa những tiếng gào thét của hoang mạc. Ngài bao phủ họ, chăm sóc họ, Gìn giữ họ như con ngươi của mắt Ngài.
Như phụng hoàng khuấy động ổ mình, Bay lượn quanh bầy con Dang rộng cánh ra đỡ lấy Rồi cõng con trên đôi cánh.
Chỉ một mình Đức Giê-hô-va dẫn dắt dân Ngài Không có thần lạ nào khác ở bên.
Ngài khiến họ cưỡi trên các nơi cao của xứ, Ăn hoa quả của ruộng đồng, Cho họ nếm mật ong từ vầng đá, Và dầu phun ra từ đá hoa cương;
Ăn sữa đông từ bò, sữa tươi từ chiên, Với mỡ chiên con và chiên đực Từ bầy bò và dê miền Ba-san, Chung với lúa mì thượng hạng. Anh em sẽ uống rượu nho nguyên chất đỏ như máu.
Giê-su-run khi mập ra thì đã tung cú đá, — Anh em cũng to béo, mập tròn — Lìa bỏ Đức Chúa Trời, Đấng dựng nên mình Và khinh thường Vầng Đá cứu chuộc mình.
Họ thờ lạy những thần xa lạ khiến Ngài phải ghen tức Làm những việc ghê tởm để chọc giận Ngài.
Dâng sinh tế cho ma quỷ, không phải là Đức Chúa Trời, Quỳ lạy các thần mà mình chưa từng biết, Là các thần mới vừa xuất hiện ít lâu, Mà tổ phụ anh em không bao giờ khiếp sợ.
Anh em không quan tâm đến Vầng Đá đã sinh ra mình Và quên Đức Chúa Trời Đấng ban sự sống.
Đức Giê-hô-va thấy điều đó và từ bỏ họ Vì các con trai con gái Ngài đã chọc giận Ngài.
Ngài phán: “Ta sẽ giấu mặt đi Để xem cuối cùng họ sẽ ra sao, Vì họ là dòng dõi gian tà, Là những đứa con bất trung.
Họ chọc Ta ghen tức với thần chẳng phải là Đức Chúa Trời, Làm cho Ta tức giận vì sự hư không của họ; Ta cũng khiến họ ghen tức với một dân không phải là dân, Và khiến họ tức giận vì một dân tộc ngu dốt.
Vì lửa thịnh nộ đã bừng lên trong Ta, Cháy cho đến tận đáy âm phủ, Thiêu hủy đất đai và mùa màng, Đốt cháy tận nền các núi.
Ta sẽ chất tai ương trên họ, Bắn hết các mũi tên vào họ.
Họ sẽ bị hao mòn vì đói, Kiệt quệ vì nắng cháy, Tiêu tan vì dịch bệnh thảm khốc. Ta sẽ sai răng dã thú, Và nọc độc của loài rắn trong bụi đất đến hãm hại họ.
Ngoài thì gươm đao tàn sát con cái, Trong thì nỗi kinh hoàng Làm cho cả thanh niên thanh nữ, Và trẻ con đang bú cùng với người đầu bạc đều bị diệt vong.
Ta định: ‘Ta sẽ phân tán họ khắp nơi, Xóa sạch kỷ niệm họ khỏi loài người.’
Nhưng Ta ngại kẻ thù khiêu khích, Đối phương hiểu lầm, Cho rằng: ‘Chiến thắng về tay chúng ta, Chứ Đức Giê-hô-va có làm mọi điều ấy đâu!’
Vì họ là một dân kém khôn ngoan, Thiếu hiểu biết.
Nếu khôn ngoan họ sẽ hiểu điều nầy, Và ý thức được đến cuối cùng mình sẽ ra sao.
Làm sao một người đuổi được nghìn người, Và hai người làm cho mười nghìn người tháo chạy, Nếu Vầng Đá không bán chúng đi, Và Đức Giê-hô-va không giao nộp chúng?
Chính kẻ thù chúng ta cũng phải thừa nhận Vầng đá của chúng không sánh nổi với Vầng Đá chúng ta.
Cây nho của chúng lấy giống từ Sô-đôm, Từ cánh đồng Gô-mô-rơ; Nên trái nho của chúng là trái độc, Chùm nho đầy trái đắng cay.
Rượu nho của chúng là nọc rắn độc, Nọc độc chết người của rắn hổ mang.
Việc như thế làm sao Ta quên được? Ta đã niêm phong nó trong kho tàng của Ta.
Sự trả thù thuộc về Ta, Ta sẽ báo ứng, Vào lúc chân của chúng trượt ngã; Vì ngày hoạn nạn của chúng đã gần, Ngày tận số của chúng đang vội vàng tiến đến.”
Nhưng khi Đức Giê-hô-va thấy sức lực của dân Ngài hao mòn, Người nô lệ, kẻ tự do cũng biến mất, Thì Ngài sẽ xét xử công minh cho họ Và xót thương đầy tớ Ngài.
Bấy giờ Ngài sẽ hỏi: “Các thần của họ Những vầng đá họ ẩn thân,
Các thần ăn mỡ sinh tế Và uống rượu lễ quán đâu cả rồi? Kêu chúng dậy giúp đỡ Và bảo bọc các ngươi đi!
Bây giờ, hãy xem, chính Ta là Đức Chúa Trời Ngoài Ta chẳng có thần nào khác; Ta khiến cho chết và cho sống lại, Làm cho bị thương và chữa cho lành Chẳng ai giải cứu khỏi tay Ta được.
Ta giơ tay lên trời Và công bố: ‘Ta sống vĩnh hằng!’
Khi Ta mài lưỡi gươm lấp lánh, Và tay cầm sự phán xét Thì Ta sẽ báo thù các đối thủ Ta, Báo ứng những kẻ ghét Ta.
Ta sẽ làm cho các mũi tên say máu, Lưỡi gươm nuốt thịt, Tức là huyết của các tù nhân và kẻ bị thương vong, Đầu của các tướng lãnh quân thù.”
Hỡi các nước! Hãy vui mừng với dân Chúa, Vì Ngài rửa hận cho huyết của các đầy tớ Ngài, Báo thù các đối thủ Ngài, Và tha tội cho xứ sở và cho dân của Ngài.
Môi-se đã cùng đến với Giô-suê, con trai của Nun, đọc cho dân chúng nghe tất cả các lời của bài ca nầy.
Khi đã đọc xong các lời nầy cho toàn dân Y-sơ-ra-ên,
Môi-se căn dặn họ: “Hãy chú tâm vào tất cả những lời mà hôm nay tôi đã cảnh báo anh em, và truyền lại cho con cháu anh em để chúng cẩn thận làm theo mọi lời của luật pháp nầy.
Vì đây không phải là lời nói vô ích đối với anh em đâu, nhưng là sự sống của anh em. Nhờ lời nầy anh em sẽ được sống lâu trên đất mà anh em sắp chiếm hữu sau khi qua sông Giô-đanh.”
Cũng trong ngày đó, Đức Giê-hô-va phán với Môi-se:
“Con hãy lên núi A-ba-rim, đỉnh Nê-bô trong xứ Mô-áp, đối diện Giê-ri-cô, và nhìn về đất Ca-na-an là đất mà Ta ban cho dân Y-sơ-ra-ên làm sản nghiệp.
Con sẽ qua đời trên núi mà con vừa lên đó và sẽ được sum họp với dân tộc con như anh con là A-rôn đã qua đời trên núi Hô-rơ và đã được sum họp với dân tộc mình.
Vì cả hai anh em con đã thất tín với Ta trước mặt dân Y-sơ-ra-ên tại mạch nước Mê-ri-ba ở Ca-đe, trong hoang mạc Sin, và vì các con không tôn thánh Ta giữa dân Y-sơ-ra-ên,
cho nên con chỉ được thấy đất ấy từ đằng xa chứ không được vào đất đó, là đất mà Ta ban cho con dân Y-sơ-ra-ên.”
Đây là lời chúc phước mà Môi-se, người của Đức Chúa Trời, đã chúc cho dân Y-sơ-ra-ên trước khi qua đời.
Ông nói: “Đức Giê-hô-va đến từ Si-na-i, Chiếu soi trên chúng ta từ Sê-i-rơ, Và rạng ngời từ núi Pha-ran; Ngài đến từ giữa muôn nghìn đấng thánh, Lửa luật pháp phát ra từ tay phải của Ngài.
Chúa thương yêu dân Ngài, Tất cả các thánh đều ở trong tay Chúa, Phủ phục dưới chân Ngài Để đón nhận lời Ngài chỉ dạy.
Luật pháp mà Môi-se truyền cho chúng tôi Là sản nghiệp của cộng đồng Gia-cốp.
Ngài là vua của Giê-su-run Khi cấp lãnh đạo của dân chúng họp lại Cùng với các bộ tộc Y-sơ-ra-ên.
Cầu cho Ru-bên sống và lưu truyền mãi mãi. Dù cho số người nó không đông.”
Về Giu-đa, Môi-se nói rằng: “Lạy Đức Giê-hô-va, xin Ngài nghe tiếng của Giu-đa Và đem người về với dân mình; Dùng đôi tay tự bảo vệ mình. Xin Chúa giúp người chống lại quân thù.”
Về Lê-vi, Môi-se nói rằng: “Xin ban Thu-mim cho Lê-vi Và U-rim cho người tin kính Ngài. Mà Ngài đã thử thách tại Ma-sa, Cùng tranh đấu bên mạch nước Mê-ri-ba.
Lê-vi nói về cha mẹ mình rằng: ‘Tôi không nhìn thấy họ,’ Người không nhận anh em mình, Cũng chẳng biết con cái mình. Vì họ tuân thủ lời Chúa, Giữ gìn giao ước của Ngài.
Họ dạy mệnh lệnh của Chúa cho Gia-cốp Và luật pháp Ngài cho Y-sơ-ra-ên; Họ dâng hương trước mặt Chúa, Và tế lễ toàn thiêu trên bàn thờ Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin ban sức lực cho người, Và hài lòng về công việc của tay người. Xin đánh gãy hông của kẻ thù, Và kẻ ghen ghét, để chúng không ngóc đầu lên nổi!”
Về Bên-gia-min, Môi-se nói rằng: “Người được Đức Giê-hô-va yêu mến, Sẽ được sống yên lành bên Ngài. Chúa che chở người suốt đời, Và ngự giữa núi đồi của người.”
Về Giô-sép, Môi-se nói rằng: “Nguyện đất của người được Đức Giê-hô-va ban phước, Với sương móc quý báu từ trời ban tặng, Và những mạch suối ngầm nằm ngay bên dưới;
Với sản phẩm tuyệt hảo từ mặt trời, Và sự phong phú đến từ mặt trăng;
Những sản vật hàng đầu của núi xưa, Các bông trái dồi dào từ các đồi vĩnh cửu;
Với tặng phẩm quý cùng sự sung mãn của đất, Và ơn lành của Đấng ngự giữa bụi gai. Nguyện mọi phước nầy tuôn tràn trên đầu Giô-sép Và trên trán của người đứng đầu anh em mình.
Oai phong như con bò đực đầu lòng, Với cặp sừng dũng mãnh của bò rừng! Người dùng sừng ấy quật ngã mọi dân tộc, Cả đến các dân ở cùng trời cuối đất; Đó là hàng vạn quân Ép-ra-im, Hàng nghìn người Ma-na-se.”
Về Sa-bu-lôn, Môi-se nói rằng: “Hỡi Sa-bu-lôn, hãy vui mừng trong lúc ra đi; Còn Y-sa-ca, hãy hớn hở trong lều trại mình!
Họ sẽ gọi các dân lên núi, Dâng sinh tế công chính tại đó; Vì họ sẽ hút tài nguyên của biển Và những kho tàng ẩn giấu trong cát.”
Về Gát, Môi-se nói rằng: “Tụng ca Đấng mở rộng bờ cõi Gát, Gát nằm rình như một sư tử cái Vồ xé mồi cả tay lẫn đầu.
Người đã chọn phần tốt nhất cho mình. Vì trong đó có dành phần cho người lãnh đạo; Khi những nhà lãnh đạo dân chúng tụ họp lại, Gát thực thi công lý của Đức Giê-hô-va Và các luật lệ của Ngài cho dân Y-sơ-ra-ên.”
Về Đan, Môi-se nói rằng: “Đan là một sư tử tơ, Từ Ba-san nhảy xông đến.”
Về Nép-ta-li, Môi-se nói rằng: “Nép-ta-li ngập tràn ân phước Chúa, Chan chứa phước lành của Đức Giê-hô-va Hãy chiếm hữu phần đất phía tây và phía nam.”
Về A-se, Môi-se nói rằng: “Nguyện A-se được phước hơn các con trai khác, Được anh em ưa chuộng, Và được dầm chân trong dầu!
Các then cửa làm bằng sắt và đồng, Sức mạnh dẻo dai suốt cuộc đời.”
“Ồ Giê-su-run, không có ai như Đức Chúa Trời, Đấng đến cứu giúp cưỡi các tầng trời Uy nghiêm trên những đám mây.
Đức Chúa Trời hằng hữu là nơi ẩn náu, Cánh tay đời đời của Ngài nâng đỡ chúng ta. Ngài sẽ đuổi kẻ thù khuất mắt Và phán rằng: ‘Hãy diệt chúng đi!’
Nhờ vậy chỉ một mình Y-sơ-ra-ên sống trong an lành; Suối Gia-cốp phun lên Trong xứ sở của ngũ cốc và rượu, Đượm nhuần sương móc từ trời.
Hỡi Y-sơ-ra-ên ngươi có phước biết bao! Một dân được Đức Giê-hô-va cứu giúp! Ai được như ngươi? Ngài là thuẫn giúp đỡ ngươi, Là thanh gươm đem vinh quang đến cho ngươi! Kẻ thù sẽ khúm núm trước ngươi, Còn ngươi sẽ giày đạp các nơi cao của chúng.”
Từ cao nguyên Mô-áp, Môi-se lên đỉnh Phích-ga, trên núi Nê-bô, đối diện Giê-ri-cô. Tại đó, Đức Giê-hô-va cho ông xem toàn bờ cõi, từ Ga-la-át đến Đan,
toàn xứ Nép-ta-li, vùng đất Ép-ra-im và Ma-na-se, toàn xứ Giu-đa cho đến tận Biển Tây,
vùng Nê-ghép và vùng đồng bằng, tức là thung lũng Giê-ri-cô, thành Cây Chà Là, cho đến Xoa.
Đức Giê-hô-va phán với ông: “Đây chính là xứ mà Ta đã thề ban cho Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp khi Ta nói: ‘Ta sẽ ban xứ nầy cho dòng dõi con.’ Ta cho con xem tận mắt xứ ấy nhưng con sẽ không được vào đó.”
Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, qua đời tại đó, trên cao nguyên Mô-áp, như lời Ngài đã phán.
Đức Giê-hô-va chôn ông trong một thung lũng thuộc xứ Mô-áp, đối diện với Bết Phê-ô. Cho đến nay không có ai biết được nơi an táng của ông.
Môi-se qua đời khi ông được một trăm hai mươi tuổi, nhưng mắt ông không mờ, sức ông không giảm.
Con dân Y-sơ-ra-ên thương khóc Môi-se suốt ba mươi ngày trên cao nguyên Mô-áp. Sau đó, họ chấm dứt những ngày thương khóc và để tang cho Môi-se.
Giô-suê, con trai của Nun, được đầy dẫy thần khôn ngoan vì Môi-se đã đặt tay trên ông. Dân Y-sơ-ra-ên vâng lời Giô-suê và làm theo mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán truyền qua Môi-se.
Về sau, trong Y-sơ-ra-ên không còn xuất hiện một nhà tiên tri nào giống như Môi-se, người được Đức Giê-hô-va biết mặt đối mặt.
Không ai như ông, người được Đức Giê-hô-va sai làm những dấu lạ phép mầu tại Ai Cập trước mặt Pha-ra-ôn, quần thần và cả xứ sở của vua ấy.
Không ai thực hiện được những việc vĩ đại và đáng sợ như cánh tay mạnh mẽ của Môi-se đã thực hiện trước mắt toàn dân Y-sơ-ra-ên.
Sau khi Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, qua đời, Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê, con trai của Nun, phụ tá của Môi-se, rằng:
“Môi-se, đầy tớ Ta, đã chết. Bây giờ con và cả dân nầy hãy đứng dậy đi qua sông Giô-đanh, vào đất mà Ta sắp ban cho dân Y-sơ-ra-ên.
Bất cứ nơi nào bàn chân các con đạp đến thì Ta ban cho các con, như Ta đã phán với Môi-se.
Địa phận các con sẽ từ hoang mạc và Li-ban nầy cho đến sông Cái, là sông Ơ-phơ-rát, luôn cả đất của dân Hê-tít cho đến Biển Lớn về hướng mặt trời lặn.
Trọn đời con sẽ không ai có thể đứng nổi trước mặt con. Ta sẽ ở với con như Ta đã ở với Môi-se; Ta sẽ không lìa con, không bỏ con đâu.
Hãy mạnh dạn và can đảm vì con sẽ dẫn dân nầy đi nhận lấy đất mà Ta đã thề ban cho tổ phụ họ.
Hãy mạnh dạn, thật can đảm và cẩn thận làm theo tất cả luật pháp mà Môi-se, đầy tớ Ta, đã truyền cho con; đừng xây qua bên phải hoặc bên trái, để con đi đâu cũng đều được thịnh vượng.
Quyển sách luật pháp nầy chớ xa miệng con, hãy suy ngẫm ngày và đêm, để cẩn thận làm theo mọi điều đã chép trong đó. Vì như thế, con mới được thịnh vượng trong con đường mình và mới thành công.
Chẳng phải Ta đã truyền phán với con sao? Hãy mạnh dạn, can đảm! Chớ run sợ, chớ kinh hãi! Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con vẫn ở cùng con trong mọi nơi con đi.”
Bấy giờ, Giô-suê truyền lệnh cho những người lãnh đạo của dân chúng rằng:
“Hãy chạy khắp trại quân và truyền lệnh nầy cho dân chúng rằng: ‘Hãy chuẩn bị lương thực! Trong ba ngày nữa anh em sẽ vượt qua sông Giô-đanh nầy, để chiếm lấy đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em ban cho anh em.’”
Giô-suê cũng nói với người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se rằng:
“Hãy nhớ lại lời Môi-se, đầy tớ của Giê-hô-va, đã truyền cho anh em rằng: ‘Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em cho anh em một nơi an nghỉ và ban đất nầy cho anh em.’
Vợ, con cái, và bầy súc vật của anh em sẽ ở lại trong đất mà Môi-se ban cho anh em ở bên nầy sông Giô-đanh; nhưng anh em, tức là tất cả những người mạnh dạn, phải cầm vũ khí vượt qua trước anh em mình, và giúp đỡ họ,
cho đến khi Đức Giê-hô-va ban sự an nghỉ cho anh em của anh em, như đã ban cho anh em, và họ cũng nhận được phần đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em ban cho họ. Bấy giờ, anh em sẽ trở về chiếm lấy sản nghiệp là phần đất mà Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã ban cho anh em ở phía bên nầy sông Giô-đanh, về hướng mặt trời mọc.”
Những người ấy thưa với Giô-suê: “Chúng tôi sẽ làm mọi điều ông truyền bảo và đi bất cứ nơi nào ông sai phái.
Chúng tôi sẽ vâng lời ông mọi việc như đã vâng lời Môi-se. Chỉ mong Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông ở với ông, như Ngài đã ở với Môi-se vậy!
Kẻ nào chống lại mệnh lệnh của ông và không vâng theo bất cứ điều gì ông truyền bảo sẽ bị xử tử. Chỉ xin ông hãy mạnh dạn và thật can đảm.”
Từ Si-tim, Giô-suê, con trai của Nun, bí mật sai hai người đi do thám. Ông bảo: “Hãy đi do thám xứ, đặc biệt là Giê-ri-cô.” Vậy hai người ấy đi đến nhà của một kỹ nữ tên là Ra-háp, và trọ tại đó.
Người ta tâu với vua Giê-ri-cô rằng: “Tâu bệ hạ, đêm nay có mấy người Y-sơ-ra-ên đã đến do thám xứ.”
Vua Giê-ri-cô sai nói với Ra-háp: “Hãy đem những người đã vào nhà ngươi ra đây, vì chúng đến để do thám cả xứ nầy.”
Nhưng người đàn bà đem giấu hai người nầy, rồi thưa: “Thật họ đã đến nhà tôi, nhưng tôi không biết họ từ đâu đến.
Lúc trời tối, khi cổng thành sắp đóng thì những người ấy đi ra, tôi không biết đi đâu. Vậy hãy mau đuổi theo, các ông sẽ theo kịp được họ.”
Thật ra, cô ấy đã đem họ lên mái nhà, giấu dưới đống cây gai mà cô trải trên mái.
Những người của vua đuổi theo họ về hướng sông Giô-đanh cho đến chỗ cạn. Vừa khi những người đuổi theo đó ra khỏi thành thì người ta đóng cổng thành lại.
Trước khi hai người do thám đi ngủ, nàng trèo lên mái nhà,
và nói với họ: “Tôi biết rằng Đức Giê-hô-va đã ban cho các ông xứ nầy; nỗi sợ hãi vì các ông đã ập xuống trên chúng tôi đến nỗi tất cả cư dân trong xứ đều nản lòng thối chí trước các ông.
Vì chúng tôi có nghe rằng khi các ông ra khỏi Ai Cập thì Đức Giê-hô-va đã khiến nước Biển Đỏ khô cạn trước mặt các ông, và cũng nghe điều các ông đã làm cho Si-hôn và Óc, hai vua dân A-mô-rít, ở bên kia sông Giô-đanh mà các ông đã tuyệt diệt.
Khi chúng tôi nghe điều đó thì lòng chúng tôi tan nát, chẳng ai trong chúng tôi còn can đảm trước mặt các ông nữa, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ông là Đức Chúa Trời ở trên trời cao kia và ở dưới đất thấp nầy.
Vậy bây giờ, hãy chỉ Đức Giê-hô-va mà thề với tôi rằng vì tôi đã đối xử nhân từ với hai ông, thì hai ông cũng phải đối xử nhân từ với nhà cha tôi và cho tôi một dấu hiệu bảo đảm
rằng các ông sẽ để cho cha mẹ, anh em, chị em tôi cùng tất cả người thân của họ được sống, và cứu chúng tôi khỏi chết.”
Hai người đáp: “Mạng sống chúng tôi sẽ đền cho mạng sống cô! Nếu cô không tiết lộ việc của chúng tôi thì chúng tôi sẽ lấy chữ tín và lòng nhân mà đối xử với cô khi Đức Giê-hô-va ban đất nầy cho chúng tôi.”
Vậy cô ấy dùng một sợi dây thòng hai người xuống qua cửa sổ vì nhà cô sát tường thành và cô ở bên trong tường thành.
Cô nói với họ: “Hãy đi về hướng núi, đừng để những người đuổi theo bắt gặp các ông. Hãy ẩn núp ở đó ba ngày cho đến khi những người đuổi theo trở về, sau đó các ông cứ đường mình mà đi.”
Hai người nói với nàng: “Đây là cách chúng tôi giữ lời thề mà cô đã bắt chúng tôi thề:
Khi nào chúng tôi vào xứ, cô phải cột sợi dây màu điều nầy nơi cửa sổ mà cô đã thòng chúng tôi xuống, rồi tập hợp cha mẹ, anh em, và tất cả người nhà của cha cô lại trong nhà cô.
Nếu người nào đi ra ngoài cửa nhà cô thì máu người ấy sẽ đổ lại trên đầu người ấy, còn chúng tôi vô tội. Nhưng nếu ai tra tay vào người nào ở với cô trong nhà thì máu của người đó sẽ đổ lại trên đầu chúng tôi.
Còn nếu cô tiết lộ việc của chúng tôi thì chúng tôi sẽ khỏi mắc lời thề mà cô đã bắt chúng tôi thề.”
Cô trả lời: “Hãy làm đúng như lời hai ông đã nói.” Rồi cô để cho họ đi, và họ ra đi. Cô buộc sợi đây màu điều nơi cửa sổ.
Vậy, hai người đi về hướng núi, ở lại đó ba ngày cho đến khi những người truy đuổi họ trở về. Những người ấy đi lùng sục khắp mọi nẻo đường nhưng không tìm được họ.
Hai người do thám xuống núi trở về, vượt sông Giô-đanh và đến với Giô-suê, con trai Nun, thuật cho ông mọi điều đã xảy ra cho họ.
Họ nói với Giô-suê: “Thật, Đức Giê-hô-va đã trao cả xứ ấy vào tay chúng ta; tất cả dân trong xứ đều nao núng trước mặt chúng ta.”
Từ Si-tim, Giô-suê dậy sớm, đi cùng dân Y-sơ-ra-ên đến sông Giô-đanh, và họ ngủ đêm tại đó trước khi qua sông.
Sau ba ngày, những người lãnh đạo đi khắp trại quân,
truyền lệnh cho dân chúng rằng: “Khi anh em thấy Hòm Giao Ước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em được các thầy tế lễ thuộc dòng Lê-vi khiêng đi thì anh em phải rời chỗ mình ở mà đi theo sau nó.
Tuy nhiên, giữa anh em và Hòm Giao Ước phải cách nhau một khoảng chín trăm mét, chớ đến gần để anh em có thể biết đường mình đi, vì anh em chưa đi đường ấy bao giờ.”
Giô-suê nói với dân chúng: “Hãy thánh hóa chính mình, vì ngày mai Đức Giê-hô-va sẽ làm những việc kỳ diệu giữa anh em.”
Giô-suê nói với các thầy tế lễ: “Hãy khiêng Hòm Giao Ước đi qua sông trước dân chúng.” Vậy họ khiêng Hòm Giao Ước và đi phía trước dân chúng.
Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê: “Hôm nay Ta sẽ bắt đầu làm cho con được tôn trọng trước mặt toàn dân Y-sơ-ra-ên để họ biết rằng Ta sẽ ở cùng con như Ta đã ở cùng Môi-se vậy.
Con phải truyền lệnh cho các thầy tế lễ khiêng Hòm Giao Ước rằng: ‘Khi nào anh em đến mé sông Giô-đanh thì hãy đứng dưới sông.’”
Giô-suê nói với dân Y-sơ-ra-ên: “Hãy lại gần, nghe lời của Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em.”
Và ông nói: “Bởi điều nầy, anh em sẽ biết rằng Đức Chúa Trời hằng sống ngự giữa anh em, Ngài hẳn sẽ đuổi đi dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân Hê-vít, dân Phê-rê-sít, dân Ghi-rê-ga-sít, dân A-mô-rít và dân Giê-bu-sít khỏi mắt anh em.
Nầy, Hòm Giao Ước của Chúa cả thế gian đi trước anh em, vượt qua sông Giô-đanh.
Vậy hãy chọn mười hai người trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, mỗi bộ tộc một người.
Khi các thầy tế lễ khiêng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va, là Chúa cả thế gian, vừa đặt chân xuống nước sông Giô-đanh thì nước sông ngừng chảy, và nước từ thượng nguồn chảy xuống sẽ dồn lại thành một khối.”
Khi dân chúng nhổ trại để vượt qua sông Giô-đanh thì các thầy tế lễ khiêng Hòm Giao Ước đi trước mặt dân chúng.
Lúc ấy, nước sông Giô-đanh dâng lên tràn bờ trong suốt mùa gặt. Khi các người khiêng Hòm Giao Ước đến sông Giô-đanh, và khi chân của các thầy tế lễ khiêng Hòm Giao Ước vừa chạm xuống nước
thì nước từ thượng nguồn chảy xuống dừng lại, dồn thành một khối, cách một khoảng đến thành A-đam, là thành ở cạnh Xát-than; còn nước chảy về biển A-ra-ba, tức Biển Chết, thì hoàn toàn bị chận lại, và dân chúng vượt qua sông, chỗ đối diện Giê-ri-cô.
Những thầy tế lễ khiêng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va đứng lại trên đất khô giữa sông Giô-đanh trong khi toàn dân Y-sơ-ra-ên đi qua trên đất khô, cho đến khi tất cả dân chúng đã qua sông Giô-đanh hết.
Khi toàn dân đã vượt qua sông Giô-đanh rồi, Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê:
“Hãy chọn trong dân chúng mười hai người, mỗi bộ tộc một người
và truyền lệnh cho họ: ‘Hãy lấy mười hai tảng đá giữa sông Giô-đanh, nơi chân những thầy tế lễ đã đứng và đem chúng theo, đặt tại nơi mà các con ngủ đêm nay.’”
Vậy Giô-suê gọi mười hai người đã chọn trong dân Y-sơ-ra-ên, mỗi bộ tộc một người,
và nói với họ: “Hãy đến trước Hòm Giao Ước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em tại giữa sông Giô-đanh, rồi mỗi người, theo số bộ tộc của dân Y-sơ-ra-ên, vác một tảng đá trên vai mình,
để điều nầy làm một dấu hiệu ở giữa anh em. Mai sau, khi con cháu anh em hỏi rằng: ‘Những tảng đá nầy có ý nghĩa gì?’
thì anh em hãy trả lời rằng: Nước sông Giô-đanh đã bị cắt ngang trước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va. Khi Hòm Giao Ước vượt qua sông Giô-đanh thì nước sông cắt ngang và các hòn đá nầy là vật kỷ niệm đời đời cho con dân Y-sơ-ra-ên.”
Vậy dân Y-sơ-ra-ên làm theo điều Giô-suê đã bảo, lấy mười hai tảng đá từ giữa lòng sông Giô-đanh theo số bộ tộc của dân Y-sơ-ra-ên và đem chúng qua sông, đến chỗ họ ngủ qua đêm và đặt tại đó đúng như Đức Giê-hô-va đã phán bảo Giô-suê.
Giô-suê cũng dựng mười hai tảng đá giữa sông Giô-đanh, nơi chân những thầy tế lễ khiêng Hòm Giao Ước đã đứng. Các tảng đá ấy vẫn còn ở đó cho đến ngày nay.
Các thầy tế lễ khiêng Hòm Giao Ước cứ đứng giữa lòng sông Giô-đanh cho đến khi hoàn tất mọi việc mà Đức Giê-hô-va đã phán bảo Giô-suê truyền lại cho dân chúng theo đúng mọi điều mà Môi-se đã truyền cho Giô-suê. Rồi dân chúng vội vã qua sông.
Khi tất cả dân chúng đã qua sông thì Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va và những thầy tế lễ cũng đi qua trước mặt dân chúng.
Con cháu Ru-bên, con cháu Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se cầm khí giới đi trước dân Y-sơ-ra-ên, đúng như Môi-se đã dặn bảo họ.
Có chừng bốn chục nghìn người được vũ trang để ra trận, đi qua trước mặt Đức Giê-hô-va, tiến đến các đồng bằng Giê-ri-cô, để đánh giặc.
Trong ngày ấy, Đức Giê-hô-va làm cho Giô-suê được tôn trọng trước mặt toàn dân Y-sơ-ra-ên; họ kính trọng ông suốt đời như đã kính trọng Môi-se vậy.
Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê:
“Hãy truyền cho các thầy tế lễ khiêng Hòm Chứng Ước lên khỏi sông Giô-đanh.”
Vậy Giô-suê truyền lệnh cho các thầy tế lễ: “Hãy lên khỏi sông Giô-đanh.”
Khi các thầy tế lễ khiêng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va từ giữa lòng sông đi lên, và khi bàn chân của họ vừa đặt trên đất khô thì nước sông Giô-đanh trở về chỗ cũ, chảy tràn cả hai bờ như trước.
Ngày mồng mười tháng giêng, dân chúng lên khỏi sông Giô-đanh và đóng trại tại Ghinh-ganh, ở cuối phía đông Giê-ri-cô.
Giô-suê dựng tại Ghinh-ganh mười hai hòn đá mà dân chúng đã lấy dưới sông Giô-đanh.
Ông nói với dân Y-sơ-ra-ên: “Mai sau, khi con cháu anh em hỏi cha ông chúng rằng: ‘Các hòn đá nầy có ý nghĩa gì?’
thì anh em sẽ nói cho con cháu mình biết rằng: ‘Y-sơ-ra-ên đã đi qua sông Giô-đanh trên đất khô,
vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã làm cho sông Giô-đanh khô cạn trước mặt anh em cho đến khi anh em đã đi qua khỏi, giống như Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã làm tại Biển Đỏ, khiến nó khô cạn trước mặt chúng ta cho đến khi chúng ta đã qua biển vậy.’
Như thế, các dân tộc thế gian biết được bàn tay quyền năng của Đức Giê-hô-va, và anh em cũng luôn luôn kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em.”
Khi tất cả các vua A-mô-rít ở bên kia sông Giô-đanh về phía tây, và tất cả các vua Ca-na-an ở gần biển hay tin rằng Đức Giê-hô-va đã làm cho nước sông Giô-đanh khô cạn trước mặt dân Y-sơ-ra-ên cho đến khi đã đi qua khỏi thì mất hết tinh thần và chẳng còn gan dạ nào đối đầu với dân Y-sơ-ra-ên nữa.
Trong lúc đó, Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê: “Hãy làm những con dao bằng đá lửa và cắt bì lần thứ hai cho dân Y-sơ-ra-ên.”
Vậy Giô-suê làm những con dao bằng đá lửa và cắt bì cho dân Y-sơ-ra-ên tại đồi A-ra-lốt.
Đây là lý do Giô-suê cắt bì cho họ: Các người nam trong dân chúng đã ra khỏi Ai Cập, tức là các chiến sĩ, đều đã chết dọc đường trong hoang mạc sau khi rời Ai Cập.
Tất cả dân chúng đã ra khỏi Ai Cập đều được cắt bì, nhưng tất cả những người sinh ra dọc đường trong hoang mạc sau khi rời Ai Cập thì chưa được cắt bì.
Vì dân Y-sơ-ra-ên đã đi trong hoang mạc bốn mươi năm cho đến khi tất cả dân chúng và những chiến sĩ đã rời Ai Cập đều chết hết, vì không vâng theo tiếng của Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va đã thề với họ rằng Ngài không cho họ thấy đất mà Đức Giê-hô-va đã hứa với tổ phụ họ là sẽ ban cho chúng ta, tức là đất đượm sữa và mật.
Và Ngài đã dấy con cháu họ lên để thế vào chỗ của họ, tức là những người được Giô-suê cắt bì, vì họ không được cắt bì dọc đường.
Khi tất cả dân chúng được cắt bì xong, thì họ ở lại chỗ mình trong trại quân cho đến khi được lành.
Bấy giờ, Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê: “Hôm nay Ta đã cất khỏi các con nỗi ô nhục của Ai Cập.” Vì thế, người ta gọi chỗ ấy là Ghinh-ganh cho đến ngày nay.
Dân Y-sơ-ra-ên đóng trại tại Ghinh-ganh trong đồng bằng Giê-ri-cô, và giữ lễ Vượt Qua nhằm ngày mười bốn tháng ấy, vào lúc chiều tối.
Vào ngày sau lễ Vượt Qua, chính ngày đó, họ ăn thổ sản trong xứ, bánh không men, và hột rang.
Khi họ ăn thổ sản trong xứ thì đến ngày hôm sau, ma-na cũng dứt và dân Y-sơ-ra-ên không có ma-na nữa, nhưng trong năm đó họ ăn hoa màu của đất Ca-na-an.
Lúc Giô-suê đang ở gần Giê-ri-cô, ông ngước mắt lên nhìn thì thấy một người cầm gươm trần đứng đối diện với mình. Giô-suê đến gần người ấy và hỏi: “Ngươi thuộc về phe chúng ta hay là phe địch?”
Người ấy đáp: “Chẳng thuộc phe nào cả, nhưng bây giờ ta đến để làm tướng chỉ huy đạo quân của Đức Giê-hô-va.” Giô-suê liền sấp mặt xuống đất, thờ lạy và hỏi: “Chúa truyền cho đầy tớ Chúa điều gì?”
Tướng chỉ huy đạo quân của Đức Giê-hô-va nói với Giô-suê: “Hãy cởi giày khỏi chân vì nơi con đứng là đất thánh.” Giô-suê làm như vậy.
Bấy giờ, Giê-ri-cô đóng cổng thành và canh gác cách nghiêm ngặt đối với dân Y-sơ-ra-ên, không cho người vào ra.
Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê: “Kìa, Ta đã phó Giê-ri-cô, vua, và các dũng sĩ của nó vào tay con.
Vậy con cùng tất cả chiến sĩ hãy đi vòng quanh thành một lần và phải làm như vậy trong sáu ngày.
Bảy thầy tế lễ sẽ cầm bảy cây kèn bằng sừng đi trước Hòm Giao Ước. Nhưng qua ngày thứ bảy, các con phải đi vòng quanh thành bảy lần, và các thầy tế lễ sẽ thổi kèn lên.
Khi những thầy tế lễ thổi một hồi kèn dài và khi các con vừa nghe tiếng kèn thì tất cả dân chúng phải la lớn lên, tường thành sẽ đổ sập xuống, rồi dân chúng sẽ trèo lên, mỗi người tiến thẳng về phía trước.”
Vậy Giô-suê, con trai của Nun, gọi những thầy tế lễ và bảo: “Hãy khiêng Hòm Giao Ước, và bảy thầy tế lễ cầm bảy cây kèn bằng sừng đi trước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va.”
Ông lại nói với dân chúng: “Hãy tiến tới, đi vòng quanh thành; những người được vũ trang phải đi trước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va.”
Khi Giô-suê đã truyền lệnh cho dân chúng xong, bảy thầy tế lễ cầm bảy kèn bằng sừng trước mặt Đức Giê-hô-va, vừa đi tới vừa thổi kèn, còn Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va theo sau.
Những người được vũ trang đi trước những thầy tế lễ thổi kèn; đội quân hậu vệ đi theo sau Hòm Giao Ước. Họ vừa đi vừa thổi kèn.
Nhưng Giô-suê đã truyền lệnh cho dân chúng rằng: “Anh em đừng la lớn, đừng để ai nghe tiếng mình, cũng đừng nói một lời nào cho đến ngày ta bảo hãy reo hò thì anh em hãy sẽ hò reo lớn lên.”
Vậy Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va đi vòng quanh thành một lần, rồi họ vào trại quân và ngủ đêm tại đó.
Sáng hôm sau, Giô-suê dậy sớm và những thầy tế lễ khiêng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va.
Bảy thầy tế lễ cầm bảy cây kèn bằng sừng đi trước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va, vừa đi vừa thổi. Những người được vũ trang đi trước; đội quân hậu vệ đi theo sau Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va. Họ vừa đi vừa thổi kèn.
Ngày thứ hai, họ đi vòng quanh thành một lần rồi trở về trại quân. Họ làm như vậy trong sáu ngày.
Sang ngày thứ bảy, họ dậy sớm từ lúc rạng đông, đi vòng quanh thành bảy lần theo cách thức giống như trước. Chỉ riêng ngày hôm đó họ mới đi vòng quanh thành bảy lần.
Đến lần thứ bảy, khi những thầy tế lễ thổi kèn thì Giô-suê nói với dân chúng: “Hãy reo hò lên vì Đức Giê-hô-va đã ban thành nầy cho anh em.
Thành và mọi vật trong thành sẽ bị phú dâng cho Đức Giê-hô-va để hủy diệt đi. Chỉ một mình kỹ nữ Ra-háp và mọi người ở trong nhà với cô sẽ được sống, vì cô đã giấu sứ giả chúng ta sai đến.
Nhưng hãy tránh xa các vật đáng bị hủy diệt nầy. Vì nếu anh em lấy những vật đáng bị hủy diệt đó thì anh em sẽ làm cho trại quân Y-sơ-ra-ên thành vật đáng bị hủy diệt, và đem sự rối loạn vào trong đó.
Tất cả bạc, vàng, và các bình bằng đồng, bằng sắt đều được biệt ra thánh cho Đức Giê-hô-va; các vật đó sẽ nhập vào kho của Đức Giê-hô-va.”
Vậy dân chúng la lên và những thầy tế lễ thổi kèn. Vừa khi dân chúng nghe tiếng kèn thì reo hò vang dội và tường thành liền đổ sập; dân chúng trèo lên thành, mỗi người tiến thẳng tới phía trước và chiếm lấy thành.
Họ dùng gươm hủy diệt mọi sinh vật ở trong thành, cả nam phụ lão ấu lẫn bò, chiên, và lừa.
Bấy giờ, Giô-suê bảo hai người đã đi do thám xứ rằng: “Hãy vào nhà kỹ nữ, đem cô ấy và mọi người thuộc về cô ra khỏi nhà, như anh em đã thề với cô.”
Vậy hai thanh niên đã đi do thám xứ bước vào nhà, đem Ra-háp, cha mẹ, anh em cô, và mọi vật gì thuộc về cô ra khỏi nhà. Họ đem cả gia quyến cô ra và để ở bên ngoài trại quân Y-sơ-ra-ên.
Rồi họ phóng hỏa đốt thành và mọi vật trong thành, chỉ nhập vào kho của nhà Đức Giê-hô-va bạc, vàng, các bình bằng đồng, bằng sắt mà thôi.
Nhưng Giô-suê bảo tồn mạng sống cho kỹ nữ Ra-háp cùng cả nhà cha cô và mọi vật gì thuộc về cô. Cô ấy sống ở giữa Y-sơ-ra-ên cho đến ngày nay vì cô đã giấu sứ giả mà Giô-suê sai đi do thám Giê-ri-cô.
Bấy giờ, Giô-suê phát thề rằng: “Ai trỗi dậy và xây lại thành Giê-ri-cô nầy Sẽ bị rủa sả trước mặt Đức Giê-hô-va! Ai đặt nền nó lại thì con trưởng nam mình phải chết; Ai dựng cửa nó lại thì con út mình phải chết.”
Vậy Đức Giê-hô-va ở với Giô-suê, và danh tiếng ông đồn ra khắp xứ.
Nhưng dân Y-sơ-ra-ên đã phạm tội bất trung về các vật đáng bị diệt, vì A-can, con trai của Cạt-mi, cháu của Xáp-đi, chắt của Xê-rách thuộc bộ tộc Giu-đa, đã lấy các vật đáng bị diệt ấy, và cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi bừng với dân Y-sơ-ra-ên.
Từ Giê-ri-cô, Giô-suê sai người đến thành A-hi gần Bết A-ven, về phía đông Bê-tên, truyền lệnh rằng: “Hãy đi lên do thám thành A-hi.” Vậy, họ đi lên do thám A-hi.
Rồi họ trở về, trình với Giô-suê: “Không cần đem cả dân chúng đi lên đó mà chỉ cho khoảng vài ba nghìn người đi lên đó để đánh thành A-hi thôi. Đừng làm cho cả dân chúng nhọc công tốn sức ở đó vì dân A-hi quá ít.”
Vậy có khoảng ba nghìn người đi lên đó nhưng họ đã chạy trốn người A-hi.
Người A-hi giết khoảng ba mươi sáu người, rượt đuổi họ từ cổng thành cho đến Sê-ba-rim, và đánh bại lúc họ chạy xuống dốc. Lòng dân chúng tan ra như nước.
Giô-suê xé áo mình và cùng với các trưởng lão Y-sơ-ra-ên sấp mặt xuống đất trước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va cho đến chiều tối và rải bụi đất lên đầu mình.
Giô-suê nói: “Ôi! Chúa Giê-hô-va, sao Ngài đem dân nầy qua sông Giô-đanh rồi lại phó chúng con vào tay người A-mô-rít mà tiêu diệt đi? Ôi! Giá như chúng con quyết định ở lại bên kia sông Giô-đanh thì có hơn không?
Than ôi! Lạy Chúa! Con biết nói làm sao khi Y-sơ-ra-ên đã quay lưng chạy trốn trước kẻ thù mình?
Dân Ca-na-an và tất cả cư dân xứ nầy sẽ nghe điều đó, bao vây chúng con và diệt danh tiếng chúng con khỏi đất. Lúc ấy, Chúa sẽ làm sao cho danh lớn của Ngài?”
Bấy giờ, Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê: “Hãy đứng dậy đi! Tại sao con sấp mặt xuống đất như vậy?
Y-sơ-ra-ên đã phạm tội, họ vi phạm giao ước mà Ta đã truyền phán: lấy các vật đáng bị hủy diệt, ăn cắp, lừa dối, thậm chí giấu các vật đó trong các vật dụng của mình.
Vì thế, dân Y-sơ-ra-ên không thể chống cự nổi kẻ thù của mình mà phải xây lưng chạy trốn chúng, bởi Y-sơ-ra-ên đã trở nên kẻ đáng bị tiêu diệt. Nếu các con không tiêu trừ các vật đáng diệt ấy, thì Ta không còn ở với các con nữa.
Hãy đứng dậy, thánh hóa dân chúng và nói rằng: ‘Ngày mai, anh em hãy thanh tẩy chính mình vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán: “Hỡi Y-sơ-ra-ên, các con còn giữ các vật đáng diệt ở giữa các con! Các con không thể chống cự nổi kẻ thù mình cho đến khi các con loại bỏ các vật đáng diệt ấy.”
Vậy sáng mai, anh em sẽ đến theo từng bộ tộc; bộ tộc nào mà Đức Giê-hô-va chỉ ra, sẽ đến theo từng gia tộc; gia tộc nào mà Đức Giê-hô-va chỉ ra, sẽ đến theo từng gia đình; gia đình nào mà Đức Giê-hô-va chỉ ra, sẽ đến từng người.
Người nào bị chỉ ra là kẻ giữ các vật đáng bị hủy diệt đó thì sẽ bị hỏa thiêu cùng với tất cả những gì thuộc về nó, vì nó đã vi phạm giao ước của Đức Giê-hô-va và làm điều ô nhục trong Y-sơ-ra-ên.’”
Vậy sáng hôm sau, Giô-suê dậy sớm, cho dân Y-sơ-ra-ên đến gần theo từng bộ tộc và bộ tộc Giu-đa bị chỉ ra.
Ông cho các gia tộc của Giu-đa đến gần và gia tộc Xê-rách bị chỉ ra; ông cho gia tộc Xê-rách đến gần theo từng gia đình và Xáp-đi bị chỉ ra.
Ông cho gia đình Xáp-đi đến gần từng người một, thì A-can, con trai của Cạt-mi, cháu của Xáp-đi, chắt của Xê-rách về bộ tộc Giu-đa, bị chỉ ra.
Giô-suê nói với A-can: “Nầy con, hãy tôn vinh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên và ca ngợi Ngài. Hãy thú thật với ta điều con đã làm, chớ giấu giếm gì cả.”
A-can thưa với Giô-suê: “Thật, con đã phạm tội với Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, và đây là điều con đã làm:
Khi con thấy trong chiến lợi phẩm có một áo choàng Si-nê-a, rất đẹp, khoảng hai ký bạc, và một nén vàng nặng gần sáu trăm gam thì con đã tham muốn và lấy các vật ấy. Kìa, chúng được giấu dưới đất trong trại của con và bạc thì ở bên dưới.”
Giô-suê sai người chạy đến trại, thấy áo choàng giấu tại đó, và bạc thì ở dưới.
Họ lấy các vật đó ra khỏi trại, đem về cho Giô-suê và tất cả con dân Y-sơ-ra-ên, rồi đặt trước mặt Đức Giê-hô-va.
Bấy giờ, Giô-suê và cả Y-sơ-ra-ên bắt A-can, con cháu Xê-rách, cùng lấy bạc, áo choàng, nén vàng, các con trai, con gái, bò, lừa, chiên, trại, và tất cả những gì thuộc về nó, rồi dẫn đến thung lũng A-cô.
Giô-suê nói: “Sao con khuấy rối chúng ta? Đức Giê-hô-va chắc sẽ khuấy rối con hôm nay.” Rồi cả Y-sơ-ra-ên ném đá nó; họ hỏa thiêu chúng và lấy đá lấp lại.
Kế đó, họ chất lên trên nó một đống đá lớn, vẫn còn cho đến ngày nay. Đức Giê-hô-va liền nguôi cơn thịnh nộ. Vì thế, người ta gọi chỗ nầy là thung lũng A-cô cho đến ngày nay.
Sau đó, Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê: “Đừng sợ, cũng đừng nản chí! Hãy đem tất cả chiến sĩ đi theo con, đứng dậy và đi lên đánh thành A-hi. Kìa, Ta đã phó vua A-hi, dân chúng, thành trì, và đất đai của nó vào tay con.
Con phải đối xử với A-hi và vua nó như con đã đối xử với Giê-ri-cô và vua nó. Các con chỉ thu chiến lợi phẩm và súc vật cho mình thôi. Hãy đặt quân mai phục phía sau thành.”
Vậy Giô-suê đứng dậy cùng tất cả các chiến sĩ đi lên đánh A-hi. Ông chọn ba chục nghìn quân dũng cảm và sai họ đi ban đêm.
Ông truyền lệnh: “Nầy, anh em sẽ mai phục phía sau thành, đừng ra quá xa. Tất cả hãy sẵn sàng chiến đấu.
Còn tôi và tất cả những người cùng đi với tôi sẽ tiến đến gần thành. Khi chúng ra nghênh chiến với chúng ta như lần trước thì chúng tôi sẽ chạy trốn trước mặt chúng.
Chúng sẽ đuổi theo chúng tôi cho đến khi chúng tôi nhử chúng ra xa ngoài thành, vì chúng nói rằng: ‘Họ chạy trốn chúng ta như lần trước.’ Trong lúc chúng tôi chạy trốn chúng
thì anh em sẽ ra khỏi nơi mai phục và chiếm lấy thành, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em sẽ phó thành ấy vào tay anh em.
Khi anh em chiếm thành rồi thì phải phóng hỏa đốt thành. Hãy làm đúng như lời Đức Giê-hô-va đã truyền. Đó là lệnh tôi truyền cho anh em.”
Vậy Giô-suê sai các người đó ra đi; họ mai phục giữa khoảng Bê-tên và A-hi, về phía tây của A-hi; còn Giô-suê ngủ qua đêm ở giữa dân chúng.
Sáng hôm sau, Giô-suê dậy sớm, điểm quân, rồi cùng các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên dẫn quân tiến về thành A-hi.
Tất cả các chiến sĩ theo ông cùng đi lên đến gần thành và đóng trại về phía bắc A-hi; giữa họ và thành A-hi cách nhau một thung lũng.
Giô-suê đem khoảng năm nghìn quân mai phục giữa Bê-tên và A-hi, về phía tây của thành.
Khi dân chúng đã đóng trại về phía bắc thành và quân mai phục được bố trí về phía tây thành rồi, thì đêm đó Giô-suê đi vào thung lũng.
Thấy vậy, vua A-hi và cả dân chúng vội vàng ra nghênh chiến với Y-sơ-ra-ên từ sáng sớm ở nơi đã định, về phía đồng bằng, nhưng vua không biết rằng có một đạo quân mai phục ở phía sau thành.
Giô-suê và cả Y-sơ-ra-ên giả vờ thua và bỏ chạy về phía hoang mạc.
Vậy tất cả dân trong thành họp lại để đuổi theo. Chúng chạy đuổi theo Giô-suê và bị nhử ra xa ngoài thành.
Không một ai ở thành A-hi hay Bê-tên mà không chạy ra đuổi theo Y-sơ-ra-ên. Chúng bỏ trống thành để rượt đuổi Y-sơ-ra-ên.
Bấy giờ, Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê: “Hãy giơ ngọn giáo mà con cầm trong tay hướng về thành A-hi, vì Ta sẽ trao thành ấy vào tay con.” Giô-suê giơ ngọn giáo đang cầm trong tay hướng về thành ấy.
Khi ông vừa giơ tay lên thì quân mai phục lập tức đứng dậy khỏi chỗ mình núp mà chạy vào thành, chiếm lấy và nhanh chóng phóng hỏa đốt thành.
Khi người A-hi ngoái lại nhìn thấy khói trong thành bay lên trời thì chúng không còn cách nào để chạy trốn đường nầy hay đường kia nữa, vì quân Y-sơ-ra-ên đang chạy trốn về phía hoang mạc đã quay lại đánh những kẻ rượt đuổi theo mình.
Khi Giô-suê và cả Y-sơ-ra-ên thấy quân mai phục đã chiếm thành và khói đốt thành bay lên thì họ quay lại đánh giết người A-hi.
Những người khác cũng ra khỏi thành đón đánh dân A-hi, và như vậy chúng bị dân Y-sơ-ra-ên bao vây tứ phía. Dân Y-sơ-ra-ên đánh giết chúng đến nỗi không còn kẻ nào sống sót hay trốn thoát được.
Họ bắt sống vua A-hi và dẫn đến cho Giô-suê.
Khi người Y-sơ-ra-ên đã giết hết cư dân thành A-hi, hoặc ngoài đồng ruộng hay trong hoang mạc, là nơi chúng bị rượt đuổi, và khi tất cả chúng đã ngã chết dưới lưỡi gươm cho đến người cuối cùng, thì toàn dân Y-sơ-ra-ên trở về A-hi và dùng gươm giết những kẻ còn lại.
Tất cả người A-hi, cả nam lẫn nữ, bị ngã chết trong ngày ấy, tổng cộng là mười hai nghìn người.
Giô-suê cứ cầm ngọn giáo giơ ra, không rút tay lại cho đến khi ông diệt tất cả cư dân thành A-hi.
Dân Y-sơ-ra-ên chỉ lấy cho mình những súc vật và chiến lợi phẩm của thành nầy, đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền phán với Giô-suê.
Vậy, Giô-suê đốt thành A-hi và làm cho nó thành đống tro tàn vĩnh viễn cho đến ngày nay.
Ông cho treo vua A-hi trên cây và để đó cho đến chiều. Nhưng khi mặt trời lặn, Giô-suê bảo người ta hạ thây xuống khỏi cây và ném nó ở lối vào cổng thành, rồi chất một đống đá lớn lên trên, vẫn còn đến ngày nay.
Bấy giờ, Giô-suê lập một bàn thờ cho Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên trên núi Ê-banh,
theo lệnh Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã truyền cho dân Y-sơ-ra-ên, như đã chép trong sách luật pháp Môi-se. Đó là một bàn thờ bằng đá nguyên khối, chưa bị đục bởi đồ bằng sắt. Trên đó, dân chúng dâng tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va, và dâng tế lễ bình an.
Và tại đó, trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, Giô-suê cũng viết trên các bia đá một bản sao luật pháp mà Môi-se đã viết.
Toàn dân Y-sơ-ra-ên, cả những khách lạ lẫn người bản xứ cùng với các trưởng lão, các quan chức, và các thẩm phán đứng hai bên Hòm Giao Ước trước mặt những thầy tế lễ thuộc dòng Lê-vi là những người khiêng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va. Phân nửa dân chúng đứng đối diện núi Ga-ri-xim, và phân nửa kia đứng đối diện núi Ê-banh, theo lệnh Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, trước đây đã dặn mà chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên.
Sau đó, Giô-suê đọc toàn bộ luật pháp, gồm lời chúc lành và lời rủa sả như đã chép trong sách luật pháp.
Không một lời nào trong tất cả các lời Môi-se đã truyền dặn mà Giô-suê không đọc trước mặt cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, kể cả phụ nữ, trẻ em, và khách lạ ở giữa họ.
Khi nghe tin ấy, tất cả các vua ở bên nầy sông Giô-đanh, hoặc ở trên núi, dưới chân núi, hay dọc bờ Biển Lớn đối diện Li-ban, tức là các vua dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít và dân Giê-bu-sít,
đồng ý liên kết với nhau để chiến đấu chống lại Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên.
Nhưng khi dân Ga-ba-ôn nghe điều Giô-suê đã làm cho Giê-ri-cô và A-hi
thì chúng lại dùng mưu kế: Chúng giả vờ đi sứ, lấy bao cũ chất trên lừa, vai đeo bầu rượu cũ rách vá lại,
chân mang giày cũ vá lại, và trên người mặc quần áo cũ mòn. Tất cả bánh dự trữ của chúng đều khô và nát vụn.
Chúng đến với Giô-suê tại trại quân Ghinh-ganh, nói với ông và dân Y-sơ-ra-ên rằng: “Chúng tôi ở xứ xa đến; bây giờ xin hãy lập hòa ước với chúng tôi.”
Dân Y-sơ-ra-ên nói với dân Hê-vít: “Có lẽ các người sống ở gần chúng tôi thì làm sao chúng tôi có thể lập hòa ước với các người được?”
Nhưng chúng nói với Giô-suê: “Chúng tôi là đầy tớ của ông.” Giô-suê hỏi: “Các người là ai, từ đâu đến?”
Chúng trả lời: “Đầy tớ của ông từ xứ rất xa đến vì nghe danh Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của ông. Vì chúng tôi có nghe nói về Ngài, và mọi điều Ngài đã làm tại Ai Cập;
lại cũng nghe về mọi điều Ngài đã làm cho hai vua A-mô-rít ở bên kia sông Giô-đanh, là Si-hôn, vua Hết-bôn, và Óc, vua Ba-san ở Ách-ta-rốt.
Các trưởng lão và tất cả dân trong nước chúng tôi bảo chúng tôi rằng: ‘Hãy mang theo lương thực đi đường và đến gặp dân ấy mà nói rằng: “Chúng tôi là đầy tớ các ông; và bây giờ, hãy lập hòa ước với chúng tôi.”’
Đây là bánh của chúng tôi: Ngày chúng tôi rời nhà để đến với các ông, chúng tôi mang bánh nầy theo làm lương thực đi đường lúc hãy còn nóng hổi mà nay đã khô và nát vụn;
những bầu da khi chúng tôi đổ đầy rượu hãy còn mới tinh mà nay đã rách; còn quần áo và giày chúng tôi thì đã cũ mòn vì đi đường xa.”
Vậy người Y-sơ-ra-ên nhận lương thực của chúng mà không cầu hỏi Đức Giê-hô-va.
Giô-suê lập hòa ước với chúng và cam kết để cho chúng sống, và các nhà lãnh đạo của hội chúng cũng thề hứa với chúng nữa.
Nhưng ba ngày sau khi lập giao ước với chúng, dân Y-sơ-ra-ên biết được rằng chúng vốn là dân lân cận và ở gần họ.
Vì vậy, dân Y-sơ-ra-ên lên đường, và ngày thứ ba đến thành của chúng. Các thành của chúng là Ga-ba-ôn, Kê-phi-ra, Bê-ê-rốt, và Ki-ri-át Giê-a-rim.
Dân Y-sơ-ra-ên không đánh giết chúng vì các nhà lãnh đạo của hội chúng đã chỉ danh Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà thề với dân đó; nhưng cả hội chúng lằm bằm với các nhà lãnh đạo.
Các nhà lãnh đạo nói với cả hội chúng: “Chúng ta đã chỉ danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà thề với dân đó; vậy, từ bây giờ chúng ta không được đụng đến chúng.
Chúng ta phải đối xử với dân đó như thế nầy: Phải để cho chúng sống, kẻo cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va giáng trên chúng ta vì lời mà chúng ta đã thề với chúng.”
Vậy các nhà lãnh đạo nói tiếp: “Hãy để cho chúng sống nhưng chúng phải đốn củi, xách nước cho cả hội chúng.” Họ làm đúng như các nhà lãnh đạo đã nói với chúng.
Giô-suê gọi dân Ga-ba-ôn đến và bảo: “Sao các người gạt chúng tôi mà nói rằng: ‘Chúng tôi ở rất xa các ông’ mà thực ra các người ở gần chúng tôi?
Vì thế, các người bị rủa sả và sẽ mãi mãi làm nô lệ, cứ đốn củi, xách nước cho nhà Đức Chúa Trời của ta.”
Chúng thưa với Giô-suê: “Vì đầy tớ ông biết chắc chắn rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông đã ra lệnh cho Môi-se, đầy tớ Ngài, ban toàn xứ nầy cho các ông, và tiêu diệt khỏi họ tất cả các cư dân trong xứ. Do đó, vì sợ các ông giết hại mạng sống nên chúng tôi mới làm như vậy.
Bây giờ chúng tôi ở trong tay ông, xin đối xử với chúng tôi tùy ý ông cho là tốt, là phải.”
Giô-suê làm như ông đã nói và giải cứu chúng khỏi tay dân Y-sơ-ra-ên, không giết hại chúng.
Từ ngày đó, ông sai chúng đốn củi, xách nước cho hội chúng và cho bàn thờ của Đức Giê-hô-va ở nơi Ngài chọn lựa cho đến ngày nay.
Khi A-đô-ni Xê-đéc, vua Giê-ru-sa-lem, nghe tin Giô-suê đã đánh chiếm thành A-hi và phá hủy hoàn toàn thành ấy, đối xử với A-hi và vua thành ấy như đã đối xử với Giê-ri-cô và vua nó; cũng nghe tin dân Ga-ba-ôn đã cầu hòa với dân Y-sơ-ra-ên và chung sống với họ
thì vua rất kinh hãi vì Ga-ba-ôn là một thành lớn, như một đế đô; thành ấy lớn hơn thành A-hi, và tất cả dân thành ấy đều là những dũng sĩ.
Vậy A-đô-ni Xê-đéc, vua Giê-ru-sa-lem, sai người đến với Hô-ham, vua Hếp-rôn, với Phi-ram, vua Giạt-mút, với Gia-phia, vua La-ki, và với Đê-bia, vua Éc-lôn, mà nói rằng:
“Hãy lên với tôi và giúp tôi đánh thành Ga-ba-ôn vì chúng đã cầu hòa với Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên.”
Vậy năm vua A-mô-rít, tức là vua Giê-ru-sa-lem, vua Hếp-rôn, vua Giạt-mút, vua La-ki, và vua Éc-lôn liên minh với nhau, đem toàn quân kéo lên đóng trại trước Ga-ba-ôn, và tiến đánh thành.
Dân Ga-ba-ôn phái người đến trại quân Ghinh-ganh, thưa với Giô-suê: “Xin đừng bỏ rơi đầy tớ ông. Hãy mau lên với chúng tôi, giải cứu và giúp đỡ chúng tôi vì tất cả các vua A-mô-rít trên núi đã kết hiệp lại đánh chúng tôi.”
Vậy Giô-suê từ Ghinh-ganh đi lên với những chiến sĩ dũng cảm cùng toàn quân.
Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê: “Đừng sợ, vì Ta đã phó chúng vào tay con, sẽ không một kẻ nào đứng nổi trước mặt con đâu.”
Vậy Giô-suê từ Ghinh-ganh đi suốt cả đêm, rồi bất ngờ tiến công chúng.
Đức Giê-hô-va khiến chúng chạy hoảng loạn trước Y-sơ-ra-ên, và chúng đại bại ở Ga-ba-ôn. Quân Y-sơ-ra-ên rượt đuổi chúng theo đường dốc Bết Hô-rôn, và đánh giết chúng cho đến tận A-xê-ca và Ma-kê-đa.
Trong khi chúng chạy trốn trước Y-sơ-ra-ên thì Đức Giê-hô-va khiến đá tảng từ trời rơi xuống trên đường từ dốc Bết Hô-rôn đến A-xê-ca, và chúng đều bị giết. Số người chết do mưa đá nhiều hơn số người chết do gươm của quân Y-sơ-ra-ên.
Trong ngày Đức Giê-hô-va phó dân A-mô-rít vào tay dân Y-sơ-ra-ên, Giô-suê thưa với Đức Giê-hô-va trước mặt Y-sơ-ra-ên rằng: “Hỡi mặt trời, hãy đứng yên lại trên Ga-ba-ôn! Hỡi mặt trăng, hãy dừng lại trên thung lũng A-gia-lôn!”
Vậy mặt trời đứng yên và mặt trăng cũng dừng lại, Cho đến khi dân Chúa báo trả xong kẻ thù mình. Chẳng phải điều nầy được chép trong sách Gia-sa sao? Mặt trời dừng lại giữa trời, và không vội lặn khoảng một ngày trọn.
Trước đó và từ đó về sau, chẳng có ngày nào như ngày ấy, là ngày Đức Giê-hô-va lắng nghe tiếng của một người vì Đức Giê-hô-va chiến đấu cho dân Y-sơ-ra-ên.
Rồi Giô-suê và toàn thể Y-sơ-ra-ên trở về trại quân tại Ghinh-ganh.
Năm vua kia chạy trốn, và ẩn núp trong một hang đá tại Ma-kê-đa.
Có người báo cho Giô-suê biết: “Đã tìm thấy năm vua ấy đang trốn trong hang đá tại Ma-kê-đa.”
Giô-suê bảo: “Hãy lăn tảng đá lớn lấp cửa hang lại và sai người canh giữ chúng.
Còn anh em chớ dừng lại mà phải đuổi theo quân thù, chặn đánh phía sau, không cho chúng chạy vào thành của chúng vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời anh em đã phó chúng vào tay anh em.”
Khi Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên đã đánh bại chúng cho đến khi quét sạch chúng, chỉ trừ số tàn quân rút vào trong những thành kiên cố,
thì cả dân chúng trở về với Giô-suê cách bình an trong trại quân tại Ma-kê-đa, và chẳng một kẻ nào dám hé môi nói nghịch với dân Y-sơ-ra-ên.
Bấy giờ, Giô-suê nói: “Hãy mở cửa hang đem năm vua đó ra và dẫn đến cho tôi.”
Họ làm như vậy, đem năm vua ra khỏi hang đá và dẫn đến cho ông, đó là vua Giê-ru-sa-lem, vua Hếp-rôn, vua Giạt-mút, vua La-ki, và vua Éc-lôn.
Khi người ta dẫn năm vua ấy đến với Giô-suê thì Giô-suê gọi tất cả người nam của Y-sơ-ra-ên và bảo các vị chỉ huy quân đội đã đi với mình rằng: “Hãy lại gần, đạp chân lên cổ các vua nầy.” Họ đến gần, đạp chân trên cổ các vua ấy.
Giô-suê nói với họ: “Chớ e ngại hay kinh hãi; hãy mạnh dạn và can đảm vì Đức Giê-hô-va sẽ làm như vậy cho tất cả kẻ thù mà anh em sẽ giao chiến.”
Sau đó, Giô-suê đánh giết các vua ấy, bảo đem treo trên năm ngọn cây, và năm vua ấy bị treo trên cây cho đến chiều tối.
Khi mặt trời lặn, Giô-suê truyền lệnh đem thây xuống khỏi cây. Họ quăng những thây ấy trong hang đá, là chỗ các vua ấy đã trốn, rồi lấy những tảng đá lớn chặn cửa hang lại; những tảng đá ấy vẫn còn cho đến ngày nay.
Trong ngày đó, Giô-suê cũng đánh chiếm Ma-kê-đa, và lấy gươm giết cả thành cùng với vua thành ấy. Ông tiêu diệt thành và mọi sinh vật trong đó, không để một ai sống sót. Ông đối xử với vua Ma-kê-đa như đã đối xử với vua Giê-ri-cô vậy.
Sau đó, Giô-suê cùng toàn thể Y-sơ-ra-ên từ Ma-kê-đa đi qua Líp-na và hãm đánh Líp-na.
Đức Giê-hô-va cũng phó Líp-na cùng vua thành ấy vào tay Y-sơ-ra-ên. Họ cầm gươm diệt thành và mọi người trong đó, không để một ai sống sót. Ông đối xử với vua thành nầy như đã đối xử với vua Giê-ri-cô vậy.
Kế đó, Giô-suê cùng toàn dân Y-sơ-ra-ên từ Líp-na đi qua La-ki, vây hãm và tiến công thành.
Đức Giê-hô-va trao La-ki vào tay Y-sơ-ra-ên. Ngày thứ hai họ đánh chiếm thành, lấy gươm diệt thành và mọi sinh vật trong đó như đã làm cho Líp-na vậy.
Bấy giờ, Hô-ram, vua Ghê-xe, đi lên tiếp viện cho La-ki, nhưng Giô-suê đánh bại vua ấy và quân đội của vua nầy, không để một ai sống sót.
Giô-suê cùng toàn dân Y-sơ-ra-ên từ La-ki đi qua Éc-lôn, vây hãm và tiến công thành.
Ngày ấy, họ đánh chiếm và lấy gươm diệt thành. Cũng trong ngày ấy, Giô-suê tận diệt thành và mọi người trong đó như đã làm cho La-ki vậy.
Kế đó, Giô-suê cùng toàn quân Y-sơ-ra-ên từ Éc-lôn đi lên Hếp-rôn, và tấn công nó.
Họ chiếm và lấy gươm diệt thành, vua, các thị trấn và mọi sinh vật trong đó, không để một ai sống sót. Ông tận diệt thành và mọi sinh vật trong đó như đã làm cho Éc-lôn vậy.
Giô-suê cùng toàn quân Y-sơ-ra-ên quay sang tiến công Đê-bia.
Ông chiếm thành và tất cả các thị trấn, rồi bắt vua nó và lấy gươm diệt chúng. Ông tận diệt mọi người trong đó, không để một ai sống sót. Ông cũng đối xử với Đê-bia và vua thành ấy như đã đối xử với Hếp-rôn và Líp-na cùng với vua của nó.
Như vậy Giô-suê đánh chiếm toàn xứ, nào miền núi, nào miền nam, nào miền chân núi, nào đồi dốc và tất cả các vua xứ đó. Ông không để một ai sống sót, tận diệt mọi vật có hơi thở, như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã truyền phán.
Giô-suê đánh bại các vua ấy từ Ca-đe Ba-nê-a cho đến Ga-xa, và toàn vùng Gô-sen cho đến Ga-ba-ôn.
Giô-suê bắt các vua nầy và chiếm lấy đất của họ chỉ trong một chiến dịch thôi, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên chiến đấu cho Y-sơ-ra-ên.
Sau đó, Giô-suê và toàn dân Y-sơ-ra-ên trở về trại quân ở Ghinh-ganh.
Khi nghe tin ấy, Gia-bin, vua Hát-so, sai sứ giả đến với Giô-báp, vua Ma-đôn, đến với vua Sim-rôn, vua Ạc-sáp,
và đến với các vua ở miền núi phía bắc, trong đồng bằng Ki-nê-rết phía nam, ở miền chân núi và trên cao nguyên Đô-rơ phía tây.
Vua cũng sai người đến với dân Ca-na-an về phía đông và phía tây, đến với dân A-mô-rít, dân Hê-tít, dân Phê-rê-sít, dân Giê-bu-sít ở vùng đồi núi, và đến với dân Hê-vít ở dưới chân núi Hẹt-môn, trong đất Mích-pa.
Các vua nầy đem toàn quân ra trận, hợp thành một đạo quân đông như cát nơi bờ biển cùng với vô số ngựa và xe.
Tất cả các vua nầy liên kết lại và đóng quân chung với nhau gần các suối nước Mê-rôm để đánh dân Y-sơ-ra-ên.
Nhưng Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê: “Đừng sợ, vì ngày mai ngay giờ nầy, Ta sẽ trao tất cả chúng nó vào tay Y-sơ-ra-ên để giết chúng. Con sẽ cắt nhượng ngựa và phóng hỏa đốt các xe cộ của chúng.”
Vậy Giô-suê và tất cả các chiến sĩ bất ngờ ập đến, tấn công chúng ở gần các suối nước Mê-rôm,
và Đức Giê-hô-va phó chúng vào tay Y-sơ-ra-ên. Giô-suê và tất cả chiến sĩ đánh, truy đuổi chúng cho đến Đại Si-đôn, đến Mít-rê-phốt Ma-im, và đến thung lũng Mích-pê về phía đông. Họ giết chúng, không để một ai sống sót.
Giô-suê xử chúng đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn: cắt nhượng ngựa, và phóng hỏa đốt xe của chúng.
Lúc ấy, Giô-suê quay về chiếm Hát-so và dùng gươm giết vua thành nầy. Hát-so xưa vốn đứng đầu các vương quốc đó.
Giô-suê và quân lính dùng gươm giết tất cả người trong thành, không để một vật có hơi thở nào còn sống sót, và phóng hỏa đốt thành Hát-so.
Giô-suê cũng bắt các vua ấy giết bằng gươm rồi chiếm và hủy diệt các thành của chúng đúng như Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã truyền dặn.
Nhưng Y-sơ-ra-ên không đốt một thành nào ở trên đồi núi, trừ ra Hát-so mà Giô-suê đã đốt.
Dân Y-sơ-ra-ên tịch thu tất cả các chiến lợi phẩm và súc vật của các thành ấy, nhưng dùng gươm giết mọi người và tận diệt chúng. Họ không để cho một người nào sống sót.
Điều gì mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se, đầy tớ Ngài, thì Môi-se cũng đã truyền lại cho Giô-suê, và Giô-suê làm đúng theo mọi điều Đức Giê-hô-va phán dặn Môi-se, không bỏ sót điều nào cả.
Vậy, Giô-suê chiếm lấy toàn xứ nầy, gồm núi đồi, toàn miền Nê-ghép, toàn miền Gô-sen, miền chân núi và đồng bằng, miền núi Y-sơ-ra-ên cùng miền chân núi của nó;
từ phía núi Ha-lát chạy lên phía Sê-i-rơ cho đến Ba-anh Gát trong thung lũng Li-ban, dưới chân núi Hẹt-môn. Ông bắt tất cả vua các miền đó, đánh và giết đi.
Giô-suê tiến hành chiến tranh chống lại tất cả các vua ấy trong một thời gian khá lâu.
Chẳng có một thành nào lập hòa ước với dân Y-sơ-ra-ên, trừ ra dân Hê-vít ở Ga-ba-ôn. Dân Y-sơ-ra-ên chinh phục tất cả các thành bằng chiến tranh.
Vì Đức Giê-hô-va đã khiến cho các vua ấy cứng lòng chống cự Y-sơ-ra-ên để bị tiêu diệt hoàn toàn chứ không được thương xót, đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
Trong lúc đó, Giô-suê quét sạch dân A-na-kim ở miền đồi núi, gồm Hếp-rôn, Đê-bia, A-náp, và ở khắp miền đồi núi Giu-đa cũng như khắp miền đồi núi Y-sơ-ra-ên. Giô-suê tận diệt chúng luôn với các thành của chúng.
Chẳng còn người A-na-kim nào trong đất của dân Y-sơ-ra-ên; chỉ còn lại một số ít ở Ga-xa, Gát, và Ách-đốt.
Vậy Giô-suê đã chiếm cả xứ như Đức Giê-hô-va phán dặn Môi-se, và ban xứ ấy cho Y-sơ-ra-ên làm sản nghiệp, theo sự phân chia cho từng bộ tộc. Sau đó, xứ được yên ổn, không còn giặc giã.
Đây là các vua trong xứ bị dân Y-sơ-ra-ên đánh bại và chiếm lấy đất của chúng ở bên kia sông Giô-đanh, về hướng mặt trời mọc, từ thung lũng Ạt-nôn đến núi Hẹt-môn, và cả đồng bằng phía đông:
Si-hôn là vua dân A-mô-rít ở Hết-bôn. Vua nầy cai trị từ A-rô-e, là thành ở bên thung lũng Ạt-nôn, và từ giữa thung lũng nầy cho đến sông Gia-bốc, biên giới của dân Am-môn, tức là phân nửa xứ Ga-la-át.
Vua nầy cũng cai trị vùng đồng bằng cho đến biển Ki-nê-rết phía đông, cho đến tận biển của đồng bằng tức là Biển Chết, về hướng Bết Giê-si-mốt, ở phía nam dưới chân núi Phích-ga.
Vua Ba-san là Óc, một người còn sót của dân Rê-pha-im, sống tại Ách-ta-rốt và Ết-rê-i.
Vua nầy cai trị miền núi Hẹt-môn, miền Sanh-ca, và cả xứ Ba-san, cho đến biên giới dân Giê-su-rít và dân Ma-ca-thít, luôn cả phân nửa xứ Ga-la-át cho đến biên giới của Si-hôn, vua của Hết-bôn.
Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, và dân Y-sơ-ra-ên đã đánh bại chúng. Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, cấp đất ấy cho người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se làm sản nghiệp.
Và đây là các vua của xứ mà Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên đã đánh bại ở bờ tây sông Giô-đanh, từ Ba-anh Gát trong thung lũng Li-ban, cho đến núi Ha-lát chạy về hướng Sê-i-rơ. Giô-suê cấp đất ấy cho các bộ tộc Y-sơ-ra-ên làm sản nghiệp theo sự phân chia của từng bộ tộc,
bao gồm miền núi, miền chân núi, đồng bằng, đồi dốc, hoang mạc và miền Nê-ghép, tức là cả vùng đất của dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Ca-na-an, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít:
Vua Giê-ri-cô, vua A-hi ở cạnh Bê-tên,
vua Giê-ru-sa-lem, vua Hếp-rôn,
vua Giạt-mút, vua La-ki,
vua Éc-lôn, vua Ghê-xe,
vua Đê-bia, vua Ghê-đe,
vua Họt-ma, vua A-rát,
vua Líp-na, vua A-đu-lam,
vua Ma-kê-đa, vua Bê-tên,
vua Tháp-bu-ách, vua Hê-phe,
vua A-phéc, vua Sa-rôn,
vua Ma-đôn, vua Hát-so,
vua Sim-rôn Mê-rôn, vua Ạc-sáp,
vua Tha-a-nác, vua Mê-ghi-đô,
vua Kê-đe, vua Giốc-nê-am, ở tại Cạt-mên,
vua Đô-rơ ở trên cao nguyên Đô-rơ, vua Gô-im ở Ghinh-ganh,
và vua Tiệt-sa. Tất cả là ba mươi mốt vua.
Khi Giô-suê về già, tuổi đã cao, Đức Giê-hô-va phán với ông rằng: “Con đã già, tuổi đã cao, mà đất phải đánh chiếm thì còn nhiều lắm.
Đây là đất còn lại: Tất cả các địa phận của dân Phi-li-tin và tất cả các địa phận của dân Ghê-su-rít gồm
từ sông Si-cô đối diện Ai Cập cho đến biên giới Éc-rôn về phía bắc, vốn được coi là thuộc về dân Ca-na-an (năm vua Phi-li-tin là vua Ga-xa, vua Ách-đốt, vua Ách-ca-lôn, vua Gát, và vua Éc-rôn). Địa phận của dân A-vim
từ phía nam, toàn xứ Ca-na-an và Mê-a-ra, vốn thuộc về dân Si-đôn, cho đến A-phéc và đến tận biên giới dân A-mô-rít.
Địa phận của dân Ghi-bê-lít, và cả Li-ban về hướng mặt trời mọc, từ Ba-anh Gát ở chân núi Hẹt-môn cho đến cửa khẩu của Ha-mát.
Còn tất cả cư dân miền đồi núi, từ Li-ban cho đến Mít-rê-phốt Ma-im, luôn cả dân Si-đôn, chính Ta sẽ đuổi chúng khỏi dân Y-sơ-ra-ên. Nhưng con hãy phân chia xứ nầy cho Y-sơ-ra-ên làm sản nghiệp như Ta đã truyền cho con.
Vậy bây giờ, hãy chia xứ nầy cho chín bộ tộc, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se.”
Người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se đã lãnh từ Môi-se phần sản nghiệp của mình ở bên kia sông Giô-đanh về phía đông, như Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã cấp cho họ.
Địa phận của họ từ A-rô-e trên bờ thung lũng Ạt-nôn và thành ở giữa thung lũng nầy, cùng cả vùng cao nguyên từ Mê-đê-ba đến Đi-bôn,
và tất cả những thành của Si-hôn, vua A-mô-rít, trị vì tại Hết-bôn cho đến tận biên giới dân Am-môn;
Ga-la-át cùng địa phận dân Ghê-su-rít và dân Ma-ca-thít, khắp núi Hẹt-môn, cả Ba-san cho đến Sanh-ca,
và toàn vương quốc của vua Óc ở Ba-san. Vua nầy vốn cai trị tại Ách-ta-rốt và Ết-rê-i, và là người còn sót lại của dân Rê-pha-im mà Môi-se đánh bại và đuổi đi.
Tuy nhiên, dân Y-sơ-ra-ên không đuổi dân Ghê-su-rít và dân Ma-ca-thít. Vì thế, dân Ghê-su-rít và dân Ma-ca-thít còn ở giữa dân Y-sơ-ra-ên cho đến ngày nay.
Môi-se không cấp sản nghiệp cho bộ tộc Lê-vi vì những tế lễ dâng bằng lửa cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là sản nghiệp của họ như Ngài đã phán với Môi-se.
Môi-se cấp sản nghiệp cho bộ tộc Ru-bên theo từng gia tộc của họ.
Địa phận của họ chạy từ A-rô-e trên bờ thung lũng Ạt-nôn, và thành ở giữa thung lũng nầy, cùng toàn vùng cao nguyên gần Mê-đê-ba;
Hết-bôn và tất cả các thành của nó ở cao nguyên, là Đi-bôn, Ba-mốt Ba-anh, Bết Ba-anh Mê-ôn,
Gia-hát, Kê-đê-mốt, Mê-phát,
Ki-ri-a-ta-im, Síp-ma, Xê-rết Ha-sa-cha ở trên đồi trong thung lũng,
Bết Pê-o, các triền núi Pít-ga và Bết Giê-si-mốt,
tất cả các thành trên cao nguyên và toàn vương quốc của Si-hôn, vua dân A-mô-rít, là vua từng cai trị tại Hết-bôn. Môi-se đã đánh bại vua nầy với các thủ lĩnh Ma-đi-an, là Ê-vi, Rê-kem, Xu-rơ, Hu-rơ, và Rê-ba, là các chư hầu của Si-hôn ở trong vùng đất đó.
Trong những người bị giết bởi gươm của dân Y-sơ-ra-ên có thuật sĩ Ba-la-am, con trai của Bê-ô.
Địa phận người Ru-bên lấy sông Giô-đanh làm ranh giới. Đó là sản nghiệp của người Ru-bên theo từng gia tộc, thành trì, và làng mạc của họ.
Môi-se cũng cấp một phần đất cho bộ tộc Gát, theo từng gia tộc của họ.
Địa phận của bộ tộc Gát là Gia-ê-xe, tất cả các thành của Ga-la-át, phân nửa xứ của dân Am-môn, cho đến A-rô-e đối diện với Ráp-ba;
và từ Hết-bôn cho đến Ra-mát Mít-pê, cùng Bê-tô-nim; và từ Ma-ha-na-im cho đến biên giới của Đê-bia.
Còn trong thung lũng có Bết Ha-ram, Bết Nim-ra, Su-cốt, và Xa-phôn, tức là phần còn lại của vương quốc Si-hôn, vua Hết-bôn, lấy sông Giô-đanh làm ranh giới cho đến cuối biển Ki-nê-rết, ở bên kia sông Giô-đanh về phía đông.
Đó là sản nghiệp của người Gát theo từng gia tộc với thành trì và làng mạc của họ.
Môi-se cũng cấp một phần đất cho phân nửa bộ tộc Ma-na-se, tức là sản nghiệp của nửa bộ tộc Ma-na-se theo từng gia tộc của họ.
Địa phận của họ từ Ma-ha-na-im, toàn vùng Ba-san, cả vương quốc của Óc, vua của Ba-san, và tất cả các thị trấn của Giai-rơ thuộc Ba-san, có sáu mươi thành.
Phân nửa xứ Ga-la-át, Ách-ta-rốt, và Ết-rê-i, là các thành thuộc vương quốc của Óc tại Ba-san, được cấp cho phân nửa con cháu Ma-ki, chít của Ma-na-se, theo từng gia tộc của họ.
Đó là sản nghiệp mà Môi-se đã phân chia tại đồng bằng Mô-áp, ở bên kia sông Giô-đanh, về phía đông Giê-ri-cô.
Nhưng Môi-se không cấp sản nghiệp nào cho bộ tộc Lê-vi vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là phần sản nghiệp của họ, đúng như Ngài đã phán với họ.
Đây là sản nghiệp mà dân Y-sơ-ra-ên nhận lãnh trong xứ Ca-na-an, do thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, Giô-suê, con trai Nun, và các trưởng gia tộc của các bộ tộc dân Y-sơ-ra-ên phân phát cho họ.
Họ bắt thăm để phân chia sản nghiệp cho chín bộ tộc và phân nửa bộ tộc, đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
Môi-se đã cấp sản nghiệp cho hai bộ tộc và phân nửa bộ tộc ở bên kia sông Giô-đanh nhưng ông không cấp cho người Lê-vi sản nghiệp nào giữa các bộ tộc.
Con cháu Giô-sép đã trở thành hai bộ tộc là Ma-na-se và Ép-ra-im. Người Lê-vi không được cấp phần đất nào làm sản nghiệp mà chỉ được cấp các thành để ở, với những đồng cỏ chung quanh thành dùng cho các bầy súc vật và là tài sản của họ.
Dân Y-sơ-ra-ên đã phân chia đất đai đúng theo điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
Bấy giờ, con cháu Giu-đa đến với Giô-suê tại Ghinh-ganh, và Ca-lép, con trai Giê-phu-nê, người Kê-nít, nói với ông rằng: “Ông biết những gì Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se, người của Đức Chúa Trời, tại Ca-đe Ba-nê-a liên quan đến ông và tôi.
Khi Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, ở Ca-đe Ba-nê-a sai tôi đi do thám xứ, thì tôi đã được bốn mươi tuổi; và tôi tường trình cho người cách trung thực.
Nhưng các anh em cùng đi lên với tôi đã làm cho dân chúng sờn lòng, còn tôi trung thành vâng theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tôi.
Trong ngày đó, Môi-se có thề rằng: ‘Vùng đất mà chân anh đã đạp đến chắc chắn sẽ thuộc về anh và con cháu anh làm sản nghiệp đời đời, vì anh trung thành vâng theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tôi.’
Kìa, trong bốn mươi lăm năm nay, từ khi Đức Giê-hô-va phán lời nầy với Môi-se trong lúc Y-sơ-ra-ên còn đi trong hoang mạc, Đức Giê-hô-va đã bảo tồn mạng sống tôi đến bây giờ, và nay tôi được tám mươi lăm tuổi.
Hiện nay tôi vẫn còn mạnh khỏe như ngày Môi-se sai tôi đi; tôi vẫn còn sức lực như ngày xưa để đi đánh giặc, hoặc vào ra.
Vậy hãy cấp cho tôi vùng đồi núi nầy mà Đức Giê-hô-va đã phán hứa trong ngày đó, vì lúc ấy ông đã nghe rằng ở đó có dân A-na-kim cùng các thành lớn và kiên cố. Xin Đức Giê-hô-va ở với tôi để tôi đuổi chúng đi như Ngài đã phán.”
Giô-suê chúc phước và cấp Hếp-rôn cho Ca-lép, con trai Giê-phu-nê, làm sản nghiệp.
Vì thế, Hếp-rôn trở thành sản nghiệp của Ca-lép, con trai Giê-phu-nê, người Kê-nít, cho đến ngày nay vì ông trung thành vâng theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Khi xưa Hếp-rôn gọi là Ki-ri-át A-ra-ba; A-ra-ba là người cao lớn hơn hết trong dân A-na-kim. Từ đó về sau, xứ sở được bình yên, không còn giặc giã.
Phần đất mà bộ tộc Giu-đa bắt thăm được theo từng gia tộc, chạy về phía nam ranh giới Ê-đôm đến hoang mạc Xin ở miền cực nam.
Ranh giới phía nam của họ chạy từ cuối Biển Muối, tức là từ vùng vịnh hướng về phía nam;
và từ dốc Ạc-ráp-bim chạy dài xuống miền nam, đi ngang qua Xin, lên phía nam Ca-đe Ba-nê-a, đi ngang qua Hết-rôn, lên hướng Át-đa, vòng qua Cạt-ca,
đi ngang về hướng Át-môn, nhập vào Suối Ai Cập và chạy đến tận biển. Đó sẽ là ranh giới phía nam của anh em.
Ranh giới phía đông là từ Biển Chết cho đến cửa sông Giô-đanh. Ranh giới phía bắc chạy từ vùng vịnh nơi cửa sông Giô-đanh,
đi lên Bết Hốt-la, trải qua phía bắc Bết A-ra-ba, và chạy đến hòn đá Bô-han, con trai của Ru-bên.
Biên giới nầy chạy lên đến Đê-bia, từ thung lũng A-cô chạy về hướng bắc vòng qua Ghinh-ganh, đối diện dốc A-đu-mim về phía nam của thung lũng; rồi chạy dọc mé nước Ên Sê-mết và đến Ên Rô-ghên.
Từ đó, ranh giới chạy lên gần thung lũng Bên Hi-nôm, dọc sườn đồi phía nam của Giê-bu, tức là Giê-ru-sa-lem. Kế đó, nó chạy lên cho đến đỉnh núi nằm đối diện thung lũng Hi-nôm về hướng tây, ở cuối phía bắc thung lũng Rê-pha-im.
Ranh giới lại chạy từ đỉnh núi đến suối nước Nép-thô-ách, và kéo dài về hướng các thành của núi Ép-rôn; rồi chạy xuống đến Ba-la, là Ki-ri-át Giê-a-rim.
Nó chạy vòng từ Ba-la qua hướng tây đến núi Sê-i-rơ, rồi bọc theo sườn phía bắc của núi Giê-a-rim, tức là Kê-sa-lôn, chạy xuống đến Bết Sê-mết và ngang qua Thim-na.
Ranh giới nầy cứ chạy theo triền núi phía bắc Éc-rôn rồi vòng về Siếc-rôn, chạy qua núi Ba-la, thẳng đến Giáp-nê-ên, và dừng lại ở biển.
Còn ranh giới phía tây là bờ Biển Lớn. Đó là ranh giới bao quanh con cháu Giu-đa, theo từng gia tộc của họ.
Theo mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va, Giô-suê cấp cho Ca-lép, con trai Giê-phu-nê, một phần đất ở giữa người Giu-đa, là thành của A-ra-ba, cha A-nác. Đó là thành Hếp-rôn.
Ca-lép đuổi được ba con trai của A-nác, là Sê-sai, A-hi-man, và Tha-mai.
Từ đó ông đi lên đánh dân thành Đê-bia. Đê-bia trước kia tên là Ki-ri-át Sê-phe.
Ca-lép nói: “Ta sẽ gả con gái ta là Ạc-sa cho người nào đánh và chiếm lấy Ki-ri-át Sê-phe.”
Ốt-ni-ên, con trai của Kê-na là anh Ca-lép, chiếm được thành và Ca-lép gả con gái ông là Ạc-sa cho chàng làm vợ.
Khi về với Ốt-ni-ên, nàng thuyết phục chàng xin cha nàng một thửa ruộng. Khi nàng xuống lừa, Ca-lép hỏi: “Con muốn điều gì?”
Nàng thưa: “Xin cha ban cho con một món quà, vì cha đặt con nơi đất Nê-ghép, nên xin cha cũng cho con luôn mấy suối nước”. Ca-lép liền cho nàng các suối nước ở miền trên và miền dưới.
Đó là sản nghiệp của bộ tộc Giu-đa, theo từng gia tộc của họ.
Các thành ở cực nam của bộ tộc Giu-đa, gần biên giới Ê-đôm là: Cáp-xê-ên, Ê-đe, Gia-gua,
Ki-na, Đi-mô-na, A-đê-a-đa,
Kê-đe, Hát-so, Gít-nan,
Xíp, Tê-lem, Bê-a-lốt,
Hát-so Ha-đa-tha, Kê-ri-giốt Hết-rôn, tức là Hát-so,
A-mam, Sê-ma, Mô-la-đa,
Hát-sa-ga-đa, Hết-môn, Bết Pha-lết,
Hát-sa Su-anh, Bê-e Sê-ba, Bi-sốt-gia,
Ba-la, Y-dim, Ê-xem,
Ê-thô-lát, Kê-sinh, Họt-ma,
Xiếc-lác, Mát-ma-na, San-sa-na,
Lê-ba-ốt, Si-lim, A-in, và Rim-môn: tất cả là hai mươi chín thành với các làng mạc của chúng.
Trong miền chân núi có: Ết-tha-ôn, Xô-rê-a, Át-na,
Xa-nô-ách, Ên Ga-nim, Tháp-bu-ách, Ên-nam,
Giạt-mút, A-đu-lam, Sô-cô, A-xê-ca,
Sa-a-ra-im, A-đi-tha-im, Ghê-đê-ra, và Ghê-đê-rô-tha-im: tất cả là mười bốn thành với các làng mạc của chúng.
Cũng có Xê-nan, Ha-đa-sa, Mích-đanh Gát,
Đi-lan, Mích-pê, Giốc-thê-ên,
La-ki, Bốt-cát, Éc-lôn,
Cáp-bôn, Lách-ma, Kít-lít,
Ghê-đê-rốt, Bết Đa-gôn, Na-a-ma, và Ma-kê-đa: tất cả là mười sáu thành với các làng mạc của chúng.
Líp-na, Ê-the, A-san,
Díp-tách, Át-na, Nết-síp,
Kê-i-la, Ạc-xíp, và Ma-rê-sa: tất cả là chín thành với các làng mạc của chúng.
Éc-rôn, với các thị trấn và làng mạc của nó;
từ Éc-rôn đến biển, tất cả các thành ở gần Ách-đốt cùng các làng mạc của chúng;
Ách-đốt, các thị trấn và các làng mạc của nó; Ga-xa, các thị trấn và các làng mạc của nó, cho đến Suối Ai Cập và bờ Biển Lớn.
Trong miền núi có: Sa-mia, Giạt-thia, Sô-cô,
Đa-na, Ki-ri-át Sa-na, tức là Đê-bia,
A-náp, Ết-thê-mô, A-nim,
Gô-sen, Hô-lôn, Ghi-lô: tất cả là mười một thành cùng các làng mạc của chúng.
A-ráp, Ru-ma, Ê-sê-an,
Gia-num, Bết Tháp-bu-ách, A-phê-ca,
Hum-ta, Ki-ri-át A-ra-ba, tức là Hếp-rôn, và Si-ô: tất cả là chín thành với các làng mạc của chúng.
Ma-ôn, Cạt-mên, Xíp, Giu-ta,
Gít-rê-ên, Giốc-đê-am, Xa-nô-ách;
Ca-in, Ghi-bê-a, và Thim-na: tất cả là mười thành với các làng mạc của chúng.
Hanh-hun, Bết Xu-rơ, Ghê-đô,
Ma-a-rát, Bết A-nốt, và Ên-thê-côn: tất cả là sáu thành với các làng mạc của chúng.
Ki-ri-át Ba-anh, tức là Ki-ri-át Giê-a-rim, và Ráp-ba: tất cả là hai thành với các làng mạc của chúng.
Trong hoang mạc có Bết A-ra-ba, Mi-đin, Sê-ca-ca,
Níp-san, Thành Muối, và Ên-ghê-đi: tất cả là sáu thành với các làng mạc của chúng.
Người Giu-đa không đuổi được dân Giê-bu-sít ở tại Giê-ru-sa-lem nên dân Giê-bu-sít còn ở chung với người Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem cho đến ngày nay.
Phần đất mà con cháu Giô-sép đã bắt thăm được chạy từ sông Giô-đanh gần Giê-ri-cô, phía đông các suối Giê-ri-cô, băng qua hoang mạc, và từ thành Giê-ri-cô lên đến vùng đồi núi Bê-tên.
Ranh giới chạy dài từ Bê-tên đến Lu-xơ, đi qua địa phận dân A-rê-kít tại A-ta-rốt,
chạy xuống phía tây đến địa phận dân Giáp-lê-tít, cho đến địa phận Bết Hô-rôn Hạ và Ghê-xe rồi dừng lại ở biển.
Đó là phần sản nghiệp mà con cháu của Giô-sép là Ma-na-se và Ép-ra-im đã nhận lãnh.
Địa phận của Ép-ra-im theo từng gia tộc của họ như sau: ranh giới của sản nghiệp họ ở về phía đông, từ A-tê-rốt A-đa cho đến Bết Hô-rôn Thượng,
và từ đó chạy thẳng ra biển; về phía bắc là Mít-mê-thát; về phía đông, đường ranh giới nầy vòng về hướng Tha-a-nát Si-lô, và chạy về phía đông đến Gia-nô-ách,
rồi từ Gia-nô-ách, nó chạy xuống A-ta-rốt và Na-ra-tha, gặp Giê-ri-cô, và dừng lại ở sông Giô-đanh.
Từ Tháp-bu-ách, ranh giới nầy chạy về hướng tây đến suối Ca-na, rồi dừng lại ở biển. Đó là sản nghiệp của bộ tộc Ép-ra-im, theo từng gia tộc của họ.
Ngoài những thành trì và làng mạc đó, người Ép-ra-im cũng có những thành dành riêng cho họ trong sản nghiệp của người Ma-na-se.
Tuy nhiên, họ không đuổi dân Ca-na-an ở tại Ghê-xe nên dân Ca-na-an ở giữa Ép-ra-im cho đến ngày nay, nhưng chúng bị cưỡng bách lao động như nô lệ.
Bộ tộc Ma-na-se được bắt thăm chia đất vì ông là người con đầu lòng của Giô-sép. Con đầu lòng của Ma-na-se là Ma-ki, cha của Ga-la-át, là một chiến sĩ, nên được cấp cho vùng đất Ga-la-át và Ba-san.
Những người con khác của Ma-na-se cũng được bắt thăm chia đất theo từng gia tộc của họ: A-bi-ê-se, Hê-léc, Át-ri-ên, Si-chem, Hê-phe, Sê-mi-đa. Đó là các con trai của Ma-na-se, cháu Giô-sép, theo từng gia tộc của họ.
Xê-lô-phát, con trai của Hê-phe, cháu của Ga-la-át, chắt của Ma-ki, chít của Ma-na-se, không có con trai, chỉ có các con gái tên là: Mách-la, Nô-a, Hốt-la, Minh-ca và Tiệt-sa.
Các cô ấy đến trước thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, trước Giô-suê, con trai Nun, và trước các nhà lãnh đạo mà nói rằng: “Đức Giê-hô-va đã phán với Môi-se ban cho chúng tôi một phần sản nghiệp cùng với anh em chúng tôi.” Vậy, Giô-suê vâng lệnh Đức Giê-hô-va cấp cho các cô ấy một phần sản nghiệp như các anh em của cha các cô.
Vậy Ma-na-se bắt thăm được mười phần, không kể đất Ga-la-át và Ba-san ở bên kia sông Giô-đanh,
vì các con gái Ma-na-se có một phần sản nghiệp cùng với các con trai ông, còn đất Ga-la-át được chia cho các con trai khác của Ma-na-se.
Ranh giới của Ma-na-se từ A-se đến Mít-mê-thát đối diện Si-chem, rồi chạy về phía nam đến chỗ ở của dân Ên Tháp-bu-ách.
Đất Tháp-bu-ách thuộc về Ma-na-se, nhưng thị trấn Tháp-bu-ách gần ranh giới của Ma-na-se thì thuộc về con cháu Ép-ra-im.
Từ đó, ranh giới nầy chạy xuống tận suối Ca-na; trong số các thành Ma-na-se ở phía nam của suối nầy, có những thành thuộc về Ép-ra-im. Ranh giới của Ma-na-se chạy về phía bắc của suối và dừng lại ở biển.
Phần đất phía nam thuộc về Ép-ra-im, phần đất phía bắc thuộc về Ma-na-se, lấy biển làm ranh giới. Phía bắc tiếp giáp với A-se, phía đông tiếp giáp với Y-sa-ca.
Trong địa phận Y-sa-ca và A-se, Ma-na-se còn có thành Bết Sê-an cùng các thị trấn phụ thuộc và thành Gíp-lê-am cùng các thị trấn phụ thuộc, bao gồm cả cư dân của Đô-rơ cùng các thị trấn phụ thuộc, cư dân của Ên-đô-rơ cùng các thị trấn phụ thuộc, cư dân của Tha-na-ác cùng các thị trấn phụ thuộc, cư dân của Mê-ghi-đô cùng các thị trấn phụ thuộc, và thành thứ ba là Na-phốt.
Tuy nhiên, con cháu Ma-na-se không thể chiếm các thành ấy nên dân Ca-na-an cứ ở trong xứ đó.
Nhưng khi dân Y-sơ-ra-ên trở nên hùng mạnh, họ cưỡng bách dân Ca-na-an lao động chứ không đuổi hết chúng được.
Con cháu của Giô-sép nói với Giô-suê: “Chúng tôi đã thành một dân đông người, vì Đức Giê-hô-va đã ban phước cho chúng tôi đến hôm nay. Vậy tại sao ông cho chúng tôi chỉ có một phần đất làm sản nghiệp thôi?”
Giô-suê đáp: “Nếu anh em đông như vậy và vùng núi Ép-ra-im quá hẹp thì anh em hãy lên khai phá rừng và tạo dựng cho mình một chỗ trong đất của dân Phê-rê-sít và dân Rê-pha-im.”
Nhưng con cháu Giô-sép đáp: “Miền núi không đủ chỗ cho chúng tôi, còn miền đồng bằng thì tất cả dân Ca-na-an ở đó đều có thiết xa, cả dân Bết Sê-an cùng các thị trấn của nó và dân ở thung lũng Gít-rê-ên, cũng vậy.”
Giô-suê nói với nhà Giô-sép, tức là Ép-ra-im và Ma-na-se, rằng: “Anh em là một dân đông, có sức mạnh thì sẽ không chỉ lãnh một phần đất thôi,
nhưng miền đồi núi sẽ thuộc về anh em, dù chỉ là đất rừng, anh em cũng sẽ khai phá nó, và biên cương của nó sẽ thuộc về anh em; vì anh em sẽ đuổi được dân Ca-na-an mặc dù chúng có thiết xa và hùng mạnh.”
Cả hội chúng dân Y-sơ-ra-ên nhóm họp tại Si-lô và dựng Lều Hội Kiến tại đó. Toàn xứ đều ở dưới quyền kiểm soát của họ.
Nhưng trong dân Y-sơ-ra-ên còn lại bảy bộ tộc chưa được phân chia sản nghiệp.
Giô-suê nói với dân Y-sơ-ra-ên: “Anh em lần lữa cho đến chừng nào mới đi chiếm xứ mà Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em, đã ban cho anh em?
Hãy chọn mỗi bộ tộc ba người và tôi sẽ sai đi. Họ sẽ đứng dậy đi khắp xứ, vẽ bản đồ theo từng phần sản nghiệp, rồi trở lại với tôi.
Họ sẽ chia xứ làm bảy phần. Giu-đa sẽ lưu lại trong địa phận của mình ở miền nam, nhà Giô-sép sẽ lưu lại trong địa phận của mình ở miền bắc.
Vậy, anh em hãy vẽ bản đồ của bảy phần đất và đem về đây cho tôi và tôi sẽ bắt thăm cho anh em tại đây trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta.
Nhưng người Lê-vi không được chia đất với anh em vì chức tế lễ của Đức Giê-hô-va là phần sản nghiệp của họ. Còn Gát, Ru-bên, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se đã lãnh phần sản nghiệp mà Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, ban cho họ ở bên kia sông Giô-đanh về phía đông.”
Vậy những người ấy đứng dậy ra đi. Giô-suê truyền lệnh cho họ đi vẽ bản đồ của xứ, và nói: “Hãy đi khắp xứ vẽ bản đồ rồi trở lại với tôi và tại đây tôi sẽ bắt thăm cho anh em trước mặt Đức Giê-hô-va ở Si-lô.”
Các người ấy đi khắp xứ, vẽ bản đồ trên một quyển sách chia làm bảy phần, theo từng thị trấn, rồi trở lại với Giô-suê ở trại quân tại Si-lô.
Giô-suê bắt thăm cho họ tại Si-lô trước mặt Đức Giê-hô-va và tại đó Giô-suê phân chia đất cho dân Y-sơ-ra-ên theo các bộ tộc của họ.
Bộ tộc thuộc con cháu Bên-gia-min bắt thăm theo từng gia tộc của họ và địa phận mà họ bắt thăm được nằm giữa bộ tộc Giu-đa và bộ tộc Giô-sép.
Ranh giới của Bên-gia-min về phía bắc chạy từ Giô-đanh, đi lên phía sau Giê-ri-cô về hướng bắc, băng qua miền đồi núi phía tây rồi dừng lại tại hoang mạc Bết A-ven.
Từ đó ranh giới chạy thẳng về hướng nam Lu-xơ, cũng gọi là Bê-tên, rồi chạy xuống A-ta-rốt A-đa trên ngọn đồi về phía nam Bết Hô-rôn Hạ.
Ranh giới đi vòng từ phía tây qua phía nam, tức là từ núi đối diện Bết Hô-rôn về phía nam và dừng lại ở Ki-ri-át Ba-anh, tức là Ki-ri-át Giê-a-rim, thành của người Giu-đa. Đó là ranh giới phía tây.
Biên giới phía nam bắt đầu từ ngoại thành Ki-ri-át Giê-a-rim về phía tây, chạy đến suối nước Nép-thô-ách,
rồi xuống đến chân núi nằm đối diện thung lũng Bên Hi-nôm, về phía bắc thung lũng Rê-pha-im. Nó chạy xuống thung lũng Hi-nôm ở sau lưng thành của dân Giê-bu-sít, về phía nam, rồi xuống đến Ên Rô-ghên.
Sau đó, ranh giới chạy về phía bắc đến Ên Sê-mết; từ đó đi thẳng về Ghê-li-lốt, đối diện dốc A-đu-mim, chạy xuống đến hòn đá Bô-han (Bô-han là con trai Ru-bên)
rồi đi ngang triền núi phía bắc A-ra-ba và chạy xuống A-ra-ba.
Ranh giới nầy đi qua Bết Hốt-la về hướng bắc, rồi dừng lại ở vịnh bắc của Biển Chết, phía cực nam của sông Giô-đanh. Đó là ranh giới về phía nam.
Phía đông giáp giới với sông Giô-đanh. Đó là sản nghiệp của con cháu Bên-gia-min và ranh giới bốn phía, theo từng gia tộc của họ.
Các thành của bộ tộc Bên-gia-min, theo từng gia tộc của họ là: Giê-ri-cô, Bết Hốt-la, Ê-méc-kê-sít,
Bết A-ra-ba, Xê-ma-ra-im, Bê-tên,
A-vim, Pha-ra, Óp-ra,
Kê-pha A-mô-nai, Óp-ni, và Ghê-ba: tất cả là mười hai thành và các làng mạc của chúng.
Ga-ba-ôn, Ra-ma, Bê-ê-rốt,
Mích-pê, Kê-phi-ra, Một-sa,
Rê-kem, Giệt-bê-ên, Tha-rê-a-la,
Xê-la, Ê-lép, Giê-bu, tức là Giê-ru-sa-lem, Ghi-bê-át, Ki-ri-át. Tất cả là mười bốn thành với các làng mạc của chúng. Đó là sản nghiệp của con cháu Bên-gia-min theo từng gia tộc của họ.
Bộ tộc thuộc con cháu Si-mê-ôn bắt thăm được phần đất thứ nhì theo từng gia tộc của họ. Sản nghiệp của bộ tộc nầy ở giữa sản nghiệp của con cháu Giu-đa.
Sản nghiệp của bộ tộc Si-mê-ôn gồm có: Bê-e Sê-ba, Sê-ba, Mô-la-đa,
Hát-sa Su-anh, Ba-la, Ê-xem,
Ên-thô-lát, Bê-thu, Họt-ma,
Xiếc-lác, Bết Ma-ca-bốt, Hát-sa Su-sa,
Bết Lê-ba-ốt, và Sê-a-ru-chen: tất cả là mười ba thành cùng các làng mạc của chúng.
A-in, Rim-môn, Ê-the, và A-san. Tất cả là bốn thành cùng các làng mạc của chúng,
bao gồm tất cả các thị trấn chung quanh những thành ấy cho đến Ba-lát Bê-e, tức là Ra-ma ở miền Nê-ghép. Đó là sản nghiệp của bộ tộc Si-mê-ôn theo từng gia tộc của họ.
Sản nghiệp của con cháu Si-mê-ôn lấy từ phần đất của người Giu-đa vì phần đất của con cháu Giu-đa rất rộng. Như vậy, con cháu Si-mê-ôn được sản nghiệp giữa phần đất của con cháu Giu-đa.
Con cháu của Sa-bu-lôn bắt thăm được phần đất thứ ba theo từng gia tộc của họ. Ranh giới của họ chạy đến Sa-rít.
Ranh giới đi lên phía tây về hướng Ma-rê-a-la, gặp Đáp-bê-sết rồi đến suối đối diện Giốc-nê-am.
Từ Sa-rít, ranh giới vòng qua hướng đông, tức hướng mặt trời mọc, tiếp giáp Kít-lốt Tha-bô, rồi đi về hướng Đáp-bê-rát, và lên đến Gia-phia.
Từ đó, nó chạy về phía đông, tức hướng mặt trời mọc đến Gát Hê-phe và Ết Cát-sin, đi vòng qua Nê-a rồi đến Rim-môn.
Sau đó, ranh giới ấy vòng lên phía bắc về hướng Ha-na-thôn rồi dừng lại ở thung lũng Díp-thách Ên.
Nó gồm có các thành Cát-tát, Na-ha-la, Sim-rôn, Di-đê-a-la, và Bết-lê-hem. Tất cả là mười hai thành với các làng mạc của chúng.
Các thành nầy cùng các làng mạc của chúng là sản nghiệp của người Sa-bu-lôn theo từng gia tộc của họ.
Con cháu Y-sa-ca bắt thăm được phần đất thứ tư theo từng gia tộc của họ.
Ranh giới của họ chạy đến Gít-rê-ên, Kê-su-lốt, Su-nem,
Ha-pha-ra-im, Si-ôn, A-na-cha-rát,
Ra-bít, Ki-si-ôn, Ê-bết;
Rê-mết, Ên Ga-nim, Ên Ha-đa, và Bết Phát-sết.
Ranh giới nầy gặp Tha-bô, Sa-chát-si-ma, và Bết Sê-mết, rồi dừng lại ở sông Giô-đanh. Tất cả là mười sáu thành với các làng mạc của chúng.
Các thành nầy với những làng mạc của chúng là sản nghiệp của con cháu Y-sa-ca theo từng gia tộc của họ.
Bộ tộc thuộc con cháu A-se bắt thăm được phần đất thứ năm, theo từng gia tộc của họ.
Ranh giới nầy bao gồm: Hên-cát, Ha-li, Bê-ten, Ạc-sáp,
A-lam-mê-léc, A-mê-át, và Mi-sê-anh. Phía tây gặp Cạt-mên và khe Líp-nát
rồi vòng qua phía mặt trời mọc, hướng về Bết Đa-gôn, gặp Sa-bu-lôn và thung lũng Díp-thách Ên ở về phía bắc Bết Ê-méc và Nê-i-ên, rồi chạy qua Ca-bun về phía trái,
đến Ếp-rôn, Rê-hốp, Ham-môn, Ca-na cho đến thành lớn Si-đôn.
Ranh giới nầy lại vòng về Ra-ma cho đến thành kiên cố Ty-rơ rồi chạy đến Hô-sa và dừng lại ở biển, trong vùng Ạc-xíp,
U-ma, A-phéc, và Rê-hốp. Tất cả là hai mươi hai thành cùng các làng mạc của chúng.
Các thành nầy và những làng mạc của chúng là sản nghiệp của con cháu thuộc bộ tộc A-se theo từng gia tộc của họ.
Con cháu bộ tộc Nép-ta-li bắt thăm được phần đất thứ sáu theo từng gia tộc của họ.
Ranh giới của họ chạy từ Hê-lép, từ cây sồi ở Sa-na-nim, về hướng A-đa-mi Nê-kép và Giáp-nê-ên cho đến Lạc-cum rồi dừng lại ở sông Giô-đanh.
Sau đó, ranh giới nầy vòng về phía tây, đi đến Át-nốt Tha-bô rồi từ đó chạy về Hục-cốc. Phía nam giáp địa phận Sa-bu-lôn, phía tây giáp địa phận A-se và Giu-đa, phía mặt trời mọc giáp sông Giô-đanh.
Các thành kiên cố là: Xi-đim, Xe-rơ, Ha-mát, Ra-cát, Ki-nê-rết,
A-đa-ma, Ra-ma, Hát-so,
Kê-đe, Ết-rê-i, Ên Hát-so,
Gi-rê-ôn, Mít-đa-ên, Hô-rem, Bết A-nát, và Bết Sê-mết. Tất cả là mười chín thành cùng các làng mạc của chúng.
Các thành nầy với những làng mạc của chúng là sản nghiệp của bộ tộc thuộc con cháu Nép-ta-li theo từng gia tộc của họ.
Con cháu thuộc bộ tộc Đan bắt thăm được phần đất thứ bảy theo từng gia tộc của họ.
Ranh giới của họ gồm Xô-rê-a, Ết-tha-ôn, Yết Sê-mết,
Sa-la-bin, A-gia-lôn, Gít-la,
Ê-lôn, Thim-na-tha, Éc-rôn,
Ên-the-kê, Ghi-bê-thôn, Ba-lát,
Giê-hút, Bê-nê Bê-rác, Gát Rim-môn,
Mê Giạt-côn, và Ra-côn, cùng với phần đất đối diện Gia-phô.
Khi địa phận của Đan bị xâm lấn, người Đan đi lên tiến đánh Lê-sem, dùng gươm diệt thành ấy, chiếm nó làm sản nghiệp và định cư tại đó, rồi gọi thành Lê-sem là Đan theo tên tổ phụ của họ.
Các thành nầy cùng với các làng mạc của chúng là sản nghiệp của bộ tộc Đan, theo từng gia tộc của họ.
Khi đã được chia đất theo từng địa phận rồi, dân Y-sơ-ra-ên lấy một phần sản nghiệp ở giữa họ mà cấp cho Giô-suê, con trai của Nun.
Dân Y-sơ-ra-ên tuân lệnh Đức Giê-hô-va cấp cho ông cái thành mà ông xin, là thành Thim-nát Sê-rách trong núi Ép-ra-im. Ông xây dựng thành và định cư tại đó.
Đó là các sản nghiệp mà thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, Giô-suê, con trai của Nun, và các trưởng gia tộc của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên bắt thăm phân phát tại Si-lô, tại Lều Hội Kiến trước mặt Đức Giê-hô-va. Như vậy họ hoàn tất việc phân chia đất.
Đức Giê-hô-va phán với Giô-suê:
“Hãy bảo dân Y-sơ-ra-ên lập các thành trú ẩn mà Ta đã phán với các con qua Môi-se
để cho kẻ vô ý giết người có thể trốn ở nơi ấy. Các thành đó sẽ là nơi ẩn lánh khỏi kẻ đòi nợ máu.
Kẻ ngộ sát sẽ chạy trốn đến một trong các thành ấy, đứng nơi cổng thành, trình bày sự việc cho các trưởng lão của thành ấy nghe. Các trưởng lão sẽ tiếp nhận người ấy vào thành, chỉ định một chỗ và người ấy sẽ ở đó với họ.
Nếu kẻ đòi nợ máu đuổi theo, các trưởng lão chớ nộp kẻ ngộ sát vào tay người ấy, vì kẻ sát nhân làm thiệt mạng người lân cận mình chỉ vì vô ý chứ không phải trước kia có hận thù gì với người nầy.
Kẻ ngộ sát phải ở trong thành ấy cho đến khi được xét xử trước hội chúng, và cho đến khi thầy tế lễ thượng phẩm đương chức qua đời. Khi đó, kẻ ngộ sát sẽ trở về thành và nhà mình, tức là thành mà mình đã trốn khỏi.”
Vậy dân Y-sơ-ra-ên biệt riêng thành Kê-đe ở Ga-li-lê, trên núi Nép-ta-li, thành Si-chem trên núi Ép-ra-im và thành Ki-ri-át A-ra-ba, tức là Hếp-rôn, trên vùng đồi núi Giu-đa.
Vùng bên kia sông Giô-đanh, phía đông thành Giê-ri-cô, họ chỉ định thành Bết-se trong hoang mạc, trên cao nguyên thuộc bộ tộc Ru-bên, thành Ra-mốt ở vùng Ga-la-át, thuộc bộ tộc Gát và thành Gô-lan ở vùng Ba-san, thuộc bộ tộc Ma-na-se.
Đó là các thành được chỉ định cho toàn dân Y-sơ-ra-ên và cho ngoại kiều cư trú tại đó để người nào vô ý làm thiệt mạng ai có thể trú ẩn ở đó mà không bị tay kẻ đòi nợ máu giết chết trước khi được đưa ra trước hội chúng.
Bấy giờ, các trưởng gia tộc người Lê-vi đến với thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, Giô-suê, con trai của Nun và các trưởng gia tộc của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên,
và nói với họ tại Si-lô trong xứ Ca-na-an rằng: “Đức Giê-hô-va đã truyền bảo Môi-se cấp cho chúng tôi các thành để ở và các đồng cỏ chung quanh dùng cho súc vật chúng tôi.”
Vậy dân Y-sơ-ra-ên vâng lệnh Đức Giê-hô-va, lấy trong sản nghiệp của họ những thành sau đây và những đồng cỏ chung quanh mà cấp cho người Lê-vi.
Các gia tộc Kê-hát bắt thăm được phần của mình: Con cháu của thầy tế lễ A-rôn về dòng Lê-vi bắt thăm được mười ba thành từ bộ tộc Giu-đa, bộ tộc Si-mê-ôn, và bộ tộc Bên-gia-min.
Con cháu khác của Kê-hát bốc thăm được mười thành từ bộ tộc Ép-ra-im, bộ tộc Đan, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se.
Con cháu Ghẹt-sôn bốc thăm được mười ba thành từ bộ tộc Y-sa-ca, bộ tộc A-se, bộ tộc Nép-ta-li, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se ở Ba-san.
Con cháu Mê-ra-ri, theo từng gia tộc của họ, được mười hai thành từ bộ tộc Ru-bên, bộ tộc Gát, và bộ tộc Sa-bu-lôn.
Dân Y-sơ-ra-ên bắt thăm cấp cho người Lê-vi các thành kể trên với các đồng cỏ chung quanh, đúng như Đức Giê-hô-va đã truyền phán qua Môi-se.
Dân Y-sơ-ra-ên lấy các thành có tên sau đây thuộc bộ tộc Giu-đa và bộ tộc Si-mê-ôn mà cấp cho họ.
Con cháu A-rôn thuộc các gia tộc Kê-hát, là con trai Lê-vi, được các thành ấy, vì thăm trúng về họ trước tiên.
Người ta cấp cho họ thành Ki-ri-át A-ra-ba, (A-ra-ba là cha của A-nác), tức là Hếp-rôn ở trên núi Giu-đa, và các đồng cỏ chung quanh nó.
Còn các cánh đồng của thành và các làng mạc của nó thì được cấp cho Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, làm sản nghiệp.
Người ta cấp cho con cháu thầy tế lễ A-rôn thành Hếp-rôn, là thành trú ẩn cho kẻ ngộ sát, và các đồng cỏ chung quanh; Líp-na và các đồng cỏ chung quanh;
Giạt-thia và các đồng cỏ chung quanh; Ê-thê-mô-a và các đồng cỏ chung quanh;
Hô-lôn và các đồng cỏ chung quanh; Đê-bia và các đồng cỏ chung quanh;
A-in và các đồng cỏ chung quanh; Giu-ta và các đồng cỏ chung quanh; Bết Sê-mết và các đồng cỏ chung quanh. Đó là chín thành của hai bộ tộc nầy.
Người ta cũng lấy các thành từ bộ tộc Bên-gia-min mà cấp cho họ. Đó là thành Ga-ba-ôn và các đồng cỏ chung quanh; thành Ghê-ba và các đồng cỏ chung quanh;
thành A-na-tốt và các đồng cỏ chung quanh; thành Anh-môn và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành.
Các thành của những thầy tế lễ, con cháu A-rôn, tất cả là mười ba thành với các đồng cỏ chung quanh.
Những người Lê-vi thuộc các gia tộc khác của Kê-hát nhận được các thành thuộc bộ tộc Ép-ra-im làm sản nghiệp.
Người ta cấp cho họ thành Si-chem là nơi trú ẩn cho kẻ ngộ sát, ở trên núi Ép-ra-im, và các đồng cỏ chung quanh; thành Ghê-xe và các đồng cỏ chung quanh;
thành Kíp-sa-im và các đồng cỏ chung quanh; thành Bết Hô-rôn và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành.
Người ta lấy các thành từ bộ tộc Đan mà cấp cho họ: đó là thành Ên-the-kê và các đồng cỏ chung quanh; thành Ghi-bê-thôn và các đồng cỏ chung quanh;
thành A-gia-lôn và các đồng cỏ chung quanh; thành Gát-rim-môn và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành.
Người ta cũng lấy các thành từ phân nửa bộ tộc Ma-na-se: đó là thành Tha-a-nác và các đồng cỏ chung quanh; thành Gát Rim-môn và các đồng cỏ chung quanh.
Tổng cộng là mười thành và các đồng cỏ chung quanh được cấp cho những gia tộc còn lại thuộc dòng Kê-hát.
Người ta cũng lấy các thành từ phân nửa bộ tộc Ma-na-se. Đó là thành Gô-lan ở xứ Ba-san, là thành trú ẩn cho kẻ ngộ sát mà cấp cho con cháu Ghẹt-sôn thuộc về gia tộc Lê-vi, cùng các đồng cỏ chung quanh thành; Bết-ê-ra cùng các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành.
Người ta cũng lấy các thành bộ tộc Y-sa-ca, đó là thành Ki-si-ôn và các đồng cỏ chung quanh; Đáp-bê-rát và các đồng cỏ chung quanh;
thành Giạt-mút và các đồng cỏ chung quanh; Ên Ga-nim và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành.
Người ta cũng lấy các thành thuộc bộ tộc A-se, đó là Mi-sê-anh và các đồng cỏ chung quanh; Áp-đôn và các đồng cỏ chung quanh;
thành Hên-cát và các đồng cỏ chung quanh; thành Rê-hốp và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành.
Người ta cũng lấy các thành từ bộ tộc Nép-ta-li, đó là thành Kê-đe ở Ga-li-lê, là thành trú ẩn cho kẻ ngộ sát và các đồng cỏ chung quanh; thành Ha-mốt Đô-rơ và các đồng cỏ chung quanh; thành Cạt-than và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là ba thành.
Tổng cộng các thành của người Ghẹt-sôn, theo từng gia tộc, là mười ba thành với các đồng cỏ chung quanh.
Người ta cũng lấy các thành từ bộ tộc Sa-bu-lôn mà cấp cho những gia tộc Mê-ra-ri, tức là những người Lê-vi còn lại. Đó là thành Giốc-nê-am và các đồng cỏ chung quanh; thành Cạt-ta và các đồng cỏ chung quanh;
Thành Đim-na và các đồng cỏ chung quanh; thành Na-ha-la và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành.
Người ta cũng lấy từ bộ tộc Ru-bên các thành, đó là thành Bết-se và các đồng cỏ chung quanh; thành Giát-sa và các đồng cỏ chung quanh;
thành Kê-đê-mốt và các đồng cỏ chung quanh; thành Mê-phát và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành.
Người ta cũng lấy từ bộ tộc Gát các thành, đó là Ra-mốt ở xứ Ga-la-át, là thành trú ẩn cho kẻ ngộ sát, và các đồng cỏ chung quanh; thành Ma-ha-na-im và các đồng cỏ chung quanh;
thành Hết-bôn và các đồng cỏ chung quanh; thành Gia-ê-xe và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả là bốn thành.
Tổng cộng các thành cấp cho các gia tộc Mê-ra-ri, tức là phần còn lại của các gia tộc thuộc Lê-vi, là mười hai thành.
Tổng cộng các thành của người Lê-vi ở giữa sản nghiệp dân Y-sơ-ra-ên là bốn mươi tám thành cùng các đồng cỏ chung quanh.
Mỗi thành ấy đều có các đồng cỏ chung quanh và tất cả thành ấy đều giống như vậy.
Như vậy, Đức Giê-hô-va ban cho Y-sơ-ra-ên cả xứ mà Ngài đã thề hứa với tổ phụ họ. Họ chiếm hữu và định cư ở đó.
Đức Giê-hô-va ban cho bốn phía đều được yên ổn, đúng như Ngài đã thề với tổ phụ họ, không một kẻ thù nào đứng nổi trước mặt họ. Đức Giê-hô-va phó tất cả kẻ thù vào tay họ.
Trong mọi lời hứa tốt lành mà Đức Giê-hô-va đã ban cho nhà Y-sơ-ra-ên, chẳng có một lời nào là vô hiệu. Tất cả đều được ứng nghiệm.
Bấy giờ, Giô-suê triệu tập người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se
mà nói rằng: “Anh em đã tuân giữ mọi điều Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, truyền cho anh em, và vâng theo mọi điều tôi truyền bảo.
Trải qua một thời gian dài cho đến hôm nay, anh em đã không bỏ rơi anh em mình nhưng đã làm tròn bổn phận, theo mệnh lệnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.
Bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã cho các anh em của anh em được nghỉ ngơi đúng như lời Ngài đã hứa. Vậy hãy trở về nhà trong vùng đất thuộc về anh em mà Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã ban cho anh em ở bên kia sông Giô-đanh.
Nhưng phải cẩn thận làm theo điều răn và luật pháp mà Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã truyền cho anh em, tức là kính yêu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, đi theo đường lối Ngài, tuân giữ các điều răn Ngài, gắn bó với Ngài, và hết lòng, hết linh hồn mà phục vụ Ngài.”
Rồi Giô-suê chúc phước cho họ và cho họ về. Tất cả đều trở về trại mình.
Môi-se đã cấp sản nghiệp cho phân nửa bộ tộc Ma-na-se tại Ba-san; còn Giô-suê cấp sản nghiệp cho phân nửa còn lại chung với anh em mình ở bên nầy sông Giô-đanh, về phía tây. Khi Giô-suê cho họ trở về nhà, ông chúc phước cho họ
và nói rằng: “Anh em trở về với nhiều của cải, nhiều súc vật, cùng vàng, bạc, đồng, sắt, và quần áo dư dật. Hãy chia sẻ chiến lợi phẩm lấy được của kẻ thù cho các anh em mình.”
Vậy, người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se từ biệt dân Y-sơ-ra-ên tại Si-lô trong đất Ca-na-an, để trở về Ga-la-át, là phần đất mà họ đã chiếm hữu theo mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va truyền phán qua Môi-se.
Khi đã đến trong địa phận Giô-đanh thuộc vùng đất Ca-na-an, thì người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se lập tại đó một bàn thờ rất lớn bên bờ sông Giô-đanh.
Khi dân Y-sơ-ra-ên nghe tin người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se đã lập một bàn thờ trong địa phận Giô-đanh thuộc đất Ca-na-an, đối diện với dân Y-sơ-ra-ên
thì cả hội chúng Y-sơ-ra-ên họp lại tại Si-lô, để tiến đánh họ.
Dân Y-sơ-ra-ên sai Phi-nê-a, con trai thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, đến với người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se tại đất Ga-la-át.
Cùng đi với ông có mười thủ lĩnh, mỗi bộ tộc Y-sơ-ra-ên một người. Mỗi người trong họ cai trị hàng nghìn người Y-sơ-ra-ên.
Họ đến với người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se trong đất Ga-la-át và nói:
“Toàn thể hội chúng của Đức Giê-hô-va nói: ‘Tại sao anh em lại phạm tội bất trung với Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên như thế? Tại sao ngày nay anh em từ bỏ Đức Giê-hô-va mà lập một bàn thờ để phản nghịch Ngài?
Tội lỗi của chúng ta tại Phê-ô đã gây tai họa cho cả hội chúng của Đức Giê-hô-va và cho đến bây giờ chúng ta vẫn chưa rửa sạch được. Phạm tội như thế vẫn chưa đủ sao?
Thế mà ngày nay anh em lại từ bỏ Đức Giê-hô-va sao? Nếu hôm nay anh em nổi loạn chống lại Đức Giê-hô-va thì ngày mai chắc Ngài sẽ nổi giận với cả hội chúng Y-sơ-ra-ên.
Nếu đất anh em chiếm hữu bị ô uế thì hãy đi qua phần đất thuộc sản nghiệp của Đức Giê-hô-va, là nơi đền tạm của Đức Giê-hô-va được thiết lập để nhận phần đất ở giữa chúng tôi. Nhưng chớ nổi loạn chống lại Đức Giê-hô-va hoặc chống lại chúng tôi, mà tự xây cho mình một bàn thờ ngoài bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta.
Chẳng phải A-can, con trai Xê-rách đã phạm tội bất trung về vật đáng bị hủy diệt mà cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va đã nổi lên với cả hội chúng Y-sơ-ra-ên sao? Và không phải một mình người ấy chết vì tội mình thôi đâu!’”
Bấy giờ, người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se trả lời với các trưởng gia tộc của hàng nghìn người Y-sơ-ra-ên rằng:
“Giê-hô-va, Thần của các thần! Giê-hô-va, Thần của các thần! Ngài biết điều đó và Y-sơ-ra-ên cũng sẽ biết điều đó! Nếu đây là sự nổi loạn hay bất trung với Đức Giê-hô-va, thì ngày nay đừng dung thứ chúng tôi!
Nếu chúng tôi có lập một bàn thờ để lìa bỏ Đức Giê-hô-va, hoặc để dâng tế lễ thiêu, tế lễ chay, và tế lễ bình an tại đó, nguyện chính Đức Giê-hô-va hạch tội chúng tôi!
Chúng tôi lập bàn thờ nầy, vì chúng tôi sợ con cháu của anh em một mai nói với con cháu chúng tôi rằng: ‘Các người đâu có liên hệ gì với Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên?
Hỡi con cháu Ru-bên, con cháu Gát, Đức Giê-hô-va đã đặt sông Giô-đanh làm ranh giới giữa chúng tôi và các người, các người chẳng có phần gì nơi Đức Giê-hô-va!’ Như vậy con cháu của anh em sẽ làm cho con cháu chúng tôi không tiếp tục kính sợ Đức Giê-hô-va nữa.
Vì thế, chúng tôi có nói rằng chúng ta sẽ lập một bàn thờ, chẳng phải để dâng tế lễ thiêu hay là dâng sinh tế,
nhưng để làm chứng giữa chúng tôi và anh em cùng các thế hệ sau chúng tôi rằng chúng tôi có dâng tế lễ thiêu, các sinh tế và tế lễ bình an mà thờ phượng Đức Giê-hô-va trước mặt Ngài. Như thế, về sau con cháu anh em không nói với con cháu chúng tôi rằng: ‘Các người không có phần gì nơi Đức Giê-hô-va!’
Chúng tôi cũng nói rằng khi nào họ nói điều đó với chúng tôi hay nói với các thế hệ sau chúng tôi, thì chúng tôi sẽ trả lời: ‘Hãy xem kiểu mẫu bàn thờ Đức Giê-hô-va mà tổ phụ chúng tôi đã lập, không phải dùng cho tế lễ thiêu hay là dâng sinh tế, nhưng để làm chứng giữa chúng tôi và các người!’
Chúng tôi ngày nay không hề có ý nổi loạn chống lại Đức Giê-hô-va và lìa bỏ Ngài, mà lập một bàn thờ khác hơn bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta trước mặt đền tạm để dâng tế lễ thiêu, tế lễ chay và sinh tế.”
Khi thầy tế lễ Phi-nê-a và các nhà lãnh đạo hội chúng, tức là các thủ lĩnh của hàng nghìn người Y-sơ-ra-ên đi theo ông, nghe những lời của người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se nói, thì họ đều lấy làm hài lòng.
Phi-nê-a, con trai thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, nói với người Ru-bên, người Gát, và người Ma-na-se rằng: “Ngày nay chúng tôi nhận biết rằng Đức Giê-hô-va ngự giữa chúng ta, vì anh em không phạm tội bất trung với Đức Giê-hô-va, và như vậy anh em đã giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay Đức Giê-hô-va.”
Phi-nê-a, con trai thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, và những người lãnh đạo từ giã người Ru-bên, người Gát ở đất Ga-la-át, trở về với dân Y-sơ-ra-ên ở đất Ca-na-an và thuật lại cho họ điều đã xảy ra.
Nghe lời tường trình, dân Y-sơ-ra-ên hài lòng. Họ ngợi ca Đức Chúa Trời và không còn ý định tiến đánh người Ru-bên và người Gát để hủy diệt vùng đất họ định cư nữa.
Vậy người Ru-bên và người Gát đặt tên bàn thờ là Ết, vì họ nói “Bàn thờ nầy làm chứng giữa chúng ta rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời.”
Sau một thời gian dài, khi Đức Giê-hô-va đã cho Y-sơ-ra-ên được yên ổn, không còn kẻ thù chung quanh nào nữa, và khi Giô-suê đã già, tuổi cao,
thì Giô-suê triệu tập toàn thể Y-sơ-ra-ên, các trưởng lão, các thủ lĩnh, các thẩm phán, và các quan chức mà nói rằng: “Tôi nay đã già, cao tuổi rồi.
Anh em đã thấy mọi điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã làm cho những dân tộc nầy chỉ vì anh em, chính Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã chiến đấu cho anh em.
Nầy, tôi đã bắt thăm cấp cho các bộ tộc anh em đất của các dân tộc còn lại làm sản nghiệp và đất của tất cả các dân tộc mà tôi đã diệt, từ sông Giô-đanh cho đến Biển Lớn, về phía tây.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em sẽ đẩy lui và đuổi các dân ấy khỏi anh em và anh em sẽ chiếm lấy đất của chúng, như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã hứa.
Vậy, hãy vững lòng gìn giữ và làm theo mọi điều đã chép trong sách luật pháp của Môi-se, đừng xây qua bên phải hoặc bên trái.
Đừng pha trộn với các dân tộc còn lại ở giữa anh em, đừng nhắc đến danh các thần của chúng hoặc lấy danh các thần ấy mà thề, và đừng phục vụ hoặc cúi lạy trước các thần đó.
Nhưng phải gắn bó với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, như anh em đã làm đến ngày nay.
Vì Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi anh em những dân tộc lớn và hùng mạnh, và đến ngày nay chẳng ai có thể đứng nổi trước mặt anh em.
Một người trong anh em đuổi được cả một nghìn người của chúng, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em là Đấng chiến đấu cho anh em như Ngài đã hứa.
Vậy, hãy cẩn thận giữ mình để kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em.
Nếu anh em trở lòng và hiệp với phần còn lại của các dân tộc nầy ở giữa anh em và kết thông gia với chúng cũng như liên hiệp với chúng,
thì phải biết chắc rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em sẽ không tiếp tục đuổi những dân tộc nầy khỏi anh em nữa. Nhưng chúng sẽ làm lưới và bẫy cho anh em, làm roi đánh vào sườn, làm gai đâm vào mắt, cho đến khi nào anh em bị tiêu diệt khỏi xứ sở tươi đẹp nầy mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã ban cho anh em.
Bây giờ tôi sắp đi con đường mà cả thế gian phải đi. Vậy hãy hết lòng, hết linh hồn nhận biết rằng trong các lời lành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã phán với anh em, chẳng có một lời nào sai, nhưng tất cả đều ứng nghiệm cho anh em. Thật, chẳng một lời nào sai cả.
Nếu tất cả những điều lành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã phán được ứng nghiệm cho anh em thế nào, thì Đức Giê-hô-va cũng sẽ đem những điều dữ đến trên anh em thế ấy, cho đến chừng Ngài hủy diệt anh em khỏi xứ tốt đẹp nầy mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã ban cho anh em.
Nếu anh em vi phạm giao ước mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em đã thiết lập, và đi phụng sự các thần khác cùng quỳ lạy trước chúng, thì cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va sẽ nổi bừng lên với anh em, và anh em sẽ sớm bị tiêu diệt khỏi xứ sở tươi đẹp mà Ngài đã ban cho anh em.”
Giô-suê họp các bộ tộc Y-sơ-ra-ên tại Si-chem, và triệu tập các trưởng lão, các thủ lĩnh, các thẩm phán và các quan chức của Y-sơ-ra-ên lại, và họ đều trình diện trước Đức Chúa Trời.
Giô-suê nói với toàn dân rằng: “Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, có phán: ‘Thuở xưa, tổ phụ các con là Tha-rê, cha của Áp-ra-ham và Na-cô, ở bên kia sông Ơ-phơ-rát và phụng sự các thần khác.
Nhưng Ta đem Áp-ra-ham, tổ phụ các con, từ bên kia sông ấy và dẫn dắt người đi khắp đất Ca-na-an, ban Y-sác cho người và làm cho dòng dõi người sinh sản thêm nhiều.
Ta ban Gia-cốp và Ê-sau cho Y-sác, rồi ban núi Sê-i-rơ cho Ê-sau làm sản nghiệp, nhưng Gia-cốp và các con cái người đều đi xuống Ai Cập.
Kế đó, Ta sai Môi-se và A-rôn, và Ta giáng các tai họa lên cả Ai Cập rồi đem các con ra khỏi đó.
Ta đem tổ phụ các con ra khỏi Ai Cập và đi đến biển. Người Ai Cập dùng xe ngựa và kỵ binh đuổi theo tổ phụ các con đến Biển Đỏ.
Bấy giờ, khi tổ phụ các con kêu cầu Đức Giê-hô-va, thì Ta giáng sự tối tăm xuống giữa các con và dân Ai Cập, dẫn nước biển chôn vùi chúng. Mắt tổ phụ các con đã chứng kiến điều Ta đã làm cho người Ai Cập. Sau đó, các con đã ở trong hoang mạc một thời gian dài.
Kế đó, Ta dẫn các con vào đất của dân A-mô-rít, ở bên kia sông Giô-đanh. Chúng tiến đánh các con, và Ta phó chúng vào tay các con. Các con chiếm xứ của chúng làm sản nghiệp, và Ta đã tiêu diệt chúng khỏi các con.
Ba-lác, con trai Xếp-bô, vua Mô-áp, trỗi dậy tiến đánh Y-sơ-ra-ên và sai mời Ba-la-am, con trai Bê-ô, đến rủa sả các con.
Nhưng Ta không nghe Ba-la-am; vì vậy, nó buộc phải chúc phước cho các con, và Ta đã giải cứu các con khỏi tay Ba-lác.
Sau khi qua sông Giô-đanh, các con đến thành Giê-ri-cô. Dân thành Giê-ri-cô, cũng như dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân Ghi-rê-ga-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít tiến đánh các con, và Ta đã phó chúng vào tay các con.
Ta sai ong lỗ đi trước các con để đuổi hai vua dân A-mô-rít khỏi các con; đó chẳng phải nhờ gươm hay cung của các con đâu.
Ta ban cho các con đất mà các con không phải khai phá, những thành mà các con không phải xây dựng, và các con đã ở đó; những vườn nho và vườn ô-liu các con không trồng mà lại được ăn.’
Vậy bây giờ, hãy kính sợ Đức Giê-hô-va và phụng sự Ngài một cách thành tâm và trung tín. Hãy trừ bỏ các thần mà tổ phụ anh em phụng sự bên kia sông cũng như tại Ai Cập và chỉ phụng sự Đức Giê-hô-va mà thôi.
Nếu anh em chẳng thích phụng sự Đức Giê-hô-va thì ngày nay hãy chọn ai mà mình muốn phụng sự, hoặc các thần mà tổ phụ anh em đã phụng sự bên kia sông, hoặc các thần của dân A-mô-rít trong xứ mà anh em ở. Nhưng tôi và gia đình tôi sẽ phụng sự Đức Giê-hô-va.”
Dân chúng đáp rằng: “Chúng tôi quyết không lìa bỏ Đức Giê-hô-va để phụng sự các thần khác!
Vì Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chúng tôi, chính Ngài đã đem chúng tôi và tổ phụ chúng tôi ra khỏi Ai Cập, tức khỏi nhà nô lệ. Ngài đã làm trước mặt chúng tôi những phép lạ lớn lao nầy và bảo vệ chúng tôi trên suốt hành trình và giữa các dân mà chúng tôi đi ngang qua.
Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi chúng tôi tất cả các dân, kể cả người A-mô-rít vốn là dân bản địa. Vì vậy, chúng tôi cũng sẽ phụng sự Đức Giê-hô-va vì Ngài là Đức Chúa Trời của chúng tôi.”
Giô-suê nói với dân chúng: “Anh em không đủ sức phụng sự Đức Giê-hô-va, vì Ngài là Đức Chúa Trời thánh, Đức Chúa Trời kỵ tà, Ngài chẳng tha sự vi phạm và tội lỗi của anh em đâu.
Nếu anh em lìa bỏ Đức Giê-hô-va và phụng sự các thần ngoại bang, thì Ngài sẽ quay lại giáng họa và hủy diệt anh em sau khi đã làm ơn cho anh em.”
Dân chúng nói với Giô-suê: “Không đâu! Chúng tôi sẽ phụng sự Đức Giê-hô-va.”
Vậy Giô-suê bảo dân chúng: “Anh em tự làm chứng rằng anh em đã chọn Đức Giê-hô-va để phụng sự Ngài.” Dân chúng đáp: “Chúng tôi làm chứng về điều đó.”
Giô-suê nói: “Bây giờ, hãy dẹp bỏ các thần ngoại bang khỏi anh em và hướng lòng về Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.”
Dân chúng thưa với Giô-suê: “Chúng tôi sẽ phụng sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, và vâng theo tiếng Ngài.”
Như vậy trong ngày đó, Giô-suê lập một giao ước cho dân chúng, truyền luật pháp và điều lệ cho họ tại Si-chem.
Giô-suê viết những lời nầy trong sách luật pháp của Đức Chúa Trời. Kế đó, ông lấy một hòn đá lớn dựng tại đó, dưới cây sồi gần nơi thánh của Đức Giê-hô-va.
Rồi Giô-suê nói với tất cả dân chúng: “Kìa, hòn đá nầy sẽ làm chứng cho chúng ta, vì nó có nghe mọi lời Đức Giê-hô-va đã phán với chúng ta; nó sẽ làm chứng cho anh em, kẻo anh em chối bỏ Đức Chúa Trời mình chăng.”
Giô-suê cho dân chúng về; mọi người đều trở về trong sản nghiệp mình.
Sau các việc ấy, đầy tớ của Đức Giê-hô-va là Giô-suê, con trai Nun, qua đời, thọ một trăm mười tuổi.
Người ta an táng ông trong địa phận của ông tại Thim-nát Sê-rách ở trên vùng đồi núi Ép-ra-im, về phía bắc núi Ga-ách.
Dân Y-sơ-ra-ên phụng sự Đức Giê-hô-va trong suốt thời gian Giô-suê còn sống và suốt thời gian các trưởng lão sống lâu hơn ông. Đó là những người biết rõ mọi việc Đức Giê-hô-va đã làm vì Y-sơ-ra-ên.
Hài cốt của Giô-sép mà dân Y-sơ-ra-ên đã mang theo từ Ai Cập thì được chôn ở Si-chem, trong đồng ruộng Gia-cốp đã mua của con cháu Hê-mô, cha Si-chem với giá một trăm miếng bạc, và đất đó trở thành sản nghiệp của con cháu Giô-sép.
Ê-lê-a-sa, con trai A-rôn, cũng qua đời, và người ta chôn ông tại Ghi-bê-át, là phần đất được cấp cho con trai ông là Phi-nê-a, trong vùng đồi núi Ép-ra-im.
Sau khi Giô-suê qua đời, dân Y-sơ-ra-ên cầu hỏi Đức Giê-hô-va rằng: “Ai trong chúng con phải đi lên trước để đánh dân Ca-na-an?”
Đức Giê-hô-va đáp: “Bộ tộc Giu-đa phải đi lên trước. Nầy, Ta đã phó đất ấy vào tay họ.”
Bộ tộc Giu-đa nói với bộ tộc Si-mê-ôn, là anh em mình, rằng: “Xin anh em đi lên với chúng tôi trong phần đất chúng tôi bắt thăm được và chúng ta sẽ đánh dân Ca-na-an. Rồi chúng tôi cũng sẽ đi với anh em đến phần đất anh em đã bắt thăm.” Vậy bộ tộc Si-mê-ôn đi với họ.
Bộ tộc Giu-đa đi lên và Đức Giê-hô-va phó dân Ca-na-an và dân Phê-rê-sít vào tay họ. Họ đánh bại mười nghìn người tại Bê-xéc.
Họ cũng bắt gặp A-đô-ni Bê-xéc ở Bê-xéc, giao chiến với hắn và đánh bại dân Ca-na-an cùng với dân Phê-rê-sít.
A-đô-ni Bê-xéc chạy trốn, nhưng họ đuổi theo và bắt được hắn, rồi chặt ngón tay cái và ngón chân cái của hắn.
A-đô-ni Bê-xéc nói: “Có bảy mươi vua bị chặt ngón tay cái và ngón chân cái, lượm thức ăn thừa dưới bàn tôi. Tôi đã làm điều ấy nên Đức Chúa Trời báo trả tôi.” Người ta giải hắn đến Giê-ru-sa-lem và hắn chết tại đó.
Bộ tộc Giu-đa đánh chiếm thành Giê-ru-sa-lem, dùng gươm giết dân chúng và phóng hỏa thành.
Sau đó, bộ tộc Giu-đa đi xuống để đánh dân Ca-na-an sống trong vùng đồi núi, vùng Nê-ghép và vùng đồng bằng.
Họ tiến đánh dân Ca-na-an ở thành Hếp-rôn (tên Hếp-rôn thuở xưa là Ki-ri-át A-ra-ba), đánh bại các bộ tộc Sê-sai, A-hi-man, và Thanh-mai.
Từ đó, bộ tộc Giu-đa tiến đánh dân cư thành Đê-bia (tên Đê-bia thuở xưa là Ki-ri-át Sê-phe).
Ca-lép nói: “Ai đánh chiếm được thành Ki-ri-át Sê-phe thì tôi sẽ gả con gái tôi là Ạc-sa cho người ấy làm vợ.”
Ốt-ni-ên, con trai Kê-na, em Ca-lép, chiếm thành đó nên Ca-lép gả con gái mình là Ạc-sa cho anh ấy làm vợ.
Khi đến nhà Ốt-ni-ên, nàng giục chàng xin cha nàng một thửa ruộng. Nàng vừa xuống khỏi lừa thì Ca-lép hỏi: “Con muốn gì?”
Nàng thưa: “Xin cha cho con một món quà. Vì cha đã định cho con đất trong miền Nê-ghép, nên xin cha cũng cho con các suối nước nữa.” Vậy Ca-lép ban cho nàng Suối Thượng và Suối Hạ.
Con cháu của cha vợ Môi-se, là người Kê-nít, cũng từ thành Cây Chà Là đi lên với con cháu Giu-đa, đến hoang mạc thuộc địa phận Giu-đa, trong vùng Nê-ghép gần A-rát và sống chung với dân A-ma-léc.
Sau đó, bộ tộc Giu-đa cùng với anh em mình là bộ tộc Si-mê-ôn tiến đánh dân Ca-na-an tại Xê-phát và tận diệt nơi ấy, rồi gọi thành đó là Họt-ma.
Bộ tộc Giu-đa cũng chiếm thành Ga-xa và vùng phụ cận, thành Ách-ca-lôn và vùng phụ cận, thành Éc-rôn và vùng phụ cận.
Đức Giê-hô-va ở với bộ tộc Giu-đa và họ chiếm được vùng đồi núi. Nhưng họ không đuổi dân ở vùng đồng bằng vì chúng có xe bằng sắt.
Bộ tộc Giu-đa chia thành Hếp-rôn cho Ca-lép như Môi-se đã hứa. Ca-lép đuổi dòng dõi ba con trai của A-nác khỏi thành ấy.
Nhưng con cháu Bên-gia-min không đuổi dân Giê-bu-sít khỏi thành Giê-ru-sa-lem, nên dân Giê-bu-sít vẫn còn sống chung với con cháu Bên-gia-min cho đến ngày nay.
Còn nhà Giô-sép cũng lên đánh Bê-tên, và Đức Giê-hô-va ở cùng họ.
Vậy, nhà Giô-sép sai đi do thám Bê-tên (lúc trước thành nầy có tên là Lu-xơ).
Những người do thám thấy một người từ trong thành đi ra thì nói với người ấy rằng: “Xin chỉ cho chúng tôi lối vào thành thì chúng tôi sẽ đối đãi tử tế với anh.”
Người ấy chỉ cho họ lối vào thành và họ dùng gươm đánh giết dân trong thành, nhưng họ để cho anh ta và cả gia đình ra đi.
Anh ta đi đến xứ dân Hê-tít, xây một cái thành tại đó và đặt tên là Lu-xơ; tên ấy vẫn còn cho đến ngày nay.
Bộ tộc Ma-na-se không đuổi dân ở Bết Sê-an và vùng phụ cận, hoặc dân ở Tha-a-nác và vùng phụ cận, hoặc dân ở Đô-rơ và vùng phụ cận, hoặc dân ở Gíp-lê-am và vùng phụ cận, hoặc dân ở Mê-ghi-đô và vùng phụ cận. Vì thế, dân Ca-na-an tiếp tục sống trong vùng đất ấy.
Khi dân Y-sơ-ra-ên trở nên cường thịnh, họ bắt dân Ca-na-an phục dịch chứ không đuổi chúng đi hết.
Bộ tộc Ép-ra-im cũng không đuổi dân Ca-na-an ở Ghê-xe nên dân Ca-na-an cứ ở tại đó với họ.
Bộ tộc Sa-bu-lôn cũng không đuổi dân ở Kít-rôn, hoặc dân ở Na-ha-lô; dân Ca-na-an sống chung với bộ tộc Sa-bu-lôn nhưng phải phục dịch họ.
Bộ tộc A-se cũng không đuổi dân thành A-cô, Si-đôn, Ma-ha-lép, Ạc-xíp, Hên-ba, A-phéc và Rê-hốp.
Vậy, bộ tộc A-se sống chung với dân Ca-na-an là dân bản xứ, vì họ không đuổi chúng đi.
Bộ tộc Nép-ta-li không đuổi dân thành Bết Sê-mết và Bết A-nát, nhưng sống chung với dân Ca-na-an là dân bản địa. Tuy nhiên, dân Bết Sê-mết và dân Bết A-nát phải phục dịch bộ tộc Nép-ta-li.
Dân A-mô-rít dồn bộ tộc Đan lên vùng đồi núi, không cho họ xuống đồng bằng.
Dân A-mô-rít quyết tâm ở tại núi Hê-re, A-gia-lôn, và Sa-an-bim, nhưng nhà Giô-sép mạnh hơn nên chúng phải phục dịch họ.
Biên giới dân A-mô-rít chạy dọc theo địa phận dân Ê-đôm, từ đèo Ạc-ráp-bim, khoảng Sê-la trở lên.
Thiên sứ của Đức Giê-hô-va từ Ghinh-ganh đi đến Bô-kim và nói rằng: “Ta đã đem các con ra khỏi Ai Cập, dẫn các con vào xứ Ta thề ban cho tổ phụ các con. Ta đã phán: ‘Ta sẽ chẳng bao giờ hủy bỏ giao ước Ta đã lập với các con,
còn các con, chớ lập giao ước với dân xứ nầy; phải phá hủy bàn thờ của chúng.’ Nhưng các con đã không vâng theo lời Ta phán. Tại sao các con làm điều đó?
Vì thế Ta phán: ‘Ta sẽ chẳng đuổi các dân ấy khỏi các con, nhưng chúng sẽ như gai đâm vào hông các con, và các thần của chúng sẽ là cạm bẫy cho các con.’”
Khi thiên sứ của Đức Giê-hô-va vừa phán những lời nầy cho cả dân Y-sơ-ra-ên thì dân chúng cất tiếng khóc.
Họ gọi tên chỗ đó là Bô-kim và dâng sinh tế lên Đức Giê-hô-va tại đó.
Sau khi Giô-suê cho dân chúng về, mọi người Y-sơ-ra-ên đều đi nhận phần đất chia cho mình làm sản nghiệp.
Dân chúng phụng sự Đức Giê-hô-va suốt thời gian Giô-suê còn sống và suốt thời gian các trưởng lão còn sống sau Giô-suê, là những người đã chứng kiến tất cả công việc lớn lao mà Đức Giê-hô-va đã làm cho Y-sơ-ra-ên.
Sau đó, Giô-suê con trai của Nun, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, qua đời, hưởng thọ một trăm mười tuổi.
Người ta chôn cất ông trong phần đất thuộc sản nghiệp của ông tại Thim-nát Hê-re trên vùng đồi núi Ép-ra-im, về phía bắc núi Ga-ách.
Rồi cả thế hệ ấy cũng được tiếp về cùng tổ phụ mình, và một thế hệ khác tiếp nối; họ chẳng biết Đức Giê-hô-va cũng chẳng biết các công việc mà Ngài đã làm cho Y-sơ-ra-ên.
Bấy giờ, dân Y-sơ-ra-ên làm điều ác dưới mắt của Đức Giê-hô-va, phụng sự các thần tượng Ba-anh,
lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ, là Đấng đã đem tổ phụ họ ra khỏi xứ Ai Cập. Họ theo các thần khác của những dân tộc chung quanh, quỳ lạy các thần tượng đó khiến Đức Giê-hô-va nổi giận.
Họ đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va mà phụng sự Ba-anh và Át-tạt-tê.
Vì thế, Đức Giê-hô-va nổi cơn thịnh nộ với Y-sơ-ra-ên. Ngài phó họ vào tay kẻ cướp để chúng bóc lột họ. Ngài bán họ cho các kẻ thù chung quanh và họ không chống cự nổi kẻ thù mình.
Mỗi khi họ ra trận, tay của Đức Giê-hô-va đều giáng họa trên họ như Đức Giê-hô-va đã thề phán với họ. Họ lâm vào cảnh khốn cùng.
Bấy giờ Đức Giê-hô-va dấy lên những quan xét để giải cứu họ khỏi tay kẻ cướp bóc.
Nhưng họ cũng không nghe lời các quan xét vì họ thông dâm với các thần khác, và quỳ lạy các thần ấy. Họ vội từ bỏ con đường mà tổ phụ mình đã đi, chẳng theo gương tổ phụ mà vâng giữ các điều răn của Đức Giê-hô-va.
Mỗi khi Đức Giê-hô-va dấy lên cho họ các quan xét thì Ngài ở cùng vị quan xét ấy. Trong suốt thời gian vị quan xét còn sống, Đức Giê-hô-va giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi tay các kẻ thù, vì Ngài động lòng thương xót trước những tiếng thở than của họ trong lúc họ bị đọa đày, áp bức.
Nhưng khi vị quan xét ấy qua đời thì Y-sơ-ra-ên lại làm điều tệ hại hơn tổ phụ mình, đi theo các thần khác, phụng sự và quỳ lạy các thần ấy. Họ không chịu từ bỏ các việc ác nhưng cứ tiếp tục ngoan cố.
Vì vậy, cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi phừng lên với Y-sơ-ra-ên, và Ngài phán: “Vì dân nầy phản bội giao ước mà Ta đã truyền cho tổ phụ họ, và vì họ không vâng lời Ta,
nên Ta cũng chẳng đuổi khỏi họ một dân tộc nào mà Giô-suê để lại trước khi qua đời.
Ta sẽ dùng các dân tộc ấy để thử nghiệm Y-sơ-ra-ên, xem họ có gìn giữ và đi theo đường lối của Đức Giê-hô-va như tổ phụ họ chăng.”
Vì vậy, Đức Giê-hô-va để cho các dân tộc nầy ở lại trong xứ, không vội đuổi chúng đi, và cũng không phó chúng vào tay Giô-suê.
Đức Giê-hô-va còn để lại các dân tộc để thử nghiệm dân Y-sơ-ra-ên là những người chưa có kinh nghiệm chiến đấu ở Ca-na-an.
Ngài chỉ muốn dạy cho các thế hệ mới của dân Y-sơ-ra-ên biết cách chiến đấu, đặc biệt là cho những người trước đây chưa từng quen với trận mạc.
Các dân tộc nầy gồm dân Phi-li-tin và năm lãnh chúa của chúng, tất cả dân Ca-na-an, dân Si-đôn, và dân Hê-vít ở núi Li-ban, từ núi Ba-anh Hẹt-môn cho đến đèo Ha-mát.
Đức Giê-hô-va dùng các dân tộc nầy để thử nghiệm Y-sơ-ra-ên, xem họ có vâng theo các điều răn mà Ngài dùng Môi-se truyền cho tổ phụ họ chăng.
Như vậy, dân Y-sơ-ra-ên sống chung với dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít.
Họ cưới con gái của chúng làm vợ, gả con gái mình cho con trai chúng và phụng sự các thần của chúng.
Dân Y-sơ-ra-ên làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, phụng thờ các hình tượng Ba-anh và A-sê-ra.
Vì vậy, Đức Giê-hô-va nổi cơn thịnh nộ với Y-sơ-ra-ên, Ngài bán họ cho Cu-san Ri-sa-tha-im, vua A-ram Na-ha-ra-dim. Dân Y-sơ-ra-ên phải phục dịch Cu-san Ri-sa-tha-dim trong tám năm.
Dân Y-sơ-ra-ên kêu cầu Đức Giê-hô-va và Đức Giê-hô-va dấy lên cho họ một vị cứu tinh là Ốt-ni-ên, con trai của Kê-na, em trai Ca-lép, và ông ấy giải cứu họ.
Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên ông và ông lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên. Ông ra trận và Đức Giê-hô-va phó Cu-san Ri-sa-tha-dim, vua A-ram, vào tay ông. Ông đánh thắng vua ấy.
Đất nước được hòa bình trong bốn mươi năm. Sau đó, Ốt-ni-ên, con trai Kê-na, qua đời.
Dân Y-sơ-ra-ên lại làm điều ác dưới mắt của Đức Giê-hô-va nên Đức Giê-hô-va khiến Éc-lôn, vua Mô-áp, trở nên cường thịnh để chống lại Y-sơ-ra-ên vì họ làm điều ác dưới mắt của Đức Giê-hô-va.
Vậy, Éc-lôn liên kết với dân Am-môn và dân A-ma-léc tiến đánh Y-sơ-ra-ên và chiếm thành Cây Chà Là.
Dân Y-sơ-ra-ên phải phục dịch Éc-lôn, vua Mô-áp, trong mười tám năm.
Dân Y-sơ-ra-ên lại kêu cầu Đức Giê-hô-va và Đức Giê-hô-va dấy lên cho họ một vị cứu tinh là Ê-hút, con trai Ghê-ra, thuộc bộ tộc Bên-gia-min, là người thuận tay trái. Dân Y-sơ-ra-ên phái ông đem lễ vật cống nạp cho Éc-lôn, vua Mô-áp.
Ê-hút làm cho mình một thanh gươm hai lưỡi, dài khoảng năm tấc và đeo nó nơi đùi phải dưới áo mình.
Vậy, ông đem lễ vật cống nạp cho Éc-lôn, vua Mô-áp, là một người rất mập.
Sau khi cống nạp lễ vật, ông cho những người mang lễ vật đến ra về.
Còn ông, khi đến chỗ các tượng đá ở gần Ghinh-ganh thì trở lại và nói: “Bẩm vua, tôi có một điều bí mật muốn tâu với vua.” Vua bảo: “Khoan đã!” Tất cả những kẻ hầu cận vua liền đi ra.
Bấy giờ, khi vua đang ngồi một mình nơi lầu mát thì Ê-hút đến gần và nói: “Tôi có sứ điệp từ Đức Chúa Trời dành cho vua.” Éc-lôn vừa đứng dậy khỏi ngai
thì Ê-hút giơ tay trái ra rút gươm đeo ở bên phải và đâm vào bụng vua.
Cán gươm lút theo lưỡi, mỡ líp lại chung quanh lưỡi gươm vì ông không rút gươm ra khỏi bụng và đồ ô uế đổ ra.
Ê-hút đi ra ngoài hành lang, đóng các cửa lầu mát và khóa lại.
Khi Ê-hút đã đi khỏi rồi, các đầy tớ đến xem, thấy các cửa lầu mát đều khóa chặt thì nói với nhau rằng: “Chắc vua đang đi vệ sinh trong lầu mát chăng.”
Chúng đợi rất lâu đến nỗi bối rối, nhưng vì không thấy vua mở cửa phòng, nên chúng lấy chìa khóa và mở cửa. Kìa, chúng thấy chủ mình nằm sải chết trên sàn nhà.
Trong khi chúng còn đang chần chờ, Ê-hút đã tẩu thoát qua ngã các tượng đá và lánh đến Sê-i-ra.
Vừa đến nơi, ông thổi kèn khắp vùng đồi núi Ép-ra-im. Dân Y-sơ-ra-ên cùng với ông từ trên núi kéo xuống và ông lãnh đạo họ.
Ê-hút nói với họ: “Hãy theo ta, vì Đức Giê-hô-va đã phó kẻ thù của anh em là dân Mô-áp vào tay anh em.” Họ theo ông xuống chiếm các chỗ cạn của sông Giô-đanh, là đường dẫn đến Mô-áp và không cho ai qua sông.
Lúc ấy, dân Y-sơ-ra-ên đánh giết khoảng mười nghìn người Mô-áp, tất cả đều là những chiến sĩ mập mạnh, và không để một ai tẩu thoát.
Từ ngày đó, dân Mô-áp chịu khuất phục dưới tay Y-sơ-ra-ên. Xứ sở được hòa bình trong tám mươi năm.
Sau Ê-hút, có Sam-ga, con trai của A-nát. Ông dùng gậy thúc bò đánh giết sáu trăm người Phi-li-tin. Vậy ông cũng là người giải cứu dân Y-sơ-ra-ên.
Sau khi Ê-hút qua đời, dân Y-sơ-ra-ên lại làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va.
Vì thế, Đức Giê-hô-va bán họ cho Gia-bin, là vua Ca-na-an trị vì tại Hát-so. Chỉ huy trưởng quân đội của Gia-bin là Si-sê-ra ở tại Ha-rô-sết của dân ngoại.
Vì Gia-bin có chín trăm xe bằng sắt và vua đã hà hiếp dân Y-sơ-ra-ên cách tàn bạo trong hai mươi năm, nên dân Y-sơ-ra-ên kêu cầu Đức Giê-hô-va.
Trong lúc đó, nữ tiên tri Đê-bô-ra, vợ của Láp-bi-đốt, làm quan xét của dân Y-sơ-ra-ên.
Bà thường ngồi dưới cây chà là Đê-bô-ra, trong vùng đồi núi Ép-ra-im, khoảng giữa Ra-ma và Bê-tên, và dân Y-sơ-ra-ên đến với bà để được phân xử.
Bà sai gọi Ba-rác, con trai A-bi-nô-am, từ Kê-đe trong đất Nép-ta-li đến và nói với ông rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã truyền lệnh nầy cho ông: ‘Hãy đi, đem theo mười nghìn người thuộc con cháu Nép-ta-li và Sa-bu-lôn và dàn trận trên núi Tha-bô.
Ta sẽ khiến Si-sê-ra là chỉ huy trưởng quân đội vua Gia-bin đem xe cộ và quân lính đến giao chiến với con tại suối Ki-sôn, và Ta sẽ phó hắn vào tay con.’”
Ba-rác nói: “Nếu bà đi với tôi thì tôi sẽ đi, nhưng nếu bà không đi với tôi thì tôi sẽ không đi.”
Bà nói: “Vâng, chắc chắn tôi sẽ đi với ông; tuy nhiên, vinh quang của trận nầy sẽ chẳng thuộc về ông, vì Đức Giê-hô-va sẽ phó Si-sê-ra vào tay một phụ nữ.” Vậy, Đê-bô-ra đứng dậy đi với Ba-rác đến Kê-đe.
Ba-rác tập hợp người Sa-bu-lôn và người Nép-ta-li tại Kê-đe; có mười nghìn người đi theo ông và Đê-bô-ra cũng đi lên với ông.
Bấy giờ Hê-be, người Kê-nít vốn đã tách khỏi dân Kê-nít, tức là con cháu Hô-báp, anh vợ của Môi-se, và đóng trại mình phía cây sồi Sa-na-nim, gần bên Kê-đe.
Có người báo cho Si-sê-ra biết rằng Ba-rác, con trai A-bi-nô-am, đã lên núi Tha-bô.
Si-sê-ra tập trung toàn bộ chiến xa gồm có chín trăm xe bằng sắt, và toàn thể quân lính của mình, từ Ha-rô-sết của dân ngoại cho đến suối Ki-sôn.
Đê-bô-ra nói với Ba-rác: “Hãy vùng lên! Vì đây là ngày Đức Giê-hô-va phó Si-sê-ra vào tay ông. Không phải Đức Giê-hô-va đi trước ông sao?” Vậy Ba-rác từ núi Tha-bô đi xuống cùng với mười nghìn người theo ông.
Đức Giê-hô-va làm cho Si-sê-ra và tất cả xe cộ cùng toàn thể quân lính của hắn chạy hoảng loạn trước lưỡi gươm của Ba-rác. Si-sê-ra xuống khỏi xe và chạy trốn.
Ba-rác đuổi theo chiến xa và quân địch cho đến Ha-rô-sết của dân ngoại. Toàn bộ quân lính của Si-sê-ra ngã chết dưới lưỡi gươm, không còn ai sống sót.
Si-sê-ra chạy trốn đến trại Gia-ên, vợ của Hê-be, người Kê-nít, vì vua Hát-so là Gia-bin và nhà Hê-be, người Kê-nít, có mối hòa hiếu với nhau.
Gia-ên ra đón Si-sê-ra và nói rằng: “Thưa ngài, xin cứ ghé vào đây, đừng sợ!” Vậy, hắn vào trại nàng, và nàng lấy mền đắp hắn lại.
Hắn nói với nàng: “Xin cho ta chút nước vì ta khát.” Nàng mở bầu đựng sữa cho hắn uống, rồi trùm hắn lại.
Hắn lại nói: “Hãy đứng nơi cửa trại, nếu có ai đến hỏi rằng: ‘Có ai vào đây không?’ thì trả lời: ‘Chẳng có ai hết.’”
Bấy giờ Si-sê-ra ngủ say vì quá mệt. Gia-ên, vợ Hê-be, lấy một cây cọc lều, tay cầm cái búa, nhè nhẹ đến bên hắn và đóng cây cọc xuyên qua màng tang, thấu xuống đất và hắn chết.
Khi Ba-rác còn đang truy đuổi Si-sê-ra thì Gia-ên ra đón ông và nói: “Mời ông vào đây, tôi sẽ chỉ cho ông người mà ông đang tìm kiếm.” Ba-rác bước vào trại, thấy Si-sê-ra nằm sải chết, cây cọc đâm xuyên màng tang.
Từ ngày đó, Đức Chúa Trời khiến cho Gia-bin, vua Ca-na-an, khuất phục trước dân Y-sơ-ra-ên.
Tay của dân Y-sơ-ra-ên càng ngày càng đè nặng trên Gia-bin, vua Ca-na-an, cho đến khi họ tiêu diệt vua ấy đi.
Trong ngày ấy, Đê-bô-ra hát bài ca nầy với Ba-rác, con trai A-bi-nô-am:
“Hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va! Khi các thủ lĩnh Y-sơ-ra-ên cầm quân ra trận Thì dân chúng tình nguyện hi sinh!
Hỡi các vua, hãy nghe! Hỡi các nhà lãnh đạo, hãy lắng tai! Tôi sẽ hát cho Đức Giê-hô-va, Tôi sẽ ca ngợi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Lạy Đức Giê-hô-va! Khi Ngài từ Sê-i-rơ đi ra, Khi Ngài đi qua đồng bằng Ê-đôm, Thì đất rung chuyển, Và trời đổ mưa, Mây cũng tuôn nước xuống.
Các núi tan chảy trước mặt Đức Giê-hô-va, Đấng ngự trên núi Si-na-i, Trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Trong ngày Sam-ga, con trai A-nát, Vào thời Gia-ên, những đường cái bị bỏ hoang, Khách bộ hành lần theo các lối quanh co.
Các làng mạc Y-sơ-ra-ên bị bỏ hoang Cho đến khi tôi là Đê-bô-ra trỗi dậy, Như một người mẹ trong Y-sơ-ra-ên.
Khi người ta chọn các thần mới, Thì chiến tranh đến trước cổng thành. Trong số bốn mươi nghìn người Y-sơ-ra-ên, Có ai thấy cái khiên hay cây giáo nào đâu?
Lòng tôi ngưỡng mộ các nhà lãnh đạo Y-sơ-ra-ên, Cùng những người trong dân chúng tình nguyện hi sinh. Đáng ca ngợi Đức Giê-hô-va!
Hỡi các người cưỡi lừa trắng, Ngồi trên yên bọc nhung, Và những người đi bộ trên đường cái, hãy hát mừng!
Tiếng của người phân phối nước bên giếng, Ca ngợi những chiến thắng của Đức Giê-hô-va, Và chiến công của dân Y-sơ-ra-ên! Bấy giờ, con dân của Đức Giê-hô-va đi xuống các cổng thành.
Hỡi Đê-bô-ra! Hãy tỉnh thức, tỉnh thức! Hãy tỉnh thức, tỉnh thức, hát một bài ca! Hỡi Ba-rác, khá trỗi dậy! Hỡi con trai A-bi-nô-am! Hãy dẫn các tù binh của mình đi!
Bấy giờ, những người còn lại đi xuống với các thủ lĩnh; Con dân Đức Giê-hô-va đến với tôi như những dũng sĩ.
Từ Ép-ra-im có những người gốc A-ma-léc; Theo sau ngươi có Bên-gia-min là họ hàng thân thích. Các nhà lãnh đạo từ Ma-ki đi xuống, Và những người cầm gậy chỉ huy đến từ Sa-bu-lôn.
Các thủ lĩnh Y-sa-ca đều theo Đê-bô-ra, Y-sa-ca thế nào, Ba-rác thế nấy. Họ xông vào thung lũng. Nhưng con cháu Ru-bên, Còn do dự trong lòng!
Tại sao anh nán lại bên chuồng chiên, Phải chăng để nghe tiếng sáo gọi đàn? Trong con cháu Ru-bên, Có kẻ do dự trong lòng!
Ga-la-át ở bên kia sông Giô-đanh, Còn Đan, sao cứ ở lại với những con tàu? A-se ngồi nơi bờ biển, An nghỉ trong các bến cảng của mình.
Sa-bu-lôn là một dân dám hi sinh mạng sống; Nép-ta-li cũng xả thân nơi gò nổng, ruộng đồng.
Các vua kéo đến, họ ra nghênh chiến; Các vua Ca-na-an tiến công Ở Tha-a-nác, bên dòng nước Mê-ghi-đô; Nhưng chẳng cướp được tiền bạc của chúng tôi!
Các tầng trời cũng tham gia chiến trận, Những ngôi sao theo đường mình tiến đánh Si-sê-ra.
Dòng thác Ki-sôn cuốn trôi quân thù, Tức là dòng thác Ki-sôn ngày xưa. Hỡi linh hồn ta, hãy bước đi mạnh mẽ!
Bấy giờ, tiếng vó ngựa dồn dập, Những con chiến mã phi nước đại.
Sứ giả của Đức Giê-hô-va truyền: ‘Hãy nguyền rủa Mê-rô; Hãy nguyền rủa thậm tệ dân cư nó! Vì chúng không đến hỗ trợ Đức Giê-hô-va, Không hỗ trợ Đức Giê-hô-va đánh quân cường bạo!’
Nguyện cho Gia-ên, vợ Hê-be, người Kê-nít, Được phước nhất trong các phụ nữ! Nguyện nàng được phước nhất giữa các phụ nữ sống trong các lều trại!
Si-sê-ra xin nước nhưng nàng cho sữa, Nàng lấy chén sang trọng mà đãi sữa chua.
Một tay nàng nắm cây cọc, Còn tay phải cầm búa của người thợ. Nàng đánh Si-sê-ra, Bổ đầu hắn ra, Đập vỡ đầu và đâm thủng màng tang.
Hắn ngã gục, té quỵ, Nằm sóng sượt dưới chân nàng. Dưới chân nàng hắn ngã quỵ té nhào. Chỗ ngã gục, hắn nằm chết cứng.
Mẹ của Si-sê-ra nhìn qua cửa sổ, Từ sau rèm thưa, bà bỗng thét lên: ‘Vì sao xe của con tôi đến trễ? Cớ sao vó ngựa con tôi về chậm thế kia?’
Những nàng hầu khôn ngoan nhất trả lời, Và chính mẹ hắn cũng nhủ thầm:
‘Chẳng phải họ tìm được và phân chia chiến lợi phẩm đó sao? Một hoặc hai thiếu nữ cho mỗi chiến binh, Chiến lợi phẩm bằng vải nhuộm dành cho Si-sê-ra. Chiến lợi phẩm bằng vải nhuộm thêu, một tấm vải nhuộm, Hai tấm vải thêu, trên cổ các tù binh.’
Lạy Đức Giê-hô-va, trông cho mọi kẻ thù của Ngài đều bị tiêu diệt như vậy. Còn những người yêu kính Ngài sẽ giống như mặt trời mọc lên rực rỡ!” Sau đó, xứ sở được hòa bình trong bốn mươi năm.
Dân Y-sơ-ra-ên làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va nên Đức Giê-hô-va phó họ vào tay dân Ma-đi-an trong bảy năm.
Tay của dân Ma-đi-an đè nặng trên dân Y-sơ-ra-ên. Vì sợ người Ma-đi-an nên dân Y-sơ-ra-ên đã làm những nơi trú ẩn trong núi, các hầm hố và đồn lũy.
Mỗi khi dân Y-sơ-ra-ên gieo giống thì dân Ma-đi-an, dân A-ma-léc, và dân phương Đông đi lên tấn công họ.
Chúng đóng quân chống lại dân Y-sơ-ra-ên và phá hoại mùa màng trong xứ cho đến tận Ga-xa, không để lại bất cứ loại lương thực nào cho dân Y-sơ-ra-ên, kể cả chiên, bò hoặc lừa.
Chúng kéo quân lên cùng với bầy súc vật và đóng trại đông như cào cào, người và lạc đà vô số kể. Chúng xâm chiếm và phá hoại xứ sở.
Vì dân Ma-đi-an mà dân Y-sơ-ra-ên bị nghèo đói, khốn khổ nên họ kêu cầu Đức Giê-hô-va.
Khi dân Y-sơ-ra-ên kêu cầu Đức Giê-hô-va về việc dân Ma-đi-an
thì Đức Giê-hô-va sai một nhà tiên tri đến nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: ‘Ta đã đem các con lên từ Ai Cập, rút các con ra khỏi nhà nô lệ,
giải cứu các con khỏi tay người Ai Cập, và mọi kẻ áp bức các con. Ta đã đuổi chúng khỏi các con và ban cho các con xứ của chúng.’
Ta có phán: ‘Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời các con, chớ sợ các thần của dân A-mô-rít trong xứ mà các con đang ở.’ Nhưng các con nào có lắng nghe tiếng Ta!”
Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đến ngồi dưới cây thông tại thành Óp-ra của ông Giô-ách, người A-bi-ê-xê-rít. Khi ấy con trai của Giô-ách là Ghi-đê-ôn đang đập lúa mạch trong hầm ép rượu để tránh dân Ma-đi-an.
Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện đến với Ghi-đê-ôn và nói: “Hỡi người chiến sĩ dũng cảm! Đức Giê-hô-va ở với anh.”
Ghi-đê-ôn nói: “Thưa ngài, nếu Đức Giê-hô-va ở cùng chúng tôi, tại sao tất cả các việc nầy xảy đến cho chúng tôi? Tổ phụ chúng tôi đã thuật lại rằng: ‘Đức Giê-hô-va đã đem chúng ta ra khỏi Ai Cập’. Thế thì mọi việc kỳ diệu kia ở đâu mà bây giờ Đức Giê-hô-va lại từ bỏ chúng tôi và phó chúng tôi vào tay dân Ma-đi-an?”
Đức Giê-hô-va quay lại phán với ông: “Hãy dùng năng lực con có mà giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi tay dân Ma-đi-an. Chẳng phải Ta sai con đó sao?”
Ghi-đê-ôn thưa: “Lạy Chúa, làm sao con có thể giải cứu Y-sơ-ra-ên được? Nầy, gia tộc con nghèo nhất trong bộ tộc Ma-na-se, và con lại là người nhỏ nhất trong gia đình.”
Đức Giê-hô-va phán: “Ta sẽ ở cùng con, và con sẽ đánh bại dân Ma-đi-an như đánh một người vậy.”
Ghi-đê-ôn thưa: “Nếu con được ơn trước mặt Chúa, xin ban cho con một dấu hiệu chứng tỏ Chúa phán với con.
Xin Ngài đừng rời khỏi đây cho đến khi con trở lại và đem một tế lễ đặt trước mặt Ngài.” Chúa đáp: “Ta sẽ ở đây cho đến khi con trở lại.”
Ghi-đê-ôn đi vào, bắt một con dê con làm thịt và lấy khoảng hai mươi hai lít bột làm bánh không men. Ông để thịt trong rổ và đổ nước thịt vào nồi, rồi đem dâng các món ấy lên Ngài ở dưới cây thông.
Thiên sứ của Đức Chúa Trời phán rằng: “Hãy lấy thịt và bánh không men đặt trên tảng đá nầy và đổ nước thịt lên trên.” Ghi-đê-ôn làm đúng như vậy.
Bấy giờ, thiên sứ của Đức Giê-hô-va đưa gậy đang cầm trong tay ra, chạm đầu gậy vào thịt và bánh không men. Lửa bốc lên từ tảng đá thiêu đốt thịt và bánh không men. Rồi thiên sứ của Đức Giê-hô-va biến mất trước mắt ông.
Ghi-đê-ôn nhận biết đó là thiên sứ của Đức Giê-hô-va nên la lên: “Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời! Khốn nạn cho con, vì con đã thấy thiên sứ của Đức Giê-hô-va mặt đối mặt!”
Nhưng Đức Giê-hô-va phán với ông: “Hãy yên lòng, đừng sợ, con sẽ không chết đâu!”
Ghi-đê-ôn lập tại đó một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va và đặt tên là Giê-hô-va Sa-lôm. Bàn thờ ấy vẫn còn ở thành Óp-ra, thuộc về gia tộc A-bi-ê-xê-rít, cho đến ngày nay.
Cũng trong đêm ấy, Đức Giê-hô-va phán với Ghi-đê-ôn: “Hãy bắt một bò tơ đực của cha con, đó là con bò đực thứ nhì bảy tuổi, rồi phá sập bàn thờ thần Ba-anh mà cha con đã lập và triệt hạ hình tượng A-sê-ra bên cạnh đó.
Tiếp đến, hãy lập một bàn thờ thật ngay ngắn cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời con trên đỉnh đồi nầy. Sau đó, dùng gỗ của tượng thần A-sê-ra mà con đã triệt hạ dâng con bò đực thứ nhì ấy làm tế lễ thiêu.”
Ghi-đê-ôn chọn mười người trong các đầy tớ mình và làm theo điều Đức Giê-hô-va đã phán bảo. Vì sợ những người trong gia đình và những người trong thành nên ông không dám làm ban ngày mà làm ban đêm.
Sáng sớm hôm sau, khi dân trong thành thức dậy, họ thấy bàn thờ của thần Ba-anh đã bị phá sập, hình tượng A-sê-ra bên cạnh bị triệt hạ, và con bò đực thứ nhì đã được dâng làm tế lễ thiêu trên bàn thờ mới lập.
Chúng hỏi nhau: “Ai đã làm điều đó?” Sau khi dò hỏi và tìm hiểu, chúng biết rằng chính Ghi-đê-ôn, con trai Giô-ách, đã làm điều đó.
Dân trong thành nói với Giô-ách: “Hãy đem con ông ra đây, nó phải chết vì nó đã phá đổ bàn thờ thần Ba-anh, và triệt hạ hình tượng A-sê-ra bên cạnh đó.”
Giô-ách trả lời tất cả những kẻ chống đối rằng: “Các người muốn bênh vực cho Ba-anh sao? Hay các người muốn bảo vệ hắn? Ai bênh vực Ba-anh sẽ bị xử tử trước sáng mai. Nếu thật hắn là thần thì chính hắn phải tranh luận chứ, vì người ta đã phá đổ bàn thờ của hắn!”
Vì thế, trong ngày ấy người ta gọi Ghi-đê-ôn là Giê-ru-ba-anh, hàm ý: “Ba-anh phải tranh luận với ông ấy” vì Ghi-đê-ôn đã phá sập bàn thờ của hắn.
Tất cả dân Ma-đi-an, dân A-ma-léc, và dân phương Đông liên kết lại, vượt qua sông Giô-đanh và đóng quân trong thung lũng Gít-rê-ên.
Thần của Đức Giê-hô-va bao phủ Ghi-đê-ôn; ông thổi tù và, kêu gọi những người A-bi-ê-xê-rít đi theo ông.
Ông sai sứ giả đi khắp bộ tộc Ma-na-se và kêu gọi họ theo mình. Ông cũng sai sứ giả đến các bộ tộc A-se, Sa-bu-lôn, Nép-ta-li, và họ cũng đi lên hiệp với ông.
Ghi-đê-ôn thưa với Đức Chúa Trời: “Nếu Chúa muốn dùng tay con giải cứu Y-sơ-ra-ên, đúng như lời Chúa đã phán,
thì con sẽ để một mớ lông chiên trong sân đập lúa. Nếu sương chỉ đọng trên mớ lông chiên ấy, còn đất lại khô ráo, thì con sẽ nhận biết Chúa dùng tay con giải cứu Y-sơ-ra-ên như Chúa đã phán hứa.”
Việc xảy ra đúng như vậy. Sáng hôm sau, Ghi-đê-ôn dậy sớm, vắt mớ lông chiên thì sương chảy ra đầy một chén nước.
Ghi-đê-ôn lại thưa với Đức Chúa Trời rằng: “Xin Chúa đừng nổi giận với con, con chỉ xin thưa một lần nữa thôi. Xin Chúa để con thử với mớ lông chiên chỉ một lần nữa thôi: Xin cho chỉ riêng mớ lông chiên khô, còn sương thì đọng khắp trên đất.”
Trong đêm đó, Đức Chúa Trời làm đúng như vậy: Chỉ riêng mớ lông chiên thì khô, còn khắp trên đất lại bị sương phủ.
Giê-ru-ba-anh, tức là Ghi-đê-ôn, và tất cả quân lính của ông dậy sớm, đi đến đóng trại bên suối Ha-rốt. Còn quân Ma-đi-an đóng trại ở phía bắc trại quân Ghi-đê ôn, trong thung lũng bên đồi Mô-rê.
Đức Giê-hô-va phán với Ghi-đê-ôn: “Số người đi theo con đông quá, Ta không phó dân Ma-đi-an vào tay họ đâu, kẻo Y-sơ-ra-ên khoe khoang tự phụ rằng: ‘Chính tay tôi đã giải cứu tôi.’
Vậy bây giờ, hãy truyền lệnh nầy cho quân lính: ‘Ai sợ hãi run rẩy, hãy sớm rời khỏi núi Ga-la-át và trở về nhà đi!’” Vậy có hai mươi hai nghìn người trở về, còn mười nghìn người ở lại.
Đức Giê-hô-va phán với Ghi-đê-ôn: “Số người vẫn còn đông quá. Hãy dẫn họ xuống mé nước, rồi Ta sẽ thử nghiệm họ tại đó. Nếu người nào Ta phán với con rằng: ‘Nó hãy đi với con,’ thì nó sẽ đi với con. Còn người nào Ta phán với con rằng: ‘Nó chớ đi với con,’ thì nó đó sẽ không được đi.”
Vậy, ông dẫn quân lính xuống mé nước. Đức Giê-hô-va phán với Ghi-đê-ôn: “Tất cả những người dùng lưỡi liếm nước như chó, và những người quỳ gối xuống mà uống thì con hãy để riêng ra.”
Số người bụm nước trong tay và đưa lên miệng liếm là ba trăm, số người còn lại đều quỳ gối xuống mà uống.
Bấy giờ, Đức Giê-hô-va phán với Ghi-đê-ôn: “Ta sẽ dùng ba trăm người đã liếm nước mà giải cứu các con, và Ta sẽ phó dân Ma-đi-an vào tay con. Còn tất cả những người khác hãy trở về nhà mình!”
Ghi-đê-ôn cho tất cả Y-sơ-ra-ên trở về nhà, nhưng giữ lại ba trăm người kia. Họ lấy lương thực và tù và của những người trở về. Quân Ma-đi-an đóng trại trong thung lũng, phía dưới trại Ghi-đê-ôn.
Trong đêm đó, Đức Giê-hô-va phán với Ghi-đê-ôn: “Hãy trỗi dậy, đi xuống tấn công trại quân Ma-đi-an, vì Ta đã phó chúng vào tay con.
Còn nếu con sợ không dám tấn công thì hãy cùng đầy tớ con là Phu-ra đi xuống trại quân.
Con sẽ nghe những gì chúng nói, sau đó con sẽ mạnh dạn mà tấn công trại chúng.” Vậy, Ghi-đê-ôn đi xuống cùng đầy tớ ông là Phu-ra, đến gần trạm canh ở đầu trại quân.
Dân Ma-đi-an, dân A-ma-léc và tất cả dân phương Đông đóng trại tràn lan trong thung lũng, đông như cào cào; còn lạc đà của chúng nhiều vô số, như cát nơi bờ biển.
Khi Ghi-đê-ôn đến nơi, có một người thuật lại giấc chiêm bao cho bạn mình, rằng: “Nầy, tôi nằm mơ, thấy một ổ bánh bằng bột lúa mạch lăn vào trại quân Ma-đi-an. Nó lăn đến đụng vào trại, làm cho trại ngã nghiêng, lật ngược rồi sập xuống.”
Người bạn nói: “Điều nầy không gì khác hơn là gươm của Ghi-đê-ôn, con trai Giô-ách, người Y-sơ-ra-ên. Đức Chúa Trời đã phó Ma-đi-an và cả trại quân vào tay ông ấy.”
Khi nghe thuật lại giấc chiêm bao và ý nghĩa của nó, Ghi-đê-ôn sấp mình xuống thờ lạy Đức Chúa Trời. Ông trở về trại quân Y-sơ-ra-ên và nói: “Hãy trỗi dậy, vì Đức Giê-hô-va đã phó quân Ma-đi-an vào tay anh em!”
Ông chia ba trăm người làm ba đội, phát tù và, bình rỗng với đuốc ở bên trong cho mỗi người.
Ông bảo họ: “Hãy xem và làm đúng như tôi làm. Khi tôi đến đầu trại quân, anh em hãy làm theo tôi.
Khi tôi và những người theo tôi thổi tù và thì anh em cũng hãy thổi tù và khắp xung quanh trại quân, và hô lên rằng: ‘Vì Đức Giê-hô-va và vì Ghi-đê-ôn!’”
Ghi-đê-ôn và một trăm quân đi với ông đến đầu trại quân vào lúc nửa đêm, lúc mới đổi phiên gác. Họ thổi tù và, rồi đập bể bình đang cầm trong tay.
Bấy giờ, ba đội quân thổi tù và, đồng thời đập bể bình. Tay trái cầm đuốc, tay phải cầm tù và, họ hô lớn: “Hãy tuốt gươm vì Đức Giê-hô-va và vì Ghi-đê-ôn!”
Mỗi người đứng tại vị trí mình, vây quanh trại quân thù. Cả trại quân bỏ chạy, vừa la hét vừa tìm đường tẩu thoát.
Trong khi ba trăm người thổi tù và, Đức Giê-hô-va khiến quân thù trong khắp trại quay gươm chém giết lẫn nhau, rồi chạy trốn đến Bết Si-ta, về hướng Xê-rê-đa, cho đến biên giới A-bên Mê-hô-la gần Ta-bát.
Quân Y-sơ-ra-ên từ Nép-ta-li, A-se và toàn bộ Ma-na-se được huy động đuổi theo quân Ma-đi-an.
Bấy giờ, Ghi-đê-ôn sai sứ giả đi khắp vùng đồi núi Ép-ra-im, truyền lệnh: “Hãy xuống đánh quân Ma-đi-an, chiếm sông Giô-đanh và các phụ lưu trước chúng, cho đến Bết Ba-ra.” Vậy, quân Ép-ra-im được huy động chiếm sông Giô-đanh và các phụ lưu cho đến Bết Ba-ra.
Họ cũng bắt được hai thủ lĩnh của dân Ma-đi-an là Ô-rép và Xê-ép. Họ giết Ô-rép tại tảng đá Ô-rép, và Xê-ép tại hầm ép rượu Xê-ép. Họ tiếp tục đuổi theo dân Ma-đi-an, đem đầu Ô-rép và Xê-ép đến cho Ghi-đê-ôn phía bên kia sông Giô-đanh.
Người Ép-ra-im nói với Ghi-đê-ôn: “Tại sao ông đối xử với chúng tôi như vậy? Tại sao khi đi đánh dân Ma-đi-an, ông không gọi chúng tôi đi với?” Họ tranh cãi với ông kịch liệt.
Nhưng ông trả lời với họ rằng: “Việc tôi làm được đâu có đáng gì so với anh em? Không phải nho mót của Ép-ra-im còn hơn cả mùa nho của A-bi-ê-xe sao?
Đức Chúa Trời đã trao Ô-rép và Xê-ép là hai thủ lĩnh dân Ma-đi-an vào tay anh em. Đem sánh với anh em, tôi nào có làm được điều gì?” Khi nghe những lời ấy, họ nguôi cơn giận.
Ghi-đê-ôn và ba trăm người đi với ông đến sông Giô-đanh và vượt qua sông. Dù mệt nhọc, họ cũng cứ truy đuổi quân địch.
Ông nói với dân thành Su-cốt rằng: “Xin cho quân lính của tôi một ít bánh, vì họ mệt nhọc; tôi còn đang đuổi theo Xê-bách và Xanh-mu-na, là hai vua Ma-đi-an.”
Nhưng các thủ lĩnh Su-cốt trả lời: “Tay ông đã nắm được bàn tay của Xê-bách và Xanh-mu-na chưa mà bảo chúng tôi phải cấp bánh cho quân lính của ông?”
Ghi-đê-ôn đáp: “Nếu thế, khi Đức Giê-hô-va đã trao Xê-bách và Xanh-mu-na vào tay tôi rồi, tôi sẽ lấy gai gốc trong hoang mạc mà đánh nát thịt các người ra!”
Từ đó, ông đi lên đến thành Phê-nu-ên và cũng nói với dân Phê-nu-ên giống như vậy. Dân Phê-nu-ên cũng trả lời ông giống y như dân Su-cốt đã trả lời.
Vì thế, ông cũng nói với dân Phê-nu-ên rằng: “Khi tôi trở về bình an, tôi sẽ triệt hạ cái tháp nầy.”
Bấy giờ, Xê-bách và Xanh-mu-na ở tại Cạt-cô với quân lính mình, khoảng mười lăm nghìn người, là số quân còn sót lại của người phương Đông; vì một trăm hai mươi nghìn người có tài đánh kiếm đã bị giết.
Ghi-đê-ôn đi lên theo con đường của dân du mục, phía đông thành Nô-bách và Giô-bê-ha, tiến đánh trại quân khi chúng tưởng mình bình an vô sự.
Xê-bách và Xanh-mu-na, hai vua Ma-đi-an, chạy trốn, nhưng ông đuổi theo bắt được chúng, gây kinh hoàng cho cả đội quân của chúng.
Ghi-đê-ôn, con trai Giô-ách, từ chiến trường trở về, ngang qua dốc Hê-re.
Ông bắt một thanh niên ở Su-cốt, tra hỏi nó, và nó viết ra tên các thủ lĩnh và trưởng lão của Su-cốt, là bảy mươi bảy người.
Rồi ông đến với dân thành Su-cốt, và nói: “Đây là Xê-bách và Xanh-mu-na mà anh em đã mắng ta rằng: ‘Tay ông đã nắm được bàn tay Xê-bách và Xanh-mu-na chưa mà bảo chúng tôi phải cấp bánh cho quân lính mệt nhọc của ông ăn?’”
Vậy, ông bắt các trưởng lão của thành, lấy chông gai nơi hoang mạc mà dạy cho người Su-cốt một bài học.
Ông cũng phá hủy tháp Phê-nu-ên và giết những người của thành ấy.
Sau đó, Ghi-đê-ôn hỏi Xê-bách và Xanh-mu-na: “Những người mà các ngươi đã giết tại Tha-bô ra sao?” Hai vua ấy đáp: “Chúng cũng như ông, mỗi người đều giống như hoàng tử.”
Ông tiếp: “Họ là anh em ta, con của mẹ ta. Thật, ta thề trước Đức Giê-hô-va hằng sống, nếu các ngươi đã để anh em ta sống thì nay ta không giết các ngươi đâu!”
Rồi Ghi-đê-ôn bảo Giê-the, con đầu lòng mình: “Hãy tiến lại giết chúng đi!” Nhưng chàng sợ, không dám rút gươm ra vì chàng vẫn còn niên thiếu.
Xê-bách và Xanh-mu-na nói: “Chính ông hãy giết chúng tôi đi, vì người thể nào thì sức thể ấy.” Ghi-đê-ôn tiến đến giết Xê-bách và Xanh-mu-na, và lấy những chiếc vòng hình trăng lưỡi liềm nơi cổ lạc đà của hai vua.
Bấy giờ, người Y-sơ-ra-ên nói với Ghi-đê-ôn: “Xin ông, con trai, và cháu ông cai trị chúng tôi, vì ông đã giải cứu chúng tôi khỏi tay dân Ma-đi-an.”
Ghi-đê-ôn trả lời: “Tôi không cai trị anh em, con trai tôi cũng không cai trị anh em đâu, nhưng Đức Giê-hô-va sẽ cai trị anh em.”
Ghi-đê-ôn nói với họ: “Tôi thỉnh cầu anh em một điều, là mỗi người trong anh em phải giao cho tôi những vòng đeo tai mình đã đoạt được.” (Vì người Ích-ma-ên có tục đeo vòng vàng nơi tai.)
Họ đáp: “Chúng tôi sẵn lòng giao cho ông.” Họ trải một chiếc áo ra, rồi mọi người đều ném vào đó những vòng đeo tai mình đã đoạt được.
Những vòng đeo tai vàng mà Ghi-đê-ôn đã xin, cân được khoảng hai mươi kí-lô vàng, không kể những vòng hình trăng lưỡi liềm, dây chuyền, và áo điều của vua Ma-đi-an thường mặc, cùng những vòng đeo cổ lạc đà.
Ghi-đê-ôn lấy vàng đó làm một cái tượng ê-phót đặt trong thành mình tại Óp-ra. Cả Y-sơ-ra-ên phạm tội tà dâm khi cúng thờ cái ê-phót đó; nó trở thành một cái bẫy cho Ghi-đê-ôn và cả nhà ông.
Dân Ma-đi-an bị khuất phục trước dân Y-sơ-ra-ên, không cất đầu lên được nữa. Trong đời Ghi-đê-ôn, đất nước được hòa bình trong bốn mươi năm.
Giê-ru-ba-anh, con trai Giô-ách, trở về và ở trong nhà mình.
Ghi-đê-ôn có bảy mươi con trai, vì ông có nhiều vợ.
Vợ lẽ của ông ở Si-chem cũng sinh cho ông một con trai, và ông đặt tên là A-bi-mê-léc.
Ghi-đê-ôn, con trai Giô-ách, qua đời lúc tuổi đã cao, được chôn trong mộ của thân phụ ông là Giô-ách, tại Óp-ra, thuộc gia tộc A-bi-ê-xê-rít.
Sau khi Ghi-đê-ôn qua đời, dân Y-sơ-ra-ên trở lại phạm tội tà dâm với các thần Ba-anh và tôn Ba-anh Bê-rít làm thần của họ.
Như vậy, dân Y-sơ-ra-ên không nhớ đến Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, là Đấng đã giải cứu họ khỏi tay các kẻ thù chung quanh.
Họ cũng không bày tỏ lòng biết ơn với nhà Giê-ru-ba-anh, là Ghi-đê-ôn, về tất cả những việc tốt đẹp mà ông đã làm cho dân Y-sơ-ra-ên.
A-bi-mê-léc, con trai Giê-ru-ba-anh, đến với các cậu và cả gia tộc bên ngoại mình ở thành Si-chem mà nói rằng:
“Xin quý vị hỏi ý kiến tất cả người Si-chem: ‘Cả bảy mươi con trai Giê-ru-ba-anh cai trị quý vị hay chỉ một người cai trị quý vị, điều nào tốt hơn?’ Xin nhớ rằng tôi đồng cốt nhục với quý vị.”
Khi các cậu của ông đem các lời nầy thuật lại cho tất cả dân Si-chem nghe thì lòng họ nghiêng về A-bi-mê-léc, vì họ nói: “Ông ấy là anh em chúng ta.”
Họ lấy bảy mươi miếng bạc trong miếu Ba-anh Bê-rít tặng cho A-bi-mê-léc. Ông lấy bạc đó mướn bọn du đãng, hoang đàng đi theo mình.
Ông đi đến nhà cha mình tại Óp-ra, giết các anh em mình, tức bảy mươi con trai của Giê-ru-ba-anh, trên một tảng đá. Chỉ một mình Giô-tham, con út của Giê-ru-ba-anh, còn sống sót, vì chàng đã đi trốn.
Bấy giờ, tất cả các thủ lĩnh thành Si-chem và Bết Mi-lô họp nhau lại, bên cây sồi chỗ bia đá ở Si-chem để tôn A-bi-mê-léc làm vua.
Khi hay tin ấy, Giô-tham đi lên đứng trên đỉnh núi Ga-ri-xim, cất tiếng la lớn: “Hỡi người Si-chem, hãy lắng nghe tôi để Đức Chúa Trời có thể nghe quý vị:
Cây cối đã đi xức dầu Cho một vua cai trị chúng. Chúng nói với cây ô-liu rằng: ‘Hãy cai trị chúng tôi.’
Nhưng cây ô-liu trả lời: ‘Tôi nên bỏ dầu Mà nhờ đó thần thánh và loài người được tôn trọng Để đi lay động cây cối chăng?’
Cây cối lại nói với cây vả: ‘Hãy đến cai trị chúng tôi.’
Nhưng cây vả trả lời: ‘Tôi nên bỏ trái ngon ngọt và tươi tốt Để đi lay động cây cối chăng?’
Cây cối nói với cây nho: ‘Hãy đến cai trị chúng tôi.’
Nhưng cây nho trả lời: ‘Tôi nên bỏ rượu ngon Là thứ làm cho các thần và loài người phấn chấn Để đi lay động cây cối chăng?’
Bấy giờ, tất cả cây cối nói với gai gốc rằng: ‘Hãy đến cai trị chúng tôi.’
Gai gốc trả lời với cây cối: ‘Nếu bởi lòng chân thật mà các người muốn xức dầu cho tôi làm vua của các người Thì hãy đến núp dưới bóng tôi; Nếu không, nguyện lửa từ bụi gai bùng lên Và thiêu đốt cây bá hương của Li-ban đi!’
Bây giờ, có phải quý vị đã cư xử chân thật và công chính khi tôn A-bi-mê-léc làm vua chăng? Quý vị đã hậu đãi Giê-ru-ba-anh và nhà người chăng? Hay là biết ơn điều người đã làm cho quý vị chăng?
Vì cha tôi chiến đấu cho quý vị, liều mình mà giải cứu quý vị khỏi tay dân Ma-đi-an.
Nhưng hôm nay quý vị lại nổi lên chống lại nhà cha tôi, sát hại bảy mươi con trai của người trên một tảng đá, và tôn A-bi-mê-léc, con trai của một kẻ nô tì, làm vua của dân Si-chem, vì hắn là anh em của quý vị.
Vậy, nếu hôm nay quý vị lấy sự chân thật và công chính mà đối xử với Giê-ru-ba-anh và nhà người thì A-bi-mê-léc cứ vui mừng nơi quý vị và quý vị cũng vui mừng với hắn!
Còn nếu không phải thì nguyện lửa ra từ A-bi-mê-léc thiêu nuốt những người lãnh đạo thành Si-chem và Bết Mi-lô; và nguyện lửa ra từ những người Si-chem và Bết Mi-lô thiêu nuốt A-bi-mê-léc!”
Sau đó, Giô-tham chạy trốn và đến cư trú tại Bê-re vì sợ A-bi-mê-léc, anh mình.
A-bi-mê-léc cai trị Y-sơ-ra-ên trong ba năm.
Đức Chúa Trời sai một ác thần gây sự bất hòa giữa A-bi-mê-léc và người Si-chem, khiến người Si-chem chống lại A-bi-mê-léc.
Điều nầy xảy đến để báo thù tội sát nhân mà hắn đã phạm với bảy mươi con trai Giê-ru-ba-anh, và khiến máu họ đổ trên A-bi-mê-léc, là người đã giết anh em mình, và đổ trên các nhà lãnh đạo thành Si-chem vì đã giúp hắn giết anh em mình.
Người Si-chem sai người đi phục kích A-ma-léc trên đỉnh núi và chúng cướp giựt những kẻ đi qua đường. Người ta báo cho A-bi-mê-léc biết tin đó.
Lúc ấy, Ga-anh, con trai Ê-bết, cùng anh em mình di chuyển đến Si-chem và người Si-chem tin cậy hắn.
Chúng ra ngoài đồng, hái nho trong vườn, ép rượu nho và tổ chức tiệc vui. Chúng vào đền thờ tà thần ăn uống, rồi rủa sả A-bi-mê-léc.
Ga-anh, con trai Ê-bết, nói: “A-bi-mê-léc là ai? Dân thành Si-chem chúng ta là ai mà phải phục vụ hắn? Hắn không phải là con trai Giê-ru-ba-anh sao? Còn Xê-bun không phải là kẻ phụ tá hắn sao? Hãy phục vụ con cháu Hê-mô, là tổ phụ của Si-chem đi! Tại sao chúng ta phải phục vụ A-bi-mê-léc chứ?
Ồ! Nếu dân nầy ở dưới tay ta, ta sẽ đuổi A-bi-mê-léc đi!” Ga-anh thách thức: “A-bi-mê-léc! Hãy tăng cường quân lính của ngươi mà ra trận!”
Xê-bun, quan cai trị thành, nghe những lời của Ga-anh, con trai Ê-bết, thì nổi giận.
Ông bí mật sai sứ đến A-bi-mê-léc, nói rằng: “Nầy Ga-anh, con trai Ê-bết, và anh em hắn đã đến Si-chem, xúi giục dân thành chống lại ông.
Vậy, đêm nay ông và những người theo ông phải trỗi dậy, mai phục ngoài đồng.
Sáng mai khi mặt trời vừa mọc, ông phải dậy sớm, tấn công thành. Khi Ga-anh và quân của hắn tiến đánh ông thì ông hãy tùy cơ ứng biến.”
Vậy, A-bi-mê-léc và cả quân lính theo ông đều trỗi dậy ban đêm, chia ra làm bốn đội, và mai phục gần Si-chem.
Ga-anh, con trai Ê-bết, kéo ra và đứng tại cổng thành. A-bi-mê-léc và cả quân lính theo ông ra khỏi nơi mai phục.
Khi Ga-anh thấy quân lính thì nói với Xê-bun rằng: “Kìa, ta thấy quân lính từ trên đỉnh núi xuống.” Xê-bun nói: “Ngươi thấy bóng núi mà tưởng là người ta đó thôi!”
Nhưng Ga-anh nói tiếp: “Kìa, có một toán quân từ giữa xứ đi xuống và một toán quân từ hướng cây sồi Thầy Bói tiến qua.”
Xê-bun nói: “Chính ngươi đã nói: ‘A-bi-mê-léc là ai mà ta phục vụ hắn!’ Vậy, những lời phách lối của ngươi đó bây giờ ở đâu rồi? Đó không phải quân lính mà ngươi khinh thường sao? Hãy đi ra giao chiến với họ đi!”
Ga-anh dẫn đầu những người Si-chem đi ra và giao chiến với A-bi-mê-léc.
Ga-anh bị A-bi-mê-léc đuổi theo và chạy trốn trước A-bi-mê-léc. Nhiều người bị thương ngã chết dọc đường, cho đến cổng thành.
A-bi-mê-léc cư ngụ ở A-ru-ma; còn Xê-bun đuổi Ga-anh và anh em hắn đi, không cho ở Si-chem nữa.
Hôm sau, dân Si-chem đi ra ngoài đồng và người ta báo tin đó cho A-bi-mê-léc biết.
Ông dẫn quân lính, chia làm ba đội và mai phục ngoài đồng. Khi thấy dân trong thành kéo ra, ông liền trỗi dậy và tấn công chúng.
A-bi-mê-léc và quân lính theo ông tiến nhanh đến án ngữ trước cổng thành; còn hai đội kia xông vào những người đang ở ngoài đồng và đánh giết chúng.
A-bi-mê-léc tiến đánh thành trọn một ngày, chiếm lấy và giết dân trong thành. Ông san bằng thành và rắc muối trên đó.
Nghe tin ấy, tất cả dân chúng ở tháp Si-chem đều rút vào trong đồn của miếu thần Ên Bê-rít.
Người ta báo tin cho A-bi-mê-léc hay rằng tất cả dân chúng tháp Si-chem đều họp lại trong đồn.
A-bi-mê-léc và tất cả quân lính đi lên núi Sanh-môn. Ông cầm rìu trong tay và chặt một nhánh cây, vác trên vai. Ông bảo quân lính theo mình rằng: “Hãy mau làm theo như anh em thấy ta làm!”
Vậy, mỗi người chặt một nhánh cây, rồi đi theo A-bi-mê-léc. Họ dựng những nhánh cây đó quanh đồn và phóng hỏa đốt đồn cùng những người trong đó. Như thế, tất cả những người ở tháp Si-chem, cả nam lẫn nữ khoảng một nghìn người, đều bị thiêu chết.
Sau đó, A-bi-mê-léc đi đánh Thê-bết, bao vây và chiếm thành.
Giữa thành phố có một cái tháp kiên cố, tất cả dân trong thành, cả nam lẫn nữ và cả những người lãnh đạo trong thành đều chạy vào đó và đóng cửa lại, rồi trèo lên đỉnh tháp.
A-bi-mê-léc tấn công, định chiếm tháp. Nhưng khi đến cửa tháp để phóng hỏa,
thì có một phụ nữ ném thớt cối xuống đầu A-bi-mê-léc làm ông bị vỡ sọ.
Ông liền gọi chàng thanh niên cầm binh khí cho ông và nói: “Hãy rút gươm ra và giết ta đi, kẻo người ta nói: ‘Một người đàn bà đã giết ta!’” Vậy, chàng thanh niên đâm ông và ông chết.
Khi dân Y-sơ-ra-ên thấy A-bi-mê-léc đã chết thì mỗi người ai về nhà nấy.
Như vậy, Đức Chúa Trời báo trả A-bi-mê-léc về tội ác mà ông đã phạm với cha mình khi giết bảy mươi anh em mình.
Đức Chúa Trời cũng báo trả dân thành Si-chem về mọi điều ác mà họ đã làm. Tai họa giáng xuống đầu họ đúng như lời nguyền rủa của Giô-tham, con trai Giê-ru-ba-anh.
Sau A-bi-mê-léc, có Thô-la, con trai Phu-a, cháu Đô-đô, thuộc bộ tộc Y-sa-ca, nổi dậy giải cứu Y-sơ-ra-ên. Ông sống tại Sa-mia trong vùng đồi núi Ép-ra-im,
và làm quan xét của dân Y-sơ-ra-ên trong hai mươi ba năm. Ông qua đời và được chôn tại Sa-mia.
Sau đó có Giai-rơ, người Ga-la-át, làm quan xét của dân Y-sơ-ra-ên trong hai mươi hai năm.
Ông có ba mươi con trai, mỗi người cưỡi một con lừa, và cai trị một thành. Ba mươi thành đó thuộc địa phận Ga-la-át, ngày nay gọi là Ha-vốt Giai-rơ.
Giai-rơ qua đời và được chôn tại Kha-môn.
Dân Y-sơ-ra-ên lại làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va. Họ phụng sự thần Ba-anh và Át-tạt-tê, cùng các thần của dân A-ram, các thần của dân Si-đôn, các thần của dân Mô-áp, các thần của dân Am-môn, và các thần của dân Phi-li-tin. Họ từ bỏ Đức Giê-hô-va, không phụng sự Ngài.
Cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi bùng lên cùng Y-sơ-ra-ên. Ngài phó họ vào tay người Phi-li-tin và người Am-môn.
Kể từ năm đó, hai dân tộc nầy hà hiếp và chà đạp dân Y-sơ-ra-ên. Những người Y-sơ-ra-ên ở bên kia sông Giô-đanh trong vùng Ga-la-át, thuộc dân A-mô-rít, cũng bị họ hà hiếp và chà đạp trong mười tám năm.
Dân Am-môn còn vượt qua sông Giô-đanh, tiến đánh Giu-đa, Bên-gia-min, và nhà Ép-ra-im. Dân Y-sơ-ra-ên lâm vào cảnh khốn cùng.
Bấy giờ, dân Y-sơ-ra-ên kêu cầu Đức Giê-hô-va rằng: “Chúng con phạm tội cùng Chúa, vì đã từ bỏ Đức Chúa Trời chúng con và phụng sự các thần Ba-anh.”
Nhưng Đức Giê-hô-va phán với dân Y-sơ-ra-ên rằng: “Chẳng phải Ta đã giải cứu các con khỏi dân Ai Cập, dân A-mô-rít, dân Am-môn, và dân Phi-li-tin sao?
Lại khi dân Si-đôn, dân A-ma-léc, và dân Ma-ôn hà hiếp các con thì các con có kêu cầu Ta và Ta đã giải cứu các con khỏi tay chúng.
Nhưng các con đã lìa bỏ Ta, phụng sự các thần khác, vì thế Ta không giải cứu các con nữa.
Hãy đi kêu cầu những thần mà các con đã chọn để chúng giải cứu các con trong cơn hoạn nạn!”
Dân Y-sơ-ra-ên thưa với Đức Giê-hô-va: “Chúng con đã phạm tội! Xin Chúa đãi chúng con theo điều Chúa cho là tốt lành, nhưng bây giờ xin Chúa giải cứu chúng con!”
Họ dẹp bỏ các tà thần, rồi trở lại phụng sự Đức Giê-hô-va. Lòng Ngài đau buồn về sự khốn khổ của dân Y-sơ-ra-ên.
Dân Am-môn tập hợp lại và đóng trại trong đất Ga-la-át. Dân Y-sơ-ra-ên cũng họp lại và đóng trại tại Mích-pa.
Dân chúng và những nhà lãnh đạo của Ga-la-át hỏi nhau rằng: “Ai là người lãnh đạo cuộc tiến quân đánh dân Am-môn? Người đó sẽ làm thủ lĩnh trên toàn dân Ga-la-át.”
Giép-thê, người Ga-la-át, là một dũng sĩ. Ông là con của một kỹ nữ và cha là Ga-la-át.
Vợ của ông Ga-la-át cũng sinh những con trai khác. Khi các con trai của người vợ ấy lớn lên, họ đuổi Giép-thê đi và nói: “Mầy không được hưởng phần gia tài trong nhà cha chúng ta, vì mầy là con của một người đàn bà khác.”
Vậy, Giép-thê chạy trốn khỏi anh em mình và ở trong xứ Tóp. Có một nhóm du đãng tụ tập quanh ông và đi cướp phá với ông.
Một thời gian sau, dân Am-môn gây chiến với dân Y-sơ-ra-ên.
Khi dân Am-môn tiến đánh Y-sơ-ra-ên, các trưởng lão Ga-la-át đi đến xứ Tóp đem Giép-thê về.
Họ nói với ông: “Xin ông về lãnh đạo chúng tôi đánh dân Am-môn.”
Nhưng Giép-thê nói với các trưởng lão Ga-la-át: “Chẳng phải các ông ghét tôi và đuổi tôi khỏi nhà cha tôi sao? Còn bây giờ, khi các ông bị khốn khổ sao lại chạy đến với tôi?”
Các trưởng lão Ga-la-át nói với Giép-thê: “Lý do chúng tôi đến với ông là để ông cùng chúng tôi đi đánh dân Am-môn, và rồi ông sẽ làm lãnh tụ của chúng tôi cùng tất cả dân Ga-la-át.”
Giép-thê lại trả lời với các trưởng lão Ga-la-át rằng: “Nếu các ông đem tôi về để đánh dân Am-môn, và nếu Đức Giê-hô-va phó chúng vào tay tôi, các ông có thực lòng muốn tôi lãnh đạo các ông không?”
Các trưởng lão Ga-la-át nói với Giép-thê: “Chúng tôi sẽ làm đúng như lời ông nói. Xin Đức Giê-hô-va làm chứng giữa chúng ta!”
Vậy, Giép-thê đi với các trưởng lão Ga-la-át; dân chúng lập ông làm thủ lãnh và vị chỉ huy của họ. Tại Mích-pa, Giép-thê lặp lại trước mặt Đức Giê-hô-va mọi lời ông đã nói.
Giép-thê sai sứ giả đến với vua dân Am-môn và nói: “Tôi với ông có chuyện gì mà ông kéo quân đến đánh đất nước tôi?”
Vua dân Am-môn trả lời với các sứ giả của Giép-thê rằng: “Vì khi ra khỏi Ai Cập, dân Y-sơ-ra-ên đã chiếm đất của ta từ rạch Ạt-nôn cho đến rạch Gia-bốc và sông Giô-đanh. Bây giờ hãy trả đất ấy lại cho ta cách êm thắm đi!”
Giép-thê lại sai sứ giả đến với vua dân Am-môn và nói:
“Giép-thê nói rằng: Y-sơ-ra-ên không xâm chiếm đất của dân Mô-áp hay của dân Am-môn.
Nhưng khi ra khỏi Ai Cập, Y-sơ-ra-ên có đi ngang qua hoang mạc để đến Biển Đỏ, rồi đến Ca-đe.
Lúc ấy, người Y-sơ-ra-ên sai sứ giả đến gặp vua Ê-đôm, nói rằng: ‘Xin cho chúng tôi đi ngang qua lãnh thổ của vua.’ Nhưng vua Ê-đôm không bằng lòng. Họ cũng sai sứ giả đến gặp vua Mô-áp, và vua nầy cũng từ chối, nên dân Y-sơ-ra-ên cứ ở tại Ca-đe.
Kế đến, họ lại đi qua hoang mạc, vòng quanh đất Ê-đôm và đất Mô-áp, rồi đến phía đông đất Mô-áp. Họ đóng trại ở bên kia rạch Ạt-nôn, chứ không vào địa phận Mô-áp, vì Ạt-nôn là biên giới của xứ Mô-áp.
Cuối cùng, dân Y-sơ-ra-ên sai sứ giả đến gặp Si-hôn, vua dân A-mô-rít, ở tại Hết-bôn, và nói: ‘Xin cho chúng tôi đi ngang qua lãnh thổ của vua để đến xứ chúng tôi.’
Nhưng Si-hôn không tin dân Y-sơ-ra-ên, nên không cho đi ngang qua xứ mình. Si-hôn tập hợp toàn quân, kéo đến đóng trại tại Gia-hát và tiến đánh Y-sơ-ra-ên.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phó Si-hôn và toàn quân của vua ấy vào tay Y-sơ-ra-ên. Họ đánh bại chúng và chiếm toàn bộ đất của A-mô-rít, là dân bản địa.
Dân Y-sơ-ra-ên chiếm toàn bộ đất của dân A-mô-rít, từ rạch Ạt-nôn cho đến rạch Gia-bốc, và từ hoang mạc cho đến sông Giô-đanh.
Vậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã đuổi dân A-mô-rít khỏi dân Y-sơ-ra-ên của Ngài rồi, thế mà bây giờ ngươi lại muốn chiếm đất của họ sao?
Không phải ngươi nhận được đất mà Kê-mốt, là thần của ngươi, đã ban cho ngươi sao? Thế thì, chúng ta cũng nhận được đất của những kẻ nào mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã đuổi khỏi chúng ta.
Hơn nữa, ngươi có trổi hơn Ba-lác, con trai Xếp-bô, vua Mô-áp chăng? Có khi nào ông ấy cãi vã hay là đánh với Y-sơ-ra-ên chăng?
Trong ba trăm năm, Y-sơ-ra-ên đã ở tại Hết-bôn và vùng phụ cận, A-rô-e và vùng phụ cận, cùng tất cả các thành dọc theo rạch Ạt-nôn. Tại sao ông không lấy lại các thành ấy trong thời gian đó?
Vậy, tôi không có phạm lỗi với ông, nhưng ông đã sai quấy mà gây chiến với tôi. Nguyện Đức Giê-hô-va, là Đấng phán xét, ngày nay phân xử giữa dân Y-sơ-ra-ên và dân Am-môn!”
Nhưng vua dân Am-môn không nghe lời sứ giả của Giép-thê.
Bấy giờ, Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên Giép-thê, ông đi qua Ga-la-át và Ma-na-se, đến Mích-pa thuộc Ga-la-át, rồi từ Mích-pa thuộc Ga-la-át, ông vượt qua lãnh thổ dân Am-môn.
Giép-thê khấn hứa với Đức Giê-hô-va rằng: “Nếu Ngài phó dân Am-môn vào tay con thì khi thắng trận trở về,
bất cứ người hay vật nào từ cửa nhà con ra đón rước con, thì người hay vật ấy sẽ thuộc về Đức Giê-hô-va, và con sẽ dâng làm tế lễ thiêu.”
Giép-thê vượt sang lãnh thổ dân Am-môn và Đức Giê-hô-va phó chúng vào tay ông.
Ông đánh bại chúng từ A-rô-e đến vùng phụ cận của Mi-nít, cho đến tận A-bên Kê-ra-mim, và chiếm được hai mươi thành. Dân Am-môn bị đại bại và chịu khuất phục trước dân Y-sơ-ra-ên.
Giép-thê trở về nhà mình tại Mích-pa, và kìa, con gái ông cầm trống nhỏ và nhảy múa đón rước ông. Nàng là con một của ông, ngoài nàng chẳng có con trai hoặc con gái nào khác.
Giép-thê vừa thấy nàng, liền xé áo mình và nói: “Ôi! Con gái của cha, con làm cha khốn khổ vô cùng! Con thuộc vào số những kẻ làm cha rối trí! Vì cha có mở miệng khấn hứa với Đức Giê-hô-va và không thể nuốt lời.”
Nàng thưa: “Cha ôi, nếu cha đã mở miệng khấn hứa với Đức Giê-hô-va, xin cứ làm cho con đúng như lời cha đã hứa, vì bây giờ Đức Giê-hô-va đã báo trả dân Am-môn, kẻ thù của cha rồi.”
Nàng lại nói với cha mình rằng: “Con xin cha điều nầy: Cha hoãn cho con hai tháng, con sẽ đi vào miền đồi núi để cùng chị em bạn khóc về thân phận trinh nữ của con.”
Giép-thê nói: “Con cứ đi!” Rồi ông để nàng đi trong hai tháng. Nàng đi với các bạn, và khóc cho thân phận trinh nữ của mình trên núi.
Sau hai tháng, nàng trở về với cha mình, và ông thực hiện điều ông đã khấn hứa về nàng. Nàng chẳng biết người nam nào. Từ đó, dân Y-sơ-ra-ên có tục lệ nầy:
Mỗi năm, các cô gái Y-sơ-ra-ên đi than khóc con gái của Giép-thê, người Ga-la-át, trong bốn ngày.
Quân lính Ép-ra-im tập hợp lại, vượt qua sông đến Xa-phôn và hỏi Giép-thê: “Tại sao ông đi đánh dân Am-môn mà không gọi chúng tôi đi với? Chúng tôi sẽ đốt nhà của ông luôn với ông nữa.”
Giép-thê đáp: “Tôi và dân tôi tranh đấu ác liệt với dân Am-môn, và khi tôi kêu cứu thì các ông không đến giải cứu tôi khỏi tay chúng.
Khi thấy các ông không đến tiếp cứu thì tôi đã liều mình đi đánh dân Am-môn, và Đức Giê-hô-va đã phó chúng vào tay tôi. Vậy, tại sao ngày nay các ông lại lên gây chiến với tôi?”
Lúc ấy, Giép-thê tập hợp toàn quân Ga-la-át và giao chiến với Ép-ra-im. Quân Ga-la-át đánh bại Ép-ra-im, vì người Ép-ra-im có nói rằng: “Hỡi dân Ga-la-át, các người chỉ là bọn trốn chạy khỏi Ép-ra-im và sống chui nhủi giữa Ép-ra-im và Ma-na-se mà thôi!”
Quân Ga-la-át chiếm những chỗ cạn của sông Giô-đanh để ngăn cản người Ép-ra-im qua sông. Mỗi khi có người Ép-ra-im nào đào thoát nói rằng: “Xin để cho tôi đi qua,” thì người Ga-la-át hỏi: “Anh có phải là người Ép-ra-im không?” Nếu hắn trả lời: “Không”
thì họ nói tiếp: “Thế thì, hãy nói: Si-bô-lết.” Chúng nói “Xi-bô-lết,” vì không thể phát âm đúng được, nên họ bắt chúng và giết tại chỗ cạn của sông Giô-đanh. Trong thời gian đó có bốn mươi hai nghìn người Ép-ra-im bị giết.
Giép-thê, người Ga-la-át, làm quan xét của dân Y-sơ-ra-ên trong sáu năm. Ông qua đời, và được chôn trong thành mình là Mích-pa ở Ga-la-át.
Sau Giép-thê, có Íp-san ở Bết-lê-hem làm quan xét của dân Y-sơ-ra-ên.
Ông có ba mươi con trai và ba mươi con gái. Ông gả các con gái cho người ngoài dòng họ mình, và cưới ba mươi con gái dòng họ khác làm vợ cho các con trai mình. Ông làm quan xét của dân Y-sơ-ra-ên được bảy năm.
Rồi Íp-san qua đời, được chôn tại Bết-lê-hem.
Sau Íp-san, có Ê-lôn, người Sa-bu-lôn, làm quan xét của dân Y-sơ-ra-ên mười năm.
Rồi Ê-lôn, người Sa-bu-lôn, qua đời, được chôn tại A-gia-lôn, trong phần đất thuộc bộ tộc Sa-bu-lôn.
Sau Ê-lôn, có Áp-đôn, con trai Hi-lên, người Phi-ra-thôn, làm quan xét của dân Y-sơ-ra-ên.
Ông có bốn mươi con trai và ba mươi cháu trai. Họ cưỡi bảy mươi con lừa. Ông làm quan xét của dân Y-sơ-ra-ên tám năm.
Rồi Áp-đôn, con trai Hi-lên, người Phi-ra-thôn, qua đời và được chôn tại Phi-ra-thôn thuộc đất Ép-ra-im, trên đồi núi của dân A-ma-léc.
Dân Y-sơ-ra-ên lại làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va phó họ vào tay dân Phi-li-tin trong bốn mươi năm.
Có một người ở Xô-rê-a thuộc bộ tộc Đan, tên là Ma-nô-a. Vợ ông hiếm muộn, không có con.
Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện đến với nàng và nói: “Nầy, ngươi vốn hiếm muộn, không có con, nhưng ngươi sẽ thụ thai và sinh một bé trai.
Vậy, từ nay hãy thận trọng, chớ uống rượu hay là thức uống có men, và cũng đừng ăn vật gì không tinh sạch,
vì ngươi sẽ thụ thai và sinh một bé trai. Dao cạo sẽ không đưa qua đầu nó, vì đứa trẻ nầy sẽ làm người Na-xi-rê cho Đức Chúa Trời từ trong lòng mẹ. Chính nó sẽ giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi tay dân Phi-li-tin.”
Người đàn bà đi thuật lại với chồng: “Một người của Đức Chúa Trời đã đến với tôi, diện mạo người ấy rất đáng sợ, giống như diện mạo thiên sứ của Đức Chúa Trời. Tôi không dám hỏi người ấy từ đâu đến, và người ấy cũng không cho biết tên.
Nhưng người ấy có nói với tôi: ‘Nầy, ngươi sẽ thụ thai và sinh một bé trai. Vậy bây giờ, chớ uống rượu hay thức uống có men, và cũng đừng ăn vật gì không tinh sạch, vì đứa bé đó sẽ làm người Na-xi-rê của Đức Chúa Trời từ trong lòng mẹ cho đến ngày qua đời.’”
Ma-nô-a cầu nguyện với Đức Giê-hô-va rằng: “Lạy Chúa! Xin Chúa cho người của Đức Chúa Trời mà Chúa đã sai xuống, lại đến với chúng con, để dạy chúng con phải làm gì cho đứa bé sẽ sinh ra!”
Đức Chúa Trời nhậm lời cầu nguyện của Ma-nô-a. Thiên sứ của Đức Chúa Trời lại đến với người nữ khi nàng đang ngồi ngoài đồng; còn Ma-nô-a, chồng nàng, không có ở đó với nàng.
Người đàn bà liền chạy đến thuật cho chồng: “Kìa, người đã đến với tôi hôm trước, nay lại hiện đến.”
Ma-nô-a vội vàng đi theo vợ mình, và khi đến gần người ấy thì hỏi rằng: “Ông có phải là người đã phán dặn với vợ tôi chăng?” Người ấy đáp: “Phải, chính ta”.
Ma-nô-a tiếp: “Khi lời ông được ứng nghiệm, thì đứa trẻ phải tuân theo luật nào, và nó phải làm những gì?”
Thiên sứ của Đức Giê-hô-va phán với Ma-nô-a rằng: “Vợ ngươi phải kiêng cữ mọi điều ta đã dặn.
Nàng chớ nên ăn bất cứ vật gì từ vườn nho, chớ uống rượu hay là thức uống có men, và cũng đừng ăn vật gì không tinh sạch. Nàng phải tuân giữ mọi điều ta đã phán dặn.”
Bấy giờ, Ma-nô-a thưa với thiên sứ của Đức Giê-hô-va: “Xin cho phép chúng tôi được cầm ông lại để dọn cho ông một con dê con.”
Thiên sứ của Đức Giê-hô-va nói với Ma-nô-a rằng: “Dù ngươi cầm ta lại, ta cũng không ăn thức ăn của ngươi được. Nhưng nếu ngươi muốn thì hãy làm một tế lễ thiêu dâng lên Đức Giê-hô-va.” Ma-nô-a vốn không biết đó là thiên sứ của Đức Giê-hô-va.
Ma-nô-a lại thưa với thiên sứ của Đức Giê-hô-va rằng: “Danh ông là gì, để chúng tôi tôn trọng ông khi lời ông phán được ứng nghiệm?”
Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đáp: “Sao ngươi hỏi danh ta? Danh ta rất diệu kỳ.”
Ma-nô-a bắt con dê con cùng với tế lễ chay, và dâng lên cho Đức Giê-hô-va trên tảng đá. Thiên sứ thi hành một việc lạ lùng trước sự chứng kiến của Ma-nô-a và vợ ông.
Khi ngọn lửa từ bàn thờ bay lên trời thì thiên sứ của Đức Giê-hô-va cũng bay lên trong ngọn lửa ấy. Thấy vậy, Ma-nô-a và vợ sấp mặt xuống đất.
Thiên sứ của Đức Giê-hô-va không còn hiện đến cùng Ma-nô-a và vợ người nữa. Ma-nô-a nhận biết đó là thiên sứ của Đức Giê-hô-va.
Ông nói với vợ: “Chắc chúng ta sẽ chết, vì đã thấy Đức Chúa Trời!”
Nhưng vợ ông nói: “Nếu Đức Giê-hô-va muốn giết chúng ta, lẽ nào Ngài nhậm tế lễ thiêu và tế lễ chay chúng ta dâng lên, và lẽ nào Ngài cho chúng ta thấy các việc lạ nầy, cũng như cho chúng ta nghe những lời như hôm nay.”
Người đàn bà nầy sinh một bé trai, đặt tên là Sam-sôn. Đứa trẻ lớn lên, và Đức Giê-hô-va ban phước cho nó.
Thần của Đức Giê-hô-va bắt đầu tác động trên Sam-sôn khi chàng ở trong trại Đan, giữa khoảng Xô-rê-a và Ê-ta-ôn.
Sam-sôn đi xuống Thim-na, thấy một thiếu nữ Phi-li-tin ở đó.
Khi trở lên, ông nói với cha mẹ mình rằng: “Con có thấy một thiếu nữ Phi-li-tin ở Thim-na. Bây giờ xin cha mẹ cưới nàng cho con làm vợ.”
Cha mẹ ông nói: “Trong vòng bà con hay trong cả dân tộc chúng ta, không có thiếu nữ nào con ưng ý sao mà con phải tìm đến người Phi-li-tin không cắt bì kia để cưới vợ?” Sam-sôn thưa với cha: “Xin cha cưới cô ấy cho con, vì nàng vừa mắt con.”
Cha mẹ ông không biết điều đó đến từ Đức Giê-hô-va, vì Ngài tìm dịp để chống dân Phi-li-tin. Lúc bấy giờ dân Phi-li-tin thống trị dân Y-sơ-ra-ên.
Sam-sôn đi chung với cha mẹ xuống Thim-na. Khi họ đến vườn nho Thim-na, một con sư tử tơ phóng ra và gầm thét trước mặt ông.
Thần của Đức Giê-hô-va tác động mạnh trên Sam-sôn đến nỗi ông dùng tay xé con sư tử ấy như xé con dê con. Nhưng ông không nói cho cha mẹ biết điều mình đã làm.
Rồi Sam-sôn đi xuống, nói chuyện với thiếu nữ, và nàng vừa mắt chàng.
Một thời gian sau, khi trở lại để cưới nàng, ông ghé lại xem xác sư tử ấy, thấy một đàn ong và mật trong xác đó.
Ông lấy tay hốt mật, vừa đi vừa ăn. Khi đến gần cha mẹ, ông đưa cho cha mẹ ăn, nhưng không cho biết mình đã lấy mật đó trong xác sư tử.
Cha Sam-sôn đi xuống nhà người nữ ấy, và tại đó Sam-sôn dọn một bữa tiệc theo phong tục mà các thanh niên thường làm.
Khi thấy Sam-sôn, người ta mời ba mươi thanh niên để kết bạn với chàng.
Sam-sôn nói với các bạn: “Tôi sẽ ra cho các bạn một câu đố. Nếu trong bảy ngày tiệc, các bạn giải được thì tôi sẽ thưởng cho các bạn ba mươi chiếc áo trong bằng vải gai và ba mươi bộ áo ngoài.
Còn nếu các bạn không giải được thì các bạn phải nộp cho tôi ba mươi chiếc áo trong bằng vải gai và ba mươi bộ áo ngoài.” Họ nói: “Anh cứ ra câu đố cho chúng tôi nghe đi.”
Ông liền ra câu đố: “Thức ăn từ giống ăn mà ra; Vật ngọt từ giống mạnh mà ra.” Trong ba ngày họ không giải được câu đố ấy
Đến ngày thứ bảy, họ nói với vợ Sam-sôn: “Hãy dụ chồng cô giải câu đố cho chúng ta, nếu không, chúng tôi sẽ đốt cô và nhà cha cô. Có phải các người mời chúng tôi đến để bóc lột chúng tôi chăng?”
Vợ Sam-sôn khóc và nói với ông: “Anh ghét em, chẳng thương em chút nào! Anh đã ra một câu đố cho đồng bào em mà không giải nghĩa cho em.” Chàng nói: “Ngay cả đến cha mẹ anh mà anh không giải nghĩa thì làm sao anh giải nghĩa cho em được?”
Trong suốt bảy ngày tiệc, nàng cứ khóc hoài trước mặt ông. Ngày thứ bảy, ông đành giải nghĩa cho nàng, vì nàng cứ nài nỉ hoài. Sau đó, nàng giải câu đố cho các bạn mình.
Vậy, vào ngày thứ bảy, trước khi mặt trời lặn, những người trong thành đến nói với ông: “Có gì ngọt hơn mật, Có chi mạnh hơn sư tử?” Sam-sôn nói với họ: “Nếu các người không cày ruộng bằng bò cái tơ của tôi, Thì các người không giải được câu đố của tôi đâu.”
Bấy giờ, Thần của Đức Giê-hô-va tác động mạnh trên Sam-sôn. Ông đi xuống Ách-ca-lôn, giết ba mươi người, thu chiến lợi phẩm và thưởng những bộ áo ngoài cho những người giải được câu đố. Ông trở về nhà cha mình trong cơn giận phừng phừng.
Vợ Sam-sôn bị đem gả cho một thanh niên vốn là phụ rể của chàng.
Ít lâu sau, nhằm mùa gặt lúa mì, Sam-sôn đi thăm vợ mình và đem cho nàng một con dê con. Ông nói: “Con muốn đến với vợ của con ở trong phòng.” Nhưng cha nàng không cho phép ông vào.
Cha nàng nói: “Cha tưởng con ghét nó nên đã gả nó cho bạn con rồi. Em gái nó không xinh hơn nó sao? Vậy, hãy lấy em nó thế cho nó.”
Sam-sôn nói: “Nếu lần nầy con có làm hại dân Phi-li-tin thì con cũng vô tội.”
Vậy Sam-sôn đi bắt ba trăm con chồn và cột đuôi chúng thành từng cặp, rồi lấy đuốc gắn giữa hai cái đuôi.
Ông đốt đuốc và thả những con chồn ấy vào đồng lúa mì chưa gặt của dân Phi-li-tin. Như vậy, ông đốt lúa mì đã bó cũng như lúa mì chưa gặt, và các vườn ô-liu.
Dân Phi-li-tin hỏi: “Ai đã làm điều đó?” Người ta đáp: “Sam-sôn, con rể của một người ở Thim-na, vì người nầy bắt vợ hắn gả cho một người bạn của hắn.” Vậy dân Phi-li-tin đi lên, thiêu nàng luôn với cha nàng trong lửa.
Sam-sôn nói: “Nếu các người đã làm như thế thì tôi quyết sẽ trả thù các người rồi mới chịu ngồi yên.”
Ông tiến đánh chúng dữ dội và giết nhiều người. Sau đó, ông đi xuống và ở trong hang đá Ê-tam.
Bấy giờ, dân Phi-li-tin đi lên đóng quân ở Giu-đa và tràn đến Lê-chi.
Người Giu-đa nói với chúng rằng: “Tại sao các người lên đánh chúng tôi?” Chúng đáp: “Chúng tôi lên đây để trói Sam-sôn và sẽ đối xử với hắn như hắn đã đối xử với chúng tôi!”
Ba nghìn người Giu-đa đi xuống hang đá Ê-tam và nói với Sam-sôn: “Anh không biết dân Phi-li-tin đang thống trị chúng ta sao? Vậy anh đã làm điều gì khiến chúng tôi phải bị liên lụy?” Ông trả lời: “Tôi đã đối xử với chúng như chính chúng đã đối xử với tôi thôi.”
Họ lại nói: “Chúng tôi xuống đây để trói anh và nộp anh cho dân Phi-li-tin.” Sam-sôn tiếp: “Xin hãy thề với tôi là chính anh em không được giết tôi.”
Họ trả lời: “Được, chúng tôi chỉ muốn trói anh và nộp vào tay chúng chứ chẳng muốn giết anh đâu.” Vậy, họ trói ông bằng hai sợi dây mới, và dẫn ông ra khỏi hang đá.
Khi ông đến Lê-chi, dân Phi-li-tin reo hò chạy về phía ông. Thần của Đức Giê-hô-va tác động mạnh trên Sam-sôn, khiến những dây cột rớt khỏi cánh tay ông như chỉ gai bị lửa đốt.
Thấy một cái xương hàm lừa còn tươi, ông vớ lấy và đánh giết một nghìn người Phi-li-tin.
Bấy giờ Sam-sôn nói: “Với một xương hàm lừa, Giết thây chất thành đống! Với một xương hàm lừa, Ta đánh giết cả nghìn tên!”
Khi nói xong, ông ném xương hàm lừa khỏi tay mình, và đặt tên chỗ đó là Ra-mát Lê-chi.
Vì khát nước quá, ông cầu khẩn Đức Giê-hô-va rằng: “Chúa đã ban cho đầy tớ Chúa sự giải cứu lớn lao nầy, chẳng lẽ bây giờ con phải chết khát, và sa vào tay những kẻ không chịu cắt bì sao?”
Đức Chúa Trời chẻ bộng đá ở Lê-chi cho nước phun ra. Khi Sam-sôn uống nước thì tinh thần tươi tỉnh trở lại và được hồi sức. Vì thế, người ta đặt tên suối nầy là Ên Ha-cô-rê cho đến ngày nay. Suối ấy ở Lê-chi.
Sam-sôn làm quan xét của dân Y-sơ-ra-ên hai mươi năm trong thời kỳ người Phi-li-tin thống trị Y-sơ-ra-ên.
Sam-sôn đi đến Ga-xa, gặp một kỹ nữ ở đó và đi vào nhà nàng.
Người ta thuật cho dân Ga-xa rằng: “Sam-sôn đã đến đây.” Chúng bao vây ông và canh giữ suốt đêm tại cổng thành. Cả đêm ấy, chúng giữ yên lặng, và nói: “Tảng sáng, chúng ta sẽ giết hắn.”
Sam-sôn ngủ ở đó cho đến nửa đêm. Vào nửa đêm, ông thức dậy, nắm cánh cổng thành và hai cây trụ cổng, nhổ lên luôn với then cài rồi vác lên vai, đi lên đỉnh núi đối diện Hếp-rôn.
Sau đó ít lâu, ông yêu một phụ nữ ở thung lũng Sô-réc, tên là Đa-li-la.
Các thủ lĩnh Phi-li-tin đến nhà nàng và nói: “Hãy dụ hắn nói cho biết do đâu hắn có sức mạnh phi thường như thế và chúng tôi phải làm sao chế ngự được hắn, trói lại và bắt hắn phục tùng. Mỗi người chúng tôi sẽ thưởng cho cô một nghìn một trăm miếng bạc.”
Đa-li-la nói với Sam-sôn: “Xin anh cho em biết do đâu mà anh có sức mạnh phi thường như thế, và phải làm sao để có thể trói anh lại và chế ngự được anh?”
Sam-sôn đáp: “Nếu người ta trói anh bằng bảy sợi dây cung còn tươi, chưa phơi khô, thì anh sẽ trở nên yếu như bao nhiêu người khác.”
Các thủ lĩnh Phi-li-tin đem cho Đa-li-la bảy sợi dây cung còn tươi, chưa phơi khô và nàng lấy trói ông lại.
Lúc ấy, quân lính đang phục kích sẵn trong phòng nàng. Nàng kêu lên: “Hỡi Sam-sôn, người Phi-li-tin tấn công anh đó!” Nhưng ông bứt những sợi dây như một sợi chỉ gai khi gặp lửa. Như vậy, chẳng ai biết được bí mật sức mạnh của ông.
Đa-li-la nói với Sam-sôn: “Nầy, anh đã gạt em, nói dối em rồi. Bây giờ xin nói cho em biết phải lấy gì để trói được anh?”
Ông trả lời: “Nếu người ta cột anh bằng sợi dây thừng còn mới, chưa có ai dùng, thì anh sẽ trở nên yếu như bao nhiêu người khác.”
Vậy, Đa-li-la lấy dây thừng còn mới, trói Sam-sôn lại. Khi quân lính đang phục kích sẵn trong phòng, nàng kêu lên: “Hỡi Sam-sôn, người Phi-li-tin tấn công anh đó!” Nhưng ông bứt đứt những sợi dây thừng khỏi cánh tay như một sợi chỉ vậy.
Đa-li-la nói với Sam-sôn: “Cho đến giờ phút nầy anh vẫn gạt em và nói dối em. Xin nói cho em biết cách nào có thể trói được anh.” Ông nói: “Nếu em dệt bảy lọn tóc trên đầu của anh vào canh chỉ trên khung cửi rồi dùng con sẻ cột chặt lại thì anh sẽ yếu đi như bao nhiêu người khác.”
Khi ông ngủ, Đa-li-la dệt bảy lọn tóc trên đầu ông vào canh chỉ trên khung cửi, dùng con sẻ cột chặt lại rồi kêu lên: “Hỡi Sam-sôn, người Phi-li-tin tấn công anh đó!” Nhưng ông thức dậy, nhổ con sẻ của khung cửi luôn với canh chỉ.
Bấy giờ, nàng nói với ông: “Làm sao anh nói ‘anh yêu em’ trong khi anh không thật lòng với em? Anh đã gạt em ba lần, và chẳng nói cho em biết do đâu anh có sức mạnh phi thường như thế.”
Mỗi ngày nàng cứ cằn nhằn làm ông rối trí và bực mình đến độ muốn chết đi được.
Vì thế, ông thật lòng nói cho nàng biết mọi điều. Ông nói: “Dao cạo chưa bao giờ đưa qua đầu anh vì từ trong lòng mẹ, anh đã là người Na-xi-rê của Đức Chúa Trời. Nếu anh bị cạo đầu, sức lực anh sẽ lìa khỏi anh và anh sẽ yếu như bao nhiêu người khác.”
Khi Đa-li-la thấy ông đã nói hết mọi điều trong lòng cho mình thì nàng mời các thủ lĩnh Phi-li-tin và nói: “Lần nầy hãy lên, vì hắn đã nói hết mọi điều trong lòng cho tôi rồi.” Vậy, các thủ lĩnh Phi-li-tin đi lên nhà nàng, đem bạc trong tay.
Nàng làm cho Sam-sôn nằm ngủ trên đầu gối mình, và bảo một người cạo bảy lọn tóc trên đầu ông. Như vậy, nàng bắt đầu khống chế ông vì sức mạnh đã lìa khỏi ông.
Bấy giờ nàng kêu lên: “Hỡi Sam-sôn, người Phi-li-tin tấn công anh đó!” Ông thức dậy và tự nhủ: “Ta sẽ đi ra như các lần trước, và thoát khỏi tay chúng thôi!” Nhưng ông không biết rằng Đức Giê-hô-va đã lìa khỏi mình.
Người Phi-li-tin bắt ông, khoét mắt, và đem xuống Ga-xa. Chúng trói ông bằng dây xích đồng và bắt ông xay cối trong ngục.
Nhưng rồi tóc bị cạo của ông bắt đầu mọc lại.
Bấy giờ, các thủ lĩnh Phi-li-tin họp lại để dâng một tế lễ long trọng cho thần Đa-gôn của chúng và ăn mừng. Chúng nói rằng: “Thần chúng ta đã trao Sam-sôn, kẻ thù của chúng ta, vào tay chúng ta.”
Khi thấy ông, dân chúng ca ngợi thần của mình, và nói: “Thần chúng ta đã trao kẻ thù vào tay chúng ta, là kẻ đã phá hoại xứ sở chúng ta, và giết hại biết bao nhiêu người.”
Trong lúc hứng chí, chúng la lên: “Hãy gọi Sam-sôn ra để hắn làm trò vui cho chúng ta.” Vậy, chúng dẫn Sam-sôn ra khỏi ngục, và ông làm trò trước mặt chúng. Rồi chúng để ông đứng giữa các cột đền.
Sam-sôn nói với cậu bé nắm tay mình rằng: “Hãy dẫn ta đến gần các cột đền để ta tựa vào đó.”
Đền thờ lúc ấy đông nghẹt người, cả nam lẫn nữ, và tất cả các thủ lĩnh Phi-li-tin cũng ở đó; trên sân thượng đền thờ cũng có độ ba nghìn người cả nam lẫn nữ đang xem Sam-sôn làm trò.
Bấy giờ, Sam-sôn kêu cầu Đức Giê-hô-va rằng: “Chúa Giê-hô-va ôi! Xin Ngài nhớ đến con. Lạy Đức Chúa Trời! Xin ban sức mạnh cho con chỉ lần nầy thôi, để con báo thù dân Phi-li-tin về đôi mắt của con.”
Sam-sôn với tới hai cây cột chính chống đỡ đền thờ, tay phải vịn cột nầy, tay trái vịn cột kia, và dồn hết sức vào đó. Ông nói: “Nguyện tôi chết chung với dân Phi-li-tin!” Rồi ông cố hết sức, xô hai cây cột đền thì đền sụp đổ đè chết các thủ lĩnh và tất cả dân chúng trong đó.
Như thế, lúc chết Sam-sôn giết nhiều người hơn lúc còn sống.
Sau đó, anh em ông và cả nhà cha của ông đi xuống, đem xác ông về, chôn khoảng giữa Xô-rê-a và Ê-ta-ôn, trong mộ của Ma-nô-a, cha của ông. Sam-sôn làm quan xét của dân Y-sơ-ra-ên trong hai mươi năm.
Trong vùng đồi núi Ép-ra-im, có một người nam tên là Mi-ca.
Ông nói với mẹ mình rằng: “Vì một nghìn một trăm miếng bạc bị mất cắp mà mẹ buông lời nguyền rủa và tai con đã nghe. Nầy, số bạc đó đang ở trong tay con, chính con đã lấy.” Mẹ ông nói: “Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho con!”
Mi-ca trả lại cho mẹ mình một nghìn một trăm miếng bạc ấy. Mẹ ông nói: “Mẹ biệt riêng số bạc nầy cho Đức Giê-hô-va để con trai mẹ đúc một pho tượng chạm. Vậy bây giờ mẹ trả bạc lại cho con.”
Nhưng Mi-ca trả bạc lại cho mẹ mình. Bà lấy hai trăm miếng trao cho thợ bạc để đúc một pho tượng chạm, đặt trong nhà Mi-ca.
Như vậy, nhà Mi-ca trở thành một cái miếu thờ. Ông cũng làm một cái ê-phót, và những tượng thần nhỏ, rồi lập một trong các con trai ông làm thầy tế lễ.
Trong thời đó, Y-sơ-ra-ên không có vua, mọi người cứ làm theo ý mình cho là phải.
Bấy giờ, ở Bết-lê-hem xứ Giu-đa, có một thanh niên là người Lê-vi, thuộc gia tộc Giu-đa, tạm cư trong thành ấy.
Chàng rời thành Bết-lê-hem xứ Giu-đa để tìm một nơi cư trú. Trên đường đi, chàng đến vùng đồi núi Ép-ra-im, ghé vào nhà Mi-ca.
Mi-ca hỏi: “Anh từ đâu đến?” Chàng trả lời: “Tôi là người Lê-vi ở Bết-lê-hem xứ Giu-đa. Tôi đang tìm một chỗ để cư trú.”
Mi-ca nói: “Hãy ở đây với tôi, làm cha và thầy tế lễ cho tôi; tôi sẽ cấp cho anh mỗi năm mười miếng bạc, một bộ quần áo, và lương thực cần dùng.” Người Lê-vi ra đi.
Sau đó, người Lê-vi bằng lòng ở với Mi-ca, và Mi-ca coi thanh niên ấy như con trai của mình.
Mi-ca lập người Lê-vi nầy làm thầy tế lễ cho mình, và anh ở trong nhà Mi-ca.
Mi-ca nói: “Bây giờ tôi biết Đức Giê-hô-va sẽ ban ơn cho tôi, vì tôi có người Lê-vi nầy làm thầy tế lễ.”
Trong thời ấy, Y-sơ-ra-ên không có vua. Bộ tộc Đan lúc ấy đi tìm một vùng đất để định cư vì từ trước đến giờ, trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, bộ tộc nầy chưa nhận được sản nghiệp nào hết.
Vậy, người Đan sai năm người mạnh dạn trong bộ tộc mình đi từ Xô-rê-a và Ê-ta-ôn để do thám xứ, và dặn họ rằng: “Hãy đi do thám xứ.” Những người đi do thám vào vùng đồi núi Ép-ra-im, đến nhà Mi-ca, và ngủ đêm tại đó.
Khi ở trong nhà Mi-ca, họ nhận ra giọng nói của người Lê-vi trẻ tuổi nên đến gần và hỏi: “Ai đem anh đến nơi nầy? Anh đang làm gì và tại sao anh ở đây?”
Người Lê-vi cho họ biết Mi-ca đã đối xử tốt với mình như thế nào và nói: “Mi-ca có cấp tiền lương để tôi làm thầy tế lễ cho ông ấy.”
Họ nói tiếp: “Thế thì, hãy cầu hỏi ý Đức Chúa Trời để xem hành trình của chúng tôi có được may mắn chăng.”
Thầy tế lễ nói: “Hãy đi bình an. Đức Giê-hô-va sẽ phù hộ các ông trong hành trình nầy.”
Vậy, năm người ấy lên đường đến thành La-ít, thấy dân chúng tại đó theo phong tục dân Si-đôn, sống an ổn, bình thản và không phòng bị. Không ai có điều gì để phiền trách người lãnh đạo trong thành. Họ vốn ở cách xa dân Si-đôn, và không tiếp xúc với ai cả.
Khi năm người trở về với anh em mình tại Xô-rê-a và Ê-ta-ôn thì anh em hỏi họ rằng: “Các anh thấy thế nào?”
Năm người trả lời: “Chúng ta nên đi lên đánh chúng, vì chúng tôi thấy xứ ấy thật tốt. Nầy! Sao anh em chẳng làm gì cả? Đừng chần chừ, hãy đi lên chiếm xứ ấy.
Khi vào xứ đó, anh em sẽ thấy một dân hiền lành, đất rộng mênh mông mà Đức Chúa Trời đã phó vào tay anh em. Thật là một nơi chẳng thiếu loại thổ sản nào.”
Vậy, sáu trăm người thuộc bộ tộc Đan được vũ trang để chiến đấu. Họ đi từ Xô-rê-a và Ê-ta-ôn
lên đóng trại tại Ki-ri-át Giê-a-rim, trong đất Giu-đa. Vì thế chỗ nầy được gọi là Trại Quân Đan cho đến ngày nay. Nó ở phía tây Ki-ri-át Giê-a-rim.
Từ đó, họ đi sang vùng đồi núi Ép-ra-im và đến nhà Mi-ca.
Bấy giờ, năm người đi do thám đất La-ít nói với anh em mình rằng: “Các anh có biết trong nhà nầy có một cái ê-phót, các tượng thần nhỏ, và một pho tượng chạm không? Vậy bây giờ, anh em biết mình phải làm gì rồi.”
Họ rẽ vào nhà người Lê-vi trẻ tuổi, tức là vào nhà của Mi-ca, và chào ông.
Sáu trăm người thuộc bộ tộc Đan được vũ trang để chiến đấu thì đứng ngoài cổng.
Nhưng năm người đã đi do thám xứ tiến vào nhà, và cướp lấy pho tượng chạm, ê-phót, các tượng thần nhỏ, và tượng đúc trong khi thầy tế lễ đứng trước cổng với sáu trăm người được vũ trang để chiến đấu.
Khi năm người đó vào nhà cướp pho tượng chạm, ê-phót, các tượng thần nhỏ và tượng đúc, thì thầy tế lễ hỏi chúng: “Các anh làm gì vậy?”
Họ trả lời: “Hãy im đi, lấy tay bịt miệng lại, đi theo chúng tôi, làm cha và thầy tế lễ cho chúng tôi. Làm thầy tế lễ cho một gia đình và làm thầy tế lễ cho cả một bộ tộc, một gia tộc trong Y-sơ-ra-ên, cái nào tốt hơn?”
Thầy tế lễ mừng trong lòng, lấy ê-phót, các tượng thần nhỏ, và pho tượng chạm rồi nhập bọn với những người ấy.
Họ quay trở ra, cho trẻ em, súc vật, và hành lý đi trước, rồi lên đường.
Khi bọn người Đan đã đi xa khỏi nhà Mi-ca thì những người ở gần nhà Mi-ca hiệp lại đuổi theo họ.
Những người ấy kêu la phía sau nên bọn người Đan quay lại hỏi Mi-ca: “Có việc gì mà các người kéo theo một đám đông như thế?”
Mi-ca trả lời: “Các người cướp các thần mà tôi đã làm luôn với thầy tế lễ, rồi biến mất. Vậy tôi còn gì đâu? Thế mà các người còn hỏi ‘có việc gì?’”
Người Đan nói với Mi-ca: “Đừng để chúng tôi nghe tiếng ông nữa kẻo có người nổi giận tấn công ông, rồi ông và cả nhà ông sẽ mất mạng chăng.”
Rồi bọn người Đan tiếp tục đi, còn Mi-ca thấy họ mạnh hơn mình nên quay trở về nhà.
Sau khi cướp các tượng mà Mi-ca đã làm và bắt thầy tế lễ của ông thì họ xông vào dân thành La-ít, là một dân hiền hòa, không phòng bị, và dùng gươm giết dân đó, rồi châm lửa đốt thành.
Chẳng có ai đến giải cứu dân thành La-ít cả, vì họ ở cách xa Si-đôn, và không giao thiệp với ai hết. Thành nầy ở trong thung lũng chạy về hướng Bết Rê-hốp. Bộ tộc Đan xây dựng lại thành và định cư ở đó.
Họ lấy tên Đan, con trai của Y-sơ-ra-ên, là tổ phụ mình mà đặt cho thành; còn tên trước kia là La-ít.
Bộ tộc Đan dựng tượng chạm để thờ, rồi Giô-na-than, con trai Ghẹt-sôm, cháu Môi-se, và hậu tự của ông đều làm thầy tế lễ trong bộ tộc Đan cho đến ngày họ bị lưu đày khỏi xứ.
Họ giữ tượng chạm Mi-ca đã làm trong suốt thời gian đền Đức Chúa Trời ở tại Si-lô.
Trong thời ấy, dân Y-sơ-ra-ên không có vua. Có một người Lê-vi đến kiều ngụ trong một vùng đồi núi hẻo lánh thuộc Ép-ra-im, và người ấy có một cô vợ bé ở Bết-lê-hem, miền Giu-đa.
Nhưng cô vợ bé giận chồng và bỏ đi về nhà cha mình tại Bết-lê-hem, miền Giu-đa, rồi ở đó bốn tháng.
Chồng nàng trỗi dậy đi tìm nàng, và lấy lời dịu ngọt thuyết phục để đem nàng trở về nhà mình. Người chồng cũng đem theo một đầy tớ và hai con lừa. Nàng mời chồng vào nhà cha mình và khi cha nàng thấy con rể thì vui vẻ tiếp đón.
Nhạc gia, là cha của thiếu phụ, cầm con rể ở lại và người con rể ở lại với nhạc gia mình trong ba ngày. Họ ăn uống với nhau và ngủ đêm tại đó.
Ngày thứ tư, họ dậy sớm, và khi người Lê-vi sửa soạn ra đi thì cha của thiếu phụ nói với con rể mình rằng: “Các con nên dùng một miếng bánh cho đỡ đói rồi hãy đi.”
Vậy họ ngồi lại, ăn uống với nhau. Cha của thiếu phụ nói với con rể: “Con hãy ở lại đêm nay nữa, cho lòng con được vui vẻ!”
Người Lê-vi dậy sớm để lên đường nhưng nhạc gia nài ép quá đến nỗi chàng phải ở lại đêm đó nữa.
Ngày thứ năm, chàng dậy sớm để lên đường thì cha của thiếu phụ lại nói: “Con hãy dùng bữa, nán lại cho đến xế chiều.” Rồi họ ngồi lại ăn với nhau.
Người Lê-vi và vợ bé cùng đầy tớ đứng dậy để lên đường, nhưng nhạc gia, là cha của thiếu phụ lại nói: “Nầy, ngày đã xế chiều gần tối, cha xin hai con hãy ở đêm tại đây. Thật, trời sắp tối rồi, hãy ở lại và vui vẻ thỏa mái. Ngày mai, hai con sẽ thức dậy sớm và lên đường trở về nhà con.”
Nhưng người chồng không muốn ở đêm nên đứng dậy và lên đường. Người Lê-vi đến chỗ đối diện với Giê-bu, tức là Giê-ru-sa-lem, cùng với hai con lừa đã thắng yên và cô vợ bé.
Khi họ đến gần Giê-bu thì trời sắp tối. Người đầy tớ thưa với chủ: “Chúng ta hãy ghé vào thành của dân Giê-bu nầy, và ngủ đêm tại đó.”
Chủ trả lời: “Chúng ta không nên vào thành của dân ngoại, là nơi không có người Y-sơ-ra-ên, nhưng chúng ta sẽ đến Ghi-bê-a.”
Chủ nói tiếp: “Chúng ta hãy cố gắng đi đến Ghi-bê-a hay Ra-ma và ngủ đêm tại một trong các nơi đó.”
Vậy, họ tiếp tục đi và khi đến gần Ghi-bê-a, là thành thuộc về Bên-gia-min, thì mặt trời lặn rồi.
Họ ghé vào thành Ghi-bê-a để ngủ đêm tại đó. Họ đi vào thành nhưng ngồi ở ngoài đường vì không ai tiếp họ vào nhà cho nghỉ đêm cả.
Chiều tối, có một cụ già làm việc ở ngoài đồng trở về. Người ấy quê ở vùng đồi núi Ép-ra-im, nhưng đang tạm trú tại Ghi-bê-a, là nơi bộ tộc Bên-gia-min sinh sống.
Cụ già ngước mắt lên thấy người hành khách ngồi ngoài đường liền hỏi: “Anh ở đâu đến và đi đâu?”
Người Lê-vi trả lời: “Chúng tôi đang trên đường từ Bết-lê-hem miền Giu-đa, đến vùng đồi núi hẻo lánh ở Ép-ra-im, là nơi tôi cư ngụ. Tôi đã đi đến Bết-lê-hem miền Giu-đa, và nay tôi phụng sự trong nhà của Đức Giê-hô-va, nhưng chẳng có ai tiếp tôi vào nhà cả!
Chúng tôi có rơm và cỏ cho lừa của chúng tôi, cùng với rượu và bánh cho tôi, là đầy tớ ông, cho vợ bé và người trai trẻ đi theo tôi. Chúng tôi không thiếu gì cả.”
Cụ già nói: “Hãy yên tâm! Tôi sẽ lo liệu mọi điều anh cần, anh không phải ngủ đêm ngoài đường đâu.”
Cụ già mời chàng vào nhà, cho lừa ăn rồi họ rửa chân và ăn uống với nhau.
Khi họ đang vui vẻ với nhau thì một nhóm người trong thành, là bọn bất lương, vây nhà, đập cửa và nói với cụ già, là chủ nhà, rằng: “Hãy đem người đã vào nhà lão ra đây để chúng tôi được biết hắn.”
Cụ chủ nhà ra nói với chúng: “Nầy các anh, xin đừng làm việc ác đức như thế, vì người nầy đã vào nhà tôi, chớ làm chuyện đồi bại nầy.
Tôi có con gái còn trinh, và người kia cũng có cô vợ bé; tôi sẽ dẫn chúng ra ngoài cho các anh cưỡng hiếp, lăng nhục tùy thích, nhưng đừng làm chuyện đồi bại như thế với người nầy.”
Nhưng bọn bất lương ấy không thèm nghe. Vì thế, người Lê-vi phải dẫn vợ bé ra ngoài cho chúng và chúng cưỡng hiếp, lăng nhục nàng suốt đêm cho đến sáng, rồi đuổi nàng về lúc rạng đông.
Gần sáng, người đàn bà trở về và ngã quỵ trước cửa nhà ông chủ nơi chồng nàng trọ, và nằm đó cho đến khi trời sáng.
Chồng nàng trỗi dậy lúc sáng sớm và mở cửa nhà để lên đường thì thấy vợ bé mình nằm sải dài trước cửa nhà, hai tay ở trên ngưỡng cửa.
Người chồng nói với nàng: “Hãy đứng dậy, chúng ta sẽ lên đường.” Nhưng nàng chẳng trả lời. Rồi người chồng xốc nàng lên lừa mình, và lên đường trở về nhà.
Về đến nhà, người chồng lấy dao chặt xác vợ thành từng mảnh và chia làm mười hai phần gửi đi khắp địa phận Y-sơ-ra-ên.
Mọi người thấy đều nói: “Từ khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập cho đến nay có bao giờ thấy sự việc như thế xảy ra chưa? Xin quý vị suy nghĩ điều đó, bàn luận và cho biết phải làm gì đây.”
Bấy giờ, toàn dân Y-sơ-ra-ên từ Đan đến Bê-e Sê-ba, luôn cả đất Ga-la-át, kéo ra như một người và nhóm họp trước mặt Đức Giê-hô-va tại Mích-pa.
Những thủ lĩnh của tất cả bộ tộc Y-sơ-ra-ên đều có mặt trong buổi nhóm họp của con dân Đức Chúa Trời. Có bốn trăm nghìn bộ binh, có tài đánh kiếm.
Người Bên-gia-min cũng đã nghe tin dân Y-sơ-ra-ên kéo lên Mích-pa. Dân Y-sơ-ra-ên nói: “Hãy thuật lại cho chúng tôi nghe hành động tội ác nầy đã xảy ra như thế nào?”
Người Lê-vi, chồng của thiếu phụ đã bị giết, nói: “Tôi đi đến Ghi-bê-a, là thành của bộ tộc Bên-gia-min, cùng với vợ bé tôi, để ngủ đêm tại đó.
Nhưng dân Ghi-bê-a nổi lên chống đối tôi, ban đêm chúng bao vây nhà tôi ở và định giết tôi. Chúng đã hãm hiếp vợ bé tôi và nàng đã chết.
Tôi lấy xác vợ bé tôi, chặt ra từng mảnh và gửi đi khắp địa phận thuộc sản nghiệp Y-sơ-ra-ên, vì chúng đã phạm trọng tội và làm điều sỉ nhục trong Y-sơ-ra-ên.
Nầy, toàn dân Y-sơ-ra-ên đều có mặt tại đây. Anh em hãy bàn luận với nhau xem phải đối phó như thế nào.”
Cả dân chúng đứng dậy như một người và nói: “Không một ai trong chúng ta được trở lại trại, cũng không ai được rút về nhà mình.
Bây giờ, đây là điều chúng ta phải làm đối với Ghi-bê-a: Chúng ta sẽ bắt thăm để biết ai sẽ đi lên đánh thành đó.
Trong mỗi bộ tộc Y-sơ-ra-ên, cứ một trăm người lấy mười người, cứ một nghìn người lấy một trăm người, và cứ mười nghìn người lấy một nghìn người để tải lương thực cho dân chúng. Còn những người khác sẽ đi trừng phạt Ghi-bê-a thuộc bộ tộc Bên-gia-min về sự đồi bại mà dân thành ấy đã phạm trong Y-sơ-ra-ên.”
Vậy toàn dân Y-sơ-ra-ên hiệp nhau lại như một người để tiến đánh thành ấy.
Các bộ tộc Y-sơ-ra-ên sai sứ giả đến bộ tộc Bên-gia-min và nói: “Tội ác mà các người đã phạm là gì?
Bây giờ, hãy giao nộp những kẻ đồi bại ở Ghi-bê-a để chúng tôi xử tử chúng, và diệt trừ điều ác khỏi Y-sơ-ra-ên.” Nhưng bộ tộc Bên-gia-min không chịu nghe anh em mình là dân Y-sơ-ra-ên.
Họ từ các thành kéo ra và tập hợp tại Ghi-bê-a để giao chiến với dân Y-sơ-ra-ên.
Trong ngày đó, bộ tộc Bên-gia-min tuyển được hai mươi sáu nghìn người nam có tài đánh kiếm từ các thành, cộng với bảy trăm lính tinh nhuệ sống tại Ghi-bê-a.
Trong toàn lực lượng nầy còn có bảy trăm quân tinh nhuệ trong Y-sơ-ra-ên, thuận tay trái, có tài dùng ná bắn đá bắn trúng một sợi tóc mà không trật.
Dân Y-sơ-ra-ên, không kể bộ tộc Bên-gia-min, cũng tuyển được bốn trăm nghìn người nam có tài đánh kiếm, và tất cả đều là chiến sĩ.
Vậy, dân Y-sơ-ra-ên trỗi dậy đi lên Bê-tên và cầu hỏi Đức Chúa Trời rằng: “Ai trong chúng con phải lên đánh bộ tộc Bên-gia-min trước?” Đức Giê-hô-va đáp: “Giu-đa sẽ đi lên trước.”
Sáng hôm sau, dân Y-sơ-ra-ên trỗi dậy kéo đến đóng trại gần Ghi-bê-a.
Dân Y-sơ-ra-ên tiến đánh bộ tộc Bên-gia-min và dàn trận đối đầu với chúng tại Ghi-bê-a.
Người Bên-gia-min từ Ghi-bê-a tiến ra, và trong ngày đó họ hạ sát hai mươi hai nghìn người Y-sơ-ra-ên.
Dân Y-sơ-ra-ên lấy lại tinh thần và dàn trận mới tại chính chỗ đã dàn trận hôm trước.
Dân Y-sơ-ra-ên đi lên và khóc trước mặt Đức Giê-hô-va cho đến chiều tối. Họ cầu hỏi Đức Giê-hô-va rằng: “Chúng con phải giao chiến với bộ tộc Bên-gia-min, là anh em của chúng con chăng?” Đức Giê-hô-va đáp: “Hãy lên đánh chúng!”
Ngày thứ nhì, dân Y-sơ-ra-ên kéo đến đánh bộ tộc Bên-gia-min.
Người Bên-gia-min cũng từ Ghi-bê-a kéo ra và nội ngày đó, họ đánh hạ mười tám nghìn người Y-sơ-ra-ên, và tất cả đều có tài đánh kiếm.
Bấy giờ, toàn dân Y-sơ-ra-ên đi lên Bê-tên, đứng tại đó và khóc trước mặt Đức Giê-hô-va. Họ kiêng ăn trong ngày ấy cho đến chiều tối và dâng tế lễ thiêu và tế lễ bình an trước mặt Đức Giê-hô-va.
Khi ấy, Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời ở tại đó, có Phi-nê-a, con trai Ê-lê-a-sa, cháu A-rôn, phụng sự trước mặt Đức Giê-hô-va. Vậy, dân Y-sơ-ra-ên cầu hỏi Đức Giê-hô-va rằng: “Chúng con phải giao chiến với bộ tộc Bên-gia-min, anh em chúng con, hay là chúng con phải dừng lại?” Đức Giê-hô-va đáp: “Hãy đi lên, vì ngày mai Ta sẽ phó chúng vào tay các con.”
Dân Y-sơ-ra-ên sai quân phục kích chung quanh Ghi-bê-a.
Ngày thứ ba, dân Y-sơ-ra-ên đi lên đánh bộ tộc Bên-gia-min và dàn trận đối diện với Ghi-bê-a như các lần trước.
Bộ tộc Bên-gia-min đón đánh dân Y-sơ-ra-ên và bị dụ ra xa khỏi thành. Như hai lần trước, chúng tiến đánh và giết khoảng ba mươi người Y-sơ-ra-ên trên con đường cái chia hai ngả chạy qua đồng bằng, một ngả lên Bê-tên và ngả kia lên Ghi-bê-a.
Bộ tộc Bên-gia-min nói: “Kìa, chúng bị chúng ta đánh bại như lần trước.” Nhưng dân Y-sơ-ra-ên bảo nhau: “Chúng ta hãy chạy trốn và dụ chúng ra xa khỏi thành cho đến đường cái.”
Tất cả người Y-sơ-ra-ên từ vị trí mình đứng dậy, dàn trận tại Ba-anh Tha-ma; còn quân phục kích của họ xông lên tấn công vào chỗ yếu nhất của thành Ghi-bê-a, là nơi không có lính canh bảo vệ.
Lúc ấy, mười nghìn quân tinh nhuệ Y-sơ-ra-ên tấn công phía trước Ghi-bê-a và chiến trận diễn ra ác liệt. Nhưng người Bên-gia-min không biết tai họa sắp ập tới mình.
Đức Giê-hô-va đánh bại người Bên-gia-min trước dân Y-sơ-ra-ên; và trong ngày đó, dân Y-sơ-ra-ên giết hai mươi lăm nghìn một trăm người Bên-gia-min, tất cả đều có tài đánh kiếm.
Người Bên-gia-min thấy rõ họ đã bị đánh bại. Dân Y-sơ-ra-ên nhường bước cho người Bên-gia-min, vì họ tin tưởng vào quân mai phục ở gần Ghi-bê-a.
Quân mai phục tấn công chớp nhoáng vào Ghi-bê-a, dùng gươm giết tất cả người trong thành.
Dân Y-sơ-ra-ên đã giao hẹn với đội quân mai phục là khi nào họ đốt một ngọn khói đen bốc lên khỏi thành để làm dấu hiệu,
thì dân Y-sơ-ra-ên quay lại giao chiến. Người Bên-gia-min bắt đầu đánh và giết chết chừng ba mươi người Y-sơ-ra-ên và nói: “Thật chúng bị chúng ta đánh bại như lần trước rồi!”
Nhưng khi trụ khói bắt đầu bốc lên khỏi thành, người Bên-gia-min quay lại nhìn thì thấy cả thành đều có khói bốc lên trời.
Bấy giờ, dân Y-sơ-ra-ên quay lại, và người Bên-gia-min kinh hãi vì thấy tai họa đã ập xuống họ.
Chúng quay lưng lại trước dân Y-sơ-ra-ên, chạy trốn về phía hoang mạc, nhưng chúng không thể thoát khỏi trận chiến. Quân Bên-gia-min từ các thành khác, ngay trong hàng ngũ của chúng, xông ra giết chúng.
Họ bao vây người Bên-gia-min, truy đuổi và tiêu diệt chúng cho đến tận phía đông của thành Ghi-bê-a.
Như vậy, có mười tám nghìn người Bên-gia-min đã ngã chết, tất cả đều là dũng sĩ.
Khi chúng quay lưng chạy trốn về phía hoang mạc, cho đến tảng đá Rim-môn, thì dân Y-sơ-ra-ên giết dọc đường năm nghìn người. Họ tiếp tục đuổi theo cho đến khi hạ được chúng và giết thêm hai nghìn người nữa.
Vậy, tổng số người Bên-gia-min ngã chết trong ngày đó là hai mươi lăm nghìn người có tài đánh kiếm và tất cả đều là dũng sĩ.
Nhưng có sáu trăm người quay lưng chạy trốn về phía hoang mạc cho đến tảng đá Rim-môn và ở đó bốn tháng.
Dân Y-sơ-ra-ên trở về đánh người Bên-gia-min, dùng gươm diệt tất cả người trong thành, súc vật và mọi vật gặp được. Đến thành nào thì họ phóng hỏa thành đó.
Tại Mích-pa, dân Y-sơ-ra-ên có thề rằng: “Không ai trong chúng ta sẽ gả con gái mình cho người Bên-gia-min.”
Dân chúng đến Bê-tên, ngồi tại đó trước mặt Đức Chúa Trời cho đến chiều tối và cất tiếng khóc lóc đắng cay.
Họ than thở: “Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, ngày nay thiếu mất một bộ tộc của Y-sơ-ra-ên. Tại sao tai họa nầy xảy đến cho chúng con?”
Ngày hôm sau, dân chúng thức dậy sớm, xây ở đó một bàn thờ, rồi dâng tế lễ thiêu và tế lễ bình an.
Dân Y-sơ-ra-ên hỏi: “Trong tất cả các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, có người nào không tập hợp trước mặt Đức Giê-hô-va chăng?” Vì họ đã long trọng thề rằng: “Người nào không đến trình diện Đức Giê-hô-va tại Mích-pa sẽ bị xử tử!”
Dân Y-sơ-ra-ên ăn năn về điều đã xảy đến cho bộ tộc Bên-gia-min, anh em mình, và nói: “Ngày nay, Y-sơ-ra-ên đã mất hẳn một bộ tộc.
Chúng ta phải làm sao để kiếm vợ cho những người còn sống sót, vì chúng ta đã nhân danh Đức Giê-hô-va thề sẽ không gả con gái của chúng ta cho họ?”
Vậy, họ hỏi: “Trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, có ai không đến trình diện Đức Giê-hô-va tại Mích-pa không?” Họ phát hiện không có một người nào từ Gia-be ở Ga-la-át đến trại để hội họp cả.
Vì khi điểm quân thì chẳng thấy người nào ở Gia-be vùng Ga-la-át cả.
Vậy, hội chúng sai mười hai nghìn người mạnh dạn nhất đến Gia-be và truyền lệnh: “Hãy đi, dùng gươm giết dân cư của Gia-be vùng Ga-la-át, kể cả đàn bà và trẻ em.”
Đây là điều anh em sẽ làm: “Hãy diệt tất cả người nam và những người nữ nào đã có chồng.”
Họ tìm được trong dân Gia-be ở Ga-la-át bốn trăm trinh nữ, chưa ăn ở với người nam nào, và dẫn chúng về trại quân tại Si-lô, trong đất Ca-na-an.
Toàn thể hội chúng sai sứ giả đến với người Bên-gia-min ở tại tảng đá Rim-môn để giải hòa với họ.
Người Bên-gia-min trở về và dân Y-sơ-ra-ên gả những người nữ Gia-be ở Ga-la-át còn sống sót cho họ làm vợ, nhưng không đủ cho mọi người.
Vậy dân chúng hối tiếc về việc đã xảy đến cho Bên-gia-min, vì Đức Giê-hô-va đã làm khuyết một trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên.
Các trưởng lão của hội chúng nói: “Chúng ta phải làm sao kiếm vợ cho những người còn lại, vì phụ nữ của bộ tộc Bên-gia-min đã bị tiêu diệt hết?”
Họ nói thêm: “Những người sống sót phải có người thừa kế sản nghiệp của Bên-gia-min để Y-sơ-ra-ên không bị mất một bộ tộc.
Tuy nhiên, chúng ta không thể gả con gái chúng ta cho họ được, vì dân Y-sơ-ra-ên có thề rằng: ‘Đáng nguyền rủa kẻ nào gả con gái cho người Bên-gia-min!’”
Vì vậy, họ nói: “Nầy, có một lễ hội hằng năm cho Đức Giê-hô-va tại Si-lô, phía bắc Bê-tên, phía đông của con đường đi từ Bê-tên lên Si-chem và phía nam Lê-bô-na.”
Vậy họ khuyên người Bên-gia-min: “Hãy đi, núp trong các vườn nho
và khi thấy các cô gái của Si-lô đi ra nhảy múa với nhau thì anh em từ các vườn nho chạy ra, mỗi người trong anh em bắt lấy một người vợ trong các cô gái trẻ của Si-lô, rồi trở về đất Bên-gia-min.
Khi cha hay anh của họ đến phàn nàn với chúng tôi thì chúng tôi sẽ trả lời: ‘Xin vì chúng tôi mà tha cho họ, vì trong lúc giặc giã, chúng tôi không bắt các nữ tù binh làm vợ cho chúng tôi. Hơn nữa, không phải anh em tự ý gả con gái cho họ, vì nếu như vậy, chắc anh em phải mắc tội.’”
Người Bên-gia-min làm theo như vậy. Trong khi các thiếu nữ đang nhảy múa, họ bắt một số đem về làm vợ, rồi trở về sản nghiệp mình. Họ xây lại thành và ở tại đó.
Bấy giờ, dân Y-sơ-ra-ên trở về với bộ tộc và gia đình của họ, mỗi người trở về trong sản nghiệp mình.
Thời ấy, Y-sơ-ra-ên không có vua. Mỗi người làm theo ý mình cho là phải.
Trong đời các quan xét, một nạn đói xảy ra trong xứ. Có một người từ Bết-lê-hem xứ Giu-đa cùng với vợ và hai con trai mình đến tạm trú trong xứ Mô-áp.
Người nầy tên là Ê-li-mê-léc, vợ tên là Na-ô-mi, hai con trai tên là Mạc-lôn và Ki-li-ôn; tất cả là người Ê-phơ-rát thuộc Bết-lê-hem trong xứ Giu-đa. Họ đến xứ Mô-áp và sinh sống ở đó.
Bấy giờ, chồng của Na-ô-mi là Ê-li-mê-léc qua đời để nàng lại với hai con trai.
Hai người con trai nầy cưới vợ là người Mô-áp. Một người tên là Ọt-ba và người kia tên là Ru-tơ. Họ ở tại đó khoảng mười năm.
Sau đó, Mạc-lôn và Ki-li-ôn cũng qua đời, để lại Na-ô-mi một mình, không chồng, không con.
Bấy giờ, khi còn ở xứ Mô-áp, Na-ô-mi nghe nói rằng Đức Giê-hô-va đã đoái thương dân Ngài và ban lương thực cho họ nên bà cùng với hai con dâu mình vội vàng từ xứ Mô-áp trở về.
Vậy bà rời chỗ mình đang ở, cùng hai con dâu lên đường trở về xứ Giu-đa.
Nhưng Na-ô-mi nói với hai con dâu mình rằng: “Các con mỗi người hãy trở về nhà mẹ mình đi. Cầu xin Đức Giê-hô-va tỏ lòng thương với hai con, như hai con đã tỏ lòng thương với mẹ và những người quá cố.
Nguyện Đức Giê-hô-va ban cho hai con được bình an nơi nhà chồng mới!” Rồi bà ôm hôn hai dâu mình và hai nàng òa lên khóc.
Hai nàng nói: “Chúng con sẽ đi với mẹ trở về quê hương của mẹ.”
Na-ô-mi trả lời: “Hai con gái của mẹ ơi, hãy trở về chứ đi với mẹ làm gì? Mẹ đâu còn các con trai trong lòng để có thể làm chồng các con được?
Các con của mẹ, hãy trở về đi! Mẹ già rồi, không lấy chồng được nữa. Mà cho dù mẹ có hi vọng lấy chồng tối nay và sẽ sinh con trai đi nữa,
chẳng lẽ các con cứ đợi cho đến khi chúng khôn lớn sao? Chẳng lẽ các con không lấy chồng khác sao? Không, con gái của mẹ, nỗi cay đắng của mẹ nhiều gấp bội các con, vì tay của Đức Giê-hô-va đã giơ ra giáng họa trên mẹ.”
Hai nàng lại òa lên khóc. Rồi Ọt-ba hôn từ biệt mẹ chồng mình, nhưng Ru-tơ không chịu lìa bà.
Na-ô-mi nói với Ru-tơ: “Nầy, chị con đã trở về quê hương và các thần của nó. Con hãy theo nó mà về đi!”
Nhưng Ru-tơ thưa: “Xin đừng ép con lìa bỏ mẹ Hoặc quay trở về! Mẹ đi đâu con sẽ đi theo đó; Mẹ ở nơi nào con sẽ ở nơi đó. Dân tộc của mẹ là dân tộc của con; Đức Chúa Trời của mẹ là Đức Chúa Trời của con.
Mẹ chết nơi nào, con cũng muốn chết Và được chôn nơi đó. Trừ cái chết ra, Nếu vì lý do nào khác khiến con lìa bỏ mẹ, Nguyện Đức Giê-hô-va giáng họa trên con!”
Na-ô-mi thấy nàng cương quyết đi theo mình thì không nói nữa.
Vậy hai người đi đến Bết-lê-hem. Khi họ đến Bết-lê-hem, cả thành đều xôn xao. Các phụ nữ hỏi: “Có phải Na-ô-mi đấy không?”
Bà trả lời họ: “Đừng gọi tôi là Na-ô-mi Mà hãy gọi tôi là Ma-ra, Vì Đấng Toàn Năng đã khiến tôi chịu nhiều cay đắng.
Tôi ra đi với của cải dư đầy, Nhưng Đức Giê-hô-va dắt tôi về tay không. Đức Giê-hô-va đã lên án tôi Và Đấng Toàn Năng khiến tôi chịu nhiều khốn khổ. Sao còn gọi tôi là Na-ô-mi làm gì?”
Thế là Na-ô-mi cùng với con dâu là Ru-tơ, người Mô-áp, từ xứ Mô-áp trở về. Hai người đến Bết-lê-hem vào đầu mùa gặt lúa mạch.
Na-ô-mi có một người bà con bên chồng tên là Bô-ô, một người có quyền thế và giàu có, thuộc gia tộc của Ê-li-mê-léc.
Ru-tơ, người Mô-áp, thưa với Na-ô-mi: “Xin cho con ra ngoài ruộng để mót lúa. Con sẽ theo sau người nào sẵn lòng cho con mót.” Na-ô-mi trả lời: “Con gái của mẹ, con cứ đi!”
Vậy Ru-tơ đi theo sau các thợ gặt và mót lúa trong một đám ruộng kia. Nàng may mắn gặp được đám ruộng của Bô-ô, thuộc gia tộc Ê-li-mê-léc.
Lúc ấy, Bô-ô từ Bết-lê-hem đến. Ông chào các thợ gặt: “Nguyện Đức Giê-hô-va ở cùng anh em!” Họ đáp lại: “Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho ông!”
Bô-ô hỏi người đầy tớ trông coi thợ gặt rằng: “Cô gái trẻ kia là con của ai thế?”
Người đầy tớ trông coi thợ gặt trả lời: “Đó là một thiếu phụ người Mô-áp từ xứ Mô-áp trở về cùng với Na-ô-mi.
Nàng có nói với chúng tôi rằng: ‘Xin cho phép tôi đi sau các thợ gặt để mót và lượm những gié lúa.’ Cô ta đến từ sáng và đứng mót cho đến bây giờ, chỉ nghỉ dưới chòi một lát.”
Bô-ô nói với Ru-tơ: “Nầy con gái ta, hãy nghe! Chớ đi mót trong ruộng khác và cũng đừng rời khỏi chỗ nầy. Hãy ở với các tớ gái ta
và xem họ gặt trong ruộng nào thì hãy đi theo sau họ. Ta đã cấm các đầy tớ ta đụng đến con. Nếu có khát, hãy đến uống nước mà các đầy tớ ta đã chứa sẵn trong các chum.”
Ru-tơ quỳ sấp mặt xuống đất mà thưa: “Vì sao con được ơn trước mặt ông khiến ông quan tâm đến con vốn là một người ngoại quốc?”
Bô-ô đáp: “Người ta có thuật cho ta nghe mọi điều con đã làm cho mẹ chồng con từ khi chồng con chết, và việc con lìa cha mẹ, quê hương mình để đi đến một dân tộc mà con không biết trước.
Nguyện Đức Giê-hô-va báo đáp điều con đã làm. Cầu xin Ngài ban thưởng cho con dư dật vì con đã đến núp dưới cánh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.”
Nàng thưa rằng: “Thưa chúa! Nguyện con cứ được ơn trước mặt chúa vì chúa đã an ủi và dùng lời tử tế nói với con là tớ gái chúa, dù con không ngang hàng với các tớ gái chúa!”
Đến bữa ăn, Bô-ô bảo nàng: “Hãy lại gần đây, lấy bánh chấm nước giấm mà ăn!” Vậy nàng ngồi gần bên các thợ gặt và ông đưa bắp rang cho nàng. Nàng ăn no nê và để dành phần còn dư.
Khi nàng đứng dậy đi mót, Bô-ô dặn bảo các đầy tớ: “Hãy để cho nàng mót lúa, dù có mót giữa các bó lúa cũng đừng làm nàng hổ thẹn.
Cũng hãy rút vài gié trong bó lúa bỏ rớt cho nàng mót và đừng trách móc nàng điều gì.”
Vậy Ru-tơ mót lúa trong ruộng cho đến chiều tối. Nàng đập lúa mình đã mót và đong được khoảng mười ký lúa mạch.
Nàng vác lúa trở vào trong thành, và mẹ chồng nàng thấy số lúa nàng đã mót. Ru-tơ cũng lấy phần ăn dư để dành mà trao cho bà.
Mẹ chồng hỏi: “Hôm nay con mót lúa ở đâu? Con làm việc ở đâu? Phước cho người đã quan tâm đến con!” Nàng thuật cho mẹ chồng biết nàng đã làm việc ở đâu. Nàng nói: “Người chủ ruộng nơi con làm việc hôm nay tên là Bô-ô.”
Na-ô-mi nói với con dâu mình rằng: “Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho Bô-ô vì Ngài không ngớt làm ơn cho người sống và kẻ chết!” Bà nói tiếp: “Người đó là bà con của chúng ta, là một trong những người có quyền chuộc lại sản nghiệp của chúng ta.”
Ru-tơ người Mô-áp nói tiếp: “Ông ấy còn nói với con rằng: ‘Hãy ở với các đầy tớ ta cho đến khi hết mùa gặt.’”
Na-ô-mi nói với Ru-tơ, dâu mình rằng: “Con gái của mẹ, thật tốt cho con đi theo các tớ gái của ông ấy, vì không chừng con sẽ gặp rắc rối nếu mót ở ruộng người khác.”
Vậy Ru-tơ ở với các tớ gái của Bô-ô để mót lúa cho đến hết mùa gặt lúa mạch và lúa mì. Nàng sống với mẹ chồng mình.
Na-ô-mi, mẹ chồng của Ru-tơ, nói với nàng: “Con gái của mẹ, mẹ phải lo cho con một chỗ an thân để con được hạnh phúc.
Bô-ô, người có các tớ gái mà con đã đi theo mót lúa, chẳng phải là bà con của chúng ta sao? Tối nay ông ấy sẽ đi sảy lúa mạch ở sân đập lúa.
Vậy con hãy tắm rửa, xức dầu thơm và mặc quần áo tốt nhất rồi đi xuống sân đập lúa, nhưng đừng để ông ấy thấy cho đến khi ông ấy ăn uống xong.
Khi ông ấy đi ngủ, hãy để ý xem ông nằm nơi nào rồi đến giở mền dưới chân ông và nằm xuống. Chính ông sẽ nói điều gì con phải làm.”
Nàng thưa rằng: “Con sẽ làm theo mọi điều mẹ dặn.”
Vậy nàng đi xuống sân đập lúa và làm theo mọi điều mẹ chồng mình đã dặn.
Khi ăn uống xong, trong lòng khoan khoái, Bô-ô đến nằm bên đống lúa mạch. Ru-tơ đi nhè nhẹ đến giở mền dưới chân ông ấy và nằm xuống.
Nửa đêm, Bô-ô giật mình, trở giấc thì thấy một phụ nữ nằm dưới chân mình.
Bô-ô hỏi: “Cô là ai?” Nàng đáp: “Con là Ru-tơ, tớ gái ông. Xin ông đắp mền trên tớ gái ông vì ông có quyền chuộc sản nghiệp con.”
Ông trả lời: “Nầy con gái ta, nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho con! Việc hiếu nghĩa của con làm lần nầy còn lớn hơn lần trước vì con chẳng chạy theo những gã trai trẻ, vô luận nghèo hay giàu.
Vậy bây giờ, hỡi con gái ta, đừng sợ gì cả, ta sẽ làm cho con mọi điều con xin, vì cả dân chúng trong thành ta đều biết con là một người phụ nữ đức hạnh.
Thật ta có quyền chuộc sản nghiệp con lại, nhưng có một người bà con khác gần hơn ta.
Hãy ở lại đêm nay. Sáng mai, nếu ông ấy muốn chuộc sản nghiệp con lại thì tốt; hãy để ông ấy làm việc đó. Nhưng nếu ông ấy không muốn chuộc sản nghiệp con lại thì ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề rằng, ta chắc chắn sẽ chuộc sản nghiệp con lại! Hãy ngủ lại đây cho đến sáng.”
Vậy nàng ngủ dưới chân của ông cho đến sáng rồi dậy sớm trước khi hai người ta có thể nhận ra nhau, vì Bô-ô nghĩ thầm rằng: “Đừng cho người ta biết có một phụ nữ vào sân đập lúa.”
Ông cũng nói: “Hãy đưa vạt áo choàng của con đang mặc và nắm lại cho chắc.” Nàng đưa vạt áo, ông đong và trút cho nàng sáu đấu lúa mạch. Sau đó, Bô-ô trở vào thành.
Ru-tơ trở về nhà mẹ chồng mình. Bà hỏi: “Việc thế nào rồi, con của mẹ?” Ru-tơ thuật cho bà nghe mọi điều Bô-ô đã làm cho mình.
Nàng nói: “Ông ấy có cho con hai mươi ký lúa mạch nầy và nói rằng: ‘Con chớ trở về cùng mẹ chồng với hai tay không’”
Na-ô-mi nói: “Nầy con của mẹ, hãy đợi xem sự việc diễn tiến thế nào, vì ông ấy không chịu ngồi yên đâu nhưng sẽ giải quyết việc nầy ngay hôm nay”
Bô-ô đi đến cổng thành và ngồi tại đó. Bấy giờ, người có quyền chuộc sản nghiệp mà Bô-ô đã nói cũng vừa đi ngang qua. Bô-ô nói: “Mời anh ghé lại ngồi đây.”
Kế đến, Bô-ô chọn mười người trong các trưởng lão của thành và nói: “Xin mời quý ông ngồi đây.” Các trưởng lão đều ngồi xuống.
Bô-ô nói với người có quyền chuộc sản nghiệp: “Na-ô-mi từ Mô-áp về có rao bán miếng đất của Ê-li-mê-léc là anh chúng ta.
Tôi thấy cần báo cho anh biết việc đó. Vậy trước sự chứng kiến của những người ngồi đây và trước mặt các trưởng lão của dân chúng, xin anh hãy mua sản nghiệp đó. Nếu anh muốn chuộc sản nghiệp đó lại thì hãy chuộc đi; nếu không thì hãy nói ra cho tôi biết. Vì trước anh không ai có quyền chuộc lại và sau anh, quyền nầy sẽ thuộc về tôi.” Người ấy đáp: “Tôi sẽ chuộc.”
Nhưng Bô-ô nói tiếp: “Khi mua ruộng từ tay Na-ô-mi thì anh cũng thay cho Ru-tơ người Mô-áp, vợ của người quá cố, mà mua ruộng ấy để lưu danh người quá cố trên sản nghiệp người ấy.”
Người có quyền chuộc sản nghiệp trả lời: “Nếu vậy thì tôi không thể chuộc được, sợ làm hại đến sản nghiệp của tôi. Xin anh hãy thay tôi chuộc sản nghiệp ấy vì tôi không thể chuộc được.”
Ngày xưa, trong Y-sơ-ra-ên có tục liên quan đến việc chuộc lại hay trao đổi nhau như sau: Để xác nhận một giao dịch, người nầy phải cởi giày mình mà trao cho người kia. Đó là cách xác chứng trong dân Y-sơ-ra-ên.
Vậy người có quyền chuộc sản nghiệp nói với Bô-ô rằng: “Xin anh chuộc sản nghiệp đó.” Rồi người ấy cởi giày mình ra.
Bấy giờ, Bô-ô nói với các trưởng lão và cả dân chúng: “Hôm nay, các ông làm chứng rằng tôi mua từ tay Na-ô-mi mọi tài sản thuộc về Ê-li-mê-léc, và tất cả những gì thuộc về Ki-li-ôn và Mạc-lôn
và cũng lấy Ru-tơ người Mô-áp, vợ của Mạc-lôn, làm vợ, để lưu danh người quá cố trên sản nghiệp người ấy, hầu cho danh người quá cố không bị mai một giữa anh em và quê hương mình. Hôm nay quý ông làm chứng về điều đó.”
Tất cả mọi người ở cổng thành và các trưởng lão đều nói: “Chúng tôi làm chứng về điều đó. Nguyện Đức Giê-hô-va làm cho người phụ nữ vào nhà anh giống như Ra-chên và Lê-a là hai người đã xây dựng nhà Y-sơ-ra-ên! Chúc cho anh được thịnh vượng ở Ép-ra-ta và được nổi danh ở Bết-lê-hem!
Nguyện dòng dõi mà Đức Giê-hô-va ban cho anh qua thiếu phụ nầy sẽ làm cho nhà anh giống như nhà của Pha-rết mà Tha-ma đã sinh cho Giu-đa vậy!”
Như vậy, Bô-ô cưới Ru-tơ làm vợ. Khi họ ăn ở với nhau, Đức Giê-hô-va cho nàng thụ thai và sinh một con trai.
Các phụ nữ trong thành nói với Na-ô-mi: “Chúc tụng Đức Giê-hô-va! Hôm nay Ngài chẳng từ chối ban cho bà một cháu trai, có quyền chuộc lại sản nghiệp. Nguyện cháu được nổi danh trong Y-sơ-ra-ên!
Đứa bé ấy sẽ an ủi lòng bà, nuôi dưỡng bà lúc về già, vì con dâu bà đã sinh nó cho bà. Con dâu bà còn quý hơn bảy con trai.”
Na-ô-mi bồng đứa trẻ để vào lòng mình và chăm sóc nó.
Các phụ nữ láng giềng đặt tên cho nó là Ô-bết và nói: “Một bé trai đã sinh cho Na-ô-mi.” Ô-bết là cha của Gie-sê, ông nội của Đa-vít.
Đây là dòng dõi của Pha-rết: Pha-rết sinh Hết-rôn.
Hết-rôn sinh Ram; Ram sinh A-mi-na-đáp;
A-mi-na-đáp sinh Na-ha-sôn; Na-ha-sôn sinh Sanh-ma;
Sanh-ma sinh Bô-ô; Bô-ô sinh Ô-bết;
Ô-bết sinh Gie-sê và Gie-sê sinh Đa-vít.
Có một người quê ở Ra-ma-tha-im Xô-phim, thuộc vùng đồi núi Ép-ra-im, tên là Ên-ca-na, con của Giê-rô-ham, cháu của Ê-li-hu, chắt của Tô-hu, chít của Xu-phơ, người Ép-ra-im.
Ên-ca-na có hai vợ, một người tên là An-ne, một người tên là Phê-ni-na. Phê-ni-na có con, còn An-ne thì không con.
Hằng năm, Ên-ca-na từ thành của mình đi lên để thờ phượng và dâng sinh tế cho Đức Giê-hô-va vạn quân tại Si-lô, nơi hai con trai của Hê-li, là Hóp-ni và Phi-nê-a, làm thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va.
Đến ngày Ên-ca-na dâng sinh tế, ông chia lễ vật ra cho vợ ông là bà Phê-ni-na, và cho tất cả các con trai và con gái của bà.
Nhưng ông lại dành cho bà An-ne một phần đặc biệt, vì ông yêu bà hơn, mặc dù Đức Giê-hô-va khiến bà hiếm muộn
Kẻ tranh cạnh với bà không ngớt khiêu khích để chọc tức bà, vì Đức Giê-hô-va đã khiến bà hiếm muộn.
Việc cứ xảy ra như thế năm nầy sang năm khác, mỗi khi bà lên đền thờ Đức Giê-hô-va, thì Phê-ni-na đều chọc tức bà. Vì vậy, bà khóc và không chịu ăn.
Ên-ca-na, chồng bà, hỏi: “An-ne, sao mình khóc? Sao không chịu ăn và buồn rầu đến thế? Tôi không đáng cho mình hơn mười đứa con trai sao?”
Sau khi mọi người đã ăn uống xong tại Si-lô, An-ne đứng dậy. Lúc ấy, thầy tế lễ Hê-li đang ngồi trên ghế gần bên trụ cửa đền thờ Đức Giê-hô-va.
Tâm hồn An-ne sầu khổ, bà vừa cầu khẩn Đức Giê-hô-va, vừa tuôn tràn nước mắt.
Bà khấn nguyện: “Lạy Đức Giê-hô-va vạn quân, nếu Ngài đoái xem nỗi sầu khổ của tớ gái Ngài, nhớ lại con và không quên ban cho tớ gái Ngài một con trai, thì con sẽ hiến dâng nó cho Đức Giê-hô-va trọn đời, và dao cạo sẽ không chạm đến đầu nó.”
Trong khi An-ne cầu nguyện thật lâu trước mặt Đức Giê-hô-va, thì Hê-li quan sát miệng bà.
Vì bà cầu nguyện thầm, chỉ mấp máy môi, không nghe được tiếng, nên ông nghĩ rằng bà say rượu,
và nói: “Bà còn say cho đến bao giờ? Hãy về dã rượu đi.”
An-ne trả lời: “Thưa chúa, không phải vậy! Tôi là một phụ nữ có tâm thần khốn khổ. Tôi không uống rượu hay những thứ làm cho say, nhưng tôi dốc đổ nỗi lòng tôi trước mặt Đức Giê-hô-va.
Xin đừng nghĩ rằng tớ gái của ông là một phụ nữ hư đốn, vì nỗi đau đớn và ưu phiền quá sức của tôi buộc tôi phải cầu khẩn cho đến bây giờ.”
Hê-li nói: “Bà hãy an tâm về nhà, nguyện Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên nhậm lời bà đã khẩn xin Ngài!”
An-ne thưa: “Nguyện tớ gái ông được ơn trước mặt ông.” Rồi bà trở về, ăn uống, và nét mặt không còn âu sầu nữa.
Sáng hôm sau, vợ chồng Ên-ca-na dậy sớm, thờ phượng Đức Giê-hô-va, rồi trở về nhà mình tại Ra-ma. Ên-ca-na ăn ở với An-ne, là vợ mình. Đức Giê-hô-va nhớ đến bà.
Thời gian trôi qua, An-ne đã thụ thai và sinh được một con trai, bà đặt tên là Sa-mu-ên, vì bà nói rằng: “Tôi đã cầu xin được nó từ nơi Đức Giê-hô-va.”
Ông Ên-ca-na cùng cả gia đình đi lên Si-lô để dâng cho Đức Giê-hô-va sinh tế hằng năm và tế lễ làm trọn lời khấn nguyện của mình.
Nhưng An-ne không đi lên, vì bà nói với chồng: “Khi đứa trẻ thôi bú, tôi sẽ dẫn nó lên, để nó ra mắt Đức Giê-hô-va, và ở đó mãi mãi.”
Chồng bà là Ên-ca-na nói: “Hãy làm theo điều mình cho là phải, ở lại đây cho đến khi mình dứt sữa cho con. Chỉ cầu xin Đức Giê-hô-va làm ứng nghiệm lời hứa của Ngài!” Vậy, An-ne ở lại nhà, cho con bú đến lúc dứt sữa nó.
Vừa khi đứa trẻ thôi bú, bà dẫn nó lên đền thờ Đức Giê-hô-va tại Si-lô, cùng đem theo ba con bò tơ đực, khoảng mười ký bột mì, và một bầu rượu. Sa-mu-ên hãy còn nhỏ lắm.
Họ giết con bò đực, rồi dẫn đứa trẻ đến Hê-li.
Bà nói: “Thưa chúa! Tôi chỉ mạng sống ông mà thề rằng tôi chính là người phụ nữ đã đứng tại đây, gần bên ông, để cầu khẩn Đức Giê-hô-va.
Tôi đã cầu nguyện để được đứa trẻ nầy, và Đức Giê-hô-va đã nhậm lời tôi khẩn xin Ngài.
Vì vậy, tôi hiến dâng nó cho Đức Giê-hô-va; nó thuộc về Đức Giê-hô-va trọn đời.” Rồi cậu bé Sa-mu-ên thờ phượng Đức Giê-hô-va tại đó.
Bấy giờ An-ne cầu nguyện: “Lòng con hoan hỉ trong Đức Giê-hô-va, Nhờ Đức Giê-hô-va, sức lực con phấn chấn. Miệng con cười nhạo kẻ thù con; Vì sự giải cứu của Ngài làm cho con vui mừng.
Chẳng ai thánh như Đức Giê-hô-va; Chẳng có Chúa nào khác ngoài Ngài! Không có tảng đá nào như Đức Chúa Trời của chúng ta.
Đừng nói những lời kiêu căng nữa! Chớ để những lời ngạo mạn ra từ miệng các ngươi! Vì Giê-hô-va là Đức Chúa Trời thông biết mọi điều, Ngài đánh giá mọi hành động.
Cây cung của dũng sĩ bị gãy, Nhưng người yếu đuối thắt lưng bằng sức mạnh.
Kẻ no phải làm mướn để kiếm ăn, Nhưng người đói không còn đói nữa. Người đàn bà hiếm muộn, sinh nở bảy lần, Còn người đông con, lại héo hon tiều tụy.
Đức Giê-hô-va khiến cho chết, cho sống; Ngài đem người xuống âm phủ, rồi lại đem lên khỏi đó.
Đức Giê-hô-va làm cho nghèo nàn, và làm cho giàu có; Ngài hạ người xuống thấp, cũng đưa người lên cao, Đem kẻ khốn cùng ra khỏi bụi đất, Và nhấc người nghèo khổ lên từ đống tro tàn, Đặt họ ngồi cạnh người quyền quý, Và cho họ thừa hưởng chỗ cao sang;
Vì các cột trụ của trái đất thuộc về Đức Giê-hô-va, Ngài đã đặt thế giới trên đó.
Ngài sẽ gìn giữ bước chân của người trung tín với Ngài; Còn những kẻ ác sẽ bị hủy diệt nơi tối tăm; Vì con người không do sức mạnh mà được thắng thế.
Những kẻ chống lại Đức Giê-hô-va sẽ bị đập tan! Từ trên trời cao, Đức Giê-hô-va sẽ giáng sấm sét trên chúng nó. Ngài sẽ xét xử toàn dân trên đất, Ban quyền lực cho người Ngài chọn làm vua, Và ban sức mạnh dồi dào cho người được Ngài xức dầu.”
Ên-ca-na trở về nhà mình tại Ra-ma, còn đứa trẻ ở lại phụng sự Đức Giê-hô-va, dưới sự hướng dẫn của thầy tế lễ Hê-li.
Lúc bấy giờ, hai con trai của Hê-li thật là đồi bại, không biết gì đến Đức Giê-hô-va.
Dù là thầy tế lễ, họ thường đối xử với dân chúng như thế nầy: Mỗi khi có ai dâng sinh tế, thì đầy tớ của thầy tế lễ đến trong lúc người ta đang nấu thịt, tay cầm xiên ba,
thọc vào trong cái chảo hoặc nồi, vạc, hay là chảo nhỏ. Hễ miếng nào dính vào xiên ba, thì thầy tế lễ lấy cho mình. Đó là cách họ đã làm tại Si-lô đối với tất cả những người Y-sơ-ra-ên đến đó.
Hơn nữa, trước khi người ta xông mỡ, đầy tớ của thầy tế lễ cũng đến nói với người dâng sinh tế rằng: “Hãy đưa thịt cho thầy tế lễ để nướng, vì ông sẽ không nhận thịt luộc, nhưng chỉ nhận thịt sống mà thôi.”
Nếu ai trả lời: “Hãy để người ta xông mỡ trước, sau đó ông sẽ lấy bất cứ thứ gì tùy ý,” thì người đầy tớ ấy nói: “Không! Phải đưa ngay bây giờ, nếu không, tôi sẽ giật lấy!”
Tội lỗi của hai thanh niên nầy thật nghiêm trọng đối với Đức Giê-hô-va, vì họ khinh thường các lễ vật dâng lên Đức Giê-hô-va.
Trong khi đó, Sa-mu-ên phụng sự trước mặt Đức Giê-hô-va. Cậu bé thắt một cái ê-phót bằng vải gai.
Mỗi năm, mẹ cậu may một cái áo choàng nhỏ đem cho cậu, khi bà cùng chồng lên dâng sinh tế hằng năm.
Hê-li chúc phước cho Ên-ca-na và An-ne rằng: “Cầu xin Đức Giê-hô-va cho người phụ nữ nầy sinh con cái cho ông, để thay thế đứa con bà đã cầu xin và đem dâng cho Đức Giê-hô-va!”. Sau đó, họ trở về nhà mình.
Đức Giê-hô-va đoái xem An-ne; bà thụ thai, và sinh được ba trai hai gái. Còn cậu bé Sa-mu-ên khôn lớn trước mặt Đức Giê-hô-va.
Bấy giờ, Hê-li tuổi đã cao. Ông nghe được mọi điều hai con trai mình làm cho cả Y-sơ-ra-ên, và việc chúng ăn nằm với các phụ nữ phục vụ tại cửa Lều Hội Kiến.
Ông nói với chúng: “Sao các con làm những việc như thế? Vì cha đã nghe mọi người nói về các việc xấu xa của các con.
Các con ơi, không được làm như vậy! Điều cha nghe về việc làm của các con không tốt lành gì, các con khiến cho con dân của Đức Giê-hô-va vấp phạm.
Nếu một người phạm tội với người khác, thì Đức Chúa Trời phán xét người đó; nhưng nếu người phạm tội với Đức Giê-hô-va, thì ai sẽ cầu thay cho?” Nhưng chúng không chịu nghe lời của cha mình, vì Đức Giê-hô-va định cho chúng phải chết.
Còn cậu bé Sa-mu-ên càng lớn lên, càng được đẹp lòng Đức Giê-hô-va và mọi người.
Có một người của Đức Chúa Trời đến nói với Hê-li: “Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Ta chẳng từng hiện ra một cách rõ ràng với nhà tổ phụ ngươi, khi họ còn ở tại Ai Cập, dưới triều Pha-ra-ôn sao?
Ta đã chọn nhà ấy trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, để làm thầy tế lễ cho Ta, dâng tế lễ trên bàn thờ Ta, xông hương, và mang ê-phót trước mặt Ta. Ta cũng đã cho phép dòng dõi tổ phụ ngươi giữ lại một phần trong các lễ vật mà dân Y-sơ-ra-ên dùng lửa dâng lên cho Ta.
Tại sao các ngươi coi thường những sinh tế và lễ vật mà Ta đã truyền dâng lên cho Ta mãi mãi? Ngươi coi trọng các con trai ngươi hơn Ta, và các ngươi nuôi mình béo mập bằng những lễ vật tốt nhất của Y-sơ-ra-ên, con dân Ta!’
Vì thế, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: ‘Ta đã từng phán rằng nhà của ngươi và nhà cha ngươi sẽ đời đời phục vụ trước mặt Ta.’ Nhưng bây giờ, Đức Giê-hô-va phán, điều đó chẳng còn được như vậy nữa! Vì ai coi trọng Ta sẽ được Ta coi trọng, còn ai coi thường Ta tất sẽ bị coi thường.
Kìa, trong những ngày đến, Ta sẽ hủy diệt sức mạnh của ngươi và sức mạnh của nhà cha ngươi, để không còn người già trong nhà của ngươi nữa.
Trong khi Đức Giê-hô-va ban cho Y-sơ-ra-ên muôn vàn phước hạnh, ngươi sẽ cảm thấy khốn khổ mãi mãi, và không ai trong gia đình ngươi sẽ sống đến tuổi già.
Còn người nào trong nhà ngươi mà Ta không truất khỏi bàn thờ Ta, là để làm cho mắt ngươi mòn mỏi, lòng ngươi âu sầu; nhưng hầu hết người nhà của ngươi sẽ chết lúc thanh xuân.
Điều sẽ xảy đến cho hai con của ngươi, là Hóp-ni và Phi-nê-a, là dấu hiệu cho ngươi: Cả hai đều sẽ chết trong cùng một ngày.
Ta sẽ lập lên cho Ta một thầy tế lễ trung tín, người sẽ làm theo lòng Ta và ý Ta. Ta sẽ ban cho người con cháu nối dòng, và dòng dõi người sẽ mãi mãi phục vụ trước mặt người được xức dầu của Ta.
Bất cứ ai còn sót lại trong nhà của ngươi đều đến phủ phục trước mặt người ấy, để được một miếng bạc và một ổ bánh, và họ sẽ nói rằng: ‘Xin ông hãy cho tôi dự phần vào chức tế lễ, để tôi được một miếng bánh ăn.’”
Bấy giờ, cậu bé Sa-mu-ên phụng sự Đức Giê-hô-va dưới sự hướng dẫn của Hê-li. Vào thời ấy, lời của Đức Giê-hô-va thật hiếm, và khải tượng ít khi xảy ra.
Một ngày kia, Hê-li đang nằm ngủ ở chỗ mình vẫn thường nằm, mắt ông bắt đầu mờ, không còn thấy được nữa.
Đèn của Đức Chúa Trời chưa tắt, và Sa-mu-ên đang nằm ngủ trong đền thờ Đức Giê-hô-va, là nơi có Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời.
Lúc ấy, Đức Giê-hô-va gọi Sa-mu-ên và cậu thưa: “Có con đây!”
Rồi cậu chạy đến Hê-li, và thưa: “Có con đây, vì ông đã gọi con.” Ông nói: “Ta không gọi, hãy ngủ lại đi!” Vậy, cậu đi ngủ lại.
Đức Giê-hô-va lại gọi lần nữa: “Hỡi Sa-mu-ên!” Sa-mu-ên trỗi dậy, đi đến với Hê-li, và thưa: “Có con đây, vì ông đã gọi con.” Ông nói: “Con ơi, ta không gọi, hãy ngủ lại đi!”
Lúc bấy giờ, Sa-mu-ên chưa biết Đức Giê-hô-va, và lời Đức Giê-hô-va chưa được bày tỏ cho cậu.
Đức Giê-hô-va tiếp tục gọi Sa-mu-ên lần thứ ba. Cậu trỗi dậy, đến với Hê-li, và thưa: “Có con đây, vì ông đã gọi con.” Khi ấy, Hê-li hiểu rằng Đức Giê-hô-va gọi đứa trẻ.
Vì vậy, Hê-li nói với Sa-mu-ên: “Hãy về ngủ đi, và nếu có ai gọi con thì con hãy nói: ‘Lạy Đức Giê-hô-va, xin phán dạy, vì đầy tớ Ngài đang nghe!’” Sa-mu-ên về nằm ngủ lại chỗ mình.
Đức Giê-hô-va đến đứng tại đó, gọi như các lần trước: “Hỡi Sa-mu-ên! Sa-mu-ên!” Sa-mu-ên thưa: “Xin Chúa phán, vì đầy tớ Ngài đang nghe!”
Đức Giê-hô-va phán với Sa-mu-ên: “Hãy xem! Ta sắp làm một việc trong Y-sơ-ra-ên mà ai nghe đến, đều phải lùng bùng cả hai tai.
Trong ngày đó, Ta sẽ làm ứng nghiệm tất cả mọi điều Ta đã báo trước cho nhà Hê-li, từ đầu đến cuối.
Ta đã báo trước rằng Ta sẽ trừng phạt nhà Hê-li đến đời đời, vì người đã biết tội lỗi đáng nguyền rủa của các con trai mình mà không ngăn cấm.
Vì thế, Ta thề cùng nhà Hê-li rằng tội của nhà ấy sẽ không bao giờ chuộc được bằng sinh tế hay lễ vật.”
Sa-mu-ên nằm ngủ cho đến sáng, rồi mở các cửa đền thờ Đức Giê-hô-va. Sa-mu-ên sợ phải thuật lại khải tượng nầy cho Hê-li.
Nhưng Hê-li gọi Sa-mu-ên: “Sa-mu-ên, con ta!” Cậu thưa: “Dạ, con đây.”
Ông nói: “Đức Giê-hô-va đã phán với con điều gì? Con đừng giấu ta chi hết. Nếu con giấu ta bất cứ điều nào trong mọi điều Ngài đã phán với con, nguyện Đức Chúa Trời phạt con nặng nề.”
Vậy, Sa-mu-ên thuật lại tất cả mọi điều, không giấu gì với ông. Hê-li nói: “Ấy là Đức Giê-hô-va, nguyện Ngài làm điều đẹp ý Ngài!”
Sa-mu-ên khôn lớn, Đức Giê-hô-va ở với người: Ngài không để một lời nào của người ra vô ích.
Toàn thể Y-sơ-ra-ên, từ Đan cho đến Bê-e Sê-ba, đều biết rằng Sa-mu-ên được lập làm nhà tiên tri của Đức Giê-hô-va.
Đức Giê-hô-va tiếp tục hiện ra tại Si-lô; vì tại đó, Đức Giê-hô-va mặc khải cho Sa-mu-ên qua lời của Ngài.
Lời của Sa-mu-ên đến với toàn thể Y-sơ-ra-ên. Lúc bấy giờ, Y-sơ-ra-ên đi ra giao chiến với người Phi-li-tin, và họ đóng trại gần Ê-bên Ê-xe, còn người Phi-li-tin đóng trại tại A-phéc.
Người Phi-li-tin dàn trận đánh dân Y-sơ-ra-ên. Lúc giao chiến, dân Y-sơ-ra-ên bị người Phi-li-tin đánh bại và giết tại chiến trường khoảng bốn nghìn người.
Khi dân chúng trở về trại quân, các trưởng lão Y-sơ-ra-ên nói: “Tại sao ngày nay Đức Giê-hô-va để cho chúng ta bị người Phi-li-tin đánh bại? Chúng ta hãy đi thỉnh Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va từ Si-lô đến đây, để Hòm Giao Ước ở giữa chúng ta và sẽ giải cứu chúng ta khỏi tay các kẻ thù!”
Vậy, dân chúng sai người đến Si-lô. Từ đó, họ thỉnh Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va vạn quân, là Đấng ngự giữa các chê-ru-bim. Hai con trai của Hê-li, là Hóp-ni và Phi-nê-a, đi theo Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời.
Khi Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va vào trại quân, toàn thể Y-sơ-ra-ên đều reo hò vang dội, đến nỗi đất phải rúng động.
Nghe tiếng reo hò ấy, người Phi-li-tin hỏi: “Tiếng reo hò vang dội trong trại quân Hê-bơ-rơ kia có nghĩa gì?” Khi biết rằng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va đã đến trong trại quân
thì người Phi-li-tin sợ hãi, vì họ nói rằng: “Một vị thần đã đến trong trại quân.” Rồi họ kêu lên: “Khốn nạn cho chúng ta thay! Vì trước đây chưa bao giờ có việc như thế xảy ra!
Khốn nạn cho chúng ta thay! Ai sẽ giải cứu chúng ta khỏi tay các thần quyền năng nầy? Đây là các thần đã trừng phạt người Ai Cập bằng đủ thứ tai họa trong hoang mạc.
Hỡi người Phi-li-tin, hãy can đảm lên, hãy tỏ ra là nam nhi! Nếu không, anh em sẽ trở thành nô lệ cho người Hê-bơ-rơ như họ đã từng làm nô lệ cho anh em! Hãy tỏ ra là nam nhi và chiến đấu đi!”
Người Phi-li-tin chiến đấu, và Y-sơ-ra-ên bị đánh bại, mỗi người chạy trốn về trại mình. Đó là một thảm bại, có ba mươi nghìn bộ binh Y-sơ-ra-ên bị ngã chết.
Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời bị chiếm đoạt, còn hai con trai Hê-li, là Hóp-ni và Phi-nê-a, đều chết.
Cũng trong ngày đó, một người Bên-gia-min chạy thoát từ chiến trường về đến Si-lô, quần áo rách rưới, đầu đầy bụi đất.
Người ấy đến trong lúc Hê-li đang ngồi trên ghế ở bên đường, bồn chồn trông tin, vì lòng ông đang lo lắng về Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời. Khi người ấy vào thành báo tin, thì cả thành đều kêu gào lên.
Nghe tiếng kêu la, Hê-li hỏi: “Tiếng ồn ào nầy là gì vậy?” Người đó vội vàng đến báo tin cho Hê-li.
Bấy giờ, Hê-li đã chín mươi tám tuổi, mắt ông đã mù, không thể thấy được.
Người đó nói với Hê-li: “Hôm nay con đã trốn thoát khỏi trận địa, và từ chiến trường về đây.” Hê-li hỏi: “Con ơi, điều gì đã xảy ra?”
Người đưa tin trả lời: “Y-sơ-ra-ên đã chạy trốn trước mặt người Phi-li-tin, dân ta bị đánh bại nặng nề. Hai con trai của ông, là Hóp-ni và Phi-nê-a, đều đã chết, và Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời bị chiếm đoạt.”
Người ấy vừa nói đến Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời thì Hê-li từ trên ghế đặt bên cổng ngã ngửa xuống, gãy cổ và chết; vì ông đã già yếu mà lại nặng nề. Ông đã làm quan xét cho Y-sơ-ra-ên trong bốn mươi năm.
Lúc ấy con dâu của ông, là vợ của Phi-nê-a, đang có thai, gần ngày sinh. Khi nàng nghe tin Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời bị chiếm đoạt, và hay rằng cha chồng và chồng mình đều đã chết, thì thình lình lên cơn đau, gập người xuống và sinh con.
Lúc nàng sắp chết, những người đàn bà có mặt tại đó nói: “Đừng sợ, vì chị đã sinh được một con trai!” Nhưng nàng không trả lời, cũng không quan tâm đến.
Nàng đặt tên cho đứa trẻ là Y-ca-bốt, vì nàng nói: “Vinh quang đã lìa khỏi Y-sơ-ra-ên!”; nàng ngụ ý về việc mất Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời, và về sự chết của cha chồng và chồng mình.
Nàng lại tiếp: “Vinh quang đã lìa khỏi Y-sơ-ra-ên, vì Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời đã bị chiếm đoạt!”
Khi chiếm được Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời, người Phi-li-tin đem Hòm Giao Ước từ Ê-bên Ê-xe đến Ách-đốt.
Sau đó, họ đem Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời đặt trong đền của thần Đa-gôn, để bên cạnh tượng Đa-gôn.
Hôm sau, dân thành Ách-đốt dậy sớm thấy Đa-gôn ngã sấp mặt xuống đất, trước mặt Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va. Họ đem Đa-gôn đặt lại chỗ cũ.
Sáng hôm sau, họ cũng dậy sớm, và kìa, Đa-gôn lại ngã sấp mặt xuống đất trước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va, đầu và cả hai tay đều rơi ra nằm trên ngưỡng cửa, chỉ còn lại thân mà thôi.
Vì thế, cho đến ngày nay, những thầy tế lễ của Đa-gôn, và tất cả những ai vào đền của Đa-gôn đều không giẫm lên ngưỡng cửa đền Đa-gôn tại Ách-đốt.
Nhưng Đức Giê-hô-va ra tay nặng nề trên dân thành Ách-đốt, Ngài khiến cho cả thành và vùng phụ cận phải kinh hãi và đau đớn vì mắc bệnh bướu độc.
Khi người Ách-đốt thấy vậy, thì họ nói: “Hòm Giao Ước Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên không thể tiếp tục ở với chúng ta nữa, vì Ngài đã thẳng tay trừng phạt chúng ta và thần Đa-gôn của chúng ta.”
Vậy, họ sai người mời tất cả các lãnh chúa của người Phi-li-tin đến và hỏi: “Chúng ta sẽ làm gì với Hòm Giao Ước Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên?” Các lãnh chúa trả lời: “Phải đem Hòm Giao Ước Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đến Gát.” Và họ đem Hòm Giao Ước Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đến đó.
Nhưng khi họ đem Hòm Giao Ước đến Gát thì Đức Giê-hô-va ra tay trên thành ấy, khiến cả thành kinh khiếp hãi hùng. Ngài đánh dân thành đó, từ trẻ con đến người lớn đều phát bệnh bướu độc.
Bấy giờ, họ gửi Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời đến Éc-rôn. Khi Hòm Giao Ước đến Éc-rôn, thì người Éc-rôn kêu la rằng: “Họ đem Hòm Giao Ước Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đến để giết chúng ta và dân chúng ta!”
Vì vậy, họ lại sai người mời tất cả các lãnh chúa của người Phi-li-tin, và nói: “Hãy gửi trả Hòm Giao Ước Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, để nó trở về nơi cũ, nếu không, chúng ta và dân ta sẽ chết mất!” Vì tất cả các thành đều kinh hoàng trước cảnh chết chóc. Đức Chúa Trời đã ra tay rất nặng nề tại đó.
Những người nào không chết thì bị bệnh bướu độc hành hạ đau đớn, và tiếng kêu la trong thành lên đến tận trời.
Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va ở trong lãnh thổ người Phi-li-tin bảy tháng.
Lúc đó, người Phi-li-tin gọi những thầy tế lễ và thuật sĩ đến, và hỏi: “Chúng tôi phải làm gì đối với Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va? Hãy cho chúng tôi biết phải trả hòm ấy về nơi cũ bằng cách nào?”
Họ trả lời: “Nếu anh em trả lại Hòm Giao Ước Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên thì đừng gửi đi không, nhưng phải trả cho Ngài lễ vật chuộc tội, rồi anh em sẽ được chữa lành, và sẽ biết tại sao tay Ngài không rời khỏi anh em.”
Người Phi-li-tin hỏi: “Lễ vật chuộc tội mà chúng tôi phải trả cho Ngài là gì?” Họ đáp: “Năm hình bướu bằng vàng, và năm con chuột bằng vàng, theo số các lãnh chúa của người Phi-li-tin, vì cùng một tai họa đã giáng trên anh em và các lãnh chúa của anh em.
Vậy, anh em phải làm các hình bướu và những hình chuột phá hoại xứ sở, và hãy tôn vinh Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Có lẽ Ngài sẽ nhẹ tay trên anh em, trên các thần và trên xứ sở của anh em.
Tại sao anh em cứng lòng như người Ai Cập và Pha-ra-ôn đã cứng lòng? Sau khi Ngài hành hạ họ, chẳng phải họ đã để cho Y-sơ-ra-ên ra đi sao?
Bây giờ, hãy đóng một cỗ xe mới, và bắt hai con bò cái còn cho con bú, chưa mang ách, thắng chúng vào xe, nhưng tách các con chúng ra mà đưa vào chuồng.
Hãy đem Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va đặt trên xe. Còn tất cả đồ bằng vàng mà anh em dâng trả cho Đức Giê-hô-va làm lễ vật chuộc tội, hãy để trong một cái hộp và đặt nó ở bên cạnh. Rồi hãy để cho bò kéo xe đi.
Anh em hãy dõi xem: Nếu Hòm Giao Ước đi lên hướng xứ nó, tức về hướng Bết Sê-mết, thì chính Ngài đã giáng đại họa nầy trên chúng ta. Nếu không, thì chúng ta biết rằng chẳng phải Ngài đã ra tay trừng phạt chúng ta, nhưng tai họa nầy xảy đến tình cờ mà thôi.”
Người Phi-li-tin đã làm đúng như vậy. Họ bắt hai con bò cái còn cho con bú, thắng vào cỗ xe, rồi nhốt các con chúng trong chuồng.
Họ đặt Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va trên xe, cùng với cái hộp có chuột bằng vàng và hình bướu.
Hai con bò cái đi thẳng theo hướng về Bết Sê-mết. Chúng cứ theo đường cái mà đi, vừa đi vừa rống, không quay qua bên phải, cũng không quay qua bên trái. Các lãnh chúa Phi-li-tin đi theo sau chúng cho đến biên giới Bết Sê-mết.
Bấy giờ, người Bết Sê-mết đang gặt lúa mì trong thung lũng, ngước mắt lên thấy Hòm Giao Ước thì họ rất vui mừng.
Cỗ xe đến cánh đồng của Giô-suê, người Bết Sê-mết, và dừng lại tại đó. Nơi ấy có một tảng đá lớn, họ chẻ gỗ xe làm củi, còn hai con bò cái thì họ làm tế lễ thiêu dâng lên Đức Giê-hô-va.
Người Lê-vi đem Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va xuống khỏi xe, cùng với hộp đựng những lễ vật bằng vàng. Họ đặt tất cả trên tảng đá lớn. Trong ngày đó, người Bết Sê-mết dâng những tế lễ thiêu và các lễ vật khác lên Đức Giê-hô-va.
Sau khi đã chứng kiến mọi việc, năm lãnh chúa Phi-li-tin trở về Éc-rôn trong ngày đó.
Đây là những hình bướu bằng vàng mà người Phi-li-tin dâng cho Đức Giê-hô-va làm lễ vật chuộc tội: một cho Ách-đốt, một cho Ga-xa, một cho Ách-kê-lôn, một cho Gát, và một cho Éc-rôn.
Các con chuột bằng vàng cũng theo số thành Phi-li-tin thuộc về năm lãnh chúa, gồm cả thành kiên cố và làng quê, trải dài đến tảng đá lớn, nơi họ đặt Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va trong cánh đồng của Giô-suê, người Bết Sê-mết. Tảng đá lớn ấy vẫn còn cho đến ngày nay.
Đức Giê-hô-va trừng phạt người Bết Sê-mết vì họ đã nhìn vào Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va. Ngài đã phạt bảy mươi người trong số họ phải chết. Dân chúng than khóc vì Đức Giê-hô-va đã giáng trên họ một tai họa nặng nề.
Bấy giờ, người Bết Sê-mết nói: “Ai có thể đứng được trước mặt Giê-hô-va là Đức Chúa Trời thánh khiết nầy? Khi Hòm Giao Ước lìa khỏi chúng ta, thì sẽ đi đến với ai?”
Rồi họ sai sứ giả đến người Ki-ri-át Giê-a-rim và nói: “Người Phi-li-tin đã trả lại Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va, hãy xuống đem về với anh em.”
Người Ki-ri-át Giê-a-rim đến thỉnh Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va đem vào nhà A-bi-na-đáp ở trên đồi, rồi biệt riêng con trai ông là Ê-lê-a-sa trông coi Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va.
Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va được đặt tại Ki-ri-át Giê-a-rim trong một thời gian dài, khoảng hai mươi năm. Cả nhà Y-sơ-ra-ên đều than khóc và tìm kiếm Đức Giê-hô-va.
Bấy giờ, Sa-mu-ên nói với cả nhà Y-sơ-ra-ên: “Nếu anh em hết lòng trở lại với Đức Giê-hô-va, thì hãy loại bỏ khỏi anh em những thần lạ và tượng nữ thần Át-tạt-tê. Hãy hướng lòng về Đức Giê-hô-va và chỉ phụng sự một mình Ngài mà thôi, thì Ngài sẽ giải cứu anh em khỏi tay người Phi-li-tin.”
Dân Y-sơ-ra-ên loại bỏ những tượng thần Ba-anh và nữ thần Át-tạt-tê, chỉ phụng sự một mình Đức Giê-hô-va mà thôi.
Sau đó, Sa-mu-ên bảo: “Hãy tập hợp toàn thể Y-sơ-ra-ên tại Mích-pa, tôi sẽ cầu nguyện với Đức Giê-hô-va cho anh em.”
Vậy, họ tập hợp tại Mích-pa, múc nước đổ ra dâng lên Đức Giê-hô-va. Trong ngày đó, họ kiêng ăn, và tại đó họ xưng nhận rằng: “Chúng tôi đã phạm tội với Đức Giê-hô-va.” Sa-mu-ên xét xử dân Y-sơ-ra-ên tại Mích-pa.
Khi người Phi-li-tin nghe tin dân Y-sơ-ra-ên tập hợp tại Mích-pa, thì các lãnh chúa Phi-li-tin lên đánh Y-sơ-ra-ên. Dân Y-sơ-ra-ên nghe tin nầy và run sợ trước người Phi-li-tin,
họ nói với Sa-mu-ên: “Xin ông không ngừng kêu cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời cho chúng tôi, để Ngài giải cứu chúng ta khỏi tay người Phi-li-tin.”
Sa-mu-ên bắt một chiên con còn bú, làm tế lễ toàn thiêu dâng lên Đức Giê-hô-va. Sau đó, Sa-mu-ên cầu khẩn Đức Giê-hô-va cho Y-sơ-ra-ên, và Đức Giê-hô-va nhậm lời ông.
Trong lúc Sa-mu-ên dâng tế lễ thiêu, người Phi-li-tin kéo đến gần để giao chiến với Y-sơ-ra-ên. Nhưng trong ngày đó Đức Giê-hô-va khiến sấm sét nổ vang trên người Phi-li-tin, làm cho chúng hỗn loạn, và chúng bị đánh bại trước mặt người Y-sơ-ra-ên.
Từ Mích-pa, người Y-sơ-ra-ên đi ra, đuổi theo người Phi-li-tin, và đánh chúng cho đến phía dưới Bết-cạt.
Bấy giờ, Sa-mu-ên lấy một tảng đá đặt giữa Mích-pa và Sen, đặt tên là Ê-bên Ê-xe, vì ông nói: “Đức Giê-hô-va đã cứu giúp chúng ta cho đến bây giờ.”
Người Phi-li-tin bị khuất phục, không còn xâm lấn lãnh thổ của Y-sơ-ra-ên nữa. Trọn đời Sa-mu-ên, tay của Đức Giê-hô-va chống lại người Phi-li-tin.
Các thành mà người Phi-li-tin đã chiếm lấy của Y-sơ-ra-ên, từ Éc-rôn đến Gát, đều được trả lại cho Y-sơ-ra-ên. Dân Y-sơ-ra-ên giải phóng địa phận các thành ấy khỏi tay người Phi-li-tin. Hòa bình cũng được lập lại giữa Y-sơ-ra-ên và dân A-mô-rít.
Sa-mu-ên làm quan xét của Y-sơ-ra-ên trọn đời mình.
Hằng năm ông tuần tra khắp Bê-tên, Ghinh-ganh, Mích-pa và xét xử Y-sơ-ra-ên trong tất cả các thành ấy.
Rồi ông trở về Ra-ma, vì nhà ông ở đó. Ở Ra-ma, ông cũng xét xử Y-sơ-ra-ên, và lập tại đó một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va.
Khi đã già, Sa-mu-ên lập các con trai mình làm quan xét cho Y-sơ-ra-ên.
Tên người con trưởng là Giô-ên, người con thứ là A-bi-gia; họ xét xử tại Bê-e Sê-ba.
Nhưng các con trai ông không đi theo đường lối của ông; họ chạy theo lợi lộc, nhận hối lộ, và làm sai lệch công lý.
Tất cả các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đều tập hợp lại và đến với Sa-mu-ên tại Ra-ma.
Họ nói với ông: “Kìa, ông đã già yếu, các con trai ông lại không đi theo đường lối của ông. Bây giờ, xin hãy lập một vua để cai trị chúng tôi như tất cả các nước khác!”
Lời họ nói “Hãy cho chúng tôi có một vua để cai trị chúng tôi!” làm Sa-mu-ên buồn bực. Vì thế, Sa-mu-ên cầu khẩn Đức Giê-hô-va.
Đức Giê-hô-va phán với Sa-mu-ên: “Hãy lắng nghe mọi lời của dân chúng nói với con, vì không phải họ từ khước con đâu, mà từ khước Ta, để Ta không còn làm Vua của họ nữa.
Theo như cách họ vẫn đối xử với Ta từ khi Ta đem họ ra khỏi Ai Cập cho đến ngày nay: Họ đã chối bỏ Ta để phục vụ các thần khác, nay họ cũng đối xử với con như thế!
Vậy bây giờ, hãy nghe theo tiếng của họ. Tuy nhiên, con phải nghiêm khắc cảnh cáo và cho họ biết cách thức vua sẽ cai trị họ.”
Sa-mu-ên thuật lại mọi lời của Đức Giê-hô-va cho dân chúng khi họ xin ông một vua.
Ông nói: “Đây là cách mà vua sẽ cai trị anh em: Vua sẽ bắt con trai anh em làm người đánh xe ngựa chiến, hoặc làm kỵ binh, hoặc chạy trước xe của vua.
Người sẽ lập chúng làm chỉ huy trưởng nghìn người hoặc chỉ huy trưởng năm mươi người, hoặc bắt chúng cày ruộng, gặt hái, chế tạo vũ khí và các thiết bị của xe vua.
Người sẽ bắt con gái anh em làm thợ pha chế nước hoa, nấu bếp và làm bánh.
Vua sẽ lấy đồng ruộng, vườn nho, và vườn cây ô-liu tốt nhất của anh em mà cấp cho quần thần mình.
Vua sẽ đánh thuế một phần mười trên ngũ cốc và vườn nho của anh em, để cấp cho các quan chức và quần thần mình.
Vua sẽ bắt những tôi trai, tớ gái, những thanh niên ưu tú nhất của anh em, và cả bầy lừa của anh em, mà dùng vào công việc người.
Vua sẽ đánh thuế một phần mười trên những bầy chiên của anh em, và anh em sẽ làm nô lệ cho người.
Bấy giờ, anh em sẽ kêu la vì cớ vua mà chính anh em đã chọn cho mình, nhưng lúc đó Đức Giê-hô-va sẽ không nghe anh em đâu.”
Nhưng dân chúng từ chối nghe theo lời của Sa-mu-ên, và họ nói: “Không! Dù sao chúng tôi cũng phải có một vua.
Chúng tôi cũng giống như tất cả các nước khác; vua chúng tôi sẽ cai trị chúng tôi, đi ra dẫn đầu chúng tôi và chiến đấu cho chúng tôi.”
Sa-mu-ên nghe tất cả những lời của dân chúng, và thưa lại với Đức Giê-hô-va.
Đức Giê-hô-va phán với Sa-mu-ên: “Hãy nghe theo lời của họ và lập cho họ một vua.” Sau đó, Sa-mu-ên nói với người Y-sơ-ra-ên: “Mọi người hãy trở về thành của mình.”
Bấy giờ, có một người thuộc bộ tộc Bên-gia-min, có thế lực và giàu có, tên là Kích. Ông là con của A-bi-ên, cháu của Xê-rô, chắt của Bê-cô-rát, chít của A-phi-ác, là con của một người Bên-gia-min.
Kích có một con trai tên là Sau-lơ, còn trẻ và đẹp trai. Trong dân Y-sơ-ra-ên, không có người nào đẹp trai bằng chàng. Sau-lơ cao hơn mọi người từ vai trở lên.
Một hôm, mấy con lừa cái của Kích bị lạc. Ông bảo Sau-lơ, con mình: “Hãy đem một trong các đầy tớ theo với con và lên đường đi tìm lừa.”
Sau-lơ đi khắp vùng đồi núi Ép-ra-im, trải qua vùng đất Sa-li-sa, nhưng không tìm được. Tiếp đó, họ đi ngang qua đất Sa-lim, địa phận Bên-gia-min, nhưng cũng không gặp.
Khi đến đất Xu-phơ, Sau-lơ nói với người đầy tớ cùng đi với mình: “Nầy, chúng ta hãy trở về, kẻo cha tôi không còn nghĩ đến việc mất lừa, mà lại lo lắng cho chúng ta đấy!”
Người đầy tớ nói: “Kìa! Trong thành nầy có một người của Đức Chúa Trời, là người rất được tôn trọng; tất cả những gì ông nói đều chắc chắn xảy ra. Vậy, chúng ta hãy đi đến đó, có lẽ ông ấy sẽ chỉ cho chúng ta con đường phải đi.”
Sau-lơ nói với đầy tớ mình: “Phải, nhưng nếu đi đến đó, chúng ta sẽ đem gì đến cho người? Vì bánh trong các bao của chúng ta đều hết, và chúng ta không còn một lễ vật nào để đem đến cho người của Đức Chúa Trời! Chúng ta còn gì đâu?”
Người đầy tớ lại nói tiếp: “Đây, tôi đang có trong tay khoảng ba gam bạc. Tôi sẽ dâng bạc đó cho người của Đức Chúa Trời, rồi người sẽ chỉ đường cho chúng ta.”
(Ngày xưa, trong Y-sơ-ra-ên, khi người ta đi thỉnh ý Đức Chúa Trời, thì thường nói: “Hãy đến! Chúng ta hãy đi gặp nhà tiên kiến”; vì người mà ngày nay người ta gọi là nhà tiên tri, ngày xưa được gọi là nhà tiên kiến.)
Sau-lơ nói với người đầy tớ: “Được, chúng ta hãy đi!” Rồi họ đi đến thành có người của Đức Chúa Trời đang ở.
Họ đang đi trên con đường dốc lên thành thì gặp các cô gái đi ra múc nước, họ hỏi: “Nhà tiên kiến có ở đây không?”
Các cô gái đáp: “Có, người vừa đi trước các ông đó! Hãy đi nhanh lên, người mới vừa đến thành vì hôm nay dân chúng có buổi tế lễ tại nơi cao.
Ngay khi vào thành, các ông sẽ gặp người trước khi người lên nơi cao để dự lễ. Dân chúng sẽ không ăn trước khi người đến, vì người phải chúc phước cho sinh tế; sau đó, các khách dự tiệc mới ăn. Vậy, bây giờ hãy lên đi, vì hôm nay các ông chắc sẽ gặp người.”
Họ đi lên thành. Khi vừa vào thành, họ thấy Sa-mu-ên đang đi ra về phía họ trên đường lên nơi cao.
Một ngày trước khi Sau-lơ đến, Đức Giê-hô-va đã bày tỏ cho Sa-mu-ên biết:
“Ngày mai, vào giờ nầy, Ta sẽ sai một người từ địa phận Bên-gia-min đến với con và con sẽ xức dầu cho người làm lãnh tụ của dân Y-sơ-ra-ên Ta. Người ấy sẽ giải cứu dân Ta khỏi tay người Phi-li-tin, vì Ta đã đoái xem dân Ta, và tiếng kêu than của họ đã thấu đến Ta.”
Khi Sa-mu-ên vừa thấy Sau-lơ thì Đức Giê-hô-va phán bảo ông: “Kìa là người mà Ta đã nói với con! Ấy chính là người sẽ cai trị dân Ta.”
Sau-lơ đến gần Sa-mu-ên ở giữa cổng thành và hỏi: “Xin ông làm ơn chỉ giùm tôi nhà của người tiên kiến ở đâu?”
Sa-mu-ên trả lời Sau-lơ: “Tôi là nhà tiên kiến đây. Hãy đi trước tôi lên nơi cao, vì hôm nay hai anh sẽ dùng bữa với tôi. Sáng mai tôi sẽ để cho anh đi và sẽ nói cho anh biết mọi điều anh đang bận tâm.
Còn những lừa cái của anh đã mất ba ngày nay, đừng lo lắng về chúng, vì đã tìm được rồi. Vả lại, mọi thứ quý báu nhất trong Y-sơ-ra-ên được dành cho ai? Chẳng phải là cho anh và cho cả nhà cha của anh sao?”
Sau-lơ nói: “Tôi chẳng phải là một người Bên-gia-min, một bộ tộc nhỏ nhất trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên sao? Gia tộc tôi lại hèn mọn hơn hết trong các gia tộc của bộ tộc Bên-gia-min. Vậy, tại sao ông lại nói với tôi những điều nầy?”
Sa-mu-ên dẫn Sau-lơ và người đầy tớ vào phòng khách, mời ngồi ở hàng đầu trong các khách dự tiệc, khoảng ba mươi người.
Rồi Sa-mu-ên bảo người đầu bếp: “Hãy đem ra đây phần mà ta đã trao và dặn ngươi để riêng.”
Người đầu bếp đem thịt đùi dọn ra trước mặt Sau-lơ. Sa-mu-ên nói: “Đây là phần đã để lại dọn ra cho anh. Mời anh dùng, vì tôi đã để dành phần đó cho anh trong dịp đặc biệt nầy, để anh dùng với quan khách.” Vậy trong ngày đó, Sau-lơ dùng bữa với Sa-mu-ên.
Sau đó, mọi người từ nơi cao đi xuống và vào trong thành; còn Sa-mu-ên trò chuyện với Sau-lơ trên mái nhà bằng.
Qua ngày sau, họ dậy sớm. Lúc rạng đông, Sa-mu-ên gọi Sau-lơ đang ở trên mái nhà, và nói: “Hãy trỗi dậy, tôi sẽ tiễn anh lên đường.” Sau-lơ trỗi dậy, rồi cùng đi ra với Sa-mu-ên.
Khi họ đang đi xuống đến cuối thành, thì Sa-mu-ên nói với Sau-lơ: “Hãy bảo người đầy tớ đi trước chúng ta, và khi anh ta đi qua rồi, anh hãy dừng lại một lúc để tôi nói cho anh nghe lời của Đức Chúa Trời.”
Sa-mu-ên lấy một lọ dầu nhỏ, đổ trên đầu Sau-lơ, hôn người, và nói: “Chẳng phải Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho anh để làm người lãnh đạo cơ nghiệp của Ngài sao?
Hôm nay, khi từ giã tôi ra đi, anh sẽ gặp hai người gần bên mộ Ra-chên, trong lãnh thổ Bên-gia-min, tại Xết-sa. Họ sẽ nói với anh: ‘Những lừa cái mà anh đi tìm đã kiếm được rồi. Bây giờ, cha của anh không còn lo đến lừa cái nữa, nhưng lại lo lắng về các anh, và tự nhủ: “Tôi phải làm gì để tìm được con trai tôi đây?”’
Từ đó đi xa hơn nữa, đến cây sồi ở Tha-bô, anh sẽ gặp ba người đi lên Bê-tên để thờ phượng Đức Chúa Trời: một người đem ba con dê con, một người đem ba ổ bánh, và người thứ ba đem một bầu da rượu.
Họ sẽ chào và cho anh hai ổ bánh, và anh sẽ nhận lấy từ tay họ.
Sau đó, anh sẽ đến Ghi-bê-a Ê-lô-him, nơi có một cái đồn của người Phi-li-tin. Khi đã vào thành rồi, anh sẽ gặp một đoàn tiên tri từ nơi cao xuống, có đàn lia, trống cơm, ống sáo, đàn hạc đi trước và họ sẽ nói tiên tri.
Thần của Đức Giê-hô-va sẽ tác động mạnh trên anh, và anh sẽ nói tiên tri với họ, rồi anh sẽ được biến đổi thành một người khác.
Khi thấy các dấu hiệu nầy xảy ra thì anh hãy tùy cơ ứng biến, vì Đức Chúa Trời ở với anh!
Anh hãy xuống Ghinh-ganh trước, tôi sẽ đến đó gặp anh để dâng tế lễ thiêu và tế lễ bình an. Xin hãy đợi bảy ngày, cho đến khi tôi đến với anh và cho anh biết những điều phải làm.”
Sau-lơ vừa quay lưng đi khỏi Sa-mu-ên thì Đức Chúa Trời biến đổi lòng ông, và tất cả các dấu hiệu đã báo trước đều ứng nghiệm trong ngày đó.
Khi Sau-lơ đến Ghi-bê-a, có một đoàn tiên tri đến đón ông. Thần của Đức Giê-hô-va tác động mạnh trên ông, và ông nói tiên tri giữa họ.
Tất cả những người vốn quen biết Sau-lơ trước đây, thấy ông nói tiên tri với các nhà tiên tri, thì hỏi nhau rằng: “Điều gì đã xảy ra cho con của Kích? Sau-lơ cũng thuộc vào hàng các nhà tiên tri sao?”
Một người ở đó lên tiếng hỏi: “Nhưng cha của họ là ai?” Vì vậy, có câu ngạn ngữ rằng: “Sau-lơ cũng thuộc vào hàng các nhà tiên tri sao?”
Khi Sau-lơ nói tiên tri xong, thì ông đi lên nơi cao.
Chú Sau-lơ hỏi ông và người đầy tớ: “Các cháu đi đâu?” Ông đáp: “Chúng cháu đi tìm các con lừa cái, nhưng không tìm được, nên chúng cháu đã đến gặp Sa-mu-ên.”
Chú của Sau-lơ nói: “Cháu hãy nói cho chú biết Sa-mu-ên đã nói gì với hai cháu?”
Sau-lơ thưa với chú: “Ông ấy nói rõ cho chúng cháu biết rằng đã tìm được lừa cái rồi.” Còn những gì Sa-mu-ên đã nói về việc Sau-lơ được chọn làm vua thì ông không thuật lại cho chú mình biết.
Sa-mu-ên triệu tập dân chúng trước mặt Đức Giê-hô-va tại Mích-pa,
rồi nói với dân Y-sơ-ra-ên: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán rằng: ‘Ta đã đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập; Ta đã giải cứu các ngươi khỏi tay người Ai Cập và khỏi tay tất cả các vương quốc áp bức các ngươi.’
Ngày nay các ngươi khước từ Đức Chúa Trời của các ngươi, là Đấng đã giải cứu các ngươi khỏi mọi tai ương và khốn cùng. Các ngươi đã thưa với Ngài rằng: ‘Xin lập một vua cai trị chúng tôi!’ Vậy bây giờ, hãy trình diện Đức Giê-hô-va theo từng bộ tộc và từng gia tộc.”
Sa-mu-ên bảo tất cả các bộ tộc Y-sơ-ra-ên đến gần, rồi bộ tộc Bên-gia-min được trúng thăm.
Ông bảo bộ tộc Bên-gia-min đến gần theo từng gia tộc, rồi gia tộc Mát-ri được trúng thăm. Và cuối cùng, Sau-lơ con của Kích, được trúng thăm. Người ta tìm Sau-lơ, nhưng không thấy.
Vì vậy, họ lại cầu hỏi Đức Giê-hô-va: “Người ấy đã đến đây chưa?” Đức Giê-hô-va trả lời: “Kìa, người ấy đang ẩn trong đống đồ đạc kia.”
Họ chạy đến đó và đem ông ra. Sau-lơ đứng giữa dân chúng, ông cao hơn mọi người từ vai trở lên.
Sa-mu-ên nói với toàn dân: “Anh em có thấy người mà Đức Giê-hô-va đã chọn không? Trong cả dân chúng, không có ai được như người.” Toàn dân đều tung hô: “Vua vạn tuế!”
Sa-mu-ên giảng giải cho dân chúng luật lệ về vương quyền. Ông ghi chép những điều ấy trong một cuốn sách và để trước mặt Đức Giê-hô-va. Rồi ông cho mọi người ai về nhà nấy.
Sau-lơ cũng về nhà mình tại Ghi-bê-a, có những dũng sĩ được Đức Chúa Trời giục lòng đi theo ông.
Nhưng có mấy kẻ xấu nói: “Người nầy làm gì giải cứu chúng ta được?” Họ xem thường ông, không đem lễ vật gì cho ông. Tuy nhiên, Sau-lơ làm ngơ đi.
Na-hách, người Am-môn, đi lên bao vây Gia-be Ga-la-át. Mọi người ở Gia-be nói với Na-hách: “Xin lập giao ước với chúng tôi, thì chúng tôi sẽ phục vụ ông.”
Na-hách, người Am-môn, nói với họ: “Ta sẽ lập giao ước cùng các ngươi với điều kiện nầy: Phải móc mắt phải của tất cả các ngươi, để làm sỉ nhục toàn thể Y-sơ-ra-ên.”
Các trưởng lão Gia-be nói với ông ấy: “Xin hoãn cho chúng tôi bảy ngày để chúng tôi sai sứ giả đến khắp lãnh thổ Y-sơ-ra-ên. Nếu không ai giải cứu chúng tôi thì chúng tôi sẽ đầu hàng ông.”
Khi các sứ giả đến Ghi-bê-a, thành của Sau-lơ, thuật lại các lời ấy cho dân chúng nghe thì mọi người đều òa lên khóc.
Lúc ấy, Sau-lơ từ ngoài đồng về, đi sau đàn bò. Ông hỏi: “Vì sao dân chúng khóc như vậy?” Người ta thuật lại những lời người Gia-be đã nói.
Khi nghe những lời nầy, Sau-lơ được Thần của Đức Chúa Trời tác động mạnh, và ông nổi giận bừng bừng.
Ông bắt một cặp bò, sả ra từng miếng, sai sứ giả đem đi khắp lãnh thổ Y-sơ-ra-ên rao rằng: “Ai không theo Sau-lơ và Sa-mu-ên ra trận, thì bò của người ấy sẽ bị xử như vậy.” Đức Giê-hô-va khiến dân chúng khiếp sợ, và họ đã ra trận, muôn người như một.
Khi Sau-lơ điểm quân số tại Bê-xéc thì có ba trăm nghìn người Y-sơ-ra-ên và ba mươi nghìn người Giu-đa.
Họ nói với các sứ giả đã đến từ Ga-la-át rằng: “Hãy về nói với người Gia-be Ga-la-át thế nầy: ‘Ngày mai, khi mặt trời lên cao, thì anh em sẽ được giải cứu.’” Các sứ giả trở về loan tin nầy cho người Gia-be. Dân chúng vui mừng,
và họ nói với người Am-môn: “Ngày mai, chúng tôi sẽ ra hàng các ông, và các ông sẽ đối xử với chúng tôi theo điều các ông cho là tốt.”
Ngày hôm sau, Sau-lơ chia dân chúng ra làm ba cánh quân, vừa lúc rạng đông, xông vào giữa trại quân và đánh người Am-môn cho đến gần đứng bóng. Những tên sống sót chạy hoảng loạn đến nỗi không có lấy hai tên chạy chung với nhau.
Dân chúng nói với Sa-mu-ên: “Ai đã nói: ‘Sau-lơ mà cai trị chúng ta sao?’, hãy giao những kẻ đó cho chúng tôi giết đi.”
Nhưng Sau-lơ nói: “Không một ai phải bị xử tử hôm nay cả, vì là ngày Đức Giê-hô-va đã giải cứu Y-sơ-ra-ên.”
Sa-mu-ên nói với dân chúng: “Chúng ta hãy đi đến Ghinh-ganh để tái lập vương quyền.”
Toàn dân cùng đi đến Ghinh-ganh. Tại đó, họ lập Sau-lơ làm vua trước mặt Đức Giê-hô-va. Họ dâng tế lễ bình an lên Đức Giê-hô-va. Sau-lơ và mọi người Y-sơ-ra-ên đều vui mừng vô cùng.
Bấy giờ, Sa-mu-ên nói với toàn thể Y-sơ-ra-ên: “Tôi đã nghe theo mọi lời anh em nói với tôi, và đã lập một vua trên anh em.
Bây giờ, vua ấy sẽ lãnh đạo anh em. Còn tôi đã già, tóc đã bạc, các con trai tôi ở với anh em. Tôi đã lãnh đạo anh em từ khi tôi còn trẻ cho đến ngày nay.
Nầy, tôi đứng đây. Hãy làm chứng cho tôi trước mặt Đức Giê-hô-va và trước người được xức dầu của Ngài: Tôi có bắt bò hoặc bắt lừa của ai không? Tôi có lừa dối ai không? Tôi có áp bức ai không? Tôi có nhận của hối lộ nơi tay ai để vì nó mà nhắm mắt lại không? Nếu có, thì tôi sẽ trả lại cho anh em.”
Họ đáp: “Ông không lừa dối chúng tôi, không áp bức chúng tôi, và không lấy bất cứ vật gì từ tay của ai cả.”
Ông nói tiếp: “Đức Giê-hô-va làm chứng cho anh em, và người được xức dầu của Ngài cũng làm chứng rằng hôm nay anh em không tìm thấy gì trong tay tôi.” Họ đáp: “Nguyện Ngài làm chứng cho!”
Sa-mu-ên nói với dân chúng: “Đức Giê-hô-va là Đấng đã lập Môi-se và A-rôn, đem tổ phụ của anh em ra khỏi đất Ai Cập.
Vậy bây giờ, hãy đứng đây. Tôi sẽ tranh luận với anh em trước mặt Đức Giê-hô-va về mọi việc công chính mà Đức Giê-hô-va đã làm cho anh em và tổ phụ anh em.
Sau khi Gia-cốp đến đất Ai Cập, tổ phụ anh em đã kêu cầu Đức Giê-hô-va, Ngài sai Môi-se và A-rôn đem tổ phụ anh em ra khỏi đất Ai Cập, và cho họ định cư chỗ nầy.
Nhưng họ quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, nên Ngài phó họ vào tay Si-sê-ra, tổng tư lệnh của Hát-so, vào tay người Phi-li-tin và vua Mô-áp; chúng đều tranh chiến với họ.
Bấy giờ, họ kêu cầu Đức Giê-hô-va, và thưa: ‘Chúng con đã phạm tội, vì chúng con đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va mà phục vụ các thần Ba-anh và Át-tạt-tê. Nhưng bây giờ, xin giải cứu chúng con khỏi tay kẻ thù, thì chúng con sẽ phụng sự Ngài.’
Đức Giê-hô-va đã sai Giê-ru-ba-anh, Bê-đan, Giép-thê, và Sa-mu-ên giải cứu anh em khỏi tay các kẻ thù xung quanh, và anh em đã được sống an ổn.
Nhưng khi thấy Na-hách, vua người Am-môn, đến đánh anh em, thì anh em nói với tôi rằng: ‘Không được, phải có một vua cai trị chúng tôi;’ mặc dù Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã là Vua của anh em rồi.
Bây giờ, đây là vua mà anh em đã chọn và đã cầu xin. Đức Giê-hô-va đã lập người làm vua trên anh em.
Nếu anh em kính sợ Đức Giê-hô-va, phụng sự Ngài, vâng theo tiếng Ngài, không chống lại mệnh lệnh của Ngài; nếu anh em và vua cai trị anh em vâng theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em, thì chắc chắn anh em sẽ được may mắn.
Còn nếu anh em không vâng theo tiếng của Đức Giê-hô-va, mà chống lại mệnh lệnh của Ngài, thì tay của Đức Giê-hô-va sẽ giáng họa trên anh em như đã giáng họa trên tổ phụ của anh em.
Vậy, bây giờ hãy đứng tại đây, để xem việc lớn lao mà Đức Giê-hô-va sẽ làm trước mặt anh em.
Hiện nay chẳng phải đang là mùa gặt lúa mì sao? Tôi sẽ cầu khẩn Đức Giê-hô-va, và Ngài sẽ cho có sấm sét và mưa. Anh em phải biết và thấy rằng việc xin một vua là một tội lỗi lớn mà anh em đã phạm trước mặt Đức Giê-hô-va.”
Rồi Sa-mu-ên kêu cầu Đức Giê-hô-va. Ngay hôm ấy, Đức Giê-hô-va cho sấm sét và mưa. Toàn dân rất kính sợ Đức Giê-hô-va và Sa-mu-ên.
Tất cả dân chúng đều nói với Sa-mu-ên: “Xin cầu nguyện với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông cho các đầy tớ ông, để chúng tôi khỏi chết, vì chúng tôi đã thêm tội xin một vua vào các tội khác của chúng tôi.”
Sa-mu-ên nói với dân chúng: “Đừng sợ! Thật, anh em có làm mọi điều ác nầy; tuy nhiên, anh em đừng quay khỏi Đức Giê-hô-va, nhưng phải hết lòng phụng sự Ngài,
đừng quay khỏi Ngài để đi theo những hình tượng hư không, chúng chẳng ích gì và cũng không thể giải cứu ai, vì chúng chỉ là hư không mà thôi.
Đức Giê-hô-va sẽ không từ bỏ dân Ngài, vì cớ danh lớn lao của Ngài, và vì Đức Giê-hô-va đã vui lòng cho anh em làm dân của Ngài.
Còn tôi cũng không phạm tội với Đức Giê-hô-va mà ngưng cầu nguyện cho anh em. Tôi sẽ dạy cho anh em biết con đường ngay lành.
Chỉ cần anh em phải kính sợ Đức Giê-hô-va, hết lòng trung tín phụng sự Ngài. Hãy xem những việc Ngài làm cho anh em lớn lao là dường nào!
Nhưng, nếu anh em cứ làm điều ác thì anh em và vua của anh em sẽ bị diệt vong.”
Sau-lơ lên làm vua lúc ông đã được bốn mươi tuổi. Vua cai trị Y-sơ-ra-ên ... và hai năm.
Sau-lơ chọn ba nghìn người Y-sơ-ra-ên: hai nghìn người ở với ông tại Mích-ma và trên núi Bê-tên, còn một nghìn người thì ở với Giô-na-than tại Ghi-bê-a thuộc Bên-gia-min. Số còn lại ông cho ai về nhà nấy.
Giô-na-than đánh bại đồn quân Phi-li-tin ở Ghê-ba, người Phi-li-tin biết được tin nầy. Còn Sau-lơ cho thổi kèn khắp xứ và rao rằng: “Dân Hê-bơ-rơ hãy lắng nghe!”
Vì vậy, toàn thể Y-sơ-ra-ên đều biết rằng Sau-lơ đã đánh bại đồn quân Phi-li-tin, và Y-sơ-ra-ên bị người Phi-li-tin căm ghét. Bấy giờ, dân chúng được kêu gọi đi theo Sau-lơ tại Ghinh-ganh.
Khi ấy, người Phi-li-tin tập trung lại để đánh Y-sơ-ra-ên. Chúng có ba mươi nghìn chiến xa, sáu nghìn kỵ binh, và quân lính đông như cát bãi biển. Chúng đi lên đóng trại ở Mích-ma, về phía đông Bết A-ven.
Khi người Y-sơ-ra-ên thấy nguy cấp, vì quân mình bị áp đảo, thì dân chúng ẩn trốn trong các hang động, bụi rậm, hốc đá, mồ mả và hầm hố.
Một số người Hê-bơ-rơ khác thì vượt qua sông Giô-đanh, đến xứ Gát và Ga-la-át. Nhưng Sau-lơ vẫn còn ở lại Ghinh-ganh, và tất cả những người đi theo ông đều run sợ.
Sau-lơ đợi bảy ngày, là thời gian mà Sa-mu-ên đã định. Nhưng Sa-mu-ên vẫn chưa đến Ghinh-ganh, còn dân chúng thì bỏ vua đi tản mác.
Bấy giờ, Sau-lơ nói: “Hãy đem đến cho ta tế lễ thiêu và tế lễ bình an.” Rồi vua dâng tế lễ thiêu.
Khi vua vừa dâng xong tế lễ thiêu thì Sa-mu-ên đến. Sau-lơ ra chào đón ông.
Sa-mu-ên hỏi: “Ngươi đã làm gì vậy?” Sau-lơ trả lời: “Tôi thấy dân chúng bỏ tôi đi tản mác, còn ông lại không đến theo thời gian đã định, và người Phi-li-tin đã tập trung tại Mích-ma,
nên tôi nghĩ rằng người Phi-li-tin chắc sắp tấn công tôi tại Ghinh-ganh, mà tôi chưa cầu khẩn Đức Giê-hô-va. Vì vậy, tôi miễn cưỡng dâng tế lễ thiêu.”
Sa-mu-ên nói với Sau-lơ: “Ngươi thật đã hành động một cách điên rồ, không vâng giữ mệnh lệnh mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã truyền cho ngươi. Lẽ ra, Đức Giê-hô-va đã lập vương quốc của ngươi vững bền đời đời trên Y-sơ-ra-ên;
nhưng bây giờ, vương quốc của ngươi sẽ không bền lâu nữa. Đức Giê-hô-va đã chọn cho mình một người đẹp lòng Ngài, đặt người ấy làm người lãnh đạo của dân Ngài, bởi vì ngươi đã không vâng giữ mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va.”
Nói xong, Sa-mu-ên đứng dậy, từ Ghinh-ganh đi đến Ghi-bê-a thuộc Bên-gia-min, còn Sau-lơ điểm lại quân số ở với mình, có khoảng sáu trăm người.
Sau-lơ và Giô-na-than, con trai ông, cùng quân lính đi theo, đều đóng tại Ghi-bê-a thuộc Bên-gia-min, còn người Phi-li-tin hạ trại tại Mích-ma.
Có một đội quân đột kích từ trong trại quân Phi-li-tin đi ra, chia làm ba toán: một toán theo con đường Óp-ra, đi đến đất Su-anh;
một toán theo con đường Bết Hô-rôn; còn toán thứ ba theo đường ranh giới nằm trên thung lũng Sê-bô-im, về hướng hoang mạc.
Lúc ấy, trong khắp xứ Y-sơ-ra-ên không tìm được một thợ rèn nào cả, vì người Phi-li-tin nói: “Không được để cho người Hê-bơ-rơ rèn gươm và giáo.”
Vì thế, toàn thể người Y-sơ-ra-ên đều phải xuống chỗ người Phi-li-tin để rèn lưỡi cày, cuốc, rìu, và lưỡi hái cho mình.
Khi nào lưỡi cày, cuốc, chĩa ba, rìu hay mũi đót bị sứt mẻ thì họ cũng phải xuống để mài và sửa cái đót lại.
Vì thế lúc giao tranh, tất cả những người theo Sau-lơ và Giô-na-than đều không có gươm cũng không có giáo trong tay; chỉ Sau-lơ và con của ông là Giô-na-than mới có.
Một đơn vị quân Phi-li-tin kéo ra đóng tại đèo Mích-ma.
Một hôm, Giô-na-than, con của Sau-lơ, bảo người thanh niên vác khí giới cho ông rằng: “Nào, chúng ta hãy đi qua đồn quân Phi-li-tin đóng ở phía bên kia.” Nhưng ông không nói cho cha mình biết.
Bấy giờ, Sau-lơ đang đóng quân ở ngoại ô Ghi-bê-a, dưới cây lựu ở Mi-gơ-rôn, và đoàn quân theo ông khoảng sáu trăm người.
Có A-hi-gia, con A-hi-túp (A-hi-túp là anh của Y-ca-bốt, con Phi-nê-a, cháu Hê-li, thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va tại Si-lô), lúc ấy mang ê-phót. Không ai biết Giô-na-than đã đi.
Trên quãng đường đèo mà Giô-na-than tìm cách vượt qua để đến đồn quân Phi-li-tin có hai đỉnh núi đá, đỉnh ở bên nầy gọi là Bốt-sết và đỉnh bên kia gọi là Sê-nê.
Đỉnh núi đá phía bắc nằm đối diện Mích-ma, còn đỉnh phía nam nằm đối diện Ghê-ba.
Giô-na-than nói với người vác khí giới cho ông: “Nào, chúng ta hãy tiến sang đồn của những kẻ chẳng chịu cắt bì kia. Có lẽ Đức Giê-hô-va sẽ hành động vì chúng ta. Dù ít người hay nhiều người, không có gì cản trở Đức Giê-hô-va cho chúng ta chiến thắng.”
Người vác khí giới cho ông thưa: “Xin cứ làm mọi điều ông ước muốn, tôi xin một lòng một dạ với ông.”
Giô-na-than tiếp: “Nầy, chúng ta hãy đi đến chỗ những người ấy và để cho chúng thấy chúng ta.
Nếu chúng nói: ‘Hãy đợi chúng tao đến chỗ chúng mầy,’ thì chúng ta sẽ đứng tại chỗ và không lên cùng chúng.
Còn nếu chúng nói: ‘Hãy lên đây,’ thì chúng ta sẽ lên, vì đó là dấu hiệu Đức Giê-hô-va đã phó chúng vào tay chúng ta.”
Vậy, hai người xuất hiện trước đồn Phi-li-tin. Người Phi-li-tin nói: “Kìa, bọn Hê-bơ-rơ đang chui ra khỏi các hang chúng ẩn trốn.”
Những người trong đồn gọi Giô-na-than và người vác khí giới của ông: “Hãy lên đây! Chúng tao có việc muốn nói với chúng mầy.” Giô-na-than nói với người vác khí giới: “Hãy theo ta, vì Đức Giê-hô-va đã phó chúng vào tay Y-sơ-ra-ên.”
Giô-na-than leo lên bằng cả tay chân, và người vác khí giới leo theo. Bọn Phi-li-tin ngã gục trước mặt Giô-na-than, và người vác khí giới theo sau ông giết chúng.
Trong trận thứ nhất nầy, Giô-na-than và người vác khí giới của ông giết khoảng hai mươi người trên một bãi đất rộng chừng nửa mẫu.
Nỗi kinh hoàng lan ra trong trại quân, ngoài đồng, và trong toàn dân. Quân trong đồn cũng như đội quân đột kích đều khiếp đảm, đất thì rúng động. Đó là nỗi kinh khiếp mà Đức Chúa Trời giáng xuống.
Lính canh của Sau-lơ ở tại Ghi-bê-a thuộc Bên-gia-min đều nhìn thấy quân Phi-li-tin hoảng loạn và chạy tan tác.
Bấy giờ, Sau-lơ nói với quân lính ở với mình: “Hãy điểm lại xem ai là người đã bỏ hàng ngũ chúng ta.” Họ điểm lại và thấy thiếu Giô-na-than và người vác khí giới của ông.
Sau-lơ nói với A-hi-gia: “Hãy đem Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời đến đây.” (Vì lúc bấy giờ, Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời đang ở với dân Y-sơ-ra-ên.)
Nhưng trong khi Sau-lơ nói với thầy tế lễ, thì cảnh hỗn loạn trong trại quân Phi-li-tin càng lúc càng tăng. Sau-lơ nói với thầy tế lễ: “Hãy ngừng tay!”
Rồi Sau-lơ cùng tất cả quân lính ông tập hợp lại và ra trận. Kìa, họ thấy người Phi-li-tin cực kỳ hoảng loạn, rút gươm chém giết lẫn nhau.
Những người Hê-bơ-rơ trước đó đã theo người Phi-li-tin, lên trại quân với chúng thì nay quay về với người Y-sơ-ra-ên theo Sau-lơ và Giô-na-than.
Tất cả những người Y-sơ-ra-ên đang ẩn trốn trong vùng đồi núi Ép-ra-im nghe tin người Phi-li-tin vỡ chạy, cũng rượt theo đánh đuổi chúng.
Hôm ấy, Đức Giê-hô-va đã giải cứu Y-sơ-ra-ên; và chiến trận vượt khỏi Bết A-ven.
Cũng trong ngày ấy, người Y-sơ-ra-ên bị kiệt sức vì Sau-lơ có thề với dân chúng rằng: “Đáng nguyền rủa kẻ nào ăn vật gì trước chiều tối, tức trước khi ta báo thù xong những cừu địch của ta!” Vì vậy, toàn dân không ai dám ăn uống gì cả.
Rồi họ đến một khu rừng có mật ong trên đất.
Lúc ấy, dân chúng đi vào trong rừng, thấy mật đang chảy, nhưng không ai dám chấm tay cho vào miệng, vì sợ lời thề.
Còn Giô-na-than vì không biết lời thề mà cha mình đã lập với dân chúng, nên đưa đầu gậy mình đang cầm trong tay chấm vào tàng mật ong, rồi chấm tay cho vào miệng, thì mắt ông liền sáng ra.
Có người trong dân chúng nói cho ông biết: “Cha của ông đã thề với dân chúng rằng: ‘Đáng nguyền rủa kẻ nào ăn vật gì hôm nay.’ Vì vậy, dân chúng đều bị kiệt sức.”
Giô-na-than nói: “Cha tôi đã làm cho xứ sở bối rối thêm. Hãy xem, nhờ nếm chút mật nầy mà mắt tôi đã sáng dường nào!
Ồ! Nếu như hôm nay dân chúng đã được ăn những vật thực chiếm được của kẻ thù thì người Phi-li-tin càng thất trận nặng nề hơn biết bao!”
Hôm ấy, người Y-sơ-ra-ên đánh bại người Phi-li-tin từ Mích-ma cho đến A-gia-lôn.
Dân chúng rất đói mệt nên họ xông vào lấy chiến lợi phẩm, bắt chiên, bò, và bê, giết chúng trên đất, rồi ăn thịt còn máu.
Có người báo với Sau-lơ: “Kìa, dân chúng phạm tội với Đức Giê-hô-va mà ăn thịt còn máu.” Ông nói: “Các ngươi thật phản phúc! Hãy lập tức lăn một tảng đá lớn đến đây cho ta.”
Sau-lơ nói tiếp: “Hãy chia nhau đến với dân chúng, rao rằng mỗi người phải đem chiên và bò đến cho ta, rồi giết tại đây và ăn thịt nó. Đừng phạm tội với Đức Giê-hô-va mà ăn thịt còn máu.” Vậy trong đêm đó, mỗi người dân đều đem súc vật mình có trong tay đến và giết chúng trên tảng đá.
Sau-lơ lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va. Đó là bàn thờ thứ nhất mà ông lập cho Đức Giê-hô-va.
Sau việc ấy, Sau-lơ nói: “Chúng ta hãy đi xuống đuổi theo người Phi-li-tin suốt đêm nay, cướp phá chúng cho đến sáng sớm, và đừng để một ai sống sót.” Họ đáp: “Xin cứ làm mọi điều bệ hạ cho là phải.” Nhưng thầy tế lễ nói: “Chúng ta hãy cầu hỏi Đức Chúa Trời, ngay tại đây.”
Sau-lơ cầu hỏi Đức Chúa Trời: “Con có nên đi xuống và đuổi theo người Phi-li-tin không? Ngài sẽ phó chúng vào tay Y-sơ-ra-ên không?” Nhưng ngày hôm ấy, Đức Chúa Trời không trả lời ông.
Vì thế, Sau-lơ ra lệnh: “Tất cả các vị chỉ huy quân đội hãy đến đây, để tìm xem hôm nay ai đã phạm tội.
Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng giải cứu Y-sơ-ra-ên, kẻ đã phạm tội dù chính là Giô-na-than, con trai ta, chắc chắn cũng phải chết!” Không một ai trong dân chúng đáp lời vua.
Vua nói với toàn thể Y-sơ-ra-ên: “Các ngươi hãy đứng bên nầy, ta và Giô-na-than, con trai ta, sẽ đứng bên kia.” Dân chúng thưa với vua Sau-lơ: “Xin cứ làm điều bệ hạ cho là phải.”
Sau-lơ thưa với Đức Giê-hô-va: “Ôi, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Xin phơi bày sự thật.” Giô-na-than và Sau-lơ bị chỉ ra, còn dân chúng thì vô can.
Sau-lơ nói: “Hãy bắt thăm giữa ta và Giô-na-than, con ta.” Giô-na-than bị chỉ ra.
Sau-lơ nói với Giô-na-than: “Hãy nói cho ta biết con đã làm gì.” Giô-na-than thú thật: “Con có dùng đầu gậy cầm trong tay mà nếm chút mật ong. Nầy, con đây phải chết.”
Sau-lơ nói: “Hỡi Giô-na-than, nếu con không chết, nguyện Đức Chúa Trời giáng họa cho ta thật nặng nề!”
Nhưng dân chúng nói với Sau-lơ: “Giô-na-than là người đã làm cho Y-sơ-ra-ên chiến thắng vẻ vang như thế mà phải chết sao? Nhất định không! Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, dù một sợi tóc trên đầu người cũng sẽ không rụng xuống đất, vì hôm nay người đã cùng làm việc với Đức Chúa Trời.” Thế là, dân chúng đã giải cứu Giô-na-than, và ông không phải chết.
Sau-lơ không truy đuổi người Phi-li-tin nữa; còn người Phi-li-tin thì rút về xứ mình.
Khi đã nắm được vương quyền trên Y-sơ-ra-ên, Sau-lơ giao chiến với tất cả các kẻ thù chung quanh, như Mô-áp, Am-môn, Ê-đôm, các vua Xô-ba, và người Phi-li-tin. Ông đánh đâu thắng đó.
Ông hành động can trường, đánh bại người A-ma-léc và giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi tay những kẻ cướp phá họ.
Sau-lơ có các con trai là Giô-na-than, Gi-sê-vi, và Manh-ki-sua; ông cũng có hai con gái: cô lớn tên là Mê-ráp, cô nhỏ tên là Mi-canh.
Vợ của Sau-lơ là A-hi-nô-am, con gái của A-hi-mát. Tổng tư lệnh quân đội của Sau-lơ là Áp-ne, con của Nê-rơ (Nê-rơ là chú của Sau-lơ).
Kích, cha của Sau-lơ; còn Nê-rơ, cha của Áp-ne, đều là con của A-bi-ên.
Suốt đời Sau-lơ luôn có chiến tranh khốc liệt với người Phi-li-tin. Mỗi khi thấy người nào mạnh mẽ và gan dạ thì Sau-lơ chiêu mộ cho mình.
Sa-mu-ên nói với Sau-lơ: “Đức Giê-hô-va đã sai tôi xức dầu cho vua để cai trị Y-sơ-ra-ên, là dân của Ngài. Vậy bây giờ, hãy nghe lời phán của Đức Giê-hô-va.
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Ta sẽ phạt A-ma-léc về việc chúng đã cản đường Y-sơ-ra-ên khi họ ra khỏi Ai Cập.
Vậy bây giờ, hãy đi đánh người A-ma-léc và tận diệt tất cả những gì thuộc về chúng. Ngươi sẽ không thương xót chúng, phải giết hết đàn ông, đàn bà, trẻ con, cả đến bò, chiên, lạc đà và lừa.’”
Vậy, Sau-lơ triệu tập dân chúng và điểm quân số tại Tê-la-im: có hai trăm nghìn bộ binh, và mười nghìn người Giu-đa.
Sau-lơ kéo quân đến thành của người A-ma-léc và phục kích trong thung lũng.
Sau-lơ nói với người Kê-nít: “Anh em hãy rút đi, hãy tách ra khỏi hàng ngũ người A-ma-léc, kẻo tôi diệt anh em luôn với chúng chăng. Vì anh em đã làm ơn cho toàn dân Y-sơ-ra-ên khi họ ra khỏi Ai Cập.” Vậy, người Kê-nít tách ra khỏi hàng ngũ A-ma-léc.
Sau-lơ đánh A-ma-léc từ Ha-vi-la đến Su-rơ, phía đối diện với Ai Cập.
Ông bắt sống A-ga, vua của người A-ma-léc, rồi lấy gươm diệt tất cả dân chúng.
Nhưng Sau-lơ và dân chúng tha chết cho A-ga, cũng không giết những con tốt nhất trong bầy bò và chiên, các con vật béo mập, các chiên con, và tất cả những con vật tốt nhất. Họ không muốn diệt những con vật đó, chỉ diệt tất cả những con xấu xí và không giá trị.
Bấy giờ, có lời Đức Giê-hô-va phán với Sa-mu-ên:
“Ta lấy làm tiếc đã lập Sau-lơ làm vua, vì người đã quay khỏi Ta, không làm theo lời Ta.” Sa-mu-ên buồn bực, và ông kêu cầu Đức Giê-hô-va suốt đêm.
Sáng hôm sau, ông dậy sớm đi gặp Sau-lơ. Có người đến nói với Sa-mu-ên: “Sau-lơ đã đến Cạt-mên, dựng cho mình một đài kỷ niệm tại đó, rồi quay lại, đi xuống Ghinh-ganh.”
Sa-mu-ên đến với Sau-lơ, và Sau-lơ nói với ông: “Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho ông! Tôi đã thi hành mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va.”
Sa-mu-ên hỏi: “Vậy thì tiếng chiên kêu vang đến tai tôi, cùng tiếng bò rống mà tôi nghe kia, là gì vậy?”
Sau-lơ trả lời: “Dân chúng đã đem chúng về từ nơi người A-ma-léc, họ đã tha những con tốt nhất trong đàn chiên và bò để làm sinh tế dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông. Số còn lại, chúng tôi đã diệt hết.”
Sa-mu-ên nói với Sau-lơ: “Thôi! Tôi sẽ nói cho vua điều Đức Giê-hô-va đã phán với tôi đêm qua.” Sau-lơ đáp: “Xin ông cứ nói.”
Sa-mu-ên nói: “Lúc vua còn thấy mình thấp hèn, chẳng phải vua đã trở nên người đứng đầu của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên sao? Chẳng phải Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho vua cai trị Y-sơ-ra-ên sao?
Đức Giê-hô-va đã sai vua đi với sứ mệnh: ‘Hãy đi, tiêu diệt toàn bộ những kẻ tội lỗi kia, là người A-ma-léc, và giao chiến cùng chúng cho đến khi ngươi đã tận diệt chúng.’
Nhưng tại sao vua không vâng theo tiếng phán của Đức Giê-hô-va? Tại sao vua lao vào chiến lợi phẩm và làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va?”
Sau-lơ nói với Sa-mu-ên: “Tôi thật có nghe theo tiếng phán của Đức Giê-hô-va. Tôi đã thi hành sứ mệnh mà Đức Giê-hô-va đã giao phó. Tôi đã đem A-ga, vua A-ma-léc về, và tiêu diệt toàn bộ người A-ma-léc.
Nhưng từ trong chiến lợi phẩm, dân chúng đã lấy chiên và bò, là vật tốt nhất trong các vật đáng tận diệt, để dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông tại Ghinh-ganh.”
Sa-mu-ên nói: “Đức Giê-hô-va có vui thích về tế lễ thiêu và các sinh tế, Bằng sự vâng theo tiếng phán của Ngài chăng? Kìa, sự vâng lời tốt hơn sinh tế, Sự nghe theo tốt hơn mỡ chiên đực.
Sự phản nghịch đáng tội như tà thuật, Sự ương ngạnh đáng tội như thờ lạy hình tượng. Vì vua đã từ bỏ lời của Đức Giê-hô-va Nên Ngài cũng từ bỏ vua, không cho vua cai trị nữa.”
Sau-lơ nói với Sa-mu-ên: “Tôi đã phạm tội, vì đã vi phạm mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va và lời của ông. Vì tôi sợ dân chúng nên nghe theo tiếng của họ.
Bây giờ, xin ông hãy tha tội cho tôi, trở lại với tôi, để tôi thờ phượng Đức Giê-hô-va.”
Sa-mu-ên trả lời Sau-lơ: “Tôi không trở lại với vua đâu. Vì vua đã từ bỏ lời Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va từ bỏ vua, không cho vua cai trị Y-sơ-ra-ên nữa.”
Khi Sa-mu-ên quay đi thì Sau-lơ nắm vạt áo choàng của ông, và áo bị xé rách.
Sa-mu-ên nói với ông: “Hôm nay Đức Giê-hô-va đã xé vương quốc Y-sơ-ra-ên khỏi vua như thế, để ban cho một người lân cận của vua, xứng đáng hơn vua.
Hơn nữa, Chúa Vinh Quang của Y-sơ-ra-ên không nói dối cũng không ăn năn, vì Ngài không phải là loài người để mà ăn năn!”
Sau-lơ nói: “Tôi có tội, nhưng xin hãy tôn trọng tôi trước các trưởng lão của dân tôi, và trước toàn dân Y-sơ-ra-ên. Xin ông trở lại với tôi, để tôi thờ phượng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông.”
Vậy, Sa-mu-ên trở lại với Sau-lơ, và Sau-lơ thờ phượng Đức Giê-hô-va.
Sau đó, Sa-mu-ên nói: “Hãy dẫn A-ga, vua A-ma-léc đến cho ta.” A-ga vui mừng đến với ông vì nghĩ rằng: “Nỗi đắng cay của sự chết chắc đã qua rồi.”
Nhưng Sa-mu-ên nói: “Gươm ngươi đã làm người đàn bà mất con thể nào, Thì mẹ ngươi cũng sẽ mất con thể ấy.” Rồi Sa-mu-ên cho giết A-ga trước mặt Đức Giê-hô-va tại Ghinh-ganh.
Sa-mu-ên về Ra-ma, còn Sau-lơ trở về nhà mình tại Ghi-bê-a.
Từ đó cho đến ngày qua đời, Sa-mu-ên không còn gặp lại Sau-lơ nữa. Tuy nhiên, ông rất buồn về việc Sau-lơ. Còn Đức Giê-hô-va tiếc vì đã lập Sau-lơ làm vua Y-sơ-ra-ên.
Đức Giê-hô-va phán với Sa-mu-ên: “Con than khóc về chuyện Sau-lơ cho đến bao giờ? Ta đã từ bỏ nó, không cho làm vua Y-sơ-ra-ên nữa. Hãy đổ dầu đầy sừng và lên đường. Ta sai con đến gặp Gie-sê, người Bết-lê-hem, vì Ta đã chọn một người trong các con trai của ông ấy làm vua.”
Sa-mu-ên thưa: “Làm sao con đi được? Nếu Sau-lơ biết việc nầy thì sẽ giết con!” Đức Giê-hô-va phán: “Con hãy đem theo một con bò cái tơ và nói rằng: ‘Tôi đến để dâng sinh tế cho Đức Giê-hô-va.’
Con sẽ mời Gie-sê dự buổi tế lễ. Ta sẽ cho con biết việc con phải làm, rồi con sẽ nhân danh Ta xức dầu cho người mà Ta chỉ cho con.”
Sa-mu-ên làm theo điều Đức Giê-hô-va đã phán với mình, và đi đến Bết-lê-hem. Các trưởng lão của thành ấy ra đón ông, run sợ và hỏi: “Có phải ông đem bình an đến chăng?”
Ông nói: “Bình an! Ta đến để dâng sinh tế cho Đức Giê-hô-va. Hãy thanh tẩy mình và đến dự buổi tế lễ với ta.” Ông cũng thanh tẩy cho Gie-sê và các con trai ông ấy, và mời đến dự buổi tế lễ.
Khi họ đến, Sa-mu-ên thấy Ê-li-áp, thầm nghĩ: “Chắc hẳn người được Đức Giê-hô-va xức dầu đang ở trước mặt Ngài.”
Nhưng Đức Giê-hô-va phán với Sa-mu-ên: “Đừng xét theo diện mạo và vóc dáng cao lớn của nó, vì Ta đã loại bỏ nó. Đức Giê-hô-va không xem theo cách loài người xem; loài người xem bề ngoài, nhưng Đức Giê-hô-va nhìn thấy trong lòng.”
Gie-sê gọi A-bi-na-đáp, và bảo đi qua trước mặt Sa-mu-ên. Nhưng ông nói: “Đức Giê-hô-va cũng không chọn người nầy.”
Gie-sê bảo Sam-ma đi ngang qua, nhưng Sa-mu-ên nói: “Đức Giê-hô-va cũng không chọn người nầy.”
Gie-sê bảo bảy con trai mình đi qua trước mặt Sa-mu-ên, nhưng Sa-mu-ên nói với Gie-sê: “Đức Giê-hô-va không chọn một ai trong những người nầy.”
Sa-mu-ên hỏi Gie-sê: “Ông còn đứa con trai nào nữa không?” Gie-sê trả lời: “Còn một đứa con út, nhưng nó đang chăn chiên.” Sa-mu-ên nói: “Hãy cho gọi nó về, chúng ta sẽ không ngồi ăn trước khi nó đến.”
Vậy, Gie-sê cho gọi người con út về. Chàng có nước da hồng hào, đôi mắt tinh anh, và diện mạo khôi ngô. Đức Giê-hô-va phán với Sa-mu-ên: “Hãy đứng dậy xức dầu cho nó, vì đây là người mà Ta đã chọn.”
Sa-mu-ên lấy sừng dầu và xức cho Đa-vít trước mặt các anh của chàng. Từ ngày đó trở đi, Thần của Đức Giê-hô-va tác động mạnh trên Đa-vít. Sa-mu-ên đứng dậy đi về Ra-ma.
Thần của Đức Giê-hô-va lìa khỏi Sau-lơ, Đức Giê-hô-va sai một ác thần quấy rối ông.
Triều thần của Sau-lơ nói với vua: “Nầy, có một ác thần mà Đức Chúa Trời sai đến quấy rối bệ hạ.
Xin chúa chúng tôi hãy truyền cho bề tôi đang đứng chầu trước mặt chúa tìm một người biết đánh đàn hạc, để khi nào Đức Chúa Trời sai ác thần đến, thì người đó sẽ đánh đàn, và chúa sẽ được khuây khỏa.”
Sau-lơ nói với triều thần: “Các ngươi hãy đi tìm một người đánh đàn giỏi, rồi dẫn đến cho ta.”
Một người trong các triều thần tâu: “Tôi biết một con trai của Gie-sê, người Bết-lê-hem, đàn rất giỏi, là một dũng sĩ và là một chiến sĩ can trường. Chàng ăn nói khôn ngoan, diện mạo khôi ngô và Đức Giê-hô-va ở với chàng.”
Sau-lơ sai sứ giả đến với Gie-sê, và nói: “Hãy sai Đa-vít, con trai ngươi, là người chăn chiên đến với ta.”
Gie-sê lấy bánh, một bầu da đầy rượu chất trên một con lừa, và bắt một con dê con còn bú, rồi sai Đa-vít, con mình, đem đến cho Sau-lơ.
Đa-vít đến với Sau-lơ, và phục vụ vua. Sau-lơ rất thương yêu Đa-vít và chàng trở thành người vác khí giới của vua.
Sau-lơ sai người đến nói với Gie-sê: “Ngươi hãy để Đa-vít đứng chầu trước mặt ta, vì nó làm ta hài lòng.”
Từ đó trở đi, mỗi khi Đức Chúa Trời sai ác thần nhập vào Sau-lơ thì Đa-vít lấy đàn hạc đánh lên. Sau-lơ được khuây khỏa, thoải mái, và ác thần lìa khỏi ông.
Người Phi-li-tin tập trung quân đội để gây chiến. Chúng tập trung tại Sô-cô, thuộc đất Giu-đa, và đóng trại tại Ê-phê Đa-mim, giữa Sô-cô và A-xê-ca.
Sau-lơ và người Y-sơ-ra-ên cũng tập trung, đóng trại tại thung lũng Ê-la, dàn trận chống lại người Phi-li-tin.
Người Phi-li-tin đứng trên núi bên nầy, còn Y-sơ-ra-ên đứng trên núi bên kia, cách nhau một thung lũng.
Bấy giờ, có một tay vô địch từ trại quân Phi-li-tin đi ra, tên là Gô-li-át, quê ở Gát, cao gần ba mét,
đầu đội mũ đồng, mặc áo giáp đồng vảy cá nặng năm mươi bảy ki-lô-gam.
Chân hắn có giáp che bằng đồng, vai đeo một cây lao bằng đồng.
Cán giáo của hắn như cây trục cửi của thợ dệt, và mũi giáo nặng khoảng bảy ki-lô-gam Đi trước hắn là người mang khiên.
Hắn ra đứng hướng về phía hàng ngũ Y-sơ-ra-ên và thét lớn: “Sao chúng bay phải ra dàn trận? Chẳng phải tao là người Phi-li-tin, còn chúng bay là đầy tớ của Sau-lơ sao? Hãy chọn một người trong chúng bay xuống đây đấu với tao.
Nếu nó có thể đánh thắng và giết được tao, thì chúng tao sẽ làm đầy tớ chúng bay; nhưng nếu tao thắng hơn và giết nó, thì chúng bay sẽ làm đầy tớ và phục vụ chúng tao.”
Tên Phi-li-tin nầy còn nói: “Phải, hôm nay tao thách quân Y-sơ-ra-ên: Hãy chọn một người ra để đấu với tao.”
Sau-lơ và toàn dân Y-sơ-ra-ên nghe những lời của người Phi-li-tin, thì kinh hoàng và rất sợ hãi.
Đa-vít là con của một người Ê-phơ-rát, quê ở Bết-lê-hem thuộc Giu-đa, tên là Gie-sê. Gie-sê có tám con trai. Vào thời vua Sau-lơ thì ông đã cao tuổi rồi.
Ba con trai lớn của Gie-sê đã theo Sau-lơ ra chiến trường. Tên ba con trai ấy là: Ê-li-áp, con cả; A-bi-na-đáp, con thứ nhì; và Sa-ma, con thứ ba.
Đa-vít là con út. Ba người anh lớn đã theo Sau-lơ,
còn Đa-vít vừa hầu vua Sau-lơ, vừa trở về Bết-lê-hem để chăn chiên cho cha mình.
Mỗi buổi sáng và mỗi buổi chiều, người Phi-li-tin đều ra thách thức như vậy suốt bốn mươi ngày.
Một hôm, Gie-sê nói với Đa-vít, con mình: “Con hãy lấy mười ký hột rang và mười ổ bánh nầy, mau đem đến trại quân đưa cho các anh con.
Con cũng hãy đem mười miếng phó mát nầy cho viên chỉ huy trưởng nghìn quân của các anh con, và xem các anh có khỏe không; còn con phải đem về cho cha một bằng chứng cho thấy chúng được bình an.
Các anh con ở với Sau-lơ và tất cả người Y-sơ-ra-ên tại thung lũng Ê-la để chiến đấu với người Phi-li-tin.”
Sáng hôm sau, Đa-vít dậy sớm, giao chiên cho một người khác chăn, rồi khăn gói lên đường như Gie-sê đã dặn. Khi Đa-vít đã đến trại quân, thì quân lính đang kéo ra dàn trận và reo hò khiêu chiến.
Quân Y-sơ-ra-ên và Phi-li-tin dàn trận, hai bên đối mặt nhau.
Đa-vít để hành lý lại, giao cho người trông coi, rồi chạy ra trận tuyến hỏi thăm các anh mình mạnh khỏe không.
Chàng đang nói chuyện với các anh thì tay vô địch Gô-li-át, tức là người Phi-li-tin ở Gát, từ hàng ngũ Phi-li-tin xông tới, và Đa-vít nghe hắn nói những lời thách thức như trước.
Mọi người Y-sơ-ra-ên thấy hắn đều chạy trốn và rất sợ hãi.
Một người Y-sơ-ra-ên nói: “Anh em có thấy tên đó xông tới không? Hắn đến để sỉ nhục Y-sơ-ra-ên đó! Nếu trong Y-sơ-ra-ên, ai giết được hắn thì vua sẽ ban thưởng nhiều của cải, gả con gái cho, và miễn sưu thuế cho nhà cha người ấy.”
Đa-vít hỏi những người đứng gần mình: “Người ta sẽ thưởng gì cho người giết được tên Phi-li-tin nầy, và cất bỏ sự sỉ nhục khỏi Y-sơ-ra-ên? Vì tên Phi-li-tin nầy, kẻ chẳng chịu cắt bì nầy là ai, mà lại dám thách thức đạo quân của Đức Chúa Trời hằng sống?”
Người ta lặp lại những lời trên và nói với Đa-vít: “Ai giết được hắn thì phần thưởng sẽ là như thế.”
Nhưng Ê-li-áp, anh cả, nghe Đa-vít nói vậy thì nổi giận với chàng, và nói: “Tại sao mầy đến đây? Mầy bỏ mấy con chiên trong hoang mạc cho ai? Tao biết tính kiêu ngạo và sự độc ác của lòng mầy. Vì muốn xem đánh nhau nên mầy mới đến đây.”
Đa-vít đáp: “Em có làm gì đâu? Nói cũng không được sao?”
Chàng quay khỏi anh mình, đến với người khác lặp lại câu hỏi ấy, thì người ta cũng trả lời như lần trước.
Có người nghe những lời Đa-vít nói, đem thuật lại cho Sau-lơ. Vua cho gọi Đa-vít đến.
Chàng tâu với Sau-lơ: “Xin đừng ai ngã lòng vì tên Phi-li-tin kia! Đầy tớ bệ hạ sẽ đi ra chiến đấu với hắn.”
Sau-lơ nói với Đa-vít: “Con không thể đương đầu với tên Phi-li-tin nầy đâu, vì con chỉ là một thiếu niên, còn hắn đã là một chiến binh từ lúc trẻ.”
Đa-vít tâu với Sau-lơ: “Khi đầy tớ bệ hạ chăn chiên cho cha mình, nếu có sư tử hay là gấu đến tha một con chiên trong bầy,
thì con đuổi theo, đánh nó, giật chiên khỏi mõm nó; nếu nó chống cự, con nắm râu nó, đánh và giết nó đi.
Đầy tớ bệ hạ đã đánh chết cả sư tử và gấu, vậy thì tên Phi-li-tin không chịu cắt bì kia cũng sẽ đồng số phận với chúng, vì hắn đã dám thách thức đạo quân của Đức Chúa Trời hằng sống.”
Đa-vít nói tiếp: “Đức Giê-hô-va đã giải cứu con khỏi vuốt sư tử và gấu, thì Ngài cũng sẽ giải cứu con khỏi tay tên Phi-li-tin kia.” Sau-lơ nói: “Hãy đi, nguyện Đức Giê-hô-va ở với con!”
Sau-lơ lấy áo chiến mình mặc cho Đa-vít, đội mũ đồng lên đầu và mặc áo giáp cho chàng.
Đa-vít đeo gươm của Sau-lơ bên ngoài áo giáp và tập đi thử vì không quen. Chàng nói với Sau-lơ: “Con không thể mang khí giới nầy mà đi được, vì con không quen.” Rồi Đa-vít cởi những thứ ấy ra.
Chàng cầm một cây gậy trong tay, chọn dưới khe năm viên đá bóng nhẵn để trong túi chăn chiên mình vẫn thường mang và cái ná ném đá trong tay, rồi xông tới tên Phi-li-tin.
Tên Phi-li-tin cũng tiến tới, đến gần Đa-vít; đi trước hắn là người mang khiên.
Tên Phi-li-tin nhìn Đa-vít, thấy chàng chỉ là một thiếu niên, nước da hồng hào, diện mạo khôi ngô, thì khinh thường chàng.
Tên Phi-li-tin nói với Đa vít: “Ta có phải là một con chó đâu mà ngươi cầm gậy đến với ta?” Rồi tên Phi-li-tin lấy danh các thần mình mà rủa sả Đa-vít,
và nói tiếp: “Hãy lại đây, ta sẽ ban thịt ngươi cho chim trời và thú đồng.”
Đa-vít nói với tên Phi-li-tin: “Ngươi cầm gươm, giáo, lao mà đến với ta. Còn ta, ta nhân danh Đức Giê-hô-va vạn quân mà đến, tức là Đức Chúa Trời của đạo quân Y-sơ-ra-ên mà ngươi đã thách thức.
Hôm nay, Đức Giê-hô-va phó ngươi vào tay ta, ta sẽ giết ngươi, cắt đầu ngươi, và ban thây của đạo quân Phi-li-tin làm mồi cho chim trời và thú rừng. Khắp thế gian sẽ biết rằng có một Đức Chúa Trời trong dân Y-sơ-ra-ên,
và toàn thể hội chúng nầy sẽ thấy rằng Đức Giê-hô-va không giải cứu bằng gươm, hoặc bằng giáo; vì Đức Giê-hô-va là Chúa của chiến trận, Ngài sẽ phó các người vào tay chúng tôi.”
Khi tên Phi-li-tin đứng dậy, xông tới tấn công Đa-vít thì Đa-vít nhanh chóng chạy về phía trận tuyến để xáp chiến với tên Phi-li-tin.
Đa-vít thọc tay vào túi lấy một viên đá, rồi dùng ná ném trúng vào trán tên Phi-li-tin. Viên đá lọt thấu vào trán, làm cho Gô-li-át té úp mặt xuống đất.
Như vậy Đa-vít thắng tên Phi-li-tin bằng viên đá ném bằng ná, giết chết hắn mà không có gươm trong tay.
Đa-vít chạy đến bên xác tên Phi-li-tin, lấy gươm của hắn, rút ra khỏi vỏ giết hắn, rồi dùng gươm cắt đầu hắn. Quân Phi-li-tin thấy người hùng của mình đã chết thì chạy trốn.
Bấy giờ, dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa nổi lên reo hò và đuổi theo quân Phi-li-tin cho đến cửa thành Gát và Éc-rôn. Xác quân Phi-li-tin ngã chết đầy đường Sa-a-ra-gim cho đến Gát và Éc-rôn.
Sau khi đã rượt đuổi quân Phi-li-tin, dân Y-sơ-ra-ên trở về cướp phá trại quân của chúng.
Đa-vít đem đầu của tên Phi-li-tin về Giê-ru-sa-lem, nhưng vũ khí của hắn thì để trong trại mình.
Trong lúc Sau-lơ thấy Đa-vít ra đón đánh tên Phi-li-tin thì hỏi Áp-ne, tổng tư lệnh quân đội: “Áp-ne, chàng thanh niên đó là con của ai?” Áp-ne thưa: “Tâu bệ hạ! Thật như bệ hạ vẫn đang sống, hạ thần hoàn toàn không biết.”
Vua nói: “Hãy hỏi xem chàng thanh niên ấy là con của ai.”
Khi Đa-vít đã giết tên Phi-li-tin trở về thì Áp-ne đón chàng, dẫn đến trước mặt Sau-lơ. Tay Đa-vít còn đang xách cái đầu của tên Phi-li-tin.
Sau-lơ hỏi: “Nầy chàng trai, ngươi là con ai?” Đa-vít thưa: “Con là con của Gie-sê, người Bết-lê-hem, đầy tớ của bệ hạ.”
Đa-vít vừa tâu với Sau-lơ xong thì tâm hồn của Giô-na-than kết chặt với tâm hồn Đa-vít, đến nỗi Giô-na-than yêu mến Đa-vít như chính mạng sống mình.
Từ ngày đó, Sau-lơ giữ Đa-vít lại, không để chàng trở về nhà cha mình nữa.
Giô-na-than kết ước với Đa-vít, vì ông yêu mến Đa-vít như chính mạng sống mình.
Giô-na-than cởi áo khoác mình đang mặc đưa cho Đa-vít cùng với áo giáp, cả gươm, cung, và thắt lưng của mình nữa.
Khi Đa-vít ra trận, bất cứ nơi nào Sau-lơ sai đi, ông đều thành công. Vì thế, Sau-lơ phong cho ông làm chỉ huy trưởng quân đội. Ông được lòng toàn dân và cả triều thần của Sau-lơ nữa.
Khi Đa-vít đã giết được người Phi-li-tin và cùng đạo quân trở về thì những phụ nữ từ khắp các thành Y-sơ-ra-ên đi ra đón vua Sau-lơ, vừa hát vừa múa, reo mừng với trống cơm, và các thứ nhạc khí khác.
Những phụ nữ ấy vừa múa vừa hát đối đáp với nhau rằng: “Sau-lơ giết hàng ngàn, Còn Đa-vít giết hàng vạn!”
Sau-lơ rất tức giận và bực mình vì những lời nầy. Ông nói: “Người ta cho Đa-vít hàng vạn, còn ta hàng nghìn; chỉ còn thiếu cho nó vương quyền mà thôi!”
Kể từ ngày ấy, Sau-lơ thường nhìn Đa-vít với cặp mắt ganh tị.
Hôm sau, Đức Chúa Trời sai ác thần nhập vào Sau-lơ, ông nói lảm nhảm trong nhà, còn Đa-vít vẫn đánh đàn như mọi ngày. Sau-lơ cầm một cây giáo trong tay,
và phóng giáo vào Đa-vít vì ông thầm nghĩ: “Ta sẽ ghim nó vào vách.” Nhưng Đa-vít tránh khỏi mũi giáo hai lần.
Sau-lơ sợ Đa-vít vì Đức Giê-hô-va ở với Đa-vít, nhưng đã từ bỏ ông.
Sau-lơ đẩy Đa-vít đi xa, cho ông làm chỉ huy trưởng nghìn quân. Đa-vít dẫn quân ra vào trận mạc.
Ông thành công trong mọi việc vì Đức Giê-hô-va ở với ông.
Thấy Đa-vít rất thành công như thế, Sau-lơ lại càng sợ ông.
Nhưng toàn dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đều yêu mến Đa-vít vì ông dẫn họ ra vào trận mạc.
Sau-lơ nói với Đa-vít: “Nầy, con gái lớn của ta là Mê-ráp. Ta sẽ gả nó cho con làm vợ, chỉ cần con dũng cảm giúp ta và chiến đấu cho Đức Giê-hô-va.” Sau-lơ thầm nghĩ: “Ta đừng tự tay hại nó, thà để cho tay của người Phi-li-tin hại nó còn hơn.”
Đa-vít thưa với Sau-lơ: “Con là ai? Thân phận con là gì? Gia tộc của cha con trong Y-sơ-ra-ên đâu có ra gì mà con được làm phò mã của bệ hạ?”
Tuy nhiên, đến lúc phải gả Mê-ráp, con gái của Sau-lơ, cho Đa-vít thì nàng lại được gả cho Át-ri-ên, người Mê-hô-la.
Nhưng Mi-canh, con gái của Sau-lơ, yêu Đa-vít. Khi biết được điều đó, Sau-lơ lấy làm thích thú.
Vì vua thầm nghĩ: “Ta sẽ gả con gái ta cho nó để gài bẫy nó, và tay người Phi-li-tin có thể hại nó.” Vậy, Sau-lơ nói với Đa-vít lần thứ hai: “Bây giờ, con sẽ làm phò mã của ta.”
Rồi Sau-lơ truyền lệnh cho triều thần: “Hãy rỉ tai với Đa-vít rằng: ‘Ông rất được lòng vua, và cả quần thần đều yêu mến ông. Vậy, hãy làm phò mã đi.’”
Triều thần của Sau-lơ nói lại các lời ấy với Đa-vít. Nhưng Đa-vít nói: “Các ông tưởng làm phò mã là việc nhỏ sao? Tôi vốn là một người nghèo nàn và hèn hạ.”
Triều thần của Sau-lơ thuật lại với vua câu trả lời của Đa-vít.
Sau-lơ bảo họ: “Các ngươi hãy nói với Đa-vít thế nầy: ‘Vua không đòi sính lễ gì khác, chỉ đòi một trăm dương bì của người Phi-li-tin để trả thù kẻ cừu địch mình.’” Âm mưu của Sau-lơ là khiến cho Đa-vít sa vào tay người Phi-li-tin.
Khi triều thần của vua thuật lại những lời nầy cho Đa-vít nghe, Đa-vít chấp nhận điều kiện ấy để làm phò mã. Trước kỳ hạn,
Đa-vít trỗi dậy, cùng với thuộc hạ mình đi đánh giết hai trăm người Phi-li-tin. Ông đem dương bì của chúng về, và nộp cho vua đủ số để trở thành phò mã. Vậy, Sau-lơ gả Mi-canh, con gái mình, cho Đa-vít làm vợ.
Nhưng khi Sau-lơ thấy rõ Đức Giê-hô-va ở với Đa-vít và thấy Mi-canh, con gái mình, yêu Đa-vít
thì Sau-lơ càng sợ Đa-vít hơn nữa. Vì vậy, Sau-lơ trở thành kẻ thù của Đa-vít suốt đời.
Mỗi lần các thủ lĩnh người Phi-li-tin gây chiến thì Đa-vít thường lập được nhiều chiến công hơn các bề tôi của Sau-lơ, khiến cho danh tiếng ông lừng lẫy.
Sau-lơ bàn tính với Giô-na-than, con mình, và với các bề tôi để giết Đa-vít. Nhưng Giô-na-than, con của Sau-lơ, rất thương yêu Đa-vít,
nên báo cho ông hay: “Sau-lơ, cha tôi, tìm cách giết anh. Vậy sáng mai, anh hãy cẩn thận, ở nơi kín đáo, và ẩn mình đi.
Tôi sẽ đi ra đứng cạnh cha tôi trong cánh đồng, nơi anh đang trốn, và nói về anh với cha tôi, thử xem người nói thế nào, rồi tôi sẽ cho anh biết.”
Vậy, Giô-na-than nói tốt về Đa-vít với Sau-lơ, cha mình: “Xin cha đừng phạm tội với Đa-vít, đầy tớ của cha, vì anh ấy không phạm tội với cha; trái lại, đã làm những việc ích lợi cho cha.
Anh ấy đã liều mạng sống mình mà giết tên Phi-li-tin kia, nên Đức Giê-hô-va vì cớ anh ấy thực hiện sự giải cứu lớn cho toàn thể Y-sơ-ra-ên. Cha đã thấy và vui mừng về điều đó. Vậy, tại sao cha lại định phạm tội với máu vô tội mà vô cớ giết Đa-vít?”
Sau-lơ lắng nghe lời Giô-na-than và thề: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, Đa-vít sẽ không chết!”
Bấy giờ, Giô-na-than gọi Đa-vít, thuật các lời ấy cho ông, rồi dẫn Đa-vít đến gần Sau-lơ, và Đa-vít phục vụ Sau-lơ như trước.
Chiến tranh cứ tiếp diễn. Đa-vít ra trận và đánh nhau với người Phi-li-tin, làm cho chúng bị tổn thất nặng nề, và chúng chạy trốn trước mặt ông.
Nhưng Đức Giê-hô-va sai ác thần nhập vào Sau-lơ lúc ông đang ngồi trong nhà với cây giáo trong tay, Đa-vít thì đánh đàn.
Sau-lơ lấy giáo định đâm Đa-vít ghim vào vách nhưng Đa-vít tránh khỏi, cây giáo của Sau-lơ cắm vào vách. Đa-vít trốn và thoát khỏi trong đêm đó.
Sau-lơ sai người đến nhà Đa-vít, canh chừng ông để sáng hôm sau giết ông. Nhưng Mi-canh, vợ Đa-vít, cho ông hay và nói: “Nếu đêm nay chàng không trốn thoát được, thì sáng mai chàng sẽ bị giết.”
Mi-canh thòng Đa-vít xuống qua cửa sổ và ông trốn thoát.
Sau đó, Mi-canh lấy tượng thần, đặt nằm trên giường, dùng tấm nệm bằng lông dê trùm đầu pho tượng, rồi lấy áo phủ lên.
Khi Sau-lơ sai người đến bắt Đa-vít thì nàng nói: “Chàng bị bệnh.”
Sau-lơ lại sai người đến xem Đa-vít ra sao, và bảo: “Cứ để hắn trên giường và khiêng đến cho ta để ta giết hắn.”
Vậy, những sứ giả đi đến đó, thấy tượng thần trên giường, đầu phủ một tấm lông dê.
Sau-lơ nói với Mi-canh: “Sao con lừa dối cha để cho kẻ thù của cha trốn thoát như thế?” Mi-canh thưa với Sau-lơ: “Anh ấy có dọa con: ‘Hãy để cho anh đi, nếu không, anh sẽ giết em!’”
Vậy, Đa-vít trốn thoát và đến Ra-ma thuật cho Sa-mu-ên mọi điều Sau-lơ đã làm cho mình. Sau đó, ông cùng Sa-mu-ên đến ở tại Na-giốt.
Có người báo cho Sau-lơ rằng: “Kìa, Đa-vít ở tại Na-giốt thuộc Ra-ma.”
Sau-lơ sai người đi bắt Đa-vít, nhưng khi họ thấy một đoàn tiên tri, do Sa-mu-ên dẫn đầu, đang nói tiên tri thì Thần của Đức Chúa Trời ngự trên họ, và họ cũng nói tiên tri.
Người ta báo cho Sau-lơ hay; ông sai những người khác, và họ cũng nói tiên tri. Sau-lơ lại sai người đi lần thứ ba, và họ cũng lại nói tiên tri nữa.
Lúc nầy, Sau-lơ thân hành đến Ra-ma, tới một cái giếng lớn ở Sê-cu, và hỏi: “Sa-mu-ên và Đa-vít ở đâu?” Có người trả lời: “Hai người đang ở Na-giốt thuộc Ra-ma.”
Vậy, vua đi đến Na-giốt thuộc Ra-ma. Thần của Đức Chúa Trời cũng ngự trên vua, và vua vừa đi vừa nói tiên tri cho đến khi tới Na-giốt thuộc Ra-ma.
Vua cởi trần, cũng nói tiên tri trước mặt Sa-mu-ên, rồi cứ ở trần như vậy nằm dưới đất trọn ngày và đêm đó. Vì thế, có câu tục ngữ: “Sau-lơ cũng thuộc vào hàng các nhà tiên tri sao?”
Đa-vít trốn khỏi Na-giốt thuộc Ra-ma, đến với Giô-na-than, và hỏi: “Tôi đã làm chi, tôi có tội ác gì? Tôi đã phạm tội gì với cha anh, mà người tìm hại mạng sống tôi?”
Giô-na-than trả lời: “Chẳng phải thế! Anh không chết đâu. Cha tôi không làm bất cứ điều gì, dù lớn hay nhỏ, mà không nói với tôi. Vậy, tại sao cha tôi lại giấu điều nầy với tôi? Không thể như thế được!”
Nhưng Đa-vít lại thề và nói: “Cha anh biết rõ rằng tôi được ơn trước mặt anh, nên vua tự nghĩ: ‘Đừng cho Giô-na-than biết điều nầy, kẻo nó phải lo buồn chăng!’ Nhưng, như Đức Giê-hô-va hằng sống và như anh vẫn sống đây, thật giữa tôi và cái chết chỉ còn cách một bước.”
Giô-na-than nói với Đa-vít: “Bất cứ điều gì anh muốn, thì tôi sẽ làm cho anh.”
Đa-vít nói tiếp: “Nầy, mai là ngày lễ hội trăng mới, tôi phải ngồi ăn chung bàn với vua. Nhưng xin để cho tôi đi ẩn ngoài đồng cho đến chiều tối ngày thứ ba.
Nếu cha anh thấy tôi vắng mặt thì hãy tâu với người rằng: ‘Đa-vít đã nài xin con cho nó về Bết-lê-hem, quê hương nó, vì ở đó cả gia tộc nó dâng sinh tế hằng năm.’
Nếu người trả lời: ‘Tốt!’ thì đầy tớ anh sẽ được bình an. Còn nếu người nổi giận, thì hãy biết rằng người cố ý hại tôi.
Vậy, hãy tỏ lòng nhân từ đối với đầy tớ anh, vì anh đã nhân danh Đức Giê-hô-va mà kết ước với đầy tớ anh. Nếu tôi có tội gì, thì xin chính anh hãy giết tôi đi, chứ sao anh lại đưa tôi đến với cha anh?”
Giô-na-than nói: “Xin anh đừng nghĩ vậy! Trái lại, nếu tôi biết cha tôi cố ý hại anh, chẳng lẽ tôi không cho anh biết sao?”
Đa-vít hỏi Giô-na-than: “Nhưng nếu cha anh trả lời anh cách giận dữ thì ai sẽ báo cho tôi biết?”
Giô-na-than bảo Đa-vít: “Nào, chúng ta ra ngoài đồng.” Cả hai cùng đi ra ngoài đồng.
Giô-na-than nói với Đa-vít: “Xin Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, làm chứng! Ngày mai hay là ngày mốt, vào giờ nầy, tôi sẽ dọ ý cha tôi. Nếu thấy không có điều gì đáng sợ cho anh thì tôi không sai người nào đến cho anh biết;
còn nếu cha tôi quyết lòng hại anh, tôi sẽ cho anh hay trước, bảo anh đi, và anh sẽ đi bình an. Nếu không, nguyện Đức Giê-hô-va phạt Giô-na-than cách nặng nề! Cầu xin Đức Giê-hô-va ở với anh, như Ngài đã ở với cha tôi!
Nếu tôi còn sống, xin anh lấy sự nhân từ của Đức Giê-hô-va mà đối đãi với tôi. Còn nếu tôi chết,
xin anh cũng đừng bao giờ cất bỏ ơn thương xót khỏi gia đình tôi đến đời đời, ngay cả khi Đức Giê-hô-va tận diệt tất cả kẻ thù của Đa-vít khỏi mặt đất.”
Như vậy, Giô-na-than kết ước với nhà Đa-vít rằng: “Đức Giê-hô-va sẽ báo thù những kẻ cừu địch của Đa-vít.”
Bởi yêu thương Đa-vít, Giô-na-than lại bắt Đa-vít thề nữa, vì Giô-na-than yêu thương Đa-vít như chính mạng sống mình.
Giô-na-than nói tiếp: “Mai là ngày lễ hội trăng mới, người ta sẽ thấy vắng anh, vì chỗ anh bỏ trống.
Ngày mốt, anh hãy xuống mau, đến chỗ anh đã ẩn hôm trước, là ngày xảy ra vụ đó, và anh sẽ đợi bên tảng đá Ê-xe.
Tôi sẽ bắn ba mũi tên về phía tảng đá đó như bắn vào một cái bia.
Rồi tôi sẽ sai đầy tớ, và bảo nó: ‘Hãy đi nhặt các mũi tên!’ Nếu tôi nói với nó: ‘Kìa, các mũi tên ở bên nầy của mầy, hãy nhặt lấy đi!’ Bấy giờ anh hãy đến; thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, mọi việc đều bình an cho anh, không có gì đáng sợ cả!
Nhưng nếu tôi nói với đứa tớ nhỏ: ‘Kìa, các mũi tên ở bên kia của mầy.’ Bấy giờ anh hãy đi, vì Đức Giê-hô-va khiến anh đi.
Còn về lời chúng ta đã nói với nhau, nguyện Đức Giê-hô-va làm chứng giữa anh và tôi đến đời đời.”
Vậy, Đa-vít ẩn trong cánh đồng. Khi đến ngày lễ hội trăng mới, vua ngồi bàn để dùng bữa;
vua ngồi ở chỗ vẫn thường ngồi gần bên vách. Giô-na-than đứng dậy, và Áp-ne ngồi bên cạnh Sau-lơ; còn chỗ của Đa-vít thì bỏ trống.
Hôm đó, Sau-lơ không nói gì cả vì nghĩ rằng: “Có điều rủi ro đã xảy đến cho nó rồi! Nó không thanh sạch, chắc chắn nó bị ô uế rồi.”
Nhưng ngày thứ hai sau ngày lễ hội trăng mới, chỗ của Đa-vít lại bỏ trống. Sau-lơ hỏi Giô-na-than, con mình: “Tại sao hôm qua và hôm nay con của Gie-sê không đến dự tiệc?”
Giô-na-than thưa với Sau-lơ: “Đa-vít đã nài xin con cho anh ấy về Bết-lê-hem.
Anh ấy nói: ‘Xin cho tôi đi, vì gia tộc chúng tôi có một buổi dâng sinh tế trong thành mà anh tôi đã dặn tôi phải về. Vậy bây giờ, nếu tôi được ơn trước mặt anh, xin cho phép tôi đi đến đó ngay, để thăm các anh tôi.’ Vì thế, Đa-vít không đến ngồi bàn với cha được.”
Lúc ấy, Sau-lơ nổi giận với Giô-na-than, và nói: “Mầy là đứa con gian tà và phản bội! Tao lại không biết mầy đã kết bạn với con của Gie-sê, làm hổ nhục cho mầy, và hổ nhục cho người mẹ đã sinh mầy sao?
Thật, nếu con Gie-sê còn sống bao lâu trên mặt đất, thì mầy và vương quốc mầy không vững chắc đâu! Vậy bây giờ, hãy sai người đi tìm nó, dẫn nó về cho tao! Vì nó phải chết!”
Giô-na-than thưa với Sau-lơ, cha mình: “Tại sao Đa-vít phải chết? Anh ấy đã làm gì?”
Sau-lơ phóng cây giáo để đâm Giô-na-than, và ông biết rằng cha mình đã quyết tâm giết Đa-vít.
Giô-na-than đứng dậy ra khỏi bàn, tức giận lắm! Và trong ngày thứ hai sau lễ hội trăng mới, ông không ăn gì hết, buồn bực về việc Đa-vít, vì cha mình đã sỉ nhục người.
Sáng hôm sau, Giô-na-than đi ra ngoài đồng tới chỗ đã hẹn với Đa-vít; có một đứa tớ nhỏ theo ông.
Ông nói với nó: “Hãy chạy nhặt những mũi tên ta sẽ bắn.” Đứa đầy tớ chạy đi, Giô-na-than bắn một mũi tên vượt qua nó.
Khi đứa trẻ chạy đến nơi có mũi tên Giô-na-than đã bắn, thì Giô-na-than la lên: “Mũi tên chẳng phải ở bên kia của mầy sao?”
Giô-na-than lại bảo đứa trẻ: “Đi mau lên, chớ dừng lại!” Đầy tớ của Giô-na-than nhặt mũi tên, rồi trở lại với chủ mình.
Nhưng đứa trẻ không biết gì cả, chỉ Đa-vít và Giô-na-than hiểu điều đó có nghĩa gì.
Giô-na-than đưa cung tên cho đầy tớ mình, và bảo: “Hãy đi, đem về thành.”
Khi đứa đầy tớ đã đi rồi, Đa-vít đứng dậy từ phía nam; sấp mặt xuống đất ba lần, rồi hai người hôn nhau và khóc, Đa-vít khóc nhiều hơn.
Giô-na-than nói với Đa-vít: “Anh hãy đi bình an! Chúng ta đã nhân danh Đức Giê-hô-va lập lời thề với nhau rằng: ‘Đức Giê-hô-va sẽ làm chứng giữa tôi và anh, giữa dòng dõi tôi và dòng dõi anh đến đời đời.’”
Vậy, Đa-vít đứng dậy và đi, còn Giô-na-than trở vào trong thành.
Đa-vít đến thành Nóp, gặp thầy tế lễ A-hi-mê-léc. Thầy tế lễ ra đón Đa-vít, run sợ và hỏi: “Sao ông đi một mình mà không có ai đi cùng vậy?”
Đa-vít trả lời với thầy tế lễ A-hi-mê-léc: “Vua có sai tôi một việc và dặn rằng: ‘Đừng cho ai biết gì cả về việc ta sai ngươi làm, cũng đừng cho ai biết lệnh ta truyền cho ngươi.’ Tôi đã hẹn gặp các thuộc hạ ở chỗ kia rồi.
Bây giờ, ông có gì ăn không? Xin cho tôi năm ổ bánh hay là thức gì ông có thể tìm được.”
Thầy tế lễ nói với Đa-vít: “Tôi không có sẵn bánh thường, chỉ có bánh thánh mà thôi; miễn là các thuộc hạ của ông giữ mình không đến gần đàn bà.”
Đa-vít trả lời với thầy tế lễ: “Đã vài ba ngày rồi, từ khi tôi ra đi, chúng tôi không gần một người nữ nào hết. Ngay trong chuyến đi thông thường, các thuộc hạ tôi cũng giữ thân thể thanh sạch, huống chi hôm nay họ lại không giữ mình thanh sạch hơn sao?”
Rồi thầy tế lễ trao bánh thánh cho ông, vì ở đó không có bánh gì khác ngoài bánh cung hiến đã được đặt trước mặt Đức Giê-hô-va, mà người ta lấy đi để đặt bánh mới vào trong ngày thay bánh.
Cũng trong ngày ấy, có một trong các đầy tớ của Sau-lơ ở đó, bị cầm giữ tại trước mặt Đức Giê-hô-va. Hắn tên là Đô-e, người Ê-đôm, đứng đầu các người chăn chiên của Sau-lơ.
Đa-vít hỏi A-hi-mê-léc: “Ở đây ông có sẵn một cây giáo hay là một thanh gươm nào không? Tôi đã không đem theo gươm hay là vũ khí gì, vì lệnh vua quá khẩn cấp!”
Thầy tế lễ nói: “Đây có thanh gươm của Gô-li-át, người Phi-li-tin mà ông đã giết trong thung lũng Ê-la; nó được bọc trong một miếng vải, để phía sau ê-phót. Nếu ông muốn thì hãy lấy đi, vì ở đây không có gươm nào khác.” Đa-vít nói: “Chẳng có gươm nào bằng! Ông đưa gươm đó cho tôi.”
Trong ngày đó, Đa-vít lên đường trốn khỏi Sau-lơ. Ông đến gặp A-kích, vua thành Gát.
Triều thần của A-kích hỏi: “Người nầy chẳng phải là Đa-vít, vua của xứ ấy sao? Chẳng phải người ta đã hát mừng người nầy trong lúc nhảy múa rằng: ‘Sau-lơ giết hàng ngàn, Còn Đa-vít giết hàng vạn’ sao?”
Đa-vít suy nghĩ về những lời nầy, và rất sợ A-kích, vua thành Gát.
Ông giả điên trước mặt chúng, làm bộ dại khờ giữa họ; ông vẽ nguệch ngoạc trên cửa cổng và để nước miếng chảy xuống râu.
A-kích nói với bầy tôi mình: “Kìa, các ngươi thấy hắn điên khùng, tại sao các ngươi còn dẫn hắn đến cho ta?
Ta có cần người điên đâu mà các ngươi dẫn tên nầy đến để nó bày trò điên khùng trước mặt ta? Một người như thế làm sao vào cung của ta được?”
Đa-vít đi khỏi đất Gát và trốn trong hang đá A-đu-lam. Khi các anh và cả gia đình ông hay tin, đều đi xuống đó với ông.
Tất cả những người cùng khốn, nợ nần, bất mãn đều quy tụ quanh ông, và ông trở thành thủ lĩnh của họ. Có khoảng bốn trăm người theo ông.
Từ nơi đó, Đa-vít đi đến Mích-pê thuộc Mô-áp, ông nói với vua Mô-áp: “Xin cho phép cha mẹ tôi đến ở với các ông cho đến khi tôi biết được điều Đức Chúa Trời sẽ làm cho tôi.”
Đa-vít dẫn cha mẹ mình đến gặp vua Mô-áp, và họ ở lại với vua suốt thời gian Đa-vít ở trong đồn lũy.
Nhưng nhà tiên tri Gát nói với Đa-vít: “Đừng ở trong đồn lũy nầy nữa; hãy đi đến đất Giu-đa.” Vậy, Đa-vít ra đi và đến khu rừng Hê-rết.
Sau-lơ nghe tin người ta đã tìm được Đa-vít và những người theo ông. Lúc ấy, Sau-lơ đang ngồi dưới gốc cây liễu trên một đồi cao ở Ghi-bê-a, tay cầm cây giáo, còn tất cả triều thần đứng chầu bên vua.
Sau-lơ nói với triều thần đứng chầu bên mình: “Hỡi người Bên-gia-min, hãy nghe! Có phải con Gie-sê sẽ ban cho các ngươi những đồng ruộng và vườn nho chăng? Các ngươi hi vọng nó sẽ phong các ngươi làm chỉ huy trưởng nghìn người và trăm người sao?
Vậy, tại sao tất cả các ngươi đồng mưu chống lại ta, và tại sao không cho ta hay rằng con trai ta đã kết ước với con Gie-sê? Vì sao không ai thương xót ta, cho ta hay trước rằng con trai ta đã xúi giục kẻ đầy tớ ta chống lại ta, âm mưu hại ta, như nó đã làm ngày nay?”
Bấy giờ, Đô-e người Ê-đôm, đang đứng bên triều thần của Sau-lơ, đáp: “Tôi thấy con của Gie-sê đến Nóp, vào nhà A-hi-mê-léc, con A-hi-túp.
A-hi-mê-léc cầu hỏi Đức Giê-hô-va cho hắn, cung cấp lương thực cho hắn, và đưa cho hắn thanh gươm của Gô-li-át, người Phi-li-tin.”
Vua sai người đi gọi thầy tế lễ A-hi-mê-léc, con A-hi-túp, cùng cả gia đình ông đến, tức những thầy tế lễ ở Nóp. Tất cả những người đó đều đến cùng vua.
Sau-lơ nói: “Hỡi con A-hi-túp, hãy nghe!” A-hi-mê-léc đáp: “Thưa chúa, có tôi đây.”
Sau-lơ nói tiếp: “Tại sao ngươi đồng mưu với con Gie-sê mà chống lại ta? Ngươi đã cấp bánh cho nó và đưa cho nó một thanh gươm, rồi cầu hỏi Đức Chúa Trời cho nó, để nó nổi lên chống lại ta, âm mưu hại ta, như nó đã làm ngày nay?”
A-hi-mê-léc thưa với vua: “Trong cả triều thần của ngài, ai là người trung thành như Đa-vít, làm phò mã, chỉ huy cận vệ của ngài, và được tôn trọng hơn hết trong triều đình?
Có phải hôm nay tôi mới bắt đầu cầu hỏi Đức Chúa Trời cho người đâu? Không hề như vậy! Xin bệ hạ đừng quy tội cho đầy tớ bệ hạ hoặc cho người nào trong nhà cha tôi về bất cứ điều gì, vì đầy tớ bệ hạ chẳng biết gì, hoặc ít hay nhiều về điều đó.”
Vua nói: “Nầy A-hi-mê-léc, ngươi và cả nhà cha ngươi đều phải chết!”
Vua bảo các cận vệ đứng bên mình: “Hãy lại gần và giết các thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va, vì chúng nó đã tiếp tay với Đa-vít, biết nó trốn mà không cho ta hay.” Nhưng các cận vệ của vua không muốn tra tay đánh giết những thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va.
Vì thế, vua bảo Đô-e: “Ngươi hãy lại gần và giết các thầy tế lễ đi!” Đô-e, người Ê-đôm, xông lại giết các thầy tế lễ. Trong ngày đó, hắn giết tám mươi lăm người mặc ê-phót bằng vải gai.
Vua cũng cho dùng gươm đánh giết dân thành Nóp, là thành của các thầy tế lễ; từ đàn ông đến đàn bà, từ trẻ con đến trẻ đang bú, cả bò, lừa, và chiên, đều bị giết bằng gươm.
Nhưng một trong các con của A-hi-mê-léc, cháu của A-hi-túp, tên là A-bia-tha, thoát khỏi và trốn theo Đa-vít.
A-bia-tha thuật lại cho Đa-vít việc Sau-lơ đã giết các thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va.
Đa-vít nói với A-bia-tha: “Tôi biết Đô-e, người Ê-đôm, có mặt tại đó trong ngày hôm ấy, chắc chắn hắn đã báo cho Sau-lơ. Chính tôi là nguyên nhân gây ra cái chết cả nhà cha của anh.
Hãy ở với tôi, đừng sợ gì! Vì ai tìm hại mạng sống anh là tìm hại mạng sống tôi. Ở bên tôi, anh sẽ được an toàn.”
Người ta đến báo tin cho Đa-vít: “Kìa, người Phi-li-tin tiến đánh Kê-i-la và chiếm các sân đập lúa.”
Đa-vít cầu hỏi Đức Giê-hô-va: “Con có nên đi đánh những người Phi-li-tin nầy không?” Đức Giê-hô-va phán với Đa-vít: “Hãy đi đánh người Phi-li-tin và giải cứu Kê-i-la.”
Tuy nhiên, những người theo Đa-vít nói: “Ở tại đây, ngay trong đất Giu-đa, mà chúng ta còn sợ hãi, huống chi đi đến Kê-i-la để đánh quân Phi-li-tin!”
Đa-vít tiếp tục cầu hỏi Đức Giê-hô-va, và Đức Giê-hô-va trả lời ông: “Hãy trỗi dậy, đi xuống Kê-i-la, Ta sẽ phó người Phi-li-tin vào tay con.”
Vậy, Đa-vít cùng với những người theo mình đến Kê-i-la, đánh người Phi-li-tin, bắt hết súc vật của chúng, và làm cho chúng tổn thất nặng nề. Như thế, Đa-vít đã giải cứu dân thành Kê-i-la.
Khi con của A-hi-mê-léc là A-bia-tha trốn đến với Đa-vít, ông có đem theo cái ê-phót, và cùng Đa-vít đến Kê-i-la.
Người ta cho Sau-lơ hay rằng Đa-vít đã vào trong Kê-i-la. Sau-lơ nói: “Đức Chúa Trời đã phó nó vào tay ta, vì nó đã tự giam mình khi đi vào trong thành có cửa đóng then cài.”
Sau-lơ liền huy động toàn quân, kéo xuống Kê-i-la, bao vây Đa-vít và những người theo ông.
Nhưng khi Đa-vít biết rằng Sau-lơ mưu toan hại mình, thì ông nói với thầy tế lễ A-bia-tha: “Hãy đem ê-phót đến đây.”
Rồi Đa-vít cầu hỏi: “Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đầy tớ của Chúa đã nghe rằng vì cớ con, Sau-lơ định đến thành Kê-i-la để phá hủy thành nầy.
Dân Kê-i-la có nộp con vào tay Sau-lơ không? Sau-lơ sẽ đi xuống đúng như lời đầy tớ Chúa đã nghe không? Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, xin cho đầy tớ Chúa biết điều đó.” Đức Giê-hô-va phán: “Sau-lơ sẽ đi xuống.”
Đa-vít lại hỏi: “Dân Kê-i-la có nộp con và những người theo con vào tay Sau-lơ không?” Đức Giê-hô-va phán: “Chúng sẽ nộp các ngươi.”
Vậy, Đa-vít và những người theo mình, khoảng sáu trăm người, liền trỗi dậy ra khỏi Kê-i-la, và đi hết nơi nầy đến nơi khác. Khi nghe tin Đa-vít đã thoát ra khỏi Kê-i-la, Sau-lơ không kéo quân đi nữa.
Đa-vít ở các nơi hiểm trở trong hoang mạc thuộc vùng đồi núi hoang mạc Xíp. Sau-lơ săn đuổi ông hằng ngày, nhưng Đức Chúa Trời không phó ông vào tay Sau-lơ.
Đa-vít thấy Sau-lơ đã kéo quân ra để săn đuổi mạng sống mình thì ở lại Hô-rết thuộc hoang mạc Xíp.
Bấy giờ Giô-na-than, con của Sau-lơ, lên đường đến với Đa-vít ở Hô-rết, giúp ông vững lòng tin cậy Đức Chúa Trời.
Giô-na-than nói: “Đừng sợ, vì tay của cha tôi là Sau-lơ sẽ chẳng đụng đến anh được đâu. Anh sẽ làm vua Y-sơ-ra-ên, còn tôi sẽ làm tể tướng của anh. Sau-lơ, cha tôi, cũng biết rõ như thế.”
Hai người cùng lập giao ước trước mặt Đức Giê-hô-va. Rồi Đa-vít ở lại Hô-rết, còn Giô-na-than trở về nhà mình.
Người Xíp đi lên gặp Sau-lơ tại Ghi-bê-a, và nói: “Đa-vít trốn giữa chúng tôi trong các nơi hiểm trở tại Hô-rết, trên đồi Ha-ki-la, ở về phía nam của hoang mạc.
Vậy bây giờ, xin bệ hạ hãy xuống như lòng khao khát của bệ hạ. Về phần mình, chúng tôi sẽ nộp hắn vào tay bệ hạ.”
Sau-lơ nói: “Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho các ngươi, vì các ngươi có lòng thương xót ta!
Hãy đi điều tra để biết cho chắc hơn nữa chỗ hắn ở, và ai đã nhìn thấy hắn ở đó; vì người ta nói hắn rất quỷ quyệt.
Các ngươi hãy xem xét và tìm biết tất cả nơi hắn lẩn trốn, rồi trở về tường trình chính xác cho ta. Lúc ấy ta sẽ đi với các ngươi. Nếu hắn ở trong xứ thì ta sẽ tìm hắn trong các gia tộc của Giu-đa.”
Họ liền lên đường trở về Xíp trước Sau-lơ. Còn Đa-vít và những thuộc hạ của ông ở trong hoang mạc Ma-ôn, tại A-ra-ba về phía nam hoang mạc.
Sau-lơ và các thuộc hạ đi tìm Đa-vít. Người ta báo tin nầy cho Đa-vít, ông xuống chỗ tảng đá trong hoang mạc Ma-ôn. Khi hay tin, Sau-lơ đến đó truy đuổi Đa-vít.
Sau-lơ đi trên sườn núi bên nầy, còn Đa-vít và thuộc hạ đi sườn núi bên kia. Đa-vít vội vàng chạy trốn để thoát khỏi Sau-lơ. Nhưng khi Sau-lơ và các thuộc hạ đang bao vây để bắt Đa-vít và những người theo ông,
thì có một người đưa tin đến báo cho Sau-lơ: “Xin bệ hạ về gấp, vì người Phi-li-tin đang xâm lấn xứ sở.”
Sau-lơ ngưng truy đuổi Đa-vít để trở về đánh người Phi-li-tin. Vì thế, người ta gọi chỗ nầy là Tảng Đá Phân Rẽ.
Đa-vít lên khỏi chỗ đó, đến trú ẩn trong các nơi hiểm trở của vùng Ên-ghê-đi.
Sau khi đánh đuổi người Phi-li-tin trở về, thì Sau-lơ được người ta báo tin: “Kìa, Đa-vít ở trong hoang mạc Ên-ghê-đi.”
Sau-lơ đem ba nghìn quân tuyển chọn trong toàn dân Y-sơ-ra-ên, kéo ra tìm bắt Đa-vít và các thuộc hạ trên dãy núi đá Dê Rừng.
Sau-lơ đi đến gần bãi giữ chiên ở bên đường. Tại đó có một hang đá, Sau-lơ vào đó để đi đại tiện. Lúc ấy, Đa-vít và các thuộc hạ đang ở cuối hang.
Những người theo Đa-vít nói với ông: “Đây là ngày mà Đức Giê-hô-va có phán với ông: ‘Nầy, Ta phó kẻ thù ngươi vào tay ngươi. Hãy xử nó tùy ý ngươi.’” Nhưng Đa-vít đứng dậy, cắt trộm vạt áo choàng của Sau-lơ.
Sau đó, lòng Đa-vít tự trách về việc mình đã cắt vạt áo choàng của Sau-lơ.
Ông nói với các thuộc hạ: “Xin Đức Giê-hô-va đừng để ta phạm tội với chúa ta, là người được xức dầu của Đức Giê-hô-va, mà tra tay trên mình người, vì Sau-lơ là người được xức dầu của Đức Giê-hô-va.”
Đa-vít nói những lời ấy để quở trách các thuộc hạ, và ngăn cản họ xông vào Sau-lơ. Còn Sau-lơ đứng dậy, ra khỏi hang, và tiếp tục lên đường.
Rồi Đa-vít cũng đứng dậy, ra khỏi hang và gọi với theo Sau-lơ: “Bệ hạ, chúa của con ơi!” Sau-lơ nhìn lại phía sau mình, thì Đa-vít sấp mặt xuống đất mà lạy.
Đa-vít nói với Sau-lơ: “Tại sao bệ hạ nghe lời người ta nói rằng: ‘Đa-vít tìm cách hại vua?’
Kìa, hãy xem! Chính mắt bệ hạ có thể thấy được rằng ngày nay, Đức Giê-hô-va đã phó bệ hạ vào tay con trong hang đá. Có người bảo con giết bệ hạ, nhưng con đã tha bệ hạ, và nói: ‘Ta không tra tay trên mình chúa ta, vì vua là người được xức dầu của Đức Giê-hô-va.’
Vậy, cha ôi! Hãy xem cái vạt áo choàng của cha mà con cầm trong tay. Vì con đã cắt vạt áo choàng của cha, mà không giết cha, thì xin cha hãy biết và thấy rằng nơi con không có điều ác, hoặc sự phản nghịch. Con đã không phạm tội hại cha, còn cha lại săn mạng sống con để cất nó đi. Xin Đức Giê-hô-va xét xử giữa cha và con.
Đức Giê-hô-va sẽ báo thù cha cho con, nhưng con không tra tay vào mình cha.
Như câu cổ ngữ nói: ‘Sự ác do kẻ ác mà ra’, nhưng tay con sẽ không đụng đến mình cha.
Vua Y-sơ-ra-ên kéo ra đánh ai? Cha đuổi theo ai? Một con chó chết! Một con bọ chét!
Thế thì, Đức Giê-hô-va sẽ làm Đấng Phân xử để xét xử giữa cha và con; Ngài sẽ xem xét, biện hộ và giải cứu con khỏi tay cha.”
Khi Đa-vít nói các lời ấy xong, thì Sau-lơ nói: “Hỡi Đa-vít, con ta, có phải tiếng của con không?” Sau-lơ cất tiếng lên khóc.
Ông nói với Đa-vít: “Con thật công chính hơn cha, vì con lấy điều thiện mà báo điều ác cha đã làm cho con.
Ngày nay, con đã chứng tỏ rằng con đối xử tốt với cha; vì Đức Giê-hô-va đã phó cha vào tay con, nhưng con không giết cha.
Vì có người nào gặp kẻ thù mình mà lại để cho nó đi bình an vô sự đâu? Nguyện Đức Giê-hô-va lấy điều thiện báo cho con về điều con đã làm cho cha ngày nay!
Bây giờ, cha biết rằng chắc chắn con sẽ làm vua, và vương quốc Y-sơ-ra-ên sẽ bền lâu trong tay con.
Vậy, hãy nhân danh Đức Giê-hô-va thề cùng cha rằng con sẽ không diệt dòng dõi cha, và không hủy danh cha khỏi nhà tổ phụ cha.”
Đa-vít lập lời thề với Sau-lơ. Rồi Sau-lơ trở về nhà, còn Đa-vít và các thuộc hạ trở về đồn lũy mình.
Sa-mu-ên qua đời, và toàn dân Y-sơ-ra-ên họp lại than khóc ông. Họ an táng ông tại quê nhà ở Ra-ma. Sau đó, Đa-vít di chuyển xuống hoang mạc Pha-ran.
Có một người ở Ma-ôn, còn sản nghiệp thì ở Cạt-mên. Người ấy rất giàu có, ông nuôi ba nghìn con chiên, và một nghìn con dê. Ông đang hớt lông chiên ở Cạt-mên.
Ông ấy tên là Na-banh, thuộc dòng dõi Ca-lép; và vợ ông là A-bi-ga-in. Người vợ thì khôn ngoan xinh đẹp, còn chồng thì cứng cỏi và hung ác.
Trong hoang mạc, Đa-vít nghe tin Na-banh đang hớt lông chiên
nên sai mười thanh niên đi, và dặn họ: “Hãy đi lên Cạt-mên, đến gặp Na-banh, nhân danh ta chào thăm ông ấy,
và nói rằng: ‘Nguyện ông được bình an, nguyện gia đình ông và tất cả những gì thuộc về ông đều được bình an!
Bây giờ, tôi được biết có thợ đang hớt lông chiên cho ông. Ngày trước, khi những người chăn chiên của ông ở gần chúng tôi, chúng tôi không hề quấy nhiễu họ; trọn thời gian ở tại Cạt-mên, họ không mất mát gì cả.
Xin cứ hỏi các đầy tớ ông, họ sẽ nói cho ông biết. Vì chúng tôi đến trong ngày lễ hội, mong rằng các thanh niên của tôi được ơn trước mặt ông. Xin cho các đầy tớ ông và con ông là Đa-vít bất cứ món gì ông có sẵn trong tay.’”
Các thanh niên của Đa-vít đến gặp Na-banh, và nhân danh Đa-vít lặp lại tất cả những lời ấy, rồi yên lặng chờ đợi.
Nhưng Na-banh trả lời với các đầy tớ Đa-vít: “Đa-vít là ai? Con của Gie-sê là ai? Ngày nay sao có lắm đầy tớ trốn chủ thế!
Lẽ nào ta sẽ lấy bánh, nước và thịt dành cho các thợ hớt lông chiên mà cho những kẻ chẳng biết từ đâu đến sao?”
Các thanh niên của Đa-vít quay trở về. Đến nơi, họ thuật lại tất cả những lời ấy cho Đa-vít nghe.
Đa-vít nói với các thuộc hạ: “Mỗi người hãy đeo gươm của mình vào!” Họ đều đeo gươm, Đa-vít cũng đeo gươm của ông. Khoảng bốn trăm người đi lên theo Đa-vít, còn hai trăm người ở lại giữ đồ đạc.
Một trong số các đầy tớ báo tin cho A-bi-ga-in, vợ của Na-banh: “Đa-vít đã sai những sứ giả từ hoang mạc đến chào chủ chúng tôi, nhưng ông ấy mắng nhiếc họ.
Thật, suốt thời gian chúng tôi ở gần những người ấy trong cánh đồng, họ rất tử tế với chúng tôi, chúng tôi không bị quấy nhiễu, và không mất mát vật gì cả.
Trong lúc chúng tôi ở gần các người đó, chăn giữ bầy chiên, thì ngày và đêm họ như một bức tường bao bọc chúng tôi.
Vậy bây giờ, xin bà xem phải làm gì, vì người ta đã định giáng tai họa trên chủ chúng tôi và trên cả nhà người. Ông chủ hung dữ quá, nên không chịu nghe ai cả.”
A-bi-ga-in vội vàng lấy hai trăm ổ bánh, hai bầu rượu nho, năm con chiên đực đã làm thịt, khoảng mười bảy ký hột rang, một trăm bánh nho khô, và hai trăm bánh trái vả khô, chất trên lưng các con lừa.
Rồi bà nói với các đầy tớ: “Hãy đi trước, ta sẽ theo sau các ngươi.” Nhưng bà không nói gì cả với Na-banh, chồng mình.
Khi bà cưỡi lừa đi xuống theo một con đường khuất sau ngọn núi, thì kìa, Đa-vít và các thuộc hạ cũng đang xuống về phía bà, và bà gặp họ.
Đa-vít đã nói: “Thật uổng công cho ta đã gìn giữ tất cả những gì của người nầy trong hoang mạc, đến đỗi không mất mát gì cả. Thế mà hắn lại lấy oán trả ơn.
Nguyện Đức Chúa Trời phạt kẻ thù của Đa-vít thật nặng nề! Từ đây đến sáng mai, ta sẽ chẳng để bất cứ người nam nào thuộc về Na-banh sống sót.”
Vừa thấy Đa-vít, A-bi-ga-in liền vội vàng xuống lừa, sấp mình xuống đất và lạy trước mặt Đa-vít.
Bà phủ phục dưới chân người mà nói: “Lạy chúa, lỗi tại tôi, tại tôi! Xin cho phép tớ gái của chúa được trình bày, xin nghe tớ gái chúa nói.
Xin chúa tôi đừng để ý đến con người hung ác kia là Na-banh, vì tên của hắn hợp với tính của hắn: tên hắn là Na-banh, và trong hắn có sự điên dại. Còn tôi, là tớ gái chúa, không gặp những người chúa đã sai đến.
Bây giờ, chúa tôi ơi, Đức Giê-hô-va đã ngăn chúa khỏi tội làm đổ máu, và lấy chính tay mình báo thù. Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống và như chúa vẫn sống đây, nguyện các kẻ thù và kẻ tìm hại chúa tôi đều sẽ như Na-banh!
Và đây là món quà mà tớ gái chúa đem đến cho chúa tôi để phân phát cho những người theo chúa tôi.
Xin thứ lỗi cho tớ gái chúa! Đức Giê-hô-va chắc chắn sẽ lập cho chúa tôi một nhà vững bền, vì chúa tôi đánh trận cho Đức Giê-hô-va, và trọn đời của chúa sẽ không tìm thấy một điều ác nào.
Nếu có ai nổi lên để săn đuổi và tìm hại mạng sống chúa, thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúa sẽ bảo bọc mạng sống của chúa; còn mạng sống của kẻ thù chúa thì Đức Giê-hô-va sẽ ném ra xa như ném đá ra khỏi ná.
Khi Đức Giê-hô-va đã làm cho chúa tôi tất cả điều tốt lành mà Ngài đã hứa, và khi Ngài đã lập chúa làm lãnh tụ của Y-sơ-ra-ên,
thì ước gì chúa tôi sẽ không hối tiếc, và không bị lương tâm cắn rứt, vì đã vô cớ làm đổ máu và tự báo thù cho mình! Lại khi Đức Giê-hô-va đã làm ơn cho chúa tôi, nguyện chúa nhớ đến tớ gái của chúa!”
Đa-vít nói với A-bi-ga-in: “Đáng ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, vì hôm nay Ngài đã sai bà đến đón tôi!
Đáng khen sự sáng suốt của bà và đáng chúc phước cho bà, vì hôm nay đã cản tôi khỏi tội làm đổ máu và ngăn tôi dùng chính tay mình mà báo thù.
Nhưng thật như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là hằng sống, Đấng đã ngăn cản tôi làm điều ác, nếu bà không vội vàng đến đón tôi thì tôi hẳn sẽ chẳng để bất cứ người nam nào thuộc về Na-banh sống sót đến sáng mai.”
Rồi Đa-vít nhận từ tay bà những gì bà đem đến cho ông, và nói: “Hãy trở về nhà bình an. Hãy xem, tôi đã nghe bà, và chấp nhận điều bà thỉnh cầu.”
A-bi-ga-in trở về cùng Na-banh. Kìa, ông ấy đang mở tiệc trong nhà mình, thật như yến tiệc của vua vậy. Na-banh vui vẻ trong lòng và say khướt nên A-bi-ga-in không nói cho ông biết điều gì, dù lớn hay nhỏ, cho đến khi trời sáng.
Sáng hôm sau, khi Na-banh đã tỉnh rượu, vợ ông thuật lại mọi việc thì ông chết điếng, đờ người ra như đá.
Khoảng mười ngày sau, Đức Giê-hô-va đánh Na-banh, và ông chết.
Khi Đa-vít nghe tin Na-banh đã chết, ông nói: “Đáng ca ngợi Đức Giê-hô-va, vì Ngài đã bênh vực tôi về việc Na-banh đã sỉ nhục tôi, và đã giữ đầy tớ Ngài khỏi làm điều ác! Đức Giê-hô-va đã khiến sự gian ác của Na-banh đổ lại trên đầu hắn!” Sau đó, Đa-vít sai người đến hỏi A-bi-ga-in làm vợ.
Các đầy tớ của Đa-vít đến với A-bi-ga-in tại Cạt-mên, và nói: “Đa-vít sai chúng tôi đến với bà để xin cưới bà làm vợ ông ấy.”
Bà đứng dậy, sấp mặt xuống đất, và nói: “Nầy tớ gái của chúa sẽ làm nữ tỳ để rửa chân cho các đầy tớ của chúa tôi.”
Rồi A-bi-ga-in vội vã đứng dậy, cưỡi lừa, và cùng với năm tớ gái đi theo các sứ giả của Đa-vít, để về làm vợ ông.
Đa-vít cũng đã cưới A-hi-nô-am, người Gít-rê-ên; cả hai đều làm vợ ông.
Sau-lơ đã gả Mi-canh, con gái mình và là vợ của Đa-vít, cho Phanh-ti, con của La-ít, người Ga-lim.
Người Xíp lại đến gặp Sau-lơ tại Ghi-bê-a, và báo rằng: “Đa-vít đang trốn trên đồi Ha-ki-la, đối diện hoang mạc.”
Sau-lơ lên đường cùng với ba nghìn quân tuyển chọn của Y-sơ-ra-ên, đi xuống hoang mạc Xíp để tìm Đa-vít.
Sau-lơ đóng trại bên đường, trên đồi Ha-ki-la, đối diện hoang mạc; còn Đa-vít thì ở trong hoang mạc. Khi thấy Sau-lơ đuổi theo mình,
ông sai người đi do thám, và biết chắc chắn rằng Sau-lơ đã đến.
Đa-vít lên đường và đến tận nơi Sau-lơ đóng trại. Ông nhìn thấy chỗ ngủ của Sau-lơ và Áp-ne, con Nê-rơ, là tư lệnh quân đội của vua. Sau-lơ ngủ trong trại quân, có quân lính đóng trại chung quanh ông.
Đa-vít lên tiếng hỏi A-hi-mê-léc, người Hê-tít, và A-bi-sai, con của Xê-ru-gia, em của Giô-áp: “Ai sẽ đi với ta xuống trại quân Sau-lơ?” A-bi-sai đáp: “Tôi sẽ đi xuống với ông.”
Ban đêm, Đa-vít và A-bi-sai đến chỗ quân lính, thấy Sau-lơ đang ngủ trong trại quân, cây giáo cắm xuống đất nơi đầu giường. Áp-ne và quân lính nằm chung quanh Sau-lơ.
A-bi-sai nói với Đa-vít: “Hôm nay, Đức Chúa Trời đã phó kẻ thù của ông vào tay ông. Xin cho phép tôi lấy giáo đâm, chỉ một nhát là ghim ông ta xuống đất; không cần phải đâm lại lần thứ hai.”
Nhưng Đa-vít nói với A-bi-sai: “Đừng giết ông ấy! Vì có ai tra tay trên người được xức dầu của Đức Giê-hô-va mà không bị trừng phạt đâu?”
Ông nói tiếp: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, Đức Giê-hô-va chắc chắn sẽ đánh phạt vua, hoặc khi đến kỳ định vua phải chết, hoặc khi ra trận mà bị thiệt mạng.
Nguyện Đức Giê-hô-va giữ ta khỏi tra tay vào người được xức dầu của Ngài! Ngươi hãy lấy cây giáo nơi đầu giường và bình nước, rồi chúng ta đi.”
Thế là, Đa-vít lấy cây giáo và bình nước nơi đầu giường của Sau-lơ, rồi hai người đi. Không ai thấy, không ai biết, và cũng chẳng ai thức giấc; tất cả đều ngủ, vì Đức Giê-hô-va đã khiến họ ngủ say.
Rồi Đa-vít sang phía bên kia, đứng trên đỉnh núi, cách họ một khoảng rất xa.
Ông gọi quân lính và Áp-ne, con Nê-rơ: “Áp-ne, ông không trả lời sao?” Áp-ne trả lời: “Ông là ai mà dám gọi vua?”
Đa-vít nói với Áp-ne: “Chẳng phải ông là bậc trượng phu sao? Trong Y-sơ-ra-ên ai bằng ông? Vậy, tại sao ông không canh giữ vua, là chúa của ông? Có người trong dân chúng đã đến muốn giết vua là chúa ông.
Điều ông đã làm đó không tốt đâu. Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, ông đáng chết vì không canh giữ chúa của ông, là người được xức dầu của Đức Giê-hô-va. Bây giờ, hãy xem cây giáo của vua và bình nước trên đầu giường vua ở đâu rồi?”
Sau-lơ nhận ra tiếng của Đa-vít, và hỏi: “Hỡi Đa-vít, con ta, có phải tiếng của con không?” Đa-vít thưa: “Tâu bệ hạ, chúa của con, đúng là tiếng con.”
Ông nói tiếp: “Tại sao chúa đuổi theo đầy tớ mình như vậy? Con đã làm điều gì, và tay con đã nhúng vào tội ác chi?
Bây giờ, xin bệ hạ hãy lắng nghe lời của đầy tớ bệ hạ. Nếu Đức Giê-hô-va thúc giục bệ hạ hại con, nguyện Ngài tiếp nhận tế lễ. Nhưng nếu là loài người, nguyện chúng bị nguyền rủa trước mặt Đức Giê-hô-va; vì ngày nay chúng đã xua đuổi con ra khỏi chỗ dành cho con trong sản nghiệp của Đức Giê-hô-va, và nói rằng: ‘Hãy đi, thờ các thần khác.’
Ôi! Nguyện máu con không chảy ra trên đất cách xa mặt Đức Giê-hô-va; vì vua Y-sơ-ra-ên đã kéo quân ra để tìm một con bọ chét, như người ta đuổi bắt chim đa đa trên núi vậy.”
Bấy giờ, Sau-lơ nói: “Ta có tội! Hỡi Đa-vít, con ta, hãy trở lại! Ta sẽ không làm hại con nữa, vì ngày nay con đã xem trọng mạng sống ta. Thật, ta đã hành động điên rồ, đã sai lầm quá lớn.”
Đa-vít thưa: “Đây là cây giáo của bệ hạ, xin cho một đầy tớ của bệ hạ qua đây mà lấy.
Đức Giê-hô-va sẽ thưởng cho mỗi người tùy theo sự công chính và lòng trung thành của người ấy. Hôm nay, Ngài đã phó bệ hạ vào tay con, nhưng con không muốn tra tay vào người được xức dầu của Đức Giê-hô-va.
Hôm nay, con đã xem mạng sống bệ hạ là quý trọng thể nào, thì Đức Giê-hô-va cũng sẽ xem mạng sống con là quý trọng thể ấy, và giải cứu con khỏi mọi hoạn nạn.”
Sau-lơ nói với Đa-vít: “Hỡi Đa-vít, con ta, nguyện con được phước! Chắc chắn con sẽ làm những việc lớn lao và sẽ thành công.” Rồi Đa-vít đi đường mình, còn Sau-lơ trở về nhà.
Đa-vít thầm nghĩ rằng: “Chắc một ngày kia, ta sẽ chết bởi tay Sau-lơ. Tốt hơn là ta nên trốn sang đất Phi-li-tin để Sau-lơ không còn tìm bắt ta trong khắp lãnh thổ Y-sơ-ra-ên nữa. Như vậy, ta sẽ thoát khỏi tay vua.”
Rồi Đa-vít lên đường cùng sáu trăm người theo mình, vượt biên giới đến với A-kích, con của Ma-óc, vua Gát.
Đa-vít và các thuộc hạ ở với A-kích tại Gát, mỗi người đều có gia quyến mình. Đa-vít có hai vợ đi theo, tức là A-hi-nô-am ở Gít-rê-ên, và A-bi-ga-in, trước làm vợ của Na-banh ở Cạt-mên.
Khi Sau-lơ được tin Đa-vít đã trốn sang Gát, thì không còn truy lùng ông nữa.
Đa-vít nói với A-kích: “Nếu tôi được ơn trước mặt ngài, xin hãy cho tôi một nơi nào trong các thành thuộc vùng quê để tôi ở. Vì đầy tớ ngài ở trong hoàng thành với ngài sao được?”
Vậy trong ngày đó, A-kích ban thành Xiếc-lác cho ông. Vì thế, Xiếc-lác thuộc về các vua Giu-đa cho đến ngày nay.
Thời gian Đa-vít ngụ trong đất người Phi-li-tin là một năm bốn tháng.
Đa-vít và các thuộc hạ tiến đánh người Ghê-su-rít, Ghiệt-xít, và A-ma-léc. Đó là những dân tộc từ lâu đã sống ở miền đất Su-rơ trải dài cho đến đất Ai Cập.
Mỗi khi đánh một vùng đất nào, Đa-vít không để một người nam hay nữ nào còn sống sót; lấy hết chiên, bò, lừa, lạc đà, và quần áo. Rồi ông trở về với A-kích.
Nếu vua A-kích hỏi: “Hôm nay, các ngươi đi đánh nơi nào?” Đa-vít trả lời: “Nê-ghép của Giu-đa”, hoặc “Nê-ghép của người Giê-ra-mê-lít”, hoặc “Nê-ghép của người Kê-nít.”
Đa-vít không để một người nam hay nữ nào sống sót để dẫn về Gát, vì ông nói: “E chúng sẽ báo cáo có hại cho chúng ta rằng: ‘Đa-vít đã làm như thế.’” Suốt thời gian Đa-vít ở tại vùng quê xứ Phi-li-tin, ông vẫn thường làm như vậy.
Vì vậy, vua A-kích tin Đa-vít, vì nghĩ rằng: “Hắn tự làm cho mình trở nên đáng ghét đối với Y-sơ-ra-ên, là dân tộc hắn, và hắn sẽ làm đầy tớ cho ta mãi mãi.”
Trong lúc đó, người Phi-li-tin tập hợp các lực lượng để giao chiến với Y-sơ-ra-ên. A-kích nói với Đa-vít: “Ngươi phải biết rằng ngươi và các thuộc hạ của ngươi sẽ đi ra trận với ta.”
Đa-vít nói với A-kích: “Vâng, ngài sẽ thấy điều đầy tớ ngài có thể làm.” A-kích nói với Đa-vít: “Thế thì, ta sẽ đặt ngươi làm vệ sĩ cho ta suốt đời.”
Bấy giờ, Sa-mu-ên đã qua đời; toàn dân Y-sơ-ra-ên than khóc và an táng ông tại Ra-ma, là thành của ông. Còn Sau-lơ đã trục xuất những đồng cốt và thầy bói ra khỏi xứ sở.
Người Phi-li-tin tập hợp lại và đến đóng quân tại Su-nem. Sau-lơ cũng tập hợp toàn thể Y-sơ-ra-ên, và đóng quân tại Ghinh-bô-a.
Nhưng khi Sau-lơ thấy trại quân Phi-li-tin thì hoảng sợ và vô cùng bối rối trong lòng.
Vua cầu hỏi Đức Giê-hô-va, nhưng Đức Giê-hô-va không trả lời, dù là qua chiêm bao, hoặc u-rim, hay qua các nhà tiên tri.
Sau-lơ bảo triều thần: “Hãy tìm cho ta một bà cốt, để ta đến cầu hỏi bà ấy.” Triều thần tâu: “Có một bà cốt ở Ên-đô-rơ.”
Sau-lơ cải trang, mặc y phục khác, rồi cùng với hai người đến nhà bà nầy lúc ban đêm. Sau-lơ nói: “Xin bà ngồi đồng mà bói cho tôi, và hãy gọi lên hồn của người tôi sẽ nói cho bà biết.”
Người đàn bà đáp: “Nầy, ông biết rõ điều Sau-lơ đã làm, vua đã trục xuất những đồng cốt và thầy bói ra khỏi xứ sở. Vậy, tại sao ông lại gài bẫy để giết tôi?”
Sau-lơ chỉ Đức Giê-hô-va mà thề với bà ấy: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, bà sẽ không bị hình phạt gì về việc nầy cả!”
Người đàn bà hỏi: “Tôi phải gọi ai lên cho ông?” Sau-lơ trả lời: “Hãy gọi Sa-mu-ên cho tôi.”
Khi người đàn bà thấy Sa-mu-ên thì la hoảng, và nói với Sau-lơ: “Tại sao ngài lừa tôi? Ngài là vua Sau-lơ!”
Vua nói với bà: “Đừng sợ! Bà đã thấy gì?” Người đàn bà đáp: “Tôi thấy một vị thần từ dưới đất lên.”
Vua hỏi: “Diện mạo vị ấy ra sao?” Bà đáp: “Ấy là một cụ già đi lên, khoác một chiếc áo choàng.” Sau-lơ biết đó là Sa-mu-ên, liền cúi đầu, sấp mình xuống đất và lạy.
Sa-mu-ên hỏi Sau-lơ: “Tại sao ngươi quấy rầy ta mà gọi ta lên?” Sau-lơ trả lời: “Tôi lâm vào tình cảnh rất nguy khốn; vì người Phi-li-tin giao chiến với tôi, và Đức Chúa Trời đã rời khỏi tôi. Ngài không trả lời cho tôi, dù qua các nhà tiên tri, hay qua chiêm bao. Vậy, tôi phải gọi ông lên, để ông cho tôi biết phải làm gì.”
Sa-mu-ên nói: “Tại sao ngươi còn cầu hỏi ta, trong khi Đức Giê-hô-va đã từ bỏ ngươi và trở thành kẻ thù của ngươi?
Đức Giê-hô-va đã làm cho ngươi đúng như những gì Ngài đã phán qua ta: Đức Giê-hô-va đã lấy vương quốc khỏi tay ngươi mà ban cho người lân cận ngươi là Đa-vít.
Vì ngươi đã không vâng theo lời phán của Đức Giê-hô-va, không làm cho người A-ma-léc nếm biết cơn thịnh nộ của Ngài, nên ngày nay Đức Giê-hô-va đối xử với ngươi như thế.
Hơn nữa, Đức Giê-hô-va sẽ phó Y-sơ-ra-ên và ngươi vào tay người Phi-li-tin. Ngày mai, ngươi và các con trai ngươi sẽ ở một nơi với ta. Đức Giê-hô-va cũng sẽ phó quân đội Y-sơ-ra-ên vào tay người Phi-li-tin.”
Sau-lơ liền ngã nằm dài dưới đất, các lời của Sa-mu-ên khiến vua quá sợ hãi. Hơn nữa, vua đã kiệt sức vì cả ngày và đêm ấy vua không ăn gì cả.
Bấy giờ, người đàn bà đến bên Sau-lơ, thấy vua quá kinh hãi thì nói: “Nầy, tớ gái ngài đã vâng theo tiếng ngài. Tôi đã liều mạng sống mình để vâng theo những lời ngài bảo.
Vậy bây giờ, xin ngài hãy nghe tớ gái ngài: Xin cho tôi dọn cho ngài miếng bánh, và xin ngài ăn để có sức mà đi đường.”
Sau-lơ từ chối và nói: “Ta không ăn.” Nhưng các người theo hầu vua cũng như người đàn bà nài nỉ quá nên vua phải nghe theo họ. Vua đứng dậy và ngồi lên giường.
Người đàn bà ấy có một con bê béo tốt, liền vội vàng bắt nó làm thịt. Rồi bà lấy bột nhồi và làm bánh không men.
Bà dọn ra cho Sau-lơ và các người theo hầu vua. Ăn xong, họ đứng dậy và ra đi ngay trong đêm ấy.
Người Phi-li-tin tập hợp tất cả các lực lượng tại A-phéc, còn người Y-sơ-ra-ên đóng trại gần một suối nước ở Gít-rê-ên.
Các lãnh chúa người Phi-li-tin và hàng trăm hàng nghìn binh lính kéo ra trước, Đa-vít và các thuộc hạ ông đi sau với A-kích.
Bấy giờ, những người chỉ huy quân Phi-li-tin hỏi: “Những người Hê-bơ-rơ đó là ai?” A-kích trả lời: “Ấy là Đa-vít, đầy tớ của Sau-lơ, vua Y-sơ-ra-ên, đã ở với ta lâu nay. Từ ngày người nầy trốn sang chỗ chúng ta cho đến bây giờ, ta không thấy người có lỗi gì.”
Nhưng các người chỉ huy Phi-li-tin nổi giận, nói với A-kích: “Hãy đuổi hắn trở về chỗ ngài đã chỉ định cho hắn, đừng cho hắn đi đánh giặc với chúng ta, kẻo trong lúc chiến đấu, hắn trở thành kẻ thù của chúng ta. Vì làm thế nào hắn làm hòa được với chủ mình, nếu không nhờ đến những cái đầu của binh lính chúng ta?
Chẳng phải về Đa-vít nầy mà người ta đã nhảy múa và hát với nhau rằng: ‘Sau-lơ giết hàng ngàn, Còn Đa-vít giết hàng vạn’ sao?”
Vậy, A-kích gọi Đa-vít và nói: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, ngươi vốn là một người ngay thẳng, ta muốn ngươi vào ra trận mạc với ta, vì từ ngày ngươi đến với ta cho tới ngày nay, ta thấy ngươi không có điều gì đáng trách. Nhưng các lãnh chúa không chấp nhận ngươi.
Vậy bây giờ, ngươi hãy lui về và đi bình an để cho khỏi phật lòng các lãnh chúa Phi-li-tin.”
Đa-vít nói với A-kích: “Từ khi tôi ở gần ngài đến nay, ngài có thấy tôi làm điều gì đáng trách mà tôi không được đi đánh quân thù của ngài, là chúa tôi?”
A-kích nói với Đa-vít: “Ta biết điều đó, ngươi vốn vừa lòng ta như một thiên sứ của Đức Chúa Trời. Nhưng các người chỉ huy Phi-li-tin có nói: ‘Hắn sẽ không được ra trận với chúng ta.’
Vì thế, ngươi và các thuộc hạ của chủ ngươi đã theo ngươi hãy dậy sớm; phải, hãy dậy sớm, và vừa khi trời sáng, hãy ra đi.”
Như vậy, Đa-vít và các thuộc hạ dậy sớm để ra đi lúc trời vừa sáng và trở về đất Phi-li-tin. Còn quân Phi-li-tin thì kéo lên Gít-rê-ên.
Ba ngày sau, khi Đa-vít và các thuộc hạ đến Xiếc-lác, người A-ma-léc đã đánh phá miền Nê-ghép và thành Xiếc-lác, xông vào phóng hỏa Xiếc-lác.
Chúng bắt các phụ nữ và mọi người trong thành, từ nhỏ đến lớn. Chúng không giết một ai, nhưng bắt làm tù binh và dẫn đi.
Khi Đa-vít và các thuộc hạ đến thành thì thấy thành đã bị đốt cháy, vợ và các con trai, con gái của họ đều đã bị bắt làm tù binh.
Bấy giờ, Đa-vít và các thuộc hạ ông đều òa lên khóc; họ khóc đến nỗi không còn sức để khóc nữa.
Hai người vợ Đa-vít cũng bị bắt làm tù binh, tức A-hi-nô-am ở Gít-rê-ên, và A-bi-ga-in, trước làm vợ của Na-banh tại Cạt-mên.
Đa-vít lâm vào tình cảnh rất nguy khốn vì người ta định ném đá ông, bởi tâm hồn mọi người đều cay đắng khi nghĩ đến các con trai và con gái mình. Nhưng Đa-vít lấy lại được nghị lực nhờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình.
Ông nói với thầy tế lễ A-bia-tha, con của A-hi-mê-léc: “Xin thầy hãy đem ê-phót đến cho tôi.” A-bia-tha đem ê-phót đến cho Đa-vít.
Đa-vít cầu hỏi Đức Giê-hô-va: “Con phải đuổi theo đám quân nầy không? Con sẽ bắt kịp họ không?” Đức Giê-hô-va phán: “Hãy đuổi theo chúng, chắc chắn con sẽ theo kịp, và giải cứu tất cả những người bị bắt.”
Đa-vít ra đi cùng với sáu trăm người theo mình. Khi họ đến khe nước Bê-sô thì một số người ở lại.
Nhưng Đa-vít cùng với bốn trăm người cứ truy đuổi; còn hai trăm người kia đã dừng lại vì quá mệt mỏi, không thể vượt qua khe Bê-sô được.
Các thuộc hạ của Đa-vít gặp một người Ai Cập ngoài đồng, liền dẫn đến cho ông. Họ cho người nầy ăn bánh và uống nước;
họ cho anh ta ăn một cái bánh trái vả khô và hai bánh nho khô. Sau khi ăn, anh ta được hồi sức, vì trong ba ngày ba đêm anh không ăn, không uống gì cả.
Đa-vít hỏi: “Anh là người của ai, và ở đâu đến?” Anh ta đáp: “Tôi là một thanh niên Ai Cập, là đầy tớ của một người A-ma-léc. Chủ tôi bỏ tôi đã ba ngày rồi vì tôi ngã bệnh.
Chúng tôi đã đánh phá Nê-ghép của người Kê-rê-thít, địa phận Giu-đa, Nê-ghép của Ca-lép, và chúng tôi đã đốt thành Xiếc-lác.”
Đa-vít hỏi: “Anh có bằng lòng dẫn tôi đến bọn ấy không?” Người đó trả lời: “Hãy nhân danh Đức Chúa Trời mà thề cùng tôi rằng ông sẽ không giết tôi, hoặc nộp tôi cho chủ tôi, thì tôi sẽ dẫn ông đến bọn ấy.”
Khi người Ai Cập nầy dẫn Đa-vít xuống thì ông thấy người A-ma-léc tràn ra khắp xứ, ăn uống và nhảy múa, vì rất nhiều chiến lợi phẩm mà chúng vừa chiếm được từ đất Phi-li-tin và đất Giu-đa.
Đa-vít đánh giết chúng từ lúc mờ sáng ngày đó cho đến chiều ngày sau. Ngoài bốn trăm thanh niên cưỡi lạc đà chạy trốn, thì không một ai thoát khỏi.
Đa-vít thu hồi tất cả những gì người A-ma-léc đã cướp được, và cũng giải cứu hai vợ mình nữa.
Ông đem về tất cả, không thiếu một ai, hoặc nhỏ hay lớn, hoặc gái hay trai, hoặc một chiến lợi phẩm nào mà dân A-ma-léc đã cướp đi.
Ông cũng bắt tất cả bò và chiên. Quân lính của Đa-vít dẫn các đàn súc vật nầy về, và nói: “Đây là chiến lợi phẩm của Đa-vít.”
Đa-vít trở về, đến với hai trăm người trước kia bị kiệt sức, không theo ông nổi, và đã bị để lại bên kia khe Bê-sô. Hai trăm người ấy đi tới đón Đa-vít và quân lính theo ông. Đa-vít lại gần, và chào thăm họ.
Nhưng tất cả những kẻ hung ác và vô lại trong số người đi theo Đa-vít nói: “Bởi vì họ đã không cùng đi với chúng ta, nên chúng ta sẽ không chia cho họ phần chiến lợi phẩm mà chúng ta đã lấy được, ngoại trừ vợ và con của mỗi người thì giao cho họ dẫn đi!”
Nhưng Đa-vít nói: “Anh em ơi, đừng làm như thế với những gì mà Đức Giê-hô-va đã ban cho chúng ta! Ngài đã gìn giữ chúng ta và phó vào tay chúng ta đám quân đã đến đánh chúng ta.
Vậy, anh em nói thế ai nghe cho được? Phần của người ra trận và phần của người giữ đồ đạc phải bằng nhau; họ phải được chia phần như nhau.”
Kể từ ngày ấy, Đa-vít lập điều đó thành luật lệ và quy định trong Y-sơ-ra-ên cho đến ngày nay.
Khi Đa-vít về đến Xiếc-lác, ông gửi một phần chiến lợi phẩm cho các trưởng lão Giu-đa, tức là bạn hữu ông, và nói: “Đây là món quà gửi đến quý ông, lấy từ chiến lợi phẩm chiếm được từ kẻ thù của Đức Giê-hô-va.”
Ông gửi cho các trưởng lão ở Bê-tên, Ra-mốt Nê-ghép, Giạt-thia,
cho các trưởng lão ở A-rô-e, Síp-mốt, Ê-thê-mô-a,
cho các trưởng lão ở Ra-canh, các thành của người Giê-ra-mê-lít, và các thành của người Kê-nít,
cho các trưởng lão ở Họt-ma, Bọt-a-san, A-tát,
Hếp-rôn, và tất cả nơi nào Đa-vít và thuộc hạ của ông đã đi qua.
Bấy giờ, người Phi-li-tin giao chiến với Y-sơ-ra-ên. Người Y-sơ-ra-ên chạy trốn trước mặt quân Phi-li-tin, và nhiều người bị giết, ngã chết trên núi Ghinh-bô-a.
Người Phi-li-tin bám sát Sau-lơ và các con trai ông. Họ giết Giô-na-than, A-bi-na-đáp, và Manh-ki-sua, là các con của Sau-lơ.
Thế trận trở nên khốc liệt cho Sau-lơ. Lính bắn cung nhận ra và bắn trúng vua, nên vua bị trọng thương.
Sau-lơ nói với người vác khí giới của mình: “Hãy rút gươm ngươi và đâm ta đi, kẻo bọn không cắt bì kia đến đâm ta và lăng nhục ta.” Nhưng người vác khí giới không dám làm vì quá sợ hãi. Vì thế, Sau-lơ lấy gươm và tự sấn mình trên mũi gươm.
Khi người vác khí giới của Sau-lơ thấy vua đã chết, thì cũng sấn mình trên mũi gươm mà chết theo.
Như vậy Sau-lơ với ba con trai, người vác khí giới và tất cả thuộc hạ của vua cùng chết trong ngày hôm ấy.
Những người Y-sơ-ra-ên ở bên kia thung lũng và bên kia sông Giô-đanh, thấy quân lính Y-sơ-ra-ên chạy trốn, Sau-lơ và ba con trai vua đã chết, thì bỏ thành mà trốn đi. Người Phi-li-tin đến chiếm và ở trong các thành đó.
Hôm sau, người Phi-li-tin đến lục soát những xác chết, thấy Sau-lơ và ba con trai vua ngã chết trên núi Ghinh-bô-a.
Chúng cắt đầu Sau-lơ, lột binh giáp của vua, và sai sứ giả đi báo tin mừng nầy khắp đất Phi-li-tin, trong các đền thờ của thần tượng họ và trong toàn dân.
Chúng để vũ khí của Sau-lơ trong đền thờ nữ thần Át-tạt-tê, và treo xác vua vào tường thành Bết-san.
Nhưng khi người Gia-be ở Ga-la-át biết việc người Phi-li-tin đã đối xử với Sau-lơ,
thì tất cả những dũng sĩ lên đường, đi suốt đêm. Họ hạ thi thể của Sau-lơ và các con vua khỏi tường thành Bết-san, rồi đem về Gia-be và thiêu các thi thể tại đó.
Họ lấy hài cốt chôn dưới cây liễu ở Gia-be, và kiêng ăn trong bảy ngày.
Sau khi Sau-lơ chết, Đa-vít đã thắng người A-ma-léc trở về và ở lại Xiếc-lác hai ngày.
Đến ngày thứ ba, có một người từ trại quân Sau-lơ đến, quần áo rách nát, đầu đầy bụi đất. Khi đến trước mặt Đa-vít, anh ta sấp mình xuống đất mà lạy.
Đa-vít hỏi người ấy: “Ngươi từ đâu đến?” Người ấy đáp: “Tôi đã trốn thoát từ trại quân Y-sơ-ra-ên.”
Đa-vít nói: “Việc gì đã xảy ra? Hãy thuật lại cho ta.” Người ấy thưa: “Dân chúng đã bỏ chạy khỏi chiến trường, nhiều người đã ngã chết, cả vua Sau-lơ và hoàng tử Giô-na-than cũng chết.”
Đa-vít hỏi người thanh niên đưa tin cho ông: “Làm sao ngươi biết Sau-lơ và con trai người đã chết?”
Người thanh niên đưa tin thưa: “Tình cờ tôi ở trên núi Ghinh-bô-a và thấy vua Sau-lơ đang tựa vào cây giáo mình, trong khi chiến xa và kỵ binh địch bám sát vua.
Người quay lại thấy tôi và gọi. Tôi thưa: ‘Có tôi đây.’
Người hỏi tôi: ‘Ngươi là ai?’ Tôi thưa: ‘Tôi là người A-ma-léc.’
Người tiếp: ‘Hãy lại gần giết ta đi, vì ta bị choáng váng, nhưng hãy còn sống.’
Vậy, tôi đến gần và giết người đi, vì tôi biết người không thể sống sau khi đã ngã gục. Sau đó, tôi lấy vương miện trên đầu người và vòng đeo tay của người đem về đây cho chúa tôi.”
Đa-vít nắm lấy áo mình xé ra; tất cả những người ở với ông cũng làm như vậy.
Họ than vãn, khóc lóc, và kiêng ăn cho đến chiều tối vì Sau-lơ và Giô-na-than, con trai người, vì dân của Đức Giê-hô-va và nhà Y-sơ-ra-ên, vì những người đã ngã chết bởi gươm.
Đa-vít hỏi người thanh niên đưa tin: “Ngươi từ đâu đến?” Người ấy đáp: “Tôi là con của một người ngoại bang, dân A-ma-léc.”
Đa-vít nói: “Ngươi không sợ khi ra tay giết người được xức dầu của Đức Giê-hô-va sao?”
Rồi Đa-vít gọi một thuộc hạ trẻ tuổi và bảo: “Hãy lại gần, đánh chết hắn đi!” Người ấy đánh hắn, và hắn chết.
Đa-vít nói với người ấy: “Máu ngươi đổ lại trên đầu ngươi! Chính miệng ngươi đã cáo tội ngươi, vì ngươi đã nói rằng: ‘Chính tôi đã giết người được xức dầu của Đức Giê-hô-va.’”
Bấy giờ, Đa-vít làm bài ai ca để khóc Sau-lơ và Giô-na-than, con trai Sau-lơ,
mà truyền dạy cho con dân Giu-đa: Đây là bài ca Cây Cung, được chép trong sách Gia-sa:
“Hỡi Y-sơ-ra-ên! Kẻ danh vọng của ngươi đã bị giết trên các đồi cao! Ôi sao các anh hùng nầy lại gục ngã!
Đừng loan tin nầy ở Gát, Chớ rao truyền trong các đường phố Ách-ca-lôn, Kẻo các con gái Phi-li-tin vui vẻ, Và bọn con gái kẻ không cắt bì mừng rỡ chăng!
Hỡi các núi Ghinh-bô-a! Nguyện sương móc và mưa chẳng sa xuống trên ngươi, Và đồng ruộng chẳng sinh ngũ cốc để làm tế lễ; Vì ở đó, cái khiên của anh hùng bị nhem nhuốc, Tức là cái khiên của Sau-lơ, sẽ không còn được xoa dầu nữa.
Cung của Giô-na-than Chẳng quay về mà không dính đầy máu kẻ chết, Và mỡ của những dũng sĩ; Gươm của Sau-lơ cũng chẳng trở về không.
Sau-lơ và Giô-na-than thương yêu nhau thắm thiết, Khi sống, lúc chết cũng chẳng rời nhau: Họ nhanh hơn chim ưng, Mạnh hơn sư tử!
Hỡi các thiếu nữ Y-sơ-ra-ên, hãy khóc thương Sau-lơ! Người đã mặc cho các cô áo điều lộng lẫy, Cài trên áo các cô đồ trang sức bằng vàng.
Ôi, sao những dũng sĩ Phải gục ngã giữa chiến trận! Giô-na-than bị giết chết trên các đồi cao.
Giô-na-than, anh tôi ơi! Lòng tôi quặn thắt vì anh. Anh làm cho tôi thỏa dạ; Tình yêu của anh đối với tôi thật diệu kỳ, Hơn cả tình yêu người nữ.
Ôi, sao những anh hùng ngã xuống, Và vũ khí của họ thành vô dụng, bỏ đi!”
Sau đó, Đa-vít cầu hỏi Đức Giê-hô-va: “Con có nên đi lên một thành nào trong xứ Giu-đa không?” Đức Giê-hô-va đáp: “Hãy đi.” Đa-vít hỏi tiếp: “Con phải lên thành nào?” Đức Giê-hô-va đáp: “Hếp-rôn.”
Đa-vít đi đến đó, đem theo hai người vợ là A-hi-nô-am, người Gít-rê-ên, và A-bi-ga-in, trước kia là vợ của Na-banh ở Cạt-mên.
Đa-vít cũng đem theo những người ở với mình, cùng với gia đình họ, lên ở trong các thành của địa phận Hếp-rôn.
Người Giu-đa đi đến đó và xức dầu tấn phong Đa-vít làm vua nhà Giu-đa. Người ta đến báo cho Đa-vít: “Dân ở Gia-be Ga-la-át đã chôn cất Sau-lơ.”
Đa-vít sai sứ giả đến nói với người Gia-be Ga-la-át: “Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho các ngươi, vì các ngươi đã có lòng nhân từ đối với Sau-lơ, chúa các ngươi, mà chôn cất người!
Nguyện Đức Giê-hô-va bày tỏ sự nhân từ và thành tín đối với các ngươi! Ta cũng sẽ hậu đãi các ngươi vì các ngươi đã làm điều nầy.
Nguyện tay các ngươi được mạnh mẽ, khá tỏ ra là những người dũng cảm; vì Sau-lơ, chúa các ngươi đã chết, nhưng nhà Giu-đa đã xức dầu cho ta làm vua của họ.”
Bấy giờ, tổng tư lệnh quân đội của Sau-lơ là Áp-ne, con của Nê-rơ, đưa con trai của Sau-lơ là Ích-bô-sết qua Ma-ha-na-im,
lập người làm vua Ga-la-át, A-su-rít, Gít-rê-ên, Ép-ra-im, Bên-gia-min, và cả Y-sơ-ra-ên.
Khi Ích-bô-sết, con của Sau-lơ, bắt đầu trị vì Y-sơ-ra-ên thì đã bốn mươi tuổi, và người cai trị hai năm. Chỉ có nhà Giu-đa theo Đa-vít mà thôi.
Thời gian Đa-vít làm vua nhà Giu-đa tại Hếp-rôn là bảy năm sáu tháng.
Áp-ne, con của Nê-rơ, và các đầy tớ của Ích-bô-sết, con của Sau-lơ, từ Ma-ha-na-im kéo đến Ga-ba-ôn.
Giô-áp, con của Xê-ru-gia, và các đầy tớ của Đa-vít cũng kéo đến. Họ gặp nhau tại hồ Ga-ba-ôn; một phe ngồi ở bên nầy hồ, và một phe ngồi ở bên kia.
Bấy giờ, Áp-ne nói với Giô-áp: “Hãy cho những thanh niên nầy đứng dậy và đọ sức với nhau trước mặt chúng ta đi!” Giô-áp nói: “Được, hãy cho chúng đọ sức.”
Vậy chúng đứng lên, đi ra với số lượng bằng nhau: mười hai người Bên-gia-min thuộc phe Ích-bô-sết, con Sau-lơ, và mười hai người trong số các đầy tớ của Đa-vít.
Mỗi người nắm đầu đối thủ, đâm gươm vào hông; tất cả đều ngã chết. Vì vậy, chỗ đó được gọi là Cánh Đồng Gươm, tại Ga-ba-ôn.
Hôm đó, có một cuộc chiến rất ác liệt, Áp-ne và những người Y-sơ-ra-ên đều bị các đầy tớ của Đa-vít đánh bại.
Ở đó, có ba con trai của Xê-ru-gia, là Giô-áp, A-bi-sai, và A-sa-ên. A-sa-ên chạy nhanh như sơn dương.
Ông đuổi theo Áp-ne, không quay qua bên phải hoặc bên trái trong lúc truy đuổi.
Áp-ne ngó lại sau, và hỏi: “Có phải ngươi là A-sa-ên không?” Ông trả lời: “Phải, tôi đây.”
Áp-ne nói với ông: “Hãy quay qua bên phải hay bên trái, xông vào một đứa trong đám thanh niên và tước khí giới nó đi.” Nhưng A-sa-ên không chịu thôi đuổi theo Áp-ne.
Áp-ne lại nói với A-sa-ên: “Hãy ngưng đuổi theo ta! Tại sao buộc ta phải đánh giết ngươi? Vì nếu thế, làm sao ta còn có thể nhìn mặt Giô-áp là anh ngươi?”
Vì A-sa-ên không chịu quay đi, nên Áp-ne lấy giáo đâm vào bụng người, thấu đến sau lưng. A-sa-ên ngã xuống và chết tại chỗ. Mọi người đến chỗ A-sa-ên chết đều dừng lại.
Giô-áp và A-bi-sai đuổi theo Áp-ne. Khi hai người đến đồi A-ma đối ngang Ghi-a, về hướng hoang mạc Ga-ba-ôn, thì mặt trời lặn.
Người Bên-gia-min tập hợp quanh Áp-ne, làm thành một đoàn quân, và đóng trên một đỉnh đồi.
Áp-ne gọi to Giô-áp và nói: “Gươm đao cứ tiếp tục chém giết mãi sao? Ông không biết cuối cùng sẽ chỉ là đau thương sao? Cho đến bao giờ ông mới truyền lệnh cho dân chúng thôi đuổi theo anh em mình?”
Giô-áp đáp: “Thật như Đức Chúa Trời hằng sống, nếu ông không nói gì, thì dân chúng vẫn cứ đuổi theo anh em mình cho đến sáng mai.”
Giô-áp truyền thổi kèn, tất cả dân chúng đều dừng lại, không đuổi theo người Y-sơ-ra-ên và không tiếp tục chiến đấu nữa.
Suốt đêm đó, Áp-ne và những người theo ông đi xuyên qua A-ra-ba. Họ sang sông Giô-đanh, và đi khắp Bít-rôn, rồi đến Ma-ha-na-im.
Giô-áp cũng thôi đuổi theo Áp-ne mà trở về. Khi tập hợp dân chúng thì trong các đầy tớ của Đa-vít thiếu mười chín người và A-sa-ên.
Các đầy tớ của Đa-vít đã giết ba trăm sáu mươi người Bên-gia-min, là người của Áp-ne.
Họ đem A-sa-ên chôn trong mộ của cha người tại Bết-lê-hem. Rồi Giô-áp và những người của ông đi suốt đêm, đến Hếp-rôn lúc rạng đông.
Cuộc chiến kéo dài giữa nhà Sau-lơ và nhà Đa-vít; Đa-vít ngày càng vững mạnh, còn nhà Sau-lơ càng ngày càng suy yếu.
Tại Hếp-rôn, Đa-vít đã sinh được nhiều con trai. Con trưởng nam là Am-nôn, con của A-hi-nô-am ở Gít-rê-ên;
con thứ nhì là Ki-lê-áp, con của A-bi-ga-in, trước là vợ của Na-banh ở Cạt-mên; con thứ ba là Áp-sa-lôm, con của Ma-a-ca, con gái của Thanh-mai, vua Ghê-su-rơ;
con thứ tư là A-đô-ni-gia, con của Ha-ghít; con thứ năm là Sê-pha-tia, con của A-bi-tanh;
và con thứ sáu là Dít-rê-am, con của Éc-la, vợ Đa-vít. Đó là những con trai đã được sinh ra cho Đa-vít, trong khi vua ở Hếp-rôn.
Trong lúc chiến tranh tiếp diễn giữa nhà Sau-lơ và nhà Đa-vít, thì Áp-ne củng cố địa vị mình trong nhà Sau-lơ.
Trước kia, Sau-lơ có một nàng hầu, tên là Rít-pa, con gái của A-gia. Ích-bô-sết nói với Áp-ne: “Tại sao ngươi đến cùng nàng hầu của cha ta?”
Áp-ne rất tức giận về những lời của Ích-bô-sết, và nói: “Tôi có làm đầu chó mà theo phe Giu-đa không? Cho đến nay, tôi hết lòng trung thành với nhà Sau-lơ, với các anh em bằng hữu của Sau-lơ, cha bệ hạ, không để cho bệ hạ phải sa vào tay của Đa-vít. Thế mà nay bệ hạ lại hạch tội tôi về lỗi phạm với một người đàn bà!
Nguyện Đức Chúa Trời phạt tôi một cách nặng nề nếu tôi chẳng vì Đa-vít làm thành mọi điều Đức Giê-hô-va đã thề hứa với người,
tức là cất vương quốc khỏi nhà Sau-lơ, và lập ngôi Đa-vít trên Y-sơ-ra-ên và trên Giu-đa, từ Đan cho đến Bê-e Sê-ba.”
Ích-bô-sết không dám đáp một lời nào với Áp-ne vì sợ người.
Áp-ne sai người thay mặt mình đến nói với Đa-vít: “Đất nước nầy thuộc về ai? Xin bệ hạ lập giao ước với tôi, tôi sẽ giúp đem toàn dân Y-sơ-ra-ên quay về với bệ hạ.”
Đa-vít đáp: “Tốt lắm! Ta sẽ lập giao ước với ngươi. Ta chỉ đòi ngươi một điều là khi đến gặp ta, ngươi đừng ra mắt ta mà không dẫn Mi-canh, con gái của Sau-lơ đến.”
Đa-vít cũng sai sứ giả đến nói với Ích-bô-sết, con của Sau-lơ: “Hãy trả lại cho ta Mi-canh, người vợ mà ta đã cưới bằng sính lễ một trăm dương bì người Phi-li-tin.”
Ích-bô-sết sai người bắt Mi-canh nơi nhà chồng bà, là Pha-ti-ên, con của La-ít.
Chồng bà vừa đưa đi vừa khóc, theo đến Ba-hu-rim. Lúc ấy, Áp-ne nói với ông ta: “Hãy trở về nhà ông đi!” Pha-ti-ên đành phải trở về.
Áp-ne nói với các trưởng lão Y-sơ-ra-ên: “Lâu nay các ông ước ao được Đa-vít làm vua.
Vậy bây giờ, hãy làm đi; vì Đức Giê-hô-va có phán với Đa-vít rằng: ‘Bởi đầy tớ Ta là Đa-vít, Ta sẽ giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi tay người Phi-li-tin và khỏi tay mọi kẻ thù của họ.’”
Áp-ne cũng nói như vậy với người Bên-gia-min, rồi ông đi đến Hếp-rôn để tỏ cho Đa-vít biết ý định của Y-sơ-ra-ên và của cả nhà Bên-gia-min.
Áp-ne đến gặp Đa-vít ở Hếp-rôn, đem theo hai mươi người. Đa-vít dọn tiệc đãi Áp-ne cùng những người đi theo ông.
Áp-ne nói với Đa-vít: “Tôi sẽ đi tập hợp toàn dân Y-sơ-ra-ên cho bệ hạ, là chúa tôi, để họ lập giao ước với bệ hạ, và bệ hạ sẽ làm vua trên toàn cõi Y-sơ-ra-ên, đúng như lòng bệ hạ ước ao.” Đa-vít cho Áp-ne về, và ông ra đi bình an.
Lúc các đầy tớ của Đa-vít cùng Giô-áp trở về sau trận đột kích, đem theo rất nhiều chiến lợi phẩm, thì Áp-ne không còn ở với Đa-vít tại Hếp-rôn; vì Đa-vít đã cho ông ta về, và ông đã ra đi bình an.
Khi Giô-áp cùng cả đoàn quân trở về, người ta báo tin cho ông: “Áp-ne, con của Nê-rơ, đã đến với vua, nhưng nhà vua đã để cho ông ấy về, và ông đã ra đi bình an.”
Giô-áp liền đến gặp vua và hỏi: “Bệ hạ đã làm gì thế? Kìa, Áp-ne đã đến gặp bệ hạ, tại sao bệ hạ lại cho ông ta về để ông ta đi mất như vậy?
Bệ hạ biết Áp-ne, con của Nê-rơ, chỉ đến để lừa gạt bệ hạ, và để biết các đường ra lối vào của bệ hạ cùng mọi điều bệ hạ đang làm.”
Sau khi rời khỏi Đa-vít, Giô-áp sai người đuổi theo Áp-ne và đưa ông trở về từ hồ chứa nước Si-ra. Nhưng Đa-vít không hay biết gì cả.
Khi Áp-ne trở lại Hếp-rôn, Giô-áp đem ông riêng ra cổng thành như muốn nói chuyện riêng với ông. Tại đó, Giô-áp đâm vào bụng Áp-ne, và giết chết ông ấy để trả nợ máu cho em của Giô-áp là A-sa-ên.
Sau đó, Đa-vít nghe được việc nầy thì nói: “Ta và vương quốc ta vô tội đời đời trước mặt Đức Giê-hô-va về máu của Áp-ne, con của Nê-rơ.
Nguyện máu ấy đổ lại trên đầu Giô-áp và trên cả nhà cha hắn! Nguyện nhà Giô-áp chẳng thiếu người bị bệnh lậu, hoặc bệnh phong hủi, hoặc người chỉ biết làm công việc của đàn bà, hoặc ngã chết dưới gươm, hoặc đói khổ thiếu ăn!”
Như thế, Giô-áp và em ông là A-bi-sai, đã giết Áp-ne, vì ông nầy đã giết em của họ là A-sa-ên, trong trận chiến tại Ga-ba-ôn.
Đa-vít nói với Giô-áp và toàn dân theo ông: “Hãy xé áo các ngươi, mặc áo bằng vải thô, và than khóc Áp-ne.” Rồi Đa-vít đi theo sau linh cữu.
Khi họ đã chôn Áp-ne tại Hếp-rôn rồi, vua cất tiếng khóc trước mộ của Áp-ne; và toàn dân đều khóc.
Vua làm một bài điếu văn cho Áp-ne: “Áp-ne phải chết như kẻ ngu dại chết sao?
Tay ngươi không bị trói, Chân ngươi cũng chẳng mang xiềng; Ngươi đã ngã chết Khác nào người ta ngã trước mặt kẻ ác!” Tất cả dân chúng lại khóc.
Sau đó, toàn dân đến nài nỉ Đa-vít ăn ít bánh trước khi hết ngày, nhưng Đa-vít thề: “Nếu trước khi mặt trời lặn, ta ăn một miếng bánh hay là vật chi khác, nguyện Đức Giê-hô-va phạt ta thật nặng nề.”
Tất cả dân chúng đều ghi nhận và hài lòng về điều đó; mọi việc vua làm đều tốt đẹp trước mặt toàn dân.
Như vậy, trong ngày hôm đó, toàn dân Y-sơ-ra-ên đều biết rằng vua chẳng liên can gì đến tội giết Áp-ne, con của Nê-rơ.
Vua nói với các đầy tớ mình: “Các ngươi không biết rằng, hôm nay, một thủ lĩnh, một đại nhân trong Y-sơ-ra-ên đã ngã xuống hay sao?
Về phần ta, ngày nay hãy còn yếu thế dù rằng ta đã được xức dầu làm vua; nhưng những người nầy, là các con của Xê-ru-gia, đã gây khó khăn cho ta quá. Nguyện Đức Giê-hô-va báo trả kẻ làm ác nầy xứng với sự gian ác của nó!”
Khi Ích-bô-sết, con của Sau-lơ, nghe tin Áp-ne đã chết tại Hếp-rôn thì bủn rủn tay chân, và cả Y-sơ-ra-ên đều kinh hãi.
Lúc bấy giờ, con của Sau-lơ có hai đội trưởng đội xung kích: một người tên là Ba-a-na, một người tên là Rê-cáp; cả hai đều là con của Rim-môn ở Bê-ê-rốt thuộc bộ tộc Bên-gia-min — Người Bê-ê-rốt được xem như người Bên-gia-min,
vì họ đã trốn đến Ghi-tha-im, và kiều ngụ ở đó cho đến ngày nay —
Giô-na-than, con của Sau-lơ, có một con trai què cả hai chân. Khi hay tin từ Gít-rê-ên về cái chết của Sau-lơ và Giô-na-than, nó mới được năm tuổi. Người vú nuôi đem nó chạy trốn; trong lúc chị vội vã chạy đi, nó té nên bị què. Tên nó là Mê-phi-bô-sết.
Hai con của Rim-môn người Bê-ê-rốt, là Rê-cáp và Ba-a-na đi đến nhà Ích-bô-sết vào ban ngày giữa lúc nắng nhất, trong khi vua đang nằm nghỉ trưa.
Họ vào tận trong nhà, giả vờ lấy lúa mì, rồi đâm vào bụng Ích-bô-sết. Sau đó, Rê-cáp cùng với anh là Ba-a-na trốn đi.
Lúc họ vào nhà thì vua đang nằm nghỉ trên giường trong phòng ngủ, họ đâm chết và chặt đầu vua. Rồi họ mang đầu vua đi suốt đêm theo đường A-ra-ba.
Họ đem đầu của Ích-bô-sết về Hếp-rôn, dâng cho vua Đa-vít, và tâu với vua: “Đây là đầu của Ích-bô-sết, con của Sau-lơ, kẻ thù của bệ hạ, vẫn tìm hại mạng sống bệ hạ. Ngày nay, Đức Giê-hô-va đã báo thù Sau-lơ và dòng dõi người cho bệ hạ, là chúa tôi.”
Nhưng Đa-vít đáp với Rê-cáp và Ba-a-na, các con của Rim-môn người Bê-ê-rốt: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã cứu ta khỏi tất cả các hoạn nạn,
khi có người đến báo tin cho ta: ‘Kìa! Sau-lơ đã chết,’ và nghĩ rằng mình là một sứ giả đem tin mừng, thì ta đã bắt và giết kẻ đó tại Xiếc-lác, để trả công cho việc báo tin như thế.
Huống chi những kẻ hung ác đã giết một người công chính nằm trên giường trong nhà người ấy! Vậy bây giờ, ta lại không đòi máu người từ tay các ngươi, và diệt các ngươi khỏi mặt đất sao?”
Rồi Đa-vít truyền lệnh cho các đầy tớ mình giết hai người đó; họ chặt cả tay chân chúng, rồi treo xác gần bên hồ Hếp-rôn. Nhưng họ đem đầu của Ích-bô-sết chôn trong mộ của Áp-ne, tại Hếp-rôn.
Bấy giờ, tất cả các bộ tộc Y-sơ-ra-ên đến với Đa-vít tại Hếp-rôn, và tâu: “Chúng tôi vốn là cốt nhục của bệ hạ.
Ngày trước, lúc vua Sau-lơ còn cai trị chúng tôi, chính bệ hạ đã chỉ huy Y-sơ-ra-ên ra trận và đem họ về. Đức Giê-hô-va có phán với bệ hạ: ‘Ngươi sẽ chăn dân Ta, và làm vua Y-sơ-ra-ên.’”
Vậy, tất cả các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đã đến gặp vua tại Hếp-rôn; vua Đa-vít lập giao ước với họ trước mặt Đức Giê-hô-va, và họ xức dầu cho Đa-vít làm vua trên toàn cõi Y-sơ-ra-ên.
Đa-vít bắt đầu trị vì lúc ba mươi tuổi, và làm vua được bốn mươi năm.
Tại Hếp-rôn, Đa-vít trị vì trên Giu-đa bảy năm sáu tháng; rồi tại Giê-ru-sa-lem, ông trị vì trên cả Y-sơ-ra-ên và Giu-đa ba mươi ba năm.
Vua và các thuộc hạ tiến đến Giê-ru-sa-lem, đánh người Giê-bu-sít, là dân bản xứ. Chúng nói với Đa-vít: “Ông sẽ không vào đây được đâu, những người mù và què cũng đủ sức đánh đuổi ông!” Chúng nghĩ: “Đa-vít sẽ không thể vào đây được.”
Nhưng Đa-vít đã chiếm lấy đồn lũy Si-ôn, đó là thành Đa-vít.
Ngày hôm đó, Đa-vít nói: “Tất cả những ai muốn đánh người Giê-bu-sít, thì hãy theo đường hầm để xuống lấy nước mà đánh những người què và mù, tức những kẻ thù của Đa-vít.” Vì vậy có câu: “Người mù và kẻ què đều sẽ không được vào nhà.”
Đa-vít ở trong đồn lũy, và đặt tên là thành Đa-vít. Vua xây vách chung quanh từ Mi-lô trở vào phía trong.
Đa-vít ngày càng cường thịnh, vì Giê-hô-va là Đức Chúa Trời vạn quân ở với ông.
Hi-ram, vua thành Ty-rơ, sai sứ đến Đa-vít, đem theo gỗ bá hương, thợ mộc, thợ đẽo đá để xây cất cung điện cho Đa-vít.
Bấy giờ, Đa-vít biết rằng Đức Giê-hô-va đã lập ông làm vua trên Y-sơ-ra-ên, và khiến vương quốc của ông được thịnh vượng vì dân của Ngài là Y-sơ-ra-ên.
Sau khi Đa-vít từ Hếp-rôn đến, vua còn cưới thêm vợ và những nàng hầu ở Giê-ru-sa-lem; họ sinh thêm cho vua những con trai và con gái.
Đây là tên các con được sinh cho vua tại thành Giê-ru-sa-lem: Sa-mua, Sô-báp, Na-than, Sa-lô-môn,
Díp-kha, Ê-li-sua, Nê-phéc, Gia-phia,
Ê-li-sa-ma, Ê-li-gia-đa, và Ê-li-phê-lết.
Nghe tin Đa-vít đã được xức dầu làm vua Y-sơ-ra-ên, người Phi-li-tin kéo toàn quân lên đánh ông. Khi biết được điều nầy thì Đa-vít liền đi xuống đồn lũy.
Quân Phi-li-tin kéo đến và bủa ra trong thung lũng Rê-pha-im.
Bấy giờ, Đa-vít cầu hỏi Đức Giê-hô-va: “Con có phải lên đánh quân Phi-li-tin không? Ngài sẽ phó chúng vào tay con không?” Đức Giê-hô-va trả lời Đa-vít: “Hãy đi lên, vì chắc chắn Ta sẽ phó quân Phi-li-tin vào tay con.”
Vậy, Đa-vít kéo quân đến Ba-anh Phê-rát-sim và đánh bại họ; vua nói: “Đức Giê-hô-va đã đánh tan các kẻ thù của ta trước mặt ta khác nào nước chảy.” Vì vậy, chỗ đó được đặt tên là Ba-anh Phê-rát-sim.
Quân Phi-li-tin bỏ lại các tượng thần của chúng tại đó, Đa-vít và các thuộc hạ lấy đem đi.
Một lần nữa, quân Phi-li-tin lại kéo đến và bủa ra trong thung lũng Rê-pha-im.
Khi Đa-vít cầu hỏi Đức Giê-hô-va, Ngài đáp: “Con đừng đi lên; hãy đi vòng phía sau chúng, rồi con sẽ tấn công chúng về hướng cây dâu.
Và khi nào con nghe tiếng chân bước trên ngọn cây dâu, bấy giờ hãy mau tấn công, vì chính lúc đó, Đức Giê-hô-va đi trước con để đánh bại quân Phi-li-tin.”
Đa-vít làm đúng như điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn, và vua đã đánh bại quân Phi-li-tin từ Ghê-ba cho đến Ghê-xe.
Đa-vít lại tập hợp tất cả những người được tuyển chọn của Y-sơ-ra-ên, khoảng ba mươi nghìn người.
Rồi vua lên đường, cùng với tất cả thuộc hạ đến Ba-lê thuộc Giu-đa để rước Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời về. Đó là hòm mang danh Đức Giê-hô-va vạn quân, Đấng vẫn ngự giữa các chê-ru-bim ở trên đó.
Họ đặt Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời trên một cỗ xe mới, rồi đem đi khỏi nhà A-bi-na-đáp ở trên đồi. U-xa và A-hi-ô, con của A-bi-na-đáp, dẫn cỗ xe mới đó.
Họ đưa xe cùng với Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời đi khỏi nhà A-bi-na-đáp ở trên đồi, và A-hi-giô đi trước Hòm Giao Ước.
Đa-vít và toàn thể nhà Y-sơ-ra-ên đều múa hát trước mặt Đức Giê-hô-va với đủ thứ nhạc khí bằng gỗ bá hương, đàn lia, đàn hạc, trống, phách, và chập chõa.
Khi đến sân đập lúa của Na-côn, vì những con bò vấp chân, U-xa đưa tay ra đỡ Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời.
Đức Giê-hô-va nổi cơn thịnh nộ với U-xa. Đức Chúa Trời đánh phạt ông vì sự vi phạm nầy, và ông chết ngay bên cạnh Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời.
Đa-vít buồn giận vì Đức Giê-hô-va đã nổi thịnh nộ với U-xa; và chỗ đó được gọi là Pê-rết U-xa cho đến ngày nay.
Ngày hôm đó, Đa-vít sợ Đức Giê-hô-va và nói: “Làm sao Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va có thể về với ta được?”
Vậy nên Đa-vít không muốn đưa Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va về với mình trong thành Đa-vít; mà đưa vào nhà Ô-bết Ê-đôm, người Gát.
Như vậy, Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va ở ba tháng trong nhà Ô-bết Ê-đôm, người Gát. Đức Giê-hô-va ban phước cho Ô-bết Ê-đôm và cả nhà người.
Người ta đến tâu với vua Đa-vít: “Vì Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời, Đức Giê-hô-va đã ban phước cho nhà Ô-bết Ê-đôm và mọi vật thuộc về ông ta.” Vậy, Đa-vít đi rước Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời từ nhà Ô-bết Ê-đôm về thành Đa-vít cách vui mừng.
Khi những người khiêng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va đi được sáu bước, thì Đa-vít dâng một con bò đực và một con thú béo tốt làm sinh tế.
Đa-vít mặc ê-phót vải gai, nhảy múa hết sức trước mặt Đức Giê-hô-va.
Như thế, Đa-vít cùng toàn thể nhà Y-sơ-ra-ên rước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va về giữa tiếng reo hò vui mừng và tiếng kèn vang dậy.
Nhưng khi Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va vào thành Đa-vít thì Mi-canh, con gái của Sau-lơ, nhìn qua cửa sổ, thấy vua Đa-vít nhảy múa trước mặt Đức Giê-hô-va, thì trong lòng khinh rẻ vua.
Vậy, họ đem Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va vào đặt ở giữa lều mà Đa-vít đã dựng sẵn; rồi Đa-vít dâng tế lễ thiêu và tế lễ bình an trước mặt Đức Giê-hô-va.
Khi Đa-vít đã dâng tế lễ thiêu và các tế lễ bình an, thì vua nhân danh Đức Giê-hô-va vạn quân mà chúc phước cho dân chúng;
và phát cho toàn dân Y-sơ-ra-ên, cả nam lẫn nữ, mỗi người một ổ bánh, một miếng thịt, và một bánh nho. Sau đó, mọi người ai về nhà nấy.
Đa-vít cũng trở về để chúc phước cho nhà mình. Nhưng con gái của Sau-lơ là Mi-canh ra đón Đa-vít và nói: “Hôm nay vua Y-sơ-ra-ên được vẻ vang làm sao, khi cởi trần trước mặt các nữ tỳ của đầy tớ mình, như một kẻ không ra gì vậy!”
Đa-vít nói với Mi-canh: “Chính tại trước mặt Đức Giê-hô-va, là Đấng đã chọn ta thay cho cha nàng và cả nhà cha nàng, lập ta làm lãnh tụ Y-sơ-ra-ên là dân của Đức Giê-hô-va, mà ta hát múa trước mặt Đức Giê-hô-va.
Ta sẽ hạ mình xuống nhiều hơn nữa, tự xem mình là hèn mạt, nhưng các nữ tỳ mà nàng nói đó lại sẽ tôn kính ta.”
Vì vậy, Mi-canh, con gái Sau-lơ, không có con cho đến ngày chết.
Khi vua đã ở trong cung điện mình, Đức Giê-hô-va đã giải cứu vua khỏi tất cả kẻ thù chung quanh và cho được bình an,
thì vua nói với nhà tiên tri Na-than: “Hãy xem, nay ta ở trong cung điện bằng gỗ bá hương, còn Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời vẫn ở trong lều vải.”
Na-than thưa với vua: “Bất cứ điều gì lòng bệ hạ muốn làm, xin cứ thực hiện vì Đức Giê-hô-va ở với bệ hạ.”
Nhưng ngay trong đêm đó, Đức Giê-hô-va phán bảo Na-than:
“Hãy đi nói với Đa-vít, đầy tớ Ta, rằng Đức Giê-hô-va phán: ‘Con sẽ xây cho Ta một đền thờ để Ta ngự tại đó sao?
Con biết từ ngày Ta đưa dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập cho đến ngày nay, Ta không hề ngự trong đền thờ nào, nhưng Ta đi đây đó với lều trại và Đền Tạm.
Bất cứ nơi nào Ta ngự giữa dân Y-sơ-ra-ên, Ta chưa bao giờ phán lời nào với một thủ lĩnh trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, là người Ta giao việc chăn dắt dân Ta rằng: Tại sao các ngươi không cất cho Ta một đền thờ bằng gỗ bá hương?’
Vậy bây giờ, hãy nói với Đa-vít, đầy tớ Ta: ‘Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Ta đã gọi con từ giữa đồng cỏ, từ nơi con chăn chiên, để lập con làm người lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên của Ta.
Ta đã ở với con trong mọi nơi con đi, tiêu diệt tất cả các kẻ thù khỏi con; và Ta đã khiến con được nổi danh như các bậc vĩ nhân trên mặt đất.
Ta đã chuẩn bị cho dân Y-sơ-ra-ên Ta một chỗ ở, Ta sẽ trồng họ tại đó, và họ sẽ ở mãi trong đất mình, không còn bị quấy nhiễu nữa; những kẻ gian ác sẽ không ức hiếp họ như ngày xưa nữa,
tức là như lúc Ta lập các quan xét cai trị dân Y-sơ-ra-ên Ta. Ta đã giải cứu con khỏi tất cả các kẻ thù mà ban bình an cho con. Hơn nữa, Đức Giê-hô-va phán hứa rằng Ngài sẽ thiết lập cho con một triều đại.
Khi đời con đã mãn, và con nằm xuống với các tổ phụ mình, thì Ta sẽ lập dòng dõi kế vị con, là dòng dõi do con sinh ra; và Ta sẽ làm cho vương quốc nó vững bền.
Nó sẽ xây cất một đền thờ cho danh Ta, và Ta sẽ làm cho ngôi nước nó vững bền mãi mãi.
Ta sẽ làm Cha nó, và nó sẽ làm con Ta. Nếu nó phạm tội ác, Ta sẽ sửa phạt nó như loài người dùng roi đòn răn dạy con.
Nhưng tình thương của Ta sẽ không rời khỏi nó như Ta đã cho rời khỏi Sau-lơ, là kẻ Ta đã trừ bỏ khỏi con.
Như vậy, triều đại và vương quốc của con được vững bền trước mặt con đời đời; ngôi con sẽ được vững lập mãi mãi.’”
Na-than đến thuật lại cho Đa-vít tất cả những lời mặc khải nầy.
Vua Đa-vít đến hầu trước mặt Đức Giê-hô-va, và nói: “Lạy Chúa Giê-hô-va, con là ai và gia đình con là gì mà Ngài đã đem con đến địa vị nầy?
Lạy Chúa Giê-hô-va, điều đó Ngài còn cho là nhỏ mọn sao, mà Ngài lại nói về triều đại của đầy tớ Ngài trong tương lai lâu dài? Lạy Chúa Giê-hô-va, có phải đây là cách thông thường của Ngài đối xử với loài người ư?
Đa-vít còn nói thêm được lời gì nữa? Ôi Chúa Giê-hô-va! Ngài biết đầy tớ Ngài.
Ấy vì lời Ngài và tùy theo lòng Ngài mà Ngài đã làm những việc lớn nầy, và tỏ cho đầy tớ Ngài biết.
Vì vậy, Chúa Giê-hô-va ôi! Ngài thật vĩ đại, không ai sánh được như Ngài. Theo như mọi điều tai chúng con đã nghe, ngoài Ngài chẳng có Đức Chúa Trời nào khác.
Trên khắp đất, có dân tộc nào giống như dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, là dân mà Đức Chúa Trời đã cứu chuộc để làm dân của Ngài và đặt tên cho họ? Ngài đã vì chính Ngài và xứ sở của Ngài, mà làm những việc lớn lao đáng sợ khi đuổi những dân tộc khác và các thần của chúng khỏi dân Ngài, là dân mà Ngài đã chuộc khỏi Ai Cập cho Ngài.
Vì Ngài đã lập dân Y-sơ-ra-ên làm dân của Ngài đời đời. Đức Giê-hô-va ôi! Chính Ngài là Đức Chúa Trời của họ.
Vậy bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ôi! Xin làm cho vững chắc đến đời đời những lời Ngài đã phán về đầy tớ Ngài và về triều đại nó, và làm đúng như Ngài đã phán.
Nguyện danh Ngài được tôn cao mãi mãi, và người ta nói rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Nguyện triều đại Đa-vít, là đầy tớ Ngài, được vững bền trước mặt Ngài!
Lạy Đức Giê-hô-va vạn quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, chính Ngài đã phán lời hứa nầy với đầy tớ Ngài rằng: ‘Ta sẽ thiết lập cho con một triều đại.’ Vì thế, đầy tớ Ngài mới dạn dĩ dâng lên Ngài lời cầu nguyện nầy.
Bây giờ, lạy Chúa Giê-hô-va! Chính Ngài là Đức Chúa Trời và các lời của Ngài là chân thật, Ngài đã hứa với đầy tớ Ngài điều tốt đẹp nầy.
Vậy, xin Chúa ban phước cho triều đại của đầy tớ Ngài, để nó tồn tại trước mặt Ngài đến đời đời. Chúa Giê-hô-va ôi, vì chính Ngài đã phán và nhờ ơn phước Ngài mà triều đại của đầy tớ Ngài được hưởng phước mãi mãi.”
Sau đó, Đa-vít đánh bại quân Phi-li-tin, chinh phục chúng và tước đoạt quyền kiểm soát các đô thị khỏi tay người Phi-li-tin.
Vua đánh bại quân Mô-áp, bắt chúng nằm dài trên đất và lấy dây đo: cứ hai dây thì giết, một dây để cho sống. Như vậy, người Mô-áp phải phục dịch và triều cống cho Đa-vít.
Đa-vít cũng đánh bại vua Xô-ba là Ha-đa-đê-xe, con của Rê-hốp, trong khi vua nầy đi khôi phục quyền kiểm soát vùng sông Ơ-phơ-rát.
Đa-vít bắt một nghìn bảy trăm kỵ binh và hai mươi nghìn bộ binh của vua Xô-ba, cắt gân chân của tất cả ngựa kéo xe, chỉ để lại đủ cho một trăm cỗ xe mà thôi.
Lúc quân A-ram ở Đa-mách đến tiếp viện Ha-đa-đê-xe, vua Xô-ba, thì Đa-vít giết hai mươi hai nghìn người A-ram.
Kế đó, Đa-vít lập đồn ở Đa-mách xứ A-ram; người A-ram phục dịch và triều cống cho Đa-vít. Bất cứ nơi nào Đa-vít đi đến thì Đức Giê-hô-va đều cho vua được thắng.
Đa-vít lấy và đưa về Giê-ru-sa-lem những cái khiên bằng vàng mà các đầy tớ Ha-đa-đê-xe mang.
Ở Bê-tách và Bê-rô-tôi, hai thành của Ha-đa-đê-xe, vua Đa-vít cũng đã lấy được rất nhiều đồng.
Khi vua Ha-mát, là Thôi, nghe tin vua Đa-vít đánh bại cả đoàn quân của Ha-đa-đê-xe,
thì sai Giô-ram, con mình, đến chào vua Đa-vít, và chúc mừng vua đã chiến đấu và đánh bại Ha-đa-đê-xe; vì Ha-đa-đê-xe thường đánh nhau với Thôi. Giô-ram đem dâng cho vua Đa-vít những chậu bằng bạc, bằng vàng, và bằng đồng.
Vua Đa-vít cũng biệt riêng các món nầy ra thánh cho Đức Giê-hô-va, như vua đã biệt riêng ra thánh bạc và vàng từ các dân tộc mà vua đã chinh phục:
A-ram, Mô-áp, Am-môn, Phi-li-tin, và A-ma-léc, cũng như từ chiến lợi phẩm thu được nơi Ha-đa-đê-xe, con của Rê-hốp, vua xứ Xô-ba.
Sau khi đánh giết mười tám nghìn người Ê-đôm trong thung lũng Muối trở về, danh tiếng của Đa-vít càng lừng lẫy.
Vua lập đồn lũy trong khắp đất Ê-đôm, và tất cả người Ê-đôm phải khuất phục Đa-vít. Đức Giê-hô-va đã cho Đa-vít chiến thắng ở bất cứ nơi nào vua đi đến.
Đa-vít trị vì trên toàn cõi Y-sơ-ra-ên, thực thi công lý và bình đẳng cho toàn dân.
Giô-áp, con của Xê-ru-gia, làm tổng tư lệnh quân đội; Giô-sa-phát, con của A-hi-lút, làm quan ngự sử;
Xa-đốc, con A-hi-túp, và A-hi-mê-léc, con A-bia-tha, làm thầy tế lễ; và Sê-ra-gia làm thư ký;
Bê-na-gia, con Giê-hô-gia-đa, chỉ huy người Kê-rê-thít và Phê-lê-thít; còn các con trai Đa-vít làm thầy tế lễ.
Bấy giờ, Đa-vít nói: “Nhà Sau-lơ có ai còn sống sót không? Ta muốn vì Giô-na-than mà làm ơn cho người ấy.”
Có một đầy tớ của nhà Sau-lơ, tên là Xíp-ba; người ta gọi ông đến với Đa-vít. Vua hỏi: “Ngươi là Xíp-ba phải không?” Ông thưa: “Phải, chính tôi, là đầy tớ của bệ hạ.”
Vua nói tiếp: “Nhà Sau-lơ có còn người nào không? Ta muốn lấy ơn của Đức Chúa Trời mà đãi người ấy.” Xíp-ba thưa với vua: “Còn một người con trai của Giô-na-than bị què cả hai chân.”
Vua hỏi: “Người ấy ở đâu?” Xíp-ba thưa: “Người ở trong nhà Ma-ki, con của A-mi-ên, tại Lô-đê-ba.”
Vậy, vua Đa-vít sai người đến nhà Ma-ki, con của A-mi-ên ở Lô-đê-ba, đón người ấy về.
Khi Mê-phi-bô-sết, con của Giô-na-than, cháu Sau-lơ, đến với Đa-vít thì sấp mặt xuống đất mà lạy. Đa-vít gọi: “Mê-phi-bô-sết!” Ông thưa: “Dạ! Có đầy tớ bệ hạ đây.”
Đa-vít nói với ông: “Đừng sợ, ta muốn làm ơn cho con vì Giô-na-than, cha của con; ta sẽ trả lại cho con tất cả đất đai của Sau-lơ, ông nội con, và con sẽ luôn dùng bữa tại bàn ăn của ta.”
Mê-phi-bô-sết cúi lạy, và nói: “Đầy tớ bệ hạ là gì, mà bệ hạ lại đoái đến một con chó chết như con đây?”
Rồi vua gọi Xíp-ba, đầy tớ của Sau-lơ, và nói: “Ta đã ban cho cháu nội của chủ ngươi tất cả tài sản thuộc về Sau-lơ và cả nhà người.
Vậy, ngươi cùng các con trai và đầy tớ ngươi phải cày cấy đất đó cho người, rồi thu hoạch hoa lợi để cháu nội của chủ ngươi có bánh ăn. Còn Mê-phi-bô-sết, cháu nội của chủ ngươi, sẽ ăn tại bàn ta luôn luôn.” Lúc bấy giờ, Xíp-ba có mười lăm con trai và hai mươi đầy tớ.
Xíp-ba thưa với vua: “Đầy tớ bệ hạ sẽ làm mọi điều bệ hạ là chúa tôi dặn bảo.” Như thế, Mê-phi-bô-sết ăn tại bàn của Đa-vít như một trong các con trai của vua.
Mê-phi-bô-sết có một con trai nhỏ tên là Mi-ca. Tất cả những người ở trong nhà Xíp-ba đều là đầy tớ của Mê-phi-bô-sết.
Như vậy, Mê-phi-bô-sết sống ở Giê-ru-sa-lem vì ông luôn được ăn tại bàn của vua, dù ông bị què cả hai chân.
Một thời gian sau, vua Am-môn băng hà; con trai vua là Ha-nun lên kế vị.
Đa-vít nói: “Ta muốn bày tỏ tình thân thiện với Ha-nun, con của Na-hách, như cha vua ấy đã đối xử tốt với ta.” Rồi Đa-vít sai các triều thần của mình đến chia buồn với vua ấy về sự qua đời của vua cha. Vậy, các triều thần của Đa-vít đến đất người Am-môn.
Nhưng các thủ lĩnh của người Am-môn tâu với Ha-nun, chúa mình: “Bệ hạ tưởng rằng Đa-vít sai người đến chia buồn với bệ hạ là vì tôn kính vua cha sao? Đa-vít sai những đầy tớ đến với bệ hạ, chẳng phải là để xem xét thành, do thám và triệt hạ thành sao?”
Thế là Ha-nun bắt các đầy tớ của Đa-vít, cạo một nửa râu của họ, cắt ngắn áo dài họ cho đến mông, rồi đuổi họ về.
Người ta thuật lại việc nầy cho Đa-vít nghe; vua sai người đi đón họ, vì họ rất tủi nhục. Vua bảo họ: “Hãy ở lại Giê-ri-cô cho đến khi râu của các ngươi mọc lại, rồi hãy trở về.”
Khi người Am-môn thấy mình đã trở nên đáng ghét đối với Đa-vít, họ sai người đi thuê khoảng hai mươi nghìn bộ binh của người A-ram ở Bết Rê-hốp và Xô-ba, một nghìn người của vua Ma-a-ca, và mười hai nghìn người ở xứ Tóp.
Đa-vít nghe được tin đó, liền sai Giô-áp với cả đoàn quân tinh nhuệ đi đánh chúng.
Người Am-môn kéo ra, dàn quân trước cổng thành, còn quân A-ram ở Xô-ba và Rê-hốp, quân của xứ Tóp và vua Ma-a-ca đều đóng riêng ra ở ngoài đồng.
Giô-áp thấy phải đối phó với mặt trận cả phía trước lẫn phía sau, nên đã chọn một số chiến sĩ trong đoàn quân tinh nhuệ của Y-sơ-ra-ên, và dàn trận đối địch với người A-ram;
số quân còn lại ông giao cho A-bi-sai, em mình, để dàn trận đối mặt với quân Am-môn.
Ông nói với A-bi-sai: “Nếu quân A-ram mạnh hơn anh, em sẽ tiếp viện cho anh; nhưng nếu quân Am-môn mạnh hơn em, anh sẽ tiếp viện cho em.
Hãy mạnh mẽ và chiến đấu dũng cảm vì dân tộc của chúng ta và vì các thành trì của Đức Chúa Trời chúng ta. Nguyện Đức Giê-hô-va thực hiện ý muốn tốt đẹp của Ngài!”
Giô-áp cùng với cánh quân theo ông tiến đến gần, giao chiến với quân A-ram và chúng chạy trốn khỏi ông.
Khi thấy quân A-ram bỏ chạy thì quân Am-môn cũng chạy trốn khỏi A-bi-sai, và rút vào trong thành. Sau khi thắng người Am-môn, Giô-áp trở về Giê-ru-sa-lem.
Người A-ram thấy mình bị Y-sơ-ra-ên đánh bại thì tập hợp lại với nhau.
Ha-đa-đê-xe sai người chiêu tập quân A-ram ở bên kia sông; và Sô-bác, chỉ huy trưởng quân đội Ha-đa-đê-xe, dẫn chúng đến Hê-lam.
Nghe tin nầy, Đa-vít tập hợp toàn thể Y-sơ-ra-ên lại, vượt qua sông Giô-đanh, kéo đến Hê-lam. Quân A-ram dàn trận nghênh chiến với Đa-vít.
Nhưng rồi quân A-ram chạy trốn khỏi Y-sơ-ra-ên. Đa-vít tiêu diệt bảy trăm chiến xa quân A-ram và bốn mươi nghìn kỵ binh. Tại đó, vua cũng giết chết Sô-bác, chỉ huy trưởng quân đội của chúng.
Khi các vua chư hầu của Ha-đa-đê-xe thấy mình bị Y-sơ-ra-ên đánh bại, thì cầu hòa với Y-sơ-ra-ên và phục dịch họ. Người A-ram không còn dám giúp người Am-môn nữa.
Mùa xuân là thời điểm các vua thường ra quân chinh chiến. Đa-vít sai Giô-áp cùng với các thuộc hạ của mình và toàn thể Y-sơ-ra-ên đánh giặc; họ cướp phá người Am-môn và bao vây thành Ráp-ba. Nhưng Đa-vít ở lại Giê-ru-sa-lem.
Một buổi chiều kia, Đa-vít đứng dậy khỏi giường mình và đi dạo trên mái bằng cung điện. Từ trên mái bằng, vua thấy một phụ nữ rất đẹp đang tắm.
Đa-vít sai người dọ hỏi về người phụ nữ ấy thì người ta thưa rằng: “Đó chính là Bát Sê-ba, con gái của Ê-li-am, vợ của U-ri, người Hê-tít.”
Đa-vít sai người bắt nàng vào cung. Khi nàng đến, vua nằm với nàng. (Khi ấy nàng vừa thanh tẩy sau kỳ ô uế). Rồi nàng trở về nhà.
Người phụ nữ thụ thai. Nàng sai người báo cho Đa-vít: “Tôi có thai.”
Đa-vít sai người nói với Giô-áp: “Hãy bảo U-ri, người Hê-tít, về gặp ta.” Vậy, Giô-áp gọi U-ri về gặp Đa-vít.
Khi U-ri đến, Đa-vít hỏi thăm về Giô-áp và quân lính có bình an không, và chiến sự thế nào.
Rồi Đa-vít nói với U-ri: “Hãy đi xuống nhà ngươi và rửa chân đi.” Vậy, U-ri đi ra khỏi cung vua và có người đem một món quà của vua theo sau ông.
Nhưng U-ri ngủ tại cổng cung điện cùng với tất cả thuộc hạ của chúa mình, chứ không về nhà.
Khi người ta thuật với Đa-vít rằng: “U-ri không đi xuống nhà ông ta,” thì Đa-vít hỏi U-ri: “Chẳng phải ngươi đi đường xa mới về ư? Tại sao ngươi không về nhà của ngươi?”
U-ri thưa với Đa-vít: “Hòm Giao Ước cũng như dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đang ở trong lều, chủ tướng tôi là Giô-áp cùng với các đầy tớ chúa tôi đang cắm trại ngoài đồng, còn tôi lại về nhà để ăn uống và ngủ với vợ mình sao? Thật như bệ hạ và linh hồn của bệ hạ vẫn sống, tôi chẳng bao giờ làm một việc như thế!”
Đa-vít nói với U-ri: “Hôm nay hãy ở lại đây, rồi mai ta sẽ sai ngươi đi.” Vậy, U-ri ở lại Giê-ru-sa-lem ngày hôm đó và hôm sau.
Đa-vít mời ông ăn uống với mình, và ép ông uống say. Nhưng chiều tối, U-ri ra ngủ trên giường với các đầy tớ của chúa mình, chứ không đi về nhà.
Sáng hôm sau, Đa-vít viết thư cho Giô-áp, và gửi U-ri mang đi.
Trong thư vua viết rằng: “Hãy đặt U-ri tại tiền tuyến, nơi hiểm nguy nhất của chiến trận, rồi hãy rút ra xa, để hắn bị đánh và chết đi.”
Vậy nên khi vây thành, Giô-áp đặt U-ri tại nơi mà ông biết có quân thù mạnh mẽ nhất.
Quân trong thành kéo ra giao chiến với Giô-áp, và một số người trong các đầy tớ Đa-vít ngã chết. U-ri, người Hê-tít, cũng chết.
Giô-áp sai người tâu trình cho Đa-vít tất cả diễn tiến của trận chiến.
Và ông dặn người đưa tin: “Khi ngươi đã tâu trình cho vua tất cả diễn tiến của trận chiến xong,
nếu vua nổi giận nói với ngươi rằng: ‘Tại sao các ngươi đến gần thành quá để giao chiến? Các ngươi không biết rằng địch sẽ từ trên tường thành bắn xuống sao?
Ai đã giết A-bi-mê-léc, con của Giê-rút-bê-sết? Chẳng phải một phụ nữ từ trên tường thành ném một thớt cối đá xuống ông, và ông ta đã chết tại Tê-bết đó sao? Tại sao các ngươi đến gần tường thành như vậy?’ Bấy giờ, ngươi sẽ nói: ‘Đầy tớ của bệ hạ là U-ri, người Hê-tít, cũng chết nữa.’”
Vậy, người đưa tin ra đi và đến tâu trình cho Đa-vít mọi điều Giô-áp đã dặn.
Người đưa tin tâu với Đa-vít: “Ban đầu quân địch mạnh hơn, xông ra đánh chúng tôi ngoài đồng; nhưng chúng tôi đẩy lui chúng cho đến lối vào cổng thành.
Từ trên tường thành, lính bắn cung đã bắn những đầy tớ của bệ hạ, có vài người bị chết; cả đầy tớ của bệ hạ là U-ri, người Hê-tít, cũng chết nữa.”
Đa-vít nói với sứ giả: “Ngươi hãy nói với Giô-áp thế nầy: ‘Đừng quá nặng lòng về điều nầy, vì gươm đao khi giết kẻ nầy, lúc giết kẻ khác. Hãy khích lệ ông ấy tấn công mạnh mẽ hơn và phá hủy thành.’”
Khi vợ U-ri nghe tin U-ri, chồng mình, đã chết thì than khóc chồng.
Khi đã mãn tang, Đa-vít sai người rước bà vào cung; bà trở thành vợ vua và sinh cho vua một con trai. Nhưng Đức Giê-hô-va không hài lòng điều Đa-vít đã làm.
Đức Giê-hô-va sai Na-than đến với Đa-vít. Ông đến nói với vua: “Trong một thành kia có hai người, một người giàu và một người nghèo.
Người giàu thì có rất nhiều chiên bò,
nhưng người nghèo thì chẳng có gì ngoài một con chiên cái nhỏ mà người ấy đã mua được. Ông ta nuôi nó lớn lên bên ông cùng với con cái của ông. Nó ăn thức ăn, uống thức uống của ông và ngủ trong lòng ông. Nó như con gái của ông ta vậy.
Một hôm, có một người khách đến thăm người giàu. Người giàu tiếc của, không muốn bắt chiên bò của mình để dọn một bữa ăn đãi khách, nhưng lại bắt con chiên con của người nghèo và dọn cho người khách đã đến thăm ông.”
Đa-vít rất tức giận người giàu ấy, và nói với Na-than: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, người đã làm điều nầy quả đáng chết!
Hắn phải bồi thường bốn lần giá chiên con, vì đã làm điều nầy và vì không có lòng thương xót.”
Bấy giờ, Na-than nói với Đa-vít: “Bệ hạ chính là người đó! Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: ‘Ta đã xức dầu lập ngươi làm vua Y-sơ-ra-ên, Ta đã giải cứu ngươi khỏi tay Sau-lơ.
Ta đã ban cho ngươi nhà của chúa ngươi, và trao vào lòng ngươi các vợ của người. Ta đã cho ngươi cả nhà Y-sơ-ra-ên và Giu-đa; và nếu bấy nhiêu còn quá ít, thì Ta sẽ ban thêm cho ngươi nhiều hơn nữa.
Tại sao ngươi đã xem thường lời của Đức Giê-hô-va mà làm điều ác trước mặt Ngài? Ngươi đã dùng gươm của người Am-môn giết U-ri, người Hê-tít, lấy vợ nó làm vợ ngươi.
Bây giờ, vì ngươi đã khinh dể Ta, và cướp vợ U-ri, người Hê-tít, làm vợ ngươi, nên gươm sẽ không bao giờ ngừng hủy hoại nhà của ngươi.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Nầy, từ trong chính nhà của ngươi, Ta sẽ khiến tai họa giáng trên ngươi. Ta sẽ bắt các vợ ngươi trước mắt ngươi trao cho người lân cận ngươi, nó sẽ nằm với các vợ ngươi giữa thanh thiên bạch nhật.
Ngươi đã làm điều đó một cách thầm kín, nhưng Ta sẽ làm việc nầy trước mặt toàn thể Y-sơ-ra-ên giữa thanh thiên bạch nhật.’”
Đa-vít nói với Na-than: “Ta đã phạm tội với Đức Giê-hô-va.” Na-than nói với Đa-vít: “Đức Giê-hô-va cũng đã xóa tội cho bệ hạ, bệ hạ không chết đâu.
Tuy nhiên, bởi việc nầy, bệ hạ đã tạo cơ hội cho những kẻ thù của Đức Giê-hô-va xúc phạm đến Ngài, nên con trai đã sinh cho bệ hạ sẽ phải chết.”
Nói xong, Na-than trở về nhà mình. Đức Giê-hô-va đánh đứa con mà vợ của U-ri đã sinh cho Đa-vít, và nó bị bệnh nặng.
Đa-vít cầu khẩn Đức Chúa Trời cho đứa bé. Vua kiêng ăn và vào trong phòng nằm dưới đất suốt đêm.
Các trưởng lão trong hoàng gia đến bên cạnh để khuyên vua trỗi dậy khỏi mặt đất, nhưng vua không chịu, và cũng không ăn gì với họ.
Đến ngày thứ bảy, đứa bé chết. Các đầy tớ của Đa-vít ngại cho vua biết đứa bé đã chết; vì họ bảo nhau: “Trong khi đứa bé còn sống, chúng ta đã nói với nhà vua, và người đã không nghe chúng ta. Vậy làm sao chúng ta lại dám nói với người rằng đứa bé đã chết? Liệu người có thể làm điều gì có hại cho mình chăng!”
Nhưng khi thấy các thuộc hạ mình thì thầm với nhau, Đa-vít hiểu rằng đứa bé đã chết, nên hỏi họ: “Có phải đứa bé đã chết rồi không?” Họ thưa: “Vâng, nó đã chết.”
Bấy giờ, Đa-vít đứng dậy, tắm rửa, xức dầu thơm, và thay quần áo, rồi vào đền thờ Đức Giê-hô-va và thờ lạy. Sau đó, vua trở về cung, truyền dọn thức ăn cho mình ăn.
Các thuộc hạ hỏi vua: “Bệ hạ làm điều nầy có nghĩa gì? Khi đứa bé còn sống, bệ hạ kiêng ăn và khóc lóc vì nó; nhưng khi nó đã chết, bệ hạ đứng dậy và ăn uống!”
Vua trả lời: “Khi đứa bé còn sống, ta kiêng ăn và khóc lóc vì nghĩ rằng: ‘Biết đâu Đức Giê-hô-va sẽ thương xót ta, và cho nó được sống!’
Nhưng bây giờ nó đã chết thì ta kiêng ăn làm gì? Ta có thể làm cho nó trở lại được sao? Ta sẽ đi đến với nó, nhưng nó không trở lại với ta.”
Đa-vít an ủi Bát Sê-ba, vợ mình, và đến nằm với bà. Bà sinh một con trai, vua đặt tên là Sa-lô-môn. Đức Giê-hô-va yêu thương nó,
nên Ngài sai nhà tiên tri Na-than đến đặt tên cho nó là Giê-đi-đia, vì Đức Giê-hô-va yêu thương nó.
Lúc ấy, Giô-áp đánh thành Ráp-ba của người Am-môn, và sắp chiếm được đế đô nầy.
Giô-áp sai người đến tâu với Đa-vít: “Tôi đã đánh thành Ráp-ba và chiếm được nguồn nước của thành.
Bây giờ, bệ hạ hãy tập hợp số quân còn lại, kéo đến trước thành và chiếm lấy nó, kẻo tôi chiếm thành và nó sẽ được mang tên tôi chăng.”
Vậy, Đa-vít tập hợp toàn thể quân lính, kéo đến Ráp-ba, tấn công và chiếm thành.
Vua lấy vương miện trên đầu của vua Am-môn và đội trên đầu mình. Vương miện ấy cân nặng khoảng ba mươi bốn ký vàng, có khảm đá quý. Đa-vít cũng thu được rất nhiều chiến lợi phẩm trong thành.
Còn dân trong thành thì vua cho dẫn đi làm lao dịch, sử dụng cưa, bừa sắt, rìu sắt, và làm việc trong lò gạch. Vua cũng xử như thế với tất cả các thành của người Am-môn. Rồi Đa-vít và toàn thể quân lính trở về Giê-ru-sa-lem.
Sau đó có xảy ra chuyện nầy: Áp-sa-lôm, con trai của Đa-vít, có một cô em gái xinh đẹp tên là Ta-ma. Am-nôn, con trai của Đa-vít, yêu nàng.
Am-nôn bị dằn vặt đến nỗi ốm tương tư vì Ta-ma, em gái mình; bởi nàng là một trinh nữ nên Am-nôn khó có thể làm gì được nàng.
Nhưng Am-nôn có một người bạn tên là Giô-na-đáp, con của Si-mê-a, là anh Đa-vít. Giô-na-đáp là người rất xảo quyệt.
Anh ta hỏi Am-nôn: “Nầy hoàng tử, vì sao mỗi ngày một tiều tụy như vậy? Không nói cho tôi biết được sao?” Am-nôn tâm sự với anh ta: “Tôi yêu Ta-ma, em gái của Áp-sa-lôm là em trai tôi.”
Giô-na-đáp nói với cậu: “Hoàng tử hãy nằm trên giường, giả vờ bệnh. Rồi khi vua cha đến thăm, hãy nói với người: ‘Xin phụ vương cho Ta-ma, em gái con, đến lo việc ăn uống cho con. Em con sẽ dọn món ăn trước mắt con để con thấy, và sẽ tự tay dọn cho con ăn.’”
Vậy, Am-nôn nằm giả vờ bệnh. Khi vua đến thăm, Am-nôn thưa với vua: “Xin phụ vương cho Ta-ma, em con, đến làm vài cái bánh trước mặt con, và con sẽ ăn bánh từ tay em con.”
Đa-vít sai người đến với Ta-ma và bảo: “Hãy đến nhà Am-nôn, và làm thức ăn cho anh con.”
Vậy, Ta-ma đến nhà anh mình là Am-nôn, lúc anh ấy đang nằm trong nhà. Cô lấy bột mì, nhồi làm bánh và đem chiên trước mặt anh.
Rồi cô nhắc chảo xuống và trút bánh ra trước mặt anh. Nhưng Am-nôn không chịu ăn, và nói: “Hãy bảo mọi người ra khỏi đây.” Mọi người đều ra khỏi đó.
Bấy giờ, Am-nôn nói với Ta-ma: “Hãy đem thức ăn em đã dọn cho anh vào trong phòng, để anh ăn bánh từ tay em.” Ta-ma lấy bánh mình đã làm, đem vào phòng cho Am-nôn, anh mình.
Nhưng khi cô đem bánh đến gần cho anh ăn, thì cậu nắm lấy cô và nói: “Em ơi, hãy đến nằm với anh.”
Cô nói: “Không được đâu anh! Đừng cưỡng bức em, vì không ai được làm như thế trong Y-sơ-ra-ên. Đừng làm chuyện đồi bại nầy!
Phần em, em sẽ mang sự sỉ nhục mình đi đâu? Còn anh, anh sẽ bị xem như một tên hư đốn trong Y-sơ-ra-ên. Bây giờ, xin anh hãy thưa với phụ vương, vì người sẽ không từ chối gả em cho anh đâu.”
Nhưng Am-nôn không chịu nghe cô, và vì cậu mạnh hơn, nên đã cưỡng hiếp cô.
Sau đó, Am-nôn ghét cay ghét đắng Ta-ma đến nỗi lòng ghét bỏ lại lớn hơn tình yêu đối với cô khi trước. Am-nôn nói với cô: “Hãy đứng dậy, cút đi!”
Cô nói: “Không! Anh đuổi em đi là làm một điều ác lớn hơn điều anh vừa làm đối với em!” Nhưng Am-nôn không chịu nghe cô.
Cậu gọi một đầy tớ hầu hạ mình và bảo: “Hãy đuổi người đàn bà nầy cho khuất mắt ta, rồi cài then cửa lại!”
Đầy tớ của Am-nôn đuổi cô ra và cài then cửa lại. Lúc ấy, cô đang mặc một áo choàng dài tay; vì các công chúa thường mặc áo như thế đang khi còn đồng trinh.
Ta-ma rắc tro trên đầu mình, xé áo choàng dài tay đang mặc, và hai tay ôm đầu, vừa đi vừa khóc lớn tiếng.
Áp-sa-lôm, anh cô, hỏi: “Có phải Am-nôn, anh của em, đã nằm với em rồi không? Bây giờ em ơi, hãy giữ yên lặng, vì anh ấy là anh của em. Đừng nặng lòng về chuyện nầy!” Như vậy, Ta-ma sống cô độc trong nhà Áp-sa-lôm, anh mình.
Vua Đa-vít nghe được tất cả sự việc nầy thì rất tức giận.
Còn Áp-sa-lôm không nói với Am-nôn một lời nào, dù lành hay dữ, vì Áp-sa-lôm căm ghét Am-nôn về việc cưỡng hiếp Ta-ma, em gái mình.
Hai năm sau, nhân dịp Áp-sa-lôm thuê thợ hớt lông chiên cho mình tại Ba-anh Hát-so gần Ép-ra-im, thì ông mời tất cả các hoàng tử.
Áp-sa-lôm đến thưa với vua: “Đầy tớ của bệ hạ có thuê các thợ hớt lông chiên. Kính xin bệ hạ và triều thần đến với đầy tớ của bệ hạ.”
Nhưng vua trả lời với Áp-sa-lôm: “Không được đâu con! Không nên đi tất cả, vì sẽ làm gánh nặng cho con.” Dù Áp-sa-lôm nài nỉ vua, nhưng Đa-vít không chịu đi, chỉ chúc phước cho chàng thôi.
Áp-sa-lôm lại thưa: “Nếu không được thì xin cho phép Am-nôn, anh con, đến với chúng con.” Vua hỏi: “Tại sao nó phải đến với con?”
Nhưng Áp-sa-lôm nài nỉ mãi cho đến khi vua để cho Am-nôn và tất cả hoàng tử đến với chàng.
Áp-sa-lôm ra lệnh cho các đầy tớ mình: “Hãy để ý xem khi Am-nôn hứng chí vì rượu, và khi ta bảo các ngươi: ‘Hãy đánh hạ Am-nôn,’ thì bấy giờ hãy giết hắn đi. Đừng sợ! Chẳng phải chính ta đã ra lệnh cho các ngươi sao? Hãy can đảm và tỏ ra dũng cảm!”
Thế là, các đầy tớ của Áp-sa-lôm xử Am-nôn đúng như Áp-sa-lôm đã ra lệnh. Bấy giờ, tất cả các hoàng tử đều đứng dậy, cưỡi lừa chạy trốn.
Khi họ còn đang trên đường chạy trốn thì có tin báo cho Đa-vít rằng: “Áp-sa-lôm đã giết tất cả các hoàng tử, không một ai sống sót.”
Vua đứng dậy, xé áo ra và nằm xuống đất. Tất cả thuộc hạ của vua đứng chầu gần bên cũng xé áo mình.
Nhưng Giô-na-đáp, con của Si-mê-a, là anh Đa-vít, lên tiếng nói: “Xin chúa tôi đừng nghĩ rằng họ đã giết tất cả các hoàng tử. Chỉ một mình Am-nôn bị giết chết mà thôi, vì Áp-sa-lôm đã chủ tâm làm điều nầy từ ngày Am-nôn cưỡng hiếp Ta-ma, em gái mình.
Vậy, xin bệ hạ là chúa tôi đừng nặng lòng mà nghĩ rằng tất cả hoàng tử đã chết; chỉ một mình Am-nôn chết mà thôi.”
Lúc ấy, Áp-sa-lôm đã chạy trốn. Người lính trẻ đang đứng canh, ngước mắt lên, nhìn thấy một đám đông đi tới theo con đường phía sau mình, bên sườn núi.
Giô-na-đáp thưa với vua: “Kìa! Các hoàng tử về đấy, việc xảy ra đúng như đầy tớ của bệ hạ đã nói.”
Ông vừa dứt lời thì các hoàng tử về đến; họ òa lên khóc. Vua và tất cả quần thần đều khóc thảm thiết.
Áp-sa-lôm đã chạy trốn và đến với Thanh-mai, con của A-mi-hút, là vua xứ Ghê-su-rơ. Còn Đa-vít ngày ngày khóc thương con trai mình.
Như thế, Áp-sa-lôm trốn đến Ghê-su-rơ, và ở đó ba năm.
Lúc ấy, vua Đa-vít chạnh nhớ đến Áp-sa-lôm, vì vua đã khuây khỏa về cái chết của Am-nôn.
Bấy giờ, Giô-áp con của Xê-ru-gia, nhận thấy lòng vua đang hướng về Áp-sa-lôm.
Vì thế, ông sai người đến Thê-cô-a, tìm một người đàn bà khôn khéo, và bảo bà ấy: “Hãy giả vờ làm người đang có tang, mặc tang phục, đừng xức dầu. Hãy làm như một người đàn bà để tang lâu ngày.
Rồi hãy đến gặp vua, tâu với người như thế nầy...” Và Giô-áp dặn bà những lời phải nói.
Khi người đàn bà ở Thê-cô-a đến gặp vua, bà sấp mặt xuống đất mà lạy, rồi thưa: “Xin bệ hạ cứu giúp tôi!”
Vua hỏi: “Ngươi có việc gì?” Bà thưa: “Than ôi! Tôi góa bụa, chồng tôi đã chết.
Tớ gái bệ hạ có hai con trai. Hai đứa xô xát với nhau ở ngoài đồng, và vì không ai can chúng ra, nên đứa nầy đánh chết đứa kia.
Và nầy, cả dòng họ đều đứng lên chống lại tớ gái bệ hạ, và bảo: ‘Hãy nộp kẻ đã giết em mình. Chúng tôi sẽ giết nó để đền mạng người em mà nó đã giết; và dù nó là người thừa kế, chúng tôi cũng sẽ diệt nó.’ Vậy, họ định dập tắt chút than hồng còn lại cho tôi, không để lại cho chồng tôi người nối danh nối dõi trên mặt đất.”
Vua nói với người đàn bà: “Ngươi hãy trở về nhà, ta sẽ ra lệnh về việc của ngươi.”
Người đàn bà Thê-cô-a thưa với vua: “Tâu bệ hạ là chúa tôi, nguyện tội đổ lại trên tôi và trên nhà cha tôi. Còn bệ hạ và ngai vàng của bệ hạ thì vô can!”
Vua nói: “Nếu có ai nói gì với ngươi, hãy đưa nó đến với ta. Nó sẽ không còn dám đụng đến ngươi nữa.”
Bà ấy nói: “Xin bệ hạ nhớ đến Giê-hô-va Đức Chúa Trời của bệ hạ mà ngăn cản người đòi nợ máu gây thêm chết chóc, và họ sẽ không giết con trai tôi nữa.” Vua nói: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, không một sợi tóc nào của con trai ngươi sẽ rơi xuống đất!”
Người đàn bà nói tiếp: “Xin cho phép tớ gái bệ hạ thưa thêm một lời với bệ hạ, là chúa tôi.” Vua bảo: “Cứ nói.”
Người đàn bà nói: “Vậy sao bệ hạ không xử với dân của Đức Chúa Trời cùng một cách như thế? Khi phán quyết điều nầy, bệ hạ đã tự kết tội mình, vì bệ hạ không cho đứa con bị đày của mình trở về.
Tất cả chúng ta đều sẽ phải chết, giống như nước đổ xuống đất, không thể hốt lại được. Nhưng Đức Chúa Trời không cất mạng sống đi; trái lại, Ngài hoạch định phương cách để người bị đày không cứ phải xa cách Ngài.
Bây giờ, sở dĩ tôi đến thưa điều nầy với bệ hạ là chúa tôi, chính vì người ta làm cho tôi sợ. Tớ gái bệ hạ nghĩ rằng: ‘Tôi phải thưa với nhà vua, may ra nhà vua sẽ làm điều tớ gái người cầu xin.
Thật vậy, nhà vua sẽ nhận lời và giải cứu tớ gái người khỏi tay kẻ muốn tiêu diệt tôi cùng với con trai tôi, không cho hưởng cơ nghiệp của Đức Chúa Trời.’
Vậy, tớ gái bệ hạ nghĩ rằng: ‘Lời của bệ hạ, là chúa tôi, sẽ làm cho tôi yên lòng; vì bệ hạ, là chúa tôi, khác nào thiên sứ của Đức Chúa Trời, hiểu điều lành và điều dữ.’ Nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời của bệ hạ ở với bệ hạ!”
Vua trả lời người đàn bà: “Đừng giấu ta điều ta sắp hỏi ngươi.” Người đàn bà thưa: “Xin bệ hạ là chúa tôi cứ hỏi.”
Vua hỏi: “Có phải Giô-áp đã nhúng tay vào mọi việc nầy không?” Người đàn bà trả lời: “Thưa bệ hạ là chúa tôi, thật như bệ hạ vẫn sống, không ai có thể đi chệch qua phải hoặc qua trái khỏi mọi điều bệ hạ là chúa tôi đã nói. Vâng, chính Giô-áp, cận thần của bệ hạ, đã truyền lệnh cho tôi và chỉ cho tớ gái của bệ hạ những lời phải nói.
Chính là để thay đổi tình thế mà Giô-áp, cận thần của bệ hạ, đã làm điều nầy. Nhưng chúa tôi khôn ngoan như thiên sứ của Đức Chúa Trời, biết mọi việc xảy ra trên đất.”
Sau đó, vua nói với Giô-áp: “Được, ta sẽ làm điều ngươi xin. Hãy đi đem chàng thanh niên Áp-sa-lôm về đây.”
Giô-áp sấp mặt xuống đất mà lạy, và chúc phước cho vua. Giô-áp nói: “Bệ hạ, chúa tôi ơi, ngày nay hạ thần biết rằng nó đã được ơn trước mặt bệ hạ, vì bệ hạ đã làm điều hạ thần thỉnh cầu.”
Rồi Giô-áp lên đường, đi đến Ghê-su-rơ và đem Áp-sa-lôm trở về Giê-ru-sa-lem.
Nhưng vua nói: “Nó phải ở quanh quẩn trong nhà nó, không được gặp mặt ta.” Vậy nên Áp-sa-lôm ở quanh quẩn trong nhà và không được gặp mặt vua.
Lúc ấy, trong khắp Y-sơ-ra-ên không có người nào được khen là đẹp trai như Áp-sa-lôm: từ bàn chân cho đến đỉnh đầu không có tì vết gì cả.
Cuối mỗi năm, ông thường hớt tóc khi thấy nó quá nặng nề. Mỗi khi hớt tóc, tóc ông cân được hơn hai ký theo cân hoàng gia.
Áp-sa-lôm sinh được ba trai và một gái. Người con gái tên là Ta-ma; cô là một thiếu nữ rất xinh đẹp.
Áp-sa-lôm ở Giê-ru-sa-lem trọn hai năm, không được gặp mặt vua.
Sau đó, Áp-sa-lôm cho mời Giô-áp đến để nhờ ông tâu với vua, nhưng Giô-áp không chịu đến. Áp-sa-lôm lại cho mời ông lần thứ nhì, nhưng Giô-áp vẫn không chịu đến.
Vì thế, Áp-sa-lôm nói với các đầy tớ mình: “Kìa, cánh đồng của Giô-áp ở ngay bên cạnh cánh đồng của ta, ông ấy trồng lúa mạch ở đó. Hãy đi châm lửa đốt cánh đồng ấy.” Các đầy tớ của Áp-sa-lôm châm lửa đốt cánh đồng đó.
Bấy giờ, Giô-áp đứng dậy và đến nhà Áp-sa-lôm mà hỏi: “Tại sao các đầy tớ ông đã đốt cánh đồng của tôi?”
Áp-sa-lôm trả lời với Giô-áp: “Nầy, tôi đã cho mời ông đến đây, để tôi nhờ ông tâu với vua: ‘Con đã từ Ghê-su-rơ trở về làm gì? Thà con vẫn ở đó còn hơn.’ Bây giờ, tôi muốn được gặp mặt vua. Nếu tôi có tội gì, xin người giết tôi đi.”
Giô-áp đến gặp vua và thuật lại các lời ấy. Vua cho gọi Áp-sa-lôm đến. Ông đến và sấp mình xuống trước mặt vua. Vua hôn Áp-sa-lôm.
Sau đó, Áp-sa-lôm sắm cho mình một cỗ xe, ngựa kéo xe, và năm mươi quân chạy trước mặt ông.
Áp-sa-lôm thường dậy sớm, đứng bên đường dẫn vào cổng thành. Nếu gặp ai có việc kiện cáo gì phải đến vua để xin xét xử, thì Áp-sa-lôm gọi người ấy đến và hỏi: “Ngươi ở thành nào?” Khi người ấy đáp: “Đầy tớ ông thuộc một trong những bộ tộc của Y-sơ-ra-ên,”
thì Áp-sa-lôm liền nói: “Nầy, vụ kiện của ngươi là đúng và hợp lý; nhưng không có ai thay mặt vua để nghe ngươi đâu.”
Rồi Áp-sa-lôm nói tiếp: “Ồ! Phải chi ta được chỉ định làm quan xét trong xứ! Khi ấy, bất cứ ai có việc kiện tụng và cần xét xử sẽ đến với ta, ta sẽ xét xử công minh cho người ấy.”
Hơn nữa, mỗi khi có ai đến gần để cúi lạy Áp-sa-lôm thì ông đưa tay ra đỡ lấy người ấy và hôn.
Áp-sa-lôm làm như vậy đối với tất cả những người Y-sơ-ra-ên đến tìm vua để xin xét xử; như thế, Áp-sa-lôm đã chiếm được lòng người Y-sơ-ra-ên.
Bốn năm sau, Áp-sa-lôm thưa với vua: “Xin cho phép con đi đến Hếp-rôn để làm trọn lời hứa nguyện mà con đã khấn với Đức Giê-hô-va.
Vì trong lúc ở Ghê-su-rơ thuộc A-ram, đầy tớ bệ hạ có khấn nguyện rằng: ‘Nếu Đức Giê-hô-va đem con trở về Giê-ru-sa-lem thì con sẽ phụng sự Đức Giê-hô-va.’”
Vua trả lời: “Hãy đi bình an.” Vậy, ông lên đường đến Hếp-rôn.
Sau đó, Áp-sa-lôm sai người bí mật đi khắp các bộ tộc Y-sơ-ra-ên nói rằng: “Ngay khi anh em nghe tiếng kèn thì hãy nói: ‘Áp-sa-lôm làm vua tại Hếp-rôn!’”
Có hai trăm người từ Giê-ru-sa-lem đi cùng Áp-sa-lôm. Họ là những khách mời, vô tình mà đến và không hay biết gì về chuyện đó.
Trong lúc Áp-sa-lôm dâng sinh tế, ông sai mời A-hi-tô-phe, người Ghi-lô, là một cố vấn của Đa-vít, từ thành Ghi-lô đến. Âm mưu phản loạn mạnh thêm, và số người theo Áp-sa-lôm càng ngày càng đông.
Có người đến báo tin cho Đa-vít: “Lòng dân Y-sơ-ra-ên đã nghiêng về Áp-sa-lôm.”
Vì vậy, Đa-vít nói với tất cả quần thần đang ở với mình tại Giê-ru-sa-lem: “Hãy trỗi dậy, chúng ta phải chạy trốn ngay. Nếu không, chúng ta không thể thoát khỏi Áp-sa-lôm được. Hãy nhanh chóng đi khỏi đây, kẻo nó sẽ đuổi kịp, giáng họa cho chúng ta và dùng gươm giết hại dân trong thành.”
Quần thần của vua thưa: “Vâng, bất cứ việc gì bệ hạ là chúa chúng tôi quyết định, thì các đầy tớ bệ hạ sẵn sàng làm theo.”
Vậy, vua ra đi và toàn thể hoàng gia cùng đi theo. Nhưng vua để lại mười cung phi để giữ cung điện.
Vua đi trước, mọi người theo sau và họ dừng lại ở tòa nhà cuối cùng.
Các thuộc hạ của vua đều vượt qua vua. Tất cả người Kê-rê-thít, người Phê-lê-thít và sáu trăm người Ghi-tít từ Gát đến theo vua, đều vượt lên đi trước mặt vua.
Vua nói với Y-tai, người Ghi-tít: “Tại sao ngươi cũng muốn đi với chúng ta? Hãy trở về và ở lại với vua, vì ngươi là một người ngoại quốc đã rời quê hương mà sống lưu vong.
Ngươi mới đến hôm qua mà hôm nay ta lại để cho ngươi đi lang thang với chúng ta, trong khi ta đi mà không biết sẽ về đâu sao? Hãy trở về và dẫn các anh em người Ghi-tít theo ngươi. Nguyện sự nhân từ và sự thành tín của Chúa ở với ngươi!”
Nhưng Y-tai thưa với vua: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống và bệ hạ là chúa tôi đang sống, bệ hạ là chúa tôi ở đâu thì dù sống hay chết, đầy tớ của bệ hạ cũng sẽ ở đó.”
Vua Đa-vít nói với Y-tai: “Hãy tiến lên và vượt qua.” Vậy, Y-tai người Ghi-tít vượt qua, cùng với tất cả những người của ông và trẻ con theo ông.
Cả xứ đều khóc lớn tiếng trong khi mọi người đi qua. Vua qua suối Xết-rôn, cùng tất cả dân chúng tiến về hướng hoang mạc.
Ở đó cũng có Xa-đốc và tất cả người Lê-vi khiêng Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời. Họ đặt Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời xuống, rồi A-bia-tha đi lên trước cho đến khi tất cả dân chúng đã ra khỏi thành.
Vua nói với Xa-đốc: “Hãy đem Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời vào trong thành. Nếu ta được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ đem ta trở về, cho ta thấy Hòm Giao Ước và nơi ngự của Ngài.
Nhưng nếu Ngài phán: ‘Ta không hài lòng ngươi,’ thì nguyện Ngài làm cho ta theo điều gì Ngài thấy là tốt!”
Vua lại nói với thầy tế lễ Xa-đốc: “Nầy, hãy trở về thành bình an, cùng với hai con của các ngươi: A-hi-mát, con của ngươi, và Giô-na-than, con của A-bia-tha.
Còn ta, ta sẽ đợi tại các chỗ qua sông vào hoang mạc, cho đến khi có người từ các ngươi đến báo tin cho ta.”
Vậy, Xa-đốc và A-bia-tha đem Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời trở về Giê-ru-sa-lem, và họ ở lại đó.
Đa-vít đi lên núi Ô-liu, vừa đi vừa khóc, trùm đầu lại và đi chân đất. Tất cả những người đi theo vua cũng trùm đầu, vừa đi vừa khóc.
Người ta đến báo tin cho Đa-vít: “A-hi-tô-phe cũng ở trong nhóm người âm mưu cùng với Áp-sa-lôm.” Đa-vít cầu nguyện: “Lạy Đức Giê-hô-va! Xin làm cho kế hoạch của A-hi-tô-phe hóa ra ngu xuẩn.”
Khi Đa-vít đã lên đến đỉnh núi, nơi người ta thờ phượng Đức Chúa Trời, thì Hu-sai, người Ạt-kít, đến đón người với áo xé rách và đầu đầy bụi đất.
Đa-vít nói với ông ấy: “Nếu ngươi đi với ta thì ngươi sẽ trở nên gánh nặng cho ta.
Nhưng nếu ngươi trở về thành và nói với Áp-sa-lôm rằng: ‘Thưa bệ hạ, tôi sẽ là đầy tớ của bệ hạ. Trước đây, tôi là đầy tớ của vua cha thể nào thì bây giờ tôi sẽ là đầy tớ của bệ hạ thể ấy’. Vậy, ngươi sẽ vì ta làm hỏng kế hoạch của A-hi-tô-phe.
Chẳng phải các thầy tế lễ Xa-đốc và A-bia-tha đang ở với ngươi đó sao? Tất cả những gì ngươi nghe được từ cung vua, hãy báo lại cho các thầy tế lễ Xa-đốc và A-bia-tha.
Hai con trai của họ là A-hi-mát, con của Xa-đốc, và Giô-na-than, con của A-bia-tha, vẫn ở đó với họ. Ngươi sẽ nhờ chúng báo cho ta mọi điều ngươi nghe được.”
Vậy Hu-sai, cố vấn của Đa-vít, trở về thành trong khi Áp-sa-lôm vào Giê-ru-sa-lem.
Khi Đa-vít vừa đi qua khỏi đỉnh núi một chút thì Xíp-ba, đầy tớ của Mê-phi-bô-sết, đến đón vua với hai con lừa chở hai trăm ổ bánh, một trăm bánh nho khô, một trăm bánh trái vả, và một bầu rượu nho.
Vua hỏi Xíp-ba: “Ngươi định làm gì với những thứ nầy?” Xíp-ba trả lời: “Các con lừa thì để cho người trong hoàng tộc cưỡi, bánh và trái cây dùng làm thức ăn cho các thanh niên, còn rượu thì để cho những người yếu sức giữa hoang mạc uống.”
Vua hỏi: “Vậy, con trai của chủ ngươi ở đâu?” Xíp-ba thưa: “Người ở lại Giê-ru-sa-lem, vì nói rằng: ‘Hôm nay nhà Y-sơ-ra-ên sẽ trả lại cho ta vương quốc của ông cha ta.’”
Vua nói với Xíp-ba: “Vậy, mọi vật thuộc về Mê-phi-bô-sết thì nay là của ngươi.” Xíp-ba thưa: “Tôi xin lạy tạ bệ hạ. Ước gì tôi được ơn trước mặt bệ hạ là chúa tôi!”
Khi vua Đa-vít đến Ba-hu-rim, có một người thuộc dòng dõi nhà Sau-lơ, tên là Si-mê-i, con của Ghê-ra, từ nơi ấy đi ra. Người nầy vừa đi vừa nguyền rủa.
Hắn ném đá vào Đa-vít và các thuộc hạ của vua, dù có cả quân đội và các dũng sĩ bảo vệ bên phải và bên trái vua.
Si-mê-i rủa sả Đa-vít rằng: “Hãy cút đi, cút đi! Tên vấy máu, kẻ gian ác kia!
Đức Giê-hô-va đã khiến máu của nhà Sau-lơ, mà ngươi đã chiếm ngôi, đổ lại trên ngươi. Đức Giê-hô-va trao vương quyền vào tay Áp-sa-lôm, con của ngươi. Bây giờ, ngươi bị hoạn nạn vì ngươi là một tên vấy máu.”
Lúc ấy, A-bi-sai, con của Xê-ru-gia, thưa với vua: “Tại sao con chó chết kia dám nguyền rủa bệ hạ là chúa tôi? Hãy để tôi đi chém đầu nó.”
Nhưng vua nói: “Hỡi các con của Xê-ru-gia, việc của ta can gì đến các ngươi? Nếu Si-mê-i rủa sả vì Đức Giê-hô-va đã phán với người rằng: ‘Hãy rủa sả Đa-vít,’ thì ai dám nói với người: ‘Tại sao ngươi làm như vậy?’”
Rồi Đa-vít nói với A-bi-sai và các đầy tớ mình: “Kìa, con ruột ta do chính ta sinh ra còn tìm hại mạng sống ta, huống chi người Bên-gia-min nầy! Hãy để mặc nó, hãy để nó nguyền rủa, vì Đức Giê-hô-va bảo nó làm vậy.
Có lẽ Đức Giê-hô-va sẽ nhìn thấy sự khốn khổ của ta, và sẽ lấy phước lành trả lại cho ta thay vì lời nguyền rủa của nó hôm nay.”
Đa-vít và các thuộc hạ cứ tiếp tục hành trình, trong khi Si-mê-i đi theo sườn núi đối diện với Đa-vít. Hắn vừa đi vừa nguyền rủa vừa ném đá Đa-vít, và hất tung bụi đất lên.
Khi vua và tất cả những người theo vua đến nơi thì ai nấy đều rất mệt mỏi, nên vua nghỉ lấy sức tại đó.
Trong lúc đó, Áp-sa-lôm và tất cả người Y-sơ-ra-ên đều đã vào Giê-ru-sa-lem, và A-hi-tô-phe theo người.
Khi Hu-sai người Ạt-kít, cố vấn của Đa-vít, đến với Áp-sa-lôm thì tung hô: “Đức vua vạn tuế! Đức vua vạn tuế!”
Áp-sa-lôm hỏi Hu-sai: “Đây là cách ngươi tỏ lòng trung thành với bạn ngươi đó sao? Tại sao ngươi không đi theo bạn ngươi?”
Hu-sai trả lời Áp-sa-lôm: “Không, tôi sẽ thuộc về người được Đức Giê-hô-va và được toàn dân Y-sơ-ra-ên lựa chọn, và tôi sẽ ở với người ấy.
Hơn nữa, tôi sẽ phục vụ ai? Không phải là phục vụ con của người ấy sao? Tôi đã phục vụ thân phụ của bệ hạ thể nào, thì tôi cũng sẽ phục vụ bệ hạ thể ấy.”
Áp-sa-lôm bảo A-hi-tô-phe: “Các ngươi hãy bàn nhau xem chúng ta phải làm gì?”
A-hi-tô-phe nói với Áp-sa-lôm: “Bệ hạ hãy đến nằm cùng các cung phi mà vua cha đã để lại giữ cung điện. Khi toàn thể Y-sơ-ra-ên hay rằng bệ hạ đã làm cho vua cha ghét bệ hạ, thì tay của tất cả những người ở với bệ hạ sẽ trở nên mạnh mẽ hơn.”
Người ta căng lều cho Áp-sa-lôm trên mái bằng cung điện, rồi Áp-sa-lôm đến nằm cùng các cung phi của cha mình. Mọi người Y-sơ-ra-ên đều biết việc nầy.
Trong thời ấy, lời bàn của A-hi-tô-phe đưa ra được xem như lời phán của chính Đức Chúa Trời khi người ta cầu hỏi Ngài. Tất cả lời bàn của A-hi-tô-phe đều có giá trị như thế đối với cả Đa-vít lẫn Áp-sa-lôm.
A-hi-tô-phe lại nói với Áp-sa-lôm: “Xin để tôi tuyển mười hai nghìn quân, và tôi sẽ lên đường đuổi theo Đa-vít ngay đêm nay.
Tôi sẽ tấn công trong lúc ông ấy đang mệt mỏi, chán nản, và làm cho ông ấy kinh khiếp; tất cả những người theo ông ấy sẽ chạy trốn, và tôi sẽ giết một mình nhà vua mà thôi.
Như vậy, tôi sẽ đưa toàn dân trở về với bệ hạ. Cái chết của người mà bệ hạ đang truy tìm sẽ làm cho mọi người quay về với bệ hạ, và tất cả dân chúng sẽ được yên ổn.”
Áp-sa-lôm và tất cả trưởng lão Y-sơ-ra-ên đều hài lòng với kế hoạch nầy.
Nhưng Áp-sa-lôm nói: “Hãy gọi Hu-sai, người Ạt-kít, đến để chúng ta cũng nghe ý kiến của ông ấy nữa.”
Khi Hu-sai đến, Áp-sa-lôm nói với ông: “A-hi-tô-phe đã nói như vậy, chúng ta có nên làm theo lời ông ấy không? Nếu không, ông cho biết ý kiến.”
Hu-sai nói với Áp-sa-lôm: “Lần nầy, kế hoạch của A-hi-tô-phe không được hay.”
Hu-sai nói tiếp: “Bệ hạ đã biết vua cha và các thuộc hạ người là những dũng sĩ; lòng họ đang cay đắng như gấu mẹ mất con trong rừng. Hơn nữa, vua cha là một chiến sĩ đầy kinh nghiệm, người sẽ không nghỉ đêm với quân lính đâu.
Lúc nầy, chắc người đang ẩn núp trong hầm hố hay một nơi nào đó. Nếu ngay trận đầu, một số quân ta bị thương vong, thì bất cứ ai nghe cũng sẽ nói: ‘Phe của Áp-sa-lôm đã bị đánh bại.’
Khi ấy, ngay cả người can đảm nhất, dù có gan như sư tử cũng phải khiếp sợ, vì toàn thể Y-sơ-ra-ên biết rằng thân phụ của bệ hạ là một người anh hùng, và các thuộc hạ đều là những người dũng cảm.
Vậy, tôi bàn thế nầy: Hãy cho tập hợp chung quanh bệ hạ toàn thể Y-sơ-ra-ên, từ Đan cho đến Bê-e Sê-ba, đông như cát biển, rồi bệ hạ sẽ thân hành cầm quân ra trận.
Chúng ta sẽ tiến đánh Đa-vít bất cứ nơi nào người bị phát hiện, và chúng ta sẽ bủa vây người như sương rơi trên đất; như thế, người và tất cả thuộc hạ không một ai sống sót.
Nếu người rút vào một thành nào, thì toàn thể Y-sơ-ra-ên sẽ đem dây thừng đến, và chúng ta sẽ kéo đổ thành đó xuống thung lũng đến nỗi người ta không còn tìm thấy một viên sỏi nào ở đó.”
Áp-sa-lôm và tất cả người Y-sơ-ra-ên đều nói: “Kế hoạch của Hu-sai, người Ạt-kít, hay hơn kế hoạch của A-hi-tô-phe.” Vì Đức Giê-hô-va đã quyết định làm hỏng kế hoạch của A-hi-tô-phe, để đem tai họa đến cho Áp-sa-lôm.
Bấy giờ, Hu-sai nói với các thầy tế lễ Xa-đốc và A-bia-tha: “A-hi-tô-phe đã bàn thế nầy thế nầy với Áp-sa-lôm và các trưởng lão Y-sơ-ra-ên, còn tôi thì bàn thế kia thế kia.
Vậy bây giờ, hãy lập tức sai người báo tin cho Đa-vít: ‘Xin bệ hạ đừng nghỉ đêm tại những chỗ qua sông vào hoang mạc, mà phải qua sông ngay; nếu không, bệ hạ và tất cả những người đi theo sẽ bị tiêu diệt.’”
Giô-na-than và A-hi-mát đang đứng chờ tin tại Ên Rô-ghên, họ không vào thành vì sợ bị phát hiện. Một đầy tớ gái đến đưa tin cho họ để họ báo lại cho vua Đa-vít.
Nhưng có một thanh niên thấy họ và báo cho Áp-sa-lôm. Hai người vội vàng đi và đến nhà một người ở Ba-hu-rim. Người nầy có một cái giếng trong sân, và họ xuống đó.
Vợ của người nầy lấy một tấm bố trải trên miệng giếng, rồi rải thóc lên trên để không ai nghi ngờ gì cả.
Các thuộc hạ của Áp-sa-lôm đến nhà người phụ nữ nầy và hỏi: “A-hi-mát và Giô-na-than ở đâu?” Bà trả lời: “Họ đã qua suối rồi.” Chúng đi tìm nhưng không gặp, nên trở về Giê-ru-sa-lem.
Sau khi chúng đi rồi, A-hi-mát và Giô-na-than lên khỏi giếng và đi báo tin cho vua Đa-vít. Họ nói với Đa-vít: “Xin bệ hạ trỗi dậy và nhanh chóng qua sông, vì A-hi-tô-phe đã bàn mưu như thế nầy, thế nầy chống lại bệ hạ.”
Đa-vít và tất cả những người theo vua đều trỗi dậy qua sông Giô-đanh. Vừa rạng đông, không còn một ai chưa qua sông Giô-đanh.
Khi A-hi-tô-phe thấy người ta không làm theo kế hoạch của mình thì thắng lừa lên đường trở về nhà ở trong thành của mình. Sau khi sắp xếp việc nhà xong, ông treo cổ tự tử. Người ta chôn ông trong mộ của cha ông.
Trong khi Đa-vít đi đến Ma-ha-na-im thì Áp-sa-lôm cùng với tất cả người Y-sơ-ra-ên theo ông qua sông Giô-đanh.
Áp-sa-lôm chỉ định A-ma-sa làm tổng tư lệnh quân đội thay thế Giô-áp. A-ma-sa là con trai của một người Y-sơ-ra-ên tên là Gít-ra, là người đã ăn ở với A-bi-ga-in, con gái của Na-hách, và là chị của Xê-ru-gia, mẹ của Giô-áp.
Y-sơ-ra-ên và Áp-sa-lôm đóng trại tại đất Ga-la-át.
Khi Đa-vít đã đến Ma-ha-na-im thì Sô-bi, con của Na-hách, từ thành Ráp-ba của người Am-môn, với Ma-ki, con của A-mi-ên, từ thành Lô Đê-ba, và Bát-xi-lai người Ga-la-át, từ thành Rô-ghê-lim,
đem giường, bát đĩa, chậu gốm, lúa mì, lúa mạch, bột mì, hột rang, đậu, đậu lăng, và các thứ hột rang khác,
mật ong, sữa đông, chiên, và phó mát lấy từ sữa bò, đến cho Đa-vít và những người đi theo vua dùng. Vì họ nói rằng: “Dân chúng đã đói khát và mệt mỏi trong hoang mạc.”
Đa-vít điểm quân số theo mình, rồi chỉ định những chỉ huy trưởng đơn vị một nghìn quân và một trăm quân.
Vua sai quân lính đi: một phần ba dưới quyền chỉ huy của Giô-áp, một phần ba dưới quyền chỉ huy của A-bi-sai, con của Xê-ru-gia, em của Giô-áp, và một phần ba dưới quyền chỉ huy của Y-tai, người Gát. Vua nói với quân lính: “Ta sẽ đích thân ra trận với các ngươi.”
Nhưng quân lính thưa: “Bệ hạ không nên ra trận. Vì nếu chúng tôi phải chạy trốn thì kẻ thù sẽ không quan tâm đến chúng tôi, ngay cả nếu phân nửa chúng tôi có chết đi thì chúng cũng không để ý đến; nhưng bệ hạ đáng giá bằng mười nghìn lần chúng tôi. Vậy bây giờ, tốt hơn là bệ hạ cứ ở trong thành để tiếp viện chúng tôi.”
Vua nói với họ: “Ta sẽ làm điều các ngươi cho là tốt nhất.” Rồi vua đứng bên cổng thành, trong khi toàn thể quân lính kéo ra từng đơn vị hàng trăm và hàng nghìn.
Vua truyền lệnh cho Giô-áp, A-bi-sai, và Y-tai: “Hãy vì ta mà nhẹ tay với chàng trẻ tuổi Áp-sa-lôm.” Toàn thể quân lính đều nghe lệnh vua truyền cho các tướng chỉ huy về Áp-sa-lôm.
Quân lính kéo ra cánh đồng nghênh chiến với Y-sơ-ra-ên. Cuộc giao tranh xảy ra trong rừng Ép-ra-im.
Tại đó, quân Y-sơ-ra-ên bị các thuộc hạ của Đa-vít đánh bại. Số thương vong rất lớn. Hôm ấy, có hai mươi nghìn người bị giết.
Cuộc chiến lan rộng khắp mọi miền; trong ngày đó, số người chết trong rừng sâu nhiều hơn là chết vì gươm.
Tình cờ, các đầy tớ của Đa-vít bắt gặp Áp-sa-lôm đang cưỡi một con la chạy dưới những cành cây chằng chịt của một cây thông lớn. Đầu Áp-sa-lôm bị vướng vào cây thông; ông bị treo lơ lửng, trong khi con la cứ tiếp tục chạy.
Có một người trông thấy và báo tin cho Giô-áp: “Nầy, tôi vừa thấy Áp-sa-lôm bị treo trên một cây thông.”
Giô-áp nói với người báo tin: “Cái gì! Ngươi thấy hắn à, thế sao không đánh hạ hắn xuống đất ngay tại chỗ đi? Như thế, hẳn ta đã thưởng cho ngươi mười miếng bạc và một cái thắt lưng.”
Nhưng người ấy nói với Giô-áp: “Cho dù người ta đặt vào tay tôi một nghìn miếng bạc, tôi cũng không dám ra tay trên hoàng tử; vì chính tai chúng tôi có nghe vua truyền lệnh cho ông, cho A-bi-sai và Y-tai, rằng: ‘Dù sao các ngươi cũng hãy bảo vệ chàng trẻ tuổi Áp-sa-lôm.’
Mặt khác, nếu tôi lấy lòng bất trung mà giết hoàng tử thì không có điều nào giấu được vua, và chính ông là người sẽ tố cáo” tôi.
Giô-áp nói: “Ta không mất thì giờ với ngươi như thế nữa đâu.” Rồi ông cầm ba cây lao trong tay, đến đâm vào tim của Áp-sa-lôm trong lúc người đang còn sống và bị treo trên cây thông.
Mười thanh niên mang khí giới của Giô-áp vây quanh và đánh chết Áp-sa-lôm.
Sau đó, Giô-áp thổi kèn và quân lính không đuổi theo quân Y-sơ-ra-ên nữa, vì Giô-áp ngăn họ lại.
Người ta lấy xác Áp-sa-lôm ném vào trong một cái hố rộng trong rừng, rồi chất đá lên trên người thành một đống rất lớn. Trong lúc ấy, tất cả người Y-sơ-ra-ên đều chạy trốn, ai về nhà nấy.
Lúc còn sống, Áp-sa-lôm đã dựng một tấm bia trong thung lũng Nhà Vua như một đài kỷ niệm cho mình; vì ông nói: “Ta không có con trai để lưu danh.” Rồi ông lấy tên mình đặt cho tấm bia đó; nó vẫn còn gọi là đài kỷ niệm Áp-sa-lôm cho đến ngày nay.
A-hi-mát, con của Xa-đốc, nói: “Xin cho phép con chạy báo tin mừng cho vua rằng Đức Giê-hô-va đã giải cứu vua khỏi tay những kẻ thù của mình.”
Nhưng Giô-áp nói: “Hôm nay, con không phải là người báo tin mừng. Con sẽ báo tin mừng vào một ngày khác, nhưng hôm nay thì không, vì hoàng tử đã chết.”
Rồi Giô-áp bảo một người Cút: “Hãy đi thuật cho vua điều ngươi đã thấy.” Người Cút cúi lạy Giô-áp, rồi chạy đi.
A-hi-mát, con của Xa-đốc, lại nói với Giô-áp: “Dù thế nào đi nữa, cũng xin cho con chạy theo sau người Cút.” Giô-áp hỏi: “Con ta ơi, tại sao con muốn chạy đi? Con sẽ chẳng được thưởng gì về tin tức nầy đâu.”
A-hi-mát năn nỉ: “Dù thế nào đi nữa, xin để con chạy đi.” Giô-áp nói: “Hãy chạy đi.” Vậy, A-hi-mát chạy theo con đường đồng bằng và vượt qua người Cút.
Đa-vít đang ngồi ở giữa hai cổng thành. Người lính canh theo tường thành trèo lên vòm cổng thành, khi ngước mắt lên thì anh thấy một người đang chạy đến một mình.
Người lính canh kêu lên và báo tin cho vua. Vua nói: “Nếu chỉ một mình nó, tức là người đem tin.” Người ấy chạy càng ngày càng gần.
Rồi người lính canh lại thấy một người khác cũng đang chạy, nên gọi người gác cổng và nói: “Kìa, lại có một người đang chạy đến một mình.” Vua nói: “Người nầy cũng đem tin.”
Người lính canh nói: “Tôi thấy người trước có cách chạy giống như A-hi-mát, con của Xa-đốc.” Vua nói: “Đó là một người tốt, chắc người đem tin tức tốt lành đến.”
A-hi-mát kêu lên và tâu với vua: “Mọi việc tốt đẹp!” Rồi người sấp mặt xuống đất trước mặt vua, và nói tiếp: “Ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của bệ hạ, là Đấng đã giải cứu bệ hạ khỏi những kẻ đã đưa tay chống lại bệ hạ là chúa tôi!”
Nhưng vua hỏi: “Chàng trẻ tuổi Áp-sa-lôm được bình an không?” A-hi-mát thưa: “Khi Giô-áp sai một đầy tớ của bệ hạ và chính hạ thần đi, thì hạ thần thấy có sự huyên náo dữ dội, nhưng không biết việc gì đã xảy ra.”
Vua nói: “Hãy lui ra một bên và đứng đó.” A-hi-mát lui ra và đứng chờ.
Kìa, người Cút đến và nói: “Xin bệ hạ là chúa tôi nghe tin mừng. Hôm nay, Đức Giê-hô-va đã giải cứu bệ hạ khỏi tay những kẻ nổi lên chống lại bệ hạ.”
Vua hỏi người Cút: “Chàng trẻ tuổi Áp-sa-lôm được bình an không?” Người Cút đáp: “Nguyện các kẻ thù của bệ hạ là chúa tôi, và tất cả những ai nổi lên chống lại để làm hại bệ hạ đều phải chung số phận như chàng trẻ tuổi ấy!”
Vua rất xúc động, đi lên phòng trên cổng thành và khóc. Người vừa đi vừa nói: “Áp-sa-lôm, con ơi, con ta ơi! Áp-sa-lôm, con ta ơi! Ước gì ta được chết thay con! Áp-sa-lôm, con ơi, con ta ơi!”
Người ta báo cho Giô-áp: “Kìa, vua đang khóc than và thương tiếc Áp-sa-lôm.”
Thế là hôm đó, ngày chiến thắng trở thành ngày than khóc của toàn dân; bởi mọi người đã nghe tin vua rất đau buồn vì mất con.
Trong ngày đó, quân lính lén lút trở vào thành như một đoàn quân trốn chạy khỏi chiến trường, lén lút trở về trong xấu hổ.
Còn vua thì che mặt, kêu khóc lớn tiếng: “Áp-sa-lôm, con ta ơi! Áp-sa-lôm, con ơi, con ta ơi!”
Giô-áp vào cung vua và nói: “Hôm nay bệ hạ đã làm bẽ mặt các đầy tớ bệ hạ, là những người ngày nay đã cứu mạng sống của bệ hạ, mạng sống của các hoàng tử và công chúa, cùng mạng sống của các hoàng hậu và cung phi nữa.
Như vậy, bệ hạ yêu những người ghét mình, và ghét những người yêu thương mình. Vì hôm nay bệ hạ đã chứng tỏ rằng các tướng chỉ huy và các đầy tớ của bệ hạ không là gì cả đối với bệ hạ. Bây giờ, tôi biết rằng nếu hôm nay Áp-sa-lôm còn sống, và tất cả chúng tôi đều chết thì chắc bệ hạ hài lòng lắm!
Giờ đây, xin bệ hạ đứng lên và đi ra nói vài lời khích lệ các đầy tớ của bệ hạ. Vì tôi chỉ Đức Giê-hô-va mà thề: Nếu bệ hạ không đi ra thì đêm nay sẽ không còn người nào ở lại bên bệ hạ; và tai họa nầy sẽ còn tệ hại hơn tất cả các tai họa đã xảy đến cho bệ hạ từ khi còn trẻ đến ngày nay.”
Bấy giờ, vua đứng lên và ra ngồi ở cổng thành. Khi người ta cho toàn dân biết rằng vua đã ngồi tại cổng thành thì họ kéo đến trước mặt vua. Lúc bấy giờ, người Y-sơ-ra-ên đã chạy trốn, ai về nhà nấy.
Trong khắp các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, người ta bàn luận sôi nổi với nhau rằng: “Vua đã giải thoát chúng ta khỏi tay kẻ thù, và người đã cứu chúng ta khỏi tay quân Phi-li-tin. Nhưng bây giờ, người đã phải trốn khỏi xứ vì Áp-sa-lôm.
Còn Áp-sa-lôm, người mà chúng ta đã xức dầu tôn lên làm vua, thì đã tử trận. Vậy bây giờ, tại sao anh em ngồi yên mà không lo đưa vua trở về?”
Vua Đa-vít sai người nói với các thầy tế lễ Xa-đốc và A-bia-tha: “Hãy hỏi các trưởng lão Giu-đa: ‘Tại sao các ngươi lại là những người sau cùng đưa vua trở về cung, khi mà sự bàn luận về việc nầy trong khắp Y-sơ-ra-ên đã thấu đến tai vua?
Các ngươi là anh em ta, là cốt nhục ta. Tại sao các ngươi lại là những người sau cùng đưa vua về?’
Các ngươi cũng hãy nói với A-ma-sa: ‘Chẳng phải ngươi là cốt nhục ta sao? Nếu từ nay trở đi, ngươi không làm tổng tư lệnh quân đội của ta thay cho Giô-áp, thì xin Đức Chúa Trời phạt ta thật nặng nề.’”
Như vậy, Đa-vít chiếm được lòng người Giu-đa, muôn người như một. Họ sai người đến tâu với vua: “Xin bệ hạ và tất cả đầy tớ của bệ hạ hãy trở về.”
Vua trở về và đến sông Giô-đanh. Người Giu-đa đã đến Ghinh-ganh để đón rước và đưa vua qua sông Giô-đanh.
Si-mê-i, con của Ghê-ra người Bên-gia-min, từ Ba-hu-rim vội vã đi xuống cùng với người Giu-đa để đón vua Đa-vít.
Có một nghìn người Bên-gia-min cùng đi với ông. Cũng có Xíp-ba, đầy tớ của nhà Sau-lơ, cùng với mười lăm con trai và hai mươi đầy tớ, họ vội vã đến sông Giô-đanh trước vua.
Họ vượt qua khúc sông cạn để đón hoàng gia và làm bất cứ điều gì vua cần. Khi vua sắp qua sông Giô-đanh thì Si-mê-i, con của Ghê-ra, phủ phục trước mặt vua,
và thưa: “Xin chúa tôi đừng hạch tội tôi, và đừng nhớ đến việc sai trái mà kẻ hạ thần đã phạm trong ngày bệ hạ là chúa tôi ra khỏi Giê-ru-sa-lem. Mong bệ hạ đừng để tâm đến.
Đầy tớ của bệ hạ biết mình đã phạm tội. Nhưng hôm nay đây, tôi là người đầu tiên trong cả nhà Giô-sép đã xuống đón bệ hạ là chúa tôi.”
A-bi-sai, con của Xê-ru-gia, hỏi: “Liệu người ta sẽ không xử tử Si-mê-i vì đã nguyền rủa người được xức dầu của Đức Giê-hô-va sao?”
Nhưng Đa-vít trả lời: “Các con của Xê-ru-gia ơi, việc của ta có can hệ gì đến các ngươi, mà ngày nay các ngươi phải trở thành người chống đối ta? Trong một ngày như hôm nay mà lại có người trong Y-sơ-ra-ên bị xử tử sao? Có phải ta không biết rằng hôm nay ta là vua của Y-sơ-ra-ên sao?”
Vua nói với Si-mê-i: “Ngươi sẽ không chết đâu.” Rồi vua lập lời thề với người.
Mê-phi-bô-sết, cháu nội của Sau-lơ, cũng đi xuống đón vua. Ông đã không rửa chân, không tỉa râu, và không giặt áo mình, từ ngày vua ra đi cho đến ngày vua trở về bình an.
Khi ông từ Giê-ru-sa-lem đến đón vua, Đa-vít hỏi ông: “Tại sao ngươi không đi với ta, Mê-phi-bô-sết?”
Ông đáp: “Thưa bệ hạ là chúa tôi, tôi đã bị người đầy tớ mình lừa gạt. Vì đầy tớ của bệ hạ bị què, nên đã bảo nó: ‘Hãy thắng lừa để ta cưỡi đi theo vua.’
Nhưng nó lại vu cáo tôi với bệ hạ là chúa tôi. Tuy nhiên, bệ hạ là chúa tôi như một thiên sứ của Đức Chúa Trời, xin hãy làm điều bệ hạ cho là tốt.
Vì tất cả nhà cha ông tôi chỉ là những kẻ đáng chết trước mặt bệ hạ là chúa tôi mà thôi, thế mà bệ hạ đã đặt đầy tớ bệ hạ vào số người được ngồi ăn nơi bàn bệ hạ. Vậy thì tôi còn có điều gì để kêu xin với bệ hạ nữa?”
Vua nói với ông: “Ngươi còn nói về việc mình làm gì? Ta đã bảo ngươi và Xíp-ba hãy chia đất với nhau.”
Nhưng Mê-phi-bô-sết thưa với vua: “Hãy để Xíp-ba lấy tất cả đi, vì bệ hạ là chúa tôi đã trở về bình an là quý rồi.”
Bấy giờ, Bát-xi-lai người Ga-la-át cũng từ Rô-ghê-lim xuống, và cùng vua qua sông Giô-đanh để tiễn vua qua bên kia sông.
Bát-xi-lai đã già lắm, ông được tám mươi tuổi. Chính ông đã cung cấp lương thực cho vua trong lúc vua ở tại Ma-ha-na-im, vì ông là một người rất giàu có.
Vua nói với Bát-xi-lai: “Hãy qua sông với ta và ở lại với ta tại Giê-ru-sa-lem, ta sẽ chu cấp cho ngươi.”
Nhưng Bát-xi-lai thưa với vua: “Tôi còn sống được bao nhiêu năm nữa mà lại cùng vua đi lên Giê-ru-sa-lem?
Nay tôi được tám mươi tuổi rồi, có còn phân biệt được cái hay cái dở nữa không? Đầy tớ của bệ hạ có còn thưởng thức được thức ăn và thức uống, hay giọng hát của những nam nữ ca sĩ nữa không? Vậy, tại sao đầy tớ của bệ hạ lại trở thành gánh nặng cho bệ hạ là chúa tôi làm gì?
Đầy tớ của bệ hạ sẽ cùng bệ hạ đi một quãng đường ngắn ở bên kia sông Giô-đanh nữa thôi. Nhưng tại sao bệ hạ lại muốn thưởng cho tôi như thế?
Xin cho phép đầy tớ bệ hạ trở về để được chết trong thành tôi, gần bên mộ của cha mẹ tôi. Nhưng đây là Kim-ham, đầy tớ bệ hạ, nó sẽ qua sông Giô-đanh với bệ hạ là chúa tôi, xin đãi nó thế nào tùy ý bệ hạ cho là tốt.”
Vua nói: “Kim-ham sẽ đi với ta, và ta sẽ làm cho nó mọi điều ngươi muốn. Bất cứ điều gì ngươi xin thì ta sẽ làm cho ngươi.”
Vậy, tất cả mọi người đều qua sông Giô-đanh, và vua cũng qua nữa. Vua hôn Bát-xi-lai và chúc phước cho ông. Rồi Bát-xi-lai trở về nhà mình.
Từ đó, vua đi qua Ghinh-ganh, có Kim-ham đi với vua. Toàn dân Giu-đa và phân nửa dân Y-sơ-ra-ên đã đưa vua đi qua.
Bấy giờ, tất cả người Y-sơ-ra-ên đến với vua, và hỏi: “Tại sao anh em chúng tôi là những người Giu-đa, đã lén lút đón bệ hạ và đưa bệ hạ sang sông Giô-đanh cùng với hoàng gia và tất cả những người theo bệ hạ?”
Tất cả người Giu-đa trả lời người Y-sơ-ra-ên: “Chúng tôi đã làm điều nầy vì vua có liên hệ họ hàng gần gũi với chúng tôi. Nhưng tại sao anh em nổi giận về việc nầy? Chúng tôi có ăn bám vua đâu? Hoặc vua có cho chúng tôi bất cứ điều gì đâu?”
Người Y-sơ-ra-ên đáp lời người Giu-đa: “Đối với vua Đa-vít, chúng tôi có tới mười phần nơi nhà vua; hơn nữa, chúng tôi có nhiều điều nơi vua Đa-vít hơn anh em mà. Vậy, tại sao anh em lại coi thường chúng tôi? Chẳng phải chúng tôi là những người đầu tiên đã nói đến việc đón vua về đó sao?” Những lời lẽ của người Giu-đa đáp lại còn gay gắt hơn lời lẽ của người Y-sơ-ra-ên.
Tình cờ, tại đó có một kẻ vô lại tên là Sê-ba, con của Biếc-ri, người Bên-gia-min. Hắn thổi kèn lên và kêu gọi: “Chúng ta không có phần gì nơi Đa-vít, Cũng chẳng hưởng gì nơi con của Gie-sê. Anh em Y-sơ-ra-ên ơi, mỗi người hãy trở về nhà mình!”
Tất cả người Y-sơ-ra-ên bỏ Đa-vít mà theo Sê-ba, con của Biếc-ri. Nhưng người Giu-đa vẫn trung thành với vua, theo vua từ Giô-đanh đến Giê-ru-sa-lem.
Khi Đa-vít về đến cung điện tại Giê-ru-sa-lem thì bắt mười cung phi mà vua đã để lại giữ cung điện, cho họ vào trong một căn nhà có người canh giữ. Vua cấp dưỡng cho họ, nhưng không đi lại với họ nữa. Như vậy, họ bị giam giữ, sống như ở góa cho đến ngày chết.
Sau đó, vua nói với A-ma-sa: “Trong hạn ba ngày, hãy tập hợp cho ta những người Giu-đa, và chính ngươi cũng phải có mặt tại đây.”
A-ma-sa đi tập hợp người Giu-đa, nhưng chậm hơn thời hạn vua đã định.
Đa-vít nói với A-bi-sai: “Bây giờ, Sê-ba, con của Biếc-ri, còn nguy hại cho chúng ta hơn Áp-sa-lôm. Vậy, ngươi hãy đem các chiến sĩ của chúa ngươi đuổi theo Sê-ba, kẻo nó chiếm lấy các thành kiên cố và thoát khỏi chúng ta chăng.”
Bấy giờ, quân của Giô-áp, người Kê-rê-thít và người Phê-lê-thít cùng với các dũng sĩ, đều đi ra theo A-bi-sai. Họ ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem, đuổi theo Sê-ba, con của Biếc-ri.
Khi họ đến tảng đá lớn ở Ga-ba-ôn, A-ma-sa đến gặp họ. Giô-áp mặc quân phục, ở ngoài có một thắt lưng với thanh gươm để trong bao, đeo nơi hông. Khi ông bước tới thì thanh gươm tuột ra khỏi vỏ.
Giô-áp nói với A-ma-sa: “Chào anh, anh có bình an không?” Rồi bàn tay phải của Giô-áp nắm lấy râu A-ma-sa để hôn người.
A-ma-sa không chú ý thanh gươm nơi tay kia của Giô-áp nên bị Giô-áp đâm một nhát vào bụng, ruột đổ xuống đất; ông chết tại chỗ, không cần đâm lại lần thứ hai. Rồi Giô-áp và em là A-bi-sai đuổi theo Sê-ba, con của Biếc-ri.
Có một người trong các thuộc hạ của Giô-áp đứng gần xác A-ma-sa kêu gọi: “Ai chuộng Giô-áp và phò vua Đa-vít, hãy theo Giô-áp.”
Xác của A-ma-sa đẫm máu, nằm giữa đường cái. Người ấy thấy mọi người đều dừng lại bên xác của A-ma-sa nên kéo xác khỏi đường cái, đem để trong một cánh đồng, rồi lấy áo đắp lại.
Khi xác đã cất khỏi đường cái rồi, mọi người đều đi theo Giô-áp để truy đuổi Sê-ba, con của Biếc-ri.
Sê-ba đã đi khắp các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, cho đến A-bên Bết-ma-ca; tất cả người Bê-ri đều tập hợp lại và đi theo hắn.
Toàn quân của Giô-áp đến bao vây Sê-ba trong thành A-bên Bết-ma-ca. Họ đắp lên một ụ đất áp sát thành, đối diện với chiến lũy. Rồi họ đập phá tường thành để triệt hạ nó.
Bấy giờ, có một người đàn bà khôn lanh từ trong thành gọi ra: “Hãy nghe đây, nghe đây! Xin hãy nói với Giô-áp: ‘Hãy lại đây, tôi muốn nói với ông.’”
Khi Giô-áp đến gần, người đàn bà hỏi: “Có phải ông là Giô-áp không?” Ông trả lời: “Phải.” Bà ấy nói: “Xin hãy lắng nghe lời tớ gái ông.” Ông nói: “Tôi đang nghe đây.”
Người đàn bà nói: “Thuở xưa người ta thường nói rằng: ‘Hãy đi thỉnh ý tại A-bên, như thế mới được việc.’
Thành của chúng tôi là một thành hiếu hòa và trung hậu hơn hết trong Y-sơ-ra-ên mà ông lại tìm cách tiêu diệt một cố đô của Y-sơ-ra-ên! Tại sao ông muốn phá hủy cơ nghiệp của Đức Giê-hô-va?”
Giô-áp trả lời: “Không phải thế! Tôi không bao giờ muốn tiêu diệt hay phá hủy!
Đó không phải là ý định của tôi. Nhưng có một người ở vùng đồi núi Ép-ra-im tên là Sê-ba, con của Biếc-ri, đã nổi dậy chống lại vua Đa-vít. Hãy nộp chỉ một mình hắn thôi, thì tôi sẽ rút quân khỏi thành.” Người đàn bà nói với Giô-áp: “Kìa, đầu của hắn sẽ được ném qua tường thành cho ông.”
Rồi người đàn bà ấy đến gặp tất cả dân chúng, và khôn khéo thuyết phục họ. Người ta chặt đầu Sê-ba, con của Biếc-ri, và ném cho Giô-áp. Ông thổi kèn lui quân, mọi người rời khỏi thành, ai về nhà nấy. Còn Giô-áp thì trở về Giê-ru-sa-lem với vua.
Lúc ấy, Giô-áp làm tổng tư lệnh quân đội Y-sơ-ra-ên; Bê-na-gia, con của Giê-hô-gia-đa, chỉ huy những người Kê-rê-thít và Phê-lê-thít;
A-đô-ni-ram phụ trách lực lượng lao dịch; Giô-sa-phát, con của A-hi-lút, làm ngự sử;
Sê-gia làm thư ký; Xa-đốc và A-bia-tha làm thầy tế lễ.
Còn Y-ra, người Giai-rơ, làm thầy tế lễ cho Đa-vít.
Trong thời trị vì của Đa-vít, có một nạn đói kéo dài suốt ba năm. Vì thế, Đa-vít tìm kiếm Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va phán: “Điều nầy xảy đến vì Sau-lơ và nhà nó đã gây nợ máu khi tàn sát người Ga-ba-ôn.”
Vua gọi người Ga-ba-ôn đến và nói chuyện với họ — Người Ga-ba-ôn vốn không thuộc về con dân Y-sơ-ra-ên, nhưng họ là số người A-mô-rít còn sót lại. Mặc dù dân Y-sơ-ra-ên đã có lời thề với họ, nhưng Sau-lơ vì lòng sốt sắng đối với dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đã tìm cách tiêu diệt họ —
Đa-vít hỏi người Ga-ba-ôn: “Ta phải làm gì cho các ngươi? Ta phải chuộc lỗi như thế nào để các ngươi chúc phước cho cơ nghiệp của Đức Giê-hô-va?”
Người Ga-ba-ôn trả lời với vua: “Vấn đề giữa chúng tôi với Sau-lơ và nhà của người không phải là bạc hay vàng, cũng không phải chúng tôi muốn giết người nào trong Y-sơ-ra-ên.” Đa-vít lại hỏi: “Vậy các ngươi muốn ta làm gì cho các ngươi?”
Họ tâu với vua: “Đối với người đã giết hại chúng tôi và chủ trương tiêu diệt chúng tôi, để chúng tôi không còn tồn tại trên lãnh thổ Y-sơ-ra-ên,
thì xin hãy giao nộp cho chúng tôi bảy người trong những con trai của người ấy, để chúng tôi treo chúng trước mặt Đức Giê-hô-va ở Ghi-bê-a, thành của Sau-lơ là người được chọn của Đức Giê-hô-va.” Vua nói: “Ta sẽ giao nộp chúng.”
Đa-vít dung tha Mê-phi-bô-sết, con trai của Giô-na-than, cháu của Sau-lơ, vì lời thề mà Đa-vít và Giô-na-than, con trai của Sau-lơ, đã lập với nhau trước mặt Đức Giê-hô-va.
Nhưng vua bắt Át-mô-ni và Mê-phi-bô-sết là hai con trai của Rít-pa, con gái của Ai-gia, đã sinh cho Sau-lơ; cùng với năm con trai của Mê-ráp, con gái Sau-lơ, đã sinh cho Át-ri-ên, con trai của Bát-xi-lai người Mê-hô-la,
mà giao nộp vào tay người Ga-ba-ôn. Họ treo chúng trên núi, trước mặt Đức Giê-hô-va. Bảy người ấy cùng phải chết chung với nhau, chúng bị giết vào những ngày đầu mùa gặt, tức là bắt đầu mùa gặt lúa mạch.
Rít-pa, con gái của Ai-gia, lấy một tấm vải thô trải trên tảng đá dùng làm giường. Rồi từ đầu mùa gặt cho đến khi có mưa từ trời trút xuống xác của chúng; bà không để cho chim trời đậu trên chúng ban ngày, hay thú đồng đến gần chúng ban đêm.
Khi Đa-vít biết được việc Rít-pa, con gái Ai-gia, nàng hầu của Sau-lơ, đã làm,
thì vua đi lấy hài cốt của Sau-lơ và của Giô-na-than, con Sau-lơ, từ những người cai quản thành Gia-be thuộc Ga-la-át. Những người nầy đã lấy trộm xác của hai cha con vua từ quảng trường Bết-san, nơi người Phi-li-tin treo họ lên trong ngày chúng đánh bại Sau-lơ tại Ghinh-bô-a.
Rồi vua đem hài cốt của Sau-lơ và Giô-na-than, con Sau-lơ, từ Gia-be về. Người ta cũng lấy hài cốt của những người đã bị treo,
và họ chôn cùng với hài cốt của Sau-lơ và Giô-na-than trong khu mộ của Kích, cha của Sau-lơ, ở Xê-la, thuộc đất Bên-gia-min. Sau khi người ta làm xong mọi điều vua truyền, thì Đức Chúa Trời nhậm lời khẩn xin cho xứ sở.
Một lần nữa, lại có chiến tranh giữa người Phi-li-tin với Y-sơ-ra-ên. Đa-vít cùng các thuộc hạ kéo xuống và giao chiến với quân Phi-li-tin. Nhưng Đa-vít cảm thấy rất mệt mỏi.
Bấy giờ, Ít-bi Bê-nốp, con cháu của Ra-pha, mang một cây giáo bằng đồng nặng khoảng ba ký rưỡi, đeo một thanh gươm mới, và định giết Đa-vít.
Nhưng A-bi-sai, con của Xê-ru-gia, đã đến tiếp cứu vua, đánh hạ người Phi-li-tin ấy, và giết đi. Từ đó, các thuộc hạ của Đa-vít thề và tâu với vua: “Bệ hạ sẽ không bao giờ ra trận với chúng tôi nữa, để ngọn đèn của Y-sơ-ra-ên không bị dập tắt.”
Sau đó, lại có một trận chiến khác với quân Phi-li-tin tại Góp. Lúc ấy Si-bê-cai, người Hu-sa, giết Sáp, là con cháu của Ra-pha.
Cũng tại Góp, trong một trận chiến khác với quân Phi-li-tin, Ên-cha-nan, con của Gia-a-rê Ô-rê-ghim người Bết-lê-hem, đánh giết Gô-li-át người Gát; cán giáo của hắn như trục cửi của thợ dệt.
Trong một trận chiến khác tại Gát, có một người khổng lồ có sáu ngón trên mỗi bàn tay và sáu ngón trên mỗi bàn chân, tổng cộng là hai mươi bốn ngón; người nầy cũng thuộc dòng giống Ra-pha.
Khi hắn sỉ nhục Y-sơ-ra-ên thì Giô-na-than, con của anh Đa-vít là Si-mê-a, giết hắn đi.
Bốn người Phi-li-tin nầy sinh tại Gát, thuộc dòng giống Ra-pha; chúng đều ngã gục dưới tay Đa-vít và các thuộc hạ người.
Đa-vít hát chúc tụng Đức Giê-hô-va bài ca nầy trong ngày Đức Giê-hô-va giải cứu vua khỏi tay mọi kẻ thù và khỏi tay Sau-lơ:
“Đức Giê-hô-va là tảng đá, là đồn lũy của tôi, Và là Đấng giải cứu tôi.
Đức Chúa Trời là tảng đá của tôi, nơi tôi tìm được chỗ ẩn náu, Là cái khiên và là sừng cứu rỗi của tôi, Là pháo đài và nơi nương náu của tôi, Đấng giải cứu tôi khỏi những kẻ hung bạo.
Tôi sẽ kêu cầu Đức Giê-hô-va, Đấng đáng được ngợi ca; Và tôi sẽ được giải cứu khỏi các kẻ thù.
Các lượn sóng của tử thần vây quanh tôi, Những dòng thác diệt vong làm tôi kinh hãi;
Những dây của âm phủ quấn quanh tôi, Bẫy tử thần đã bắt lấy tôi.
Trong cảnh khốn cùng, tôi cầu khẩn Đức Giê-hô-va; Tôi kêu cầu Đức Chúa Trời của tôi. Từ Đền Thánh, Ngài nghe tiếng tôi; Tiếng kêu cầu của tôi thấu đến tai Ngài.
Bấy giờ, đất rung động và lung lay, Nền các tầng trời cũng rung chuyển Và rúng động, vì Ngài nổi giận.
Khói bốc ra từ mũi Ngài; Lửa thiêu rụi ra từ miệng Ngài, Và than hồng cháy rực từ Ngài.
Ngài xé các tầng trời và ngự xuống; Dưới chân Ngài có mây dày đặc.
Ngài cưỡi một chê-rúp vụt bay; Ngài hiện ra trên cánh gió.
Ngài dùng bóng tối bao phủ quanh mình, Như một cái lều với lượng nước lớn trong đám mây dày đặc.
Từ ánh sáng rực rỡ trước mặt Ngài, Than cháy bừng lên đỏ rực.
Đức Giê-hô-va cho nổi sấm trên các tầng trời; Đấng Chí Cao phát ra tiếng của Ngài.
Ngài bắn tên ra, quân thù tán loạn; Phát chớp nhoáng, khiến chúng tan tành.
Bởi lời quở trách của Đức Giê-hô-va Và bởi hơi thở ra từ mũi Ngài, Lòng đại dương xuất hiện, Thềm lục địa lộ ra.
Từ trên cao, Ngài đưa tay ra nắm lấy tôi, Kéo tôi ra khỏi vực nước sâu.
Ngài giải cứu tôi khỏi kẻ thù cường bạo, Khỏi những kẻ ghét tôi, Vì chúng mạnh hơn tôi.
Chúng tấn công tôi trong ngày tôi lâm nạn, Nhưng Đức Giê-hô-va đã nâng đỡ tôi.
Ngài đem tôi ra nơi rộng rãi Và giải cứu tôi, vì Ngài vui thích tôi.
Đức Giê-hô-va ban thưởng theo sự công chính của tôi; Ngài báo đền cho tôi theo sự trong sạch của tay tôi,
Vì tôi đã giữ các đường lối của Đức Giê-hô-va, Không xây khỏi Đức Chúa Trời để làm điều ác.
Vì tất cả mệnh lệnh của Ngài đều ở trước mặt tôi; Tôi chẳng lìa xa các luật lệ Ngài.
Tôi sống cách không chê trách được trước mặt Ngài, Và cẩn thận giữ mình khỏi tội ác.
Vì vậy, Đức Giê-hô-va báo đền cho tôi theo sự công chính của tôi, Và theo sự trong sạch của tôi trước mặt Ngài.
Với người trung tín, Chúa tỏ mình thành tín; Với người trọn vẹn, Chúa tỏ mình toàn hảo.
Với người trong sạch, Chúa sẽ tỏ mình thánh sạch; Nhưng với kẻ gian ngoa, Chúa sẽ tỏ mình thù địch.
Chúa giải cứu người khiêm tốn, Nhưng Chúa để mắt nhìn kẻ kiêu căng để hạ chúng xuống.
Đức Giê-hô-va ôi! Ngài là ngọn đèn của con, Đức Giê-hô-va sẽ chiếu vào sự tăm tối của con.
Nhờ Chúa, con có thể tấn công quân địch; Cậy Đức Chúa Trời, con vượt qua lũy thành.
Còn Đức Chúa Trời, đường lối Ngài là trọn vẹn, Lời Đức Giê-hô-va tinh luyện. Ngài là cái khiên cho mọi người ẩn náu nơi Ngài.
Vì ngoài Đức Giê-hô-va ra, ai là Đức Chúa Trời? Ai là tảng đá lớn, nếu không phải là Đức Chúa Trời chúng tôi?
Chính Đức Chúa Trời là nơi ẩn náu vững chắc của tôi, Ngài đưa người trọn vẹn vào đường lối Ngài.
Ngài làm cho chân tôi lanh lẹ như chân nai, Và đặt tôi đứng vững trên các nơi cao.
Ngài tập tay tôi chiến đấu, Để cánh tay tôi giương nổi cung đồng.
Chúa đã ban cho con tấm khiên cứu rỗi của Ngài, Và sự hạ mình của Chúa đã làm cho con nên cao trọng.
Chúa mở rộng đường dưới bước chân con, Và chân con bước không bao giờ lảo đảo.
Con đuổi theo và hủy diệt quân thù Cho đến khi diệt hết mới trở về.
Con tận diệt và đánh hạ chúng; Chúng gục ngã dưới chân con, không sao trỗi dậy.
Vì Chúa đã thắt lưng con bằng sức mạnh để chiến đấu, Và làm cho kẻ tấn công con cúi rạp trước con.
Chúa cũng khiến kẻ thù của con quay lưng bỏ chạy Để con tiêu diệt những kẻ ghét con.
Chúng ngóng trông nhưng chẳng ai cứu giúp; Chúng kêu cầu Đức Giê-hô-va, nhưng Ngài không đáp lời.
Con đập tan chúng như bụi đất, Nghiền nát, giày đạp chúng như bùn ngoài đường.
Chúa giải cứu con khỏi sự tranh chấp của dân tộc con; Ngài giữ con đứng đầu các nước; Dân mà con không quen biết sẽ thần phục con.
Người nước ngoài sẽ phủ phục trước mặt con; Vừa nghe tiếng con, chúng đã tuân hành.
Người nước ngoài tiêu tan nhuệ khí, Từ nơi ẩn mình run rẩy kéo nhau ra.
Đức Giê-hô-va hằng sống và đáng được ca ngợi là tảng đá của con! Tôn vinh Đức Chúa Trời là tảng đá của sự cứu rỗi con!
Chính là Đức Chúa Trời báo thù cho con, Ngài khiến các dân thần phục con,
Và giải cứu con khỏi những kẻ thù. Chúa nâng tôi lên cao hơn các cừu địch của con, Và cứu con khỏi kẻ hung tàn.
Vì vậy, Đức Giê-hô-va ôi! Con sẽ ca ngợi Ngài giữa các dân, Và hát chúc tụng danh của Ngài.
Đức Giê-hô-va ban sự giải cứu lớn lao cho vua Ngài chọn, Và bày tỏ sự nhân từ cho người được xức dầu của Ngài, Tức là cho Đa-vít và cho dòng dõi người đến đời đời.”
Đây là những lời cuối cùng của Đa-vít: “Lời của Đa-vít, con của Gie-sê, Là lời của người được cất nhắc lên cao, Người được Đức Chúa Trời của Gia-cốp xức dầu, Và là tác giả những bài thánh thi của Y-sơ-ra-ên:
Thần của Đức Giê-hô-va đã phán qua ta, Và lời của Ngài ở nơi lưỡi ta.
Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã phán, Tảng Đá lớn của Y-sơ-ra-ên đã phán với ta: ‘Người nào cai trị con người cách công minh, Cai trị trong sự kính sợ Đức Chúa Trời
Thì sẽ như ánh ban mai lúc mặt trời mọc, Vào một buổi sáng trời không mây; Như ánh sáng chói lòa sau cơn mưa, Làm cỏ xanh mọc lên từ đất.’
Nhà ta chẳng như thế trước mặt Đức Chúa Trời sao? Vì Ngài đã lập với ta một giao ước đời đời, Tất cả điều khoản đã được sắp xếp và giữ gìn. Chẳng phải mọi sự giải cứu và ước ao của ta Sẽ được chính Ngài làm thành tựu đó sao?
Nhưng kẻ gian ác giống như gai gốc bị người ta vứt bỏ, Vì không thể dùng tay gom lại được;
Mà phải dùng dụng cụ bằng sắt Hoặc cán giáo để đùa đi. Rồi chúng bị thiêu hủy hoàn toàn trong lửa.”
Đây là tên của các dũng sĩ đã giúp cho Đa-vít: Trước hết có Giô-sép Ba-sê-bết, người Tách-kê-môn, đứng đầu nhóm ba dũng sĩ; chính ông đã vung giáo và giết chết tám trăm người cùng một lúc.
Kế đến, có Ê-lê-a-sa, con của Đô-đô, cháu của A-hô-hi, là một trong ba dũng sĩ đã cùng với Đa-vít đến chỗ người Phi-li-tin tập trung dàn trận để giao chiến. Người Y-sơ-ra-ên rút đi,
nhưng Ê-lê-a-sa trỗi dậy và đánh quân Phi-li-tin cho đến khi cánh tay ông tê mỏi mà bàn tay vẫn dính chặt vào gươm. Ngày đó, Đức Giê-hô-va ban cho một chiến thắng vẻ vang. Quân lính trở lại theo sau Ê-lê-a-sa chỉ để tước đoạt chiến lợi phẩm.
Sau ông có Sa-ma, con của A-ghê, người Ha-ra. Người Phi-li-tin tập hợp thành một đoàn quân tại một cánh đồng đầy đậu lăng, và quân lính đã chạy trốn người Phi-li-tin.
Nhưng Sa-ma đứng giữa cánh đồng, chống trả và đánh bại quân Phi-li-tin; Đức Giê-hô-va cho dân Y-sơ-ra-ên một chiến thắng vẻ vang.
Có ba người trong số ba mươi quan tướng đi xuống vào mùa gặt, đến gặp Đa-vít tại hang đá A-đu-lam, trong khi một đoàn quân Phi-li-tin đóng trại tại thung lũng Rê-pha-im.
Bấy giờ Đa-vít ở trong đồn lũy, còn đội quân của người Phi-li-tin thì đóng ở Bết-lê-hem.
Đa-vít ước ao và nói: “Ước gì có ai cho ta uống nước giếng bên cổng thành Bết-lê-hem!”
Bấy giờ, có ba dũng sĩ đi băng qua trại quân Phi-li-tin, múc nước giếng ở bên cổng thành Bết-lê-hem, đem về dâng cho Đa-vít. Nhưng vua không chịu uống, mà đổ nước đó ra dâng lên Đức Giê-hô-va,
và nói: “Đức Giê-hô-va ôi! Con không bao giờ uống đâu. Con có thể uống máu những người đã liều mạng sống của mình sao?” Vậy, vua không uống nước ấy. Đó là việc ba dũng sĩ đã làm.
Em của Giô-áp là A-bi-sai, con của Xê-ru-gia, là người chỉ huy nhóm “ba mươi”. Chính ông đã vung giáo đánh và giết chết ba trăm người, và nổi tiếng trong nhóm ba dũng tướng ấy.
Chẳng phải A-bi-sai nổi danh hơn trong nhóm ba dũng tướng sao? Ông đã trở thành người chỉ huy của họ, dù ông không bằng họ.
Lại có Bê-na-gia ở Cáp-xê-ên, con của Giê-hô-gia-đa, là một người dũng cảm đã tạo được nhiều thành tích. Chính ông đã giết hai dũng sĩ người Mô-áp. Ông cũng đã đi xuống và đánh chết một con sư tử ở dưới hố vào một ngày có tuyết rơi.
Chính ông đã đánh giết một người Ai Cập khổng lồ. Người Ai Cập cầm một cây giáo trong tay, còn Bê-na-gia cầm một cây gậy xuống đánh hắn. Ông giật cây giáo khỏi tay người Ai Cập, rồi dùng cây giáo của hắn mà giết hắn.
Đó là những việc Bê-na-gia, con của Giê-hô-gia-đa, đã làm; ông được nổi tiếng so với ba dũng tướng.
Bê-na-gia có danh tiếng hơn cả trong nhóm “Ba Mươi”; nhưng ông không thuộc nhóm ba dũng tướng. Đa-vít đặt ông chỉ huy các cận vệ của vua.
Trong nhóm “Ba Mươi” còn có: A-sa-ên em Giô-áp, Ên-ca-nan con của Đô-đô ở Bết-lê-hem,
Sa-ma ở Ha-rốt, Ê-li-ca ở Ha-rốt,
Hê-lết người Phê-lết, Y-ra con của Y-ke ở Tê-cô,
A-bi-ê-xe ở A-na-tốt, Mê-bô-nai người Hu-sa,
Sanh-môn người A-hô-hi, Ma-ha-rai ở Nê-tô-pha,
Hê-lép con của Ba-a-na ở Nê-tô-pha, Y-tai con của Ri-bai ở thành Ghi-bê-a của người Bên-gia-min,
Bê-na-gia ở Phi-ra-thôn, Hi-đai ở suối Ga-ách,
A-bi Anh-bôn người A-ra-ba, Ách-ma-vết ở Bạt-cum,
Ê-li-ác-ba ở Sa-anh-bôn, các con của Gia-sen: Giô-na-than,
Sa-ma người Ha-ra, A-hi-am con của Sa-ra người A-ra-rít,
Ê-li-phê-lết con của A-cạt-bai người Ma-ca-thít, Ê-li-am con của A-hi-tô-phe người Ghi-lô,
Hết-rai ở Cạt-mên, Pha-rai người A-ráp,
Di-ganh con của Na-than ở Xô-ba, Ba-ni người Ga-đi,
Xê-léc người Am-môn, Na-ha-rai ở Bê-ê-rốt, là người mang khí giới cho Giô-áp con của Xê-ru-gia,
Y-ra người Giê-the, Ga-rép người Giê-the,
U-ri người Hê-tít. Tất cả là ba mươi bảy người.
Một lần nữa, Đức Giê-hô-va nổi cơn thịnh nộ với dân Y-sơ-ra-ên. Ngài giục lòng Đa-vít gây họa cho họ mà nói rằng: “Hãy kiểm tra dân số Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.”
Vậy nên vua bảo Giô-áp, tổng tư lệnh quân đội, đang ở với vua: “Hãy đi khắp các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, từ Đan cho đến Bê-e Sê-ba, kiểm tra dân số để ta biết dân số Y-sơ-ra-ên là bao nhiêu.”
Nhưng Giô-áp thưa với vua: “Nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời của bệ hạ làm cho dân số tăng gấp trăm lần như hiện có, và nguyện mắt của bệ hạ là chúa tôi thấy sự gia tăng ấy! Nhưng tại sao bệ hạ là chúa tôi lại muốn làm điều nầy?”
Tuy nhiên, lời của vua mạnh hơn ý kiến của Giô-áp và các tướng chỉ huy quân đội. Vì vậy, Giô-áp và các tướng chỉ huy từ giã vua để đi ra kiểm tra dân số Y-sơ-ra-ên.
Sau khi qua sông Giô-đanh rồi, họ dựng trại tại A-rô-e, về phía nam của thành nằm giữa thung lũng Gát, rồi đi về phía Gia-ê-xe.
Từ đó, họ đến miền Ga-la-át và vùng đất Ta-tim Hốt-si. Rồi họ đến Đan Gia-an và miền chung quanh Si-đôn.
Họ cũng đi đến thành lũy ở Ty-rơ, vào tất cả các thành của người Hê-vít và người Ca-na-an. Rồi họ ra miền Nê-ghép của Giu-đa tại Bê-e Sê-ba.
Như vậy, họ đi khắp đất nước; sau chín tháng hai mươi ngày, họ trở về Giê-ru-sa-lem.
Giô-áp trình lên vua tổng số dân đã được kiểm tra: Trong Y-sơ-ra-ên có tám trăm nghìn người khỏe mạnh có thể cầm gươm, và trong Giu-đa năm trăm nghìn người.
Sau cuộc tổng kiểm tra dân số, Đa-vít bị lương tâm cắn rứt. Đa-vít thưa với Đức Giê-hô-va: “Con đã phạm tội rất nặng trong điều con đã làm. Nhưng bây giờ, Đức Giê-hô-va ôi! Xin cất đi tội lỗi của đầy tớ Ngài đã phạm, vì con đã hành động rất ngu xuẩn.”
Sáng hôm sau, khi Đa-vít thức dậy, có lời của Đức Giê-hô-va phán với nhà tiên tri Gát, là nhà tiên kiến của Đa-vít, rằng:
“Hãy đi nói với Đa-vít rằng Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Ta đưa ra cho ngươi ba điều. Hãy chọn một trong ba điều đó, rồi Ta sẽ theo đó mà phạt ngươi.’”
Gát đến với Đa-vít, báo cho vua các lời đó và nói: “Bệ hạ chọn điều nào: Hoặc bảy năm đói kém trong nước của bệ hạ, hoặc ba tháng bệ hạ phải chạy trốn khỏi trước mặt kẻ thù rượt đuổi, hoặc ba ngày bệnh dịch hạch hoành hành trong cả nước? Bây giờ, xin bệ hạ suy nghĩ và quyết định xem tôi phải thưa lại thế nào với Đấng đã sai tôi.”
Đa-vít nói với Gát: “Ta lâm vào tình cảnh rất ngặt nghèo! Thà chúng ta sa vào tay của Đức Giê-hô-va còn hơn, vì sự thương xót của Ngài là rất lớn; nhưng đừng để ta sa vào tay của loài người.”
Vậy, Đức Giê-hô-va khiến bệnh dịch hạch hoành hành trong Y-sơ-ra-ên từ sáng hôm đó cho đến thì giờ đã định. Số người chết trong dân chúng từ Đan đến Bê-e Sê-ba là bảy mươi nghìn người.
Khi thiên sứ đưa tay ra để hủy diệt Giê-ru-sa-lem thì Đức Giê-hô-va đổi ý về tai họa ấy, nên phán với thiên sứ thi hành cuộc hủy diệt: “Đủ rồi! Bây giờ hãy rút tay ngươi lại.” Lúc ấy, thiên sứ của Đức Giê-hô-va ở gần sân đập lúa của A-rau-na, người Giê-bu-sít.
Thấy thiên sứ đánh phạt dân chúng, Đa-vít thưa với Đức Giê-hô-va: “Chính con đã phạm tội, chính con đã hành động bướng bỉnh. Còn các con chiên nầy có làm gì đâu? Nguyện tay Chúa giáng trên con và nhà cha của con!”
Trong ngày đó, Gát đến gặp Đa-vít và nói: “Hãy đi lên, lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va tại sân đập lúa của A-rau-na, người Giê-bu-sít.”
Đa-vít đi theo lời của Gát, như Đức Giê-hô-va đã truyền phán.
Khi A-rau-na nhìn thấy vua và các đầy tớ người đang tiến về phía mình, ông liền đi ra và sấp mặt xuống đất trước mặt vua.
A-rau-na nói: “Bệ hạ là chúa tôi đến với đầy tớ của bệ hạ có việc gì?” Đa-vít trả lời: “Ta đến để mua sân đập lúa của ngươi, và xây tại đó một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, để tai họa đang làm hại dân chúng được ngừng lại.”
A-rau-na thưa với Đa-vít: “Xin bệ hạ là chúa tôi hãy lấy và dâng bất cứ điều gì bệ hạ thấy là tốt. Đây có bò dùng làm tế lễ thiêu, những dụng cụ đập lúa và ách bò dùng làm củi.
Thưa bệ hạ, A-rau-na xin dâng tất cả cho bệ hạ.” A-rau-na nói tiếp: “Nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời của bệ hạ chấp nhận bệ hạ!”
Nhưng vua nói với A-rau-na: “Không, ta muốn mua của ngươi theo giá cả sòng phẳng. Ta không muốn dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ta những tế lễ thiêu mà không mất tiền mua.” Vậy, Đa-vít mua sân đập lúa và bò với giá năm mươi siếc-lơ bạc.
Đa-vít xây tại đó một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, và dâng tế lễ thiêu cùng tế lễ bình an. Đức Giê-hô-va nhậm lời cầu nguyện và chấm dứt tai họa trên đất nước Y-sơ-ra-ên.
Vua Đa-vít đã già và cao tuổi, mặc dù được đắp nhiều mền, vua vẫn không thấy ấm.
Các triều thần tâu với vua: “Xin bệ hạ là chúa tôi cho tìm một thiếu nữ đồng trinh, để nàng hầu hạ và chăm sóc bệ hạ. Nàng sẽ nằm trong lòng bệ hạ để bệ hạ là chúa tôi được ấm.”
Vậy họ đi tìm một thiếu nữ xinh đẹp trong khắp lãnh thổ Y-sơ-ra-ên và gặp được A-bi-sác, người Su-nem, rồi đem nàng đến cho vua.
Thiếu nữ ấy rất đẹp. Nàng chăm sóc và hầu hạ vua, nhưng vua không ăn ở với nàng.
Bấy giờ A-đô-ni-gia, con của bà Ha-ghít, tự tôn xưng rằng: “Ta sẽ làm vua.” Ông sắm cho mình một cỗ xe, ngựa chiến, và năm mươi người chạy trước mặt mình.
Vua cha chẳng bao giờ làm ông phiền lòng mà hỏi rằng: “Tại sao con làm như thế?” A-đô-ni-gia lại rất đẹp trai và được sinh ra kế sau Áp-sa-lôm.
A-đô-ni-gia bàn mưu với Giô-áp, con bà Xê-ru-gia, và thầy tế lễ A-bia-tha; và họ bằng lòng theo giúp ông.
Nhưng thầy tế lễ Xa-đốc, Bê-na-gia con của Giê-hô-gia-đa, nhà tiên tri Na-than, Si-mê-i, Rê-i, và các dũng sĩ của Đa-vít không theo phe A-đô-ni-gia.
A-đô-ni-gia dâng sinh tế bằng chiên, bò, và thú béo bên tảng đá Xô-hê-lết, gần suối Ên Rô-ghên. Ông mời tất cả các em mình là các hoàng tử, và tất cả những quan chức Giu-đa trong triều đến dự.
Nhưng ông không mời nhà tiên tri Na-than, Bê-na-gia, các dũng sĩ, và cả em mình là Sa-lô-môn.
Bấy giờ, Na-than nói với Bát Sê-ba, mẹ của Sa-lô-môn: “Bà không nghe rằng A-đô-ni-gia, con của bà Ha-ghít, đã làm vua mà Đa-vít, chúa chúng ta, chẳng hay biết gì sao?
Bây giờ, tôi sẽ bày cho bà một kế để cứu mạng sống bà và mạng sống của con trai bà là Sa-lô-môn.
Hãy đi ra mắt vua Đa-vít và nói rằng: ‘Tâu bệ hạ, chúa tôi! Chẳng phải bệ hạ đã thề với tớ gái bệ hạ rằng: Con trai của ái khanh là Sa-lô-môn chắc chắn sẽ kế vị trẫm và nó sẽ ngồi trên ngai trẫm, đó sao? Vậy, tại sao A-đô-ni-gia lại làm vua?’
Trong lúc bà tâu với vua như vậy thì chính tôi cũng sẽ đi vào sau, và xác nhận lời của bà.”
Thế là Bát Sê-ba đến gặp vua trong phòng. Vua đã già yếu lắm; có A-bi-sác, người Su-nem, hầu hạ vua.
Bát Sê-ba sấp mình phủ phục trước mặt vua. Vua hỏi: “Ái khanh cần điều gì?”
Bà thưa với vua: “Tâu chúa thượng của thiếp! Chính bệ hạ đã nhân danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của bệ hạ mà thề với tớ gái bệ hạ rằng: ‘Sa-lô-môn con trai của ái khanh sẽ kế vị trẫm, và nó sẽ ngồi trên ngai trẫm.’
Nhưng bây giờ, A-đô-ni-gia làm vua mà chính bệ hạ là chúa của thiếp chẳng hay biết gì cả.
A-đô-ni-gia đã dâng sinh tế bằng bò đực, thú béo, và rất nhiều chiên. Hoàng tử cũng mời tất cả các hoàng tử khác, cùng với thầy tế lễ A-bia-tha và tướng chỉ huy quân đội là Giô-áp, nhưng không mời Sa-lô-môn, đầy tớ của bệ hạ.
Tâu bệ hạ là chúa của thiếp! Toàn dân Y-sơ-ra-ên đều hướng mắt về bệ hạ, chờ xem bệ hạ cho họ biết ai là người sẽ ngồi trên ngai kế vị bệ hạ.
Thiếp e rằng rồi đây khi bệ hạ an giấc với các tổ phụ, thì thiếp và con trai của thiếp là Sa-lô-môn sẽ bị xử như kẻ có tội.”
Đang khi bà tâu với vua thì nhà tiên tri Na-than đến.
Người ta tâu với vua: “Có nhà tiên tri Na-than ở đây.” Na-than ra mắt vua, sấp mình phủ phục trước mặt vua.
Na-than nói: “Tâu bệ hạ là chúa tôi! Có phải bệ hạ đã nói rằng: ‘A-đô-ni-gia sẽ kế vị trẫm và ngồi trên ngai trẫm không?’
Thế mà ngày nay, hoàng tử đã đi xuống dâng sinh tế bằng bò, thú béo, và rất nhiều chiên, cùng mời tất cả các hoàng tử, các quan tướng quân đội, và thầy tế lễ A-bia-tha. Kìa, họ ăn uống trước mặt A-đô-ni-gia và tung hô: ‘Vua A-đô-ni-gia vạn tuế!’
Còn tôi là đầy tớ bệ hạ, thầy tế lễ Xa-đốc, Bê-na-gia con trai Giê-hô-gia-đa, và đầy tớ bệ hạ là Sa-lô-môn thì không được mời.
Phải chăng việc nầy là do bệ hạ mà ra? Vì bệ hạ không cho các đầy tớ bệ hạ biết ai là người sẽ ngồi trên ngai kế vị bệ hạ là chúa tôi.”
Vua Đa-vít bảo: “Hãy gọi Bát Sê-ba cho trẫm.” Bà vào và đứng chầu trước mặt vua.
Đa-vít thề rằng: “Nguyện Đức Giê-hô-va hằng sống, Đấng đã giải cứu trẫm khỏi mọi hoạn nạn, chứng giám!
Đúng như trẫm đã nhân danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà thề với ái khanh rằng: ‘Chắc hẳn con trai của ái khanh là Sa-lô-môn sẽ kế vị trẫm, nó sẽ ngồi trên ngai thay thế trẫm’, thì ngay hôm nay, trẫm sẽ thực hiện điều đó.”
Bát Sê-ba sấp mặt xuống đất, phủ phục trước mặt vua và tâu: “Nguyện vua Đa-vít, chúa của thiếp, vạn tuế!”
Vua Đa-vít truyền: “Hãy gọi cho trẫm: thầy tế lễ Xa-đốc, nhà tiên tri Na-than, và Bê-na-gia con trai Giê-hô-gia-đa.” Họ đều đến ra mắt vua.
Rồi vua nói với họ: “Hãy đem các đầy tớ của chúa các ngươi theo, đỡ Sa-lô-môn, con trai trẫm, lên cưỡi con la của trẫm, rồi đưa thái tử xuống suối Ghi-hôn.
Tại đó, thầy tế lễ Xa-đốc và nhà tiên tri Na-than xức dầu cho thái tử làm vua Y-sơ-ra-ên. Các ngươi hãy thổi tù và, rồi tung hô rằng:
‘Vua Sa-lô-môn vạn tuế!’ Các ngươi sẽ theo sau vua đi lên, và vua sẽ ngồi trên ngai trẫm, trị vì thế trẫm. Đó chính là người mà trẫm đã lập làm vua của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.”
Bê-na-gia, con trai của Giê-hô-gia-đa tâu với vua: “A-men! Nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời của bệ hạ là chúa tôi cũng chuẩn y việc nầy.
Đức Giê-hô-va đã ở với bệ hạ thể nào, nguyện Ngài cũng ở với Sa-lô-môn thể ấy, và khiến ngai vua còn cao trọng hơn ngai của vua Đa-vít, là chúa tôi!”
Vậy thầy tế lễ Xa-đốc đi xuống Ghi-hôn cùng với nhà tiên tri Na-than, Bê-na-gia con trai của Giê-hô-gia-đa, những người Kê-rê-thít và Phê-lê-thít. Họ đỡ Sa-lô-môn lên cưỡi con la của vua Đa-vít và đưa xuống suối Ghi-hôn.
Thầy tế lễ Xa-đốc lấy sừng đựng dầu từ Lều Tạm và xức cho Sa-lô-môn. Họ thổi tù và, rồi toàn dân đều tung hô: “Vua Sa-lô-môn vạn tuế!”
Tất cả dân chúng đều theo vua đi lên. Họ thổi sáo và lớn tiếng reo vui đến nỗi đất rúng động bởi tiếng reo hò của họ.
Vừa dự tiệc xong, A-đô-ni-gia và tất cả người dự tiệc đang ở với ông đều nghe tiếng reo hò nầy. Khi nghe tiếng tù và, Giô-áp hỏi: “Tại sao trong thành có tiếng ồn ào như thế?”
Đang lúc ông nói thì Giô-na-than con của thầy tế lễ A-bia-tha đến. A-đô-ni-gia bảo: “Hãy vào đây, ngươi là một người đáng kính, chắc sẽ đem tin tốt lành.”
Nhưng Giô-na-than đáp lời A-đô-ni-gia: “Không phải vậy đâu, vì vua Đa-vít, chúa chúng ta, đã lập Sa-lô-môn làm vua.
Vua đã sai thầy tế lễ Xa-đốc, nhà tiên tri Na-than, Bê-na-gia con trai của Giê-hô-gia-đa, những người Kê-rê-thít và Phê-lê-thít đi theo Sa-lô-môn; họ đã đỡ thái tử lên cưỡi con la của vua.
Tại Ghi-hôn, thầy tế lễ Xa-đốc và nhà tiên tri Na-than đã xức dầu cho Sa-lô-môn làm vua. Rồi họ đã từ đó đi lên giữa những tiếng reo mừng và cả thành đều vang động. Đó chính là tiếng huyên náo mà các ông đã nghe.
Bây giờ, Sa-lô-môn đã ngự trên ngai vua.
Hơn nữa, các đầy tớ của vua đến chúc mừng vua Đa-vít, chúa chúng ta, rằng: ‘Nguyện Đức Chúa Trời của bệ hạ làm cho danh Sa-lô-môn rạng ngời hơn danh của bệ hạ, và khiến cho ngai Sa-lô-môn cao trọng hơn ngai của bệ hạ!’ Rồi Đa-vít sấp mình trên giường,
và ca ngợi Chúa: ‘Chúc tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Đấng hôm nay đã ban một người ngồi trên ngai của con mà chính mắt con xem thấy.’”
Bấy giờ, tất cả các người dự tiệc với A-đô-ni-gia đều run sợ và đứng dậy, ai đi đường nấy.
A-đô-ni-gia cũng sợ Sa-lô-môn nên đứng dậy, chạy vào nắm các sừng bàn thờ.
Có người đến thuật cho Sa-lô-môn rằng: “Nầy, A-đô-ni-gia sợ vua Sa-lô-môn. Ông ấy đã nắm các sừng bàn thờ mà nói rằng: ‘Hôm nay, xin vua Sa-lô-môn thề với tôi rằng vua sẽ không giết đầy tớ vua bằng gươm.’”
Sa-lô-môn nói: “Nếu ông ấy tỏ ra là người ngay lành thì không một sợi tóc nào của ông ấy sẽ rơi xuống đất. Nhưng nếu người ta phát hiện có điều gian ác nào nơi ông ấy thì hẳn phải chết.”
Rồi vua Sa-lô-môn sai người đem A-đô-ni-gia xuống khỏi bàn thờ. A-đô-ni-gia đến sấp mình xuống trước mặt vua Sa-lô-môn và vua truyền: “Hãy trở về nhà của ngươi đi.”
Khi gần đến ngày qua đời, Đa-vít truyền dạy Sa-lô-môn, con trai mình rằng:
“Cha sắp đi con đường mà mọi người trên thế gian phải đi. Vậy, con hãy mạnh mẽ và chứng tỏ mình là một bậc trượng phu!
Hãy giữ điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời muốn con giữ, tức là bước đi trong đường lối Ngài, gìn giữ những luật lệ, điều răn, mệnh lệnh, và sự dạy dỗ của Ngài như đã chép trong luật pháp của Môi-se, để con được thành công trong mọi việc con làm và mọi nơi con đi đến.
Như thế, Đức Giê-hô-va sẽ làm ứng nghiệm lời Ngài đã phán về cha rằng: ‘Nếu con cháu của con cẩn thận về đường lối mình, hết lòng, hết linh hồn bước đi một cách trung thành trước mặt Ta thì con sẽ không hề thiếu người ngồi trên ngai Y-sơ-ra-ên.’
Con cũng biết những việc Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia, đã làm cho cha, việc hắn đã làm cho hai tướng chỉ huy quân đội Y-sơ-ra-ên là Áp-ne con của Nê-rơ, và A-ma-sa con của Giê-the. Hắn đã giết hai vị tướng ấy, làm đổ máu trong thời bình như trong thời chiến, và khiến máu ấy dính nơi đai thắt lưng của hắn và giày hắn mang nơi chân.
Vì vậy, hãy theo sự khôn ngoan của con mà đối xử, nhưng đừng để đầu bạc của hắn xuống âm phủ một cách bình an.
Còn đối với các con của Bát-xi-lai, người Ga-la-át, con hãy cư xử nhân từ với họ. Hãy cho họ ăn đồng bàn với con, vì họ đã đứng bên cha lúc cha chạy trốn khỏi Áp-sa-lôm, anh con.
Ngoài ra, còn có Si-mê-i, con của Ghê-ra người Bên-gia-min ở Ba-hu-rim, là kẻ đã lấy những lời độc ác mà nguyền rủa cha trong ngày cha đi đến Ma-ha-na-im. Nhưng vì hắn xuống đón cha tại Giô-đanh nên cha đã nhân danh Đức Giê-hô-va mà thề với hắn rằng: ‘Trẫm sẽ không giết ngươi bằng gươm.’
Tuy nhiên, con đừng để hắn khỏi bị trừng phạt, vì con là người khôn ngoan và biết phải đối xử với hắn thể nào. Con hãy làm cho đầu bạc của hắn vấy máu mà xuống âm phủ.”
Đa-vít an giấc cùng các tổ phụ mình và được an táng trong thành Đa-vít.
Thời gian Đa-vít trị vì trên Y-sơ-ra-ên là bốn mươi năm: bảy năm tại Hếp-rôn và ba mươi ba năm tại Giê-ru-sa-lem.
Sa-lô-môn ngự trên ngai của cha mình là Đa-vít, và vương quốc của Sa-lô-môn thật vững chắc.
Bấy giờ A-đô-ni-gia, con trai của bà Ha-ghít, đến gặp bà Bát Sê-ba, mẹ của vua Sa-lô-môn. Bà hỏi: “Ngươi đến có ý bình an chăng?” Ông đáp: “Vâng, bình an.”
Rồi ông nói tiếp: “Tôi có việc muốn thưa với bà.” Bà đáp: “Hãy nói đi.”
Ông nói: “Hẳn bà biết rằng vương quyền vốn thuộc về tôi, và toàn thể Y-sơ-ra-ên đều mong thấy tôi trị vì. Nhưng vương quyền ấy đã thuộc về em tôi, vì đó là ý muốn của Đức Giê-hô-va.
Vậy bây giờ, tôi có một lời thỉnh cầu, mong bà không từ chối.” Bà đáp: “Hãy nói đi.”
Ông liền nói: “Xin bà nói với vua Sa-lô-môn — vì vua chẳng từ chối điều gì với bà — xin vua ban cho tôi A-bi-sác, người Su-nem, làm vợ.”
Bát Sê-ba đáp: “Được, ta sẽ nói với vua cho ngươi.”
Vậy Bát Sê-ba đến gặp vua Sa-lô-môn để nói với vua giúp cho A-đô-ni-gia. Vua đứng dậy đón và cúi chào bà, rồi ngồi trên ngai mình. Vua truyền đặt một ngai nữa cho thái hậu để bà ngồi bên phải vua.
Bà nói: “Mẹ có một việc nhỏ xin con, mong con đừng từ chối.” Vua đáp: “Thưa mẹ, xin mẹ cứ nói, vì con sẽ không từ chối mẹ đâu.”
Bà tiếp: “Hãy ban A-bi-sác, người Su-nem, làm vợ A-đô-ni-gia, là anh con.”
Nhưng vua Sa-lô-môn thưa với mẹ: “Sao mẹ lại xin A-bi-sác, người Su-nem, cho A-đô-ni-gia? Hãy xin vương quyền cho anh ấy luôn đi, vì anh ấy là anh của con mà! Cũng hãy xin luôn cho thầy tế lễ A-bia-tha và cho Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia nữa!”
Rồi vua Sa-lô-môn nhân danh Đức Giê-hô-va mà thề rằng: “Nguyện Đức Chúa Trời xử tôi một cách nặng nề nếu A-đô-ni-gia không mất mạng vì lời yêu cầu nầy!
Bây giờ, tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống, Đấng đã làm cho tôi vững vàng, khiến tôi ngồi trên ngai của Đa-vít, cha tôi, và lập cho tôi một triều đại đúng như lời Ngài đã hứa, mà thề rằng: A-đô-ni-gia phải bị xử tử ngay hôm nay.”
Vua Sa-lô-môn truyền lệnh cho Bê-na-gia, con trai của Giê-hô-gia-đa. Anh ta xông vào đánh và giết chết A-đô-ni-gia.
Sau đó, vua truyền cho thầy tế lễ A-bia-tha: “Hãy lui về cánh đồng của ngươi ở A-na-tốt, vì ngươi đáng chết. Nhưng ngày nay trẫm không giết ngươi, vì ngươi có khiêng Hòm Giao Ước của Chúa là Đức Giê-hô-va, trước mặt Đa-vít, cha trẫm, và vì ngươi đã chia sẻ mọi nỗi gian lao với cha trẫm.”
Như vậy, Sa-lô-môn đuổi A-bia-tha đi, không cho làm thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va nữa, khiến cho lời của Đức Giê-hô-va đã phán về nhà Hê-li tại Si-lô được ứng nghiệm.
Khi nghe tin nầy, Giô-áp liền trốn vào Lều Tạm của Đức Giê-hô-va và nắm các sừng bàn thờ, vì Giô-áp đã theo phe A-đô-ni-gia, dù ông không theo phe của Áp-sa-lôm.
Người ta tâu với vua Sa-lô-môn rằng: “Giô-áp đã trốn vào Lều Tạm của Đức Giê-hô-va, và kìa, ông ấy đang đứng bên cạnh bàn thờ.” Sa-lô-môn liền sai Bê-na-gia, con của Giê-hô-gia-đa, và truyền rằng: “Hãy đi, đánh cho hắn chết.”
Bê-na-gia đến Lều Tạm của Đức Giê-hô-va và nói với Giô-áp: “Vua truyền thế nầy: ‘Hãy đi ra!’” Nhưng Giô-áp trả lời: “Không, tôi sẽ chết tại đây.” Bê-na-gia về tâu lại với vua: “Giô-áp đã nói và trả lời như thế.”
Vua bảo: “Hãy làm như hắn đã nói. Hãy giết hắn và đem chôn đi. Như vậy, ngươi sẽ cất khỏi trẫm và khỏi nhà cha trẫm huyết vô tội mà Giô-áp đã đổ ra vô cớ.
Đức Giê-hô-va sẽ khiến máu hắn đổ lại trên đầu hắn, vì hắn đã xông vào hai người công chính và tốt hơn hắn, giết họ bằng gươm mà Đa-vít, cha trẫm, không hay biết gì cả; đó là Áp-ne, con của Nê-rơ, tướng chỉ huy quân đội Y-sơ-ra-ên, và A-ma-sa, con của Giê-the, tướng chỉ huy quân đội Giu-đa.
Huyết của họ sẽ đổ lại trên đầu Giô-áp và trên đầu của dòng dõi hắn cho đến đời đời. Còn Đa-vít và dòng dõi người, triều đại và ngôi báu người sẽ nhờ Đức Giê-hô-va mà được bình an mãi mãi.”
Vậy Bê-na-gia, con trai của Giê-hô-gia-đa, đi lên xông vào đánh Giô-áp và giết ông ta. Giô-áp được chôn tại đất nhà nơi hoang mạc.
Vua lập Bê-na-gia, con trai của Giê-hô-gia-đa, làm chỉ huy trưởng quân đội thay cho Giô-áp, và lập Xa-đốc làm thầy tế lễ thay cho A-bia-tha.
Sau đó, vua sai gọi Si-mê-i đến và bảo: “Hãy cất cho ngươi một cái nhà tại Giê-ru-sa-lem và ở đó, không được ra khỏi chỗ ấy để đi bất cứ nơi nào.
Hãy biết rằng ngày nào ngươi ra khỏi đó và đi qua khe Xết-rôn thì ngươi chắc chắn sẽ chết. Máu ngươi sẽ đổ lại trên đầu ngươi.”
Si-mê-i thưa với vua: “Lời bệ hạ nói phải lắm, bệ hạ là chúa tôi truyền dạy điều gì thì đầy tớ của bệ hạ sẽ làm điều đó.” Vậy Si-mê-i ở lâu ngày tại Giê-ru-sa-lem.
Nhưng ba năm sau, có hai đầy tớ của Si-mê-i trốn đến nhà A-kích, con của Ma-a-ca, vua Gát. Người ta báo cho Si-mê-i rằng: “Kìa, hai đầy tớ của ông ở tại Gát.”
Si-mê-i liền thắng lừa và đi đến Gát gặp A-kích để tìm hai đầy tớ của ông. Si-mê-i đi và đem các đầy tớ của ông từ Gát trở về.
Người ta thuật cho Sa-lô-môn rằng Si-mê-i từ Giê-ru-sa-lem đã đến Gát rồi trở về.
Vua sai gọi Si-mê-i đến và nói với ông: “Chẳng phải trẫm đã bắt ngươi chỉ Đức Giê-hô-va mà thề và bảo trước với ngươi: ‘Hãy biết rằng ngày nào ngươi ra khỏi đây và đi bất cứ nơi nào, thì ngươi chắc chắn sẽ chết’ sao? Và ngươi đã nói với trẫm rằng: ‘Lời bệ hạ nói phải lắm.’
Vậy, tại sao ngươi không giữ lời ngươi đã chỉ Đức Giê-hô-va mà thề, và mệnh lệnh trẫm đã truyền cho ngươi?”
Vua lại nói với Si-mê-i: “Ngươi đã biết và lòng ngươi cũng quá rõ mọi việc ác mà ngươi đã làm cho Đa-vít, cha trẫm. Vậy nên Đức Giê-hô-va sẽ khiến việc ác của ngươi đổ lại trên đầu ngươi.
Nhưng vua Sa-lô-môn sẽ được ban phước, và ngai của Đa-vít sẽ được lập vững bền trước mặt Đức Giê-hô-va đến đời đời.”
Rồi vua truyền lệnh cho Bê-na-gia, con trai của Giê-hô-gia-đa, đi đánh và giết chết Si-mê-i. Như vậy, vương quốc được vững bền trong tay Sa-lô-môn.
Sa-lô-môn kết thân với Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, và cưới con gái của Pha-ra-ôn. Vua đưa nàng về ở thành Đa-vít cho đến khi hoàn thành việc xây cất cung điện cho mình, đền thờ của Đức Giê-hô-va, và tường thành chung quanh Giê-ru-sa-lem.
Tuy nhiên, dân chúng vẫn còn dâng sinh tế trên các nơi cao, vì cho đến bấy giờ chưa có đền thờ nào được xây cất cho danh Đức Giê-hô-va.
Sa-lô-môn kính yêu Đức Giê-hô-va nên bước đi theo các luật lệ của Đa-vít, cha mình. Tuy nhiên, vua vẫn còn dâng sinh tế và đốt hương trên các nơi cao.
Vua đi đến Ga-ba-ôn để dâng sinh tế tại đó vì ấy là nơi cao quan trọng nhất. Trên bàn thờ đó, Sa-lô-môn dâng một nghìn sinh tế làm tế lễ thiêu.
Tại Ga-ba-ôn, Đức Giê-hô-va hiện ra với Sa-lô-môn trong giấc chiêm bao ban đêm; Đức Chúa Trời phán: “Hãy xin điều gì con muốn Ta ban cho con.”
Sa-lô-môn thưa: “Chúa đã bày tỏ lòng nhân từ lớn lao đối với đầy tớ Ngài là Đa-vít, thân phụ con, như người đã bước đi trước mặt Ngài trong sự trung tín, công chính và tấm lòng ngay thẳng. Chúa lại tiếp tục bày tỏ lòng nhân từ lớn lao ấy cho người, khi ban cho người một con trai ngồi trên ngai của người như đã có ngày nay.
Bây giờ, lạy Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của con, chính Chúa đã khiến đầy tớ Ngài lên ngôi kế vị Đa-vít, thân phụ con, mặc dù con chỉ là một đứa trẻ chẳng biết phải điều hành việc nước như thế nào.
Đầy tớ Chúa ở giữa dân mà Chúa đã chọn, một dân đông vô số không thể đếm nổi.
Vậy, xin Chúa ban cho đầy tớ Ngài tấm lòng khôn sáng để xét xử dân Ngài và phân biệt đúng sai; vì ai có thể xét xử đoàn dân đông đảo nầy của Chúa?”
Chúa hài lòng vì Sa-lô-môn đã xin điều nầy.
Đức Chúa Trời phán với vua: “Vì con đã xin điều nầy mà không xin cho con được sống lâu hay giàu có, cũng không xin mạng sống của những kẻ thù con, nhưng xin sự khôn sáng để xét xử thích đáng,
nên Ta làm theo điều con xin. Ta ban cho con tấm lòng khôn ngoan thông sáng, đến nỗi trước con không ai bằng và sau con cũng sẽ không ai sánh kịp.
Hơn nữa, Ta cũng ban cho con những điều con không xin, tức là sự giàu có và danh vọng, đến nỗi trọn đời con, không ai trong các vua được như con.
Nếu con bước đi trong đường lối Ta, tuân giữ các điều răn và mệnh lệnh của Ta, như cha của con là Đa-vít đã bước đi, thì Ta sẽ cho con được sống lâu.”
Sa-lô-môn thức dậy, thấy đó là một giấc chiêm bao. Rồi vua trở về Giê-ru-sa-lem, đứng trước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va, dâng tế lễ thiêu và tế lễ bình an. Sau đó, vua mở tiệc khoản đãi tất cả quần thần của mình.
Bấy giờ, có hai gái mại dâm đến đứng chầu trước mặt vua.
Một người nói: “Tâu bệ hạ, tôi và người đàn bà nầy ở chung một nhà. Tôi sinh được một đứa con trai trong lúc chị ấy đang ở nhà với tôi.
Ngày thứ ba sau khi tôi sinh con thì người đàn bà nầy cũng sinh con. Chúng tôi ở chung với nhau, không có một người lạ nào ở với chúng tôi trong nhà, mà chỉ có hai chúng tôi thôi.
Đêm nọ, con trai của người đàn bà nầy chết, vì chị ấy đã nằm đè lên nó.
Giữa đêm khuya, trong khi tớ gái bệ hạ đang ngủ thì chị ấy thức dậy, bế đi con trai tôi đang ở bên cạnh tôi và đặt nằm trong lòng mình, rồi chị đặt đứa con trai đã chết của mình nằm trong lòng tôi.
Đến sáng, khi tôi thức dậy cho con bú thì thấy nó đã chết! Nhưng khi trời sáng, tôi nhìn kỹ thì thấy nó chẳng phải là đứa con mà tôi đã sinh.”
Người đàn bà kia trả lời: “Không! Đứa sống là con của tôi, còn đứa chết là con của chị.” Nhưng người nầy lại nói: “Không! Đứa chết là con của chị, còn đứa sống là con của tôi.” Họ cãi nhau như vậy trước mặt vua.
Bấy giờ vua phán: “Người nầy nói: ‘Đứa sống là con của tôi, còn đứa chết là con của chị.’ Người kia nói: ‘Không! Đứa chết là con của chị, còn đứa sống là con của tôi.’”
Rồi vua truyền: “Hãy đem cho ta một thanh gươm.” Người ta đem đến cho vua một thanh gươm.
Vua ra lệnh: “Hãy chặt đứa bé còn sống ra làm hai, rồi cho người nầy một nửa và cho người kia một nửa.”
Người đàn bà có đứa con còn sống rất xúc động vì thương con mình liền tâu với vua: “Ôi, chúa tôi! Hãy cho chị ấy đứa trẻ còn sống, xin đừng giết nó!” Nhưng người kia nói: “Nó sẽ chẳng thuộc về tôi, cũng chẳng thuộc về chị, cứ chia đôi nó đi!”
Bấy giờ, vua phán quyết: “Hãy trao đứa bé còn sống cho người đàn bà nói trước, và đừng giết nó vì bà ấy chính là mẹ nó.”
Toàn dân Y-sơ-ra-ên nghe việc phân xử và phán quyết của vua đều rất kính phục vua, vì họ thấy rằng Đức Chúa Trời đã ban cho vua sự khôn ngoan để thực thi công lý.
Vua Sa-lô-môn trị vì trên toàn cõi Y-sơ-ra-ên.
Đây là các triều thần của vua: A-xa-ria, con trai Xa-đốc, làm thầy tế lễ;
Ê-li-ô-rếp và A-hi-gia, các con trai của Si-sa, làm thư ký; Giê-hô-sa-phát, con trai A-hi-lút, làm ngự sử;
Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, chỉ huy trưởng quân đội; Xa-đốc và A-bia-tha làm thầy tế lễ.
A-xa-ria, con trai Na-than, đứng đầu các quan lại; Xa-bút, con trai Na-than, làm thầy tế lễ và là cố vấn của vua;
A-hi-sa, đặc trách cung điện; và A-đô-ni-ram, con trai Áp-đa, đặc trách về lao dịch.
Sa-lô-môn chỉ định mười hai quan chức trên toàn cõi Y-sơ-ra-ên, để cung cấp lương thực cho vua và hoàng gia; mỗi người phải cung cấp một tháng trong một năm.
Đây là tên của họ: Bên Hu-rơ đặc trách vùng đồi núi Ép-ra-im;
Bên Đê-ke đặc trách vùng Ma-kát, Sa-an-bim, Bết Sê-mết, và Ê-lôn Bết Ha-nan;
Bên Hê-sết đặc trách vùng A-ru-bốt, Sô-cô và toàn miền đất Hê-phe đều thuộc quyền ông;
Bên A-bi-na-đáp đặc trách toàn vùng cao nguyên Đô-rơ (vợ ông là Ta-phát, con gái của Sa-lô-môn);
Ba-a-na, con trai A-hi-lút, đặc trách vùng Tha-a-nác, Mê-ghi-đô, và toàn vùng Bết Sê-an, là vùng gần Xạt-han, phía dưới Gít-rê-ên, từ Bết Sê-an cho đến A-bên Mê-hô-la và cho đến tận bên kia Giốc-mê-am;
Bên Ghê-be đặc trách vùng Ra-mốt Ga-la-át, kể cả các thôn của Giai-rơ (Giai-rơ là con của Ma-na-se) trong miền Ga-la-át, ông cũng đặc trách vùng Ạt-gốp trong Ba-san, gồm sáu mươi thành lớn có tường thành và then cửa bằng đồng;
A-hi-na-đáp, con trai Y-đô, đặc trách vùng Ma-ha-na-im;
A-hi-mát đặc trách địa phận Nép-ta-li (ông cũng cưới con gái của Sa-lô-môn là Bách-mát làm vợ);
Ba-a-na, con trai Hu-sai, đặc trách vùng A-se và Bê-a-lốt;
Giê-hô-sa-phát, con trai Pha-ru-ác, đặc trách vùng Y-sa-ca;
Si-mê-i, con trai Ê-la, đặc trách vùng Bên-gia-min;
Ghê-be, con trai U-ri, đặc trách đất Ga-la-át, là đất trước kia thuộc quyền của Si-hôn, vua dân A-mô-rít, và của Óc, vua Ba-san. Chỉ một mình Ghê-be làm quan cai trị cả vùng nầy.
Dân Giu-đa và Y-sơ-ra-ên đông như cát trên bờ biển; họ ăn uống vui say.
Sa-lô-môn cai trị trên tất cả các vương quốc, từ sông Ơ-phơ-rát cho đến đất của người Phi-li-tin, đến tận biên giới Ai Cập. Các vương quốc ấy đều phải triều cống và phục vụ vua Sa-lô-môn trọn đời của vua.
Lương thực cần cung cấp cho nhà Sa-lô-môn mỗi ngày là: Sáu nghìn sáu trăm lít bột mịn, và mười ba nghìn hai trăm lít bột thô,
mười con bò béo tốt, hai mươi con bò nuôi ngoài đồng cỏ, và một trăm con chiên. Ngoài ra còn có nai đực, hoàng dương, hươu, và gà vịt nuôi béo.
Vì Sa-lô-môn thống trị các vùng ở phía tây sông Ơ-phơ-rát và các vua của những vùng đó, từ Típ-sắc cho đến Ga-xa, nên khắp bốn phương đều có hòa bình.
Trọn đời vua Sa-lô-môn trị vì, cả Giu-đa và Y-sơ-ra-ên từ Đan cho đến Bê-e Sê-ba dân chúng đều được an cư lạc nghiệp, mỗi người ở dưới cây nho và cây vả của mình.
Sa-lô-môn có bốn mươi nghìn chuồng ngựa kéo chiến xa và mười hai nghìn kỵ binh.
Các quan chức khu vực, mỗi người một tháng, lo cung cấp lương thực cho vua Sa-lô-môn và tất cả những người được mời đến ăn nơi bàn vua. Họ không để thiếu gì cả.
Mỗi người cứ theo phiên thứ mình mà đem lúa mạch và rơm đến nơi đã chỉ định cho ngựa kéo chiến xa và ngựa để cưỡi.
Đức Chúa Trời ban cho Sa-lô-môn sự khôn ngoan thông sáng vượt trội, và sự hiểu biết sâu rộng như cát trên bãi biển.
Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn trổi hơn sự khôn ngoan của mọi người ở phương Đông, và trổi hơn tất cả sự khôn ngoan ở Ai Cập.
Sa-lô-môn khôn ngoan hơn mọi người, khôn ngoan hơn Ê-than người Ếch-ra-hít, hơn Hê-man, Canh-côn, và Đạt-đa, là các con trai của Ma-hôn. Danh tiếng người đồn ra khắp các dân tộc chung quanh.
Vua nói ra ba nghìn câu châm ngôn, và sáng tác một nghìn lẻ năm bài ca.
Vua luận về cây cối, từ cây bá hương ở Li-ban cho đến cây bài hương mọc trên tường. Vua cũng luận về loài vật, chim chóc, loài bò sát, và loài cá.
Thiên hạ từ mọi dân tộc kéo đến nghe sự khôn ngoan của Sa-lô-môn. Tất cả các vua trên thế giới nghe nói về sự khôn ngoan của Sa-lô-môn đều sai sứ đến triều kiến.
Khi nghe tin Sa-lô-môn đã được xức dầu lên ngôi kế vị vua cha thì vua Ty-rơ là Hi-ram sai bề tôi mình đến cùng Sa-lô-môn, vì Hi-ram vẫn luôn quý mến Đa-vít.
Sa-lô-môn sai sứ nói với Hi-ram rằng:
“Ngài biết rằng Đa-vít, thân phụ tôi, không thể xây cất một đền thờ cho danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời người, vì chiến tranh vây quanh tứ phía cho đến ngày Đức Giê-hô-va khiến các kẻ thù phục dưới chân người.
Nhưng bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi đã ban cho tôi được bốn bề yên ổn, không còn quân thù, cũng chẳng có tai họa nào.
Vì vậy, tôi định xây cất một đền thờ cho danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi như Đức Giê-hô-va đã phán bảo Đa-vít, thân phụ tôi rằng: ‘Con trai con, mà Ta đặt ngồi trên ngai kế vị con, sẽ xây một đền thờ cho danh Ta.’
Vậy bây giờ, xin ngài truyền lệnh cho đốn những cây bá hương trên núi Li-ban cho tôi. Các đầy tớ của tôi sẽ cùng làm việc với đầy tớ của ngài, và tôi sẽ trả tiền công cho họ theo giá ngài định; vì ngài biết rằng không ai trong chúng tôi thạo việc đốn gỗ như người Si-đôn.”
Khi được nghe những lời của Sa-lô-môn, vua Hi-ram rất vui và nói: “Hôm nay đáng chúc tụng Đức Giê-hô-va, Đấng đã ban cho Đa-vít một người con khôn ngoan để trị vì dân tộc đông đảo nầy!”
Rồi Hi-ram sai sứ đáp lời Sa-lô-môn: “Tôi đã được nghe sứ giả ngài nói với tôi; tôi sẽ làm mọi điều ngài yêu cầu về gỗ bá hương và gỗ tùng.
Các đầy tớ của tôi sẽ kéo gỗ ấy từ Li-ban xuống biển, rồi tôi sẽ đóng bè thả trôi theo biển đến nơi ngài chỉ định. Tại đó tôi sẽ rã bè, và ngài sẽ nhận lấy đem đi. Còn ngài, xin cũng làm theo điều tôi yêu cầu là cung cấp lương thực cho triều đình tôi.”
Vậy, Hi-ram cung cấp cho Sa-lô-môn tất cả số gỗ bá hương và gỗ tùng như vua muốn.
Còn Sa-lô-môn thì cung cấp cho Hi-ram bốn triệu bốn trăm nghìn lít lúa mì dùng làm lương thực cho triều đình vua nầy, và bốn nghìn bốn trăm lít dầu ô-liu nguyên chất. Mỗi năm, Sa-lô-môn cung cấp cho Hi-ram như thế.
Đức Giê-hô-va ban sự khôn ngoan cho Sa-lô-môn như Ngài đã phán hứa với vua. Giữa Hi-ram và Sa-lô-môn có mối giao hảo tốt, và hai vua đã ký kết hiệp ước với nhau.
Vua Sa-lô-môn huy động lực lượng lao dịch trong toàn thể Y-sơ-ra-ên, được ba mươi nghìn người.
Vua sai họ đến Li-ban, thay phiên nhau mỗi tháng mười nghìn người; họ ở Li-ban một tháng rồi ở nhà hai tháng. A-đô-ni-ram chỉ huy lực lượng lao dịch nầy.
Sa-lô-môn có bảy mươi nghìn nhân công khuân vác và tám mươi nghìn thợ đá trên núi.
Ngoài ra còn có ba nghìn ba trăm đốc công mà Sa-lô-môn đã đặt coi sóc công việc và điều động nhân công làm việc.
Vua ra lệnh họ phải lấy những tảng đá lớn và quý mà đẽo để dùng làm nền của đền thờ.
Những người thợ của Sa-lô-môn và của Hi-ram cùng với người Ghi-bê-lít đục đá. Họ chuẩn bị sẵn sàng gỗ và đá để xây dựng đền thờ.
Vào năm bốn trăm tám mươi, kể từ khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập, tức là năm thứ tư Sa-lô-môn trị vì trên Y-sơ-ra-ên, nhằm tháng Xíp, nghĩa là tháng thứ hai, thì vua khởi công xây cất đền thờ để thờ phượng Đức Giê-hô-va.
Đền thờ mà vua Sa-lô-môn xây cất cho Đức Giê-hô-va có chiều dài ba mươi mét, chiều ngang mười mét, và chiều cao mười lăm mét.
Hành lang ở phía trước chính điện của đền thờ có chiều dài mười mét, nằm theo chiều ngang của đền thờ, và rộng năm mét, nối theo chiều dài của đền thờ.
Vua cũng làm các cửa sổ có khung và chấn song cho đền thờ.
Dựa vào tường của đền thờ, vua xây các tầng lầu chung quanh đền thờ và nơi thánh; vua cũng làm nhiều phòng ốc chung quanh.
Tầng dưới rộng hai mét rưỡi, tầng giữa rộng ba mét, và tầng thứ ba rộng ba mét rưỡi. Bên ngoài đền thờ, vua cho xây tường chung quanh thụt vào để những cây đà của các tầng lầu không đâm vào tường của đền thờ.
Khi xây cất đền thờ, người ta dùng đá đã đục sẵn tại hầm đá nên trong lúc xây cất không ai nghe tiếng búa, đục hay bất cứ dụng cụ bằng sắt nào.
Cửa vào tầng giữa nằm bên phải của đền thờ; người ta đi lên tầng giữa bằng một cái thang xoắn ốc, rồi từ tầng giữa đi lên tầng thứ ba.
Vậy, vua Sa-lô-môn hoàn tất công trình xây cất đền thờ. Vua cho gác đà và đóng trần bằng gỗ bá hương.
Vua cũng xây những tầng lầu cao hai mét rưỡi dựa vào toàn bộ đền thờ, gắn liền với đền thờ bằng những cây đà bá hương.
Bấy giờ có lời của Đức Giê-hô-va phán với Sa-lô-môn rằng:
“Về đền thờ mà con đang xây cất đây, nếu con vâng theo luật pháp của Ta, thực thi các mạng lệnh của Ta, tuân giữ và bước đi theo tất cả các điều răn của Ta, thì Ta sẽ thực hiện cho con lời hứa mà Ta đã phán với Đa-vít, thân phụ con.
Ta sẽ ngự giữa dân Y-sơ-ra-ên và sẽ không lìa bỏ Y-sơ-ra-ên là dân Ta.”
Như thế, Sa-lô-môn xây cất đền thờ và hoàn thành công trình ấy.
Vua dùng ván gỗ bá hương đóng vách phía trong đền thờ từ nền cho đến trần, và lót nền bằng ván gỗ tùng.
Vua ngăn mười mét phần cuối của đền thờ bằng ván bá hương từ nền cho đến trần, để làm Nơi Chí Thánh.
Phần còn lại của đền thờ ở phía trước là hai mươi mét.
Phía trong đền thờ được lát bằng gỗ bá hương chạm trổ hình trái bầu và hoa nở. Tất cả đều làm bằng gỗ bá hương nên không thấy đá.
Vua cũng chuẩn bị phần trong cùng của đền thờ làm Nơi Chí Thánh để đặt Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va tại đó.
Nơi Chí Thánh dài mười mét, rộng mười mét, và cao mười mét đều được bọc bằng vàng ròng. Bàn thờ bằng gỗ bá hương cũng được bọc vàng.
Sa-lô-môn bọc vàng ròng phía trong của đền thờ, và cho giăng một dây xích bằng vàng trước Nơi Chí Thánh, là nơi cũng được bọc bằng vàng.
Vua bọc vàng toàn bộ đền thờ, không trừ một chỗ nào. Vua cũng bọc vàng khắp mặt bàn thờ tại Nơi Chí Thánh.
Trong Nơi Chí Thánh, vua làm hai chê-ru-bim bằng gỗ ô-liu, cao năm mét.
Một cánh của chê-rúp dài hai mét rưỡi, cánh kia cũng dài hai mét rưỡi; như vậy, từ đầu cánh nầy đến đầu cánh kia dài năm mét.
Chê-rúp thứ nhì cũng đo được năm mét. Cả hai chê-ru-bim đều có cùng một kích thước và hình dạng.
Chê-rúp nầy cao năm mét, và chê-rúp kia cũng vậy.
Sa-lô-môn đặt hai chê-ru-bim giữa Nơi Chí Thánh, ở phần trong cùng của đền thờ. Cánh của chê-ru-bim giương ra thế nào để một cánh của chê-rúp thứ nhất đụng tường bên nầy, và một cánh của chê-rúp thứ nhì đụng tường bên kia. Hai cánh còn lại chạm nhau ở giữa Nơi Chí Thánh.
Vua cũng bọc vàng cho hai chê-ru-bim.
Trên toàn bộ các tường chung quanh đền thờ, cả trong lẫn ngoài, Sa-lô-môn đều cho chạm trổ những hình chê-ru-bim, hình cây chà là và hình hoa nở.
Còn nền đền thờ cũng được phủ vàng cả trong lẫn ngoài.
Tại lối vào Nơi Chí Thánh, vua làm hai cánh cửa bằng gỗ ô-liu; đà cửa và trụ có năm cạnh.
Trên hai cánh cửa bằng gỗ ô-liu ấy, vua cho chạm trổ những hình chê-ru-bim, hình cây chà là và hình hoa nở, rồi bọc bằng vàng; vua cho tráng vàng trên hình chê-ru-bim và hình cây chà là.
Tại lối vào đền thờ, vua cũng làm trụ cửa bằng gỗ ô-liu có bốn cạnh;
hai cánh cửa bằng gỗ tùng, cánh nầy có hai tấm xoay được, và cánh kia cũng vậy.
Sa-lô-môn cho chạm trổ những hình chê-ru-bim, hình cây chà là và hình hoa nở, rồi bọc bằng vàng, và cho tráng vàng trên các hình chạm trổ.
Vua cũng xây cất sân trong bằng ba hàng đá chạm trổ mỹ thuật và một hàng xà ngang bằng gỗ bá hương.
Vào năm thứ tư, tháng Xíp, người ta khởi công xây nền đền thờ của Đức Giê-hô-va.
Đến năm thứ mười một, nhằm tháng Bu-lơ, nghĩa là tháng tám, công trình xây cất đền thờ đã được hoàn thành đúng theo mọi chi tiết về kiểu mẫu và kích thước. Sa-lô-môn đã xây cất đền thờ trong bảy năm.
Sa-lô-môn cũng xây cất cung điện cho mình, và hoàn thành toàn bộ công trình trong mười ba năm.
Vua xây cất cung Rừng Li-ban dài năm mươi mét, ngang hai mươi lăm mét và cao mười lăm mét, với bốn hàng cột bằng gỗ bá hương, và những xà ngang cũng bằng gỗ bá hương đặt trên những cột ấy.
Trần nhà làm bằng gỗ bá hương với các xà ngang được đặt trên bốn mươi lăm cây cột, mười lăm cây mỗi dãy.
Có ba dãy cửa sổ, dãy nầy đối diện với dãy kia thành bộ ba.
Tất cả các cửa và khung đều có hình vuông, đối diện nhau thành bộ ba.
Vua cũng làm một hành lang có nhiều cột; hành lang ấy dài hai mươi lăm mét, rộng mười lăm mét. Phía trước hành lang có nhiều cột và một mái hiên.
Sa-lô-môn còn làm một đại sảnh đặt ngai để vua ngồi xét xử, gọi là Đại Sảnh Công Lý. Đại sảnh được làm bằng ván gỗ bá hương từ nền đến trần.
Cung vua nằm phía sau đại sảnh, có cách kiến trúc giống như đại sảnh. Sa-lô-môn cũng xây một cung tương tự cho công chúa Pha-ra-ôn mà vua đã cưới làm vợ.
Toàn bộ các công trình nầy đều xây bằng đá quý được đẽo gọt, cắt xén theo kích thước định sẵn, bên trong cũng như bên ngoài, từ nền đến đầu tường, và từ bên ngoài cho đến sân lớn.
Nền làm bằng loại đá quý và lớn, có phiến năm mét, có phiến bốn mét.
Phần trên làm bằng gỗ bá hương và đá quý được đục đẽo theo đúng kích thước.
Chung quanh sân lớn có ba dãy đá đẽo và một dãy xà ngang bằng gỗ bá hương, giống như sân trong và tiền sảnh của đền thờ Đức Giê-hô-va.
Vua Sa-lô-môn sai người mời Hi-ram từ Ty-rơ đến.
Ông là con của một bà góa thuộc bộ tộc Nép-ta-li, còn cha là người Ty-rơ, làm thợ đồng. Hi-ram đầy kinh nghiệm, thông thạo, và rất khéo tay trong tất cả các công việc thuộc nghề đồng. Ông đến với vua Sa-lô-môn và làm mọi việc vua giao cho ông.
Ông đúc hai trụ đồng: trụ thứ nhất cao chín mét và chu vi là sáu mét, trụ thứ nhì cũng thế.
Ông cũng đúc hai đầu trụ bằng đồng đặt trên đỉnh của hai trụ; chiều cao của đầu trụ thứ nhất là hai mét rưỡi, chiều cao của đầu trụ thứ nhì cũng hai mét rưỡi.
Hi-ram dùng lưới mắt cáo đan bằng các dây chuyền kết lại thành vòng hoa để trang trí cho đầu trụ trên mỗi trụ; có bảy vòng hoa cho đầu trụ nầy, và bảy vòng hoa cho đầu trụ kia.
Ông cũng làm hai đường viền chung quanh lưới để trang trí cho đầu trụ nầy, và cũng làm như vậy cho đầu trụ kia.
Các đầu trụ trên mỗi trụ nơi tiền sảnh đều theo hình hoa huệ, cao hai mét.
Trên chóp mỗi đầu trụ của hai trụ đó, phần nhô ra ở ngay bên lưới mắt cáo, có hai trăm trái lựu sắp thành hàng chung quanh hai đầu trụ.
Hi-ram dựng hai trụ đồng nơi tiền sảnh của đền thờ. Ông dựng trụ bên phải và đặt tên là Gia-kin; rồi dựng trụ bên trái và đặt tên là Bô-ách.
Trên đỉnh các trụ đều có hình hoa huệ. Như thế, công việc làm hai trụ đồng đã hoàn tất.
Sau đó, ông đúc một bể chứa nước hình tròn cao hai mét rưỡi, đường kính năm mét, chu vi mười lăm mét.
Quanh miệng bể có hai hàng hình trái bầu, cứ nửa mét mười trái, đúc liền với bể.
Bể được đặt trên mười hai con bò: ba con nhìn về hướng bắc, ba con nhìn về hướng tây, ba con nhìn về hướng nam, và ba con nhìn về hướng đông. Bể nước được đặt trên lưng các con bò ấy, còn đuôi của chúng đều quay vào trong.
Thành bể dày bằng bề ngang bàn tay; miệng bể giống miệng chén hình hoa huệ. Bể có thể chứa bốn mươi bốn nghìn lít.
Ông cũng làm mười cái đế bằng đồng, mỗi cái dài hai mét, rộng hai mét, và cao một mét rưỡi.
Đây là cách làm các đế nầy: Người ta làm những tấm đồng gắn vào khung.
Trên các tấm đồng gắn vào khung nầy có chạm hình các sư tử, bò đực, và chê-ru-bim; trên các khung, cả phía trên và phía dưới các sư tử và bò đều có chạm những vòng hoa.
Mỗi đế có bốn bánh xe bằng đồng với trục bằng đồng. Ở bốn góc đế có những cái giá đúc để đỡ chậu nước, với những vòng hoa ở bên mỗi cái giá.
Trên đế, ngay ở giữa có một miệng tròn nhô lên nửa mét, rộng bảy tấc rưỡi. Trên miệng nầy cũng có hình chạm trổ. Còn các tấm đồng thì vuông chứ không tròn.
Bốn bánh xe đều ở dưới những tấm đồng của khung, các trục bánh xe thì được gắn vào đế. Mỗi bánh xe cao bảy tấc rưỡi.
Các bánh xe được làm giống như bánh xe ngựa: Tất cả trục, vành, căm, và đùm bánh xe đều được đúc.
Ở bốn góc của mỗi đế, có bốn cái giá được đúc liền với đế.
Mặt trên của đế có một đai tròn cao hai tấc rưỡi, cũng có viền và những tấm trám đồng.
Trên mặt viền và những tấm trám đồng, Hi-ram chạm những chê-ru-bim, sư tử, cây chà là; còn những chỗ trống thì chạm những vòng hoa bọc quanh.
Ông theo cách nầy mà làm mười cái đế đúc cùng một khuôn, một kích thước, và kiểu dáng như nhau.
Sau đó, ông làm mười cái bồn bằng đồng, mỗi cái chứa tám trăm tám mươi lít. Mỗi bồn cao hai mét và được đặt trên đế.
Ông đặt năm cái đế bên phải đền thờ và năm cái bên trái. Còn bể nước thì ông đặt bên phải đền thờ, về hướng đông nam.
Ông cũng làm chảo, vá và chậu. Vậy, Hi-ram đã làm xong mọi công việc cho vua Sa-lô-môn trong đền thờ Đức Giê-hô-va, gồm có:
hai cây trụ đồng, hai đầu trụ tròn trên mỗi trụ, hai lưới mắt cáo bao hai đầu trụ;
bốn trăm trái lựu cho hai lưới mắt cáo, kết thành hai hàng trong mỗi lưới bao hai đầu trụ trên mỗi trụ;
mười cái đế và mười cái bồn để trên đế;
một bể nước và mười hai con bò đỡ phía dưới;
chảo, vá và chậu. Tất cả các vật dụng mà Hi-ram làm cho vua Sa-lô-môn trong đền thờ Đức Giê-hô-va đều bằng đồng đánh bóng.
Vua cho đúc các vật đó ở đồng bằng Giô-đanh, tại một nơi có nhiều đất sét, giữa Su-cốt và Xát-than.
Sa-lô-môn không cân một món nào trong các vật dụng ấy vì quá nhiều; số lượng đồng cũng không xác định được.
Sa-lô-môn làm tất cả các vật dụng trong đền thờ Đức Giê-hô-va như: bàn thờ bằng vàng, bàn để bánh cung hiến cũng bằng vàng;
các chân đèn bằng vàng ròng đặt trước Nơi Chí Thánh, năm cái bên phải và năm cái bên trái; hoa đèn, thếp đèn, và kẹp gắp đều bằng vàng;
những chậu, kéo cắt tim đèn, bát, khay đựng tro và khay đựng than đều bằng vàng ròng; các bản lề cửa vào nơi trong cùng của đền thờ, tức là Nơi Chí Thánh, và cửa ra vào của đền thờ cũng đều làm bằng vàng.
Như vậy, các công trình mà vua Sa-lô-môn thực hiện cho đền thờ Đức Giê-hô-va đều được hoàn tất. Sa-lô-môn sai đem vào các kho của đền thờ Đức Giê-hô-va những vật thánh mà vua cha là Đa-vít đã dâng hiến, gồm bạc, vàng, và các vật dụng khác.
Bấy giờ, vua Sa-lô-môn triệu tập các trưởng lão Y-sơ-ra-ên, tất cả các trưởng bộ tộc và trưởng gia tộc của dân Y-sơ-ra-ên về Giê-ru-sa-lem, để rước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va từ thành Đa-vít, tức là Si-ôn.
Mọi người nam của Y-sơ-ra-ên đều tập hợp bên vua Sa-lô-môn vào tháng Ê-tha-nim, là tháng bảy để dự lễ.
Khi tất cả các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đã đến thì các thầy tế lễ khiêng Hòm Giao Ước lên,
và họ đem Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va đi, cùng với Lều Hội Kiến và tất cả các vật dụng thánh trong Lều. Các thầy tế lễ và người Lê-vi đem các thứ ấy lên.
Vua Sa-lô-môn và toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên đã tập hợp bên vua, đứng trước Hòm Giao Ước cùng dâng sinh tế chiên và bò rất nhiều, đến nỗi không thể đếm được.
Các thầy tế lễ đem Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va đặt vào vị trí bên trong cùng của đền thờ, tức là Nơi Chí Thánh, dưới cánh chê-ru-bim.
Vì các chê-ru-bim giương cánh ra trên nơi đặt Hòm Giao Ước nên che phủ Hòm Giao Ước và các đòn khiêng.
Các đòn khiêng dài đến nỗi từ Nơi Thánh ở ngay trước Nơi Chí Thánh, người ta có thể trông thấy đầu các đòn khiêng, nhưng ở ngoài thì không thấy được. Các đòn khiêng ấy vẫn còn ở đó cho đến ngày nay.
Trong Hòm Giao Ước không có gì khác ngoài hai bảng đá mà Môi-se đã đặt vào tại Hô-rếp, nơi Đức Giê-hô-va đã lập giao ước với dân Y-sơ-ra-ên khi họ ra khỏi Ai Cập.
Khi các thầy tế lễ vừa ra khỏi Nơi Thánh thì có đám mây tràn đầy đền thờ của Đức Giê-hô-va,
đến nỗi do đám mây ấy mà các thầy tế lễ không thể tiếp tục hành lễ được, vì vinh quang của Đức Giê-hô-va tràn ngập đền thờ của Ngài.
Bấy giờ, Sa-lô-môn cầu nguyện: “Đức Giê-hô-va đã phán rằng Ngài ngự trong đám mây dày đặc.
Nhưng con đã xây cho Ngài một đền thờ nguy nga, Một nơi để Ngài ngự đời đời.”
Rồi vua quay mặt lại chúc phước cho toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên trong khi mọi người đang đứng.
Vua nói: “Ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Đấng đã phán hứa với Đa-vít, cha trẫm, và dùng chính tay Ngài làm ứng nghiệm lời ấy. Ngài phán rằng:
‘Từ ngày Ta đã đem dân Ta là Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập, Ta không chọn một thành nào trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên để xây cất một đền thờ cho danh Ta ngự tại đó. Nhưng Ta đã chọn Đa-vít để người trị vì dân Y-sơ-ra-ên của Ta.’
Lúc ấy, Đa-vít, cha trẫm, có ý định xây cất một đền thờ cho danh Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Nhưng Đức Giê-hô-va đã phán với Đa-vít, cha trẫm, rằng: ‘Con có ý định xây cất một đền thờ cho danh Ta là điều tốt.
Tuy nhiên, con sẽ không xây cất đền thờ ấy đâu, nhưng con của con, do con sinh ra, sẽ xây cất đền thờ cho danh Ta.’
Bây giờ, Đức Giê-hô-va đã làm ứng nghiệm lời Ngài phán hứa, vì trẫm đã kế vị Đa-vít, cha trẫm, và ngồi trên ngai Y-sơ-ra-ên đúng như Đức Giê-hô-va đã phán. Trẫm đã xây cất đền thờ nầy cho danh Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Tại đó, trẫm đã chuẩn bị một chỗ để đặt Hòm Giao Ước, trong đó có giao ước của Đức Giê-hô-va, là giao ước mà Ngài đã lập với tổ phụ chúng ta khi đem họ ra khỏi đất Ai Cập.”
Kế đó, Sa-lô-môn đứng trước bàn thờ Đức Giê-hô-va, trước mặt toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên, giơ hai tay lên trời và cầu nguyện rằng:
“Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Không có thần nào trên trời cao kia hoặc dưới đất thấp nầy giống như Ngài. Chúa giữ giao ước và lòng nhân từ với các đầy tớ Ngài, là những người hết lòng bước đi trước mặt Ngài.
Chúa đã giữ lời Ngài phán hứa với đầy tớ Ngài là Đa-vít, cha của con. Điều chính miệng Chúa phán hứa thì tay Chúa đã thực hiện như đã có ngày nay.
Vậy bây giờ, lạy Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Xin giữ lời Chúa đã phán hứa với đầy tớ Ngài là Đa-vít, cha của con, rằng: ‘Nếu con cháu của con cẩn thận trong đường lối mình, bước đi trước mặt Ta như con đã bước đi, thì trước mặt Ta, con sẽ không hề thiếu người ngồi trên ngai Y-sơ-ra-ên đâu.’
Lạy Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Xin Chúa làm cho ứng nghiệm lời Ngài đã phán hứa với đầy tớ Ngài là Đa-vít, cha của con.
Nhưng thật ra Đức Chúa Trời có ngự trên đất nầy chăng? Kìa, các tầng trời, ngay cả trời của các tầng trời cũng không thể chứa Ngài được, huống chi đền thờ nầy mà con đã xây cất!
Dù vậy, lạy Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của con! Xin đoái đến lời cầu nguyện và nài xin của đầy tớ Ngài, xin đoái nghe tiếng kêu cầu và khẩn nguyện mà hôm nay đầy tớ Ngài đang dâng lên trước mặt Ngài.
Nguyện mắt của Chúa ngày và đêm đoái xem nhà nầy, là nơi Chúa đã phán rằng: ‘Danh Ta sẽ ngự tại đó,’ để nghe lời khẩn nguyện của đầy tớ Ngài hướng về nơi nầy mà kêu cầu.
Xin Chúa lắng nghe lời khẩn cầu mà đầy tớ Chúa và dân Y-sơ-ra-ên của Ngài hướng về nơi nầy cầu nguyện. Từ nơi ngự của Chúa trên các tầng trời, xin Chúa đoái nghe và tha thứ cho.
Nếu có ai phạm tội với người lân cận mình và bị buộc phải thề, nên người ấy đến thề trước bàn thờ của Chúa trong đền thờ nầy,
thì xin Chúa trên trời lắng nghe, hành động và phân xử cho các đầy tớ Ngài, kết án kẻ có tội, khiến nó phải chịu lấy hậu quả của tội lỗi mình, và xưng công chính cho người công chính bằng cách ban thưởng theo sự công chính của người ấy.
Khi Y-sơ-ra-ên, con dân của Ngài, bị kẻ thù đánh bại vì phạm tội với Ngài, nếu họ trở lại với Ngài, xưng nhận danh Ngài và cầu nguyện nài xin với Ngài trong đền thờ nầy,
thì xin Chúa trên trời lắng nghe, tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài và khiến họ trở về đất mà Chúa đã ban cho tổ phụ họ.
Khi các tầng trời bị đóng chặt, không có mưa vì họ đã phạm tội với Chúa, nếu họ hướng về nơi nầy mà cầu nguyện, xưng nhận danh Chúa, lìa bỏ tội lỗi mình vì Chúa đã sửa phạt họ,
thì xin Chúa trên trời lắng nghe, tha tội cho các đầy tớ Chúa và cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài. Xin Chúa chỉ cho họ con đường chính đáng mà họ phải đi, và cho mưa rơi trên đất mà Chúa đã ban cho dân Ngài làm sản nghiệp.
Khi trong xứ có đói kém, dịch bệnh, hoặc hạn hán, nấm mốc, cào cào, châu chấu, hoặc có quân thù vây hãm các cổng thành của xứ, hoặc có bất cứ tai họa, bệnh tật gì;
nếu có một người hoặc toàn dân Y-sơ-ra-ên của Chúa hết lòng nhận biết nỗi đau đớn của mình, và giơ tay ra hướng về đền thờ nầy mà cầu nguyện, khẩn xin bất luận điều gì,
thì xin Chúa ở trên trời, là nơi Chúa ngự, lắng nghe, tha thứ, hành động và báo trả cho mỗi người tùy theo đường lối của họ, và theo những gì Chúa biết trong lòng họ, vì chỉ một mình Chúa biết rõ lòng người;
để khiến họ kính sợ Chúa trọn đời, khi họ sống trên đất mà Chúa đã ban cho tổ phụ họ.
Ngoài ra, đối với người ngoại quốc là người chẳng thuộc về dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, nhưng vì nghe danh Ngài nên từ xứ xa đến
(vì họ đã nghe về uy danh của Chúa, về tay quyền năng và cánh tay giơ thẳng ra của Ngài). Khi họ đến cầu nguyện trong đền thờ nầy,
thì xin Chúa ở trên trời, là nơi Chúa ngự, lắng nghe và làm cho họ mọi điều họ cầu xin Ngài, để muôn dân trên đất nhận biết danh Chúa và kính sợ Ngài giống như dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, và để người ta biết rằng danh Chúa được kêu cầu nơi đền thờ mà con đã xây cất.
Khi dân của Chúa ra trận chiến đấu với quân thù ở bất cứ nơi nào Chúa sai họ đi, nếu họ cầu khẩn Đức Giê-hô-va hướng về thành Chúa đã chọn và về đền thờ mà con đã xây cất cho danh Ngài,
thì xin Chúa trên trời lắng nghe các lời cầu nguyện và nài xin của họ mà thực thi công lý cho họ.
Khi họ phạm tội với Chúa — vì chẳng có người nào không phạm tội — khiến Chúa nổi giận với họ và phó họ cho kẻ thù để họ bị lưu đày trong xứ của kẻ thù, hoặc xa hay gần.
Nếu trong đất lưu đày, họ hồi tâm, ăn năn và nài xin với Chúa rằng: ‘Chúng con đã phạm tội, hành động một cách bướng bỉnh và gian ác;’
nếu trong xứ của kẻ thù, nơi họ bị lưu đày, họ hết lòng hết ý trở lại cùng Chúa, cầu nguyện với Ngài, hướng về xứ mà Chúa đã ban cho tổ phụ họ, về thành mà Chúa đã chọn và về đền thờ mà con đã xây cất cho danh Chúa,
thì xin Chúa ở trên trời, là nơi Chúa ngự, lắng nghe lời cầu nguyện nài xin của họ và thực thi công lý cho họ.
Xin Chúa tha thứ cho dân Ngài là dân đã phạm tội với Ngài, và tha thứ tất cả sự vi phạm mà họ đã phạm với Ngài; xin Chúa khiến những kẻ bắt họ lưu đày có lòng thương xót họ,
vì họ là dân Ngài, là cơ nghiệp mà Ngài đã đem ra khỏi Ai Cập, tức là khỏi lò luyện sắt.
Nguyện mắt Chúa đoái xem đầy tớ Ngài và dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, lắng tai nghe lời cầu nguyện và nài xin của họ mỗi khi họ kêu cầu với Ngài.
Lạy Chúa là Đức Giê-hô-va! Chúa đã biệt riêng Y-sơ-ra-ên ra khỏi mọi dân tộc trên mặt đất để họ làm cơ nghiệp Ngài, như Ngài đã tuyên phán qua Môi-se là đầy tớ Ngài, khi Ngài đem tổ phụ chúng con ra khỏi Ai Cập.”
Khi Sa-lô-môn đã dâng lên Đức Giê-hô-va những lời khẩn nguyện và nài xin nầy xong thì vua đứng dậy trước bàn thờ Đức Giê-hô-va, nơi vua đã quỳ và giơ hai tay lên trời.
Vua đứng và lớn tiếng chúc phước cho toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng:
“Ca ngợi Đức Giê-hô-va, Đấng đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài được an nghỉ như mọi lời Ngài đã phán! Trong tất cả các lời hứa tốt lành mà Ngài đã phán qua Môi-se, đầy tớ Ngài, thì chẳng có lời nào không ứng nghiệm.
Cầu xin Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta ở với chúng ta như Ngài đã ở với tổ phụ chúng ta; xin Ngài đừng lìa, đừng bỏ chúng ta.
Cầu xin Ngài giục lòng chúng ta hướng về Ngài, để chúng ta đi trong tất cả đường lối Ngài, tuân giữ những điều răn, luật pháp và mệnh lệnh của Ngài đã truyền cho tổ phụ chúng ta.
Nguyện các lời trẫm đã nài xin trước mặt Đức Giê-hô-va sẽ ở bên cạnh Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta ngày và đêm, để bảo vệ quyền lợi của đầy tớ Ngài và của dân Y-sơ-ra-ên Ngài, tùy theo nhu cầu mỗi ngày,
để muôn dân trên đất biết rằng chính Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chứ chẳng có ai khác.
Vậy, các ngươi hãy hết lòng trung thành với Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chúng ta, bước đi trong luật pháp, và tuân giữ điều răn của Ngài như các ngươi đã làm ngày nay.”
Sau đó, vua và toàn dân Y-sơ-ra-ên ở bên vua dâng các sinh tế trước mặt Đức Giê-hô-va.
Sa-lô-môn dâng sinh tế lên Đức Giê-hô-va gồm hai mươi hai nghìn con bò đực và một trăm hai mươi nghìn con chiên làm tế lễ bình an. Như vậy, vua và toàn dân Y-sơ-ra-ên cung hiến đền thờ lên Đức Giê-hô-va.
Trong ngày đó, vua biệt riêng ra thánh phần giữa của hành lang ở trước đền thờ của Đức Giê-hô-va, làm nơi dâng các tế lễ thiêu, tế lễ chay, và mỡ của tế lễ bình an, vì bàn thờ bằng đồng để trước mặt Đức Giê-hô-va quá nhỏ, không thể chứa các tế lễ thiêu, tế lễ chay, và mỡ của tế lễ bình an.
Trong lúc đó, Sa-lô-môn và toàn dân Y-sơ-ra-ên ở bên vua cùng dự lễ trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta trong bảy ngày, rồi kéo dài thêm bảy ngày nữa, cộng tất cả là mười bốn ngày. Thật là một hội chúng đông đảo, từ cửa ải Ha-mát cho đến suối Ai Cập.
Vào ngày thứ tám, vua cho dân chúng ra về. Họ chúc phước cho vua rồi trở về trại mình, lòng vui mừng phấn khởi về mọi điều tốt lành mà Đức Giê-hô-va đã làm cho Đa-vít, đầy tớ Ngài, và cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài.
Khi Sa-lô-môn đã hoàn thành việc xây cất đền thờ Đức Giê-hô-va, cung vua và mọi công trình vua dự tính thực hiện,
thì Đức Giê-hô-va hiện ra với Sa-lô-môn lần thứ hai, như Ngài đã hiện ra với vua tại Ga-ba-ôn.
Đức Giê-hô-va phán với vua: “Ta đã nghe lời cầu nguyện và nài xin của con trình dâng trước mặt Ta. Ta đã biệt riêng ra thánh đền thờ mà con đã xây cất, và đặt danh Ta tại đó đời đời. Mắt và lòng Ta sẽ ở đó mãi mãi.
Về phần con, nếu con bước đi trước mặt Ta như Đa-vít, cha của con, đã bước đi, lấy lòng trọn lành và ngay thẳng mà làm theo tất cả những điều Ta đã truyền cho con, tuân giữ những luật lệ và mệnh lệnh của Ta,
thì Ta sẽ làm cho ngôi nước con vững bền trên Y-sơ-ra-ên đến đời đời, đúng như Ta đã phán hứa với Đa-vít, cha của con, rằng: ‘Con sẽ chẳng hề thiếu người kế vị trên ngai Y-sơ-ra-ên.’
Nhưng nếu con hoặc con cháu của con quay khỏi Ta, không tuân giữ các điều răn và luật lệ Ta đã truyền phán, mà đi phục vụ các thần khác và thờ lạy chúng,
thì Ta sẽ truất Y-sơ-ra-ên khỏi đất Ta đã ban cho họ. Còn đền thờ mà Ta đã biệt riêng ra thánh cho danh Ta thì Ta cũng sẽ loại bỏ khỏi mặt Ta; và Y-sơ-ra-ên sẽ trở thành đề tài cho mọi dân tộc đàm tiếu và chế nhạo.
Mặc dù hiện nay đền thờ nầy nguy nga nhưng nó sẽ đổ nát, mọi người đi ngang qua đó đều sẽ kinh ngạc, chế nhạo và nói: ‘Tại sao Đức Giê-hô-va đã làm cho đất nước nầy và đền thờ nầy như vậy?’
Người ta sẽ trả lời rằng: ‘Ấy là vì họ đã lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ, Đấng đã đem tổ phụ họ ra khỏi Ai Cập. Họ đã đi theo các thần khác, thờ lạy các thần ấy và phục vụ chúng. Vì thế, Đức Giê-hô-va đã giáng trên họ các tai họa nầy.’”
Sau hai mươi năm xây dựng hai công trình là đền thờ Đức Giê-hô-va và cung vua,
Sa-lô-môn trao cho Hi-ram, vua Ty-rơ, hai mươi thành trong miền Ga-li-lê, vì Hi-ram đã cung cấp cho Sa-lô-môn gỗ bá hương, gỗ tùng và vàng theo ý vua muốn.
Nhưng khi Hi-ram từ Ty-rơ đến xem các thành mà Sa-lô-môn đã trao cho mình thì không hài lòng về các thành đó.
Vì vậy, vua nói: “Thưa ngài, ngài cho tôi những thành như thế nầy sao?” Rồi vua Hi-ram gọi các thành ấy là đất Ca-bun, và người ta vẫn còn gọi như vậy đến ngày nay.
Hi-ram đã gửi cho vua Sa-lô-môn ba nghìn sáu trăm ký vàng.
Vua Sa-lô-môn đã huy động lực lượng lao dịch để xây cất đền thờ Đức Giê-hô-va và cung điện mình, công trình Mi-lô, vách thành Giê-ru-sa-lem, Hát-so, Mê-ghi-đô, và Ghê-xe.
(Ghê-xe vốn là một thành của người Ca-na-an bị Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, đánh chiếm, thiêu hủy thành và giết dân Ca-na-an ở trong thành, rồi ban thành ấy làm của hồi môn cho con gái mình, là vợ Sa-lô-môn.)
Sa-lô-môn xây thành Ghê-xe, Bết Hô-rôn Hạ,
Ba-lát, và Tát-mốt, trong hoang mạc của xứ,
và xây cất tất cả các thành có kho dự trữ lương thực của Sa-lô-môn, các thành để chiến xa, các thành cho kỵ binh, và tất cả những gì Sa-lô-môn muốn xây cất tại Giê-ru-sa-lem, Li-ban và trong toàn lãnh thổ thuộc quyền vua.
Tất cả những người còn sống sót thuộc các dân A-mô-rít, Hê-tít, Phê-rê-sít, Hê-vít, và dân Giê-bu-sít, không phải dân Y-sơ-ra-ên;
tức là các con cháu của họ còn lại trong xứ, mà dân Y-sơ-ra-ên không thể tiêu diệt hoàn toàn, đều bị Sa-lô-môn bắt lao động nặng nhọc cho đến ngày nay.
Nhưng Sa-lô-môn không bắt dân Y-sơ-ra-ên làm nô dịch. Họ là những chiến binh, quan chức, sĩ quan chỉ huy, những người điều khiển chiến xa và kỵ binh của vua.
Có tất cả năm trăm năm mươi quan chức cai quản các công trình của Sa-lô-môn; họ giám sát dân chúng làm việc trong các công trình.
Khi con gái của Pha-ra-ôn từ thành Đa-vít lên ở trong cung điện mà vua Sa-lô-môn đã xây cho nàng, thì vua bắt đầu xây dựng công trình Mi-lô.
Mỗi năm ba lần, Sa-lô-môn dâng tế lễ thiêu và tế lễ bình an trên bàn thờ mà vua đã xây cho Đức Giê-hô-va, và xông hương trên bàn thờ đã đặt trước mặt Đức Giê-hô-va. Như vậy, vua hoàn thành công trình xây cất đền thờ.
Vua Sa-lô-môn cũng cho đóng một đoàn tàu tại Ê-xi-ôn Ghê-be, gần Ê-lốt, trên bờ Biển Đỏ, trong đất Ê-đôm.
Hi-ram phái các đầy tớ mình, là những thủy thủ thông thạo ngành hàng hải, đến giúp các đầy tớ của Sa-lô-môn trong đoàn tàu đó.
Họ đến Ô-phia và đem gần mười ba tấn vàng ở đó về nộp cho vua Sa-lô-môn.
Nữ hoàng nước Sê-ba nghe nói Sa-lô-môn nhờ danh của Đức Giê-hô-va mà nổi tiếng, nên đến để thử tài Sa-lô-môn với những câu hỏi hóc búa.
Bà đến Giê-ru-sa-lem với một đoàn tùy tùng đông đảo, có nhiều lạc đà chở hương liệu và một số lượng rất lớn vàng cùng đá quý. Bà đến gặp vua Sa-lô-môn và nói với vua tất cả những gì bà suy nghĩ trong lòng.
Sa-lô-môn giải đáp tất cả các vấn đề bà đưa ra, không có vấn đề nào quá bí ẩn mà vua không giải đáp cho bà được.
Khi nữ hoàng Sê-ba thấy tất cả sự khôn ngoan của Sa-lô-môn, cung điện vua đã xây cất,
những món ăn trên bàn vua, chỗ ngồi của các quần thần, cung cách làm việc và trang phục của họ, các thứ rượu của vua, và các tế lễ thiêu mà vua dâng trong đền thờ Đức Giê-hô-va, thì bà mất vía.
Bà nói với vua: “Những gì tôi đã nghe ở nước tôi về ngài và sự khôn ngoan của ngài thì quả đúng sự thật.
Nhưng trước khi đến đây và thấy tận mắt những điều nầy thì tôi chẳng tin. Thực ra người ta nói chưa đến được một nửa! Sự khôn ngoan và giàu có của ngài vượt trội hơn những gì tôi đã nghe.
Các bà vợ của ngài thật có phước! Quần thần của ngài, những người luôn đứng chầu trước mặt ngài và được nghe sự khôn ngoan của ngài, thật phước biết bao!
Chúc tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngài, Đấng đã vui lòng đặt ngài trên ngai Y-sơ-ra-ên! Chính vì yêu thương Y-sơ-ra-ên đến đời đời nên Đức Giê-hô-va đã lập ngài làm vua để thực thi công lý và sự công chính.”
Rồi nữ hoàng tặng nhà vua ba nghìn sáu trăm ký vàng, và rất nhiều hương liệu cùng đá quý. Chưa từng có người nào đem tặng số hương liệu nhiều như nữ hoàng Sê-ba đã tặng vua Sa-lô-môn.
Ngoài ra, đoàn tàu của Hi-ram đem vàng từ Ô-phia về, cũng đem theo rất nhiều gỗ bạch đàn và đá quý.
Vua dùng gỗ bạch đàn nầy làm bao lơn cho đền thờ Đức Giê-hô-va và cung vua, làm đàn hạc và đàn lia cho các ca đoàn. Từ đó đến nay, chẳng có ai đem vào hoặc thấy số gỗ bạch đàn nhiều như thế.
Vua Sa-lô-môn tặng cho nữ hoàng Sê-ba tất cả những gì bà thích và xin, không kể những tặng vật mà vua Sa-lô-môn đã cho bà theo lòng hào phóng của vua. Sau đó, bà và đoàn tùy tùng lên đường về nước.
Số lượng vàng mà vua Sa-lô-môn thu nhận hằng năm cân nặng khoảng hai mươi tấn,
không kể số thu nhập qua các tay buôn, qua sự trao đổi mậu dịch của các thương gia, qua các vua Ả-rập và các tổng đốc trong nước đem nộp.
Vua Sa-lô-môn làm hai trăm cái khiên lớn dát vàng, mỗi cái dùng gần bảy ký vàng.
Vua cũng làm ba trăm cái khiên nhỏ dát vàng, mỗi cái dùng gần hai ký vàng. Vua đặt các khiên ấy trong cung Rừng Li-ban.
Vua lại làm một cái ngai lớn bằng ngà, bọc vàng ròng.
Ngai nầy có sáu bậc. Phần trên chỗ tựa lưng của ngai có hình tròn, hai bên chỗ ngồi có thanh gác tay, và mỗi bên có một con sư tử đứng kề.
Ngoài ra còn có mười hai con sư tử khác đứng trên sáu bậc ở hai bên. Chẳng có vương quốc nào làm ngai giống như vậy.
Tất cả các ly chén dùng để uống của vua Sa-lô-môn đều bằng vàng, và tất cả vật dụng trong cung Rừng Li-ban cũng đều bằng vàng ròng. Không có vật dụng gì làm bằng bạc, vì trong thời vua Sa-lô-môn, bạc không có giá trị gì cả.
Cứ mỗi ba năm, đoàn tàu đi Ta-rê-si của vua vượt biển cùng với đoàn tàu của Hi-ram đem về vàng, bạc, ngà voi, khỉ và công.
Vì vậy, vua Sa-lô-môn vượt hơn tất cả các vua trên thế giới về sự giàu có và khôn ngoan.
Cả thiên hạ đều mong được gặp Sa-lô-môn để nghe sự khôn ngoan mà Đức Chúa Trời đã đặt để trong lòng vua.
Ai đến gặp vua đều đem theo lễ vật như: vật dụng bằng bạc và bằng vàng, áo khoác, binh giáp, hương liệu, ngựa và la.
Sa-lô-môn cũng tập trung nhiều chiến xa và kỵ binh; vua có một nghìn bốn trăm cỗ xe và mười hai nghìn kỵ binh đóng trong các thành có chiến xa và ngay tại Giê-ru-sa-lem, bên cạnh vua.
Tại Giê-ru-sa-lem, vua đã làm cho bạc trở nên tầm thường như đá, và gỗ bá hương nhiều như cây sung mọc ở miền Sơ-phê-la.
Vua Sa-lô-môn cho mua ngựa từ Ai Cập; và Cơ-vê các tay buôn của vua mua từ Cơ-vê với giá phải chăng.
Mỗi cỗ xe mua từ Ai Cập với giá gần bảy ký bạc, còn mỗi con ngựa giá gần hai ký. Các vua dân Hê-tít và A-ram cũng nhờ những tay buôn của vua mua về theo giá ấy.
Ngoài con gái của Pha-ra-ôn, vua Sa-lô-môn còn yêu mến nhiều cô gái ngoại bang khác; đó là các cô gái người Mô-áp, Am-môn, Ê-đôm, Si-đôn và Hê-tít.
Họ thuộc các dân mà Đức Giê-hô-va đã truyền phán với dân Y-sơ-ra-ên rằng: “Các con chớ kết thông gia với chúng, vì chắc chắn chúng sẽ quyến rũ các con theo các thần của chúng.” Tuy nhiên, Sa-lô-môn vẫn yêu say đắm các cô gái ấy.
Vua có bảy trăm bà vợ và ba trăm cung phi; họ làm cho lòng vua lầm lạc.
Thật vậy, khi Sa-lô-môn về già, các bà vợ của vua đã quyến rũ vua theo các thần khác. Lòng vua không còn trung thành với Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình như Đa-vít, cha của vua,
vì Sa-lô-môn đã đi theo nữ thần Át-tạt-tê của người Si-đôn và thần Minh-côm, một thần đáng ghê tởm của người Am-môn.
Như thế, Sa-lô-môn đã làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, không hết lòng theo Đức Giê-hô-va như Đa-vít, cha vua.
Bấy giờ, Sa-lô-môn xây một nơi cao trên núi đối diện với Giê-ru-sa-lem cho thần Kê-mốt là thần đáng ghê tởm của người Mô-áp, và cho thần Mo-lóc là thần đáng ghê tởm của người Am-môn.
Vua cũng làm như vậy cho tất cả các bà vợ ngoại bang của mình; họ xông hương và dâng sinh tế cho các thần của mình.
Đức Giê-hô-va nổi giận với Sa-lô-môn vì lòng vua lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Đấng đã hai lần hiện ra với vua,
phán bảo vua chớ theo các thần khác, nhưng vua đã không vâng lệnh Đức Giê-hô-va.
Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán với Sa-lô-môn: “Vì con đã làm như thế, không giữ giao ước và luật pháp Ta truyền cho con nên Ta chắc chắn sẽ xé vương quốc của con ra và ban cho thuộc hạ của con.
Tuy nhiên, vì Đa-vít, cha của con, Ta sẽ không làm điều đó trong đời con. Nhưng Ta sẽ đoạt lấy vương quốc khỏi tay con trai con.
Dù vậy, Ta sẽ không đoạt lấy cả vương quốc khỏi nó; nhưng vì Đa-vít, đầy tớ Ta, và vì Giê-ru-sa-lem mà Ta đã chọn, Ta sẽ để lại một bộ tộc cho con của con.”
Đức Giê-hô-va khiến một người nổi lên chống lại Sa-lô-môn là Ha-đát, người Ê-đôm, vốn thuộc hoàng tộc Ê-đôm.
Trước đây, vào thời Đa-vít chinh phục Ê-đôm thì Giô-áp, tướng chỉ huy quân đội, đã giết tất cả người nam ở Ê-đôm trong khi đi chôn cất các tử thi.
Giô-áp cùng toàn thể Y-sơ-ra-ên đã ở lại đó sáu tháng cho đến khi đã giết hết người nam ở Ê-đôm.
Lúc ấy, Ha-đát còn là một thiếu niên đã cùng với mấy người Ê-đôm, là các đầy tớ của cha mình, chạy trốn sang Ai Cập.
Họ đi từ Ma-đi-an đến Pha-ran. Rồi từ Pha-ran, họ đem theo một số người Pha-ran đi đến Ai Cập và ra mắt Pha-ra-ôn, vua Ai Cập. Vua nầy cấp cho Ha-đát nhà ở, lương thực và đất đai.
Ha-đát rất được lòng Pha-ra-ôn nên vua gả em vợ cho ông, tức là em gái của hoàng hậu Tác-bê-ne.
Em gái của Tác-bê-ne sinh cho Ha-đát một con trai tên là Ghê-nu-bát, là đứa con mà Tác-bê-ne dứt sữa trong cung điện Pha-ra-ôn. Như vậy, Ghê-nu-bát sống trong cung điện Pha-ra-ôn, giữa các con trai của vua.
Đang ở Ai Cập, Ha-đát nghe tin Đa-vít đã an giấc cùng các tổ phụ mình, và tướng chỉ huy quân đội là Giô-áp cũng đã chết, thì thưa với Pha-ra-ôn rằng: “Xin bệ hạ cho phép tôi trở về đất nước tôi.”
Pha-ra-ôn hỏi: “Ở với trẫm, ngươi có thiếu gì không mà phải tìm về đất nước ngươi?” Ha-đát đáp: “Thưa, chẳng thiếu gì cả nhưng xin cho phép tôi đi.”
Đức Chúa Trời lại khiến một người khác nổi lên chống lại Sa-lô-môn là Rê-xôn, con của Ê-li-gia-đa, người đã trốn chủ mình là Ha-đa-rê-xe, vua Xô-ba.
Khi Đa-vít đánh giết quân của vua Xô-ba thì Rê-xôn chiêu tập một số người chung quanh mình và làm thủ lĩnh nhóm người đó. Họ kéo sang thành Đa-mách, ở đó và cai trị thành ấy.
Suốt đời Sa-lô-môn, Rê-xôn luôn chống lại Y-sơ-ra-ên, gây ra bao thảm họa chẳng kém gì Ha-đát. Khi đã làm vua A-ram, Rê-xôn càng thù địch với Y-sơ-ra-ên hơn.
Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, người Ép-ra-im, ở đất Xê-rê-đa, đã từng phục vụ Sa-lô-môn, cũng nổi lên chống lại vua. Mẹ ông là một quả phụ tên là Xê-ru-ha.
Đây là lý do tại sao ông nổi lên chống lại vua: Sa-lô-môn xây công trình Mi-lô, lấp vá lại lỗ hổng của thành Đa-vít mà cha vua đã xây.
Bấy giờ, Giê-rô-bô-am là một người mạnh khỏe và có khả năng. Sa-lô-môn thấy người còn trẻ và có tài nên đặt người phụ trách toàn bộ lực lượng lao dịch nhà Giô-sép.
Một hôm, trên đường từ Giê-ru-sa-lem đi ra, Giê-rô-bô-am gặp A-hi-gia, nhà tiên tri ở Si-lô, đang mặc một chiếc áo choàng mới. Lúc ấy, chỉ có hai người ở ngoài đồng mà thôi.
A-hi-gia nắm chiếc áo mới mình đang mặc, xé ra làm mười hai mảnh.
Rồi ông nói với Giê-rô-bô-am: “Hãy lấy mười mảnh về phần ông, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: ‘Kìa! Ta sẽ xé vương quốc từ tay Sa-lô-môn và trao cho ngươi mười bộ tộc.
Nhưng vì đầy tớ Ta là Đa-vít và vì Giê-ru-sa-lem, thành mà Ta đã chọn giữa các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, nên sẽ còn lại một bộ tộc cho dòng dõi Sa-lô-môn.
Bởi chúng đã lìa bỏ Ta mà thờ lạy nữ thần Át-tạt-tê của người Si-đôn, thần Kê-mốt của người Mô-áp, và thần Minh-côm của người Am-môn. Chúng không bước đi theo các đường lối của Ta để làm điều ngay thẳng dưới mắt Ta, và cũng chẳng tuân giữ luật lệ và điều răn của Ta như Đa-vít, tổ phụ chúng.
Tuy nhiên, Ta sẽ không truất cả vương quốc khỏi tay Sa-lô-môn mà sẽ để nó làm vua trọn đời vì cớ Đa-vít, đầy tớ Ta đã chọn, người đã tuân giữ các điều răn và luật lệ Ta.
Nhưng Ta sẽ lấy vương quốc khỏi tay con trai nó mà trao cho ngươi mười bộ tộc.
Ta sẽ dành lại một bộ tộc cho con trai nó, để cho Đa-vít, đầy tớ Ta, có người nối ngôi mãi mãi trước mặt Ta tại Giê-ru-sa-lem, là thành mà Ta đã chọn để đặt danh Ta tại đó.
Ta sẽ chọn và lập ngươi làm vua Y-sơ-ra-ên; ngươi sẽ cai trị toàn cõi theo lòng ngươi mong muốn.
Nếu ngươi vâng lệnh Ta, đi theo các đường lối Ta, làm điều ngay thẳng dưới mắt Ta, tuân giữ luật lệ và điều răn của Ta như đầy tớ Ta là Đa-vít đã làm, thì Ta sẽ ở cùng ngươi, lập cho ngươi một triều đại vững chắc như Ta đã lập cho Đa-vít, và Ta sẽ ban Y-sơ-ra-ên cho ngươi.
Như vậy, Ta sẽ làm cho dòng dõi Đa-vít bị sỉ nhục, nhưng chẳng phải mãi mãi đâu.’”
Sa-lô-môn tìm cách giết Giê-rô-bô-am, nhưng Giê-rô-bô-am trốn qua Ai Cập, đến với Si-sắc, vua Ai Cập, rồi ở đó cho đến khi Sa-lô-môn băng hà.
Các việc khác về Sa-lô-môn, tất cả những gì vua đã thực hiện, và sự khôn ngoan của vua đều đã được ghi chép trong sách biên niên sử của Sa-lô-môn.
Sa-lô-môn trị vì tại Giê-ru-sa-lem trên toàn thể Y-sơ-ra-ên trong bốn mươi năm.
Rồi Sa-lô-môn an giấc cùng các tổ phụ mình và được an táng trong thành Đa-vít, cha của vua. Thái tử Rô-bô-am lên kế vị.
Rô-bô-am đến Si-chem vì toàn dân Y-sơ-ra-ên đã đến đó để tôn ông lên làm vua.
Giê-rô-bô-am, con của Nê-bát, nghe tin đó khi còn ở Ai Cập, nơi ông chạy trốn vua Sa-lô-môn.
Người ta sai mời Giê-rô-bô-am về. Rồi toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên đến tâu với Rô-bô-am rằng:
“Thân phụ của bệ hạ đã đặt lên chúng tôi một cái ách nặng quá. Bây giờ, xin bệ hạ giảm nhẹ khổ dịch và ách nặng nề mà thân phụ của bệ hạ đã đặt lên chúng tôi, thì chúng tôi sẽ phục vụ bệ hạ.”
Vua trả lời với họ: “Hãy lui về, ba ngày nữa trở lại đây gặp trẫm.” Dân chúng liền ra về.
Vua Rô-bô-am bàn với các trưởng lão đã từng hầu cận Sa-lô-môn, cha mình, lúc người còn sống. Vua hỏi: “Các ngươi góp ý để trẫm phải trả lời với dân nầy thế nào đây?”
Họ tâu với vua: “Nếu ngày nay bệ hạ làm đầy tớ của dân nầy, phục vụ họ, và dùng lời lẽ ôn tồn mà nói với họ thì họ sẽ làm tôi cho bệ hạ mãi mãi.”
Nhưng Rô-bô-am không đếm xỉa gì đến ý kiến của các trưởng lão đã bàn với mình, lại đi hỏi ý kiến những người trẻ cùng lứa tuổi với vua và đang hầu cận vua.
Vua hỏi họ: “Dân nầy đã tâu với trẫm rằng: ‘Hãy giảm nhẹ cái ách mà thân phụ của bệ hạ đã đặt lên chúng tôi.’ Vậy, các ngươi góp ý cho trẫm phải trả lời với họ thế nào?”
Những người trẻ cùng lứa tuổi với vua tâu: “Dân nầy đã xin với bệ hạ rằng: ‘Thân phụ của bệ hạ đã đặt lên chúng tôi một ách nặng nề, mong bệ hạ giảm nhẹ ách cho chúng tôi.’ Vậy, xin bệ hạ trả lời với họ như thế nầy: ‘Ngón tay út của ta còn mập hơn vòng bụng của cha ta.
Cha ta đã đặt một cái ách nặng nề cho các ngươi, ta sẽ làm cho ách các ngươi nặng nề hơn nữa. Cha ta đã trừng phạt các ngươi bằng roi da, ta sẽ trừng phạt các ngươi bằng roi bọ cạp’”
Ba ngày sau, Giê-rô-bô-am cùng tất cả dân chúng đến gặp vua Rô-bô-am như vua đã hẹn rằng: “Ba ngày nữa hãy trở lại gặp trẫm.”
Vua nói với dân chúng một cách gay gắt. Không đếm xỉa gì đến lời bàn của các trưởng lão,
vua trả lời họ theo ý kiến của những người trẻ rằng: “Cha trẫm đã đặt lên các ngươi một ách nặng nề, trẫm sẽ làm cho ách các ngươi càng nặng nề hơn nữa. Cha trẫm đã trừng phạt các ngươi bằng roi da, trẫm sẽ trừng phạt các ngươi bằng roi bọ cạp.”
Như vậy, vua đã không nghe lời thỉnh cầu của dân chúng, vì các biến cố đó do Đức Giê-hô-va cho phép xảy ra để làm ứng nghiệm lời Ngài đã phán về Giê-rô-bô-am, con của Nê-bát, qua A-hi-gia, người Si-lô.
Khi thấy vua không chịu nghe lời thỉnh cầu của họ thì toàn dân Y-sơ-ra-ên nói với vua: “Chúng ta có phần gì cùng Đa-vít? Chúng ta chẳng có sản nghiệp gì với con của Gie-sê. Hỡi Y-sơ-ra-ên! Hãy trở về trại mình đi. Hỡi Đa-vít! Từ nay hãy coi chừng nhà của ngươi.” Rồi dân Y-sơ-ra-ên rút về các trại của họ.
Còn những người Y-sơ-ra-ên đang cư ngụ trong các thành Giu-đa thì Rô-bô-am cai trị họ.
Khi vua Rô-bô-am sai A-đô-ni-ram, người phụ trách lực lượng lao dịch, đến với dân chúng thì toàn thể Y-sơ-ra-ên ném đá ông chết. Vua Rô-bô-am vội vàng lên xe chạy trốn về Giê-ru-sa-lem.
Từ đó, người Y-sơ-ra-ên chống lại nhà Đa-vít cho đến ngày nay.
Khi nghe tin Giê-rô-bô-am đã trở về thì dân Y-sơ-ra-ên họp đại hội, và cho người mời ông đến để tôn ông làm vua trên toàn thể Y-sơ-ra-ên. Không ai theo nhà Đa-vít cả, ngoại trừ bộ tộc Giu-đa.
Về đến Giê-ru-sa-lem, Rô-bô-am triệu tập toàn thể nhà Giu-đa và bộ tộc Bên-gia-min được một trăm tám mươi nghìn quân tinh nhuệ, định giao chiến với nhà Y-sơ-ra-ên để khôi phục vương quyền cho Rô-bô-am, con của Sa-lô-môn.
Nhưng có lời Đức Chúa Trời đến với Sê-ma-gia, người của Đức Chúa Trời:
“Hãy nói với Rô-bô-am, con của Sa-lô-môn, vua Giu-đa, cùng toàn thể nhà Giu-đa, Bên-gia-min và dân chúng còn lại rằng:
Đây là điều Đức Giê-hô-va phán: ‘Các ngươi chớ đi lên đánh anh em mình, là dân Y-sơ-ra-ên. Mỗi người hãy trở về nhà mình, vì điều nầy do Ta cho phép xảy đến.’” Vậy, họ vâng theo mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va mà trở về.
Giê-rô-bô-am xây thành Si-chem trong vùng đồi núi Ép-ra-im và ở tại đó. Rồi vua rời thành nầy đi xây thành Phê-nu-ên.
Bấy giờ, Giê-rô-bô-am tự nhủ: “Không khéo vương quốc có thể lại trở về với nhà Đa-vít.
Nếu dân nầy cứ đi lên Giê-ru-sa-lem để dâng sinh tế trong đền thờ Đức Giê-hô-va thì lòng họ chắc sẽ quay về với chủ mình là Rô-bô-am, vua Giu-đa. Họ sẽ giết ta và quay về với Rô-bô-am, vua Giu-đa.”
Sau khi bàn bạc, vua truyền làm hai con bò con bằng vàng, và nói với dân chúng: “Các ngươi đi lên Giê-ru-sa-lem thật khó khăn! Hỡi Y-sơ-ra-ên! Đây là các thần đã đem các ngươi ra khỏi Ai Cập.”
Vua đặt một tượng bò con ở Bê-tên, còn tượng kia đặt ở Đan.
Điều nầy đã gây cho dân chúng phạm tội, vì họ đi đến tận Đan để thờ lạy tượng bò con ấy.
Giê-rô-bô-am còn xây cất đền miếu trên các nơi cao, chọn người trong hàng thường dân và lập họ làm thầy tế lễ, chứ không chọn người thuộc dòng dõi Lê-vi.
Vua lại lập một kỳ lễ vào ngày rằm tháng tám, giống như lễ được tổ chức tại Giu-đa, và dâng các sinh tế trên bàn thờ. Vua cũng làm như thế tại Bê-tên, dâng sinh tế cho tượng bò con mà vua đã làm. Vua cũng lập tại Bê-tên những thầy tế lễ của đền miếu trên các nơi cao mà vua đã xây cất.
Vào ngày rằm tháng tám là tháng mà vua đã tự ý chỉ định, Giê-rô-bô-am đi đến bàn thờ đã xây tại Bê-tên. Vua lập một kỳ lễ cho dân Y-sơ-ra-ên, rồi đến trước bàn thờ để dâng hương.
Bấy giờ, theo lệnh của Đức Giê-hô-va, có một người của Đức Chúa Trời từ Giu-đa đến Bê-tên trong lúc Giê-rô-bô-am đứng gần bàn thờ để dâng hương.
Vâng theo lệnh Đức Giê-hô-va, người ấy quở trách bàn thờ rằng: “Hỡi bàn thờ, bàn thờ! Đức Giê-hô-va phán: ‘Kìa! Một con trai sẽ được sinh ra cho nhà Đa-vít, tên nó là Giô-si-a. Nó sẽ dâng trên mầy những thầy tế lễ của các nơi cao, là những người xông hương trên mầy, và người ta sẽ thiêu trên mầy hài cốt người chết.’”
Ngay hôm ấy, người của Đức Chúa Trời cho một dấu lạ và nói: “Đây là dấu lạ để chứng tỏ rằng Đức Giê-hô-va đã phán: Bàn thờ sẽ nứt ra và tro trên bàn thờ sẽ đổ xuống.”
Khi nghe người của Đức Chúa Trời quở trách bàn thờ tại Bê-tên, vua Giê-rô-bô-am giơ tay ra trên bàn thờ và nói: “Hãy bắt lấy nó!” Nhưng khi vua vừa giơ tay ra chỉ vào người ấy thì cánh tay của vua bị khô cứng, không thể co lại được.
Bàn thờ cũng nứt ra và tro trên bàn thờ đổ xuống, đúng như dấu lạ mà người của Đức Chúa Trời đã vâng lệnh Đức Giê-hô-va tỏ ra.
Bấy giờ, vua nói với người của Đức Chúa Trời rằng: “Xin ông khẩn nài Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông và cầu nguyện cho tôi để tay tôi có thể co lại được như cũ.” Người của Đức Chúa Trời cầu khẩn Đức Giê-hô-va thì tay vua co vào được như trước.
Vua nói với người của Đức Chúa Trời: “Xin mời ông về cung với tôi để được bổ sức lại, và tôi sẽ tặng ông một món quà.”
Nhưng người của Đức Chúa Trời đáp: “Dù vua có cho phân nửa tài sản, tôi cũng không thể về với vua, hoặc ăn bánh hay là uống nước tại nơi nầy,
vì Đức Giê-hô-va đã phán dặn tôi rằng: ‘Con chớ ăn bánh hoặc uống nước, cũng chớ theo con đường con đã đi mà trở về.’”
Vậy, người ấy đi đường khác, không trở lại con đường đã dẫn mình đến Bê-tên.
Lúc ấy, có một vị tiên tri già ở Bê-tên. Một trong các con trai của ông thuật cho ông mọi việc mà người của Đức Chúa Trời đã làm tại Bê-tên trong ngày đó, và các lời người ấy đã nói với vua.
Nghe xong, người cha hỏi: “Người ấy đi đường nào?” Các con trai của ông chỉ con đường mà người của Đức Chúa Trời ở Giu-đa đã đi về.
Ông bảo các con trai mình: “Hãy thắng yên lừa cho cha.” Họ thắng yên lừa, rồi ông cưỡi lên và
đuổi theo người của Đức Chúa Trời, gặp người ấy đang ngồi dưới gốc cây thông. Ông hỏi: “Có phải anh là người của Đức Chúa Trời ở Giu-đa đến không?” Người ấy đáp: “Phải, chính tôi đây.”
Ông nói với người ấy: “Mời anh về nhà dùng bữa với tôi.”
Nhưng người ấy đáp: “Tôi không thể trở về với ông, cũng không thể vào nhà ông, hoặc ăn bánh hay là uống nước với ông nơi nầy,
vì Đức Giê-hô-va đã phán dặn tôi rằng: ‘Con chớ ăn bánh, chớ uống nước tại đó, và cũng đừng trở lại con đường mà con đã đi.’”
Vị tiên tri già lại nói tiếp: “Tôi cũng là nhà tiên tri như anh. Một thiên sứ đã vâng lệnh Đức Giê-hô-va phán với tôi rằng: ‘Hãy dẫn người ấy về nhà với con để người ăn bánh và uống nước.’” Nhưng thật ra vị tiên tri già nầy đã nói dối.
Người của Đức Chúa Trời quay trở lại với vị tiên tri già, và ăn uống tại nhà ông ấy.
Khi hai người đang ngồi ăn, có lời của Đức Giê-hô-va phán với vị tiên tri đã đem người kia trở lại.
Ông liền nói lớn với người của Đức Chúa Trời từ Giu-đa đến: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Vì con đã bất chấp lời của Đức Giê-hô-va, không tuân giữ mệnh lệnh mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã truyền cho con,
nhưng đã trở lại ăn bánh uống nước tại nơi mà Đức Chúa Trời đã nghiêm cấm, nên xác của con sẽ không được chôn trong mồ mả của tổ phụ con.’”
Sau khi ăn uống xong, vị tiên tri già thắng yên lừa cho nhà tiên tri mà mình đã dẫn về.
Người nầy ra đi, dọc đường gặp một con sư tử và bị nó giết chết. Xác người ấy nằm sải trên đường, có con lừa đứng một bên, còn sư tử cũng đứng gần bên xác chết.
Có người đi ngang qua đó, thấy xác chết trên đường và sư tử đứng kế bên thì vào thành của vị tiên tri già ở, thuật lại điều mình đã thấy.
Khi vị tiên tri già, người đã khiến người của Đức Chúa Trời quay trở lại, nghe điều ấy thì nói rằng: “Ấy là người của Đức Chúa Trời đã bất chấp lời của Đức Giê-hô-va. Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã phó người ấy cho sư tử xé xác và giết chết, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán.”
Rồi ông bảo các con trai mình: “Hãy thắng yên lừa cho cha.” Họ thắng yên lừa.
Ông đi và gặp xác chết trên đường, có con lừa và sư tử đứng bên cạnh xác chết. Sư tử không ăn xác chết và cũng không cắn xé con lừa.
Vị tiên tri già đem xác của người Đức Chúa Trời đặt lên lưng lừa, đưa về thành mình để than khóc và chôn cất.
Ông chôn xác người ấy trong mộ mình, rồi than khóc: “Ôi! Người anh em của tôi ôi!”
Chôn cất xong, ông nói với các con trai mình rằng: “Khi cha chết, các con hãy chôn cha vào mộ đã chôn người của Đức Chúa Trời, để hài cốt cha ở bên hài cốt người ấy.
Vì những lời người ấy vâng lệnh Đức Giê-hô-va quở trách bàn thờ tại Bê-tên và các đền miếu trên những nơi cao ở trong các thành Sa-ma-ri hẳn sẽ được ứng nghiệm.”
Sau việc ấy, Giê-rô-bô-am vẫn không từ bỏ đường lối gian ác của mình, nhưng vua cứ lập những người trong số thường dân làm thầy tế lễ cho các nơi cao; bất cứ ai tình nguyện thì được vua phong làm thầy tế lễ tại các nơi cao ấy.
Điều nầy đã trở thành một trọng tội của nhà Giê-rô-bô-am, đến nỗi triều đại của vua bị sụp đổ và bị tiêu diệt khỏi mặt đất.
Lúc ấy, A-bi-gia, con của Giê-rô-bô-am, lâm bệnh.
Giê-rô-bô-am nói với vợ: “Nầy, bà hãy cải trang để người ta không biết bà là vợ tôi, rồi lên đường đến Si-lô. Tại đó có nhà tiên tri A-hi-gia, người đã báo trước cho tôi về việc tôi sẽ làm vua của dân nầy.
Bà hãy đem theo mười ổ bánh, một ít bánh ngọt và một bình mật ong mà đến gặp nhà tiên tri. Ông ấy sẽ nói cho bà điều sẽ xảy đến cho đứa trẻ.”
Vợ Giê-rô-bô-am làm đúng như vậy. Bà lên đường đi Si-lô, và đến nhà A-hi-gia. Lúc ấy, A-hi-gia không thấy được, mắt ông đã mờ vì tuổi già.
Nhưng Đức Giê-hô-va phán với ông: “Kìa, vợ của Giê-rô-bô-am đến hỏi con về con trai bà ấy đang lâm bệnh. Con sẽ trả lời thế nầy, thế nầy. Khi đến, bà ấy sẽ giả dạng một người khác.”
Khi A-hi-gia nghe tiếng chân bà bước qua ngưỡng cửa thì nói: “Vợ vua Giê-rô-bô-am đó à, mời bà vào. Tại sao bà lại giả làm người khác? Tôi được lệnh báo cho bà một tin dữ. Hãy về nói với Giê-rô-bô-am rằng
Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán thế nầy: ‘Ta đã cất nhắc ngươi từ một thường dân lên làm lãnh tụ của Y-sơ-ra-ên là dân Ta.
Ta đã tước đoạt vương quốc khỏi nhà Đa-vít mà trao cho ngươi. Nhưng ngươi không giống như Đa-vít, đầy tớ Ta, là người tuân giữ các điều răn của Ta, hết lòng theo Ta và chỉ làm điều thiện trước mặt Ta.
Còn ngươi, trái lại, đã làm điều ác hơn các tiền bối ngươi, lập cho mình những thần khác, đúc tượng để chọc giận Ta và chối bỏ Ta.
Vì thế, Ta sẽ giáng tai họa trên nhà Giê-rô-bô-am: Ta sẽ tiêu diệt mọi người nam khỏi nhà ấy, dù nô lệ hay tự do trong Y-sơ-ra-ên, và quét sạch nhà Giê-rô-bô-am như người ta quét phân cho đến khi chẳng còn sót lại gì cả.
Người nào thuộc về Giê-rô-bô-am chết trong thành sẽ bị chó ăn thịt, còn người nào chết ngoài đồng thì sẽ bị chim trời ăn.’ Đó là lời Đức Giê-hô-va đã phán.
Thế thì, bà nên trở về nhà đi. Ngay khi bà đặt chân vào thành thì con bà sẽ chết.
Toàn thể Y-sơ-ra-ên sẽ than khóc và chôn cất nó. Trong số những người thuộc Giê-rô-bô-am, chỉ một mình nó được chôn nơi mồ mả, vì trong cả nhà Giê-rô-bô-am nó là người còn có một chút gì đẹp lòng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Đức Giê-hô-va sẽ cất nhắc một người lên làm vua Y-sơ-ra-ên, vua nầy sẽ tiêu diệt nhà Giê-rô-bô-am ngay hôm nay. Vâng, ngay bây giờ!
Đức Giê-hô-va sẽ hành hại Y-sơ-ra-ên như một cây sậy bị lắc lư trong nước, truất Y-sơ-ra-ên khỏi xứ tốt đẹp mà Ngài đã ban cho tổ phụ họ, và làm tản lạc họ phía bên kia sông Ơ-phơ-rát, vì họ đã lấy hình tượng chọc giận Đức Giê-hô-va.
Vì tội Giê-rô-bô-am đã phạm, tức là tội khiến cho dân Y-sơ-ra-ên phạm tội, nên Đức Giê-hô-va sẽ phó Y-sơ-ra-ên vào tay kẻ thù.”
Vợ của Giê-rô-bô-am đứng dậy ra về và đến Tiệt-sa. Bà vừa đặt chân trên ngưỡng cửa thì đứa trẻ chết.
Người ta chôn nó; toàn thể Y-sơ-ra-ên đều than khóc nó, đúng như lời của Đức Giê-hô-va đã phán qua đầy tớ Ngài, là nhà tiên tri A-hi-gia.
Mọi công việc khác của Giê-rô-bô-am, tức là các cuộc chiến tranh, và cách cai trị của vua đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.
Giê-rô-bô-am trị vì hai mươi hai năm rồi an giấc cùng các tổ phụ mình. Con trai của vua là Na-đáp lên ngôi kế vị.
Rô-bô-am, con trai của Sa-lô-môn, cai trị Giu-đa. Khi lên ngôi, vua đã được bốn mươi mốt tuổi. Vua trị vì mười bảy năm tại Giê-ru-sa-lem, thành Đức Giê-hô-va đã chọn trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, để đặt danh Ngài tại đó. Mẹ vua tên là Na-a-ma, người Am-môn.
Dân Giu-đa làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va. Vì các tội đã phạm, họ chọc giận Đức Giê-hô-va hơn các tổ phụ mình đã làm.
Họ cũng xây cất cho mình những nơi cao, trụ thờ và tượng A-sê-ra trên các đồi cao và dưới những tàn cây rậm rạp.
Trong xứ cũng có mại dâm nam phục vụ trong các đền miếu. Chúng làm theo những điều ghê tởm của các dân mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.
Vào năm thứ năm của triều đại Rô-bô-am, vua Ai Cập là Si-sắc tiến đánh Giê-ru-sa-lem.
Si-sắc đoạt lấy các châu báu của đền thờ Đức Giê-hô-va và hoàng cung, cũng đoạt lấy tất cả những khiên bằng vàng mà Sa-lô-môn đã làm.
Vua Rô-bô-am truyền làm những khiên bằng đồng để thay thế các khiên ấy và giao cho các quan chỉ huy vệ binh của hoàng cung.
Mỗi khi vua vào đền thờ Đức Giê-hô-va, vệ binh mang các khiên ấy. Sau đó, họ đem cất chúng vào phòng vệ binh.
Các công việc khác của Rô-bô-am và mọi việc vua đã làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa.
Chiến tranh xảy ra liên tục giữa Rô-bô-am và Giê-rô-bô-am.
Rô-bô-am an giấc cùng tổ phụ mình và được an táng với họ trong thành Đa-vít. Mẹ vua tên là Na-a-ma, người Am-môn. Con của vua là A-bi-giam, lên ngôi kế vị.
Vào năm thứ mười tám đời vua Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, thì A-bi-giam lên làm vua Giu-đa.
A-bi-giam trị vì ba năm ở Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Ma-a-ca, con gái của A-bi-sa-lôm.
Vua đi theo con đường tội lỗi mà vua cha đã đi. Lòng vua không trọn thành với Giê-hô-va Đức Chúa Trời như Đa-vít, tổ phụ mình.
Nhưng vì Đa-vít, Giê-hô-va Đức Chúa Trời dành cho vua một người nối ngôi tại Giê-ru-sa-lem, nên lập con trai vua lên kế vị và khiến cho Giê-ru-sa-lem tồn tại.
Vì Đa-vít đã làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va, trọn đời không bỏ qua bất cứ điều gì Đức Giê-hô-va đã truyền bảo, ngoại trừ vụ U-ri, người Hê-tít.
Cuộc chiến giữa Rô-bô-am và Giê-rô-bô-am vẫn tiếp diễn suốt triều đại A-bi-giam.
Các công việc khác của A-bi-giam, mọi việc vua làm, chẳng phải đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao? A-bi-giam và Giê-rô-bô-am luôn có chiến tranh với nhau.
A-bi-giam an giấc cùng tổ phụ mình và được an táng trong thành Đa-vít. Con trai vua là A-sa, lên ngôi kế vị.
Vào năm thứ hai mươi, đời Giê-rô-bô-am làm vua Y-sơ-ra-ên thì A-sa lên ngôi vua Giu-đa.
Vua cai trị bốn mươi mốt năm tại Giê-ru-sa-lem. Bà nội của vua tên là Ma-a-ca, con gái của A-bi-sa-lôm.
A-sa làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va như Đa-vít, tổ phụ mình, đã làm.
Vua trục xuất các mại dâm nam khỏi xứ và dẹp tất cả hình tượng mà tổ phụ vua đã làm.
Vua cũng cách chức thái hậu của Ma-a-ca, bà nội mình, vì bà đã dựng tượng A-sê-ra. A-sa triệt hạ hình tượng đó và đốt trong thung lũng Xết-rôn.
Nhưng vua không phá bỏ các nơi cao. Dù vậy, lòng A-sa vẫn trọn thành với Đức Giê-hô-va suốt đời.
Vua đem vào đền thờ Đức Giê-hô-va những vật thánh mà vua cha và chính vua đã biệt riêng ra thánh, hoặc vàng, bạc, hay là các vật dụng.
Vua Giu-đa là A-sa và vua Y-sơ-ra-ên là Ba-ê-sa giao chiến suốt thời gian trị vì của mình.
Ba-ê-sa, vua Y-sơ-ra-ên, lên đánh Giu-đa, xây đồn lũy Ra-ma để không cho ai ra vào lãnh thổ của A-sa, vua Giu-đa.
Khi ấy, A-sa lấy hết bạc vàng còn lại trong kho của đền thờ Đức Giê-hô-va và trong kho của cung vua giao cho đầy tớ mình, rồi sai họ đến gặp Bên Ha-đát, con trai Táp-ri-môn, cháu Hê-xi-ôn, vua A-ram ở Đa-mách mà nói rằng:
“Chúng ta hãy lập một hiệp ước với nhau, như cha của ngài và cha tôi đã làm. Nay tôi cho đem lễ vật bằng bạc và vàng để tặng ngài. Xin ngài hủy bỏ hiệp ước của ngài với Ba-ê-sa, vua Y-sơ-ra-ên, để hắn rút lui khỏi xứ tôi.”
Bên Ha-đát nghe lời vua A-sa, sai các quan tướng mình hãm đánh những thành của Y-sơ-ra-ên, chiếm lấy Y-giôn, Đan, A-bên Bết Ma-ca, và cả xứ Ki-nê-rết với xứ Nép-ta-li.
Ba-ê-sa hay được điều đó liền ngưng xây đồn Ra-ma và ở tại Tiệt-sa.
Vua A-sa liền tập hợp tất cả người Giu-đa, không trừ một ai để họ dời đá và gỗ mà Ba-ê-sa đã dùng xây đồn Ra-ma. Vua A-sa dùng các thứ ấy xây cất Ghê-ba trong xứ Bên-gia-min và Mích-pa.
Các công việc khác của A-sa, quyền thế của vua, mọi việc vua làm, và các thành vua xây cất, chẳng phải đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao? Lúc về già, vua bị đau chân.
A-sa an giấc cùng tổ phụ mình và được an táng với họ trong thành Đa-vít. Con trai của vua là Giô-sa-phát lên ngôi kế vị.
Vào năm thứ hai đời trị vì của A-sa, vua Giu-đa, thì Na-đáp, con trai Giê-rô-bô-am, lên ngôi vua Y-sơ-ra-ên và trị vì trên Y-sơ-ra-ên hai năm.
Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, đi theo đường lối của tổ phụ mình, phạm tội mà Giê-rô-bô-am đã phạm và khiến cho Y-sơ-ra-ên cũng phạm tội nữa.
Ba-ê-sa, con trai A-hi-gia, thuộc nhà Y-sa-ca, mưu phản vua. Trong lúc Na-đáp và cả Y-sơ-ra-ên vây Ghi-bê-thôn, vốn thuộc về dân Phi-li-tin, thì Ba-ê-sa giết vua tại đó.
Vào năm thứ ba đời A-sa, vua Giu-đa, thì Ba-ê-sa giết Na-đáp và chiếm ngôi vua.
Vừa lên ngôi, Ba-ê-sa giết hết mọi người thuộc về Giê-rô-bô-am, không để một ai sống sót cho đến khi đã tận diệt nhà Giê-rô-bô-am, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán qua A-hi-gia, đầy tớ Ngài ở Si-lô;
vì tội lỗi Giê-rô-bô-am đã phạm, làm cho Y-sơ-ra-ên cũng phạm tội và chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Các việc khác của Na-đáp và những gì vua đã làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.
Giữa A-sa và Ba-ê-sa, vua Y-sơ-ra-ên, luôn có chiến tranh với nhau suốt thời gian trị vì của họ.
Vào năm thứ ba triều vua A-sa của Giu-đa thì Ba-ê-sa, con trai A-hi-gia, lên làm vua toàn cõi Y-sơ-ra-ên và trị vì hai mươi bốn năm tại Tiệt-sa.
Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, đi theo đường lối của Giê-rô-bô-am và tội lỗi mà Giê-rô-bô-am đã phạm, làm cho Y-sơ-ra-ên cũng phạm tội.
Bấy giờ, có lời của Đức Giê-hô-va quở trách Ba-ê-sa, qua Giê-hu, con trai của Ha-na-ni, rằng:
“Ta đã cất nhắc ngươi lên khỏi bụi đất và lập ngươi làm lãnh tụ của Y-sơ-ra-ên, dân Ta. Nhưng ngươi đã đi theo đường lối của Giê-rô-bô-am, xui cho dân Y-sơ-ra-ên phạm tội và vì tội đó, chúng chọc giận Ta.
Vì thế, Ta sẽ quét sạch Ba-ê-sa và nhà nó, làm cho nhà nó giống như nhà Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát vậy.
Bất cứ ai thuộc về Ba-ê-sa chết trong thành sẽ bị chó ăn, còn người nào chết ngoài đồng sẽ bị chim trời ăn.”
Các công việc khác của Ba-ê-sa, những việc vua đã làm, và quyền thế của vua đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.
Ba-ê-sa an giấc cùng các tổ phụ mình và được an táng tại Tiệt-sa. Con trai của vua là Ê-la lên ngôi kế vị.
Như vậy, Đức Giê-hô-va dùng nhà tiên tri Giê-hu, con trai Ha-na-ni, quở trách Ba-ê-sa và nhà người vì các tội ác của vua đã làm trước mặt Đức Giê-hô-va, lấy công việc của tay mình mà chọc giận Ngài giống như nhà Giê-rô-bô-am, dù chính vua đã hủy diệt nhà ấy.
Vào năm thứ hai mươi sáu đời trị vì của A-sa, vua Giu-đa, thì Ê-la, con trai Ba-ê-sa, làm vua Y-sơ-ra-ên tại Tiệt-sa, và trị vì hai năm.
Nhưng Xim-ri, cận thần của Ê-la, là chỉ huy trưởng phân nửa số chiến xa, đã âm mưu chống lại vua. Nhân lúc Ê-la uống rượu say trong nhà Ạt-sa, quản đốc hoàng cung tại thành Tiệt-sa,
thì Xim-ri vào giết Ê-la và chiếm ngôi vua; đó là năm hai mươi bảy đời trị vì của A-sa, vua Giu-đa.
Vừa lên ngôi vua, Xim-ri giết hết cả nhà Ba-ê-sa, chẳng để lại một người nam nào hết, dù là bà con hay bằng hữu.
Xim-ri đã tận diệt cả nhà Ba-ê-sa, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã dùng nhà tiên tri Giê-hu quở trách Ba-ê-sa,
vì các tội lỗi mà Ba-ê-sa và Ê-la con vua đã phạm, tức là việc gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội, và vì sự thờ lạy hình tượng hư không của chúng chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Các việc khác của Ê-la và mọi việc vua đã làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.
Vào năm thứ hai mươi bảy đời trị vì của A-sa, vua Giu-đa, thì Xim-ri lên ngôi, làm vua bảy ngày tại Tiệt-sa. Bấy giờ, quân Y-sơ-ra-ên đang vây Ghi-bê-thôn, một thành vốn thuộc về dân Phi-li-tin.
Khi quân lính hay tin rằng Xim-ri đã phản loạn và giết vua thì cũng trong ngày đó, toàn thể Y-sơ-ra-ên lập Ôm-ri, là tư lệnh quân đội đang ở trong doanh trại, lên làm vua Y-sơ-ra-ên.
Ôm-ri và toàn thể Y-sơ-ra-ên từ Ghi-bê-thôn đi lên vây Tiệt-sa.
Khi Xim-ri thấy thành đã bị vây hãm thì vào pháo đài của hoàng cung, phóng hỏa hoàng cung và tự thiêu trong đó.
Đó là vì những tội lỗi Xim-ri đã phạm, làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, đi theo đường lối của Giê-rô-bô-am, và phạm tội mà Giê-rô-bô-am đã phạm, tức là việc gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
Các việc khác của Xim-ri và việc phản loạn của ông đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.
Bấy giờ, dân Y-sơ-ra-ên chia làm hai phe: Phe nầy theo Típ-ni, con trai Ghi-nát, và muốn lập ông làm vua; phe kia theo Ôm-ri.
Nhưng phe theo Ôm-ri thắng thế hơn phe theo Típ-ni, con trai Ghi-nát. Vậy, Típ-ni chết và Ôm-ri cai trị.
Vào năm thứ ba mươi mốt đời A-sa, vua Giu-đa, Ôm-ri làm vua Y-sơ-ra-ên và trị vì mười hai năm; vua cai trị sáu năm tại Tiệt-sa.
Vua mua ngọn đồi Sa-ma-ri của Sê-me với giá sáu mươi ký bạc. Trên đồi ấy, vua xây một thành, đặt tên là Sa-ma-ri, theo tên của chủ ngọn đồi là Sê-me.
Ôm-ri làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, và còn làm điều ác hơn các vua trước mình.
Trong mọi sự, vua đi theo đường lối của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, phạm tội mà Giê-rô-bô-am đã phạm, tức là việc gây cho dân Y-sơ-ra-ên phạm tội, và lấy sự thờ lạy hình tượng hư không mà chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Các việc khác của Ôm-ri, những việc vua đã làm, và quyền thế của vua, đều được ghi trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.
Ôm-ri an giấc cùng tổ phụ mình và được an táng tại Sa-ma-ri. Con trai vua là A-háp lên ngôi kế vị.
Vào năm thứ ba mươi tám đời trị vì của A-sa, vua Giu-đa, thì A-háp, con trai Ôm-ri, lên ngôi làm vua Y-sơ-ra-ên. Vua cai trị Y-sơ-ra-ên hai mươi hai năm tại Sa-ma-ri.
A-háp, con trai Ôm-ri, làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va hơn tất cả các vua trước mình.
Vua cho việc bắt chước theo tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, là việc nhỏ, nên đã cưới con gái Ết-ba-anh, vua dân Si-đôn, là Giê-sa-bên làm vợ. Vua cũng phục vụ và thờ lạy Ba-anh.
Vua lập một bàn thờ cho Ba-anh trong đền miếu của Ba-anh mà vua đã cất tại Sa-ma-ri.
A-háp cũng dựng một hình tượng A-sê-ra. Vậy, A-háp làm nhiều điều ác, chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên hơn các vua Y-sơ-ra-ên trước mình.
Trong đời A-háp, Hi-ên ở Bê-tên xây lại thành Giê-ri-cô. Khi ông đặt nền thì mất A-bi-ram, con trưởng nam mình; lúc dựng các cửa thì mất Sê-gúp, con út mình, đúng như lời của Đức Giê-hô-va đã phán qua Giô-suê, con trai của Nun.
Ê-li, người Thi-sê-be, là một trong những người cư ngụ tại Ga-la-át, nói với A-háp rằng: “Ta đứng trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời hằng sống của Y-sơ-ra-ên mà thề rằng: Những năm sắp tới đây, nếu không có lời của ta thì sẽ không có sương, cũng chẳng có mưa.”
Rồi có lời của Đức Giê-hô-va phán với Ê-li:
“Hãy rời khỏi nơi nầy, qua hướng đông và ẩn mình bên khe Kê-rít, phía đông sông Giô-đanh.
Con sẽ uống nước khe, và Ta đã truyền cho chim quạ nuôi con tại đó.”
Ê-li ra đi và làm theo lời Đức Giê-hô-va. Ông đến ở bên khe Kê-rít, phía đông sông Giô-đanh.
Mỗi buổi sáng và buổi chiều, chim quạ đem bánh và thịt cho ông, và ông uống nước khe.
Nhưng sau đó ít lâu thì khe cạn khô, vì trong xứ không có mưa.
Bấy giờ, có lời của Đức Giê-hô-va phán với Ê-li:
“Hãy mau đi đến Sa-rép-ta là thành thuộc về Si-đôn, và ở lại đó. Kìa, Ta đã truyền cho một bà góa ở thành ấy cung cấp thức ăn cho con.”
Vậy, ông lên đường đến Sa-rép-ta. Khi đến cửa thành, ông thấy một bà góa lượm củi thì gọi bà và nói: “Xin bà đem cho tôi một chút nước trong bình để tôi uống.”
Bà ấy đi múc nước. Nhưng ông gọi lại và nói với bà: “Xin bà cũng đem cho tôi một miếng bánh nữa.”
Bà góa đáp: “Tôi chỉ Giê-hô-va Đức Chúa Trời hằng sống của ông mà thề, tôi không có bánh, chỉ còn một nắm bột trong vò và một chút dầu trong bình. Nầy, tôi lượm hai khúc củi, rồi nấu cho tôi và con trai tôi; khi ăn xong, chúng tôi sẽ chết.”
Nhưng Ê-li nói: “Đừng sợ, hãy trở về làm đúng như bà đã nói. Nhưng trước hết, hãy lấy bột ấy làm một cái bánh nhỏ rồi đem cho tôi. Sau đó, hãy làm cho bà và con trai bà.
Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: ‘Bột sẽ không hết trong vò, và dầu sẽ không thiếu trong bình, cho đến ngày Đức Giê-hô-va ban mưa xuống đất.’”
Bà ấy đi và làm như lời Ê-li đã nói. Bà cùng với Ê-li và con bà có đủ ăn lâu ngày.
Bột chẳng hết trong vò, dầu không thiếu trong bình, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán qua Ê-li.
Ít lâu sau, con trai của người đàn bà, tức là chủ nhà, ngã bệnh. Bệnh tình rất nặng đến nỗi nó tắt thở.
Người đàn bà nói với Ê-li: “Thưa ông là người của Đức Chúa Trời, tôi có làm gì phiền đến ông không? Có phải ông đến nhà tôi để nhắc lại những tội lỗi tôi và khiến cho con tôi chết không?”
Ê-li nói với bà: “Hãy giao con bà cho tôi.” Ông bồng đứa trẻ từ tay mẹ nó, đem lên phòng cao chỗ ông ở, và để nó nằm trên giường mình.
Rồi ông kêu cầu với Đức Giê-hô-va rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con! Sao Ngài giáng tai họa trên người đàn bà góa nầy là chủ nhà nơi con trú ngụ, để cho con trai bà ấy phải chết?”
Ông nằm ấp trên mình đứa trẻ ba lần và kêu cầu với Đức Giê-hô-va rằng: “Ôi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con! Xin Chúa khiến sinh khí của đứa trẻ nầy trở lại với nó.”
Đức Giê-hô-va nhậm lời của Ê-li, sinh khí của đứa trẻ trở về với nó và nó sống lại.
Ê-li bồng đứa trẻ từ phòng cao xuống nhà dưới, giao cho mẹ nó và nói: “Hãy xem, con bà đã sống!”
Bà nói với Ê-li: “Bây giờ tôi nhìn biết ông là người của Đức Chúa Trời, và lời phán của Đức Giê-hô-va qua miệng ông là chân thật.”
Sau một thời gian dài, có lời Đức Giê-hô-va phán với Ê-li vào năm hạn hán thứ ba rằng: “Hãy đi gặp A-háp, Ta sẽ khiến mưa sa xuống đất.”
Ê-li đi gặp A-háp. Bấy giờ, tại Sa-ma-ri có nạn đói trầm trọng.
A-háp sai gọi Áp-đia, là quản đốc hoàng cung. (Áp-đia rất kính sợ Đức Giê-hô-va.
Khi Giê-sa-bên giết các nhà tiên tri của Đức Giê-hô-va thì Áp-đia có đem một trăm nhà tiên tri giấu trong hai hang đá, mỗi hang năm mươi người, lấy bánh và nước mà nuôi họ.)
A-háp nói với Áp-đia rằng: “Hãy đi khắp xứ, xem tất cả các suối và khe, có lẽ chúng ta sẽ tìm được cỏ để cứu sống ngựa và la; nếu không, các súc vật của ta sẽ chết hết?”
Hai người chia nhau đi tuần khắp xứ. A-háp đích thân đi hướng nầy, còn Áp-đia thì đi hướng kia.
Áp-đia đang đi trên đường thì gặp Ê-li ra đón mình. Áp-đia nhận ra Ê-li, sấp mình xuống trước mặt ông và hỏi: “Thưa có phải ông đây là Ê-li, chúa tôi, không?”
Ông đáp: “Phải, chính ta. Hãy đi nói với chủ ngươi rằng: ‘Ê-li đang ở đây.’”
Áp-đia nói: “Tôi phạm tội gì mà ông lại phó đầy tớ ông vào tay A-háp để ông ấy giết tôi?
Tôi chỉ Giê-hô-va Đức Chúa Trời hằng sống của ông mà thề, chẳng dân nào nước nào mà chủ tôi không sai đến tìm ông. Và khi người ta đáp rằng: ‘Ê-li không có đây,’ thì vua bắt nước ấy và dân ấy phải thề là không gặp ông.
Thế mà bây giờ ông lại bảo đầy tớ ông đi nói với vua rằng: ‘Ê-li đang ở đây.’
Rồi khi tôi rời khỏi ông, thần của Đức Giê-hô-va đem ông đi nơi nào tôi chẳng biết. Vậy, nếu tôi thuật lại cùng A-háp mà vua không thấy ông thì hẳn sẽ giết tôi đi. Đầy tớ ông vốn kính sợ Đức Giê-hô-va từ khi còn thơ ấu.
Khi Giê-sa-bên giết các nhà tiên tri của Đức Giê-hô-va thì tôi đã giấu một trăm nhà tiên tri của Đức Giê-hô-va trong hai hang đá, mỗi hang năm mươi người, đem bánh và nước mà nuôi họ. Người ta không nói điều đó cho chúa tôi biết sao?
Vậy mà bây giờ ông bảo tôi đi nói với vua rằng: ‘Ê-li đang ở đây,’ ông ấy hẳn sẽ giết tôi.”
Ê-li đáp: “Ta chỉ Đức Giê-hô-va vạn quân hằng sống, là Đấng ta phụng sự, mà thề rằng: Chính hôm nay ta sẽ đi gặp A-háp.”
Vậy, Áp-đia đi đón A-háp và báo cho vua biết. A-háp liền đi đón Ê-li.
Vừa thấy Ê-li, A-háp nói: “Có phải ông là kẻ làm rối loạn Y-sơ-ra-ên chăng?”
Ê-li đáp: “Chẳng phải tôi làm rối loạn Y-sơ-ra-ên đâu, nhưng chính là vua và nhà cha của vua. Vì vua đã bỏ điều răn của Đức Giê-hô-va mà theo thần Ba-anh.
Vậy bây giờ, vua hãy sai người đi triệu tập toàn dân Y-sơ-ra-ên lại bên tôi trên núi Cạt-mên, cùng với bốn trăm năm mươi tiên tri Ba-anh, và bốn trăm tiên tri A-sê-ra, là những người ăn tại bàn Giê-sa-bên.”
Vua A-háp sai người đi triệu tập toàn dân Y-sơ-ra-ên và các tiên tri ấy đến núi Cạt-mên.
Ê-li đến trước dân chúng và nói: “Các ngươi đi giẹo hai bên cho đến bao giờ? Nếu Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, hãy theo Ngài; còn nếu Ba-anh là Đức Chúa Trời, thì cứ theo hắn.” Nhưng dân chúng không đáp một lời.
Bấy giờ, Ê-li nói với dân chúng: “Trong số những nhà tiên tri của Đức Giê-hô-va chỉ còn lại một mình ta, còn các tiên tri Ba-anh có đến bốn trăm năm mươi người.
Hãy đem đến đây hai con bò đực; chúng phải chọn một con cho mình, xả ra từng miếng, chất trên củi, nhưng đừng châm lửa. Còn ta, ta sẽ làm thịt con bò kia, đặt nó trên củi, cũng không châm lửa.
Sau đó, hãy kêu cầu danh của thần các ngươi đi! Còn ta, ta sẽ kêu cầu danh Đức Giê-hô-va. Thần nào đáp lời bằng lửa, chính là Đức Chúa Trời.” Toàn dân đều nói: “Lời ấy rất phải.”
Ê-li nói với các tiên tri Ba-anh: “Hãy chọn một con bò đực và làm thịt nó trước đi, vì các ngươi đông. Rồi hãy kêu cầu danh của thần các ngươi, nhưng đừng châm lửa.”
Chúng bắt con bò mà người ta đã đưa cho và làm thịt. Rồi từ sáng sớm đến trưa, chúng kêu cầu danh của Ba-anh rằng: “Hỡi Ba-anh! Xin đáp lời chúng tôi.” Nhưng chẳng có tiếng gì, cũng chẳng ai đáp lời. Chúng nhảy múa chung quanh bàn thờ mình đã dựng lên.
Đến trưa, Ê-li chế nhạo chúng rằng: “Hãy la lớn lên đi, vì Ba-anh là thần mà! Có lẽ thần còn đang ngẫm nghĩ, hoặc bận đi ngoài, hoặc đang đi đường, hoặc đang ngủ và cần phải đánh thức chăng!”
Chúng càng kêu lớn tiếng hơn và lấy gươm giáo rạch mình đến chảy máu theo thói tục của chúng.
Khi đã quá trưa, chúng vẫn cứ nói lảm nhảm như thế cho đến giờ dâng tế lễ chay buổi chiều. Nhưng vẫn không có tiếng nói, không một ai đáp lời, cũng không có thần nào quan tâm đến.
Bấy giờ, Ê-li nói với dân chúng: “Hãy đến gần ta.” Dân chúng đến gần ông. Rồi Ê-li sửa lại bàn thờ của Đức Giê-hô-va đã bị phá hủy.
Ông lấy mười hai hòn đá theo số mười hai bộ tộc của các con trai Gia-cốp, là người mà Đức Giê-hô-va đã phán rằng: “Y-sơ-ra-ên sẽ là tên con.”
Ông dùng mười hai hòn đá ấy dựng lên một bàn thờ nhân danh Đức Giê-hô-va. Chung quanh bàn thờ, ông cho đào một cái mương chứa khoảng mười lăm lít hạt giống.
Rồi ông chất củi, chặt con bò ra từng miếng và sắp lên trên củi. Ông nói:
“Hãy múc đầy bốn bình nước, và đem đổ trên tế lễ thiêu và củi.” Ông lại nói: “Hãy làm lần thứ nhì,” thì họ làm lần thứ nhì. Ông nói tiếp: “Hãy làm lần thứ ba,” và họ làm lần thứ ba.
Nước chảy tràn chung quanh bàn thờ đến nỗi đầy cả mương.
Đến giờ dâng tế lễ chay buổi chiều, nhà tiên tri Ê-li đến gần và cầu nguyện rằng: “Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác, và Y-sơ-ra-ên. Hôm nay xin cho mọi người biết rằng trong Y-sơ-ra-ên Ngài là Đức Chúa Trời, con là đầy tớ của Ngài, và con vâng lời Ngài mà làm mọi điều nầy.
Đức Giê-hô-va ôi! Xin nhậm lời con, xin đáp lời con, để dân nầy biết rằng chính Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, và Ngài khiến cho lòng họ quay trở lại.”
Lửa của Đức Giê-hô-va giáng xuống, thiêu đốt tế lễ thiêu, củi, đá, bụi, và rút nước trong mương.
Thấy vậy, tất cả dân chúng sấp mình xuống đất và tung hô: “Giê-hô-va là Đức Chúa Trời! Giê-hô-va là Đức Chúa Trời!”
Ê-li nói với dân chúng: “Hãy bắt bọn tiên tri Ba-anh, đừng để một tên nào trốn thoát.” Họ liền bắt chúng. Ê-li đem chúng xuống khe Ki-sôn và giết chúng tại đó.
Ê-li nói với A-háp: “Xin vua đi lên và ăn uống, vì tôi có nghe tiếng mưa lớn.”
Vua A-háp đi lên ăn uống. Nhưng Ê-li leo lên đỉnh núi Cạt-mên, cúi xuống đất và úp mặt mình giữa hai đầu gối.
Rồi ông bảo đầy tớ mình: “Hãy đi lên, nhìn về hướng biển.” Người đầy tớ đi lên nhìn, rồi nói: “Không có gì cả.” Ê-li lại nói: “Hãy trở lên bảy lần.”
Đến lần thứ bảy, người đầy tớ đáp: “Kìa, từ phía biển có một cụm mây nhỏ bằng bàn tay nổi lên.” Ê-li nói tiếp: “Hãy đi nói với vua A-háp rằng: ‘Xin vua thắng xe và đi xuống, kẻo mưa cầm chân vua lại chăng.’”
Trong chốc lát, bầu trời bị mây che đen kịt, gió nổi dậy, và có cơn mưa rất to. A-háp liền lên xe chạy đến Gít-rê-ên.
Tay Đức Giê-hô-va đặt trên Ê-li; ông thắt lưng và chạy trước A-háp cho đến khi vào thành Gít-rê-ên.
A-háp thuật cho Giê-sa-bên mọi việc Ê-li đã làm, kể cả việc ông dùng gươm giết tất cả tiên tri Ba-anh.
Giê-sa-bên sai một sứ giả đến gặp Ê-li và nói: “Nếu vào giờ nầy ngày mai, ta không xử mạng sống ngươi như mạng sống của một trong những tiên tri mà ngươi đã giết, nguyện các thần phạt ta cách nặng nề.”
Ê-li sợ hãi và đứng dậy chạy trốn để cứu mạng sống mình. Đến Bê-e Sê-ba thuộc Giu-đa, ông để đầy tớ mình ở lại đó.
Còn ông thì đi một ngày đường nữa vào trong hoang mạc. Ông đến ngồi dưới một cây giếng giêng và cầu xin được chết: “Ôi Đức Giê-hô-va! Đã đủ rồi. Xin cất mạng sống con đi, vì con không hơn gì các tổ phụ con.”
Rồi ông nằm ngủ dưới cây giếng giêng. Có một thiên sứ chạm vào ông và bảo: “Hãy dậy mà ăn.”
Ông nhìn thấy phía trên đầu mình một cái bánh nhỏ nướng trên than, và một bình nước. Ăn uống xong, ông lại nằm xuống.
Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đến lần thứ nhì, chạm vào ông và nói: “Hãy dậy mà ăn thêm đi, vì đường còn xa lắm cho con.” Ông thức dậy và ăn uống,
rồi nhờ lương thực ấy, ông có sức để đi bốn mươi ngày và bốn mươi đêm đến Hô-rếp, là núi của Đức Chúa Trời.
Đến nơi, ông vào trong hang đá và ngủ đêm ở đó. Có lời của Đức Giê-hô-va phán với ông: “Hỡi Ê-li, con đang làm gì ở đây?”
Ông thưa rằng: “Con rất nhiệt thành với Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân. Vì dân Y-sơ-ra-ên đã loại bỏ giao ước Ngài, phá hủy các bàn thờ Ngài, dùng gươm giết các nhà tiên tri của Ngài; chỉ một mình con còn lại, và họ cũng đang truy tìm để lấy mạng sống con.”
Đức Chúa Trời phán với ông: “Hãy đi ra, đứng trên núi trước mặt Đức Giê-hô-va.” Kìa, Đức Giê-hô-va đang đi ngang qua; có một ngọn gió thổi rất mạnh, xé núi ra và làm vỡ các tảng đá trước mặt Đức Giê-hô-va, nhưng không có Đức Giê-hô-va trong ngọn gió ấy. Sau ngọn gió, có trận động đất, nhưng không có Đức Giê-hô-va trong trận động đất ấy.
Sau trận động đất, có đám lửa, nhưng cũng không có Đức Giê-hô-va trong đám lửa ấy. Sau đám lửa, có một tiếng êm dịu nhỏ nhẹ.
Vừa nghe tiếng ấy, Ê-li lấy áo choàng phủ kín mặt mình, ra đứng nơi miệng hang. Bấy giờ, có tiếng hỏi ông: “Hỡi Ê-li, con đang làm gì ở đây?”
Ông thưa: “Con rất nhiệt thành với Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân. Vì dân Y-sơ-ra-ên đã loại bỏ giao ước Ngài, phá hủy các bàn thờ Ngài, dùng gươm giết các nhà tiên tri của Ngài; chỉ một mình con còn lại, và họ cũng đang truy tìm để lấy mạng sống con.”
Nhưng Đức Giê-hô-va phán với ông: “Hãy theo con đường hoang mạc đi đến Đa-mách. Khi đến nơi, con sẽ xức dầu cho Ha-xa-ên làm vua A-ram;
con cũng sẽ xức dầu cho Giê-hu, con trai của Nim-si, làm vua Y-sơ-ra-ên; và con sẽ xức dầu cho Ê-li-sê, con trai Sa-phát, ở A-bên Mê-hô-la, làm nhà tiên tri thế cho con.
Ai thoát khỏi gươm của Ha-xa-ên sẽ bị Giê-hu giết, ai thoát khỏi gươm của Giê-hu sẽ bị Ê-li-sê giết.
Nhưng trong Y-sơ-ra-ên, Ta đã để dành cho Ta bảy nghìn người chẳng hề quỳ gối trước thần Ba-anh, và môi họ chưa hôn nó.”
Từ đó, Ê-li ra đi và thấy Ê-li-sê, con trai của Sa-phát, đang cày ruộng. Có mười hai đôi bò đang kéo cày trước mặt Ê-li-sê, và chính ông cầm đôi thứ mười hai. Ê-li đi ngang qua và ném áo choàng mình trên Ê-li-sê.
Ê-li-sê liền bỏ đôi bò lại, chạy theo Ê-li và nói: “Xin cho phép con hôn cha mẹ rồi con sẽ theo ông.” Ê-li đáp: “Hãy đi đi, rồi trở lại, vì ta đã làm gì ngươi đâu.”
Rời Ê-li, Ê-li-sê về nhà bắt một đôi bò giết đi, và lấy cày làm củi nấu thịt đãi mọi người. Rồi Ê-li-sê lên đường, đi theo Ê-li và phục vụ ông.
Vua A-ram là Bên Ha-đát tập hợp toàn quân lại. Vua cùng với ba mươi hai vua khác, có cả ngựa và xe, kéo lên bao vây và tấn công Sa-ma-ri.
Vua sai sứ giả đến gặp vua A-háp của Y-sơ-ra-ên ở trong thành, và nói rằng: “Bên Ha-đát nói thế nầy:
‘Bạc và vàng của ngươi thuộc về ta. Vợ đẹp con xinh hơn hết của ngươi cũng thuộc về ta.’”
Vua Y-sơ-ra-ên đáp: “Thưa đức vua là chúa tôi, cứ như lời ngài nói, tôi và mọi vật của tôi đều thuộc về ngài.”
Nhưng các sứ giả trở lại cùng vua Y-sơ-ra-ên và nói: “Bên Ha-đát bảo thế nầy: ‘Ta đã sai sứ đến nói với ngươi rằng: “Hãy đưa bạc vàng và vợ con ngươi cho ta.”
Ngoài ra, ngày mai vào giờ nầy, ta sẽ sai các đầy tớ ta đến với ngươi, chúng sẽ lục soát cung điện ngươi và nhà của quần thần ngươi. Bất cứ món gì ngươi coi là quý, chúng sẽ lấy và đem đi hết.’”
Vua Y-sơ-ra-ên mời tất cả trưởng lão trong nước đến, và nói với họ: “Các ông hãy biết và thấy rõ rằng người nầy đang tìm cách hại chúng ta. Vì người đã sai sứ đòi trẫm phải nộp vợ con, bạc vàng, và trẫm đã không từ chối gì hết.”
Các trưởng lão và tất cả dân chúng đều tâu với vua: “Xin bệ hạ đừng nghe, cũng đừng chấp nhận gì cả.”
Vậy, A-háp đáp cùng sứ giả của Bên Ha-đát rằng: “Hãy tâu với đức vua là chúa tôi: ‘Mọi điều đức vua đòi hỏi lần trước thì tôi là đầy tớ ngài sẽ làm; nhưng lần nầy thì tôi không thể làm được.’” Các sứ giả về thuật lại lời đó cho Bên Ha-đát.
Bên Ha-đát lại sai sứ nói rằng: “Nếu bụi đất ở Sa-ma-ri đủ cho các chiến sĩ ta mỗi người một nắm, nguyện các thần giáng tai họa cho ta cách nặng nề!”
Nhưng vua Y-sơ-ra-ên đáp: “Hãy nói với vua rằng: ‘Người mặc áo giáp chớ khoe mình như người cởi nó ra.’”
Bên Ha-đát đang uống rượu với các vua trong trại, vừa nghe các lời đó, liền ra lệnh cho các đầy tớ mình: “Hãy dàn trận đi!” Chúng liền dàn trận để tấn công thành.
Lúc ấy, có một nhà tiên tri đến gặp A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, và nói: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Con thấy đoàn quân rất đông nầy chăng? Kìa, ngày nay Ta sẽ phó chúng vào tay con, và con sẽ biết Ta là Giê-hô-va.’”
A-háp hỏi: “Ai sẽ ra trận?” Người ấy đáp: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Những viên chức của các quan đầu tỉnh.’” Vua hỏi tiếp: “Ai sẽ khai chiến?” Nhà tiên tri đáp: “Chính vua!”
A-háp duyệt lại số viên chức của các quan đầu tỉnh, có tất cả hai trăm ba mươi hai người. Sau đó, vua điểm lại toàn quân Y-sơ-ra-ên, được bảy nghìn người.
Giữa trưa, trong khi Bên Ha-đát uống rượu say trong trại mình cùng với ba mươi hai vua đồng minh, thì người Y-sơ-ra-ên kéo quân ra.
Những viên chức trẻ của các quan đầu tỉnh đi ra trước. Bên Ha-đát sai người quan sát. Họ báo lại cho vua: “Có người từ Sa-ma-ri kéo ra.”
Vua nói: “Dù chúng đến có ý cầu hòa, hoặc có ý khiêu chiến, cũng hãy bắt sống chúng.”
Những viên chức trẻ của các quan đầu tỉnh kéo ra ngoài thành, và đạo quân đi theo.
Họ giao chiến với kẻ thù. Quân A-ram tháo chạy, và quân Y-sơ-ra-ên truy đuổi. Bên Ha-đát, vua A-ram, lên ngựa chạy thoát với một vài kỵ binh.
Vua Y-sơ-ra-ên kéo ra tấn công ngựa và chiến xa, đánh bại quân A-ram và gây tổn thất nặng nề cho họ.
Bấy giờ, nhà tiên tri đến gặp vua Y-sơ-ra-ên và nói: “Vua hãy đi củng cố lực lượng, và xem xét kỹ điều mình phải làm, vì năm tới vua A-ram sẽ trở lại đánh vua.”
Các triều thần của vua A-ram nói với người rằng: “Thần của chúng là thần núi, nên chúng mạnh hơn chúng ta. Nhưng nếu giao chiến với chúng dưới đồng bằng, chắc chắn chúng ta sẽ chiến thắng chúng nó.
Xin bệ hạ làm thế nầy: Thay các vua bằng các tướng chỉ huy,
rồi tuyển mộ một đạo quân như đạo quân đã mất, với số ngựa và xe bằng lần trước. Chúng ta sẽ giao chiến với dân Y-sơ-ra-ên trong đồng bằng, chắc chắn chúng ta sẽ thắng.” Vua nghe và làm theo lời các triều thần.
Đầu năm sau, Bên Ha-đát điểm quân A-ram và kéo đến A-phéc để giao chiến với Y-sơ-ra-ên.
Người Y-sơ-ra-ên cũng điểm quân, chuẩn bị lương thực, và ra nghênh chiến. Quân Y-sơ-ra-ên đóng trại đối diện quân A-ram. Họ giống như hai bầy dê nhỏ, còn quân A-ram tràn ngập khắp xứ.
Bấy giờ, người của Đức Chúa Trời đến gần vua Y-sơ-ra-ên mà nói rằng: “Đức Giê-hô-va phán: Vì người A-ram nói rằng: ‘Đức Giê-hô-va là thần núi chứ không phải thần thung lũng,’ nên Ta sẽ phó đoàn quân rất đông đảo nầy vào tay con, và các con sẽ biết Ta là Giê-hô-va.”
Hai bên đóng trại đối diện nhau trong bảy ngày. Vào ngày thứ bảy, cuộc chiến bùng nổ. Trong một ngày, dân Y-sơ-ra-ên đánh giết một trăm nghìn bộ binh A-ram.
Tàn quân chạy trốn trong thành A-phéc, nhưng các tường thành đổ xuống, đè lên hai mươi bảy nghìn người còn sót lại. Bên Ha-đát cũng chạy trốn vào thành, ẩn trong một phòng kín.
Các đầy tớ Bên Ha-đát tâu với vua: “Chúng tôi nghe nói các vua nhà Y-sơ-ra-ên vốn nhân từ. Vì vậy, xin cho chúng tôi lấy vải bố thắt lưng và quấn dây trên đầu, rồi chúng tôi ra hàng vua Y-sơ-ra-ên; may ra vua ấy để cho bệ hạ sống chăng!”
Vậy, họ lấy vải bố thắt lưng và quấn dây trên đầu, rồi ra hàng vua Y-sơ-ra-ên, và tâu rằng: “Đầy tớ của bệ hạ là Bên Ha-đát cầu xin với bệ hạ rằng: ‘Xin để cho tôi sống.’” A-háp đáp: “Vua ấy còn sống chăng? Người vốn là anh em ta.”
Những người đó thấy có điềm lành, vội vàng nhận ngay lời ấy và nói: “Vâng, Bên Ha-đát là anh em của bệ hạ.” A-háp nói tiếp: “Hãy đưa ông ấy đến gặp ta.” Bên Ha-đát đến ra mắt A-háp, vua mời Bên Ha-đát lên xe của mình.
Bên Ha-đát nói với A-háp: “Tôi xin trả lại cho ngài các thành mà cha tôi đã chiếm của cha ngài, và ngài có thể thiết lập phố chợ tại Đa-mách, như cha tôi đã làm tại Sa-ma-ri.” A-háp đáp: “Tôi chấp thuận thỏa ước nầy và sẽ để cho ngài ra đi.” Thế rồi A-háp lập thỏa ước với Bên Ha-đát, và để cho vua ấy ra về.
Bấy giờ, có một người trong số các nhà tiên tri, vâng lệnh Đức Giê-hô-va, nói với bạn mình: “Xin anh đánh tôi đi!” Nhưng người bạn không chịu đánh.
Người ấy nói tiếp: “Vì anh không vâng lời Đức Giê-hô-va nên ngay sau khi anh rời khỏi tôi, sẽ có một con sư tử giết anh.” Khi người bạn vừa rời khỏi nhà tiên tri thì gặp một con sư tử vồ anh ta chết.
Nhà tiên tri gặp một người khác, và nói: “Xin anh đánh tôi đi!” Người ấy đánh nhà tiên tri và làm cho ông bị thương.
Rồi nhà tiên tri đi và đứng bên đường đợi vua đi qua. Ông lấy vải che mặt để giả dạng.
Khi vua đi ngang qua, ông kêu la với vua rằng: “Đầy tớ của bệ hạ đang ở giữa chiến trận thì có người dẫn đến một tù binh, và bảo: ‘Hãy canh giữ người nầy, nếu để nó chạy thoát thì mạng anh phải đền mạng nó, hoặc anh phải đền ba mươi ký bạc.’
Nhưng trong khi đầy tớ của bệ hạ đang bận việc nầy việc nọ thì tên tù binh trốn mất.” Vua Y-sơ-ra-ên liền nói với người ấy: “Đó là án phạt của ngươi, chính ngươi đã tuyên án cho mình.”
Lập tức người ấy vén tấm vải che mặt mình lên, và vua Y-sơ-ra-ên nhận ra đó là một trong các nhà tiên tri.
Nhà tiên tri nói: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Vì con đã để thoát khỏi tay mình kẻ mà Ta đã định phải bị tận diệt, nên mạng con phải đền mạng nó và dân con thế cho dân nó.’”
Vua Y-sơ-ra-ên trở về cung điện tại Sa-ma-ri, cảm thấy buồn rầu và tức giận.
Sau các việc ấy, có chuyện nầy xảy ra cho Na-bốt, người Gít-rê-ên. Ông có một vườn nho ở Gít-rê-ên, gần cung điện của A-háp, vua Sa-ma-ri.
A-háp nói với Na-bốt: “Hãy nhượng vườn nho của ngươi cho trẫm để trẫm làm vườn rau, vì nó ở gần cung điện trẫm. Trẫm sẽ đổi cho ngươi một vườn nho tốt hơn; hoặc nếu ngươi muốn, trẫm sẽ trả cho ngươi bằng bạc đúng theo giá của nó.”
Nhưng Na-bốt tâu lại với A-háp: “Đức Giê-hô-va không cho phép tôi nhượng cho bệ hạ di sản của tổ phụ tôi!”
A-háp trở về cung điện, buồn rầu và tức giận, vì lời Na-bốt người Gít-rê-ên đã nói với vua rằng: “Tôi không nhượng cho bệ hạ di sản của tổ phụ tôi.” A-háp nằm trên giường, quay mặt đi, không chịu ăn uống gì.
Hoàng hậu Giê-sa-bên đến gần vua và hỏi: “Sao bệ hạ buồn rầu và không chịu ăn uống như vậy?”
Vua đáp: “Vì trẫm có nói chuyện với Na-bốt người Gít-rê-ên, và bảo: ‘Hãy nhượng cho trẫm vườn nho của ngươi mà lấy bạc, hoặc nếu ngươi muốn, trẫm sẽ đổi cho ngươi một vườn nho khác.’ Nhưng nó trả lời rằng: ‘Tôi không nhượng cho bệ hạ vườn nho của tôi được.’”
Hoàng hậu Giê-sa-bên nói: “Chẳng phải bệ hạ đang cầm quyền trên Y-sơ-ra-ên sao? Hãy dậy, ăn uống và vui lên. Thiếp sẽ tặng bệ hạ vườn nho của Na-bốt, người Gít-rê-ên.”
Giê-sa-bên nhân danh A-háp viết thư, đóng ấn vua, gửi cho các trưởng lão và quý tộc đang cư ngụ cùng thành với Na-bốt.
Trong thư bà viết: “Hãy truyền lễ kiêng ăn, rồi đặt Na-bốt ở hàng đầu dân chúng.
Hãy đặt trước mặt nó hai tên vô lại để chúng tố cáo nó rằng: ‘Ông đã nguyền rủa Đức Chúa Trời và vua,’ rồi đem nó ra ngoài và ném đá cho chết.”
Những người trong thành, tức là các trưởng lão và quý tộc ở đó, đều làm theo lời Giê-sa-bên truyền dặn trong thư đã gửi cho họ.
Họ công bố lễ kiêng ăn và đặt Na-bốt ở hàng đầu dân chúng.
Bấy giờ, hai tên vô lại đến ngồi trước mặt Na-bốt. Hai tên đó cáo gian ông trước mặt dân chúng rằng: “Na-bốt đã nguyền rủa Đức Chúa Trời và vua.” Rồi họ dẫn ông ra ngoài thành và ném đá ông chết.
Họ cho người đến nói với Giê-sa-bên rằng: “Na-bốt đã bị ném đá và chết rồi.”
Khi Giê-sa-bên nghe tin Na-bốt đã bị ném đá và chết rồi, thì nói với A-háp: “Xin bệ hạ đi chiếm vườn nho mà Na-bốt, người Gít-rê-ên, đã từ chối nhượng cho bệ hạ để lấy bạc, đó đi. Vì Na-bốt không còn sống nữa, nó đã chết rồi.”
Vừa nghe tin Na-bốt đã chết, A-háp liền đi xuống vườn nho của Na-bốt, người Gít-rê-ên, để chiếm làm của mình.
Bấy giờ, có lời của Đức Giê-hô-va phán với Ê-li, người Thi-sê-be, rằng:
“Hãy đứng dậy, đi xuống đón A-háp, vua Y-sơ-ra-ên ở Sa-ma-ri. Kìa, nó đang ở trong vườn nho của Na-bốt mà nó vừa chiếm để làm sản nghiệp.
Con nói với A-háp rằng: ‘Đức Giê-hô-va phán: Chẳng phải ngươi đã giết người, rồi bây giờ lại chiếm đoạt sản nghiệp của nó sao?’ Con phải nói tiếp: ‘Đức Giê-hô-va phán: Tại chỗ mà chó đã liếm máu của Na-bốt thì chó cũng sẽ liếm máu của chính ngươi.’”
A-háp nói với Ê-li: “Hỡi kẻ thù của ta, ngươi đã tìm được ta sao?” Ê-li đáp: “Phải, tôi đã tìm được vua, vì vua đã tự bán mình để làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va.
Vì vậy, Ngài phán: ‘Ta sẽ giáng họa trên ngươi. Ta sẽ quét sạch hậu duệ ngươi, tiêu diệt các người nam của nhà A-háp, dù là kẻ nô lệ hay người tự do trong Y-sơ-ra-ên.
Vì ngươi đã chọc giận Ta, xui cho Y-sơ-ra-ên phạm tội, nên Ta sẽ làm cho nhà của ngươi giống như nhà Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, và giống như nhà Ba-ê-sa, con trai A-hi-gia.’
Đức Giê-hô-va cũng phán về Giê-sa-bên rằng: ‘Chó sẽ ăn thịt Giê-sa-bên gần tường thành Gít-rê-ên.
Bất cứ ai thuộc về A-háp chết trong thành sẽ bị chó ăn thịt, còn ai chết ngoài đồng sẽ bị chim trời ăn thịt.’”
Thật, chẳng có ai giống như A-háp, đã tự bán mình làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, vì bị hoàng hậu Giê-sa-bên xúi giục.
Vua đã làm điều rất ghê tởm là thờ các tượng thần như dân A-mô-rít, là dân mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.
Khi nghe những lời nầy, A-háp liền xé áo, khoác áo vải bố, kiêng ăn, nằm quấn bao và tỏ ra hạ mình khiêm tốn.
Bấy giờ, có lời của Đức Giê-hô-va phán với Ê-li, người Thi-sê-be, rằng:
“Con có thấy A-háp đã hạ mình trước mặt Ta như thế nào không? Vì nó đã hạ mình trước mặt Ta nên Ta không giáng họa trong đời nó. Nhưng đến đời con nó, Ta sẽ giáng họa trên nhà nó.”
Suốt ba năm, không có chiến tranh giữa A-ram và Y-sơ-ra-ên.
Nhưng vào năm thứ ba, khi Giô-sa-phát, vua Giu-đa, đến thăm vua Y-sơ-ra-ên,
thì vua Y-sơ-ra-ên nói với quần thần mình rằng: “Các khanh chẳng biết rằng Ra-mốt Ga-la-át thuộc về chúng ta sao? Thế mà chúng ta lại để yên, không lấy lại khỏi tay vua A-ram!”
Rồi vua nói với Giô-sa-phát: “Ngài có muốn cùng tôi đánh Ra-mốt Ga-la-át không?” Giô-sa-phát đáp với vua Y-sơ-ra-ên: “Tôi cũng như ngài, dân tôi cũng như dân của ngài, và ngựa chiến của tôi cũng như ngựa chiến của ngài.”
Tuy nhiên, Giô-sa-phát nói thêm với vua Y-sơ-ra-ên: “Nhưng trước hết, xin ngài cầu hỏi Đức Giê-hô-va.”
Vậy, vua Y-sơ-ra-ên tập hợp các nhà tiên tri lại, khoảng bốn trăm người, và hỏi họ: “Trẫm có nên đi đánh Ra-mốt Ga-la-át không?” Họ tâu: “Nên đi đánh, vì Chúa sẽ phó nó vào tay bệ hạ.”
Nhưng Giô-sa-phát hỏi: “Ở đây còn có nhà tiên tri nào khác của Đức Giê-hô-va để chúng ta cầu hỏi Chúa qua người ấy không?”
Vua Y-sơ-ra-ên đáp với Giô-sa-phát: “Còn có một người, tên là Mi-chê, con của Giêm-la. Chúng ta có thể nhờ ông ấy cầu hỏi Đức Giê-hô-va. Nhưng tôi ghét ông ấy, vì ông ấy chẳng bao giờ nói tiên tri lành về tôi mà chỉ nói toàn là điều dữ.” Giô-sa-phát nói: “Xin ngài đừng nói như vậy.”
Vua Y-sơ-ra-ên gọi một hoạn quan đến và bảo: “Hãy lập tức mời Mi-chê, con của Giêm-la, đến đây.”
Lúc ấy, vua Y-sơ-ra-ên và Giô-sa-phát, vua Giu-đa, mỗi người đang mặc vương bào và ngồi trên ngai trong sân đập lúa, nơi lối vào cổng thành Sa-ma-ri. Tất cả các nhà tiên tri đang nói tiên tri trước mặt hai vua.
Sê-đê-kia, con của Kê-na-na, làm một cặp sừng bằng sắt, và nói: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Với các sừng nầy, con sẽ đánh dân A-ram cho đến khi tiêu diệt chúng.’”
Tất cả các nhà tiên tri đều nói như thế. Họ nói: “Hãy tiến đánh Ra-mốt Ga-la-át, bệ hạ sẽ thắng, vì Đức Giê-hô-va sẽ phó thành ấy vào tay bệ hạ.”
Trong lúc đó, sứ giả đã đi mời Mi-chê nói với ông rằng: “Kìa, các nhà tiên tri đều đồng thanh báo điều lành cho vua. Xin ông cũng nói như họ mà báo điều lành.”
Nhưng Mi-chê đáp: “Tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, tôi sẽ nói điều gì Đức Giê-hô-va phán với tôi.”
Khi Mi-chê đến, vua hỏi ông: “Nầy Mi-chê, chúng ta nên tiến đánh Ra-mốt Ga-la-át, hay chẳng nên đi?” Mi-chê đáp: “Hãy đi, vua sẽ chiến thắng. Đức Giê-hô-va sẽ phó thành ấy vào tay vua.”
Nhưng vua nói với ông: “Đã bao lần trẫm lấy lời thề buộc ngươi chỉ được nhân danh Đức Giê-hô-va mà nói thật với trẫm.”
Bấy giờ, Mi-chê nói: “Tôi thấy toàn dân Y-sơ-ra-ên bị tản lạc trên các núi, như bầy chiên không có người chăn; và Đức Giê-hô-va phán: ‘Những người ấy không có chủ, ai nấy hãy trở về nhà mình bình an.’”
Vua Y-sơ-ra-ên nói với Giô-sa-phát: “Chẳng phải tôi đã nói với ngài rằng người nầy không bao giờ tiên báo điều lành cho tôi mà chỉ toàn nói điều dữ đó sao?”
Mi-chê lại nói tiếp: “Vậy, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va: Tôi thấy Đức Giê-hô-va ngự trên ngai, và toàn thể thiên binh đứng chầu bên phải và bên trái của Ngài.
Đức Giê-hô-va phán hỏi: ‘Ai sẽ đi dụ A-háp để nó tiến đánh Ra-mốt Ga-la-át và ngã chết tại đó?’ Người trả lời cách nầy, kẻ trả lời cách khác.
Bấy giờ, có một thần ra đứng trước mặt Đức Giê-hô-va mà thưa rằng: ‘Tôi sẽ đi dụ ông ấy.’ Đức Giê-hô-va hỏi: ‘Dụ cách nào?’
Thần ấy thưa: ‘Tôi sẽ đi và làm một thần nói dối trong miệng những nhà tiên tri của ông ấy.’ Đức Giê-hô-va phán: ‘Phải, ngươi sẽ dụ nó được. Hãy đi và làm như ngươi đã nói.’
Vậy bây giờ, kìa, Đức Giê-hô-va đã đặt một thần nói dối trong miệng các nhà tiên tri của vua, vì Đức Giê-hô-va đã định giáng họa cho vua.”
Bấy giờ, Sê-đê-kia, con của Kê-na-na, đến gần tát vào má của Mi-chê và hỏi: “Bằng cách nào Thần của Đức Giê-hô-va đã lìa khỏi tôi để đến nói với ông?”
Mi-chê đáp: “Ông sẽ biết điều đó trong ngày ông chạy từ phòng nầy đến phòng kia để lẩn trốn.”
Vua Y-sơ-ra-ên ra lệnh: “Hãy bắt Mi-chê giao cho thị trưởng A-môn và hoàng tử Giô-ách,
và dặn họ: ‘Vua bảo: Hãy bỏ tù người nầy, chỉ nuôi nó bằng bánh và nước đủ sống cầm hơi, cho đến khi trẫm trở về bình an.’”
Mi-chê nói: “Nếu vua trở về bình an thì Đức Giê-hô-va đã không phán qua tôi.” Ông lại nói tiếp: “Tất cả mọi người hãy nghe những lời tôi vừa nói!”
Thế rồi, vua Y-sơ-ra-ên cùng với Giô-sa-phát, vua Giu-đa lên đánh Ra-mốt Ga-la-át.
Vua Y-sơ-ra-ên nói với Giô-sa-phát: “Tôi sẽ cải trang và ra trận, còn ngài cứ mặc vương bào.” Như vậy, vua Y-sơ-ra-ên cải trang mà ra trận.
Lúc bấy giờ, vua A-ram đã ra lệnh cho ba mươi hai quan chỉ huy chiến xa rằng: “Các khanh đừng đánh ai, dù lớn hay nhỏ, nhưng chỉ đánh giết một mình vua Y-sơ-ra-ên mà thôi.”
Vì vậy, khi các quan chỉ huy chiến xa thấy Giô-sa-phát thì nói rằng: “Đúng là vua Y-sơ-ra-ên đây rồi.” Vì thế, chúng quay sang tấn công ông, nhưng Giô-sa-phát kêu thét lên.
Khi các quan chỉ huy chiến xa thấy không phải là vua Y-sơ-ra-ên thì dừng lại, không đuổi theo nữa.
Bấy giờ, có một người tình cờ giương cung bắn trúng vua Y-sơ-ra-ên, ngay chỗ nối của áo giáp. Vua nói với người đánh xe của mình rằng: “Hãy quay cương lại, đưa trẫm ra khỏi trận địa, vì trẫm bị thương nặng.”
Nhưng trận chiến hôm đó trở nên ác liệt, cho nên phải có người đỡ vua đứng trong xe để chiến đấu với quân A-ram. Đến chiều tối thì vua chết, máu từ vết thương chảy xuống cả sàn xe.
Lúc mặt trời lặn, có lời loan báo khắp trại quân rằng: “Ai nấy hãy trở về thành và xứ mình.”
Vậy vua băng hà, xác vua được đem về Sa-ma-ri và chôn cất tại đó.
Người ta rửa xe của vua tại ao Sa-ma-ri, là nơi những gái mại dâm thường tắm; và chó đến liếm máu vua, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán.
Các việc khác của A-háp, những công trình vua thực hiện, gồm cung điện được trang trí bằng ngà, và các thành vua xây cất, đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.
A-háp an giấc cùng tổ phụ mình. Con của vua là A-cha-xia lên ngôi kế vị.
Vào năm thứ tư đời A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, thì Giô-sa-phát, con trai A-sa, lên làm vua Giu-đa.
Giô-sa-phát lên ngôi vua lúc ba mươi lăm tuổi, và trị vì hai mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là A-xu-ba, con gái của Si-chi.
Vua đi theo đường lối của vua cha là A-sa, không hề sai lệch. Vua làm điều thiện dưới mắt Đức Giê-hô-va.
Nhưng vua không phá bỏ các nơi cao, dân chúng vẫn còn dâng sinh tế và đốt hương trên các nơi cao đó.
Giô-sa-phát giao hảo với vua Y-sơ-ra-ên.
Các việc khác của Giô-sa-phát, thế lực của vua, những cuộc chiến vua tham dự, đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa.
Vua quét sạch khỏi xứ bọn mại dâm nam trong các miếu thờ còn lại từ thời A-sa, cha mình.
Lúc ấy, ở Ê-đôm không có vua, chỉ có một quan tổng đốc cai trị.
Giô-sa-phát đóng một đoàn tàu Ta-rê-si để đi Ô-phia chở vàng, nhưng không đến đó được, vì tàu bị vỡ tại Ê-xi-ôn Ghê-be.
A-cha-xia, con của A-háp, nói với Giô-sa-phát: “Xin cho các đầy tớ tôi đi tàu với các đầy tớ ngài.” Nhưng Giô-sa-phát không đồng ý.
Giô-sa-phát an giấc cùng các tổ phụ và được chôn với họ trong thành Đa-vít, tổ phụ vua. Giô-ram, con trai vua, lên ngôi kế vị.
Vào năm thứ bảy đời Giô-sa-phát, vua Giu-đa, thì A-cha-xia, con trai A-háp, lên ngôi làm vua Y-sơ-ra-ên và cai trị hai năm tại Sa-ma-ri.
Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, đi theo đường lối của cha mẹ mình, và theo đường lối của Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, là người khiến cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
Vua phục vụ và thờ lạy Ba-anh, chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, như cha vua đã làm.
Sau khi A-háp băng hà, người Mô-áp nổi lên chống lại Y-sơ-ra-ên.
Vua A-cha-xia té ngang qua lan can trên lầu của mình tại Sa-ma-ri và ngã bệnh. Vua sai sứ giả đi và dặn rằng: “Hãy đi cầu vấn Ba-anh Xê-bụt, thần của Éc-rôn, để xem ta có thể qua khỏi bệnh nầy không?”
Nhưng thiên sứ của Đức Giê-hô-va phán với Ê-li, người Thi-sê-be: “Hãy trỗi dậy, đi lên đón các sứ giả của vua Sa-ma-ri, và nói với họ: ‘Trong Y-sơ-ra-ên không có Đức Chúa Trời hay sao mà các ngươi đi cầu vấn Ba-anh Xê-bụt, thần của Éc-rôn?’
Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Ngươi sẽ không xuống khỏi giường mà ngươi đã nằm, nhưng ngươi chắc chắn sẽ chết.’” Ê-li vâng lời ra đi.
Khi các sứ giả trở về với A-cha-xia, vua hỏi họ: “Tại sao các ngươi trở về?”
Họ đáp: “Có một người đi lên, gặp chúng tôi và nói: ‘Hãy trở về với vua đã sai các ngươi và nói với vua rằng Đức Giê-hô-va phán: Trong Y-sơ-ra-ên không có Đức Chúa Trời hay sao mà ngươi sai sứ giả đi cầu vấn Ba-anh Xê-bụt, thần của Éc-rôn? Vì thế, ngươi sẽ không xuống khỏi giường mà ngươi đã nằm, nhưng ngươi chắc chắn sẽ chết.’”
Vua hỏi họ: “Người đi lên, gặp các ngươi và nói những lời ấy trông như thế nào?”
Họ đáp: “Người ấy mặc áo lông và thắt lưng bằng dây da.” Vua nói: “Đó là Ê-li, người Thi-sê-be.”
Vua sai một viên quan chỉ huy năm mươi quân đem năm mươi quân của mình đi lên gặp Ê-li. Lúc ấy, Ê-li đang ngồi trên một đỉnh đồi. Viên quan nói với ông: “Hỡi người của Đức Chúa Trời, vua bảo ông: ‘Hãy xuống!’”
Nhưng Ê-li trả lời với quan chỉ huy năm mươi quân: “Nếu ta là người của Đức Chúa Trời, nguyện lửa từ trời giáng xuống thiêu hủy ngươi cùng với năm mươi quân của ngươi!” Lửa từ trời liền giáng xuống thiêu hủy viên quan ấy và năm mươi quân của ông ta.
Vua lại sai một viên quan chỉ huy năm mươi quân khác đem năm mươi quân đi lên gặp Ê-li. Viên quan nầy nói với Ê-li: “Hỡi người của Đức Chúa Trời, vua truyền cho ông: ‘Hãy xuống ngay!’”
Nhưng Ê-li trả lời: “Nếu ta là người của Đức Chúa Trời, nguyện lửa từ trời giáng xuống thiêu hủy ngươi cùng với năm mươi quân của ngươi!” Lửa của Đức Chúa Trời từ trời liền giáng xuống thiêu hủy viên quan ấy và năm mươi quân của ông ta.
Vua lại sai viên quan chỉ huy năm mươi quân thứ ba đem năm mươi quân đi. Viên quan nầy đi lên, và khi đến nơi thì quỳ xuống trước mặt Ê-li, khẩn khoản: “Hỡi người của Đức Chúa Trời, xin ông quý trọng mạng sống của tôi và mạng sống của năm mươi người nầy, là những đầy tớ của ông.
Kìa, lửa từ trời đã giáng xuống thiêu hủy hai quan trước cùng với các toán năm mươi quân của họ. Nhưng bây giờ, xin ông quý trọng mạng sống tôi.”
Thiên sứ của Đức Giê-hô-va nói với Ê-li: “Hãy đi xuống với người nầy, đừng sợ gì cả.” Vậy, Ê-li liền đi xuống với viên quan nầy để gặp vua.
Ông nói với vua: “Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Có phải trong Y-sơ-ra-ên không có Đức Chúa Trời để cầu vấn hay sao mà ngươi sai sứ giả đến cầu vấn Ba-anh Xê-bụt, thần của Éc-rôn? Vì thế, ngươi sẽ không xuống khỏi giường mà ngươi đã nằm, vì ngươi chắc chắn sẽ chết.’”
Vậy, A-cha-xia qua đời đúng như lời Đức Giê-hô-va đã dùng Ê-li tuyên phán. Vì A-cha-xia không có con trai nên Giô-ram lên ngai kế vị vào năm thứ nhì của Giô-ram, con Giô-sa-phát, vua Giu-đa.
Các việc khác mà A-cha-xia đã làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.
Khi Đức Giê-hô-va sắp đem Ê-li lên trời trong một cơn gió lốc, Ê-li và Ê-li-sê rời Ghinh-ganh.
Ê-li nói với Ê-li-sê: “Hãy ở lại đây, vì Đức Giê-hô-va sai ta đi đến Bê-tên.” Nhưng Ê-li-sê thưa: “Con chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống và chỉ mạng sống thầy mà thề, con không rời khỏi thầy đâu.” Vậy, họ đi xuống Bê-tên.
Môn đồ của các nhà tiên tri ở Bê-tên đến hỏi Ê-li-sê: “Anh có biết rằng ngày nay Đức Giê-hô-va sẽ đem thầy của anh lên khỏi anh chăng?” Ông đáp: “Tôi biết chứ! Các anh hãy im lặng.”
Ê-li lại nói với Ê-li-sê: “Nầy Ê-li-sê, hãy ở lại đây, vì Đức Giê-hô-va sai ta đi đến Giê-ri-cô.” Nhưng Ê-li-sê đáp: “Con chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống và chỉ mạng sống thầy mà thề, con không rời khỏi thầy đâu.” Vậy, họ đi đến Giê-ri-cô.
Môn đồ của các nhà tiên tri ở Giê-ri-cô đến gần Ê-li-sê, và hỏi: “Anh có biết rằng ngày nay Đức Giê-hô-va sẽ đem thầy của anh lên khỏi anh chăng?” Ông đáp: “Tôi biết chứ! Các anh hãy im lặng.”
Ê-li nói với Ê-li-sê: “Hãy ở lại đây, vì Đức Giê-hô-va sai ta đi đến Giô-đanh.” Nhưng Ê-li-sê thưa: “Con chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống và chỉ mạng sống thầy mà thề, con không rời khỏi thầy đâu.” Vậy hai người tiếp tục đi.
Có năm mươi người trong số môn đồ của các nhà tiên tri đi theo, đứng ở đằng xa, đối diện nơi Ê-li và Ê-li-sê đang đứng bên bờ sông Giô-đanh.
Ê-li lấy áo choàng của mình, cuộn lại và đập xuống nước. Nước sông rẽ ra hai bên, và hai người đi ngang qua trên đất khô.
Khi đã qua sông, Ê-li nói với Ê-li-sê: “Hãy xin điều con muốn ta làm cho con, trước khi ta được đem lên khỏi con.” Ê-li-sê thưa: “Xin thần của thầy giáng trên con gấp đôi.”
Ê-li nói: “Con xin một điều khó. Nhưng nếu con thấy ta lúc được đem lên khỏi con thì sẽ được như thế; nếu không, thì không được.”
Trong khi họ vừa đi vừa nói chuyện với nhau, kìa, có một chiếc xe bằng lửa và các ngựa lửa phân rẽ hai người, rồi Ê-li lên trời trong một cơn gió lốc.
Ê-li-sê nhìn thấy thì kêu lên: “Cha của con ơi! Cha của con ơi! Xe và ngựa chiến của Y-sơ-ra-ên!” Rồi ông không còn thấy thầy mình nữa. Ông nắm áo mình xé ra làm hai mảnh.
Ê-li-sê nhặt lấy chiếc áo choàng từ Ê-li rơi xuống. Ông trở về và đứng bên bờ sông Giô-đanh.
Rồi ông lấy chiếc áo choàng từ Ê-li rơi xuống, đập xuống nước và nói: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Ê-li ở đâu?” Khi Ê-li-sê đập xuống nước giống như Ê-li thì nước liền rẽ ra hai bên, và ông đi ngang qua.
Khi môn đồ của các nhà tiên tri ở Giê-ri-cô thấy Ê-li-sê từ đằng xa thì nói: “Thần của Ê-li ngự trên Ê-li-sê.” Họ đến đón ông, sấp mình xuống đất trước mặt ông
và nói: “Nầy, trong số các đầy tớ của ông có năm mươi người lực lưỡng. Xin cho họ đi tìm thầy của ông. Có lẽ Thần của Đức Giê-hô-va đem người lên rồi đặt trên một ngọn núi hoặc trong một thung lũng nào chăng?” Ê-li-sê đáp: “Đừng sai họ đi.”
Nhưng họ cố nài nỉ mãi đến nỗi ông miễn cưỡng nói: “Hãy sai họ đi đi!” Họ liền sai năm mươi người đi tìm kiếm suốt ba ngày, nhưng chẳng tìm thấy Ê-li.
Khi họ trở về, Ê-li-sê vẫn ở tại Giê-ri-cô. Ông nói với họ: “Chẳng phải tôi đã bảo các anh đừng đi đó sao?”
Dân trong thành nói với Ê-li-sê: “Như chúa đã thấy, địa thế của thành thì tốt, nhưng nước thì độc và đất thì không sinh hoa màu.”
Ông bảo: “Hãy đem cho tôi một cái bát mới và bỏ muối vào đó.” Vậy họ đem bát muối đến cho ông.
Ông đi đến nguồn nước, đổ muối xuống và nói: “Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Ta đã chữa lành nguồn nước nầy, nó sẽ không còn gây chết chóc hoặc làm cho đất không sinh hoa màu nữa.’”
Vậy, nước ấy hóa lành cho đến ngày nay, như lời Ê-li-sê đã nói.
Từ đó, Ê-li-sê đi lên Bê-tên. Ông đang đi dọc đường thì có bọn trẻ con trong thành kéo ra chế nhạo ông rằng: “Lão hói đầu, hãy lên! Lão hói đầu, hãy lên!”
Ông quay lại nhìn và nhân danh Đức Giê-hô-va mà nguyền rủa chúng. Lập tức có hai con gấu cái từ trong rừng đi ra, vồ xé bốn mươi hai đứa trong bọn chúng.
Từ đó, Ê-li-sê đến núi Cạt-mên, rồi trở về Sa-ma-ri.
Vào năm thứ mười tám đời trị vì của Giô-sa-phát, vua Giu-đa, thì Giô-ram, con vua A-háp, lên làm vua Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri và cai trị mười hai năm.
Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, nhưng không giống như cha và mẹ mình, vì vua đã dẹp bỏ trụ đá thờ thần Ba-anh mà vua cha đã dựng lên.
Dù vậy, vua vẫn bám lấy tội của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội. Vua không chịu từ bỏ tội ấy.
Lúc ấy Mê-sa, vua Mô-áp nuôi nhiều chiên và phải cống nộp cho vua Y-sơ-ra-ên một trăm nghìn chiên con, và lông của một trăm nghìn chiên đực.
Sau khi vua A-háp qua đời, vua Mô-áp lại nổi lên chống vua Y-sơ-ra-ên.
Bấy giờ, vua Giô-ram từ Sa-ma-ri đi ra, huy động toàn thể Y-sơ-ra-ên.
Vua cũng sai sứ báo với Giô-sa-phát, vua Giu-đa, rằng: “Vua Mô-áp đã nổi lên chống lại tôi, ngài có muốn cùng tôi đi đánh Mô-áp không?” Vua Giô-sa-phát đáp: “Tôi sẽ đi lên. Tôi như ngài, dân của tôi như dân của ngài, ngựa chiến của tôi như ngựa chiến của ngài.”
Rồi vua hỏi: “Chúng ta sẽ đi lên theo đường nào?” Giô-ram đáp: “Theo con đường của hoang mạc Ê-đôm.”
Vậy, vua Y-sơ-ra-ên, vua Giu-đa và vua Ê-đôm cùng kéo quân ra. Họ đi vòng bảy ngày đường, không còn nước cho quân lính và súc vật đi theo nữa.
Vua Y-sơ-ra-ên nói: “Than ôi! Đức Giê-hô-va đã gọi ba vua nầy đến để nộp họ vào tay người Mô-áp!”
Nhưng Giô-sa-phát hỏi: “Ở đây không có nhà tiên tri nào của Đức Giê-hô-va để nhờ người mà chúng ta cầu hỏi Đức Giê-hô-va sao?” Một đầy tớ của vua Y-sơ-ra-ên đáp: “Ở đây có Ê-li-sê, con của Sa-phát, là người đã phục vụ Ê-li.”
Giô-sa-phát nói: “Ông ấy có lời của Đức Giê-hô-va.” Vậy, vua Y-sơ-ra-ên, Giô-sa-phát, và vua Ê-đôm đi xuống gặp Ê-li-sê.
Ê-li-sê nói với vua Y-sơ-ra-ên: “Tôi với vua có can hệ gì chăng? Hãy đến cầu vấn các nhà tiên tri của vua cha và thái hậu đi.” Nhưng vua Y-sơ-ra-ên đáp: “Không đâu. Vì Đức Giê-hô-va đã gọi ba vua chúng tôi đến để nộp vào tay người Mô-áp.”
Ê-li-sê nói: “Trước mặt Đức Giê-hô-va vạn quân hằng sống, là Đấng tôi phụng sự, tôi thề rằng, nếu không kính nể Giô-sa-phát, vua Giu-đa, thì tôi chẳng xem vua ra gì và cũng không nhìn mặt vua nữa.
Nhưng bây giờ, hãy đem đến cho tôi một người gảy đàn.” Mỗi khi người ấy gảy đàn thì tay của Đức Giê-hô-va ở trên Ê-li-sê.
Ông nói: “Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Hãy đào thật nhiều hầm hố khắp thung lũng nầy.’
Vì Đức Giê-hô-va phán: ‘Các ngươi sẽ không thấy gió, cũng chẳng thấy mưa, thế mà thung lũng nầy sẽ đầy nước để cho các ngươi, bầy chiên, cùng súc vật của các ngươi, đều sẽ được uống nước.’
Nhưng đây chỉ là việc nhỏ dưới mắt Đức Giê-hô-va. Ngài lại sẽ phó dân Mô-áp vào tay các ngươi.
Các ngươi sẽ triệt hạ tất cả những thành kiên cố và tất cả những thành phố quan trọng, sẽ đốn ngã tất cả cây cối tốt tươi, chận mọi nguồn nước, và lấy đá phá hủy mọi đồng ruộng phì nhiêu.”
Sáng hôm sau, vào giờ dâng tế lễ thì nước từ hướng Ê-đôm chảy đến, và toàn xứ tràn đầy nước.
Khi toàn dân Mô-áp nghe tin các vua ấy kéo quân lên đánh chúng thì tất cả những người đến tuổi có thể mang vũ khí trở lên đều được gọi nhập ngũ, và đóng ở biên giới.
Khi người Mô-áp thức dậy lúc sáng sớm, ánh sáng mặt trời chiếu vào nước, họ thấy nước trước mặt mình đỏ như máu,
nên bảo nhau: “Ấy là máu! Chắc ba vua kia đã đánh nhau, và chém giết lẫn nhau. Bây giờ, hỡi người Mô-áp! Hãy đi cướp chiến lợi phẩm.”
Nhưng khi chúng đến trại quân Y-sơ-ra-ên thì người Y-sơ-ra-ên vùng dậy, tấn công người Mô-áp, khiến chúng bỏ chạy trước mặt họ. Quân Y-sơ-ra-ên tiến vào xứ, đánh giết quân Mô-áp.
Họ phá hủy các thành, ai nấy lấy đá liệng vào lấp các đồng ruộng phì nhiêu, chận các nguồn nước, và đốn ngã những cây cối tốt tươi. Tại Kiệt Ha-rê-xết chỉ còn lại những đống gạch vụn vì quân bắn đá đã bao vây và đánh phá thành.
Khi vua Mô-áp thấy mình không thể chống cự nổi thì đem theo bảy trăm người cầm gươm, định tiến đánh vua Ê-đôm để thoát thân, nhưng không được.
Khi ấy, vua Mô-áp liền bắt con trai đầu lòng, là người sẽ lên ngai kế vị mình, dâng làm tế lễ thiêu trên vách thành. Người Y-sơ-ra-ên cảm thấy quá kinh khiếp, nên họ rút lui và trở về xứ mình.
Lúc ấy, có vợ của một trong số môn đồ của các nhà tiên tri kêu cứu với Ê-li-sê: “Chồng tôi là đầy tớ ông đã qua đời, và ông biết rằng đầy tớ ông kính sợ Đức Giê-hô-va. Bây giờ, chủ nợ đến đòi bắt hai đứa con tôi làm nô lệ.”
Ê-li-sê nói với bà: “Tôi có thể giúp gì cho bà đây? Xin cho tôi biết, trong nhà bà còn có gì không?” Bà thưa: “Tớ gái ông chẳng còn gì trong nhà, trừ một bình dầu nhỏ.”
Ông bảo: “Hãy đi mượn thật nhiều bình không của những người láng giềng, đừng mượn ít.
Khi trở về, bà và các con hãy vào nhà, đóng cửa lại, rồi đổ dầu vào tất cả các bình đó; bình nào đầy thì để riêng ra.”
Bà từ giã nhà tiên tri. Sau đó, bà và các con mình vào nhà, đóng cửa lại. Chúng đem bình đến để bà rót dầu vào.
Khi các bình đều đầy dầu, bà bảo con: “Đem cho mẹ một bình nữa.” Nhưng nó đáp: “Không còn bình nào nữa cả.” Dầu liền ngừng lại.
Bấy giờ, bà đến trình cho người của Đức Chúa Trời. Ông nói: “Hãy đem dầu đi bán mà trả nợ, rồi bà và các con sẽ sinh sống với số dầu còn lại.”
Một ngày kia, Ê-li-sê đi ngang qua Su-nem. Ở đó có một phụ nữ giàu có, và bà ấy cố mời ông ở lại dùng bữa. Từ đó, mỗi khi đi ngang qua đây ông đều ghé vào nhà bà nầy để dùng bữa.
Bà ấy nói với chồng: “Nầy ông, tôi biết người vẫn thường ghé lại nhà chúng ta là một người thánh của Đức Chúa Trời.
Chúng ta hãy xây cho người một căn phòng nhỏ trên sân thượng, có tường hẳn hoi; rồi đặt tại đó một cái giường, một cái bàn, một cái ghế, và một cây đèn. Như thế, mỗi khi người đến nhà ta thì sẽ ở lại đó.”
Một hôm, Ê-li-sê đến Su-nem, lên phòng cao và nghỉ tại đó.
Ông nói với Ghê-ha-xi, đầy tớ mình: “Hãy gọi người phụ nữ Su-nem đến đây.” Ghê-ha-xi đi gọi bà, và bà đến đứng trước mặt anh ta.
Ê-li-sê nói với đầy tớ mình: “Hãy nói với bà ấy: ‘Kìa, bà đã cực nhọc lo liệu cho chúng tôi mọi điều nầy. Vậy, chúng tôi phải làm gì cho bà đây? Bà có cần chúng tôi nói giùm với vua hoặc với tướng chỉ huy quân đội điều gì chăng?’” Bà đáp: “Tôi vẫn sống bình thường giữa đồng bào tôi.”
Ê-li-sê lại hỏi: “Vậy, chúng ta phải làm gì cho bà ấy đây?” Ghê-ha-xi đáp: “Tội nghiệp, bà ấy không có con trai, mà chồng bà thì đã già rồi.”
Ê-li-sê nói: “Hãy đi gọi bà ấy.” Ghê-ha-xi đi gọi bà, và bà đến đứng ngoài cửa.
Ê-li-sê nói với bà ấy: “Năm tới, vào lúc nầy, bà sẽ ẵm một đứa con trai.” Bà đáp: “Không đâu, thưa chúa là người của Đức Chúa Trời! Xin đừng nói dối với tớ gái ngài.”
Quả nhiên, bà ấy thụ thai; và năm sau, bà sinh một đứa con trai, đúng vào lúc mà Ê-li-sê đã nói trước cho bà.
Đứa trẻ lớn lên. Một hôm, nó đến cha nó đang ở giữa những thợ gặt
mà nói rằng: “Con nhức đầu! Con nhức đầu!” Người cha bảo đầy tớ: “Hãy đem nó về cho mẹ nó.”
Người đầy tớ đem nó về giao cho mẹ nó. Đứa trẻ ngồi trên đầu gối của mẹ cho đến trưa thì chết.
Bà đem nó lên đặt nằm trên giường của người Đức Chúa Trời, rồi đi ra và đóng cửa lại.
Sau đó, bà gọi chồng bà và nói: “Xin ông cắt cho tôi một đứa đầy tớ và một con lừa cái, để tôi chạy đến người của Đức Chúa Trời, rồi tôi sẽ trở về.”
Chồng bà hỏi: “Hôm nay không phải là ngày mồng một, cũng không phải là ngày sa-bát. Vậy, tại sao bà lại đi gặp người ấy?” Bà đáp: “Ông cứ yên tâm!”
Bà bảo thắng lừa và dặn người đầy tớ: “Hãy thúc lừa đi nhanh, chỉ khi nào tôi bảo thì mới dừng lại.”
Vậy, bà lên đường đến với người của Đức Chúa Trời trên núi Cạt-mên. Người của Đức Chúa Trời thấy bà từ xa thì nói với Ghê-ha-xi, đầy tớ mình: “Kìa, người đàn bà Su-nem đến!
Hãy chạy đi đón và hỏi bà ấy: ‘Bà có bình an chăng? Chồng bà và đứa trẻ có bình an chăng?’” Bà đáp: “Bình an.”
Khi bà đến gặp người của Đức Chúa Trời trên núi thì ôm lấy chân ông. Ghê-ha-xi đến gần để đẩy bà ra, nhưng người của Đức Chúa Trời nói: “Hãy để mặc bà ấy, vì tâm hồn bà cay đắng lắm. Đức Giê-hô-va đã giấu ta điều đó, và không cho ta biết.”
Lúc ấy, bà nói: “Thưa chúa, tôi có cầu xin một đứa con trai đâu? Chẳng phải tôi đã nói: ‘Xin đừng nói dối tôi’ đó sao?”
Ê-li-sê nói với Ghê-ha-xi: “Hãy thắt lưng, cầm gậy của ta trong tay và đi. Dọc đường nếu con gặp ai thì đừng chào; nếu có ai chào con thì đừng đáp lại. Con sẽ đặt cây gậy của ta trên mặt đứa trẻ.”
Nhưng mẹ của đứa trẻ nói: “Tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống, và chỉ mạng sống của ông mà thề rằng tôi sẽ không rời khỏi ông!” Vậy, Ê-li-sê trỗi dậy và đi theo bà.
Ghê-ha-xi đi trước hai người, và đặt cây gậy trên mặt đứa trẻ, nhưng không nghe tiếng, cũng không thấy động đậy gì. Anh ta trở lại đón Ê-li-sê, và thưa với ông: “Đứa trẻ không tỉnh lại.”
Khi Ê-li-sê vào nhà thì thấy đứa trẻ đã chết, nằm trên giường của ông.
Ê-li-sê vào trong phòng, đóng cửa lại, chỉ có ông và đứa trẻ ở trong, rồi ông cầu nguyện với Đức Giê-hô-va.
Sau đó, ông lên giường nằm sấp trên đứa trẻ, đặt miệng mình trên miệng nó, mắt mình trên mắt nó, và tay mình trên tay nó. Khi ông nằm ấp trên mình đứa trẻ như vậy thì cơ thể nó ấm trở lại.
Ê-li-sê bước xuống, đi qua đi lại trong phòng; rồi lại lên giường, nằm ấp trên mình đứa trẻ lần nữa. Cuối cùng, đứa trẻ hắt hơi bảy lần, và mở mắt ra.
Ê-li-sê gọi Ghê-ha-xi và bảo: “Hãy đi gọi người đàn bà Su-nem.” Ghê-ha-xi đi gọi bà. Khi bà ấy đến, Ê-li-sê nói với bà: “Hãy ẵm lấy con bà!”
Bà đến, sấp mình xuống dưới chân ông và lạy; rồi bà ẵm con mình và đi ra.
Ê-li-sê trở về Ghinh-ganh. Lúc ấy, trong xứ đang có nạn đói. Môn đồ của các nhà tiên tri đang ngồi trước mặt Ê-li-sê. Ông bảo người đầy tớ: “Hãy lấy nồi lớn nấu canh cho môn đồ của các nhà tiên tri ăn.”
Một người trong số họ đi ra ngoài đồng để hái rau, thấy một dây rừng leo giống như nho dại thì hái những dưa dại ấy, bọc đầy vạt áo mình. Khi người ấy trở về, xắt ra từng miếng, bỏ vào nồi canh mà chẳng hề biết đó là trái gì.
Người ta múc canh cho mọi người ăn. Nhưng khi họ vừa ăn canh ấy thì la lên: “Hỡi người của Đức Chúa Trời, nồi canh nầy có chất độc chết người!” Và họ không thể ăn được.
Ê-li-sê bảo: “Hãy đem bột lại đây!” Ông bỏ bột vào nồi canh và bảo: “Hãy múc ra cho mọi người ăn.” Vậy, nồi canh không còn độc nữa.
Có một người từ Ba-anh Sa-li-sa đến, đem cho người của Đức Chúa Trời bánh làm từ trái đầu mùa, gồm hai mươi ổ bánh lúa mạch, và lúa còn gié để trong bị của mình. Ê-li-sê bảo: “Hãy phát cho mọi người ăn.”
Người đầy tớ thưa: “Chỉ có chừng ấy thì làm sao con có thể phát cho một trăm người ăn?” Nhưng Ê-li-sê nói: “Hãy phát các bánh đó cho họ ăn đi, vì Đức Giê-hô-va phán: ‘Người ta sẽ ăn và còn thừa lại.’”
Vậy, người đầy tớ phát các bánh đó cho mọi người. Họ ăn và còn thừa lại, đúng như lời của Đức Giê-hô-va đã phán.
Na-a-man, tướng chỉ huy quân đội của vua A-ram, là một người có quyền thế và rất được tôn trọng trước mặt chủ mình, vì qua ông, Đức Giê-hô-va ban chiến thắng cho dân A-ram. Tuy là một chiến sĩ dũng cảm, nhưng Na-a-man lại mắc bệnh phong hủi.
Lúc ấy, các toán quân đột kích của A-ram đi ra và bắt một thiếu nữ từ đất Y-sơ-ra-ên đem về làm tớ gái cho vợ Na-a-man.
Một hôm, nó nói với bà chủ: “Ôi, phải chi ông chủ con đi đến với ông tiên tri ở Sa-ma-ri! Ông ấy sẽ chữa cho ông chủ khỏi bệnh phong hủi.”
Na-a-man đem các lời nầy thuật lại cho chúa mình rằng: “Đứa tớ gái Y-sơ-ra-ên có nói thế nầy, thế nầy.”
Vua A-ram nói: “Thế thì ngươi hãy đi, ta sẽ gửi thư cho vua Y-sơ-ra-ên.” Vậy, Na-a-man đi, đem theo ba trăm ký bạc, sáu nghìn đồng vàng, và mười bộ quần áo.
Ông đem bức thư trình cho vua Y-sơ-ra-ên. Thư viết rằng: “Cùng với bức thư gửi đến ngài đây, tôi đã sai Na-a-man, là cận thần của tôi, đến với ngài để ngài chữa cho người khỏi bệnh phong hủi.”
Khi vua Y-sơ-ra-ên đọc thư xong, liền xé áo mình và nói: “Ông ấy sai người đến với ta để ta chữa cho khỏi bệnh phong hủi. Ta đâu phải là Đức Chúa Trời, có quyền làm sống làm chết? Các ngươi phải biết và thấy rằng ông ấy kiếm cớ gây hấn với ta.”
Khi Ê-li-sê, người của Đức Chúa Trời, nghe rằng vua Y-sơ-ra-ên đã xé áo mình, thì sai người nói với vua: “Tại sao vua phải xé áo? Hãy bảo Na-a-man đến với tôi thì ông ấy sẽ biết rằng trong Y-sơ-ra-ên có nhà tiên tri.”
Vậy Na-a-man với ngựa và xe đến dừng trước cửa nhà Ê-li-sê.
Ê-li-sê sai một sứ giả nói với ông: “Hãy đi tắm bảy lần dưới sông Giô-đanh thì da thịt ông sẽ lành, và ông sẽ được sạch.”
Nhưng Na-a-man nổi giận, bỏ đi và nói: “Ta nghĩ rằng chính ông ấy sẽ đi ra đón ta, đứng gần mà cầu khẩn danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông ấy, đưa tay qua lại trên chỗ bệnh và chữa lành cho ta.
Hai sông ở Đa-mách là A-ba-na và Bạt-ba chẳng tốt hơn nước sông ở Y-sơ-ra-ên sao? Ta không thể tắm ở đó để được sạch sao?” Vậy ông quay lưng lại và giận dữ bỏ đi.
Nhưng các đầy tớ đến gần ông, và nói: “Cha ơi, nếu nhà tiên tri truyền bảo cha một việc khó, cha chẳng làm sao? Huống chi nay ông ấy chỉ bảo cha rằng: ‘Hãy tắm thì được sạch!’”
Vậy, ông xuống sông Giô-đanh tắm bảy lần theo như lời của người Đức Chúa Trời. Ông liền được sạch và da thịt trở lại như trước, giống như da thịt của một đứa trẻ.
Na-a-man cùng đoàn tùy tùng trở lại gặp người của Đức Chúa Trời. Ông đến đứng trước mặt Ê-li-sê và nói: “Bây giờ, tôi nhận biết rằng trên khắp mặt đất, không có Đức Chúa Trời nào khác ngoài Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Vậy xin ông vui lòng nhận món quà của đầy tớ ông.”
Nhưng Ê-li-sê đáp: “Tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng tôi phụng sự, mà thề rằng tôi không nhận gì cả.” Na-a-man nài nỉ Ê-li-sê nhận, nhưng ông vẫn từ chối.
Cuối cùng, Na-a-man nói: “Nếu ông từ chối thì xin cho phép đầy tớ ông mang về số đất vừa sức chở của hai con la. Vì từ nay, đầy tớ ông sẽ không còn dâng tế lễ thiêu và sinh tế cho thần nào khác ngoài Đức Giê-hô-va.
Nhưng xin Đức Giê-hô-va tha thứ cho đầy tớ ông điều nầy: Mỗi khi chủ tôi vào đền thờ Rim-môn để thờ lạy thì vịn cánh tay tôi, nên tôi cũng phải quỳ xuống trong đền thờ Rim-môn. Vậy xin Đức Giê-hô-va tha thứ điều ấy cho đầy tớ ông.”
Ê-li-sê đáp: “Ông hãy đi bình an.” Khi Na-a-man rời khỏi Ê-li-sê, đi được một quãng đường
thì đầy tớ của Ê-li-sê, người của Đức Chúa Trời, là Ghê-ha-xi nghĩ thầm: “Kìa, thầy ta đã dè dặt không chịu nhận món gì của Na-a-man, người A-ram, đã tự tay đem đến. Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề rằng ta sẽ chạy theo để nhận lấy món gì của ông ấy chứ!”
Vậy Ghê-ha-xi đuổi theo Na-a-man. Khi Na-a-man thấy Ghê-ha-xi chạy theo sau mình thì nhảy xuống xe để đón, và hỏi: “Mọi việc đều bình an chứ?”
Ghê-ha-xi đáp: “Mọi việc đều bình an. Thầy tôi sai tôi nói với ông: ‘Vừa rồi, có hai thanh niên, là môn đồ của các nhà tiên tri, từ vùng đồi núi Ép-ra-im đến. Xin ông hãy cho họ ba mươi ký bạc và hai bộ quần áo.’”
Na-a-man nài nỉ: “Xin hãy nhận sáu mươi ký.” Rồi ông lấy sáu mươi ký bạc và hai bộ quần áo để trong hai cái bao, trao cho hai đầy tớ mình đem đến trước mặt Ghê-ha-xi.
Lúc đến ngọn đồi, Ghê-ha-xi lấy hai cái bao khỏi tay họ, đem cất trong nhà mình, rồi cho họ trở về.
Ghê-ha-xi vào hầu thầy mình, Ê-li-sê hỏi: “Ghê-ha-xi, con vừa đi đâu về?” Nó thưa: “Đầy tớ thầy không đi đâu cả.”
Nhưng Ê-li-sê nói: “Khi người ấy xuống khỏi xe để đón con, lòng ta chẳng ở với con sao? Bây giờ có phải là lúc để nhận tiền bạc, quần áo, vườn ô-liu, vườn nho, chiên và bò, tôi trai và tớ gái sao?
Vì vậy, bệnh phong hủi của Na-a-man sẽ dính vào con và dòng dõi con đời đời.” Ghê-ha-xi rời khỏi Ê-li-sê, và bị bệnh phong hủi trắng như tuyết.
Môn đồ của các nhà tiên tri nói với Ê-li-sê: “Thầy xem, nơi chúng con ngồi nghe thầy dạy thật quá chật hẹp cho chúng con.
Xin cho chúng con đến bờ sông Giô-đanh, mỗi người sẽ đốn một cây, rồi tại đó cất một nơi ở cho chúng ta.” Ê-li-sê đáp: “Hãy đi đi!”
Một môn đồ thưa: “Xin thầy cùng đi với các đầy tớ thầy.” Ông đáp: “Ta sẽ đi.”
Vậy ông đi với họ. Khi đến bờ sông Giô-đanh, họ bắt đầu đốn cây.
Nhưng có một người đang đốn cây thì lưỡi rìu văng xuống nước. Người ấy kêu lên: “Thầy ơi! Cái rìu nầy con mượn của người ta.”
Người của Đức Chúa Trời hỏi: “Nó rơi ở đâu?” Người ấy chỉ chỗ nó văng xuống. Ê-li-sê chặt một khúc cây ném xuống chỗ đó, làm cho lưỡi rìu nổi lên.
Ông bảo người ấy: “Hãy cầm lên đi!” Người ấy đưa tay ra cầm lấy lưỡi rìu.
Lúc bấy giờ, vua A-ram giao chiến với Y-sơ-ra-ên. Vua bàn với các quan tướng của mình: “Ta sẽ đóng quân tại chỗ nầy, chỗ nọ.”
Người của Đức Chúa Trời sai người nói với vua Y-sơ-ra-ên: “Hãy thận trọng, đừng đi ngang qua chỗ ấy, vì quân A-ram đang đi xuống đó.”
Vậy, vua Y-sơ-ra-ên sai người đến chỗ mà người Đức Chúa Trời đã báo cho mình, và luôn thận trọng tại những chỗ ấy. Ê-li-sê thường báo trước như thế, không phải chỉ một hai lần mà thôi.
Việc nầy làm cho vua A-ram điên tiết lên nên gọi các thuộc hạ đến và hỏi: “Chẳng lẽ các ngươi không báo cho ta biết ai trong chúng ta đã theo phe vua Y-sơ-ra-ên sao?”
Một người trong những thuộc hạ đáp: “Tâu bệ hạ là chúa tôi, chẳng ai trong chúng tôi cả. Nhưng chính Ê-li-sê, nhà tiên tri của Y-sơ-ra-ên, đã cho vua Y-sơ-ra-ên biết những điều bệ hạ nói trong phòng ngủ của mình.”
Vua ấy bảo: “Hãy đi tìm xem ông ấy ở đâu, ta sẽ sai người đến bắt.” Người ta cho vua biết: “Ông ấy ở Đô-than.”
Vậy vua phái đến đó một lực lượng hùng hậu với ngựa và xe. Họ đến nơi lúc ban đêm và bao vây thành.
Đầy tớ của người Đức Chúa Trời dậy sớm và đi ra ngoài thì thấy quân lính với ngựa và xe đang bao vây thành. Anh ta nói với Ê-li-sê: “Thầy ơi! Chúng ta làm sao đây?”
Ông bảo: “Đừng sợ, vì những người ở với chúng ta đông hơn những người ở với chúng nó.”
Rồi Ê-li-sê cầu nguyện: “Lạy Đức Giê-hô-va, xin mở mắt cho đầy tớ của con để nó thấy được.” Đức Giê-hô-va mở mắt người đầy tớ, và anh ta thấy núi đầy những ngựa và chiến xa bằng lửa đang bao quanh Ê-li-sê.
Lúc quân A-ram kéo xuống phía Ê-li-sê thì ông cầu nguyện với Đức Giê-hô-va: “Xin Chúa khiến quân ấy bị mù.” Ngài khiến chúng bị mù như lời Ê-li-sê cầu xin.
Ê-li-sê nói với chúng: “Đây không phải là đường, đây cũng chẳng phải là thành. Hãy theo tôi, tôi sẽ dẫn các anh đến người mà các anh tìm kiếm.” Rồi ông dẫn chúng đến Sa-ma-ri.
Vừa khi chúng vào Sa-ma-ri thì Ê-li-sê cầu nguyện: “Lạy Đức Giê-hô-va, xin mở mắt cho những người nầy để chúng thấy được.” Đức Giê-hô-va mở mắt chúng, và chúng thấy mình đang ở giữa thành Sa-ma-ri.
Khi thấy chúng, vua Y-sơ-ra-ên hỏi Ê-li-sê: “Thưa cha, tôi phải giết chúng không? Tôi phải giết chúng không?”
Ê-li-sê trả lời: “Đừng giết chúng! Vua có giết những người mà vua dùng gươm và cung bắt làm tù binh không? Hãy dọn bánh và nước cho chúng ăn uống, rồi để chúng trở về với chủ mình.”
Vậy vua dọn tiệc lớn đãi chúng. Khi chúng ăn uống xong, vua thả chúng trở về với chủ mình. Từ đó, những toán quân A-ram không còn đột kích lãnh thổ Y-sơ-ra-ên nữa.
Nhưng ít lâu sau, Bên Ha-đát, vua A-ram, tập hợp toàn quân kéo lên bao vây thành Sa-ma-ri.
Vì thành bị bao vây lâu ngày nên ở Sa-ma-ri xảy ra nạn đói trầm trọng đến nỗi một đầu lừa bán tám mươi miếng bạc, và một bát nhỏ phân bồ câu bán năm miếng bạc.
Khi vua Y-sơ-ra-ên đang đi lại trên tường thành thì có một phụ nữ kêu cứu với vua: “Ôi bệ hạ là chúa tôi, xin cứu giúp tôi!”
Vua trả lời: “Nếu Đức Giê-hô-va không cứu giúp ngươi thì ta lấy gì để giúp ngươi? Đâu còn gì ở sân đập lúa hay tại bàn ép rượu nho?”
Rồi vua hỏi bà ấy: “Ngươi có việc gì?” Bà ấy thưa: “Bà nầy nói với tôi: ‘Hôm nay hãy đem con trai chị ra đây để chúng ta ăn thịt nó, rồi ngày mai chúng ta sẽ ăn thịt con trai của tôi.’
Vậy chúng tôi đã nấu con tôi và ăn thịt nó. Hôm sau, tôi nói với bà ấy: ‘Hãy đem con chị ra đây để chúng ta ăn thịt nó.’ Nhưng bà ấy đã giấu con mình.”
Khi nghe những lời của phụ nữ nầy nói xong thì vua liền xé áo mình. Lúc ấy, vua đang đi lại trên tường thành nên dân chúng có thể thấy vua đang mặc áo sô.
Vua thề rằng: “Nguyện Đức Chúa Trời phạt ta cách nặng nề, nếu hôm nay đầu của Ê-li-sê, con Sa-phát, còn ở trên vai nó.”
Đang lúc Ê-li-sê ngồi trong nhà với các trưởng lão thì vua sai một người trong đám quần thần đi tìm ông. Nhưng trước khi sứ giả đến, Ê-li-sê nói với các trưởng lão: “Các ông có thấy kẻ sát nhân ấy sai người đến chém đầu tôi không? Hãy xem, vừa khi sứ giả đến, hãy đóng cửa lại và giữ chặt cửa, đừng cho hắn vào. Chẳng phải tiếng bước chân của chủ hắn theo sau hắn đấy sao?”
Trong khi Ê-li-sê còn đang nói với họ thì sứ giả đến và nói với ông: “Tai họa nầy đến từ Đức Giê-hô-va. Vậy tại sao ta còn trông đợi Đức Giê-hô-va làm gì nữa?”
Ê-li-sê nói: “Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va! Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Ngày mai, vào giờ nầy, tại cổng thành Sa-ma-ri, bảy lít bột lọc sẽ bán mười một gam bạc, và mười bốn lít lúa mạch cũng bán mười một gam bạc.’”
Quan hầu cận mà vua tựa vào tay nói với người của Đức Chúa Trời rằng: “Cho dù Đức Giê-hô-va có mở các cửa sổ trên trời thì liệu điều đó có xảy ra không?” Ê-li-sê nói: “Chính ông sẽ thấy tận mắt điều ấy, nhưng ông sẽ không được ăn.”
Lúc ấy, tại lối vào cổng thành có bốn người phong hủi. Họ nói với nhau: “Tại sao chúng ta cứ ngồi đây chờ chết?
Nếu vào thành thì chúng ta sẽ chết đói ở đó, vì trong thành đang có nạn đói; còn nếu cứ ngồi đây thì chúng ta cũng sẽ chết. Vậy bây giờ, chúng ta hãy qua trại quân A-ram và hàng phục chúng. Nếu chúng để chúng ta sống thì chúng ta sẽ sống, còn nếu chúng giết đi thì đàng nào chúng ta cũng chết đó thôi.”
Vào lúc chạng vạng, các người phong hủi lên đường đến trại quân A-ram. Nhưng khi đến đầu trại quân thì họ chẳng thấy ai ở đó cả.
Vì Chúa đã khiến quân A-ram nghe tiếng xe, tiếng ngựa chiến và tiếng một đạo quân rất lớn, nên chúng nói với nhau rằng: “Kìa, vua Y-sơ-ra-ên đã thuê các vua Hê-tít và Ai Cập đến đánh chúng ta.”
Vậy chúng liền trỗi dậy và chạy trốn lúc chạng vạng, bỏ lại các lều trại, ngựa và lừa. Chúng để nguyên doanh trại mà chạy trốn cứu mạng.
Khi các người phong hủi đến đầu trại quân, họ vào một doanh trại ăn uống, rồi lấy bạc vàng và quần áo đem đi giấu. Họ trở lại, vào một doanh trại khác và cũng lấy những của cải ở đó đem đi giấu nữa.
Bấy giờ, họ nói với nhau: “Chúng ta đang làm điều không phải. Hôm nay là ngày có tin lành mà chúng ta nín lặng sao! Nếu chúng ta đợi đến rạng đông thì hình phạt chắc sẽ đổ trên chúng ta. Vậy chúng ta hãy đi báo tin nầy cho hoàng gia.”
Họ liền đi gọi người gác cổng thành, và báo tin: “Chúng tôi đã đến trại quân A-ram, không thấy ai ở đó cả và cũng không nghe tiếng người. Chúng tôi chỉ thấy ngựa và lừa đang bị cột, còn các lều trại thì vẫn y nguyên.”
Lính gác cổng liền gọi người báo tin ấy vào trong cung vua.
Ban đêm vua thức dậy, nói với bầy tôi của mình: “Ta sẽ nói cho các ngươi biết những gì quân A-ram định làm để hại chúng ta. Chúng biết chúng ta đang đói nên đã rút ra khỏi trại quân để phục kích ngoài đồng. Chúng nghĩ rằng: ‘Khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi thành, chúng ta sẽ bắt sống chúng, rồi vào chiếm thành.’”
Một người trong bầy tôi của vua đề nghị: “Xin bệ hạ truyền cho vài người bắt năm trong số những con ngựa còn lại đi do thám để xem thực hư ra sao. Dù sao chúng cũng sẽ cùng chung số phận với đoàn dân Y-sơ-ra-ên còn lại đang chết dần ở trong thành mà thôi.”
Vậy, họ lấy hai cỗ xe và thắng ngựa vào, rồi vua sai người đuổi theo quân A-ram, và truyền: “Hãy đi, xem thế nào!”
Họ đuổi theo chúng cho đến sông Giô-đanh. Suốt quãng đường ấy, họ thấy đầy những quần áo và đồ đạc mà quân A-ram đã ném xuống trong lúc hốt hoảng chạy trốn. Các sứ giả trở về trình lại với vua.
Dân chúng liền kéo ra cướp đoạt trại quân A-ram. Vì thế mà bảy lít bột lọc bán mười một gam bạc, và mười bốn lít lúa mạch cũng bán mười một gam bạc, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán.
Lúc ấy, vua đã chỉ định quan hầu cận mà vua tựa vào tay, phụ trách việc kiểm soát cổng thành. Dân chúng đã giẫm chết ông ấy tại cổng thành, đúng như người của Đức Chúa Trời đã nói khi vua đến gặp người.
Thật vậy, khi người của Đức Chúa Trời nói với vua rằng: “Ngày mai, vào giờ nầy, tại cổng thành Sa-ma-ri, mười bốn lít lúa mạch sẽ bán mười một gam bạc, và bảy lít bột lọc cũng bán mười một gam bạc,”
thì quan hầu cận có nói với người của Đức Chúa Trời rằng: “Cho dù Đức Giê-hô-va có mở các cửa sổ trên trời thì liệu điều đó có xảy ra không?” Ê-li-sê nói: “Chính ông sẽ thấy điều ấy tận mắt, nhưng ông sẽ không được ăn.”
Và việc đã xảy đến cho viên quan ấy đúng như thế, dân chúng đã giẫm chết ông ta tại cổng thành.
Bấy giờ, Ê-li-sê bảo người phụ nữ có đứa con trai mà ông đã khiến sống lại rằng: “Bà hãy mau đem gia đình đến ở tạm nơi nào sống được, vì Đức Giê-hô-va khiến nạn đói xảy ra trong xứ, và sẽ kéo dài đến bảy năm.”
Người phụ nữ ấy liền làm theo lời của người Đức Chúa Trời, cùng gia đình mình đến kiều ngụ trong đất Phi-li-tin bảy năm.
Cuối bảy năm, người phụ nữ ấy từ đất Phi-li-tin trở về. Bà đến kêu nài với vua về việc nhà cửa và đồng ruộng của mình.
Lúc ấy, vua đang nói chuyện với Ghê-ha-xi, đầy tớ của người Đức Chúa Trời. Vua bảo: “Hãy kể cho ta nghe tất cả những việc lớn lao mà Ê-li-sê đã làm.”
Ghê-ha-xi đang thuật lại cho vua nghe việc Ê-li-sê đã khiến người chết sống lại thế nào, thì kìa, người phụ nữ có đứa con trai mà Ê-li-sê đã khiến sống lại, đến kêu nài với vua về việc nhà cửa và đồng ruộng của mình. Ghê-ha-xi liền nói: “Tâu bệ hạ là chúa tôi! Đây là người phụ nữ, và đây là con trai bà mà Ê-li-sê đã khiến sống lại.”
Vua hỏi người phụ nữ, và bà kể hết mọi việc cho vua nghe. Rồi vua chỉ định một quan chức triều đình giải quyết việc kêu nài của bà, và dặn rằng: “Hãy giúp bà nầy lấy lại tất cả tài sản của bà, kể cả hoa màu của đồng ruộng, từ ngày bà rời khỏi xứ cho đến nay.”
Ê-li-sê đến Đa-mách vào lúc vua A-ram là Bên Ha-đát đang bị bệnh. Khi người ta báo tin cho vua: “Có người của Đức Chúa Trời đã đến đây,”
thì vua bảo Ha-xa-ên: “Hãy đem theo một lễ vật và đến gặp người của Đức Chúa Trời. Ngươi sẽ nhờ người cầu hỏi Đức Giê-hô-va xem ta sẽ được lành bệnh nầy không?”
Vậy Ha-xa-ên đến gặp người của Đức Chúa Trời, đem theo một lễ vật gồm tất cả những gì tốt nhất tại Đa-mách, chất đầy trên bốn mươi lạc đà. Ông đến ra mắt Ê-li-sê và nói: “Con trai ông là Bên Ha-đát, vua A-ram, sai tôi đến ông để hỏi rằng: ‘Tôi sẽ được lành bệnh nầy không?’”
Ê-li-sê đáp: “Hãy đi nói với vua: ‘Bệ hạ chắc chắn sẽ được lành bệnh.’ Nhưng Đức Giê-hô-va đã cho ta biết vua chắc chắn sẽ chết.”
Ê-li-sê nghiêm nét mặt, nhìn chằm chằm Ha-xa-ên đến nỗi ông phải ngượng. Rồi người của Đức Chúa Trời cất tiếng lên khóc.
Ha-xa-ên hỏi: “Tại sao chúa tôi khóc?” Ê-li-sê đáp: “Vì ta biết ngươi sẽ gây thảm họa cho dân Y-sơ-ra-ên. Ngươi sẽ phóng hỏa các thành trì kiên cố của họ, dùng gươm giết các thanh niên, chà nát trẻ con, và mổ bụng đàn bà có thai.”
Ha-xa-ên hỏi: “Nhưng đầy tớ ông là ai, chẳng qua là một con chó thôi, thì làm sao có thể làm được việc lớn lao đến thế?” Ê-li-sê đáp: “Đức Giê-hô-va đã cho ta biết rằng ngươi sẽ làm vua A-ram.”
Ha-xa-ên rời khỏi Ê-li-sê và trở về với chủ mình. Vua hỏi: “Ê-li-sê đã nói với ngươi thế nào?” Ha-xa-ên tâu: “Ê-li-sê nói với hạ thần rằng bệ hạ chắc chắn sẽ lành bệnh.”
Nhưng qua hôm sau, Ha-xa-ên lấy một cái mền nhúng nước và đem phủ trên mặt Bên Ha-đát cho đến khi vua chết. Rồi Ha-xa-ên lên ngai kế vị.
Vào năm thứ năm đời trị vì của Giô-ram, con A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, khi Giô-sa-phát còn làm vua Giu-đa thì Giô-ram, con Giô-sa-phát, bắt đầu trị vì.
Giô-ram lên ngai vua lúc được ba mươi hai tuổi, và trị vì tám năm tại Giê-ru-sa-lem.
Vua đi theo đường lối của các vua Y-sơ-ra-ên, như nhà A-háp đã làm; vì vua đã cưới con gái của A-háp làm vợ. Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va.
Nhưng vì Đa-vít, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, nên Ngài không muốn hủy diệt Giu-đa, như lời Ngài đã phán hứa với Đa-vít là để dành cho người một ngọn đèn trước mặt người mãi mãi.
Trong đời trị vì của Giô-ram, người Ê-đôm nổi dậy chống lại sự thống trị của Giu-đa, và lập lên một vua cho mình.
Bấy giờ, Giô-ram kéo quân sang Xai-rơ, đem theo tất cả chiến xa của mình. Ban đêm, vua trỗi dậy, đánh quân Ê-đôm đang bao vây vua và các quan chỉ huy chiến xa, nhưng quân lính của vua bỏ trốn về trại mình.
Như thế, người Ê-đôm đã nổi dậy và không còn thần phục Giu-đa cho đến ngày nay. Cùng lúc ấy, Líp-na cũng nổi dậy.
Chẳng phải các việc khác của Giô-ram, và tất cả những việc vua làm đều đã được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
Giô-ram an giấc cùng tổ phụ và được an táng với họ trong thành Đa-vít. A-cha-xia, con trai vua, lên ngai kế vị.
Vào năm thứ mười hai, đời trị vì của Giô-ram con A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, thì A-cha-xia con Giô-ram, vua Giu-đa, lên ngai trị vì.
A-cha-xia lên ngai vua lúc được hai mươi hai tuổi, và trị vì một năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ của vua tên là A-tha-li, cháu gái của Ôm-ri, vua Y-sơ-ra-ên.
Vua đi theo đường lối của nhà A-háp, làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, như nhà A-háp đã làm. Vì vua có liên hệ hôn nhân với nhà A-háp.
Vua cùng với Giô-ram, con A-háp, tiến đánh Ha-xa-ên, vua A-ram, tại Ra-mốt Ga-la-át. Nhưng quân A-ram đã đánh Giô-ram bị thương.
Vậy, vua Giô-ram trở về Gít-rê-ên để chữa trị những vết thương bị quân A-ram đánh tại Ra-mốt, khi đánh nhau với Ha-xa-ên, vua A-ram. A-cha-xia con Giô-ram, vua Giu-đa, đi xuống Gít-rê-ên thăm Giô-ram, con A-háp, đang nằm điều trị tại đó.
Nhà tiên tri Ê-li-sê gọi một người trong số môn đồ của các nhà tiên tri và bảo: “Hãy thắt lưng và cầm theo lọ dầu nầy mà đi đến Ra-mốt Ga-la-át.
Khi con đã đến đó, hãy tìm Giê-hu là con của Giô-sa-phát, cháu Nim-si. Con đến mời người đứng dậy khỏi anh em mình, và dẫn người vào trong một phòng kín đáo.
Bấy giờ, con sẽ lấy lọ dầu, đổ trên đầu người và nói: ‘Đức Giê-hô-va phán: Ta xức dầu cho ngươi làm vua Y-sơ-ra-ên.’ Rồi con hãy mở cửa ra và trốn đi ngay, đừng chậm trễ!”
Vậy chàng thanh niên là nhà tiên tri trẻ đi đến Ra-mốt Ga-la-át.
Khi anh ấy đến nơi thì các quan tướng quân đội đang họp. Anh nói: “Thưa tướng quân, tôi có việc muốn nói với ông.” Giê-hu hỏi: “Với ai trong chúng tôi?” Anh trả lời: “Với ông, thưa tướng quân.”
Giê-hu đứng dậy và đi vào bên trong. Nhà tiên tri đổ dầu trên đầu ông, và nói: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: ‘Ta xức dầu cho ngươi làm vua Y-sơ-ra-ên, là dân của Đức Giê-hô-va.
Ngươi sẽ đánh giết nhà A-háp, chủ ngươi; như vậy Ta sẽ báo trả Giê-sa-bên về máu của các đầy tớ Ta là các nhà tiên tri, cùng máu của tất cả đầy tớ Đức Giê-hô-va.
Cả nhà A-háp phải bị diệt sạch. Ta sẽ diệt trừ mọi người nam của nhà A-háp, bất kể là nô lệ hay tự do trong Y-sơ-ra-ên.
Ta sẽ làm cho nhà A-háp giống như nhà Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, và giống như nhà Ba-ê-sa, con trai A-hi-gia.
Chó sẽ ăn thịt Giê-sa-bên trong cánh đồng Gít-rê-ên, không ai chôn cất.’” Nói xong, nhà tiên tri mở cửa ra và chạy trốn.
Giê-hu trở ra với các quan tướng của chủ mình. Họ hỏi ông: “Mọi việc bình an chứ? Tại sao tên khùng ấy đến gặp ông?” Ông đáp với họ: “Các ông biết người và cũng biết những điều người ấy nói rồi.”
Nhưng họ nói: “Đừng giả vờ! Hãy kể lại cho chúng tôi nghe đi.” Vậy ông nói: “Người ấy nói với tôi đại ý như thế nầy: ‘Đức Giê-hô-va phán: Ta xức dầu cho ngươi làm vua Y-sơ-ra-ên.’”
Ai nấy liền vội vàng lấy áo choàng mình trải xuống dưới chân ông, trên các bậc thang. Rồi họ thổi kèn và hô lên rằng: “Giê-hu làm vua!”
Như vậy, Giê-hu con Giô-sa-phát, cháu Nim-si, âm mưu chống lại Giô-ram. Lúc ấy, Giô-ram và toàn quân Y-sơ-ra-ên đang bảo vệ Ra-mốt Ga-la-át chống lại Ha-xa-ên, vua A-ram.
Nhưng vua Giô-ram đã trở về Gít-rê-ên để chữa trị những vết thương mà quân A-ram đã gây ra trong lúc vua giao chiến với Ha-xa-ên, vua A-ram. Giê-hu nói: “Nếu các ông đồng ý thì đừng để một ai thoát khỏi thành đi báo tin cho Gít-rê-ên.”
Vậy Giê-hu lên xe đi đến Gít-rê-ên, vì Giô-ram đang nằm điều trị tại đó. Và A-cha-xia, vua Giu-đa, cũng đi xuống đó thăm Giô-ram.
Người lính canh đang đứng trên tháp Gít-rê-ên thấy đoàn quân của Giê-hu đang tiến đến thì kêu lên: “Tôi thấy có đoàn quân tiến đến.” Giô-ram liền bảo: “Hãy chọn một kỵ binh, sai đi đón họ và hỏi: ‘Bình an chăng?’”
Vậy một kỵ binh đi đón Giê-hu và nói: “Vua hỏi: ‘Bình an chăng?’” Giê-hu trả lời: “Bình an hay không thì có can hệ gì đến ngươi? Hãy lui ra đằng sau ta.” Người lính canh báo cáo: “Sứ giả đã đến gặp họ rồi, nhưng không trở về.”
Vua lại sai một kỵ binh thứ hai đến với họ và nói: “Vua hỏi: ‘Bình an chăng?’” Giê-hu trả lời: “Bình an hay không thì có can hệ gì đến ngươi? Hãy lui ra đằng sau ta.”
Người lính canh lại báo cáo: “Sứ giả đã đến gặp họ rồi, nhưng không trở về. Cách đánh xe trông giống như cách của Giê-hu, con Nim-si, vì ông ấy đánh xe một cách hung hăng.”
Giô-ram bảo: “Hãy thắng xe!” Người ta thắng xe cho vua. Rồi Giô-ram vua Y-sơ-ra-ên, và A-cha-xia vua Giu-đa, mỗi người lên xe mình, ra đón Giê-hu và gặp ông ấy trong cánh đồng của Na-bốt, người Gít-rê-ên.
Khi Giô-ram vừa thấy Giê-hu thì hỏi: “Giê-hu, bình an chứ?” Nhưng Giê-hu trả lời: “Bình an sao được khi mà sự dâm đãng và tà thuật của Giê-sa-bên, mẹ vua, vẫn còn nhan nhản?”
Giô-ram liền quay xe chạy trốn, và nói với A-cha-xia: “A-cha-xia, có mưu phản!”
Giê-hu giương cung đang cầm sẵn trong tay, bắn Giô-ram trúng khoảng giữa hai vai. Mũi tên xuyên qua tim, khiến vua gục ngã trong xe.
Giê-hu nói với Bích-ca, quan hầu cận của mình: “Hãy đem xác hắn ném vào cánh đồng của Na-bốt, người Gít-rê-ên. Vì hãy nhớ lại khi ta và ngươi cùng cưỡi ngựa song song với nhau theo sau A-háp, cha hắn, thì Đức Giê-hô-va có lời phán chống lại hắn như thế nầy:
‘Đức Giê-hô-va phán: Thật, vì hôm qua Ta đã thấy máu của Na-bốt và máu của các con trai người đổ ra, nên Ta sẽ bắt ngươi phải trả nợ máu tại chính trên cánh đồng nầy.’ Đức Giê-hô-va phán quyết như thế. Vậy bây giờ, hãy đem xác hắn ném vào cánh đồng ấy, đúng như lời của Đức Giê-hô-va đã phán.”
Khi A-cha-xia, vua Giu-đa, thấy việc ấy thì chạy trốn về hướng Bết Ha-gan. Nhưng Giê-hu đuổi theo và ra lệnh: “Cũng hãy đánh giết hắn lúc đang ngồi trên xe, ở dốc Gu-rơ, gần Gíp-lê-am!” A-cha-xia bị thương và chạy trốn đến Mê-ghi-đô, rồi chết tại đó.
Các đầy tớ của vua đặt xác vua trên một cỗ xe chở về Giê-ru-sa-lem, và an táng trong mộ cùng với các tổ phụ vua tại thành Đa-vít.
A-cha-xia lên ngai vua Giu-đa vào năm thứ mười một đời trị vì của Giô-ram, con vua A-háp.
Sau đó, Giê-hu đến Gít-rê-ên. Khi Giê-sa-bên hay tin thì vẽ mắt, trang điểm mái tóc, rồi từ cửa sổ nhìn xuống.
Lúc Giê-hu vào cổng thành thì bà hỏi: “Hỡi Xim-ri, kẻ giết chủ mình! Bình an chứ?”
Giê-hu ngẩng mặt lên về hướng cửa sổ và hỏi: “Trên kia có ai theo ta không? Có ai không?” Có hai hoặc ba hoạn quan nhìn xuống ông.
Ông bảo: “Hãy ném nó xuống!” Họ ném bà xuống đất, máu bắn tung tóe lên tường và lên các con ngựa giẫm lên xác bà.
Giê-hu đi vào, ăn uống xong, ông nói: “Bây giờ hãy đi xem người đàn bà đáng bị nguyền rủa ấy và lo chôn cất nó, vì dù sao nó cũng là con gái của vua.”
Nhưng khi họ đi lo chôn cất bà ấy thì chẳng còn thấy gì ngoài cái sọ, hai chân và hai bàn tay.
Họ trở về báo cáo cho Giê-hu. Ông nói: “Ấy là lời của Đức Giê-hô-va đã dùng đầy tớ Ngài là Ê-li, người Thi-sê-be, mà phán rằng: ‘Chó sẽ ăn thịt Giê-sa-bên trong cánh đồng Gít-rê-ên.
Xác của Giê-sa-bên sẽ như phân trên mặt đất trong cánh đồng Gít-rê-ên, đến nỗi người ta không thể nói: Đây là Giê-sa-bên.’”
Lúc bấy giờ, có bảy mươi con trai của A-háp sống tại Sa-ma-ri. Giê-hu viết thư gửi đến Sa-ma-ri cho các thủ lĩnh là các trưởng lão của Gít-rê-ên, và các giám hộ do A-háp bổ nhiệm. Trong thư ông viết:
“Vì các con trai của chủ các ông đang ở với các ông, và vì các ông có nhiều cỗ xe, ngựa chiến, thành trì kiên cố, và đầy đủ khí giới, nên khi thư nầy đến tay các ông,
hãy chọn trong các con trai chủ mình một người tài đức nhất để lập người ấy lên ngai kế vị vua cha. Rồi các ông hãy chiến đấu vì nhà của chủ mình.”
Họ vô cùng khiếp sợ và nói: “Kìa, hai vua còn không chống nổi ông ấy thì làm sao chúng ta có thể chống lại được?”
Các quan chức quản lý thành và cung điện, cùng các trưởng lão và các giám hộ của những con trai A-háp, sai người đến nói với Giê-hu: “Chúng tôi là đầy tớ của ông, sẵn sàng làm mọi điều ông bảo. Chúng tôi không muốn tôn ai lên làm vua cả. Xin ông cứ làm điều gì ông cho là phải.”
Giê-hu viết cho họ một thư thứ hai, trong thư ông viết: “Nếu các ông đứng về phía tôi và sẵn sàng tuân lệnh tôi thì hãy chém đầu các con trai của chủ mình, rồi đem đến cho tôi tại Gít-rê-ên vào giờ nầy ngày mai.” Lúc ấy, bảy mươi người con của vua đang ở với các quan lớn trong thành, là những người có nhiệm vụ dưỡng dục chúng.
Vừa nhận được thư, họ liền bắt và giết bảy mươi con trai của A-háp, rồi để thủ cấp của chúng trong những cái giỏ và gửi đến cho Giê-hu ở Gít-rê-ên.
Có sứ giả đến báo tin cho Giê-hu rằng: “Họ đã đem thủ cấp của các con A-háp đến rồi.” Ông bảo: “Hãy chất thành hai đống nơi lối vào cổng thành cho đến sáng.”
Sáng sớm, Giê-hu đi ra, đứng nói với toàn dân: “Anh em đều vô can! Kìa, chính tôi đã mưu phản và giết chủ tôi. Nhưng ai đã giết tất cả những người nầy chứ?
Bây giờ, anh em hãy biết rằng trong các lời Đức Giê-hô-va đã phán về nhà A-háp, sẽ không có lời nào rơi xuống đất. Đức Giê-hô-va thực hiện những gì Ngài đã dùng Ê-li, đầy tớ Ngài, phán ra.”
Vậy, Giê-hu giết tất cả những người còn lại trong nhà A-háp ở Gít-rê-ên, tất cả các quan lớn, các bạn hữu và những thầy tư tế của nhà vua, không để một ai sống sót.
Sau đó, Giê-hu lên đường đến Sa-ma-ri. Trên đường đi, khi đến Bết Ê-két Ha-rô-im,
ông gặp các anh em của A-cha-xia, vua Giu-đa, thì hỏi: “Các ông là ai?” Họ đáp: “Chúng tôi là anh em của A-cha-xia. Chúng tôi xuống thăm các hoàng tử và hoàng thúc.”
Giê-hu ra lệnh: “Hãy bắt sống chúng!” Người ta bắt sống và giết những người ấy tại một cái hố ở Bết Ê-két, tất cả là bốn mươi hai người, không để sót một ai.
Khi rời chỗ đó, Giê-hu gặp Giô-na-đáp, con của Rê-cáp, đang đến đón ông. Giê-hu chào Giô-na-đáp và hỏi: “Ông có một lòng một dạ với tôi, như tôi đã thực lòng với ông không?” Giô-na-đáp trả lời: “Có.” Giê-hu nói: “Nếu thế thì hãy đưa tay ông ra.” Giô-na-đáp đưa tay ra, và Giê-hu đỡ ông ấy lên xe với mình.
Giê-hu nói: “Hãy đi với tôi và chứng kiến lòng nhiệt thành của tôi đối với Đức Giê-hô-va.” Vậy họ đi với nhau trên chiến xa của Giê-hu.
Khi đến Sa-ma-ri, Giê-hu giết tất cả những người còn sót lại của nhà A-háp tại Sa-ma-ri, cho đến khi đã diệt sạch nhà ấy, đúng như lời của Đức Giê-hô-va đã phán với Ê-li.
Giê-hu tập hợp toàn dân lại và nói với họ: “A-háp phụng sự Ba-anh còn ít, Giê-hu sẽ phụng sự nhiều hơn.
Vậy bây giờ, hãy triệu tập cho ta tất cả các tiên tri của Ba-anh, tất cả những kẻ phụng thờ và tất cả thầy tư tế của Ba-anh. Không một ai được vắng mặt, vì ta sẽ dâng một tế lễ lớn cho Ba-anh. Tất cả những ai vắng mặt sẽ không được sống.” Thật ra, Giê-hu chỉ lập mưu để tiêu diệt những kẻ phụng thờ Ba-anh.
Giê-hu ra lệnh: “Hãy tổ chức một lễ trọng thể để cúng thờ Ba-anh.” Vậy người ta công bố lễ ấy ra.
Giê-hu sai sứ giả đi khắp Y-sơ-ra-ên. Vì vậy, tất cả những kẻ phụng thờ Ba-anh đều đến, chẳng thiếu một ai. Họ vào đền thờ Ba-anh, và đền đầy ắp người từ đầu nầy đến đầu kia.
Giê-hu bảo người giữ áo lễ: “Hãy phát áo lễ cho tất cả những kẻ đến phụng thờ Ba-anh.” Người ấy phát áo lễ cho họ.
Sau đó, Giê-hu và Giô-na-đáp, con trai Rê-cáp, vào trong đền thờ Ba-anh. Ông nói với những kẻ phụng thờ Ba-anh rằng: “Hãy lục soát cho kỹ, xem có người nào phụng sự Đức Giê-hô-va ở đây với các ngươi không; chỉ nên có những kẻ phụng thờ Ba-anh mà thôi.”
Rồi họ vào dâng các sinh tế và tế lễ thiêu. Nhưng Giê-hu đã đặt tám mươi người mai phục bên ngoài, và cảnh cáo: “Nếu có ai trong những người mà ta trao vào tay các ngươi trốn thoát thì phải lấy mạng thế mạng.”
Khi vừa dâng tế lễ thiêu xong, Giê-hu ra lệnh cho quân hộ vệ và các quan tướng: “Hãy vào giết chúng, đừng để một ai trốn thoát!” Vậy quân hộ vệ và các quan tướng dùng gươm giết chúng, ném xác ra ngoài. Rồi họ đi vào thành nội của đền thờ Ba-anh,
lôi những trụ thờ của đền thờ Ba-anh ra và đốt đi.
Họ đập vỡ trụ thờ thần Ba-anh và phá hủy đền thờ Ba-anh, biến thành một nhà xí cho đến ngày nay.
Như vậy, Giê-hu tiêu diệt thần Ba-anh khỏi Y-sơ-ra-ên.
Tuy nhiên, ông chẳng từ bỏ tội của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội. Giê-hu đã không tiêu diệt sự thờ phượng các bò con bằng vàng tại Bê-tên và Đan.
Đức Giê-hô-va phán với Giê-hu: “Vì ngươi đã làm tốt điều công chính trước mặt Ta, đúng như những gì Ta muốn ngươi làm đối với nhà A-háp, nên con cháu ngươi sẽ ngồi trên ngai Y-sơ-ra-ên cho đến đời thứ tư.”
Nhưng Giê-hu không hết lòng cẩn thận tuân theo luật pháp của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Ông chẳng từ bỏ tội của Giê-rô-bô-am, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
Trong lúc ấy, Đức Giê-hô-va bắt đầu thu hẹp bờ cõi Y-sơ-ra-ên. Ha-xa-ên đánh bại họ trên khắp lãnh thổ Y-sơ-ra-ên,
chiếm vùng đất phía đông sông Giô-đanh; tức là toàn miền Ga-la-át, đất của các bộ tộc Gát, Ru-bên, và Ma-na-se, từ thành A-rô-e, trên bờ sông Ạt-nôn, cho đến cả miền Ga-la-át và Ba-san.
Chẳng phải các việc khác của Giê-hu, mọi việc vua đã làm, và thế lực của vua, đều được chép trong lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên sao?
Giê-hu an giấc cùng các tổ phụ mình, và được an táng tại Sa-ma-ri. Giô-a-cha, con trai vua, lên ngai kế vị.
Thời gian Giê-hu cai trị trên Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri là hai mươi tám năm.
Khi A-tha-li, mẹ của vua A-cha-xia, thấy con mình đã chết thì đứng lên tiêu diệt toàn bộ hoàng tộc.
Nhưng Giô-sê-ba, con gái của vua Giô-ram và là chị của A-cha-xia, bắt trộm Giô-ách, con của A-cha-xia, khỏi số các hoàng tử sắp bị giết, rồi giấu cậu trong phòng ngủ cùng với người vú nuôi. Như thế, người ta đã giấu Giô-ách khuất mắt A-tha-li, và cậu không bị giết.
Giô-ách ẩn trốn với Giô-sê-ba trong đền thờ Đức Giê-hô-va sáu năm, trong khi A-tha-li cai trị xứ sở.
Vào năm thứ bảy, Giê-hô-gia-đa sai người đi mời các quan chỉ huy một trăm quân thuộc đội quân Ca-rít và quân cảnh vệ đến gặp ông trong đền thờ Đức Giê-hô-va. Ông lập giao ước với họ, buộc họ tuyên thệ trong đền thờ Đức Giê-hô-va và giới thiệu hoàng tử cho họ.
Ông truyền lệnh: “Đây là điều các ông sẽ làm: Một phần ba trong các ông đến phiên trực ngày sa-bát sẽ canh giữ hoàng cung,
một phần ba sẽ canh cổng Su-rơ, còn một phần ba sẽ canh cổng phía sau quân cảnh vệ. Các ông sẽ luân phiên nhau canh giữ cung điện.
Còn hai phần ba trong các ông mãn phiên trực ngày sa-bát, sẽ ở gần vua, canh giữ đền thờ của Đức Giê-hô-va.
Các ông sẽ bao quanh vua, mỗi người cầm vũ khí trong tay. Ai muốn xâm nhập hàng ngũ các ông thì hãy giết đi. Khi vua đi ra đi vào thì các ông phải ở bên cạnh vua.”
Các quan chỉ huy một trăm quân làm theo lệnh của thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa. Mỗi người đem quân lính của mình, gồm những người đang phiên trực cũng như những người mãn phiên trực ngày sa-bát, đến với thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa.
Thầy tế lễ trao cho các quan chỉ huy một trăm quân những giáo và khiên của vua Đa-vít được cất giữ trong đền thờ của Đức Giê-hô-va.
Quân cảnh vệ ai nấy đều cầm vũ khí trong tay đứng chung quanh vua, dọc theo bàn thờ và đền thờ, từ bên phải cho đến bên trái của đền thờ.
Giê-hô-gia-đa đưa hoàng tử ra, đội vương miện và trao cuộn Chứng Ước cho người. Họ xức dầu phong vương cho hoàng tử, rồi vỗ tay và tung hô: “Vua vạn tuế!”
Khi nghe tiếng huyên náo của quân cảnh vệ và dân chúng thì bà A-tha-li đến gặp dân chúng tại đền thờ của Đức Giê-hô-va.
Bà thấy vua đang đứng trên bệ cao như nghi lễ thường lệ, có các quan chỉ huy và những người thổi kèn ở bên cạnh vua. Toàn dân trong xứ đều vui mừng giữa tiếng kèn trỗi vang. A-tha-li liền xé áo mình và la lên: “Phản loạn! Phản loạn!”
Nhưng thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa ra lệnh cho các quan chỉ huy quân đội: “Hãy lôi bà ấy ra khỏi hàng quân! Ai theo bà ấy đều phải bị giết bằng gươm.” Vì thầy tế lễ đã nói: “Đừng giết bà ấy trong đền thờ của Đức Giê-hô-va,”
nên họ túm lấy bà dẫn đến cung vua theo lối đi của ngựa, và giết bà tại đó.
Giê-hô-gia-đa lập giao ước giữa Đức Giê-hô-va với vua và dân chúng để xác định dân Y-sơ-ra-ên là dân của Đức Giê-hô-va. Ông cũng lập một giao ước giữa vua với dân chúng.
Rồi toàn dân trong xứ kéo đến và phá đổ đền thờ Ba-anh. Họ đập nát các bàn thờ và tượng thần Ba-anh ra từng mảnh. Còn Ma-than, thầy tế lễ Ba-anh, thì bị họ giết ngay trước các bàn thờ. Sau đó, thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa đặt người canh giữ đền thờ của Đức Giê-hô-va.
Ông đem theo các quan chỉ huy một trăm quân, đội quân Ca-rít, quân cảnh vệ và toàn dân trong xứ. Họ rước vua từ đền thờ Đức Giê-hô-va xuống, đi qua cổng của quân cảnh vệ để vào cung vua. Rồi Giô-ách lên ngai vua.
Toàn dân trong xứ đều vui mừng, và kinh thành được yên tĩnh sau khi người ta đã giết A-tha-li bằng gươm tại cung vua.
Giô-ách lên ngai vua khi mới bảy tuổi.
Vào năm thứ bảy đời trị vì của vua Giê-hu, Giô-ách lên làm vua và cai trị bốn mươi năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Xi-bia, quê ở Bê-e Sê-ba.
Nhờ được thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa dạy dỗ, Giô-ách làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va trọn đời mình.
Tuy nhiên, các nơi cao vẫn chưa bị tháo dỡ; dân chúng vẫn tiếp tục dâng sinh tế và đốt hương trên các nơi cao ấy.
Giô-ách nói với các thầy tế lễ: “Tất cả số bạc được đem vào làm tế lễ thánh trong đền thờ Đức Giê-hô-va, tức là số bạc chuộc mạng mà mỗi người phải nộp theo quy định khi kiểm tra dân số, và bạc mà dân chúng tự nguyện dâng hiến trong đền thờ Đức Giê-hô-va;
thì các ông phải nhận số bạc ấy từ những người dâng hiến để sửa chữa những chỗ hư hại trong đền thờ.”
Nhưng mãi đến năm thứ hai mươi ba đời vua Giô-ách, các thầy tế lễ vẫn chưa sửa chữa đền thờ.
Vì vậy, vua Giô-ách gọi thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa và các thầy tế lễ khác đến, và hỏi: “Sao các ông không sửa chữa những chỗ hư hại của đền thờ? Vậy từ nay, các ông đừng nhận bạc từ những người dâng hiến nữa, nhưng hãy giao lại số bạc thu được cho người có trách nhiệm sửa chữa đền thờ.”
Các thầy tế lễ đồng ý không nhận bạc của dân chúng, và cũng không đảm trách việc sửa chữa đền thờ nữa.
Thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa lấy một cái rương, khoét lỗ trên nắp, rồi đặt gần bàn thờ, về phía bên phải lối vào đền thờ Đức Giê-hô-va. Các thầy tế lễ canh cửa đền thờ bỏ vào trong rương ấy tất cả số bạc mà người ta đem đến đền thờ Đức Giê-hô-va.
Khi nào người ta thấy có nhiều bạc trong rương thì thư ký của vua cùng với thầy tế lễ thượng phẩm đi lên lấy số bạc trong đền thờ của Đức Giê-hô-va ra đếm, bỏ vào bao và cột lại.
Sau đó, họ giao số bạc đã kiểm vào tay những đốc công trông coi việc sửa chữa đền thờ Đức Giê-hô-va. Những người ấy dùng nó chi trả cho thợ mộc và thợ xây cất,
thợ nề và thợ đá, là những người làm việc sửa chữa đền thờ Đức Giê-hô-va. Họ cũng dùng số bạc ấy mua gỗ và đá chẻ để sửa chữa những chỗ hư hại của đền thờ Đức Giê-hô-va, và dùng vào các chi phí khác trong việc sửa chữa đền thờ.
Nhưng người ta không dùng số bạc đã đem đến đền thờ Đức Giê-hô-va để làm chậu bằng bạc, kéo cắt tim đèn, bát, kèn, hay bất cứ dụng cụ nào bằng vàng, bằng bạc, dùng trong đền thờ Đức Giê-hô-va.
Vì họ giao số bạc ấy cho những người phụ trách công việc để dùng vào việc sửa chữa đền thờ Đức Giê-hô-va.
Không ai đòi hỏi những người nhận bạc để chi trả cho các nhân công phải khai trình sổ sách, vì họ làm việc một cách trung thực.
Còn số bạc về tế lễ chuộc lỗi và tế lễ chuộc tội thì không được đem vào đền thờ Đức Giê-hô-va; số bạc ấy thuộc về các thầy tế lễ.
Vào lúc ấy, vua A-ram là Ha-xa-ên đem quân tấn công thành Gát và chiếm được thành nầy. Vua quay sang tấn công Giê-ru-sa-lem.
Giô-ách, vua Giu-đa, lấy tất cả các vật thánh mà các tiên đế của Giu-đa là Giô-sa-phát, Giô-ram và A-cha-xia đã biệt riêng ra thánh, cùng với các vật thánh mà chính vua đã dâng hiến, và tất cả vàng ở trong kho của đền thờ Đức Giê-hô-va và trong cung vua mà đem nộp hết cho Ha-xa-ên, vua A-ram. Vì thế, Ha-xa-ên rút lui khỏi Giê-ru-sa-lem.
Chẳng phải các việc khác của Giô-ách và tất cả những gì vua làm đều đã được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
Các thuộc hạ của Giô-ách nổi lên lập mưu chống lại vua và giết vua tại cung Mi-lô, trên đường đi xuống Si-la.
Hai thuộc hạ đã đánh giết vua là Giô-sa-bát, con của Si-mê-át, và Giê-hô-sa-bát, con của Sô-mê. Người ta an táng vua cùng với các tổ phụ trong thành Đa-vít. Rồi con vua là A-ma-xia lên ngai kế vị.
Vào năm thứ hai mươi ba đời trị vì của Giô-ách, con A-cha-xia, vua Giu-đa, thì Giô-a-cha, con Giê-hu, lên làm vua Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri, và trị vì mười bảy năm.
Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, đi theo các tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê bát, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội; vua không từ bỏ tội ấy.
Vì thế, cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi lên cùng dân Y-sơ-ra-ên, Ngài phó họ vào tay Ha-xa-ên, vua A-ram, và vào tay Bên Ha-đát, con trai Ha-xa-ên, suốt thời trị vì của hai vua đó.
Nhưng khi Giô-a-cha khẩn xin ân huệ của Đức Giê-hô-va thì Đức Giê-hô-va nhậm lời vua, vì Ngài đã thấy cảnh dân Y-sơ-ên bị vua A-ram áp bức.
Đức Giê-hô-va ban cho Y-sơ-ra-ên một vị cứu tinh giải thoát họ khỏi tay dân A-ram. Vậy, dân Y-sơ-ra-ên lại được sống trong lều trại của mình như trước.
Tuy nhiên, họ vẫn không từ bỏ tội lỗi của nhà Giê-rô-bô-am, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội; họ cứ phạm tội đó, đến nỗi trụ thờ nữ thần A-sê-ra còn đứng sừng sững tại Sa-ma-ri.
Chúa không để lại gì cho quân lực của Giô-a-cha ngoài năm mươi kỵ binh, mười chiến xa, và mười nghìn bộ binh. Vì vua A-ram đã tiêu diệt và nghiền nát quân Y-sơ-ra-ên như bụi trong sân đập lúa.
Chẳng phải các việc khác của Giô-a-cha, tất cả những gì vua đã làm, và thế lực của vua đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên sao?
Giô-a-cha an giấc cùng các tổ phụ mình và được an táng tại Sa-ma-ri. Giô-ách, con vua, lên ngai kế vị.
Vào năm thứ ba mươi bảy đời trị vì của Giô-ách, vua Giu-đa, thì Giô-ách, con trai Giô-a-cha, lên làm vua Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri, và trị vì mười sáu năm.
Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, không từ bỏ tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội; vua cứ đi theo con đường tội lỗi ấy.
Chẳng phải các việc khác của Giô-ách, tất cả những gì vua đã làm, và chiến công của vua trong cuộc chiến với A-ma-xia, vua Giu-đa, đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên sao?
Giô-ách an giấc cùng các tổ phụ mình, rồi Giê-rô-bô-am lên ngai kế vị. Giô-ách được an táng tại Sa-ma-ri cùng với các vua Y-sơ-ra-ên.
Ê-li-sê lâm bệnh, và do bệnh ấy ông phải qua đời. Trước đó, Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên, xuống thăm ông, khóc trước mặt ông và kêu than: “Cha tôi ơi! Cha tôi ơi! Chiến xa và kỵ binh của Y-sơ-ra-ên!”
Ê-li-sê nói với vua: “Xin vua lấy cung và tên ra đây.” Giô-ách lấy cung và tên.
Ê-li-sê lại nói với vua Y-sơ-ra-ên: “Vua hãy giương cung lên.” Vua liền giương cung. Rồi Ê-li-sê đặt tay mình trên tay vua
và nói: “Hãy mở cửa sổ về hướng đông.” Giô-ách mở cửa ra. Ê-li-sê lại nói: “Hãy bắn.” Vua liền bắn. Bấy giờ, Ê-li-sê nói: “Ấy là mũi tên chiến thắng của Đức Giê-hô-va, tức là mũi tên chiến thắng quân A-ram; vì vua sẽ đánh quân A-ram tại A-phéc, cho đến khi tận diệt chúng.”
Ê-li-sê nói tiếp: “Xin vua hãy cầm lấy các mũi tên.” Vua liền cầm lấy. Ê-li-sê lại bảo vua Y-sơ-ra-ên: “Hãy đập xuống đất.” Giô-ách đập ba lần, rồi ngừng lại.
Người của Đức Chúa Trời nổi giận với vua và nói: “Nếu vua đã đập năm hoặc sáu lần thì mới có thể đánh quân A-ram cho đến khi tận diệt chúng. Nhưng bây giờ, vua sẽ chỉ đánh bại quân A-ram được ba lần mà thôi.”
Ê-li-sê qua đời và được an táng. Trong thời ấy, những toán quân Mô-áp cướp phá thường xâm nhập xứ sở vào dịp đầu năm.
Một lần kia, người ta đang đem một người chết đi chôn thì thấy một toán quân đến cướp phá, họ liền ném người chết vào mộ của Ê-li-sê rồi bỏ đi. Vừa khi chạm đến hài cốt của Ê-li-sê thì người chết sống lại và đứng trên chân mình.
Ha-xa-ên, vua A-ram, áp bức dân Y-sơ-ra-ên suốt thời gian trị vì của Giô-a-cha.
Nhưng Đức Giê-hô-va vẫn làm ơn cho họ. Ngài thương xót và đoái xem họ vì giao ước mà Ngài đã lập với Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Ngài không muốn tiêu diệt họ, và cho đến nay, vẫn không loại bỏ họ khỏi mặt Ngài.
Khi vua A-ram là Ha-xa-ên băng hà, và con vua là Bên Ha-đát kế vị,
thì Giô-ách, con Giô-a-cha, lấy lại từ tay Bên Ha-đát, con trai Ha-xa-ên, các thành mà vua ấy đã đánh chiếm được trong cuộc chiến với vua cha là Giô-a-cha. Giô-ách đánh bại Bên Ha-đát ba lần, và khôi phục các thành của Y-sơ-ra-ên.
Vào năm thứ hai đời trị vì của Giô-ách, con Giô-a-cha, vua Y-sơ-ra-ên, thì A-ma-xia, con Giô-ách, vua Giu-đa, lên ngai vua.
Khi bắt đầu trị vì, vua được hai mươi lăm tuổi, và cai trị hai mươi chín năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Giê-hoa-đan, quê ở Giê-ru-sa-lem.
Vua làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va, nhưng không được như tổ tiên vua là Đa-vít; vua chỉ làm theo mọi điều cha mình là Giô-ách đã làm.
Các nơi cao vẫn chưa bị phá hủy, nên dân chúng vẫn còn dâng sinh tế và đốt hương trên các nơi cao ấy.
Vừa khi nắm vững vương quốc trong tay, vua xử tử những thuộc hạ đã giết vua cha.
Nhưng vua không xử tử con cái của những kẻ sát nhân ấy, đúng theo lời đã chép trong sách luật pháp của Môi-se; trong đó, Đức Giê-hô-va đã truyền rằng: “Người ta sẽ không giết cha vì tội của con, cũng sẽ chẳng giết con vì tội của cha, vì mỗi người sẽ chết vì tội của mình.”
Chính A-ma-xia đã giết mười nghìn quân Ê-đôm tại thung lũng Muối, và chiếm thành Sê-la trong trận nầy, rồi đặt tên là Giốc-then, vẫn còn cho đến ngày nay.
Sau đó, A-ma-xia sai sứ giả đến gặp Giô-ách, con Giô-a-cha, cháu Giê-hu, vua Y-sơ-ra-ên, với lời thách thức: “Hãy đến, để chúng ta đối mặt đọ sức nhau.”
Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên, sai người trả lời với A-ma-xia, vua Giu-đa: “Cây gai ở Li-ban sai người nói với cây bá hương cũng ở Li-ban rằng: ‘Hãy gả con gái anh làm vợ con trai tôi.’ Nhưng có thú rừng của Li-ban đi ngang qua, giẫm nát cây gai.
Ông thật đã đánh bại dân Ê-đôm và sinh lòng kiêu căng. Hãy ở nhà mà hưởng vinh quang của chiến công ấy. Tại sao ông lại muốn gây họa cho mình, khiến cho ông và cả Giu-đa bị gục ngã?”
Nhưng A-ma-xia không chịu nghe. Vậy, vua Y-sơ-ra-ên là Giô-ách tiến lên đọ sức mặt đối mặt với A-ma-xia, vua Giu-đa, tại Bết Sê-mết thuộc Giu-đa.
Giu-đa bị Y-sơ-ra-ên đánh bại, quân Giu-đa chạy trốn, ai về nhà nấy.
Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên bắt được A-ma-xia, vua Giu-đa, con Giô-ách, cháu A-cha-xia tại Bết Sê-mết. Rồi Giô-ách tiến đến Giê-ru-sa-lem, phá đổ tường thành từ cổng Ép-ra-im cho đến cổng Góc, một đoạn dài hai trăm mét.
Vua lấy tất cả vàng bạc và mọi vật dụng tìm thấy trong đền thờ Đức Giê-hô-va, và trong các kho tàng của cung điện. Vua cũng bắt nhiều con tin, rồi trở về Sa-ma-ri.
Chẳng phải các việc khác của Giô-ách, những gì vua đã làm, thế lực của vua, cuộc chiến của vua với A-ma-xia, vua Giu-đa, đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên sao?
Giô-ách an giấc cùng các tổ phụ, và được an táng tại Sa-ma-ri chung với các vua Y-sơ-ra-ên. Rồi Giê-rô-bô-am, con vua, lên ngai kế vị.
A-ma-xia, con của Giô-ách vua Giu-đa, còn sống mười lăm năm, sau khi Giô-ách, con Giô-a-cha, vua Y-sơ-ra-ên, băng hà.
Chẳng phải các việc khác của A-ma-xia đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
Tại Giê-ru-sa-lem, người ta âm mưu chống lại vua nên vua chạy trốn đến La-ki. Nhưng họ sai người đuổi theo vua đến La-ki và giết vua tại đó.
Họ đặt xác vua trên ngựa, chở về Giê-ru-sa-lem, và an táng vua chung với các tổ phụ tại thành Đa-vít.
Toàn dân Giu-đa lập A-xa-ria, được mười sáu tuổi, lên làm vua kế vị vua cha là A-ma-xia.
Sau khi vua cha an giấc cùng các tổ phụ, chính vua A-xa-ria là người xây lại Ê-lát và khôi phục chủ quyền thành ấy về cho Giu-đa.
Vào năm thứ mười lăm đời trị vì của A-ma-xia, con Giô-ách, vua Giu-đa, thì Giê-rô-bô-am, con Giô-ách, lên làm vua Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri. Vua cai trị bốn mươi mốt năm.
Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, chẳng từ bỏ tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
Chính vua đã khôi phục bờ cõi Y-sơ-ra-ên từ cửa ải Ha-mát cho đến biển A-ra-ba, đúng như lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã phán bởi đầy tớ Ngài là nhà tiên tri Giô-na, con A-mi-tai, ở Gát Hê-phe.
Vì Đức Giê-hô-va đã thấy nỗi khốn khổ cay đắng tột cùng của Y-sơ-ra-ên; chẳng một ai, dù nô lệ hay tự do, đến cứu giúp Y-sơ-ra-ên.
Và vì Đức Giê-hô-va đã không phán rằng Ngài sẽ xóa tên Y-sơ-ra-ên dưới bầu trời nên Ngài đã dùng Giê-rô-bô-am, con Giô-ách, mà giải cứu họ.
Chẳng phải các việc khác của Giê-rô-bô-am, mọi việc vua làm, thế lực của vua, các chiến công và việc khôi phục chủ quyền Đa-mách và Ha-mát từ Giu-đa về cho Y-sơ-ra-ên, đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên sao?
Giê-rô-bô-am an giấc cùng tổ phụ mình là các vua Y-sơ-ra-ên. Con vua là Xa-cha-ri lên ngai kế vị.
Năm thứ hai mươi bảy đời trị vì của Giê-rô-bô-am, vua Y-sơ-ra-ên, thì A-xa-ria, con A-ma-xia, vua Giu-đa, bắt đầu trị vì.
Khi lên ngai, vua được mười sáu tuổi và cai trị năm mươi hai năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Giê-cô-lia, quê ở Giê-ru-sa-lem.
Vua làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va, đúng như những gì mà vua cha là A-ma-xia đã làm.
Các nơi cao vẫn chưa bị phá hủy, nên dân chúng vẫn còn dâng sinh tế và đốt hương trên các nơi cao đó.
Đức Giê-hô-va trừng phạt vua, khiến vua mắc bệnh phong hủi cho đến ngày băng hà; vua phải sống cách biệt trong một nhà riêng. Giô-tham, con vua, đảm trách việc triều chính và cai trị dân chúng trong nước.
Chẳng phải các việc khác của A-xa-ria, mọi việc vua làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
A-xa-ria an giấc cùng các tổ phụ và được an táng bên cạnh họ trong thành Đa-vít. Rồi con vua là Giô-tham lên kế vị.
Vào năm thứ ba mươi tám đời trị vì của A-xa-ria, vua Giu-đa, thì Xa-cha-ri, con trai Giê-rô-bô-am, lên làm vua Y-sơ-ra-ên và cai trị sáu tháng tại Sa-ma-ri.
Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va giống như các tổ phụ mình đã làm. Vua không từ bỏ tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
Sa-lum, con Gia-be, âm mưu chống lại vua. Ông tấn công vua trước mặt dân chúng, rồi giết chết vua và chiếm ngai.
Các việc khác của Xa-cha-ri đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.
Như thế, lời của Đức Giê-hô-va đã phán hứa với Giê-hu rằng: “Con cháu ngươi sẽ ngồi trên ngai Y-sơ-ra-ên cho đến đời thứ tư,” đã được ứng nghiệm.
Năm thứ ba mươi chín đời trị vì của Ô-xia, vua Giu-đa, thì Sa-lum, con Gia-be, lên làm vua và cai trị một tháng tại Sa-ma-ri.
Mê-na-hem, con Ga-đi, từ Tiệt-sa đi lên Sa-ma-ri đánh Sa-lum, con Gia-be, ngay tại Sa-ma-ri và giết chết vua, rồi Mê-na-hem lên làm vua thay cho Sa-lum.
Các việc khác của Sa-lum, kể cả âm mưu do vua chủ xướng, đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.
Lúc bấy giờ, Mê-na-hem xuất quân từ Tiệt-sa đánh phá Típ-sắc, giết mọi người trong thành và khắp miền phụ cận. Vì người trong thành ấy không chịu mở cổng cho vua nên vua đánh phá thành, và mổ bụng tất cả phụ nữ có thai.
Năm thứ ba mươi chín đời trị vì của A-xa-ria, vua Giu-đa, thì Mê-na-hem, con Ga-đi, lên làm vua Y-sơ-ra-ên, và cai trị mười năm tại Sa-ma-ri.
Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va; trọn đời không từ bỏ tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
Vua A-si-ri là Phun đến xâm lấn xứ sở. Mê-na-hem nộp cho Phun ba mươi nghìn ký bạc, để vua ấy giúp giữ vững vương quốc trong tay mình.
Mê-na-hem thu số bạc ấy từ những người giàu có trong dân Y-sơ-ra-ên, mỗi người đóng góp hơn nửa ký bạc, để nộp cho vua A-si-ri. Vậy vua A-si-ri rút quân về, không ở lại trong xứ.
Chẳng phải các việc khác của Mê-na-hem, và tất cả những việc vua làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên sao?
Mê-na-hem an giấc cùng các tổ phụ mình. Phê-ca-hia, con vua, lên kế vị.
Năm thứ năm mươi đời trị vì của A-xa-ria, vua Giu-đa, thì Phê-ca-hia, con Mê-na-hem, lên làm vua Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri, và cai trị hai năm.
Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, không từ bỏ tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
Một tướng chỉ huy quân đội là Phê-ca, con Rê-ma-lia, âm mưu chống lại vua và đánh giết vua tại Sa-ma-ri, trong pháo đài của hoàng cung, giết luôn Ạt-gốp và A-ri-ê. Phê-ca đem theo năm mươi người Ga-la-át, ông giết Phê-ca-hia và chiếm ngai vua.
Các việc khác của Phê-ca-hia, và mọi việc vua làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.
Năm thứ năm mươi hai đời trị vì của A-xa-ria, vua Giu-đa, thì Phê-ca, con Rê-ma-lia, lên làm vua Y-sơ-ra-ên tại Sa-ma-ri, và cai trị hai mươi năm.
Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, không từ bỏ tội lỗi của Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, là tội đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội.
Trong đời trị vì của Phê-ca, vua Y-sơ-ra-ên, Tiếc-la Phi-lê-se, vua A-si-ri, đến xâm chiếm Y-giôn, A-bên Bết Ma-ca, Gia-nô-ác, Kê-đe, Hát-so, miền Ga-la-át, miền Ga-li-lê, và cả địa phận Nép-ta-li. Rồi vua bắt dân các nơi ấy đày sang A-si-ri.
Lúc ấy, con của Ê-la là Ô-sê âm mưu chống lại vua Phê-ca, con Rê-ma-lia, và đánh giết vua, rồi chiếm ngai vua nhằm năm thứ hai mươi đời trị vì của vua Giô-tham, con Ô-xia.
Các việc khác của Phê-ca, và mọi việc vua làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Y-sơ-ra-ên.
Năm thứ hai đời trị vì của Phê-ca, con Rê-ma-lia, vua Y-sơ-ra-ên, thì Giô-tham, con Ô-xia, vua Giu-đa, lên ngai làm vua.
Khi bắt đầu trị vì, Giô-tham được hai mươi lăm tuổi, và cai trị mười sáu năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Giê-ru-sa, con gái Xa-đốc.
Vua làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va, noi theo mọi điều vua cha là Ô-xia đã làm.
Nhưng các nơi cao vẫn chưa bị phá hủy; dân chúng vẫn còn dâng sinh tế và đốt hương trên các nơi cao đó. Giô-tham đã xây cất cổng trên của đền thờ Đức Giê-hô-va.
Chẳng phải các việc khác của Giô-tham, và những việc vua làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
Vào thời ấy, Đức Giê-hô-va bắt đầu khiến Rê-xin vua A-ram, và Phê-ca, con Rê-ma-lia, đến đánh Giu-đa.
Giô-tham an giấc cùng các tổ phụ và được an táng bên cạnh họ tại thành Đa-vít, tổ phụ vua. Thái tử A-cha lên ngai kế vị.
Năm thứ mười bảy đời trị vì của vua Phê-ca, con Rê-ma-lia, thì A-cha, con Giô-tham vua Giu-đa, lên làm vua.
Khi bắt đầu trị vì thì A-cha được hai mươi tuổi, và cai trị mười sáu năm tại Giê-ru-sa-lem. Vua không làm điều ngay thẳng dưới mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình như tổ phụ vua là Đa-vít đã làm.
Nhưng vua đi theo đường lối của các vua Y-sơ-ra-ên, thậm chí đưa con mình vào lửa để tế thần, theo thói tục ghê tởm của các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi dân Y-sơ-ra-ên.
Vua cũng dâng sinh tế và đốt hương trên các nơi cao, trên các ngọn đồi và dưới tất cả cây xanh.
Bấy giờ, Rê-xin vua A-ram, và Phê-ca con Rê-ma-lia, vua Y-sơ-ra-ên, kéo quân lên Giê-ru-sa-lem để gây chiến. Họ bao vây A-cha nhưng không đánh thắng vua được.
Vào lúc đó, vua A-ram là Rê-xin khôi phục Ê-lát về cho nước A-ram. Vua đuổi dân Giu-đa khỏi Ê-lát, và dân Ê-đôm đến Ê-lát ở đó cho đến ngày nay.
A-cha sai sứ giả đến nói với vua A-si-ri là Tiếc-la Phi-lê-se: “Tôi là đầy tớ và là con của ngài. Xin ngài đến giải cứu tôi khỏi tay vua A-ram và vua Y-sơ-ra-ên vì họ đang tấn công tôi.”
A-cha lấy bạc vàng trong đền thờ Đức Giê-hô-va và trong các kho tàng của hoàng cung gửi làm lễ vật cho vua A-si-ri.
Vua A-si-ri nhận lời yêu cầu của A-cha, kéo quân lên đánh chiếm thành Đa-mách, bắt dân chúng trong thành đày sang Ki-rơ và giết Rê-xin.
Khi vua A-cha đến Đa-mách để gặp vua A-si-ri là Tiếc-la Phi-lê-se thì vua thấy một bàn thờ ở Đa-mách. Vua A-cha liền gửi cho thầy tế lễ U-ri kiểu mẫu và mô hình bàn thờ ấy, với tất cả chi tiết chỉ dẫn cách làm bàn thờ.
Thầy tế lễ U-ri lập một bàn thờ đúng theo kiểu mẫu mà vua A-cha đã từ Đa-mách gửi về. Thầy tế lễ U-ri làm xong bàn thờ ấy trước khi vua A-cha trở về.
Khi từ Đa-mách trở về, vua đến xem bàn thờ rồi lại gần và dâng tế lễ trên đó.
Vua dâng tế lễ thiêu, tế lễ chay, làm lễ quán và huyết của tế lễ bình an trên bàn thờ.
Vua cho dời bàn thờ bằng đồng trước mặt Đức Giê-hô-va, vốn ở phía trước đền thờ, giữa bàn thờ mới và đền thờ Đức Giê-hô-va, mà đặt nó ở phía bắc của bàn thờ mới.
Rồi vua A-cha truyền lệnh cho thầy tế lễ U-ri rằng: “Trên bàn thờ lớn, hãy dâng tế lễ thiêu buổi sáng và tế lễ chay buổi chiều, tế lễ thiêu và tế lễ chay của vua, tế lễ thiêu và tế lễ chay của toàn dân trong xứ cùng với lễ quán, và rảy huyết sinh tế của tế lễ thiêu, luôn cả huyết của các sinh tế khác trên bàn thờ nầy. Còn bàn thờ bằng đồng, ta sẽ dùng để cầu hỏi ý Chúa.”
Thầy tế lễ U-ri làm đúng theo mọi điều vua A-cha đã truyền.
Sau đó, vua A-cha cho gỡ bỏ các tấm trám của những cái đế, và dẹp tất cả những bồn nước đặt ở trên. Vua cho hạ bể nước kê trên những con bò bằng đồng xuống rồi đem đặt nó trên một nền đá.
Để được lòng vua A-si-ri, vua thay đổi vị trí trong đền thờ của Đức Giê-hô-va bằng cách cho gỡ bỏ vòm che nắng trong ngày sa-bát đã được xây dựng trong đền thờ, và dẹp bỏ lối vào dành cho vua ở bên ngoài.
Chẳng phải các việc khác của A-cha và những việc vua đã làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
A-cha an giấc cùng các tổ phụ và được an táng bên cạnh họ trong thành Đa-vít. Ê-xê-chia, con vua, lên kế vị.
Năm thứ mười hai đời trị vì của A-cha, vua Giu-đa, thì Ô-sê, con Ê-la, lên làm vua Y-sơ-ra-ên và cai trị chín năm tại Sa-ma-ri.
Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va nhưng không bằng các vua Y-sơ-ra-ên trước đó.
Vua A-si-ri là Sanh-ma-na-sa lên đánh Ô-sê, khiến vua phải thần phục và triều cống cho Sanh-ma-na-sa.
Nhưng khi khám phá ra rằng Ô-sê đang âm mưu làm phản vì đã sai sứ giả đến Sô, vua Ai Cập, và không triều cống hằng năm như trước thì vua A-si-ri bắt Ô-sê xiềng lại và bỏ tù.
Rồi vua A-si-ri tiến đánh cả xứ và bao vây Sa-ma-ri trong ba năm.
Vào năm thứ chín đời trị vì của Ô-sê, vua A-si-ri chiếm được thành Sa-ma-ri và đày dân Y-sơ-ra-ên sang A-si-ri. Vua cho họ định cư tại Cha-la, bên bờ sông Cha-bo thuộc vùng Gô-xan và trong các thành của nước Mê-đi.
Việc nầy xảy ra vì dân Y-sơ-ra-ên đã phạm tội cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ, là Đấng đã đem họ ra khỏi Ai Cập và khỏi tay của Pha-ra-ôn, vua Ai Cập. Họ đã thờ lạy các thần khác,
sống theo thói tục của các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi dân Y-sơ-ra-ên, và theo thói tục mà các vua Y-sơ-ra-ên đã bày ra.
Dân Y-sơ-ra-ên đã lén lút làm những việc bất chính, chống lại Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ. Họ đã xây dựng những nơi cao trong khắp các thành, từ tháp canh cho đến các thành trì kiên cố.
Họ đã dựng lên cho mình những trụ thờ bằng đá và tượng nữ thần A-sê-ra trên tất cả những nơi cao và dưới mọi cây xanh.
Trên các nơi cao ấy, họ đốt hương như các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi họ, làm những việc gian ác để chọc giận Đức Giê-hô-va.
Họ thờ phượng những hình tượng mà Đức Giê-hô-va đã phán với họ: “Các ngươi không được thờ lạy chúng.”
Tuy thế, Đức Giê-hô-va đã dùng các nhà tiên tri, các nhà tiên kiến cảnh cáo Y-sơ-ra-ên và Giu-đa rằng: “Hãy quay khỏi đường lối gian ác của các ngươi! Hãy tuân giữ điều răn và luật lệ của Ta, đúng theo toàn bộ luật pháp mà Ta đã truyền cho tổ phụ các ngươi, và mọi điều Ta đã dùng đầy tớ Ta là các nhà tiên tri phán bảo các ngươi.”
Nhưng họ không chịu nghe và cứng cổ như các tổ phụ của họ, là những người không tin vào Giê-hô-va Đức Chúa Trời của mình.
Họ đã xem thường các luật lệ của Ngài cũng như giao ước mà Ngài đã lập với tổ phụ họ, và họ cũng xem thường những lời cảnh cáo mà Ngài đã phán với họ. Họ đi theo các thần hư không và chính họ cũng trở thành hư không. Họ bắt chước các dân tộc chung quanh, là những dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã truyền họ không được làm theo chúng.
Họ loại bỏ tất cả điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, đúc cho mình hai tượng bò con, làm tượng nữ thần A-sê-ra, thờ lạy tất cả các thiên thể, và thờ phượng Ba-anh.
Họ đưa con trai con gái mình qua lửa để tế thần. Họ dùng tà thuật, tin bói khoa, và tự bán mình để làm điều dữ dưới mắt Đức Giê-hô-va mà chọc giận Ngài.
Vì thế, Đức Giê-hô-va rất giận dân Y-sơ-ra-ên và loại bỏ họ khỏi mặt Ngài, chỉ còn lại bộ tộc Giu-đa mà thôi.
Ngay cả Giu-đa cũng không tuân giữ các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình. Họ đi theo các thói tục mà Y-sơ-ra-ên đã bày ra.
Thế nên, Đức Giê-hô-va loại bỏ toàn thể dòng dõi Y-sơ-ra-ên. Ngài làm cho họ bị sỉ nhục và phó họ vào tay kẻ cướp, cho đến khi Ngài ném họ xa khỏi Ngài.
Khi Ngài xé Y-sơ-ra-ên ra khỏi nhà Đa-vít thì họ lập Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, làm vua. Giê-rô-bô-am dụ dỗ Y-sơ-ra-ên rời bỏ Đức Giê-hô-va và khiến cho họ phạm trọng tội.
Dân Y-sơ-ra-ên cứ tiếp tục phạm tất cả tội lỗi mà Giê-rô-bô-am đã phạm. Họ chẳng từ bỏ một tội nào
cho đến khi Đức Giê-hô-va đuổi họ khỏi Ngài, đúng như Ngài đã phán bởi tất cả các nhà tiên tri, là đầy tớ Ngài. Như vậy, Y-sơ-ra-ên bị lưu đày biệt xứ sang A-si-ri cho đến ngày nay.
Vua A-si-ri đem người từ Ba-by-lôn, Cu-tha, A-va, Ha-mát và Sê-phạt-va-im, đến định cư trong các thành của Sa-ma-ri, thế vào chỗ dân Y-sơ-ra-ên. Chúng chiếm xứ Sa-ma-ri và ở trong các thành của nó.
Khi mới bắt đầu định cư tại đó, chúng không kính sợ Đức Giê-hô-va nên Đức Giê-hô-va sai sư tử đến vồ chết nhiều người trong bọn chúng.
Người ta tâu với vua A-si-ri rằng: “Các dân mà bệ hạ đã đày sang định cư trong các thành của Sa-ma-ri không biết cách tôn thờ thần bản xứ. Vì vậy, thần đó đã sai sư tử đến vồ chết họ, vì họ không biết cách tôn thờ thần bản xứ.”
Vua A-si-ri liền truyền lệnh: “Trong số những thầy tế lễ mà các ngươi đã bắt từ đó đem qua đây, hãy đưa một người trở về xứ đó để dạy họ cách thờ thần bản xứ.”
Vậy, một trong những thầy tế lễ mà chúng đã lưu đày từ Sa-ma-ri được đưa trở về Bê-tên để dạy chúng cách phải kính sợ Đức Giê-hô-va.
Nhưng mỗi dân tộc đều tạo thần riêng cho mình, đặt nó trong đền miếu trên các nơi cao mà dân Sa-ma-ri đã dựng lên. Dân tộc nào cũng tạo thần riêng cho mình trong các thành của chúng.
Người Ba-by-lôn tạo tượng thần Su-cốt Bê-nốt, người Cút tạo tượng thần Nẹt-ganh, người Ha-mát tạo tượng thần A-si-ma,
người A-vim tạo tượng thần Níp-ca và Tạt-tác, còn người Sê-phạt-va-im thì thiêu các con trai của chúng để tế thần A-tra-mê-léc và A-na-mê-léc, là các thần của dân Sê-phạt-va-im.
Chúng kính sợ Đức Giê-hô-va, nhưng lại chọn người của chúng lập làm thầy tế lễ tại các nơi cao; các thầy tế lễ ấy vì chúng mà dâng tế lễ trong các đền miếu ở những nơi cao đó.
Các dân tộc ấy kính sợ Đức Giê-hô-va, nhưng cũng phục vụ các thần riêng của mình theo thói tục vốn có của dân tộc chúng trước khi bị lưu đày.
Cho đến ngày nay, chúng vẫn còn làm theo thói tục trước kia của mình. Chúng không kính sợ Đức Giê-hô-va, cũng chẳng làm theo những phép tắc, quy định, luật pháp, hay mệnh lệnh Đức Giê-hô-va đã truyền cho con cháu Gia-cốp, mà Ngài đặt tên là Y-sơ-ra-ên.
Đức Giê-hô-va đã lập giao ước với Y-sơ-ra-ên và truyền dạy rằng: “Các con đừng sợ các thần khác, cũng không được thờ lạy, phục vụ và dâng sinh tế cho chúng.
Nhưng Đức Giê-hô-va, Đấng đã dùng quyền năng lớn lao và cánh tay giơ thẳng ra, đem các con ra khỏi Ai Cập, chính Ngài là Đấng mà các con phải kính sợ, thờ lạy, và dâng sinh tế.
Các phép tắc, quy định, luật pháp và mệnh lệnh mà Ngài đã viết cho các con thì các con phải tuân giữ luôn luôn. Các con đừng sợ các thần khác.
Các con không được quên giao ước mà Ta đã lập với các con, và đừng sợ các thần khác.
Nhưng các con phải kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con, chính Ngài sẽ giải cứu các con khỏi tay mọi kẻ thù của các con.”
Tuy nhiên, các dân tộc ấy không nghe theo, vẫn cứ làm theo thói tục trước kia của mình.
Như vậy, các dân tộc ấy vừa kính sợ Đức Giê-hô-va, vừa thờ lạy những tượng chạm mà chúng làm ra. Tổ phụ của chúng làm thế nào thì con cái, cháu chắt cũng làm như thế cho đến ngày nay.
Năm thứ ba đời trị vì của Ô-sê, con Ê-la, vua Y-sơ-ra-ên, thì Ê-xê-chia, con A-cha, vua Giu-đa, lên làm vua.
Khi lên ngai, vua được hai mươi lăm tuổi, và cai trị hai mươi chín năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là A-bi, con gái của Xa-cha-ri.
Vua làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va như Đa-vít, tổ phụ vua, đã làm.
Vua phá hủy các nơi cao, đập vỡ những trụ thờ, triệt hạ các tượng A-sê-ra, và đập nát con rắn bằng đồng mà Môi-se đã làm. Vì cho đến lúc đó, dân Y-sơ-ra-ên vẫn xông hương cho nó; người ta gọi nó là Nê-hu-tan.
Ê-xê-chia tin cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đến mức trong tất cả các vua Giu-đa, trước hoặc sau vua, chẳng có ai được như vua.
Vua bám chặt Đức Giê-hô-va, không rời khỏi Ngài, nhưng tuân giữ các điều răn mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.
Vì thế, Đức Giê-hô-va ở với vua, bất cứ điều gì vua làm đều được thành công. Vua nổi lên chống lại vua A-si-ri, không thần phục vua ấy nữa.
Vua đánh bại người Phi-li-tin đến tận Ga-xa và vùng phụ cận, từ tháp canh cho đến thành trì kiên cố.
Vào năm thứ tư đời trị vì của Ê-xê-chia, nhằm năm thứ bảy đời trị vì của Ô-sê, con Ê-la, vua Y-sơ-ra-ên, thì Sanh-ma-na-sa, vua A-si-ri, tiến đánh Sa-ma-ri và bao vây thành.
Sau ba năm, họ chiếm được thành. Vậy, thành Sa-ma-ri bị thất thủ vào năm thứ sáu đời trị vì của Ê-xê-chia, tức là năm thứ chín đời trị vì của Ô-sê, vua Y-sơ-ra-ên.
Vua A-si-ri đem dân Y-sơ-ra-ên đày qua A-si-ri, định cư họ tại Cha-la, bên bờ sông Cha-bo, thuộc vùng Gô-xan, và ở trong các thành xứ Mê-đi.
Việc nầy xảy ra vì họ không vâng theo lời phán của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, nhưng vi phạm giao ước Ngài. Họ không chịu nghe và cũng chẳng làm theo tất cả những gì Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã truyền cho.
Vào năm thứ mười bốn đời trị vì của Ê-xê-chia, San-chê-ríp, vua A-si-ri, tiến đánh và chiếm các thành kiên cố của Giu-đa.
Ê-xê-chia, vua Giu-đa, sai sứ đến La-ki nói với vua A-si-ri rằng: “Tôi có lỗi. Xin ngài lui binh khỏi nước tôi; ngài đòi điều gì, tôi xin chịu cả.” Vua A-si-ri buộc Ê-xê-chia, vua Giu-đa, phải nộp chín nghìn ký bạc, và chín trăm ký vàng.
Ê-xê-chia nộp cho vua ấy tất cả số bạc có trong đền thờ Đức Giê-hô-va, và trong các kho tàng của cung vua.
Bấy giờ, Ê-xê-chia phải gỡ vàng ở các cửa và cột đền thờ Đức Giê-hô-va mà chính vua đã cẩn vào, rồi đem nộp hết cho vua A-si-ri.
Nhưng vua A-si-ri sai Tạt-tan, Ráp-sa-ri, và Ráp-sa-kê, đem theo một đạo quân hùng hậu từ La-ki đến Giê-ru-sa-lem gặp vua Ê-xê-chia. Chúng tiến lên Giê-ru-sa-lem. Khi tới nơi, chúng đến đứng tại cống dẫn nước ao trên, nằm trên đường cái dẫn đến cánh đồng thợ giặt.
Chúng yêu cầu được gặp vua. Nhưng quan quản lý cung điện là Ê-li-a-kim, con của Hinh-kia, thư ký Sép-na, và quan thái sử là Giô-a, con của A-sáp, ra tiếp chúng.
Ráp-sa-kê nói với họ: “Hãy về nói lại với Ê-xê-chia rằng: Đại đế A-si-ri nói thế nầy: ‘Dựa vào đâu mà ngươi tự tin như thế?
Ngươi tưởng rằng chỉ những lời nói suông có thể thay thế chiến lược và sức mạnh để chiến đấu sao? Vậy bây giờ, ngươi dựa vào ai mà nổi lên chống lại ta?
Nầy, ngươi đang nhờ cậy vào Ai Cập chứ gì? Nhưng Ai Cập chỉ như một cây sậy dập nát mà ai vịn vào nó ắt sẽ bị đâm thủng bàn tay. Tất cả những ai nhờ cậy Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, đều bị như thế.’
Có thể các ngươi sẽ nói với ta rằng: ‘Chúng tôi tin cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng tôi. Chẳng phải chính Ê-xê-chia đã phá hủy các nơi cao và bàn thờ trên đó, rồi truyền cho Giu-đa và Giê-ru-sa-lem phải thờ lạy trước bàn thờ tại Giê-ru-sa-lem sao?’
Thế thì, ngươi hãy đánh cuộc với chủ ta là vua A-si-ri. Ta sẽ cho ngươi hai nghìn con ngựa nếu ngươi có thể tìm đủ kỵ binh để cưỡi.
Ngay cả khi ngươi cậy vào Ai Cập để có chiến xa và kỵ binh, liệu ngươi có thể đẩy lui được một tướng nhỏ nhất trong số các quan tướng của chủ ta không?
Hơn nữa, chẳng phải là theo ý muốn của Đức Giê-hô-va mà ta tiến đánh để hủy diệt nơi nầy sao? Chính Đức Giê-hô-va đã phán với ta: ‘Hãy tiến đánh và hủy diệt xứ nầy.’”
Ê-li-a-kim, con của Hinh-kia, cùng với Sép-na và Giô-a nói với Ráp-sa-kê: “Xin nói với các đầy tớ ông bằng tiếng A-ram, vì chúng tôi hiểu thứ tiếng ấy. Đừng nói với chúng tôi bằng tiếng Giu-đa, kẻo dân ở trên tường thành nghe được.”
Nhưng Ráp-sa-kê trả lời với họ: “Có phải chủ ta sai ta đến để chỉ nói các lời nầy với chủ ngươi và các ngươi thôi sao? Chẳng phải là để nói với những người đang ở trên vách thành kia, là những người cùng chung số phận với các ngươi, sẽ phải ăn phân và uống nước tiểu mình sao?”
Rồi Ráp-sa-kê đứng dậy, nói lớn tiếng bằng tiếng Giu-đa rằng: “Hãy lắng nghe lời của đại đế A-si-ri!
Vua nói thế nầy: ‘Đừng để cho Ê-xê-chia lừa gạt các ngươi, vì hắn không thể nào giải cứu các ngươi khỏi tay ta được đâu.
Cũng đừng để Ê-xê-chia dụ dỗ các ngươi tin cậy Đức Giê-hô-va khi nói rằng Đức Giê-hô-va chắc chắn sẽ giải cứu chúng ta, và không để cho thành nầy rơi vào tay của vua A-si-ri đâu.
Đừng nghe theo Ê-xê-chia, vì vua A-si-ri nói thế nầy: Hãy làm hòa với ta và ra đầu hàng ta thì ai nấy trong các ngươi sẽ được ăn hoa quả trong vườn nho, vườn vả của mình, và uống nước giếng mình,
cho tới khi ta đến đem các ngươi vào trong một xứ giống như xứ của các ngươi, tức là xứ có ngũ cốc và rượu, bánh và vườn nho, một xứ có dầu ô-liu và mật ong. Như thế, các ngươi sẽ sống và không chết đâu. Vậy các ngươi đừng nghe Ê-xê-chia, vì hắn lừa dối các ngươi khi nói rằng Đức Giê-hô-va sẽ giải cứu chúng ta.
Có thần của dân tộc nào giải cứu được xứ mình khỏi tay vua A-si-ri chăng?
Thần của Ha-mát và thần của Ạt-bát ở đâu? Thần của Sê-phạt-va-im, thần của Hê-na và thần của Y-va ở đâu? Các thần đó có giải cứu Sa-ma-ri khỏi tay ta chăng?
Có thần nào trong tất cả thần của các nước đã giải cứu xứ họ khỏi tay ta được chăng? Vậy, liệu Đức Giê-hô-va có giải cứu Giê-ru-sa-lem khỏi tay ta được chăng?’”
Nhưng dân chúng im lặng, không đáp lại một lời, vì vua đã ra lệnh: “Các ngươi đừng đáp lại hắn.”
Ê-li-a-kim, con của Hinh-kia, quan quản lý cung điện, thư ký Sép-na, và quan thái sử Giô-a, con của A-sáp, xé áo mình rồi trở về thuật lại cho vua Ê-xê-chia mọi lời của Ráp-sa-kê.
Khi nghe tin ấy, vua Ê-xê-chia liền xé áo mình, mặc áo sô và đi vào đền thờ Đức Giê-hô-va.
Vua sai quan quản lý cung điện là Ê-li-a-kim, thư ký Sép-na và các thầy tế lễ cao niên mặc áo sô đến gặp nhà tiên tri Ê-sai, con trai của A-mốt.
Họ nói với ông: “Vua Ê-xê-chia nói thế nầy: ‘Hôm nay là ngày hoạn nạn, quở phạt, và ô nhục; như đàn bà đã đến lúc phải sinh con nhưng không đủ sức để sinh.
Chắc Giê-hô-va Đức Chúa Trời ông đã nghe tất cả những lời của Ráp-sa-kê mà chủ hắn là vua A-si-ri đã sai đến để phỉ báng Đức Chúa Trời hằng sống, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời ông sẽ trừng phạt chúng về những lời Ngài đã nghe. Vì vậy, xin ông dâng lời cầu nguyện cho những người còn sót lại đây.’”
Khi các đầy tớ của vua Ê-xê-chia đến gặp Ê-sai
thì Ê-sai nói với họ: “Các ông hãy về tâu lại với chủ mình rằng Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Đừng sợ những lời con đã nghe, là những lời mà các đầy tớ của vua A-si-ri xúc phạm đến Ta.
Nầy, Ta sẽ đặt một thần linh trong nó, khiến nó nghe tin đồn mà rút quân về nước. Ta sẽ làm cho nó ngã chết dưới lưỡi gươm ngay tại xứ sở nó.’”
Khi Ráp-sa-kê trở về thì gặp vua A-si-ri đang đánh thành Líp-na, vì ông được tin vua đã rời khỏi La-ki.
Bấy giờ, vua A-si-ri được tin báo về Tiệt-ha-ca, vua Cút, rằng: “Kìa, vua ấy đang kéo quân ra giao chiến với bệ hạ.” Nghe thế, vua A-si-ri lại sai các sứ giả đến gặp Ê-xê-chia, và dặn rằng:
“Các ngươi hãy nói với Ê-xê-chia, vua Giu-đa, rằng: ‘Đừng để Đức Chúa Trời, là Đấng mà ngươi tin cậy, lừa dối ngươi rằng Giê-ru-sa-lem sẽ không rơi vào tay vua A-si-ri đâu.’
Nầy, hẳn ngươi có nghe những gì các vua A-si-ri đã làm cho tất cả các nước, chúng đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Còn ngươi, ngươi sẽ thoát được sao?
Thần của các nước mà cha ông ta đã tiêu diệt, tức là các thần của Gô-xan, Ha-ran, Rết-sép, và người Ê-đen ở tại Tê-la-sa, có giải cứu họ được chăng?
Vua của Ha-mát, vua của Ạt-bát, vua của các thành Sê-phạt-va-im, Hê-na, và Y-va ở đâu?”
Ê-xê-chia nhận bức thư do các sứ giả trao tận tay. Đọc xong, vua liền lên đền thờ Đức Giê-hô-va, và trải thư ra trước mặt Đức Giê-hô-va.
Ê-xê-chia cầu nguyện trước mặt Đức Giê-hô-va: “Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Ngài vẫn ngự trên các chê-ru-bim, chỉ một mình Ngài là Đức Chúa Trời của mọi vương quốc trên đất. Chính Ngài đã dựng nên trời và đất.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin nghiêng tai và nghe! Lạy Đức Giê-hô-va, xin mở mắt và xem! Xin nghe những lời mà San-chê-ríp gửi đến để phỉ báng Đức Chúa Trời hằng sống.
Lạy Đức Giê-hô-va, các vua A-si-ri thật đã tàn phá các nước và đất đai của họ,
ném các thần của họ vào lửa, vì chúng không phải là thần, mà chỉ là sản phẩm bằng gỗ và bằng đá do tay người làm ra, nên chúng đã bị hủy diệt.
Vậy bây giờ, lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng con, xin giải cứu chúng con khỏi tay San-chê-ríp, để tất cả các vương quốc trên đất đều biết rằng chỉ một mình Giê-hô-va là Đức Chúa Trời.”
Ê-sai, con trai của A-mốt, sai người đến tâu với vua Ê-xê-chia rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Ta đã nghe lời cầu nguyện của con về việc San-chê-ríp, vua A-si-ri.
Đây là lời Đức Giê-hô-va phán về nó: ‘Trinh nữ Si-ôn Khinh miệt ngươi, chế nhạo ngươi; Con gái Giê-ru-sa-lem Lắc đầu sau lưng ngươi.
Ngươi phỉ báng và xúc phạm đến ai? Ngươi đã lên giọng Và ngước mắt tự cao chống lại ai? Dám chống lại Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên sao!
Ngươi đã dùng sứ giả mà phỉ báng Chúa. Ngươi nói: “Với vô số chiến xa, Ta lên các đỉnh núi cao, Đến đỉnh cao chót vót của Li-ban; Ta sẽ đốn những cây bá hương cao hơn hết, Và những cây tùng tốt nhất của nó; Ta sẽ đến chỗ xa hơn hết Trong rừng cây rậm rạp.
Ta đã đào giếng Và uống nước nơi đất lạ; Ta đã làm cạn khô mọi sông suối Ai Cập Với đôi bàn chân của ta.”
Có phải ngươi không hề nghe rằng Ta đã định việc nầy từ lâu? Những gì Ta đã hoạch định từ xa xưa, Nay Ta khiến nó xảy ra, Để ngươi biến các thành kiên cố Ra những đống đổ nát hoang tàn.
Cư dân các thành ấy phải bó tay, Khiếp sợ và hổ thẹn; Họ như cây cỏ ngoài đồng, Giống như đám cỏ xanh, Như cỏ non mọc trên mái nhà, Khác nào lúa mì đã héo trước khi vươn lên.
Nhưng Ta biết khi ngươi ngồi, lúc ngươi đứng, Khi ngươi ra, lúc ngươi vào; Ngay cả khi ngươi điên cuồng chống lại Ta.
Vì ngươi điên cuồng chống lại Ta, Và lời ngạo mạn của ngươi đã thấu đến tai Ta, Nên Ta móc khoen vào mũi ngươi, Tra hàm thiếc vào miệng ngươi. Ta sẽ khiến ngươi phải trở về Theo con đường mà ngươi đã đến.’
Hỡi Ê-xê-chia, đây là dấu hiệu cho con: Năm nay các con sẽ ăn sản vật tự mọc; năm thứ nhì ăn sản vật mọc lên do hạt giống tự rơi; nhưng đến năm thứ ba, hãy gieo và gặt, trồng nho và ăn trái.
Những người trốn thoát của nhà Giu-đa còn sống sót sẽ tiếp tục đâm rễ ở dưới và ra trái ở trên.
Vì sẽ có dân sót lại đi ra từ Giê-ru-sa-lem, và nhóm người trốn thoát ra từ núi Si-ôn. Lòng sốt sắng của Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ thực hiện điều đó.
Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán về vua A-si-ri như sau: ‘Nó sẽ không vào được thành nầy, sẽ chẳng bắn vào đó một mũi tên nào, cũng chẳng dùng khiên hay đắp lũy mà tấn công thành.
Nó sẽ theo con đường mình đã đến mà trở về, không vào thành nầy được đâu.’ Đức Giê-hô-va phán vậy.
Vì Ta và vì Đa-vít, đầy tớ Ta, chính Ta sẽ bảo vệ và giải cứu thành nầy.”
Ngay đêm ấy, một thiên sứ của Đức Giê-hô-va ra đánh giết một trăm tám mươi lăm nghìn người trong trại quân A-si-ri. Sáng hôm sau, người ta dậy sớm và thấy toàn là xác chết.
San-chê-ríp, vua A-si-ri, rút quân về và ở tại Ni-ni-ve.
Một hôm, vua San-chê-ríp đang cúi lạy thần của mình trong đền thờ Nít-róc thì các con trai của vua là A-tra-mê-léc và Sa-rết-se dùng gươm giết vua, rồi trốn sang xứ A-ra-rát. Con vua là Ê-sạt Ha-đôn lên kế vị.
Trong những ngày đó, Ê-xê-chia lâm bệnh gần chết. Nhà tiên tri Ê-sai, con trai A-mốt, đến gặp vua và nói: “Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Hãy sắp đặt việc nhà của con vì con sắp chết, không sống được nữa.’”
Ê-xê-chia quay mặt vào tường và cầu nguyện với Đức Giê-hô-va:
“Lạy Đức Giê-hô-va, xin nhớ lại rằng con vẫn bước đi trước mặt Ngài cách trung tín hết lòng, và làm điều thiện dưới mắt Ngài.” Rồi Ê-xê-chia khóc rất thảm thiết.
Ê-sai chưa ra khỏi sân giữa của cung điện thì có lời của Đức Giê-hô-va phán với ông:
“Hãy trở lại nói với Ê-xê-chia, nhà lãnh đạo của dân Ta, rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Đa-vít, tổ phụ vua, phán thế nầy: ‘Ta đã nghe lời cầu nguyện của con và thấy nước mắt của con. Nầy, Ta sẽ chữa lành cho con; đến ngày thứ ba, con sẽ đi lên đền thờ Đức Giê-hô-va.
Ta sẽ cho con sống thêm mười lăm năm nữa. Ta sẽ giải cứu con và thành nầy khỏi tay vua A-si-ri. Vì Ta và vì đầy tớ Ta là Đa-vít, Ta sẽ bảo vệ thành nầy.’”
Ê-sai bảo: “Hãy lấy một cái bánh trái vả đem đắp lên chỗ ung độc thì vua sẽ sống.”
Ê-xê-chia hỏi Ê-sai: “Dựa vào dấu hiệu nào để ta biết rằng Đức Giê-hô-va sẽ chữa lành cho ta, và đến ngày thứ ba ta sẽ được đi lên đền thờ Đức Giê-hô-va?”
Ê-sai đáp: “Đây là dấu hiệu Đức Giê-hô-va ban cho vua để chứng tỏ Ngài sẽ thực hiện điều Ngài đã phán hứa: Vua muốn bóng mặt trời đi tới mười bậc hay lui lại mười bậc?”
Ê-xê-chia đáp: “Bóng đi tới mười bậc thì đâu có gì lạ. Không! Xin cho bóng đã đi tới mười bậc lui lại mười bậc.”
Nhà tiên tri Ê-sai cầu khẩn Đức Giê-hô-va, và Ngài cho bóng mặt trời rọi xuống đồng hồ mặt trời của A-cha lui lại mười bậc.
Trong lúc đó, vua Ba-by-lôn là Bê-rô-đác Ba-la-đan, con của Ba-la-đan, sai người đem thư và quà tặng cho vua Ê-xê-chia, vì nghe tin vua bị bệnh.
Sau khi nghe các sứ thần tâu xong, Ê-xê-chia cho họ xem tất cả các kho báu của vua như vàng, bạc, hương liệu, dầu quý, kho vũ khí, và mọi vật trong các kho tàng. Chẳng có vật gì trong cung điện và trong toàn lãnh thổ mà Ê-xê-chia không cho họ xem.
Nhà tiên tri Ê-sai đến gặp vua Ê-xê-chia và hỏi: “Những người ấy đã nói gì với vua, và họ từ đâu đến?” Ê-xê-chia đáp: “Họ đến từ xứ Ba-by-lôn xa xôi.”
Ê-sai hỏi tiếp: “Họ đã xem gì trong cung vua?” Ê-xê-chia đáp: “Họ đã xem tất cả những gì có trong cung điện của ta. Chẳng vật gì trong các kho tàng mà ta không cho họ xem.”
Bấy giờ, Ê-sai nói với Ê-xê-chia: “Xin vua nghe lời của Đức Giê-hô-va phán:
‘Nầy, trong những ngày đến, mọi vật trong cung điện của con, tất cả những gì mà tổ tiên con đã tích trữ trong các kho tàng cho đến ngày nay, đều sẽ bị đem qua Ba-by-lôn, chẳng còn một thứ gì!’ Đức Giê-hô-va phán vậy.
‘Trong số các con ruột của con, do chính con sinh ra, một số sẽ bị bắt đi làm hoạn quan trong cung vua Ba-by-lôn.’”
Ê-xê-chia đáp lời Ê-sai: “Lời Đức Giê-hô-va mà ông vừa nói là tốt.” Vì vua thầm nghĩ: “Chẳng phải trong đời ta sẽ được hòa bình và ổn định đó sao?”
Các việc khác của Ê-xê-chia, thế lực của vua, việc xây hồ chứa nước, và lập hệ thống dẫn nước vào kinh thành, chẳng phải đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
Ê-xê-chia an giấc cùng các tổ phụ mình. Con vua là Ma-na-se lên kế vị.
Ma-na-se lên làm vua khi được mười hai tuổi, và trị vì năm mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Hép-si-ba.
Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, và theo các thói tục gớm ghiếc của các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi dân Y-sơ-ra-ên.
Vua cho xây lại các nơi cao mà vua cha là Ê-xê-chia đã phá hủy, cũng cho xây bàn thờ Ba-anh, dựng hình tượng A-sê-ra giống như của A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, đã làm. Vua quỳ lạy và phụng thờ tất cả các thiên thể.
Vua xây các bàn thờ trong đền thờ Đức Giê-hô-va, là nơi Đức Giê-hô-va đã phán rằng: “Chính tại Giê-ru-sa-lem, Ta sẽ đặt danh Ta tại đó.”
Trong hai sân của đền thờ Đức Giê-hô-va, vua xây bàn thờ cho các thiên thể.
Vua đưa con mình qua lửa để tế thần, thực hành phép chiêm tinh và bói toán, cầu hỏi những đồng cốt và thầy bói. Vua làm quá nhiều điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va để chọc giận Ngài.
Ma-na-se còn đem tượng A-sê-ra do mình làm đặt trong đền thờ mà Đức Giê-hô-va đã phán với Đa-vít và con vua là Sa-lô-môn rằng: “Chính trong đền thờ nầy và thành Giê-ru-sa-lem mà Ta đã chọn trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, là nơi Ta sẽ đặt danh Ta ngự đời đời.
Nếu Y-sơ-ra-ên tuân giữ mọi điều Ta đã phán dạy, tức là toàn bộ luật pháp mà Môi-se, đầy tớ Ta, đã truyền cho họ thì Ta sẽ chẳng để dân Y-sơ-ra-ên phải bị lưu lạc khỏi miền đất mà Ta đã ban cho tổ phụ họ.”
Nhưng họ không vâng lời; họ đã bị Ma-na-se quyến dụ làm những việc gian ác hơn các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã tuyệt diệt khỏi dân Y-sơ-ra-ên.
Đức Giê-hô-va đã dùng các nhà tiên tri, là các đầy tớ Ngài, mà phán rằng:
“Vì Ma-na-se, vua Giu-đa, đã phạm những điều ghê tởm ấy, làm điều gian ác hơn điều dân A-mô-rít đã làm trước đó, và quyến dụ Giu-đa phạm tội thờ thần tượng,
nên Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: ‘Nầy, Ta sẽ giáng trên Giê-ru-sa-lem và trên Giu-đa một tai họa mà bất cứ ai nghe đến cũng phải lùng bùng cả hai tai.
Ta sẽ căng trên Giê-ru-sa-lem dây đo Sa-ma-ri và dây dọi nhà A-háp. Ta sẽ quét sạch Giê-ru-sa-lem như người ta chùi rửa cái đĩa, rồi úp nó xuống sau khi chùi rửa xong.
Ta sẽ từ bỏ phần sản nghiệp còn sót lại của Ta, phó chúng vào tay kẻ thù. Chúng sẽ trở thành chiến lợi phẩm và miếng mồi cho mọi kẻ thù,
vì từ ngày tổ phụ chúng ra khỏi Ai Cập cho đến ngày nay, chúng đã làm điều ác dưới mắt Ta và chọc giận Ta.’”
Ngoài những tội Ma-na-se đã phạm và gây cho Giu-đa phạm tội, khiến họ làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, vua cũng đã làm đổ máu nhiều người vô tội, đến nỗi máu ấy tràn ngập Giê-ru-sa-lem từ đầu nầy đến đầu kia.
Chẳng phải các việc khác của Ma-na-se, mọi việc vua làm và tội vua đã phạm đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
Ma-na-se an giấc cùng tổ phụ mình và được an táng trong vườn của cung vua, tức trong vườn U-xa. Con vua là A-môn lên kế vị.
A-môn lên làm vua lúc được hai mươi hai tuổi, và cai trị hai năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Mê-su-lê-mết, con gái của Ha-rút, cháu của Giô-ba.
Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va như vua cha là Ma-na-se đã làm.
Trong mọi việc, vua đi theo đường lối của cha đã đi, thờ các thần tượng mà cha vua đã thờ và quỳ lạy trước mặt chúng.
Vua đã từ bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, không đi theo đường lối của Đức Giê-hô-va.
Các triều thần của A-môn mưu phản và giết vua trong cung điện.
Nhưng dân trong xứ giết tất cả những kẻ phản lại vua A-môn, và họ tôn con của A-môn là Giô-si-a lên kế vị.
Chẳng phải các việc khác của A-môn, và những việc vua làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
A-môn được an táng trong mộ riêng của mình tại vườn U-xa. Rồi con vua là Giô-si-a lên kế vị.
Giô-si-a lên ngôi vua khi được tám tuổi, và cai trị ba mươi mốt năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Giê-đi-đa, con gái của A-đa-gia, cháu Bốt-cát.
Vua làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va, đi theo trọn con đường của Đa-vít, tổ phụ mình, không tẽ tách bên phải hoặc bên trái.
Năm thứ mười tám đời trị vì của Giô-si-a, vua sai thư ký Sa-phan, con trai A-xa-lia, cháu Mê-su-lam, đến đền thờ Đức Giê-hô-va, và dặn rằng:
“Hãy lên gặp thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia, và xin ông kiểm số bạc đã được dâng vào đền thờ Đức Giê-hô-va, tức là số bạc mà những người giữ cửa đền thờ đã thu nơi dân chúng.
Hãy giao số bạc ấy cho những người lo việc sửa chữa đền thờ Đức Giê-hô-va để họ giao lại cho thợ sửa chữa các nơi hư nứt của đền thờ,
tức là thợ mộc, thợ xây cất và thợ hồ. Họ cũng dùng số bạc đó mua gỗ và đá chẻ để tu bổ đền thờ.
Nhưng đừng buộc họ tính sổ về số bạc giao vào tay họ, vì họ làm việc rất trung thực.”
Thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia nói với thư ký Sa-phan: “Tôi đã tìm được quyển luật pháp trong đền thờ Đức Giê-hô-va.” Hinh-kia trao quyển sách đó cho Sa-phan đọc.
Sau đó, thư ký Sa-phan đến gặp vua và tâu trình: “Các đầy tớ của bệ hạ đã lấy số bạc có trong đền thờ, và giao tận tay những người phụ trách công việc sửa chữa đền thờ Đức Giê-hô-va.”
Thư ký Sa-phan nói tiếp: “Thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia có đưa cho tôi một quyển sách.” Rồi Sa-phan đọc sách đó cho vua nghe.
Vừa nghe các lời của sách luật pháp, vua liền xé áo mình.
Vua ra lệnh cho thầy tế lễ Hinh-kia, cho A-hi-cam, con trai Sa-phan, cho Ạc-bồ, con trai Mi-ca-gia, cho thư ký Sa-phan, và cho A-sa-gia, đầy tớ của vua, như sau:
“Hãy đi cầu hỏi Đức Giê-hô-va cho ta, cho dân chúng, và cho cả Giu-đa, về các lời chép trong sách mới tìm được. Đức Giê-hô-va nổi giận phừng phừng cùng chúng ta, vì tổ phụ chúng ta đã không nghe theo các lời của sách nầy, và không làm theo điều đã truyền phán cho chúng ta.”
Vậy, thầy tế lễ Hinh-kia, A-hi-cam, Ạc-bồ, Sa-phan, và A-sa-gia đi gặp nữ tiên tri Hun-đa, vợ của Sa-lum, người giữ áo lễ, con của Tiếc-va, cháu của Hạt-ha. Bà ấy ở quận hai của thành Giê-ru-sa-lem. Họ trình bày sự việc cho bà.
Rồi bà nói với họ: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán thế nầy: Hãy nói với người sai các ngươi đến gặp ta rằng
Đức Giê-hô-va phán: ‘Ta sắp giáng tai họa trên chỗ nầy và trên dân cư nó, đúng theo mọi lời được chép trong sách mà vua Giu-đa đã đọc.
Vì dân nầy đã từ bỏ Ta, xông hương cho các thần khác và chọc giận Ta bằng mọi việc tay chúng làm, nên cơn giận của Ta nổi bừng lên cùng chỗ nầy, không hề nguôi.’
Còn về vua Giu-đa đã sai các ngươi cầu hỏi Đức Giê-hô-va, thì hãy nói với người về các lời người đã nghe rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán thế nầy:
‘Khi con nghe lời Ta phán nghịch cùng chỗ nầy và nghịch cùng dân cư nó rằng chỗ nầy sẽ trở nên hoang vu, dân cư bị nguyền rủa, thì con có lòng mềm mại, hạ mình xuống trước mặt Đức Giê-hô-va, xé áo mình và khóc lóc trước mặt Ta. Vì vậy, Ta đã nghe lời cầu nguyện của con.
Nầy, Ta sẽ cho con sum họp với các tổ phụ, và con sẽ được an táng nơi phần mộ trong sự bình an. Mắt con sẽ chẳng thấy những điều tai họa mà Ta sắp giáng xuống nơi nầy.’” Họ trở về tâu lại cho vua những lời ấy.
Vua Giô-si-a sai người triệu tập tất cả các trưởng lão của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
Rồi vua đi lên đền thờ Đức Giê-hô-va cùng với tất cả người Giu-đa, cả dân cư Giê-ru-sa-lem, các thầy tế lễ, các nhà tiên tri, cùng toàn dân từ nhỏ đến lớn. Vua đọc cho họ nghe mọi lời của sách giao ước vừa tìm được trong đền thờ của Đức Giê-hô-va.
Vua đứng trên bệ cao và lập giao ước trước mặt Đức Giê-hô-va, hứa nguyện đi theo Đức Giê-hô-va, hết lòng hết linh hồn tuân giữ những điều răn, mệnh lệnh, và luật lệ của Ngài, để hoàn thành lời giao ước đã chép trong sách nầy. Toàn dân đều cam kết thực hiện giao ước ấy.
Vua Giô-si-a truyền lệnh cho thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia, các thầy phó tế, và các người canh cửa đền thờ, phải đem ra khỏi đền thờ Đức Giê-hô-va tất cả những vật dụng đã làm để cúng thờ Ba-anh, A-sê-ra, và tất cả các thiên thể. Vua bảo thiêu hủy các vật đó bên ngoài Giê-ru-sa-lem, trong cánh đồng Xết-rôn, rồi đem tro nó đến Bê-tên.
Vua cũng đuổi những tế sư của các tà thần mà các vua Giu-đa đã lập để xông hương trên các nơi cao trong những thành Giu-đa và tại các nơi chung quanh Giê-ru-sa-lem. Vua cũng đuổi những tế sư xông hương cho Ba-anh, cho mặt trời, mặt trăng, chòm sao hoàng đạo, và tất cả các thiên thể.
Vua sai đem trụ tượng A-sê-ra trong đền thờ Đức Giê-hô-va ra bên ngoài Giê-ru-sa-lem, đến khe Xết-rôn, thiêu hủy nó tại đó và nghiền ra tro, rồi rải tro ấy trên mộ của thường dân.
Vua cũng phá hủy các nhà của bọn nam mại dâm trong đền thờ Đức Giê-hô-va, là nơi các phụ nữ dệt trại cho A-sê-ra.
Vua Giô-si-a tập trung tất cả những thầy tế lễ từ các thành Giu-đa, và làm ô uế những nơi cao mà họ đã xông hương, từ Ghê-ba cho đến Bê-e Sê-ba. Vua phá hủy những miếu thờ đã lập tại cổng thành, gần bên cổng Giô-suê, quan thị trưởng, ở về phía bên trái lối vào cổng thành.
Tuy các thầy tế lễ của những nơi cao không được bước đến bàn thờ của Đức Giê-hô-va ở Giê-ru-sa-lem, nhưng họ được ăn bánh không men với anh em mình.
Vua cũng làm ô uế Tô-phết trong thung lũng Bên Hi-nôm, để không ai còn có thể dùng chỗ nầy đưa con trai hay con gái mình vào lửa để tế thần Mo-lóc nữa.
Vua dẹp bỏ những tượng ngựa mà các vua Giu-đa dâng cho mặt trời, nơi cửa vào đền thờ Đức Giê-hô-va, gần phòng hoạn quan Nê-than Mê-léc, trong hành lang của đền thờ. Vua cũng thiêu hủy những xe đã được dâng cho mặt trời.
Vua Giô-si-a cũng phá những bàn thờ mà các vua Giu-đa đã xây trên mái bằng của lầu vua A-cha. Còn những bàn thờ mà Ma-na-se đã dựng lên trong hai sân của đền thờ Đức Giê-hô-va thì vua triệt hạ, đập bể ra từng mảnh và ném xuống khe Xết-rôn.
Vua cũng làm ô uế những nơi cao phía đông Giê-ru-sa-lem, phía nam núi Hủy Diệt, là những nơi cao mà Sa-lô-môn, vua Y-sơ-ra-ên, đã cất lên để cúng thờ Át-tạt-tê, thần tượng ghê tởm của dân Si-đôn; Kê-mốt, thần tượng ghê tởm của dân Mô-áp; và Minh-côm, thần tượng ghê tởm của dân Am-môn.
Vua nghiền nát các trụ thờ, triệt hạ các hình tượng A-sê-ra, và chất đầy hài cốt tại các chỗ đó.
Ngoài ra, vua cũng phá hủy bàn thờ tại Bê-tên và nơi cao mà Giê-rô-bô-am, con trai Nê-bát, đã lập, tức là người đã gây cho Y-sơ-ra-ên phạm tội. Vua đập vỡ bàn thờ, thiêu hủy nơi cao và nghiền nó ra thành tro bụi; vua cũng thiêu hủy tượng A-sê-ra.
Giô-si-a quay lại nhìn thấy những mồ mả ở trên núi. Vua sai người lấy hài cốt trong những mồ mả ấy, rồi thiêu trên bàn thờ, làm cho bàn thờ bị ô uế, đúng như lời Đức Giê-hô-va mà người của Đức Chúa Trời đã loan báo trước, lúc Giê-rô-bô-am đứng bên bàn thờ trong kỳ lễ. Vua Giô-si-a cũng quay lại ngước nhìn ngôi mộ của người Đức Chúa Trời, là người đã nói trước những điều nầy.
Vua hỏi: “Bia mà ta thấy đó là mộ của ai?” Những người trong thành ấy tâu: “Đó là mộ của người Đức Chúa Trời từ Giu-đa đến, nói tiên tri về những việc mà vua Giê-rô-bô-am đã làm cho bàn thờ tại Bê-tên.”
Vua nói: “Hãy để yên hài cốt ấy, đừng ai dời hài cốt người đi.” Vì vậy, họ không dời hài cốt của người, cũng như hài cốt của nhà tiên tri từ Sa-ma-ri đến.
Giô-si-a cũng dỡ bỏ tất cả đền miếu trên các nơi cao trong các thành thuộc Sa-ma-ri, do các vua Y-sơ-ra-ên đã xây cất để chọc giận Đức Giê-hô-va, vua phá hủy các nơi đó như đã làm trong Bê-tên.
Vua giết tất cả tế sư của những nơi cao trên các bàn thờ, và thiêu hài cốt họ trên đó, rồi trở về Giê-ru-sa-lem.
Vua Giô-si-a truyền lệnh cho toàn dân: “Hãy giữ lễ Vượt Qua cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, theo như các lời đã được chép trong sách giao ước.”
Từ thời các quan xét lãnh đạo Y-sơ-ra-ên, thời các vua Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đến nay, người ta chưa hề giữ lễ Vượt Qua nào giống như vậy.
Mãi đến năm thứ mười tám đời trị vì của vua Giô-si-a, người ta mới giữ lễ Vượt Qua như thế cho Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem.
Ngoài ra, Giô-si-a còn trừ khử những đồng cốt và thầy bói, những tượng thần nhỏ trong nhà và các tượng thần khác, cùng tất cả điều ghê tởm trông thấy trong xứ Giu-đa và tại Giê-ru-sa-lem. Vua làm những điều nầy để thực hiện theo các lời luật pháp đã được chép trong sách mà thầy tế lễ Hinh-kia tìm được trong đền thờ Đức Giê-hô-va.
Trước Giô-si-a, không có vua nào hết lòng, hết tâm hồn, hết sức mà quay về với Đức Giê-hô-va, làm trọn luật pháp của Môi-se như vua; và sau Giô-si-a cũng chẳng có vua nào được như vậy.
Dù vậy, Đức Giê-hô-va không nguôi cơn giận của Ngài, là cơn thịnh nộ nổi phừng lên chống lại Giu-đa, vì các trọng tội của Ma-na-se trêu chọc Ngài.
Đức Giê-hô-va phán: “Ta cũng sẽ đuổi Giu-đa khỏi mặt Ta, như Ta đã đuổi Y-sơ-ra-ên đi. Ta sẽ loại bỏ Giê-ru-sa-lem, thành mà Ta đã chọn, cũng như đền thờ mà Ta phán về nó rằng: ‘Danh Ta sẽ ngự tại đó.’”
Chẳng phải các việc khác của Giô-si-a và mọi việc vua làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
Vào thời vua Giô-si-a, Pha-ra-ôn Nê-cô, vua Ai Cập, lên đánh vua A-si-ri bên bờ sông Ơ-phơ-rát. Vua Giô-si-a kéo quân nghênh chiến. Nhưng Pha-ra-ôn vừa thấy Giô-si-a liền giết chết tại Mê-ghi-đô.
Từ Mê-ghi-đô, các thuộc hạ của Giô-si-a chở thi hài vua trên xe về Giê-ru-sa-lem, rồi an táng trong mộ của vua. Dân trong xứ chọn Giô-a-cha, con vua Giô-si-a, xức dầu và tôn làm vua, kế vị vua cha.
Giô-a-cha lên làm vua khi được hai mươi ba tuổi, và cai trị ba tháng tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Ha-mu-ta, con gái của Giê-rê-mi ở Líp-na.
Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va giống như các tổ phụ mình đã làm.
Pha-ra-ôn Nê-cô xiềng Giô-a-cha tại Ríp-la, trong xứ Ha-mát, không cho làm vua tại Giê-ru-sa-lem nữa, và bắt xứ Giu-đa phải nạp cống ba nghìn ký bạc và ba mươi ký vàng.
Pha-ra-ôn Nê-cô lập Ê-li-a-kim, một người con khác của Giô-si-a, lên ngôi kế vị vua cha; Pha-ra-ôn đổi tên Ê-li-a-kim thành Giê-hô-gia-kim. Còn Giô-a-cha bị bắt đưa sang Ai Cập và chết tại đó.
Giê-hô-gia-kim phải nộp số bạc và vàng mà Pha-ra-ôn đòi. Nhưng để có số bạc và vàng ấy, vua phải đánh thuế trong xứ, và buộc mỗi người dân tùy theo tài sản của mình mà đóng góp vàng bạc để vua nộp cho Pha-ra-ôn Nê-cô.
Giê-hô-gia-kim lên làm vua khi được hai mươi lăm tuổi, và cai trị mười một năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Xê-bụt-đa, con gái Phê-đa-gia ở Ru-ma.
Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va giống như các tổ phụ mình đã làm.
Trong đời Giê-hô-gia-kim trị vì, vua Ba-by-lôn là Nê-bu-cát-nết-sa tiến đánh nước Giu-đa. Giê-hô-gia-kim thần phục vua nầy trong ba năm, rồi lại đổi ý và nổi lên chống vua Ba-by-lôn.
Đức Giê-hô-va khiến quân Canh-đê, A-ram, Mô-áp, và quân của người Am-môn đến đánh phá và hủy diệt Giu-đa, theo như lời Đức Giê-hô-va đã dùng các nhà tiên tri là đầy tớ Ngài phán trước.
Tai họa nầy hẳn phải xảy đến cho Giu-đa do lệnh của Đức Giê-hô-va, để đuổi nước Giu-đa khỏi mặt Ngài vì các tội Ma-na-se đã phạm, vì mọi điều vua đã làm,
và cũng vì máu vô tội mà vua nầy đã làm đổ ra, khiến cho Giê-ru-sa-lem ngập tràn máu vô tội, đến nỗi Đức Giê-hô-va không còn tha thứ được nữa.
Chẳng phải các việc khác của Giê-hô-gia-kim và mọi việc vua làm đều được chép trong sách lịch sử các vua Giu-đa sao?
Giê-hô-gia-kim an giấc cùng các tổ phụ mình; con vua là Giê-hô-gia-kin lên kế vị.
Vua Ai Cập không còn ra khỏi xứ mình nữa, vì vua Ba-by-lôn đã chiếm lấy tất cả lãnh thổ thuộc về vua Ai Cập, từ suối Ai Cập cho đến sông Ơ-phơ-rát.
Giê-hô-gia-kin lên làm vua khi được mười tám tuổi, và cai trị ba tháng tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Nê-hu-ta, con gái của Ên-na-than ở Giê-ru-sa-lem.
Giê-hô-gia-kin làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va giống như tất cả những gì vua cha đã làm.
Trong lúc đó, quân của Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đi lên bao vây thành Giê-ru-sa-lem.
Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đích thân đến đánh thành trong lúc quân lính của vua bao vây thành.
Giê-hô-gia-kin, vua Giu-đa, cùng với mẹ mình, các thuộc hạ, các quan tướng, và các hoạn quan, ra đầu hàng vua Ba-by-lôn. Giê-hô-gia-kin bị bắt vào năm thứ tám triều vua Ba-by-lôn.
Đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán, vua Ba-by-lôn lấy tất cả những bảo vật của đền thờ Đức Giê-hô-va và những bảo vật của cung vua, đập bể các vật dụng bằng vàng mà Sa-lô-môn, vua Y-sơ-ra-ên, đã làm cho đền thờ Đức Giê-hô-va.
Vua bắt những người ở Giê-ru-sa-lem đi đày, gồm tất cả những quan tướng và các chiến sĩ dũng cảm, tổng cộng là mười nghìn người. Vua cũng bắt tất cả thợ mộc và thợ rèn, không chừa một ai, ngoại trừ những người nghèo khổ nhất trong xứ.
Vua đày Giê-hô-gia-kin sang Ba-by-lôn cùng với thái hậu, hoàng hậu, các hoạn quan, những người quyền thế trong xứ,
luôn với bảy nghìn chiến sĩ, tất cả đều là người mạnh dạn và có khả năng chiến đấu, và một nghìn thợ mộc, thợ rèn. Đó là những người mà vua Ba-by-lôn bắt và lưu đày sang Ba-by-lôn.
Vua Ba-by-lôn lập Ma-tha-nia, cậu của Giê-hô-gia-kin, làm vua thay thế, và đổi tên là Sê-đê-kia.
Sê-đê-kia lên làm vua khi được hai mươi mốt tuổi, và cai trị mười một năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Ha-mu-ta, con gái của Giê-rê-mi ở Líp-na.
Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va giống như tất cả những gì Giê-hô-gia-kim đã làm.
Chính vì vậy mà cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi lên, khiến những điều nầy xảy đến cho Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, cho đến khi Ngài đuổi họ khỏi mặt Ngài. Sau đó, Sê-đê-kia nổi lên chống lại vua Ba-by-lôn.
Năm thứ chín đời trị vì của vua Sê-đê-kia, ngày mồng mười tháng mười, Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, cùng toàn quân đến hãm đánh Giê-ru-sa-lem. Vua đóng trại trước thành và đắp chiến lũy chung quanh thành.
Thành bị bao vây kéo dài đến năm thứ mười một đời trị vì của vua Sê-đê-kia.
Vào ngày mồng chín tháng ấy, nạn đói trong thành trở nên trầm trọng đến nỗi dân chúng không có bánh ăn.
Bấy giờ, tường thành bị chọc thủng. Trong đêm, tất cả quân lính đều trốn thoát ra cửa nằm giữa hai vách thành, gần vườn của vua. Trong khi quân Canh-đê đang bao vây thành thì vua Giu-đa chạy trốn theo hướng A-ra-ba.
Đạo quân Canh-đê đuổi theo và bắt kịp vua trong đồng bằng Giê-ri-cô. Tất cả binh lính của vua đều bỏ vua chạy tán loạn.
Quân Canh-đê bắt vua, dẫn đến vua Ba-by-lôn ở Ríp-la. Tại đó, chúng kết tội Sê-đê-kia.
Chúng giết các con trai Sê-đê-kia trước mắt người. Rồi chúng móc mắt Sê-đê-kia, xiềng người bằng xích đồng, và dẫn đến Ba-by-lôn.
Ngày mồng bảy tháng năm, năm thứ mười chín đời trị vì của Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, quan chỉ huy vệ binh Nê-bu-xa-ra-đan, thuộc hạ của vua Ba-by-lôn, đến Giê-ru-sa-lem.
Ông thiêu hủy đền thờ Đức Giê-hô-va, cung vua, và tất cả nhà cửa trong thành Giê-ru-sa-lem; đốt luôn nhà của những người quyền quý.
Rồi đạo quân Canh-đê vâng lệnh quan chỉ huy vệ binh phá đổ vách thành chung quanh Giê-ru-sa-lem.
Quan chỉ huy vệ binh Nê-bu-xa-ra-đan bắt dân cư còn sót lại trong thành, cùng với những kẻ đào ngũ đã theo vua Ba-by-lôn trước kia, và đám dân còn lại khác, mà dẫn đi lưu đày.
Quan chỉ huy vệ binh chỉ chừa lại trong xứ những người nghèo khổ nhất để trồng nho và làm ruộng.
Quân Canh-đê đập bể những trụ đồng, đế bằng đồng và cái bể nước bằng đồng trong đền thờ Đức Giê-hô-va, rồi đem đồng ấy về Ba-by-lôn.
Chúng cũng đem đi những nồi đồng, vá, dao, chén, và tất cả những vật dụng bằng đồng dùng vào việc thờ phượng.
Quan chỉ huy vệ binh cũng lấy đem đi những lư hương, chậu, và các vật bằng vàng, bằng bạc.
Còn hai cây trụ, cái bể nước bằng đồng, và các đế bằng đồng mà Sa-lô-môn đã làm cho đền thờ Đức Giê-hô-va thì người ta không thể cân được số lượng đồng của các vật ấy, vì quá nhiều.
Mỗi cây trụ cao chín mét, trên trụ có đầu trụ bằng đồng cao một mét rưỡi, có lưới và trái lựu cũng bằng đồng bao quanh. Cây thứ nhì trang trí bằng lưới giống như cây trước.
Quan chỉ huy vệ binh bắt thầy tế lễ thượng phẩm Sê-ra-gia, thầy phó tế Sô-phô-ni, và ba người canh giữ cửa đền thờ;
cũng bắt trong thành một hoạn quan chỉ huy các chiến sĩ, năm người trong các cận thần của vua, thư ký của tướng chỉ huy quân đội lo việc tuyển quân trong xứ, cùng với sáu mươi người của xứ cũng ở trong thành.
Quan chỉ huy vệ binh Nê-bu-xa-ra-đan bắt dẫn tất cả những người ấy đến vua Ba-by-lôn, tại Ríp-la.
Vua Ba-by-lôn cho giết họ tại Ríp-la, trong xứ Ha-mát. Như vậy, dân Giu-đa bị bắt đày đi khỏi xứ mình.
Còn về dân cư mà Nê-bu-cát-nết-sa đã để lại trong xứ Giu-đa thì vua Ba-by-lôn đặt Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, cháu Sa-phan, làm tổng đốc.
Khi các quan tướng là Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia; Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át; Sê-ra-gia, con trai Tan-hu-mết ở Nê-tô-pha; Gia-a-xa-nia, con trai của Ma-ca-thít, và những quân lính của họ, hay rằng vua Ba-by-lôn đã đặt Ghê-đa-lia làm tổng đốc thì họ đến gặp ông tại Mích-pa.
Ghê-đa-lia thề với họ và quân lính của họ rằng: “Đừng sợ các quan chức người Canh-đê. Hãy ở trong xứ, thần phục vua Ba-by-lôn thì anh em sẽ được bình an.”
Nhưng vào tháng thứ bảy, Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, cháu Ê-li-sa-ma, thuộc dòng dõi vua, đem theo mười người đến Mích-pa đánh giết Ghê-đa-lia, cùng với người Giu-đa và người Canh-đê ở với ông.
Toàn dân từ nhỏ đến lớn, và những quan tướng đều lên đường đến Ai Cập vì sợ người Canh-đê báo thù.
Vào ngày hai mươi bảy tháng mười hai, năm thứ ba mươi bảy kể từ ngày Giê-hô-gia-kin, vua Giu-đa, bị bắt giam, tức là năm đầu trị vì của Ê-vinh Mê-rô-đác, vua Ba-by-lôn, thì vua nầy ân xá cho Giê-hô-gia-kin, vua Giu-đa, và đưa ra khỏi ngục.
Vua Ba-by-lôn nói với Giê-hô-gia-kin cách hòa nhã, và đặt ngai người cao hơn ngai các vua đang bị giam tại Ba-by-lôn với vua.
Vua Ba-by-lôn cho thay áo tù của Giê-hô-gia-kin và cho người ăn đồng bàn với mình trọn đời người.
Mỗi ngày, Giê-hô-gia-kin được vua Ba-by-lôn cấp dưỡng cho đến khi qua đời.
A-đam sinh Sết, Sết sinh Ê-nót;
Ê-nót sinh Kê-nan, Kê-nan sinh Ma-ha-la-le, Ma-ha-la-le sinh Giê-rệt;
Giê-rệt sinh Hê-nóc, Hê-nóc sinh Mê-tu-sê-la, Mê-tu-sê-la sinh Lê-méc;
Lê-méc sinh Nô-ê, Nô-ê sinh Sem, Cham và Gia-phết.
Các con của Gia-phết là Gô-me, Ma-gốc, Ma-đai, Gia-van, Tu-banh, Mê-siếc, và Ti-ra.
Các con của Gô-me là Ách-kê-na, Đi-phát, và Tô-ga-ma.
Các con của Gia-van là Ê-li-sa, Ta-rê-si, Kít-tim, và Rô-đa-nim.
Các con của Cham là Cút, Mích-ra-im, Phút, và Ca-na-an.
Các con của Cút là Sê-ba, Ha-vi-la, Sáp-ta, Ra-ê-ma, và Sáp-tê-ca. Các con của Ra-ê-ma là Sê-ba, và Đê-đan.
Cút sinh Nim-rốt, người anh hùng đầu tiên trên mặt đất.
Mích-ra-im sinh ra dân Lu-đim, A-na-mim, Lê-ha-bim, Náp-tu-him,
Phát-ru-sim, Cách-lu-him (là tổ phụ của dân Phi-li-tin), và dân Cáp-tô-rim.
Ca-na-an sinh Si-đôn, là trưởng nam, rồi sinh Hếch,
và dân Giê-bu-sít, A-mô-rít, Ghi-rê-ga-sít,
Hê-vít, A-rê-kít, Si-nít,
A-va-đít, Xê-ma-rít, và Ha-ma-tít.
Các con của Sem là Ê-lam, A-su-rơ, A-pác-sát, Lút, A-ram, Út-xơ, Hu-lơ, Ghê-te, và Mê-siếc.
A-pác-sát sinh Sê-lách; Sê-lách sinh Hê-be.
Hê-be sinh được hai người con: Người thứ nhất tên là Pê-léc; vì vào thời đó, đất đã bị phân chia; còn người em tên là Giốc-tan.
Giốc-tan sinh A-mô-đát, Sê-lép, Ha-sa-ma-vết, Giê-rách,
Ha-đô-ram, U-xa, Điếc-la,
Ê-banh, A-bi-ma-ên, Sê-ba,
Ô-phia, Ha-vi-la, và Giô-báp. Tất cả những người đó đều là con của Giốc-tan.
Sem sinh A-pác-sát, A-pác-sát sinh Sê-lách,
Sê-lách sinh Hê-be, Hê-be sinh Pê-léc, Pê-léc sinh Rê-hu,
Rê-hu sinh Sê-rúc, Sê-rúc sinh Na-cô, Na-cô sinh Tha-rê,
Tha-rê sinh Áp-ram, về sau gọi là Áp-ra-ham.
Các con của Áp-ra-ham là Y-sác và Ích-ma-ên.
Đây là dòng dõi của họ: Con trưởng nam của Ích-ma-ên là Nê-ba-giốt; kế đến là: Kê-đa, Át-bê-ên, Mi-bô-sam,
Mích-ma, Đu-ma, Ma-sa, Ha-đát, Thê-ma,
Giê-thu, Na-phích, và Kết-ma. Đó là các con trai của Ích-ma-ên.
Kê-tu-ra, vợ lẽ của Áp-ra-ham, sinh các con trai là Xim-ram, Giốc-san, Mê-đan, Ma-đi-an, Dích-bác, và Su-ách. Giốc-san sinh Sê-ba, và Đê-đan.
Các con của Ma-đi-an là Ê-pha, Ê-phe, Ha-nóc, A-bi-đa, và Ên-đa. Tất cả những người nầy đều là con cháu của Kê-tu-ra.
Áp-ra-ham sinh Y-sác. Các con của Y-sác là Ê-sau và Y-sơ-ra-ên.
Các con của Ê-sau là Ê-li-pha, Rê-u-ên, Giê-úc, Gia-lam, và Cô-ra.
Các con của Ê-li-pha là Thê-man, Ô-ma, Xê-phi, Ga-tham, Kê-na, Thim-na, và A-ma-léc.
Các con của Rê-u-ên là Na-hát, Xê-rách, Sam-ma, và Mích-xa.
Các con của Sê-i-rơ là Lô-than, Sô-banh, Xi-bê-ôn, A-na, Đi-sôn, Ét-xe, và Đi-san.
Các con của Lô-than là Hô-ri và Hô-man; còn Thim-na là em gái của Lô-than.
Các con của Sô-banh là A-li-an, Ma-na-hát, Ê-banh, Sê-phi, và Ô-nam. Các con của Xi-bê-ôn là Ai-gia và A-na.
Con của A-na là Đi-sôn. Các con của Đi-sôn là Ham-ran, Ếch-ban, Dít-ran, và Kê-ran.
Các con của Ét-xe là Binh-han, Xa-van, và Gia-a-can. Các con của Đi-san là Út-xơ, và A-ran.
Trước khi dân Y-sơ-ra-ên có vua cai trị, đây là các vua trị vì xứ Ê-đôm: Bê-la, con của Bê-ô; kinh đô là Đin-ha-ba.
Khi Bê-la chết, Giô-báp, con của Xê-rách, người Bốt-ra, lên kế vị.
Khi Giô-báp chết, Hu-sam, người xứ Thê-man, lên kế vị.
Khi Hu-sam chết, Ha-đát, con của Bê-đát, lên kế vị; chính vua nầy đã đánh bại dân Ma-đi-an trong cánh đồng xứ Mô-áp; kinh đô là A-vít.
Khi Ha-đát chết, Sam-la, người Ma-rê-ca, lên kế vị.
Khi Sam-la chết, Sau-lơ, người Rê-hô-bốt thuộc vùng sông Ơ-phơ-rát, lên kế vị.
Khi Sau-lơ chết, Ba-anh Ha-nan, con của Ạc-bồ, lên kế vị.
Khi Ba-anh Ha-nan chết, Ha-đát lên kế vị; kinh đô là Pha-i; vợ vua tên là Mê-hê-ta-bê-ên, con gái của Mát-rết, cháu ngoại Mê-xa-háp.
Sau đó, Ha-đát cũng chết. Ê-đôm có các tộc trưởng là: Thim-na, A-li-a, Giê-tết,
Ô-hô-li-ba-ma, Ê-la, Phi-nôn,
Kê-na, Thê-man, Mép-xa,
Mác-đi-ên, và Y-ram. Đó là các tộc trưởng của Ê-đôm.
Đây là các con trai của Y-sơ-ra-ên: Ru-bên, Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, Y-sa-ca, Sa-bu-lôn,
Đan, Giô-sép, Bên-gia-min, Nép-ta-li, Gát, và A-se.
Các con của Giu-đa là Ê-rơ, Ô-nan, và Sê-la. Cả ba người nầy đều do Bát Su-a, người Ca-na-an, sinh cho Giu-đa. Ê-rơ, con trưởng nam của Giu-đa, làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, nên Ngài khiến cho Ê-rơ chết.
Ta-ma, là dâu của Giu-đa, sinh cho ông: Phê-rết và Xê-rách. Như vậy, Giu-đa có tất cả năm người con.
Các con của Phê-rết là Hết-rôn và Ha-mun.
Các con của Xê-rách là Xim-ri, Ê-than, Hê-man, Canh-côn, và Đa-ra; tất cả là năm người.
Con của Cạt-mi là A-ca, là kẻ gây tai họa cho Y-sơ-ra-ên, vì đã lấy vật nghiêm cấm.
Con của Ê-than là A-xa-ria.
Các con sinh cho Hết-rôn là: Giê-rác-mê-ên, Ram, và Kê-lu-bai.
Ram sinh A-mi-na-đáp, A-mi-na-đáp sinh Na-ha-sôn, là một thủ lĩnh của người Giu-đa.
Na-ha-sôn sinh Sanh-ma, Sanh-ma sinh Bô-ô,
Bô-ô sinh Ô-bết, Ô-bết sinh Gie-sê.
Gie-sê sinh con đầu lòng là Ê-li-áp, con thứ nhì là A-bi-na-đáp, con thứ ba là Si-mê-a,
con thứ tư là Na-tha-na-ên, con thứ năm là Ra-đai,
con thứ sáu là Ô-xem, con thứ bảy là Đa-vít.
Còn Xê-ru-gia và A-bi-ga-in là chị em của những người ấy. Xê-ru-gia có ba người con là A-bi-sai, Giô-áp, và A-sa-ên.
A-bi-ga-in sinh A-ma-sa; cha của A-ma-sa là Giê-the, người Ích-ma-ên.
Ca-lép, con của Hết-rôn, lấy vợ là A-xu-ba và Giê-ri-ốt; sinh các con là Giê-se, Sô-báp, và Ạt-đôn.
Khi A-xu-ba qua đời, Ca-lép lấy Ê-phơ-rát; bà nầy sinh cho ông một người con tên Hu-rơ.
Hu-rơ sinh U-ri, U-ri sinh Bết-sa-lê-ên.
Sau đó, khi Hết-rôn đã được sáu mươi tuổi thì cưới con gái của Ma-ki là cha của Ga-la-át; ông ăn ở với nàng và sinh được Sê-gúp.
Sê-gúp sinh Giai-rơ, là người có hai mươi ba thành trong xứ Ga-la-át.
Dân Ghê-su-rơ và dân Sy-ri chiếm các thành Giai-rơ và Kê-nát, cùng với các vùng phụ cận gồm sáu mươi thành. Tất cả những người ấy đều là con cháu Ma-ki, cha của Ga-la-át.
Sau khi Hết-rôn qua đời tại Ca-lép Ép-ra-ta, vợ của Hết-rôn là A-bi-gia sinh cho ông một người con là A-su-rơ, cha của Thê-cô-a.
Giê-rác-mê-ên, con trưởng nam của Hết-rôn, sinh Ram là con đầu lòng, kế đến là Bu-na, Ô-ren, Ô-xem, và A-hi-gia.
Giê-rác-mê-ên lại lấy vợ khác, tên là A-ta-ra, mẹ của Ô-nam.
Các con của Ram, con trưởng nam của Giê-rác-mê-ên, là Ma-ách, Gia-min, và Ê-ke.
Các con của Ô-nam là Sa-mai và Gia-đa. Các con của Sa-mai, là Na-đáp và A-bi-su.
Vợ của A-bi-su tên là A-bi-hai, nàng sinh cho ông ấy hai con trai là Ạc-ban và Mô-lít.
Các con của Na-đáp là Sê-le và Áp-pa-im. Nhưng Sê-le qua đời, không có con.
Con của Áp-pa-im là Di-si. Con của Di-si là Sê-san. Con của Sê-san là Ạc-lai.
Các con của Gia-đa, em Sa-mai, là Giê-the và Giô-na-than; Giê-the qua đời, không có con.
Các con của Giô-na-than là Phê-lết và Xa-xa. Đó là con cháu của Giê-rác-mê-ên.
Sê-san không có con trai, chỉ có con gái; ông cũng có một người đầy tớ Ai Cập, tên là Gia-ra.
Sê-san gả con gái mình cho người đầy tớ ấy, và nàng sinh Ạt-tai.
Ạt-tai sinh Na-than, Na-than sinh Xa-bát,
Xa-bát sinh Ép-la, Ép-la sinh Ô-bết,
Ô-bết sinh Giê-hu, Giê-hu sinh A-xa-ria,
A-xa-ria sinh Hê-lết, Hê-lết sinh Ê-la-xa,
Ê-la-xa sinh Sít-mai, Sít-mai sinh Sa-lum,
Sa-lum sinh Giê-ca-mia, Giê-ca-mia sinh Ê-li-sa-ma.
Các con của Ca-lép, em của Giê-rác-mê-ên, là Mê-sa, con trưởng nam, tổ phụ của Xíp, và Ma-rê-sa, tổ phụ của Hếp-rôn.
Các con của Hếp-rôn là Cô-ra, Táp-bua, Rê-kem, và Sê-ma.
Sê-ma sinh Ra-cham, tổ phụ của Giô-kê-am; còn Rê-kem sinh Sa-mai.
Con của Sa-mai là Ma-ôn; Ma-ôn là tổ phụ của Bết-sua.
Ê-pha, nàng hầu của Ca-lép, sinh Ha-ran, Một-sa, và Ga-xe. Ha-ran sinh và đặt tên con trai theo tên em mình là Ga-xe.
Các con của Gia-đai là Rê-ghem, Giô-than, Ghê-san, Phê-lết, Ê-pha, và Sa-áp.
Một nàng hầu khác của Ca-lép là Ma-a-ca sinh Sê-be và Ti-ra-na.
Nàng cũng sinh Sa-áp là tổ phụ của Mát-ma-na, và Sê-va là tổ phụ của Mác-bê-na và Ghi-bê-a. Con gái Ca-lép là Ạc-sa.
Đây là những con cháu của Ca-lép: Hu-rơ, con trưởng nam của Ê-phơ-rát, sinh các con trai: Sô-banh là người sáng lập Ki-ri-át Giê-a-rim,
Sanh-ma là người sáng lập Bết-lê-hem, Ha-rép là người sáng lập Bết Ga-đe.
Sô-banh là người sáng lập Ki-ri-át Giê-a-rim có con cháu là Ha-rô-ê và một nửa dân Mê-nu-hốt.
Các dòng dõi tại Ki-ri-át Giê-a-rim là dân Dít-rít, Phu-tít, Su-ma-tít, và Mích-ra-ít; cũng bởi những dòng dõi ấy mà có các dân Xô-ra-tít và Ếch-tao-lít.
Con cháu của Sanh-ma tại Bết-lê-hem là dân Nê-tô-pha-tít, dân Ạt-rốt Bết Giô-áp, một nửa dân Ma-na-ha-tít, và dân Xô-rít.
Các gia tộc của những người chép kinh ở Gia-bết là gia tộc Ti-ra-tít, gia tộc Si-ma-tít, và gia tộc Su-ca-tít. Đó là dân Kê-nít, dòng dõi của Ha-mát, tổ tiên của nhà Rê-cáp.
Đây là các con của vua Đa-vít sinh tại Hếp-rôn: Con trưởng nam là Am-nôn con của A-hi-nô-am, người Gít-rê-ên; con thứ nhì là Đa-ni-ên con của A-bi-ga-in, người Cạt-mên;
con thứ ba là Áp-sa-lôm, con của Ma-a-ca, con gái của Thanh-mai, vua xứ Ghê-su-rơ; con thứ tư là A-đô-ni-gia, con của Ha-ghít;
con thứ năm là Sê-pha-tia, con của A-bi-tanh; con thứ sáu là Dít-rê-am, con của Éc-la, vợ Đa-vít.
Sáu người con nầy sinh tại Hếp-rôn, nơi Đa-vít trị vì bảy năm sáu tháng. Còn tại Giê-ru-sa-lem, Đa-vít trị vì ba mươi ba năm.
Đây là các con của Đa-vít sinh tại Giê-ru-sa-lem: Si-mê-a, Sô-báp, Na-than, và Sa-lô-môn; bốn người con nầy đều do bà Bát Sê-ba, con gái của A-mi-ên, sinh cho Đa-vít.
Ngoài ra Đa-vít còn có các con trai khác là Díp-kha, Ê-li-sua, Ê-li-phê-lết,
Nô-ga, Nê-phết, Gia-phia,
Ê-li-sa-ma, Ê-li-gia-đa, và Ê-li-phê-lết; tất cả là chín người.
Đó là các con trai của Đa-vít, chưa kể các con trai của những cung phi; và Ta-ma là chị em của họ.
Con của Sa-lô-môn là Rô-bô-am, con của Rô-bô-am là A-bi-gia, con của A-bi-gia là A-sa, con của A-sa là Giô-sa-phát,
con của Giô-sa-phát là Giô-ram, con của Giô-ram là A-cha-xia, con của A-cha-xia là Giô-ách,
con của Giô-ách là A-ma-xia, con của A-ma-xia là A-xa-ria, con của A-xa-ria là Giô-tham,
con của Giô-tham là A-cha, con của A-cha là Ê-xê-chia, con của Ê-xê-chia là Ma-na-se,
con của Ma-na-se là A-môn, con của A-môn là Giô-si-a.
Các con của Giô-si-a: Con trưởng nam là Giô-ha-nan, con thứ nhì là Giê-hô-gia-kim, con thứ ba là Sê-đê-kia, con thứ tư là Sa-lum.
Các con của Giê-hô-gia-kim là Giê-chô-nia và Sê-đê-kia.
Các con của Giê-chô-nia, người bị lưu đày, là: Sa-anh-thi-ên,
Manh-ki-ram, Phê-đa-gia, Sê-na-xa, Giê-ca-mia, Hô-sa-ma, và Nê-đa-bia.
Các con của Phê-đa-gia là Xô-rô-ba-bên và Si-mê-i. Các con của Xô-rô-ba-bên là Mê-su-lam và Ha-na-nia; còn Sê-lô-mít là chị em của họ.
Cũng có các người con khác là Ha-su-ba, Ô-hên, Bê-rê-kia, Ha-sa-đia, Du-sáp Hê-sết; tất cả là năm người.
Các con của Ha-na-nia là Phê-la-tia và Ê-sai; cũng có các con của Rê-pha-gia, Ạc-nan, Ô-ba-đia, và Sê-ca-nia.
Con của Sê-ca-nia là Sê-ma-gia. Các con của Sê-ma-gia là: Hát-túc, Di-ganh, Ba-ria, Nê-a-ria, và Sa-phát; tất cả là sáu người.
Các con của Nê-a-ria là: Ê-li-ô-ê-nai, Ê-xê-chia, và A-ri-kham; tất cả là ba người.
Các con của Ê-li-ô-ê-nai là: Hô-đa-via, Ê-li-a-síp, Phê-la-gia, A-cúp, Giô-ha-nan, Đê-la-gia, và A-na-ni; tất cả là bảy người.
Các con của Giu-đa là: Phê-rết, Hết-rôn, Cạt-mi, Hu-rơ và Sô-banh.
Rê-a-gia, con trai Sô-banh, sinh Gia-hát; Gia-hát sinh A-hu-mai và La-hát. Đó là các gia tộc của dân Xô-ra-tít.
Đây là những người sáng lập Ê-tam: Gít-rê-ên, Dít-ma và Dít-bát; em gái của họ là Ha-sê-lê-pô-ni.
Lại có Phê-nu-ên, người sáng lập Ghê-đô, và Ê-xe, người sáng lập Hu-sa. Đó là con cháu của Hu-rơ, con trưởng nam của Ê-phơ-rát, người sáng lập Bết-lê-hem.
A-su-rơ, người sáng lập Thê-cô-a, lấy hai vợ là Hê-lê-a và Na-a-ra.
Na-a-ra sinh A-hu-xam, Hê-phe, Thê-mê-ni, và A-hách-tha-ri. Đó là các con của Na-a-ra.
Các con của Hê-lê-a là: Xê-rết, Dít-sê-ha, và Ết-nan.
Cốt sinh A-núp, Hát-xô-bê-ba, và gia-tộc A-ha-hên, con Ha-rum.
Gia-bê được tôn trọng hơn anh em mình; mẹ ông đặt tên là Gia-bê, vì nói rằng: “Ta sinh nó trong sự đau đớn.”
Gia-bê khấn nguyện với Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên rằng: “Ôi, xin Chúa ban phước dồi dào cho con, mở rộng bờ cõi con. Nguyện tay Chúa phù hộ con, giữ con khỏi mọi điều ác, để con thoát cơn khốn khổ!” Đức Chúa Trời ban cho đúng như điều ông cầu xin.
Kê-lúp, anh em của Su-ha, sinh Mê-hia, tổ phụ của Ê-tôn.
Ê-tôn sinh Bết Ra-pha, Pha-sê-a, và Tê-hi-na, tổ tiên của dân thành Na-hách. Đó là những người sống trong thành Rê-ca.
Các con của Kê-na là Ốt-ni-ên và Sê-ra-gia. Con trai của Ốt-ni-ên là Ha-thát.
Mê-ô-nô-thai sinh Óp-ra; Sê-ra-gia sinh Giô-áp là người sáng lập Ghê Kha-ra-sim vì dân ở đây đều là thợ thủ công.
Các con của Ca-lép, cháu của Giê-phu-nê, là: Y-ru, Ê-la, và Na-am, cùng những con trai của Ê-la và Kê-na.
Các con của Giê-ha-lê-le là Xíp, Xi-pha, Thi-ria, và A-sa-rên.
Các con của E-xơ-ra là Giê-the, Mê-rết, Ê-phe, và Gia-lôn. Vợ của Mê-rết sinh Mi-ri-am, Sa-mai, và Dít-bác, người sáng lập Ếch-tê-mô-a.
Vợ khác của ông là người Giu-đa sinh Giê-rệt, người sáng lập Ghê-đô, Hê-be, người sáng lập Sô-cô, và Giê-cu-ti-ên, người sáng lập Xa-nô-a. Đó là con cháu của Bi-thia, con gái của Pha-ra-ôn, mà Mê-rết đã cưới.
Các con của vợ Hô-đia, em gái Na-ham, là người sáng lập Kê-hi-la của người Gạc-mít, và Ếch-tê-mô-a của người Ma-ca-thít.
Các con của Si-môn là Am-nôn, Ri-na, Bên Ha-nan, và Ti-lôn. Các con của Di-si là Xô-hết và Bên Xô-hết.
Dòng dõi của Sê-la, một trong các con trai Giu-đa, là: Ê-rơ, người sáng lập Lê-ca; La-ê-đa, người sáng lập Ma-rê-sa; và các gia tộc của nhà Ách-bê-a, là những thợ dệt vải gai;
Giô-kim, dân Cô-xê-ba, Giô-ách, Sa-ráp là người cai trị ở Mô-áp, và Gia-su-bi Lê-hem. Đó là điều ghi chép từ xưa.
Những người nầy là thợ gốm ở Nê-ta-im và Ghê-đê-ra; họ ở đó để làm việc cho vua.
Các con của Si-mê-ôn là Nê-mu-ên, Gia-min, Gia-ríp, Xê-rách, và Sau-lơ.
Con của Sau-lơ là Sa-lum, con của Sa-lum là Míp-sam, và con của Míp-sam là Mích-ma,
con của Mích-ma là Ham-mu-ên, con của Ham-mu-ên là Xa-cu, con của Xa-cu là Si-mê-i.
Si-mê-i có mười sáu con trai và sáu con gái, nhưng anh em của ông không có nhiều con; cả gia tộc của họ không đông bằng người Giu-đa.
Họ ở tại Bê-e Sê-ba, Mô-la-đa, Ha-xa Su-anh,
Bi-la, Ê-xem, Tô-lát,
Bê-tu-ên, Họt-ma, Xiếc-lác,
Bết Ma-ca-bốt, Hát-sa Su-sim, Bết Bi-rê, và Sa-a-ra-im. Đó là các thành của họ cho đến đời vua Đa-vít.
Họ cũng có năm thị trấn là: Ê-tam, A-in, Rim-môn, Tô-ken, và A-san,
cùng các vùng phụ cận của năm thị trấn nầy cho đến thành Ba-anh. Đó là chỗ ở và gia phả của họ.
Mê-sô-báp, Giam-léc, Giô-sa, con của A-ma-xia;
Giô-ên và Giê-hu, con của Giô-xơ-bia, cháu Sê-ra-gia, chắt A-si-ên;
Ê-li-ô-ê-nai, Gia-cô-ba, Giê-sô-hai-gia, A-sa-gia, A-đi-ên, Giê-si-mi-ên, Bê-na-gia,
Xi-xa, con của Si-phi, cháu của A-lôn, chắt của Giê-đa-gia, chít của Sim-ri, là con trai của Sê-ma-gia.
Những người được kể đích danh ở trên là các trưởng gia tộc. Tông tộc của họ đã gia tăng rất nhiều.
Họ sang Ghê-đô, đến bên phía đông của thung lũng, để tìm đồng cỏ cho bầy súc vật của mình.
Họ tìm được đồng cỏ xanh tươi, đất đai rộng rãi, yên tịnh và an toàn; trước kia dòng dõi Cham sinh sống ở đó.
Trong đời Ê-xê-chia, vua nước Giu-đa, những người kể trên đã kéo đến đánh các trại quân của dòng dõi Cham và những người Ma-ô-nít ở đó, tận diệt chúng, chiếm lấy đất, và định cư thay vào đó cho đến ngày nay; vì tại đó có đồng cỏ để nuôi bầy súc vật của họ.
Về sau, trong dòng dõi Si-mê-ôn có năm trăm người tiến đến núi Sê-i-rơ; các người lãnh đạo họ là Phê-la-tia, Nê-a-ria, Rê-pha-gia, và U-xi-ên; đó là các con trai của Di-si.
Họ tiêu diệt những người A-ma-léc còn sót lại, rồi ở đó cho đến ngày nay.
Vì Ru-bên, con trưởng nam của Y-sơ-ra-ên, làm ô uế giường của cha mình nên quyền con trưởng được trao cho các con của Giô-sép, là con trai Y-sơ-ra-ên. Vì vậy, ông không được ghi vào gia phả như là con trưởng nam.
Dù Giu-đa trổi hơn anh em mình, và một nhà lãnh đạo sẽ từ nơi ông mà ra, nhưng quyền con trưởng vẫn thuộc về Giô-sép.
Đây là các con của Ru-bên, con đầu lòng của Y-sơ-ra-ên: Hê-nóc, Pha-lu, Hết-rôn, và Cạt-mi.
Con của Giô-ên là Sê-ma-gia, con của Sê-ma-gia là Gót, con của Gót là Si-mê-i,
con của Si-mê-i là Mi-ca, con của Mi-ca là Rê-a-gia, con của Rê-a-gia là Ba-anh,
con của Ba-anh là Bê-ê-ra, người bị Tiếc-lát Phin-nê-se, vua nước A-si-ri, bắt lưu đày. Bê-ê-ra là thủ lĩnh của người Ru-bên.
Anh em của Bê-ê-ra được chép vào gia phả theo gia tộc mình: Đứng đầu là Giê-i-ên, rồi đến Xa-cha-ri,
Bê-la, con của A-xa, cháu Sê-ma, chắt của Giô-ên; Bê-la ở tại A-rô-e cho đến Nê-bô và Ba-anh Mê-ôn.
Về phía đông, ông chiếm đất từ lối vào hoang mạc đến tận sông Ơ-phơ-rát, vì trong xứ Ga-la-át bầy súc vật của họ gia tăng rất nhiều.
Trong thời vua Sau-lơ, họ đánh nhau với dân Ha-ga-rít, chiến thắng chúng, và chiếm các lều trại chúng trong khắp vùng phía đông xứ Ga-la-át.
Con cháu của Gát ở đối diện họ trong xứ Ba-san, cho đến Sanh-ca.
Đứng đầu là Giô-ên, thứ đến là Sa-pham, rồi Gia-nai và Sa-phát ở Ba-san.
Anh em theo gia tộc của họ có bảy người: Mi-ca-ên, Mê-su-lam, Sê-ba, Giô-rai, Gia-can, Xia và Ê-be.
Đó là con cháu của A-bi-hai, A-bi-hai con của Hu-ri, Hu-ri con của Gia-rô-a, Gia-rô-a con của Ga-la-át, Ga-la-át con của Mi-ca-ên, Mi-ca-ên con của Giê-si-sai, Giê-si-sai con của Giác-đô, Giác-đô con của Bu-xơ.
A-hi con của Áp-đi-ên, Áp-đi-ên con của Gu-ni; A-hi làm trưởng gia tộc.
Họ ở Ga-la-át, Ba-san cùng các vùng phụ cận xứ ấy, và tất cả các đồng cỏ Sa-rôn cho đến ranh giới cuối cùng của nó.
Những người nầy đã được ghi vào gia phả trong thời vua Giô-tham nước Giu-đa, và trong thời vua Giê-rô-bô-am nước Y-sơ-ra-ên.
Trong con cháu bộ tộc Ru-bên, Gát và nửa bộ tộc Ma-na-se, số người khỏe mạnh, có thể cầm khiên, cầm gươm, giương cung, và thạo việc chiến đấu là bốn mươi bốn nghìn bảy trăm sáu mươi người sẵn sàng ra trận.
Họ giao chiến với dân Ha-ga-rít, dân Giê-tua, dân Na-phi, và dân Nô-đáp.
Trong khi giao chiến, họ kêu cầu Đức Chúa Trời, và vì họ có lòng tin cậy Ngài nên Ngài giúp đỡ họ, phó dân Ha-ga-rít và liên minh của chúng vào tay họ.
Họ bắt các bầy súc vật của chúng gồm: năm mươi nghìn lạc đà, hai trăm năm mươi nghìn chiên, hai nghìn lừa; họ cũng bắt một trăm nghìn tù binh.
Có nhiều người ngã chết, vì trận chiến nầy là do Đức Chúa Trời. Họ chiếm cứ đất dân ấy và ở đó cho đến khi bị bắt lưu đày.
Con cháu của nửa bộ tộc Ma-na-se ở trong vùng đất từ Ba-san cho đến Ba-anh Hẹt-môn, Sê-nia, và núi Hẹt-môn; dân số họ rất đông.
Đây là các trưởng gia tộc trong dòng dõi họ: Ê-phe, Di-si, Ê-li-ên, Át-ri-ên, Giê-rê-mi, Hô-đa-via, và Giắc-đi-ên; họ là những dũng sĩ can trường và nổi danh.
Nhưng họ phạm tội với Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, và bán mình cho các thần của những dân tộc trong xứ mà Đức Chúa Trời đã hủy diệt trước mặt họ.
Vì thế, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã giục lòng Phun, vua nước A-si-ri, và Tiếc-la Phi-lê-se, cũng vua nước A-si-ri, đến bắt người của bộ tộc Ru-bên, Gát, và nửa bộ tộc Ma-na-se, đem họ đến Ha-la, Cha-bo, Ha-ra, và miền gần sông Gô-xan, là nơi họ còn ở cho đến nay.
Các con của Lê-vi là Ghẹt-sôn, Kê-hát, và Mê-ra-ri.
Các con của Kê-hát là Am-ram, Dít-sê-ha, Hếp-rôn, và U-xi-ên.
Các con của Am-ram là A-rôn, Môi-se và Mi-ri-am. Các con của A-rôn là Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa, và Y-tha-ma.
Ê-lê-a-sa sinh Phi-nê-a; Phi-nê-a sinh A-bi-sua;
A-bi-sua sinh Bu-ki, Bu-ki sinh U-xi;
U-xi sinh Xê-ra-hi-gia; Xê-ra-hi-gia sinh Mê-ra-giốt;
Mê-ra-giốt sinh A-ma-ria; A-ma-ria sinh A-hi-túp;
A-hi-túp sinh Xa-đốc; Xa-đốc sinh A-hi-ma-ách;
A-hi-ma-ách sinh A-xa-ria; A-xa-ria sinh Giô-ha-nan;
Giô-ha-nan sinh A-xa-ria, là người giữ chức tế lễ trong đền thờ mà vua Sa-lô-môn đã xây dựng tại Giê-ru-sa-lem.
A-xa-ria sinh A-ma-ria; A-ma-ria sinh A-hi-túp;
A-hi-túp sinh Xa-đốc; Xa-đốc sinh Sa-lum;
Sa-lum sinh Hinh-kia; Hinh-kia sinh A-xa-ria;
A-xa-ria sinh Sê-ta-gia; Sê-ra-gia sinh Giê-hô-xa-đác;
Giê-hô-xa-đác bị bắt lưu đày khi Đức Giê-hô-va dùng tay Nê-bu-cát-nết-sa bắt Giu-đa và Giê-ru-sa-lem dẫn đi.
Các con của Lê vi là Ghẹt-sôn, Kê-hát, và Mê-ra-ri.
Đây là tên của các con trai Ghẹt-sôn: Líp-ni và Si-mê-i.
Các con của Kê-hát là Am-ram, Dít-sê-ha, Hếp-rôn, và U-xi-ên.
Các con của Mê-ra-ri là Mách-li và Mu-si. Đó là các gia tộc người Lê-vi theo tổ phụ họ.
Con của Ghẹt-sôn là Líp-ni; con của Líp-ni là Gia-hát; con của Gia-hát là Xim-ma; con Xim-ma là Giô-a;
con của Giô-a là Y-đô; con của Y-đô là Xê-ra; con của Xê-ra là Giê-a-trai.
Con của Kê-hát là A-mi-na-đáp; con của A-mi-na-đáp là Cô-ra; con của Cô-ra là Át-si; con của Át-si là Ên-ca-na;
con của Ên-ca-na là Ê-bi-a-sáp; con của Ê-bi-a-sáp là Át-si;
con của Át-si là Ta-hát; con của Ta-hát là U-ri-ên; con của U-ri-ên là U-xi-gia; con của U-xi-gia là Sau-lơ.
Các con của Ên-ca-na là A-ma-xai và A-hi-mốt.
Con của A-hi-mốt là Ên-ca-na, Xô-phai, và Na-hát.
Con của Na-hát là Ê-li-áp; con của Ê-li-áp là Giê-rô-ham; con của Giê-rô-ham là Ên-ca-na.
Các con của Sa-mu-ên: Con trưởng nam là Va-sê-ni, con thứ hai là A-bi-gia.
Con của Mê-ra-ri là Mách-li; con của Mách-li là Líp-ni; con của Líp-ni là Si-mê-i; con của Si-mê-i là U-xa;
con của U-xa là Si-mê-a; con của Si-mê-a là Ha-ghi-gia; con của Ha-ghi-gia là A-sai-gia.
Vua Đa-vít chỉ định người lo việc ca hát trong đền thờ Đức Giê-hô-va, sau khi Hòm Giao Ước đã để yên tại đó.
Họ phục vụ việc ca hát trước Đền Tạm cho đến khi vua Sa-lô-môn xây cất xong đền thờ của Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem; họ cứ theo phiên thứ mình mà làm việc.
Đây là những người phục vụ cùng với con cháu của họ: Trong con cháu Kê-hát có Hê-man là ca sĩ, con của Giô-ên, Giô-ên con của Sa-mu-ên,
Sa-mu-ên con của Ên-ca-na, Ên-ca-na con của Giê-rô-ham, Giê-rô-ham con của Ê-li-ên, Ê-li-ên con của Thô-a,
Thô-a con của Xu-phơ, Xu-phơ con của Ên-ca-na, Ên-ca-na con của Ma-hát, Ma-hát con của A-ma-sai,
A-ma-sai con của Ên-ca-na, Ên-ca-na con của Giô-ên, Giô-ên con của A-xa-ria, A-xa-ria con của Sô-phô-ni,
Sô-phô-ni con của Ta-hát, Ta-hát con của Át-si, Át-si con của Ê-bi-a-sáp, Ê-bi-a-sáp con của Cô-ra,
Cô-ra con của Dít-sê-ha, Dít-sê-ha con của Kê-hát, Kê-hát con của Lê-vi, Lê-vi con của Y-sơ-ra-ên.
Em của Hê-man là A-sáp phục vụ bên phải ông. A-sáp là con của Bê-rê-kia, Bê-rê-kia con trai Si-mê-a,
Si-mê-a con của Mi-ca-ên, Mi-ca-ên con của Ba-sê-gia, Ba-sê-gia con của Manh-ki-gia,
Manh-ki-gia con của Ét-ni, Ét-ni con của Xê-ra, Xê-ra con của A-đa-gia,
A-đa-gia con của Ê-than, Ê-than con của Xim-ma, Xim-ma con của Si-mê-i,
Si-mê-i con của Gia-hát, Gia-hát con của Ghẹt-sôn, Ghẹt-sôn con của Lê-vi.
Các con cháu của Mê-ra-ri, anh em của họ, đều phục vụ bên trái, đó là Ê-than con của Ki-si, Ki-si con của Áp-đi, Áp-đi con của Ma-lúc,
Ma-lúc con của Ha-sa-bia, Ha-sa-bia con của A-ma-xia, A-ma-xia con của Hinh-kia,
Hinh-kia con của Am-si, Am-si con của Ba-ni, Ba-ni con của Sê-me,
Sê-me con của Mách-li, Mách-li con của Mu-si, Mu-si con của Mê-ra-ri, Mê-ra-ri con của Lê-vi.
Các anh em của họ là những người Lê-vi khác đều được chỉ định làm mọi việc trong Đền Tạm của Đức Chúa Trời.
A-rôn và các con trai ông đều dâng tế lễ hoặc trên bàn thờ về tế lễ thiêu hoặc trên bàn thờ xông hương, làm mọi việc ở Nơi Chí Thánh, và làm lễ chuộc tội cho Y-sơ-ra-ên, theo như mọi điều Môi-se, đầy tớ Đức Chúa Trời, đã truyền dạy.
Đây là dòng dõi của A-rôn: Ê-lê-a-sa con của A-rôn, Phi-nê-a con của Ê-lê-a-sa, A-bi-sua con của Phi-nê-a,
Bu-ki con của A-bi-sua, U-xi con của Bu-ki, Xê-ra-hi-gia con của U-xi,
Mê-ra-giốt con của Xê-ra-hi-gia, A-ma-ria con của Mê-ra-giốt, A-hi-túp con của A-ma-ria,
Xa-đốc con của A-hi-túp, A-hi-ma-ách con của Xa-đốc.
Đây là nơi ở của con cháu A-rôn, tùy theo nơi đóng trại trong địa phận của họ. Gia tộc Kê-hát bắt thăm trước nhất.
Họ nhận được thành Hếp-rôn thuộc đất Giu-đa và các đồng cỏ chung quanh.
Nhưng đồng ruộng và làng mạc chung quanh thành thì được cấp cho Ca-lép, con trai Giê-phu-nê.
Con cháu A-rôn được cấp cho những thành ẩn náu là Hếp-rôn, Líp-na, và các đồng cỏ chung quanh; Gia-tia, Ếch-tê-mô-a, và các đồng cỏ chung quanh;
Hi-lên, và các đồng cỏ chung quanh; Đê-bia, và các đồng cỏ chung quanh;
A-san, và các đồng cỏ chung quanh; Bết Sê-mết, và các đồng cỏ chung quanh.
Từ bộ tộc Bên-gia-min, họ được cấp Ghê-ba, và các đồng cỏ chung quanh; A-lê-mết, và các đồng cỏ chung quanh; A-na-tốt, và các đồng cỏ chung quanh. Tất cả các thành họ nhận được là mười ba thành tùy theo gia tộc họ.
Số còn lại của con cháu Kê-hát bắt thăm và được mười thành trong nửa bộ tộc Ma-na-se.
Con cháu Ghẹt-sôn, theo từng gia tộc, nhận được mười ba thành trong các bộ tộc Y-sa-ca, A-se, Nép-ta-li, và Ma-na-se trong đất Ba-san.
Con cháu Mê-ra-ri, theo từng gia tộc, bắt thăm và được mười hai thành trong các bộ tộc Ru-bên, Gát và Sa-bu-lôn.
Dân Y-sơ-ra-ên cấp cho người Lê-vi các thành ấy và các đồng cỏ chung quanh.
Họ bắt thăm mà cấp cho người Lê-vi các thành từ trong địa phận các bộ tộc Giu-đa, Si-mê-ôn, và Bên-gia-min đã kể ở trên.
Một số gia tộc thuộc họ Kê-hát đã nhận được các thành từ trong bộ tộc Ép-ra-im;
họ được những thành ẩn náu là Si-chem và các đồng cỏ trong vùng đồi núi Ép-ra-im, Ghê-xe và các đồng cỏ chung quanh,
Giốc-mê-am và các đồng cỏ, Bết Hô-rôn và các đồng cỏ chung quanh,
A-gia-lôn và các đồng cỏ chung quanh, Gát Rim-môn và các đồng cỏ chung quanh;
và từ trong nửa bộ tộc Ma-na-se, họ nhận được A-ne và các đồng cỏ chung quanh, Bi-lê-am và các đồng cỏ chung quanh. Người ta cấp các thành ấy cho những người còn sót lại của gia tộc Kê-hát.
Từ trong các gia tộc của nửa bộ tộc Ma-na-se, con cháu Ghẹt-sôn nhận được Gô-lan ở đất Ba-san và các đồng cỏ chung quanh, Ách-ta-rốt và các đồng cỏ chung quanh.
Từ bộ tộc Y-sa-ca, họ nhận được Kê-đe và các đồng cỏ chung quanh, Đáp-bê-rát và các đồng cỏ chung quanh,
Ra-mốt và các đồng cỏ chung quanh, A-nem và các đồng cỏ chung quanh.
Từ bộ tộc A-se, họ nhận được Ma-sanh và các đồng cỏ chung quanh, Áp-đôn và các đồng cỏ chung quanh,
Hu-cô và các đồng cỏ chung quanh, Rê-hốp và các đồng cỏ chung quanh.
Từ bộ tộc Nép-ta-li, họ nhận được Kê-đe trong Ga-li-lê và các đồng cỏ chung quanh, Ham-môn và các đồng cỏ chung quanh, Ki-ri-a-ta-im và các đồng cỏ chung quanh.
Từ bộ tộc Sa-bu-lôn, số còn lại của con cháu Mê-ra-ri nhận được Ri-mô-nô và các đồng cỏ chung quanh, Tha-bô và các đồng cỏ chung quanh.
Từ bộ tộc Ru-bên ở bên kia sông Giô-đanh về phía đông, đối diện Giê-ri-cô, họ nhận được Bết-se trong hoang mạc và các đồng cỏ chung quanh, Gia-xa và các đồng cỏ chung quanh,
Kê-đê-mốt và các đồng cỏ chung quanh, Mê-phát và các đồng cỏ chung quanh.
Từ bộ tộc Gát, họ nhận được Ra-mốt ở đất Ga-la-át và các đồng cỏ chung quanh, Ma-ha-na-im và các đồng cỏ chung quanh,
Hết-bôn và các đồng cỏ chung quanh, Gia-ê-xe và các đồng cỏ chung quanh.
Các con của Y-sa-ca là: Thô-la, Phu-va, Gia-súp, và Sim-rôn; tất cả là bốn người.
Các con của Thô-la là: U-xi, Rê-pha-gia, Giê-ri-ên, Giác-mai, Díp-sam, và Sa-mu-ên. Họ đều là trưởng gia tộc của dòng họ Thô-la, và là những chiến sĩ dũng cảm trong gia phả của họ. Trong thời vua Đa-vít, tổng số con cháu họ là hai mươi hai nghìn sáu trăm người.
Con của U-xi là Dít-ra-hia. Các con của Dít-ra-hia là Mi-ca-ên, Ô-ba-đia, Giô-ên, và Di-si-gia; cả năm cha con đều là trưởng gia tộc.
Theo gia phả, họ có tất cả ba mươi sáu nghìn quân sẵn sàng ra trận, vì họ có nhiều vợ, đông con.
Anh em của họ trong tất cả các gia tộc thuộc bộ tộc Y-sa-ca là những chiến sĩ dũng cảm, có tám mươi bảy nghìn quân.
Các con của Bên-gia-min là Bê-la, Bê-ke, và Giê-đi-a-ên; tất cả là ba người.
Các con của Bê-la là Ét-bôn, U-xi, U-xi-ên, Giê-ri-mốt, và Y-ri; tất cả là năm người, đều là trưởng gia tộc và là dũng sĩ. Theo gia phả, tổng số con cháu họ được hai mươi hai nghìn không trăm ba mươi bốn người.
Các con của Bê-ke là Xê-mi-ra, Giô-ách, Ê-li-ê-se, Ê-li-ô-ê-nai, Ôm-ri, Giê-rê-mốt, A-bi-gia, A-na-tốt, và A-lê-mết. Tất cả những người nầy đều là con của Bê-ke,
họ đều là trưởng gia tộc và là dũng sĩ. Theo gia phả, tổng số con cháu họ được hai mươi nghìn hai trăm người.
Con của Giê-đi-a-ên là Binh-han; các con của Binh-han là Giê-úc, Bên-gia-min, Ê-hút, Kê-na-na, Xê-than, Ta-rê-si, và A-hi-sa-ha.
Tất cả những người nầy là con cháu của Giê-đi-a-ên; họ đều là trưởng gia tộc và dũng sĩ. Tổng số con cháu của họ sẵn sàng ứng chiến là mười bảy nghìn hai trăm người.
Ngoài ra còn có Súp-bim và Hốp-bim là con của Y-rơ; Hu-sim là con của A-he.
Các con của Nép-ta-li là Gia-si-ên, Gu-ni, Giê-xe, và Sa-lum; họ đều là cháu của bà Bi-la.
Con của Ma-na-se là Ách-ri-ên, do vợ lẽ người A-ram sinh ra; bà cũng sinh Ma-ki, là cha của Ga-la-át.
Ma-ki cưới vợ cho Hốp-bim và Súp-bim. Em gái của Ma-ki là Ma-a-ca. Tên của người con thứ là Xê-lô-phát; Xê-lô-phát chỉ sinh được con gái.
Ma-a-ca, vợ của Ma-ki, sinh được một đứa con trai, đặt tên là Phê-rết; tên của người em là Sê-rết. Sê-rết sinh U-lam và Ra-kem.
Con của U-lam là Bê-đan. Đó là con cháu của Ga-la-át, con của Ma-ki, cháu của Ma-na-se.
Em gái của Ga-la-át là Ha-mô-lê-kết sinh Y-sốt, A-bi-ê-xe, và Mác-la.
Các con của Sê-mi-đa là A-hi-an, Sê-kem, Li-khi, và A-ni-am.
Con của Ép-ra-im là Su-tê-la; con của Su-tê-la là Bê-re, con của Bê-re là Ta-hát, con của Ta-hát là Ê-lê-a-đa, con của Ê-lê-a-đa là Ta-hát,
con của Ta-hát là Xa-bát, con của Xa-bát là Su-tê-la, Ê-xe, và Ê-lê-át; họ bị người địa phương ở đất Gát giết chết vì họ xuống Gát cướp bầy súc vật của chúng.
Ép-ra-im, cha của họ, để tang lâu ngày, và anh em ông đều đến an ủi ông.
Sau đó, ông ăn ở với vợ. Bà mang thai và sinh được một đứa trai, đặt tên là Bê-ri-a, vì gia đình ông lúc ấy gặp điều bất hạnh.
Con gái ông là Sê-ê-ra; người đã xây thành Bết Hô-rôn Thượng, Bết Hô-rôn Hạ, và thành U-xên Sê-ê-ra.
Ông còn có một người con nữa là Rê-pha; Rê-pha sinh Rê-sép và Tê-la; Tê-la sinh Tha-han;
Ta-han sinh La-ê-đan; La-ê-đan sinh Am-mi-hút; Am-mi-hút sinh Ê-li-sa-ma;
Ê-li-sa-ma sinh Nun; và Nun sinh Giô-suê.
Sản nghiệp và nơi ở của họ là Bê-tên và các vùng phụ cận; về phía đông là Na-a-ran, và về phía tây là Ghê-xe và các vùng phụ cận; cũng có Si-chem và các vùng phụ cận, cho đến A-da và các vùng phụ cận.
Dọc theo biên giới bộ tộc Ma-na-se có Bết Sê-an và các vùng phụ cận, Ta-nác và các vùng phụ cận, Mê-ghi-đô và các vùng phụ cận, Đô-rơ và các vùng phụ cận. Con cháu Giô-sép, con trai Y-sơ-ra-ên, cư ngụ tại những nơi ấy.
Các con của A-se là Dim-na, Dích-va, Dích-vi, Bê-ri-a và Sê-ra, là em gái của họ.
Các con của Bê-ri-a là Hê-be và Manh-ki-ên; Manh-ki-ên là người sáng lập Biếc-xa-vít.
Hê-be sinh Giáp-phơ-lết, Sê-me, Hô-tham, và Su-a là em gái của họ.
Các con của Giáp-phơ-lết là Pha-sác, Bim-hanh, và A-vát. Đó là những con trai của Giáp-phơ-lết.
Các con của Sê-me là A-hi, Rô-hê-ga, Hu-ba, và A-ram.
Các con của Hê-lem, em Sê-me, là Xô-pha, Dim-na, Sê-lết, và A-manh.
Các con của Xô-pha là Su-a, Hạt-nê-phê, Su-anh, Bê-ri, Dim-ra,
Bết-se, Hốt, Sa-ma, Sinh-sa, Dít-ran, và Bê-ê-ra.
Các con của Giê-the là Giê-phu-nê, Phít-ba, và A-ra.
Các con của U-la là A-ra, Ha-ni-ên, và Ri-xi-a.
Tất cả những người nầy đều là con cháu của A-se, làm trưởng gia tộc, vốn là những chiến sĩ dũng cảm được tuyển chọn, đứng đầu các quan tướng. Theo gia phả, tổng số người sẵn sàng chiến đấu là hai mươi sáu nghìn người.
Bên-gia-min sinh con đầu lòng là Bê-la, con thứ nhì là Ách-bên, con thứ ba là Ạc-ra,
con thứ tư là Nô-ha, và con thứ năm là Ra-pha.
Các con của Bê-la là Át-đa, Ghê-ra, A-bi-hút,
A-bi-sua, Na-a-man, A-hoa,
Ghê-ra, Sê-phu-phan, và Hu-ram.
Các con của Ê-hút đều là trưởng gia tộc của dân sống ở Ghê-ba, và bắt dân ấy đày sang ở đất Ma-na-hát.
Các con của Ê-hút đó là Na-a-man, A-hi-gia, và Ghê-ra; chính Ghê-ra, cha của U-xa và A-hi-hút, là người bắt dân Ghê-ba sang ở đất Ma-na-hát.
Sa-ha-ra-im sinh các con trong xứ Mô-áp sau khi bỏ hai người vợ là Hu-sim và Ba-ra.
Ông cưới bà Hô-đe và sinh được Giô-báp, Xi-bia, Mê-sa, Manh-cam,
Giê-út, Sô-kia, và Mịt-ma. Những người con nầy của ông đều làm trưởng gia tộc.
Bà Hu-sim cũng sinh cho ông: A-bi-túp và Ên-ba-anh.
Các con của Ên-ba-anh là Ê-be, Mi-sê-am, Sê-mết (ông nầy xây thành Ô-nô và Lót cùng các làng chung quanh),
Bê-ri-a và Sê-ma (hai người nầy làm trưởng gia tộc của dân A-gia-lôn, và đã đuổi dân thành Gát).
Các con của Bê-ri-a là A-hi-ô, Sa-sác, Giê-rê-mốt,
Xê-ba-đia, A-rát, Ê-đe,
Mi-ca-ên, Dít-pha, và Giô-ha.
Các con của Ên-pa-anh là Xê-ba-đia, Mê-su-lam, Hi-ki, Hê-be,
Gít-mê-rai, Gít-lia, và Giô-báp.
Các con của Si-mê-i là Gia-kim, Xiếc-ri, Xáp-đi,
Ê-li-ê-nai, Xi-lê-tai, Ê-li-ên,
A-đa-gia, Bê-ra-gia, và Sim-rát.
Các con của Sa-sác là Gít-pan, Ê-be, Ê-li-ên,
Áp-đôn, Xiếc-ri, Ha-nan,
Ha-na-nia, Ê-lam, An-tô-ti-gia,
Gíp-đê-gia, và Phê-nu-ên.
Các con của Giê-rô-ham là Sam-sê-rai, Sê-ha-ria, A-ta-lia,
Gia-rê-sia, Ê-li-gia, và Xiếc-ri.
Những người nầy làm trưởng gia tộc, đứng đầu trong dòng dõi họ, và ở tại thành Giê-ru-sa-lem.
Giê-i-ên, người sáng lập thành Ga-ba-ôn, ở tại Ga-ba-ôn, có vợ tên là Ma-a-ca.
Con trưởng nam của ông là Áp-đôn. Ngoài ra, ông còn sinh Xu-rơ, Kích, Ba-anh, Na-đáp,
Ghê-đô, A-hi-ô, và Xê-ke.
Mích-lô sinh Si-mê-a; họ cùng sinh sống với anh em mình tại Giê-ru-sa-lem.
Nê-rơ sinh Kích; Kích sinh Sau-lơ; Sau-lơ sinh Giô-na-than, Manh-ki-sua, A-bi-na-đáp, và Ếch-ba-anh.
Con của Giô-na-than là Mê-ri Ba-anh; Mê-ri Ba-anh sinh Mi-ca.
Các con của Mi-ca là Phi-thôn, Mê-léc, Ta-rê-a, và A-cha.
A-cha sinh Giê-hô-a-đa; Giê-hô-a-đa sinh A-lê-mết, Ách-ma-vết, và Xim-ri; Xim-ri sinh Một-sa;
Một-sa sinh Bi-nê-a; con của Bi-nê-a là Ra-pha; Ra-pha sinh Ê-lê-a-sa; Ê-lê-a-sa sinh A-xên.
A-xên có sáu con trai tên là: A-ri-kham, Bốc-ru, Ích-ma-ên, Sê-a-ria, Ô-ba-đia, và Ha-nan. Tất cả những người nầy đều là con trai của A-xên.
Con trưởng nam của Ê-sết, em của A-xên, là U-lam, con thứ nhì là Giê-úc, và con thứ ba là Ê-li-phê-lết.
Các con của U-lam đều là những chiến sĩ can đảm, có tài bắn cung. Họ có con cháu rất đông, tổng số là một trăm năm mươi người. Tất cả những người nầy đều là con cháu của Bên-gia-min.
Như thế, tất cả người Y-sơ-ra-ên đều được liệt kê vào gia phả, và đã được ghi chép trong sách của các vua Y-sơ-ra-ên. Dân Giu-đa bị bắt đày sang Ba-by-lôn vì tội bất trung của họ.
Những người đầu tiên trở về tái định cư trong các sản nghiệp, trong các thành của họ, là người Y-sơ-ra-ên, các thầy tế lễ, người Lê-vi, và những người phục vụ trong đền thờ.
Những người thuộc các bộ tộc Giu-đa, Bên-gia-min, Ép-ra-im, và Ma-na-se cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem gồm có:
Về dòng tộc Phê-rết, con của Giu-đa, có U-thai, con của A-mi-hút; A-mi-hút con của Ôm-ri, Ôm-ri con của Im-ri, và Im-ri con của Ba-ni.
Về người Si-lô-ni có A-sai-gia, con trưởng nam, và các con của ông.
Về dòng tộc Xê-rách có Giê-u-ên và anh em ông, tất cả sáu trăm chín mươi người.
Về dòng tộc Bên-gia-min có Sa-lu, con của Mê-su-lam (Mê-su-lam con của Hô-đa-via; Hô-đa-via con của A-sê-nu-a);
cũng có Gíp-nê-gia, con Giê-rô-ham; Ê-la con của U-xi (U-xi là con của Mi-cơ-ri); và Mê-su-lam, con của Sê-pha-tia (Sê-pha-tia con của Rê-u-ên; Rê-u-ên con của Gíp-nê-gia).
Anh em của họ kể theo phả hệ được chín trăm năm mươi sáu người. Tất cả những người nầy đều làm trưởng các gia tộc của họ.
Về các thầy tế lễ có Giê-đa-gia, Giê-hô-gia-ríp, Gia-kin,
và A-xa-ria, con của Hinh-kia (Hinh-kia con của Mê-su-lam; Mê-su-lam con của Xa-đốc; Xa-đốc con của Mê-ra-giốt; Mê-ra-giốt con của A-hi-túp, là người quản lý đền thờ của Đức Chúa Trời);
cũng có A-đa-gia, con của Giê-rô-ham (Giê-rô-ham con của Pha-sua; Pha-sua con của Manh-ki-gia; Manh-ki-gia con của Ma-ê-sai; Ma-ê-sai con của A-đi-ên; A-đi-ên con của Gia-xê-ra; Gia-xê-ra con của Mê-su-lam; Mê-su-lam con của Mê-si-lê-mít; Mê-si-lê-mít con của Y-mê).
Anh em của họ, tất cả là một nghìn bảy trăm sáu mươi người, đều làm trưởng gia tộc, có khả năng phục vụ trong đền thờ của Đức Chúa Trời.
Trong số những người Lê-vi có Sê-ma-gia, con của Ha-súp, cháu của A-ri-kham, chắt của Ha-sa-bia; tất cả đều thuộc về dòng Mê-ra-ri;
cũng có Bác-ba-cát, Hê-re, Ga-la, Ma-tha-nia, đều là con của Mi-ca, cháu của Xiếc-ri, chắt của A-sáp;
Ô-ba-đia, con của Sê-ma-gia, cháu của Ga-la, chắt của Giê-đu-thun; Bê-rê-kia, con của A-sa, cháu của Ên-ca-na, là người ở trong các làng của người Nê-tô-pha-tít.
Những người canh cửa gồm có: Sa-lum, A-cúp, Tanh-môn, A-hi-man, và anh em của họ; Sa-lum là người đứng đầu.
Cho đến bây giờ họ canh cửa phía đông của vua; còn trước kia, tổ tiên họ đều giữ cửa trại người Lê-vi.
Sa-lum con của Cô-rê, cháu của Ê-bi-a-sáp, chắt của Cô-ra, và anh em cùng họ hàng của ông thuộc dòng Cô-ra, lo việc phục dịch và canh giữ các cửa Lều Tạm; cũng như trước kia, tổ phụ họ chịu trách nhiệm canh giữ cửa trại của Đức Giê-hô-va.
Xưa kia Phi-nê-a, con của Ê-lê-a-sa, đã từng là quản đốc của họ; và Đức Giê-hô-va ở với ông.
Xa-cha-ri, con của Mê-sê-lê-mia, là người giữ cửa Lều Hội Kiến.
Tổng số những người được lựa chọn để canh cửa là hai trăm mười hai người. Họ được ghi vào gia phả theo làng xóm của họ. Vua Đa-vít và nhà tiên kiến Sa-mu-ên đã tín nhiệm giao cho họ trách nhiệm nầy.
Như thế, họ và con cháu họ đều có nhiệm vụ canh giữ các cửa của nhà Đức Giê-hô-va, tức là Đền Tạm.
Những người canh cửa giữ ở bốn phía: đông, tây, nam, bắc.
Các anh em của họ ở trong các làng, theo phiên thứ, phải đến giúp họ một tuần.
Bốn người Lê-vi, đứng đầu những người canh cửa, còn có trách nhiệm coi sóc các phòng và kho tàng trong nhà của Đức Chúa Trời.
Ban đêm, họ ở chung quanh nhà của Đức Chúa Trời, vì họ có trách nhiệm canh giữ; mỗi buổi sáng, họ phải mở cửa.
Trong số họ, có một số người được chỉ định trông coi các vật dụng trong đền thờ; họ phải đếm những vật dụng nầy lúc đem ra, cũng như lúc đem vào.
Lại cũng có người được chỉ định coi sóc đồ đạc và các vật dụng trong nơi thánh, cùng với tinh bột, rượu, dầu, trầm hương, và hương liệu.
Trong số các con của những thầy tế lễ có người pha chế các hương liệu.
Còn Ma-ti-thia, người Lê-vi, con trưởng nam của Sa-lum, thuộc về dòng Cô-ra, lo việc nướng bánh tế lễ.
Trong số anh em của họ thuộc dòng Kê-hát, có người được chỉ định lo việc làm bánh cung hiến, chuẩn bị sẵn cho mỗi ngày Sa-bát.
Đây là những người có nhiệm vụ ca hát; họ đều là trưởng gia tộc người Lê-vi, vẫn ở trong các phòng ốc, và được miễn các công việc khác vì họ phục vụ ngày đêm.
Theo gia phả, những người ấy đều làm trưởng gia tộc của người Lê-vi, và ở tại thành Giê-ru-sa-lem.
Giê-i-ên, người sáng lập thành Ga-ba-ôn, ở tại Ga-ba-ôn, có vợ tên là Ma-a-ca.
Con trưởng nam của ông là Áp-đôn; thứ đến là Xu-rơ, Kích, Ba-anh, Nê-rơ, Na-đáp,
Ghê-đô, A-hi-ô, Xa-cha-ri, và Mích-lô.
Mích-lô sinh Si-mê-am. Họ cùng với anh em mình sống gần anh em họ hàng tại thành Giê-ru-sa-lem.
Nê-rơ sinh Kích; Kích sinh Sau-lơ; Sau-lơ sinh Giô-na-than, Manh-ki-sua, A-bi-na-đáp, và Ếch-ba-anh.
Con của Giô-na-than là Mê-ri Ba-anh; Mê-ri Ba-anh sinh Mi-ca.
Các con của Mi-ca là Phi-thôn, Mê-léc, Ta-rê-a, và A-cha.
A-cha sinh Gia-ê-ra; Gia-ê-ra sinh A-lê-mết, Ách-ma-vết và Xim-ri; Xim-ri sinh Một-sa;
Một-sa sinh Bi-nê-a, con của Bi-nê-a là Rê-pha-gia; Rê-pha-gia sinh Ê-lê-a-sa; và Ê-lê-a-sa sinh A-xên.
A-xên có sáu người con trai tên là A-ri-kham, Bốc-ru, Ích-ma-ên, Sê-a-ria, Ô-ba-đia, và Ha-nan; đó là các con của A-xên.
Lúc bấy giờ, người Phi-li-tin giao chiến với Y-sơ-ra-ên. Người Y-sơ-ra-ên bỏ chạy trước mặt người Phi-li-tin; họ ngã chết trên núi Ghinh-bô-a.
Người Phi-li-tin bám sát vua Sau-lơ và các con. Chúng giết các con trai của Sau-lơ là Giô-na-than, A-bi-na-đáp, và Manh-ki-sua.
Trận chiến trở nên ác liệt đối với Sau-lơ. Khi nhận ra Sau-lơ, lính cầm cung bắn vua bị trọng thương.
Sau-lơ bảo người mang khí giới mình rằng: “Hãy tuốt gươm ngươi và đâm chết ta đi kẻo bọn chẳng chịu cắt bì kia đến lăng nhục ta.” Nhưng người mang khí giới của vua không dám làm vì quá sợ hãi. Vì vậy, Sau-lơ lấy gươm ra rồi ngã sấp vào mũi gươm.
Khi người mang khí giới thấy Sau-lơ đã chết thì cũng lấy gươm rồi ngã sấp vào mũi gươm mà chết.
Thế là vua Sau-lơ cùng ba con trai và tất cả người nhà của vua đều chết.
Khi người Y-sơ-ra-ên ở dưới thung lũng thấy quân mình thua chạy và Sau-lơ cùng các con đã chết thì bỏ thành chạy trốn. Người Phi-li-tin đến chiếm và ở trong các thành ấy.
Ngày hôm sau, khi người Phi-li-tin đến vơ vét đồ đạc của những kẻ tử trận thì thấy Sau-lơ và các con ngã chết trên núi Ghinh-bô-a.
Chúng lột hết đồ đạc của Sau-lơ, chém đầu và lấy vũ khí của vua, rồi sai người đi khắp đất Phi-li-tin, để báo tin mừng cho các thần tượng và dân chúng.
Chúng để vũ khí của Sau-lơ trong miếu các thần của chúng, còn đầu vua thì treo trong đền Đa-gôn.
Khi dân ở Gia-be Ga-la-át nghe mọi điều người Phi-li-tin đã đối xử với Sau-lơ
thì tất cả các dũng sĩ đều lên đường, lấy xác vua Sau-lơ và các con đem về Gia-be. Họ chôn các xác ấy dưới cây thông tại Gia-be, rồi kiêng ăn bảy ngày.
Như thế, vua Sau-lơ đã chết vì tội bất trung với Đức Giê-hô-va, không tuân giữ mạng lệnh của Ngài. Ngoài ra, vua còn đi cầu hỏi đồng bóng,
không cầu hỏi Đức Giê-hô-va. Vì thế, Ngài khiến vua phải chết, và chuyển giao vương quyền cho Đa-vít, con của Gie-sê.
Lúc ấy, toàn thể Y-sơ-ra-ên cùng nhau đến với Đa-vít tại Hếp-rôn mà nói rằng: “Kìa, chúng tôi vốn là cốt nhục của ông.
Trước kia, ngay khi Sau-lơ còn làm vua, chính ông đã dẫn Y-sơ-ra-ên vào ra; và Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông đã phán với ông rằng: ‘Ngươi sẽ chăn dắt dân Ta là Y-sơ-ra-ên, làm lãnh tụ của họ.’”
Vậy, tất cả các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đều đến cùng vua ở Hếp-rôn. Đa-vít lập giao ước với họ tại Hếp-rôn trước mặt Đức Giê-hô-va; rồi họ xức dầu tôn Đa-vít làm vua trên Y-sơ-ra-ên, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán qua Sa-mu-ên.
Đa-vít và toàn thể Y-sơ-ra-ên kéo đến thành Giê-ru-sa-lem, lúc ấy gọi là Giê-bu. Dân bản địa là người Giê-bu-sít đang ở đó.
Dân cư Giê-bu nói với Đa-vít: “Ông không thể vào đây được đâu.” Nhưng Đa-vít đã chiếm được đồn lũy Si-ôn, tức là thành Đa-vít.
Đa-vít nói: “Ai là người đầu tiên đánh giết dân Giê-bu-sít sẽ được làm chỉ huy trưởng và làm thủ lĩnh.” Giô-áp, con của Xê-ru-gia, đi lên đánh trước nhất nên được làm chỉ huy trưởng.
Đa-vít đóng trong đồn lũy ấy nên nơi đó được gọi là thành Đa-vít.
Vua cho xây tường thành bao quanh, từ Mi-lô cho đến khắp chung quanh; phần còn lại của thành thì Giô-áp sửa sang.
Thế lực của Đa-vít ngày càng gia tăng, vì Đức Giê-hô-va vạn quân ở cùng vua.
Đây là những người chỉ huy các dũng sĩ của Đa-vít; họ đã giúp vua chiếm được vương quốc, và đã cùng với toàn dân Y-sơ-ra-ên lập Đa-vít lên làm vua, đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán về Y-sơ-ra-ên.
Dưới đây là danh sách các dũng sĩ của Đa-vít: Gia-sô-bê-am, con của Hác-mô-ni, đứng đầu “Bộ Ba”; chính ông là người đã vung giáo giết ba trăm người cùng một lúc.
Sau ông có Ê-lê-a-sa, con của Đô-đô, ở A-hô-hi, là một trong ba dũng sĩ.
Ông nầy ở với Đa-vít tại Pha-đa-mim, lúc quân Phi-li-tin tập hợp tại đó để giao chiến. Khi ấy, cánh đồng đầy lúa mạch, và quân lính Y-sơ-ra-ên đều bỏ chạy trước quân Phi-li-tin.
Nhưng họ đứng giữa cánh đồng chống cự và đánh giết quân Phi-li-tin. Đức Giê-hô-va giúp họ đại thắng.
Trong nhóm “Ba Mươi” có ba người đi xuống hang đá A-đu-lam, đến cùng Đa-vít trong lúc quân Phi-li-tin đang đóng trại tại thung lũng Rê-pha-im.
Lúc ấy, Đa-vít ở trong đồn lũy và quân đồn trú của người Phi-li-tin thì ở Bết-lê-hem.
Đa-vít ước ao và nói: “Ước gì có ai cho ta uống nước giếng bên cổng thành Bết-lê-hem!”
Ba người nầy băng ngang qua trại quân Phi-li-tin, múc nước giếng bên cổng thành Bết-lê-hem, đem về cho Đa-vít. Nhưng Đa-vít không chịu uống mà đổ nước ấy ra trước mặt Đức Giê-hô-va,
và nói: “Xin Đức Chúa Trời giữ tôi để tôi không làm điều nầy! Tôi sẽ uống máu của những người nầy sao? Vì họ đã liều mạng sống mình để đem nước nầy về.” Vì thế, vua không chịu uống. Đó là việc ba dũng sĩ nầy đã làm.
A-bi-sai, em của Giô-áp, đứng đầu trong ba dũng sĩ; ông đã vung giáo giết chết ba trăm người, nên nổi danh trong số ba người ấy.
Trong số ba dũng sĩ ấy, ông nổi danh hơn và được làm chỉ huy trưởng của họ, nhưng không bằng “Bộ Ba” kia.
Bê-na-gia, con của Giê-hô-gia-đa ở Cáp-xê-ên, là một người dũng cảm đã lập được nhiều kỳ công. Chính ông đã giết hai dũng sĩ người Mô-áp. Ông cũng đã đi xuống và đánh chết một con sư tử ở dưới hố vào một ngày có tuyết rơi.
Chính ông đã đánh giết một người Ai Cập cao gần hai mét rưỡi; người Ai Cập nầy cầm trong tay một cây giáo lớn bằng cây trục cửi của thợ dệt, còn Bê-na-gia xuống đón hắn với một cây gậy. Ông giật cây giáo khỏi tay người Ai Cập, rồi dùng cây giáo của hắn mà giết hắn.
Đó là những việc Bê-na-gia, con của Giê-hô-gia-đa, đã làm; ông được nổi tiếng so với ba dũng sĩ.
Trong số ba mươi dũng sĩ, Bê-na-gia được tôn trọng hơn hết nhưng ông không ở trong số ba người kia. Đa-vít đặt ông chỉ huy các cận vệ của vua.
Sau đây là các dũng sĩ khác của quân đội: A-sa-ên, em của Giô-áp; Ên-ca-nan, con của Đô-đô ở Bết-lê-hem;
Sa-mốt, người Ha-rôn; Hê-lết, người Pha-lôn;
Y-ra, con của Y-kết ở Thê-kô-a; A-bi-ê-xe ở A-na-tốt;
Si-bê-cai ở Hu-sa; Y-lai ở A-hô-hi;
Ma-ha-rai ở Nê-tô-pha; Hê-lết, con của Ba-a-na ở Nê-tô-pha;
Y-tai, con của Ri-bai ở Ghi-bê-a, là thành của con cháu Bên-gia-min; Bê-na-gia ở Phi-ra-thôn;
Hu-rai ở suối Ga-ách; A-bi-ên ở A-ra-ba;
Ách-ma-vết ở Ba-hu-rim; Ê-li-ác-ba ở Sa-anh-bôn;
Bê-ne-ha-sem ở Ghi-xôn; Giô-na-than, con của Sa-ghê ở Ha-ra;
A-hi-am, con của Sa-ca ở Ha-ra; Ê-li-pha, con của U-rơ;
Hê-phe ở Mê-kê-ra; A-hi-gia ở Pha-lôn;
Hết-rô ở Cạt-mên; Na-a-rai, con của E-bai;
Giô-ên em của Na-than; Mi-bê-ha, con của Ha-gơ-ri;
Xê-léc là người Am-môn; Na-ha-rai ở Bê-ê-rốt, là người mang khí giới của Giô-áp, con của Xê-ru-gia;
Y-ra ở Giê-the; Ga-rép cũng ở Giê-the;
U-ri người Hê-tít; Xa-bát, con của Ạc-lai;
A-đi-na, con của Si-xa, người Ru-bên, một nhà lãnh đạo của người Ru-bên, chỉ huy ba mươi người;
Ha-nan, con của Ma-a-ca; Giô-sa-phát ở Mê-then;
U-xia ở Ách-ta-rốt; Sa-ma và Giê-hi-ên, con của Hô-tam ở A-rô-e;
Giê-đi-a-ên, con của Sim-ri, và em là Giô-ha, người Thi-sít;
Ê-li-ên ở Ma-ha-vim; Giê-ri-bai và Giô-sa-via, con của Ên-na-am; Gít-ma là người Mô-áp;
Ê-li-ên, Ô-bết, và Gia-a-si-ên, là người Mết-sô-ba.
Đây là những người đã đến với Đa-vít tại Xiếc-lác trong lúc ông phải tránh mặt Sau-lơ, con của Kích; họ thuộc trong số những dũng sĩ đã giúp Đa-vít trong cuộc chiến.
Họ đều có tài sử dụng cung, có thể bắn tên hay dùng ná ném đá bằng tay trái cũng giỏi như tay phải. Trong số họ hàng của Sau-lơ, thuộc bộ tộc Bên-gia-min,
đứng đầu là A-hi-ê-xe; rồi đến Giô-ách, con của Sê-ma ở Ghi-bê-a; Giê-xi-ên và Phê-lết, con của Ách-ma-vết; Bê-ra-ca, Giê-hu ở A-na-tốt;
Gít-mai-gia ở Ga-ba-ôn là một trong ba mươi dũng sĩ và là chỉ huy trưởng của họ; Giê-rê-mi; Gia-ha-xi-ên; Giô-ba-nan; Giô-xa-bát ở Ghê-đê-ra;
Ê-lu-xai; Giê-ri-mốt; Bê-a-lia; Sê-ma-ria; Sê-pha-tia ở Ha-rốp;
Ên-ca-na, Di-si-gia, A-xa-rên, Giô-ê-xe, và Gia-sô-bê-am, người Cô-ra;
Giô-ê-la và Xê-ba-đia, con của Giê-rô-ham ở Ghê-đô.
Trong bộ tộc Gát, có những người đến gặp Đa-vít tại đồn lũy trong hoang mạc. Họ là những người dũng cảm, thiện chiến, sử dụng thành thạo khiên và giáo; diện mạo họ như sư tử, họ nhanh nhẹn như hoàng dương trên núi.
Đứng đầu là Ê-xe, thứ nhì là Ô-ba-đia, thứ ba là Ê-li-áp,
thứ tư là Mích-ma-na, thứ năm là Giê-rê-mi,
thứ sáu là Ạt-tai, thứ bảy là Ê-li-ên,
thứ tám là Giô-ha-nan, thứ chín là Ên-xa-bát,
thứ mười là Giê-rê-mi, thứ mười một là Mác-ba-nai.
Họ đều là con cháu của Gát, và làm chỉ huy trưởng quân đội; cấp thấp nhất chỉ huy một trăm quân, cấp cao nhất chỉ huy một nghìn quân.
Đây là những người đã vượt sông Giô-đanh vào tháng giêng, lúc nước ngập hai bên bờ; họ đuổi tất cả các dân trong thung lũng về phía đông và phía tây.
Một số người Bên-gia-min và Giu-đa cũng đến gặp Đa-vít tại đồn lũy.
Đa-vít ra đón họ và nói rằng: “Nếu anh em đến với tôi trong tinh thần hòa hiếu để giúp tôi thì tôi sẵn sàng hiệp một lòng với anh em. Nhưng nếu anh em âm mưu lừa dối tôi để nộp tôi cho kẻ thù, dù tay tôi không làm điều ác nào, thì nguyện Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta chứng giám và trừng phạt anh em.”
Lúc ấy, Thánh Linh bao phủ A-ma-xai, người đứng đầu nhóm ba mươi người ấy, khiến ông nói: “Thưa Đa-vít, chúng tôi thuộc về ông; Thưa con trai của Gie-sê, chúng tôi đứng về phía ông! Nguyện ông được bình an, bình an; Nguyện những người giúp ông cũng được bình an! Vì Đức Chúa Trời giúp đỡ ông!” Vậy Đa-vít kết nạp họ và cho họ chỉ huy quân đội.
Cũng có một số người Ma-na-se đến theo Đa-vít lúc ông cùng quân Phi-li-tin đi đánh Sau-lơ. Nhưng thật ra họ không tiếp tay quân Phi-li-tin, vì các lãnh chúa Phi-li-tin đã cho Đa-vít về, sau khi bàn với nhau rằng: “Coi chừng hắn sẽ lấy đầu chúng ta rồi quay về với Sau-lơ, chủ hắn.”
Khi Đa-vít trở về Xiếc-lác, những người Ma-na-se đến theo ông gồm có: Át-na, Giô-xa-bát, Giê-đi-a-ên, Mi-ca-ên, Giô-xa-bát, Ê-li-hu, và Xi-lê-thai, đều là chỉ huy trưởng nghìn quân Ma-na-se.
Những người nầy đã giúp Đa-vít đối đầu với quân cướp bóc, vì họ đều là những chiến sĩ dũng cảm, và là những người chỉ huy quân đội.
Ngày nào cũng có người đến theo và giúp Đa-vít cho đến khi ông có một quân đội lớn mạnh như đạo quân của Đức Chúa Trời.
Đây là số các đơn vị quân chiến đấu đã đến với Đa-vít tại Hếp-rôn, để chuyển giao vương quốc của Sau-lơ cho Đa-vít đúng như lời Đức Giê-hô-va đã phán.
Về con cháu Giu-đa, có sáu nghìn tám trăm người cầm khiên và giáo, sẵn sàng chiến đấu.
Trong con cháu Si-mê-ôn, có bảy nghìn một trăm chiến sĩ dũng cảm, sẵn sàng ra trận.
Trong con cháu Lê-vi, có bốn nghìn sáu trăm.
Giê-hô-gia-đa lãnh đạo nhà A-rôn với ba nghìn bảy trăm người.
Xa-đốc, một dũng sĩ trẻ, và hai mươi hai người khác trong gia tộc ông đều là người chỉ huy.
Trong số con cháu Bên-gia-min, họ hàng của Sau-lơ, có ba nghìn người; vì cho đến lúc ấy, phần lớn trong số họ vẫn giữ lòng trung thành với nhà Sau-lơ.
Trong con cháu Ép-ra-im, có hai mươi nghìn tám trăm người, đều là những dũng sĩ, có danh tiếng trong gia tộc mình.
Trong nửa bộ tộc Ma-na-se, có mười tám nghìn người, được chỉ định đích danh đến tôn Đa-vít làm vua.
Trong con cháu Y-sa-ca, có hai trăm nhà lãnh đạo am hiểu thời cơ và biết điều gì dân Y-sơ-ra-ên phải làm. Tất cả anh em họ hàng đặt dưới sự lãnh đạo của họ.
Trong bộ tộc Sa-bu-lôn, có năm mươi nghìn người sẵn sàng ra trận, được trang bị mọi thứ vũ khí để chiến đấu; họ có đội ngũ chỉnh tề và một lòng một dạ với Đa-vít.
Trong bộ tộc Nép-ta-li, có một nghìn chỉ huy trưởng với ba mươi bảy nghìn người cầm khiên và giáo.
Trong bộ tộc Đan, có hai mươi tám nghìn sáu trăm người được trang bị sẵn sàng để ra trận.
Trong bộ tộc A-se, có bốn mươi nghìn người sẵn sàng ra trận.
Trong bộ tộc Ru-bên, Gát, và nửa bộ tộc Ma-na-se ở bên kia sông Giô-đanh, có một trăm hai mươi nghìn người được trang bị mọi thứ vũ khí để chiến đấu.
Tất cả những người nầy đều là quân thiện chiến. Họ kéo đến Hếp-rôn theo đội ngũ, một lòng tôn Đa-vít lên làm vua trên toàn cõi Y-sơ-ra-ên. Tất cả phần còn lại của Y-sơ-ra-ên cũng một lòng một dạ muốn tôn Đa-vít lên làm vua.
Họ ở lại đó với vua Đa-vít ba ngày và ăn uống, vì anh em của họ đã cung cấp thực phẩm cho họ.
Từ những miền lân cận cho đến đất Y-sa-ca, Sa-bu-lôn, và Nép-ta-li, mọi người đều đem lương thực đến; họ dùng lừa, lạc đà, la, và bò để chở bánh mì, bột miến, bánh trái vả, bánh nho khô, rượu, dầu, và rất nhiều bò và chiên. Niềm vui lan khắp Y-sơ-ra-ên.
Đa-vít hội ý với các cấp chỉ huy đơn vị nghìn quân và trăm quân, cùng tất cả các nhà lãnh đạo.
Đa-vít nói với toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên: “Nếu các ngươi thấy điều nầy là tốt và đến từ Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta thì ta sẽ sai người đến với anh em chúng ta còn lại ở khắp xứ Y-sơ-ra-ên, cùng với các thầy tế lễ và người Lê-vi ở trong các thành có đồng cỏ chung quanh, để mời họ họp lại với chúng ta.
Rồi chúng ta sẽ rước Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời trở về với chúng ta, vì trong thời Sau-lơ, chúng ta đã không đến trước Hòm Giao Ước mà cầu vấn Đức Chúa Trời.”
Toàn thể hội chúng tán thành làm như thế, vì mọi người đều thấy điều đó là phải.
Đa-vít tập hợp toàn dân Y-sơ-ra-ên lại, từ Si-ho ở Ai Cập đến lối vào Ha-mát, để rước Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời từ Ki-ri-át Giê-a-rim về.
Đa-vít và toàn thể Y-sơ-ra-ên cùng đi lên Ba-a-la, tức là Ki-ri-át Giê-a-rim thuộc Giu-đa, để rước Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời về, là Hòm mang danh Đức Giê-hô-va, Đấng ngự giữa các chê-ru-bim.
Từ nhà A-bi-na-đáp, họ chở Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời trên một cỗ xe mới; có U-xa và A-hi-ô dẫn xe.
Đa-vít và toàn thể Y-sơ-ra-ên hết sức vui mừng, nhảy múa trước mặt Đức Chúa Trời trong tiếng hát, tiếng đàn hạc, đàn lia, tiếng trống, chập chõa, và kèn.
Khi họ đến sân đập lúa của Ki-đôn, U-xa đưa tay ra nắm giữ Hòm Giao Ước vì bò bị trượt chân.
Đức Giê-hô-va nổi cơn thịnh nộ cùng U-xa và đánh phạt ông, vì ông đã đưa tay chạm đến Hòm Giao Ước. Vì vậy, ông chết ngay tại đó trước mặt Đức Chúa Trời.
Đa-vít buồn giận vì Đức Giê-hô-va đã trừng phạt U-xa; vua gọi nơi ấy là Pê-rết U-xa cho đến ngày nay.
Hôm ấy, Đa-vít sợ hãi Đức Chúa Trời và nói: “Làm sao ta dám rước Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời vào nhà ta?”
Thế là, Đa-vít không rước Hòm Giao Ước về nhà mình trong thành Đa-vít, nhưng cho đưa vào nhà Ô-bết Ê-đôm, người Gát.
Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời ở lại trong nhà Ô-bết Ê-đôm và gia đình ông trong ba tháng; Đức Giê-hô-va ban phước cho gia đình Ô-bết Ê-đôm và mọi vật thuộc về ông.
Hi-ram, vua Ty-rơ, sai sứ giả đem thợ nề, thợ mộc, cùng với nhiều gỗ bá hương đến để xây cất cho vua Đa-vít một cung điện.
Đa-vít nhận biết rằng Đức Giê-hô-va đã lập ông vững vàng trên ngai vua Y-sơ-ra-ên. Vương quốc của vua được hưng thịnh là vì dân Y-sơ-ra-ên của Ngài.
Tại Giê-ru-sa-lem, Đa-vít còn lấy thêm nhiều vợ, và sinh thêm con trai, con gái.
Đây là tên các con đã sinh cho vua tại Giê-ru-sa-lem: Sa-mua, Sô-báp, Na-than, Sa-lô-môn,
Díp-kha, Ê-li-sua, Ên-pê-lết,
Nô-ga, Nê-phết, Gia-phia,
Ê-li-sa-ma, Bê-ên-gia-đa, và Ê-li-phê-lết.
Khi người Phi-li-tin nghe tin Đa-vít đã được xức dầu làm vua trên toàn cõi Y-sơ-ra-ên, thì toàn quân Phi-li-tin kéo lên đánh Đa-vít. Nghe tin đó, Đa-vít kéo quân ra nghênh chiến với chúng.
Quân Phi-li-tin đã đến cướp phá trong thung lũng Rê-pha-im.
Đa-vít cầu hỏi Đức Chúa Trời: “Con có nên tiến đánh quân Phi-li-tin không? Chúa sẽ phó chúng vào tay con chăng?” Đức Giê-hô-va trả lời: “Hãy tiến đánh, Ta sẽ phó chúng vào tay con.”
Quân Phi-li-tin kéo lên Ba-anh Phê-rát-sim, và Đa-vít đánh bại chúng tại đó. Đa-vít nói: “Đức Chúa Trời đã dùng tay ta đánh tan kẻ thù như nước vỡ bờ!” Vì thế, người ta gọi chỗ đó là Ba-anh Phê-rát-sim.
Quân Phi-li-tin bỏ lại các tượng thần của chúng tại đó và Đa-vít truyền đem thiêu đốt hết.
Một lần nữa, quân Phi-li-tin lại cướp phá thung lũng.
Đa-vít lại cầu hỏi Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời phán bảo vua: “Con đừng kéo lên đuổi theo chúng. Hãy đi vòng và tấn công chúng chỗ đối diện cây dâu.
Vừa khi nghe tiếng chân bước trên ngọn cây dâu thì con hãy kéo ra tấn công, vì Đức Chúa Trời sẽ đi ra trước mặt con để đánh quân Phi-li-tin.”
Đa-vít làm đúng như lời Đức Chúa Trời đã truyền phán, và họ đã đánh bại quân đội Phi-li-tin từ Ga-ba-ôn cho đến Ghê-xe.
Danh tiếng của Đa-vít đồn ra khắp nơi, và Đức Giê-hô-va khiến cho tất cả các dân tộc đều khiếp sợ Đa-vít.
Khi Đa-vít xây cất cung điện cho mình trong thành Đa-vít xong, vua chuẩn bị một chỗ và dựng lều cho Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời.
Bấy giờ, Đa-vít nói: “Ngoại trừ người Lê-vi, không ai được khiêng Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời, vì Đức Giê-hô-va đã chọn họ để khiêng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va, và phục vụ Ngài mãi mãi.”
Đa-vít triệu tập toàn dân Y-sơ-ra-ên về Giê-ru-sa-lem để rước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va vào chỗ vua đã chuẩn bị sẵn.
Đa-vít cũng tập hợp các con cháu A-rôn và người Lê-vi:
về dòng Kê-hát có U-ri-ên là trưởng gia tộc, cùng các anh em ông, được một trăm hai mươi người;
về dòng Mê-ra-ri có A-sa-gia là trưởng gia tộc, cùng các anh em ông, được hai trăm hai mươi người;
về dòng Ghẹt-sôn có Giô-ên là trưởng gia tộc, cùng các anh em ông, được một trăm ba mươi người;
về dòng Ê-li-sa-phan có Sê-ma-gia là trưởng gia tộc, cùng các anh em ông, được hai trăm người;
về dòng Hếp-rôn có Ê-li-ên là trưởng gia tộc, cùng các anh em ông, được tám mươi người;
về dòng U-xi-ên có A-mi-na-đáp là trưởng gia tộc, cùng các anh em ông, được một trăm mười hai người.
Đa-vít cho mời các thầy tế lễ Xa-đốc, A-bia-tha, và những người Lê-vi là U-ri-ên, A-sa-gia, Giô-ên, Sê-ma-gia, Ê-li-ên, và A-mi-na-đáp.
Vua nói với họ: “Các ngươi là trưởng các gia tộc Lê-vi. Vậy, hãy cùng anh em các ngươi thanh tẩy chính mình để khiêng Hòm Giao Ước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đến nơi ta đã chuẩn bị sẵn.
Vì trong lần trước, các ngươi không khiêng Hòm Giao Ước, nên Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã trừng phạt chúng ta, vì chúng ta không cầu hỏi Ngài để biết cách làm cho đúng quy định.”
Vậy, các thầy tế lễ và người Lê-vi thanh tẩy chính mình để khiêng Hòm Giao Ước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Các người Lê-vi dùng đòn khiêng Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời trên vai mình, đúng như lời của Đức Giê-hô-va đã truyền dạy qua Môi-se.
Đa-vít truyền cho các nhà lãnh đạo người Lê-vi cử trong anh em của họ những người ca hát để cất tiếng hát vui vẻ, hòa theo các nhạc khí như đàn lia, đàn hạc, và chập chõa.
Người Lê-vi cử Hê-man, con của Giô-ên, và từ trong anh em của ông có A-sáp, con của Bê-rê-kia; về dòng Mê-ra-ri, là anh em của họ, thì có Ê-than, con của Cu-sa-gia;
cùng với họ, có các anh em phụ tá của họ là Xa-cha-ri, Bên, Gia-xi-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giê-hi-ên, U-ni, Ê-li-áp, Bê-na-gia, Ma-a-xê-gia, Ma-ti-thia, Ê-li-phê-lê, Mích-nê-gia; và những người gác cửa là Ô-bết Ê-đôm và Giê-i-ên.
Những người ca hát là Hê-man, A-sáp, và Ê-than đánh chập chõa bằng đồng;
Xa-cha-ri, A-xi-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giê-hi-ên, U-ni, Ê-li-áp, Ma-a-xê-gia, và Bê-na-gia, đánh đàn lia theo điệu A-la-mốt;
còn Ma-ti-thia, Ê-li-phê-lê, Mích-nê-gia, Ô-bết Ê-đôm, Giê-i-ên, và A-xa-xia, đánh đàn hạc theo điệu Sê-mi-nít để hướng dẫn.
Kê-na-nia lãnh đạo người Lê-vi về việc ca hát; ông điều khiển việc ca hát vì thành thạo âm nhạc.
Còn Bê-rê-kia và Ên-ca-na gác cửa trước Hòm Giao Ước.
Các thầy tế lễ Sê-ba-nia, Giô-sa-phát, Nê-tha-nê-ên, A-ma-xai, Xa-cha-ri, Bê-na-gia, và Ê-li-ê-se thổi kèn trước Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời; còn Ô-bết Ê-đôm và Giê-hi-gia cũng gác cửa trước Hòm Giao Ước.
Vậy, Đa-vít cùng các trưởng lão Y-sơ-ra-ên và các cấp chỉ huy nghìn quân đi lên nhà Ô-bết Ê-đôm, rước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va về cách vui mừng.
Đức Chúa Trời phù hộ người Lê-vi khiêng Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va nên họ dâng bảy con bò đực và bảy con chiên đực làm sinh tế.
Đa-vít và tất cả những người Lê-vi khiêng Hòm Giao Ước, những người ca hát và nhạc trưởng Kê-na-nia đều mặc áo choàng vải gai mịn. Đa-vít còn mặc thêm một ê-phót bằng vải gai.
Như vậy, toàn thể Y-sơ-ra-ên rước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va trong tiếng reo hò, tiếng tù và, tiếng kèn, chập chõa vang dậy với tiếng đàn lia và đàn hạc.
Khi Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va về đến thành Đa-vít, hoàng hậu Mi-canh, con gái của Sau-lơ, nhìn qua cửa sổ thấy vua Đa-vít nhảy múa vui mừng thì trong lòng khinh bỉ vua.
Họ đem Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời vào đặt giữa lều mà Đa-vít đã dựng sẵn. Rồi họ dâng các tế lễ thiêu và tế lễ bình an trước mặt Đức Chúa Trời.
Khi đã dâng tế lễ thiêu và tế lễ bình an xong, Đa-vít nhân danh Đức Giê-hô-va chúc phước cho dân chúng.
Vua phân phát cho tất cả người Y-sơ-ra-ên, cả nam lẫn nữ, mỗi người một ổ bánh, một miếng thịt, và một cái bánh nho khô.
Vua cử một số người Lê-vi phục vụ trước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va để cầu khẩn, cảm tạ, và ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên:
Đứng đầu là A-sáp, thứ đến là Xa-cha-ri, rồi Giê-i-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giê-hi-ên, Ma-ti-thia, Ê-li-áp, Bê-na-gia, Ô-bết Ê-đôm, và Giê-i-ên; họ sử dụng các nhạc khí như đàn lia và đàn hạc, còn A-sáp thì đánh chập chõa vang lên.
Các thầy tế lễ Bê-na-gia và Gia-ha-xi-ên thường xuyên thổi kèn trước Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời.
Trong ngày đó, lần đầu tiên, Đa-vít trao vào tay A-sáp và các anh em ông ấy bài hát ca ngợi Đức Giê-hô-va:
Hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va, và cầu khẩn danh Ngài, Hãy rao truyền công việc Ngài giữa các dân!
Hãy hát cho Ngài, hãy ca ngợi Ngài! Hãy suy ngẫm tất cả công việc kỳ diệu của Ngài!
Hãy tôn vinh danh thánh Ngài; Hỡi tấm lòng của những ai tìm kiếm Đức Giê-hô-va, hãy vui mừng!
Hãy tìm cầu Đức Giê-hô-va và sức mạnh Ngài, Hãy tìm kiếm mặt Ngài luôn luôn!
Hãy nhớ lại những việc kỳ diệu Ngài đã làm, Các phép lạ và phán quyết từ miệng Ngài,
Hỡi dòng dõi Y-sơ-ra-ên là đầy tớ Ngài! Hỡi con cháu Gia-cốp là những người Ngài tuyển chọn!
Chính Ngài là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta; Sự phán xét của Ngài thực thi cho toàn thế gian.
Hãy nhớ giao ước Ngài mãi mãi, Nghìn đời chớ quên lời Ngài truyền dạy;
Tức là giao ước Ngài đã lập với Áp-ra-ham, Đã thề cùng Y-sác,
Đã định cho Gia-cốp làm luật lệ, Và cho Y-sơ-ra-ên làm giao ước đời đời,
Khi Ngài phán rằng: “Ta sẽ ban cho con đất Ca-na-an, Làm phần sản nghiệp.”
Lúc ấy, anh em chỉ là một số ít người, Là những khách lạ trong xứ;
Lưu lạc từ quốc gia nầy đến quốc gia khác, Từ vương quốc nọ sang dân tộc kia.
Ngài không cho ai áp bức họ; Vì cớ họ, Ngài quở trách các vua:
“Đừng đụng đến những người được xức dầu của Ta, Chớ làm hại các nhà tiên tri Ta.”
Hỡi cả trái đất, hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va; Từng ngày hãy rao truyền sự cứu rỗi của Ngài!
Hãy thuật lại vinh quang Ngài giữa các nước, Công bố những việc diệu kỳ của Ngài cho muôn dân!
Vì Đức Giê-hô-va thật vĩ đại, đáng được ca ngợi, Ngài đáng kính sợ hơn tất cả các thần.
Vì tất cả thần của các dân tộc đều là hình tượng, Còn Đức Giê-hô-va đã dựng nên các tầng trời.
Uy nghiêm và rực rỡ ở trước mặt Ngài; Sức mạnh và sự vui vẻ ở nơi ngự của Ngài.
Hỡi dòng giống các dân tộc, hãy chúc tôn Đức Giê-hô-va, Hãy quy vinh quang và quyền năng về Đức Giê-hô-va;
Hãy quy vinh quang về Đức Giê-hô-va xứng đáng với danh Ngài, Hãy đem lễ vật dâng lên trước mặt Ngài; Hãy trang sức bằng sự thánh khiết mà thờ phượng Đức Giê-hô-va.
Hỡi cả trái đất, hãy run sợ trước mặt Ngài! Thế giới được thiết lập vững bền, không bao giờ rúng động.
Nguyện các tầng trời vui vẻ và đất mừng rỡ! Trong các nước, người ta tung hô: “Đức Giê-hô-va cai trị!”
Nguyện biển và mọi vật trong biển gầm vang; Đồng ruộng và mọi vật trong nó đều hớn hở!
Bấy giờ, cây cối trong rừng sẽ reo mừng trước mặt Đức Giê-hô-va, Vì Ngài đến để phán xét thế gian.
Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện; Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Hãy nói: “Lạy Đức Chúa Trời, Đấng cứu rỗi chúng con! Xin cứu chúng con, Nhóm họp và giải cứu chúng con từ giữa các nước, Để chúng con cảm tạ danh thánh Chúa, Và được vinh hạnh ca ngợi Ngài.
Đáng ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Từ trước vô cùng cho đến đời đời!” Toàn dân đồng thanh đáp: “A-men!” Và ca ngợi Đức Giê-hô-va.
Vậy, Đa-vít chỉ định A-sáp và anh em ông ấy ở lại trước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va để túc trực phục vụ Hòm Giao Ước hằng ngày.
Vua cũng chỉ định Ô-bết Ê-đôm và sáu mươi tám anh em ông ấy phục vụ tại đó. Ô-bết Ê-đôm, con trai của Giê-đu-thun, và Hô-sa làm người gác cổng.
Vua chỉ định thầy tế lễ Xa-đốc và các thầy tế lễ anh em ông ấy phục vụ trước Đền Tạm của Đức Giê-hô-va tại nơi cao ở Ga-ba-ôn;
mỗi buổi sáng và chiều, họ dâng tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va trên bàn thờ tế lễ thiêu, theo đúng mọi điều đã chép trong luật pháp mà Đức Giê-hô-va đã truyền dạy cho dân Y-sơ-ra-ên.
Cùng với họ có Hê-man, Giê-đu-thun và những người đã được chọn đích danh khác để chúc tụng Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Hê-man và Giê-đu-thun sử dụng kèn, chập chõa và các nhạc cụ khác để ca tụng Đức Chúa Trời. Còn các con trai của Giê-đu-thun lo việc gác cổng.
Mọi người ai về nhà nấy; còn Đa-vít cũng trở về nhà để chúc phước cho gia đình mình.
Khi đã ở yên ổn trong cung điện, Đa-vít nói với nhà tiên tri Na-than: “Nầy, ta ở trong nhà bằng gỗ bá hương, còn Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va lại ở dưới những bức màn trại.”
Na-than tâu với Đa-vít: “Xin vua cứ làm những gì lòng mình muốn, vì Đức Chúa Trời ở với vua.”
Nhưng ngay trong đêm ấy, có lời của Đức Chúa Trời phán với Na-than:
“Hãy đi nói với đầy tớ Ta là Đa-vít rằng, Đức Giê-hô-va phán: ‘Con không phải là người xây cất đền thờ cho Ta ngự đâu!’
Vì từ khi Ta đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập cho đến ngày nay, Ta không ngự trong đền thờ nào cả, nhưng Ta ở từ lều nầy đến lều kia, từ nơi nầy đến nơi nọ.
Bất cứ nơi nào Ta đi cùng toàn thể Y-sơ-ra-ên, có bao giờ Ta bảo một người nào trong các nhà lãnh đạo Y-sơ-ra-ên, tức người mà Ta truyền bảo chăn dân Ta, rằng: ‘Sao các ngươi không xây cất cho Ta một đền thờ bằng gỗ bá hương?’
Bây giờ, con hãy nói với đầy tớ Ta là Đa-vít rằng, Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Ta đã bắt con từ đồng cỏ, từ một kẻ chăn chiên, lập con lên làm nhà lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên Ta.
Bất cứ nơi nào con đi, Ta vẫn ở với con, tiêu diệt các kẻ thù khỏi mặt con; Ta sẽ làm cho con được nổi danh như các vĩ nhân trên đất.
Ta sẽ lập một chỗ ở cho dân Y-sơ-ra-ên Ta và trồng họ để họ an cư lạc nghiệp tại đó, và họ sẽ không còn bị khuấy rối. Những kẻ gian ác sẽ không còn tiếp tục áp bức họ như trước nữa,
như thời Ta lập các quan xét trên dân Y-sơ-ra-ên Ta. Ta sẽ khiến tất cả kẻ thù của con phục dưới con. Ta cũng báo cho con biết rằng Đức Giê-hô-va sẽ xây dựng cho con một triều đại.
Rồi khi con được mãn phần để trở về cùng tổ phụ mình, hẳn Ta sẽ lập dòng dõi con, là một trong số các con trai của con, lên kế vị con; Ta sẽ làm cho vương quốc nó vững chắc.
Chính nó sẽ xây cất cho Ta một đền thờ, và Ta sẽ làm cho ngôi nước nó vững bền đến đời đời.
Ta sẽ làm cha nó, nó sẽ làm con Ta; sự nhân từ Ta sẽ chẳng cất khỏi nó như Ta đã cất khỏi kẻ tiền nhiệm con.
Ta sẽ lập nó đời đời trong nhà Ta và trong vương quốc Ta; ngôi nước nó sẽ được vững lập mãi mãi.’”
Na-than trình tất cả các lời và sự mặc khải nầy lên vua Đa-vít.
Vua Đa-vít bước vào, ngồi trước mặt Đức Giê-hô-va, và thưa rằng: “Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời, con là ai và gia đình con là gì mà Ngài đem con đến đây?
Lạy Đức Chúa Trời! Ơn đó Chúa cho là quá nhỏ mọn nên Ngài còn hứa ban ơn cho nhà của đầy tớ Ngài trong tương lai lâu dài, và xem con như một người được tôn trọng! Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời,
Chúa làm cho đầy tớ Ngài được sang trọng như thế, thì Đa-vít còn nói gì được nữa? Vì Chúa biết đầy tớ Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va! Chính vì đầy tớ Ngài và theo ý Ngài muốn mà Ngài thực hiện tất cả việc lớn lao nầy để bày tỏ mọi điều kỳ diệu đó.
Lạy Đức Giê-hô-va, chẳng có ai như Ngài, và theo mọi điều tai chúng con đã nghe, ngoài Ngài chẳng có ai là Đức Chúa Trời.
Có dân tộc nào trên đất được như dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, một dân tộc mà Đức Chúa Trời cứu chuộc làm dân riêng của Ngài? Chúa đã được uy danh rất lớn bởi những việc vĩ đại đáng sợ khi đuổi các dân tộc khỏi dân Ngài, là dân mà Ngài đã cứu chuộc ra khỏi Ai Cập.
Chúa đã khiến dân Y-sơ-ra-ên trở thành dân thuộc riêng về Ngài đến đời đời. Còn Ngài, Đức Giê-hô-va ôi, Ngài là Đức Chúa Trời của họ.
Bây giờ, lạy Đức Giê-hô-va! Nguyện lời Ngài đã phán hứa về đầy tớ Ngài và về nhà của người được vững lập mãi mãi. Cầu xin Chúa làm đúng như Ngài đã phán.
Nguyện điều ấy được vững chắc, và danh Chúa được tán dương đến đời đời rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, tức là Đức Chúa Trời mà Y-sơ-ra-ên thờ phượng; còn nhà Đa-vít là đầy tớ Ngài được đứng vững trước mặt Ngài!
Lạy Đức Chúa Trời của con! Chúa có bày tỏ cho đầy tớ Chúa biết rằng Ngài sẽ lập cho người một triều đại. Vì vậy, đầy tớ Chúa dám cầu nguyện trước mặt Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va! Chính Ngài là Đức Chúa Trời, Đấng đã phán hứa những điều tốt đẹp nầy với đầy tớ Ngài.
Giờ đây, cầu xin Chúa ban phước cho triều đại của đầy tớ Ngài được tồn tại mãi trước mặt Ngài; vì, lạy Đức Giê-hô-va, khi nào Ngài ban phước thì phước lành đó còn đến đời đời.”
Sau việc ấy, Đa-vít đánh bại dân Phi-li-tin, bắt chúng phục tùng, chiếm thành Gát và các vùng phụ cận từ tay chúng.
Vua cũng đánh bại dân Mô-áp; người Mô-áp phải phục dịch và triều cống Đa-vít.
Đa-vít đánh bại Ha-đa-rê-xe, vua Xô-ba, về hướng Ha-mát, khi vua nầy đang giành quyền kiểm soát khu vực sông Ơ-phơ-rát.
Đa-vít bắt được của vua Xô-ba một nghìn cỗ xe, bảy nghìn kỵ binh, và hai mươi nghìn bộ binh. Đa-vít cắt nhượng của tất cả ngựa kéo xe, chỉ chừa lại một trăm con.
Khi dân A-ram ở Đa-mách đến tiếp viện cho Ha-đa-rê-xe, vua Xô-ba, Đa-vít giết hai mươi hai nghìn người trong bọn chúng.
Đa-vít đặt quân đồn trú tại A-ram thuộc Đa-mách; dân A-ram phải phục dịch và triều cống Đa-vít. Đức Giê-hô-va giúp Đa-vít đi đến đâu thắng đến đó.
Đa-vít lấy những khiên bằng vàng của các đầy tớ Ha-đa-rê-xe, và đem về Giê-ru-sa-lem.
Từ hai thành Ti-bát và Cun của Ha-đa-rê-xe, Đa-vít lấy được rất nhiều đồng, mà sau nầy Sa-lô-môn dùng làm bể nước, các trụ và chậu bằng đồng.
Khi Tô-hu, vua Ha-mát, hay tin Đa-vít đã đánh bại toàn bộ quân đội của Ha-đa-rê-xe, vua Xô-ba,
thì sai Ha-đô-ram, con trai vua, đến thăm hỏi và chúc mừng Đa-vít đã chiến đấu và đánh bại Ha-đa-rê-xe, vì Ha-đa-rê-xe và Tô-hu thường có chiến tranh với nhau. Tô-hu cũng gửi tặng Đa-vít đủ thứ vật dụng bằng vàng, bạc, và đồng.
Đa-vít biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va các vật dụng ấy cùng với bạc vàng mà vua đã lấy được của các dân tộc Ê-đôm, Mô-áp, Am-môn, Phi-li-tin, và A-ma-léc.
A-bi-sai, con của Xê-ru-gia, đánh người Ê-đôm trong thung lũng Muối, và giết chết mười tám nghìn người.
Ông đặt quân đồn trú tại Ê-đôm, và tất cả người Ê-đôm đều phải phục dịch Đa-vít. Đức Giê-hô-va giúp Đa-vít đi đến đâu thắng đến đó.
Đa-vít làm vua trên toàn cõi Y-sơ-ra-ên, thực thi công lý và sự công chính cho toàn dân.
Giô-áp, con của Xê-ru-gia, thống lĩnh quân đội; Giô-sa-phát, con của A-hi-lút, làm quan ngự sử;
Xa-đốc, con của A-hi-túp, và A-bi-mê-léc, con của A-bia-tha, làm thầy tế lễ; Sa-vê-sa làm thư ký.
Bê-na-gia, con của Giê-hô-gia-đa, cai quản người Kê-rê-thít và người Phê-lê-thít, còn các con trai Đa-vít đều làm cận thần của vua.
Sau các việc đó, vua dân Am-môn là Na-hách băng hà, và con trai vua lên kế vị.
Đa-vít nói: “Ta muốn bày tỏ tình thân thiện với Ha-nun, con của Na-hách, như cha vua ấy đã đối xử với ta.” Đa-vít sai sứ giả đến an ủi Ha-nun về việc thân phụ vua ấy băng hà. Vậy, các đầy tớ của Đa-vít đến gặp Ha-nun trong xứ dân Am-môn để phân ưu.
Nhưng các quan trưởng dân Am-môn tâu với Ha-nun: “Vua tưởng rằng Đa-vít sai sứ giả đến an ủi vua là vì tôn kính thân phụ vua sao? Các đầy tớ hắn đến với vua chẳng phải là để xem xét và do thám xứ để hủy diệt đó sao?”
Ha-nun bắt các sứ giả của Đa-vít cạo râu và cắt một nửa áo của họ cho đến mông, rồi đuổi về.
Vậy họ ra đi. Có người đến trình cho Đa-vít biết mọi việc. Vua sai người đi đón họ, vì họ rất xấu hổ. Vua bảo: “Hãy ở tại Giê-ri-cô cho đến khi râu các ngươi mọc lại rồi hãy trở về.”
Khi dân Am-môn thấy Đa-vít ghê tởm chúng thì Ha-nun và dân Am-môn sai người đem ba mươi tấn bạc đi đến Mê-sô-pô-ta-mi, A-ram Ma-a-ca, và Xô-ba, để thuê chiến xa và kỵ binh.
Chúng thuê ba mươi hai nghìn cỗ xe và thuê cả vua xứ Ma-a-ca cùng với quân lính của vua nữa. Chúng kéo đến đóng tại trước Mê-đê-ba. Dân Am-môn từ các thành của chúng tập hợp lại để ra trận.
Hay tin đó, Đa-vít sai Giô-áp ra trận cùng với một đạo quân toàn là những dũng sĩ.
Dân Am-môn kéo ra, dàn trận nơi cổng thành; còn các vua đồng minh thì đóng ở ngoài cánh đồng.
Khi Giô-áp thấy quân thù đã dàn trận phía trước và phía sau mình, ông chọn một số dũng sĩ trong đạo quân Y-sơ-ra-ên và dàn trận đối diện quân A-ram.
Số quân còn lại, ông giao cho em của ông là A-bi-sai; họ dàn trận đối diện với dân Am-môn.
Ông nói: “Nếu quân A-ram mạnh hơn anh, em sẽ tiếp viện anh; còn nếu quân Am-môn mạnh hơn em, anh sẽ tiếp viện em.
Hãy mạnh dạn, can đảm lên! Hãy vì dân tộc chúng ta, vì các thành của Đức Chúa Trời chúng ta mà chiến đấu. Nguyện Đức Giê-hô-va làm theo ý Ngài lấy làm tốt.”
Vậy, Giô-áp và quân lính theo ông đều đến gần đối đầu với quân A-ram để giao chiến; quân A-ram chạy trốn khỏi ông.
Khi quân Am-môn thấy quân A-ram đã chạy trốn thì cũng chạy trốn khỏi A-bi-sai, em Giô-áp, mà trở vào thành. Sau đó, Giô-áp trở về Giê-ru-sa-lem.
Khi quân A-ram thấy mình bị quân Y-sơ-ra-ên đánh bại thì sai sứ giả đến cầu viện với quân Sy-ri ở bên kia Sông do Sô-phác, quan tướng của đạo binh Ha-đa-rê-xe, chỉ huy.
Đa-vít hay tin đó, liền tập hợp toàn quân Y-sơ-ra-ên vượt sông Giô-đanh, đến dàn trận và đánh quân A-ram. Khi Đa-vít đã dàn trận đối diện quân A-ram thì chúng giao chiến với vua.
Quân A-ram chạy trốn trước mặt Y-sơ-ra-ên. Đa-vít giết bảy nghìn kỵ binh, bốn mươi nghìn bộ binh của quân A-ram, và cũng giết Sô-phác, tướng chỉ huy quân đội.
Khi các đầy tớ của Ha-đa-rê-xe thấy chúng bị quân Y-sơ-ra-ên đánh bại thì cầu hòa với Đa-vít và phục dịch vua. Về sau, dân A-ram không còn muốn tiếp viện dân Am-môn nữa.
Vào mùa xuân, lúc các vua thường kéo quân đi chinh chiến, Giô-áp đem quân tàn phá đất Am-môn và đến bao vây thành Ráp-ba, còn Đa-vít ở tại Giê-ru-sa-lem. Giô-áp tấn công và phá hủy thành Ráp-ba.
Đa-vít lấy vương miện trên đầu của tượng thần Minh-côm; vương miện ấy cân nặng khoảng ba mươi ký vàng, có cẩn một viên đá quý. Vương miện nầy được đặt trên đầu Đa-vít. Ngoài ra, Đa-vít cũng thu được rất nhiều chiến lợi phẩm trong thành.
Còn dân trong thành, vua đem ra bắt phải lao dịch, sử dụng cưa, hoặc bừa sắt, hoặc rìu. Đa-vít xử như thế với tất cả các thành của dân Am-môn. Rồi Đa-vít và toàn quân trở về Giê-ru-sa-lem.
Sau đó, chiến tranh với người Phi-li-tin bùng nổ tại Ghê-xe. Lúc ấy, Si-bê-cai là người Hu-sa-tít đánh giết Síp-bai, thuộc dòng dõi người khổng lồ, và người Phi-li-tin phải chịu thần phục.
Trong một trận chiến khác với người Phi-li-tin, Ên-ha-nan, con của Giai-rơ, đánh giết Lác-mi, em của Gô-li-át, người Gát; cán giáo của hắn như cây trục cửi của thợ dệt.
Lại trong một trận chiến khác nữa tại Gát, có một người vóc dáng cao lớn, mỗi bàn tay có sáu ngón và mỗi bàn chân cũng có sáu ngón, tất cả là hai mươi bốn ngón; hắn cũng thuộc về dòng dõi khổng lồ.
Hắn nhục mạ Y-sơ-ra-ên nên Giô-na-than, con của Si-mê-a, em của Đa-vít, đánh giết hắn.
Những người nầy đều thuộc dòng dõi người khổng lồ tại Gát; chúng đều bị giết bởi tay Đa-vít và các thuộc hạ của vua.
Sa-tan nổi lên chống lại Y-sơ-ra-ên nên xúi giục Đa-vít kiểm tra dân số.
Đa-vít nói với Giô-áp và các viên chỉ huy quân đội rằng: “Hãy đi kiểm tra dân số, từ Bê-e Sê-ba cho đến Đan, rồi trình cho ta biết tổng số là bao nhiêu.”
Giô-áp tâu: “Nguyện Đức Giê-hô-va gia tăng dân số của Ngài nhiều gấp trăm lần! Tâu bệ hạ là chúa tôi, chẳng phải tất cả dân chúng đều là thần dân của chúa tôi sao? Tại sao chúa tôi lại bảo làm điều nầy? Tại sao chúa tôi làm cho Y-sơ-ra-ên phải mắc tội?”
Nhưng lời của vua thắng hơn lời của Giô-áp. Vì vậy, Giô-áp đi khắp Y-sơ-ra-ên rồi trở về Giê-ru-sa-lem.
Giô-áp phúc trình cho vua Đa-vít tổng số dân như sau: Trong cả Y-sơ-ra-ên có một triệu một trăm nghìn người có thể cầm gươm; trong Giu-đa có bốn trăm bảy mươi nghìn người có thể cầm gươm.
Nhưng Giô-áp không kiểm tra số người Lê-vi và người Bên-gia-min vì lệnh của vua đáng ghê tởm đối với ông.
Việc kiểm tra dân số nầy là một điều ác dưới mắt Đức Chúa Trời nên Ngài trừng phạt Y-sơ-ra-ên.
Đa-vít thưa với Đức Chúa Trời: “Con đã phạm tội nặng quá khi làm điều nầy. Nhưng bây giờ, xin Chúa bỏ qua tội ác của con là đầy tớ Ngài vì con đã hành động một cách rất dại dột.”
Đức Giê-hô-va phán với Gát là nhà tiên kiến của Đa-vít rằng:
“Hãy đi nói với Đa-vít: Đức Giê-hô-va phán: ‘Ta đưa ra cho con ba tai họa; hãy chọn một để ta giáng tai họa đó trên con.’”
Gát đến gặp và nói với Đa-vít: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Hãy chọn cho con:
hoặc ba năm đói kém, hoặc ba tháng bị địch quân đánh bại và gươm của kẻ thù đuổi kịp, hoặc ba ngày chịu gươm của Đức Giê-hô-va trừng phạt, tức là ôn dịch trong xứ và thiên sứ của Đức Giê-hô-va hủy diệt toàn cõi Y-sơ-ra-ên.’ Vậy bây giờ, bệ hạ quyết định xem tôi phải thưa lại thế nào cùng Đấng đã sai tôi.”
Đa-vít nói với Gát: “Ta gặp hoạn nạn lớn. Thà ta sa vào tay Đức Giê-hô-va thì hơn, vì sự thương xót của Ngài rất lớn; đừng để ta sa vào tay loài người.”
Đức Giê-hô-va giáng ôn dịch xuống Y-sơ-ra-ên làm bảy mươi nghìn người Y-sơ-ra-ên ngã chết.
Đức Chúa Trời sai một thiên sứ đến để hủy diệt Giê-ru-sa-lem. Nhưng khi thấy thiên sứ đang hủy diệt thì Đức Giê-hô-va liền đổi ý về tai họa nầy, và truyền cho thiên sứ đang hủy diệt: “Đủ rồi! Hãy dừng tay lại.” Bấy giờ, thiên sứ của Đức Giê-hô-va đứng gần sân đập lúa của Ọt-nan, người Giê-bu-sít.
Đa-vít ngước mắt lên, thấy thiên sứ của Đức Giê-hô-va đứng giữa không trung, tay cầm gươm đưa ra trên Giê-ru-sa-lem. Đa-vít và các trưởng lão đang mặc áo vải sô, liền sấp mình xuống đất.
Đa-vít thưa với Đức Chúa Trời: “Chẳng phải con đã truyền kiểm tra dân số sao? Vâng, chính con đã phạm tội và làm điều ác, nhưng bầy chiên nầy có làm gì nên tội? Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con! Xin tay Chúa đánh phạt con và nhà cha con, nhưng đừng giáng họa trên dân Ngài.”
Bấy giờ, thiên sứ của Đức Giê-hô-va bảo Gát nói với Đa-vít rằng vua phải đi lên dựng một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va tại sân đập lúa của Ọt-nan, người Giê-bu-sít.
Đa-vít đi lên theo lời của Gát đã nhân danh Đức Giê-hô-va mà nói ra.
Ọt-nan xây lại, thấy thiên sứ; bốn con trai ông đang ở với ông đều đi trốn. Lúc ấy, Ọt-nan đang đập lúa mì.
Đa-vít đi đến Ọt-nan. Nhìn thấy Đa-vít, Ọt-nan liền ra khỏi sân đập lúa, sấp mình xuống trước mặt Đa-vít mà lạy.
Đa-vít bảo Ọt-nan: “Hãy nhượng cho ta sân đập lúa nầy. Hãy nhượng nó cho ta đúng giá để ta cất tại đó một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va hầu cho tai họa ngưng lại, không còn giáng trên dân chúng nữa.”
Ọt-nan thưa với Đa-vít: “Xin bệ hạ cứ lấy sân đập lúa! Xin chúa tôi cứ làm điều gì ngài thấy là tốt. Kìa, tôi dâng bò cho bệ hạ dùng làm tế lễ thiêu, bàn đập lúa dùng làm củi, còn lúa mì dùng làm tế lễ chay; tôi xin dâng tất cả.”
Vua Đa-vít nói với Ọt-nan: “Không, ta thật sự muốn mua nó đúng giá; vì ta không muốn lấy vật gì của ngươi mà dâng cho Đức Giê-hô-va, cũng không muốn dâng tế lễ thiêu chẳng tốn gì cả.”
Vậy, Đa-vít mua khu sân đập lúa ấy, trả cho Ọt-nan bằng siếc-lơ vàng, cân nặng khoảng bảy ký
Tại đó, Đa-vít xây một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, dâng các tế lễ thiêu, tế lễ bình an, và cầu khẩn Đức Giê-hô-va. Ngài đáp lời người bằng lửa từ trời giáng trên bàn thờ dâng tế lễ thiêu.
Đức Giê-hô-va truyền cho thiên sứ tra gươm vào vỏ.
Khi thấy Đức Giê-hô-va đã nhậm lời mình tại sân đập lúa của Ọt-nan, người Giê-bu-sít, thì Đa-vít dâng sinh tế tại đó.
Vì bấy giờ Đền Tạm của Đức Giê-hô-va mà Môi-se đã dựng trong hoang mạc và bàn thờ dâng tế lễ thiêu vẫn còn ở nơi cao tại Ga-ba-ôn.
Đa-vít không dám đến trước bàn thờ ấy để cầu hỏi Đức Chúa Trời vì vua khiếp sợ gươm của thiên sứ Đức Giê-hô-va.
Đa vít nói: “Đây là đền thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, và đây là bàn thờ để dân Y-sơ-ra-ên dâng tế lễ thiêu.”
Đa-vít truyền lệnh tập hợp các người nước ngoài đang ở trong đất Y-sơ-ra-ên, rồi chỉ định họ làm thợ đá để chẻ đá xây cất đền thờ của Đức Chúa Trời.
Đa-vít cũng dự bị nhiều sắt để làm đinh, bản lề cửa; còn đồng thì rất nhiều, không ai cân hết được.
Gỗ bá hương nhiều vô số, vì dân Si-đôn và Ty-rơ chở rất nhiều gỗ bá hương đến cho vua Đa-vít.
Đa-vít nói: “Sa-lô-môn, con trai ta, hãy còn trẻ và thiếu kinh nghiệm, mà đền thờ sẽ xây cất cho Đức Giê-hô-va thì phải rất nguy nga, lộng lẫy và nổi tiếng khắp nơi. Vậy, ta phải chuẩn bị cho nó.” Vì thế, Đa-vít chuẩn bị rất nhiều vật liệu trước khi qua đời.
Bấy giờ, Đa-vít gọi con trai mình là Sa-lô-môn đến và truyền phải xây cất đền thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Đa-vít nói với Sa-lô-môn: “Con ơi, cha có ý định xây cất một đền thờ cho danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của cha.
Nhưng lời của Đức Giê-hô-va phán với cha rằng: ‘Con đã làm đổ máu quá nhiều, đã đánh nhiều trận chiến lớn nên con sẽ không được xây cất đền thờ cho danh Ta, vì con đã làm đổ máu quá nhiều trên đất trước mặt Ta,
Kìa, con trai mà con sẽ sinh ra, nó sẽ là người của hòa bình. Ta sẽ ban hòa bình cho nó, các kẻ thù chung quanh sẽ không còn quấy nhiễu nó; vì thế, tên nó là Sa-lô-môn. Trong đời nó, Ta sẽ ban hòa bình an ổn cho Y-sơ-ra-ên.
Nó sẽ xây cất đền thờ cho danh Ta; nó sẽ làm con trai Ta và Ta sẽ làm cha nó. Ta sẽ lập ngôi nước nó vững bền đời đời trên Y-sơ-ra-ên.’
Nầy con trai ta, giờ đây, xin Đức Giê-hô-va ở với con và giúp con thành công trong việc xây cất đền thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, đúng như lời Ngài đã phán về con.
Xin Đức Giê-hô-va ban cho con sự khôn ngoan thông sáng để con cai trị trên Y-sơ-ra-ên và tuân giữ luật pháp của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con.
Nếu con cẩn thận làm theo các lề luật và mệnh lệnh mà Đức Giê-hô-va đã phán bảo Môi-se truyền cho Y-sơ-ra-ên thì con sẽ được thành công. Hãy mạnh dạn và can đảm! Đừng sợ hãi, đừng nao núng!
Nầy, cha đã chịu bao gian khổ để chuẩn bị cho đền thờ của Đức Giê-hô-va ba nghìn tấn vàng, ba mươi nghìn tấn bạc; còn đồng và sắt thì không thể cân hết được, vì nhiều quá. Cha cũng chuẩn bị gỗ và đá nữa, nhưng con phải thêm vào nữa.
Hơn nữa, con có nhiều nhân công, thợ đá, thợ nề, thợ mộc, đủ người thành thạo các thứ công việc;
thợ vàng, bạc, đồng, và sắt thì nhiều vô số. Nào, hãy bắt tay vào việc! Đức Giê-hô-va sẽ ở với con.”
Đa-vít cũng truyền dặn tất cả các nhà lãnh đạo Y-sơ-ra-ên giúp đỡ Sa-lô-môn, con mình:
“Chẳng phải Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi ở với các ngươi sao? Ngài đã ban cho các ngươi được an ổn tứ phía. Vì Ngài đã phó dân cư trong xứ vào tay ta, và xứ sở nầy phải khuất phục trước mặt Đức Giê-hô-va và dân Ngài.
Vậy bây giờ, hãy hết lòng hết ý tìm cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. Hãy bắt đầu xây cất đền thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời, để rước Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va và các dụng cụ thánh của Đức Chúa Trời vào trong đền thờ được xây cất cho danh của Đức Giê-hô-va.”
Khi vua Đa-vít đã già và cao tuổi, thì vua lập Sa-lô-môn, con trai mình, làm vua Y-sơ-ra-ên.
Vua tập hợp các nhà lãnh đạo Y-sơ-ra-ên cùng các thầy tế lễ và người Lê-vi.
Người ta kiểm tra số người Lê-vi từ ba mươi tuổi trở lên, tổng số người đếm được là ba mươi tám nghìn.
Trong số họ, có hai mươi bốn nghìn người được chỉ định cai quản công việc của đền thờ Đức Giê-hô-va, sáu nghìn người làm quan chức và thẩm phán,
bốn nghìn người làm người gác cổng, và bốn nghìn người ca ngợi Đức Giê-hô-va với nhạc khí mà Đa-vít đã làm để dùng vào việc ca ngợi Chúa.
Đa-vít phân chia họ thành từng ban theo ba con trai của Lê-vi là Ghẹt-sôn, Kê-hát, và Mê-ra-ri.
Về con cháu Ghẹt-sôn có La-ê-đan và Si-mê-i.
Các con của La-ê-đan: đứng đầu là Giê-hi-ên, kế đến Xê-tham và Giô-ên, tất cả là ba người.
Các con của Si-mê-i là Sê-lô-mốt, Ha-xi-ên, và Ha-ran, tất cả là ba người. Đó là các trưởng gia tộc của dòng tộc La-ê-đan.
Các con của Si-mê-i là Gia-hát, Xi-na, Giê-úc, và Bê-ri-a. Đó là bốn con trai của Si-mê-i.
Đứng đầu là Gia-hát, và thứ nhì là Xi-xa; nhưng Giê-úc và Bê-ri-a không có con cháu nhiều nên họ được kể chung như một gia tộc.
Các con của Kê-hát là Am-ram, Dít-sê-ha, Hếp-rôn, U-xi-ên, tất cả là bốn người.
Các con của Am-ram là A-rôn và Môi-se; A-rôn và con cháu ông được biệt riêng ra để dâng các vật chí thánh, và vĩnh viễn xông hương, phục vụ trước mặt Đức Giê-hô-va, và nhân danh Ngài mà chúc phước cho dân chúng đến đời đời.
Còn về Môi-se, người của Đức Chúa Trời, các con trai ông đều được kể vào bộ tộc Lê-vi.
Các con của Môi-se là Ghẹt-sôm và Ê-li-ê-xe.
Trong các con của Ghẹt-sôm thì Sê-bu-ên đứng đầu.
Trong các con của Ê-li-ê-xe thì Rê-ha-bia đứng đầu; Ê-li-ê-xe không có con trai nào khác, nhưng Rê-ha-bia thì có rất nhiều con trai.
Trong các con của Dít-sê-ha thì Sê-lô-mít đứng đầu.
Trong các con của Hếp-rôn thì Giê-ri-gia đứng đầu, thứ nhì là A-ma-ria, thứ ba là Gia-ha-xi-ên, và thứ tư là Giê-ca-mê-am.
Trong các con của U-xi-ên thì Mi-ca đứng đầu, và thứ nhì là Di-si-gia.
Các con của Mê-ra-ri là Mác-li và Mu-si. Các con của Mác-li là Ê-lê-a-sa và Kích.
Ê-lê-a-sa chết, không có con trai, chỉ có các con gái mà thôi; các con trai của Kích là anh em bà con của họ cưới họ làm vợ.
Các con của Mu-si là Mác-li, Ê-đe và Giê-rê-mốt, tất cả là ba người.
Đó là các con cháu của Lê-vi theo dòng tộc của họ, tức là trưởng gia tộc của những người được đăng ký theo tên từng người, từ hai mươi tuổi trở lên; họ phục vụ trong đền thờ của Đức Giê-hô-va.
Vì Đa-vít nói rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã ban cho dân Ngài được an cư, và Ngài ngự tại Giê-ru-sa-lem đời đời,
nên người Lê-vi sẽ không còn phải khiêng vác Đền Tạm hay là các dụng cụ phục vụ Đền Tạm nữa.”
Theo di chúc của Đa-vít, người ta kiểm tra dân số người Lê-vi, từ hai mươi tuổi trở lên.
Nhiệm vụ của họ là ở bên cạnh con cháu A-rôn để làm công việc của đền thờ Đức Giê-hô-va, canh giữ hành lang và các phòng, giữ tinh sạch các vật thánh, và làm bất cứ công việc nào liên quan đến đền thờ Đức Chúa Trời như:
chuẩn bị bánh cung hiến, bột lọc dùng làm tế lễ chay, bánh tráng không men, các thức nướng trên vỉ, tế lễ trộn với dầu, và các dụng cụ đo lường.
Mỗi buổi sáng và buổi chiều, họ phải đứng tại đó cảm tạ và ca ngợi Đức Giê-hô-va.
Còn mỗi ngày sa-bát, ngày lễ trăng mới, và những ngày lễ lớn, thì họ phải liên tục giúp dâng trước mặt Đức Giê-hô-va những tế lễ thiêu thường xuyên dâng lên Đức Giê-hô-va theo luật định về tế lễ ấy.
Họ cũng lo coi sóc Lều Hội Kiến và Nơi Thánh, cùng giúp đỡ con cháu A-rôn, là anh em mình, để phục vụ trong đền thờ Đức Giê-hô-va.
Con cháu của A-rôn được phân chia thành nhiều ban. Các con trai của A-rôn là Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa, và Y-tha-ma.
Na-đáp và A-bi-hu chết trước cha mình và không có con nên Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma giữ chức tế lễ.
Đa-vít cùng với Xa-đốc, con cháu Ê-lê-a-sa, và A-hi-mê-léc, con cháu Y-tha-ma, phân chia con cháu A-rôn thành nhiều ban theo nhiệm vụ của họ.
Vì trong con cháu Ê-lê-a-sa có nhiều trưởng gia tộc hơn con cháu Y-tha-ma nên họ phân chia như sau: Con cháu Ê-lê-a-sa có mười sáu trưởng gia tộc, và con cháu Y-tha-ma có tám trưởng gia tộc.
Họ phân chia bằng cách bắt thăm từng ban, hết ban nầy đến ban kia; vì các viên chức của nơi thánh và các viên chức của Đức Chúa Trời đều thuộc trong số con cháu Ê-lê-a-sa và con cháu Y-tha-ma.
Thư ký Sê-ma-gia, con của Na-tha-na-ên, thuộc bộ tộc Lê-vi, ghi tên của họ vào sổ trước mặt vua và các nhà lãnh đạo, trước mặt thầy tế lễ Xa-đốc, A-hi-mê-léc con của A-bia-tha, và trước mặt các trưởng gia tộc của những thầy tế lễ và người Lê-vi. Họ bắt thăm cứ mỗi gia tộc thuộc con cháu Ê-lê-a-sa thì đến một gia tộc thuộc con cháu Y-tha-ma.
Thăm thứ nhất trúng nhằm Giê-hô-gia-ríp, thăm thứ nhì trúng Giê-đa-ê-gia,
thăm thứ ba trúng Ha-rim, thăm thứ tư trúng Sê-ô-rim,
thăm thứ năm trúng Manh-kia, thăm thứ sáu trúng Mia-min,
thăm thứ bảy trúng Ha-cốt, thăm thứ tám trúng A-bi-gia,
thăm thứ chín trúng Giê-sua, thăm thứ mười trúng Sê-ca-nia,
thăm thứ mười một trúng Ê-li-a-síp, thăm thứ mười hai trúng Gia-kim,
thăm thứ mười ba trúng Húp-pa, thăm thứ mười bốn trúng Giê-sê-báp,
thăm thứ mười lăm trúng Binh-ga, thăm thứ mười sáu trúng Y-mê,
thăm thứ mười bảy trúng Hê-xia, thăm thứ mười tám trúng Phi-xết,
thăm thứ mười chín trúng Phê-ta-hia, thăm thứ hai mươi trúng Ê-xê-chi-ên,
thăm thứ hai mươi mốt trúng Gia-kin, thăm thứ hai mươi hai trúng Ga-mun,
thăm thứ hai mươi ba trúng Đê-la-gia, thăm thứ hai mươi bốn trúng Ma-a-xia.
Trên đây là các phân ban của họ để vào phục vụ trong đền thờ Đức Giê-hô-va theo quy định của A-rôn, tổ phụ họ, đã thiết lập, đúng như Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã truyền.
Các con cháu còn lại của Lê-vi gồm có: Trong con cháu Am-ram có Su-ba-ên; trong con cháu Su-ba-ên có Giê-đia;
trong con cháu Rê-ha-bia có Di-si-gia đứng đầu;
trong con cháu Dít-sê-ha có Sê-lô-mít; trong con cháu Sê-lô-mốt có Gia-hát;
trong con cháu Hếp-rôn có Giê-ri-gia đứng đầu, thứ nhì là A-ma-ria, thứ ba là Gia-ha-xi-ên, và thứ tư là Gia-ca-mê-am;
trong con cháu U-xi-ên có Mi-ca; trong con cháu Mi-ca có Sa-mia.
Anh em của Mi-ca là Di-si-gia; trong con cháu Di-si-gia có Xa-cha-ri.
Các con của Mê-ra-ri là Mác-li, Mu-si và Gia-a-xi-gia.
Gia-a-xi-gia, con của Mê-ra-ri, có ba người con là Sô-ham, Xác-cua, và Y-bê-ri.
Con của Mác-li là Ê-lê-a-sa, là người không có con trai.
Trong con cháu Kích có Giê-rác-mê-ên.
Các con của Mu-si là Mác-li, Ê-đe và Giê-ri-mốt. Đó là con cháu Lê-vi, theo dòng tộc của họ.
Cũng như anh em mình, là con cháu A-rôn, họ được bắt thăm trước mặt vua Đa-vít, Xa-đốc, A-hi-mê-léc, và trước mặt các trưởng gia tộc của những thầy tế lễ và người Lê-vi. Trưởng gia tộc cũng như người em út mình đều được bắt thăm.
Đa-vít và các viên chức phục vụ đền thờ cũng để riêng ra một số người trong con cháu của A-sáp, Hê-man và Giê-đu-thun để nói tiên tri theo tiếng đàn hạc, đàn lia, và chập chõa. Số người phục vụ theo trách nhiệm của họ như sau:
Trong số các con của A-sáp có Xác-cua, Giô-sép, Nê-tha-nia, và A-sa-rê-la; những người con nầy của A-sáp ở dưới quyền cai quản của A-sáp, còn ông thì nói tiên tri dưới quyền của vua.
Trong các con của Giê-đu-thun có Ghê-đa-lia, Xê-ri, Ê-sai, Ha-sa-bia, Ma-ti-thia, và Si-mê-i; tất cả là sáu người đều ở dưới quyền cai quản của cha họ là Giê-đu-thun, dùng đàn hạc mà nói tiên tri, cảm tạ và ca ngợi Đức Giê-hô-va.
Trong các con của Hê-man có Búc-ki-gia, Ma-tha-nia, U-xi-ên, Sê-bu-ên, Giê-ri-mốt, Ha-na-nia, Ha-na-ni, Ê-li-a-tha, Ghi-đanh-thi, Rô-mam-ti Ê-xe, Giốt-bê-ca-sa, Ma-lô-thi, Hô-thia, và Ma-ha-xi-ốt.
Tất cả những người nầy đều là con của Hê-man, nhà tiên kiến của vua, được ban cho theo lời của Đức Chúa Trời để tôn cao Ngài. Đức Chúa Trời ban cho Hê-man mười bốn con trai và ba con gái.
Tất cả những người nầy đều ở dưới quyền cai quản của cha họ để lo việc ca hát trong đền thờ Đức Giê-hô-va với chập chõa, đàn lia và đàn hạc, để phục vụ trong đền thờ Đức Chúa Trời. A-sáp, Giê-đu-thun, và Hê-man đều ở dưới quyền của vua.
Họ luôn cùng với anh em mình tập luyện ca ngợi Đức Giê-hô-va, tổng số người thông thạo việc ca hát là hai trăm tám mươi tám người.
Họ đều bắt thăm chia phiên phục vụ, người lớn cũng như kẻ nhỏ, người thông thạo cũng như kẻ học việc.
Thăm thứ nhất trúng nhằm Giô-sép thuộc dòng A-sáp; thăm thứ nhì trúng Ghê-đa-lia, cùng với anh em và các con của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ ba trúng Xác-cua, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ tư trúng Dít-sê-ri, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ năm trúng Nê-tha-nia, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ sáu trúng Búc-ki-gia, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ bảy trúng Giê-sa-rê-la, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ tám trúng Ê-sai, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ chín trúng Ma-tha-nia, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ mười trúng Si-mê-i, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ mười một trúng A-xa-rên, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ mười hai trúng Ha-sa-bia, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ mười ba trúng Su-ba-ên, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ mười bốn trúng Ma-ti-thia, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ mười lăm trúng Giê-rê-mốt, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ mười sáu trúng Ha-na-nia, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ mười bảy trúng Giốt-bê-ca-sa, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ mười tám trúng Ha-na-ni, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ mười chín trúng Ma-lô-thi, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ hai mươi trúng Ê-li-gia-ta, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ hai mươi mốt trúng Hô-thia, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ hai mươi hai trúng Ghi-đanh-thi, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ hai mươi ba trúng Ma-ha-xi-ốt, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người;
thăm thứ hai mươi bốn trúng Rô-mam-ti Ê-xe, cùng các con và anh em của ông, tất cả là mười hai người.
Những người gác cổng được chia nhóm như sau: Dòng Cô-ra có Mê-sê-lê-mia, con của Cô-rê, cháu của A-sáp.
Các con trai của Mê-sê-lê-mia: Con trưởng là Xa-cha-ri, con thứ nhì là Giê-đi-a-ên, con thứ ba là Xê-ba-đia, con thứ tư là Giát-ni-ên,
con thứ năm là Ê-lam, con thứ sáu là Giô-ha-nan, và con thứ bảy là Ê-li-ô-ê-nai.
Các con trai của Ô-bết Ê-đôm: Con trưởng là Sê-ma-gia, con thứ nhì là Giê-hô-xa-bát, con thứ ba là Giô-a, con thứ tư là Sa-ca, con thứ năm là Nê-ta-nên,
con thứ sáu là A-mi-ên, con thứ bảy là Y-sa-ca, và con thứ tám là Phê-u-lê-tai; vì Đức Chúa Trời đã ban phước cho Ô-bết Ê-đôm.
Sê-ma-gia, con trai Ô-bết Ê-đôm, cũng sinh những người con có uy thế đối với gia tộc của họ vì họ là những dũng sĩ.
Các con của Sê-ma-gia là Ốt-ni, Rê-pha-ên, Ô-bết, Ên-xa-bát, và anh em họ là Ê-li-hu và Sê-ma-kia, đều là những người dũng cảm.
Tất cả những người nầy là con cháu của Ô-bết Ê-đôm; họ cùng với các con và anh em của họ đều là người dũng cảm và có khả năng làm việc, cộng sáu mươi hai người thuộc về dòng Ô-bết Ê-đôm.
Mê-sê-lê-mia có những người con và anh em đều là người dũng cảm, cộng mười tám người.
Hô-sa, thuộc dòng Mê-ra-ri, cũng có những người con: Đứng đầu là Sim-ri dù ông không phải là con đầu lòng vì cha của ông lập ông làm con trưởng;
con thứ nhì là Hinh-kia, con thứ ba là Tê-ba-lia, và con thứ tư là Xa-cha-ri. Tất cả các con và anh em của Hô-sa được mười ba người.
Những nhóm gác cổng nầy cùng với các trưởng nhóm theo phiên thứ mà phục vụ trong đền thờ Đức Giê-hô-va như anh em mình.
Họ theo gia tộc mình mà bắt thăm gác cổng, kẻ nhỏ cũng như người lớn.
Thăm giữ cổng đông trúng nhằm Sê-lê-mia. Rồi người ta bắt thăm giữ cổng bắc trúng nhằm con trai Sê-lê-mia là Xa-cha-ri, một cố vấn khôn ngoan.
Thăm giữ cổng nam trúng nhằm Ô-bết Ê-đôm; còn các con trai ông, canh giữ kho tàng.
Súp-pim và Hô-sa bắt thăm giữ cổng tây gần cổng Sa-lê-kết, cạnh con đường lên dốc. Trạm gác nầy đối diện trạm gác kia.
Mỗi ngày có sáu người Lê-vi gác cổng đông, bốn người ở cổng bắc, bốn người ở cổng nam, còn các kho tàng thì mỗi cổng hai người.
Tại Pạt-ba về phía tây cũng có người canh gác: trên đường có bốn người, và ngay tại Pạt-ba có hai người.
Đó là các nhóm gác cổng thuộc con cháu của Cô-ra và Mê-ra-ri.
Trong số những người Lê-vi, A-hi-gia phụ trách các kho tàng của đền thờ Đức Chúa Trời và kho tàng các vật thánh.
Con cháu La-ê-đan, thuộc dòng dõi Ghẹt-sôn, làm trưởng các gia tộc của La-ê-đan, con cháu Ghẹt-sôn, là Giê-hi-ê-li.
Các con của Giê-hi-ê-li là Xê-tham và em là Giô-ên, chịu trách nhiệm quản lý các kho tàng của đền thờ Đức Giê-hô-va.
Trong các dòng Am-ram, Dít-sê-ha, Hếp-rôn, và U-xi-ên,
có Sê-bu-ên, con cháu Ghẹt-sôm, con của Môi-se, là viên chức phụ trách các kho tàng.
Các anh em của Sê-bu-ên, là con cháu của Ê-li-ê-xe, có Rê-ha-bia, con của Ê-li-ê-xe; Ê-sai, con của Rê-ha-bia; Giô-ram, con của Ê-sai; Xiếc-ri, con của Giô-ram, và Sê-lô-mít, con của Xiếc-ri.
Chính Sê-lô-mít và anh em của ông chịu trách nhiệm quản lý các vật thánh mà vua Đa-vít, các trưởng tộc, chỉ huy trưởng nghìn quân và trăm quân, cùng các tướng lãnh quân đội đã biệt riêng ra thánh.
Họ biệt riêng ra thánh những chiến lợi phẩm đã đoạt được trong chiến trận, để dùng vào việc tu bổ đền thờ Đức Giê-hô-va.
Tất cả các phẩm vật mà nhà tiên kiến Sa-mu-ên, Sau-lơ (con của Kích), Áp-ne (con của Nê-rơ), và Giô-áp (con của Xê-ru-gia), đã biệt riêng ra thánh, cùng tất cả các vật thánh khác đều ở dưới quyền quản lý của Sê-lô-mít và các anh em ông.
Trong dòng Dít-sê-ha, Kê-na-nia và các con của ông được lập lên làm các viên chức và thẩm phán để phụ trách các công tác bên ngoài của Y-sơ-ra-ên.
Trong dòng Hếp-rôn, Ha-sa-bia và anh em ông đều là dũng sĩ, tất cả được một nghìn bảy trăm người; họ quản lý dân Y-sơ-ra-ên bên kia sông Giô-đanh về phía tây, coi sóc các công việc của Đức Giê-hô-va và phục vụ vua.
Trong dòng Hếp-rôn có Giê-ri-gia làm trưởng gia tộc. Vào năm thứ bốn mươi đời trị vì của Đa-vít, người ta kiểm tra dân số của dòng Hếp-rôn, theo từng gia tộc của họ, và thấy giữa vòng họ có những người mạnh dạn tại Gia-ê-xe trong xứ Ga-la-át.
Các anh em của Giê-ri-gia đều là những dũng sĩ, gồm hai nghìn bảy trăm người, làm trưởng gia tộc. Vua Đa-vít lập họ cai quản người Ru-bên, người Gát, và phân nửa bộ tộc Ma-na-se, để đặc trách các công việc của Đức Chúa Trời và công việc của vua.
Quân Y-sơ-ra-ên được thống kê gồm các trưởng gia tộc, các chỉ huy trưởng nghìn quân và trăm quân, các quan chức phục vụ vua trong tất cả công tác có liên quan đến các binh đoàn. Các binh đoàn luân phiên phục vụ mỗi năm một tháng. Mỗi binh đoàn có hai mươi bốn nghìn quân.
Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ nhất phụ trách tháng giêng là Gia-sô-bê-am, con của Xáp-đi-ên. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.
Ông thuộc về dòng Phê-rết, đứng đầu các vị chỉ huy quân đội trong tháng giêng.
Chỉ huy trưởng binh đoàn phụ trách tháng hai là Đô-đai người A-hô-hi, có Mích-lô làm chỉ huy phó. Binh đoàn nầy có hai mươi bốn nghìn quân.
Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ ba phụ trách tháng ba là Bê-na-gia, con của thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.
Bê-na-gia là một dũng sĩ trong Nhóm Ba Mươi và đứng đầu nhóm nầy. Am-mi-xa-bát, con trai của ông cũng ở trong binh đoàn nầy.
Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ tư phụ trách tháng tư là A-sa-ên, em của Giô-áp, và sau ông có con ông là Xê-ba-đia thay thế. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.
Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ năm phụ trách tháng năm là Sa-mê-hút, người Gít-ra. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.
Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ sáu phụ trách tháng sáu là Y-ra, con của Y-ke ở Thê-cô-a. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.
Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ bảy phụ trách tháng bảy là Hê-lết, thuộc bộ tộc Ép-ra-im ở Pha-lôn. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.
Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ tám phụ trách tháng tám là Si-bê-cai ở Hu-sa, thuộc về dòng Xê-rách. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.
Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ chín phụ trách tháng chín là A-bi-ê-xe, thuộc bộ tộc Bên-gia-min ở A-na-tốt. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.
Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ mười phụ trách tháng mười là Ma-ha-rai, thuộc dòng Xê-rách ở Nê-tô-pha. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.
Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ mười một phụ trách tháng mười một là Bê-na-gia, thuộc bộ tộc Ép-ra-im ở Phi-ra-thôn. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.
Chỉ huy trưởng binh đoàn thứ mười hai phụ trách tháng chạp là Hiên-đai, thuộc dòng Ốt-ni-ên ở Nê-tô-pha. Binh đoàn của ông có hai mươi bốn nghìn quân.
Đây là trưởng các bộ tộc Y-sơ-ra-ên: Ê-li-ê-xe, con của Xiếc-ri, trưởng bộ tộc Ru-bên; Sê-pha-tia, con của Ma-a-ca, trưởng bộ tộc Si-mê-ôn;
Ha-sa-bia, con của Kê-mu-ên, trưởng bộ tộc Lê-vi; còn Xa-đốc lãnh đạo con cháu A-rôn;
Ê-li-hu, anh em của Đa-vít, trưởng bộ tộc Giu-đa; Ôm-ri, con của Mi-ca-ên, trưởng bộ tộc Y-sa-ca;
Dít-ma-hia, con của Ô-ba-đia, trưởng bộ tộc Sa-bu-lôn; Giê-ri-mốt, con của Át-ri-ên, trưởng bộ tộc Nép-ta-li;
Ô-sê, con của A-xa-xia, trưởng bộ tộc Ép-ra-im; Giô-ên, con của Phê-đa-gia, lãnh đạo nửa bộ tộc Ma-na-se;
Gi-đô, con của Xa-cha-ri, lãnh đạo nửa bộ tộc Ma-na-se tại xứ Ga-la-át; Gia-a-xi-ên, con của Áp-ne, trưởng bộ tộc Bên-gia-min;
A-xa-rên, con của Giê-rô-ham, trưởng bộ tộc Đan. Đó là trưởng của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên.
Đa-vít không kiểm tra dân số Y-sơ-ra-ên từ hai mươi tuổi trở xuống, vì Đức Giê-hô-va đã hứa sẽ làm tăng dân số Y-sơ-ra-ên đông như sao trên trời.
Giô-áp, con của Xê-ru-gia, bắt đầu cuộc kiểm tra dân số nhưng không hoàn tất được. Vì việc nầy mà Chúa giáng cơn thịnh nộ trên Y-sơ-ra-ên, và số thống kê ấy không được ghi vào biên niên sử của vua Đa-vít.
Ách-ma-vết, con của A-đi-ên, quản lý các kho tàng của vua; Giô-na-than, con của U-xi-gia, quản lý các kho tàng ở đồng ruộng, trong các thành phố, làng mạc, và trong những đồn lũy.
Ết-ri, con của Kê-lúp, cai quản các nông dân canh tác ngoài đồng ruộng;
Sim-ri, người Ra-ma, coi sóc các vườn nho; còn Xáp-đi, người Sê-pham, coi sóc kho rượu trong vườn nho;
Ba-anh Ha-nan, người Ghê-đe, coi sóc các cây ô-liu và cây sung ở vùng Sơ-phê-la; còn Giô-ách coi sóc các kho dầu;
Sít-trai, người Sa-rôn, coi sóc các bầy bò ăn cỏ ở Sa-rôn; còn Sa-phát, con của Át-lai, coi sóc các bầy bò trong thung lũng;
Ô-binh, người Ích-ma-ên, coi sóc các lạc đà; Giê-đia, người Mê-rô-nốt, coi sóc các lừa cái; Gia-xít, người Ha-ga-rít, coi sóc các bầy chiên.
Tất cả những người nầy đều là viên chức quản lý các sản nghiệp của vua Đa-vít.
Giô-na-than, cậu của Đa-vít, làm cố vấn, là một người thông thái và thạo kinh luật; chính ông cùng với Giê-hi-ên con của Hác-mô-ni, chăm sóc các hoàng tử.
A-hi-tô-phên là cố vấn của vua; Hu-sai, người Ạt-kít, là bạn thân của vua.
Sau A-hi-tô-phên có Giê-hô-gia-đa, con của Bê-na-gia, rồi đến A-bia-tha. Giô-áp làm chỉ huy trưởng quân đội của vua.
Đa-vít triệu tập về Giê-ru-sa-lem tất cả các quan chức Y-sơ-ra-ên gồm các trưởng bộ tộc, các trưởng nhóm phục vụ vua, chỉ huy trưởng nghìn quân và trăm quân, những người quản lý sản nghiệp của vua và chăm sóc các hoàng tử, cùng với các quan thái giám và những dũng sĩ.
Vua Đa-vít đứng dậy và nói: “Hỡi anh em và đồng bào, hãy nghe! Ta đã có ý định xây cất một đền thờ làm nơi đặt Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va, làm bệ chân cho Đức Chúa Trời chúng ta. Ta đã chuẩn bị vật liệu để xây cất.
Nhưng Đức Chúa Trời phán với ta rằng: ‘Con không được xây cất đền thờ cho danh Ta, vì con là một chiến sĩ và đã làm đổ máu quá nhiều.’
Tuy nhiên, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã chọn ta giữa bao nhiêu người trong cả nhà cha ta, để làm vua Y-sơ-ra-ên mãi mãi. Vì Ngài đã chọn bộ tộc Giu-đa để lãnh đạo, và trong nhà Giu-đa, Ngài chọn gia đình của cha ta, rồi trong số các con trai của cha ta, Ngài vui lòng chọn và lập ta làm vua trên cả Y-sơ-ra-ên.
Đức Giê-hô-va đã ban cho ta có nhiều con trai; trong các con trai ấy, Ngài đã chọn Sa-lô-môn, con ta, đặt ngồi trên ngai của vương quốc Đức Giê-hô-va để cai trị Y-sơ-ra-ên.
Ngài phán với ta rằng: ‘Sa-lô-môn, con trai của con, sẽ xây cất đền thờ và các hành lang của Ta; vì Ta đã chọn nó làm con Ta, và Ta sẽ làm cha nó.
Nếu nó tiếp tục tuân giữ các điều răn và luật lệ Ta như ngày nay, thì Ta sẽ làm cho vương quốc nó được bền vững đời đời.’
Vậy bây giờ, trước mặt toàn thể Y-sơ-ra-ên, là hội chúng của Đức Giê-hô-va, có Đức Chúa Trời chúng ta đang nghe, ta truyền các ngươi hãy tìm kiếm và tuân giữ các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, để các ngươi nhận lấy xứ tốt đẹp nầy và để lại cho con cháu các ngươi làm cơ nghiệp đời đời.
Còn con, Sa-lô-môn, con của cha, hãy nhận biết Đức Chúa Trời của cha, hết lòng hết ý mà phụng sự Ngài; vì Đức Giê-hô-va dò xét tấm lòng, và phân biệt các ý tưởng. Nếu con tìm kiếm Ngài, Ngài sẽ cho con gặp được; nhưng nếu con lìa bỏ Ngài, hẳn Ngài sẽ từ bỏ con đời đời.
Bây giờ, hãy cẩn thận, vì Đức Giê-hô-va đã chọn con để xây cất một đền thờ dùng làm nơi thánh của Ngài. Hãy mạnh dạn làm đi!”
Bấy giờ, Đa-vít trao cho Sa-lô-môn, con trai vua, đồ án của tiền sảnh, đền thờ, các kho tàng, tầng lầu, nội điện của đền thờ, và nắp thi ân.
Vua cũng trao cho Sa-lô-môn các đồ án mà Thánh Linh cho vua biết về các sân của đền thờ Đức Giê-hô-va, về các phòng chung quanh, về những kho tàng của đền thờ Đức Chúa Trời, và về các kho để vật thánh;
về việc phân công các thầy tế lễ và người Lê-vi; về các công việc trong đền thờ Đức Giê-hô-va, và về tất cả vật dụng phục vụ trong đền thờ Đức Giê-hô-va.
Vua ấn định số lượng vàng cho tất cả các vật dụng làm bằng vàng để dùng trong mỗi công việc, và số lượng bạc cho tất cả các vật dụng làm bằng bạc để dùng trong mỗi công việc;
số lượng vàng để làm các chân đèn và đèn bằng vàng, với số lượng của mỗi chân đèn và đèn; số lượng bạc để làm các chân đèn và đèn bằng bạc, tùy cách dùng của mỗi chân đèn.
Vua cũng ấn định số lượng vàng cho các bàn để bánh cung hiến, và số lượng bạc cho những bàn bằng bạc;
số lượng vàng cho các nĩa, chậu, và ly bằng vàng ròng; cho các chén vàng, và số lượng của mỗi cái; cho các chén bạc, và số lượng của mỗi cái.
Vua chỉ dẫn về bàn thờ xông hương bằng vàng, với số lượng vàng tinh luyện; và kiểu mẫu xe với các chê-ru-bim bằng vàng xòe cánh ra che trên Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va.
Đa-vít nói: “Tất cả các công việc nầy nằm trong dự án do tay Đức Giê-hô-va ở trên ta và soi sáng cho ta về mọi chi tiết của đồ án.”
Đa-vít lại nói với Sa-lô-môn, con mình rằng: “Hãy mạnh mẽ và can đảm mà làm! Đừng sợ hãi, đừng nản lòng, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời, tức là Đức Chúa Trời của cha, ở với con. Ngài chẳng hề từ bỏ con, cũng chẳng hề lìa khỏi con cho đến khi hoàn tất các công việc xây cất đền thờ Đức Giê-hô-va.
Kìa, các ban thầy tế lễ và người Lê-vi sẵn sàng làm tất cả các công việc của đền thờ Đức Chúa Trời. Trong bất cứ công việc nào, con cũng có những người thạo nghề vui lòng giúp làm mọi việc. Tất cả các quan chức và toàn dân đều sẽ vâng theo lệnh của con.”
Đa-vít nói với toàn thể hội chúng: “Sa-lô-môn, con ta, người duy nhất được Đức Chúa Trời chọn, hãy còn trẻ tuổi và thiếu kinh nghiệm, mà công việc lại lớn lao; vì đền thờ đó chẳng phải xây cất cho loài người đâu, nhưng là cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời.
Ta đã hết sức chuẩn bị cho đền thờ của Đức Chúa Trời ta, nào vàng để làm đồ bằng vàng, nào bạc để làm đồ bằng bạc, nào đồng để làm đồ bằng đồng, nào sắt để làm đồ bằng sắt, nào gỗ để làm đồ bằng gỗ; lại sắm những ngọc bích, ngọc để khảm, ngọc chiếu sáng, ngọc đủ các màu, và các thứ đá quý, cùng đá cẩm thạch trắng rất nhiều.
Vì lòng ta yêu mến đền thờ của Đức Chúa Trời, nên ngoài những gì đã chuẩn bị cho đền thánh, ta cũng dâng cho đền thờ Đức Chúa Trời các đồ bằng vàng và bằng bạc thuộc riêng về ta,
tức là chín mươi tấn vàng Ô-phia, và hai trăm mười tấn bạc tinh luyện để dùng bọc các vách đền thờ;
vàng để làm những vật bằng vàng, bạc để làm những vật bằng bạc, và để thợ thủ công làm các việc khác. Vậy ngày nay, ai là người sẵn sàng dâng hiến rộng rãi cho Đức Giê-hô-va?”
Bấy giờ, các trưởng gia tộc, các trưởng bộ tộc Y-sơ-ra-ên, các chỉ huy trưởng nghìn quân và trăm người, các người quản lý công việc của vua đều
dâng hiến cho công việc đền thờ Đức Chúa Trời. Họ dâng một trăm năm mươi tấn vàng, mười nghìn đồng đa-riếc, ba trăm tấn bạc, năm trăm bốn mươi tấn đồng, và ba nghìn tấn sắt.
Ai có đá quý thì giao cho Giê-bi-ên về dòng Ghẹt-sôn, để dâng vào kho của Đức Giê-hô-va.
Dân chúng vui mừng về điều mình đã tự nguyện và hết lòng dâng hiến cho Đức Giê-hô-va. Vua Đa-vít cũng rất vui mừng.
Trước mắt toàn thể hội chúng, Đa-vít chúc tụng Đức Giê-hô-va rằng: “Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng con là Y-sơ-ra-ên! Đáng chúc tụng Ngài cho đến đời đời vô cùng!
Lạy Đức Giê-hô-va! Sự cao cả, quyền năng, vinh quang, toàn thắng, và oai nghi đáng quy về Ngài; vì muôn vật trên các tầng trời và dưới đất đều thuộc về Ngài. Đức Giê-hô-va ôi! Vương quốc thuộc về Ngài; Ngài được tôn làm Chúa Tể của muôn vật.
Cả sự giàu có và vinh quang đều do Chúa mà đến. Chúa quản trị trên muôn vật, quyền năng và thế lực ở trong tay Ngài. Tay Chúa ban sự tôn trọng và sức mạnh cho mọi người.
Bây giờ, Đức Chúa Trời chúng con ôi! Chúng con cảm tạ Chúa và ca ngợi danh vinh quang của Ngài.
Nhưng con là ai và dân tộc con là gì mà chúng con có sức dâng hiến như vậy? Vì mọi vật đều do nơi Chúa mà đến, và những vật chúng con đã dâng lên Chúa chẳng qua là đã thuộc về Ngài.
Vì trước mặt Chúa, chúng con vốn là khách lạ và kẻ tạm cư như các tổ phụ chúng con. Các ngày chúng con trên đất khác nào cái bóng thoáng qua, không chút hi vọng.
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng con! Các vật liệu mà chúng con đã chuẩn bị để xây cất đền thờ cho danh thánh của Chúa, đều do tay Chúa mà đến, và tất cả đều thuộc về Ngài.
Lạy Đức Chúa Trời của con! Con biết rằng Chúa dò xét lòng người và vui về điều ngay thẳng. Về phần con, con vui lòng dâng các vật nầy với lòng chân thành của con. Bây giờ, con thấy dân Chúa ở đây cũng hiến dâng cho Chúa cách vui lòng.
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các tổ phụ chúng con là Áp-ra-ham, Y-sác, và Y-sơ-ra-ên! Xin cho dân Chúa luôn giữ ước nguyện và tư tưởng ấy trong lòng, và khiến lòng họ hướng về Chúa.
Xin Chúa ban cho Sa-lô-môn, con của con, một lòng trọn vẹn để tuân giữ các điều răn, chứng cớ, và luật lệ của Chúa, đồng thời làm mọi việc để xây cất đền thờ mà con đã chuẩn bị sẵn sàng.”
Đa-vít nói với cả hội chúng: “Hãy chúc tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi.” Cả hội chúng liền chúc tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, cúi đầu thờ lạy Đức Giê-hô-va, và cúi chào vua.
Qua ngày sau, họ vì toàn dân Y-sơ-ra-ên dâng sinh tế và tế lễ thiêu lên Đức Giê-hô-va gồm một nghìn con bò đực, một nghìn con chiên đực, một nghìn con chiên con, cùng các lễ quán cặp theo và nhiều tế lễ khác.
Trong ngày ấy, họ ăn uống rất vui vẻ trước mặt Đức Giê-hô-va. Lần thứ nhì, họ tôn con trai Đa-vít là Sa-lô-môn lên làm vua. Họ nhân danh Đức Giê-hô-va xức dầu cho Sa-lô-môn làm vua và lập Xa-đốc làm thầy tế lễ.
Bấy giờ, Sa-lô-môn ngồi trên ngôi của Đức Giê-hô-va, làm vua thế cho Đa-vít, cha người. Người được hưng thịnh và toàn thể Y-sơ-ra-ên đều vâng lệnh người.
Các quan chức, các dũng sĩ, và các con trai của vua Đa-vít đều phục tùng vua Sa-lô-môn.
Đức Giê-hô-va làm cho Sa-lô-môn rất được tôn trọng trước mặt toàn thể Y-sơ-ra-ên, và ban cho vua vẻ oai nghi, đến nỗi trong Y-sơ-ra-ên chẳng có một vua nào trước người được như vậy.
Đa-vít, con trai Gie-sê, cai trị trên cả Y-sơ-ra-ên.
Vua cai trị trên Y-sơ-ra-ên bốn mươi năm: Tại Hếp-rôn bảy năm, và tại Giê-ru-sa-lem ba mươi ba năm.
Vua băng hà, tuổi cao và thỏa nguyện về đời mình, về sự giàu có và vinh quang. Sa-lô-môn, con trai vua, lên ngôi kế vị.
Các công việc của vua Đa-vít từ đầu đến cuối đều chép trong sách của nhà tiên kiến Sa-mu-ên, trong sách của nhà tiên tri Na-than, và trong sách của nhà tiên kiến Gát.
Triều đại và quyền thế của vua, các việc xảy ra cho vua, cho dân Y-sơ-ra-ên, và cho các nước khác, đều được chép trong các sách ấy.
Sa-lô-môn, con trai Đa-vít, nắm vững quyền kiểm soát vương quốc của mình, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua ở với vua và làm cho vua rất cao trọng.
Sa-lô-môn triệu tập toàn thể Y-sơ-ra-ên, các vị chỉ huy trưởng nghìn quân và trăm quân, các thẩm phán và tất cả trưởng tộc là các nhà lãnh đạo Y-sơ-ra-ên.
Rồi Sa-lô-môn và toàn thể hội chúng đều đi lên nơi cao tại Ga-ba-ôn, vì ở đó có Lều Hội Kiến của Đức Chúa Trời mà đầy tớ của Đức Giê-hô-va là Môi-se đã làm trong hoang mạc.
(Nhưng Đa-vít đã rước Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời từ Ki-ri-át Giê-a-rim về nơi vua đã chuẩn bị sẵn, vì vua đã dựng một cái lều cho Hòm Giao Ước tại Giê-ru-sa-lem.)
Trước Đền Tạm của Đức Giê-hô-va có đặt bàn thờ bằng đồng mà Bết-sa-lê-ên, con trai U-ri, cháu Hu-rơ, đã làm. Sa-lô-môn và hội chúng đến đó cầu hỏi Chúa.
Sa-lô-môn đến bàn thờ bằng đồng, trước mặt Đức Giê-hô-va trong Lều Hội Kiến, và dâng một nghìn tế lễ thiêu trên bàn thờ đó.
Chính đêm ấy, Đức Chúa Trời hiện đến với Sa-lô-môn mà phán rằng: “Hãy xin điều con muốn Ta ban cho con.”
Sa-lô-môn thưa với Đức Chúa Trời: “Chúa đã bày tỏ lòng thương xót lớn lao cho Đa-vít, thân phụ con, và đã đặt con lên ngôi kế vị.
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời, bây giờ nguyện lời Chúa hứa với Đa-vít, thân phụ con, được ứng nghiệm; vì Chúa đã lập con lên làm vua một dân đông như bụi đất.
Vậy, xin Chúa ban cho con sự khôn ngoan và tri thức để con ra vào trước mặt dân nầy. Vì ai đủ khả năng lãnh đạo dân của Chúa, một dân lớn lao như thế nầy?”
Đức Chúa Trời phán với Sa-lô-môn: “Ta đã lập con làm vua của dân Ta. Vì con có ước nguyện như thế, không xin sự giàu có, của cải, vinh quang, hay mạng sống của những kẻ thù con, và cũng không xin sống lâu, nhưng xin sự khôn ngoan và tri thức để cai trị dân Ta,
nên Ta ban sự khôn ngoan và tri thức cho con. Ta cũng sẽ ban cho con sự giàu có, của cải, và vinh quang đến nỗi không có vua nào trước con và sau con được như thế.”
Rời Lều Hội Kiến ở nơi cao tại Ga-ba-ôn, Sa-lô-môn trở về Giê-ru-sa-lem và cai trị Y-sơ-ra-ên.
Sa-lô-môn tập trung chiến xa và ngựa chiến, được một nghìn bốn trăm cỗ xe và mười hai nghìn ngựa chiến. Vua để chiến xa trong các thành chứa chiến xa và gần bên vua tại Giê-ru-sa-lem.
Vua làm cho bạc vàng tại Giê-ru-sa-lem trở thành tầm thường như đá sỏi, và cây bá hương nhiều như cây sung ở miền Sơ-phê-la.
Còn ngựa của Sa-lô-môn đều được nhập từ Ai Cập và Si-li-si; các nhà buôn của vua mua từ Si-li-si theo thời giá.
Họ cũng lên Ai Cập mua xe, mỗi cỗ xe giá sáu trăm miếng bạc, còn ngựa thì giá một trăm năm mươi miếng bạc một con. Các vua dân Hê-tít và A-ram cũng nhờ những nhà buôn của vua mua theo giá ấy.
Sa-lô-môn truyền lệnh xây cất đền thờ cho danh Đức Giê-hô-va và xây hoàng cung cho mình.
Sa-lô-môn huy động bảy mươi nghìn người khuân vác, tám mươi nghìn thợ đá miền núi, và ba nghìn sáu trăm đốc công.
Sa-lô-môn sai sứ đến nói với Hi-ram, vua Ty-rơ: “Vua đã cung cấp gỗ bá hương cho Đa-vít, thân phụ tôi, để xây cung điện, vậy xin cũng giúp tôi như thế.
Nay, tôi sắp xây cất đền thờ cho danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi, biệt riêng đền thờ ấy ra thánh cho Ngài để xông hương trước mặt Ngài, thường xuyên bày bánh cung hiến, dâng tế lễ thiêu mỗi buổi sáng và buổi chiều, vào các ngày sa-bát, ngày lễ trăng mới, hay những ngày lễ đã được chỉ định của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi. Đó là những nghi lễ đời đời cho Y-sơ-ra-ên.
Đền thờ mà tôi sắp xây cất phải thật nguy nga, vì Đức Chúa Trời chúng tôi vĩ đại hơn tất cả các thần.
Thế nhưng, ai có thể xây cất một đền thờ cho Chúa? Vì các tầng trời, cả đến các tầng trời thăm thẳm cũng không thể chứa được Ngài! Vậy, tôi là ai mà xây cất được một đền thờ cho Chúa? Chỉ mong xây cất một đền thờ để xông hương trước mặt Ngài mà thôi.
Vậy bây giờ, xin vua gửi cho tôi một người thợ vừa giỏi về nghề vàng, bạc, đồng, sắt, vừa thạo về nghề dệt chỉ tím, đỏ và xanh, vừa biết chạm trổ để làm việc với những người thợ lành nghề tại Giu-đa và Giê-ru-sa-lem mà Đa-vít, thân phụ tôi, đã chuẩn bị.
Xin cũng gửi cho tôi gỗ bá hương, gỗ tùng và gỗ bạch đàn hương đốn ở Li-ban. Vì tôi biết rằng các đầy tớ của vua đều thạo việc đốn gỗ trên Li-ban. Các đầy tớ tôi sẽ cộng tác với các đầy tớ vua
để đốn cho tôi thật nhiều gỗ, vì đền thờ mà tôi định xây cất sẽ vô cùng nguy nga tráng lệ.
Tôi sẽ cấp cho các đầy tớ vua, là những thợ đốn gỗ, bốn triệu bốn trăm nghìn lít lúa mì đã giã, bốn triệu bốn trăm nghìn lít lúa mạch, bốn trăm bốn mươi nghìn lít rượu, và bốn trăm bốn mươi nghìn lít dầu ô-liu.”
Hi-ram, vua Ty-rơ, viết thư gửi cho Sa-lô-môn phúc đáp như sau: “Vì yêu thương dân Ngài nên Đức Giê-hô-va đã lập vua cai trị họ.”
Hi-ram viết tiếp: “Ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là Đấng dựng nên trời và đất, vì Ngài đã ban cho vua Đa-vít một người con khôn ngoan, thận trọng, và thông minh để xây cất đền thờ cho Ngài, và xây một hoàng cung cho mình.
Bây giờ, tôi gửi đến vua một người thợ khéo léo và thông sáng tên là Hu-ram A-bi,
con trai của một phụ nữ thuộc bộ tộc Đan, cha là người Ty-rơ. Người nầy vừa giỏi về nghề vàng, bạc, đồng, sắt, đá và gỗ, vừa thạo về nghề dệt chỉ tím, xanh và đỏ sậm cùng chỉ gai trắng mịn. Anh ta cũng thông thạo đủ các thứ chạm trổ, và có thể làm bất cứ đồ vật tinh xảo nào mà người ta đặt làm. Anh ta sẽ làm việc với các thợ lành nghề của vua và của thân phụ vua là Đa-vít, chúa tôi.
Vậy bây giờ, xin cấp lúa mì, lúa mạch, dầu và rượu cho các đầy tớ vua như vua đã nói.
Còn chúng tôi sẽ đốn gỗ trên núi Li-ban theo số lượng vua cần, kết thành bè đưa đến Gia-phô theo đường biển; rồi vua sẽ chở lên Giê-ru-sa-lem.”
Sa-lô-môn kiểm tra số người ngoại quốc trong nước Y-sơ-ra-ên theo thống kê của Đa-vít, thân phụ vua, tất cả được một trăm năm mươi ba nghìn sáu trăm người.
Trong số nầy, vua đặt bảy mươi nghìn người làm phu khuân vác, tám mươi nghìn người làm thợ đá miền núi, và ba nghìn sáu trăm đốc công để điều động dân chúng làm việc.
Sa-lô-môn khởi công xây cất đền thờ Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem trên núi Mô-ri-a, là nơi Đức Giê-hô-va đã hiện ra với Đa-vít, thân phụ vua. Đó là nơi Đa-vít đã chỉ định để xây cất trong sân đập lúa của Ọt-nan, người Giê-bu-sít.
Vua khởi công xây cất vào ngày mồng hai tháng hai năm thứ tư đời trị vì của mình.
Đây là kích thước mà Sa-lô-môn đã quy định để xây cất đền thờ Đức Chúa Trời: chiều dài ba mươi mét, chiều rộng mười mét.
Chiều dài của hành lang phía trước là mười mét, bằng chiều rộng của đền thờ; chiều cao là sáu mươi mét. Vua cho bọc vàng ròng bên trong.
Phòng lớn của đền thờ được làm bằng gỗ bá hương và bọc vàng ròng, có trang trí hình cây chà là và dây xích phía trên.
Vua trang hoàng đền thờ bằng đá quý, còn vàng thì dùng vàng Phạt-va-im.
Vua cho bọc vàng khắp đền thờ: xà nhà, ngưỡng cửa, tường và cửa; còn trên tường thì chạm hình chê-ru-bim.
Vua làm Nơi Chí Thánh có chiều dài mười mét, bằng chiều ngang của đền thờ; và chiều rộng Nơi Chí Thánh cũng mười mét. Vua cho bọc nơi ấy bằng hai mươi tấn vàng ròng.
Số vàng để mạ đinh nặng khoảng hơn nửa ký. Vua cũng bọc vàng các phòng cao.
Trong Nơi Chí Thánh, vua cho làm hai chê-ru-bim bằng kim khí, rồi bọc vàng.
Các cánh của hai chê-ru-bim dài tổng cộng mười mét; một cánh của chê-rúp nầy dài hai mét rưỡi chạm vào tường đền thờ, cánh còn lại cũng dài hai mét rưỡi và chạm một cánh của chê-rúp kia.
Một cánh của chê-rúp kia dài hai mét rưỡi và chạm vào tường đền thờ, cánh còn lại cũng dài hai mét rưỡi tiếp giáp với cánh của chê-rúp trước.
Các cánh của hai chê-ru-bim đều xòe ra, dài tổng cộng mười mét. Hai chê-ru-bim đứng thẳng trên chân, mặt hướng về nơi thánh.
Vua làm một bức màn bằng vải màu xanh, màu tím, màu đỏ sậm cùng với vải gai mịn, có thêu hình chê-ru-bim ở trên.
Phía trước đền thờ, vua dựng hai cây trụ cao mười bảy mét rưỡi, trên đỉnh hai trụ có đầu trụ cao hai mét rưỡi.
Vua cũng làm dây xích giống như dây xích trong Nơi Chí Thánh để trên đỉnh trụ, rồi làm một trăm trái lựu gắn trên dây xích ấy.
Vua dựng hai trụ đó phía trước đền thờ, một trụ bên phải, một trụ bên trái; vua đặt tên trụ bên phải là Gia-kin và trụ bên trái là Bô-ách.
Vua làm một bàn thờ bằng đồng dài mười mét, rộng mười mét và cao năm mét.
Vua đúc một cái bể hình tròn, đường kính năm mét, cao hai mét rưỡi, và chu vi mười lăm mét.
Phía dưới viền quanh miệng bể có hình những con bò, cứ nửa mét có mười con được đúc chung với bể, xếp thành hai hàng chung quanh bể.
Bể được đặt trên mười hai tượng bò: ba con quay về hướng bắc, ba con quay về hướng tây, ba con quay về hướng nam và ba con quay về hướng đông. Bể ở trên các con bò ấy, còn thân sau của chúng đều quay vào trong.
Bể dày bằng chiều rộng của bàn tay, mép bể giống như mép chén hình hoa huệ nở; bể chứa được sáu mươi sáu nghìn lít.
Vua cũng làm mười cái thùng, đặt năm cái bên phải và năm cái bên trái để tẩy rửa các vật dùng cho tế lễ thiêu. Còn bể đúc thì để cho các thầy tế lễ thanh tẩy.
Vua làm mười chân đèn bằng vàng theo kiểu đã ấn định, rồi đặt trong đền thờ: năm cái bên phải, năm cái bên trái.
Vua làm mười cái bàn đặt trong đền thờ: năm cái bên phải và năm cái bên trái. Vua cũng làm một trăm cái chậu bằng vàng.
Vua làm một cái sân trong cho các thầy tế lễ và một sân lớn, các cửa giữa hai sân được bọc bằng đồng.
Vua đặt cái bể ở bên phải đền thờ, về hướng đông nam.
Hu-ram còn làm những bình đựng tro, vá và chậu. Như vậy, Hu-ram làm xong tất cả công việc mà ông đã nhận làm cho Sa-lô-môn trong đền thờ của Đức Chúa Trời gồm:
Hai cây trụ, hai đầu trụ hình bầu ở trên đỉnh trụ, hai tấm lưới bao hai cái bầu của đầu trụ,
bốn trăm trái lựu gắn vào hai tấm lưới, mỗi tấm có hai hàng trái lựu để bao hai cái bầu của đầu trụ;
những cái bệ và thùng ở trên bệ;
một cái bể đúc có mười hai con bò đỡ phía dưới;
những bình đựng tro, vá, nĩa và các đồ phụ tùng. Hu-ram A-bi làm cho vua Sa-lô-môn tất cả các vật dụng đó bằng đồng đánh bóng để dùng trong đền thờ Đức Giê-hô-va.
Vua truyền đúc các vật dụng ấy trong những khuôn đất sét tại đồng bằng Giô-đanh, giữa Su-cốt và Xê-rê-đa.
Vua Sa-lô-môn cho làm tất cả các vật dụng ấy, nhiều đến nỗi không thể tính được số lượng đồng đã dùng.
Sa-lô-môn làm tất cả các vật dụng trong đền thờ Đức Chúa Trời gồm: bàn thờ bằng vàng, những cái bàn dùng để bày bánh cung hiến;
các chân đèn và đèn bằng vàng ròng để thắp trước nội điện theo luật định,
các hoa, đèn và nĩa bằng vàng ròng;
kéo cắt tim đèn, bát, đĩa đựng hương liệu và lư hương cũng bằng vàng ròng; cả đến lối vào đền thờ, các cánh cửa đền thờ bên trong Nơi Chí Thánh, cùng các cánh cửa của đền thờ cũng đều bằng vàng.
Như thế, tất cả các công trình mà Sa-lô-môn thực hiện cho đền thờ Đức Giê-hô-va đều hoàn thành. Sa-lô-môn đem những vật mà vua cha là Đa-vít đã biệt riêng ra thánh, tức là bạc vàng và các vật dụng, đặt vào kho tàng của đền thờ Đức Chúa Trời.
Sa-lô-môn triệu tập các trưởng lão Y-sơ-ra-ên, trưởng các bộ tộc và các gia tộc của dân Y-sơ-ra-ên về Giê-ru-sa-lem để đưa Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va từ thành Đa-vít, tức là Si-ôn, lên đền thờ.
Mọi người Y-sơ-ra-ên tập hợp lại bên vua vào kỳ lễ tháng bảy.
Tất cả các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đều đến dự, còn người Lê-vi thì khiêng Hòm Giao Ước.
Các thầy tế lễ thuộc dòng Lê-vi khiêng Hòm Giao Ước lên cùng với Lều Hội Kiến và các vật dụng thánh trong Lều.
Vua Sa-lô-môn và toàn thể cộng đoàn Y-sơ-ra-ên tập hợp bên vua, cùng đứng trước Hòm Giao Ước và dâng vô số chiên, bò làm sinh tế, nhiều đến nỗi không ai đếm được.
Các thầy tế lễ đem Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va vào nơi dành sẵn trong nội điện của đền thờ, dưới cánh chê-ru-bim.
Hai chê-ru-bim xòe cánh ra trên chỗ đặt Hòm Giao Ước, che Hòm Giao Ước và đòn khiêng.
Các đòn khiêng rất dài, nên ở trước nội điện người ta có thể thấy các đầu đòn ló ra khỏi Hòm Giao Ước, nhưng ở phía ngoài thì không thấy. Hòm Giao Ước vẫn còn ở đó cho đến ngày nay.
Chẳng có gì trong Hòm Giao Ước ngoài hai bảng luật pháp mà Môi-se đã đặt vào đó tại Hô-rếp, khi Đức Giê-hô-va lập giao ước với dân Y-sơ-ra-ên lúc họ ra khỏi Ai Cập.
Tất cả thầy tế lễ có mặt đều đã biệt riêng ra thánh, không phân biệt ban thứ. Khi các thầy tế lễ ra khỏi nơi thánh
thì các người ca hát thuộc dòng Lê-vi, tức A-sáp, Hê-nan, Giê-đu-thun cùng con trai và anh em của họ, mặc lễ phục bằng vải gai mịn, cầm chập chõa, đàn hạc và đàn lia đứng ở phía đông bàn thờ cùng với một trăm hai mươi thầy tế lễ thổi kèn.
Những người thổi kèn và ca hát đồng thanh hòa điệu như một người mà ca ngợi, cảm tạ Đức Giê-hô-va. Họ cất tiếng hát cùng với tiếng kèn, tiếng chập chõa, và các nhạc cụ khác, ca ngợi Đức Giê-hô-va rằng: “Vì Chúa là thiện, Lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời!” Ngay lúc ấy, đền thờ Đức Giê-hô-va đầy mây
đến nỗi các thầy tế lễ không thể đứng đó phục vụ được, vì vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền thờ của Đức Chúa Trời.
Bấy giờ, Sa-lô-môn cầu nguyện: “Lạy Đức Giê-hô-va, Chúa đã phán rằng Ngài sẽ ngự trong đám mây dày đặc.
Nhưng con đã xây cất một đền thờ làm nơi ở cho Chúa, một nơi để Chúa ngự đời đời.”
Rồi vua quay mặt lại chúc phước cho toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên, trong khi cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đang đứng.
Vua nói: “Đáng ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là Đấng đã ra tay hoàn thành lời hứa mà chính miệng Ngài đã phán với Đa-vít, thân phụ trẫm. Vì Ngài phán rằng:
‘Từ ngày Ta đem dân Ta ra khỏi đất Ai Cập, Ta chưa chọn một thành nào trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên để xây cất một đền thờ cho danh Ta ngự tại đó, và Ta cũng chưa chọn người nào làm nhà lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên Ta.
Nhưng nay Ta đã chọn Giê-ru-sa-lem để danh Ta ngự tại đó, và chọn Đa-vít để cai trị dân Y-sơ-ra-ên Ta.’
Đa-vít, thân phụ trẫm, có lòng muốn xây cất đền thờ cho danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Nhưng Đức Giê-hô-va phán với Đa-vít, thân phụ trẫm, rằng: ‘Con có lòng muốn xây cất một đền thờ cho danh Ta, ước muốn ấy thật tốt.
Tuy nhiên, con sẽ không xây cất đền thờ ấy đâu, nhưng con ruột của con, chính nó sẽ xây cất đền thờ cho danh Ta.’
Bây giờ, Đức Giê-hô-va đã làm ứng nghiệm lời Ngài phán, khiến trẫm kế vị thân phụ trẫm là Đa-vít để trị vì Y-sơ-ra-ên, đúng như Đức Giê-hô-va đã phán, và trẫm đã xây cất đền thờ cho danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Tại đó, trẫm đã đặt cái Hòm có giao ước của Đức Giê-hô-va mà Ngài đã lập với dân Y-sơ-ra-ên.”
Sa-lô-môn đang đứng trước bàn thờ của Đức Giê-hô-va, trước mặt toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên và giơ tay lên cầu nguyện.
(Vua đã làm một cái bục bằng đồng, dài hai mét rưỡi, rộng hai mét rưỡi, cao một mét rưỡi, đặt giữa sân; và vua đứng trên đó, rồi quỳ gối xuống trước mặt toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên, giơ tay lên trời.)
Vua cầu nguyện: “Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Trên trời và dưới đất chẳng có thần nào giống như Chúa. Chúa giữ lời giao ước và lòng nhân từ đối với các đầy tớ Chúa, là những người hết lòng bước đi trước mặt Chúa.
Đối với đầy tớ Chúa là Đa-vít, thân phụ con, Chúa đã giữ lời Ngài phán hứa với người. Thật, điều gì miệng Chúa đã phán thì tay Chúa làm cho hoàn thành đúng như đã có ngày nay.
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Chúa đã hứa với đầy tớ Chúa là Đa-vít, thân phụ con, rằng: ‘Nếu con cháu của con cẩn thận trong đường lối mình, tuân giữ luật pháp Ta như con đã tuân giữ thì trước mặt Ta, con sẽ chẳng bao giờ thiếu người ngồi trên ngai Y-sơ-ra-ên.’ Bây giờ, xin Chúa giữ lời Ngài đã hứa.
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên! Nguyện lời Chúa đã hứa với Đa-vít, đầy tớ Chúa, được ứng nghiệm.
Nhưng thật ra, Đức Chúa Trời có ngự với loài người trên mặt đất chăng? Kìa, bầu trời, ngay cả các tầng trời thăm thẳm còn không chứa nổi Chúa, huống chi đền thờ mà con đã xây cất đây!
Dù vậy, lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con! Xin đoái đến lời cầu nguyện và nài xin của đầy tớ Ngài, nghe tiếng kêu cầu và khẩn nguyện của đầy tớ Ngài cầu khẩn trước mặt Ngài.
Nguyện mắt Chúa ngày và đêm đoái xem nhà nầy, là nơi Chúa đã phán hứa sẽ đặt danh Ngài tại đó, và nghe lời cầu nguyện mà đầy tớ Chúa hướng về nơi nầy khẩn cầu.
Xin Chúa lắng nghe lời khẩn nài mà đầy tớ Chúa và dân Y-sơ-ra-ên của Ngài hướng về nơi nầy cầu nguyện. Từ nơi Ngài ngự ở trên trời, xin Chúa lắng nghe, nhậm lời và tha thứ cho.
Nếu có ai phạm tội cùng người lân cận mình và người ta buộc phải thề, nếu người ấy đến thề trước bàn thờ của Chúa trong đền thờ nầy,
thì xin Chúa từ trên trời lắng nghe và hành động. Xin phân xử cho các đầy tớ Chúa: báo trả kẻ ác theo đường lối hắn và khiến tội hắn đổ lại trên đầu hắn, xưng công chính cho người công chính và thưởng cho người theo sự công chính của người.
Nếu dân Y-sơ-ra-ên của Chúa vì phạm tội với Ngài mà bị quân thù đánh bại, và nếu họ trở lại cùng Chúa, nhận biết danh Chúa và cầu nguyện nài xin trước mặt Ngài trong đền thờ nầy,
thì xin Chúa từ trên trời lắng nghe, tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên của Chúa và đưa họ trở về xứ mà Chúa đã ban cho họ cũng như cho tổ phụ của họ.
Khi các tầng trời đóng chặt không có mưa vì dân Y-sơ-ra-ên đã phạm tội với Chúa, nếu sau khi Chúa đã trừng phạt họ mà họ hướng về nơi nầy cầu nguyện, nhận biết danh Chúa và từ bỏ tội lỗi mình,
thì xin Chúa ở trên trời lắng nghe, tha tội cho đầy tớ Chúa và cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài. Rồi khi Chúa đã dạy họ con đường chính đáng mà họ phải đi theo, xin Chúa cho mưa sa xuống đất mà Ngài đã ban cho dân Ngài làm sản nghiệp.
Khi trong xứ có nạn đói, dịch bệnh, hạn hán, nấm mốc, cào cào hay châu chấu, hoặc khi quân thù vây hãm các cổng thành trong đất nước họ, hoặc có bất cứ tai họa hay bệnh tật gì,
nếu có một người, hoặc toàn dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, đã nhận biết tai họa và sự đau đớn của mình mà giơ tay ra hướng về nhà nầy cầu nguyện và khẩn xin bất cứ điều gì
thì xin Chúa từ trên trời, là nơi ngự của Chúa, lắng nghe và tha thứ cho, báo lại cho mỗi người tùy theo lối sống của họ vì Chúa biết rõ lòng của họ; thật, chỉ một mình Chúa biết rõ lòng dạ của loài người.
Như thế, họ sẽ kính sợ Chúa và đi theo đường lối của Chúa suốt thời gian họ sống trên đất mà Ngài đã ban cho tổ phụ chúng con.
Đối với những người nước ngoài, là người không thuộc về dân Y-sơ-ra-ên của Chúa, nhưng vì được biết đến danh vĩ đại của Chúa và cánh tay quyền năng giơ thẳng ra của Ngài, nếu họ từ xứ xa đến và hướng về đền thờ nầy mà cầu nguyện
thì xin Chúa từ trên trời, là nơi ngự của Chúa, lắng nghe và làm theo mọi điều người ấy cầu xin, để muôn dân trên đất nhận biết danh Chúa, kính sợ Chúa như Y-sơ-ra-ên là dân Ngài, và biết rằng đền thờ mà con đã xây cất được gọi bằng danh Chúa.
Khi dân Chúa ra chiến đấu với quân thù theo con đường mà Chúa sai đi, nếu họ cầu nguyện cùng Chúa, hướng về thành mà Chúa đã chọn và về đền thờ mà con đã xây cất cho danh Chúa,
thì xin Chúa từ trên trời lắng nghe lời cầu nguyện nài xin của họ và thực thi công lý cho họ.
Nếu dân Y-sơ-ra-ên phạm tội với Chúa (vì chẳng có người nào mà không phạm tội), và Chúa nổi giận phó họ cho kẻ thù bắt lưu đày đến một xứ xa hay gần;
nếu trong xứ bị lưu đày, họ suy nghĩ lại, ăn năn và cầu khẩn với Chúa rằng: ‘Chúng con đã phạm tội, hành động cách sai quấy và gian ác’;
nếu trong xứ mà họ bị kẻ thù lưu đày, họ hết lòng hết ý trở lại cùng Chúa và cầu nguyện với Ngài, hướng về xứ mà Chúa đã ban cho tổ phụ họ, về thành mà Chúa đã chọn và về đền thờ mà con đã xây cất cho danh Chúa,
thì xin Chúa từ trên trời, là nơi ngự của Chúa, lắng nghe lời cầu nguyện nài xin của họ, thực thi công lý cho họ, và tha thứ tội mà dân của Chúa đã phạm với Ngài.
Lạy Đức Chúa Trời của con! Bây giờ, xin mắt Chúa đoái xem và tai Ngài lắng nghe lời cầu nguyện tại nơi nầy.
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời! Xin trỗi dậy Để Chúa và Hòm Giao Ước đầy quyền năng Ngài được vào nơi nghỉ ngơi của Ngài! Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời! Nguyện các thầy tế lễ của Chúa được mặc sự cứu rỗi, Và những người tin kính của Chúa được vui mừng Trong sự nhân từ Ngài!
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời! Xin đừng từ bỏ người được xức dầu của Chúa. Xin nhớ lại sự nhân từ của Chúa đối với Đa-vít là đầy tớ Ngài.”
Khi Sa-lô-môn cầu nguyện xong, lửa từ trời đổ xuống đốt tế lễ thiêu và các sinh tế. Vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền thờ.
Các thầy tế lễ không thể vào đền thờ của Đức Giê-hô-va được, vì vinh quang của Đức Giê-hô-va tràn ngập đền thờ của Ngài.
Toàn dân Y-sơ-ra-ên đều thấy lửa đổ xuống và vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền thờ. Họ phủ phục xuống đất, úp mặt trên nền nhà, thờ lạy và ca ngợi Đức Giê-hô-va rằng: “Vì Chúa là thiện, Lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời!”
Bấy giờ, vua và toàn dân đều dâng sinh tế trước mặt Đức Giê-hô-va.
Vua Sa-lô-môn dâng hai mươi hai nghìn con bò và một trăm hai mươi nghìn con chiên đực. Như vậy, vua và toàn dân làm lễ cung hiến đền thờ của Đức Chúa Trời.
Các thầy tế lễ đứng vào vị trí của mình. Còn những người Lê-vi cầm nhạc khí dùng cho Đức Giê-hô-va mà vua Đa-vít đã làm để ca ngợi Đức Giê-hô-va, mỗi khi Đa-vít bảo họ ca ngợi: “Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời!” Các thầy tế lễ thổi kèn trước mặt họ, còn toàn thể Y-sơ-ra-ên thì đứng.
Sa-lô-môn biệt riêng ra thánh phần sân giữa trước đền thờ Đức Giê-hô-va, là nơi vua dâng tế lễ thiêu và mỡ của tế lễ bình an, vì bàn thờ bằng đồng mà Sa-lô-môn đã làm không thể chứa hết tế lễ thiêu, tế lễ chay và các phần mỡ.
Vào dịp nầy, Sa-lô-môn tổ chức lễ trong bảy ngày. Về dự lễ với vua có toàn thể Y-sơ-ra-ên, một hội chúng rất đông đảo từ cửa ải Ha-mát cho đến khe Ai Cập.
Vào ngày thứ tám, một cuộc nhóm họp trọng thể được tổ chức, vì họ dự lễ cung hiến bàn thờ trong bảy ngày và mừng lễ trong bảy ngày nữa.
Ngày hai mươi ba tháng bảy, vua cho dân chúng trở về trại mình. Lòng mọi người đều vui mừng hân hoan về điều tốt lành mà Đức Giê-hô-va đã làm cho Đa-vít, cho Sa-lô-môn và cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài.
Như vậy, Sa-lô-môn đã hoàn tất việc xây cất đền thờ Đức Giê-hô-va và cung vua. Tất cả công trình Sa-lô-môn định làm trong đền thờ Đức Giê-hô-va và trong cung vua đều hoàn thành mỹ mãn.
Ban đêm, Đức Giê-hô-va hiện đến cùng Sa-lô-môn và phán rằng: “Ta đã nghe lời cầu nguyện của con và đã chọn nơi nầy làm nhà dâng sinh tế.
Khi Ta đóng các tầng trời lại, không cho mưa sa xuống; khi Ta truyền cho cào cào phá hại đất đai; và khi Ta giáng bệnh dịch giữa dân Ta;
nếu dân Ta, là dân được gọi bằng danh Ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt Ta và từ bỏ con đường gian ác, thì từ trên trời Ta sẽ lắng nghe, tha thứ tội lỗi họ và chữa lành đất nước họ.
Từ nay, mắt Ta sẽ đoái xem, tai Ta sẽ lắng nghe lời cầu nguyện tại nơi nầy,
vì bây giờ Ta đã chọn và thánh hóa đền thờ nầy để danh Ta ngự tại đó đời đời; mắt và lòng Ta sẽ ở đó mãi mãi.
Còn con, nếu con bước đi trước mặt Ta như cha của con là Đa-vít đã bước đi, làm theo mọi điều Ta truyền bảo con, tuân giữ những luật lệ và chỉ thị của Ta,
thì Ta sẽ làm cho ngôi nước con được bền vững đúng như giao ước Ta đã lập với Đa-vít, cha của con rằng: ‘Con sẽ không bao giờ thiếu người trị vì trên Y-sơ-ra-ên.’
Nhưng nếu các con quay khỏi và từ bỏ các luật lệ và điều răn Ta đã đặt trước mặt các con, đi theo các thần khác và thờ lạy chúng,
thì Ta sẽ nhổ các con khỏi đất Ta đã ban cho các con. Còn đền thờ mà Ta đã thánh hóa cho danh Ta, Ta sẽ ném bỏ nó khỏi Ta, làm cho nó trở thành đề tài cho các dân tộc đàm tiếu và chế nhạo.
Đền thờ nầy dù có đồ sộ đến đâu, nhưng rồi mọi người đi ngang qua đều sẽ kinh ngạc hỏi rằng: ‘Tại sao Đức Giê-hô-va đã làm cho đất nước nầy và đền thờ nầy như thế?’
Người ta sẽ trả lời rằng: ‘Đó là vì họ đã lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, là Đấng đã đem họ ra khỏi Ai Cập; và vì họ đã đeo đuổi các thần khác, quỳ lạy và phục vụ các thần ấy nên Ngài giáng trên họ tất cả các tai họa nầy.’”
Vào cuối năm thứ hai mươi, khi vua Sa-lô-môn đã xây cất xong đền thờ Đức Giê-hô-va và cung điện của mình,
thì vua xây lại các thành mà Hi-ram đã tặng cho vua, và cho dân Y-sơ-ra-ên định cư tại đó.
Sa-lô-môn tiến đánh Ha-mát Xô-ba và chiếm được thành ấy.
Vua xây thành Tát-mốt trong hoang mạc và xây các thành dùng làm kho tàng tại xứ Ha-mát.
Vua cũng xây Bết Hô-rôn Thượng và Bết Hô-rôn Hạ là những thành kiên cố, có tường thành và cửa đóng then cài.
Vua xây thành Ba-lát và tất cả các thành làm kho tàng của vua, các thành để chứa chiến xa, và các thành cho ngựa chiến. Sa-lô-môn hoàn thành tất cả những dự án xây cất tại Giê-ru-sa-lem, Li-ban và toàn lãnh thổ thuộc quyền vua.
Tất cả những người còn sót lại trong các dân Hê-tít, A-mô-rít, Phê-rê-sít, Hê-vít và Giê-bu-sít không thuộc về Y-sơ-ra-ên,
tức là các con cháu của chúng còn lại trong xứ mà dân Y-sơ-ra-ên không diệt hết, thì Sa-lô-môn bắt chúng làm lao dịch cho đến ngày nay.
Nhưng trong dân Y-sơ-ra-ên, Sa-lô-môn không bắt ai làm lao dịch cả. Họ là những chiến sĩ, quan tướng, những người chỉ huy chiến xa và kỵ binh của vua.
Số viên chức mà vua Sa-lô-môn đặt lên làm quản đốc nhân công là hai trăm năm mươi người.
Sa-lô-môn cho rước công chúa Pha-ra-ôn từ thành Đa-vít lên cung điện mà vua đã xây cất cho bà, vì vua nói rằng: “Vợ ta sẽ không ở trong cung Đa-vít, vua Y-sơ-ra-ên, vì Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va đến nơi nào thì nơi đó là thánh.”
Bấy giờ, Sa-lô-môn dâng tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va trên bàn thờ của Đức Giê-hô-va mà vua đã xây trước hành lang đền thờ;
vua dâng đúng như luật của Môi-se quy định về việc dâng tế lễ trong các ngày sa-bát, ngày trăng mới, và ba ngày lễ lớn hằng năm là lễ Bánh Không Men, lễ Các Tuần và lễ Lều Tạm.
Theo lệnh truyền của vua cha là Đa-vít, vua phân công cho các thầy tế lễ theo ban thứ; phân công người Lê-vi trong việc ca ngợi Chúa và phụ giúp các thầy tế lễ trong công việc hằng ngày. Vua cũng phân công người giữ cổng theo phiên thứ tại mỗi cổng đền thờ, vì đây là lệnh truyền của Đa-vít, người của Đức Chúa Trời.
Bất cứ điều gì Đa-vít đã truyền dạy liên quan đến các thầy tế lễ, người Lê-vi, cũng như về kho tàng và các việc khác đều được thực hiện chính xác.
Mọi công trình của Sa-lô-môn được hoàn tất, từ ngày đặt nền móng đền thờ Đức Giê-hô-va cho đến ngày hoàn thành. Như vậy, đền thờ Đức Giê-hô-va đã được xây cất xong.
Lúc ấy, Sa-lô-môn đi đến Ê-xi-ôn Ghê-be và Ê-lốt trên bờ biển thuộc đất Ê-đôm.
Vua Hi-ram sai các đầy tớ đem đến cho vua Sa-lô-môn tàu bè và các thủy thủ thông thạo nghề đi biển. Họ cùng đi với các đầy tớ của Sa-lô-môn đến Ô-phia chở về khoảng mười lăm tấn vàng cho vua Sa-lô-môn.
Khi nữ hoàng Sê-ba nghe về danh tiếng của Sa-lô-môn thì đến Giê-ru-sa-lem, đặt nhiều câu đố để thử vua Sa-lô-môn. Cùng đi với bà có đoàn tùy tùng đông đảo, có rất nhiều lạc đà chở hương liệu và một số lượng rất lớn vàng cùng đá quý. Bà đến gặp vua Sa-lô-môn và đặt với vua tất cả những nghi vấn bà có trong lòng.
Sa-lô-môn giải đáp tất cả các vấn đề bà đưa ra, không có vấn đề nào là quá bí ẩn đến nỗi Sa-lô-môn không thể giải đáp cho bà.
Nữ hoàng Sê-ba thấy sự khôn ngoan của vua Sa-lô-môn, cung điện vua đã xây cất,
những món ăn trên bàn vua, cách phân định chỗ ngồi của triều thần, cung cách làm việc của các quan và trang phục của họ, các quan dâng rượu và trang phục của họ, cùng các tế lễ thiêu mà vua dâng trong đền thờ Đức Giê-hô-va, thì bà mất vía.
Bà nói với vua: “Điều tôi nghe nói trong nước tôi về các lời nói và sự khôn ngoan của ngài thì quả là sự thật!
Tôi đã không tin lời họ cho đến khi tôi đến đây và thấy tận mắt những điều nầy. Thực ra, người ta cho tôi biết chưa đến một nửa sự khôn ngoan lớn lao của ngài; ngài thật vượt xa hơn tiếng đồn mà tôi đã nghe.
Triều thần của ngài thật có phước! Các cận thần của ngài, những người luôn đứng chầu trước mặt ngài, được nghe sự khôn ngoan của ngài thật có phước!
Đáng ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngài, là Đấng đã vui lòng đặt ngài lên ngôi làm vua để cai trị cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngài! Vì Đức Chúa Trời yêu thương dân Y-sơ-ra-ên, muốn cho dân nầy được bền vững mãi mãi, nên đã lập ngài làm vua của họ để thực thi công lý và sự chính trực.”
Nữ hoàng tặng cho vua ba nghìn sáu trăm ký vàng, rất nhiều hương liệu và đá quý. Chưa từng có thứ hương liệu nào giống như hương liệu của nữ hoàng Sê-ba tặng cho vua Sa-lô-môn.
(Các đầy tớ của Hi-ram và Sa-lô-môn chở vàng từ Ô-phia về; họ cũng chở về nhiều gỗ bạch đàn hương và đá quý.
Vua dùng gỗ bạch đàn hương ấy làm bậc thang trong đền thờ Đức Giê-hô-va và trong cung điện; vua cũng dùng gỗ ấy làm đàn hạc, đàn lia cho các nhạc sĩ. Trước đây, trong đất Giu-đa, người ta chưa hề thấy như vậy.)
Vua Sa-lô-môn tặng lại nữ hoàng Sê-ba tất cả những gì bà thích và xin, nhiều hơn những tặng phẩm mà bà đem đến cho vua. Sau đó, nữ hoàng và đoàn tùy tùng trở về nước.
Số vàng mà vua Sa-lô-môn thu được hằng năm cân nặng khoảng hai mươi tấn,
chưa kể số vàng mà các nhà buôn và khách giao thương đem đến, cùng số vàng và bạc mà các vua Ả-rập và các quan tổng đốc của xứ đem đến cho Sa-lô-môn.
Vua Sa-lô-môn làm hai trăm cái khiên lớn dát vàng, mỗi cái dùng khoảng bảy ký vàng.
Vua cũng làm ba trăm cái khiên nhỏ dát vàng, mỗi cái dùng khoảng ba ký rưỡi vàng. Vua để các khiên ấy trong cung Rừng Li-ban.
Vua làm một cái ngai lớn bằng ngà và bọc vàng ròng.
Ngai có sáu bậc và một bệ chân bọc vàng gắn liền với ngai, hai bên chỗ ngồi của ngai có thanh nâng tay, cạnh các thanh nâng tay có hai tượng sư tử.
Trên sáu bậc của ngai có mười hai tượng sư tử đứng hai bên. Không có vương quốc nào làm ngai giống như thế.
Các vật dụng để uống của vua Sa-lô-môn đều làm bằng vàng, và tất cả những vật dụng trong cung Rừng Li-ban cũng đều làm bằng vàng ròng. Trong đời Sa-lô-môn, bạc chẳng có giá trị gì
vì vua có đoàn tàu đi Ta-rê-si cùng với các thủy thủ của Hi-ram, cứ ba năm một lần, đoàn tàu nầy đem về vàng, bạc, ngà voi, khỉ và công.
Vậy, vua Sa-lô-môn trổi hơn tất cả các vua trên đất về sự giàu có và khôn ngoan.
Tất cả các vua trên đất đều mong được hội kiến Sa-lô-môn để nghe sự khôn ngoan mà Đức Chúa Trời đã đặt trong lòng vua.
Hằng năm, họ đem đến cho vua những tặng vật như các vật dụng bằng bạc, bằng vàng, y phục, vũ khí, hương liệu, ngựa và la.
Vua Sa-lô-môn có bốn nghìn chuồng ngựa, nhiều chiến xa, và mười hai nghìn ngựa chiến ở trong các thành chứa xe, và ở gần bên vua tại Giê-ru-sa-lem.
Vua cai trị tất cả các vua từ sông Cái đến đất của người Phi-li-tin, và cho đến tận biên giới Ai Cập.
Tại Giê-ru-sa-lem, vua làm cho bạc trở nên tầm thường như đá sỏi, và cây bá hương nhiều như cây sung mọc ở vùng Sơ-phê-la.
Người ta đem ngựa từ Ai Cập và từ khắp nơi về cho Sa-lô-môn.
Các việc khác của Sa-lô-môn làm từ đầu đến cuối đều được chép trong sách của nhà tiên tri Na-than, trong sách tiên tri của A-hi-gia người Si-lô, và trong sách khải tượng của Giê-đô, nhà tiên kiến nói về Giê-rô-bô-am con của Nê-bát.
Sa-lô-môn trị vì trên toàn thể Y-sơ-ra-ên trong bốn mươi năm tại Giê-ru-sa-lem.
Sa-lô-môn an giấc cùng các tổ phụ mình và được an táng trong thành Đa-vít, thân phụ vua. Thái tử Rô-bô-am lên kế vị.
Rô-bô-am đi lên Si-chem vì toàn thể Y-sơ-ra-ên đã đến Si-chem để tôn ông lên làm vua.
Khi Giê-rô-bô-am, con của Nê-bát, nghe tin ấy liền từ Ai Cập trở về; lúc ấy, ông đang ở Ai Cập vì trốn vua Sa-lô-môn.
Người ta cho mời ông về. Rồi Giê-rô-bô-am cùng toàn thể Y-sơ-ra-ên đến tâu với Rô-bô-am:
“Thân phụ của bệ hạ đã đặt trên chúng tôi một cái ách nặng nề. Bây giờ, xin bệ hạ giảm nhẹ khổ dịch và ách nặng nề mà thân phụ của bệ hạ đã đặt trên chúng tôi thì chúng tôi sẽ phục vụ bệ hạ.”
Vua trả lời họ: “Ba ngày nữa, các ngươi trở lại gặp ta.” Dân chúng liền ra về.
Vua Rô-bô-am hỏi ý kiến các trưởng lão, là những người đã từng phục vụ vua cha là Sa-lô-môn lúc người còn sống. Rô-bô-am hỏi: “Các ngươi góp ý để trẫm phải trả lời với dân nầy thế nào đây?”
Các trưởng lão tâu với vua: “Nếu bệ hạ đối đãi tốt với dân nầy, làm vui lòng họ, và dùng lời tử tế nói với họ thì họ sẽ làm đầy tớ bệ hạ mãi mãi.”
Nhưng Rô-bô-am loại bỏ ý kiến của các trưởng lão đã đưa ra, lại đi hỏi ý kiến các người trẻ là những người cùng trang lứa với vua và đang phục vụ vua.
Vua hỏi họ: “Các ngươi góp ý trẫm phải trả lời cho dân nầy thế nào, vì chúng đã tâu với trẫm rằng: ‘Xin giảm nhẹ cái ách mà thân phụ của bệ hạ đã đặt trên chúng tôi.’?”
Các người trẻ cùng trang lứa với vua tâu: “Dân chúng đã xin bệ hạ rằng: ‘Thân phụ của bệ hạ đã đặt trên chúng tôi một cái ách nặng nề, mong bệ hạ giảm nhẹ cho chúng tôi.’ Vậy, xin bệ hạ trả lời với chúng thế nầy: ‘Ngón tay út của ta còn mập hơn vòng bụng của cha ta.
Nếu cha ta đã đặt cái ách nặng nề trên các ngươi thì ta sẽ làm cho ách các ngươi nặng hơn nữa; cha ta đã trừng phạt các ngươi bằng roi da, còn ta, ta sẽ trừng phạt các ngươi bằng roi bò cạp.’”
Vào ngày thứ ba, Giê-rô-bô-am cùng toàn dân đến gặp Rô-bô-am, đúng như vua đã bảo rằng: “Hãy trở lại gặp ta vào ngày thứ ba.”
Vua trả lời với dân chúng một cách gay gắt. Vậy, vua Rô-bô-am đã loại bỏ ý kiến của các trưởng lão.
Vua theo ý kiến của những người trẻ mà trả lời với dân chúng rằng: “Cha ta đã đặt trên các ngươi một cái ách nặng nề, ta sẽ làm cho ách các ngươi càng nặng hơn. Cha ta đã trừng phạt các ngươi bằng roi da, còn ta, ta sẽ trừng phạt các ngươi bằng roi bò cạp.”
Như vậy, vua không nghe theo lời thỉnh cầu của dân chúng, và điều đó là do Đức Chúa Trời cho phép xảy ra để làm ứng nghiệm lời của Đức Giê-hô-va đã dùng A-hi-gia, người Si-lô, phán cùng Giê-rô-bô-am con của Nê-bát.
Khi thấy vua không nghe theo lời thỉnh cầu của họ thì toàn thể Y-sơ-ra-ên đáp lại cùng vua rằng: “Chúng ta có phần gì với Đa-vít? Chúng ta chẳng có sản nghiệp gì với con của Gie-sê. Hỡi Y-sơ-ra-ên! Mỗi người hãy trở về trại mình đi. Hỡi Đa-vít! Từ nay hãy coi chừng nhà của ngươi.” Vậy, toàn thể Y-sơ-ra-ên đều trở về trại của họ.
Còn dân Y-sơ-ra-ên ở trong các thành Giu-đa thì vẫn ở dưới sự cai trị của Rô-bô-am.
Khi vua Rô-bô-am sai A-đô-ni-ram, người phụ trách việc lao động cưỡng bách, đến với dân Y-sơ-ra-ên thì họ ném đá ông chết. Vua Rô-bô-am vội vàng lên xe trốn về Giê-ru-sa-lem.
Từ lúc đó, người Y-sơ-ra-ên nổi lên chống lại nhà Đa-vít cho đến ngày nay.
Về đến Giê-ru-sa-lem, Rô-bô-am liền tập hợp nhà Giu-đa và Bên-gia-min, được một trăm tám mươi nghìn chiến sĩ tinh nhuệ, để giao chiến với Y-sơ-ra-ên nhằm phục hồi vương quốc cho Rô-bô-am.
Nhưng có lời của Đức Giê-hô-va phán với Sê-ma-gia, người của Đức Chúa Trời, rằng:
“Hãy nói với vua Giu-đa là Rô-bô-am, con của Sa-lô-môn, và với tất cả người Y-sơ-ra-ên ở Giu-đa và Bên-gia-min rằng:
Đức Giê-hô-va phán: ‘Các ngươi không được giao chiến với anh em mình. Ai nấy hãy trở về nhà mình, vì việc nầy do Ta mà ra.’” Họ nghe theo lời của Đức Giê-hô-va và trở về, không tiến đánh Giê-rô-bô-am nữa.
Rô-bô-am ở tại Giê-ru-sa-lem và xây các thành trì kiên cố trong đất Giu-đa.
Vua xây Bết-lê-hem, Ê-tam, Thê-cô-a,
Bết Xu-rơ, Sô-cô, A-đu-lam,
Gát, Ma-rê-sa, Xíp
A-đô-ra-im, La-ki, A-xê-ca,
Xô-rê-a, A-gia-lôn và Hếp-rôn, là những thành vững chắc trong đất Giu-đa và Bên-gia-min.
Vua củng cố các đồn lũy ấy, đặt các quan chỉ huy, dự trữ lương thực, dầu và rượu.
Trong mỗi thành, vua cung cấp khiên và giáo, làm cho các thành ấy rất vững chắc. Như vậy, đất Giu-đa và Bên-gia-min đều thuộc về vua.
Các thầy tế lễ và người Lê-vi trong toàn cõi Y-sơ-ra-ên từ khắp nơi đều đến với Rô-bô-am.
Những người Lê-vi lìa bỏ đồng cỏ và sản nghiệp của họ mà đến đất Giu-đa và thành Giê-ru-sa-lem vì Giê-rô-bô-am và các con trai ông đuổi họ đi, không cho làm chức tế lễ của Đức Giê-hô-va nữa.
Giê-rô-bô-am lập những thầy tế lễ phục vụ các nơi cao, các hình tượng dê đực và bò con mà vua đã làm.
Trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên những ai hết lòng tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đều theo các thầy tế lễ và người Lê-vi mà đến Giê-ru-sa-lem dâng tế lễ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.
Trong ba năm, họ làm cho vương quốc Giu-đa vững mạnh và giúp Rô-bô-am, con của Sa-lô-môn, trở nên cường thịnh; vì trong ba năm ấy, họ đi theo đường lối của Đa-vít và Sa-lô-môn.
Rô-bô-am cưới Ma-ha-lát, con gái của Giê-ri-mốt, cháu của Đa-vít, làm vợ; mẹ của Ma-ha-lát là A-bi-hai, con gái Ê-li-áp, cháu của Gie-sê.
Bà sinh cho vua các con trai là Giê-úc, Sê-ma-ria và Xa-ham.
Sau đó, vua lại cưới Ma-a-ca, con gái Áp-sa-lôm; bà sinh cho vua: A-bi-gia, Át-thai, Xi-xa và Sê-lô-mít.
Vua Rô-bô-am yêu con gái Áp-sa-lôm là Ma-a-ca hơn các bà vợ và các cung phi khác; vì vua có mười tám bà vợ và sáu mươi cung phi, sinh hai mươi tám con trai và sáu mươi con gái.
Rô-bô-am lập A-bi-gia, con trai Ma-a-ca, làm thái tử đứng đầu các anh em, vì vua định đưa người con ấy lên kế vị.
Rô-bô-am đã khôn khéo phân tán các con trai mình đi khắp các thành vững chắc trong toàn cõi Giu-đa và Bên-gia-min, cấp lương thực dư dật và cưới cho họ nhiều vợ.
Khi vương quốc của Rô-bô-am được củng cố và cường thịnh thì vua và toàn thể Y-sơ-ra-ên đều từ bỏ luật pháp của Đức Giê-hô-va.
Vì họ đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va nên vào năm thứ năm đời vua Rô-bô-am, Si-sắc, vua Ai Cập, kéo quân tiến đánh Giê-ru-sa-lem.
Từ Ai Cập, vua kéo theo một nghìn hai trăm cỗ xe, sáu mươi nghìn kỵ binh và vô số bộ binh người Li-by, Su-ri và Cút.
Si-sắc tiến chiếm các thành kiên cố thuộc Giu-đa, rồi tiến đến Giê-ru-sa-lem.
Nhà tiên tri Sê-ma-gia đến gặp Rô-bô-am và các nhà lãnh đạo Giu-đa đang tập trung tại Giê-ru-sa-lem để trốn khỏi Si-sắc. Ông nói với họ: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Các ngươi đã lìa bỏ Ta nên Ta phó các ngươi vào tay Si-sắc.’”
Bấy giờ, các nhà lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên và vua đều hạ mình xuống mà nói rằng: “Đức Giê-hô-va là công chính.”
Khi Đức Giê-hô-va thấy họ hạ mình xuống thì có lời Đức Giê-hô-va phán cùng Sê-ma-gia rằng: “Chúng đã hạ mình xuống nên Ta sẽ không tiêu diệt chúng, nhưng sẽ giải cứu chúng một phần; và Ta sẽ không dùng tay Si-sắc mà trút cơn thịnh nộ của Ta trên Giê-ru-sa-lem.
Tuy nhiên, chúng sẽ phải phục dịch hắn để biết thế nào là phục vụ Ta và thế nào là phục dịch các nước khác.”
Si-sắc, vua Ai Cập, kéo lên đánh Giê-ru-sa-lem, chiếm đoạt các báu vật trong đền thờ Đức Giê-hô-va và trong cung vua. Vua ấy cướp sạch các báu vật, kể cả những khiên bằng vàng mà Sa-lô-môn đã làm.
Vua Rô-bô-am làm các khiên bằng đồng để thay thế, và giao cho các quan chỉ huy thị vệ canh giữ cửa hoàng cung.
Mỗi khi vua vào trong đền thờ Đức Giê-hô-va thì quân thị vệ mang các khiên ấy ra, rồi sau đó đem cất lại trong kho của quân thị vệ.
Vì Rô-bô-am hạ mình xuống, nên cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va quay khỏi vua và vua không bị tiêu diệt hoàn toàn; và Giu-đa cũng còn hưởng những điều tốt lành.
Vua Rô-bô-am củng cố được ngai vàng và trị vì tại Giê-ru-sa-lem. Khi lên ngôi, Rô-bô-am được bốn mươi mốt tuổi; vua cai trị mười bảy năm tại Giê-ru-sa-lem, tức là thành mà Đức Giê-hô-va đã chọn trong các bộ tộc Y-sơ-ra-ên để đặt danh Ngài tại đó. Mẹ vua tên là Na-a-ma, người Am-môn.
Rô-bô-am làm điều ác vì không hết lòng tìm cầu Đức Giê-hô-va.
Các việc của Rô-bô-am đã làm từ đầu đến cuối đều được chép trong sách của nhà tiên tri Sê-ma-gia và nhà tiên kiến Y-đô theo cách chép gia phả. Rô-bô-am và Giê-rô-bô-am luôn giao tranh với nhau.
Rô-bô-am an giấc cùng tổ phụ mình và được an táng trong thành Đa-vít. Con vua là A-bi-gia lên kế vị.
Năm thứ mười tám đời trị vì của Giê-rô-bô-am, A-bi-gia lên làm vua Giu-đa.
Vua cai trị ba năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Mi-ca-gia, con gái của U-ri-ên ở Ghi-bê-a. Lúc bấy giờ, chiến tranh xảy ra giữa A-bi-gia và Giê-rô-bô-am.
A-bi-gia ra trận với một lực lượng bốn trăm nghìn quân tinh nhuệ, là những chiến sĩ dũng cảm; còn Giê-rô-bô-am đem tám trăm nghìn quân tinh nhuệ, cũng là những chiến sĩ dũng cảm, ra nghênh chiến.
A-bi-gia đứng trên núi Xê-ma-ra-im trong miền núi Ép-ra-im và nói: “Hỡi Giê-rô-bô-am và toàn thể Y-sơ-ra-ên, hãy nghe!
Các ngươi không biết rằng, do giao ước bằng muối, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã ban quyền cai trị vương quốc Y-sơ-ra-ên cho Đa-vít và cho con cháu người đến đời đời sao?
Thế nhưng, Giê-rô-bô-am con trai Nê-bát là đầy tớ của Sa-lô-môn, con của Đa-vít, đã nổi lên chống lại chủ mình.
Những tên vô lại, côn đồ đều tụ tập lại theo hắn. Chúng mạnh mẽ chống lại Rô-bô-am, con của Sa-lô-môn, trong khi Rô-bô-am thì trẻ người non dạ, không đủ sức chống lại chúng.
Vậy bây giờ, các ngươi tưởng rằng với quân đội đông đảo, có bò con vàng mà Giê-rô-bô-am đã đúc làm thần cho các người, thì các người có thể chống lại vương quốc mà Đức Giê-hô-va đã ban cho con cháu Đa-vít sao?
Chẳng phải các người đã đuổi những thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va, là con cháu A-rôn, và người Lê-vi sao? Các người đã theo phong tục của các dân ngoại mà lập những thầy tế lễ cho mình; bất cứ ai đem đến một con bò tơ đực và bảy con chiên đực để dâng tế lễ thì được làm thầy tế lễ cho thần không phải là thần.
Nhưng về phần chúng tôi, Giê-hô-va vẫn là Đức Chúa Trời của chúng tôi, chúng tôi không lìa bỏ Ngài. Những thầy tế lễ, là con cháu của A-rôn, đều phụng sự Đức Giê-hô-va, và các người Lê-vi giữ phần việc của họ.
Mỗi buổi sáng và buổi chiều, họ dâng tế lễ thiêu và xông hương cho Đức Giê-hô-va. Họ cũng sắp bánh cung hiến trên bàn thanh sạch, thắp các đèn trên chân đèn bằng vàng cho cháy sáng vào mỗi buổi chiều tối. Vì chúng tôi vâng giữ mệnh lệnh của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, còn các người lại bỏ đi.
Nầy, Đức Chúa Trời ở cùng và lãnh đạo chúng tôi. Những thầy tế lễ của Ngài cầm kèn thúc quân thổi vang lên chống lại các người. Hỡi con cái Y-sơ-ra-ên! Đừng chiến đấu chống lại Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ các người, vì các người không thắng được đâu!”
Trong khi đó, Giê-rô-bô-am sai quân mai phục đi vòng phía sau quân Giu-đa. Như thế, quân Y-sơ-ra-ên ở phía trước, còn quân mai phục của họ ở phía sau quân Giu-đa.
Lúc quân Giu-đa quay lại, kìa, địch quân đã có mặt phía trước và phía sau. Họ liền kêu cầu Đức Giê-hô-va, còn các thầy tế lễ thì thổi kèn.
Bấy giờ, người Giu-đa hò hét xung trận. Khi người Giu-đa hò hét thì Đức Chúa Trời đánh bại Giê-rô-bô-am và toàn thể Y-sơ-ra-ên trước mặt A-bi-gia và người Giu-đa.
Quân Y-sơ-ra-ên chạy trốn quân Giu-đa, và Đức Chúa Trời phó họ vào tay quân Giu-đa.
A-bi-gia và quân lính của vua đánh bại và làm cho quân Y-sơ-ra-ên tổn thất nặng nề; có năm trăm nghìn quân tinh nhuệ của Y-sơ-ra-ên ngã chết.
Như vậy, trong trận ấy quân Y-sơ-ra-ên bị hạ nhục, còn quân Giu-đa thắng trận vì họ nhờ cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ.
A-bi-gia truy đuổi Giê-rô-bô-am và chiếm các thành: Bê-tên và các vùng phụ cận, Giê-sa-na và các vùng phụ cận, Ép-rôn và các vùng phụ cận.
Suốt thời trị vì của A-bi-gia, Giê-rô-bô-am không còn khôi phục thế lực được nữa. Cuối cùng, Giê-rô-bô-am bị Đức Giê-hô-va đánh phạt và chết.
Còn A-bi-gia được cường thịnh. Vua lấy mười bốn người vợ, sinh được hai mươi hai con trai và mười sáu con gái.
Các việc khác của A-bi-gia, những đường lối và việc làm của vua đều được chép trong sách bình luận của nhà tiên tri Y-đô.
A-bi-gia an giấc cùng tổ phụ mình và được an táng trong thành Đa-vít. Thái tử A-sa lên ngai kế vị. Trong thời trị vì của vua nầy, xứ sở được hòa bình mười năm.
A-sa làm điều thiện và ngay thẳng dưới mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của mình.
Vua dẹp bỏ các bàn thờ của thần ngoại bang và những nơi cao, đập bể các trụ thờ và phá hủy các tượng A-sê-ra.
Vua truyền bảo dân Giu-đa phải tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, làm theo luật pháp và điều răn của Ngài.
Vua cũng dẹp bỏ những nơi cao và các bàn thờ dâng hương khỏi các thành của Giu-đa. Vương quốc được hòa bình dưới thời trị vì của vua.
Vua xây dựng các thành trì kiên cố trong đất Giu-đa vì đất nước được hòa bình. Trong thời kỳ nầy không có chiến tranh vì Đức Giê-hô-va ban cho vua được nghỉ ngơi.
Vua nói với dân Giu-đa: “Chúng ta hãy xây dựng các thành nầy, đắp tường lũy chung quanh, dựng tháp, làm cửa có then cài. Đất nước vẫn còn thuộc về chúng ta vì chúng ta đã tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta; chúng ta đã tìm kiếm Ngài nên Ngài ban cho chúng ta bình an mọi bề.” Thế là họ xây dựng và đã thành công.
A-sa có một quân đội gồm ba trăm nghìn người Giu-đa được trang bị khiên và giáo, hai trăm tám mươi nghìn người Bên-gia-min được trang bị thuẫn và cung; tất cả đều là những dũng sĩ.
Xê-rách, người Cút, kéo một lực lượng gồm một triệu quân với ba trăm cỗ xe tiến đánh người Giu-đa, và họ đi đến Ma-rê-sa.
A-sa kéo ra nghênh chiến và dàn trận trong thung lũng Xê-pha-ta gần Ma-rê-sa.
A-sa cầu khẩn Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình: “Lạy Đức Giê-hô-va! Ngoài Chúa, chẳng ai giúp người yếu thắng được người mạnh. Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng con! Xin giúp đỡ chúng con, vì chúng con nương cậy nơi Ngài. Nhân danh Chúa, chúng con đương đầu cùng đoàn quân đông đảo nầy. Đức Giê-hô-va ôi! Ngài là Đức Chúa Trời của chúng con, xin đừng để loài người thắng hơn Chúa!”
Đức Giê-hô-va đánh bại quân Cút trước mặt dân Giu-đa và vua A-sa; quân Cút bỏ chạy.
A-sa và quân của vua truy đuổi chúng cho đến Ghê-ra. Quân Cút ngã chết và bị quét sạch không còn một ai sống sót; chúng bị đánh tan trước mặt Đức Giê-hô-va và đạo quân của Ngài. Người Giu-đa chiếm được rất nhiều chiến lợi phẩm.
Họ cũng tiến đánh các thành chung quanh Ghê-ra vì Đức Giê-hô-va giáng sự kinh khiếp trên các thành đó. Quân của A-sa cướp lấy rất nhiều của cải trong các thành ấy.
Họ còn đánh chiếm các nông trại súc vật, bắt đem đi rất nhiều chiên và lạc đà, rồi trở về Giê-ru-sa-lem.
Thần Đức Chúa Trời ngự trên A-xa-ria, con trai của Ô-đết.
Ông đi đón vua A-sa và nói: “Xin vua A-sa cùng toàn thể dân Giu-đa và Bên-gia-min nghe tôi nói! Các ngươi theo Đức Giê-hô-va chừng nào thì Đức Giê-hô-va ở với các ngươi chừng nấy. Nếu các ngươi tìm kiếm Ngài thì sẽ gặp được Ngài; nếu các ngươi lìa bỏ Ngài thì Ngài sẽ lìa bỏ các ngươi.
Đã lâu nay, Y-sơ-ra-ên không có Đức Chúa Trời thật, không có thầy tế lễ dạy dỗ, cũng chẳng có luật pháp.
Nhưng trong lúc khốn khó, họ trở lại cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà tìm kiếm Ngài thì lại gặp được Ngài.
Trong thời gian ấy, không một ai vào ra được bình an, vì tất cả cư dân các nước đều rối loạn.
Nước nầy giày đạp nước kia, thành nầy giày đạp thành nọ, vì Đức Chúa Trời khuấy rối chúng bằng đủ thứ khổ nạn.
Nhưng các ngươi hãy vững lòng, đừng buông tay bỏ cuộc, vì công việc mình sẽ được đền đáp.”
Khi A-sa đã nghe các lời nầy là lời tiên tri của nhà tiên tri Ô-đết thì vua thêm can đảm. Vua dẹp bỏ những thần tượng ghê tởm khỏi toàn cõi Giu-đa và Bên-gia-min, và khỏi các thành mà vua đã chiếm được trên miền núi Ép-ra-im. Vua sửa lại bàn thờ của Đức Giê-hô-va trước hành lang của đền thờ.
Vua tập hợp tất cả những người Giu-đa, người Bên-gia-min và những kiều dân thuộc các bộ tộc Ép-ra-im, Ma-na-se và Si-mê-ôn đang cư trú giữa họ; vì có nhiều người bỏ Y-sơ-ra-ên đến theo vua A-sa khi thấy Giê-hô-va Đức Chúa Trời ở cùng vua.
Vào tháng ba, năm thứ mười lăm đời trị vì của A-sa, họ tụ họp tại Giê-ru-sa-lem.
Lúc ấy, họ lấy bảy trăm con bò đực và bảy nghìn con chiên trong số chiến lợi phẩm đã mang về làm tế lễ dâng lên Đức Giê-hô-va.
Họ kết ước với nhau hết lòng hết ý tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.
Tất cả những ai không tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên thì sẽ bị xử tử, bất luận nhỏ hay lớn, nam hay nữ.
Họ lớn tiếng thề nguyện cùng Đức Giê-hô-va, reo mừng, thổi kèn và tù và.
Toàn thể Giu-đa vui mừng về lời thề ấy, vì họ hết lòng thề nguyện, hết sức tìm kiếm Đức Giê-hô-va và gặp được Ngài. Đức Giê-hô-va ban cho họ được bình an tứ phía.
Vì Ma-a-ca, mẹ vua A-sa, đã làm một hình tượng ghê tởm cho thần A-sê-ra nên vua A-sa cách chức thái hậu của bà, đánh đổ hình tượng ấy và nghiền nát rồi thiêu đốt trong thung lũng Xết-rôn.
Tuy các nơi cao chưa bị dẹp bỏ khỏi Y-sơ-ra-ên, nhưng A-sa vẫn trọn lòng với Chúa suốt đời.
Vua đem vào đền thờ Đức Giê-hô-va các vật mà vua cha và chính mình đã biệt riêng ra thánh gồm vàng, bạc và các vật dụng.
Bấy giờ, không có chiến tranh cho đến năm thứ ba mươi lăm đời trị vì của A-sa.
Vào năm thứ ba mươi sáu đời trị vì của A-sa thì vua Y-sơ-ra-ên là Ba-ê-sa đi lên đánh Giu-đa và xây đồn lũy Ra-ma để không cho ai ra vào lãnh thổ của A-sa, vua Giu-đa.
Khi ấy, A-sa lấy bạc vàng trong kho của đền thờ Đức Giê-hô-va và trong kho của cung vua gửi đến Bên-ha-đát, vua A-ram ở Đa-mách, và nói rằng:
“Chúng ta hãy lập một hiệp ước với nhau như thân phụ của tôi và thân phụ của ngài đã làm. Nầy, tôi gửi đến ngài bạc và vàng, xin ngài hủy bỏ hiệp ước của ngài với Ba-ê-sa, vua Y-sơ-ra-ên, để ông ấy rút quân khỏi tôi.”
Bên-ha-đát nghe theo lời vua A-sa, sai các tướng chỉ huy đem quân tiến đánh các thành của Y-sơ-ra-ên, chiếm Y-giôn, Đan, A-bên Ma-im cùng các thành có kho tàng của đất Nép-ta-li.
Khi Ba-ê-sa hay điều đó liền ngưng xây đồn Ra-ma và bãi bỏ công trình.
Vua A-sa đem toàn dân Giu-đa đến lấy đá và gỗ mà Ba-ê-sa đã dùng xây cất Ra-ma; rồi A-sa dùng các vật liệu ấy xây cất Ghê-ba và Mích-pa.
Trong khi ấy, nhà tiên kiến Ha-na-ni đến gặp A-sa, vua Giu-đa, và nói: “Vì vua nương cậy vua A-ram mà không nương cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua, nên đạo quân vua A-ram đã thoát khỏi tay vua.
Quân Cút và dân Li-by chẳng phải là một lực lượng hùng hậu sao? Chiến xa và kỵ binh của chúng chẳng phải rất đông đảo sao? Dù vậy, vì vua nhờ cậy Đức Giê-hô-va nên Ngài phó chúng vào tay vua.
Vì mắt của Đức Giê-hô-va soi xét khắp thế gian để giúp sức cho người nào trọn lòng đối với Ngài. Trong việc nầy, vua đã cư xử cách dại dột nên từ nay về sau, vua sẽ phải luôn đương đầu với chiến tranh.”
A-sa nổi giận với nhà tiên kiến và bỏ tù người vì vua rất tức giận người về việc ấy. Trong lúc đó, A-sa cũng đàn áp một số người khác trong dân.
Các việc làm của A-sa từ đầu đến cuối đều được chép trong sách các vua Giu-đa và Y-sơ-ra-ên.
Năm thứ ba mươi chín đời trị vì của A-sa, vua bị đau chân rất nặng. Tuy nhiên, trong cơn bệnh, vua không tìm kiếm Đức Giê-hô-va mà tìm kiếm các thầy thuốc.
A-sa an giấc cùng các tổ phụ mình. Vua qua đời sau bốn mươi mốt năm trị vì.
Người ta an táng vua trong mộ mà chính vua đã đục cho mình trong thành Đa-vít. Họ đặt thi hài vua trên giường đầy hương liệu pha chế theo đúng kỹ thuật hòa hương; họ cũng đốt một ngọn lửa thật to để khóc than vua.
Giô-sa-phát, con trai A-sa, lên kế vị; vua làm cho vương quốc cường thịnh để đối phó với Y-sơ-ra-ên.
Vua bố trí quân đội tại các thành kiên cố của Giu-đa, lập đồn trong xứ Giu-đa và trong các thành Ép-ra-im mà A-sa, vua cha, đã chiếm được.
Đức Giê-hô-va ở cùng Giô-sa-phát vì vua đi theo đường lối mà trước kia Đa-vít, tổ phụ mình, đã đi, không tìm kiếm thần Ba-anh,
nhưng tìm kiếm Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, tuân giữ các điều răn của Ngài chứ không hành động như Y-sơ-ra-ên.
Vì vậy, Đức Giê-hô-va khiến vương quốc vững chắc trong tay vua, toàn dân Giu-đa dâng lễ vật cho Giô-sa-phát nên vua được nhiều của cải và danh tiếng lừng lẫy.
Vua vững lòng theo các đường lối của Đức Giê-hô-va, tiếp tục dẹp bỏ các nơi cao và những tượng thần A-sê-ra khỏi Giu-đa.
Năm thứ ba đời trị vì của Giô-sa-phát, vua sai các quan chức mình là Bên-hai, Ô-ba-đia, Xa-cha-ri, Na-tha-na-ên và Mi-ca-gia đi dạy dỗ trong các thành xứ Giu-đa.
Có mấy người Lê-vi đi với họ là Sê-ma-gia, Nê-tha-nia, Xê-ba-đia, A-sa-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giô-na-than, A-đô-ni-gia, Tô-bi-gia và Tô-ba-đô-ni-gia, cũng có hai thầy tế lễ là Ê-li-sa-ma và Giô-ram cùng đi nữa.
Họ đem theo sách luật pháp của Đức Giê-hô-va, đi khắp các thành xứ Giu-đa mà dạy dỗ dân chúng.
Đức Giê-hô-va khiến các nước chung quanh Giu-đa kinh hãi, chẳng dám gây chiến với Giô-sa-phát.
Người Phi-li-tin đem lễ vật và bạc triều cống Giô-sa-phát; người Ả-rập cũng dẫn đến cho vua các bầy súc vật gồm bảy nghìn bảy trăm con chiên đực và bảy nghìn bảy trăm con dê đực.
Giô-sa-phát càng ngày càng cường thịnh. Vua xây cất những pháo đài và các thành có kho tàng trong xứ Giu-đa.
Vua có nhiều nguồn dự trữ trong các thành Giu-đa. Còn tại Giê-ru-sa-lem, vua có những chiến sĩ dũng cảm.
Danh sách những người ấy theo gia tộc của họ như sau: Trong bộ tộc Giu-đa, có những quan chỉ huy nghìn quân là Át-na, chỉ huy ba trăm nghìn dũng sĩ;
kế tiếp có Giô-ha-nan chỉ huy hai trăm tám mươi nghìn dũng sĩ;
rồi đến A-ma-sia, con trai của Xiếc-ri, là người tự nguyện phục vụ Đức Giê-hô-va, ông chỉ huy hai trăm nghìn dũng sĩ.
Trong bộ tộc Bên-gia-min có Ê-li-a-đa là một dũng sĩ, chỉ huy hai trăm nghìn quân cầm cung và khiên;
kế tiếp có Giê-hô-xa-bát chỉ huy một trăm tám mươi nghìn quân sẵn sàng ra trận.
Đó là những người phục vụ vua, không kể những người mà vua đã bố trí trong các thành kiên cố khắp xứ Giu-đa.
Lúc bấy giờ, Giô-sa-phát rất giàu có và vinh quang; vua kết thông gia với A-háp.
Vài năm sau, vua xuống thăm A-háp tại Sa-ma-ri. A-háp giết nhiều chiên bò thết đãi Giô-sa-phát và đoàn tùy tùng, rồi thuyết phục Giô-sa-phát tấn công Ra-mốt Ga-la-át.
A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, nói với Giô-sa-phát, vua Giu-đa, rằng: “Ngài có muốn cùng tôi đi đánh Ra-mốt Ga-la-át chăng?” Giô-sa-phát trả lời: “Tôi cũng như ngài, dân tôi cũng như dân ngài; chúng tôi sẽ cùng chiến đấu với ngài.”
Giô-sa-phát lại nói với vua Y-sơ-ra-ên: “Nhưng trước hết, chúng ta hãy cầu hỏi Đức Giê-hô-va.”
Vua Y-sơ-ra-ên triệu tập các nhà tiên tri, khoảng bốn trăm người, và hỏi họ: “Chúng ta nên đi đánh Ra-mốt Ga-la-át hay là nên ngưng lại?” Họ đáp: “Hãy đi! Đức Chúa Trời sẽ phó thành ấy vào tay bệ hạ.”
Nhưng Giô-sa-phát nói tiếp: “Ở đây còn có nhà tiên tri nào khác của Đức Giê-hô-va để chúng ta nhờ người ấy cầu hỏi không?”
Vua Y-sơ-ra-ên đáp với Giô-sa-phát: “Còn có một người tên là Mi-chê, con của Giêm-la, nhờ hắn chúng ta có thể cầu hỏi Đức Giê-hô-va. Nhưng tôi ghét hắn, vì hắn không bao giờ nói tiên tri lành về tôi, chỉ toàn là điều dữ.” Giô-sa-phát nói: “Xin vua đừng nói như thế!”
Vua Y-sơ-ra-ên gọi một quan chức đến và bảo: “Hãy gọi Mi-chê, con của Giêm-la, đến đây ngay!”
Vua Y-sơ-ra-ên và Giô-sa-phát, vua Giu-đa, mỗi người đều mặc triều phục, ngồi trên ngai mình ở sân đập lúa tại cửa thành Sa-ma-ri, còn tất cả các nhà tiên tri thì nói tiên tri trước mặt hai vua.
Sê-đê-kia, con của Kê-na-na, làm các sừng bằng sắt, và nói: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Với các sừng nầy, bệ hạ sẽ húc dân A-ram cho đến khi tiêu diệt chúng hoàn toàn.’”
Tất cả các nhà tiên tri đều nói như thế: “Hãy đi đánh Ra-mốt Ga-la-át, bệ hạ sẽ thắng vì Đức Giê-hô-va sẽ phó thành ấy vào tay bệ hạ.”
Trong lúc ấy, sứ giả đi mời Mi-chê nói với ông: “Nầy, các nhà tiên tri đều đồng thanh báo cho vua điều lành, vậy tôi xin ông cũng hãy lấy lời lành như họ mà báo cho vua.”
Nhưng Mi-chê đáp: “Nguyện Đức Giê-hô-va hằng sống! Ta sẽ nói bất cứ điều gì Đức Chúa Trời ta truyền phán.”
Khi Mi-chê đến, A-háp hỏi: “Nầy Mi-chê, chúng ta nên tiến đánh Ra-mốt Ga-la-át hay là nên ngưng lại?” Ông đáp: “Hãy đi, vua sẽ thắng và chúng sẽ bị phó vào tay hai vua.”
Vua nói với ông: “Biết bao lần ta phải buộc ngươi thề là không nói với ta điều gì ngoài sự thật nhân danh Đức Giê-hô-va!”
Mi-chê đáp: “Tôi thấy toàn dân Y-sơ-ra-ên tản lạc trên các núi như bầy chiên không có người chăn, và Đức Giê-hô-va phán: ‘Những người nầy không còn chủ nữa, ai nấy hãy trở về nhà mình bình an.’”
Vua Y-sơ-ra-ên nói với Giô-sa-phát: “Tôi đã chẳng nói với ngài rằng người nầy không bao giờ nói tiên tri lành về tôi, chỉ toàn là điều dữ đó sao?”
Mi-chê nói tiếp: “Vậy, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. Tôi thấy Đức Giê-hô-va ngự trên ngôi Ngài, còn toàn thể thiên binh đứng chầu bên phải và bên trái.
Đức Giê-hô-va phán: ‘Ai sẽ dụ A-háp, vua Y-sơ-ra-ên, đi đánh Ra-mốt Ga-la-át để ngã chết tại đó?’ Rồi người nói cách nầy, kẻ nói cách khác.
Bấy giờ, có một thần ra đứng trước mặt Đức Giê-hô-va mà thưa rằng: ‘Tôi sẽ đi dụ ông ấy.’ Đức Giê-hô-va phán hỏi: ‘Bằng cách nào?’
Thần đáp: ‘Tôi sẽ đi ra làm thần nói dối trong miệng các nhà tiên tri của ông ấy.’ Đức Giê-hô-va phán: ‘Phải, ngươi sẽ dụ nó được. Hãy đi làm như thế.’
Vậy, bây giờ xem kìa Đức Giê-hô-va đã đặt thần nói dối trong miệng các nhà tiên tri của vua, và Đức Giê-hô-va đã dự định giáng họa trên vua.”
Sê-đê-kia, con của Kê-na-na, đến gần vả vào má của Mi-chê và nói: “Thần Đức Giê-hô-va từ nơi ta đã đi đường nào mà đến nói với ngươi?”
Mi-chê đáp: “Kìa, trong ngày ngươi chạy từ phòng nầy qua phòng kia để lẩn trốn thì sẽ biết điều đó.”
Vua Y-sơ-ra-ên truyền lệnh: “Hãy bắt Mi-chê dẫn đến quan cai trị thành là A-môn và hoàng tử Giô-ách.
Hãy nói: ‘Vua truyền bỏ tù người nầy, lấy bánh và nước khổ nạn mà nuôi nó cho đến khi ta trở về bình an.’”
Mi-chê nói: “Nếu vua trở về bình an thì hẳn Đức Giê-hô-va đã không dùng tôi mà phán.” Rồi ông nói: “Hỡi toàn dân, hãy nghe điều đó!”
Vậy vua Y-sơ-ra-ên và Giô-sa-phát, vua Giu-đa, cùng tiến đánh Ra-mốt Ga-la-át.
Vua Y-sơ-ra-ên nói với Giô-sa-phát: “Tôi sẽ cải trang rồi ra trận, còn ngài cứ mặc vương bào.” Thế là, vua Y-sơ-ra-ên cải trang, rồi hai vua cùng ra trận.
Trước đó, vua A-ram đã ra lệnh cho các quan chỉ huy chiến xa rằng: “Đừng áp đánh ai, hoặc nhỏ hay lớn, nhưng chỉ tấn công một mình vua Y-sơ-ra-ên mà thôi.”
Khi các quan chỉ huy chiến xa thấy Giô-sa-phát thì nói rằng: “Đó là vua Y-sơ-ra-ên!” Họ liền quay sang tấn công vua. Giô-sa-phát kêu cứu và Đức Giê-hô-va giải cứu người. Đức Chúa Trời khiến họ rời khỏi người.
Vì khi các quan chỉ huy chiến xa thấy không phải là vua Y-sơ-ra-ên thì dừng lại, không đuổi theo nữa.
Bấy giờ, có một người tình cờ giương cung bắn trúng vua Y-sơ-ra-ên, nhằm ngay chỗ mối áo giáp đâu lại. A-háp nói với người đánh xe mình rằng: “Hãy quay cương lại, đem ta ra khỏi chiến trường vì ta bị thương nặng.”
Thế trận hôm ấy trở nên ác liệt, nhưng vua Y-sơ-ra-ên vẫn đứng vịn trên xe mình, đối mặt với quân A-ram cho đến chiều tối. Vào lúc mặt trời lặn thì vua chết.
Giô-sa-phát, vua Giu-đa, trở về cung điện tại Giê-ru-sa-lem cách bình an.
Nhà tiên kiến Giê-hu, con của Ha-na-ni, đi ra đón vua Giô-sa-phát và nói: “Có phải vua đã giúp đỡ kẻ gian ác và yêu kẻ ghét Đức Giê-hô-va không? Vì việc đó mà cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va giáng trên vua.
Nhưng trong vua còn có điều lành vì vua đã quét sạch khỏi xứ các thần A-sê-ra, và chuyên tâm tìm kiếm Đức Chúa Trời.”
Giô-sa-phát ở tại Giê-ru-sa-lem. Sau đó, vua lại đi thăm dân chúng từ Bê-e Sê-ba cho đến vùng đồi núi Ép-ra-im, để đem họ trở về cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ.
Vua lập các thẩm phán trong xứ, trong tất cả các thành kiên cố của Giu-đa, từ thành nầy đến thành kia.
Vua bảo các thẩm phán: “Hãy cẩn thận trong việc các ngươi làm, vì chẳng phải các ngươi xét xử vì loài người đâu nhưng là vì Đức Giê-hô-va; Ngài sẽ ở cùng các ngươi trong việc xét xử.
Vậy bây giờ phải kính sợ Đức Giê-hô-va, hãy cẩn thận mà làm, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta không chấp nhận sự bất chính, thiên vị, hay nhận hối lộ.”
Giô-sa-phát cũng chọn một số người Lê-vi, thầy tế lễ và trưởng gia tộc của Y-sơ-ra-ên, đặt họ tại Giê-ru-sa-lem để vì Đức Giê-hô-va mà xét xử và giải quyết các vụ kiện. Họ đều trở về Giê-ru-sa-lem phục vụ.
Vua truyền bảo họ: “Đây là cách các ngươi phải làm: Các ngươi phải kính sợ Đức Giê-hô-va, phải trung tín và tận tâm.
Nếu anh em các ngươi từ các thành đem đến các ngươi bất cứ vụ kiện nào, hoặc là chuyện đổ máu, hoặc vi phạm luật pháp, điều răn, mệnh lệnh và luật lệ, thì các ngươi phải khuyến cáo họ đừng phạm tội với Đức Giê-hô-va. Nếu không, cơn thịnh nộ của Ngài sẽ giáng trên các ngươi và anh em các ngươi. Làm như thế, các ngươi mới không mắc tội.
Nầy, thầy tế lễ cả A-ma-ria sẽ quản lý những việc thuộc về Đức Giê-hô-va; còn Xê-ba-đia, con của Ích-ma-ên, thủ lĩnh nhà Giu-đa, sẽ quản lý những việc thuộc về vua. Cũng có các viên chức người Lê-vi phục vụ giúp các ngươi. Hãy can đảm và làm việc! Đức Giê-hô-va luôn ở cùng người thiện lành.”
Sau đó, người Mô-áp và Am-môn cùng với một số người Mao-nít theo họ, kéo đến gây chiến với Giô-sa-phát.
Người ta đến báo tin cho Giô-sa-phát rằng: “Có một đám quân rất đông từ bờ biển bên kia, từ Ê-đôm đến tấn công bệ hạ; và nầy, chúng đang ở Hát-sát-sôn Tha-ma, cũng gọi là Ên-ghê-đi.”
Giô-sa-phát sợ hãi, quyết định tìm kiếm Đức Giê-hô-va, và kêu gọi toàn thể Giu-đa kiêng ăn.
Dân Giu-đa nhóm lại để kêu cầu Đức Giê-hô-va cứu giúp. Từ các thành Giu-đa, người ta đến tìm kiếm Đức Giê-hô-va.
Giô-sa-phát đứng giữa hội chúng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, phía trước sân mới trong đền thờ Đức Giê-hô-va
mà cầu nguyện rằng: “Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng con! Ngài chẳng phải là Chúa ở trên các tầng trời sao? Chẳng phải Ngài là Đấng quản trị muôn dân muôn nước sao? Tay Chúa đầy quyền thế và năng lực, không ai chống cự nổi.
Lạy Đức Chúa Trời chúng con! Chẳng phải Ngài đã đuổi dân xứ nầy khỏi dân Y-sơ-ra-ên của Ngài mà ban xứ ấy cho dòng dõi Áp-ra-ham, bạn của Ngài, làm sản nghiệp đời đời sao?
Họ đã ở đó và đã xây cất cho danh Ngài một đền thánh, và nói rằng:
‘Nếu tai họa giáng trên chúng con, hoặc gươm giáo, hoặc sự trừng phạt, hoặc dịch bệnh, hoặc nạn đói, thì chúng con sẽ đứng trước đền thờ nầy và trước mặt Chúa (vì danh Ngài ở trong đền thờ nầy), mà kêu cầu Ngài trong cảnh khốn cùng của chúng con, Ngài sẽ lắng nghe và giải cứu chúng con.’
Lúc dân Y-sơ-ra-ên rời Ai Cập, Chúa không cho họ đi vào xứ các dân Am-môn, Mô-áp và dân vùng núi Sê-i-rơ nên dân Y-sơ-ra-ên quay khỏi chúng và không tiêu diệt chúng.
Kìa, nay chúng báo trả chúng con bằng cách đến đuổi chúng con khỏi sản nghiệp mà Chúa đã ban cho chúng con.
Lạy Đức Chúa Trời chúng con! Ngài sẽ không trừng phạt chúng sao? Vì chúng con không đủ sức để đối địch cùng đám quân đông đảo đang đến tấn công chúng con. Chúng con không biết phải làm sao, nhưng mắt chúng con ngưỡng trông Chúa!”
Toàn thể Giu-đa, kể cả đàn bà trẻ con, đều đứng trước mặt Đức Giê-hô-va.
Bấy giờ giữa hội chúng, Thần Đức Giê-hô-va đến trên Gia-ha-xi-ên, con trai Xa-cha-ri, cháu Bê-na-gia, chắt Giê-hi-ên, chít Ma-tha-nia, là người Lê-vi thuộc về dòng A-sáp.
Ông nói: “Hỡi toàn thể người Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem cùng vua Giô-sa-phát, hãy nghe! Đức Giê-hô-va phán với các ngươi thế nầy: ‘Đừng sợ, đừng khiếp đảm trước đám quân đông đảo nầy, vì trận chiến nầy chẳng phải của các con đâu nhưng là của Đức Chúa Trời.
Ngày mai, hãy kéo xuống đánh chúng. Kìa, chúng đi lên dốc Xít. Các con sẽ gặp chúng ở cuối thung lũng đối diện hoang mạc Giê-ru-ên.
Trong trận nầy, các con khỏi phải chiến đấu. Hãy giữ vững vị trí và đứng yên mà xem sự giải cứu của Đức Giê-hô-va, Đấng ở với các con. Hỡi Giu-đa và Giê-ru-sa-lem! Đừng sợ, đừng khiếp đảm! Ngày mai hãy đi ra đón chúng, vì Đức Giê-hô-va ở cùng các con.’”
Giô-sa-phát cúi sấp mặt xuống đất. Toàn thể Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem đều sấp mặt xuống trước mặt Đức Giê-hô-va mà thờ lạy Ngài.
Người Lê-vi thuộc dòng Kê-hát và dòng Cô-ra đều đứng dậy lớn tiếng ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Sáng hôm sau, họ thức dậy sớm và kéo ra hoang mạc Thê-cô-a. Trong lúc họ kéo ra, Giô-sa-phát đứng lên và nói: “Hỡi người Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem, hãy nghe ta! Hãy tin cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi thì các ngươi sẽ được vững vàng; hãy tin các nhà tiên tri của Ngài thì các ngươi sẽ được thành công.”
Vua hội ý với dân chúng và lập những người ca hát để tôn ngợi Đức Giê-hô-va. Họ mặc áo lễ thánh vừa đi trước đoàn quân vừa ca ngợi Chúa rằng: “Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, Vì sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.”
Khi họ bắt đầu hát vang ca ngợi thì Đức Giê-hô-va cho quân mai phục tấn công đám quân đang tiến đánh Giu-đa gồm quân Am-môn, Mô-áp và người ở núi Sê-i-rơ, và khiến đám quân ấy bị thảm bại.
Quân Am-môn và Mô-áp nổi lên đánh người ở núi Sê-i-rơ để tiêu diệt chúng. Sau khi đã tiêu diệt quân ở Sê-i-rơ rồi, chúng quay lại chém giết lẫn nhau.
Khi dân Giu-đa đến tháp canh nơi hoang mạc, nhìn đám quân đông đảo thì thấy xác của địch quân nằm la liệt khắp đất, không một ai sống sót.
Giô-sa-phát và quân của vua đến thu chiến lợi phẩm gồm rất nhiều của cải và đồ trang sức quý giá trên xác quân địch. Họ cướp lấy cho mình đến khi không còn mang nổi nữa. Họ thu lượm chiến lợi phẩm trong ba ngày, vì rất nhiều.
Qua ngày thứ tư, họ nhóm họp tại thung lũng Bê-ra-ca, và ca ngợi Đức Giê-hô-va tại đó; vì vậy, người ta đặt tên chỗ nầy là thung lũng Bê-ra-ca cho đến ngày nay.
Toàn dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, do Giô-sa-phát dẫn đầu, trở về Giê-ru-sa-lem cách vui vẻ, vì Đức Giê-hô-va đã làm cho họ vui mừng bởi quân thù của họ bị đánh bại.
Họ tiến vào Giê-ru-sa-lem và lên đền thờ Đức Giê-hô-va trong tiếng đàn hạc, đàn lia và tiếng kèn.
Khi tất cả các vương quốc trên đất nghe rằng Đức Giê-hô-va đã chiến đấu chống lại quân thù của Y-sơ-ra-ên thì rất khiếp sợ Đức Chúa Trời.
Vậy, vương quốc của Giô-sa-phát được hòa bình vì Đức Chúa Trời ban cho vua được yên ổn mọi bề.
Giô-sa-phát lên làm vua nước Giu-đa khi được ba mươi lăm tuổi và cai trị hai mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là A-xu-ba, con gái của Si-li.
Vua đi theo đường lối của vua cha là A-sa, không sai lệch khỏi đường lối ấy và làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va.
Nhưng vua không dẹp bỏ các nơi cao, và dân chúng chưa hướng lòng về Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.
Các việc khác của Giô-sa-phát, từ đầu đến cuối, đều được chép trong ký sự của Giê-hu, con trai Ha-na-ni, và truyện ấy được đem vào sách các vua Y-sơ-ra-ên.
Sau đó, Giô-sa-phát, vua Giu-đa, liên kết với vua Y-sơ-ra-ên là A-cha-xia, một con người ăn ở rất gian ác.
Hai vua hợp tác với nhau đóng tàu đi Ta-rê-si; họ đóng tàu tại Ê-xi-ôn Ghê-be.
Khi ấy, Ê-li-ê-xe, con của Đô-đa-va ở Ma-rê-sa, nói tiên tri về vua Giô-sa-phát rằng: “Vì vua đã liên kết với A-cha-xia nên Đức Giê-hô-va phá hỏng công trình của vua.” Thật vậy, đoàn tàu bị vỡ nát, không thể đi Ta-rê-si được.
Giô-sa-phát an giấc cùng tổ phụ mình và được an táng bên cạnh họ trong thành Đa-vít. Thái tử Giô-ram lên ngôi kế vị.
Các con trai của Giô-sa-phát, em của Giô-ram, là A-xa-ria, Giê-hi-ên, Xa-cha-ri, A-xa-ria-u, Mi-ca-ên và Sê-pha-tia; tất cả những người nầy đều là con trai của Giô-sa-phát, vua Y-sơ-ra-ên.
Vua cha ban cho họ nhiều của cải bằng bạc và vàng, những báu vật, cùng với các thành kiên cố trong xứ Giu-đa. Nhưng Giô-sa-phát ban ngôi nước cho Giô-ram vì là trưởng nam.
Khi Giô-ram lên ngôi kế vị vua cha thì củng cố thế lực bằng cách dùng gươm giết tất cả các em và một số thủ lĩnh của Y-sơ-ra-ên.
Giô-ram lên ngôi vua khi được ba mươi hai tuổi, và cai trị tám năm tại Giê-ru-sa-lem.
Vua đi theo đường lối của các vua Y-sơ-ra-ên như nhà A-háp đã làm, vì vua cưới con gái A-háp làm vợ. Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va.
Nhưng vì Đức Giê-hô-va đã lập giao ước với Đa-vít, Ngài đã hứa rằng sẽ ban một ngọn đèn cho người và cho con cháu người đến đời đời nên Ngài không muốn diệt nhà Đa-vít.
Trong đời trị vì của Giô-ram, dân Ê-đôm nổi lên chống lại Giu-đa và lập vua riêng cho mình.
Giô-ram cùng với các quan chỉ huy và chiến xa kéo quân ra trận. Quân Ê-đôm bao vây vua và các quan chỉ huy chiến xa, nhưng trong đêm, vua trỗi dậy tấn công chúng.
Vậy, dân Ê-đôm nổi dậy chống ách thống trị của Giu-đa cho đến ngày nay. Cùng lúc ấy, dân thành Líp-na cũng nổi dậy chống ách thống trị của Giô-ram, vì vua đã lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.
Vua cũng lập những nơi cao trên các núi Giu-đa, khiến cư dân thành Giê-ru-sa-lem thờ lạy tà thần, và kéo dân Giu-đa vào con đường lầm lạc.
Nhà tiên tri Ê-li gửi thư cho Giô-ram nói rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Đa-vít, tổ phụ vua, đã phán: ‘Vì ngươi không đi theo đường lối của Giô-sa-phát, cha ngươi, lại cũng chẳng đi theo con đường của A-sa, vua Giu-đa,
nhưng đã đi theo đường lối của các vua Y-sơ-ra-ên, khiến cho người Giu-đa và cư dân thành Giê-ru-sa-lem thờ lạy tà thần như nhà A-háp đã làm. Hơn nữa, ngươi đã giết các em trong nhà cha ngươi, là những người tốt hơn ngươi.
Nầy, Đức Giê-hô-va sẽ đổ tai họa lớn trên dân tộc ngươi, trên con cái ngươi, trên các vợ ngươi, và trên tất cả tài sản của ngươi.
Còn chính ngươi sẽ mắc nhiều bệnh trong gan ruột, càng ngày càng trầm trọng cho đến khi gan ruột ngươi đứt rời ra.’”
Ngoài ra, Đức Giê-hô-va cũng thúc giục dân Phi-li-tin và dân Ả-rập, ở gần dân Cút, chống lại Giô-ram.
Chúng kéo lên đánh Giu-đa, xâm lấn xứ và chiếm đoạt tất cả tài sản của hoàng gia, bắt đi các hoàng tử cùng hoàng hậu và cung phi; ngoại trừ đứa con út là Giô-a-cha, không còn sót lại một đứa con trai nào cả.
Sau hết, Đức Giê-hô-va hành hại vua, khiến mắc bệnh nan y trong gan ruột.
Ngày tháng trôi qua, bệnh của vua kéo dài suốt hai năm. Cuối cùng, ruột gan của Giô-ram bị đứt rời ra, và vua chết trong cơn đau đớn khủng khiếp. Dân chúng không đốt ngọn lửa to để tang vua như đã làm cho các tổ phụ vua.
Giô-ram lên ngôi vua khi được ba mươi hai tuổi, và cai trị tám năm tại Giê-ru-sa-lem. Vua qua đời chẳng ai thương tiếc. Người ta chôn cất vua trong thành Đa-vít, nhưng không đặt trong lăng tẩm của các vua.
Cư dân thành Giê-ru-sa-lem tôn con trai út của Giô-ram là A-cha-xia lên ngôi kế vị vua cha, vì các con trai lớn của vua bị một toán quân cùng với người Ả-rập tiến vào trại quân Giu-đa giết sạch. Như vậy, con trai Giô-ram là A-cha-xia lên ngôi vua Giu-đa.
Khi lên ngôi, A-cha-xia được hai mươi hai tuổi và cai trị một năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là A-tha-li, cháu gái của Ôm-ri.
Vua cũng đi theo các đường lối của nhà A-háp, vì mẹ vua là kẻ bày mưu cho vua làm điều ác.
Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va như nhà A-háp đã làm. Vì sau khi vua cha qua đời, nhà A-háp làm kẻ bày mưu đưa vua đến chỗ diệt vong.
Nghe theo kế hoạch của chúng, A-cha-xia cùng với Giô-ram, con trai A-háp vua Y-sơ-ra-ên, kéo quân đến Ra-mốt Ga-la-át để tấn công Ha-xa-ên, vua A-ram. Quân A-ram làm cho Giô-ram bị thương.
Vua trở về Gít-rê-ên để chữa trị các vết thương khi giao chiến tại Ra-ma với Ha-xa-ên, vua A-ram. Lúc ấy, A-cha-xia, con của Giô-ram vua Giu-đa, đi xuống Gít-rê-ên thăm Giô-ram, con của A-háp.
Việc A-cha-xia đến thăm Giô-ram là bởi ý Đức Chúa Trời nhằm đưa A-cha-xia đến chỗ diệt vong. Thật vậy khi đến nơi, vua cùng Giô-ram kéo ra đánh Giê-hu, con của Nim-si, là người mà Đức Giê-hô-va đã xức dầu để tiêu diệt nhà A-háp.
Trong khi thi hành sự phán xét nhà A-háp, Giê-hu gặp các quan trưởng Giu-đa và các con trai của anh em A-cha-xia đang phục vụ vua thì liền giết chúng.
Ông cũng cho truy tìm A-cha-xia đang lẩn trốn tại Sa-ma-ri. Người ta bắt A-cha-xia dẫn đến cho Giê-hu, ông ra lệnh giết vua A-cha-xia. Họ chôn cất vua tử tế vì nói rằng: “Dù sao, ông ta cũng là con cháu của Giô-sa-phát, là người hết lòng tìm kiếm Đức Giê-hô-va.” Vậy nhà A-cha-xia chẳng còn ai có thể nắm quyền cai trị vương quốc.
Khi A-tha-li, mẹ của A-cha-xia, thấy con trai mình đã chết thì liền tiêu diệt tất cả hoàng tộc của nhà Giu-đa.
Nhưng Giô-sa-bát, con gái của vua Giô-ram, ẵm Giô-ách, con trai của A-cha-xia, lén đem ra khỏi các hoàng tử sắp bị giết, rồi giấu Giô-ách trong phòng ngủ cùng với người vú nuôi. Thế là Giô-sa-bát, con gái của vua Giô-ram, vợ thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa, đã giấu Giô-ách khuất mắt A-tha-li nên bà không giết Giô-ách được. Giô-sa-bát là chị của A-cha-xia.
Giô-ách ẩn náu với họ sáu năm trong đền thờ Đức Chúa Trời, suốt thời gian A-tha-li cai trị xứ sở.
Đến năm thứ bảy, Giê-hô-gia-đa lấy can đảm mời các chỉ huy trưởng trăm quân là: A-xa-ria, con của Giê-rô-ham; Ích-ma-ên, con của Giô-ha-nan; A-xa-ria, con của Ô-bết; Ma-a-xê-gia, con của A-đa-gia; và Ê-li-sa-phát, con của Xiếc-ri. Ông lập giao ước với những người ấy.
Họ đi khắp xứ Giu-đa, tập hợp người Lê-vi từ tất cả các thành Giu-đa và các trưởng gia tộc của Y-sơ-ra-ên. Rồi họ đến Giê-ru-sa-lem.
Toàn thể hội chúng lập giao ước với vua trong đền thờ Đức Chúa Trời. Giê-hô-gia-đa nói với họ rằng: “Nầy, con trai của vua, người sẽ cai trị theo lời Đức Giê-hô-va đã phán về con cháu Đa-vít.
Đây là điều các ngươi sẽ làm: Một phần ba trong các ngươi, tức các thầy tế lễ và người Lê-vi đang phiên trực ngày sa-bát sẽ giữ cửa;
một phần ba sẽ vào trong cung vua; và một phần ba ở cổng Giê-sốt. Còn tất cả dân chúng sẽ ở nơi hành lang của đền thờ Đức Giê-hô-va.
Đừng để ai vào trong đền thờ Đức Giê-hô-va, ngoại trừ các thầy tế lễ và người Lê-vi phục vụ, chỉ họ mới được vào, vì họ thánh sạch. Còn tất cả dân chúng đều phải tuân giữ mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va.
Người Lê-vi sẽ đứng chung quanh vua, ai nấy vũ khí sẵn sàng trong tay, bất cứ ai vào đền thờ sẽ bị giết. Các ngươi hãy theo sát bên vua khi vua đi ra đi vào.”
Người Lê-vi và toàn thể Giu-đa đều làm theo mọi điều thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa đã truyền. Ai nấy đều giữ người của mình lại, dù là người đến phiên trực ngày sa-bát hay người mãn phiên trực ngày sa-bát, vì thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa không cho phép ai ra về.
Thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa lấy giáo, khiên nhỏ và khiên lớn của vua Đa-vít để trong đền thờ Đức Chúa Trời phát cho các chỉ huy trưởng trăm quân.
Ông bố trí lực lượng, mỗi người cầm vũ khí trong tay đứng chung quanh vua, dọc theo bàn thờ và đền thờ, từ bên phải cho đến bên trái của đền thờ.
Họ đưa thái tử Giô-ách ra, đội vương miện trên đầu, và trao cuộn Chứng Ước cho người rồi tôn người làm vua. Giê-hô-gia-đa và các con trai ông xức dầu cho người, rồi tung hô: “Vua vạn tuế!”
Khi A-tha-li nghe tiếng dân chúng vừa chạy vừa chúc tụng vua thì bà đến gặp dân chúng trong đền thờ Đức Giê-hô-va.
Bà nhìn thì thấy vua đứng trên bục ngay lối vào, các chỉ huy trưởng và những người thổi kèn đứng gần bên vua, còn toàn dân trong xứ đều vui mừng thổi kèn, và những người ca hát với nhạc khí phụ họa đều cùng nhau chúc tụng. Thấy thế, A-tha-li liền xé áo mình và la lên: “Phản trắc! Phản trắc!”
Thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa bảo các chỉ huy trưởng trăm quân, là những người có nhiệm vụ chỉ huy các đạo quân, đi ra và truyền cho họ: “Hãy dẫn bà ấy ra khỏi đền thờ, giữa hàng quân! Ai theo bà ấy thì sẽ bị giết bằng gươm.” Vì thầy tế lễ đã dạy rằng: “Đừng giết bà ấy trong đền thờ Đức Giê-hô-va.”
Họ bắt và giải bà theo lối vào Cổng Ngựa của cung vua, rồi giết bà tại đó.
Giê-hô-gia-đa lập giao ước giữa ông với toàn dân và với vua, để họ cam kết làm dân của Đức Giê-hô-va.
Sau đó, tất cả dân chúng đi đến miếu thờ Ba-anh để phá hủy nó, đập bể bàn thờ và hình tượng nó rồi giết Ma-than, thầy tế lễ của Ba-anh, ngay trước bàn thờ.
Theo phiên thứ mà Đa-vít đã chỉ định trong đền thờ Đức Giê-hô-va, Giê-hô-gia-đa giao trách nhiệm phục vụ đền thờ Đức Giê-hô-va cho những thầy tế lễ thuộc dòng Lê-vi, để họ dâng các tế lễ thiêu lên Đức Giê-hô-va như đã chép trong luật pháp của Môi-se, và ca hát vui mừng như cách Đa-vít đã ấn định.
Ông cũng đặt những người canh gác các cổng đền thờ Đức Giê-hô-va, không cho người bị ô uế vì bất cứ lý do gì vào đền thờ.
Cuối cùng, ông hướng dẫn các chỉ huy trưởng trăm quân, các nhà quý tộc, và các nhà lãnh đạo cùng toàn dân trong xứ đi rước vua từ đền thờ Đức Giê-hô-va, qua cổng trên, đưa vào cung vua, rồi đặt vua ngồi trên ngai vàng.
Toàn dân trong xứ đều vui mừng, và kinh thành được yên ổn sau khi họ đã giết A-tha-li bằng gươm.
Khi lên ngôi vua, Giô-ách được bảy tuổi và cai trị bốn mươi năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Xi-bia quê ở Bê-e Sê-ba.
Giô-ách làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va suốt thời gian thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa còn sống.
Giê-hô-gia-đa cưới hai vợ cho Giô-ách, vua sinh được các con trai và con gái.
Sau một thời gian, Giô-ách có ý định trùng tu đền thờ Đức Giê-hô-va.
Vua triệu tập các thầy tế lễ, người Lê-vi và bảo: “Hãy đi khắp các thành Giu-đa, thu tiền bạc trong toàn dân Y-sơ-ra-ên để hằng năm trùng tu đền thờ Đức Chúa Trời. Các ngươi hãy nhanh chóng làm việc nầy.” Nhưng người Lê-vi cứ trì hoãn.
Vua mời thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-gia-đa đến và hỏi: “Sao ông không đòi những người Lê-vi đem nộp số tiền thuế từ Giu-đa và Giê-ru-sa-lem mà Môi-se, đầy tớ của Đức Giê-hô-va, đã ấn định cho hội chúng Y-sơ-ra-ên phải nộp cho Lều Chứng Ước?”
Vì các con trai của A-tha-li, người phụ nữ độc ác kia, đã xâm phạm đền thờ Đức Chúa Trời; chúng lại còn dùng các vật thánh của đền thờ Đức Giê-hô-va cho thần Ba-anh.
Vua truyền người ta đóng một cái rương đặt phía ngoài cửa đền thờ Đức Giê-hô-va.
Rồi người ta loan báo khắp xứ Giu-đa và thành Giê-ru-sa-lem rằng mỗi người phải đem dâng cho Đức Giê-hô-va tiền thuế mà Môi-se, đầy tớ của Đức Chúa Trời, đã ấn định cho Y-sơ-ra-ên trong hoang mạc.
Tất cả những người lãnh đạo và toàn dân đều vui mừng đem tiền thuế đến bỏ vào trong rương cho đến khi đầy rương.
Khi nào thấy trong rương đầy bạc thì người Lê-vi đem giao cho viên chức của vua. Thư ký của vua và người của thầy tế lễ thượng phẩm đến trút rương ra, rồi đem để lại chỗ cũ. Mỗi ngày, họ làm như vậy và thu được rất nhiều bạc.
Vua và Giê-hô-gia-đa giao bạc ấy cho những người coi sóc công việc trong đền thờ Đức Giê-hô-va. Họ thuê thợ đá và thợ mộc để trùng tu đền thờ Đức Giê-hô-va; họ cũng thuê thợ sắt và thợ đồng để sửa chữa đền thờ.
Vậy các thợ tiến hành công việc, và nhờ đó việc trùng tu được hoàn thành. Họ sửa lại đền thờ Đức Chúa Trời như cũ và làm cho vững chắc.
Khi đã làm xong, họ đem bạc còn dư lại đến trước mặt vua và Giê-hô-gia-đa. Người ta dùng bạc ấy làm các vật dụng trong đền thờ Đức Giê-hô-va, tức là các vật dùng vào việc thờ phượng và dâng tế lễ thiêu, chén và những vật dụng bằng vàng bằng bạc. Trọn đời Giê-hô-gia-đa người ta thường xuyên dâng tế lễ thiêu tại đền thờ Đức Giê-hô-va.
Bấy giờ, Giê-hô-gia-đa đã già, tuổi rất cao và qua đời; lúc qua đời, ông được một trăm ba mươi tuổi.
Người ta an táng ông trong thành Đa-vít chung với các vua, vì ông có công với Y-sơ-ra-ên trong sự phục vụ Đức Chúa Trời và trùng tu đền thờ của Ngài.
Sau khi Giê-hô-gia-đa đã qua đời, các nhà lãnh đạo Giu-đa đến yết kiến vua. Từ đó, vua nghe theo lời của họ,
lìa bỏ đền thờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình mà phục vụ các thần A-sê-ra và các hình tượng. Vì tội lỗi ấy, cơn thịnh nộ của Chúa giáng trên Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
Đức Giê-hô-va sai các nhà tiên tri đến với họ để dẫn họ trở lại cùng Đức Giê-hô-va, nhưng họ không chịu nghe.
Thần của Đức Chúa Trời đến trên Xa-cha-ri, con của thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa. Ông đứng lên trước mặt dân chúng và nói: “Đức Chúa Trời phán: ‘Tại sao các ngươi phạm các điều răn của Đức Giê-hô-va? Các ngươi sẽ chẳng thành công vì đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va, và Đức Giê-hô-va cũng đã lìa bỏ các ngươi.’”
Họ hợp nhau chống lại ông, và theo lệnh vua, họ ném đá ông trong hành lang của đền thờ Đức Giê-hô-va.
Như vậy, vua Giô-ách không những quên ơn của Giê-hô-gia-đa, cha của Xa-cha-ri, đã làm cho mình mà còn giết con trai của ông ấy. Lúc sắp chết, Xa-cha-ri nói: “Nguyện Đức Giê-hô-va xem xét và báo ứng!”
Vào cuối năm ấy, quân A-ram kéo lên đánh Giô-ách. Chúng tiến đến Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, giết tất cả các nhà lãnh đạo trong dân, rồi gửi toàn bộ chiến lợi phẩm về cho vua mình tại Đa-mách.
Thực ra, quân A-ram kéo đến với một số ít người, nhưng Đức Giê-hô-va đã phó một đạo quân rất đông vào tay chúng, vì họ đã lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình. Như vậy, Giô-ách đã bị trừng phạt.
Khi quân A-ram đã rút đi, để lại Giô-ách bị thương tích trầm trọng. Các thuộc hạ của vua âm mưu chống lại vua vì nợ máu của con trai thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa. Họ giết chết vua ngay trên giường. Người ta chôn vua trong thành Đa-vít, nhưng không phải trong lăng tẩm các vua.
Đây là những kẻ đã chống lại vua: Xa-bát, con của Si-mê-át là phụ nữ Am-môn; và Giô-xa-bát, con của Sim-rít là phụ nữ Mô-áp.
Còn về việc các con trai của vua, các lời tiên tri chống lại vua, và việc trùng tu đền thờ Đức Chúa Trời đều được chép trong phần bình luận sách Các Vua. A-ma-xia, con trai vua, lên ngôi kế vị.
Khi lên ngôi vua, A-ma-xia được hai mươi lăm tuổi và cai trị hai mươi chín năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Giô-a-đan, quê ở Giê-ru-sa-lem.
Vua làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va, nhưng lòng không được trọn lành.
Khi vương quốc được vững chắc thì vua xử tử những thuộc hạ đã giết cha mình.
Nhưng vua không xử tử các con của họ theo điều đã chép trong sách luật pháp của Môi-se, đúng như Đức Giê-hô-va đã phán dặn: “Cha mẹ sẽ không bị xử tử vì tội của con cái, con cái cũng sẽ không bị xử tử vì tội của cha mẹ; nhưng mỗi người sẽ bị xử tử vì tội của mình.”
A-ma-xia tập hợp người Giu-đa theo họ hàng của tổ phụ Giu-đa và Bên-gia-min, và lập những chỉ huy trưởng nghìn quân và trăm quân. Vua kiểm tra dân số từ hai mươi tuổi trở lên, được tất cả là ba trăm nghìn người tuyển chọn, có thể cầm giáo và khiên ra trận được.
Vua cũng thuê một trăm nghìn dũng sĩ trong Y-sơ-ra-ên, giá ba nghìn ký bạc.
Nhưng có người của Đức Chúa Trời đến nói với vua rằng: “Vua đừng kéo đạo quân Y-sơ-ra-ên đó đi với vua, vì Đức Giê-hô-va không ở cùng Y-sơ-ra-ên, chẳng ở cùng các con cháu Ép-ra-im.
Còn nếu vua cứ đi, thì dẫu vua có chiến đấu mạnh mẽ, Đức Chúa Trời cũng sẽ khiến vua thất bại trước mặt quân thù, vì Đức Chúa Trời có quyền giúp cho thắng và cũng có quyền làm cho bại.”
A-ma-xia nói với người Đức Chúa Trời: “Còn về ba nghìn ký bạc mà ta đã phát cho đạo quân Y-sơ-ra-ên thì phải làm sao?” Người của Đức Chúa Trời đáp: “Đức Giê-hô-va có thể ban cho vua nhiều hơn số ấy.”
Vậy, A-ma-xia tách riêng ra đạo quân đã từ Ép-ra-im đến cùng vua, và cho chúng trở về nhà. Vì thế, chúng rất tức giận Giu-đa và trở về nhà với lòng căm phẫn.
A-ma-xia mạnh dạn kéo quân của mình đến thung lũng Muối và đánh giết mười nghìn người Sê-i-rơ.
Quân Giu-đa cũng bắt sống được mười nghìn người, đem chúng lên trên đỉnh vách đá, rồi từ trên đỉnh đó xô chúng xuống. Tất cả đều bị chết tan xác.
Còn đạo quân mà A-ma-xia cho trở về, không được ra trận với vua thì xông vào các thành Giu-đa, từ Sa-ma-ri cho đến Bết Hô-rôn, đánh giết ba nghìn người tại đó và cướp lấy nhiều của cải.
Sau khi đánh thắng quân Ê-đôm, A-ma-xia trở về, đem theo các thần của người Sê-i-rơ, lập lên làm thần của mình, quỳ lạy và xông hương trước mặt chúng.
Vì vậy, Đức Giê-hô-va nổi giận cùng A-ma-xia, Ngài sai một nhà tiên tri đến nói với vua: “Tại sao ngươi đi tìm kiếm các thần đã không giải cứu được dân của nó khỏi tay ngươi?”
Trong khi nhà tiên tri còn đang nói thì vua ngắt lời: “Chúng ta có đặt ngươi làm cố vấn hoàng gia đâu? Thôi, hãy im đi! Ngươi muốn chết sao?” Nhà tiên tri ngưng, nhưng rồi lại nói: “Tôi biết rằng Đức Giê-hô-va đã quyết định hủy diệt vua, vì vua đã làm điều ấy và không nghe lời khuyên của tôi.”
Sau khi hội ý với các cố vấn, A-ma-xia, vua Giu-đa, sai sứ giả đến nói với Giô-ách, con của Giô-a-cha, cháu Giê-hu, vua Y-sơ-ra-ên, rằng: “Hãy đến, để chúng ta đối mặt nhau.”
Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên, sai sứ đến nói với A-ma-xia, vua Giu-đa: “Cây gai ở Li-ban có sai sứ đến nói với cây bá hương ở Li-ban rằng: ‘Hãy gả con gái ngươi cho con trai ta làm vợ.’ Nhưng có một con thú đồng ở Li-ban đi ngang qua giày đạp cây gai đi.
Ngươi nói: ‘Nầy, ta đã đánh Ê-đôm!’ Lòng ngươi lại tự cao, tự đại. Bây giờ, hãy ở nhà đi. Tại sao làm cho mình mang họa và khiến cho ngươi và cả Giu-đa phải sụp đổ?”
A-ma-xia không chịu nghe, vì điều đó do ý Đức Chúa Trời để phó chúng vào tay kẻ thù, bởi chúng đã tìm kiếm các thần của Ê-đôm.
Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên, kéo quân lên dàn trận đối diện với A-ma-xia, vua Giu-đa, tại Bết-sê-mết trong xứ Giu-đa.
Quân Giu-đa bị quân Y-sơ-ra-ên đánh bại, họ chạy trốn, ai về trại nấy.
Tại Bết-sê-mết, vua Y-sơ-ra-ên là Giô-ách bắt A-ma-xia, vua Giu-đa, con của Giô-ách, cháu Giô-a-cha, giải về Giê-ru-sa-lem. Vua Giô-ách đập phá vách thành Giê-ru-sa-lem từ cửa Ép-ra-im cho đến cửa Góc, một đoạn dài khoảng hai trăm mét.
Vua lấy hết vàng bạc và những vật dụng trong đền thờ Đức Chúa Trời do Ô-bết Ê-đôm coi giữ, cùng các báu vật của hoàng cung. Vua Giô-ách cũng bắt các con tin rồi trở về Sa-ma-ri.
Sau khi vua Giô-ách, con của Giô-a-cha, vua Y-sơ-ra-ên, băng hà thì A-ma-xia, con của Giô-ách, vua Giu-đa, còn sống mười lăm năm nữa.
Các việc khác của A-ma-xia, từ đầu đến cuối, đều được chép trong sách Các Vua Giu-đa và Y-sơ-ra-ên.
Từ khi A-ma-xia lìa bỏ Đức Giê-hô-va, có người âm mưu phản lại vua tại Giê-ru-sa-lem. Vua phải chạy trốn đến La-ki, nhưng người ta đuổi theo vua đến La-ki và giết vua tại đó.
Rồi họ dùng ngựa chở xác vua về chôn trong thành Giu-đa chung với các tổ phụ vua.
Toàn dân Giu-đa tôn Ô-xia lên làm vua thay thế vua cha là A-ma-xia, lúc Ô-xia mới được mười sáu tuổi.
Sau khi vua cha an giấc với các tổ phụ, Ô-xia xây cất Ê-lốt và khôi phục thành nầy cho Giu-đa.
Khi lên ngôi vua, Ô-xia được mười sáu tuổi và cai trị năm mươi hai năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Giê-cô-lia, quê ở Giê-ru-sa-lem.
Vua làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va, đúng như những gì vua cha là A-ma-xia đã làm.
Suốt thời Xa-cha-ri là người thông hiểu các khải tượng của Đức Chúa Trời, Ô-xia hết lòng tìm kiếm Đức Chúa Trời. Vua tìm kiếm Đức Chúa Trời bao lâu thì Ngài khiến vua được may mắn bấy lâu.
Vua kéo quân ra chiến đấu với quân Phi-li-tin, đánh đổ các tường thành Gát, Giáp-nê và Ách-đốt. Vua xây cất các thành trong địa phận Ách-đốt và đất người Phi-li-tin.
Đức Chúa Trời giúp đỡ vua thắng dân Phi-li-tin, dân Ả-rập ở Gu-rơ Ba-anh và dân Ma-ôn.
Dân Am-môn phải triều cống Ô-xia. Danh tiếng vua đồn đến tận Ai Cập vì vua đã trở nên rất cường thịnh.
Ô-xia xây các tháp tại Giê-ru-sa-lem, trên cổng Góc, trên cổng Thung Lũng và trên góc tường, làm cho các tháp ấy vững chắc.
Vua cũng xây các tháp trong hoang mạc, đào nhiều giếng vì vua có nhiều súc vật cả ở miền Sơ-phê-la lẫn trên miền cao. Vua cũng có những người làm ruộng, kẻ trồng nho trên đồi núi và tại Cạt-mên, vì vua ưa chuộng nông nghiệp.
Ô-xia có một đạo quân sẵn sàng chiến đấu, được tổ chức thành đội ngũ, theo số người mà thư ký Giê-i-ên và quan tướng Ma-a-xê-gia đã tuyển mộ, và được đặt dưới quyền Ha-na-nia, một đại thần của vua.
Các trưởng gia tộc đều là những dũng sĩ, tổng số là hai nghìn sáu trăm người.
Họ chỉ huy một đạo quân gồm ba trăm lẻ bảy nghìn năm trăm người, tất cả đều thiện chiến và dũng cảm, giúp vua đối địch với quân thù.
Ô-xia trang bị cho tất cả đạo quân đủ khiên, giáo, mũ chiến, áo giáp, cung và ná bắn đá.
Tại Giê-ru-sa-lem, vua cho các kỹ sư chế tạo máy móc đặt trên các tháp canh và trên thành lũy để bắn tên và đá lớn. Danh tiếng vua đồn ra rất xa, vì vua được Chúa giúp đỡ cách lạ lùng, cho đến khi trở nên cường thịnh.
Nhưng khi đã trở nên cường thịnh thì Ô-xia sinh lòng kiêu ngạo khiến vua suy vong. Vua phạm tội với Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình vì đã vào trong đền thờ Đức Giê-hô-va xông hương trên bàn thờ xông hương.
Thầy tế lễ A-xa-ria cùng với tám mươi thầy tế lễ, đều là người mạnh dạn, theo vua đi vào đền thờ.
Họ ngăn cản vua Ô-xia và nói: “Tâu vua Ô-xia, chẳng phải việc của vua là xông hương cho Đức Giê-hô-va đâu, nhưng đó là việc của những thầy tế lễ thuộc dòng dõi A-rôn, là những người đã được biệt riêng ra thánh để xông hương. Xin vua ra khỏi đền thánh vì vua đã phạm tội, và vì việc nầy, Đức Giê-hô-va sẽ không còn cho vua được vẻ vang nữa đâu.”
Nghe thế, Ô-xia nổi giận. Lúc ấy, vua đang cầm bình hương trong tay định xông hương. Trong khi vua nổi giận cùng các thầy tế lễ thì phong hủi nổi lên nơi trán vua trước mặt các thầy tế lễ trong đền thờ Đức Giê-hô-va, gần bên bàn thờ xông hương.
Thầy tế lễ thượng phẩm A-xa-ria và tất cả các thầy tế lễ khác thấy vua bị bệnh phong hủi nơi trán thì vội vàng đưa vua ra khỏi đó; và chính vua cũng hối hả đi ra vì Đức Giê-hô-va trừng phạt vua.
Ô-xia bị bệnh phong hủi cho đến ngày băng hà, và vì bị phong hủi nên phải ở trong một nhà riêng, không còn được vào đền thờ Đức Giê-hô-va nữa. Vì thế, thái tử Giô-tham phải lo việc triều chính và cai trị dân trong xứ.
Nhà tiên tri Ê-sai, con của A-mốt, đã ghi chép các công việc khác của Ô-xia, từ đầu đến cuối.
Ô-xia an giấc cùng tổ phụ mình, và người ta an táng vua gần bên các tổ phụ tại khu lăng tẩm của các vua, vì nói rằng: “Vua bị bệnh phong hủi.” Thái tử Giô-tham lên ngôi kế vị.
Khi lên ngôi vua, Giô-tham được hai mươi lăm tuổi và cai trị mười sáu năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Giê-ru-sa, con gái của Xa-đốc.
Vua làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va đúng như những gì vua cha là Ô-xia đã làm; nhưng vua không vào đền thờ Đức Giê-hô-va, còn dân chúng thì vẫn cứ bại hoại.
Vua xây cổng trên của đền thờ Đức Giê-hô-va, và xây dựng nhiều công trình trên tường thành Ô-phên.
Vua cũng xây dựng các thành trong miền đồi núi Giu-đa, và xây dựng các pháo đài, tháp canh ở miền rừng rậm.
Vua giao chiến với vua dân Am-môn và đánh bại chúng. Trong năm đó, dân Am-môn nộp cho vua khoảng ba nghìn ký bạc, hai triệu hai trăm nghìn lít lúa mì và hai triệu hai trăm nghìn lít lúa mạch. Dân Am-môn cũng nộp cho vua số phẩm vật ấy trong năm thứ nhì và năm thứ ba.
Vậy, Giô-tham trở nên cường thịnh vì vua kiên định đường lối mình trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời.
Các việc khác của Giô-tham, tất cả các cuộc chiến và đường lối của vua đều được chép trong sách Các Vua Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.
Khi lên làm vua, Giô-tham được hai mươi lăm tuổi và cai trị mười sáu năm tại Giê-ru-sa-lem.
Vua an giấc cùng tổ phụ mình; người ta an táng vua trong thành Đa-vít. Thái tử A-cha lên ngôi kế vị.
Khi lên ngôi vua, A-cha được hai mươi tuổi và cai trị mười sáu năm tại Giê-ru-sa-lem. Vua không làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va như tổ phụ vua là Đa-vít đã làm,
nhưng đi theo đường lối của các vua Y-sơ-ra-ên. Vua đúc tượng cho thần Ba-anh,
xông hương trong thung lũng Bên Hi-nôm, và thiêu con cái mình làm tế lễ theo thói tục ghê tởm của các dân mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi dân Y-sơ-ra-ên.
Vua dâng sinh tế và xông hương trên các nơi cao, trên các ngọn đồi, và dưới các cây xanh.
Vì thế, Giê-hô-va Đức Chúa Trời phó vua A-cha vào tay vua A-ram. Quân A-ram đánh bại vua A-cha và bắt rất nhiều người của vua làm tù binh dẫn về Đa-mách. Vua cũng bị phó vào tay vua Y-sơ-ra-ên và bị tổn thất nặng nề.
Trong một ngày, Phê-ca, con của Rê-ma-lia, giết một trăm hai mươi nghìn người Giu-đa, tất cả đều là những dũng sĩ, vì chúng đã lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.
Xiếc-ri, một dũng sĩ ở đất Ép-ra-im, giết hoàng tử Ma-a-xê-gia, quan quản lý cung điện A-ri-kham, và quan tể tướng Ên-ca-na.
Người Y-sơ-ra-ên bắt trong số anh em mình hai trăm nghìn tù binh, gồm cả đàn bà, con trai, con gái. Họ cũng lấy rất nhiều của cải đem về Sa-ma-ri.
Tại đó, có một nhà tiên tri của Đức Giê-hô-va tên là Ô-đết. Ông ra đón đạo quân đang trở về Sa-ma-ri, và nói với họ: “Nầy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi nổi giận cùng Giu-đa nên Ngài đã phó chúng vào tay các ngươi, và các ngươi đã giết chúng trong cơn cuồng nộ ngất trời.
Bây giờ, các ngươi lại định bắt các người Giu-đa và người Giê-ru-sa-lem làm tôi trai tớ gái cho các ngươi sao? Còn về các ngươi, chẳng phải chính các ngươi cũng đã phạm tội với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi sao?
Vậy bây giờ, hãy nghe ta mà thả những tù binh mà các ngươi đã bắt từ anh em mình, vì cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va sẽ giáng trên các ngươi.”
Lúc ấy, có một số trong các nhà lãnh đạo của dân Ép-ra-im như A-xa-ria, con của Giô-ha-nan; Bê-rê-kia, con của Mê-si-lê-mốt; Ê-xê-chia, con của Sa-lum; và A-ma-sa, con của Hát-lai, đồng đứng lên chống lại những người vừa đánh trận trở về.
Họ nói: “Các ngươi đừng đem những tù binh vào đây, vì làm như thế, các ngươi khiến cho chúng ta mắc tội với Đức Giê-hô-va, và làm cho tội ác chúng ta càng gia tăng. Vì tội lỗi chúng ta thật lớn và cơn thịnh nộ dữ dội đang ở trên Y-sơ-ra-ên.”
Vậy quân lính thả các tù binh và bỏ lại chiến lợi phẩm trước mặt các nhà lãnh đạo và toàn thể hội chúng.
Những người đã kể tên trên đây liền đứng dậy dẫn các tù binh ra, lấy quần áo trong chiến lợi phẩm mặc cho những người bị trần truồng, mang giày, cho ăn uống, xức dầu cho họ, và cho những người yếu sức được cưỡi lừa, rồi đưa họ về cùng anh em mình đến tận Giê-ri-cô, thành cây chà là. Sau đó, những người ấy trở về Sa-ma-ri.
Trong lúc đó, vua A-cha sai sứ đi cầu cứu vua A-si-ri,
vì dân Ê-đôm đã trở lại đánh Giu-đa và bắt dẫn đi nhiều tù binh.
Dân Phi-li-tin cũng xâm lấn các thành trong miền Sơ-phê-la và Nê-ghép thuộc Giu-đa. Chúng chiếm Bết-sê-mết, A-gia-lôn, Ghê-đê-rốt, Sô-cô và các vùng phụ cận, Thim-na và các vùng phụ cận, Ghim-xô và các vùng phụ cận, rồi chúng định cư tại các nơi ấy.
Do tội của A-cha, vua Giu-đa, Đức Giê-hô-va đã hạ Giu-đa xuống, vì A-cha đã khiến cho dân Giu-đa sống phóng đãng và phạm tội nghiêm trọng với Đức Giê-hô-va.
Tiếc-lát Phin-nê-se, vua A-si-ri, thay vì đến tiếp cứu, đã tấn công và gây khốn khổ cho A-cha.
A-cha lấy các vật dụng trong đền thờ Đức Giê-hô-va, trong cung vua, và trong nhà các quan chức giao cho vua A-si-ri nhưng vua ấy cũng không tiếp cứu.
Trong lúc hoạn nạn, vua A-cha lại càng phạm tội với Đức Giê-hô-va.
Vua dâng sinh tế cho các thần của dân Đa-mách, là dân đã đánh bại vua, vì nghĩ rằng: “Các thần của vua A-ram đã phù hộ họ, nên ta sẽ dâng sinh tế cho các thần ấy để các thần cũng phù hộ ta nữa.” Thế nhưng, chính các thần ấy là nguyên nhân khiến vua và toàn thể Y-sơ-ra-ên phải suy vong.
A-cha thu góp các vật dụng trong đền thờ Đức Chúa Trời và đập vỡ hết, rồi đóng các cửa của đền thờ Đức Giê-hô-va. Sau đó, vua lập cho mình những bàn thờ trong mọi ngõ ngách của thành Giê-ru-sa-lem.
Trong các thành xứ Giu-đa, vua dựng lên những nơi cao để xông hương cho các thần khác và chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.
Các việc khác và cách ăn ở của vua, từ đầu đến cuối, đều được chép trong sách Các Vua Giu-đa và Y-sơ-ra-ên.
A-cha an giấc cùng tổ phụ mình. Người ta chôn cất vua trong thành Giê-ru-sa-lem, nhưng vua không được chôn nơi lăng tẩm các vua Y-sơ-ra-ên. Thái tử Ê-xê-chia lên ngôi kế vị.
Khi lên ngôi vua, Ê-xê-chia được hai mươi lăm tuổi và cai trị hai mươi chín năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là A-bi-gia, con gái của Xa-cha-ri.
Vua làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va đúng như mọi điều tổ phụ vua là Đa-vít đã làm.
Vào tháng giêng năm thứ nhất đời trị vì, vua mở các cửa đền thờ Đức Giê-hô-va và sửa chữa lại.
Vua triệu tập các thầy tế lễ và người Lê-vi đến, tập hợp họ tại quảng trường phía đông,
và nói: “Hỡi các người Lê-vi, hãy nghe ta! Bây giờ, hãy thánh hóa chính mình, thánh hóa đền thờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi, và loại những điều ô uế ra khỏi đền thánh đi.
Vì tổ phụ chúng ta đã phạm tội, làm điều ác dưới mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, lìa bỏ Ngài, ngoảnh mặt khỏi nơi ngự của Đức Giê-hô-va và quay lưng lại với Ngài.
Họ cũng đóng các cửa hành lang, tắt các đèn, không xông hương và không dâng tế lễ thiêu tại Nơi Thánh cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Vì vậy, cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va giáng trên Giu-đa và Giê-ru-sa-lem; Ngài phó họ vào sự sợ hãi, kinh hoàng và mỉa mai như các ngươi đã thấy tận mắt.
Chính vì thế mà tổ phụ chúng ta bị ngã chết vì gươm, còn con trai, con gái và vợ chúng ta bị bắt làm tù binh.
Giờ đây, ta quyết định lập một giao ước với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên để cơn thịnh nộ của Ngài rời khỏi chúng ta.
Các con của ta ơi, đừng thờ ơ nữa! Vì Đức Giê-hô-va đã chọn các con làm đầy tớ Ngài để đứng trước mặt Ngài, phục vụ và xông hương cho Ngài.”
Những người Lê-vi liền hưởng ứng: Về dòng Kê-hát có Ma-hát con của A-ma-sai, và Giô-ên con của A-xa-ria; về dòng Mê-ra-ri có Kích con của Áp-đi, và A-xa-ria con của Giê-ha-lê-le; về dòng Ghẹt-sôn có Giô-a con của Xim-ma, và Ê-đen con của Giô-a;
về dòng Ê-lít-sa-phan có Sim-ri và Giê-i-ên; về dòng A-sáp có Xa-cha-ri và Ma-tha-nia;
về dòng Hê-man có Giê-hi-ên và Si-mê-i; về dòng Giê-đu-thun có Sê-ma-gia và U-xi-ên.
Họ tập hợp anh em mình lại, thánh hóa chính mình và anh em mình, rồi theo lệnh vua truyền và đúng như lời phán của Đức Giê-hô-va, họ đến thanh tẩy đền thờ Đức Giê-hô-va.
Các thầy tế lễ đi vào bên trong đền thờ Đức Giê-hô-va để thanh tẩy. Họ đem mọi thứ ô uế tìm thấy trong đền thờ Đức Giê-hô-va bỏ ra ngoài hành lang của đền thờ, rồi người Lê-vi lấy đem ném ra ngoài thung lũng Xết-rôn.
Ngày mồng một tháng giêng, họ bắt đầu việc thanh tẩy đền thờ. Ngày mồng tám tháng ấy, họ thanh tẩy đến hành lang của đền thờ, và tiếp tục thanh tẩy đền thờ Đức Giê-hô-va thêm tám ngày nữa. Đến ngày mười sáu tháng giêng thì công việc hoàn tất.
Họ vào cung vua Ê-xê-chia và tâu: “Chúng tôi đã thanh tẩy toàn bộ đền thờ Đức Giê-hô-va, bàn thờ tế lễ thiêu và các vật dụng, bàn bánh cung hiến và các vật dụng.
Còn tất cả các vật dụng mà lúc trị vì vua A-cha đã phản bội Chúa mà ném bỏ, thì chúng tôi đã tìm lại được, tẩy uế và sắp đặt lại trước bàn thờ của Đức Giê-hô-va.”
Vua Ê-xê-chia dậy sớm, nhóm họp các quan chức trong thành, và lên đền thờ Đức Giê-hô-va.
Họ đem theo bảy con bò đực, bảy con chiên đực, bảy con chiên con và bảy con dê đực để làm tế lễ chuộc tội cho vương quốc, cho đền thánh và cho dân Giu-đa. Vua bảo các thầy tế lễ thuộc dòng dõi A-rôn dâng các sinh tế ấy trên bàn thờ của Đức Giê-hô-va.
Họ giết các con bò đực, thầy tế lễ lấy máu và rảy trên bàn thờ. Rồi họ giết các con chiên đực và rảy máu trên bàn thờ. Họ cũng giết các con chiên con và rảy máu trên bàn thờ.
Sau đó, họ đem các con dê đực dùng làm tế lễ chuộc tội đến trước mặt vua và hội chúng, rồi tất cả đều đặt tay trên chúng.
Các thầy tế lễ giết chúng và lấy máu rảy trên bàn thờ để làm lễ chuộc tội cho toàn dân Y-sơ-ra-ên, vì vua truyền rằng phải dâng tế lễ thiêu và tế lễ chuộc tội cho toàn dân Y-sơ-ra-ên.
Vua đặt người Lê-vi trong đền thờ Đức Giê-hô-va cầm chập chõa, đàn hạc và đàn lia, theo lệnh của Đa-vít, của Gát là nhà tiên kiến của vua, và của nhà tiên tri Na-than; vì lệnh truyền ấy do Đức Giê-hô-va dùng các nhà tiên tri của Ngài mà dạy bảo.
Các người Lê-vi đứng cầm nhạc khí của Đa-vít, còn các thầy tế lễ cầm kèn.
Ê-xê-chia truyền dâng tế lễ thiêu trên bàn thờ. Lúc bắt đầu dâng tế lễ thiêu cũng là lúc trổi lên bài hát ca ngợi Đức Giê-hô-va, cùng với tiếng kèn và các nhạc khí của Đa-vít, vua Y-sơ-ra-ên.
Toàn thể hội chúng đều thờ phượng, người ca hát, kẻ thổi kèn cho đến khi việc dâng tế lễ thiêu chấm dứt.
Khi dâng tế lễ thiêu xong, vua và tất cả những người hiện diện đều quỳ xuống thờ phượng.
Vua Ê-xê-chia và các quan chức bảo người Lê-vi ca ngợi Đức Giê-hô-va với những bài ca của Đa-vít và của A-sáp, nhà tiên kiến. Họ ca ngợi Chúa cách vui mừng, rồi sấp mình xuống mà thờ phượng.
Vua Ê-xê-chia nói: “Bây giờ, các ngươi đã biệt mình ra thánh cho Đức Giê-hô-va. Vậy hãy đến, đem những sinh tế và tế lễ cảm tạ vào trong đền thờ Đức Giê-hô-va.” Hội chúng liền dẫn đến những sinh tế và tế lễ cảm tạ, cũng có những người tự nguyện đem dâng các tế lễ thiêu.
Số sinh tế dùng trong tế lễ thiêu mà hội chúng đem đến là bảy mươi con bò đực, một trăm con chiên đực, và hai trăm con chiên con; họ dùng các thú đó làm tế lễ thiêu dâng lên Đức Giê-hô-va.
Ngoài ra, họ còn thánh hóa sáu trăm con bò đực và ba nghìn chiên và dê.
Tuy nhiên, số thầy tế lễ quá ít, không đủ để lột da các con vật dùng làm tế lễ thiêu. Vì vậy, anh em của họ là người Lê-vi giúp đỡ họ cho đến khi xong việc, và đến khi có thêm những thầy tế lễ đã thánh hóa chính mình; vì người Lê-vi thành tâm thánh hóa chính mình hơn những thầy tế lễ.
Ngoài số tế lễ thiêu rất nhiều, còn có mỡ của tế lễ bình an, và lễ quán kèm theo mỗi tế lễ thiêu. Vậy, việc thờ phượng trong đền thờ Đức Giê-hô-va đã được tái lập.
Ê-xê-chia và toàn dân đều vui mừng về những điều Đức Chúa Trời đã làm cho họ, vì mọi việc được tiến hành nhanh chóng.
Vua Ê-xê-chia sai sứ giả đến toàn cõi Y-sơ-ra-ên và Giu-đa; vua cũng viết thư cho người Ép-ra-im và người Ma-na-se mời họ đến đền thờ Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem để giữ lễ Vượt Qua cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Vua và các quan chức cùng toàn thể hội chúng ở Giê-ru-sa-lem bàn định với nhau giữ lễ Vượt Qua vào tháng hai,
vì họ không thể dự lễ ấy vào đúng thời gian quy định do số thầy tế lễ thánh hóa chính mình chưa đủ, và dân chúng chưa tập trung tại Giê-ru-sa-lem.
Vua và toàn thể hội chúng đều thấy việc ấy là chính đáng.
Vậy, họ quyết định thông báo khắp xứ Y-sơ-ra-ên, từ Bê-e Sê-ba cho đến Đan, để mọi người đến Giê-ru-sa-lem giữ lễ Vượt Qua cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Vì từ lâu, họ đã không giữ lễ ấy cách đông đảo như đã chép trong luật pháp.
Theo lệnh vua, những người đưa thư đem thư của vua và các nhà lãnh đạo đi khắp Y-sơ-ra-ên và Giu-đa. Thư kêu gọi: “Hỡi con dân Y-sơ-ra-ên, hãy trở lại cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác và Y-sơ-ra-ên, để Ngài trở lại cùng những người còn sót lại trong các ngươi, là những người được thoát khỏi tay các vua A-si-ri.
Đừng giống như tổ phụ và anh em các ngươi đã phạm tội bất trung với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, đến nỗi Ngài phó họ vào cảnh điêu tàn như các ngươi đã thấy.
Bây giờ, đừng cứng cổ như tổ phụ các ngươi; hãy giơ tay hướng về Đức Giê-hô-va, hãy vào Nơi Thánh là nơi đã được thánh hóa đời đời, và hãy phục vụ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, để cơn thịnh nộ của Ngài quay khỏi các ngươi.
Vì nếu các ngươi trở lại cùng Đức Giê-hô-va thì anh em và con cái của các ngươi sẽ được ơn trước mặt những kẻ bắt họ lưu đày, và họ sẽ được trở về trong xứ nầy. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi có lòng nhân từ và hay thương xót sẽ không quay mặt khỏi các ngươi, nếu các ngươi trở lại cùng Ngài.”
Những người đưa thư đi từ thành nầy qua thành kia trong khắp xứ Ép-ra-im, Ma-na-se, cho đến tận đất Sa-bu-lôn, nhưng người ta cười nhạo và chế giễu họ.
Dù vậy, cũng có một số người trong các bộ tộc A-se, Ma-na-se và Sa-bu-lôn chịu hạ mình xuống và đến Giê-ru-sa-lem.
Tay Đức Chúa Trời cũng tác động trên người Giu-đa khiến họ đồng lòng vâng theo lệnh của vua và các quan chức đã truyền ra theo lời Đức Giê-hô-va.
Vào tháng hai, có nhiều người nhóm lại tại Giê-ru-sa-lem để giữ lễ Bánh Không Men, thật là một hội chúng rất đông đảo!
Họ khởi sự dẹp bỏ các bàn thờ ở Giê-ru-sa-lem và tất cả những bàn thờ xông hương, rồi ném chúng xuống thung lũng Kít-rôn.
Ngày mười bốn tháng hai, người ta giết sinh tế làm lễ Vượt Qua. Còn các thầy tế lễ và người Lê-vi cảm thấy hổ thẹn nên thánh hóa chính mình và đem các tế lễ thiêu vào trong đền thờ Đức Giê-hô-va.
Họ đứng vào vị trí của mình theo như đã quy định trong luật pháp của Môi-se, người của Đức Chúa Trời, và các thầy tế lễ nhận lấy máu nơi tay người Lê-vi mà rảy ra.
Trong hội chúng còn nhiều người chưa thánh hóa chính mình, vì vậy, người Lê-vi phải dâng một sinh tế làm lễ Vượt Qua cho mỗi người không thanh sạch để thánh hóa họ cho Đức Giê-hô-va.
Vì trong dân chúng, nhất là trong dân Ép-ra-im, Ma-na-se, Y-sa-ca và Sa-bu-lôn có nhiều người không thanh tẩy chính mình lại ăn lễ Vượt Qua không theo luật định, nên Ê-xê-chia cầu nguyện cho họ rằng:
“Nguyện Đức Giê-hô-va, là Đấng nhân từ, tha tội cho những người đã hết lòng tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, mặc dù họ không theo luật thanh tẩy của đền thánh để thánh hóa chính mình.”
Đức Giê-hô-va nghe lời cầu nguyện của Ê-xê-chia và chữa lành cho dân chúng.
Những người Y-sơ-ra-ên có mặt tại Giê-ru-sa-lem giữ lễ Bánh Không Men trong bảy ngày một cách vui vẻ. Trong lúc đó, người Lê-vi và các thầy tế lễ ca ngợi Đức Giê-hô-va ngày nầy sang ngày khác với nhạc khí phụ họa.
Ê-xê-chia khích lệ tất cả người Lê-vi đã tỏ ra thành thạo trong việc thờ phượng Đức Giê-hô-va. Họ ăn mừng lễ trong bảy ngày, dâng các sinh tế của tế lễ bình an và cảm tạ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.
Toàn thể hội chúng quyết định giữ lễ thêm bảy ngày, vậy họ vui vẻ giữ lễ thêm bảy ngày nữa.
Vì thế, Ê-xê-chia, vua Giu-đa, đã cho hội chúng một nghìn con bò đực và bảy nghìn con chiên; các quan chức cũng cho hội chúng một nghìn con bò đực và mười nghìn con chiên. Có rất nhiều thầy tế lễ thánh hóa chính mình.
Toàn thể hội chúng Giu-đa, các thầy tế lễ, người Lê-vi, và hội chúng đến từ Y-sơ-ra-ên cùng những người ngoại bang đến từ Y-sơ-ra-ên cũng như ngụ tại Giu-đa, đều vui mừng.
Như vậy, tại Giê-ru-sa-lem có sự vui mừng lớn, vì từ đời Sa-lô-môn, con của Đa-vít vua Y-sơ-ra-ên, đến nay, tại thành Giê-ru-sa-lem chưa bao giờ được vui vẻ như thế.
Bấy giờ, các thầy tế lễ thuộc dòng Lê-vi đứng dậy chúc phước cho dân chúng. Lời chúc phước của họ được nhậm, và lời cầu nguyện thấu đến nơi ngự thánh của Chúa ở trên trời.
Khi mọi việc ấy đã xong, tất cả những người Y-sơ-ra-ên có mặt tại đó đi ra các thành của Giu-đa đập vỡ những trụ thờ, triệt hạ các tượng thần A-sê-ra, phá hủy những nơi cao và các bàn thờ trong toàn cõi Giu-đa, Bên-gia-min, Ép-ra-im và Ma-na-se, cho đến khi đã phá hủy hoàn toàn. Sau đó, toàn dân Y-sơ-ra-ên ai nấy đều trở về thành mình, nơi sản nghiệp mình.
Vua Ê-xê-chia lập lại phiên thứ của các thầy tế lễ và người Lê-vi tùy theo công việc của mỗi người để dâng tế lễ thiêu, tế lễ bình an, và phụng sự, cảm tạ, ca ngợi Chúa nơi các cổng đền của Đức Giê-hô-va.
Vua cũng lấy một phần tài sản mình làm tế lễ thiêu buổi sáng và buổi chiều, cùng những tế lễ thiêu trong ngày sa-bát, ngày trăng mới và các ngày lễ đã quy định, đúng như đã chép trong luật pháp của Đức Giê-hô-va.
Vua truyền cho dân chúng tại Giê-ru-sa-lem phải cung cấp phần dành cho các thầy tế lễ và người Lê-vi để họ chuyên tâm phụng sự đúng như luật pháp của Đức Giê-hô-va ấn định.
Khi chỉ dụ của vua vừa truyền ra thì dân Y-sơ-ra-ên đem đến rất nhiều sản vật đầu mùa gồm ngũ cốc, rượu, dầu, mật và các nông thổ sản khác. Họ cũng nộp một phần mười mọi điều họ có, với số lượng thật nhiều.
Dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa sống trong các thành của Giu-đa cũng đem đến nộp một phần mười về bò và chiên, cùng với một phần mười về các vật đã biệt riêng ra thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ. Các lễ vật được xếp thành từng đống.
Vào tháng ba, họ bắt đầu xếp các lễ vật thành từng đống và đến tháng bảy mới kết thúc.
Khi Ê-xê-chia cùng các thủ lĩnh đến và thấy các đống lễ vật thì ca ngợi Đức Giê-hô-va và chúc phước cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài.
Ê-xê-chia hỏi thăm các thầy tế lễ và người Lê-vi về các đống lễ vật ấy.
A-xa-ria, thầy tế lễ cả thuộc dòng Xa-đốc, tâu với vua rằng: “Từ khi dân chúng bắt đầu đem lễ vật dâng vào đền thờ Đức Giê-hô-va thì chẳng những chúng tôi đủ ăn mà còn dư lại rất nhiều, vì Đức Giê-hô-va đã ban phước cho dân Ngài. Đây là đống lễ vật còn dư lại.”
Ê-xê-chia truyền dọn dẹp các phòng trong đền thờ Đức Giê-hô-va. Khi đã dọn xong,
họ trung tín đem vào đó các lễ vật dâng hiến, thuế một phần mười và các vật thánh khác. Cô-na-nia, người Lê-vi, làm trưởng các kho lễ vật ấy; em của ông là Si-mê-i làm phó.
Theo lệnh của vua Ê-xê-chia và người cai quản đền thờ Đức Chúa Trời là A-xa-ria, các ông Giê-hi-ên, A-xa-xia, Na-hát, A-sa-ên, Giê-ri-mốt, Giô-sa-bát, Ê-li-ên, Gít-ma-kia, Ma-hát và Bê-na-gia làm nhân viên quản lý dưới quyền của Cô-na-nia và em ông là Si-mê-i.
Cô-rê, con trai của Dim-na người Lê-vi, là người giữ cổng phía đông, được giao cho quản lý các lễ vật tự nguyện dâng cho Đức Chúa Trời và phân phát các lễ vật dâng cho Đức Giê-hô-va và các lễ vật chí thánh.
Dưới quyền Cô-ra có: Ê-đen, Min-gia-min, Giê-sua, Sê-ma-gia, A-ma-ria và Sê-ca-nia ở trong các thành của thầy tế lễ. Họ phân phối các phẩm vật ấy một cách công bằng cho anh em mình, lớn cũng như nhỏ tùy theo ban của họ.
Ngoài những người có tên trong gia phả, họ cũng phân phát cho những người nam từ ba tuổi trở lên, và cho những người theo phiên thứ mình hằng ngày vào đền thờ Đức Giê-hô-va để phụng sự theo chức vụ và ban thứ.
Họ cũng phân phát cho các thầy tế lễ đã ghi tên vào gia phả theo tông tộc mình, và cho người Lê-vi từ hai mươi tuổi trở lên theo chức vụ và ban thứ.
Những người được phân phát gồm tất cả con nhỏ, vợ, con trai và con gái của họ, tức là cả cộng đồng đã được ghi tên vào gia phả, vì họ trung tín trong việc thánh hóa chính mình.
Còn về con cháu A-rôn, tức là những thầy tế lễ ở các đồng cỏ phụ cận các thành của họ, thì trong mỗi thành đều có những người được chỉ định đích danh để phân phát phẩm vật cho tất cả người nam trong số các thầy tế lễ và người Lê-vi đã ghi tên vào gia phả.
Vua Ê-xê-chia đã làm như thế trong toàn cõi Giu-đa. Vua làm những điều tốt lành, ngay thẳng và trung tín trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình.
Trong mọi việc vua làm, từ việc phục vụ trong đền thờ Đức Chúa Trời đến việc tuân giữ luật pháp hay điều răn, vua đều hết lòng tìm kiếm Đức Chúa Trời của mình nên đều được thành công.
Sau các việc nầy và những hành động trung tín của Ê-xê-chia thì San-chê-ríp, vua A-si-ri, kéo quân đến xâm lăng xứ Giu-đa, đóng trại trước các thành kiên cố và ra lệnh đánh phá chúng.
Khi Ê-xê-chia thấy San-chê-ríp đến và chuẩn bị tấn công Giê-ru-sa-lem,
vua hội ý với các thủ lĩnh và những dũng sĩ để ngăn chặn các nguồn nước ở ngoài thành. Họ đều ủng hộ vua.
Đông đảo dân chúng tụ họp lại, ngăn các suối nước và các khe chảy qua vùng đất ấy. Họ bảo nhau: “Tại sao chúng ta lại để cho các vua A-si-ri đến đây và tìm được nhiều nước?”
Vua kiên quyết hành động, xây lại tất cả tường thành đổ nát, xây các tháp canh cao lên, và xây một tường thành khác ở bên ngoài. Vua còn củng cố Mi-lô trong thành Đa-vít, và chế tạo nhiều lao và khiên.
Vua bổ nhiệm các tướng chỉ huy quân đội, rồi triệu tập họ đến quảng trường nơi cổng thành phố và khích lệ họ:
“Hãy mạnh dạn và can đảm lên! Đừng sợ hãi, đừng kinh khiếp trước mặt vua A-si-ri và đám quân đông đảo theo vua ấy, vì Đấng ở cùng chúng ta mạnh hơn kẻ ở với vua ấy;
vua ấy chỉ có cánh tay phàm nhân, còn chúng ta có Giê-hô-va Đức Chúa Trời ở với chúng ta để giúp đỡ và chiến đấu thay chúng ta.” Dân chúng được khích lệ nhờ lời của Ê-xê-chia, vua Giu-đa.
Sau việc ấy, San-chê-ríp, vua A-si-ri, cùng cả đạo quân của vua vẫn còn bao vây La-ki. Vua sai các thuộc hạ đến gặp Ê-xê-chia và dân Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem và nói:
“San-chê-ríp, vua A-si-ri, nói thế nầy: Các ngươi nương cậy điều gì mà cứ ở mãi trong thành Giê-ru-sa-lem bị bao vây như thế?
Chẳng phải Ê-xê-chia đã lừa dối các ngươi để các ngươi chết đói chết khát khi nói rằng: ‘Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta sẽ giải cứu chúng ta khỏi tay vua A-si-ri’ đó sao?
Chẳng phải chính Ê-xê-chia đã dẹp bỏ những nơi cao và bàn thờ của Ngài, rồi bảo dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem rằng: ‘Các ngươi chỉ thờ lạy trước một bàn thờ và chỉ xông hương trên đó mà thôi’ sao?
Các ngươi chẳng biết ta và tổ phụ ta đã từng làm gì cho các dân thiên hạ sao? Các thần của những dân tộc ấy có giải cứu xứ của chúng khỏi tay ta được chăng?
Trong số các thần của những dân tộc mà tổ phụ ta đã tận diệt, có thần nào giải cứu dân mình khỏi tay ta chăng? Thế thì thần của các ngươi có thể giải cứu các ngươi khỏi tay ta chăng?
Vậy bây giờ, đừng để Ê-xê-chia lừa dối và phỉnh gạt các ngươi như thế. Các ngươi đừng tin ông ta, vì chẳng có thần của dân tộc nào hay nước nào giải cứu dân mình khỏi tay ta hay tổ phụ ta, thì làm sao Đức Chúa Trời các ngươi có thể giải cứu các ngươi khỏi tay ta được!”
Các thuộc hạ của San-chê-ríp còn xúc phạm đến Giê-hô-va Đức Chúa Trời, và xúc phạm Ê-xê-chia là đầy tớ Ngài.
San-chê-ríp cũng viết nhiều thư thóa mạ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên và nói phạm đến Ngài rằng: “Thần của các dân thiên hạ chẳng giải cứu dân mình khỏi tay ta, thì thần của Ê-xê-chia cũng chẳng giải cứu dân mình khỏi tay ta được đâu!”
Chúng la lớn lên bằng tiếng Giu-đa cho dân Giê-ru-sa-lem ở trên vách thành nghe, làm cho họ hoảng sợ để chiếm lấy thành.
Chúng nói về Đức Chúa Trời của Giê-ru-sa-lem như nói về những thần của các dân thiên hạ, là sản phẩm do tay người làm ra.
Vua Ê-xê-chia và nhà tiên tri Ê-sai, con của A-mốt, cầu nguyện về việc nầy và hướng lên trời mà kêu cầu.
Đức Giê-hô-va sai một thiên sứ diệt tất cả những dũng sĩ, quan tướng và thủ lĩnh trong trại quân của vua A-si-ri. Vua phải xấu hổ rút lui về nước. Khi vua vào đền thờ thần mình, có mấy người con của vua dùng gươm giết vua tại đó.
Như vậy, Đức Giê-hô-va cứu Ê-xê-chia và dân cư thành Giê-ru-sa-lem khỏi tay San-chê-ríp, vua A-si-ri, và khỏi tay mọi kẻ thù; Ngài cho họ được yên ổn mọi bề.
Có nhiều người đem lễ vật đến dâng cho Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem, và nhiều tặng vật quý báu cho Ê-xê-chia, vua Giu-đa. Từ đó về sau, vua được các nước tôn trọng.
Trong những ngày ấy, Ê-xê-chia lâm bệnh sắp chết. Vua cầu nguyện với Đức Giê-hô-va, Ngài đáp lời và ban cho vua một dấu lạ.
Nhưng Ê-xê-chia không báo đáp ân huệ Chúa ban cho mình, vì vua sinh lòng kiêu ngạo nên cơn thịnh nộ của Chúa nổi lên cùng vua, cùng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
Tuy nhiên, cuối cùng Ê-xê-chia và dân cư Giê-ru-sa-lem hạ mình xuống, không còn kiêu ngạo nữa, nên trong đời Ê-xê-chia, cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va không giáng trên họ.
Ê-xê-chia trở nên rất giàu có và được tôn trọng. Vua xây các kho để cất vàng bạc, đá quý, hương liệu, khiên và các loại vật dụng có giá trị.
Vua xây các vựa để chứa ngũ cốc, rượu và dầu. Vua cho làm chuồng để nhốt súc vật, bầy chiên và bầy bò.
Vua cũng xây nhiều thành, nuôi nhiều bầy chiên và bò, vì Đức Chúa Trời ban cho vua rất nhiều của cải.
Chính vua Ê-xê-chia đã lấp thượng nguồn của suối Ghi-hôn và dẫn nó chảy ngầm dưới đất qua phía tây của thành Đa-vít. Trong mọi việc, Ê-xê-chia đều được thành công.
Nhưng khi các sứ giả mà vua Ba-by-lôn sai đến để hỏi thăm về dấu lạ đã xảy ra trong xứ, thì Đức Chúa Trời tạm lìa vua để thử xem lòng dạ vua thế nào.
Các việc khác của Ê-xê-chia và những việc thiện mà vua đã làm đều được chép trong sách Các Vua Giu-đa và Y-sơ-ra-ên qua khải tượng của nhà tiên tri Ê-sai, con của A-mốt.
Ê-xê-chia an giấc cùng tổ phụ mình và được an táng trong khu lăng tẩm trên đồi của dòng dõi Đa-vít. Cả Giu-đa và Giê-ru-sa-lem đều bày tỏ lòng tôn kính vua lúc băng hà. Ma-na-se, con vua, lên ngai kế vị.
Ma-na-se lên làm vua khi được mười hai tuổi, và cai trị năm mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem.
Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, theo những thói tục ghê tởm của các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã đuổi khỏi dân Y-sơ-ra-ên.
Ma-na-se xây lại các nơi cao mà vua cha là Ê-xê-chia đã phá hủy, lập các bàn thờ thần Ba-anh, làm các tượng nữ thần A-sê-ra, thờ lạy tất cả các ngôi sao trên trời và phục vụ chúng.
Vua xây những bàn thờ trong đền thờ Đức Giê-hô-va là nơi Đức Giê-hô-va đã phán rằng: “Danh Ta sẽ ngự tại Giê-ru-sa-lem đời đời.”
Trong hai sân của đền thờ Đức Giê-hô-va, vua cũng lập những bàn thờ cho tất cả các ngôi sao trên trời.
Vua dâng con cái mình làm tế lễ thiêu trong thung lũng Bên Hi-nôm, xem bói toán, dùng phù phép và ma thuật, theo các đồng cốt và thầy phù thủy. Vua làm quá nhiều điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va để chọc giận Ngài.
Vua làm tượng chạm và đem đặt trong đền thờ Đức Chúa Trời là nơi Đức Chúa Trời đã phán với Đa-vít và Sa-lô-môn, con vua, rằng: “Tại đền thờ nầy và tại Giê-ru-sa-lem, là thành mà Ta đã chọn trong tất cả các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, Ta sẽ đặt danh Ta đời đời.
Nếu Y-sơ-ra-ên tuân giữ toàn bộ luật pháp, điều răn và mệnh lệnh mà Ta đã dùng Môi-se phán dạy họ, thì Ta sẽ không để cho bàn chân của dân Y-sơ-ra-ên phải lìa khỏi đất mà Ta đã ban cho tổ phụ họ.”
Nhưng Ma-na-se đã quyến dụ Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem, đến nỗi họ làm điều ác hơn các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã hủy diệt khỏi dân Y-sơ-ra-ên.
Đức Giê-hô-va đã phán với Ma-na-se và dân chúng, nhưng họ không quan tâm đến.
Vì vậy, Đức Giê-hô-va khiến các tướng chỉ huy quân đội của vua A-si-ri đến đánh họ, bắt Ma-na-se rồi dùng móc sắt móc vào mũi và lấy xích đồng trói lại giải về Ba-by-lôn.
Trong lúc gặp hoạn nạn, vua cầu khẩn Giê-hô-va Đức Chúa Trời và hết sức hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.
Ma-na-se cầu nguyện cùng Chúa, Ngài động lòng và nhậm lời nài xin của vua, cho vua trở về Giê-ru-sa-lem để cai trị vương quốc. Lúc ấy, Ma-na-se nhận biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời.
Sau việc ấy, vua xây một bức tường bên ngoài thành Đa-vít về phía tây Ghi-hôn, trong thung lũng, cho đến lối vào cổng Cá và bao quanh Ô-phên; vua xây bức tường nầy rất cao. Vua cũng chỉ định các tướng chỉ huy trong tất cả các thành kiên cố của Giu-đa.
Ma-na-se dẹp bỏ các thần ngoại bang và hình tượng ra khỏi đền thờ Đức Giê-hô-va; vua cũng dẹp tất cả các bàn thờ mà mình đã xây trên núi có đền thờ Đức Giê-hô-va và tại Giê-ru-sa-lem, rồi ném chúng ra ngoài thành.
Sau đó, vua cho sửa sang lại bàn thờ của Đức Giê-hô-va, dâng tế lễ bình an và tế lễ cảm tạ tại đó. Vua truyền dạy dân Giu-đa phụng sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Tuy nhiên, dân chúng vẫn còn dâng tế lễ trên các nơi cao, dù chỉ dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của mình mà thôi.
Các việc khác của Ma-na-se, lời cầu nguyện với Đức Chúa Trời của vua, và lời của các nhà tiên kiến nhân danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mà phán với vua đều được chép trong sách Các Vua Y-sơ-ra-ên.
Lời cầu nguyện của vua và cách Đức Chúa Trời nhậm lời vua, tất cả tội lỗi vua đã phạm và sự bất trung của vua, những nơi cao mà vua dựng lên, tượng thần A-sê-ra và tượng chạm, trước khi vua hạ mình xuống; tất cả đều được chép trong sách của Hô-xai.
Ma-na-se an giấc cùng tổ phụ mình và được chôn trong cung điện của vua. A-môn, con vua, lên ngôi kế vị.
A-môn lên ngôi vua khi được hai mươi hai tuổi, và cai trị hai năm tại Giê-ru-sa-lem.
Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va giống như vua cha là Ma-na-se. A-môn dâng sinh tế cho tất cả các tượng chạm mà Ma-na-se, cha vua, đã làm, và phục vụ chúng.
Vua không hạ mình xuống trước mặt Đức Giê-hô-va như vua cha Ma-na-se, nhưng vua càng phạm tội thêm.
Các đầy tớ vua mưu phản và giết vua trong cung điện.
Còn dân chúng trong xứ lại giết những kẻ đã mưu phản giết vua A-môn, rồi lập con vua là Giô-si-a lên ngôi kế vị.
Giô-si-a lên ngôi vua khi được tám tuổi, và cai trị ba mươi mốt năm tại Giê-ru-sa-lem.
Vua làm điều ngay thẳng dưới mắt Đức Giê-hô-va và đi theo con đường của Đa-vít, tổ phụ mình, không quay qua bên phải hay bên trái.
Vào năm thứ tám đời trị vì, khi còn trẻ tuổi, vua bắt đầu tìm kiếm Đức Chúa Trời của Đa-vít, tổ phụ mình. Vào năm thứ mười hai, vua bắt đầu dọn sạch Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, trừ bỏ những nơi cao, tượng thần A-sê-ra, tượng chạm và tượng đúc.
Trước mặt vua, người ta triệt hạ các bàn thờ Ba-anh, và đánh đổ những bàn thờ xông hương phía trên các bàn thờ ấy. Còn tượng thần A-sê-ra, tượng chạm và tượng đúc thì bẻ gãy, nghiền nát ra bụi, rồi rải trên mồ mả của những kẻ đã cúng tế chúng.
Vua cũng thiêu hài cốt của những thầy tế lễ trên bàn thờ các thần ấy và dọn sạch Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
Trong các thành của bộ tộc Ma-na-se, Ép-ra-im và Si-mê-ôn cho đến Nép-ta-li, và các nơi đổ nát quanh chúng,
vua phá hủy các bàn thờ và nghiền nát ra bụi những tượng thần A-sê-ra, tượng chạm và tượng đúc, đánh đổ tất cả các bàn thờ xông hương trong khắp xứ Y-sơ-ra-ên. Rồi vua trở về Giê-ru-sa-lem.
Vào năm thứ mười tám đời trị vì, sau khi đã dọn sạch xứ sở và đền thờ rồi, vua sai Sa-phan (con trai A-xa-lia), Ma-a-xê-gia (quan cai trị thành), và Giô-a (con trai Giô-a-cha, quan ngự sử) sửa sang đền thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời.
Các người ấy đến gặp thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia, và giao cho người số bạc đã đem vào đền thờ Đức Chúa Trời, tức là số bạc mà người Lê-vi gác cổng đền thờ đã nhận từ tay người Ma-na-se, người Ép-ra-im và từ những người còn sót lại trong Y-sơ-ra-ên, cũng như từ Giu-đa, Bên-gia-min và dân cư thành Giê-ru-sa-lem.
Họ giao số bạc ấy cho những người coi sóc công việc của đền thờ Đức Giê-hô-va. Những người nầy phát lại cho các thợ để tu bổ và sửa sang đền thờ;
tức là giao cho thợ mộc, thợ hồ để mua đá và gỗ làm kèo cột cho các gian nhà thuộc về đền thờ mà các vua Giu-đa đã để cho đổ nát.
Các thợ ấy đều làm công việc cách thành tâm. Những người Lê-vi quản đốc các thợ ấy là Gia-hát và Ô-ba-đia, thuộc dòng Mê-ra-ri; Xa-cha-ri và Mê-su-lam thuộc dòng Kê-hát cùng mấy người Lê-vi khác, tất cả đều sử dụng nhạc khí thành thạo.
Họ cũng quản đốc những phu khuân vác và chỉ huy mọi công nhân làm đủ thứ công việc. Trong số những người Lê-vi, có người làm thư ký, quan chức và người gác cổng.
Trong khi người ta đem ra số bạc đã dâng vào đền thờ Đức Giê-hô-va, thì thầy tế lễ Hinh-kia tìm được cuốn sách luật pháp của Đức Giê-hô-va do Môi-se truyền lại.
Hinh-kia nói với thư ký Sa-phan: “Tôi đã tìm được cuốn sách luật pháp trong đền thờ Đức Giê-hô-va.” Rồi Hinh-kia trao sách ấy cho Sa-phan.
Sa-phan đem cuốn sách trình cho vua và tâu: “Các đầy tớ bệ hạ đang thực hiện mọi việc được giao.
Họ đã lấy hết số bạc có trong đền thờ Đức Giê-hô-va giao cho các đốc công và công nhân.”
Thư ký Sa-phan lại tâu với vua: “Thầy tế lễ Hinh-kia có trao cho tôi một cuốn sách.” Rồi Sa-phan đọc sách ấy trước mặt vua.
Khi nghe các lời trong sách luật pháp, vua liền xé áo mình.
Vua truyền lệnh cho Hinh-kia, A-hi-cam con của Sa-phan, Áp-đôn con của Mi-ca, thư ký Sa-phan và quan cận thần của vua là A-sa-gia:
“Hãy vì ta và vì những người còn sót lại của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa mà đi cầu hỏi Đức Giê-hô-va về các lời trong sách đã tìm lại được. Vì cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va đang giáng trên chúng ta thật lớn, bởi các tổ phụ chúng ta không tuân giữ lời phán của Đức Giê-hô-va và chẳng làm theo các điều đã chép trong sách nầy.”
Hinh-kia và những người vua đã chỉ định, đến gặp nữ tiên tri Hun-đa, vợ của Sa-lum, người giữ áo lễ, con của Tô-cát, cháu Hát-ra. Bà ấy ở quận hai của thành Giê-ru-sa-lem. Họ nói cho bà những lời vua truyền.
Bà nói với họ: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Hãy nói với người đã sai các ngươi đến cùng Ta rằng
Đức Giê-hô-va phán: ‘Nầy, Ta sẽ khiến các tai họa giáng trên chỗ nầy và trên cư dân của nó theo như tất cả những lời nguyền rủa đã chép trong sách mà người ta đọc trước mặt vua Giu-đa.
Vì chúng đã lìa bỏ Ta mà xông hương cho các tà thần, lấy mọi thứ do tay chúng làm ra mà chọc giận Ta, nên cơn thịnh nộ của Ta sẽ đổ ra trên chỗ nầy không ngớt.’
Còn vua Giu-đa, người đã sai các ngươi cầu hỏi Đức Giê-hô-va, thì các ngươi hãy nói với người rằng, đây là lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán liên quan đến những gì người đã nghe:
‘Khi con nghe lời Ta phán chống lại chỗ nầy và dân cư nó thì con có lòng mềm mại hạ mình xuống trước mặt Ta, xé áo và khóc lóc trước mặt Ta, nên Ta cũng đã nghe con; Đức Giê-hô-va phán vậy.
Nầy, Ta sẽ cho con sum họp cùng các tổ phụ; con sẽ qua đời bình an và mắt con sẽ không thấy các tai họa mà Ta sắp đổ xuống chỗ nầy cùng dân cư nó.’” Họ về tâu lại cho vua những lời ấy.
Vua sai người tập hợp tất cả các trưởng lão Giu-đa và Giê-ru-sa-lem lại.
Rồi vua cùng với tất cả người Giu-đa, dân cư Giê-ru-sa-lem, các thầy tế lễ, người Lê-vi và toàn dân từ nhỏ đến lớn, đi lên đền thờ Đức Giê-hô-va. Vua đọc cho họ nghe những lời của sách giao ước đã tìm được trong đền thờ Đức Giê-hô-va.
Vua đứng trên bục dành cho mình và lập giao ước trước mặt Đức Giê-hô-va, hứa nguyện đi theo Đức Giê-hô-va, hết lòng hết ý tuân giữ các điều răn, chứng ước và luật lệ của Ngài, để làm trọn lời giao ước đã ghi chép trong sách ấy.
Vua cũng truyền cho những người ở Giê-ru-sa-lem và Bên-gia-min tuân theo giao ước ấy. Vậy, dân cư Giê-ru-sa-lem đều làm theo giao ước của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời của tổ phụ họ.
Giô-si-a loại bỏ tất cả những điều ghê tởm khỏi đất nước Y-sơ-ra-ên và khiến mọi người trong nước Y-sơ-ra-ên phải phụng sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ. Trọn đời Giô-si-a, họ luôn theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, không lìa bỏ Ngài.
Giô-si-a giữ lễ Vượt Qua cho Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem. Người ta giết sinh tế làm lễ Vượt Qua vào ngày mười bốn tháng giêng.
Vua phân công cho các thầy tế lễ và khích lệ họ phục vụ đền thờ Đức Giê-hô-va.
Vua bảo những người Lê-vi đang dạy dỗ toàn dân Y-sơ-ra-ên và đã biệt mình ra thánh cho Đức Giê-hô-va rằng: “Hãy để Hòm Giao Ước Thánh trong đền thờ mà vua Y-sơ-ra-ên là Sa-lô-môn, con của Đa-vít, đã xây cất. Các ngươi không còn phải khiêng Hòm Giao Ước ấy trên vai nữa. Bây giờ, hãy phục vụ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi và dân Y-sơ-ra-ên của Ngài.
Các ngươi hãy chuẩn bị sẵn sàng theo từng tông tộc và phân ban của mình, chiếu theo chỉ thị của Đa-vít, vua Y-sơ-ra-ên, và con vua là Sa-lô-môn.
Rồi hãy đứng trong nơi thánh theo thứ tự tông tộc của anh em các ngươi là dân Y-sơ-ra-ên và theo thứ tự tông tộc của người Lê-vi.
Các ngươi hãy giết sinh tế làm lễ Vượt Qua, biệt mình ra thánh và chuẩn bị lễ Vượt Qua cho anh em các ngươi, để thực hiện đúng như lời của Đức Giê-hô-va dùng Môi-se truyền phán.”
Vua Giô-si-a bắt trong các bầy súc vật của mình cấp cho dân chúng ba mươi nghìn chiên con và dê con, cùng ba nghìn con bò đực dùng trong lễ Vượt Qua cho tất cả những người có mặt tại đó; các súc vật ấy đều lấy trong tài sản của vua.
Các quan chức của vua cũng tự nguyện cung cấp súc vật cho dân chúng, cho thầy tế lễ và người Lê-vi. Hinh-kia, Xa-cha-ri và Giê-hi-ên, là những người cai quản đền thờ Đức Chúa Trời, cấp cho các thầy tế lễ hai nghìn sáu trăm con chiên để dùng cho lễ Vượt Qua, và ba trăm con bò.
Cô-na-nia và các anh em ông là Sê-ma-gia và Na-tha-na-ên, cùng với Ha-sa-bia, Giê-i-ên và Giô-xa-bát, là các thủ lĩnh của người Lê-vi, cung cấp cho người Lê-vi năm nghìn con chiên để dùng cho lễ Vượt Qua, và năm trăm con bò.
Khi mọi việc được chuẩn bị xong, các thầy tế lễ đều đứng theo vị trí của mình, và người Lê-vi cứ theo phân ban của mình mà phục vụ, đúng theo lệnh của vua.
Người Lê-vi giết sinh tế làm lễ Vượt Qua, và các thầy tế lễ nhận lấy máu từ tay họ mà rảy, còn người Lê-vi thì lột da sinh tế.
Họ chia phần các tế lễ thiêu, phân phát cho dân chúng theo từng tông tộc để họ dâng cho Đức Giê-hô-va, đúng như điều đã chép trong sách của Môi-se. Họ cũng làm như vậy với các con bò đực.
Họ theo luật định mà quay thịt sinh tế làm lễ Vượt Qua, còn các vật thánh khác thì nấu trong nồi, vạc và chảo, rồi hối hả đem phân phát cho mọi người.
Sau đó, họ mới dọn phần cho mình và cho các thầy tế lễ, vì các thầy tế lễ là con cháu A-rôn đều bận dâng tế lễ thiêu và mỡ cho đến chiều tối. Như thế, người Lê-vi dọn cho mình và cho các thầy tế lễ là con cháu của A-rôn.
Những người ca hát là con cháu của A-sáp đều ở tại chỗ mình theo như Đa-vít, A-sáp, Hê-man và nhà tiên kiến của vua là Giê-đu-thun, đã quy định. Những người giữ cổng đều ở tại mỗi cổng, không cần rời khỏi công việc mình vì anh em của họ là người Lê-vi đã chuẩn bị phần cho họ.
Thế là hôm ấy, theo lệnh của Giô-si-a, tất cả mọi việc đều chuẩn bị xong cho sự thờ phượng Đức Giê-hô-va trong lễ Vượt Qua, và dâng các tế lễ thiêu trên bàn thờ Đức Giê-hô-va.
Trong dịp nầy, những người Y-sơ-ra-ên có mặt tại đó đều giữ lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men trong bảy ngày.
Từ thời nhà tiên tri Sa-mu-ên đến nay, trong Y-sơ-ra-ên chưa có lễ Vượt Qua nào được cử hành như thế, cũng chẳng có vua nào trong các vua Y-sơ-ra-ên giữ lễ Vượt Qua giống như lễ Vượt Qua mà Giô-si-a cùng với các thầy tế lễ, người Lê-vi, toàn dân Giu-đa và Y-sơ-ra-ên có mặt tại đó, đã giữ.
Người ta giữ lễ Vượt Qua nầy nhằm năm thứ mười tám đời trị vì của vua Giô-si-a.
Sau khi Giô-si-a đã hoàn tất việc tái lập sự thờ phượng nơi đền thờ thì Nê-cô, vua Ai Cập, đem quân lên tấn công Cạt-kê-mít bên bờ sông Ơ-phơ-rát. Giô-si-a kéo quân ra chống cự.
Nê-cô sai sứ giả đến nói với Giô-si-a: “Nầy vua Giu-đa, tôi với vua có vấn đề gì đâu? Hôm nay tôi tiến quân chẳng phải để tấn công vua đâu, nhưng tấn công kẻ thù của tôi. Đức Chúa Trời đã phán bảo tôi nhanh chóng làm điều nầy. Vậy, đừng chống lại Đức Chúa Trời là Đấng đang ở cùng tôi, kẻo Ngài sẽ hủy diệt vua chăng!”
Nhưng Giô-si-a không chịu rút quân. Vua không chịu nghe lời Đức Chúa Trời dùng Nê-cô nói ra mà lại cải trang để nghênh chiến với vua Ai Cập tại thung lũng Mê-ghi-đô.
Các xạ thủ Ai Cập bắn tên trúng vua Giô-si-a. Vua nói với các thuộc hạ: “Hãy đem ta ra khỏi đây vì ta bị thương nặng.”
Các thuộc hạ đem vua khỏi chiến xa và chuyển qua một chiến xa khác rồi đưa vua về Giê-ru-sa-lem. Vua qua đời và được an táng trong phần mộ của tổ phụ vua. Cả xứ Giu-đa và thành Giê-ru-sa-lem đều khóc thương Giô-si-a.
Giê-rê-mi viết bài ai ca về Giô-si-a. Cho đến ngày nay, các nam nữ ca sĩ vẫn còn hát bài ai ca về Giô-si-a, và nó trở thành một thông lệ trong Y-sơ-ra-ên; các việc ấy được chép trong sách Ai Ca.
Các việc khác của Giô-si-a, những việc thiện vua làm đúng như đã được chép trong sách luật pháp của Đức Giê-hô-va,
các việc ấy, từ đầu đến cuối, đã ghi chép trong sách Các Vua Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.
Dân chúng trong xứ lập Giô-a-cha, con trai Giô-si-a, làm vua thay thế vua cha tại Giê-ru-sa-lem.
Giô-a-cha lên ngôi vua khi được hai mươi ba tuổi, và cai trị ba tháng tại Giê-ru-sa-lem.
Vua Ai Cập truất ngôi Giô-a-cha tại Giê-ru-sa-lem, và bắt xứ Giu-đa cống nạp ba tấn bạc và ba mươi ký vàng.
Sau đó, vua Ai Cập lập em Giô-a-cha là Ê-li-a-kim làm vua Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, rồi đổi tên là Giê-hô-gia-kim. Vua Nê-cô bắt Giô-a-cha, anh của Giê-hô-gia-kim, đem về Ai Cập.
Giê-hô-gia-kim lên ngôi vua khi được hai mươi lăm tuổi, và cai trị mười một năm tại Giê-ru-sa-lem. Vua làm điều ác dưới mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua.
Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, lên tấn công vua Giu-đa, xiềng vua bằng xích đồng và giải về Ba-by-lôn.
Nê-bu-cát-nết-sa cũng lấy những vật dụng của đền thờ Đức Giê-hô-va đem về Ba-by-lôn, rồi để vào miếu thờ tại Ba-by-lôn.
Các việc khác của Giê-hô-gia-kim, những việc ghê tởm mà vua đã làm, và các việc có liên quan đến vua, tất cả đều được chép trong sách Các Vua Y-sơ-ra-ên và Giu-đa. Giê-hô-gia-kin, con vua, lên ngôi kế vị.
Giê-hô-gia-kin lên ngôi vua khi được mười tám tuổi, và cai trị ba tháng mười ngày tại Giê-ru-sa-lem. Vua làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va.
Vào đầu năm, vua Nê-bu-cát-nết-sa sai người bắt giải Giê-hô-gia-kin về Ba-by-lôn cùng với các vật dụng quý giá của đền thờ Đức Giê-hô-va, rồi lập em của vua là Sê-đê-kia làm vua Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
Sê-đê-kia lên ngôi vua khi được hai mươi mốt tuổi, và cai trị mười một năm tại Giê-ru-sa-lem.
Vua làm điều ác dưới mắt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua và không hạ mình xuống trước mặt Giê-rê-mi là nhà tiên tri đã nói lời Đức Giê-hô-va cho vua.
Vua cũng nổi lên chống lại vua Nê-bu-cát-nết-sa là người đã buộc vua nhân danh Đức Chúa Trời mà thề. Vua trở nên cứng cổ rắn lòng, không chịu quay về cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Hơn nữa, tất cả những người lãnh đạo của các thầy tế lễ và toàn dân ngày càng bất trung, làm mọi điều ghê tởm như các dân chung quanh đã làm. Họ làm ô uế đền thờ Đức Giê-hô-va mà Ngài đã biệt riêng ra thánh tại Giê-ru-sa-lem.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ vì thương xót dân Ngài và nơi ngự của Ngài nên vẫn thường sai sứ giả đến với họ.
Nhưng họ nhạo báng sứ giả của Đức Chúa Trời, xem thường lời Chúa và chế nhạo các nhà tiên tri của Ngài, cho đến khi cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi lên cùng dân Ngài, vô phương cứu chữa.
Vì vậy, Đức Giê-hô-va khiến vua Canh-đê lên tấn công họ, dùng gươm giết các thanh niên ngay tại đền thánh của họ, chẳng chút xót thương, bất kể thanh niên thiếu nữ, người già cả hay là kẻ yếu sức. Ngài phó tất cả vào tay vua Canh-đê.
Toàn bộ các vật dụng lớn nhỏ của đền thờ Đức Chúa Trời, các kho báu của đền thờ Đức Giê-hô-va, của vua và các quan chức, tất cả đều bị đem qua Ba-by-lôn.
Chúng đốt đền thờ Đức Chúa Trời, triệt hạ tường thành Giê-ru-sa-lem, lấy lửa đốt các cung điện và phá hủy các vật dụng quý giá trong thành.
Những ai còn sót lại không bị giết bằng gươm đều bị bắt đày sang Ba-by-lôn, và họ trở thành nô lệ cho vua và con cháu của vua, cho đến thời vương quốc Ba Tư cai trị.
Thế là ứng nghiệm lời của Đức Giê-hô-va đã phán qua miệng Giê-rê-mi rằng, đất được hưởng bù các năm sa-bát của nó. Suốt thời gian bị bỏ hoang, đất được nghỉ ngơi cho đến khi trọn bảy mươi năm.
Vào năm thứ nhất đời trị vì của Si-ru, vua Ba Tư, để làm ứng nghiệm lời Đức Giê-hô-va đã phán qua miệng Giê-rê-mi, Đức Giê-hô-va tác động tâm trí Si-ru, vua Ba Tư, khiến vua ra chiếu chỉ và công bố khắp đế quốc rằng:
“Si-ru, vua Ba Tư tuyên bố như sau: ‘Giê-hô-va Đức Chúa Trời trên trời đã ban cho ta tất cả các vương quốc trần gian; chính Ngài bảo ta xây cất cho Ngài một đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, thuộc xứ Giu-đa. Vậy, ai trong các ngươi là dân của Ngài hãy trở lên Giê-ru-sa-lem. Nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời ở cùng người ấy!’”
Năm thứ nhất dưới triều Si-ru, vua Ba Tư, Đức Giê-hô-va muốn làm ứng nghiệm lời Ngài đã phán bởi miệng Giê-rê-mi, nên Ngài thúc giục lòng Si-ru, vua Ba Tư, ra sắc chỉ và công bố trên toàn vương quốc mình rằng:
“Si-ru, vua Ba Tư, nói: ‘Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các tầng trời đã ban tất cả các vương quốc trên đất cho trẫm và chính Ngài bảo trẫm xây cất cho Ngài một đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, trong xứ Giu-đa.
Trong các ngươi, ai thuộc về con dân Ngài — xin Đức Chúa Trời ở cùng người ấy — hãy lên Giê-ru-sa-lem trong xứ Giu-đa để xây cất đền thờ của Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Ngài vẫn ngự tại Giê-ru-sa-lem.
Và dân chúng ở những nơi mà người Giu-đa còn sót lại đang sinh sống phải giúp đỡ họ bằng bạc, vàng, của cải, súc vật, cùng với những lễ vật lạc hiến cho đền thờ của Đức Chúa Trời ở tại Giê-ru-sa-lem.’”
Bấy giờ, những trưởng tộc của Giu-đa và Bên-gia-min, những thầy tế lễ và người Lê-vi, cùng tất cả những người mà Đức Chúa Trời thúc giục trong lòng muốn đi lên xây cất đền thờ của Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem đều sẵn sàng ra đi.
Tất cả những người lân cận họ đều giúp đỡ họ những vật dụng bằng bạc, bằng vàng, của cải, súc vật, và những vật quý giá, kể cả các lễ vật lạc hiến khác.
Vua Si-ru cũng trả lại những vật dụng của đền thờ Đức Giê-hô-va mà Nê-bu-cát-nết-sa đã đem đi khỏi Giê-ru-sa-lem và để trong miếu thờ thần của vua.
Si-ru, vua Ba Tư, truyền thủ quỹ Mít-rê-đát, lấy các vật dụng ấy ra, đếm và giao cho Sết-ba-xa, tổng đốc của Giu-đa.
Đây là bảng kiểm kê các vật dụng ấy: ba mươi chậu bằng vàng, một nghìn chậu bằng bạc, hai mươi chín con dao,
ba mươi chén bằng vàng, bốn trăm mười chén bằng bạc loại hạng nhì, và một nghìn vật dụng khác.
Tổng số những vật dụng bằng vàng và bạc là năm nghìn bốn trăm cái. Khi những người bị lưu đày ở Ba-by-lôn được dẫn về Giê-ru-sa-lem thì Sết-ba-xa đem theo luôn tất cả các vật ấy.
Đây là những người ở tỉnh Giu-đa bị Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, bắt lưu đày qua Ba-by-lôn. Họ trở về Giê-ru-sa-lem và xứ Giu-đa, mỗi người về trong thành của mình.
Họ trở về cùng với Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, Nê-hê-mi, Sê-ra-gia, Rê-ê-gia, Mạc-đô-chê, Binh-san, Mít-bạt, Biết-vai, Rê-hum và Ba-a-na. Đây là danh sách những người nam của dân Y-sơ-ra-ên:
Con cháu của Pha-rốt có hai nghìn một trăm bảy mươi hai người.
Con cháu của Sê-pha-tia có ba trăm bảy mươi hai người.
Con cháu của A-rách có bảy trăm bảy mươi lăm người.
Con cháu của Pha-hát Mô-áp, còn gọi là con cháu của Giê-sua và Giô-áp, có hai nghìn tám trăm mười hai người.
Con cháu của Ê-lam có một nghìn hai trăm năm mươi bốn người.
Con cháu của Xát-tu có chín trăm bốn mươi lăm người.
Con cháu của Xác-cai có bảy trăm sáu mươi người.
Con cháu của Ba-ni có sáu trăm bốn mươi hai người.
Con cháu của Bê-bai có sáu trăm hai mươi ba người.
Con cháu của A-gát có một nghìn hai trăm hai mươi hai người.
Con cháu của A-đô-ni-cam có sáu trăm sáu mươi sáu người.
Con cháu của Biết-vai có hai nghìn không trăm năm mươi sáu người.
Con cháu của A-đin có bốn trăm năm mươi bốn người.
Con cháu của A-te, thuộc về Ê-xê-chia, có chín mươi tám người.
Con cháu của Bết-sai có ba trăm hai mươi ba người.
Con cháu của Giô-ra có một trăm mười hai người.
Con cháu của Ha-sum có hai trăm hai mươi ba người.
Con cháu của Ghi-ba có chín mươi lăm người.
Những người ở Bết-lê-hem có một trăm hai mươi ba người.
Những người ở Nê-tô-pha có năm mươi sáu người.
Những người ở A-na-tốt có một trăm hai mươi tám người.
Con cháu của Ách-ma-vết có bốn mươi hai người.
Con cháu của Ki-ri-át A-rim, Kê-phi-ra, và Bê-ê-rốt có bảy trăm bốn mươi ba người.
Con cháu của Ra-ma và Ghê-ba có sáu trăm hai mươi mốt người.
Những người ở Mích-ma có một trăm hai mươi hai người.
Những người ở Bê-tên và A-hi có hai trăm hai mươi ba người.
Con cháu của Nê-bô có năm mươi hai người.
Con cháu của Mách-bi có một trăm năm mươi sáu người.
Con cháu của Ê-lam khác có một nghìn hai trăm năm mươi bốn người.
Con cháu của Ha-rim có ba trăm hai mươi người.
Con cháu của Lót, Ha-đít, và Ô-nô có bảy trăm hai mươi lăm người.
Những người ở Giê-ri-cô có ba trăm bốn mươi lăm người.
Con cháu của Sê-na có ba nghìn sáu trăm ba mươi người.
Những thầy tế lễ gồm có: con cháu của Giê-đa-gia, thuộc về gia đình Giê-sua, tất cả là chín trăm bảy mươi ba người.
Con cháu của Y-mê có một nghìn không trăm năm mươi hai người.
Con cháu của Pha-su-rơ có một nghìn hai trăm bốn mươi bảy người.
Con cháu của Ha-rim có một nghìn không trăm mười bảy người.
Những người Lê-vi gồm có: con cháu của Giê-sua, Cát-mi-ên, và con cháu của Hô-đa-via, tất cả là bảy mươi bốn người.
Những ca sĩ gồm có: con cháu của A-sáp tất cả là một trăm hai mươi tám người.
Con cháu của những người gác cổng gồm có: con cháu của Sa-lum, con cháu của A-te, con cháu của Tanh-môn, con cháu của A-cúp, con cháu của Ha-ti-ta, và con cháu của Sô-bai, tổng cộng là một trăm ba mươi chín người.
Những người phục vụ trong đền thờ gồm có: con cháu Xi-ha, con cháu Ha-su-pha, con cháu Ta-ba-ốt,
con cháu Kê-rốt, con cháu Sia-ha, con cháu Ba-đôn,
con cháu Lê-ba-na, con cháu Ha-ga-ba, con cháu A-cúp,
con cháu Ha-gáp, con cháu Sam-lai, con cháu Ha-nan,
con cháu Ghi-đên, con cháu Ga-cha, con cháu Rê-a-gia,
con cháu Rê-xin, con cháu Nê-cô-đa, con cháu Ga-xam,
con cháu U-xa, con cháu Pha-sê-a, con cháu Bê-sai,
con cháu A-sê-na, con cháu Mê-u-nim, con cháu Nê-phu-sim,
con cháu Bác-búc, con cháu Ha-cu-pha, con cháu Ha-rua,
con cháu Ba-lút, con cháu Mê-hi-đa, con cháu Hạt-sa,
con cháu Bạt-cô, con cháu Si-sê-ra, con cháu Tha-mác,
con cháu Nê-xia, và con cháu Ha-ti-pha.
Con cháu của các đầy tớ Sa-lô-môn gồm có: con cháu Sô-tai, con cháu Sô-phê-rết, con cháu Phê-ru-đa,
con cháu Gia-a-la, con cháu Đạt-côn, con cháu Ghi-đên,
con cháu Sê-pha-tia, con cháu Hát-tinh, con cháu Bô-kê-rết Ha-xê-ba-im, và con cháu A-mi.
Tổng cộng những người phục vụ trong đền thờ và con cháu của những đầy tớ Sa-lô-môn là ba trăm chín mươi hai người.
Những người sau đây trở về từ Tên Mê-la, Tên Hạt-sa, Kê-rúp A-đan, và Y-mê, nhưng không thể chứng minh gia tộc và phả hệ của họ có thuộc về dòng dõi Y-sơ-ra-ên hay không:
con cháu Đê-la-gia, con cháu Tô-bi-gia, và con cháu Nê-cô-đa, có sáu trăm năm mươi hai người.
Con cháu của các thầy tế lễ gồm có: con cháu Ha-ba-gia, con cháu Ha-cốt, và con cháu Bạt-xi-lai (người nầy cưới một trong các con gái của Bạt-xi-lai ở Ga-la-át, nên được gọi bằng tên ấy.)
Những người nầy tìm kiếm tên mình trong gia phả nhưng không tìm được nên người ta kể họ là ô uế, và bị truất khỏi chức tế lễ.
Tổng đốc cấm họ ăn những vật chí thánh cho đến chừng nào có thầy tế lễ dùng U-rim và Thu-mim mà cầu hỏi Đức Chúa Trời.
Cả hội chúng đếm được bốn mươi hai nghìn ba trăm sáu mươi người,
không kể bảy nghìn ba trăm ba mươi bảy tôi trai tớ gái của họ và hai trăm nam nữ ca sĩ.
Họ có bảy trăm ba mươi sáu con ngựa, hai trăm bốn mươi lăm con la,
bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà, và sáu nghìn bảy trăm hai mươi con lừa.
Khi đã đến đền thờ của Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem, các trưởng tộc dâng những lễ vật lạc hiến cho nhà Đức Chúa Trời để xây cất lại đền thờ trên nền cũ.
Tùy theo sức mình, họ dâng vào quỹ xây dựng đền thờ khoảng năm trăm ký vàng, gần ba tấn bạc, và một trăm bộ lễ phục cho các thầy tế lễ.
Vậy, những thầy tế lễ, người Lê-vi, một số thường dân khác, các ca sĩ, những người gác cổng, những người phục vụ trong đền thờ, về định cư trong thành của họ, và tất cả dân Y-sơ-ra-ên còn lại cũng về định cư trong thành mình.
Đến tháng bảy, khi dân Y-sơ-ra-ên đã định cư trong các thành của họ rồi, thì dân chúng họp lại như một người tại Giê-ru-sa-lem.
Bấy giờ, Giê-sua, con trai của Giô-xa-đác, và anh em của ông là các thầy tế lễ khác, cùng với Xô-rô-ba-bên, con trai Sa-anh-thi-ên, và bà con thân thuộc của ông đều trỗi dậy xây cất bàn thờ Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên để dâng tế lễ thiêu trên đó, như đã chép trong luật pháp của Môi-se, là người của Đức Chúa Trời.
Họ sợ các dân trong xứ nên lập bàn thờ trên nền cũ và dâng trên đó tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va, tức là tế lễ thiêu buổi sáng và buổi chiều.
Họ cũng giữ lễ Lều Tạm, như đã chép, và dâng những tế lễ thiêu ngày nầy qua ngày kia, theo số đã định cho mỗi ngày.
Sau đó, họ dâng những tế lễ thiêu hằng hiến, luôn với những tế lễ vào ngày trăng non và vào tất cả các ngày lễ trọng thể biệt ra thánh cho Đức Giê-hô-va, cũng như dâng các tế lễ tự nguyện của mỗi người cho Đức Giê-hô-va.
Từ ngày mồng một tháng bảy, họ bắt đầu dâng những tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va mặc dù chưa xây nền đền thờ của Đức Giê-hô-va.
Họ cấp tiền bạc cho thợ nề, thợ mộc, cấp thức ăn, thức uống và dầu cho dân Si-đôn và Ty-rơ, để họ đem gỗ bá hương từ Li-ban đến biển Gia-phô, theo chiếu chỉ của Si-ru, vua Ba Tư.
Tháng hai năm thứ hai sau khi đến nhà của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem, thì Xô-rô-ba-bên, con trai của Sa-anh-thi-ên, và Giê-sua, con của Giô-xa-đác, cùng với các anh em khác của họ, là những thầy tế lễ, người Lê-vi, và tất cả những người bị lưu đày đã trở về Giê-ru-sa-lem, khởi công xây cất đền thờ. Họ chỉ định người Lê-vi từ hai mươi tuổi trở lên, trông coi việc xây cất đền thờ của Đức Giê-hô-va.
Bấy giờ, Giê-sua với các con trai và anh em của ông, Cát-mi-ên với các con trai ông, con cháu Hô-đa-via và con cháu Hê-na-đát, là người Lê-vi, với con trai và anh em của họ, cùng nhau giám sát những người làm việc trong nhà của Đức Chúa Trời.
Khi các thợ xây nền của đền Đức Giê-hô-va, các thầy tế lễ mặc áo lễ và cầm kèn, còn những người Lê-vi, con cháu A-sáp, thì cầm chập chõa đứng đó ca ngợi Đức Giê-hô-va theo như Đa-vít, vua Y-sơ-ra-ên, đã quy định.
Họ ca hát đối đáp nhau mà tôn vinh và cảm tạ Đức Giê-hô-va rằng: “Ngài thật tốt lành, Lòng thương xót của Ngài đối với Y-sơ-ra-ên còn đến đời đời!” Rồi toàn dân đồng thanh hô lớn, ca ngợi Đức Giê-hô-va, vì nền của đền thờ Đức Giê-hô-va được xây dựng.
Nhiều thầy tế lễ, người Lê-vi, trưởng tộc, tức là những người già cả đã thấy đền thờ trước kia, khóc lớn tiếng khi thấy nền của đền thờ mới được xây dựng, trong khi nhiều người khác lại reo hò vì vui mừng.
Người ta khó phân biệt tiếng vui mừng với tiếng khóc lóc, vì dân chúng lớn tiếng reo hò và tiếng ấy vang vọng khắp nơi.
Khi các kẻ thù của Giu-đa và Bên-gia-min nghe tin những người bị lưu đày được trở về xây cất đền thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên,
thì chúng đến với Xô-rô-ba-bên và các trưởng tộc và nói: “Chúng tôi muốn cùng xây cất với các ông, vì chúng tôi cũng tìm kiếm Đức Chúa Trời như các ông và chúng tôi đã dâng tế lễ cho Ngài từ đời Ê-sạt Ha-đôn, vua A-si-ri, là người đem chúng tôi đến đây.”
Nhưng Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, cùng các trưởng tộc khác của Y-sơ-ra-ên, trả lời với chúng rằng: “Các ông chẳng được dự phần với chúng tôi trong việc xây cất đền thờ cho Đức Chúa Trời của chúng tôi. Nhưng chỉ một mình chúng tôi sẽ cất đền thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đúng như Si-ru, vua Ba Tư, đã truyền bảo chúng tôi.”
Bấy giờ dân trong xứ làm cho dân Giu-đa nản lòng, sợ hãi trong khi xây cất.
Chúng thuê các cố vấn chống lại dân Giu-đa, nhằm phá hỏng kế hoạch của họ trong suốt thời gian trị vì của Si-ru, vua Ba Tư, cho đến đời Đa-ri-út, vua Ba Tư.
Vào đời vua A-suê-ru, khi vua bắt đầu trị vì, chúng viết một bản cáo trạng về dân Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem.
Đến đời Ạt-ta-xét-xe, thì Bít-lam, Mít-rê-đát, Ta-bê-ên và các đồng liêu của chúng viết sớ tâu lên Ạt-ta-xét-xe, vua Ba Tư. Sớ ấy viết bằng chữ A-ram và được dịch ra cho vua.
Tư lệnh Rê-hum và thư ký Sim-sai cũng viết sớ chống lại Giê-ru-sa-lem dâng lên vua Ạt-ta-xét-xe như sau:
“Tư lệnh Rê-hum, thư ký Sim-sai, và các đồng liêu, tức là người Đi-nít, người A-phạt-sa-thít, người Tạt-bê-lít, người A-phạt-sít, người Ạt-kê-vít, người Ba-by-lôn, người Su-san, người Đê-ha-vít, người Ê-lam,
và các dân tộc khác mà Ô-náp-ba vĩ đại và cao quý đã đem qua và cho định cư trong các thành Sa-ma-ri và các miền khác bên kia sông”
Đây là bản sao của tờ biểu mà chúng tâu lên vua Ạt-ta-xét-xe: “Các đầy tớ của đức vua trong tỉnh phía tây sông Ơ-phơ-rát, kính tâu đức vua Ạt-ta-xét-xe.
Kính tâu đức vua biết rằng những người Do Thái từ nơi vua ở đã đến nơi chúng tôi tại Giê-ru-sa-lem. Chúng đang tái thiết thành phản nghịch, gian ác ấy; chúng bắt đầu xây lại vách thành, còn nền móng đã tu bổ xong rồi.
Vậy, xin đức vua biết rằng nếu thành nầy được xây lại, và vách thành được dựng lên thì chúng sẽ không tiến cống, nộp thuế, hoặc đóng tiền mãi lộ, và ngân khố triều đình bị thiệt hại.
Vì chúng tôi hưởng lộc của triều đình, cũng không nỡ ngồi nhìn đức vua bị xúc phạm, nên chúng tôi sai sứ giả đến tâu lên đức vua,
để người ta tra cứu trong sử ký của các tổ phụ vua. Khi tra cứu trong sách sử ký ấy, đức vua sẽ biết rằng thành nầy vốn là một thành phản nghịch, gây thiệt hại cho các vua và các tỉnh. Từ thuở xưa, dân ở đó hay dấy loạn và vì cớ ấy mà thành nầy đã bị phá hủy.
Chúng tôi trình tâu để đức vua biết rằng nếu thành nầy được cất lại, và vách thành được xây lên thì đức vua sẽ chẳng còn phần đất nào trong tỉnh phía tây sông Ơ-phơ-rát nữa.”
Vua ban chiếu chỉ cho tư lệnh Rê-hum, thư ký Sim-sai, và cho các đồng liêu của chúng ở tại Sa-ma-ri và ở trong các miền khác phía bên kia sông, rằng: “Chúc các ngươi bình an.
Tờ biểu các ngươi dâng lên đã được dịch và đọc rõ ràng trước mặt ta.
Ta đã ra lệnh tra cứu và thấy rằng từ đời xưa, thành nầy đã từng dấy loạn với các vua, phản nghịch và nổi loạn thường xảy ra trong thành nầy.
Tại Giê-ru-sa-lem đã có những vua hùng mạnh cai trị ở bên kia sông, và người ta tiến cống, nộp thuế, và đóng tiền mãi lộ cho các vua đó.
Vì vậy, các ngươi hãy ra lệnh đình chỉ việc tái thiết thành này cho đến khi ta ban chiếu chỉ về việc đó.
Hãy hành xử thận trọng về việc nầy, kẻo lợi ích của nhà vua bị thiệt hại thêm chăng.”
Ngay sau khi đã đọc chiếu chỉ của vua Ạt-ta-xét-xe trước mặt Rê-hum, thư ký Sim-sai và các cộng sự viên thì chúng tức tốc đi đến với dân Do Thái tại Giê-ru-sa-lem, dùng quyền lực buộc họ phải đình chỉ việc xây cất.
Thế là công việc xây cất đền thờ của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem bị đình chỉ cho đến năm thứ hai đời Đa-ri-út, vua Ba Tư, cai trị.
Bấy giờ, nhà tiên tri A-ghê và nhà tiên tri Xa-cha-ri, con của Y-đô, nhân danh Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên rao giảng lời Chúa cho những người Do Thái ở Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
Xô-rô-ba-bên, con trai của Sa-anh-thi-ên, và Giê-sua, con trai của Giô-xa-đác, vừa nghe lời Chúa rao ra liền khởi sự xây cất đền Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem, với sự hỗ trợ của các nhà tiên tri của Đức Chúa Trời.
Trong lúc ấy, Tát-tê-nai, tổng đốc tỉnh phía bên kia sông, Sê-ta Bô-xê-nai, và các đồng liêu, đến tìm dân Do Thái nói với họ: “Ai ban lệnh cho các ông xây cất đền thờ và vách thành nầy?”
Chúng cũng hỏi: “Tên của những người xây cất đền thờ nầy là gì?”
Nhưng Đức Chúa Trời che chở các trưởng lão người Do Thái nên chúng không ngăn cấm việc xây cất cho đến khi trình tâu sự việc lên vua Đa-ri-út, và được nhà vua ban chiếu chỉ về việc ấy.
Đây là bản sao tờ biểu mà Tát-tê-nai, tổng đốc của tỉnh bên kia sông, Sê-ta Bô-xê-nai, và các đồng liêu, người A-phạt-sác, tâu lên vua Đa-ri-út.
Nội dung như sau: “Kính chúc vua Đa-ri-út vạn sự bình an!
Chúng tôi xin tâu lên vua biết rằng chúng tôi đã đi đến tỉnh Giu-đa và đến nhà của Đức Chúa Trời vĩ đại. Người Do Thái xây cất nhà ấy bằng đá nguyên khối và sườn nhà đã gác ngang vách rồi. Công việc được tiến hành cách kỹ lưỡng và tốt đẹp trong tay họ.
Chúng tôi hỏi các trưởng lão ấy rằng: ‘Ai ban lệnh cho các ông cất đền thờ và xây vách thành nầy?’
Chúng tôi cũng hỏi danh tính của họ để tâu cho vua biết các tên của những thủ lĩnh của họ.
Họ trả lời như sau: ‘Chúng tôi vốn là đầy tớ của Đức Chúa Trời, Chúa của trời và đất. Chúng tôi đang tái thiết đền thờ mà nhiều năm trước đây, một vị đại vương của Y-sơ-ra-ên đã xây dựng và hoàn thành.
Nhưng các tổ phụ chúng tôi chọc giận Đức Chúa Trời, nên Ngài phó họ vào tay Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, là người Canh-đê. Vua ấy phá hủy nhà nầy và bắt dân chúng đem qua Ba-by-lôn.
Nhưng vào năm thứ nhất triều đại Si-ru, vua Ba-by-lôn, nhà vua truyền lệnh tái thiết nhà của Đức Chúa Trời.
Vua Si-ru cũng thu hồi từ đền thờ Ba-by-lôn những chậu bằng vàng và bạc của đền Đức Chúa Trời mà Nê-bu-cát-nết-sa đã lấy khỏi đền thờ tại Giê-ru-sa-lem và đem về để trong miếu của Ba-by-lôn. Nhà vua giao các vật ấy cho Sết-ba-xa, là người được lập làm tổng đốc.’
Vua bảo ông: ‘Hãy lấy các vật dụng nầy đặt trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, và xây dựng lại nhà của Đức Chúa Trời tại chỗ cũ.’
Như vậy ông Sết-ba-xa đi đến Giê-ru-sa-lem và lập nền của nhà Đức Chúa Trời. Từ đó đến nay, công việc xây dựng vẫn tiếp tục nhưng chưa hoàn thành.
Vậy bây giờ, nếu đẹp ý vua, xin cho tra cứu trong văn khố hoàng gia tại Ba-by-lôn thử xem có thật vua Si-ru ban chiếu chỉ tái thiết nhà của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem hay không. Sau đó, xin vua ban chiếu chỉ về vấn đề nầy.”
Vua Đa-ri-út ra lệnh tra cứu các hồ sơ lưu trữ trong văn khố tại Ba-by-lôn.
Người ta tìm được tại Éc-ba-tan, thủ phủ tỉnh Mê-đi, một cuộn da trong đó có viết:
“Vào năm thứ nhất đời Si-ru, vua ban chiếu chỉ về đền thờ Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem như sau: ‘Hãy xây cất lại đền thờ Đức Chúa Trời trên nền cũ để làm nơi dâng tế lễ. Đền thờ cao khoảng ba mươi mét và rộng khoảng ba mươi mét,
với ba hàng đá nguyên khối và một hàng xà ngang gỗ mới. Kinh phí sẽ do ngân khố triều đình đài thọ.
Các vật dụng bằng vàng và bạc của nhà Đức Chúa Trời mà Nê-bu-cát-nết-sa đã lấy trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem và đem qua Ba-by-lôn, thì nay phải hoàn trả cho đền thờ ở Giê-ru-sa-lem và đặt chúng lại vị trí cũ trong đền thờ Đức Chúa Trời.’”
“Vậy bây giờ, hỡi Tát-tê-nai, tổng đốc của tỉnh bên kia sông, hỡi Sê-ta Bô-xê-nai và các đồng liêu người A-phạt-sác bên kia sông, các ngươi hãy tránh xa nơi đó, đừng can thiệp vào việc xây cất đền thờ của Đức Chúa Trời.
Hãy để cho tổng đốc người Do Thái và các trưởng lão của họ xây cất lại đền thờ của Đức Chúa Trời trên chỗ cũ.
Sau đây là sắc lệnh của ta liên quan đến việc các ngươi phải làm đối với các trưởng lão Do Thái trong việc xây cất lại đền thờ của Đức Chúa Trời: Hãy lấy số thu nhập của triều đình từ các phần công thuế trong tỉnh phía tây Sông Ơ-phơ-rát mà trả đầy đủ các chi phí cho những người đó để công việc không bị đình trệ.
Bất cứ vật gì họ cần như bò tơ đực, chiên đực hay là chiên con, hoặc lúa mì, muối, rượu, hay là dầu, dùng làm tế lễ thiêu dâng lên Đức Chúa trên trời, theo những thầy tế lễ ở tại Giê-ru-sa-lem yêu cầu, thì cấp cho họ đầy đủ mỗi ngày,
để họ dâng những tế lễ tỏa hương thơm cho Đức Chúa trên trời, và cầu nguyện cho trẫm cùng các vương tử được trường thọ.
Ta cũng truyền lệnh rằng, nếu ai làm trái chiếu chỉ nầy thì hãy lấy một cây đòn tay trong nhà kẻ ấy chuốc nhọn và đâm vào người hắn và nhà nó sẽ thành một đống rác.
Nguyện Đức Chúa Trời, Đấng đã khiến danh Ngài ngự trong đền ấy, sẽ hủy diệt vua nào, dân tộc nào dám ra tay sửa đổi sắc lệnh nầy mà phá hủy đền thờ Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem. Ta là Đa-ri-út ban chiếu chỉ này. Hãy nghiêm chỉnh chấp hành!”
Tát-tê-nai, quan tổng đốc của tỉnh bên kia sông, Sê-ta Bô-xê-nai và các đồng liêu nghiêm chỉnh thi hành sắc lệnh mà vua Đa-ri-út đã ban.
Vậy các trưởng lão Do Thái tiếp tục xây cất đền thờ và công việc được may mắn, đúng như lời của nhà tiên tri A-ghê và nhà tiên tri Xa-cha-ri, con trai của Y-đô. Họ hoàn tất việc xây dựng theo lệnh Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên và theo chiếu chỉ của các vua Ba Tư là Si-ru, Đa-ri-út, và Ạt-ta-xét-xe.
Đền thờ nầy hoàn thành vào ngày thứ ba, tháng A-đa, trong năm thứ sáu đời vua Đa-ri-út.
Dân Y-sơ-ra-ên, những thầy tế lễ, người Lê-vi, và những người khác từ chốn lưu đày trở về, làm lễ khánh thành đền thờ của Đức Chúa Trời cách vui mừng.
Trong dịp lễ khánh thành đền thờ của Đức Chúa Trời, họ dâng một trăm con bò đực, hai trăm con chiên đực, bốn trăm con chiên con, và tùy theo số các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, họ cũng dâng mười hai con dê đực làm tế lễ chuộc tội cho toàn dân Y-sơ-ra-ên.
Họ thiết lập những thầy tế lễ và những người Lê-vi tùy theo ban thứ của họ, để phụng sự Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem, đúng như đã chép trong sách của Môi-se.
Vào ngày mười bốn tháng giêng, những người bị lưu đày trở về giữ lễ Vượt Qua.
Tất cả những thầy tế lễ và người Lê-vi không trừ một ai, đều làm lễ thanh tẩy. Rồi họ vì tất cả những người bị lưu đày trở về, vì những thầy tế lễ, là anh em mình, và vì chính mình mà giết chiên con của lễ Vượt Qua.
Những người Y-sơ-ra-ên bị lưu đày trở về ăn lễ Vượt Qua cùng với những người đã từ bỏ sự ô uế của các dân tộc trong xứ để tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Họ giữ lễ Bánh Không Men trong bảy ngày cách vui vẻ, vì Đức Giê-hô-va đã làm cho lòng họ hân hoan khi đổi lòng vua A-si-ri, khiến nhà vua giúp đỡ họ xây cất đền thờ của Đức Chúa Trời, tức là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Sau các việc ấy, dưới triều Ạt-ta-xét-xe, vua Ba Tư, có ông E-xơ-ra là con trai Sê-ra-gia,
Sê-ra-gia, con trai A-xa-ria, A-xa-ria, con trai Hinh-kia, Hinh-kia, con trai của Sa-lum, Sa-lum, con trai của Xa-đốc, Xa-đốc, con trai của A-hi-túp,
A-hi-túp, con trai của A-ma-ria, A-ma-ria con trai của A-xa-ria, A-xa-ria con trai của Mê-ra-giốt,
Mê-ra-giốt con trai của Xê-ra-hi-gia, Xê-ra-hi-gia con trai của U-xi,
U-xi con trai của Bu-ki, Bu-ki con trai của A-bi-sua, A-bi-sua con trai của Phi-nê-a, Phi-nê-a con trai của Ê-lê-a-sa, Ê-lê-a-sa con trai của A-rôn, là thầy tế lễ đầu tiên.
Chính ông E-xơ-ra nầy từ Ba-by-lôn trở về. Ông là một học giả am hiểu luật pháp Môi-se mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã truyền dạy. Nhờ tay của Đức Giê-hô-va giúp đỡ nên vua chấp thuận mọi điều ông thỉnh cầu.
Vào năm thứ bảy đời vua Ạt-ta-xét-xe, có một số người Y-sơ-ra-ên gồm các thầy tế lễ, người Lê-vi, các ca sĩ, những người gác cổng, và những người phục vụ đền thờ cùng ông trở lên Giê-ru-sa-lem.
Tháng năm, năm thứ bảy đời vua ấy, E-xơ-ra đến thành Giê-ru-sa-lem.
Ông khởi hành từ Ba-by-lôn vào ngày mồng một tháng giêng, và nhờ tay nhân lành của Đức Chúa Trời giúp đỡ, ông đã đến Giê-ru-sa-lem vào ngày mồng một tháng thứ năm.
Vì E-xơ-ra chuyên tâm nghiên cứu luật pháp của Đức Giê-hô-va, tuân giữ và dạy cho dân Y-sơ-ra-ên biết luật pháp và các quy định.
Đây là bản sao chiếu chỉ mà vua Ạt-ta-xét-xe giao cho E-xơ-ra, thầy tế lễ cũng là học giả thông thạo về điều răn và luật lệ mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Y-sơ-ra-ên:
“Ạt-ta-xét-xe, vua của các vua, gửi cho E-xơ-ra, thầy tế lễ cũng là học giả thông thạo luật pháp của Đức Chúa trên trời. Chúc ngươi vạn sự bình an!
Ta ra chiếu chỉ rằng bất cứ người Y-sơ-ra-ên nào ở trong nước, hoặc thường dân, hoặc thầy tế lễ hay người Lê-vi, muốn đi đến Giê-ru-sa-lem thì hãy đi cùng với ngươi.
Ta và bảy cố vấn của ta sai ngươi đi điều tra về Giu-đa và về Giê-ru-sa-lem dựa theo luật pháp của Đức Chúa Trời mà ngươi có trong tay.
Ngươi phải đem theo vàng và bạc mà vua và các cố vấn tự nguyện hiến dâng cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Đấng đang ngự tại Giê-ru-sa-lem,
cùng với bạc, vàng mà ngươi thu thập được trong tỉnh Ba-by-lôn, cũng như những lễ vật do dân chúng và thầy tế lễ tự nguyện dâng cho đền thờ của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem.
Ngươi hãy cẩn trọng dùng bạc nầy để mua bò đực, chiên đực, chiên con, luôn với tế lễ chay, lễ quán mà dâng trên bàn thờ trong đền Đức Chúa Trời các ngươi tại Giê-ru-sa-lem.
Còn bạc và vàng dư lại, ngươi và anh em ngươi có thể dùng làm việc gì mình cho là tốt, theo ý muốn của Đức Chúa Trời các ngươi.
Về các vật dụng đã giao cho ngươi để dùng vào việc thờ phượng trong đền Đức Chúa Trời ngươi, thì hãy đặt chúng trước mặt Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem.
Còn các vật dụng khác cần dùng cho đền Đức Chúa Trời ngươi, thì kho của hoàng gia sẽ cung cấp cho ngươi.
Vậy, ta là vua Ạt-ta-xét-xe ra chiếu chỉ truyền cho các thủ quỹ bên kia sông: Bất cứ vật gì E-xơ-ra, thầy tế lễ cũng là học giả thông thạo luật pháp của Đức Chúa trên trời, yêu cầu thì các ngươi phải cung cấp đầy đủ,
dù đến ba tấn rưỡi bạc, một trăm bao lúa mì, một trăm thùng rượu, một trăm thùng dầu, và muối cũng không hạn chế.
Bất cứ điều gì Đức Chúa trên trời truyền dạy về đền của Ngài, thì hãy cẩn trọng thi hành, kẻo cơn thịnh nộ giáng trên vương quốc của vua và trên các vương tử chăng.
Ta cũng truyền cho các ngươi không được phép thu thuế hay tiền mãi lộ nơi các thầy tế lễ, người Lê-vi, các ca sĩ, những người gác cổng, những người phục vụ đền thờ hay là các người phục vụ khác trong đền Đức Chúa Trời.
Còn ngươi, E-xơ-ra, tùy theo sự khôn ngoan mà Đức Chúa Trời đã ban cho ngươi, hãy lập những quan chức, thẩm phán, là những người thông thạo luật pháp của Đức Chúa Trời để họ xét xử cả dân chúng ở bên kia sông. Còn những người nào không biết luật pháp thì các ngươi hãy dạy cho họ biết.
Nếu ai bất tuân luật pháp của Đức Chúa Trời ngươi và luật lệ của vua thì các ngươi hãy trừng phạt nghiêm khắc, hoặc xử tử, hoặc lưu đày, hoặc tịch thu tài sản hay bỏ tù.”
E-xơ-ra thưa: “Chúc tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi, là Đấng đã đặt trong lòng vua điều nầy để tô điểm đền thờ của Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem,
và khiến cho tôi được ơn trước mặt vua, các cố vấn và các quan chức quyền thế của vua! Tôi được can đảm vì tay của Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi ở với tôi và tôi tập hợp các nhà lãnh đạo Y-sơ-ra-ên để hồi hương với tôi.”
Đây là những trưởng tộc và những người từ Ba-by-lôn trở về với tôi kể theo gia phả, dưới triều vua Ạt-ta-xét-xe:
Về con cháu Phi-nê-a có Ghẹt-sôn; về con cháu Y-tha-ma có Đa-ni-ên; về con cháu Đa-vít có Hát-túc;
Về con cháu Sê-ca-nia, con cháu Pha-rốt, có Xa-cha-ri và những người cùng đi với ông tính theo gia phả, được một trăm năm mươi người nam.
Về con cháu Pha-hát Mô-áp có Ê-li-ô-ê-nai, con trai của Xê-ra-hi-gia và những người cùng đi với ông, được hai trăm người nam.
Về con cháu Sê-ca-nia có con trai Gia-ha-xi-ên, và những người cùng đi với ông, được ba trăm người nam.
Về con cháu A-đin có Ê-bết, con trai Giô-na-than và những người cùng đi với ông, được năm mươi người nam.
Về con cháu Ê-lam có Ê-sai, con trai A-tha-lia, và những người cùng đi với ông, được bảy mươi người nam.
Về con cháu Sê-pha-tia có Xê-ba-đia, con trai Mi-ca-ên, và những người cùng đi với ông, được tám mươi người nam.
Về con cháu Giô-áp có Áp-đia, con trai Giê-hi-ên và những người cùng đi với ông, được hai trăm mười tám người nam.
Về con cháu Sê-lô-mít có con trai Giô-si-phia, và những người cùng đi với ông, được một trăm sáu mươi người nam.
Về con cháu Bê-bai có Xa-cha-ri, con trai của Bê-bai và những người cùng đi với ông, được hai mươi tám người nam.
Về con cháu A-gát có Giô-ha-nan, con trai của Ha-ca-tan, và những người cùng đi với ông, được một trăm mười người nam.
Những người thuộc con cháu A-đô-ni-cam đến sau cùng, tên của họ là: Ê-li-phê-lết, Giê-i-ên, và Sê-ma-gia, và những người cùng đi với họ, được sáu mươi người nam.
Về con cháu Biết-vai có U-thai và Xáp-bút, và những người cùng đi với họ, được bảy mươi người nam.
Tôi tập hợp họ bên bờ kênh chảy về A-ha-va, và chúng tôi đóng trại tại đó ba ngày. Khi kiểm tra dân chúng và các thầy tế lễ, tôi không thấy một người Lê-vi nào cả.
Tôi liền triệu tập các thủ lĩnh Ê-li-ê-xe, A-ri-ên, Sê-ma-gia, Ê-na-than, Gia-ríp, Ên-na-than, Na-than, Xa-cha-ri, và Mê-su-lam, cùng với Giô-gia-ríp và Ên-na-than là các học giả.
Tôi phái họ đến với thủ lĩnh Y-đô ở tại Ca-si-phia, bảo Y-đô và các anh em ông, tức những người phục vụ đền thờ, ở tại Ca-si-phia đem đến cho chúng tôi những người phục vụ trong đền thờ Đức Chúa Trời chúng ta.
Nhờ tay Đức Chúa Trời giúp đỡ, các người ấy đem đến cho chúng tôi một người khôn ngoan, thuộc dòng dõi Mách-li, là hậu tự của Lê-vi, con trai của Y-sơ-ra-ên, tên là Sê-rê-bia và các con trai cùng anh em của ông, tất cả là mười tám người;
cũng có Ha-sa-bia và Ê-sai, thuộc dòng dõi Mê-ra-ri, cùng các anh em và các con trai của ông, tất cả là hai mươi người.
Ngoài ra, những người phục vụ đền thờ mà Đa vít và các triều thần đã lập để phụ giúp người Lê-vi, có hai trăm hai mươi người được ghi trong danh sách.
Tại đó, bên bờ kênh A-ha-va, tôi kêu gọi kiêng ăn để hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời chúng tôi và cầu xin Ngài chỉ cho con đường chính đáng để chúng tôi và con cái chúng tôi đi, cùng với tài sản của mình.
Tôi cảm thấy hổ thẹn, không dám xin vua một toán quân và kỵ binh bảo vệ chúng tôi khỏi kẻ thù trong lúc đi đường bởi vì chúng tôi có nói với vua rằng: “Tay của Đức Chúa Trời chúng tôi giúp đỡ mọi người tìm kiếm Ngài, nhưng quyền năng và cơn thịnh nộ của Ngài chống cự những kẻ nào lìa bỏ Ngài.”
Vậy, chúng tôi kiêng ăn và cầu xin Đức Chúa Trời điều ấy và Ngài nhậm lời chúng tôi.
Trong số các thầy tế lễ cả, tôi chọn mười hai người, là Sê-rê-bia, Ha-sa-bia cùng với mười người anh em của họ.
Rồi tôi cân cho họ bạc, vàng và những vật dụng mà vua, các cố vấn, các triều thần của vua, cùng cả dân Y-sơ-ra-ên có mặt tại đó, đã dâng cho nhà của Đức Chúa Trời chúng ta.
Vậy, tôi cân và giao cho họ khoảng hai mươi tấn bạc, vật dụng bằng bạc khoảng ba tấn và ba tấn vàng,
hai mươi chén bằng vàng khoảng tám ký rưỡi, và hai cái chậu bằng đồng thượng hạng bóng loáng, quý như vàng.
Rồi tôi nói với họ: “Anh em đã được biệt ra thánh cho Đức Giê-hô-va, và các vật dụng nầy cũng là thánh. Bạc và vàng nầy là lễ vật tự nguyện dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta.
Hãy gìn giữ các vật dụng ấy kỹ lưỡng cho đến khi anh em cân lại trước mặt các thầy tế lễ cả và người Lê-vi, cùng trước mặt các trưởng tộc của Y-sơ-ra-ên tại Giê-ru-sa-lem, trong các phòng của đền thờ Đức Giê-hô-va.”
Vậy, những thầy tế lễ và người Lê-vi sau khi đã cân bạc, vàng, và những vật dụng rồi, thì thu nhận để đem đến Giê-ru-sa-lem, đặt trong đền thờ của Đức Chúa Trời chúng ta.
Ngày mười hai tháng giêng, chúng tôi khởi hành từ kênh A-ha-va để đi đến Giê-ru-sa-lem. Tay của Đức Chúa Trời phù hộ chúng tôi, giải cứu chúng tôi khỏi tay các kẻ thù và bọn cướp dọc đường.
Và chúng tôi đến Giê-ru-sa-lem, ở tại đó ba ngày.
Ngày thứ tư, chúng tôi cân lại bạc, vàng, và những vật dụng trong đền của Đức Chúa Trời, rồi giao cho Mê-rê-mốt, con trai U-ri, thầy tế lễ (cùng với ông có Ê-lê-a-sa, con trai của Phi-nê-a, Giô-xa-báp, con trai Giê-sua, và Nô-a-đia, con trai Bin-nui, người Lê-vi.)
Tất cả đều được đếm và cân; trọng lượng của mỗi vật được ghi vào sổ ngay lúc ấy.
Những người bị lưu đày trở về dâng tế lễ thiêu cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên gồm mười hai con bò đực cho cả Y-sơ-ra-ên, chín mươi sáu con chiên đực, bảy mươi bảy con chiên con, và mười hai con dê đực để làm tế lễ chuộc tội: Tất cả đều dâng làm tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va.
Họ giao chiếu chỉ của vua cho các tỉnh trưởng và cho các tổng đốc của vua ở phía bên kia sông. Những vị nầy giúp đỡ dân chúng và công việc đền thờ của Đức Chúa Trời.
Sau các việc ấy, những người lãnh đạo đến nói với tôi: “Dân Y-sơ-ra-ên, kể cả những thầy tế lễ và người Lê-vi đều không sống tách biệt với các dân tộc trong xứ, nhưng bắt chước theo những tập tục ghê tởm của dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân Phê-rê-sít, dân Giê-bu-sít, dân Am-môn, dân Mô-áp, dân Ai Cập, và dân A-mô-rít.
Họ và con trai họ đã lấy con gái chúng làm vợ, làm cho dòng dõi thánh đã bị pha trộn với các dân tộc trong xứ. Chính các viên chức và những người lãnh đạo lại là những kẻ phạm tội nặng nhất.”
Khi nghe các lời ấy, tôi xé áo trong và áo tơi mình, bứt râu, nhổ tóc trên đầu rồi ngồi buồn bã.
Tất cả những người họp lại chung quanh tôi đều run sợ trước lời Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên vì tội bất trung mà những người bị lưu đày trở về đã phạm; còn tôi thì kinh hoàng ngồi đó cho đến khi dâng tế lễ buổi chiều.
Đến giờ dâng tế lễ buổi chiều, tôi đứng dậy khỏi nơi khổ nhục, áo trong và áo tơi bị xé rách, rồi quỳ gối xuống, giơ tay hướng về Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi
mà thưa với Ngài: “Lạy Đức Chúa Trời của con, con xấu hổ thẹn thùng không dám ngước mặt lên Ngài là Đức Chúa Trời của con, vì sự gian ác của chúng con cứ chồng chất trên đầu chúng con, và tội lỗi của chúng con cao đến tận trời.
Từ thời tổ phụ chúng con cho đến ngày nay, chúng con đã phạm tội nghiêm trọng. Vì tội ác mình cho nên chúng con, các vua và những thầy tế lễ của chúng con đều bị phó vào tay các vua nước ngoài, bị gươm đao, bị bắt làm nô lệ, bị cướp bóc, và bị sỉ nhục cho đến ngày nay.
Nhưng bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng con đã làm ơn cho chúng con, để một phần sót lại của chúng con thoát khỏi, và ban cho chúng con một đền thờ trong chỗ thánh nầy hầu cho Đức Chúa Trời chúng con làm cho mắt chúng con được sáng và chúng con được hồi sinh phần nào từ cảnh lưu đày.
Vì chúng con vốn là những kẻ nô lệ nhưng Đức Chúa Trời của chúng con không bỏ mặc chúng con trong cảnh lưu đày ấy. Ngài đã cho chúng con được ơn trước mặt các vua Ba Tư, khiến chúng con hồi sinh để về tái thiết đền thờ Đức Chúa Trời chúng con, trùng tu những nơi đổ nát, và ban cho chúng con một chỗ ở an ninh trong xứ Giu-đa và thành Giê-ru-sa-lem.
Bây giờ, lạy Đức Chúa Trời của chúng con, sau những điều nầy, chúng con sẽ nói làm sao? Vì chúng con đã lìa bỏ những điều răn của Ngài.
Ngài đã dùng các nhà tiên tri là đầy tớ Ngài mà phán dạy chúng con rằng: ‘Xứ mà các con sẽ vào chiếm lấy đó là một xứ bị ô uế bởi sự ô uế của các dân tộc trong xứ. Bằng những tập tục ghê tởm, chúng đã làm ô uế khắp nơi trong xứ ấy.
Vì thế, đừng gả con gái các con cho con trai của chúng và cũng đừng cưới con gái của chúng cho con trai của các con. Cũng đừng tìm kiếm thịnh vượng hoặc sự bình an của chúng, để các con trở nên mạnh mẽ, ăn hoa lợi của xứ, và để đất ấy lại cho con cái của các con làm cơ nghiệp đời đời.’
Sau những tai họa đã giáng trên chúng con do các việc ác và tội trọng của chúng con, — lạy Đức Chúa Trời của chúng con ôi! Thật Chúa không phạt tội lỗi chúng con như đáng phải bị phạt, mà lại ban cho chúng con được phần sót lại như thế nầy, —
vậy lẽ nào chúng con lại vi phạm các điều răn của Chúa, kết hôn với các dân theo những thói tục ghê tởm nầy nữa sao? Cơn thịnh nộ của Chúa sẽ không giáng trên chúng con, tiêu diệt chúng con đến nỗi không còn ai sót lại hoặc trốn thoát sao?
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Chúa thật công chính! Chúng con chỉ là một số ít người còn sót lại như đã thấy ngày nay. Nầy chúng con đang ở trước mặt Chúa, đầy dẫy tội lỗi, mặc dù chẳng ai có thể đứng nổi trước mặt Ngài trong tình trạng như vậy.”
Trong lúc E-xơ-ra cầu nguyện, vừa khóc vừa xưng tội và phủ phục trước đền thờ của Đức Chúa Trời, thì một đoàn dân Y-sơ-ra-ên, gồm cả nam nữ và trẻ em nhóm họp chung quanh ông, cũng khóc nức nở.
Sê-ca-nia, con trai Giê-hi-ên, cháu của Ê-lam, thưa với E-xơ-ra: “Chúng tôi đã phạm tội với Đức Chúa Trời chúng tôi mà cưới những phụ nữ ngoại đạo thuộc các dân tộc trong xứ. Dù vậy, vẫn còn hi vọng cho Y-sơ-ra-ên.
Vậy bây giờ, chúng ta hãy lập giao ước với Đức Chúa Trời chúng ta, đuổi tất cả những người vợ nầy và các con cái của họ như lời khuyên bảo của chúa tôi và của những người có lòng kính sợ điều răn của Đức Chúa Trời chúng ta. Chúng ta hãy làm điều ấy theo luật pháp Chúa dạy.
Xin ông bắt tay vào việc, vì đây là công việc của ông, và chúng tôi sẽ giúp đỡ ông; xin ông can đảm hành động!”
E-xơ-ra đứng dậy, bảo những thầy tế lễ cả, người Lê-vi, và cả Y-sơ-ra-ên thề rằng họ sẽ làm theo lời ấy. Họ liền thề.
Khi ra khỏi đền thờ Đức Chúa Trời, E-xơ-ra vào phòng của Giô-ha-nan, con trai Ê-li-a-síp. Ông vào đó không ăn bánh cũng không uống nước, vì ông than khóc về tội bất trung của những người bị lưu đày trở về.
Người ta loan báo khắp xứ Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, kêu gọi tất cả người bị lưu đày trở về phải nhóm họp tại Giê-ru-sa-lem.
Trong vòng ba ngày, nếu ai không đến theo lệnh của các viên chức và các trưởng lão thì tài sản người ấy sẽ bị tịch thu, và chính người ấy bị khai trừ khỏi hội chúng của những người lưu đày hồi hương.
Trong ba ngày, tất cả những người Giu-đa và Bên-gia-min đều nhóm lại tại Giê-ru-sa-lem vào ngày hai mươi tháng chín. Tất cả dân chúng đều ngồi tại quảng trường trước đền thờ Đức Chúa Trời, run sợ về việc ấy và về cơn mưa rất lớn.
Thầy tế lễ E-xơ-ra đứng dậy, và nói: “Anh em đã phạm tội, cưới vợ ngoại đạo và làm cho Y-sơ-ra-ên tội lỗi chất chồng.
Vậy bây giờ, hãy xưng tội với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em, và làm theo ý muốn Ngài: Hãy tách biệt khỏi các dân tộc trong xứ và khỏi những người vợ ngoại đạo.”
Cả hội chúng đều đáp lớn tiếng rằng: “Phải, chúng tôi phải làm theo lời ông dạy.
Nhưng dân chúng rất đông và nhằm vào mùa mưa nên chúng tôi không thể đứng ngoài trời. Hơn nữa, việc nầy không thể giải quyết trong một hai ngày, vì nhiều người trong chúng tôi đã vi phạm điều nầy.
Vậy, xin để các quan chức chúng tôi đứng ở đó đại diện cho cả hội chúng. Tất cả những người đã cưới vợ ngoại đạo trong tất cả các thành phải đến với các trưởng lão và thẩm phán của thành mình theo thời gian quy định, để giải quyết việc nầy cho đến khi cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời chúng tôi nguôi đi.”
Chỉ có Giô-na-than, con trai của A-sa-ên, và Gia-xi-gia, con trai Tiếc-va, chống đối việc nầy, còn Mê-su-lam và Sáp-bê-tai, người Lê-vi, đều ủng hộ họ.
Vậy, những người bị lưu đày trở về làm theo điều đã quy định. Người ta chọn E-xơ-ra, thầy tế lễ, và các trưởng tộc tùy theo từng gia tộc mình, và đều được chỉ định đích danh. Ngày mồng một tháng mười, họ ngồi xuống để điều tra từng trường hợp.
Đến ngày mồng một tháng giêng, họ đã hoàn tất việc điều tra những người đã cưới vợ ngoại đạo.
Trong số các thầy tế lễ cũng có người đã cưới vợ ngoại đạo. Thuộc dòng dõi Giê-sua, con của Giô-xa-đác, và các anh em ông có Ma-a-xê-gia, Ê-li-ê-xe, Gia-ríp, và Ghê-đa-lia.
Họ hứa đuổi vợ ngoại đạo và dâng một con chiên đực làm tế lễ chuộc lỗi mình.
Thuộc dòng dõi Y-mê có Ha-na-ni và Xê-ba-đia.
Thuộc dòng dõi Ha-rim có Ma-a-xê-gia, Ê-li, Sê-ma-gia, Ghê-hi-ên, và U-xia.
Thuộc dòng dõi Pha-su-rơ có Ê-li-ô-ê-nai, Ma-a-xê-gia, Ích-ma-ên, Na-tha-na-ên, Giô-xa-bát, và Ê-lê-a-sa.
Thuộc dòng dõi người Lê-vi có Giô-xa-bát, Si-mê-i, Kê-la-gia (cũng gọi là Kê-li-ta), Phê-ta-hia, Giu-đa, và Ê-li-ê-xe.
Thuộc dòng dõi các ca sĩ có Ê-li-a-síp; thuộc dòng dõi những người gác cổng có Sa-lum, Tê-lem, và U-ri.
Còn trong dân Y-sơ-ra-ên: Thuộc về dòng dõi Pha-rốt có Ra-mia, Y-xia, Manh-ki-gia, Mi-gia-min, Ê-lê-a-sa, Manh-ki-gia, và Bê-na-gia.
Thuộc dòng dõi Ê-lam có Mát-ta-nia, Xa-cha-ri, Giê-hi-ên, Áp-đi, Giê-rê-mốt, và Ê-li.
Thuộc dòng dõi Xát-tu có Ê-li-ô-ê-nai, Ê-li-a-síp, Mát-ta-nia, Giê-rê-mốt, Xa-bát, và A-xi-xa.
Thuộc dòng dõi Bê-bai có Giô-ha-nan, Ha-na-nia, Xáp-bai, và Át-lai.
Thuộc dòng dõi Ba-ni có Mê-su-lam, Ma-lúc, A-đa-gia, Gia-sút, Sê-anh, và Ra-mốt.
Thuộc dòng dõi Pha-hát Mô-áp có Át-na, Kê-lanh, Bê-na-gia, Ma-a-xê-gia, Mát-ta-nia, Bết-sa-lê-ên, Bin-nui, và Ma-na-se.
Thuộc dòng dõi Ha-rim có Ê-li-ê-xe, Di-si-gia, Manh-ki-gia, Sê-ma-gia, Si-mê-ôn,
Bên-gia-min, Ma-lúc, và Sê-ma-ria.
Thuộc dòng dõi Ha-sum có Mát-nai, Mát-ta-tha, Xa-bát, Ê-li-phê-lết, Giê-rê-mai, Ma-na-se, và Si-mê-i.
Thuộc dòng dõi Ba-ni có Ma-ê-đai, Am-ram, U-ên,
Bê-na-gia, Bê-đia, Kê-lu-hu,
Va-nia, Mê-rê-mốt, Ê-li-a-síp,
Mát-ta-nia, Mát-tê-nai, Gia-a-sai,
Ba-ni, Bin-nui, Si-mê-i,
Sê-lê-mia, Na-than, A-đa-gia,
Mác-nát-bai, Sa-sai, Sa-rai,
A-xa-rên, Sê-lê-mia, Sê-ma-ria,
Sa-lum, A-ma-ria, và Giô-sép.
Thuộc dòng dõi Nê-bô có Giê-i-ên, Ma-ti-thia, Xa-bát, Xê-bi-na, Giát-đai, Giô-ên và Bê-na-gia.
Tất cả những người ấy đã cưới vợ ngoại đạo và một số người đã có con cái với vợ ngoại đạo đó.
Đây là lời của Nê-hê-mi, con trai Ha-ca-lia. Vào tháng Kít-lêu, năm thứ hai mươi, khi tôi đang ở tại kinh thành Su-sơ,
có một người trong anh em tôi tên là Ha-na-ni với vài người từ Giu-đa đến. Tôi hỏi thăm họ về những người Do Thái còn sót lại, tức là những người trở về từ lưu đày, và về thành Giê-ru-sa-lem.
Họ nói với tôi rằng: “Những người còn sống sót sau lưu đày ở lại trong tỉnh bị hoạn nạn và tủi nhục lắm, còn tường thành Giê-ru-sa-lem thì đổ nát và các cửa thành đã bị lửa đốt cháy.”
Khi nghe những lời ấy, tôi ngồi than khóc, đau buồn mấy ngày; tôi kiêng ăn và cầu nguyện với Đức Chúa Trời của các tầng trời rằng:
“Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các tầng trời, tức Đức Chúa Trời vĩ đại và đáng kính sợ, là Đấng giữ lời giao ước và lòng nhân từ với người nào kính mến và vâng giữ các điều răn của Ngài!
Xin mắt Chúa đoái thương và tai Chúa lắng nghe lời cầu nguyện của con là đầy tớ Chúa, đang ngày đêm cầu nguyện vì dân Y-sơ-ra-ên, là các đầy tớ Chúa ở trước mặt Chúa và xưng các tội của chúng con là dân Y-sơ-ra-ên đã phạm với Ngài. Thật, con và tổ phụ đã phạm tội.
Chúng con có làm những việc đồi bại chống lại Chúa, không vâng giữ điều răn, các quy định và luật lệ của Chúa đã phán dạy Môi-se là đầy tớ Chúa.
Xin Chúa nhớ lại lời Chúa đã phán dạy Môi-se là đầy tớ Chúa rằng: ‘Nếu các con phạm tội, Ta sẽ làm các con tan lạc giữa các dân tộc;
còn nếu các con trở lại với Ta và vâng giữ các điều răn của Ta thì dù những kẻ bị tan lạc của các con ở tận cuối trời, Ta cũng sẽ chiêu tập họ về và đem họ đến nơi Ta đã chọn để danh Ta ngự tại đó.’
Họ là các đầy tớ và con dân của Chúa mà Chúa đã cứu chuộc bằng cánh tay mạnh mẽ, đầy quyền năng của Ngài.
Lạy Chúa, cầu xin Ngài lắng nghe lời cầu nguyện của con là đầy tớ Ngài và của các đầy tớ khác, là những người vui lòng kính sợ danh Ngài. Xin Chúa làm cho con là đầy tớ Chúa hôm nay được may mắn và được ơn thương xót trước mặt người nầy.” Lúc bấy giờ tôi làm chức dâng rượu cho vua.
Vào tháng Ni-san, năm thứ hai mươi đời vua Ạt-ta-xét-xe, khi rượu được dọn sẵn trước mặt vua, tôi lấy rượu dâng cho vua. Chưa bao giờ tôi tỏ vẻ buồn rầu trước mặt vua.
Vì vậy, vua hỏi tôi: “Sao vẻ mặt ngươi buồn rầu mặc dù ngươi không bị bệnh? Hẳn ngươi có điều buồn bã trong lòng.” Lúc ấy tôi rất sợ hãi.
Tôi tâu với vua: “Nguyện vua vạn tuế! Làm sao mặt tôi không buồn khi thành trì là nơi mồ mả của tổ phụ tôi bị tàn phá và các cổng thành đều bị lửa đốt cháy?”
Vua hỏi tôi: “Ngươi cầu xin điều gì?” Tôi cầu nguyện với Đức Chúa Trời của các tầng trời
rồi tâu với vua: “Nếu vua hài lòng và nếu đầy tớ vua được ơn trước mặt vua, xin sai phái tôi về Giu-đa, đến thành có mồ mả của tổ phụ tôi để xây cất nó lại.”
Khi ấy hoàng hậu cũng ngồi bên cạnh vua. Vua hỏi tôi: “Ngươi sẽ đi bao lâu và khi nào ngươi trở về?” Vậy vua bằng lòng sai tôi đi và tôi trình với vua thời gian đi và về.
Tôi cũng tâu với vua: “Nếu vua hài lòng, xin vua trao cho tôi các văn thư gửi các quan tổng đốc tỉnh phía tây sông Ơ-phơ-rát cho phép tôi đi ngang qua cho đến khi tôi đến Giu-đa.
Xin cũng ban chiếu chỉ cho A-sáp, người giữ rừng cho vua, bảo ông ấy cấp cho tôi gỗ làm khung cổng thành cạnh đền thờ và làm tường thành cùng nhà mà tôi sẽ ở đó.” Nhờ bàn tay nhân lành của Đức Chúa Trời tôi giúp đỡ, vua liền ban cho tôi các điều đó.
Vậy tôi đến với các quan tổng đốc bên kia sông và trao cho họ những văn thư của vua. Vua cũng sai những quan chức và kỵ binh đi với tôi.
Khi San-ba-lát, người Hô-rôn, và Tô-bi-gia là triều thần người Am-môn, hay điều đó thì lấy làm bất bình vì có người đến để tìm cách giúp dân Y-sơ-ra-ên được hưng thịnh.
Vậy tôi đến Giê-ru-sa-lem và ở tại đó ba ngày.
Tôi và mấy người cùng theo tôi trỗi dậy lúc ban đêm, không cho ai hay biết điều gì Đức Chúa Trời đã đặt trong lòng tôi để thực hiện cho Giê-ru-sa-lem. Ngoài con lừa tôi cưỡi thì chẳng có con vật nào khác ở với tôi.
Ban đêm tôi rời thành qua cổng Thung Lũng hướng về phía Suối Rồng và đến cổng Phân để xem xét các tường thành của Giê-ru-sa-lem bị đổ nát và các cổng thành bị lửa đốt cháy.
Rồi tôi đi qua cổng Suối và đến Ao Vua nhưng không có nơi nào để con lừa tôi cưỡi đi ngang qua được.
Do đó, tôi đi dọc theo thung lũng trong ban đêm để xem xét tường thành rồi tôi quay lại, bước vào cổng Thung Lũng mà trở về.
Các quan chức không biết tôi đi đâu hoặc làm gì, vì tôi chưa nói cho người Do Thái hoặc các thầy tế lễ hoặc các người quyền quý hoặc quan chức hay là những người sẽ làm công việc, biết điều gì.
Tôi nói với họ: “Anh em thấy chúng ta đang lâm vào cảnh khốn khổ, Giê-ru-sa-lem bị phá hủy và các cổng thành bị lửa thiêu đốt. Hãy đến, chúng ta hãy xây lại tường thành Giê-ru-sa-lem để chúng ta không còn bị sỉ nhục nữa.”
Tôi cũng thuật cho họ thế nào bàn tay nhân lành của Đức Chúa Trời đã giúp đỡ tôi và các lời vua đã nói với tôi. Họ nói: “Nào, chúng ta hãy khởi công xây dựng lại ngay đi!” Vậy họ mạnh dạn bắt tay vào công việc tốt đẹp nầy.
San-ba-lát, người Hô-rôn, Tô-bi-gia là triều thần người Am-môn và Ghê-sem người Ả-rập nghe việc đó thì chế giễu và cười nhạo chúng tôi. Chúng nói rằng: “Các ngươi làm gì đấy? Các ngươi muốn phản nghịch vua sao?”
Tôi trả lời với chúng rằng: “Đức Chúa Trời của các tầng trời sẽ giúp chúng tôi thành công. Chúng tôi là đầy tớ Ngài sẽ khởi công xây dựng lại, nhưng các ông thì không có phần hoặc có quyền lưu dấu gì ở Giê-ru-sa-lem cả.”
Thầy tế lễ thượng phẩm Ê-li-a-síp cùng với các anh em mình là những thầy tế lễ khởi công xây cất cổng Chiên và biệt ra thánh rồi tra hai cánh cửa. Họ tiếp tục xây đến tháp Mê-a và biệt ra thánh rồi xây tiếp đến tháp Ha-na-nê-ên.
Người thành Giê-ri-cô xây dựng phần kế tiếp. Xa-cu, con trai của Im-ri, xây dựng phần tiếp theo.
Con cháu của Hát-sê-na xây dựng cổng Cá. Họ đặt khung rồi tra cửa với chốt và then cài.
Mê-rê-mốt, con trai của U-ri, cháu của Ha-cốt, xây sửa phần kế tiếp. Mê-su-lam, con trai Bê-rê-kia, cháu Mê-sê-xa-lê-ên, lo việc xây sửa. Kế bên họ, có Xa-đốc, con trai Ba-a-na, lo việc xây sửa.
Bên cạnh họ là người Tê-cô-a lo việc xây sửa, nhưng các người quyền quý thì không chịu ghé vai vào công việc của chủ mình.
Giô-gia-đa, con trai của Pha-sê-a và Mê-su-lam, con trai của Bê-sô-đia, xây sửa lại cổng Cũ; họ đặt khung, tra cửa, chốt và then.
Bên cạnh họ là Mê-la-tia, người Ga-ba-ôn và Gia-đôn, người Mê-rô-nốt, cùng với người Ga-ba-ôn và người Mích-pa thuộc về địa hạt của tổng đốc bên kia sông đều làm công tác xây sửa tường thành.
Bên cạnh họ là U-xi-ên, con trai Hạt-ha-gia, làm thợ kim hoàn, sửa chữa tường thành. Tiếp theo, Ha-na-nia là một trong những người thợ làm nước hoa, xây sửa phần kế tiếp. Họ sửa chữa, củng cố Giê-ru-sa-lem cho đến vách Rộng.
Kế họ là Rê-pha-gia, con trai của Hu-rơ, viên quản lý phân nửa quận Giê-ru-sa-lem, sửa chữa tường thành.
Kế đến, Giê-đa-gia, con trai Ha-ru-máp, sửa chữa phần đối diện nhà ông. Kế ông, Hát-túc, con trai của Ha-sáp-nia sửa chữa tường thành.
Manh-ki-gia, con trai của Ha-rim và Ha-súp, con trai của Pha-hát Mô-áp, sửa chữa một phần khác và cái tháp Lò.
Kế cận ông là Sa-lum, con trai của Ha-lô-he, viên quản lý phân nửa kia của quận Giê-ru-sa-lem và các con gái của ông đều sửa chữa tường thành.
Ha-nun và dân cư ở Xa-nô-a sửa chữa cổng Thung Lũng; họ xây dựng lại, rồi tra cửa, chốt và then. Họ cũng xây bốn trăm năm mươi mét tường ngăn cho đến cổng Phân.
Manh-ki-gia, con trai Rê-cáp, viên quản lý quận Bết Hát-kê-rem, sửa chữa cổng Phân. Ông xây dựng lại cổng, tra cửa, chốt và then.
Sa-lun, con trai của Côn Hô-xê, viên quản lý quận Mích-pa, sửa chữa cổng Suối. Ông xây lại, lợp mái, tra cửa, chốt và then. Ông cũng xây vách ngăn quanh ao Si-lô-ê, gần vườn thượng uyển, cho đến các bậc thang từ thành Đa-vít đi xuống.
Kế ông là Nê-hê-mi, con trai của A-búc, viên quản lý phân nửa quận Bết-xu-rơ, sửa chữa tường thành cho đến chỗ đối diện các lăng tẩm Đa-vít, hồ chứa nước và cho đến nhà của các dũng sĩ.
Tiếp đến là Rê-hum, con trai Ba-ni, người Lê-vi sửa chữa tường thành. Kế ông là Ha-sa-bia, viên quản lý phân nửa quận Kê-i-la, sửa chữa về phần quận mình.
Kế ông, có anh em của Ba-va-i, con trai của Hê-na-đát, viên quản lý phân nửa kia của quận Kê-i-la, sửa chữa tường thành.
Tiếp theo là Ê-xe, con trai của Giô-suê, viên quản lý vùng Mích-pa, sửa chữa một phần khác đối diện dốc đi lên kho vũ khí ở góc thành.
Sau ông có Ba-rúc, con trai của Xáp-bai, hăng hái sửa chữa một phần khác từ góc thành cho đến cửa vào nhà Ê-li-a-síp, thầy tế lễ thượng phẩm.
Tiếp theo, có Mê-rê-mốt, con trai U-ri, cháu Ha-cốt, sửa chữa một phần khác từ cửa vào nhà Ê-li-a-síp cho đến cuối nhà ông ấy.
Sau ông, có những thầy tế lễ ở vùng chung quanh Giê-ru-sa-lem sửa chữa tường thành.
Tiếp theo, Bên-gia-min và Ha-súp sửa chữa phần đối diện nhà mình. Kế đến, A-xa-ria, con trai của Ma-a-xê-gia, cháu A-na-nia, sửa chữa phía bên cạnh nhà mình.
Kế đến, Bin-nui, con trai của Hê-na-đát, sửa chữa một phần khác từ nhà A-xa-ria cho đến chỗ cong và góc thành.
Pha-lanh, con trai của U-xai, sửa chữa chỗ đối diện góc thành và tháp cao nhô ra từ cung điện gần hành lang vệ binh. Kế ông là Phê-đa-gia, con trai của Pha-rốt, sửa chữa tường thành.
Những người phục vụ đền thờ sống ở Ô-phên sửa chữa tường thành cho đến chỗ đối diện cổng Nước về phía đông và tháp nhô ra.
Kế tiếp, người Thê-cô-a sửa chữa một phần khác đối diện tháp lớn nhô ra cho đến tường Ô-phên.
Những thầy tế lễ thì sửa chữa phần phía trên cổng Ngựa, mỗi người sửa phần đối diện nhà của mình.
Tiếp theo, Xa-đốc, con trai Y-mê, sửa chữa phần đối diện nhà mình. Kế đến, Sê-ma-gia, con trai Sê-ca-nia, người giữ cổng Đông, sửa chữa tường thành.
Tiếp theo, Ha-na-nia, con trai của Sê-lê-mia, và Ha-nun, con thứ sáu của Xa-láp, sửa chữa một phần khác. Kế đến, Mê-su-lam, con trai của Bê-rê-kia, sửa chữa nơi đối diện nhà mình.
Kế đó, Manh-ki-gia, một trong những thợ kim hoàn, sửa chữa cho đến nhà của những người phục vụ đền thờ và các thương gia, đối diện cổng Mi-phơ-cát và cho đến phòng cao trên góc thành.
Còn những thợ kim hoàn và các thương gia đều sửa chữa giữa góc thành và cổng Chiên.
Khi San-ba-lát nghe tin chúng tôi xây sửa tường thành thì giận dữ và chế nhạo người Do Thái.
Hắn nói trước mặt anh em hắn và quân đội Sa-ma-ri rằng: “Bọn Do Thái yếu đuối ấy làm được gì? Chúng sẽ xây lại tường thành ư? Chúng sẽ dâng tế lễ sao? Liệu chúng sẽ làm xong trong một ngày chăng? Đá đã cháy thiêu thành đống bụi đất rồi có thể phục hồi thành đá xây được sao?”
Tô-bi-gia, người Am-môn, đứng bên cạnh hắn nói rằng: “Cái tường bằng đá mà chúng đang xây kia nếu có một con chồn leo lên đó cũng đủ sập xuống rồi!”
“Lạy Đức Chúa Trời của chúng con! Xin lắng nghe vì chúng con bị khinh dể. Xin đổ lời sỉ nhục của chúng trên đầu chúng và phó chúng làm của cướp trong xứ mà chúng bị bắt làm tù binh.
Đừng khỏa lấp gian ác của chúng hay bôi xóa tội lỗi chúng khỏi trước mặt Chúa, vì chúng đã chọc giận Chúa trước mặt các thợ xây cất.”
Vậy chúng tôi xây cất tường thành cho đến khi cả bức tường đều nối liền với nhau và lên được phân nửa bề cao, vì dân chúng đều hết lòng làm việc.
Nhưng khi San-ba-lát, Tô-bi-gia, những người Ả-rập, dân Am-môn và dân Ách-đốt nghe tin việc sửa chữa tường thành Giê-ru-sa-lem đang tiến triển và các lỗ hổng được lấp kín thì chúng rất giận dữ.
Chúng họp nhau, âm mưu tiến đánh Giê-ru-sa-lem và làm cho thành bị rối loạn.
Còn chúng tôi thì cầu nguyện với Đức Chúa Trời của chúng tôi và lập người canh gác ngày và đêm để chống lại chúng.
Nhưng người Giu-đa nói: “Còn nhiều đống đổ nát mà sức lực của những người khuân vác đã kiệt quệ, chúng ta không thể xây cất tường thành được.”
Các kẻ thù của chúng tôi nói rằng: “Chúng sẽ không hay không thấy gì cho đến chừng chúng ta đến giữa chúng, giết chúng và làm cho chúng phải ngưng công việc.”
Khi những người Do Thái sống ở gần những kẻ thù báo cho chúng tôi đến mười lần rằng: “Kẻ thù sẽ tấn công chúng ta từ bốn hướng,”
thì tôi lập những đồn trong các nơi thấp phía sau vách thành và ở những nơi trống trải, rồi đặt dân chúng theo từng gia tộc cầm gươm, giáo và cung.
Sau khi xem xét, tôi trỗi dậy và nói với các người quý tộc, viên chức và dân chúng còn lại rằng: “Đừng sợ chúng. Hãy nhớ rằng Chúa là Đấng vĩ đại và đáng kính sợ sẽ chiến đấu cho anh em, con trai, con gái, vợ và cả nhà của anh em.”
Khi các kẻ thù của chúng tôi hay rằng âm mưu của chúng đã bị bại lộ, và Đức Chúa Trời đã phá hỏng âm mưu của chúng thì tất cả chúng tôi đều trở lại nơi tường thành, mỗi người làm công việc mình.
Từ ngày đó, phân nửa số người dưới quyền tôi làm công việc, còn phân nửa kia thì cầm giáo, khiên, cung và mặc áo giáp. Các người lãnh đạo đều đứng phía sau cả nhà Giu-đa,
là những người đang xây sửa tường thành. Những người khuân vác vật liệu thì một tay làm công việc còn tay kia thì cầm vũ khí.
Mỗi người xây dựng đều đeo gươm mình nơi hông khi làm việc. Còn người thổi kèn thì ở bên cạnh tôi.
Tôi nói với các người quý tộc, các viên chức và dân chúng còn lại rằng: “Công việc thì lớn và kéo dài, còn chúng ta làm rải rác quanh tường thành, người này cách xa người kia.
Vậy mỗi khi anh em nghe tiếng kèn nơi nào thì hãy tập hợp lại với chúng tôi nơi đó. Đức Chúa Trời của chúng ta sẽ chiến đấu cho chúng ta.”
Vậy chúng tôi làm việc, phân nửa số người thì cầm giáo từ lúc rạng đông cho đến khi sao mọc.
Trong lúc ấy, tôi cũng nói với dân chúng rằng: “Mỗi người hãy cùng với đầy tớ mình ngủ đêm ở Giê-ru-sa-lem để canh gác ban đêm và làm việc ban ngày.”
Kể cả tôi, anh em tôi, các đầy tớ tôi, và các lính canh theo hộ vệ tôi, không một ai được cởi áo mình ra; mỗi người đều cầm vũ khí trong tay phải mình.
Lúc bấy giờ có một số người cùng vợ con của họ kêu la phản đối người Do Thái là anh em mình.
Có người nói rằng: “Chúng tôi có nhiều con trai, con gái; chúng tôi cần có lúa mì để ăn mà sống chứ!”
Người khác thì nói: “Trong cơn đói kém, chúng tôi cầm ruộng, vườn nho và nhà của chúng tôi để có lúa mì ăn.”
Người khác nữa nói: “Chúng tôi đã vay tiền để đóng thuế ruộng đất và vườn nho của chúng tôi cho vua.
Chúng tôi cũng có thân thể giống như anh em; chúng tôi và con cái chúng tôi cũng giống như con cái họ, nhưng chúng tôi phải bắt các con trai và con gái chúng tôi đi ở đợ. Con gái chúng tôi có đứa đã thành nô tì, nhưng chúng tôi không có quyền chuộc lại vì đồng ruộng và vườn nho chúng tôi đã thuộc về kẻ khác rồi.”
Khi nghe những lời kêu ca, phàn nàn của họ, tôi rất công phẫn.
Tôi suy tính trong lòng và khiển trách các quý tộc cùng các viên chức rằng: “Các ông đã cho anh em mình vay nặng lãi.” Tôi triệu tập một buổi họp đông đảo để đối phó với việc nầy.
Tôi nói: “Chúng tôi đã làm hết sức để chuộc lại anh em chúng tôi là người Do Thái đã bị bán cho các dân tộc khác, còn các ông lại muốn bán anh em mình để họ lại bị mua bán giữa chúng ta sao?” Họ im lặng vì không biết phải ăn nói làm sao.
Tôi nói tiếp: “Điều các ông làm không phải chút nào. Đáng lẽ các ông phải ăn ở trong sự kính sợ Đức Chúa Trời để các dân tộc thù địch không sỉ nhục chúng ta chứ?
Tôi, anh em tôi và các đầy tớ tôi cũng đã cho họ mượn tiền và lúa mì. Vậy chúng ta hãy xóa món nợ nầy đi!
Ngay hôm nay, xin các ông hãy trả lại cho họ đồng ruộng, vườn nho, vườn ô-liu và nhà cửa của họ cùng với lãi suất về tiền, lúa mì, rượu và dầu mà các ông đã bắt họ phải nộp.”
Họ nói: “Chúng tôi sẽ trả lại và không đòi họ điều gì cả. Chúng tôi sẽ làm đúng như ông đã nói.” Tôi cũng gọi những thầy tế lễ, bắt họ phải thề làm theo như lời đã hứa.
Tôi cũng giũ vạt áo và nói: “Ai không thực hiện lời hứa nầy thì xin Đức Chúa Trời giũ sạch nhà cửa và tài sản của hắn. Nguyện hắn bị giũ sạch và trắng tay như vậy!” Cả hội chúng đồng nói: “A-men” và họ ca ngợi Đức Giê-hô-va. Vậy dân chúng đều làm theo lời hứa ấy.
Hơn nữa, từ ngày tôi được lập làm tổng đốc trong xứ Giu-đa, tức từ năm thứ hai mươi cho đến năm thứ ba mươi hai đời vua Ạt-ta-xét-xe, tổng cộng là mười hai năm, tôi và thân nhân tôi không ăn lương bổng dành cho tổng đốc.
Nhưng các tổng đốc đến trước tôi đã chất gánh nặng trên dân chúng, đòi cung cấp lương thực và rượu ngoài số nửa ký bạc. Ngay cả các đầy tớ của họ cũng hống hách với dân chúng nữa. Nhưng tôi không làm như vậy vì kính sợ Đức Chúa Trời.
Tôi giữ vững công việc xây sửa tường thành, và không mua đồng ruộng nào. Các đầy tớ tôi đều họp lại ở đó để làm việc.
Nơi bàn ăn của tôi cũng có một trăm năm mươi người Do Thái và các viên chức, không kể những người đến từ các dân tộc chung quanh.
Mỗi ngày, người ta dọn một con bò, sáu con chiên béo tốt; người ta cũng dọn gà vịt và cứ mười ngày thì đãi đủ các thứ rượu. Tuy nhiên, tôi cũng không đòi lương bổng dành cho tổng đốc vì việc lao dịch đã đè nặng trên dân chúng rồi.
“Lạy Đức Chúa Trời của con! Nguyện Chúa ghi nhớ các việc con đã làm cho dân tộc nầy và làm ơn cho con.”
Khi San-ba-lát, Tô-bi-gia, Ghê-sem là người Ả-rập và các kẻ thù khác của chúng tôi nghe tin rằng tôi đã xây sửa tường thành và không còn lỗ hổng nào nữa (mặc dù cho đến lúc ấy tôi chưa tra cánh cửa)
thì San-ba-lát và Ghê-sem sai người đến nói với tôi: “Xin mời đến, chúng ta sẽ gặp nhau ở một làng nào đó trong đồng bằng Ô-nô.” Nhưng chúng âm mưu hại tôi.
Tôi sai sứ giả đến nói với chúng: “Tôi bận làm công trình lớn, không thể xuống được. Lẽ nào tôi bỏ dở công việc để đi xuống với các ông?”
Chúng sai người nói với tôi bốn lần như vậy và lần nào tôi cũng đều trả lời với chúng y như nhau.
Lần thứ năm, cũng lời mời đó, San-ba-lát sai đầy tớ cầm thư không niêm nơi tay.
Trong thư viết: “Trong các dân tộc người ta nghe đồn và chính Gát-mu cũng nói rằng ông và người Do Thái âm mưu dấy loạn nên mới xây sửa tường thành, và cứ theo lời đồn đó thì ông muốn lên làm vua của họ.
Ông đã lập những nhà tiên tri để công bố tại Giê-ru-sa-lem về ông rằng: ‘Có một vua trong xứ Giu-đa!’ Tin đồn ấy chắc sẽ đến tai vua. Vậy xin hãy đến để chúng ta bàn luận với nhau.”
Tôi sai người trả lời với ông ấy rằng: “Những điều ông nói không có thật đâu, chỉ do lòng ông nghĩ ra mà thôi.”
Chúng muốn làm cho tất cả chúng tôi sợ hãi, vì chúng nghĩ rằng “Tay của họ sẽ bị mỏi mệt, không hoàn tất công việc được.” Vậy bây giờ, “lạy Chúa, xin làm cho tay con mạnh mẽ.”
Bấy giờ, tôi đi đến nhà của Sê-ma-gia, con trai của Đê-la-gia, cháu của Mê-hê-ta-bê-ên, người ấy ở ẩn trong đó. Ông ấy nói: “Chúng ta hãy gặp nhau trong nhà của Đức Chúa Trời, bên trong đền thờ và đóng các cửa đền thờ lại, vì chúng sẽ tìm giết ông; thật vậy, đêm nay chúng sẽ đến giết ông.”
Tôi đáp: “Một người như tôi sẽ chạy trốn ư? Một người như tôi vào trong đền thờ mà được sống sao? Tôi không vào đâu!”
Tôi nhận biết không phải Đức Chúa Trời đã sai ông ấy đến đâu, nhưng ông ấy nói lời tiên tri đó chống lại tôi, vì Tô-bi-gia và San-ba-lát đã mướn ông ấy.
Vì ông ấy được trả tiền công để làm cho tôi sợ hãi mà phạm tội rồi lấy cớ đó bêu xấu và sỉ nhục tôi.
“Lạy Đức Chúa Trời của con! Xin nhớ Tô-bi-gia và San-ba-lát tùy theo các công việc mà họ đã làm; cũng xin nhớ đến Nô-a-đia, nữ tiên tri và các nhà tiên tri khác đã làm cho con sợ hãi!”
Vậy ngày hai mươi lăm tháng Ê-lun, tường thành hoàn tất sau năm mươi hai ngày.
Khi tất cả những kẻ thù và các dân tộc chung quanh chúng tôi nghe tin đó thì đều sợ hãi và nản chí vì chúng nhận biết rằng công việc nầy được hoàn thành là nhờ Đức Chúa Trời của chúng tôi giúp đỡ.
Hơn nữa, trong những ngày ấy, các người quý tộc của Giu-đa gửi nhiều thư cho Tô-bi-gia và Tô-bi-gia cũng gửi thư cho chúng.
Vì tại Giu-đa có nhiều người đã thề giúp ông bởi ông là con rể của Sê-ca-nia, con trai của A-ra. Hơn nữa, con của Tô-bi-gia là Giô-ha-nan đã cưới con gái của Mê-su-lam, con trai của Bê-rê-kia.
Họ cũng khen ngợi những việc tốt của ông trước mặt tôi và thuật lại cho ông những lời của tôi. Còn Tô-bi-gia gửi thư để làm cho tôi sợ hãi.
Sau khi tường thành đã xây xong, tôi tra các cánh cửa và lập những người gác cổng, các ca sĩ và người Lê-vi làm nhiệm vụ.
Tôi giao việc cai trị Giê-ru-sa-lem cho em tôi là Ha-na-ni và cho Ha-na-nia là quản đốc kinh thành, vì ông là người trung tín và kính sợ Đức Chúa Trời hơn nhiều kẻ khác.
Tôi dặn họ rằng: “Đừng mở các cửa Giê-ru-sa-lem trước khi mặt trời lên cao, và phải đóng cửa, cài then lại khi lính canh còn ở đó. Cũng phải chỉ định người dân ở Giê-ru-sa-lem thay phiên canh gác, người thì đứng ở vọng canh, người thì đứng đối diện nhà mình.”
Thành thì rộng lớn nhưng cư dân trong thành ít ỏi và nhà cửa còn thưa thớt.
Đức Chúa Trời thúc giục lòng tôi triệu tập những người quý tộc, các quan chức và dân chúng đến ghi tên theo gia phả. Tôi đã tìm được một cuốn gia phả của những người đã hồi hương lần đầu tiên và trong đó tôi thấy có ghi rằng:
Đây là những người từ nơi lưu đày hồi hương, tức là những người bị vua Nê-bu-cát-nết-sa bắt đi Ba-by-lôn, nay họ trở về Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, mỗi người về lại thành của mình.
Họ trở về cùng với Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, Nê-hê-mi, A-xa-ria, Ra-a-mia, Na-ha-ma-ni, Mạc-đô-chê, Binh-san, Mích-bê-rết, Biết-vai, Nê-hum và Ba-a-na. Đây là số những người nam trong Y-sơ-ra-ên được kiểm tra:
Con cháu Pha-rốt có hai nghìn một trăm bảy mươi hai người.
Con cháu Sê-pha-tia có ba trăm bảy mươi hai người.
Con cháu A-ra có sáu trăm năm mươi hai người.
Con cháu Pha-hát Mô-áp, tức là con cháu của Giê-sua và Giô-áp, có hai nghìn tám trăm mười tám người.
Con cháu Ê-lam có một nghìn hai trăm năm mươi bốn người.
Con cháu Xát-tu có tám trăm bốn mươi lăm người.
Con cháu Xác-cai có bảy trăm sáu mươi người.
Con cháu Bin-nui có sáu trăm bốn mươi tám người.
Con cháu Bê-bai có sáu trăm hai mươi tám người.
Con cháu A-gát có hai nghìn ba trăm hai mươi hai người.
Con cháu A-đô-ni-cam có sáu trăm sáu mươi bảy người.
Con cháu Biết-vai có hai nghìn không trăm sáu mươi bảy người.
Con cháu A-đin có sáu trăm năm mươi lăm người.
Con cháu A-te thuộc dòng dõi Ê-xê-chia có chín mươi tám người.
Con cháu Ha-sum có ba trăm hai mươi tám người.
Con cháu Bết-sai có ba trăm hai mươi bốn người.
Con cháu Ha-ríp có một trăm mười hai người.
Con cháu Ga-ba-ôn có chín mươi lăm người.
Những người quê ở Bết-lê-hem và Nê-tô-pha có một trăm tám mươi tám người
Những người quê ở A-na-tốt có một trăm hai mươi tám người.
Những người quê ở Bết A-ma-vết có bốn mươi hai người.
Những người quê ở Ki-ri-át Giê-a-rim, người Kê-phi-ra, và người Bê-ê-rốt, có bảy trăm bốn mươi ba người.
Những người quê ở Ra-ma và Ghê-ba, có sáu trăm hai mươi mốt người.
Những người quê ở Mích-ma có một trăm hai mươi hai người.
Những người quê ở Bê-tên và A-hi có một trăm hai mươi ba người.
Những người quê ở Nê-bô khác có năm mươi hai người.
Con cháu Ê-lam khác có một nghìn hai trăm năm mươi bốn người.
Con cháu Ha-rim có ba trăm hai mươi người.
Con cháu Giê-ri-cô có ba trăm bốn mươi lăm người.
Con cháu Lót, Ha-đít và Ô-nô có bảy trăm hai mươi mốt người.
Con cháu Sê-na có ba nghìn chín trăm ba mươi người.
Những thầy tế lễ: Con cháu Giê-đa-gia thuộc dòng dõi Giê-sua có chín trăm bảy mươi ba người.
Con cháu Y-mê có một nghìn không trăm năm mươi hai người.
Con cháu Pha-ru-sơ có một nghìn hai trăm bốn mươi bảy người.
Con cháu Ha-rim có một nghìn không trăm mười bảy người.
Những người Lê-vi: Con cháu Giê-sua và Cát-mi-ên, thuộc dòng dõi Hô-đê-va có bảy mươi bốn người.
Các ca sĩ: Con cháu A-sáp có một trăm bốn mươi tám người.
Những người gác cổng: Con cháu Sa-lum, con cháu A-te, con cháu Tanh-môn, con cháu A-cúp, con cháu Ha-ti-ta và con cháu Sô-bai, có một trăm ba mươi tám người.
Những người phục vụ đền thờ: con cháu Xi-ha, con cháu Ha-su-pha, con cháu Ta-ba-ốt,
con cháu Kê-rốt, con cháu Si-a, con cháu Pha-đôn,
con cháu Lê-ba-na, con cháu Ha-ga-ba, con cháu Sanh-mai,
con cháu Ha-nan, con cháu Ghi-đên, con cháu Ga-ha,
con cháu Rê-a-gia, con cháu Rê-xin, con cháu Nê-cô-đa,
con cháu Ga-xam, con cháu U-xa, con cháu Pha-sê-a
con cháu Bê-sai, con cháu Mê-u-nim, con cháu Nê-phu-sê-sim,
con cháu Bác-búc, con cháu Ha-cu-pha, con cháu Ha-rua,
con cháu Bát-lít, con cháu Mê-hi-đa, con cháu Hạt-sa,
con cháu Bạt-cô, con cháu Si-sê-ra, con cháu Tha-mác,
con cháu Nê-xia, con cháu Ha-ti-pha.
Dòng dõi của các đầy tớ Sa-lô-môn: Con cháu Sô-tai, con cháu Sô-phê-rết, con cháu Phê-ri-đa
con cháu Gia-a-la, con cháu Đạt-côn, con cháu Ghi-đên,
con cháu Sê-pha-tia, con cháu Hát-tinh, con cháu Phô-kê-rết Hát-xê-ba-im, con cháu A-môn.
Tổng số người phục vụ đền thờ và dòng dõi của các đầy tớ Sa-lô-môn là ba trăm chín mươi hai người.
Sau đây là những người trở về từ Tên Mê-la, Tên Hạt-sa, Kê-rúp, A-đôn và Y-mê, nhưng họ không thể tìm ra tổ tiên hoặc nguồn gốc của họ thuộc về Y-sơ-ra-ên hay không:
Con cháu Đê-la-gia, con cháu Tô-bi-gia và con cháu Nê-cô-đa có sáu trăm bốn mươi hai người.
Còn những thầy tế lễ: Con cháu Ha-ba-gia, con cháu Ha-cốt, con cháu Bạt-xi-lai (là người lấy vợ trong số con gái của Bạt-xi-lai, người Ga-la-át nên được gọi bằng tên ấy).
Những người nầy tìm kiếm tên mình trong gia phả nhưng không thấy nên bị loại ra khỏi chức tế lễ vì bị coi là ô uế.
Quan tổng đốc cấm họ ăn những vật chí thánh cho đến khi có một thầy tế lễ dùng U-rim và Thu-mim để cầu hỏi Đức Chúa Trời.
Cả hội chúng tổng cộng là bốn mươi hai nghìn ba trăm sáu mươi người,
không kể bảy nghìn ba trăm ba mươi bảy tôi trai tớ gái của họ và hai trăm bốn mươi lăm ca sĩ, cả nam lẫn nữ.
Họ có bảy trăm ba mươi sáu con ngựa, hai trăm bốn mươi lăm con la,
bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà và sáu nghìn bảy trăm hai mươi con lừa.
Một vài trưởng tộc đã dâng hiến vào quỹ công trình. Quan tổng đốc dâng cho quỹ công trình khoảng tám ký rưỡi vàng, năm mươi chậu và năm trăm ba mươi bộ áo cho thầy tế lễ.
Có mấy trưởng tộc dâng vào quỹ công trình khoảng một trăm bảy chục ký vàng và một nghìn hai trăm ký bạc.
Dân chúng dâng phần còn lại, được khoảng một trăm bảy chục ký vàng, khoảng một nghìn một trăm ký bạc và sáu mươi bảy bộ áo thầy tế lễ.
Như vậy, những thầy tế lễ, người Lê-vi, những người gác cổng, các ca sĩ, một số người khác và những người phục vụ đền thờ cùng cả Y-sơ-ra-ên đều ở trong thành của mình. Đến tháng bảy thì dân Y-sơ-ra-ên đều ở trong các thành của mình.
Bấy giờ tất cả dân chúng đều họp lại như một người tại quảng trường trước cổng Nước. Họ xin thầy thông giáo E-xơ-ra đem cuộn sách luật pháp của Môi-se ra; đó là luật pháp mà Đức Giê-hô-va đã truyền dạy cho Y-sơ-ra-ên.
Vậy, vào ngày mồng một tháng bảy, thầy tế lễ E-xơ-ra đem cuộn sách luật pháp đến trước mặt hội chúng cả nam lẫn nữ, cùng tất cả những người có thể nghe và hiểu được.
Ông đứng tại quảng trường trước cổng Nước đọc trong cuộn sách ấy từ rạng đông cho đến trưa, trước mặt hội chúng cả nam lẫn nữ cùng những người có thể hiểu được. Tất cả dân chúng lắng tai nghe đọc sách luật pháp.
Thầy thông giáo E-xơ-ra đứng trên bục gỗ mà người ta làm nhân dịp ấy; Ma-ti-thia, Sê-ma, A-na-gia, U-ri, Hinh-kia và Ma-a-xê-gia đứng gần ông, phía bên phải; còn bên trái ông thì có Phê-đa-gia, Mi-sa-ên, Manh-ki-gia, Ha-sum, Hách-ba-đa-na, Xa-cha-ri và Mê-su-lam
E-xơ-ra mở sách ra trước mặt cả dân chúng vì ông đứng cao hơn họ; và khi ông mở sách ra thì dân chúng đều đứng dậy.
E-xơ-ra chúc tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời cao cả, và tất cả dân chúng giơ tay lên mà đáp lại rằng: “A-men, A-men,” rồi họ cúi đầu, sấp mặt xuống đất mà thờ phượng Đức Giê-hô-va.
Giê-sua, Ba-ni, Sê-rê-bia, Gia-min, A-cúp, Sa-bê-thai, Hô-đi-gia, Ma-a-xê-gia, Kê-li-ta, A-xa-ria, Giô-xa-bát, Ha-nan, Phê-la-gia và người Lê-vi giải thích cho dân chúng hiểu luật pháp, còn dân chúng vẫn đứng tại chỗ.
Họ đọc rõ ràng trong sách luật pháp của Đức Chúa Trời rồi giải nghĩa cho người ta hiểu lời họ đọc.
Nê-hê-mi, quan tổng đốc, E-xơ-ra thầy tế lễ cũng là thầy thông giáo, cùng người Lê-vi dạy dỗ dân chúng, nói với mọi người Y-sơ-ra-ên rằng: “Ngày nay là thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em. Đừng để tang hay khóc lóc.” Vì cả dân chúng đều khóc khi nghe đọc những lời trong luật pháp.
Nê-hê-mi nói với họ: “Hãy đi ăn đồ ăn béo, uống thức uống ngọt và hãy gửi phần ăn cho ai không sắm sửa gì hết vì hôm nay là ngày biệt ra thánh cho Chúa chúng ta. Đừng buồn thảm vì sự vui vẻ về Đức Giê-hô-va là sức mạnh của anh em.”
Vậy người Lê-vi trấn an dân chúng và nói: “Hãy im lặng vì ngày nay là thánh, đừng buồn thảm nữa!”
Toàn thể dân chúng đi ra ăn uống và gửi phần ăn cho người không có. Họ liên hoan trọng thể vì họ hiểu được các lời người ta đã truyền dạy cho mình.
Qua ngày mồng hai, các trưởng tộc trong dân chúng, những thầy tế lễ và người Lê-vi đều nhóm lại với thầy thông giáo E-xơ-ra để lắng nghe các lời của luật pháp.
Họ thấy có chép trong luật pháp mà Đức Giê-hô-va phán qua Môi-se bảo dân Y-sơ-ra-ên phải ở trong các lều tạm suốt kỳ lễ vào tháng bảy
và họ phải rao truyền trong các thành cũng như tại Giê-ru-sa-lem rằng: “Hãy lên núi tìm những nhánh ô-liu và cây ô-liu rừng, nhánh cây sim, lá kè và những nhánh cây rậm lá để làm những lều tạm” như đã chép.
Vậy dân chúng đi ra đem các lá ấy về và mỗi người làm lều tạm trên mái nhà mình, ngoài sân, trong hành lang của đền Đức Chúa Trời, nơi quảng trường trước cổng Nước và quảng trường trước cổng Ép-ra-im.
Cả hội chúng của những người bị lưu đày trở về làm những lều tạm và ở trong đó. Từ đời Giô-suê, con trai của Nun, cho đến ngày ấy dân Y-sơ-ra-ên chưa bao giờ làm như vậy. Họ tràn ngập niềm vui.
Mỗi ngày, từ ngày đầu cho đến ngày cuối, người ta đọc trong sách luật pháp của Đức Chúa Trời. Họ ăn mừng lễ hội trong bảy ngày, và ngày thứ tám có một lễ trọng thể theo luật định.
Vào ngày hai mươi bốn tháng ấy, dân Y-sơ-ra-ên nhóm lại kiêng ăn, mặc vải sô và rải bụi đất trên đầu.
Những người thuộc dòng giống Y-sơ-ra-ên đã tách biệt khỏi người ngoại đều đứng dậy xưng tội lỗi của mình và sự gian ác của tổ phụ mình.
Họ đứng tại chỗ và đọc trong sách luật pháp của Giê-hô-va Đức Chúa Trời trong một phần tư ngày, và dành một phần tư khác để xưng tội và thờ phượng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của mình.
Bấy giờ Giê-sua, Ba-ni, Cát-mi-ên, Sê-ba-nia, Bun-ni, Sê-rê-bia, Ba-ni và Kê-na-ni đứng trên bục dành cho người Lê-vi và kêu cầu lớn tiếng với Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình.
Những người Lê-vi là Giê-sua, Cát-mi-ên, Ba-ni, Ha-sáp-nia, Sê-rê-bia, Hô-đia, Sê-ba-nia và Phê-ta-hia nói: “Xin chúng ta cùng đứng dậy chúc tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta, Là Đấng vĩnh hằng! Đáng ca ngợi danh vinh quang của Ngài, Danh vượt lên trên mọi lời chúc tụng và ngợi ca.
Ôi! Chỉ một mình Chúa là Đức Giê-hô-va có một không hai; Chúa đã dựng nên các tầng trời và trời của các tầng trời cùng toàn cơ binh của chúng, Đất và mọi vật trên đất, biển và muôn vật dưới biển. Chúa bảo tồn các vật ấy Và cơ binh trên tầng trời đều thờ phượng Ngài.
Chúa ôi! Chúa là Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã chọn Áp-ram, Đem ông ra khỏi U-rơ của dân Canh-đê Và đổi tên ông thành Áp-ra-ham.
Chúa thấy lòng ông trung thành trước mặt Chúa Và Ngài lập giao ước với ông, Hứa ban cho dòng dõi ông đất của dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Giê-bu-sít và dân Ghi-rê-ga-sít. Chúa đã làm ứng nghiệm lời của Chúa vì Chúa là công chính.
Chúa đã thấy nỗi khốn khổ của tổ phụ chúng con tại Ai Cập, Có nghe tiếng kêu cầu của họ bên Biển Đỏ,
Làm những phép mầu dấu lạ chống lại Pha-ra-ôn, Và các quần thần cùng toàn dân trong nước, Vì Chúa biết chúng đã đối đãi tổ phụ chúng con một cách kiêu căng. Chúa đã làm rạng danh Chúa cho đến ngày nay.
Chúa rẽ biển trước mặt dân Ngài Để họ đi qua trên đất khô giữa lòng biển. Còn những kẻ đuổi theo, Chúa ném chúng dưới vực sâu Như ném đá xuống nước lớn.
Ban ngày Chúa dẫn dắt họ bằng trụ mây Và ban đêm bằng trụ lửa để chiếu sáng con đường họ đi.
Chúa ngự xuống trên núi Si-na-i, Từ trên trời Chúa phán với họ. Chúa ban những luật lệ và quy định ngay thẳng, công chính; Những quy tắc và điều răn tốt lành.
Chúa khiến họ biết ngày sa-bát thánh của Chúa, Và ban cho họ những điều răn, quy tắc và luật pháp, Qua Môi-se là đầy tớ Chúa.
Từ trên trời Chúa ban bánh khi họ đói, Khiến hòn đá phun nước ra khi họ khát, Truyền bảo họ vào nhận lấy đất mà Chúa đã hứa ban cho họ.
Nhưng tổ phụ chúng con cư xử cách kiêu ngạo và cứng cổ, Không nghe các điều răn của Chúa.
Họ không vâng lời và không nhớ đến các phép lạ mà Chúa đã thi hành giữa họ, Nhưng họ cứng cổ và trong khi nổi loạn, Họ chọn một người lãnh đạo để đưa họ trở về cảnh nô lệ. Nhưng Chúa là Đức Chúa Trời sẵn lòng tha thứ, hay làm ơn, và thương xót, Chậm nóng giận và đầy lòng nhân từ. Chúa vẫn không từ bỏ họ.
Thậm chí khi họ làm một con bò con đực và nói: ‘Đây là thần đã dẫn các ngươi ra khỏi Ai Cập’ Và xúc phạm đến Chúa,
Thì Chúa vẫn thương xót không từ bỏ họ trong hoang mạc. Trụ mây dẫn đường ban ngày không lìa khỏi họ, Trụ lửa chiếu sáng ban đêm trên con đường họ đi.
Chúa cũng ban cho họ Thần Linh tốt lành của Chúa để dạy dỗ họ. Chúa không từ chối ban ma-na cho miệng họ và nước uống khi họ khát.
Chúa nuôi dưỡng họ bốn mươi năm trong hoang mạc: Họ chẳng thiếu thốn gì cả, Quần áo họ không cũ rách và chân họ không phù lên.
Họ chiếm đất Hết-bôn của vua Si-hôn, Và đất Ba-san của vua Óc. Chúa ban cho họ các dân, các nước Và phân phát các vùng xa xôi ấy cho họ.
Chúa đã làm cho dòng dõi họ đông như sao trên trời, Và đem họ vào xứ Mà Chúa đã phán với tổ phụ họ rằng họ sẽ vào chiếm lấy xứ ấy.
Vậy con cháu họ vào nhận lấy xứ. Chúa khiến các dân địa phương là dân Ca-na-an khuất phục họ, Phó cư dân và vua của chúng Cùng các dân tộc khác trong đất ấy vào tay họ, Cho họ đối xử với các dân ấy theo ý họ muốn.
Họ chiếm lấy những thành bền vững, Đất mầu mỡ, nhà đầy các vật tốt lành, Những giếng nước đào sẵn, Vườn nho, vườn ô-liu và cây trái rất nhiều. Họ ăn no nê và trở nên béo tốt; Họ vui hưởng sự tốt lành lớn lao của Ngài.
Dù vậy, họ không vâng lời và phản nghịch Chúa, Ném bỏ luật pháp Chúa sau lưng, Giết các nhà tiên tri của Chúa, là những người khuyến cáo họ quay về với Chúa, Và lại xúc phạm nặng đến Ngài.
Vì thế, Chúa phó họ vào tay các kẻ thù, và chúng hà hiếp họ. Trong cơn hoạn nạn, họ kêu cầu với Chúa. Vì lòng nhân từ lớn lao, Chúa từ trời lắng nghe Và ban cho những vị cứu tinh để giải cứu họ khỏi tay các kẻ thù mình.
Nhưng khi được an ổn Thì họ lại làm điều ác trước mặt Chúa. Vì vậy, Chúa phó mặc họ vào tay kẻ thù thống trị họ. Tuy nhiên khi họ trở lại kêu cầu với Chúa Thì Chúa từ trên trời lắng nghe. Và vì lòng thương xót, Chúa đã nhiều lần giải cứu họ.
Chúa cũng cảnh cáo để khiến họ quay về với luật pháp của Ngài. Tuy nhiên họ đã cư xử cách kiêu ngạo, không vâng theo các điều răn Chúa. Họ vi phạm luật lệ của Chúa là luật lệ mà nếu ai vâng theo tất sẽ được sống. Họ cứng đầu, cứng cổ và không chịu vâng lời.
Chúa kiên nhẫn với họ nhiều năm, Dùng Thần Linh và các nhà tiên tri của Ngài để cảnh cáo họ. Nhưng họ không lắng nghe Nên Chúa phó họ vào tay các dân tộc sống trong xứ.
Tuy nhiên, vì lòng thương xót lớn lao, Chúa không tận diệt họ cũng không từ bỏ họ. Vì Chúa là Đức Chúa Trời hay thương xót và nhân từ.
Vậy bây giờ, lạy Đức Chúa Trời của chúng con, là Đức Chúa Trời vĩ đại, quyền năng, đáng kính sợ, Giữ giao ước và lòng nhân từ, Xin đừng xem nhẹ nỗi khốn khổ đã giáng trên chúng con, Trên các vua, các quan chức, các thầy tế lễ, các nhà tiên tri, các tổ phụ chúng con, Và trên cả con dân Chúa từ thời các vua A-si-ri cho đến ngày nay.
Trong mọi việc đã xảy đến cho chúng con, Chúa vẫn công chính vì Chúa thi hành cách đúng đắn, Còn chúng con làm điều gian ác.
Các vua, các quan chức, các thầy tế lễ và tổ phụ của chúng con Không gìn giữ luật pháp của Chúa, Cũng chẳng vâng theo các điều răn và những lời cảnh cáo mà Chúa phán với họ.
Ngay cả khi còn ở trong xứ, Vui hưởng biết bao điều tốt lành trong đất rộng rãi và mầu mỡ mà Chúa đã ban cho họ, Họ cũng không phụng sự Chúa, và không từ bỏ các công việc gian ác của họ.
Kìa, ngày nay chúng con làm thân nô lệ, Nô lệ ngay trong đất mà Chúa ban cho tổ phụ chúng con Để ăn hoa quả và thổ sản tốt tươi của đất ấy.
Vì tội lỗi của chúng con, hoa lợi dư dật ấy đã thuộc về các vua mà Chúa đã lập trên chúng con. Họ có quyền trên thân thể và bầy súc vật của chúng con, muốn làm gì thì làm. Chúng con đang bị hoạn nạn lớn.
Vì các việc đã xảy ra, chúng con quyết định viết thành văn lời giao ước chắc chắn nầy, và các quan chức, người Lê-vi cùng những thầy tế lễ của chúng con niêm phong nó lại.”
Đây là tên của những người đã đóng dấu mình trong giao ước ấy: Tổng đốc Nê-hê-mi, con trai của Ha-ca-lia, cùng với Sê-đê-kia,
Sê-ra-gia, A-xa-ria, Giê-rê-mi,
Pha-su-rơ, A-ma-ria, Manh-ki-gia,
Hát-tút, Sê-ba-nia, Ma-lúc,
Ha-rim, Mê-rê-mốt, Áp-đia,
Đa-ni-ên, Ghi-nê-thôn, Ba-rúc,
Mê-su-lam, A-bi-gia, Mi-gia-min
Ma-a-xia, Binh-gai, Sê-ma-gia. Đó là những thầy tế lễ.
Những người Lê-vi gồm có: Giê-sua, con trai của A-xa-nia; Bin-nui, con trai của Hê-na-đát; Cát-mi-ên
và các anh em của họ; Sê-ba-nia, Hô-đi-gia, Kê-li-ta, Phê-la-gia, Ha-nan
Mi-chê, Rê-hốp, Ha-sa-bia,
Xác-cua, Sê-rê-bia, Sê-ba-nia
Hô-đia, Ba-ni và Bê-ni-nu.
Các thủ lĩnh của dân chúng gồm có: Pha-rốt, Pha-hát Mô-áp, Ê-lam, Xát-tu, Ba-ni
Bu-ni, A-gát, Bê-bai
A-đô-ni-gia, Biết-vai, A-đin,
A-te, Ê-xê-chia, A-xu-rơ,
Hô-đia, Ha-sum, Bết-sai,
Ha-ríp, A-na-tốt, Ni-bai,
Mác-bi-ách, Mê-su-lam, Hê-xia,
Mê-sê-xa-bê-ên, Xa-đốc, Gia-đua
Phê-la-tia, Ha-nan, A-na-gia
Ô-sê, Ha-na-nia, Ha-súp
Ha-lô-hết, Bi-la, Sô-béc
Rê-hum, Ha-sáp-na, Ma-a-xê-gia,
A-hi-gia, Ha-nan, A-nan,
Ma-lúc, Ha-rim và Ba-a-na.
Phần dân chúng còn lại, những thầy tế lễ, người Lê-vi, người gác cổng, các ca sĩ, những người phục vụ đền thờ, và những người đã cùng với vợ, con trai, con gái của họ tách biệt với các dân trong xứ để vâng theo luật pháp của Đức Chúa Trời; tất cả họ là những người có khả năng hiểu biết,
đều hiệp nhất với các anh em và các quý tộc của mình mà thề hứa đi theo luật pháp của Đức Chúa Trời đã ban qua Môi-se, đầy tớ Ngài, và gìn giữ, làm theo mọi điều răn, luật lệ và phép tắc của Đức Giê-hô-va là Chúa chúng con.
Chúng con hứa không gả các con gái chúng con cho dân địa phương và cũng không cưới con gái của chúng cho con trai chúng con.
Nếu dân địa phương đem hàng hóa hoặc các thứ lương thực đến bán trong ngày sa-bát hay ngày thánh thì chúng con sẽ không mua. Vào năm thứ bảy, chúng con sẽ nghỉ canh tác và xóa tất cả các món nợ.
Chúng con cũng quy định mỗi năm dâng bốn gam bạc dùng vào các công việc của đền thờ Đức Chúa Trời như:
bánh cung hiến, tế lễ chay thường kỳ, tế lễ thiêu hằng hiến, tế lễ dâng vào ngày sa-bát, ngày mồng một và các lễ hội, lễ thánh hiến, tế lễ chuộc tội cho dân Y-sơ-ra-ên và các công việc khác trong đền của Đức Chúa Trời chúng con.
Chúng con là những thầy tế lễ, người Lê-vi và dân chúng bắt thăm về việc dâng củi mỗi năm theo kỳ nhất định tùy theo mỗi gia tộc, và đem đến nhà của Đức Chúa Trời để đốt trên bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng con, đúng như đã chép trong luật pháp vậy.
Chúng con cũng quy định mỗi năm đem hoa lợi đầu mùa của đất và các thứ trái cây đầu mùa của chúng con đến đền thờ Đức Giê-hô-va.
Cũng chiếu theo luật pháp, chúng con đem con đầu lòng trong các con trai và con đầu đàn của súc vật chúng con như chiên hay bò đến đền thờ Đức Chúa Trời để giao cho các thầy tế lễ đang phục vụ trong đền của Đức Chúa Trời chúng con.
Chúng con cũng hứa đem vào các kho thánh của đền Đức Chúa Trời bột nhồi đầu tiên của chúng con, các tế lễ, hoa quả của các loại cây, rượu mới và dầu, rồi giao cho các thầy tế lễ. Còn một phần mười hoa lợi của đất thì chúng con đem nộp cho người Lê-vi vì chính người Lê-vi là người thu một phần mười thổ sản của ruộng đất trong các thành của chúng con.
Thầy tế lễ, con cháu A-rôn, sẽ đi với người Lê-vi khi họ thu thuế một phần mười rồi họ sẽ đem một phần mười của thuế một phần mười ấy đến đền của Đức Chúa Trời chúng con, để trong các phòng của kho thánh.
Vì dân Y-sơ-ra-ên và người Lê-vi sẽ đem các lễ vật bằng lúa mì, rượu và dầu mới vào trong những phòng ấy, là nơi có các vật dụng của đền thánh, là nơi cư ngụ của những thầy tế lễ đang phục vụ, những người gác cổng và các ca sĩ. Vậy chúng con sẽ không bỏ bê đền của Đức Chúa Trời chúng con đâu.
Các thủ lĩnh của dân Chúa đều ở tại Giê-ru-sa-lem và dân chúng còn lại bắt thăm để cứ mười người thì có một người đến ở tại Giê-ru-sa-lem là thành thánh, còn chín người kia thì ở trong các thành khác.
Dân chúng chúc phước cho những người nam nào tình nguyện ở tại Giê-ru-sa-lem.
Sau đây là những quan chức cấp tỉnh sống tại Giê-ru-sa-lem (trong khi một số người Y-sơ-ra-ên, những thầy tế lễ, người Lê-vi, những người phục vụ đền thờ và con cháu của các đầy tớ Sa-lô-môn đều ở trong đất của thành mình thuộc các thành khác của Giu-đa.
Tuy nhiên cũng có một số con cháu Giu-đa và Bên-gia-min lại sống tại Giê-ru-sa-lem.) Về con cháu Giu-đa có A-tha-gia, con trai của U-xia, cháu của Xa-cha-ri, chắt của A-ma-ria, chít của Sê-pha-tia; Sê-pha-tia là con trai của Ma-ha-la-lên thuộc dòng dõi Pê-rết.
Ma-a-xê-gia, con trai của Ba-rúc, cháu của Côn Hô-xê, chắt của Ha-xa-gia, chít của A-đa-gia; A-đa-gia là con trai của Giô-gia-ríp, cháu của Xa-cha-ri, thuộc dòng dõi Si-lô-ni.
Con cháu của Pê-rết ở tại Giê-ru-sa-lem là bốn trăm sáu mươi tám dũng sĩ.
Con cháu Bên-gia-min có Sa-lu, con trai của Mê-su-lam, cháu của Giô-ết, chắt của Phê-đa-gia, chít của Cô-la-gia; Cô-la-gia là con trai của Ma-a-xê-gia, cháu của Y-thi-ên, chắt của Giê-sai.
Sau ông có Gáp-bai và Sa-lai cùng chín trăm hai mươi tám người.
Giô-ên, con trai của Xiếc-ri, làm thị trưởng của họ, còn Giu-đa, con trai của Ha-sê-nua làm phó thị trưởng.
Về các thầy tế lễ có Giê-đa-gia là con trai của Giô-gia-ríp, Gia-kin
và Sê-ra-gia là con trai của Hinh-kia, cháu của Mê-su-lam, chắt của Xa-đốc, chít của Mê-ra-giốt; Mê-ra-giốt, con trai của A-hi-túp, là quản lý đền của Đức Chúa Trời,
cùng các anh em của họ làm công việc trong đền thờ, tổng cộng là tám trăm hai mươi hai người. Cũng có A-đa-gia, con trai của Giê-rô-ham, cháu của Phê-la-lia, chắt của Am-si, chít của Xa-cha-ri; Xa-cha-ri là con trai của Pha-su-rơ, cháu của Manh-ki-gia
cùng các anh em của họ đều là trưởng tộc, tổng cộng là hai trăm bốn mươi hai người. Ngoài ra còn có A-mát-sai, con trai của A-xa-rên, cháu của Ạc-xai, chắt của Mê-si-lê-mốt, chít của Y-mê
và các anh em của họ đều là những người mạnh mẽ và can đảm, tổng cộng là một trăm hai mươi tám người. Xáp-đi-ên, con trai của Hát-ghê-đô-lim, là người chỉ huy của họ.
Về người Lê-vi có Sê-ma-gia, con trai của Ha-súp, cháu của A-ri-kham, chắt của Ha-sa-bia, chít của Bun-ni.
Trong các trưởng tộc người Lê-vi có Sa-bê-thai và Giô-xa-bát được giao coi sóc công việc bên ngoài của đền Đức Chúa Trời.
Còn Mát-ta-nia, con trai của Mi-chê, cháu của Xáp-đi, chắt của A-sáp, làm trưởng ban hướng dẫn việc ca ngợi Chúa trong lúc cầu nguyện; cũng có Bác-bu-kia là người thứ nhì trong anh em mình và Áp-đa, con trai của Sa-mua, cháu của Ga-la, chắt của Giê-đu-thun.
Tất cả người Lê-vi ở trong thành thánh là hai trăm tám mươi bốn người.
Những người gác cổng là A-cúp, Tanh-môn và các anh em của họ được một trăm bảy mươi hai người.
Những người Y-sơ-ra-ên khác, những thầy tế lễ và người Lê-vi đều sống trong các thành của xứ Giu-đa, mỗi người ở trong sản nghiệp mình.
Những người phục vụ đền thờ đều ở tại Ô-phên; Xi-ha và Ghít-ba lãnh đạo nhóm người nầy.
Người giám sát những người Lê-vi ở Giê-ru-sa-lem là U-xi, con trai của Ba-ni, cháu của Ha-sa-bia, chắt của Mát-ta-nia, chít của Mi-chê, thuộc dòng dõi A-sáp là các ca sĩ, lo phục vụ trong đền Đức Chúa Trời.
Cũng có lệnh của vua liên quan đến các ca sĩ, và những quy định công việc hằng ngày cho họ.
Phê-tha-hia, con trai của Mê-sê-xa-bê-ên, thuộc dòng dõi Xê-ra là con trai của Giu-đa, giúp vua cai trị dân.
Còn về các làng mạc và đồng ruộng, có một số người Giu-đa sống tại Ki-ri-át A-ra-ba và trong các làng mạc phụ cận, tại Đi-bôn và các làng mạc phụ cận, tại Giê-cáp-xê-ên và các làng mạc phụ cận,
tại Giê-sua, Mô-la-đa, Bết Phê-lết,
Hát-sa Su-anh, Bê-e Sê-ba và trong các làng mạc phụ cận,
tại Xiếc-lác, Mê-cô-na và trong các làng mạc phụ cận,
tại Ên-rim-môn, Xô-ra, Giạt-mút,
tại Xa-nô-a, A-đu-lam và các làng mạc phụ cận; tại La-ki và các đồng ruộng phụ cận, và tại A-xê-ca và các làng mạc phụ cận. Vậy họ định cư từ Bê-e Sê-ba cho đến thung lũng Hin-nôm.
Người Bên-gia-min cũng sống từ Ghê-ba cho đến Mích-ma, A-gia, Bê-tên và các làng mạc của nó,
và tại A-na-tốt, Nốp, A-na-nia,
Hát-so, Ra-ma, Ghi-tha-im.
Ha-đít, Sê-bô-im, Nê-ba-lát,
Lót và Ô-nô tức là thung lũng của các người thợ thủ công.
Và một số người Lê-vi vốn sinh sống ở Giu-đa đã đến sống với người Bên-gia-min.
Đây là những thầy tế lễ và người Lê-vi cùng hồi hương với Xô-rô-ba-bên, con trai của Sa-anh-thi-ên, và với Giê-sua: Sê-ra-gia, Giê-rê-mi, E-xơ-ra,
A-ma-ria, Ma-lúc, Ha-túc,
Sê-ca-nia, Rê-hum, Mê-rê-mốt,
Y-đô, Ghi-nê-thôi, A-bi-gia,
Mi-gia-min, Ma-a-đia, Binh-ga,
Sê-ma-gia, Giô-gia-ríp, Giê-đa-gia,
Sa-lu, A-móc, Hinh-kia và Giê-đa-gia. Đó là những nhà lãnh đạo của các thầy tế lễ và anh em của họ trong đời Giê-sua.
Những người Lê-vi gồm có: Giê-sua, Bin-nui, Cát-mi-ên, Sê-rê-bia, Giu-đa và Mát-ta-nia cùng với anh em mình phụ trách các bài ca cảm tạ Chúa.
Bác-bu-kia và U-ni cùng với anh em của họ là người Lê-vi đứng hát đối nhau trong các buổi thờ phượng.
Giê-sua sinh Giô-gia-kim; Giô-gia-kim sinh Ê-li-a-síp; Ê-li-a-síp sinh Giô-gia-đa;
Giô-gia-đa sinh Giô-na-than, và Giô-na-than sinh Gia-đua.
Đây là trưởng tộc của các thầy tế lễ trong đời Giô-gia-kim: về họ Sê-rê-gia có Mê-ra-gia; về họ Giê-rê-mi có Ha-na-nia;
về họ E-xơ-ra có Mê-su-lam; về họ A-ma-ria có Giô-ha-nan;
về họ Mê-lu-ki có Giô-na-than;
về họ Sê-ba-nia có Giô-sép; về họ Ha-rim có Át-na; về họ Mê-ra-giốt có Hên-cai;
về họ Y-đô có Xa-cha-ri; về họ Ghi-nê-thôn, có Mê-su-lam;
về họ A-bi-gia có Xiếc-ri; về họ Min-gia-min có...; về họ Mô-a-đia có Phinh-tai;
về họ Binh-ga có Sa-mua; về họ Sê-ma-gia có Giô-na-than;
về họ Giô-gia-ríp có Mát-tê-nai; về họ Giê-đa-gia có U-xi;
về họ Sa-lai có Ca-lai; về họ A-móc có Ê-be;
về họ Hinh-kia có Ha-sa-bia; về họ Giê-đa-gia có Nê-tha-nê-ên.
Việc ghi tên vào sổ của các trưởng tộc người Lê-vi và các thầy tế lễ được thực hiện trong đời thầy tế lễ thượng phẩm Ê-li-a-síp, Giô-gia-đa, Giô-ha-nan và Gia-đua. Đến thời trị vì của Đa-ri-út, vua Ba Tư, không còn danh sách nào nữa.
Con cháu các trưởng tộc của người Lê-vi có ghi tên vào sách sử ký cho đến đời Giô-ha-nan, cháu của Ê-li-a-síp.
Các trưởng tộc của người Lê-vi gồm có: Ha-sa-bia, Sê-rê-bia và Giê-sua, con trai của Cát-mi-ên và các anh em người đứng đối diện theo ban thứ, ca ngợi và cảm tạ Chúa như quy định của Đa-vít, người của Đức Chúa Trời.
Mát-ta-nia, Bác-bu-kia, Ô-ba-đia, Mê-su-lam, Tanh-môn và A-cúp là những người gác cổng đứng giữ các kho bên cổng đền thờ.
Những người nầy sống trong thời Giô-gia-kim, con trai của Giê-sua, cháu Giô-xa-đác, vào thời Nê-hê-mi làm tổng đốc và vào thời E-xơ-ra làm thầy tế lễ và thầy thông giáo.
Vào dịp lễ cung hiến các tường thành Giê-ru-sa-lem, người ta sai tìm các người Lê-vi ở khắp mọi nơi để đưa họ về Giê-ru-sa-lem dự lễ cung hiến trong niềm hân hoan, cảm tạ giữa tiếng hát ngợi ca hòa lẫn với tiếng chập chõa, đàn hạc và đàn lia.
Con cái của các ca sĩ đều tụ họp lại từ đồng bằng chung quanh Giê-ru-sa-lem, từ các làng mạc của người Nê-tô-pha-tít,
từ Bết Ghinh-ganh, từ đồng bằng Ghê-ba và từ Ách-ma-vết, vì các ca sĩ đã xây làng mạc cho mình chung quanh thành Giê-ru-sa-lem.
Những thầy tế lễ và người Lê-vi thanh tẩy chính mình cũng như thanh tẩy dân chúng, các cổng và tường thành.
Bấy giờ tôi bảo các người lãnh đạo Giu-đa lên trên tường thành rồi phân làm hai nhóm đi diễu hành để cảm tạ Chúa. Một nhóm đi bên phải trên vách thành hướng về cổng Phân.
Đi sau họ là Hô-sa-gia và phân nửa số các nhà lãnh đạo Giu-đa
cùng với A-xa-ria, E-xơ-ra, Mê-su-lam,
Giu-đa, Bên-gia-min, Sê-ma-gia, Giê-rê-mi,
và một số con trai của các thầy tế lễ thổi kèn là Xa-cha-ri, con trai của Giô-na-than, cháu của Sê-ma-gia, chắt của Mát-ta-nia, chít của Mi-chê; Mi-chê là con trai của Xác-cua, cháu của A-sáp
cùng các anh em của ông là Sê-ma-gia, A-xa-rên, Mi-la-lai, Ghi-la-lai, Ma-ai, Nê-tha-nê-ên, Giu-đa và Ha-na-ni, cầm nhạc cụ của Đa-vít, người của Đức Chúa Trời. Thầy thông giáo E-xơ-ra đi trước họ.
Từ cổng Suối ngay trước mặt, họ đi thẳng lên các nấc thang của thành Đa-vít, theo dốc tường thành đến phía trên đền Đa-vít và đến cổng Nước về hướng đông.
Còn nhóm cảm tạ thứ hai đi trên tường thành đối diện với nhóm thứ nhất. Tôi đi phía sau họ cùng với phân nửa dân chúng, từ tháp Lò cho đến vách Rộng,
và đi trên cổng Ép-ra-im, gần bên cổng Cũ, cổng Cá, tháp Ha-na-nê-ên và tháp Mê-a đến cổng Chiên. Rồi họ dừng lại tại cổng Phòng Vệ.
Vậy hai nhóm cảm tạ dừng lại trong đền Đức Chúa Trời, tôi và phân nửa các người lãnh đạo theo tôi cũng vậy.
Những thầy tế lễ thổi kèn là Ê-lê-a-kim, Ma-a-xê-gia, Min-gia-min, Mi-chê, Ê-li-ô-ê-nai, Xa-cha-ri và Ha-na-nia;
cũng có Ma-a-xê-gia, Sê-ma-gia, Ê-lê-a-xa, U-xi, Giô-ha-nan, Manh-ki-gia, Ê-lam và Ê-xe. Các ca sĩ do Dít-ra-bia điều khiển cất tiếng hát vang.
Trong ngày đó, họ dâng những tế lễ trọng thể và tràn ngập niềm vui vì Đức Chúa Trời đã khiến lòng họ vui mừng. Các phụ nữ và trẻ em cũng vui mừng nữa. Niềm vui từ thành Giê-ru-sa-lem lan rộng ra xa.
Trong ngày ấy, người ta lập những người trông coi các phòng dùng để chứa các lễ vật, hoa lợi đầu mùa, và các phần mười. Từ các đồng ruộng chung quanh thành, họ đem vào kho các phần của những thầy tế lễ và người Lê-vi mà luật pháp đã quy định, vì người Giu-đa hài lòng về sự phục vụ của những thầy tế lễ và người Lê-vi.
Họ cùng với các ca sĩ và những người giữ cổng phục vụ Đức Chúa Trời và lo việc thanh tẩy theo lệnh của vua Đa-vít và vua Sa-lô-môn, con trai vua, quy định.
Vì ngày xưa, vào thời Đa-vít và A-sáp, đã có những người lãnh đạo đặc trách ca đoàn và soạn những bài ca ngợi, cảm tạ Đức Chúa Trời.
Trong thời Xô-rô-ba-bên và Nê-hê-mi, cả Y-sơ-ra-ên đều cung cấp khẩu phần hằng ngày cho các ca sĩ và người gác cổng. Họ cũng để riêng khẩu phần cho người Lê-vi, và người Lê-vi để riêng khẩu phần cho các thầy tế lễ, con cháu A-rôn.
Trong ngày đó, người ta đọc sách Môi-se cho dân chúng nghe và thấy trong đó có chép rằng người Am-môn và người Mô-áp vĩnh viễn không được vào hội của Đức Chúa Trời,
vì chúng không đem bánh và nước ra tiếp đón dân Y-sơ-ra-ên mà lại mướn Ba-la-am đến rủa sả dân Y-sơ-ra-ên (nhưng Đức Chúa Trời chúng tôi đã đổi rủa sả ra phước lành.)
Sau khi đã nghe đọc luật pháp, dân chúng tách tất cả dân ngoại ra khỏi Y-sơ-ra-ên.
Trước việc đó, thầy tế lễ Ê-li-a-síp, người được chỉ định trông coi các phòng của đền Đức Chúa Trời chúng tôi,
và là bà con với Tô-bi-gia, đã cấp cho Tô-bi-gia một cái phòng lớn là nơi trước đây người ta dùng để chứa tế lễ chay, hương liệu, vật dụng, một phần mười về lúa mì, rượu mới và dầu, là những vật theo quy định dành cho người Lê-vi, các ca sĩ và người gác cổng, cùng với lễ vật dành cho thầy tế lễ.
Khi các điều đó xảy ra thì tôi không ở tại Giê-ru-sa-lem, vì vào năm thứ ba mươi hai đời Ạt-ta-xét-xe, vua Ba-by-lôn, tôi phải trở về với vua. Sau đó ít lâu, tôi xin phép vua trở về Giê-ru-sa-lem.
Khi đến đó, tôi biết được điều tệ hại mà Ê-li-a-síp đã làm, tức là cấp cho Tô-bi-gia một cái phòng trong hành lang của đền Đức Chúa Trời.
Tôi rất giận nên ném các vật dụng của nhà Tô-bi-gia ra khỏi phòng ấy.
Sau khi ra lệnh tẩy rửa phòng ấy sạch sẽ, tôi đem vào lại các vật dụng của đền Đức Chúa Trời, tế lễ chay và hương liệu.
Tôi cũng hay rằng người ta đã không cấp khẩu phần cho người Lê-vi, vì vậy các ca sĩ và người Lê-vi phục vụ đều trốn về đồng ruộng mình.
Tôi khiển trách các quan chức và nói: “Tại sao đền của Đức Chúa Trời bị bỏ bê như thế?” Rồi tôi triệu tập họ lại và phục hồi chức vụ cũ.
Bấy giờ tất cả người Giu-đa đều đem vào kho một phần mười về lúa mì, rượu mới và dầu.
Tôi chỉ định thầy tế lễ Sê-lê-mia, thầy thông giáo Xa-đốc và một người thuộc dòng Lê-vi tên là Phê-đa-gia trông coi các kho tàng với sự phụ giúp của Ha-nan, con trai của Xác-cua, cháu Mát-ta-nia, vì họ được coi là những người trung thành. Nhiệm vụ của họ là phân phát các lễ vật dâng hiến cho anh em mình.
“Đức Chúa Trời của con ôi! Vì việc nầy, xin nhớ đến con và đừng xóa bỏ các việc tốt lành mà con đã làm cho đền của Đức Chúa Trời, và cho việc phục vụ Ngài.”
Trong những ngày ấy, tôi bắt gặp trong Giu-đa có những người dùng máy ép nho trong ngày sa-bát, chất những bó lúa mì trên lưng lừa, cũng như chở rượu, trái nho, trái vả và đủ loại sản vật đem về Giê-ru-sa-lem trong ngày sa-bát. Tôi đã cảnh cáo họ, không được bán các thực phẩm ấy trong ngày sa-bát.
Những người Ty-rơ ở tại đó cũng đem cá và các thứ hàng hóa đến bán cho người Giu-đa ngay tại thành Giê-ru-sa-lem trong ngày sa-bát.
Bấy giờ tôi khiển trách các người quý tộc của Giu-đa rằng: “Tại sao các ông làm điều gian ác nầy để cho ngày sa-bát phải bị ô uế?
Chẳng phải tổ phụ các ông cũng đã làm như vậy đến nỗi Đức Chúa Trời giáng tai họa trên chúng ta và trên thành nầy sao? Còn các ông lại làm ô uế ngày sa-bát khiến cơn thịnh nộ của Ngài gia tăng trên Y-sơ-ra-ên!”
Vậy khi các cổng thành Giê-ru-sa-lem bắt đầu khuất trong bóng đêm trước ngày sa-bát, tôi ra lệnh đóng cổng lại và dặn họ chỉ mở cổng sau ngày sa-bát. Tôi cũng đặt một vài thuộc hạ của tôi giữ cổng không cho ai gánh hay chở đồ vào thành trong ngày sa-bát.
Một hai lần, con buôn và những người bán các thứ hàng hóa đã phải ngủ qua đêm ở ngoài thành Giê-ru-sa-lem.
Tôi quở trách họ: “Tại sao các ông ngủ đêm trước tường thành như vậy? Nếu các ông còn làm như thế, tôi sẽ thẳng tay với các ông.” Từ đó về sau, họ không đến trong ngày sa-bát nữa.
Tôi ra lệnh cho người Lê-vi phải thanh tẩy chính mình và đến giữ các cổng để biệt ngày sa-bát ra thánh. “Đức Chúa Trời của con ôi! Xin làm ơn nhớ đến điều đó và xin thương xót con tùy theo sự nhân từ lớn lao của Ngài.”
Cũng trong những ngày ấy, tôi thấy những người Giu-đa cưới vợ người Ách-đốt, Am-môn và Mô-áp.
Phân nửa con cái của họ nói tiếng Ách-đốt hoặc tiếng của các dân tộc khác chứ không biết nói tiếng Do Thái.
Tôi quở trách và rủa sả họ, đánh một vài người hoặc bứt tóc họ và bảo họ chỉ Đức Chúa Trời mà thề rằng: “Chúng con sẽ không gả con gái chúng con cho con trai chúng hoặc cưới con gái chúng cho con trai chúng con hay cho chính mình!
Chẳng phải vua Y-sơ-ra-ên là Sa-lô-môn đã phạm tội vì những phụ nữ như thế sao? Trong nhiều dân tộc không có vua nào giống như ông, được Đức Chúa Trời yêu mến, đặt làm vua trên cả Y-sơ-ra-ên. Nhưng chính những người vợ ngoại đạo nầy đã xui cho ông phạm tội!
Lẽ nào chúng ta còn phải nghe các ông làm điều đại ác, chống lại Đức Chúa Trời bằng cách lấy vợ ngoại đạo sao?”
Một trong các con trai của Giô-gia-đa, cháu thầy tế lễ thượng phẩm Ê-li-a-síp, đã cưới con gái của San-ba-lát, người Hô-rôn, nên tôi đuổi hắn khỏi tôi.
“Lạy Đức Chúa Trời của con! Xin đừng quên là họ đã làm ô uế chức tế lễ và giao ước về chức tế lễ và người Lê-vi.”
Như vậy, tôi đã thanh tẩy họ khỏi những gì liên quan đến ngoại giáo và phân công trách nhiệm cho những thầy tế lễ và người Lê-vi, mỗi người theo chức năng của họ.
Tôi cũng bảo dân chúng dâng củi theo định kỳ, cũng như dâng các thổ sản đầu mùa. “Đức Chúa Trời của con ôi, xin nhớ đến con mà làm ơn cho!”
Đây là chuyện xảy ra vào thời A-suê-ru, tức là vua A-suê-ru đang cai trị trên một trăm hai mươi bảy tỉnh từ Ấn Độ đến Ê-thi-ô-pi.
Lúc ấy, vua đang ngự trên ngôi của vương quốc tại kinh đô Su-sơ.
Vào năm thứ ba của triều đại mình, vua mở yến tiệc chiêu đãi tất cả các thủ lĩnh và quần thần của mình. Các tư lệnh quân đội Ba Tư và Mê-đi, các nhà quý tộc cùng các quan đầu tỉnh đều hiện diện.
Trong suốt một trăm tám mươi ngày, vua phô trương sự giàu có sang trọng của vương quốc cùng sự oai nghi rực rỡ và vinh hiển của mình.
Khi các ngày đó đã mãn, vua mở tiệc chiêu đãi tất cả dân chúng ở kinh đô Su-sơ từ sang đến hèn, trong bảy ngày nơi sân vườn của hoàng cung.
Khắp vườn người ta treo những tấm trướng màu trắng, màu xanh da trời; dùng dây gai màu trắng và màu tím cột vào các vòng bạc và trụ cẩm thạch. Các trường kỷ bằng vàng bằng bạc đặt trên nền lót cẩm thạch đủ màu, đỏ, trắng, vàng và đen.
Người ta đãi rượu bằng chén vàng với đủ các loại chén khác nhau. Vua thết đãi rất nhiều loại rượu, xứng với sự giàu có của bậc đế vương.
Mọi người uống rượu thoải mái nhưng không ép buộc, vì vua đã truyền cho các nhân viên trong hoàng cung phải phục vụ khách theo sở thích của mỗi người.
Trong lúc đó, hoàng hậu Vả-thi cũng đãi tiệc cho giới nữ tại cung vua A-suê-ru.
Qua ngày thứ bảy, đang khi hứng chí vì rượu, vua truyền cho Mê-hu-man, Bít-tha, Hạt-bô-na, Biếc-tha, A-bác-tha, Xê-thạt và Cạt-cách, tức bảy hoạn quan thân cận của vua A-suê-ru,
đưa hoàng hậu Vả-thi đến trước mặt vua, đội vương miện hoàng hậu để khoe sắc đẹp của bà với dân chúng và các thủ lĩnh vì bà rất đẹp.
Nhưng hoàng hậu Vả-thi không chịu theo lệnh của vua truyền qua các hoạn quan. Vì thế, vua nổi giận phừng phừng.
Vua hội ý với các nhà thông thái hiểu biết thời vận; vì theo thông lệ, khi có việc gì thì vua thường tham khảo ý kiến những người thông thạo luật pháp,
tức là các cận thần của vua như Cạt-sê-na, Sê-thạt, Át-ma-tha, Ta-rê-si, Mê-re, Mạt-sê-na, Mê-mu-can, cũng là bảy thủ lĩnh của Ba Tư và Mê-đi thường yết kiến vua và chiếm vị trí cao nhất trong vương quốc.
Bấy giờ, vua A-suê-ru hỏi họ: “Hoàng hậu Vả-thi không vâng lệnh trẫm truyền qua các hoạn quan. Vậy theo luật pháp, chúng ta phải xử bà ấy như thế nào?”
Mê-mu-can thưa trước mặt vua và các thủ lĩnh rằng: “Hoàng hậu Vả-thi không những mắc tội với bệ hạ thôi mà còn mắc tội với tất cả các thủ lĩnh và dân chúng trong các tỉnh của bệ hạ nữa.
Việc nầy sẽ đồn ra trong giới nữ khiến họ khinh bỉ chồng, vì chính các ông chồng thuật lại rằng ‘vua A-suê-ru bảo đem hoàng hậu Vả-thi đến trước mặt vua mà bà không chịu đến.’
Rồi ngay hôm nay các mệnh phụ ở Ba Tư và Mê-đi nghe việc hoàng hậu đã làm cũng sẽ theo cách ấy mà cư xử với chồng là các triều thần của vua, thì hẳn sẽ sinh ra lắm điều khinh bỉ và tức giận.
Vì thế, nếu bệ hạ vui lòng, xin bệ hạ ra chiếu chỉ ghi vào luật pháp của Ba Tư và Mê-đi để nó không thể thay đổi, rằng Vả-thi sẽ không bao giờ được chầu trước mặt vua A-suê-ru nữa. Xin bệ hạ ban ngôi hoàng hậu ấy cho một người khác xứng đáng hơn.
Khi chiếu chỉ của bệ hạ được loan truyền khắp vương quốc rộng lớn nầy thì tất cả phụ nữ từ người sang trọng đến kẻ thấp hèn tất sẽ tôn trọng chồng mình.”
Lời nầy vừa ý vua cùng các thủ lĩnh nên vua làm theo lời của Mê-mu-can đã tâu.
Vua ban chiếu chỉ cho tất cả các tỉnh của vua, tỉnh nào theo chữ viết riêng của tỉnh ấy, dân tộc nào theo tiếng nói riêng của dân tộc ấy, và bảo rằng mỗi người nam phải làm chủ gia đình mình và dạy bảo bằng tiếng của dân tộc mình.
Sau các việc ấy, khi cơn giận của vua A-suê-ru đã nguôi thì vua nhớ lại Vả-thi, việc bà đã làm và sắc lệnh truất ngôi hoàng hậu của bà.
Các cận thần đề nghị: “Hãy tìm cho vua những trinh nữ trẻ đẹp
và xin vua chỉ định các quan trong khắp các tỉnh thuộc vương quốc của vua, tập trung những trinh nữ trẻ đẹp về hậu cung ở kinh đô Su-sơ. Hãy giao cho Hê-gai, hoạn quan của vua, chịu trách nhiệm về các cung phi, chăm sóc họ và phát cho họ những hương liệu để thanh tẩy.
Thiếu nữ nào vừa lòng vua thì lập làm hoàng hậu thế cho Vả-thi.” Lời ấy hài lòng vua nên vua cho thi hành ngay.
Tại kinh đô Su-sơ có một người Do Thái tên là Mạc-đô-chê, con trai của Giai-rơ, cháu của Si-mê-i, chắt của Kích, người Bên-gia-min.
Ông bị đày đi khỏi Giê-ru-sa-lem cùng với những người bị vua Ba-by-lôn là Nê-bu-cát-nết-sa bắt làm nô lệ, trong đó có Giê-cô-nia, vua Giu-đa.
Ông nuôi dưỡng con gái của cậu mình, cô gái ấy tên là Ha-đa-sa tức Ê-xơ-tê vì cô không còn cha mẹ. Cô ấy có dung nhan đẹp đẽ. Khi cha mẹ cô qua đời, Mạc-đô-chê nhận cô làm con gái mình.
Khi lệnh của vua và chiếu chỉ được công bố, nhiều thiếu nữ được tập hợp về kinh đô Su-sơ, giao cho Hê-gai chăm sóc. Ê-xơ-tê cũng được đem đến cung vua giao cho Hê-gai là hoạn quan trông coi các cung phi.
Thiếu nữ nầy vừa lòng Hê-gai và được ơn trước mặt ông. Ông nhanh chóng cấp cho cô những hương liệu dùng để thanh tẩy và phần thức ăn đặc biệt cùng với bảy nữ tỳ được tuyển trong cung vua, rồi ông đưa cô với các nữ tỳ vào trong một phòng tốt nhất của hậu cung.
Ê-xơ-tê không tiết lộ dân tộc và họ hàng mình vì Mạc-đô-chê có dặn cô đừng tỏ cho ai biết cả.
Mỗi ngày, Mạc-đô-chê đi dạo chơi trước sân hậu cung để xem Ê-xơ-tê có bình an không, hay có việc gì xảy đến cho cô không.
Mỗi thiếu nữ theo quy định phải trau dồi sắc đẹp trong mười hai tháng: sáu tháng dùng dầu mộc dược, sáu tháng dùng thuốc thơm cùng những hương liệu mà các phụ nữ dùng để thanh tẩy. Sau thời gian ấy, mỗi thiếu nữ theo phiên thứ mà đến với vua A-suê-ru.
Khi thiếu nữ nào vào chầu vua, cô ấy được phép mang bất cứ vật gì mình muốn đem theo từ hậu cung vào cung điện của vua.
Buổi tối cô đến, buổi sáng cô trở về hậu cung thứ nhì dưới sự giám sát của Sa-ách-ga là hoạn quan của vua, người chịu trách nhiệm trông coi các cung phi. Cô không được trở vào cung vua trừ phi vua thích cô và cho gọi đích danh.
Khi Ê-xơ-tê, con gái của A-bi-hai là cậu của Mạc-đô-chê, người đã nhận cô làm con nuôi, đến phiên được vào chầu vua thì cô không đòi hỏi gì cả ngoại trừ những gì Hê-gai, hoạn quan của vua, là người trông coi các cung phi, đã quy định. Ê-xơ-tê được ơn trước mọi người nhìn thấy cô.
Ê-xơ-tê được đưa vào hoàng cung để chầu vua A-suê-ru vào tháng mười (là tháng Tê-bết), năm thứ bảy triều đại vua.
Vua yêu mến Ê-xơ-tê hơn tất cả các cung nữ khác và cô được ơn trước mặt vua hơn tất cả những trinh nữ khác. Vậy vua đội vương miện lên đầu cô và lập cô làm hoàng hậu thế cho Vả-thi.
Rồi vua mở một tiệc lớn chiêu đãi các quan chức và quần thần, gọi là yến tiệc của bà Ê-xơ-tê. Vua cũng miễn thuế cho các tỉnh và ban thưởng rộng rãi, tương xứng với bậc đế vương.
Khi các trinh nữ họp lại lần thứ hai thì Mạc-đô-chê đang ngồi nơi cổng hoàng cung.
Ê-xơ-tê làm đúng như Mạc-đô-chê đã dặn, không cho ai biết dân tộc và họ hàng của mình, vì Ê-xơ-tê vâng lời Mạc-đô-chê như lúc cô được nuôi dưỡng trong nhà ông.
Trong thời gian ấy, Mạc-đô-chê đang ngồi nơi cổng hoàng cung. Có hai hoạn quan giữ cửa cho vua là Bích-than và Thê-rết vì tức giận A-suê-ru nên mưu toan ám hại nhà vua.
Mạc-đô-chê biết được việc ấy nên ông báo cho hoàng hậu Ê-xơ-tê biết và bà Ê-xơ-tê nhân danh Mạc-đô-chê tâu lại với vua.
Người ta điều tra sự vụ và thấy quả đúng như vậy nên hai hoạn quan kia đều bị treo cổ. Việc nầy được chép vào sử biên niên trước mặt vua.
Sau các việc ấy, vua A-suê-ru thăng chức cho Ha-man, con trai của Ham-mê-đa-tha, người A-gát, cất nhắc ông lên và ban cho ông địa vị cao hơn các quan chức trong cung vua.
Tất cả triều thần nơi cổng hoàng cung đều cúi lạy để tôn trọng Ha-man theo lệnh của vua. Nhưng Mạc-đô-chê không chịu cúi chào cũng không quỳ lạy ông ấy.
Các triều thần nơi cổng hoàng cung nói với Mạc-đô-chê: “Tại sao ông không tuân lệnh vua?”
Ngày nầy qua ngày kia, họ cứ nói với ông như thế nhưng ông không vâng theo họ. Vì thế, họ báo cho Ha-man để xem thái độ của Mạc-đô-chê có thể được chấp nhận không, vì Mạc-đô-chê cứ bảo họ rằng ông là người Do Thái.
Khi Ha-man thấy Mạc-đô-chê không chịu cúi chào cũng không quỳ lạy mình thì nổi giận.
Nhưng Ha-man nghĩ rằng ra tay trị một mình Mạc-đô-chê chỉ là việc tầm thường. Vì thế, khi biết Mạc-đô-chê là người Do Thái thì Ha-man âm mưu giết tất cả người Do Thái là dân tộc của Mạc-đô-chê trong toàn vương quốc của A-suê-ru.
Tháng giêng là tháng Ni-san, vào năm thứ mười hai triều đại A-suê-ru, người ta gieo Phu-rơ nghĩa là gieo thăm theo từng ngày từng tháng. Thăm gieo trúng tháng mười hai là tháng A-đa.
Ha-man tâu với vua A-suê-ru rằng: “Có một dân tộc phân tán, rải rác giữa các dân tộc trong các tỉnh của vương quốc bệ hạ; luật pháp của chúng khác với luật pháp của các dân tộc khác, và chúng cũng không tuân theo luật pháp của bệ hạ. Vì thế, dung túng chúng thì không có lợi cho bệ hạ.
Nếu điều nầy vừa ý bệ hạ, xin bệ hạ ban chiếu chỉ tuyệt diệt chúng, và hạ thần sẽ nộp ba trăm năm mươi tấn bạc vào tay các viên chức hoàng cung để họ đem vào kho của bệ hạ.”
Vua liền tháo chiếc nhẫn khỏi tay mình trao cho Ha-man, con trai Ham-mê-đa-tha người A-gát, kẻ thù của dân Do Thái.
Vua nói với Ha-man: “Trẫm giao bạc ấy luôn cả dân tộc ấy cho khanh, tùy ý khanh muốn làm gì thì làm.”
Vào ngày mười ba tháng giêng, các thư ký của vua được triệu tập. Theo chỉ thị của Ha-man, người ta nhân danh A-suê-ru viết chiếu chỉ cho các thống đốc của vua, các tổng đốc mỗi tỉnh và các thủ lĩnh của mỗi dân tộc, tỉnh nào dùng chữ viết tỉnh nấy, dân nào dùng tiếng nói của dân nấy. Rồi họ đóng ấn bằng chiếc nhẫn của vua.
Văn thư được các lính trạm gửi đến các tỉnh của vua, ra lệnh phải thủ tiêu, giết chết và tận diệt tất cả dân Do Thái bất kể già trẻ, phụ nữ trẻ em, trong một ngày, tức ngày mười ba tháng mười hai là tháng A-đa và tước đoạt tài sản của chúng.
Bản sao của chiếu chỉ được lưu hành như một đạo luật công bố cho tất cả các dân tộc trong mỗi tỉnh để họ chuẩn bị sẵn sàng cho ngày đó.
Các lính trạm vâng lệnh vua vội vã ra đi. Chiếu chỉ nầy cũng được ban ra tại kinh đô Su-sơ nữa. Sau đó, vua và Ha-man ngồi lại uống rượu trong khi cả thành Su-sơ đều hoang mang lo lắng.
Khi Mạc-đô-chê biết được mọi điều đã xảy ra thì xé áo, mặc quần áo vải sô và phủ tro lên đầu rồi đi ra giữa thành, lớn tiếng kêu khóc một cách đắng cay.
Ông cũng đến đứng trước cổng hoàng cung mặc dù không ai mặc quần áo sô mà được phép vào đó.
Trong mỗi tỉnh, nơi nào lệnh vua và chiếu chỉ được truyền đến thì dân Do Thái kêu la thảm thiết, kiêng ăn, khóc lóc, than vãn, và có nhiều người mặc quần áo vải sô nằm trên tro.
Khi các nữ tỳ của Ê-xơ-tê và các hoạn quan của bà đến thuật lại việc ấy cho bà thì bà đau buồn lắm. Bà gửi quần áo cho Mạc-đô-chê để ông mặc thay cho áo vải sô nhưng ông không chịu.
Bấy giờ bà Ê-xơ-tê gọi Ha-thác, một hoạn quan của vua được chỉ định hầu hạ bà, đến với Mạc-đô-chê để hỏi cho biết việc gì đã xảy ra và lý do làm sao.
Ha-thác đến gặp Mạc-đô-chê tại quảng trường của thành phố nằm trước cổng hoàng cung.
Mạc-đô-chê thuật lại mọi điều đã xảy đến cho mình và số bạc mà Ha-man đã hứa đóng vào kho của vua để được phép tuyệt diệt dân Do Thái.
Ông cũng đưa cho hoạn quan một bản sao chiếu chỉ đã truyền ra tại Su-sơ về việc tuyệt diệt dân Do Thái để hoạn quan trình cho bà Ê-xơ-tê và giải thích cho bà hiểu, đồng thời khuyên bà vào chầu vua để khẩn xin vua thương xót đến dân tộc mình.
Ha-thác trở về thuật lại cho bà Ê-xơ-tê mọi lời của Mạc-đô-chê.
Bấy giờ bà Ê-xơ-tê sai Ha-thác nói lại với Mạc-đô-chê rằng:
“Các triều thần và dân chúng các tỉnh của vua đều biết rằng nếu bất cứ người nào, nam hay nữ, bước vào nội cung mà không được lệnh mời thì người đó theo luật định phải bị xử tử, trừ phi nhà vua đưa vương trượng vàng ra thì mới sống. Nhưng đã ba mươi ngày nay con không được vời vào hoàng cung.”
Người ta thuật lại cho Mạc-đô-chê lời của bà Ê-xơ-tê đã nói.
Mạc-đô-chê bảo họ nói lại với bà Ê-xơ-tê: “Đừng tưởng rằng ở trong cung vua con sẽ thoát khỏi tai họa xảy đến cho tất cả những người Do Thái khác.
Nếu con nín lặng trong lúc nầy thì dân Do Thái hẳn sẽ được trợ giúp và giải cứu bằng cách khác, song con và nhà cha của con sẽ bị diệt vong. Nhưng nào ai biết rằng vì cớ thời điểm như thế này mà con được ngôi hoàng hậu sao?”
Bà Ê-xơ-tê sai người trả lời với Mạc-đô-chê rằng:
“Xin triệu tập tất cả người Do Thái ở Su-sơ lại, rồi hãy vì con mà kiêng ăn trong ba ngày đêm, đừng ăn hay uống gì hết. Con và các nữ tỳ của con cũng sẽ kiêng ăn nữa. Sau đó, con sẽ vào chầu vua là việc trái luật pháp; nhưng nếu phải chết thì con chết.”
Mạc-đô-chê đi ra và làm theo mọi điều bà Ê-xơ-tê đã yêu cầu.
Vào ngày thứ ba, bà Ê-xơ-tê mặc triều phục và đứng chầu tại nội điện của hoàng cung. Vua đang ngồi trên ngai trong cung điện trước đại sảnh của vua.
Vừa khi vua thấy hoàng hậu Ê-xơ-tê đứng chầu nơi nội điện thì bà được ơn trước mặt vua. Vua đưa vương trượng vàng trong tay về phía Ê-xơ-tê. Bà Ê-xơ-tê lại gần và chạm vào đầu vương trượng.
Vua nói với bà: “Nầy hoàng hậu Ê-xơ-tê, có việc gì thế? Ái khanh cầu xin điều gì? Dù xin đến nửa vương quốc trẫm cũng cho.”
Ê-xơ-tê nói: “Nếu vừa ý bệ hạ, xin bệ hạ và Ha-man hôm nay đến dự yến tiệc mà thiếp dọn cho bệ hạ.”
Vua bảo: “Hãy mau mời Ha-man đến theo lời hoàng hậu đã nói.” Vậy vua và Ha-man đi đến dự yến tiệc mà Ê-xơ-tê đã dọn sẵn.
Trong lúc dự tiệc rượu, vua nói với bà Ê-xơ-tê: “Ái khanh xin điều gì, trẫm sẽ cho! Ái khanh thỉnh cầu việc gì, dù đến nửa vương quốc trẫm cũng sẽ cho!”
Bà Ê-xơ-tê thưa: “Đây là điều thiếp xin và thỉnh cầu:
Nếu thiếp được ơn trước mặt bệ hạ, và nếu bệ hạ vui lòng ban cho theo lời thiếp xin và thỉnh cầu thì xin mời bệ hạ và Ha-man đến dự yến tiệc mà thiếp sẽ dọn vào ngày mai, rồi thiếp sẽ làm theo lời bệ hạ truyền bảo.”
Hôm ấy, Ha-man đi ra, trong lòng vui mừng phấn khởi. Nhưng khi thấy Mạc-đô-chê nơi cổng hoàng cung không đứng dậy cũng không tỏ ra sợ hãi gì thì Ha-man tức giận Mạc-đô-chê.
Tuy nhiên, Ha-man nén cơn giận trở về nhà mình. Ông sai người mời các bạn và Xê-rết là vợ mình đến.
Ha-man khoe với họ sự giàu có sang trọng và đông con của mình. Ông cũng khoe mọi điều vua làm cho ông, tôn trọng ông, và thăng quan tiến chức cho ông cao hơn các quan chức và triều thần của vua.
Ha-man nói tiếp: “Hoàng hậu Ê-xơ-tê chỉ mời một mình ta cùng với vua đến dự yến tiệc của bà đã dọn. Ngày mai ta lại được bà mời dự tiệc với vua nữa.
Tuy nhiên, mọi điều đó chẳng có ý nghĩa gì khi mà ta còn thấy tên Mạc-đô-chê, người Do Thái kia, vẫn ngồi tại cổng hoàng cung.”
Vợ ông là Xê-rết và các bạn nói với ông: “Hãy sai dựng một giá treo cổ cao hai mươi lăm mét, và sáng mai, hãy xin vua cho treo cổ tên Mạc-đô-chê lên đó. Rồi ông cứ vui vẻ đi dự yến tiệc với vua.” Lời đề nghị nầy vừa ý Ha-man và ông sai người dựng giá treo cổ.
Đêm đó, vua không ngủ được. Vua truyền đem sách sử biên niên đọc cho vua nghe.
Trong sách có chép chuyện Mạc-đô-chê khám phá âm mưu của Bích-than và Thê-rết là hai hoạn quan của vua có trách nhiệm giữ cửa, muốn ám hại vua A-suê-ru.
Vua hỏi: “Với công trạng ấy, Mạc-đô-chê có được vinh dự và ban thưởng gì không?” Các cận thần của vua thưa: “Ông ấy chẳng được gì cả.”
Vua hỏi: “Ai đang ở ngoài tiền sảnh?” Lúc ấy, Ha-man vừa bước vào tiền sảnh, tức sân ngoài của hoàng cung, để xin vua truyền treo cổ Mạc-đô-chê trên giá mà ông đã dựng cho Mạc-đô-chê.
Các cận thần của vua thưa: “Kìa Ha-man đang đứng ở tiền sảnh.” Vua bảo: “Hãy mời ông ấy vào.”
Ha-man vừa bước vào thì vua hỏi ông rằng: “Phải làm gì cho người mà vua muốn tôn trọng?” Ha-man nghĩ thầm: “Ngoài ta ra còn ai là người đáng được vua tôn trọng chứ?”
Vậy Ha-man liền tâu với vua: “Người nào vua muốn tôn trọng
thì phải cho mặc áo triều mà vua thường mặc, cưỡi ngựa có vương miện trên đầu mà vua thường cưỡi.
Áo triều và ngựa thì giao vào tay của một triều thần tối cao của vua để mặc cho người mà vua muốn tôn trọng, rồi dẫn người ấy cưỡi ngựa dạo quanh quảng trường của thành phố và công bố rằng: ‘Người mà vua muốn tôn trọng được hậu đãi như vậy.’”
Vua nói với Ha-man: “Hãy mau đem áo triều và ngựa đúng như lời khanh nói mà trao cho Mạc-đô-chê người Do Thái đang ngồi tại cổng hoàng cung, đừng bỏ qua bất cứ điều gì mà khanh đã đề nghị.”
Ha-man dẫn ngựa ra và lấy áo triều mặc cho Mạc-đô-chê rồi dẫn ông cưỡi ngựa dạo quanh quảng trường của thành phố mà hô lên trước mặt ông ấy rằng: “Người mà vua muốn tôn trọng được hậu đãi như vậy!”
Sau đó, Mạc-đô-chê trở về cổng hoàng cung. Còn Ha-man vội vã trở về nhà mình, đau buồn và trùm đầu lại.
Ha-man thuật lại cho vợ mình là Xê-rết và các bạn nghe mọi điều đã xảy đến cho mình. Khi ấy các nhà thông thái và Xê-rết, vợ ông nói: “Ông bắt đầu thất thế trước Mạc-đô-chê rồi; nếu hắn quả thuộc về dòng dõi Do Thái thì ông sẽ không thắng hắn được đâu nhưng chắc chắn sẽ thất bại trước hắn.”
Khi họ còn đang nói chuyện với Ha-man thì các hoạn quan của vua vội vã đến đưa ông tới dự yến tiệc mà bà Ê-xơ-tê đã dọn.
Vậy là vua và Ha-man đến dự yến tiệc với hoàng hậu Ê-xơ-tê.
Vào ngày thứ hai, khi đang dự tiệc rượu, vua lại nói với bà Ê-xơ-tê: “Nầy hoàng hậu Ê-xơ-tê, ái khanh muốn xin điều gì, trẫm sẽ cho. Ái khanh muốn thỉnh cầu điều chi, dù đến nửa vương quốc trẫm cũng sẽ cho.”
Hoàng hậu Ê-xơ-tê tâu: “Thưa bệ hạ, nếu thiếp được ơn trước mặt bệ hạ và nếu bệ hạ hài lòng thì cầu xin bệ hạ cứu mạng thiếp và mạng sống của dân tộc thiếp.
Vì thiếp và dân tộc thiếp đã bị bán để bị hủy diệt, giết chết và thủ tiêu. Nếu chỉ bị bán để làm nô lệ thì thiếp cũng đành nín lặng vì cảnh khốn khổ của dân tộc thiếp không thể so sánh với sự thiệt hại của bệ hạ.”
Vua A-suê-ru nói với hoàng hậu Ê-xơ-tê: “Kẻ đó là ai? Nó ở đâu mà dám làm chuyện như thế?”
Bà Ê-xơ-tê thưa: “Kẻ cừu thù ấy là Ha-man độc ác kia!” Lúc ấy, Ha-man kinh hãi trước mặt vua và hoàng hậu.
Vua nổi giận đứng dậy khỏi bàn tiệc, đi ra ngoài ngự uyển. Còn Ha-man vì thấy rõ vua nhất định giáng họa cho mình nên ở lại nài xin hoàng hậu Ê-xơ-tê cứu mạng mình.
Khi vua từ ngự uyển trở vào nhà tiệc thì Ha-man đang quỳ dưới trường kỷ nơi bà Ê-xơ-tê đang ngồi. Vua nói: “Trong cung điện trước mặt ta nó còn dám làm nhục hoàng hậu nữa sao?” Lời vừa ra khỏi miệng vua thì người ta liền che mặt Ha-man lại.
Hạt-bô-na, một hoạn quan thân cận vua nói: “Kìa giá treo cổ cao hai mươi lăm mét mà Ha-man đã dựng sẵn tại trước nhà nó để treo Mạc-đô-chê là người đã trình báo để cứu mạng bệ hạ.” Vua bảo: “Hãy treo nó lên đó!”
Như vậy, người ta treo Ha-man nơi giá treo cổ mà hắn đã dựng lên cho Mạc-đô-chê. Rồi cơn giận của vua nguôi đi.
Vào ngày ấy, vua A-suê-ru ban cho hoàng hậu Ê-xơ-tê ngôi nhà của Ha-man là kẻ thù của người Do Thái. Còn Mạc-đô-chê được chầu trước mặt vua vì bà Ê-xơ-tê đã cho vua biết ông ấy là bà con thân thuộc của mình.
Vua cởi chiếc nhẫn mà vua đã lấy nơi Ha-man và trao cho Mạc-đô-chê. Bà Ê-xơ-tê giao cho Mạc-đô-chê trông coi nhà của Ha-man.
Bà Ê-xơ-tê lại tâu với vua, phủ phục dưới chân vua khóc lóc và cầu xin vua hủy bỏ kế hoạch độc ác của Ha-man, người A-gát, âm mưu chống lại người Do Thái.
Vua đưa vương trượng vàng ra cho bà Ê-xơ-tê và bà trỗi dậy, đứng trước mặt vua.
Bà nói: “Nếu vừa ý bệ hạ, nếu thiếp được ơn trước mặt bệ hạ, nếu bệ hạ thấy việc ấy là đúng và nếu thiếp đẹp mắt bệ hạ, thì xin bệ hạ ra lệnh hủy bỏ các văn thư do Ha-man, con trai Ham-mê-đa-tha, người A-gát, âm mưu viết ra để tiêu diệt người Do Thái trong tất cả các tỉnh của bệ hạ.
Vì nỡ nào thiếp nhìn thấy tai họa xảy đến cho dân tộc của thiếp? Nỡ nào thiếp chứng kiến cảnh nòi giống thiếp bị hủy diệt?”
Vua A-suê-ru nói với hoàng hậu Ê-xơ-tê và Mạc-đô-chê, người Do Thái, rằng: “Nầy, trẫm đã ban cho Ê-xơ-tê ngôi nhà của Ha-man, còn nó thì người ta đã treo cổ vì nó đã ra tay làm hại người Do Thái.
Vậy các khanh hãy nhân danh trẫm viết điều gì vừa ý mình liên quan đến người Do Thái, rồi lấy chiếc nhẫn của trẫm mà đóng ấn. Vì chiếu chỉ nào nhân danh trẫm viết ra và đóng ấn bằng chiếc nhẫn của trẫm thì không thể bãi bỏ được.”
Ngay hôm ấy, vào ngày hai mươi ba, tháng ba tức là tháng Si-van, các thư ký của vua được triệu tập. Theo sự chỉ dẫn của Mạc-đô-chê, họ viết văn thư liên quan đến người Do Thái, rồi gửi đến các thống đốc, các tổng đốc và các quan đầu tỉnh từ Ấn Độ đến Ê-thi-ô-pi, tức một trăm hai mươi bảy tỉnh. Tỉnh nào dùng chữ viết của tỉnh nấy, dân nào dùng tiếng nói của dân nấy, và cũng viết cho người Do Thái theo chữ viết và tiếng nói của họ nữa.
Mạc-đô-chê nhân danh vua A-suê-ru viết văn thư và đóng dấu bằng chiếc nhẫn của vua rồi sai lính trạm đem đi; họ cưỡi ngựa nhanh, là giống ngựa nòi đặc biệt dành cho hoàng gia.
Trong văn thư, nhà vua cho phép người Do Thái trong các tỉnh thành của vua A-suê-ru tập hợp lại để bảo vệ sinh mạng mình, phá hủy, giết chết, diệt trừ những người nào mang vũ khí tấn công họ bất kể dân nào, tỉnh nào, phụ nữ hay trẻ em và cướp đoạt tài sản của chúng.
Lệnh nầy được thi hành chỉ trong một ngày là ngày mười ba tháng mười hai, là tháng A-đa.
Bản sao chiếu chỉ được ban hành như một đạo luật và được công bố trong mỗi tỉnh cho tất cả các dân tộc để người Do Thái sẵn sàng cho ngày báo thù các cừu địch mình.
Vậy những lính trạm cưỡi ngựa nhanh, là giống ngựa nòi đặc biệt dành cho hoàng gia. Đạo luật ấy cũng được ban bố tại kinh đô Su-sơ.
Mạc-đô-chê từ hoàng cung đi ra, mặc áo triều xanh và trắng, đội vương miện lớn bằng vàng và mặc một cái áo dài bằng vải gai mịn màu tím. Dân thành Su-sơ reo hò mừng rỡ.
Đối với người Do Thái, đây là ngày tươi sáng, vui mừng, hoan hỉ và vinh dự.
Trong mỗi tỉnh mỗi thành, nơi nào mệnh lệnh và chiếu chỉ của vua được ban ra thì dân Do Thái vui mừng và hoan hỉ, đãi tiệc và ăn mừng. Có nhiều người thuộc các dân tộc khác trong xứ cũng tin theo Do Thái giáo, vì họ quá sợ hãi người Giu-đa.
Vào ngày mười ba tháng mười hai là tháng A-đa, khi mệnh lệnh và chiếu chỉ của vua sắp được thi hành, tức là ngày mà kẻ thù của người Do Thái định đàn áp họ, thì tình thế lại đảo ngược, chính người Do Thái lại đàn áp kẻ thù mình.
Người Do Thái tập hợp tại các thành của họ trong khắp các tỉnh của vua A-suê-ru để ra tay tấn công những kẻ tìm hại mình. Không ai chống cự họ nổi vì các dân tộc rất sợ họ.
Các quan đầu tỉnh, các thống đốc, các tổng đốc, và các viên chức quản trị hoàng gia đều giúp đỡ dân Do Thái vì họ rất sợ Mạc-đô-chê.
Mạc-đô-chê có uy thế lớn trong cung vua, danh tiếng ông đồn ra khắp các tỉnh; thế lực Mạc-đô-chê ngày càng lớn.
Người Do Thái dùng gươm đánh các kẻ thù, giết chết và tuyệt diệt chúng. Họ đối xử với những kẻ ghét họ tùy ý họ muốn.
Tại kinh đô Su-sơ, người Do Thái đánh giết năm trăm người.
Họ giết Phạt-san-đa-tha, Đanh-phông, A-ba-tha,
Phô-ra-tha, A-đa-lia, A-ri-đa-tha,
Phạt-ma-sa-ta, A-ri-sai, A-ri-đai và Va-giê-xa-tha,
tức là mười con trai của Ha-man, con Ham-mê-đa-tha, là kẻ thù của người Do Thái. Nhưng họ không cướp đoạt tài sản.
Trong ngày đó, người ta báo cho vua biết số người bị giết trong kinh đô Su-sơ.
Vua nói với hoàng hậu Ê-xơ-tê rằng: “Người Do Thái đã giết năm trăm người tại kinh đô Su-sơ, và mười con trai của Ha-man. Họ đã làm gì trong các tỉnh còn lại của trẫm? Bây giờ ái khanh xin gì, trẫm sẽ cho. Ái khanh còn thỉnh cầu gì nữa, trẫm sẽ cho!”
Bà Ê-xơ-tê thưa: “Nếu đẹp ý bệ hạ, ngày mai xin cho phép người Do Thái ở Su-sơ cũng thi hành chiếu chỉ như ngày hôm nay mà cho treo cổ mười con trai của Ha-man.”
Vua truyền lệnh làm như vậy, và một chiếu chỉ được ban ra trong Su-sơ. Người ta treo cổ mười con trai của Ha-man.
Người Do Thái ở Su-sơ cũng họp lại vào ngày mười bốn của tháng A-đa và giết thêm ba trăm người tại Su-sơ nhưng họ không cướp đoạt tài sản.
Những người Do Thái khác ở các tỉnh của vua cũng họp lại để bảo vệ mạng sống của họ, giải cứu họ khỏi kẻ thù và giết bảy mươi lăm nghìn người thù ghét mình, nhưng họ không cướp đoạt tài sản.
Việc nầy xảy ra vào ngày mười ba, tháng A-đa. Qua ngày mười bốn tháng ấy họ nghỉ ngơi và lập thành một ngày yến tiệc vui vẻ.
Nhưng người Do Thái ở Su-sơ họp lại trong ngày mười ba và mười bốn của tháng ấy; còn ngày mười lăm tháng ấy họ nghỉ ngơi và lập thành một ngày yến tiệc vui vẻ.
Vì thế, người Do Thái ở các vùng nông thôn lấy ngày mười bốn tháng A-đa làm ngày vui mừng yến tiệc, một ngày lễ để gửi phần ăn cho nhau.
Mạc-đô-chê ghi chép các điều nầy và gửi thư cho tất cả người Do Thái trong các tỉnh của vua A-suê-ru xa gần
để dặn họ phải giữ ngày mười bốn và mười lăm của tháng A-đa hằng năm.
Vì trong ngày và tháng ấy, người Do Thái được giải cứu khỏi kẻ thù mình; nỗi đau đớn biến thành niềm vui mừng và ngày buồn thảm hóa ra ngày yến tiệc. Ông bảo họ lập thành ngày yến tiệc và vui mừng; mỗi người gửi phần ăn cho nhau và quà tặng cho người nghèo khó.
Người Do Thái tiếp tục giữ lễ ấy và làm theo điều Mạc-đô-chê đã viết gửi cho họ.
Vì Ha-man, con Ha-mê-đa-tha, người A-gát, kẻ thù của tất cả người Do Thái, đã âm mưu tiêu diệt dân Do Thái và gieo Phu-rơ, nghĩa là gieo thăm, để loại trừ và tận diệt họ.
Nhưng khi việc ấy đến tai vua thì vua ra chiếu chỉ truyền rằng các mưu ác mà Ha-man đã toan hại người Do Thái sẽ đổ lại trên đầu hắn. Người ta treo hắn cùng với các con trai hắn trên giá treo cổ.
Do đó, người ta theo từ Phu-rơ mà gọi các ngày đó là Phu-rim. Cũng vì nội dung của văn thư nầy và những điều họ chứng kiến cùng sự việc xảy đến cho họ
nên người Do Thái thiết lập cho chính họ, cho dòng dõi họ và cho những người theo họ một phong tục là: Mỗi năm phải giữ hai ngày nầy đúng theo văn thư, vào thời điểm nhất định, không được bỏ qua.
Phải nhớ và giữ hai ngày ấy trong mỗi gia tộc, ở mỗi tỉnh thành, trải qua mọi thế hệ. Những ngày Phu-rim nầy sẽ không bao giờ bị mất trong dân Do Thái và lễ kỷ niệm nầy cũng không bị mai một trong con cháu họ.
Hoàng hậu Ê-xơ-tê, con gái của A-bi-hai, và Mạc-đô-chê, người Do Thái, lại viết văn thư thứ nhì với đầy đủ thẩm quyền để khuyên dân Do Thái giữ lễ Phu-rim.
Các văn thư được gửi đến tất cả người Do Thái trong một trăm hai mươi bảy tỉnh thuộc vương quốc A-suê-ru với lời lẽ hòa nhã, chân tình.
Các văn thư ấy nhằm khẳng định các ngày Phu-rim phải được giữ vào một thời gian nhất định, đúng như Mạc-đô-chê, người Do Thái, và hoàng hậu Ê-xơ-tê đã chỉ thị. Dân chúng làm đúng như Mạc-đô-chê và Ê-xơ-tê đã thiết lập cho chính họ và dòng dõi họ về kỳ kiêng ăn và than khóc vậy.
Như thế, lệnh của bà Ê-xơ-tê xác nhận về ngày lễ Phu-rim đã được chép vào sách.
Vua A-suê-ru bắt dân trong xứ và các hải đảo phải nộp thuế.
Tất cả công trạng, quyền thế, năng lực của vua và việc vua thăng quan tiến chức cho Mạc-đô-chê, chẳng phải đều được chép vào sách sử biên niên của các vua nước Mê-đi và Ba Tư sao?
Mạc-đô-chê, người Do Thái, làm tể tướng của vua A-suê-ru, được tôn trọng giữa người Do Thái, và được anh em quý mến vì ông mưu cầu hạnh phúc cho dân tộc và lên tiếng để đem lại an ninh cho nòi giống của mình.
Tại xứ Út-xơ có một người tên là Gióp. Ông là một người trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời và tránh xa điều ác.
Ông có bảy con trai và ba con gái.
Tài sản ông gồm có: Bảy nghìn chiên, ba nghìn lạc đà, năm trăm đôi bò, năm trăm lừa cái và rất nhiều đầy tớ. Ông là người giàu có nhất trong các dân tộc Đông phương.
Các con trai ông thường thay phiên nhau mở tiệc tùng, hết nhà nầy sang nhà khác và sai mời ba chị em gái đến ăn uống chung với mình.
Sau những ngày tiệc tùng, Gióp cho gọi các con về để làm lễ thanh tẩy chúng. Ông thức dậy sớm và dâng tế lễ thiêu cho mỗi người con, vì ông thầm nghĩ: “Biết đâu các con ta đã phạm tội và trong lòng phỉ báng Đức Chúa Trời.” Gióp thường xuyên làm như vậy.
Một ngày kia, các thiên sứ của Đức Chúa Trời đến trình diện Đức Giê-hô-va. Sa-tan cũng đến với họ.
Đức Giê-hô-va hỏi Sa-tan: “Ngươi từ đâu đến?” Sa-tan thưa với Đức Giê-hô-va: “Tôi đi nơi nầy nơi kia trên đất, dạo quanh khắp đó đây.”
Đức Giê-hô-va lại hỏi Sa-tan: “Ngươi có để ý đến Gióp, đầy tớ của Ta không? Trên thế gian nầy chẳng có ai được như Gióp; một người trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời và tránh xa điều ác.”
Sa-tan thưa với Đức Giê-hô-va: “Lẽ nào Gióp kính sợ Đức Chúa Trời vô cớ sao?
Chẳng phải chính Ngài đã dựng hàng rào bảo vệ quanh ông ta và gia đình cùng mọi sản vật của ông ta đó sao? Ngài đã ban phước trên công việc của tay ông ta và làm cho của cải ông ta lan tràn khắp đất.
Nhưng bây giờ Chúa thử giơ tay đánh vào tất cả những gì thuộc về ông ta, xem ông ta có phỉ báng Chúa ra mặt không!”
Đức Giê-hô-va phán với Sa-tan: “Nầy, Ta giao mọi vật thuộc về Gióp vào tay ngươi, nhưng không được tra tay vào người Gióp.” Sa-tan liền rút lui khỏi sự hiện diện của Đức Giê-hô-va.
Một hôm, khi các con trai và con gái của Gióp đang ăn tiệc và uống rượu trong nhà người anh cả,
một sứ giả đến báo tin cho Gióp: “Khi bò đang cày, lừa đang ăn cỏ bên cạnh
thì dân Sê-ba xông vào và cướp đi hết. Chúng còn dùng gươm giết sạch các đầy tớ, chỉ một mình tôi chạy thoát về báo tin cho ông.”
Người nầy còn đang nói thì một người khác đến báo: “Lửa của Đức Chúa Trời từ trên trời đã giáng xuống thiêu rụi cả bầy chiên và các đầy tớ, chỉ một mình tôi chạy thoát về báo tin cho ông.”
Người nầy còn đang nói thì một người khác chạy đến báo: “Dân Canh-đê chia làm ba toán xông vào lạc đà và cướp đi hết. Chúng còn dùng gươm giết sạch các đầy tớ, chỉ một mình tôi chạy thoát về báo tin cho ông.”
Người nầy còn đang nói thì một người khác lại chạy đến báo: “Các con trai con gái ông đang ăn uống tại nhà người anh cả,
thình lình có một ngọn gió lớn từ phía bên kia hoang mạc thổi đến làm bốn góc nhà rung rinh rồi sập xuống, đè chết các người trẻ tuổi, chỉ một mình tôi thoát chết về báo tin cho ông.”
Gióp liền trỗi dậy, xé áo mình và cạo đầu rồi sấp mình xuống đất mà thờ lạy
và nói: “Tôi trần truồng lọt khỏi lòng mẹ Tôi cũng sẽ trần truồng trở về; Đức Giê-hô-va đã ban cho, Đức Giê-hô-va lại cất đi; Đáng chúc tụng danh Đức Giê-hô-va!”
Trong mọi việc đó, Gióp không phạm tội và chẳng nói điều gì xúc phạm đến Đức Chúa Trời.
Một ngày kia, các thiên sứ của Đức Chúa Trời đến trình diện Đức Giê-hô-va. Sa-tan cũng đến để trình diện Ngài.
Đức Giê-hô-va hỏi Sa-tan: “Ngươi từ đâu đến?” Sa-tan thưa với Đức Giê-hô-va: “Tôi đi nơi nầy nơi kia trên đất, dạo quanh khắp đó đây.”
Đức Giê-hô-va lại hỏi Sa-tan: “Ngươi có để ý đến Gióp, đầy tớ của Ta không? Trên thế gian nầy chẳng có ai được như Gióp; một người trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời và tránh xa điều ác. Gióp vẫn giữ tấm lòng trọn lành mặc dù ngươi đã giục Ta vô cớ làm hại Gióp.”
Sa-tan lại nói với Đức Giê-hô-va: “‘Lấy da đền da!’ Người ta sẵn sàng cho đi tất cả những gì mình có để cứu mạng sống mình.
Nhưng bây giờ, xin Chúa thử giơ tay đánh vào xương thịt của Gióp xem ông ta có phỉ báng Chúa ra mặt không!”
Đức Giê-hô-va phán với Sa-tan: “Kìa, Gióp ở trong tay ngươi, nhưng ngươi phải gìn giữ mạng sống người.”
Sa-tan liền rút lui khỏi sự hiện diện của Đức Giê-hô-va và hành hạ Gióp bằng một chứng ung nhọt nhức nhối từ bàn chân cho đến đỉnh đầu.
Gióp ngồi giữa đống tro, lấy mảnh sành mà gãi.
Bấy giờ, vợ Gióp nói: “Ủa? Ông vẫn giữ tấm lòng trọn lành được sao? Hãy phỉ báng Đức Chúa Trời và chết đi!”
Nhưng ông đáp: “Bà nói như một người đàn bà ngu muội. Tại sao phước hạnh từ tay Đức Chúa Trời ban cho thì chúng ta đón nhận, còn tai họa từ tay Ngài giáng xuống thì chúng ta lại không nhận?” Trong mọi việc đó, Gióp không hề phạm tội trong lời nói.
Khi ba người bạn của Gióp là Ê-li-pha người Thê-man, Binh-đát người Su-a và Sô-pha người Na-a-ma được tin về các tai họa đã xảy đến cho ông, thì họ từ xứ mình hẹn nhau đến để chia buồn và an ủi ông.
Từ xa, họ ngước mắt nhìn nhưng không thể nhận ra Gióp. Đến gần, họ bật khóc lớn tiếng, mỗi người xé áo mình, hất bụi lên trời và lên đầu mình.
Ba người bạn ngồi xuống đất với Gióp suốt bảy ngày đêm, không ai nói với ông một lời, vì họ thấy nỗi đau của ông quá lớn.
Sau việc ấy, Gióp mở miệng nguyền rủa ngày sinh của mình.
Ông nói:
“Ước gì ngày tôi chào đời biến mất, Và đêm đã báo tin: ‘Một đứa con trai được thụ thai!’ không còn nữa!
Ước gì ngày ấy ra tối tăm, Đức Chúa Trời từ trên cao không để ý đến Và ánh sáng không soi trên nó!
Ước gì ngày ấy chìm trong tối tăm và bóng sự chết, Mây đen bao trùm nó Và nhật thực làm cho nó kinh hoàng!
Ước gì sự tối tăm mịt mùng hãm lấy đêm ấy, Không tính nó vào các ngày của năm, Không kể nó vào các tháng!
Vâng, đêm ấy phải là đêm không sinh sản, Không hề nghe tiếng reo vui!
Ước gì những kẻ đã nguyền rủa ngày Và có tài đánh thức Lê-vi-a-than Cũng nguyền rủa đêm ấy!
Nguyện các tinh tú ban mai trở nên tối tăm, Đêm chờ ánh sáng trong vô vọng Không thấy bình minh ló dạng!
Vì đêm ấy đã không đóng cửa dạ mẹ tôi Để giấu sự đau đớn khỏi mắt tôi.
Tại sao tôi không chết ngay lúc chào đời, Không tắt hơi vừa khi lọt lòng mẹ?
Tại sao có đầu gối đỡ lấy tôi Và vú cho tôi bú?
Nếu không thì bây giờ tôi đã nằm an tịnh, Được yên giấc nghỉ ngơi
Cùng các vua chúa và mưu sĩ của trần gian Đã xây cất lăng tẩm cho mình,
Hoặc cùng các nhà lãnh đạo Với vàng bạc chất đầy nhà.
Tại sao tôi không được chôn kín như một thai sảo, Như một trẻ sơ sinh chưa từng thấy ánh sáng?
Ở đó kẻ hung ác ngừng quấy phá. Người kiệt sức được nghỉ ngơi.
Những kẻ bị tù đày cùng nhau thư thái, Không còn nghe tiếng quát tháo của cai tù.
Người lớn kẻ nhỏ đều như nhau Và người nô lệ được tự do khỏi chủ mình.
Tại sao kẻ khốn cùng được ban ánh sáng, Và kẻ có lòng đắng cay được ban sự sống?
Họ mong chết mà không được chết, Tìm cái chết hơn là tìm châu báu,
Họ phấn khởi vui mừng Lòng hân hoan khi tìm được mộ phần.
Tại sao người bị che khuất lối đi, Bị Đức Chúa Trời vây bọc bốn bên, Mà còn được ban ánh sáng và sự sống?
Vì bánh tôi ăn chỉ là tiếng thở dài; Lời thở than tôi tuôn trào như nước.
Việc tôi hãi hùng đã xảy đến cho tôi, Điều tôi kinh khiếp đã đổ ập trên tôi!
Tôi không được an ổn, chẳng thấy bình tịnh, Không phút nghỉ ngơi, vì rối loạn bủa vây!”
Bấy giờ, Ê-li-pha người Thê-man lên tiếng:
“Nếu ai đó đánh bạo nói với anh đôi lời, liệu anh có phiền lòng không? Nhưng ai có thể nín lặng được chăng?
Kìa, anh đã dạy dỗ nhiều người Và làm cho bao đôi tay yếu đuối trở nên mạnh mẽ.
Lời của anh đã đỡ nâng người vấp ngã, Anh đã làm vững mạnh những đầu gối lung lay.
Nhưng bây giờ hoạn nạn đến với anh, anh lại nản lòng; Đụng đến anh, anh mất tinh thần.
Chẳng phải lòng kính sợ Chúa là chốn nương cậy của anh, Và đường lối liêm chính là niềm hi vọng của anh đó sao?
Anh hãy suy xét lại, có bao giờ người vô tội bị chết mất không? Ở nơi nào người ngay thẳng lại bị tiêu diệt?
Theo điều tôi thấy, những ai cày sự gian ác Và gieo điều bất an thì sẽ lại gặt lấy nó.
Bởi hơi thở của Đức Chúa Trời, chúng bị chết mất; Do cơn giận của Ngài, họ bị tiêu tan.
Tiếng gầm thét hung hăng của sư tử đã nín lặng Và nanh của các sư tử con bị bẻ gãy.
Sư tử mạnh chết vì thiếu mồi Và đàn sư tử con tan tác.
Có một lời lặng lẽ đến với tôi, Tai tôi nghe tiếng thì thầm ấy.
Ban đêm, khi loài người say ngủ Giữa lúc suy tư tôi thấy dị tượng.
Nỗi kinh hoàng xâm chiếm làm tôi rùng rợn; Xương cốt tôi run rẩy.
Một vị thần đi ngang mặt tôi Lông tóc trên da thịt tôi dựng lên.
Thần đứng yên Nhưng tôi nhận không ra; Một hình dạng ở trước mắt tôi, Một thoáng lặng thinh rồi tôi nghe tiếng nói:
‘Loài người hư hoại lại công chính hơn Đức Chúa Trời ư? Loài người lại thanh sạch hơn Đấng Tạo Hóa mình sao?
Ngay cả đầy tớ Ngài, Ngài vẫn không tin tưởng, Thiên sứ Ngài, Ngài còn bắt lỗi;
Huống chi những kẻ ở trong chòi đất sét, Lập nền trên cát bụi, Bị chà đạp như loài sâu mọt!
Một sớm một chiều chúng bị nghiền nát; Chết mất đời đời mà chẳng ai biết đến.
Dây lều của chúng bị kéo phăng đi, Chúng chết mà chẳng được khôn ngoan gì.’”
“Anh cứ kêu xin đi! Liệu có ai đáp lời anh chăng? Anh sẽ kêu cứu với vị nào trong các thánh?
Vì nỗi sầu thảm giết người ngu muội, Còn lòng đố kỵ làm chết kẻ đơn sơ.
Tôi đã thấy kẻ ngu muội châm rễ, Nhưng tôi liền nguyền rủa nơi hắn ở.
Con cái hắn không được an toàn, Bị chèn ép nơi cổng thành Mà chẳng ai giải cứu.
Người đói ăn mùa màng của hắn, Đoạt cho được dù giữa gai gốc; Còn kẻ khát thì thèm thuồng tài sản hắn.
Vì hoạn nạn không ra từ cát bụi, Nỗi phiền ưu chẳng do đất mọc lên;
Nhưng loài người sinh ra để chịu khốn khó Hệt như tia lửa bay vút lên không trung.
Nhưng tôi, tôi sẽ tìm cầu Đức Chúa Trời, Trình lên Ngài trường hợp của tôi.
Ngài làm những việc lớn lao không sao dò xét được, Vô vàn điều diệu kỳ không thể đếm xong.
Ngài ban mưa trên đất, Cho nước tràn ruộng đồng;
Nhắc những người hèn hạ lên cao, Ban an vui cho kẻ đang tang chế.
Ngài phá vỡ âm mưu của kẻ xảo trá, Khiến tay chúng chẳng làm xong công việc.
Ngài bắt kẻ khôn ranh trong mưu chước nó, Và sớm chận đứng ý đồ của kẻ điêu ngoa.
Giữa ban ngày chúng gặp tối tăm, Đang lúc trưa chúng lần mò như trong đêm tối.
Đức Chúa Trời cứu người nghèo khó khỏi lưỡi gươm, Khỏi miệng và khỏi tay kẻ cường bạo.
Vậy người nghèo khó có niềm hi vọng, Còn kẻ gian ác phải ngậm miệng lại.
Phước cho người được Đức Chúa Trời khiển trách! Vậy anh chớ coi thường sự sửa phạt của Đấng Toàn Năng.
Vì Ngài làm cho bị thương, nhưng Ngài băng bó lại; Ngài đánh đau, nhưng tay Ngài lại chữa lành.
Ngài sẽ giải cứu anh khỏi sáu cơn hoạn nạn, Cả đến cơn thứ bảy, tai họa cũng không chạm đến anh.
Trong cơn đói kém, Ngài sẽ giải cứu anh khỏi chết, Và trong chiến tranh khỏi họa binh đao.
Anh sẽ được che chở khỏi hiểm nguy của lưỡi, Chẳng hãi hùng khi tai họa xảy ra.
Anh sẽ cười trước tai ương và đói kém, Trước thú rừng anh cũng chẳng sợ chi.
Vì anh lập giao ước với đá ngoài đồng ruộng, Và các thú hoang sẽ hòa thuận với anh.
Anh sẽ thấy trại mình được an ổn; Kiểm lại bầy anh chẳng thấy thiếu mất chi.
Anh cũng biết con cháu mình sẽ đông đúc, Và dòng dõi anh nhiều như cỏ ngoài đồng.
Anh sẽ được tuổi cao khi vào phần mộ Như bó lúa thu hoạch đúng kỳ.
Đó là điều chúng tôi đã tìm hiểu và là sự thật. Anh hãy nghe và nhận biết cho mình.”
Gióp đáp lại rằng:
“Ôi! Ước gì nỗi sầu não của tôi được đong đầy Và mọi tai ương tôi đều để trên cân!
Vì hiện giờ chúng nặng hơn cát biển Nên tôi đã vội thốt ra.
Vì các mũi tên của Đấng Toàn Năng trúng vào tôi, Tâm hồn tôi ngấm chất độc của chúng; Đức Chúa Trời dàn trận chống lại tôi khiến tôi kinh khiếp.
Có lừa rừng nào thét gào bên cỏ xanh? Có con bò nào rống lên bên đống cỏ khô?
Thức ăn lạt lẽo làm sao không thêm muối? Có hương vị nào trong lòng trắng trứng gà?
Thức ăn nào cũng trở thành vô vị Tôi chẳng màng động đến chúng.
Ôi! Ước gì lời thỉnh cầu tôi được thỏa nguyện, Đức Chúa Trời ban cho tôi điều tôi ước ao!
Ước gì Đức Chúa Trời nghiền tôi tan nát, Vung tay Ngài cắt đứt đời tôi!
Như vậy tôi sẽ còn được an ủi, Tìm niềm vui trong đau đớn không nguôi; Bởi vì lời Đấng Thánh tôi không hề quên lãng.
Làm sao tôi đủ sức đợi chờ, Cuối cùng tôi sẽ ra sao mà kéo dài cuộc sống?
Sức tôi đâu phải là sức đá? Thịt tôi nào phải là đồng?
Chẳng lẽ không còn ai tiếp cứu tôi, Sức lực trong tôi cũng biến mất rồi sao?
Kẻ thất vọng cần bạn bè thương xót, Dù có bỏ lòng kính sợ Đấng Toàn Năng.
Nhưng anh em tôi dối gạt tôi như lòng khe cạn nước, Như dòng suối bất chợt dâng cao.
Nước sẫm màu vì băng chảy, Đục ngầu vì tuyết tan.
Nhưng trong mùa nắng hạn chúng cạn khô, Lúc nắng lên chúng biến mất khỏi chỗ mình.
Đoàn lữ hành thay đổi hướng đi, Tiến vào hoang mạc rồi chết mất.
Đoàn lữ hành Thê-ma đi tìm nước, Lữ khách Sê-ba hi vọng dạt dào.
Nhưng họ xấu hổ vì đã quá tin tưởng, Lúc đến nơi họ phải thẹn thùng.
Đối với tôi lúc nầy các bạn chẳng là gì, Thấy nguy nan các bạn đều run sợ.
Tôi nào có xin ‘hãy cho tôi chút gì’, Cũng không nhờ ‘hối lộ giùm tôi,’
Hay năn nỉ ‘cứu tôi khỏi tay kẻ thù Và chuộc tôi khỏi tay kẻ cường bạo!’
Xin dạy dỗ tôi, tôi sẽ yên lặng, Xin chỉ cho tôi thấy chỗ mình sai trật.
Lời trung thực có sức thuyết phục, Nhưng lời khiển trách của các bạn có bắt bẻ được gì?
Các bạn muốn bắt bẻ lời nói sao? Nhưng lời của người tuyệt vọng chỉ như gió thoảng qua.
Các bạn bắt thăm chia chác kẻ mồ côi, Bán đứng cả bạn bè.
Vậy bây giờ các bạn hãy nhìn tôi, Vì tôi không nói dối trước mặt các bạn.
Xin các bạn hãy nghĩ lại, đừng bất công nữa. Hãy xét lại đi, vì tôi vẫn là người công chính.
Lưỡi tôi nói ra lời dối trá chăng? Miệng tôi không còn phân biệt đúng sai sao?”
“Đời người trên dương thế chẳng phải là nghĩa vụ lao dịch sao? Chuỗi ngày tháng của họ có khác gì ngày tháng của người làm thuê không?
Như người nô lệ ước ao bóng mát, Như người làm thuê trông đợi tiền lương,
Tôi phải nhận những tháng ngày vô vọng, Và những đêm lao khổ định cho mình.
Khi nằm xuống, tôi tự hỏi: ‘Bao giờ tôi thức dậy?’ Nhưng suốt đêm trường, Tôi trằn trọc cho đến rạng đông.
Thịt tôi bao bọc bởi dòi và bùn đất, Da tôi nứt nẻ, máu mủ chảy ra!
Các ngày tôi qua nhanh hơn thoi đưa, Và kết liễu trong vô vọng.
Chúa ơi, xin nhớ rằng đời con chỉ là hơi thở! Mắt con sẽ không còn nhìn thấy điều phước hạnh nữa.
Mắt đã thấy con nay không thấy con nữa, Mắt Chúa tìm kiếm con, con sẽ không còn.
Như mây tan và biến mất, Người xuống âm phủ không còn trở lên được nữa.
Họ không trở về nhà mình nữa, Nơi họ ở chẳng còn ai biết đến.
Bởi thế, con sẽ không ngậm miệng; Trong cơn sầu não của tâm linh, con sẽ nói ra; Trong nỗi cay đắng của linh hồn, con sẽ than trách.
Con đâu phải là biển cả hay quái vật trong biển, Mà Ngài phải đặt người canh gác?
Khi con nói: ‘Giường con sẽ an ủi con, Nơi con nằm sẽ làm vơi nỗi phiền ưu,’
Thì Chúa dùng chiêm bao làm con hoảng sợ, Lấy dị tượng khiến con khiếp kinh.
Đến nỗi con muốn thà bị nghẹt thở và chết, Còn hơn là sống trong xương cốt nầy.
Con chẳng còn muốn sống. Con đâu có sống hoài. Xin Chúa để mặc con, vì ngày tháng của con chỉ là hơi thở.
Loài người là gì mà Chúa kể là cao trọng? Có là gì đâu mà Chúa phải quan tâm,
Phải viếng thăm mỗi buổi sáng, Và thử thách mỗi lúc mỗi khi?
Bao giờ Ngài mới ngoảnh mặt đi, Để con đủ thì giờ nuốt trôi nước miếng?
Lạy Đấng gìn giữ loài người! Nếu con phạm tội thì con đã làm gì chống Chúa, Mà Chúa để con làm bia đỡ đạn, Và trở thành gánh nặng cho Ngài?
Tại sao Chúa không tha tội cho con, Bỏ qua mọi gian ác của con? Vì chẳng bao lâu nữa con sẽ nằm trong cát bụi; Chúa sẽ tìm kiếm con nhưng con không còn nữa.”
Binh-đát người Su-a đáp lời:
“Anh nói mãi các điều ấy đến bao giờ, Khi nào mới ngưng những lời như giông bão ấy?
Làm sao Đức Chúa Trời lại bẻ cong công lý? Hay Đấng Toàn Năng xuyên tạc lẽ công bằng?
Nếu con cái anh phạm tội với Ngài Thì Ngài phó chúng vào án phạt tội lỗi.
Nếu anh tìm kiếm Đức Chúa Trời, Khẩn cầu với Đấng Toàn Năng,
Nếu anh trong sạch và ngay thẳng Thì ngay bây giờ Ngài sẽ che chở anh Và khôi phục địa vị công chính cho anh.
Dù ban đầu anh nhỏ mọn tầm thường Nhưng tương lai anh sẽ vô cùng rạng rỡ.
Xin anh học hỏi các thế hệ đã qua, Và nghiền ngẫm kinh nghiệm mà tổ tiên để lại.
Vì chúng ta mới ra đời hôm qua nên chẳng biết gì, Các ngày chúng ta trên đất khác nào một cái bóng.
Họ không dạy anh, không nói chuyện với anh, Không dùng lời lẽ nói ra những hiểu biết của họ sao?
Không đầm lầy, cây cói giấy mọc được sao? Chỗ không nước, sậy làm sao phát triển?
Khi còn non chưa cắt được, Chúng đã héo khô trước mọi loài cỏ khác.
Đường lối của kẻ quên Đức Chúa Trời là như vậy; Niềm hi vọng của kẻ vô đạo sẽ tiêu tan.
Chỗ người ấy dựa nương mong manh như tơ, Điều nó tin cậy giống như màng nhện.
Người ấy dựa vào nhà mình, nhưng nhà không đứng nổi; Bám chặt nhà, nhưng nhà lại lung lay.
Dưới ánh mặt trời, kẻ ác như cây xanh tươi, Cành lá phủ che khắp cả khu vườn.
Rễ nó quấn quanh đống đá Ăn sâu vào khe đá.
Nếu bị nhổ khỏi chỗ nó, Chỗ ấy sẽ từ chối nó: ‘Ta chưa hề thấy ngươi!’
Kìa, ấy là niềm vui của đường lối kẻ ác, Từ đất ấy còn mọc lên nhiều cây khác.
Kìa, Đức Chúa Trời không bỏ người trọn vẹn, Cũng không tiếp tay cho kẻ gian ác.
Chúa sẽ làm cho miệng anh đầy tiếng cười Và môi anh tràn ngập tiếng reo mừng.
Những kẻ ghét anh bị hổ thẹn bao trùm Và lều trại kẻ ác sẽ tiêu tan.”
Bấy giờ Gióp trả lời:
“Vâng, tôi biết như vậy. Nhưng làm thế nào loài người được Đức Chúa Trời xem là công chính?
Nếu muốn tranh luận với Ngài, Ngài hỏi một nghìn câu, chẳng ai đáp được một lời.
Đức Chúa Trời khôn ngoan và quyền năng vô hạn: Ai kháng cự Ngài mà vẫn được bình an?
Ngài dời núi, núi không hay biết; Trong cơn thịnh nộ, Ngài lật đổ núi non.
Ngài làm nền đất rung chuyển, Và các trụ nó lung lay;
Ngài truyền lệnh cho mặt trời đừng mọc, Và niêm phong ánh sáng các vì sao.
Một mình Ngài trải rộng các tầng trời, Đạp trên sóng biển.
Ngài dựng nên sao Bắc Đẩu, Thiên Lang, Chòm sao Thất Tinh và chòm sao Phương Nam.
Ngài làm những việc vĩ đại không sao hiểu thấu, Và vô số việc diệu kỳ.
Kìa, Ngài đến gần tôi, tôi cũng không thấy, Ngài lướt qua, tôi cũng chẳng nhận ra Ngài.
Kìa, Ngài tước đi rồi, ai giành lại được? Ai dám hỏi Ngài: ‘Chúa làm gì thế?’
Đức Chúa Trời không rút lại cơn giận của Ngài. Những kẻ giúp đỡ Ra-háp đều cúi rạp dưới chân Ngài.
Thế thì, tôi là ai mà dám đối đáp với Ngài, Tìm lý lẽ để tranh luận cùng Ngài?
Dù có vô tội, tôi cũng không dám đối đáp với Ngài; Nhưng tôi van xin lòng thương xót của Đấng Phán Xét tôi.
Nếu tôi kêu cầu Ngài và Ngài đáp lời tôi, Tôi cũng không tin rằng Ngài lắng tai nghe tiếng tôi.
Vì Ngài chà nát tôi trong cơn giông bão, Vô cớ gia tăng thương tích cho tôi.
Ngài không để cho tôi kịp thở, Nhưng dìm tôi trong nỗi đắng cay.
Nếu nói về sức mạnh, Ngài là Đấng quyền năng! Nếu nói về công lý, ai dám kiện cáo Ngài?
Dù tôi có vô tội, miệng tôi cũng kết án tôi; Dù tôi có trọn vẹn, Ngài cũng cho tôi thấy mình gian tà.
Dù tôi có trọn vẹn, tôi cũng chẳng bận tâm; Tôi chẳng còn muốn sống.
Tất cả đều như nhau, vì thế tôi nói: ‘Ngài tiêu diệt cả người trọn vẹn lẫn kẻ gian ác.’
Nếu tai ương thình lình gây chết chóc, Ngài nhạo cười nỗi thất vọng của người vô tội.
Đất nước rơi vào tay kẻ ác Ngài che mắt các quan tòa; Nếu không phải là Ngài, thì còn ai nữa?
Các ngày của con qua mau hơn người đưa tin khẩn; Chúng trôi đi không thấy được phước lành.
Chúng lướt nhanh như thuyền nan, Như đại bàng lao xuống con mồi.
Nếu con nói: ‘Con sẽ quên mọi nỗi phiền hà, Lột bỏ nét ưu sầu, rồi hớn hở tươi vui.’
Thì con lại sợ mọi nỗi đớn đau, Vì con biết Ngài không kể con là vô tội.
Con phải bị định tội, Thì con còn lao nhọc bào chữa làm gì?
Nếu con tắm trong tuyết Rửa tay bằng thuốc tẩy,
Mà Ngài lại dìm con xuống hố bùn Đến nỗi quần áo con còn ghê tởm con.
Vì Ngài không phải là loài người như con mà con dám đối đáp với Ngài, Để cùng ra tòa xét xử.
Chẳng có ai làm người phân xử giữa chúng tôi, Để đặt tay trên cả hai chúng tôi.
Ước gì Đấng ấy khiến Chúa rút ngọn roi Ngài khỏi con, Để con không còn kinh khiếp Ngài nữa.
Bấy giờ con sẽ nói mà không sợ Ngài nữa, Nhưng hiện giờ con chẳng được vậy đâu.”
“Tôi chẳng còn muốn sống, Nên tha hồ buông lời than thở, Tôi sẽ nói ra trong cay đắng của lòng tôi.
Tôi sẽ thưa với Đức Chúa Trời: ‘Xin đừng kết án con, Xin cho con biết vì sao Ngài buộc tội con.
Phải chăng Chúa hài lòng khi áp bức con, Khinh thường công trình tay Ngài tạo dựng, Nhưng lại mỉm cười với mưu chước của kẻ ác sao?
Lẽ nào Chúa có mắt xác thịt. Và cũng thấy như người phàm thấy sao?
Có phải các ngày của Chúa cũng giống các ngày loài người, Và các năm của Chúa cũng như năm con người sao?
Mà Chúa lại tra hỏi gian ác con, Và tìm kiếm tội lỗi con.
Dù Chúa biết con không phạm tội, Và không ai thoát khỏi tay Ngài?
Tay Chúa đã nắn nên con và tạo dựng con, Nhưng nay Ngài lại đổi ý và tiêu diệt con!
Xin Chúa nhớ rằng Ngài đã nhồi nắn con từ đất sét; Sao bây giờ Chúa lại muốn trả con trở về cát bụi?
Chẳng phải Chúa đã đổ con ra như sữa, Rồi làm con đặc lại như phó-mát?
Chúa đã mặc cho con da và thịt, Đan dệt con với xương và gân.
Chúa ban cho con sự sống và tình thương; Sự chăm sóc của Ngài gìn giữ tâm linh con.
Nhưng Ngài giấu các điều ấy trong lòng; Con biết đó là ý định của Ngài.
Nếu con phạm tội, Chúa sẽ ghi nhận, Không dung tha gian ác của con.
Nếu con phạm tội, thật khốn cho con! Mà nếu có công chính, con cũng chẳng dám ngẩng đầu, Vì con đầy sỉ nhục, Và trĩu nặng ưu phiền.
Nếu con ngẩng đầu lên, Ngài sẽ săn con như sư tử, Và làm điều lạ lùng để hại đến con.
Chúa đưa bằng chứng mới chống lại con, Và gia tăng cơn giận trên con, Đem viện quân liên tục tấn công con.
Sao Chúa đem con ra khỏi lòng mẹ? Ước gì lúc ấy con tắt hơi để không mắt nào thấy con!
Được vậy, con như chưa hề có, Từ lòng mẹ đi thẳng đến mộ phần.
Các ngày ngắn ngủi của con không sớm dừng lại sao? Xin cho con yên để mong tìm chút thanh thản cho mình;
Trước khi con ra đi mà không bao giờ trở lại, Đến xứ tối tăm và dưới bóng tử thần.
Tức là xứ của đêm đen, dưới bóng tử thần hỗn độn, Nơi ánh sáng không khác gì bóng tối.’”
Sô-pha người Na-a-ma lên tiếng:
“Phải chăng không ai đối đáp nổi kẻ nói nhiều, Và người khéo nói phải được coi là chính trực?
Có phải lúc anh khoe khoang người ta đều nín lặng, Và khi anh chế nhạo chẳng ai quở trách anh?
Vì anh thưa với Chúa: ‘Đạo lý con thuần khiết; Con trong sạch dưới mắt Chúa.’
Ôi, ước gì Đức Chúa Trời phán dạy, Và hé môi lên tiếng với anh.
Ước gì Ngài tỏ cho anh biết bí mật của sự khôn ngoan! Vì sự khôn ngoan Ngài rất sâu sắc. Vậy hãy biết rằng Đức Chúa Trời xử nhẹ cho anh hơn tội anh đã phạm.
Liệu anh có thể hiểu thấu sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời Và khám phá giới hạn của Đấng Toàn Năng không?
Điều ấy cao hơn các tầng trời, anh làm gì được? Sâu hơn âm phủ, làm sao anh hiểu thấu?
Dài hơn quả đất, Rộng hơn đại dương.
Nếu Đức Chúa Trời đến, bỏ tù anh Và lập tòa xét xử, thì ai ngăn cản được Ngài?
Vì Ngài biết ai là kẻ giả dối, Nên khi thấy tội ác, liệu Ngài không xem xét đến sao?
Khi nào lừa hoang sinh ra làm người Thì lúc ấy kẻ ngu đần mới trở nên thông sáng!
Vậy nếu anh dọn lòng mình trung thực Và đưa tay hướng về Chúa,
Ném xa tội ác khỏi tay mình, Không chứa chấp gian ác trong trại mình;
Thì anh sẽ ngẩng mặt lên không hổ thẹn; Thật vững vàng và không chút âu lo.
Anh sẽ quên đi bao điều khổ nạn, Chỉ nhớ lại như dòng nước chảy qua.
Đời anh sẽ rực sáng hơn ban trưa; Bóng tối trở thành ánh bình minh.
Anh sẽ vững tin vì có niềm hi vọng; Được chở che và ngơi nghỉ an lành.
Anh sẽ nằm nghỉ, không ai làm anh sợ Và lắm người xin ân huệ từ anh.
Nhưng mắt kẻ ác bị mỏi mòn; Không tìm ra lối thoát, Chỉ mong mau trút hơi thở cuối cùng.”
Gióp đáp lại rằng:
“Phải rồi, các anh là tiếng nói của dân chúng, Khi các anh qua đời, sự khôn ngoan chắc sẽ ra đi theo các anh.
Nhưng tôi cũng hiểu biết như các anh; Chẳng thua kém các anh đâu. Ai lại chẳng biết những việc như thế?
Tôi đang là trò cười cho bè bạn, Dù tôi đã cầu khẩn Đức Chúa Trời và Ngài đáp lời tôi; Người trung thực trọn vẹn lại thành trò cười cho thiên hạ!
Người may mắn khinh thường người bất hạnh. Kẻ trượt chân còn bị đẩy cho nhào.
Trại của kẻ cướp được bình an, Những kẻ chọc giận Đức Chúa Trời, Và kẻ tự cao tự đại được sống yên ổn.
Nhưng hãy hỏi loài thú, chúng sẽ dạy cho anh; Hỏi chim trời, chúng sẽ cho anh biết.
Hoặc hãy nói với đất, đất sẽ chỉ dạy anh; Nói với cá biển, chúng sẽ giải thích cho anh hiểu.
Trong các loài nầy, loài nào lại chẳng biết Rằng tay Đức Giê-hô-va đã làm nên những điều ấy?
Ngài nắm trong tay sự sống của mọi sinh vật Và hơi thở của cả loài người.
Chẳng phải tai biết phân biệt lời nói, Như miệng thưởng thức món ăn sao?
Người già cả có sự khôn ngoan, Người sống lâu thêm hiểu biết.
Nhưng khôn ngoan và quyền năng thuộc về Đức Chúa Trời; Ngài đầy mưu lược và hiểu biết.
Ngài phá hủy, không ai cất lại được; Ngài giam cầm, không ai giải thoát nổi.
Ngài giữ nước lại, sông liền khô cạn; Ngài cho mưa xuống, đất ruộng ngập tràn.
Sức mạnh và mưu trí thuộc về Ngài; Kẻ lừa gạt lẫn người bị lừa đều ở trong tay Ngài.
Ngài khiến kẻ mưu sĩ đi chân đất, Các thẩm phán ra điên dại,
Ngài tháo cân đai của các vua, Và quấn khố quanh lưng họ;
Ngài khiến thầy tế lễ đi chân đất, Và lật đổ kẻ cường quyền.
Ngài khiến những người đáng tin cậy phải câm lặng, Các trưởng lão mất trí phán đoán.
Ngài giáng sỉ nhục trên người sang trọng, Tháo cân đai của kẻ cường quyền.
Ngài đưa những điều mầu nhiệm ra khỏi bóng tối, Phơi bày bóng sự chết ra ánh sáng.
Ngài khiến các dân hưng thịnh rồi tiêu diệt đi; Mở rộng bờ cõi cho các nước rồi khiến chúng diệt vong.
Ngài khiến thủ lĩnh các dân trên đất ra ngu muội, Đi lang thang trong hoang mạc không đường ra.
Chúng mò mẫm trong bóng đêm mù mịt; Ngài để chúng đi nghiêng ngả tựa người say.”
“Chính mắt tôi đã thấy mọi điều đó, Chính tai tôi đã nghe và hiểu.
Điều gì các anh biết, tôi cũng biết; Tôi chẳng kém gì các anh đâu.
Nhưng tôi muốn thưa với Đấng Toàn Năng, Và ước ao được biện luận với Đức Chúa Trời.
Còn các anh chỉ khéo giả nhân giả nghĩa, Tất cả các anh đều là thứ lang băm vô dụng.
Phải chi các anh nín lặng Thì các anh mới thật sự khôn ngoan!
Xin hãy nghe lời biện luận của tôi, Và lắng nghe lời bào chữa từ miệng tôi.
Có phải vì Đức Chúa Trời mà các anh nói lời độc ác? Hay vì Ngài mà các anh bày chuyện điêu ngoa?
Các anh muốn thiên vị Đức Chúa Trời Và biện bạch cho Ngài sao?
Các anh có vui lòng để Ngài dò xét các anh không? Hay các anh tưởng có thể lừa gạt Ngài như lừa gạt loài người?
Chắc chắn Ngài sẽ quở trách các anh Nếu các anh âm thầm thiên vị Ngài.
Phải chăng sự uy nghi Ngài không làm các anh khiếp sợ? Sự kinh hãi Ngài không giáng trên các anh sao?
Châm ngôn của các anh vô dụng như tro; Lập luận của các anh yếu như đất bùn.
Hãy để yên cho tôi nói, Để mặc tôi, dù xảy đến điều gì.
Tại sao tôi lấy răng cắn thịt mình Và sẵn sàng liều mạng sống?
Dù Chúa giết tôi, tôi vẫn tin cậy Ngài; Và tôi sẽ bênh vực lối sống tôi trước mặt Ngài.
Đây chính là sự cứu rỗi cho tôi, Vì kẻ vô đạo không dám đến trước mặt Chúa.
Hãy chú tâm nghe lời tôi nói, Và để lời giãi bày của tôi lọt vào tai các anh!
Nầy, tôi đã sẵn sàng giải trình trường hợp mình, Tôi biết tôi sẽ được xưng công chính.
Có ai sẽ tranh luận và thắng tôi không? Nếu thế thì tôi sẽ cam lòng chịu chết.
Có hai điều xin Chúa miễn trừ cho con, Thì con sẽ không tránh mặt Ngài:
Xin Chúa rút tay khỏi con Và đừng để nỗi kinh hoàng làm con khiếp đảm.
Bấy giờ Ngài gọi, con sẽ thưa, Hoặc con lên tiếng thì Chúa trả lời.
Con đã phạm bao nhiêu gian ác lỗi lầm? Xin Chúa cho con biết sự vi phạm và tội lỗi con.
Tại sao Chúa giấu mặt, Và xem con như kẻ thù của Ngài?
Chúa muốn dày vò chiếc lá bay trong gió, Và đuổi theo một cọng rơm khô sao?
Vì Chúa ghi lại bao điều cay đắng để kết tội con Và bắt con gánh chịu tội ác thuở thanh xuân,
Tra chân con vào cùm, Theo dõi mọi đường lối của con Và định giới hạn cho mỗi dấu chân con?
Sự sống con tan tành như gỗ mục, Như chiếc áo đã bị mối ăn.”
“Loài người bởi người nữ sinh ra Sống tạm ít ngày nhưng dẫy đầy phiền muộn.
Như đóa hoa sớm nở chiều tàn, Con người thoáng qua như chiếc bóng, không ở lâu dài.
Thế sao Chúa còn để mắt đến, Mà đem con ra xét xử?
Ai có thể lấy điều thanh sạch ra từ điều ô uế? Chẳng một ai!
Số ngày của đời người do Chúa ấn định, Số tháng năm tùy thuộc nơi Ngài, Và giới hạn Chúa cũng định rồi, làm sao vượt qua được.
Xin Chúa ngoảnh mặt để họ yên thân, Được thảnh thơi, như người làm thuê sau ngày làm việc.
Vì cây cối vẫn còn hi vọng, Bị đốn rồi vẫn cứ mọc lên, Không ngừng đâm chồi nẩy lộc.
Dù rễ nó đã già cỗi dưới đất, Gốc chết dần trong cát bụi;
Vừa có hơi nước, nó liền mọc chồi, Vươn cành ra như một cây non.
Nhưng loài người chết thì nằm bất động, Khi tắt hơi họ đến nơi nào?
Như nước rút khỏi hồ, Như lòng sông cạn khô nứt nẻ;
Loài người đã nằm xuống thì không trỗi dậy nữa, Khi bầu trời còn đó, họ vẫn không thức giấc, Và chẳng ai đánh thức họ khỏi giấc ngủ say.
Ôi! Ước gì Chúa giấu con trong âm phủ, Che khuất con cho đến khi Ngài nguôi cơn giận Và định một kỳ hạn để nhớ đến con!
Nếu loài người chết, họ có sống lại được không? Trọn những ngày lao khổ nhọc nhằn, Con vẫn đợi cho đến chừng đau khổ qua đi.
Chúa gọi con, con xin thưa lại; Chúa đoái đến công việc của tay Ngài.
Bây giờ Ngài đếm bước chân con, Nhưng không còn xem xét các tội lỗi con;
Các vi phạm con được niêm phong trong túi, Gian ác con được Chúa phủ che.
Nhưng, như núi non sụp đổ tan tành, Đá tảng bị dời đi nơi khác;
Như nước chảy đá mòn, Như lụt cuốn trôi bụi đất; Chúa phá tan hi vọng của con người.
Chúa đánh bại con người và họ phải qua đi; Ngài thay đổi diện mạo và đuổi họ đi.
Con cái họ được tôn trọng, họ cũng chẳng biết; Hoặc chúng có bị xem thường, họ cũng chẳng hay.
Thân xác đớn đau một mình họ chịu, Linh hồn sầu khổ chỉ một mình họ hay.”
Ê-li-pha người Thê-man nói:
“Chẳng lẽ người khôn ngoan lại đối đáp bằng tri thức vu vơ, Và chứa gió đông đầy bụng?
Hoặc dùng lập luận vô bổ, Lời nói nhảm nhí mà biện hộ cho mình sao?
Anh gạt bỏ lòng kính sợ Đức Chúa Trời, Ngăn cản việc suy ngẫm trước mặt Ngài.
Vì tội ác anh dạy cho miệng anh nói, Và anh chọn lời lẽ của kẻ xảo quyệt.
Miệng anh kết án anh chứ chẳng phải tôi; Và chính môi anh làm chứng chống lại anh.
Có phải anh là người ra đời đầu tiên, Hay được dựng nên trước cả núi non không?
Chẳng lẽ anh đã nghe được cuộc luận bàn của Đức Chúa Trời, Và thâu tóm hết khôn ngoan về cho mình sao?
Có điều gì anh biết mà chúng tôi không biết? Có điều gì anh hiểu mà chúng tôi không hiểu chăng?
Giữa chúng tôi cũng có người tóc bạc, kẻ cao niên, Lớn tuổi hơn cả thân sinh anh.
Lời an ủi của Đức Chúa Trời Và tiếng êm dịu đã dành cho anh, còn quá ít với anh sao?
Tại sao lòng anh bối rối, Và mắt anh quắc lên?
Đến nỗi tâm linh anh chống lại Đức Chúa Trời, Và miệng anh tuôn ra những lời như thế?
Loài người là gì mà cho là thanh sạch? Kẻ do người nữ sinh ra là ai mà tự nhận là công chính?
Kìa, Đức Chúa Trời không tín nhiệm các thiên sứ Ngài, Dưới mắt Ngài, các tầng trời cũng chẳng trong sạch,
Huống chi một kẻ xấu xa, đồi bại, Phạm tội ác như uống nước lã!
Hãy lắng nghe, tôi sẽ chỉ cho anh; Tôi sẽ kể cho anh điều tôi đã thấy,
(Là điều các nhà hiền triết đã nói, Và không giấu điều gì tổ phụ họ truyền lại,
Chỉ có họ mới được ban đất đai, Không một dân ngoại nào được sống giữa họ).
Kẻ gian ác trọn đời đau quằn quại, Suốt tháng năm phải chịu cảnh bạo tàn.
Tiếng kinh hoàng luôn gào thét bên tai; Đang yên ổn thì quân cướp tràn đến.
Không tin rằng mình thoát khỏi tối tăm, Mà số phận đã dành cho gươm giáo.
Khi bị ném ra ngoài làm mồi cho kên kên, Nó biết rằng ngày tăm tối đã gần.
Khốn khó sầu não làm cho nó khiếp kinh, Dồn ép nó như một vua sẵn sàng chinh chiến.
Vì nó đưa tay lên chống cự Đức Chúa Trời, Và kiêu căng thách thức Đấng Toàn Năng.
Núp dưới chiếc khiên dày cộm, Nó bướng bỉnh tấn công Chúa,
Vì nó làm cho mặt mình phì nộn Hai hông căng phình mỡ.
Nó ở trong các thành bị tàn phá, Trong các nhà bỏ hoang, Những ngôi nhà đợi ngày sụp đổ.
Nó không giàu có nổi, của cải chẳng bền lâu, Sản nghiệp nó không lan ra trên đất.
Nó sẽ chẳng thoát được tối tăm, Lửa làm khô héo chồi của nó Hơi thở từ miệng Đức Chúa Trời sẽ cuốn nó đi.
Nó tin cậy vào sự hư không mà tự lừa dối mình; Vì sự hư không sẽ là phần thưởng của nó.
Nó sẽ được báo ứng đầy đủ trước kỳ hạn, Còn các cành nó sẽ chẳng xanh tươi.
Nó như cây nho rụng trái non; Như cây ô-liu không đậu hoa.
Vì dòng dõi kẻ vô đạo không sinh sản, Lửa sẽ thiêu trại của kẻ ăn hối lộ.
Chúng mang thai điều ác sẽ sinh ra điều hung dữ, Lòng của chúng chuẩn bị kế gian tà.”
Gióp đáp rằng:
“Những điều như thế tôi đã nghe nhiều rồi; Tất cả các anh đều là những kẻ an ủi gây bực bội.
Các lời viển vông nầy không bao giờ dứt sao? Điều gì thúc giục anh nói mãi không ngưng?
Nếu các anh ở vào hoàn cảnh của tôi, Tôi cũng có thể nói như các anh; Tôi cũng sửa soạn lời lẽ chống lại các anh, Và lắc đầu nhìn các anh.
Nhưng miệng tôi sẽ khích lệ các anh, Lời an ủi từ môi tôi sẽ xoa dịu nỗi đau của các anh.
Nếu tôi nói, nỗi đau của tôi không thuyên giảm, Còn tôi nín lặng, liệu nó có lìa xa?
Nhưng bây giờ Chúa khiến tôi mòn mỏi, Làm cho cả nhà tôi kinh hoàng.
Ngài khiến da tôi nhăn nheo Là bằng cớ chống lại tôi; Thân tôi còm cõi Là bằng cớ nữa tố cáo thẳng vào mặt tôi.
Trong cơn thịnh nộ, Ngài xé tôi và ghét bỏ tôi; Ngài nghiến răng với tôi Kẻ thù tôi trừng mắt nhìn tôi.
Chúng hả miệng chế nhạo tôi, Thô bạo tát vào má tôi; Kết bè kết đảng chống lại tôi.
Đức Chúa Trời phó tôi cho phường bất chính, Ném tôi vào tay bọn gian tà.
Tôi đang an ổn thì Ngài bẻ tôi ra; Nắm cổ tôi và đập tôi tan tành; Ngài đặt tôi làm bia để bắn.
Các mũi tên Ngài bao vây tôi, Ngài bắn thủng lưng tôi không thương xót, Khiến mật tôi đổ ra trên đất.
Ngài gây cho tôi hết thương tích nầy đến thương tích khác, Xông vào tôi như một dũng sĩ.
Tôi may áo tang phủ lên da thịt, Chôn vùi sức lực tôi vào bụi đất.
Mặt tôi sưng đỏ lên vì khóc, Bóng sự chết hiện trên mí mắt tôi.
Dù trong đôi tay tôi không có bạo lực, Và lời cầu nguyện tôi trong sạch.
Hỡi đất, đừng vùi lấp máu ta! Hãy để tiếng kêu than của ta cứ mãi vang xa!
Ngay giờ nầy Đấng làm chứng cho tôi ở trên trời, Đấng bảo lãnh tôi ở nơi cao.
Các bạn tôi chế nhạo tôi, Nhưng tôi đổ nước mắt mà khóc với Đức Chúa Trời,
Như một người biện hộ cho con người với Đức Chúa Trời, Như con cái loài người biện hộ cho bạn hữu mình!
Vì tháng năm ít ỏi sắp trôi qua, Tôi sẽ đi con đường mà tôi không trở lại.”
“Hơi thở con đã tắt, các ngày con đã tàn, Mồ mả chờ đợi con!
Bọn nhạo báng vây quanh con, Mắt con luôn thấy sự khiêu khích của chúng.
Xin Chúa bảo lãnh con bên Chúa, Vì ngoài Ngài ai sẽ bảo lãnh con?
Vì Chúa khiến tâm trí chúng mù tối, Nên Ngài không cho chúng chiến thắng.
Kẻ nào tố cáo bạn bè để kiếm thưởng, Mắt của con cái chúng sẽ bị hao mòn.”
“Ngài khiến tôi thành trò cười cho thiên hạ, Để mọi người khạc nhổ vào mặt tôi.
Mắt tôi mờ đi vì sầu khổ, Toàn thân tôi chỉ còn là chiếc bóng.
Thấy tôi, người ngay thẳng phải bàng hoàng, Người vô tội sẽ nổi giận với bọn vô đạo.
Nhưng người công chính giữ vững đường lối mình, Người có đôi tay trong sạch sẽ ngày càng mạnh mẽ.
Các anh ơi, hãy biện luận nữa đi! Nhưng trong các anh, tôi chẳng thấy ai khôn ngoan.
Các ngày tôi qua đi, kế hoạch tôi gãy đổ Cùng với những khát vọng của lòng tôi.
Họ lấy đêm làm ngày; Trong bóng tối họ nói rằng ánh sáng gần kề.
Nếu tôi hi vọng âm phủ là nhà mình, Và trải giường ra trong bóng tối;
Nếu tôi gọi huyệt mộ: ‘Đây là cha tôi’, Và gọi sâu bọ rằng: ‘Đây là mẹ, là chị tôi’;
Thì hi vọng tôi ở đâu? Ai sẽ thấy được niềm hi vọng của tôi?
Có phải hi vọng đó cũng xuống cửa âm phủ với tôi, Khi chúng ta cùng đi vào bụi đất?”
Binh-đát người Su-a đáp rằng:
“Các anh gài bẫy trong lời nói cho đến bao giờ? Hãy suy xét đi, rồi chúng tôi sẽ nói.
Tại sao các anh xem chúng tôi như thú vật? Và nhìn chúng tôi như kẻ dại khờ?
Anh tự dày vò mình trong cơn nóng giận; Chẳng lẽ vì anh mà trái đất bị bỏ hoang, Và tảng đá phải dời đi nơi khác?
Thật ánh sáng của kẻ ác rồi sẽ tắt, Ngọn lửa của nó không còn chiếu sáng.
Ánh sáng trong trại nó sẽ tối om, Ngọn đèn trên đầu nó vụt tắt.
Các bước đi mạnh dạn của nó trở nên yếu ớt, Các mưu chước nó làm cho nó ngả nghiêng.
Vì chân nó mắc vào bẫy lưới, Và bước đi trên cạm bẫy.
Một cái bẫy tóm lấy nó ngay gót chân, Và lưới bủa sẽ bắt giữ nó.
Dây giăng bẫy nó ngầm trong đất, Bẫy gài bắt nó trên đường đi.
Nỗi kinh hoàng bốn bề gây khiếp đảm, Và bám đuổi gót chân nó.
Sức lực nó suy kiệt vì đói khát, Và tai ương chờ chực sát bên mình.
Bệnh tật làm da thịt nó hao mòn, Con đầu lòng của tử thần tiêu nuốt toàn thân nó.
Nó sẽ bị kéo ra khỏi trại là nơi nó nương dựa, Và bị giải đến với vua kinh hoàng.
Kẻ không thuộc về nó sẽ ở trong trại nó; Còn diêm sinh rải khắp nơi nó ở.
Bên dưới rễ nó khô lại, Bên trên cành nó héo đi.
Trong xứ kỷ niệm nó sẽ không còn, Ngoài xứ tên tuổi nó chẳng được ai nhắc đến.
Nó bị đuổi khỏi vùng ánh sáng để vào cõi tối tăm, Và bị trục xuất khỏi thế gian.
Giữa dân tộc mình, nó không còn con cháu, Nơi nó ở chẳng một ai sống sót.
Trước số phận của nó, người phương tây sững sờ, Người phương đông kinh hoàng.
Thật, đó là nơi ở của kẻ gian ác, Số phận của kẻ không nhận biết Đức Chúa Trời.”
Gióp đáp lời rằng:
“Các anh còn muốn dùng lời lẽ dày vò tôi, Đay nghiến tôi cho đến bao giờ?
Hàng chục lần rồi các anh quở trách tôi, Ngược đãi tôi mà không hổ thẹn sao?
Dù tôi có thật sự lầm lỗi, Thì lỗi lầm đó cũng chỉ liên lụy một mình tôi.
Nếu thật các anh muốn lên mặt với tôi, Đem nỗi sỉ nhục của tôi ra chỉ trích;
Thì hãy biết rằng chính Đức Chúa Trời đã bạc đãi tôi, Bủa lưới Ngài quanh tôi.
Nầy, tôi có kêu lên: ‘Con bị ngược đãi!’ cũng chẳng được đáp lời; Tôi có gọi thật to, cũng không thấy công lý.
Chúa đã chận đường tôi, tôi không sao qua được. Ngài phủ bóng tối trên mọi nẻo tôi đi.
Ngài đã tước bỏ vinh quang của tôi, Cất mão triều khỏi đầu tôi.
Chúa đánh đổ tôi tứ phía, và tôi tiêu tán; Ngài nhổ niềm hi vọng tôi như người ta nhổ cây.
Cơn phẫn nộ Ngài phừng lên với tôi, Ngài xem tôi là kẻ thù của Ngài.
Các đạo quân Ngài ùn ùn kéo đến, Đắp lũy tấn công tôi, Và đóng trại chung quanh trại tôi.
Ngài khiến anh em tôi lìa xa tôi, Những người quen biết tôi trở nên kẻ xa lạ.
Họ hàng lìa bỏ tôi, Bạn bè thân thiết bỏ rơi tôi.
Những người khách trọ trong nhà đã quên tôi, Các tớ gái tôi xem tôi như khách lạ, Trong mắt họ tôi là người ngoài cuộc.
Tôi gọi đầy tớ, nó không thèm đáp lại; Ngay cả khi tôi mở miệng khẩn nài.
Hơi thở tôi khiến vợ tôi ghê tởm; Anh em tôi cũng gớm ghê tôi.
Thậm chí trẻ con cũng khinh khi tôi, Tôi vừa đứng dậy, chúng đã nhạo báng tôi.
Tất cả bạn thân đều ghét bỏ tôi, Những người tôi thương mến đã trở mặt với tôi.
Tôi chỉ còn da bọc lấy xương, Và thoát chết với hai bàn tay trắng.
Các bạn ơi, hãy thương xót tôi, hãy thương xót tôi! Vì tay Đức Chúa Trời đã đánh tôi.
Sao các anh truy đuổi tôi như Đức Chúa Trời? Chưa chán thịt tôi sao?
Ôi! Ước gì những lời tôi được ghi lại, Được chép vào một quyển sách!
Dùng bút sắt và chì, Khắc vào bia đá lưu lại đến muôn đời!
Còn tôi, tôi biết rằng Đấng Cứu Chuộc tôi vẫn sống, Đến cuối cùng Ngài sẽ đứng trên đất.
Dù khi da thịt tôi tan nát, Với xác thân nầy tôi vẫn thấy Đức Chúa Trời;
Chính tôi sẽ thấy Ngài, Mắt tôi sẽ nhìn ngắm Ngài, chứ không phải người khác; Lòng tôi mong chờ đến héo hon!
Nếu các anh nói: ‘Làm sao chúng ta đuổi theo nó đây?’ Và: ‘Nguyên nhân tai họa đều do nó cả’;
Thì hãy sợ lưỡi gươm, Vì cơn giận các anh đáng bị gươm trừng phạt, Để các anh biết rằng sẽ có ngày phán xét.”
Xô-pha người Na-a-ma đáp rằng:
“Tư tưởng tôi thúc giục tôi phải nói, Vì vậy tâm hồn tôi bối rối bất an.
Tôi đã nghe lời khiển trách xúc phạm đến tôi; Trí khôn tôi thúc giục tôi đáp lời.
Anh có biết rằng từ thuở xa xưa, Từ khi loài người có mặt trên thế gian;
Sự đắc chí của kẻ ác luôn ngắn ngủi, Và niềm vui của kẻ vô đạo chỉ trong khoảnh khắc?
Dù sự kiêu căng nó cao tận trời, Đầu nó đụng đến các tầng mây,
Thì nó cũng bị tiêu diệt đời đời như chính phân nó; Những ai đã thấy nó đều hỏi: ‘Nó đâu rồi?’
Nó bay đi như một giấc mơ, không ai tìm lại được; Bị xua đi như dị tượng ban đêm.
Con mắt từng thấy nó sẽ không còn thấy nó nữa, Chỗ nó cũng sẽ chẳng nhìn đến nó.
Con cái nó sẽ cầu cạnh người nghèo, Tự tay nó phải trả lại tài sản.
Xương cốt nó tràn đầy sức trẻ, Nhưng phải nằm chung với nó trong bụi đất.
Dù gian ác trở nên ngọt trong miệng nó, Được nó giấu dưới lưỡi,
Khi phải miễn cưỡng từ bỏ gian ác, Nó vẫn cố giữ gian ác trong miệng mình.
Như thức ăn biến chất khi vào nội tạng, Gian ác trở thành mật rắn hổ trong bụng nó.
Nó nuốt của cải vào rồi phải mửa ra, Đức Chúa Trời sẽ tống của cải ấy ra khỏi bụng nó.
Nó sẽ bú nọc rắn hổ; Lưỡi rắn lục sẽ giết chết nó.
Nó sẽ không thấy các dòng sông, Hay dòng suối tuôn chảy mật và sữa.
Kết quả từ công việc nó, nó phải trả lại, Không thể nuốt trôi; Lợi nhuận từ buôn bán, Nó cũng không được hưởng.
Vì nó đã ức hiếp và bỏ bê kẻ nghèo, Chiếm nhà cửa mà nó không xây cất.
Vì nó không biết sự an tịnh trong lòng, Chẳng thứ gì nó thích mà thoát khỏi tay nó.
Khi nó đã ăn thì chẳng sót lại thứ gì; Cho nên sự thịnh vượng nó không bền.
Đang lúc dư dật nó bị cùng túng; Mọi nỗi khốn cùng ập xuống trên nó.
Đức Chúa Trời giáng thịnh nộ trên nó, Làm cho đầy lòng tham nó, Tuôn mưa thịnh nộ làm thức ăn cho nó.
Nó tránh khỏi khí giới bằng sắt Thì cây cung đồng sẽ xuyên thủng nó.
Khi rút mũi tên ra khỏi thân nó, Và mũi gươm sáng ngời ra khỏi gan nó, Thì nỗi kinh hoàng bao trùm nó.
Bóng tối mịt mùng dành cho kho tàng nó; Lửa không do con người sẽ thiêu nuốt nó, Những gì còn sót lại trong trại nó cũng sẽ bị thiêu rụi.
Các tầng trời sẽ phô bày gian ác nó, Và đất sẽ nổi lên chống lại nó.
Tài sản gia đình nó sẽ bị đem đi mất, Bị cuốn trôi trong ngày Chúa nổi giận.
Đó là phần Đức Chúa Trời dành cho kẻ ác, Là cơ nghiệp Chúa định cho nó.”
Gióp đáp rằng:
“Hãy chú tâm nghe lời tôi nói, Đó là niềm an ủi các anh dành cho tôi.
Hãy chịu khó nghe tôi thổ lộ, Tôi nói xong, các anh cứ nhạo cười.
Còn tôi, tôi đã than thở với loài người sao? Làm sao tâm trí tôi không mất kiên nhẫn được?
Hãy nhìn tôi và cảm thấy sững sờ, Mau lấy tay che miệng lại.
Mỗi khi nghĩ đến, tôi thấy bàng hoàng, Rùng mình rởn ốc.
Tại sao kẻ gian ác vẫn sống nhởn nhơ, Càng về già càng trở nên cường thịnh?
Chúng nhìn thấy dòng dõi mình đứng vững, Tận mắt xem con cháu trước mặt mình.
Nhà cửa chúng an toàn không sợ hãi, Ngọn roi của Đức Chúa Trời chẳng đụng đến chúng.
Bò đực chúng truyền giống không hư, Bò cái chúng sinh con không sẩy.
Chúng cho đám trẻ nô đùa như bầy chiên, Con cái tung tăng nhảy múa.
Ca hát theo tiếng đàn tiếng trống, Reo hò trong tiếng sáo tiếng kèn.
Chúng hưởng những ngày tháng phồn vinh, Rồi bình an đi xuống âm phủ.
Chúng nói với Đức Chúa Trời: ‘Xin lìa xa chúng tôi! Chúng tôi không muốn biết đường lối Ngài.
Đấng Toàn Năng là ai mà chúng tôi phải phục vụ? Cầu khẩn Ngài chúng tôi được ích chi?’
Nhưng sự phồn vinh đâu có nằm trong tay chúng? Mưu chước kẻ gian tà tôi sẽ lánh xa đi!
Có bao giờ đèn kẻ ác vụt tắt, Và tai ương lại giáng trên chúng? Có bao giờ Đức Chúa Trời nổi giận Mà phân phát đớn đau cho chúng?
Có bao giờ chúng phải như rơm trước gió, Như trấu cho bão cuốn đi chưa?
Các anh nói: ‘Đức Chúa Trời dành tội ác chúng cho con cái chúng gánh chịu.’ Xin Ngài cứ báo đáp cho chính chúng, để chúng biết.
Xin cho chính mắt chúng thấy rõ cảnh diệt vong, Và uống chén thịnh nộ của Đấng Toàn Năng.
Vì khi số ngày định cho chúng đã hết, Chúng còn quan tâm đến gia quyến làm gì nữa?
Ai dám dạy tri thức cho Đức Chúa Trời, Vì chính Ngài phán xét những người ở nơi cao?
Có người chết khi còn mạnh khỏe, Đang sống trong thư thái an nhàn;
Thân thể còn tráng kiện, Tủy trong xương đang lúc tràn đầy.
Có người chết với tâm hồn đắng cay, Chưa bao giờ nếm mùi phước hạnh.
Cả hai đều nằm trong cát bụi, Mặc cho dòi bọ phủ che.
Nầy, tôi biết tư tưởng các anh, Các âm mưu toan tính hại đời tôi.
Vì các anh hỏi: ‘Nhà kẻ cường bạo ở đâu? Lều kẻ gian ác đóng tại nơi nào?’
Chẳng lẽ các anh không hỏi khách qua đường, Cũng không nghe lời họ làm chứng:
‘Trong ngày hoạn nạn kẻ ác được tai qua nạn khỏi, Và trong ngày thịnh nộ nó được thoát thân’ sao?
Trước mặt nó, ai lên tiếng về lối sống nó, Và báo trả điều nó đã làm?
Khi nó được đưa đến huyệt mả, Phần mộ nó có người canh giữ.
Đất trong thung lũng thật êm dịu cho nó; Mọi người đưa đám nó, Kẻ trước người sau nhiều vô kể.
Vậy, các anh an ủi tôi những điều vô bổ ấy làm gì? Những câu đáp của các anh chẳng qua là dối trá.”
Ê-li-pha người Thê-man đáp lời:
“Loài người có ích gì cho Đức Chúa Trời không? Ngay người khôn ngoan cũng chỉ có ích cho chính mình.
Đấng Toàn Năng có vui không khi anh sống công chính? Ngài được lợi gì nếu anh sống trọn lành?
Có phải vì anh kính sợ Ngài mà Ngài quở trách, Và phán xét anh không?
Chẳng phải sự gian ác anh rất lớn? Tội lỗi anh vô cùng vô tận đó sao?
Vì anh vô cớ buộc anh em mình phải nộp của cầm, Lột trần họ không còn mảnh áo che thân.
Người kiệt sức anh không cho nước uống, Kẻ đói lả anh chẳng ban bánh ăn.
Còn kẻ quyền thế được sở hữu đất đai; Người ưu đãi được sống trên đất đó.
Người góa bụa anh đuổi về tay trắng, Kẻ mồ côi anh dứt bỏ chốn nương nhờ.
Vì vậy, cạm bẫy gài quanh anh, Nỗi kinh hoàng bất chợt tấn công anh.
Bóng tối bao trùm làm anh không nhìn thấy; Nước lụt nhận chìm anh.
Chẳng phải Đức Chúa Trời ngự trên cao, tận trên các tầng trời sao? Hãy xem các vì sao cao nhất, vời vợi biết bao!
Vì vậy anh nói: ‘Đức Chúa Trời biết điều gì? Ngài có thể phán xét qua bóng tối mịt mùng được sao?
Đám mây dày đặc che phủ Ngài nên Ngài chẳng thấy; Ngài bước đi trên các tầng trời.’
Anh vẫn tiếp tục giữ con đường xưa, Con đường mà kẻ gian ác đã đi sao?
Chúng sẽ bị quét sạch trước kỳ định, Nền móng chúng bị cuốn trôi theo dòng nước;
Chúng nói với Đức Chúa Trời: ‘Xin lìa xa chúng con! Đấng Toàn Năng có thể làm gì cho chúng con chứ?’
Dù vậy Ngài ban cho nhà chúng đầy vật tốt: Ước gì tôi xa lánh được mưu kế của kẻ ác!
Người công chính vui mừng khi thấy kẻ ác bị phạt; Còn người vô tội sẽ nhạo cười chúng rằng:
‘Kẻ thù chúng ta chắc chắn bị diệt vong, Những gì sót lại của chúng sẽ bị lửa thiêu đốt.’
Vậy, hãy quy phục Đức Chúa Trời và hòa thuận với Ngài, Thì phước hạnh sẽ giáng trên anh.
Hãy tiếp nhận luật pháp từ miệng Ngài, Ghi tạc lời Ngài vào lòng anh.
Nếu quay về với Đấng Toàn Năng, anh sẽ được phục hồi. Nếu anh loại bỏ gian ác khỏi trại mình,
Ném vàng vào bụi đất, Và quăng vàng Ô-phia xuống đá cuội trong lòng khe,
Thì Đấng Toàn Năng sẽ là vàng, Là bạc quý cho anh.
Bấy giờ anh sẽ hân hoan trong Đấng Toàn Năng, Và ngẩng mặt lên chiêm ngưỡng Đức Chúa Trời.
Anh sẽ cầu khẩn Ngài, Ngài sẽ lắng nghe anh; Và anh sẽ làm trọn lời nguyện ước của mình.
Anh quyết định việc gì, việc ấy sẽ thành tựu; Ánh sáng soi chiếu đường lối anh.
Khi chúng bị sỉ nhục, anh sẽ nói: ‘Tại chúng kiêu ngạo!’ Vì Đức Chúa Trời cứu vớt người khiêm nhường.
Ngài sẽ giải cứu cả những người có tội; Cho nên anh sẽ được giải cứu nhờ đôi tay thanh sạch của mình.”
Gióp đáp rằng:
“Đến hôm nay, tiếng than của tôi vẫn còn cay đắng, Tay tôi muốn ngăn chận tiếng rên xiết của mình.
Ước gì tôi biết nơi nào tìm được Chúa, Tôi sẽ đến chầu trước ngai Ngài!
Tôi sẽ trình bày trường hợp tôi trước Ngài, Miệng tôi đưa ra đầy đủ lý lẽ.
Tôi sẽ biết những lời Ngài đáp lại, Và hiểu điều Ngài muốn phán dạy tôi.
Chẳng lẽ Chúa đem quyền năng lớn lao của Ngài ra tranh luận với tôi sao? Không, Ngài sẽ lắng nghe tôi.
Tại đó người ngay thẳng sẽ biện luận với Ngài, Và tôi sẽ mãi mãi thoát khỏi Đấng phán xét tôi.
Nầy, nếu tôi sang hướng đông, Ngài không có đó; Tôi quay về hướng tây, cũng chẳng nhìn thấy Ngài;
Khi Ngài làm việc ở phía bắc, tôi không gặp được Ngài; Khi Ngài quay xuống phía nam, tôi cũng chẳng thấy Ngài.
Nhưng Chúa biết con đường tôi đi, Khi Ngài đã rèn luyện tôi, tôi sẽ ra như vàng.
Chân tôi bám theo bước Chúa; Tôi giữ đúng đường Ngài, không sai lệch.
Tôi chẳng xa lìa các điều răn của môi Ngài, Luôn giữ kín trong lòng mình lời từ miệng Ngài.
Chính Ngài đã quyết định thì ai làm Ngài đổi ý? Ngài đã muốn điều gì, Ngài nhất định thi hành;
Ngài sẽ làm xong điều Ngài định cho tôi: Và nhiều điều tương tự Ngài đã định trong lòng.
Vì thế, tôi kinh hãi trước mặt Ngài; Mỗi khi nghĩ đến, tôi đều thấy run sợ Ngài.
Đức Chúa Trời khiến lòng tôi bủn rủn, Đấng Toàn Năng làm tôi phải kinh hoàng.
Dầu vậy tôi sẽ không nín lặng trong bóng tối, Lúc bóng đêm mịt mùng che kín mặt tôi.”
“Tại sao Đấng Toàn Năng không định kỳ phán xét? Tại sao những người nhận biết Ngài không được thấy ngày ấy?
Những kẻ gian ác dời đường ranh giới, Cướp bầy chiên rồi dẫn chúng đi ăn.
Chúng bắt lừa của kẻ mồ côi, Lùa bò của người góa bụa làm của cầm.
Chúng đẩy người nghèo ra khỏi đường đi, Khiến kẻ khốn cùng trong xứ phải rủ nhau lẩn tránh.
Họ như lừa hoang trong sa mạc, Phải lao khổ nhọc nhằn, Bới moi trong đồng hoang Tìm thức ăn cho lũ con thơ.
Họ gom góp cỏ khô trong đồng ruộng, Lượm mót nho trong vườn kẻ ác.
Suốt đêm họ ngủ trần, không quần áo, Trời giá lạnh mà chẳng có chăn mền.
Họ ướt sũng vì mưa trên miền núi Nép mình vào đá vì không chỗ trú thân.
Kẻ ác giật trẻ mồ côi cha từ vú mẹ; Bắt con thơ của người nghèo làm của cầm.
Người nghèo bước đi mình trần không áo mặc, Vác lúa trên vai mà bụng đói như cào.
Họ ép dầu giữa hai thớt đá, Đạp nho trong bồn mà cổ khát khô.
Từ trong thành người hấp hối kêu van, Người bị thương kêu cứu; Nhưng Đức Chúa Trời không xem đó là tội của kẻ ác.
Cũng có kẻ chống lại với ánh sáng, Không nhận ra con đường sáng, Và chẳng đi trong nẻo quang minh.
Trời chưa sáng, kẻ sát nhân đã dậy Giết người nghèo khó và kẻ khốn cùng. Còn đêm đến nó như kẻ trộm.
Mắt kẻ ngoại tình trông giờ chạng vạng, Nó tự nhủ: ‘Chẳng một ai thấy ta’; Và che kín mặt mình.
Trong bóng đêm chúng khoét vách, Còn ban ngày chúng lẩn tránh; Chúng chẳng biết ánh sáng là gì.
Với bọn chúng, buổi sáng là bóng sự chết, Vì chúng quen với nỗi hãi hùng của bóng tử thần.
Nhưng chúng chỉ như bọt bèo trên mặt nước; Phần cơ nghiệp chúng trong xứ bị nguyền rủa; Không còn ai rẽ vào vườn nho của chúng nữa.
Hạn hán và nóng bức hút hết nước của tuyết tan thế nào, Thì âm phủ cũng hút những kẻ có tội như vậy.
Lòng mẹ quên mất chúng; Dòi bọ ăn chúng ngon lành; Chẳng còn ai nhớ đến chúng; Sự gian ác bị bẻ gẫy như cây khô.
Chúng bạc đãi người hiếm muộn, không sinh con; Cư xử tệ với người góa bụa.
Nhưng Đức Chúa Trời dùng quyền năng Ngài tiêu diệt kẻ bạo tàn; Khi Ngài ra tay, chúng không còn hi vọng sống.
Chúa cho chúng yên ổn và thấy vững vàng, Nhưng mắt Ngài theo dõi mọi nẻo đường của chúng.
Chúng được đề cao trong chốc lát rồi biến mất; Chúng sẽ héo úa rồi tàn tạ như cỏ dại, Và bị cắt như gié lúa.
Nếu điều tôi nói không đúng, thì ai có thể chứng minh được tôi là người nói dối? Và cho thấy lời tôi nói là vô giá trị?”
Binh-đát người Su-a đáp lại:
“Quyền tể trị thuộc về Đức Chúa Trời, Ngài đáng kính sợ; Ngài thiết lập hòa bình trên cõi trời cao.
Ai đếm được số đạo binh của Chúa? Ai tránh được ánh sáng Ngài soi chiếu?
Làm sao Đức Chúa Trời có thể xem loài người là công chính được? Có ai bởi người nữ sinh ra mà được kể là thanh sạch?
Kìa, mặt trăng không đủ sáng, Các ngôi sao cũng không tinh sạch dưới mắt Ngài;
Huống chi loài người chỉ như sâu bọ, Con cái loài người khác nào một loại côn trùng!”
Gióp lên tiếng đáp lại:
“Anh thật khéo giúp đỡ người cô thế! Tiếp cứu người yếu đuối!
Khuyên giải người kém khôn ngoan, Và đưa ra bao lời khuyên sáng suốt!
Anh giảng giải những điều đó cho ai? Linh nào đã nói qua miệng anh?
Vong linh người chết quằn quại dưới kia, Nước và mọi vật sống trong nước cũng vậy.
Âm phủ lộ ra trước mặt Đức Chúa Trời, Địa ngục không có màn che.
Chúa trải phương bắc ra trên vùng trống, Treo trái đất lơ lửng trong không gian.
Ngài gói nước trong các đám mây Ngài, Nhưng mây không vỡ ra vì nước ấy.
Ngài bao phủ ngai Ngài, Và giăng trải mây Ngài trên đó.
Ngài đã vẽ một vòng tròn trên mặt nước, Tại ranh giới giữa ánh sáng và bóng tối.
Những trụ cột của các tầng trời rúng động, Và sững sờ khi Ngài quở trách.
Ngài dùng quyền năng làm sóng yên biển lặng; Lấy tri thức mà đánh gục Ra-háp.
Hơi thở Chúa làm bầu trời trong sáng; Tay Ngài xuyên thủng rắn yêu tinh.
Đây chỉ là những phác họa về công việc Ngài, Là những tiếng thầm thì mà chúng ta nghe được về Ngài; Còn tiếng sấm rền vang về quyền năng Ngài, mấy ai hiểu hết?”
Gióp tiếp tục trình bày lập luận của mình:
“Nhân danh Đức Chúa Trời hằng sống, Đấng đã tước mất công lý của tôi, Và Đấng Toàn Năng, Đấng làm cho linh hồn tôi cay đắng, Tôi thề rằng:
Ngày nào hơi thở còn trong tôi Và sinh khí của Đức Chúa Trời còn trong mũi tôi,
Môi tôi sẽ không nói điều gian ác, Lưỡi tôi cũng không thốt ra lời giả dối.
Chẳng bao giờ tôi công nhận các anh là đúng! Cho đến chết tôi cũng không từ bỏ lòng trung thực của mình.
Tôi giữ vững sự công chính, không rời bỏ; Trọn đời tôi, lương tâm không cáo trách tôi.
Ước gì kẻ thù tôi bị xử như kẻ ác, Kẻ chống lại tôi bị xem như bọn gian tà.
Niềm hi vọng của kẻ vô tín là gì khi nó bị tiêu diệt? Khi Đức Chúa Trời đòi linh hồn nó lại?
Đức Chúa Trời có nghe tiếng kêu than của nó, Khi hoạn nạn giáng xuống trên nó không?
Nó có hân hoan trong Đấng Toàn Năng, Và thường xuyên cầu khẩn Đức Chúa Trời không?
Tôi sẽ dạy các anh về quyền năng của Đức Chúa Trời; Không giấu các anh ý định của Đấng Toàn Năng.
Tất cả các anh đều nhận ra điều đó, Vậy sao các anh còn nói những lời vô nghĩa như thế?
Đây là phần Đức Chúa Trời định cho kẻ ác, Và cơ nghiệp Đấng Toàn Năng dành cho lũ bạo tàn:
Nếu con cái nó có đông thêm cũng chỉ để dành cho gươm giáo; Dòng dõi nó sẽ ăn không đủ no.
Những đứa sống sót sẽ bị dịch bệnh chôn vùi, Vợ góa của chúng không còn than khóc nổi.
Dù nó có gom góp bạc tiền như cát bụi, Áo quần chồng chất như đất sét;
Nó sắm sẵn nhưng người công chính sẽ mặc, Còn tiền bạc nó, người vô tội sẽ chia nhau.
Nó cất nhà như mạng nhện, Như cái chòi cất cho người giữ vườn nho.
Khi đi ngủ nó còn giàu có, chưa mất mát thứ gì; Lúc mở mắt ra sự nghiệp đã tan tành.
Kinh hoàng bất ngờ ập đến như nước lụt; Ban đêm cơn lốc cuốn nó đi.
Ngọn gió đông bốc nó lên và đùa đi mất; Gió quét nó đi khỏi chỗ của nó.
Ngọn gió giáng tai ương trên nó không chút xót thương; Nó liều lĩnh chạy trốn trận cuồng phong.
Gió vỗ tay nhạo cười nó, Gào thét đuổi nó ra khỏi chỗ ở của mình.”
“Hẳn nhiên phải có mỏ để lấy bạc, Có nơi để luyện vàng.
Sắt lấy ra từ đất, Đồng chảy ra từ quặng nung.
Người ta phải soi vào trong hầm tối, Dò tìm cho đến cùng, Để lấy đá từ nơi tối tăm mù mịt.
Họ đào những đường hầm cách xa khu dân cư; Trong nơi vắng vẻ không có người qua lại. Họ dòng dây đong đưa, cách ly với mọi người.
Đất sinh ra lương thực, Nhưng trong lòng đất như bị lửa xáo trộn.
Lẫn trong đá có ngọc bích, Trong bụi cát có quặng vàng.
Con đường nầy, chim săn mồi không biết được; Mắt chim ưng cũng chưa từng thấy;
Các loài mãnh thú chưa từng đặt chân đến, Sư tử cũng chẳng đi qua đó bao giờ.
Tay loài người đập trên hòn đá lửa, Triệt hạ các núi tận nền móng.
Người ta đục đường hầm xuyên đá, Mắt tìm kiếm mọi bửu vật bên trong.
Họ đắp đập ngăn dòng; Đem ra ánh sáng những điều bí ẩn.
Nhưng tìm sự khôn ngoan ở đâu? Sự hiểu biết nằm ở nơi nào?
Không ai biết hết giá trị của khôn ngoan; Nó không có trên đất kẻ sống.
Vực sâu nói: ‘Nó không ở trong tôi’, Biển cả cũng nói: ‘Nó không ở với tôi.’
Vàng ròng không đổi được nó, Cũng không cân bạc mà mua nó được.
Không thể định giá nó bằng vàng Ô-phia, Bằng ngọc hồng mã não hay ngọc bích.
Vàng và pha lê làm sao sánh được với nó, Đồ dùng bằng vàng ròng cũng không đổi được nó.
Còn san hô và thủy tinh thì chẳng cần nói đến; Giá trị của khôn ngoan cao hơn cả ngọc trai.
Ngọc sắc vàng Ê-thi-ô-pi không thể so với nó, Cũng không sao định giá nó bằng vàng ròng.
Vậy thì khôn ngoan từ đâu đến? Hiểu biết xuất phát từ nơi nào?
Nó vẫn giấu kín khỏi mắt mọi loài sống. Và ẩn mặt các loài chim trời.
Địa ngục và sự chết nói rằng: ‘Tai chúng tôi có nghe đồn về nó.’
Đức Chúa Trời thấu hiểu con đường đi đến nó, Và biết rõ chỗ ở của nó.
Vì Ngài nhìn thấy đến tận cùng trái đất, Và quan sát mọi vật dưới bầu trời.
Khi Ngài ban sức mạnh cho gió, Và xác định mực thủy triều,
Lập quy luật cho mưa, Vẽ đường đi cho sấm chớp;
Bấy giờ Ngài thấy sự khôn ngoan và công bố nó ra, Ngài thiết lập nó và kiểm nghiệm kỹ càng.
Rồi Ngài phán với loài người: ‘Kính sợ Chúa, đó là sự khôn ngoan; Tránh điều ác, đó là sự hiểu biết.’”
Gióp tiếp tục biện luận:
“Ôi! Ước gì tôi được sống như thuở trước, Như những ngày Đức Chúa Trời gìn giữ tôi;
Khi ngọn đèn Chúa soi trên đầu tôi, Và nhờ ánh sáng Chúa tôi đi qua cõi tăm tối.
Khi tôi còn tráng kiện, Và tình bạn của Đức Chúa Trời bao phủ trại tôi;
Khi Đấng Toàn Năng ở với tôi, Và con cái quây quần bên tôi;
Khi chân tôi rửa trong sữa, Và cối đá phun dầu ra cho tôi như suối!
Khi tôi đi ra đến cổng thành, Và sửa soạn chỗ ngồi giữa quảng trường,
Giới trẻ thấy tôi đều rút lui, Người lớn tuổi đứng dậy chào đón;
Các quan chức nói năng dè dặt, Và lấy tay che miệng lại;
Giới quý tộc im tiếng, Lưỡi họ như dính vào vòm họng.
Tai nào nghe đến tôi đều khen tôi có phước, Mắt nào nhìn thấy tôi đều làm chứng cho tôi.
Vì tôi giải cứu người nghèo khó đang kêu van, Và trẻ mồ côi không ai giúp đỡ.
Người cùng khổ sắp chết còn chúc phước cho tôi, Tôi làm cho khúc hoan ca trỗi lên trong lòng người góa bụa.
Tôi mặc sự công chính như chiếc áo, Lấy sự ngay thẳng làm áo choàng và mũ.
Tôi làm đôi mắt cho người mù, Và đôi chân cho kẻ què.
Tôi làm cha của người nghèo khó, Xét xử công minh cho kẻ xa lạ.
Tôi bẻ gẫy xương hàm của kẻ bất chính, Và rứt mồi khỏi nanh vuốt nó.
Bấy giờ, tôi tự nhủ: ‘Ta sẽ chết trong tổ ấm, Ngày tháng ta sẽ nhiều như cát;
Rễ ta bò đến các nguồn nước, Và suốt đêm sương đọng trên cành ta;
Vinh quang ta luôn tươi mới, Sức mạnh ta lại được phục hồi.’
Người ta lắng tai nghe tôi nói và chờ đợi, Yên lặng nghe lời tôi khuyên nhủ.
Tôi nói xong, không còn ai nói nữa, Lời tôi nói như giọt sương rơi trên họ.
Họ trông đợi tôi như trông đợi mưa, Há miệng chờ như trông ngóng mưa xuân.
Tôi mỉm cười với họ khi họ mất niềm tin, Gương mặt rạng rỡ của tôi khích lệ họ.
Tôi chọn đường đi cho họ và lãnh đạo họ, Sống như vua giữa quân đội mình, Như người an ủi những kẻ ưu sầu.”
“Nhưng bây giờ những người trẻ tuổi hơn tôi chế nhạo tôi, Cha ông chúng là những người mà tôi đã coi thường, Không xếp chung với đám chó chăn bầy của tôi.
Sức mạnh của chúng có ích gì cho tôi, Khi sinh lực chúng không còn nữa?
Phờ phạc vì đói khát và thiếu thốn, Chúng gặm đất khô trong hoang mạc tăm tối tiêu điều.
Chúng hái rau sam biển bên các lùm cây dại, Và đào rễ cây giếng giêng làm thức ăn.
Chúng bị đuổi khỏi đồng bào mình; Bị la mắng như một tên trộm cắp.
Chúng phải sống trong các khe suối, Trong các hang sâu và giữa các hốc đá.
Chúng tru tréo giữa các lùm cây, Chen chúc nhau dưới các bụi gai còi cọc.
Là con của người ngu dại, cháu của kẻ vô danh, Chúng bị tống ra khỏi xứ.
Thế mà bây giờ, con cái chúng đặt vè chế giễu, Đem tôi ra làm cớ để chê cười.
Chúng ghê tởm tôi, xa lánh tôi, Nhổ vào mặt tôi không chút ngại ngần.
Vì Đức Chúa Trời đã tháo dây cung tôi và sỉ nhục tôi, Nên chúng chẳng còn coi tôi ra gì nữa.
Bên phải tôi, bọn tạp dân nổi loạn; Chúng gài bẫy chân tôi, Dọn đường cho tôi lâm vào hoạn nạn.
Chúng phá hủy đường thoát của tôi, Cố gắng tiêu diệt tôi; Mà chẳng cần ai giúp chúng.
Chúng kéo đến từ một lỗ hổng lớn, Tràn qua đống đổ nát hoang tàn.
Nỗi kinh hoàng lại ập xuống trên tôi; Danh dự tôi bị gió cuốn đi, Hi vọng của tôi tan theo mây khói.
Bây giờ linh hồn tôi tan vỡ trong tôi, Những ngày gian nan vây hãm tôi.
Đêm đến xương cốt tôi bị hành hạ, Cơn đau giày vò tôi không ngưng nghỉ.
Với năng lực lớn, Ngài nắm áo tôi; Túm lấy tôi như túm cổ áo.
Đức Chúa Trời quăng tôi xuống bùn, Tôi trở thành tro bụi.
Con kêu xin Chúa, nhưng Ngài không đáp lời; Con cầu khẩn mà Ngài chỉ nhìn con.
Chúa trở thành tàn nhẫn đối với con, Dùng năng lực tay Ngài mà ngược đãi con.
Chúa nâng con lên cho con cưỡi gió, Ném con vào cơn bão tố thét gào.
Con biết Chúa sẽ dẫn con vào cõi chết, Là nơi hò hẹn của mọi người sống.
Chưa bao giờ tôi ra tay hại người khốn khổ, Hoặc làm ngơ khi họ kêu cứu lúc lâm nguy.
Tôi đã chẳng từng khóc với người gặp khó khăn, Và động lòng thương cảm người nghèo khổ đó sao?
Nhưng khi tôi chờ phước hạnh thì tai họa xảy ra; Tôi trông mong ánh sáng thì tối tăm lại đến.
Lòng tôi trằn trọc không an nghỉ; Các ngày gian nan dồn dập sấn vào tôi.
Tôi bước đi trong tăm tối, không ánh mặt trời; Giữa hội chúng, tôi đứng lên kêu cứu.
Tôi trở thành anh em của chó rừng, Bạn bè với đà điểu.
Da tôi đen và tróc ra, Xương cốt tôi bị thiêu trong cơn sốt.
Vì thế, đàn hạc tôi ngân tiếng bi ai, Tiếng sáo tôi trỗi khúc thảm sầu.”
“Tôi đã lập giao ước với mắt tôi; Làm sao tôi còn dám nhìn một trinh nữ?
Đức Chúa Trời trên cao ban phần gì cho tôi? Tôi được cơ nghiệp nào từ Đấng Toàn Năng cao cả?
Có phải là tai họa chỉ dành cho kẻ gian ác, Và nỗi bất hạnh dành cho người hung dữ không?
Chẳng phải Ngài luôn thấy con đường tôi đi, Và đếm từng bước chân tôi đó sao?
Nếu tôi có đi con đường dối trá, Và chân tôi vội bước đến chỗ lừa gạt;
Xin Đức Chúa Trời cứ cân tôi trên một cái cân chính xác, Thì Ngài sẽ thấy sự thanh liêm của tôi.
Nếu chân tôi bước lệch khỏi đường ngay, Lòng tôi chiều theo điều mắt mình thích, Và để tay mình dính vào điều ô uế,
Thì người khác sẽ hưởng hoa lợi tôi gieo, Và những gì tôi trồng sẽ bị nhổ đi!
Nếu lòng tôi bị phụ nữ quyến dụ, Hay rình rập nơi cửa nhà người lân cận,
Thì vợ tôi phải đi xay cối cho người khác, Và người khác sẽ chiếm đoạt vợ tôi.
Đó là một tội ác rất gớm ghiếc, Đáng bị quan tòa xử phạt:
Tội ngoại tình đốt cháy như lửa địa ngục, Thiêu rụi tận gốc tất cả hoa lợi tôi có.
Nếu tôi chà đạp quyền lợi của tôi trai tớ gái tôi, Khi họ khiếu nại với tôi điều gì,
Thì tôi sẽ làm gì khi Đức Chúa Trời trỗi dậy? Lúc Ngài chất vấn tôi, tôi sẽ đáp thế nào?
Đấng tạo dựng tôi trong dạ mẹ tôi không dựng nên họ sao? Chẳng phải chỉ có một Đấng dựng nên chúng ta trong lòng mẹ đó sao?
Nếu tôi từ chối điều người nghèo khó ước ao, Làm cho mắt người góa bụa bị hao mòn,
Nếu tôi ăn bánh một mình, Và trẻ mồ côi không được chia sẻ;
Từ thuở thanh xuân, tôi đã nuôi dưỡng cô nhi như một người cha; Từ khi lọt lòng mẹ, tôi nâng đỡ người góa bụa.
Nếu tôi thấy ai đó sắp chết vì thiếu quần áo, Hay người nghèo không có chăn mền,
Thì lòng họ sẽ chúc phước cho tôi, Vì nhờ bộ lông chiên của tôi mà họ được ấm áp.
Nếu tôi giơ tay hăm dọa trẻ mồ côi, Vì tôi thấy mình được ủng hộ nơi cổng thành,
Thì xin cho tôi đầu lìa khỏi cổ, Và cánh tay tôi gãy rời khỏi khuỷu tay.
Vì tai họa từ Đức Chúa Trời làm tôi kinh khiếp, Trước uy nghiêm Ngài, tôi không thể làm gì được.
Nếu tôi tin cậy nơi vàng, Hay gọi vàng ròng là nơi nương nhờ của tôi;
Nếu tôi vui mừng vì có nhiều của cải, Và trong tay sở hữu được thật nhiều;
Nếu tôi ngắm mặt trời chiếu sáng, Nhìn vầng trăng lộng lẫy nhô lên.
Nếu lòng tôi âm thầm bị chúng mê hoặc, Và hôn tay tỏ lòng tôn kính chúng,
Thì điều đó đã là tội ác đáng bị tòa xử phạt, Vì tôi đã chối bỏ Đức Chúa Trời trên cao.
Tôi nào có vui khi kẻ ghét tôi bị lâm nạn, Và đắc chí khi tai họa giáng trên nó;
Trái lại, tôi không cho phép miệng tôi phạm tội, Mà dùng lời nguyền rủa để hại mạng sống nó;
Nếu người nhà của tôi chẳng từng nói: ‘Ai ở đây mà không được ăn thịt no nê?’
Khách lạ không phải ngủ đêm ngoài đường; Tôi đã mở cửa đón khách đường xa.
Nếu tôi che giấu tội mình như A-đam, Ấp ủ gian ác mình trong lòng,
Chỉ vì sợ hãi đám đông, Lo sợ họ hàng khinh bỉ, Mà phải nín lặng không dám ra khỏi cửa.
Ôi! Ước gì có người lắng nghe tôi! Đây là lời cuối cùng của tôi! Xin Đấng Toàn Năng đáp lời tôi! Xin kẻ thù tôi viết cáo trạng buộc tội tôi!
Chắc hẳn tôi sẽ mang cáo trạng ấy trên vai mình, Đội lên đầu tôi như một mão miện.
Tôi sẽ báo với Chúa các bước đi của tôi; Như một ông hoàng, tôi sẽ đến chầu Ngài.
Nếu đất tôi lên tiếng tố cáo tôi, Các luống cày cùng nhau than khóc;
Nếu tôi ăn sản vật nó mà không trả tiền, Gây ra cái chết cho nguyên chủ nó,
Thì xin cho gai gốc mọc thay lúa mì, Và cỏ lùng thế cho lúa mạch!” Đến đây hết lời của Gióp.
Bấy giờ, ba người bạn kia ngưng đối đáp với Gióp vì Gióp tự thấy mình là người công chính.
Ê-li-hu, con trai của Ba-ra-kê-ên người Bu-xi, thuộc gia tộc Ram, nổi giận. Ông nổi giận với Gióp vì Gióp tự xưng mình là công chính hơn Đức Chúa Trời.
Ê-li-hu cũng nổi giận với ba bạn của Gióp vì họ không tìm được lời giải đáp cho Gióp mà chỉ biết buộc tội Gióp.
Ê-li-hu phải đợi để đối đáp với Gióp, vì những người kia đều lớn tuổi hơn ông.
Nhưng khi thấy ba người kia chẳng nói thêm được lời nào nữa thì Ê-li-hu nổi giận.
Ê-li-hu, con trai Ba-ra-kê-ên người Bu-xi, lên tiếng: “Tôi còn trẻ Các anh đã có tuổi; Vì vậy tôi e dè, sợ sệt Khi đưa ra ý kiến của mình.
Tôi thầm nghĩ: ‘Người lớn tuổi cần phải nói, Bậc cao niên phải dạy điều khôn ngoan.’
Nhưng chính thần linh ở trong loài người, Là hơi thở của Đấng Toàn Năng, mới ban cho họ sự hiểu biết.
Không phải người có tuổi nào cũng khôn ngoan, Bậc cao niên nào cũng hiểu điều ngay lẽ phải.
Vì vậy tôi xin thưa: ‘Hãy nghe tôi; Cho tôi được trình bày ý kiến.’
Nầy, tôi đã chờ đợi ý kiến của các anh, Lắng nghe những lời biện luận của các anh, Trong lúc các anh cân nhắc từng lời.
Tôi đã chăm chú nghe các anh, Nhưng chẳng một ai trong các anh bắt bẻ, Hoặc đối đáp nổi lý lẽ của Gióp.
Xin đừng vội nói: ‘Chúng ta đã tìm được khôn ngoan.’ Đức Chúa Trời sẽ bác bỏ Gióp chứ không phải con người.
Gióp không tranh luận với tôi, Nên tôi sẽ không dùng lý lẽ các anh mà đáp lại.
Họ sững sờ, không nói gì được nữa; Họ đã cạn lời.
Không lẽ tôi cứ phải chờ đợi khi họ không nói, Cứ đứng sững đó và chẳng đối đáp gì cả sao?
Đến lượt tôi, tôi cũng phải trả lời; Tôi cũng sẽ trình bày ý kiến của mình.
Vì tôi đã đầy ắp lời nói, Thần linh trong tôi thúc giục tôi.
Nầy, lòng tôi như rượu chưa khui, Sẵn sàng vỡ tung như bầu rượu mới.
Tôi phải nói để được nhẹ nhàng; Nên tôi sẽ lên tiếng đáp lời.
Tôi sẽ chẳng thiên vị ai, Cũng không tâng bốc người nào.
Vì tôi chẳng biết nịnh bợ; Nếu làm vậy, Đấng Tạo Hóa tôi sẽ lập tức tiêu diệt tôi.”
Nhưng bây giờ, xin anh Gióp lắng nghe lập luận của tôi. Hãy chú ý những gì tôi nói.
Kìa, tôi đã lên tiếng, Lưỡi trong miệng tôi đã nói.
Lời tôi nói lên sự liêm chính của lòng mình; Môi tôi thốt lên sự hiểu biết một cách trung thực.
Thần Đức Chúa Trời đã sáng tạo tôi, Hơi thở của Đấng Toàn Năng ban cho tôi sự sống.
Nếu có thể, xin anh trả lời tôi; Hãy chuẩn bị lý lẽ, giữ vững lập trường để đối đáp với tôi!
Trước mặt Đức Chúa Trời tôi với anh có khác gì nhau; Tôi cũng được nắn nên từ đất sét.
Tôi không có gì đáng sợ khiến anh phải kinh khiếp, Cũng chẳng có áp lực nào đè nặng lên anh.
“Thật anh đã nói vào tai tôi, Tôi đã nghe chính lời anh nói rằng:
‘Tôi trong sạch, không làm gì sai phạm; Tôi vô tội, không chất chứa gian ác trong lòng.
Nhưng Đức Chúa Trời tìm dịp hại tôi, Xem tôi như kẻ thù của Ngài;
Ngài cùm chân tôi lại, Và canh chừng đường lối tôi.’
Tôi xin thưa rằng, trong vấn đề nầy anh đã sai rồi, Vì Đức Chúa Trời vĩ đại hơn loài người.
Tại sao anh tranh luận với Ngài? Ngài đâu có cần giải thích mọi việc Ngài làm.
Vì Đức Chúa Trời phán dạy cách nầy hay cách khác, Nhưng con người không để ý đến.
Có thể trong chiêm bao, trong dị tượng ban đêm, Lúc người ta ngủ mê, Khi đang say giấc trên giường mình;
Bấy giờ, Ngài mở tai cho loài người, Niêm phong những lời giáo huấn,
Để kéo loài người khỏi điều họ toan làm, Và giữ họ khỏi thói kiêu căng;
Để cứu linh hồn họ khỏi vực thẳm, Và mạng sống họ khỏi gươm đao.
Loài người bị sửa phạt, đau đớn trên giường mình, Xương cốt run rẩy triền miên.
Họ ghê tởm thức ăn, Ngao ngán cả cao lương mỹ vị.
Thân thể tiều tụy nhìn chẳng ra người, Ốm o gầy mòn chỉ còn da bọc lấy xương.
Linh hồn bị kéo đến bên vực thẳm, Mạng sống bị đẩy đến bên tử thần.
Nếu bên họ có một thiên sứ, Chỉ cần một trong hàng nghìn thiên sứ, Làm trung gian để dạy bảo con người biết điều ngay thẳng,
Thương xót người ấy và cầu khẩn: ‘Xin gìn giữ người khỏi sa xuống vực thẳm; Tôi đã tìm ra giá chuộc rồi;
Da thịt người ấy sẽ mịn màng như thời niên thiếu; Sức mạnh phục hồi như thuở thanh xuân.’
Người cầu nguyện với Đức Chúa Trời và được Ngài đoái thương, Khiến người mừng vui khi trông thấy mặt Ngài, Và Ngài phục hồi người vì sự công chính của người.
Người đó sẽ hát trước mặt loài người rằng: ‘Tôi đã phạm tội và bẻ cong điều chính trực, Nhưng tôi không bị xử như tôi đáng phải chịu.
Đức Chúa Trời đã giải cứu linh hồn tôi khỏi sa xuống vực thẳm, Và đời sống tôi sẽ thấy ánh sáng.’
Thật Đức Chúa Trời đã làm mọi việc ấy Cho loài người đến hai ba lần,
Đem linh hồn họ ra khỏi vực thẳm, Để họ thấy ánh sáng của sự sống.
Xin anh Gióp chú ý nghe tôi; Hãy yên lặng thì tôi sẽ nói.
Nếu anh có điều gì muốn đối đáp với tôi; Cứ nói đi, vì tôi muốn minh chứng anh là công chính.
Nếu không, xin lắng nghe tôi; Hãy yên lặng thì tôi sẽ dạy cho anh điều khôn ngoan.”
Ê-li-hu tiếp tục nói:
“Hỡi những người khôn ngoan, xin nghe tôi nói! Hỡi các bậc thông thái, xin lắng tai nghe tôi!
Vì tai phân định lời nói, Như miệng nếm thức ăn.
Chúng ta hãy chọn điều gì phải, Cùng nhận thức việc gì tốt lành.
Vì Gióp đã khẳng định: ‘Tôi là người công chính, Nhưng Đức Chúa Trời đã tước mất công lý của tôi.
Tôi bị xem là kẻ nói dối dù tôi sống ngay thẳng; Thương tích tôi không thể lành dù tôi không phạm tội.’
Có ai giống như Gióp không? Uống lời nhạo báng như nước lã,
Nhập bọn với kẻ bất lương, Đồng hành với phường gian ác?
Vì Gióp từng nói: ‘Loài người chẳng được ích lợi gì, Khi vui thỏa trong Đức Chúa Trời.’
Vì vậy, hỡi những người hiểu biết, hãy nghe tôi, Đức Chúa Trời không bao giờ làm điều ác, Đấng Toàn Năng chẳng khi nào làm chuyện bất lương.
Ngài báo trả cho con người tùy công việc họ làm, Đối xử với mỗi người tùy theo cách họ sống.
Thật Đức Chúa Trời không cư xử gian ác, Đấng Toàn Năng chẳng bẻ cong công lý.
Ai giao trái đất cho Ngài coi sóc? Ai lập Ngài cai quản toàn thế gian?
Nếu Ngài chỉ lo nghĩ đến chính mình, Thu lại thần linh và hơi thở của Ngài,
Thì mọi loài xác thịt sẽ cùng chết với nhau, Và loài người trở về cát bụi.
Nếu anh hiểu biết, xin nghe điều nầy; Hãy lắng nghe điều tôi nói.
Người ghét bỏ công lý làm sao cai trị được? Anh dám lên án Đấng công chính và quyền năng sao?
Có ai dám gọi vua là: ‘Đồ vô dụng’ Hay gọi bậc vương hầu là: ‘Phường gian ác’ không?
Huống chi Đấng chẳng thiên vị bậc quan quyền, Không coi trọng người giàu hơn kẻ nghèo, Vì tất cả đều do tay Ngài tạo dựng.
Trong phút chốc, giữa đêm khuya chúng đều chết; Dân chúng rúng động và chết mất, Bọn cường hào cũng bị tiêu vong mà không bởi tay loài người.
Vì mắt Ngài xem xét đường lối loài người, Ngài nhìn thấy từng bước đi của họ.
Chẳng có chỗ tối tăm hay bóng đêm mù mịt nào Mà kẻ bất lương có thể ẩn núp được.
Đức Chúa Trời không cần tra xét loài người thêm nữa, Họ phải đến trước mặt Ngài để chịu phán xét.
Không cần tra xét, Ngài đập tan bọn cường hào, Rồi lập người khác lên thay.
Vì Chúa biết công việc họ làm, Ban đêm, Ngài đánh đổ chúng và chúng bị tiêu diệt.
Chúa trừng trị chúng như bọn gian ác, Công khai trước mặt mọi người,
Chỉ vì chúng từ chối theo Chúa, Không quan tâm đến các đường lối Ngài.
Chúng làm cho tiếng than của người nghèo thấu đến Chúa, Và Ngài phải nghe tiếng khóc của kẻ khốn cùng.
Khi Ngài yên lặng, ai dám lên án Ngài? Khi Ngài ẩn mặt, ai có thể thấy Ngài? Dù Ngài vẫn quan phòng từng dân tộc cũng như mỗi cuộc đời,
Không để cho kẻ vô đạo cầm quyền, Hoặc những kẻ muốn gài bẫy dân chúng.
Vì có ai từng thưa với Đức Chúa Trời rằng: ‘Con đã chịu sửa phạt; con sẽ không làm điều gian ác nữa.
Xin Chúa chỉ dạy con những gì con không thấy; Nếu con đã phạm tội, con sẽ không tái phạm’?
Được vậy thì theo anh Đức Chúa Trời có báo trả không? Nhưng anh đã không chịu ăn năn, Nên chính anh phải chọn chứ không phải tôi; Vậy anh hãy nói ra điều mình biết.
Những người hiểu biết sẽ nói với tôi, Người khôn ngoan đang nghe tôi sẽ nói rằng:
‘Gióp nói cách thiếu hiểu biết, Lời lẽ của anh ta thiếu sáng suốt.’
Cầu cho Gióp bị thử thách đến cùng, Vì anh ta đối đáp như phường gian ác;
Anh ta đã thêm tội phản loạn vào tội lỗi mình, Vỗ tay ngạo đời giữa chúng ta, Và gia tăng lời phạm thượng với Đức Chúa Trời.”
Ê-li-hu lại nói tiếp:
“Anh tưởng mình đúng khi nói rằng: ‘Tôi công chính trước mặt Đức Chúa Trời’ sao?
Anh thắc mắc: ‘Nếu tôi không phạm tội, Tôi sẽ được lợi gì? Điều ấy có tốt hơn cho tôi chăng?’
Chính tôi sẽ trả lời cho anh, Và các bạn của anh nữa.
Hãy ngước mắt lên và xem các tầng trời; Hãy quan sát các đám mây cao hơn anh vời vợi.
Nếu anh phạm tội thì anh làm hại gì được Ngài? Nếu tội lỗi anh gia tăng thì ảnh hưởng gì đến Ngài?
Nếu anh công chính, anh đem lại gì cho Ngài? Ngài sẽ nhận được gì từ tay anh?
Gian ác anh có thể hại đến đồng loại, Công chính anh có thể giúp ích cho con cái loài người.
Quá nhiều ức hiếp khiến người ta kêu oan, Vì cường hào áp chế mà người ta kêu cứu.
Nhưng chẳng ai hỏi: ‘Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa của tôi ở đâu? Chính Ngài khiến người ta hát mừng trong ban đêm,
Dạy chúng ta hiểu biết hơn muôn thú trên đất, Và cho chúng ta khôn ngoan hơn các loài chim trời.’
Họ kêu la nhưng Ngài không đáp lại, Vì lòng kiêu căng của kẻ gian ác.
Thật, lời cầu nguyện trống rỗng Đức Chúa Trời không nghe, Đấng Toàn Năng chẳng bao giờ đoái đến.
Huống chi khi anh nói rằng anh không thấy Ngài, Anh trình lý lẽ cho Ngài và phải chờ đợi Ngài phán xét!
Bây giờ, vì cơn giận của Ngài chưa giáng phạt, Và vì Ngài chưa lưu ý nhiều đến sự vi phạm,
Nên Gióp mới mở miệng nói những lời trống rỗng, Và thêm nhiều lời thiếu hiểu biết.”
Ê-li-hu tiếp tục nói:
“Xin kiên nhẫn thêm chút nữa, tôi sẽ chỉ cho anh, Vì tôi còn lời bênh vực Đức Chúa Trời.
Tôi sẽ mang kiến thức từ khắp nơi Để minh chứng sự công chính của Đấng Tạo Hóa tôi.
Chắc hẳn lời biện luận tôi không hề giả dối; Một người có tri thức toàn diện đang ở với anh.
Kìa, Đức Chúa Trời đầy quyền năng không khinh bỉ ai; Ngài thấu hiểu vô cùng.
Ngài không gìn giữ mạng sống của kẻ ác, Nhưng xử đoán công minh cho kẻ khốn cùng.
Ngài luôn để mắt đến người công chính, Cho họ cùng ngồi trên ngai với các vua, Ngài lập họ vững bền, và họ được tôn cao.
Nhưng nếu họ phải mang xiềng xích Và bị dây gian truân trói buộc,
Thì Ngài tỏ cho họ biết việc họ làm, Và tội lỗi do tính kiêu căng của họ.
Ngài mở tai để nghe lời sửa dạy, Truyền họ từ bỏ điều gian ác.
Nếu họ lắng nghe và phụng sự Ngài, Họ sẽ hưởng những ngày sung túc, Và những tháng năm chan chứa niềm vui.
Nhưng nếu không vâng theo, họ sẽ bị tiêu diệt bởi gươm đao, Và chết đi vì thiếu hiểu biết.
Lòng kẻ vô tín ấp ủ cơn giận dữ; Có bị Ngài xiềng xích cũng không kêu cứu.
Chúng chết đang tuổi thanh xuân; Cuộc đời kết liễu giữa bọn trai mại dâm của đền miếu.
Nhưng Đức Chúa Trời dùng hoạn nạn để cứu người gặp nạn, Dùng nghịch cảnh để mở tai họ ra.
Ngài khuyến dụ anh ra khỏi miệng gian nan, Đặt anh chỗ thảnh thơi không còn tù túng; Cao lương mỹ vị được dọn đầy bàn.
Nhưng lòng anh đầy dẫy luận điệu của kẻ ác; Nên sự phán xét và hình phạt đã nắm lấy anh.
Hãy cẩn thận, đừng để giàu sang mê hoặc, Hay của hối lộ quá lớn làm anh lạc lối.
Liệu sự giàu có và thế lực của anh Có thể cứu anh khỏi hoạn nạn chăng?
Đừng mong chờ đêm tối Là lúc các dân tộc thình lình biến mất.
Hãy cẩn thận đừng quay về tội ác, Vì hoạn nạn đã tôi luyện anh khỏi phạm tội.
Kìa, quyền năng của Đức Chúa Trời cao cả biết bao; Có giáo sư nào giống như Ngài chăng?
Có ai dám vạch đường chỉ lối cho Ngài, Hoặc nói rằng: ‘Chúa đã làm sai’ không?
Hãy nhớ tôn cao công việc Chúa Mà loài người luôn cất tiếng tán dương.
Mọi người đều chiêm ngưỡng công việc ấy; Ai ai cũng nhìn nó từ xa.
Phải, Đức Chúa Trời vĩ đại, làm sao chúng ta hiểu thấu; Số năm của Ngài ai có thể dò.
Vì Ngài gom các giọt nước lại, Rồi lọc những giọt sương mù thành mưa;
Các tầng mây tuôn mưa xuống, Tưới tràn trề trên loài người.
Có ai hiểu được cách mây bủa giăng, Hay tiếng sấm vang rền của trại Ngài?
Kìa Chúa tỏa ánh sáng chung quanh Ngài Và phủ kín đáy biển sâu.
Ngài dùng các điều ấy nuôi dưỡng các dân tộc; Ban lương thực dồi dào.
Ngài giấu sấm chớp trong tay, Truyền cho nó mục tiêu phải đánh.
Tiếng sấm vang báo có cơn giông, Ngay súc vật cũng báo điềm bão tố.”
“Giông tố đó làm tim tôi run sợ, Như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.
Hãy nghe, hãy lắng nghe tiếng Ngài như tiếng sấm, Tiếng rền vang ra từ miệng Ngài!
Ngài khiến nó vang dội khắp bầu trời, Chiếu sấm chớp đến tận cùng trái đất.
Rồi đến tiếng ầm vang. Với giọng uy nghiêm, Ngài cất tiếng sấm rền, Khi tiếng Ngài trỗi lên thì sấm chớp tung hoành.
Đức Chúa Trời phát tiếng sấm rền kỳ diệu; Ngài làm những việc lớn lao mà chúng ta không sao hiểu nổi.
Vì Ngài phán với tuyết: ‘Hãy rơi xuống đất’; Và với mưa rào: ‘Hãy tuôn như thác đổ’.
Ngài niêm phong bàn tay của mọi người, Để con người mà Ngài dựng nên biết công việc Ngài.
Khi ấy thú rừng rút vô hang, Nằm yên trong hầm của chúng.
Gió lốc từ phương nam kéo tới, Gió lạnh từ phương bắc tràn về.
Hơi thở Đức Chúa Trời tạo nên nước đá; Nước mênh mông đông cứng thành băng.
Ngài chứa hơi nước trong mây đen, Dùng mây gieo sấm chớp của Ngài.
Mây trôi mọi hướng theo sự dẫn dắt của Ngài, Để hoàn tất mọi việc Ngài truyền bảo Khắp mọi nơi trên đất.
Ngài sai mây đi, có khi để sửa phạt, Có lúc để tưới đất đai, Hoặc ban phước trên loài người.
Xin anh Gióp hãy nghe lời nầy, Xin đứng yên và chiêm ngưỡng các việc diệu kỳ của Đức Chúa Trời.
Anh có biết bằng cách nào Đức Chúa Trời ban lệnh cho chúng, Và khiến sấm chớp rực sáng trong mây không?
Anh có biết làm sao mây giữ thăng bằng khi trôi giạt, Một kỳ công của Đấng Toàn Tri không?
Anh có biết vì sao quần áo mình nóng lên, Khi mặt đất im lìm vì gió nam thổi đến không?
Anh có thể cùng Ngài trải bầu trời ra, Làm cho nó cứng như một tấm kính đúc không?
Xin dạy chúng tôi biết phải thưa gì với Chúa; Vì dốt nát, chúng tôi không biết trình bày sự việc.
Tôi nào có muốn thưa với Ngài; Tại sao tôi lại muốn Ngài tiêu diệt mình chứ?
Bây giờ, không ai có thể nhìn vào ánh sáng, Khi nó chói lòa trên bầu trời, Lúc gió đã thổi qua và bầu trời quang đãng.
Từ phương bắc đem ánh vàng rực rỡ; Đức Chúa Trời ngự đến với uy nghiêm đáng sợ vô cùng!
Đấng Toàn Năng, chúng ta không tìm đến Ngài được; Ngài quyền năng và chính trực tuyệt đối, Ngài công chính vô cùng, không ức hiếp ai.
Chính vì thế mà loài người tôn kính Chúa, Ngài không đoái đến kẻ tưởng mình khôn ngoan.”
Bấy giờ, từ giữa cơn lốc Đức Chúa Trời đáp lời Gióp:
“Kẻ nầy là ai mà dám dùng lời lẽ thiếu hiểu biết Làm mờ ám kế hoạch Ta?
Hãy thắt lưng như một dũng sĩ, Ta sẽ hỏi con và con sẽ trả lời Ta.
Khi Ta đặt nền trái đất thì con ở đâu? Nếu con thông sáng, hãy cho Ta biết.
Chắc con biết ai ấn định kích thước địa cầu Và ai giăng dây đo trái đất?
Nền nó tựa trên cái gì, Ai đã đặt hòn đá góc cho nó?
Trong khi các sao mai cùng cất tiếng hát, Các con trai Đức Chúa Trời trỗi khúc hoan ca?
Ai đã dùng các cửa mà ngăn biển lại Khi nước tuôn trào từ đáy vực sâu?
Khi Ta giăng mây làm áo xống cho biển, Lấy bóng tối mịt mùng làm khăn quấn cho nó.
Ta ấn định ranh giới cho biển Đóng cửa cài then,
Và phán: ‘Ngươi chỉ đến đây thôi, không đi xa hơn nữa, Các đợt sóng ngạo nghễ của ngươi phải dừng tại nơi nầy!’
Từ khi được sinh ra, có bao giờ con ra lệnh cho buổi sáng, Hay chỉ định vị trí cho hừng đông
Phủ khắp bốn bề trái đất, Khiến kẻ ác phải trốn khỏi chỗ nó chưa?
Trái đất biến dạng như đất sét dưới dấu ấn Và vạn vật hiện ra như lằn xếp trên áo.
Ánh sáng đã biến mất khỏi kẻ ác, Cánh tay bạo ngược của chúng đã bị bẻ gãy.
Có bao giờ con tìm đến tận nguồn của biển cả, Hay xuống dưới đáy của vực sâu chưa?
Có ai chỉ cho con thấy cổng sự chết, Hoặc thấy cổng âm ti chưa?
Con có hiểu thấu cái mênh mông của địa cầu không? Nếu biết hết các điều đó, hãy nói đi.
Con đường nào dẫn đến nơi ánh sáng cư trú? Còn chốn tối tăm ở nơi nào?
Con có thể dẫn nó về lãnh địa nó không? Hoặc biết được con đường về nhà nó chăng?
Chắc hẳn con biết, vì lúc ấy con đã sinh ra, Số ngày của đời con thật là nhiều!
Con đã vào xem các kho chứa tuyết, Có thấy kho chứa mưa đá
Mà ta đã để dành cho thời hoạn nạn, Cho ngày chiến tranh và giặc giã không?
Đường nào dẫn đến nơi ánh sáng phân tán, Hay gió đông thổi theo lối nào trên đất?
Ai đào kênh cho nước lũ, Vạch đường cho sấm chớp,
Đem mưa đến đất không người ở, Trên hoang mạc vắng bóng người,
Để tưới nhuần vùng đồng khô cỏ cháy, Khiến cỏ cây mọc lên xanh tốt?
Mưa có cha không? Những giọt sương mai, ai sinh ra chúng?
Lòng dạ nào sinh ra băng đá? Ai đẻ ra sương muối từ trời?
Nước đông cứng như đá, Mặt vực sâu đóng thành băng.
Con có thể buộc chòm sao Thất tinh lại, Hay mở xiềng cho sao Thiên lang không?
Con có thể khiến các chòm sao Hoàng Đạo mọc theo thì, Và dẫn đường sao Bắc Đẩu với chòm sao theo nó không?
Con có biết quy định của các tầng trời? Con có thể lập quy luật như thế dưới đất không?
Con có thể lớn tiếng gọi mây, Khiến cho mưa lũ trút xuống trên con được không?
Con có thể truyền lệnh cho sấm chớp, bảo chúng đi Và chúng nói với con: ‘Chúng tôi đã sẵn sàng’ không?
Ai đặt sự khôn ngoan trong lòng? Ai ban sự hiểu biết cho tâm trí?
Ai đủ khôn ngoan để đếm các tầng mây, Hay nghiêng các vò trên trời cho nước tuôn xuống?
Để bụi đất quyện lại thành khối, Đất cục kết dính với nhau?
Con có thể săn mồi cho sư tử, Hay làm cho sư tử con thỏa cơn đói, Khi chúng thu mình trong hang, Hay rình rập trong bụi rậm?
Ai cung cấp thức ăn cho quạ, Khi đám quạ con kêu cầu Đức Chúa Trời, Và bay đó đây kiếm chẳng ra mồi?”
“Con có biết khi nào dê rừng sinh nở, Và theo dõi lúc nào nai cái đẻ con không?
Con có thể tính số tháng chúng mang thai, Và biết kỳ chúng sinh nở không?
Chúng ngồi xổm sinh đàn nai con, Trút bỏ cơn đau đớn.
Đàn con nhỏ khỏe mạnh, lớn lên trong đồng nội; Chúng lìa mẹ ra đi và không trở lại nữa.
Ai để cho lừa rừng tự do chạy nhảy? Ai cởi trói cho chú lừa kia tung tăng?
Ta ban thảo nguyên cho nó làm nhà, Đất mặn làm chỗ ở.
Nó tránh xa tiếng huyên náo của thị thành, Không nghe tiếng la hét của người điều khiển.
Nó đi khắp núi đồi như đồng cỏ của nó, Để tìm kiếm cây lá xanh tươi.
Bò rừng có chịu làm việc cho con, Hay chịu ngủ suốt đêm bên máng cỏ của con không?
Con có thể lấy dây buộc nó vào luống cày, Nó có chịu kéo bừa cho con trong thung lũng không?
Con có thể dựa vào sức vóc mạnh mẽ của nó, Mà giao việc lao nhọc cho nó không?
Con có tin rằng nó sẽ trở lại, Và đem ngũ cốc về sân đập lúa của con không?
Đà điểu vỗ cánh oai hùng, Nhưng không có tình thương như chim hạc.
Vì nó bỏ trứng lại trên đất, Mặc cho cát nóng ấp trứng,
Quên rằng chân người có thể giẫm lên, Thú rừng có thể đạp nát.
Đà điểu tàn nhẫn với đàn con, như không phải con mình, Không lo rằng công đẻ trứng của mình ra vô ích;
Vì Đức Chúa Trời khiến nó mất khôn ngoan, Không chia phần hiểu biết cho nó.
Nhưng khi phóng chạy như bay, Nó cười nhạo cả ngựa lẫn người cưỡi ngựa.
Có phải con ban sức mạnh cho ngựa, Và khoác bờm lên cổ nó không?
Con có khiến nó nhảy như châu chấu, Cất tiếng hí oai phong đáng sợ không?
Nó đào đất sâu trong thung lũng, tự hào về sức lực mình; Xông pha trước binh đao.
Coi thường đe dọa, bất chấp hiểm nguy; Không quay đầu lui gót trước mũi gươm.
Bên hông nó, bao đựng tên khua lách cách, Giáo và lao sáng quắc.
Điên tiết lên, nó phóng nhanh như chớp, Nghe tiếng kèn, nó không thể đứng yên.
Kèn vừa trỗi, nó liền hí lên inh ỏi, Từ xa, nó đánh hơi mùi chinh chiến, Nghe lệnh chỉ huy và tiếng hò xung trận.
Có phải nhờ sự khôn ngoan của con mà diều hâu bay vút lên, Sải cánh hướng về phương nam?
Có phải con ra lệnh cho đại bàng Bay vút lên tìm nơi cao làm tổ?
Lấy hốc đá làm nơi ở, Vách núi cheo leo làm phòng tuyến an toàn.
Từ nơi cao đó, nó rình mồi, Đôi mắt nhìn bao quát thật xa.
Đàn con nó quen hút máu, Vì nơi nào có xác chết thì nó đến ngay.”
Đức Giê-hô-va tiếp tục phán với Gióp:
“Kẻ hay bắt bẻ dám tranh luận với Đấng Toàn Năng sao? Người nào kiện cáo Đức Chúa Trời, hãy trả lời đi!”
Gióp thưa lại với Đức Giê-hô-va:
“Con vốn chẳng ra gì; con biết lấy lời nào để thưa với Chúa? Con chỉ biết đưa tay che miệng.
Con đã nói một lần, con không thể lặp lại; Lỡ nói đôi lần rồi, con nào dám nói gì hơn.”
Từ giữa cơn lốc Đức Giê-hô-va phán với Gióp:
“Hãy thắt lưng như một dũng sĩ, Ta sẽ hỏi con và con sẽ trả lời Ta.
Con thật sự muốn phủ nhận công lý của Ta, Lên án Ta để biện minh cho chính mình sao?
Con có cánh tay mạnh như tay Đức Chúa Trời chăng? Có thể cất tiếng vang rền như giọng Ngài sao?
Hãy trang sức bằng uy nghi và danh giá; Mặc trên mình sự lộng lẫy và vinh quang.
Hãy trút đổ cơn giận của con ra, Nhìn thẳng vào mọi kẻ kiêu ngạo và hạ nhục chúng.
Hãy nhìn thẳng vào mọi kẻ kiêu ngạo và hạ chúng xuống; Giày đạp tại chỗ bọn gian ác.
Chôn vùi cả bọn chúng trong cát bụi Che khuất mặt chúng trong nơi kín đáo.
Bấy giờ, Ta sẽ khen ngợi con Rằng chính tay phải con mang chiến thắng về cho con!”
“Hãy nhìn con Bê-hê-mốt Mà Ta đã dựng nên như dựng nên con; Nó ăn cỏ như bò.
Hãy xem, đôi hông nó đầy sức mạnh, Cơ bụng nó thật rắn chắc.
Đuôi nó giống như cây bá hương; Gân đùi đan với nhau chằng chịt.
Các xương nó như ống đồng, Tứ chi nó như những thanh sắt.
Nó là tạo vật hàng đầu của Đức Chúa Trời; Chỉ có Đấng dựng nên nó mới giết được nó.
Núi đồi sinh cỏ cho nó ăn, Các thú hoang chơi đùa nơi đó.
Nó nằm dưới đám sen, Trong các bụi lau sậy và chỗ đầm lầy.
Vì bông sen lấy bóng che nó, Cây liễu bên bờ khe vây bọc nó.
Kìa, dù sông có hung hãn tràn bờ, nó vẫn không sợ hãi; Dù sông Giô-đanh có ngập tới miệng, nó vẫn thản nhiên.
Có ai bắt được nó bằng móc không? Hay gài bẫy để đâm vào mũi nó?”
“Con có thể bắt Lê-vi-a-than với lưỡi câu. Hay dùng dây buộc lưỡi nó được không?
Có thể xỏ một sợi dây qua mũi nó, Và xâu hàm nó bằng một cái móc ư?
Liệu nó có tha thiết van nài con, Dùng lời ngọt dịu mà năn nỉ con không?
Nó sẽ lập giao ước với con, Để con nhận nó làm nô lệ suốt đời không?
Con có dám chơi với nó như với một con chim, Hay cột nó lại cho các cô gái đùa giỡn?
Những người đánh cá có ra giá không? Hay các con buôn xẻ thịt nó để bán?
Con có thể lấy cái lao móc đâm vào da nó, Dùng lao phóng mà cắm vào đầu nó không?
Hãy thử ra tay với nó đi, Để rồi chỉ cần nghĩ đến trận đó, Con sẽ không bao giờ muốn lặp lại!
Ước muốn bắt nó sẽ tiêu tan, Chỉ cần thấy nó, tay chân con đã rụng rời.
Chẳng ai dám cả gan trêu chọc nó; Vậy thì ai sẽ đứng nổi trước mặt Ta?
Ai đã cho Ta mà Ta phải trả lại? Mọi vật ở dưới trời đều thuộc về Ta.
Ta phải nói về các chi thể nó, Về sức lực và hình dạng tốt đẹp của nó.
Có ai lột được lớp da ngoài của nó không? Có ai đâm thủng lớp da đôi của nó không?
Ai dám cạy cửa họng nó ra? Sự kinh khủng vây quanh răng nó.
Lưng nó như có một hàng khiên, Kết dính với nhau thật khít khao,
Cái nầy sát với cái kia, Đến nỗi không khí cũng chẳng lọt qua được.
Cái nầy nối với cái kia, Cài chặt với nhau không tách ra được.
Nó hắt hơi lóe ra tia sáng, Mắt nó tựa như ánh bình minh.
Miệng nó phun ra những ngọn đuốc, Phóng ra các tia lửa.
Từ mũi nó khói bay ra ngùn ngụt, Như từ nồi nước sôi đang chụm bằng lau sậy.
Hơi thở nó làm than hực đỏ, Một ngọn lửa ra từ miệng nó.
Cổ nó chứa sức mạnh, Sự kinh khiếp nhảy múa trước mặt nó.
Các yếm thịt nó dính chặt nhau, Vững như đúc, không thể nào lay chuyển.
Trái tim nó rắn như đá, Cứng như thớt dưới của cối xay.
Khi nó vùng dậy, các dũng sĩ cũng run sợ, Bủn rủn tìm đường chạy trốn.
Dù gươm có chém trúng cũng chẳng nhằm gì, Giáo đâm, tên bắn hay lao phóng cũng vậy thôi.
Với nó, sắt như rơm rạ, Đồng như gỗ mục.
Mũi tên không làm cho nó chạy trốn; Nỏ đá bắn vào nó chỉ như trấu bay.
Gậy gộc, nó coi như rơm rạ, Tiếng lao phóng thật nực cười với nó.
Dưới bụng nó lởm chởm mảnh sành, Để lại trên đất sình lầy dấu vết một đường cày.
Nó khuấy vực sâu sôi sục như nồi nước; Làm cho biển cả trở thành lọ dầu xức
Nó bỏ lại phía sau luồng bọt lấp lánh; Khiến vực sâu trông như tóc bạc.
Trên đất nầy không loài vật nào giống nó; Một tạo vật không biết sợ là gì.
Nó nhìn xuống các con vật cao lớn, Làm vua các loài thú kiêu căng.”
Gióp thưa với Đức Chúa Trời:
“Con biết rằng Chúa có thể làm được mọi việc, Không ai ngăn cản được ý định của Ngài.
Chúa hỏi: ‘Kẻ nầy là ai mà dám dùng lời lẽ thiếu hiểu biết che giấu kế hoạch của Ta?’ Thật, con đã nói những điều con không hiểu, Những việc quá diệu kỳ mà con không hề biết.
Lạy Chúa, xin lắng nghe thì con sẽ nói, Sẽ hỏi Chúa, và Chúa sẽ phán dạy con.
Trước đây tai con có nghe đồn về Chúa, Nhưng bây giờ mắt con đã thấy Ngài;
Vì vậy, con ghê tởm chính mình, Và ăn năn trong tro bụi.”
Sau khi Đức Giê-hô-va phán các lời ấy với Gióp, Ngài cũng phán với Ê-li-pha, người Thê-man, rằng: “Ta nổi giận với con và hai bạn con vì các con không nói đúng đắn về Ta như Gióp, đầy tớ Ta, đã nói.
Vậy bây giờ, các con hãy bắt bảy con bò đực và bảy con chiên đực rồi đến gặp Gióp, đầy tớ Ta. Các con hãy vì chính mình mà dâng tế lễ thiêu, sau đó Gióp, đầy tớ Ta, sẽ cầu nguyện cho các con. Ta sẽ nhậm lời Gióp và không phạt các con theo sự dại dột của các con; vì các con không nói đúng đắn về Ta như Gióp, đầy tớ Ta, đã nói.”
Vậy, Ê-li-pha người Thê-man, Binh-đát người Su-a, Sô-pha người Na-a-ma liền đi và làm theo điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn họ. Đức Giê-hô-va nhậm lời cầu nguyện của Gióp.
Khi Gióp đã cầu thay cho các bạn, Đức Giê-hô-va phục hồi tài sản cho Gióp. Ngài ban cho ông gấp đôi số tài sản mà ông đã có trước kia.
Tất cả anh em, chị em và những người quen biết Gióp từ trước đều đến thăm và dùng bữa với ông tại nhà. Họ chia buồn và an ủi ông về các tai họa mà Đức Giê-hô-va đã giáng trên ông. Mỗi người đều tặng ông một nén bạc và một chiếc nhẫn vàng.
Như vậy, Đức Giê-hô-va ban phước cho những năm cuối đời của Gióp nhiều hơn lúc ban đầu. Ông có mười bốn nghìn chiên, sáu nghìn lạc đà, một nghìn đôi bò và một nghìn lừa cái.
Ông cũng có bảy con trai và ba con gái.
Ông đặt tên cho cô con gái lớn là Giê-mi-ma, cô thứ nhì là Kê-xia và cô thứ ba là Kê-ren Ha-búc.
Trong khắp xứ không có phụ nữ nào xinh đẹp như ba con gái của Gióp. Cha của các cô chia gia tài cho các cô cùng với các anh em trai.
Sau đó, Gióp còn sống một trăm bốn mươi năm; ông được thấy con, cháu, chắt đến đời thứ tư.
Rồi Gióp qua đời, tuổi thọ cao và thỏa lòng.
Phước cho người nào Chẳng đi theo mưu kế của kẻ ác, Chẳng đứng trong đường tội nhân, Không ngồi chỗ của kẻ nhạo báng.
Nhưng vui thích về luật pháp của Đức Giê-hô-va Và suy ngẫm luật pháp ấy ngày và đêm.
Người ấy sẽ như cây trồng gần dòng nước, Sinh bông trái đúng mùa đúng tiết, Lá nó cũng chẳng tàn héo. Mọi việc người làm đều sẽ thịnh vượng.
Kẻ ác chẳng như vậy đâu, Nhưng chúng khác nào rơm rác gió thổi bay đi.
Vì thế, kẻ ác chẳng đứng nổi trong ngày phán xét, Tội nhân cũng không được vào hội người công chính.
Vì Đức Giê-hô-va biết đường lối người công chính, Nhưng đường lối kẻ ác sẽ bị diệt vong.
Vì sao các nước náo loạn? Và các dân mưu tính chuyện hư không?
Các vua thế gian nổi dậy, Các lãnh tụ câu kết với nhau Chống lại Đức Giê-hô-va và Đấng Được Xức Dầu của Ngài.
Chúng bảo: “Hãy bẻ gãy gông cùm của họ, Và quăng xa xiềng xích khỏi chúng ta.”
Đấng ngự trên trời sẽ cười, Chúa sẽ chế nhạo chúng.
Bấy giờ trong cơn thịnh nộ, Ngài quở trách chúng, Trong cơn giận dữ, Ngài khiến chúng kinh hoàng.
Ngài phán: “Chính Ta, Ta đã lập Vua mà Ta đã chọn Trên Si-ôn, là núi thánh Ta”
Ta sẽ công bố mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va: Ngài phán với Ta: “Con là Con Ta; Ngày nay Ta đã sinh ra Con.
Hãy cầu xin Ta, Ta sẽ ban cho Con các nước làm cơ nghiệp, Và khắp cõi địa cầu làm tài sản.
Con sẽ dùng gậy sắt mà đập vỡ chúng, Làm cho chúng bể ra như bình gốm tan tành.”
Vì vậy hỡi các vua, hãy khôn ngoan! Hỡi các thẩm phán thế gian, hãy nghe lời cảnh báo!
Hãy phục vụ Đức Giê-hô-va với lòng kính sợ, Hãy vui mừng với lòng run rẩy.
Hãy hôn Con, kẻo Người nổi giận Và các ngươi sẽ bị hủy diệt trong đường lối mình, Vì cơn thịnh nộ của Người sẽ nhanh chóng bùng lên. Phước cho những ai nương náu mình nơi Người!
Đức Giê-hô-va ôi! Kẻ thù của con sao quá đông! Số người nổi lên chống lại con nhiều vô số!
Lắm kẻ nói về con rằng: “Đức Chúa Trời sẽ không giải cứu nó đâu”. (Sê-la)
Nhưng lạy Đức Giê-hô-va! Ngài là cái khiên chở che con; Ngài là vinh quang của con và là Đấng làm cho con ngẩng đầu lên.
Con lớn tiếng kêu cầu Đức Giê-hô-va, Và từ núi thánh, Ngài đáp lời con. (Sê-la)
Con nằm xuống và ngủ ngon giấc; Con thức dậy, vì Đức Giê-hô-va nâng đỡ con.
Con sẽ không sợ hàng vạn người Vây hãm con tứ phía.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin ra tay cứu giúp con! Lạy Đức Chúa Trời của con, xin cứu lấy con! Vì Chúa vả vào má mọi kẻ thù của con Và bẻ gãy răng kẻ ác.
Sự giải cứu thuộc về Đức Giê-hô-va. Nguyện Chúa ban phước trên con dân Ngài! (Sê-la)
Lạy Đức Chúa Trời công chính của con! Khi con kêu cầu, xin đáp lời con. Khi con bị gian truân, xin đem con ra nơi khoảng khoát; Xin thương xót con và nghe lời cầu nguyện của con.
Hỡi các người, danh dự của ta sẽ bị sỉ nhục cho đến bao giờ? Các người ưa thích chuyện hư không và tìm kiếm điều dối trá cho đến chừng nào? (Sê-la)
Phải biết rằng Đức Giê-hô-va đã biệt riêng người tin kính cho Ngài. Khi ta kêu cầu, Đức Giê-hô-va sẽ nghe ta.
Hãy run sợ và đừng phạm tội; Khi nằm trên giường, hãy suy ngẫm trong lòng và yên lặng. (Sê-la)
Hãy dâng sự công chính làm tế lễ, Và đặt lòng tin cậy nơi Đức Giê-hô-va.
Nhiều người nói: “Ai sẽ cho chúng tôi thấy phước?” Lạy Đức Giê-hô-va, xin chiếu rạng ánh sáng mặt Ngài trên chúng con!
Chúa khiến lòng con tràn ngập niềm vui, Hơn cả niềm vui của chúng khi có lúa mì và rượu nho dư dật.
Lạy Đức Giê-hô-va, con sẽ nằm và ngủ bình yên; Vì chỉ một mình Ngài gìn giữ con được sống an lành.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin lắng tai nghe lời con, Xem xét sự thở than của con.
Lạy Vua của con, Đức Chúa Trời của con, Xin nghe tiếng kêu van của con, Vì con cầu nguyện cùng Chúa.
Đức Giê-hô-va ôi! Buổi sáng Ngài nghe tiếng con; Buổi sáng con dâng lời khẩn nguyện và đợi chờ.
Vì Chúa chẳng phải là Đức Chúa Trời bằng lòng với điều ác; Kẻ ác sẽ không được ở với Chúa.
Kẻ kiêu ngạo chẳng đứng nổi trước mắt Chúa; Chúa ghét tất cả kẻ làm ác.
Chúa hủy diệt bọn nói dối; Đức Giê-hô-va ghê tởm kẻ khát máu và lũ gian tà.
Về phần con, nhờ lòng nhân từ bao la của Chúa, Con sẽ vào nhà Chúa, Con sẽ lấy lòng kính sợ Mà thờ lạy trước đền thánh của Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, vì cớ kẻ thù của con, Xin dẫn dắt con trong đường công chính của Ngài, Và san bằng đường Chúa trước mặt con.
Vì miệng của chúng không đáng tin, Lòng của chúng đầy sự hủy diệt, Họng của chúng như mồ mả mở ra, Lưỡi của chúng nói lời dua nịnh.
Lạy Đức Chúa Trời, xin trừng phạt chúng! Khiến chúng thất bại trong mưu chước mình; Xin đuổi chúng đi vì tội ác dẫy đầy, Vì chúng đã nổi loạn chống lại Ngài.
Xin cho những ai nương náu mình nơi Chúa được hoan lạc, Cất tiếng reo mừng mãi mãi, Vì Chúa bảo vệ những người ấy. Người nào yêu mến danh Chúa cũng sẽ mừng rỡ trong Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, vì chính Ngài sẽ ban phước cho người công chính, Lấy ơn Ngài che phủ người ấy như cái khiên.
Đức Giê-hô-va ôi! Xin đừng quở trách con khi Ngài phẫn nộ, Cũng chớ sửa phạt con trong cơn giận của Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin thương xót con vì con mòn mỏi; Lạy Đức Giê-hô-va, xin chữa lành con vì xương cốt con run rẩy.
Đức Giê-hô-va ôi! Linh hồn con vô cùng bối rối; Lạy Chúa, cho đến khi nào Chúa mới chữa lành cho con?
Lạy Đức Giê-hô-va, xin Ngài đổi ý và giải cứu con, cho con khỏi chết; Xin cứu con vì lòng nhân từ của Ngài.
Vì trong cõi chết đâu còn ai nhớ Chúa; Chốn âm ti ai sẽ cảm tạ Ngài?
Con kiệt sức vì than thở, Đêm đêm giường con dầm trong nước mắt, Chõng của con đầm đìa giọt lệ.
Mắt con hoen mờ vì buồn thảm, Càng mỏi mòn vì cớ kẻ thù con.
Hỡi tất cả kẻ làm ác, các ngươi hãy lìa xa ta, Vì Đức Giê-hô-va đã nghe tiếng khóc của ta.
Đức Giê-hô-va đã nghe lời ta khẩn nguyện, Ngài nhậm lời ta tha thiết kêu cầu.
Tất cả kẻ thù của con sẽ hổ thẹn và khiếp sợ; Chúng vội thối lui, nhục nhã thình lình.
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, con nương náu mình nơi Ngài; Xin cứu con khỏi mọi kẻ truy đuổi con, và giải thoát con,
Kẻo chúng xé con như sư tử xé mồi, Và phân thây con ra từng mảnh mà không ai giải cứu.
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, nếu con đã làm điều ấy, Và nhúng tay vào việc bất chính;
Nếu con lấy ác trả cho người sống hòa thuận với con Và cướp bóc kẻ thù con vô cớ
Thì con đáng bị kẻ thù đuổi kịp, Giày đạp mạng sống con dưới đất, Và vùi dập danh dự con trong tro bụi. (Sê-la)
Lạy Đức Giê-hô-va, xin trỗi dậy và nổi giận; Xin chống lại cơn giận hoảng của kẻ thù con. Xin thức dậy mà giúp đỡ con; Ngài đã định sự phán xét rồi.
Hãy để hội các dân tụ họp quanh Ngài; Ngài từ trên cao ngự xuống.
Đức Giê-hô-va phán xét các dân tộc. Lạy Đức Giê-hô-va, xin phân xử cho con theo sự công chính của con Và theo sự thanh liêm nơi lòng con.
Lạy Đức Chúa Trời công chính, Là Đấng dò xét lòng dạ loài người, Xin chấm dứt sự gian ác của kẻ dữ Nhưng làm vững bền người công chính.
Đức Chúa Trời là cái khiên của con, Ngài cứu vớt người có lòng ngay thẳng.
Đức Chúa Trời là thẩm phán công minh, Là Đức Chúa Trời hằng ngày nổi giận với kẻ ác.
Nếu một người không hối cải, thì Đức Chúa Trời sẽ mài gươm; Ngài giương cung chờ sẵn.
Ngài đã chuẩn bị khí giới hủy diệt Và làm những mũi tên bằng lửa.
Kìa kẻ dữ cưu mang gian ác, Hoài thai hiểm độc, Và sinh ra dối trá.
Hắn đào hầm, đào hố Nhưng lại té xuống hố đã đào.
Tội ác hắn đổ lại trên đầu hắn. Và sự bạo hành giáng trên trán hắn.
Con sẽ cảm tạ Đức Giê-hô-va về sự công chính của Ngài, Và ca tụng danh Đức Giê-hô-va là Đấng Chí Cao.
Lạy Đức Giê-hô-va là Chúa của chúng con, Danh Chúa vang lừng trên khắp đất biết bao! Uy nghiêm Ngài vượt quá các tầng trời!
Để đối lại các kẻ thù của Chúa, Ngài dùng miệng trẻ thơ và trẻ con đang bú mà lập nên sức mạnh Ngài, Khiến bọn cừu địch và kẻ báo thù phải nín lặng.
Khi con nhìn xem các tầng trời là công việc của ngón tay Chúa, Mặt trăng và các ngôi sao mà Chúa đã tạo dựng;
Loài người là gì mà Chúa nhớ đến? Con loài người là chi mà Chúa thăm viếng nó?
Chúa dựng nên loài người kém Đức Chúa Trời một chút, Đội cho người mão miện vinh quang và tôn trọng.
Chúa ban cho con người quyền cai trị công việc của tay Chúa; Khiến muôn vật phục dưới chân người,
Tất cả loài chiên và gia súc Cũng như các thú đồng,
Chim trời và cá biển Cùng sinh vật bơi lội dưới biển.
Lạy Đức Giê-hô-va là Chúa chúng con, Danh Chúa vang lừng trên khắp đất biết bao!
Con sẽ hết lòng cảm tạ Đức Giê-hô-va; Con sẽ thuật lại các việc lạ lùng của Ngài.
Lạy Đấng Chí Cao, con sẽ vui vẻ và hớn hở trong Ngài; Con sẽ ca tụng danh của Ngài.
Khi Chúa xuất hiện, kẻ thù của con lùi bước, Chúng vấp ngã và bị hủy diệt.
Vì Chúa bênh vực quyền lợi chính đáng của con; Chúa ngồi trên ngai mà phán xét công minh.
Chúa đã quở trách các nước, hủy diệt kẻ ác, Vĩnh viễn xóa sạch tên của chúng.
Các kẻ thù đã bị hủy diệt đời đời; Chúa phá đổ các thành của chúng; Ký ức về chúng cũng tiêu mất rồi.
Nhưng Đức Giê-hô-va cai trị đời đời; Ngài thiết lập ngôi mình để phán xét.
Ngài sẽ phán xét thế gian theo sự công chính, Lấy lẽ công bằng mà xét xử các dân.
Đức Giê-hô-va là nơi ẩn náu cho người bị áp bức, Là chốn nương thân trong lúc gian truân.
Lạy Đức Giê-hô-va, những người biết danh Ngài sẽ tin cậy Ngài, Vì Ngài chẳng từ bỏ người nào tìm kiếm Ngài.
Hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va là Đấng ngự tại Si-ôn! Hãy loan báo công việc Ngài giữa các dân.
Vì Đấng báo thù huyết nhớ đến kẻ khốn cùng; Ngài không quên tiếng kêu cứu của họ.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin thương xót con! Xin đoái xem nỗi đau khổ do kẻ thù con gây nên; Ngài là Đấng đem con lên khỏi cổng sự chết,
Để con thuật lại mọi lời ca ngợi Chúa; Tại cổng thành Con Gái Si-ôn, Con vui mừng về sự giải cứu của Ngài.
Các dân đã sa xuống hố mà chúng đã đào; Chân của chúng mắc vào lưới mà chúng đã giăng.
Đức Giê-hô-va tự bày tỏ chính Ngài qua công lý; Kẻ ác bị mắc bẫy do chính tay chúng đã gài. (Hi-gai-ôn. Sê-la)
Kẻ ác phải đi vào âm phủ, Tất cả các dân quên Đức Chúa Trời cũng vậy.
Người thiếu thốn sẽ không bị bỏ quên luôn luôn, Và kẻ khốn cùng chẳng thất vọng mãi mãi.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin trỗi dậy! Đừng để người phàm thắng thế; Nguyện các nước bị phán xét trước mặt Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin khiến chúng sợ hãi. Nguyện các dân biết rằng họ chỉ là người phàm. (Sê-la)
Đức Giê-hô-va ôi! Vì sao Ngài đứng xa? Trong lúc gian truân sao Ngài lại ẩn mặt?
Kẻ ác kiêu căng săn đuổi người khốn cùng; Nguyện chúng sa vào mưu chước mình đã bày ra.
Vì kẻ ác khoe khoang dục vọng của chúng; Bọn gian tham nguyền rủa và từ chối Đức Giê-hô-va.
Kẻ ác kiêu căng, không tìm kiếm Chúa; Hắn luôn nghĩ rằng không có Đức Chúa Trời.
Đường lối hắn luôn luôn thịnh vượng; Sự phán xét của Chúa cao quá, hắn không hiểu nổi; Hắn chế giễu tất cả kẻ thù mình.
Hắn tự nhủ: “Ta sẽ không bị rúng động; Ta sẽ không bao giờ gặp tai họa.”
Miệng hắn đầy lời nguyền rủa, giả dối và đe dọa; Lưỡi hắn nói lời độc ác và điêu ngoa.
Hắn ngồi rình rập nơi các thôn làng, Núp trong bóng tối để giết người vô tội. Mắt hắn đảo quanh tìm kẻ khốn cùng.
Hắn phục trong nơi kín đáo như sư tử trong hang, Rình rập để bắt người cùng khốn; Hắn kéo người nghèo khổ vào lưới để bắt họ.
Hắn cúi xuống rồi chồm lên, Kẻ khốn cùng ngã quỵ trước sức mạnh của hắn.
Lòng hắn thầm nghĩ: “Đức Chúa Trời quên rồi, Ngài đã ẩn mặt và sẽ không bao giờ thấy việc nầy đâu.”
Đức Giê-hô-va ôi! Xin trỗi dậy; Đức Chúa Trời ôi! Xin giơ tay Ngài lên; Và đừng quên kẻ khốn cùng.
Vì sao kẻ ác khinh thường Đức Chúa Trời Và nghĩ thầm: “Chúa sẽ chẳng hề hạch hỏi”?
Nhưng, Chúa đã thấy rồi! Chúa đoái đến nỗi khốn khổ và đau đớn; Ngài xem xét để ra tay hành động. Người khốn khổ phó mình cho Chúa; Ngài là Đấng giúp đỡ kẻ mồ côi.
Xin bẻ gãy cánh tay kẻ dữ và bọn gian ác; Truy tìm sự độc ác của chúng cho đến cùng.
Đức Giê-hô-va làm Vua đến đời đời vô cùng; Các nước sẽ bị tiêu diệt khỏi đất của Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài đã lắng nghe ước vọng của kẻ nhu mì; Ngài khiến họ được vững lòng, và lắng tai nghe họ
Để thi hành công lý cho kẻ mồ côi và người bị áp bức, Làm cho loài người vốn từ bụi đất, không còn sợ hãi nữa.
Tôi nương náu mình nơi Đức Giê-hô-va. Sao các người dám khuyên tôi: “Hãy trốn nhanh đi, như chim bay về núi?
Vì kìa kẻ ác giương cung, Tra mũi tên vào dây, Để từ trong bóng tối bắn vào người có lòng ngay thẳng.
Nếu các nền tảng bị phá đổ, Người công chính sẽ làm sao?”
Đức Giê-hô-va ngự trong đền thánh Ngài; Ngôi Ngài ở trên trời. Mắt Ngài nhìn xem, Mí mắt Ngài dò xét con cái loài người.
Đức Giê-hô-va dò xét người công chính lẫn kẻ gian ác, Và lòng Ngài ghét kẻ ưa thích bạo lực.
Ngài sẽ trút mưa tai họa trên kẻ ác: Lửa hừng, diêm sinh và gió nóng Sẽ là chén dành riêng cho chúng.
Vì Đức Giê-hô-va là công chính, Ngài yêu công lý; Người chính trực sẽ được thấy mặt Ngài.
Đức Giê-hô-va ôi! Xin cứu chúng con vì người tin kính không còn nữa, Người trung tín đã biến mất khỏi con cái loài người.
Chúng dùng lời dối trá mà trò chuyện với nhau, Lấy môi nói những lời dua nịnh mà lòng thì dối gạt.
Đức Giê-hô-va sẽ diệt tất cả môi dua nịnh Và lưỡi khoác lác
Của những kẻ nói rằng: “Nhờ lưỡi mình chúng ta sẽ thắng thế; Môi chúng ta thuộc về chúng ta; ai là chủ của chúng ta?”
Vì người khốn cùng bị áp bức và kẻ thiếu thốn rên xiết, Nên Đức Giê-hô-va phán: “Bây giờ Ta sẽ đứng dậy, Đặt họ nơi yên ổn mà họ ước mong.”
Lời hứa của Đức Giê-hô-va là lời thanh sạch, Giống như bạc đã luyện trong lò bằng gốm, Tinh luyện đến bảy lần.
Lạy Đức Giê-hô-va, chính Ngài sẽ gìn giữ những người khốn cùng; Ngài luôn bảo vệ họ khỏi thế hệ nầy.
Kẻ ác đi nghênh ngang khắp nơi, Khi điều đồi bại được tôn cao giữa loài người.
Đức Giê-hô-va ôi! Ngài mãi quên con cho đến chừng nào? Ngài ẩn mặt với con cho đến bao giờ?
Con phải khốn khổ trong tâm hồn, Hằng ngày con phải buồn thảm trong lòng cho đến bao giờ? Kẻ thù con sẽ được tôn cao hơn con cho đến chừng nào?
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, xin xem xét và nhậm lời con. Xin cho mắt con được sáng, kẻo con phải ngủ trong sự chết chăng!
Kẻo kẻ thù của con sẽ nói: “Ta đã thắng hơn nó,” Và kẻ cừu địch con sẽ mừng rỡ khi con vấp ngã.
Nhưng con đã tin cậy nơi sự nhân từ Chúa; Xin cho lòng con vui mừng về sự cứu rỗi của Chúa.
Con sẽ hát cho Đức Giê-hô-va, Vì Ngài đã làm ơn cho con.
Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: “Chẳng có Đức Chúa Trời.” Chúng đều đồi bại, làm những việc ghê tởm; Chẳng có ai làm điều lành.
Đức Giê-hô-va từ trên trời nhìn xuống con cái loài người Để xem có ai khôn ngoan, Tìm kiếm Đức Chúa Trời chăng.
Tất cả đều lầm lạc, cùng nhau trở nên đồi bại; Chẳng có ai làm điều lành, Dẫu một người cũng không.
Phải chăng mọi kẻ gian ác đều không hiểu biết? Chúng ăn nuốt dân Ta khác nào ăn bánh, Và chẳng bao giờ kêu cầu Đức Giê-hô-va.
Tại đó, chúng phải kinh hoàng khiếp sợ, Vì Đức Chúa Trời bênh vực dòng dõi người công chính.
Lũ ác các người phá hỏng kế hoạch của người nghèo, Nhưng Đức Giê-hô-va là nơi nương náu của họ.
Ôi, cầu xin Chúa đến từ Si-ôn giải cứu Y-sơ-ra-ên! Khi Đức Giê-hô-va đem con dân Ngài từ lưu đày trở về, Thì Gia-cốp mừng rỡ và Y-sơ-ra-ên vui vẻ!
Lạy Đức Giê-hô-va, ai sẽ được ngụ trong đền tạm Ngài? Ai sẽ được ở trên núi thánh Ngài?
Đó là người bước đi ngay thẳng, làm điều công chính, Và nói lời chân thật từ trong lòng mình;
Người có lưỡi không nói hành, Chẳng làm hại bạn hữu, Cũng không gieo sỉ nhục cho người lân cận mình;
Người khinh dể kẻ gian ác, Nhưng tôn trọng người kính sợ Đức Giê-hô-va; Người đã thề nguyện Dù phải tổn hại vẫn không thay đổi;
Người không cho vay lấy lãi, Chẳng nhận hối lộ để hại người vô tội. Người nào làm các điều ấy Sẽ không hề bị rúng động.
Đức Chúa Trời ôi! Xin phù hộ con, Vì con nương náu mình nơi Chúa.
Con thưa với Đức Giê-hô-va rằng: “Ngài là Chúa của con, Ngoài Ngài ra, con không có phước nào khác.”
Còn về những người thánh trên đất nầy, Họ là những người thực sự cao thượng mà con từng ái mộ;
Cùng những kẻ chạy theo các thần ngoại giáo, tự gây thêm đau đớn cho chính mình. Con sẽ không dùng huyết làm lễ quán cho chúng, Cũng không xưng tên của chúng trên môi con.
Đức Giê-hô-va là phần sản nghiệp và là cái chén của con; Ngài gìn giữ phần thuộc về con.
Địa phận của con rơi nhằm nơi đất tốt; Con có được cơ nghiệp tuyệt vời.
Con sẽ chúc tụng Đức Giê-hô-va là Đấng khuyên bảo con; Ngay cả ban đêm lương tâm con cũng nhắc nhở con.
Con hằng để Đức Giê-hô-va đứng trước mặt con; Con chẳng hề bị rúng động vì Ngài ở bên phải con.
Vì thế, lòng con vui vẻ, linh hồn con mừng rỡ; Thân xác con cũng được an nghỉ.
Vì Chúa sẽ không bỏ linh hồn con trong chốn âm phủ; Cũng không để người trung tín của Ngài thấy nơi mộ phần.
Chúa sẽ chỉ cho con biết con đường sự sống; Trước mặt Chúa có trọn niềm hoan lạc, Bên phải Chúa có điều vui sướng vô cùng.
Đức Giê-hô-va ôi! Xin lắng nghe và xét lẽ công chính cho con; Để ý đến tiếng kêu cầu của con; Xin lắng tai nghe lời cầu nguyện của con, Từ đôi môi không giả dối.
Nguyện Chúa bênh vực công lý cho con; Xin mắt Ngài xem xét điều ngay thẳng.
Chúa đã dò xét lòng con, viếng con lúc ban đêm; Ngài thử nghiệm con nhưng chẳng tìm thấy gì cả; Tôi quyết định miệng tôi sẽ không phạm tội.
Còn về công việc loài người, Con nhờ lời Chúa phán mà giữ mình Khỏi con đường của kẻ hung tàn.
Con bước đi vững chắc trong đường lối của Chúa, Chân con không vấp ngã.
Lạy Đức Chúa Trời, con kêu cầu với Ngài vì Ngài sẽ nhậm lời con. Xin Chúa nghiêng tai nghe lời cầu nguyện của con.
Lạy Đấng giải cứu những ai nương náu mình nơi tay phải của Ngài, Thoát khỏi những kẻ thù của họ, Xin bày tỏ sự nhân từ lạ lùng của Ngài.
Cầu Chúa bảo vệ con như con ngươi của mắt; Xin giấu con dưới bóng cánh của Ngài,
Khỏi kẻ ác áp bức con, Khỏi kẻ tử thù vây phủ con.
Chúng đóng chặt lòng mình lại; Miệng chúng nói cách kiêu căng.
Chúng vây phủ chúng con mỗi bước, Mắt chúng dòm ngó để tìm cách quật ngã chúng con.
Chúng giống như sư tử mê mồi, Như sư tử tơ ẩn mình rình rập.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin trỗi dậy, đối mặt và đánh đổ chúng! Dùng gươm của Ngài mà giải cứu linh hồn con khỏi kẻ ác.
Đức Giê-hô-va ôi! Xin dùng tay Ngài giải cứu con khỏi bọn người trần tục, Là những kẻ mà phần của chúng chỉ có trong đời nầy. Ngài cho bụng chúng đầy dẫy những vật mà Ngài dành cho chúng; Con cái chúng cũng được dư dật Và để lại phần còn dư cho hậu tự mình.
Nhưng con sẽ nhờ sự công chính của Chúa ban mà thấy mặt Chúa; Khi con tỉnh thức, con sẽ thỏa nguyện, vì được chiêm ngưỡng hình dạng Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài là năng lực của con, Con yêu mến Ngài.
Đức Giê-hô-va là vầng đá của con, đồn lũy của con và là Đấng giải cứu con. Đức Chúa Trời là vầng đá của con, là nơi con nương náu. Ngài cũng là cái khiên, là sừng cứu rỗi, và là nơi ẩn náu của con.
Đức Giê-hô-va đáng được ca ngợi, Con kêu cầu Ngài, Và được giải cứu khỏi các kẻ thù của con.
Dây sự chết vương vấn con, Thác hủy diệt làm con sợ hãi.
Các dây âm phủ quấn lấy con, Các bẫy sự chết giăng bắt con.
Trong cơn gian truân, con cầu khẩn Đức Giê-hô-va, Con kêu cầu Đức Chúa Trời của con. Từ đền thờ, Ngài nghe tiếng con Và tiếng kêu cứu của con thấu đến tai Ngài.
Bấy giờ đất rung chuyển, Nền các núi cũng rúng động vì Ngài nổi giận.
Khói bay ra từ lỗ mũi Ngài, Ngọn lửa hừng phát ra từ miệng Ngài Làm cho than cháy rực.
Ngài nghiêng trời và ngự xuống; Dưới chân Ngài dày đặc mây đen.
Ngài cưỡi Chê-ru-bim và bay, Ngài liệng trên cánh gió.
Ngài dùng bóng tối làm màn bao phủ, Lấy mây đen dày đặc nước làm trướng vây quanh.
Từ ánh sáng rực rỡ trước mặt Ngài, Xuyên qua các đám mây mù mịt, Có mưa đá và những tia chớp lòa lửa.
Đức Giê-hô-va nổi sấm sét trên các tầng trời, Tiếng của Đấng Chí Cao vang dội, Giữa cơn mưa đá và những tia chớp lòa lửa.
Ngài bắn tên làm quân thù tản lạc, Phát sấm chớp sáng lòa khiến chúng hoảng kinh.
Lạy Đức Giê-hô-va, bởi lời quở trách của Ngài, Và do hơi thở từ lỗ mũi Ngài, Đáy biển phơi trần Và các nền quả đất bị lộ ra.
Từ trên cao Ngài giơ tay ra nắm con, Rút con ra khỏi nước sâu.
Ngài giải cứu con khỏi kẻ thù hùng mạnh, Khỏi kẻ ghét con; Vì chúng mạnh hơn con gấp bội.
Trong ngày hoạn nạn, chúng tấn công con, Nhưng Đức Giê-hô-va nâng đỡ con.
Ngài đem con ra nơi khoảng khoát, Giải cứu con vì Ngài yêu thích con.
Đức Giê-hô-va đã ban thưởng cho con theo sự công chính của con, Báo trả cho con theo sự trong sạch của tay con.
Vì con đã tuân theo đường lối Đức Giê-hô-va, Không làm điều ác mà từ bỏ Đức Chúa Trời của con.
Vì mọi mệnh lệnh Ngài đều ở trước mặt con, Và luật lệ Ngài con nào dám bỏ.
Con sống trọn vẹn trước mặt Ngài Và giữ mình khỏi điều ác.
Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã báo cho con tùy sự công chính của con, Thưởng cho con theo sự thánh sạch của tay con trước mắt Ngài.
Ai trung tín, Chúa sẽ tỏ mình thành tín; Ai trọn vẹn, Chúa sẽ tỏ mình trọn vẹn.
Ai thanh sạch, Chúa sẽ tỏ mình thanh sạch; Còn ai mưu mẹo, Chúa sẽ tỏ mình khôn ngoan.
Chúa cứu người khiêm nhường Nhưng hạ kẻ có mắt tự cao xuống.
Chúa thắp sáng đèn của con; Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con chiếu rọi nơi tối tăm của con.
Nhờ Ngài con xông thẳng vào quân địch, Cậy Đức Chúa Trời, con sẽ vượt khỏi tường thành.
Còn Đức Chúa Trời, các đường lối Ngài là trọn vẹn; Lời của Đức Giê-hô-va đã được tinh luyện, Ngài là cái khiên cho những ai nương náu nơi Ngài.
Trừ Đức Giê-hô-va, ai là Đức Chúa Trời? Ngoài Đức Chúa Trời của chúng con, ai là vầng đá lớn?
Đức Chúa Trời thắt lưng con bằng năng lực, Và làm cho đường lối con trọn vẹn.
Ngài làm cho chân con lẹ như chân nai cái Và đặt con đứng vững trên các nơi cao.
Ngài tập tay con đánh giặc, Đến nỗi cánh tay con giương nổi cung đồng.
Chúa cũng đã ban cái khiên cứu rỗi cho con; Tay phải của Chúa nâng đỡ con Và sự khiêm nhu của Ngài làm con cao trọng.
Chúa mở rộng đường mỗi bước con đi, Để chân con không trượt ngã.
Con rượt đuổi kẻ thù của con và theo kịp; Con chỉ trở về sau khi đã tận diệt chúng.
Con đánh chúng quỵ xuống đến nỗi không đứng dậy được; Chúng ngã gục dưới chân con.
Vì Chúa đã thắt lưng con bằng sức lực để chiến đấu, Khiến kẻ thù phủ phục trước con.
Chúa khiến kẻ thù quay lưng chạy trốn; Còn những kẻ ghét con, con đã diệt chúng rồi.
Chúng kêu van nhưng không ai cứu giúp, Kêu cầu Đức Giê-hô-va nhưng Ngài chẳng đáp lời.
Con đánh tan chúng như bụi bay trong gió, Đổ chúng ra như bùn đất ngoài đường.
Chúa đã cứu con khỏi sự tranh chấp của dân chúng; Lập con làm đầu các nước; Một dân không quen biết sẽ phục vụ con.
Vừa nghe nói về con, chúng đã vâng lời rồi; Các dân ngoại khúm núm trước con.
Các dân ngoại đều tiêu tan nhuệ khí, Bỏ đồn binh run rẩy kéo ra hàng.
Đức Giê-hô-va hằng sống! Vầng Đá đáng chúc tôn của con! Nguyện Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi con được tôn cao!
Ngài là Đức Chúa Trời báo oán cho con, Khiến các dân quy phục con.
Ngài giải cứu con khỏi kẻ thù của con; Thật, Chúa nâng con cao hơn kẻ chống lại con, Và giải cứu con khỏi bọn hung tàn.
Vì vậy, lạy Đức Giê-hô-va, con sẽ ngợi ca Ngài giữa các nước Và chúc tụng danh của Ngài.
Chúa ban cho vua của Ngài những chiến thắng vĩ đại, Và làm ơn cho người được xức dầu của Ngài, Tức cho Đa-vít và cho dòng dõi người đến muôn đời.
Các tầng trời rao truyền vinh quang của Đức Chúa Trời, Bầu trời bày tỏ công việc tay Ngài làm.
Ngày nầy giảng về vinh quang của Đức Chúa Trời cho ngày kia, Đêm nầy truyền tri thức về Đức Chúa Trời cho đêm nọ.
Chẳng có tiếng, chẳng có lời nói; Cũng không ai nghe âm thanh của chúng.
Nhưng tiếng của chúng dội vang khắp đất Và lời của chúng truyền đến tận cùng thế giới. Trên bầu trời, Ngài đã dựng trại cho mặt trời.
Mặt trời khác nào tân lang ra khỏi loan phòng, Vui mừng chạy đua như một dũng sĩ.
Mặt trời ra từ phương trời nầy, Chạy vòng đến phương trời kia. Không gì tránh khỏi được sức nóng mặt trời.
Luật pháp của Đức Giê-hô-va là trọn vẹn, Bổ dưỡng linh hồn; Chứng ước Đức Giê-hô-va là chắc chắn, Làm cho kẻ ngu dại trở nên khôn ngoan.
Kỷ cương của Đức Giê-hô-va là ngay thẳng, Làm cho lòng vui mừng; Điều răn của Đức Giê-hô-va là trong sáng, Làm cho sáng mắt sáng lòng.
Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là trong sạch, Hằng còn đến đời đời; Các mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va là chân lý. Tất cả đều công chính.
Các điều ấy quý hơn vàng, Thật quý hơn vàng ròng; Lại ngọt hơn mật, Thật ngọt hơn mật của tàng ong.
Các điều ấy dạy dỗ đầy tớ Chúa; Ai gìn giữ chúng được phần thưởng lớn.
Ai nhận thức được các sai lầm mình? Xin Chúa tha những lầm lỗi mà con không biết.
Xin Chúa giữ đầy tớ Chúa khỏi cố ý phạm tội; Nguyện tội ấy không cai trị con Thì con sẽ không chỗ trách được, Và không phạm tội trọng.
Lạy Đức Giê-hô-va là Vầng Đá và là Đấng Cứu Chuộc của con, Nguyện lời nói của miệng con, Và sự suy ngẫm của lòng con được đẹp ý Ngài!
Nguyện Đức Giê-hô-va đáp lời vua trong ngày gian truân! Nguyện danh Đức Chúa Trời của Gia-cốp che chở ngươi!
Từ nơi thánh, xin Ngài đưa tay giúp vua, Từ Si-ôn xin Chúa đỡ nâng vua!
Nguyện Ngài nhớ đến mọi lễ vật vua dâng, Và vui nhậm những tế lễ thiêu của người! (Sê-la)
Cầu xin Ngài ban cho vua điều lòng mình ao ước, Và làm thành mọi kế hoạch của người!
Chúng tôi reo mừng vì vua được giải cứu, Nhân danh Đức Chúa Trời, chúng tôi giương cao ngọn cờ của chúng tôi. Nguyện Đức Giê-hô-va làm thành mọi điều vua khẩn cầu.
Bây giờ tôi biết Đức Giê-hô-va cứu người được xức dầu của Ngài; Từ trên trời thánh Ngài sẽ đáp lời vua cầu xin Bằng quyền năng cứu rỗi của tay phải Ngài.
Người nầy nhờ cậy xe cộ, kẻ khác nhờ cậy ngựa, Nhưng chúng ta nhờ cậy danh Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chúng ta.
Những người nhờ cậy ngựa và xe sẽ bị hạ xuống và ngã nhào, Còn chúng ta sẽ trỗi dậy và đứng thẳng lên.
Lạy Đức Giê-hô-va là Vua, xin cứu giúp! Nguyện Ngài nhậm lời chúng con trong ngày chúng con kêu cầu!
Lạy Đức Giê-hô-va, vua vui mừng nhờ năng lực Ngài, Vì sự giải cứu của Ngài, người hoan hỉ biết bao!
Chúa đã ban cho người điều lòng người ao ước, Cũng không từ chối điều môi người cầu xin. (Sê-la)
Vì Chúa lấy phước lành mà đón rước người; Đội trên đầu người mão triều bằng vàng ròng.
Người cầu xin Chúa ban sự sống, và Chúa đã ban cho người, Đến nỗi ban cho người ngày tháng dài lâu vô cùng.
Nhờ sự giải cứu của Chúa, người được vinh hiển lớn; Chúa mặc cho người sự tôn trọng và oai nghi.
Chúa ban cho người phước lành mãi mãi; Sự hiện diện của Chúa khiến người hớn hở, mừng vui.
Vì vua tin cậy Đức Giê-hô-va, Nhờ sự nhân từ của Đấng Chí Cao, Người sẽ không rúng động.
Tay vua sẽ bắt được tất cả kẻ thù của Ngài; Tay phải vua sẽ tóm lấy những kẻ ghét Ngài.
Khi Chúa hiện diện, Ngài làm cho chúng như lò lửa hừng; Trong cơn thịnh nộ, Đức Giê-hô-va sẽ nuốt chúng Và lửa sẽ thiêu đốt chúng đi.
Chúa sẽ hủy diệt con cháu chúng khỏi mặt đất, Và dòng dõi chúng khỏi con cái loài người.
Dù chúng toan tính chống lại Chúa Và dùng mưu kế hiểm độc, chúng cũng không thể thành công.
Chúa sẽ khiến chúng quay lưng bỏ chạy, Ngài giương cung nhắm vào mặt chúng.
Lạy Đức Giê-hô-va, nguyện Ngài được tôn cao trong sức mạnh Ngài! Chúng con sẽ hát xướng và ngợi ca quyền năng của Ngài.
Đức Chúa Trời của con ôi! Đức Chúa Trời của con ôi! Sao Ngài từ bỏ con? Sao Ngài đứng xa không giúp đỡ con và chẳng nghe lời rên xiết của con?
Đức Chúa Trời của con ôi! Ban ngày con kêu cầu nhưng Chúa không đáp lại, Ban đêm cũng vậy, nhưng con nào được yên nghỉ đâu.
Còn Chúa là thánh, Ngài ngự giữa sự ca ngợi của Y-sơ-ra-ên.
Tổ phụ chúng con nhờ cậy nơi Chúa, Họ nhờ cậy Ngài và được giải cứu.
Họ kêu cầu với Chúa và được giải thoát, Họ nhờ cậy Ngài và không bị hổ thẹn.
Nhưng con là một con sâu chứ không phải con người; Bị loài người sỉ nhục, bị thiên hạ khinh khi.
Mọi người thấy con đều nhạo cười, Trề môi lắc đầu mà nói:
“Nó phó thác mình cho Đức Giê-hô-va, hãy để Ngài giải cứu nó; Vì Ngài hài lòng về nó, hãy để Ngài giải thoát nó!”
Phải, chính Chúa đem con ra khỏi lòng mẹ; Khiến con tin cậy khi nằm trên ngực của mẹ con.
Từ trong tử cung, con đã được giao cho Chúa; Chúa là Đức Chúa Trời của con từ khi con mới lọt lòng.
Xin đừng cách xa con Vì sự gian truân gần kề, Và không có ai cứu giúp.
Có nhiều bò đực vây quanh con, Những bò đực mập mạnh của Ba-san vây phủ con.
Chúng hả miệng ra, chực vồ nuốt con Khác nào sư tử đang xé mồi và gầm thét.
Con bị đổ ra như nước, Xương cốt con đều rã rời; Trái tim con như sáp Tan chảy trong mình con.
Sức lực con khô như miếng gốm Và lưỡi con dính nơi cổ họng; Chúa đặt con nằm trong bụi tro của sự chết.
Vì những con chó vây quanh con, Một lũ hung ác vây phủ con; Chúng đâm thủng tay và chân con.
Con có thể đếm hết xương cốt của con. Chúng không ngớt nhìn chòng chọc vào con;
Chúng chia nhau áo xống của con; Bắt thăm để lấy áo choàng của con.
Đức Giê-hô-va ôi! Xin đừng cách xa con; Lạy Chúa quyền năng của con, xin mau mau đến giúp đỡ con.
Xin giải cứu linh hồn con khỏi gươm, Và mạng sống con khỏi loài chó.
Chúa đã nhậm lời con, Cứu con khỏi mồm sư tử, Và các sừng trâu rừng,
Con sẽ rao truyền danh Chúa cho anh em con Và ca ngợi Chúa giữa hội chúng.
Hỡi những người kính sợ Đức Giê-hô-va, hãy ca ngợi Ngài! Hỡi tất cả con cháu Gia-cốp, hãy tôn kính Ngài! Hỡi tất cả dòng dõi Y-sơ-ra-ên, hãy kính sợ Ngài.
Vì Ngài không khinh bỉ hay ghê tởm Cảnh hoạn nạn của kẻ nghèo khổ; Cũng không giấu mặt Ngài với người ấy, Nhưng lắng nghe tiếng kêu cứu của người.
Sự ca ngợi của con ở giữa hội lớn phát xuất từ Chúa; Con sẽ trả xong sự hứa nguyện của con trước mặt những người kính sợ Ngài.
Người nhu mì sẽ ăn và được no nê; Những người tìm kiếm Đức Giê-hô-va sẽ ca ngợi Ngài; Nguyện người có lòng nhu mì được sống muôn đời.
Khắp cả trái đất sẽ nhớ Và trở về cùng Đức Giê-hô-va, Họ hàng muôn dân Sẽ thờ lạy trước mặt Ngài.
Vì vương quyền thuộc về Đức Giê-hô-va, Ngài cai trị trên muôn dân.
Tất cả người giàu trên thế gian sẽ ăn uống và thờ phượng; Mọi kẻ trở về bụi đất, Và những người không thể bảo tồn mạng sống mình, Đều sẽ quỳ lạy trước mặt Ngài.
Một dòng dõi sẽ phục vụ Ngài; Người ta sẽ rao truyền danh Chúa cho hậu thế,
Dòng dõi ấy sẽ công bố đức công chính của Ngài; Thuật lại cho thế hệ mai sau rằng Đức Giê-hô-va đã làm việc ấy.
Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi, Tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì.
Ngài khiến tôi an nghỉ nơi đồng cỏ xanh tươi, Dẫn tôi đến mé nước bình tịnh.
Ngài làm tươi mới linh hồn tôi, Dẫn tôi vào các lối công chính Vì cớ danh Ngài.
Dù khi con đi trong trũng bóng chết Con sẽ chẳng sợ tai họa nào, Vì Chúa ở cùng con; Cây trượng và cây gậy của Chúa An ủi con.
Chúa dọn bàn cho con Trước mặt kẻ thù nghịch con; Chúa xức dầu cho đầu con, Chén con đầy tràn.
Thật vậy, trọn đời tôi, Phước hạnh và sự thương xót sẽ theo tôi; Tôi sẽ ở trong nhà Đức Giê-hô-va Cho đến lâu dài.
Đất và muôn vật trên đất, Thế giới và những người ở trong đó đều thuộc về Đức Giê-hô-va.
Vì Ngài lập trái đất trên biển cả, Và đặt nền nó trên các dòng nước.
Ai sẽ lên núi Đức Giê-hô-va? Ai sẽ đứng nổi trong nơi thánh Ngài?
Đó là người có tay trong sạch và lòng thanh khiết, Không hướng linh hồn mình vào thần tượng hư không, Cũng chẳng thề nguyện giả dối.
Người ấy sẽ nhận được phước từ nơi Đức Giê-hô-va Và sự công chính từ nơi Đức Chúa Trời là Đấng cứu rỗi mình.
Đó là dòng dõi của những người tìm kiếm Đức Giê-hô-va, Tức là những người tìm kiếm mặt Đức Chúa Trời của Gia-cốp. (Sê-la)
Hỡi các cổng, hãy ngẩng đầu lên! Hỡi các cửa cổ kính, hãy mở cao lên! Thì Vua vinh hiển sẽ vào.
Vua vinh hiển nầy là ai? Chính là Đức Giê-hô-va đầy sức mạnh và quyền năng, Đức Giê-hô-va mạnh mẽ trong chiến trận.
Hỡi các cổng, hãy ngẩng đầu lên! Hỡi các cửa đời đời, hãy mở cao lên! Thì Vua vinh hiển sẽ vào.
Vua vinh hiển nầy là ai? Đó là Đức Giê-hô-va vạn quân, Chính Ngài là Vua vinh hiển. (Sê-la)
Lạy Đức Giê-hô-va, linh hồn con hướng về Ngài.
Đức Chúa Trời của con ôi! Con tin cậy nơi Ngài. Nguyện con không bị hổ thẹn; Đừng để kẻ thù của con thắng hơn con.
Thật chẳng ai trông cậy Ngài mà bị hổ thẹn; Ngoại trừ những kẻ đang tâm phản bội.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin cho con biết các đường lối Ngài Và dạy dỗ con các nẻo đường Ngài.
Xin dẫn con trong chân lý của Ngài và dạy dỗ con, Vì Ngài là Đức Chúa Trời, Đấng cứu rỗi con; Hằng ngày con trông đợi Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin nhớ lại sự thương xót và lòng nhân từ của Ngài, Vì hai điều ấy hằng có từ xưa.
Xin đừng nhớ các tội lỗi của con ở tuổi thanh xuân hay sự nổi loạn của con; Lạy Đức Giê-hô-va, xin nhớ đến con tùy theo sự thương xót Và lòng nhân từ của Ngài.
Đức Giê-hô-va là tốt lành và chính trực, Vì thế, Ngài chỉ dạy con đường cho kẻ có tội.
Ngài dẫn dắt người khiêm nhường trong sự chính trực, Chỉ dạy con đường Ngài cho kẻ nhu mì.
Tất cả đường lối của Đức Giê-hô-va đều là nhân từ và chân thật Cho kẻ nào gìn giữ giao ước và chứng cớ của Ngài.
Đức Giê-hô-va ôi! Vì cớ danh Ngài, Xin tha thứ cho con, vì con phạm tội nặng.
Ai là người kính sợ Đức Giê-hô-va? Ngài sẽ chỉ dạy cho người ấy con đường mình phải chọn.
Linh hồn người sẽ được ở nơi tốt lành, Và con cháu người sẽ được đất làm sản nghiệp.
Đức Giê-hô-va kết bạn cùng người kính sợ Ngài, Và tỏ cho người ấy biết giao ước của Ngài.
Mắt con hằng ngưỡng vọng Đức Giê-hô-va, Vì Ngài sẽ gỡ chân con ra khỏi lưới.
Cầu xin Chúa đoái xem con và thương xót con, Vì con cô đơn và khốn khổ.
Sự bối rối nơi lòng con thêm nhiều; Xin Chúa cứu con khỏi hoạn nạn.
Xin xem xét nỗi khốn khổ và hoạn nạn của con Và tha mọi tội lỗi con.
Hãy xem kẻ thù của con đông đến dường bao; Chúng ghét con, hung bạo đến thế nào!
Xin Chúa gìn giữ linh hồn con và giải cứu con; Đừng để con bị hổ thẹn, vì con nương náu mình nơi Chúa.
Nguyện sự thanh liêm và sự chính trực bảo vệ con, Vì con trông đợi Chúa.
Đức Chúa Trời ôi! Xin cứu chuộc dân Y-sơ-ra-ên Khỏi mọi gian truân.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin biện minh cho con, Vì con đã bước đi trong sự liêm chính; Con tin cậy Đức Giê-hô-va, không hề nao núng.
Đức Giê-hô-va ôi! Xin tra xét và thử thách con, Dò xét lòng dạ và tâm trí con.
Vì sự nhân từ Chúa ở trước mặt con, Và con luôn đi theo chân lý của Ngài.
Con không ngồi chung với kẻ dối trá, Cũng chẳng giao du với bọn đạo đức giả.
Con ghét bọn làm ác, Chẳng chịu ngồi chung với kẻ gian tà.
Lạy Đức Giê-hô-va, con sẽ rửa tay trong sự vô tội, Và đi vòng quanh bàn thờ của Ngài,
Để lớn tiếng tạ ơn Và thuật lại các công việc lạ lùng của Chúa.
Lạy Đức Giê-hô-va, con yêu mến ngôi nhà Ngài ở, Và nơi vinh quang Ngài ngự.
Xin đừng cất linh hồn con đi chung với tội nhân, Cũng đừng dứt mạng sống con cùng với bọn khát máu.
Tay chúng làm chuyện xấu xa, Tay phải chúng đầy của hối lộ.
Còn con, con sẽ bước đi trong sự liêm chính, Xin cứu chuộc con và thương xót con.
Chân con đứng trên đất bằng phẳng; Con sẽ ca ngợi Đức Giê-hô-va giữa hội chúng.
Đức Giê-hô-va là ánh sáng và là sự cứu rỗi của tôi, Tôi sẽ sợ ai? Đức Giê-hô-va là đồn lũy của mạng sống tôi, Tôi sẽ hãi hùng ai?
Khi kẻ ác và quân thù tấn công tôi, Chúng muốn ăn tươi nuốt sống tôi Thì chúng đều vấp ngã.
Dù một đạo binh đóng đối diện với tôi, Lòng tôi sẽ chẳng sợ; Dù giặc giã nổi lên chống lại tôi, Khi ấy tôi vẫn vững tin nơi Chúa.
Tôi đã xin Đức Giê-hô-va một điều Và sẽ tìm kiếm điều ấy. Đó là tôi muốn trọn đời tôi Được ở trong nhà Đức Giê-hô-va Để nhìn xem sự tốt đẹp của Đức Giê-hô-va Và cầu hỏi trong đền của Ngài.
Vì trong ngày tai họa, Ngài sẽ che chở tôi trong lều của Ngài, Giấu tôi nơi kín đáo của trại Ngài, Và Ngài sẽ đặt tôi trên một vầng đá.
Bấy giờ tôi sẽ ngẩng đầu Cao hơn các kẻ thù vây quanh tôi; Trong trại Ngài, Tôi sẽ dâng tế lễ với tiếng hát vui mừng; Tôi sẽ hát mừng và ca tụng Đức Giê-hô-va.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin nghe tiếng con kêu cầu với Ngài: Xin thương xót con và nhậm lời con.
Khi Chúa phán: “Các con hãy tìm kiếm mặt Ta” Thì lòng con thưa với Chúa rằng: “Đức Giê-hô-va ôi! Con sẽ tìm kiếm mặt Ngài.”
Lạy Đức Chúa Trời là Đấng cứu rỗi con, Xin đừng ẩn mặt Chúa với con, Chớ xua đuổi đầy tớ Chúa trong khi Chúa nổi giận. Khi trước Chúa là sự tiếp trợ của con. Xin chớ lìa con, chớ bỏ con.
Khi cha mẹ từ bỏ con Thì Đức Giê-hô-va sẽ tiếp nhận con.
Đức Giê-hô-va ôi! Xin dạy con đường lối của Ngài; Xin dẫn con vào nẻo bằng phẳng Vì cớ các kẻ thù con.
Chớ phó con cho ý muốn của kẻ thù con, Vì chúng tung ra những lời chứng dối Và buông lời hung bạo chống lại con.
Con tin chắc sẽ thấy sự tốt lành của Đức Giê-hô-va Trong đất người sống.
Hãy trông đợi Đức Giê-hô-va; Hãy mạnh mẽ và can đảm! Phải, hãy trông đợi Đức Giê-hô-va!
Lạy Đức Giê-hô-va, con kêu cầu Ngài là Vầng Đá của con; Xin đừng bịt tai cùng con. Vì nếu Ngài cứ im lặng với con, Con sẽ giống như những kẻ xuống mồ.
Khi con giơ tay hướng về nơi chí thánh của Chúa Mà kêu cầu với Ngài, Xin nghe tiếng khẩn cầu của con.
Xin chớ lôi con đi cùng với kẻ dữ Hoặc với kẻ làm ác; Là những kẻ nói hòa bình với người lân cận mình, Nhưng trong lòng chứa đầy gian ác.
Xin Chúa phạt chúng tùy theo công việc của chúng, Và tùy theo hành vi gian ác của chúng; Xin Chúa báo trả theo việc tay chúng đã làm, Và phạt chúng đáng với tội của chúng.
Vì chúng không nhận biết các công việc của Đức Giê-hô-va, Và công trình của tay Ngài. Ngài sẽ phá đổ chúng, Không xây dựng chúng nữa.
Đáng chúc tụng Đức Giê-hô-va! Vì Ngài đã nghe tiếng cầu khẩn của con.
Đức Giê-hô-va là sức mạnh và là cái khiên của con; Lòng con tin cậy Ngài và con được cứu giúp. Vì vậy, lòng con rất mừng rỡ; Con sẽ lấy bài hát mà ca ngợi Ngài.
Đức Giê-hô-va là sức mạnh của dân Ngài, Là đồn lũy cứu rỗi cho người được xức dầu của Ngài.
Xin Chúa cứu con dân Ngài và ban phước cho cơ nghiệp Ngài; Xin chăn dắt và nâng đỡ họ đời đời.
Hỡi con cái của Đức Chúa Trời, Hãy tôn Đức Giê-hô-va vinh hiển và quyền năng.
Hãy tôn Đức Giê-hô-va vinh hiển xứng đáng cho danh Ngài; Hãy trang sức bằng sự thánh khiết mà thờ phượng Đức Giê-hô-va.
Tiếng Đức Giê-hô-va vang trên mặt nước; Giê-hô-va Đức Chúa Trời vinh hiển nổi sấm sét, Trên biển sâu.
Tiếng Đức Giê-hô-va mạnh mẽ; Tiếng Đức Giê-hô-va oai nghiêm.
Tiếng Đức Giê-hô-va bẻ gãy cây bá hương; Phải, Đức Giê-hô-va bẻ gãy cây bá hương của Li-ban.
Ngài khiến núi Li-ban nhảy như bò con, Ngài khiến núi Si-ri-ôn nhảy như bò tơ rừng.
Tiếng Đức Giê-hô-va phát sấm chớp sáng lòe.
Tiếng Đức Giê-hô-va làm cho hoang mạc rúng động; Đức Giê-hô-va làm cho hoang mạc Ca-đe rúng động.
Tiếng Đức Giê-hô-va khiến nai cái đẻ con, Làm cho rừng cây trụi lá; Trong đền Ngài, mọi người đều reo lên: “Vinh hiển thay!”
Đức Giê-hô-va ngự trên nước lụt; Phải, Đức Giê-hô-va ngự trên ngôi vua đến đời đời.
Cầu xin Đức Giê-hô-va ban sức mạnh cho dân Ngài! Cầu xin Đức Giê-hô-va ban phước bình an cho dân Ngài.
Đức Giê-hô-va ôi! Con tôn cao Ngài vì Ngài nâng con lên, Không cho phép kẻ thù vui mừng vì con.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con ôi! Con kêu cầu với Ngài Và Ngài đã chữa lành con.
Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài đã đem linh hồn con khỏi âm phủ, Và gìn giữ mạng sống con để con không xuống mồ.
Hỡi các thánh của Đức Giê-hô-va, hãy ca ngợi Ngài. Và cảm tạ danh thánh của Ngài.
Vì cơn giận của Ngài chỉ trong chốc lát, Còn ân huệ của Ngài hằng có trọn đời. Sự khóc lóc đến trọ ban đêm, Nhưng buổi sáng liền có sự vui mừng.
Về phần con, trong lúc thịnh vượng con có nói rằng: “Ta chẳng hề rúng động.”
Lạy Đức Giê-hô-va, nhờ ơn Ngài, Núi của con được lập vững bền. Nhưng khi Ngài ẩn mặt, Thì con liền bối rối.
Đức Giê-hô-va ôi! Con đã kêu cầu Và nài xin với Ngài rằng:
“Làm đổ huyết con, khiến con xuống mồ Thì có ích gì không? Bụi tro sẽ ca ngợi Chúa ư? Nó sẽ truyền rao sự thành tín của Ngài được chăng?
Đức Giê-hô-va ôi! Xin lắng nghe và thương xót con; Đức Giê-hô-va ôi! Xin giúp đỡ con.”
Ngài đã đổi nỗi buồn rầu của con ra hoan lạc, Ngài mở áo tang con Và thắt lưng con bằng sự vui mừng.
Vì thế, linh hồn con ca ngợi Chúa và không nín lặng. Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, con sẽ cảm tạ Chúa đến đời đời.
Lạy Đức Giê-hô-va, con nương náu mình nơi Ngài; Đừng bao giờ để con bị hổ thẹn; Xin lấy sự công chính của Ngài mà giải cứu con.
Xin Chúa nghiêng tai nghe con, Mau đến giải cứu con. Xin làm vầng đá ẩn náu cho con, Một đồn lũy vững chắc để cứu con.
Vì Chúa thật là vầng đá và đồn lũy con; Vì danh Ngài, xin dẫn dắt con.
Xin Chúa gỡ con ra khỏi lưới mà chúng đã giăng, Vì Ngài là nơi nương náu của con.
Con phó thác tâm linh con vào tay Chúa; Lạy Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chân thật, Ngài đã cứu chuộc con.
Con ghét những kẻ thờ hình tượng hư không, Nhưng con tin cậy nơi Đức Giê-hô-va.
Con sẽ vui mừng và hoan hỉ trong sự nhân từ của Chúa Vì Chúa đã đoái thương cảnh hoạn nạn của con, Và biết nỗi sầu khổ của linh hồn con.
Chúa không nộp con vào tay kẻ thù, Nhưng đặt chân con nơi rộng rãi.
Đức Giê-hô-va ôi! Xin thương xót con vì con đang gặp gian truân. Mắt con mỏi mòn vì buồn rầu, Linh hồn và thân thể con cũng vậy.
Sự sống con tiêu hao vì ưu phiền, Năm tháng con sút giảm do than thở; Vì tội lỗi mà sức lực con hao mòn Và xương cốt con rã rời.
Với kẻ thù, con trở thành điều ô nhục, Với người lân cận, con là kẻ đáng khinh; Với những người quen biết, con là vật đáng sợ, Ai thấy con ngoài đường cũng phải tránh xa.
Con bị chúng lãng quên trong lòng như kẻ đã chết. Con giống như cái bình bể nát.
Con bị nhiều kẻ vu khống; Nỗi kinh hãi vây quanh! Chúng âm mưu hại con, Toan cất mạng sống của con.
Nhưng Đức Giê-hô-va ôi! Con tin cậy nơi Ngài; Con nói: “Ngài là Đức Chúa Trời của con”
Sinh mệnh con ở trong tay Chúa; Xin giải cứu con khỏi tay kẻ thù và kẻ bắt bớ con.
Xin mặt Chúa chiếu sáng trên đầy tớ Chúa; Lấy sự nhân từ Chúa mà cứu vớt con.
Đức Giê-hô-va ôi! Nguyện con không bị hổ thẹn Vì con cầu khẩn Ngài. Nguyện kẻ ác phải xấu hổ Và nín lặng nơi âm phủ!
Nguyện môi dối trá phải câm đi! Vì chúng lấy lời xấc xược, kiêu ngạo và khinh bỉ Mà nói nghịch người công chính.
Sự nhân từ của Chúa thật lớn thay! Chúa dành sự nhân từ cho người kính sợ Ngài, Và ban cho những ai nương náu mình nơi Ngài, Trước mặt mọi người.
Chúa giấu họ nơi kín đáo trước mặt Chúa Cách xa mưu kế của loài người; Chúa che chở họ trong lều trại Cách xa miệng lưỡi tranh cạnh.
Đáng ca ngợi Đức Giê-hô-va Vì Ngài đã tỏ lòng nhân từ lạ lùng với con Khi con bị bao vây trong thành.
Trong cơn bối rối con nói rằng: “Con bị diệt mất trước mắt Chúa.” Nhưng khi con kêu cầu với Chúa, Ngài nghe tiếng nài xin của con.
Hỡi các thánh của Đức Giê-hô-va, hãy yêu mến Ngài! Đức Giê-hô-va gìn giữ người trung tín Nhưng báo trả nặng nề kẻ ăn ở kiêu ngạo.
Hỡi những người trông đợi Đức Giê-hô-va, Hãy vững lòng bền chí!
Phước cho người nào được tha sự vi phạm mình, Được khỏa lấp tội lỗi mình!
Phước cho người nào Đức Giê-hô-va không kể là gian ác Và trong lòng không có điều dối trá!
Khi con nín lặng, các xương cốt con hao mòn Và con rên xiết trọn ngày.
Vì ngày và đêm tay Chúa đè nặng trên con; Sức con tiêu hao như bởi cơn hạn mùa hè. (Sê-la)
Con đã thú tội cùng Chúa, Không giấu gian ác con; Con nói: “Con sẽ xưng các sự vi phạm con với Đức Giê-hô-va, Và Chúa tha tội cho con.” (Sê-la)
Vì thế, mọi người tin kính Đều cầu nguyện cùng Chúa trong thì giờ có cần; Chắc chắn khi có nước lụt tràn tới Thì sẽ không lan đến họ.
Chúa là nơi trú ẩn của con; Chúa bảo vệ con khỏi cơn gian truân; Chúa lấy bài ca giải cứu mà bao phủ con. (Sê-la)
Ta sẽ dạy dỗ con, chỉ cho con nẻo đường phải đi; Mắt Ta sẽ dõi theo mà khuyên dạy con.
Đừng như con ngựa và con la là vật vô tri Phải dùng hàm khớp và dây cương mới giữ chúng được, Nếu không, chúng chẳng chịu đến gần con.
Kẻ ác có nhiều nỗi đau đớn Nhưng người nào tin cậy Đức Giê-hô-va Thì sự nhân từ bao phủ người ấy.
Hỡi người công chính, hãy vui vẻ và mừng rỡ nơi Đức Giê-hô-va! Hỡi những ai có lòng ngay thẳng, hãy reo mừng!
Hỡi người công chính, hãy vui vẻ nơi Đức Giê-hô-va! Sự ca ngợi Chúa thích đáng cho người ngay thẳng.
Hãy dùng đàn lia mà cảm tạ Đức Giê-hô-va; Hãy dùng đàn hạc mười dây mà ca ngợi Ngài!
Hãy hát cho Ngài một bài ca mới, Và tấu khúc du dương hòa với tiếng reo mừng!
Vì lời Đức Giê-hô-va là ngay thẳng, Và mọi việc Ngài làm bày tỏ sự thành tín.
Ngài yêu sự công chính và điều chính trực; Khắp đất đầy dẫy sự nhân từ của Đức Giê-hô-va.
Các tầng trời được làm nên bởi lời Đức Giê-hô-va, Tất cả đạo binh tinh tú do hơi thở của miệng Ngài mà có.
Ngài thu tất cả nước biển lại thành đống, Và chứa nước sâu trong kho.
Khắp thiên hạ hãy kính sợ Đức Giê-hô-va; Các dân trên đất hãy run sợ trước Ngài!
Vì Ngài phán thì mọi sự liền có; Ngài truyền lệnh thì muôn vật vững bền.
Đức Giê-hô-va làm thất bại mưu đồ của các nước, Ngài phá hỏng mục đích của các dân.
Kế hoạch của Đức Giê-hô-va được vững lập đời đời, Tư tưởng của lòng Ngài còn đời nầy sang đời kia.
Quốc gia nào có Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời mình, Dân tộc nào được Ngài chọn làm cơ nghiệp mình, Được phước vô cùng!
Đức Giê-hô-va từ trên trời nhìn xuống, Ngài nhìn thấy tất cả con cái loài người.
Từ ngai Chúa ngự, Ngài nhìn xuống, Ngài xem xét mọi người ở thế gian.
Ngài nắn nên lòng của mọi người, Và xem xét mọi việc làm của họ.
Chẳng có vua nào nhờ binh đông mà được giải cứu, Không có dũng sĩ nào bởi sức mạnh phi thường mà được thoát thân.
Nhờ ngựa để được cứu là vô ích, Uy lực của nó cũng chẳng giải cứu được ai.
Kìa con mắt của Đức Giê-hô-va đoái xem những người kính sợ Ngài, Và những người hi vọng nơi lòng nhân từ Ngài
Để cứu linh hồn họ khỏi sự chết Và bảo tồn mạng sống họ trong cơn đói kém.
Linh hồn chúng tôi trông đợi Đức Giê-hô-va; Ngài là nguồn tiếp trợ và cái khiên của chúng tôi.
Lòng chúng tôi sẽ vui vẻ nơi Ngài Vì chúng tôi đã tin cậy nơi Danh Thánh của Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin sự nhân từ Ngài tuôn đổ trên chúng con, Đúng như chúng con hi vọng nơi Ngài.
Tôi sẽ chúc tụng Đức Giê-hô-va luôn luôn, Sự ca ngợi Ngài hằng ở nơi miệng tôi.
Linh hồn tôi sẽ khoe mình về Đức Giê-hô-va, Những người nhu mì sẽ nghe và vui mừng.
Hãy cùng tôi tôn kính Đức Giê-hô-va, Chúng ta cùng nhau tôn cao danh của Ngài.
Tôi đã tìm cầu Đức Giê-hô-va và Ngài đáp lời tôi, Giải cứu tôi khỏi các điều sợ hãi.
Người nào ngưỡng trông Chúa thì được chiếu sáng; Họ chẳng bao giờ bị thẹn mặt.
Kẻ khốn cùng nầy kêu cầu và Đức Giê-hô-va nhậm lời, Ngài giải cứu người khỏi mọi nỗi gian truân.
Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đóng trại chung quanh những người kính sợ Ngài Và giải cứu họ.
Hãy nếm thử và nhận biết Đức Giê-hô-va tốt đẹp dường bao! Phước cho người nào nương náu mình nơi Ngài!
Hỡi các thánh của Đức Giê-hô-va, hãy kính sợ Ngài! Vì người nào kính sợ Ngài chẳng thiếu thốn gì hết.
Sư tử tơ có thể thiếu thốn và đói khát, Nhưng người nào tìm cầu Đức Giê-hô-va sẽ chẳng thiếu điều tốt lành nào.
Hỡi các con, hãy lắng nghe ta; Ta sẽ dạy các con sự kính sợ Đức Giê-hô-va.
Ai là người ham thích sự sống, Và ước mong hưởng chuỗi ngày phước lành?
Hãy giữ lưỡi mình khỏi điều ác, Và môi mình khỏi lời xảo quyệt.
Hãy tránh điều ác và làm điều lành, Hãy tìm kiếm hòa bình và theo đuổi nó.
Mắt Đức Giê-hô-va đoái xem người công chính, Tai Ngài lắng nghe tiếng kêu cầu của họ.
Nhưng mặt Đức Giê-hô-va chống lại kẻ làm ác Để xóa sạch kỷ niệm của chúng khỏi mặt đất.
Người công chính kêu cầu, Đức Giê-hô-va lắng nghe Và giải cứu người ấy khỏi mọi gian truân.
Đức Giê-hô-va ở gần những người có lòng đau thương Và cứu vớt kẻ nào có tâm hồn thống hối.
Người công chính gặp nhiều tai họa; Nhưng Đức Giê-hô-va luôn luôn giải cứu người.
Ngài gìn giữ tất cả xương cốt người ấy, Không để một cái nào bị gãy.
Điều dữ sẽ giết kẻ ác; Còn những kẻ ghét người công chính sẽ bị định tội.
Đức Giê-hô-va cứu chuộc linh hồn của đầy tớ Ngài; Tất cả những ai nương náu mình nơi Ngài sẽ không bị định tội.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin tranh luận với kẻ tranh luận cùng con, Xin chiến đấu với kẻ chiến đấu chống lại con.
Xin cầm lấy khiên nhỏ và lớn, Trỗi dậy để giúp đỡ con.
Xin rút lao và giáo cản đường Kẻ nào rượt đuổi con. Xin phán với con: “Ta là sự cứu rỗi của con.”
Nguyện những kẻ tìm hại mạng sống con Phải bị hổ thẹn và sỉ nhục; Những kẻ âm mưu hại con Phải thối lui và bị xấu hổ.
Nguyện chúng như trấu bị gió đùa đi, Cầu xin thiên sứ Đức Giê-hô-va đuổi chúng đi!
Nguyện con đường của chúng tối tăm và trơn trợt, Cầu xin thiên sứ Đức Giê-hô-va đuổi theo chúng!
Vì chúng giăng lưới vô cớ để bẫy con; Và đào hầm vô cớ để hại mạng sống con.
Nguyện sự hủy diệt bất ngờ ập đến, Làm cho chúng sa vào lưới chúng giăng; Và chúng rơi vào chỗ hủy diệt.
Linh hồn con sẽ vui vẻ trong Đức Giê-hô-va, Mừng rỡ về sự cứu rỗi của Ngài.
Các xương cốt con sẽ nói: “Lạy Đức Giê-hô-va, ai giống như Ngài? Ngài giải cứu người yếu đuối khỏi kẻ mạnh bạo, Cứu người khốn cùng và kẻ thiếu thốn khỏi bọn bóc lột.”
Bọn chứng gian ấy nổi lên; Tra hỏi những việc con không hề biết.
Chúng lấy dữ trả lành; Linh hồn con cô đơn, tuyệt vọng.
Còn khi chúng ốm đau, Con mặc vải sô, Kiêng ăn, ép linh hồn mình. Lời cầu nguyện con trở vào ngực con.
Con coi chúng như bạn hữu, như anh em; Con cúi đầu bước đi, buồn thảm Như than khóc mẹ mình.
Nhưng khi con vấp ngã, chúng họp lại vui mừng, Bọn vô lại họp nhau chống con mà con chẳng biết; Chúng cấu xé con không ngừng.
Cùng với quân vô đạo mà chế nhạo con. Chúng nghiến răng giận dữ chống lại con
Chúa ôi! Ngài cứ lặng nhìn cho đến bao giờ? Xin cứu linh hồn con khỏi bị chúng hủy diệt. Và rút mạng sống con khỏi bầy sư tử.
Con sẽ cảm tạ Chúa trong hội chúng lớn, Ca ngợi Ngài giữa đoàn dân đông.
Xin đừng để kẻ thù của con là bọn dối trá được vui mừng. Cũng đừng để các kẻ ghét con vô cớ nheo mắt trêu chọc con.
Vì chúng không nói lời hòa bình, Nhưng mưu toan lừa dối Những người sống an lành trong xứ.
Chúng hả hoác miệng ra nghịch lại con, Và nói: “Ha, ha! Mắt ta đã thấy điều đó rồi.”
Đức Giê-hô-va ôi! Ngài đã thấy điều đó, xin chớ làm thinh. Chúa ôi! Xin đừng cách xa con.
Lạy Đức Chúa Trời là Chúa của con! Xin thức dậy và đứng lên để bênh vực con.
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, Xin bênh vực con theo lẽ công chính của Chúa; Đừng để chúng đắc chí cười nhạo con.
Xin đừng để chúng nhủ thầm rằng: “A ha! Chúng ta đạt điều mình mong ước rồi.” Cũng đừng để chúng nói: “Chúng ta đã nuốt sống nó rồi.”
Mong cho kẻ vui mừng về tai họa con Sẽ bị hổ thẹn và nhục nhã. Người nào nổi lên chống lại con cách kiêu ngạo, Đều bị bao trùm bằng sự xấu hổ và sỉ nhục.
Còn ai bênh vực lẽ công chính cho con, Sẽ vui mừng hớn hở; Và luôn luôn nói: “Đức Giê-hô-va thật vĩ đại! Ngài vui lòng ban sự thịnh vượng cho đầy tớ Ngài.”
Vậy lưỡi con sẽ truyền rao sự công chính của Chúa Và ca ngợi Chúa suốt ngày.
Tội lỗi lên tiếng trong lòng kẻ ác rằng, Chẳng cần kính sợ Đức Chúa Trời gì cả.
Vì nó giương mắt tự cao rằng, Tội ác mình sẽ không bị bại lộ và không ai ghét mình cả.
Các lời của miệng nó đều độc ác và dối gạt; Nó đã từ bỏ nếp sống khôn ngoan và từ bỏ làm điều lành.
Nó mưu toan làm ác trên giường mình, Đứng trên con đường bất hảo, Và không từ bỏ điều dữ.
Lạy Đức Giê-hô-va, sự nhân từ Ngài vượt trên các tầng trời; Sự thành tín Ngài cao đến tận mây xanh.
Sự công chính của Chúa giống như núi non hùng vĩ; Sự phán xét của Ngài khác nào vực sâu thăm thẳm. Lạy Đức Giê-hô-va, xin Ngài bảo tồn loài người và thú vật,
Lạy Đức Chúa Trời, sự nhân từ Chúa quý giá biết bao! Con cái loài người nương náu mình dưới bóng cánh Chúa.
Họ nhờ sự dư dật của nhà Chúa mà được thỏa nguyện; Chúa sẽ cho họ uống nước từ dòng sông phước lạc của Ngài.
Vì nguồn sự sống ở nơi Chúa; Nhờ ánh sáng của Ngài, chúng con thấy ánh sáng.
Cầu Chúa ban sự nhân từ cho những người biết Chúa Và ban sự công chính của Ngài cho những ai có lòng ngay thẳng.
Xin đừng để chân kẻ kiêu ngạo theo kịp con, Cũng đừng cho tay kẻ ác xua đuổi con.
Kìa, những kẻ làm ác ngã gục; Chúng bị lật nhào, không thể trỗi dậy được.
Chớ phiền lòng vì kẻ làm dữ, Cũng đừng ganh tị kẻ làm điều gian ác.
Vì chẳng bao lâu chúng sẽ bị phát như cỏ, Và phải héo như cỏ tươi xanh.
Hãy tin cậy Đức Giê-hô-va và làm điều lành, Hãy ở trong xứ và nuôi mình bằng sự thành tín của Ngài.
Cũng hãy vui thỏa nơi Đức Giê-hô-va Thì Ngài sẽ ban cho ngươi điều lòng mình ao ước.
Hãy phó thác đường lối mình cho Đức Giê-hô-va Và nhờ cậy nơi Ngài thì chính Ngài sẽ làm thành điều nầy:
Ngài sẽ khiến sự công chính của ngươi lộ ra như ánh sáng, Và công lý của ngươi sáng tỏ như ban trưa.
Hãy yên tịnh trước mặt Đức Giê-hô-va và chờ đợi Ngài. Chớ phiền lòng vì kẻ thành công trong đường lối mình Hoặc vì kẻ thực hiện những mưu đồ độc ác.
Hãy dẹp cơn giận và bỏ lòng phẫn nộ; Chớ phiền lòng, bởi điều đó chỉ gây ra việc ác.
Vì những kẻ ác sẽ bị diệt vong, Nhưng người nào trông đợi Đức Giê-hô-va sẽ được đất làm cơ nghiệp.
Chẳng mấy chốc kẻ ác sẽ không còn. Dù ngươi có đến tận chỗ tìm hắn, cũng không thấy hắn đâu cả.
Còn người nhu mì sẽ nhận được đất làm cơ nghiệp, Và vui hưởng bình an thịnh vượng.
Kẻ ác lập mưu hại người công chính Và nghiến răng giận dữ với người,
Nhưng Chúa chê cười hắn Vì thấy ngày đoán phạt của hắn gần kề.
Kẻ ác rút gươm và giương cung Để triệt hạ người khốn cùng và kẻ thiếu thốn, Để giết hại người đi theo đường ngay lẽ phải.
Nhưng gươm của chúng sẽ đâm vào lòng chúng Và cung của chúng sẽ bị bẻ gãy.
Người công chính tuy ít của cải Còn hơn kẻ làm ác mà giàu có.
Vì cánh tay kẻ ác sẽ bị gãy, Nhưng Đức Giê-hô-va nâng đỡ người công chính.
Đức Giê-hô-va biết số ngày của người trọn vẹn Và cơ nghiệp họ sẽ còn đến đời đời.
Trong buổi gian nan họ không hề hổ thẹn; Trong ngày đói kém họ vẫn được no nê.
Còn kẻ ác sẽ hư mất; Kẻ thù của Đức Giê-hô-va sẽ như mỡ chiên con, Chúng bị thiêu đốt, tiêu tan như mây khói.
Kẻ ác mượn mà không trả lại, Còn người công chính cứ làm ơn và ban cho.
Vì người được Đức Chúa Trời ban phước sẽ nhận được đất, Còn kẻ mà Ngài nguyền rủa sẽ bị diệt vong.
Các bước của người thuộc về Đức Giê-hô-va được vững chãi, Ngài ưa thích đường lối người ấy.
Dù người có vấp ngã cũng không nằm sải dài Vì Đức Giê-hô-va đưa tay nâng đỡ người ấy.
Trước kia tôi còn trẻ, nay đã già, Tôi chẳng hề thấy người công chính nào bị bỏ, Hay dòng dõi người ấy đi ăn mày.
Hằng ngày người công chính làm ơn và cho mượn; Dòng dõi người được phước.
Hãy lánh điều dữ và làm điều lành Thì con sẽ sống đời đời.
Vì Đức Giê-hô-va yêu công lý, Không từ bỏ người thánh của Ngài. Người công chính được Ngài gìn giữ đời đời. Còn dòng dõi kẻ gian ác sẽ bị diệt vong.
Người công chính sẽ nhận được đất đai Và sống ở đó đời đời.
Miệng người công chính nói lời khôn ngoan, Lưỡi người ấy nói ra điều chính trực.
Luật pháp Đức Chúa Trời ở trong lòng người công chính, Và người bước đi không chao đảo.
Kẻ ác rình rập người công chính Và tìm cách giết người ấy.
Nhưng Đức Giê-hô-va không phó người ấy trong tay hắn, Cũng chẳng để người bị kết tội khi bị đem ra phán xét.
Hãy trông đợi Đức Giê-hô-va và vâng giữ đường lối Ngài Thì Ngài sẽ nâng ngươi lên để hưởng được đất đai. Và ngươi sẽ thấy kẻ ác bị diệt vong.
Tôi từng thấy kẻ ác có thế lực lớn, Bành trướng như cây cổ thụ xanh tươi trên đất nhà.
Nhưng có người đi qua, kìa hắn chẳng còn; Tôi tìm hắn mà không gặp.
Hãy quan sát người trọn vẹn và nhìn xem người ngay thẳng, Vì cuối cùng người hiếu hòa sẽ được phước.
Còn những kẻ phạm tội sẽ cùng nhau bị hủy diệt; Tương lai kẻ ác sẽ bị tiêu vong.
Sự cứu rỗi của người công chính do Đức Giê-hô-va mà đến; Ngài là đồn lũy của họ trong lúc gian truân.
Đức Giê-hô-va giúp đỡ và giải thoát họ; Ngài giải thoát họ khỏi kẻ ác và cứu rỗi họ, Vì họ nương náu mình nơi Ngài.
Đức Giê-hô-va ôi! Xin chớ nổi cơn thịnh nộ mà quở trách con, Cũng đừng nóng giận mà sửa phạt con.
Vì các mũi tên của Chúa cắm vào mình con Và tay Chúa đè nặng trên con.
Bởi cơn giận của Chúa, Da thịt con chẳng nơi nào lành; Vì tội lỗi con, Xương cốt con không còn nguyên vẹn.
Vì sự gian ác của con chất chồng vượt quá đầu con; Chúng đè trên con khác nào một gánh nặng.
Vì con ngu dại, Các vết thương của con hôi thối và lở loét.
Con đau đớn tột cùng, khòm lưng, cúi mặt; Con bước đi sầu thảm suốt ngày.
Vì lưng con nóng bỏng như thiêu đốt, Và thịt da con chẳng có chỗ lành.
Con mỏi mòn và kiệt sức, Con rên la vì khốn khổ trong lòng.
Chúa ôi! Mọi ao ước của con đều ở trước mặt Chúa, Tiếng thở than của con chẳng giấu được Ngài.
Tim con hồi hộp, sức con suy tàn; Mắt con cũng không còn sáng nữa.
Khi con gặp tai ương, những người thân thương, bè bạn đều lánh mặt con, Bà con thân thích cũng đứng xa con.
Những kẻ tìm giết con, gài bẫy con, Những người muốn hại con luôn nói đến hủy diệt, Và toan tính dối gạt suốt ngày.
Nhưng con như kẻ điếc không nghe, Như người câm không mở miệng.
Thật, con trở nên như người không nghe, Miệng chẳng biết đối đáp lời nào.
Vì Đức Giê-hô-va ôi! Con để lòng trông cậy nơi Ngài, Lạy Chúa là Đức Chúa Trời của con, Chúa sẽ đáp lời con.
Vì con nói: “Xin đừng để chúng mừng rỡ vì con. Cũng chớ để chúng vênh mặt khi chân con vấp ngã.”
Con sắp ngã quỵ, Nỗi đớn đau vẫn dai dẳng bên mình.
Con xưng gian ác con ra, Con buồn rầu vì tội lỗi con.
Nhưng kẻ thù con vẫn sống và khỏe mạnh, Những kẻ ghét con vô cớ cũng nhiều.
Còn những kẻ lấy dữ trả lành chống đối con, Vì con quyết tâm theo đuổi điều lành.
Đức Giê-hô-va ôi! Xin chớ lìa bỏ con. Đức Chúa Trời của con ôi! Xin đừng ở cách xa con.
Chúa ôi! Chúa là sự cứu rỗi của con, Xin mau mau đến cứu giúp con!
Con nói rằng: “Con sẽ giữ các đường lối con, Để giữ lưỡi con không phạm tội: Đang khi kẻ ác ở trước mặt con, Con sẽ khớp miệng con lại.”
Con câm nín, không nói; Đến nỗi lời lành cũng không ra khỏi miệng con; Còn nỗi đau đớn cứ dâng lên.
Lòng con như nung như đốt, Khi con suy ngẫm, lửa bùng cháy lên; Bấy giờ lưỡi con nói:
“Lạy Đức Giê-hô-va, xin cho con biết sự cuối cùng của đời con Và số các ngày con là thế nào; Xin cho con biết đời mình mỏng manh dường bao!
Kìa Chúa khiến tháng ngày của con dài bằng gang tay, Và đời con là con số không trước mặt Chúa; Phải, mỗi người dù đứng vững cũng chỉ như hơi thở. (Sê-la)
Thật mỗi người bước đi như cái bóng. Ai nấy đều bôn ba vô ích; Người ta chất chứa của cải nhưng chẳng biết ai sẽ thu lấy.
Lạy Chúa, bây giờ con trông mong gì? Niềm hi vọng của con ở nơi Chúa.
Xin giải cứu con khỏi mọi vi phạm; Đừng khiến con trở nên sự nhuốc nhơ cho kẻ ngu dại.
Con câm chẳng mở miệng ra, Vì Chúa đã làm điều ấy.
Xin cất khỏi con sự trừng phạt của Chúa: Con kiệt sức bởi cơn giận của tay Ngài.
Khi Chúa trách phạt loài người vì gian ác, Ngài làm tiêu tan vẻ đẹp nó khác nào mối mọt: Thật đời người vô nghĩa phù du! (Sê-la)
Đức Giê-hô-va ôi! Xin lắng nghe lời cầu nguyện con, Lắng tai nghe tiếng kêu cầu của con; Xin chớ im lặng trước nước mắt con Vì con là người xa lạ trong nhà Chúa, Kẻ lữ hành như các tổ phụ con.
Chúa ôi! Xin dung thứ con để con hồi sức lại Trước khi con ra đi và không còn nữa!”
Tôi kiên nhẫn trông đợi Đức Giê-hô-va, Ngài nghiêng tai qua nghe tiếng kêu cầu của tôi.
Ngài đem tôi lên khỏi hầm hủy diệt, Khỏi vũng bùn lầy. Ngài đặt chân tôi trên vầng đá Và làm cho bước tôi vững bền.
Ngài đặt nơi miệng tôi một bài ca mới, Tức là sự ca ngợi Đức Chúa Trời chúng ta. Nhiều người sẽ thấy điều đó và kính sợ Đem lòng tin cậy nơi Đức Giê-hô-va.
Phước cho người nào để lòng tin cậy nơi Đức Giê-hô-va, Chẳng hướng lòng về kẻ kiêu ngạo Hoặc đi theo bọn dối trá!
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, Công việc lạ lùng và những tư tưởng của Chúa đối với chúng con thật nhiều, Không ai có thể so sánh với Chúa; Nếu con muốn rao truyền và thuật lại các việc ấy, Thì quá nhiều, không thể đếm được.
Chúa không thích sinh tế hoặc tế lễ chay, Chúa không đòi tế lễ thiêu hay tế lễ chuộc tội, Nhưng Ngài đã mở tai con để nghe Ngài.
Bấy giờ con nói: “Có con đây. Trong quyển sách đã có chép về con.”
Lạy Đức Chúa Trời của con, con vui thích làm theo ý muốn Chúa, Luật pháp Chúa ở trong lòng con.
Con đã rao truyền tin vui về sự công chính của Ngài Giữa hội chúng đông đảo, Thật, con không thể ngậm miệng lại; Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài biết điều đó.
Con chẳng giấu sự công chính của Chúa trong lòng con; Con đã rao truyền sự thành tín và ơn cứu rỗi của Ngài; Con không giấu sự nhân từ và chân thật của Chúa, Với hội chúng đông đảo.
Đức Giê-hô-va ôi! Xin đừng rút lại Lòng thương xót của Ngài đối với con; Nguyện sự nhân từ và chân thật của Ngài Gìn giữ con luôn luôn.
Vì vô số tai họa Đã vây quanh con; Tội ác con đã theo kịp con Đến nỗi con không dám ngước mắt lên; Chúng nhiều hơn tóc trên đầu con, Khiến lòng con kinh hãi.
Đức Giê-hô-va ôi! Xin vui lòng giải cứu con. Lạy Đức Giê-hô-va, xin mau giúp đỡ con.
Xin khiến kẻ nào tìm hại mạng sống con Bị bối rối và hổ thẹn; Xin khiến kẻ nào vui vẻ về sự thiệt hại con Phải thối lui và bị sỉ nhục.
Các kẻ nói về con: “Ha, ha!” Mong chúng bị bối rối vì bị sỉ nhục.
Nguyện tất cả những ai tìm cầu Chúa Được vui vẻ và hoan lạc nơi Chúa; Nguyện những người yêu mến sự cứu rỗi của Chúa Luôn nói rằng: “Đức Giê-hô-va thật vĩ đại!”
Con đây là người khốn cùng và thiếu thốn; Nhưng Chúa luôn nhớ đến con. Chúa là Đấng giúp đỡ và giải cứu con. Đức Chúa Trời của con ôi, Xin đừng chậm trễ!
Phước cho người nào đoái thương kẻ khốn cùng! Trong ngày tai họa, Đức Giê-hô-va sẽ giải cứu người ấy.
Đức Giê-hô-va sẽ gìn giữ và bảo tồn mạng sống người: Người ấy thật được phước trên đất. Và Chúa không phó người cho ý muốn của kẻ thù mình.
Đức Giê-hô-va sẽ nâng đỡ người ấy khi nằm liệt trên giường bệnh; Trong lúc ốm đau, Chúa sẽ chữa lành mọi bệnh tật cho người.
Con thưa với Chúa: “Đức Giê-hô-va ôi! Xin thương xót con, Xin chữa lành con vì con đã phạm tội với Ngài.”
Kẻ thù của con nói những lời độc ác rằng: “Chừng nào nó sẽ chết? Khi nào danh nó bị diệt?”
Mỗi khi chúng đến thăm con, chúng nói những lời dối trá; Lòng chúng chứa đầy gian ác Rồi chúng đi ra bêu riếu khắp nơi.
Tất cả những kẻ ghét con đều xầm xì nghịch con; Chúng âm mưu hại con và nói:
“Nó mắc một chứng bệnh hiểm nghèo; Nó nằm liệt, sẽ chẳng trỗi dậy được đâu.”
Đến nỗi người bạn thân mà lòng con tin cậy, Từng ăn bánh của con, cũng giơ gót lên nghịch với con.
Đức Giê-hô-va ôi! Xin thương xót con Và nâng đỡ con thì con sẽ báo trả chúng.
Vì kẻ thù không thắng hơn con, Nên con sẽ biết Chúa hài lòng con.
Chúa nâng đỡ con vì con liêm chính; Ngài lập con đứng vững trước mặt Chúa đời đời.
Đáng chúc tôn Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Từ trước vô cùng cho đến đời đời! A-men! A-men!
Đức Chúa Trời ôi! Linh hồn con mơ ước Chúa Như con nai cái thèm khát khe nước.
Linh hồn con khát khao Đức Chúa Trời, Là Đức Chúa Trời hằng sống. Khi nào con sẽ đến Và được gặp mặt Ngài?
Hằng ngày, người ta cứ hỏi con: “Đức Chúa Trời ngươi đâu?” Thì con nuốt nước mắt thay cho thức ăn Suốt đêm ngày.
Xưa con đi cùng đoàn dân, Dẫn họ đến nhà Đức Chúa Trời Với tiếng reo mừng và ca ngợi, Giữa đoàn dân đông dự lễ. Bây giờ nhớ lại những điều ấy Lòng con buồn thảm, xót xa.
Hỡi linh hồn ta, vì sao ngươi sờn ngã Và bồn chồn trong mình ta? Hãy hi vọng nơi Đức Chúa Trời; Ta sẽ còn ca ngợi Ngài nữa, Vì nhờ gặp mặt Ngài mà ta được giải cứu.
Đức Chúa Trời con ôi! Linh hồn con nao sờn trong con; Từ đất Giô-đanh, từ núi Hẹt-môn Và từ gò Mít-sê-a, con nhớ đến Chúa.
Vực thẳm gọi nhau Trong tiếng ào ào của thác nước Chúa; Các lượn sóng và nước lũ của Chúa Phủ chụp lấy con.
Dù vậy, ban ngày Đức Giê-hô-va ban sự nhân từ Ngài; Ban đêm, bài hát Ngài ở cùng con, Tức là bài cầu nguyện với Đức Chúa Trời, là Đấng ban sự sống cho con.
Con sẽ thưa với Đức Chúa Trời là Vầng Đá của con rằng: “Sao Chúa quên con? Vì sao con phải buồn thảm Dưới sự áp bức của kẻ thù?”
Khi kẻ thù chế giễu con, Hằng ngày chúng cứ hỏi: “Đức Chúa Trời ngươi đâu?” Khiến con đau đớn như xương cốt bị gãy.
Hỡi linh hồn ta, vì sao ngươi sờn ngã Và bồn chồn trong mình ta? Hãy hi vọng nơi Đức Chúa Trời; vì Ta sẽ còn ca ngợi Ngài, Là Đấng cứu giúp ta và là Đức Chúa Trời của ta.
Đức Chúa Trời ôi! Xin biện minh cho con Và bênh vực lý lẽ của con chống lại một dân vô đạo; Xin giải cứu con Khỏi kẻ dối gạt và gian ác.
Vì Đức Chúa Trời ôi! Chúa là đồn lũy của con; Sao Ngài từ bỏ con? Tại sao con phải buồn thảm Dưới sự áp bức của kẻ thù?
Xin ánh sáng và chân lý Ngài chiếu rọi Để dẫn dắt con, Đưa con lên núi thánh, Là nơi ngự của Ngài.
Bấy giờ con sẽ đến bàn thờ Đức Chúa Trời, Đến với Đức Chúa Trời là nguồn vui bất tận của con: Lạy Chúa là Đức Chúa Trời của con, Con sẽ lấy đàn hạc mà ca ngợi Ngài.
Hỡi linh hồn ta, vì sao ngươi sờn ngã và bồn chồn trong mình ta? Hãy hi vọng nơi Đức Chúa Trời; Ta sẽ còn ca ngợi Ngài nữa: Vì Ngài là Đức Chúa Trời của ta và nhờ gặp mặt Ngài mà ta được giải cứu.
Lạy Đức Chúa Trời, tai chúng con có nghe, Tổ phụ chúng con đã thuật lại Công việc Chúa đã làm trong đời họ Từ nghìn xưa.
Chúa dùng tay mình đuổi các dân đi, Nhưng cho tổ phụ chúng con định cư ở đó; Chúa làm cho các dân điêu tàn, Nhưng lại khiến cho tổ phụ chúng con thịnh vượng.
Vì họ chẳng nhờ gươm đao mà được xứ, Cũng chẳng nhờ cánh tay mình mà thắng trận, Nhưng nhờ bàn tay phải của Chúa, Cánh tay và ánh sáng mặt Chúa, Vì Ngài yêu thương họ.
Chính Ngài là Vua và Đức Chúa Trời của con. Xin ban lệnh giải cứu cho Gia-cốp.
Nhờ Chúa, chúng con sẽ đẩy lui quân thù; Nhân danh Chúa, chúng con giày đạp kẻ thù.
Vì con không nhờ cậy cây cung, Thanh gươm con cũng sẽ chẳng cứu con đâu.
Nhưng Chúa đã cứu chúng con khỏi kẻ thù, Làm cho những kẻ ghét chúng con bị hổ thẹn.
Chúng con đã ca ngợi Đức Chúa Trời suốt ngày, Và sẽ cảm tạ Danh Chúa đến đời đời. (Sê-la)
Nhưng nay Chúa đã từ bỏ chúng con, làm cho chúng con bị sỉ nhục; Chúa chẳng còn đi ra trận cùng quân đội chúng con nữa.
Chúa khiến chúng con thối lui trước kẻ thù Và kẻ ghét chúng con cướp đoạt chiến lợi phẩm.
Chúa làm chúng con giống như chiên bị đem đi làm thịt Và khiến chúng con tan lạc trong các nước.
Chúa đã bán dân Chúa với giá rẻ mạt Coi họ chẳng giá trị gì.
Chúa làm chúng con thành vật ô nhục cho kẻ lân cận chúng con, Làm trò cười và là kẻ đáng khinh cho những người chung quanh.
Chúa làm cho chúng con thành tục ngữ giữa các nước, Trong các dân ai thấy chúng con cũng lắc đầu.
Suốt ngày sự sỉ nhục ở trước mặt con, Sự xấu hổ bao phủ mặt con.
Vì tiếng sỉ nhục, mắng chửi, Của kẻ thù và kẻ báo oán.
Mọi điều ấy đã xảy đến cho chúng con Nhưng chúng con không quên Chúa. Cũng không phản bội giao ước của Chúa.
Lòng chúng con không thối lui, Bước chúng con không lạc khỏi đường lối Chúa.
Dù vậy, Chúa đã chà nát chúng con trong chỗ chó rừng, Bao phủ chúng con bằng bóng chết.
Nếu chúng con có quên Danh Đức Chúa Trời chúng con Hoặc giơ tay hướng về một thần lạ,
Đức Chúa Trời sẽ không khám phá ra sao? Vì Ngài biết thấu nơi bí mật của lòng.
Thật, vì Chúa mà chúng con bị giết hại suốt ngày, Chúng con bị kể như chiên đem đi làm thịt.
Chúa ôi, xin tỉnh thức! Sao Chúa ngủ? Xin trỗi dậy, đừng từ bỏ chúng con mãi mãi!
Vì sao Chúa giấu mặt? Sao Ngài quên cơn hoạn nạn và cảnh áp bức của chúng con?
Vì linh hồn chúng con bị vùi dưới bụi tro, Thể xác chúng con nằm bẹp dưới đất.
Xin Chúa trỗi dậy mà giúp đỡ chúng con; Xin cứu chuộc chúng con vì lòng nhân từ của Ngài.
Lòng tôi tuôn tràn lời hay ý đẹp; Tôi ngâm những vần thơ nầy cho vua; Lưỡi tôi như ngòi bút của văn sĩ thiên tài.
Vua đẹp hơn tất cả con trai loài người; Môi vua tràn đầy ân sủng: Vì vậy Đức Chúa Trời đã ban phước cho vua đến đời đời.
Hỡi vua quyền uy, xin đeo gươm nơi hông; Trong vinh quang và oai nghi của vua.
Vì chân lý, đức nhu mì và công chính, Xin vua mặc lấy vẻ oai nghi, cưỡi xe lướt tới trong chiến thắng; Tay phải vua làm những việc đáng kinh.
Các mũi tên nhọn của vua Đâm thấu tim kẻ thù mình; Các dân tộc đều ngã dưới chân vua.
Lạy Đức Chúa Trời, ngôi Ngài tồn tại đời đời, mãi mãi; Quyền bính của vương quốc Chúa là quyền bính chính trực.
Vua yêu công chính và ghét gian tà. Cho nên Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của vua Đã xức dầu vui mừng cho vua, và đặt vua trên các vua khác.
Áo của vua tỏa hương thơm mộc dược, trầm hương và nhục quế; Từ trong đền ngà, tiếng nhạc cụ bằng dây làm vui lòng vua.
Trong những người nữ quý phái của vua có các công chúa; Hoàng hậu đứng bên phải vua trang sức bằng vàng Ô-phia.
Hỡi con gái, hãy nghe, hãy suy nghĩ và hãy lắng tai! Hãy quên dân tộc và nhà cha của con,
Thì vua sẽ ái mộ nhan sắc con. Vì vua là chúa của con, hãy tôn kính người.
Con gái thành Ty-rơ sẽ đem lễ vật đến Và những người giàu sang nhất trong dân chúng sẽ đến xin ân huệ của con.
Công chúa trong cung rực rỡ; Áo nàng thêu dệt bằng vàng.
Nàng sẽ mặc áo gấm ra mắt vua; Các trinh nữ là bạn đi theo nàng sẽ được đưa đến trước vua.
Họ sẽ được đưa vào cung vua Với niềm hân hoan, vui sướng.
Các con trai vua sẽ kế vị tổ phụ vua; Vua sẽ lập họ làm người cai trị khắp đất.
Tôi sẽ làm cho danh vua được ghi nhớ qua các thế hệ; Nhờ đó, các dân tộc sẽ cảm tạ vua đời đời mãi mãi.
Đức Chúa Trời là nơi nương náu và sức mạnh của chúng con, Ngài hằng giúp đỡ trong cơn hoạn nạn.
Vì vậy, chúng con chẳng sợ hãi dù đất biến đổi, Núi rung chuyển và bị quăng vào lòng biển. (Sê-la)
Dù nước biển ầm ầm sôi bọt Và các núi rung chuyển vì địa chấn. (Sê-la)
Có một dòng sông, nước nó làm vui thành của Đức Chúa Trời, Là nơi thánh, chỗ ở của Đấng Chí Cao.
Đức Chúa Trời ở giữa thành ấy, nó sẽ không bị rúng động. Vừa rạng đông Đức Chúa Trời sẽ giúp đỡ nó.
Các dân náo loạn, các nước rúng động; Ngài lên tiếng, đất liền tan chảy.
Đức Giê-hô-va vạn quân ở cùng chúng con; Đức Chúa Trời của Gia-cốp là nơi nương náu của chúng con. (Sê-la)
Hãy đến xem các công việc của Đức Giê-hô-va, Sự hoang tàn mà Ngài đã làm trên đất.
Ngài dẹp yên giặc giã cho đến tận cùng trái đất, Bẻ gãy cung, chặt giáo ra từng mảnh Và đốt cháy các chiến xa.
Hãy yên lặng và biết rằng Ta là Đức Chúa Trời; Ta sẽ được tôn cao trong các nước, Ta sẽ được tôn cao trên đất nầy.
Đức Giê-hô-va vạn quân ở cùng chúng con; Đức Chúa Trời của Gia-cốp là nơi nương náu của chúng con. (Sê-la)
Hỡi muôn dân, hãy vỗ tay! Hãy trỗi tiếng reo mừng cho Đức Chúa Trời.
Vì Đức Giê-hô-va Chí Cao thật đáng kính sợ, Ngài là Vua vĩ đại trên cả trái đất.
Ngài khiến các dân bị đẩy lùi trước chúng tôi Và làm các nước thần phục dưới chân chúng tôi.
Ngài chọn sản nghiệp cho chúng tôi. Là niềm hãnh diện của Gia-cốp mà Ngài yêu mến. (Sê-la)
Đức Chúa Trời ngự lên giữa tiếng reo mừng, Đức Giê-hô-va ngự lên trong tiếng kèn thổi.
Hãy hát lên ca ngợi Đức Chúa Trời, nào hát lên đi! Hãy hát lên ngợi ca Vua chúng tôi, nào ca lên đi!
Vì Đức Chúa Trời là Vua của cả trái đất; Hãy hát thi thiên ca ngợi Ngài.
Đức Chúa Trời cai trị các nước, Đức Chúa Trời ngự trên ngôi thánh Ngài.
Vua các dân đều nhóm nhau lại Làm dân Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham Vì các khiên của đất đều thuộc về Đức Chúa Trời; Ngài được tôn lên rất cao.
Đức Giê-hô-va thật vĩ đại, rất đáng được ca ngợi Trong thành của Đức Chúa Trời chúng ta Và trên núi thánh Ngài.
Núi Si-ôn cao vút và đẹp đẽ Là niềm vui của cả trái đất. Là đỉnh cao nhất của Xa-phôn, Là thành của Vua vĩ đại.
Đức Chúa Trời ngự trong những đồn lũy của thành Và Ngài trở thành nơi nương náu của nó.
Khi các vua họp lại Và tấn công thành.
Chúng thấy thành và sững sờ, Rồi kinh hãi chạy trốn.
Sự run rẩy áp đến vây hãm chúng. Chúng bị đau đớn khác nào phụ nữ chuyển dạ.
Chúa đập vỡ chúng Như ngọn gió đông đập vỡ tàu thuyền Ta-rê-si.
Điều chúng tôi đã nghe, Thì cũng đã thấy trong thành của Đức Giê-hô-va vạn quân, Tức trong thành của Đức Chúa Trời chúng tôi: Đức Chúa Trời thiết lập thành ấy vững chắc đời đời. (Sê-la)
Lạy Đức Chúa Trời, trong đền thờ Ngài, Chúng con suy ngẫm về sự nhân từ của Chúa.
Lạy Đức Chúa Trời, danh Ngài thể nào Thì sự ca ngợi Ngài vươn đến các đầu cùng trái đất thể ấy; Tay phải của Chúa đầy sự công chính.
Nguyện núi Si-ôn vui vẻ, Các con gái Giu-đa mừng rỡ Vì sự phán xét của Chúa.
Hãy đi chung quanh Si-ôn, hãy dạo vòng thành, Đếm các ngọn tháp của nó;
Hãy nhìn kỹ các thành lũy, Xem xét các đền đài của nó, Để các con thuật lại cho thế hệ mai sau
Rằng: “Đức Chúa Trời nầy, Chính là Đức Chúa Trời của chúng ta cho đến đời đời vô cùng; Ngài sẽ dẫn dắt chúng ta cho đến trọn đời.”
Hỡi muôn dân, hãy nghe điều nầy; Hỡi mọi người trên thế gian, hãy lắng tai nghe.
Bất luận người hạ lưu hay thượng lưu, Người giàu có cũng như người nghèo hèn.
Miệng tôi sẽ nói lời khôn ngoan, Sự suy ngẫm của lòng tôi là sự thông sáng.
Tôi sẽ lắng tai nghe câu châm ngôn; Tôi sẽ lấy đàn hạc mà giải câu đố.
Vì sao tôi phải sợ hãi trong ngày tai họa Khi sự gian ác của những kẻ muốn tiếm vị tôi vây phủ tôi?
Chúng tin cậy nơi tài sản mình, Khoe khoang của cải dư dật của mình.
Không ai chuộc được anh em mình Hoặc trả giá chuộc người ấy nơi Đức Chúa Trời.
Để cho người ấy được sống mãi mãi Không hề thấy sự hư nát.
Vì giá chuộc mạng sống quá đắt, Người ấy không thể trả nổi.
Vì người ta thấy người khôn ngoan chết, Kẻ điên cuồng và người ngu dại cũng chết như nhau Để lại tài sản mình cho kẻ khác.
Chúng nghĩ trong lòng rằng nhà mình sẽ còn mãi mãi Và chỗ mình ở vẫn tồn tại từ đời nầy qua đời kia. Chúng cũng lấy chính tên mình đặt cho đất ruộng mình.
Nhưng loài người dù giàu sang cũng chẳng còn mãi; Nó giống như thú vật phải hư mất.
Đường lối chúng là sự ngu dại của chúng; Và những kẻ theo chúng thích lý luận của chúng. (Sê-la)
Chúng bị định xuống âm phủ như bầy chiên; Thần chết sẽ chăn giữ chúng: Buổi sáng, người ngay thẳng sẽ giày đạp chúng. Hình hài của chúng bị tiêu hủy. Âm phủ sẽ là nơi ở của chúng.
Nhưng Đức Chúa Trời sẽ cứu chuộc linh hồn tôi khỏi quyền âm phủ Vì Ngài sẽ tiếp rước tôi. (Sê-la)
Chớ sợ khi một người trở nên giàu có Khi vinh quang nhà người ấy tăng lên.
Vì khi chết người ấy chẳng đem gì theo được, Vinh quang cũng không theo người xuống mồ mả đâu.
Dù lúc còn sống, người ấy kể mình là được phước, Và được người ta ca ngợi khi người thịnh vượng.
Người ấy sẽ đến cùng dòng dõi tổ phụ mình: Sẽ chẳng còn thấy ánh sáng nữa.
Người nào hưởng sự giàu sang mà không hiểu biết gì Giống như thú vật phải hư mất.
Đấng quyền năng là Đức Chúa Trời, là Đức Giê-hô-va Phán và gọi thiên hạ Từ hướng mặt trời mọc cho đến hướng mặt trời lặn.
Từ Si-ôn tốt đẹp toàn hảo, Đức Chúa Trời đã chiếu sáng ra.
Đức Chúa Trời chúng ta đến và không im lặng đâu. Trước mặt Ngài là ngọn lửa bùng cháy, Chung quanh Ngài là trận bão dữ dội.
Ngài gọi các tầng trời trên cao Và đất ở bên dưới để phán xét con dân Ngài:
“Hãy tập hợp những người trung tín lại cùng Ta, Là những người đã lập giao ước với Ta bằng sinh tế.”
Các tầng trời rao truyền sự công chính Ngài Vì chính Đức Chúa Trời là thẩm phán. (Sê-la)
“Hỡi dân Ta, hãy nghe! Ta sẽ phán, Hỡi Y-sơ-ra-ên, Ta sẽ làm chứng chống lại ngươi; Ta là Đức Chúa Trời, tức là Đức Chúa Trời của ngươi.
Ta sẽ chẳng trách ngươi vì các sinh tế Cũng không quở ngươi vì tế lễ thiêu hằng ở trước mặt Ta.
Ta sẽ không bắt bò đực nơi nhà ngươi Cũng chẳng lấy dê đực trong bầy ngươi,
Vì tất cả thú rừng đều thuộc về Ta, Các bầy súc vật trên hàng nghìn đồi núi cũng vậy.
Ta biết hết mọi loài chim trên núi, Mọi sinh vật ngoài đồng đều thuộc về Ta.
Nếu Ta đói, Ta chẳng cần nói cho các ngươi biết, Vì thế gian và muôn vật trong đó đều thuộc về Ta.
Ta có ăn thịt bò đực Hay uống huyết dê đực không?
Hãy dâng lời cảm tạ làm sinh tế cho Đức Chúa Trời Và hoàn tất các điều hứa nguyện của ngươi cho Đấng Chí Cao.
Hãy kêu cầu Ta trong ngày gian truân, Ta sẽ giải cứu ngươi và ngươi sẽ tôn vinh Ta.”
Nhưng Đức Chúa Trời phán với kẻ ác rằng: “Vì sao ngươi thuật lại các luật lệ Ta? Cớ sao miệng ngươi nói về giao ước Ta?
Vì ngươi ghét sự sửa dạy, Vứt bỏ sau lưng các lời Ta phán.
Khi ngươi thấy kẻ ăn trộm thì đồng tình với hắn, Ngươi chia phần với bọn ngoại tình.
Miệng ngươi buông ra những lời độc ác, Lưỡi ngươi thêu dệt những chuyện dối lừa.
Ngươi ngồi nói hành anh em ngươi, Vu khống con trai của mẹ ngươi.
Đó là điều ngươi đã làm, còn Ta im lặng; Ngươi tưởng rằng Ta cũng giống như ngươi. Nhưng Ta sẽ trách phạt ngươi, Phơi bày các điều đó ra trước mắt ngươi.
Hỡi kẻ quên Đức Chúa Trời, hãy suy xét! Nếu không, Ta xé nát ngươi và chẳng ai giải cứu.
Ai dâng lời cảm tạ làm tế lễ là tôn vinh Ta, Còn người nào đi theo đường ngay thẳng, Ta sẽ cho thấy sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.”
Đức Chúa Trời ôi! Xin thương xót con Theo lòng nhân từ của Chúa; Xin xóa các sự vi phạm con Theo đức bác ái của Chúa.
Xin rửa sạch hết mọi gian ác Và thanh tẩy tội lỗi con.
Vì con nhận biết các sự vi phạm con, Và tội lỗi con hằng ở trước mặt con.
Con đã phạm tội với Chúa, chỉ với một mình Chúa thôi Và làm điều ác dưới mắt Chúa. Để Chúa bày tỏ đức công chính khi Ngài tuyên phán Và sự thanh sạch khi Ngài phán xét.
Thật, con sinh ra trong sự gian ác, Mẹ con đã hoài thai con trong tội lỗi.
Nầy, Chúa muốn sự chân thật trong tâm hồn; Chúa sẽ dạy con sự khôn ngoan trong nơi sâu kín của lòng con.
Xin lấy chùm bài hương tẩy sạch tội lỗi con thì con sẽ được tinh sạch; Cầu Chúa rửa con thì con sẽ trở nên trắng hơn tuyết.
Chúa sẽ khiến con nghe tiếng vui vẻ, mừng rỡ Để các xương cốt mà Ngài đã bẻ gãy được hoan lạc.
Xin Chúa ngoảnh mặt khỏi các tội lỗi con Và bôi xóa mọi gian ác của con.
Đức Chúa Trời ôi! Xin dựng nên trong con một lòng trong sạch Và làm mới lại trong con một tâm linh ngay thẳng.
Xin đừng từ bỏ con khỏi mặt Chúa Cũng đừng cất Thánh Linh Chúa khỏi con.
Xin phục hồi niềm vui cứu rỗi của Chúa cho con, Và lấy tinh thần khoan dung mà nâng đỡ con.
Bấy giờ con sẽ dạy đường lối Chúa cho kẻ vi phạm Và tội nhân sẽ trở về cùng Ngài.
Lạy Đức Chúa Trời, xin giải cứu con khỏi tội làm đổ huyết Lạy Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi của con, Lưỡi con sẽ ca ngợi sự công chính của Ngài.
Chúa ơi, xin mở môi con Và miệng con sẽ truyền ra sự ca ngợi Chúa.
Vì Chúa không ưa thích sinh tế, dù con có hiến dâng. Tế lễ thiêu cũng không đẹp lòng Chúa.
Sinh tế đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là tâm linh đau thương; Đức Chúa Trời ôi! Lòng đau thương thống hối Chúa không khinh dể đâu.
Cầu xin Chúa làm điều lành cho Si-ôn theo ý tốt Ngài; Hãy xây cất các tường thành Giê-ru-sa-lem.
Bấy giờ, Chúa sẽ ưa thích các tế lễ công chính, Cùng tất cả tế lễ thiêu và các sinh tế. Rồi người ta sẽ dâng bò đực trên bàn thờ của Chúa.
Hỡi quân cường bạo, sao ngươi khoe khoang về điều dữ? Sự nhân từ của Đức Chúa Trời còn mãi mãi.
Ngươi mưu toan hủy diệt. Lưỡi ngươi khác nào dao cạo bén, Rêu rao những chuyện dối lừa.
Ngươi chuộng điều dữ hơn điều lành, Thích nói điều giả dối hơn điều công chính. (Sê-la)
Hỡi lưỡi dối trá, Ngươi thích nói những lời độc ác.
Đức Chúa Trời cũng sẽ hủy diệt ngươi đời đời; Ngài sẽ tóm lấy và ném ngươi xa khỏi trại ngươi; Ngài sẽ nhổ ngươi khỏi đất người sống. (Sê-la)
Người công chính sẽ thấy và sợ hãi Họ cười hắn và nói:
“Đó là kẻ không nhờ Đức Chúa Trời Làm nơi trú ẩn cho mình Nhưng tin cậy vào sự giàu có dư dật, Và làm cho mình vững bền bằng điều gian ác!”
Nhưng con khác nào cây ô-liu xanh tươi Trong nhà Đức Chúa Trời. Con tin cậy nơi lòng nhân từ của Đức Chúa Trời Đến đời đời vô cùng.
Con sẽ cảm tạ Chúa đời đời Về những điều mà Ngài đã làm. Con sẽ công bố danh Chúa trước những người trung tín của Chúa Vì điều ấy thật tốt lành.
Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: “Không có Đức Chúa Trời.” Chúng đều bại hoại, phạm tội ác kinh tởm, Chẳng có ai làm điều lành.
Đức Chúa Trời từ trên cao nhìn xuống loài người, Để thử xem có ai thông sáng Tìm kiếm Đức Chúa Trời chăng.
Tất cả mọi người đều suy thoái về đạo đức, cùng nhau trở nên băng hoại. Chẳng có ai làm điều thiện, Dẫu một người cũng không.
Bọn gian ác không hiểu biết sao? Chúng ăn nuốt dân Ta khác nào ăn bánh Và cũng chẳng hề khẩn cầu Đức Chúa Trời.
Nơi chẳng có sự kinh hãi, Thì chúng lại kinh hãi vô cùng. Vì Đức Chúa Trời rải hài cốt của những kẻ tấn công dân Ngài; Và chúng sẽ bị hổ thẹn, vì Đức Chúa Trời đã từ bỏ chúng.
Ôi! Ước gì sự cứu rỗi của Y-sơ-ra-ên từ Si-ôn đến! Khi Đức Chúa Trời đem dân Ngài từ xứ lưu đày trở về. Gia-cốp sẽ mừng rỡ và Y-sơ-ra-ên vui vẻ.
Đức Chúa Trời ôi! Xin lấy danh Chúa mà cứu con, Dùng quyền năng Chúa mà xét xử công minh cho con.
Lạy Đức Chúa Trời, xin nghe lời cầu nguyện con, Lắng tai nghe các lời của miệng con.
Vì kẻ xa lạ nổi lên chống lại con, Người hung bạo tìm hại mạng sống con: Chúng không để Đức Chúa Trời đứng trước mặt mình. (Sê-la)
Nầy, Đức Chúa Trời giúp đỡ con, Chúa là Đấng nâng đỡ linh hồn con.
Ngài sẽ báo trả kẻ thù của con về tội ác chúng; Xin Chúa hủy diệt chúng theo sự thành tín của Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, con sẽ dâng lên Ngài tế lễ tình nguyện; Con cũng sẽ cảm tạ danh Ngài vì điều đó là tốt lành.
Vì Ngài giải cứu con khỏi mọi gian truân; Mắt con thấy kẻ thù của con bị báo trả.
Lạy Đức Chúa Trời, xin lắng nghe lời con cầu nguyện, Đừng ẩn mặt trước lời nài khẩn của con.
Xin lắng nghe và đáp lời con; Con bối rối, thở than và quẫn trí.
Vì tiếng la hét của kẻ thù Và sự áp bức của kẻ ác. Vì chúng đem tai họa đến cho con, Và bắt bớ con cách giận dữ.
Lòng con đau đớn vô cùng, Sự kinh khiếp về cái chết đã bắt lấy con.
Nỗi sợ hãi và run rẩy đã giáng trên con, Sự hoảng hốt đã phủ lấy con.
Con nói: “Ôi! Ước gì con có đôi cánh như bồ câu, Chắc con sẽ bay đi để được ở yên lặng!
Phải, con sẽ trốn đi xa Và ở trong hoang mạc. (Sê-la)
Con sẽ vội vàng tìm nơi trú ẩn Tránh xa cơn bão tố, phong ba.”
Lạy Chúa, xin nuốt chúng đi, làm lộn xộn tiếng nói của chúng, Vì con thấy bạo lực và tranh chấp trong thành.
Ngày và đêm chúng đi rảo quanh trên vách thành; Tội ác và bạo loạn ở trong thành phố.
Sự hủy diệt cũng đang ở giữa thành; Áp bức và lường gạt hoành hành khắp đường phố.
Nếu là kẻ thù sỉ nhục con, Con có thể chịu được; Nếu là kẻ ghét con, kiêu căng chống đối con, Con cũng có thể tránh mặt hắn.
Nhưng kẻ ấy lại chính là kẻ ngang hàng với con, Bạn đồng nghiệp con, bạn thân của con.
Là người từng trò chuyện thân mật với con, Và chúng con đã cùng đi với đoàn người đến nhà Đức Chúa Trời.
Mong sự chết thình lình đến với chúng! Mong cho chúng còn sống mà phải sa xuống âm phủ! Vì điều ác ở trong nhà chúng và trong lòng chúng.
Nhưng con kêu cầu cùng Đức Chúa Trời, Và Đức Giê-hô-va sẽ cứu con.
Buổi chiều, buổi sáng và buổi trưa, Con sẽ than thở, rên xiết, Chắc Ngài sẽ nghe tiếng con.
Ngài cứu mạng sống con cách an toàn trong chiến trận Mặc dù những kẻ tấn công con rất đông.
Đức Chúa Trời là Đấng cai trị từ nghìn xưa, Sẽ nghe và báo trả chúng. (Sê-la) Vì chúng không chịu thay đổi đường lối mình Cũng chẳng kính sợ Đức Chúa Trời.
Kẻ ác dang tay chống lại những người sống hòa bình với nó; Vi phạm lời mình đã kết ước.
Miệng nó trơn láng như mỡ Nhưng trong lòng toan tính chiến tranh. Lời nó nói dịu hơn dầu Nhưng là gươm đao tuốt sẵn.
Hãy trao gánh nặng của con cho Đức Giê-hô-va Ngài sẽ nâng đỡ con; Ngài sẽ chẳng bao giờ để người công chính bị rúng động.
Lạy Đức Chúa Trời, kẻ khát máu và người giả dối Sẽ không sống được nửa số ngày định cho mình, Chúa sẽ xô chúng Xuống hầm hủy diệt; Nhưng con cứ tin cậy nơi Ngài.
Đức Chúa Trời ôi! Xin thương xót con Vì người ta muốn ăn tươi nuốt sống con; Hằng ngày chúng tấn công con và áp bức con.
Kẻ thù muốn ăn tươi nuốt sống con mỗi ngày. Lạy Đấng Chí Cao, những kẻ tấn công con nhiều quá!
Trong ngày sợ hãi, Con sẽ đặt trọn niềm tin nơi Ngài.
Con nhờ Đức Chúa Trời và ca ngợi lời Ngài; Con đặt trọn niềm tin nơi Đức Chúa Trời nên chẳng sợ hãi. Người phàm sẽ làm gì được con?
Hằng ngày chúng bắt bẻ từng lời con nói, Chúng luôn luôn toan tính để hại con.
Chúng họp nhau lại, rình rập, Theo dõi từng bước chân của con. Vì chúng muốn hại mạng sống con.
Chúng gian ác như thế mà được thoát khỏi hình phạt sao? Lạy Đức Chúa Trời, xin nổi giận mà đánh đổ các dân.
Chúa đếm từng bước lưu lạc của con: Xin Chúa đựng nước mắt con trong ve của Chúa. Nước mắt con không được ghi vào sổ Chúa sao?
Ngày nào con kêu cầu, Các kẻ thù của con sẽ thối lui; Con biết điều đó vì Đức Chúa Trời bênh vực con.
Con tin cậy Đức Chúa Trời và ngợi ca lời Ngài; Con tin cậy Đức Giê-hô-va và ngợi ca lời Ngài.
Con đặt trọn niềm tin nơi Đức Chúa Trời nên không sợ hãi; Người phàm sẽ làm gì được con?
Lạy Đức Chúa Trời, con sẽ thực hiện điều con hứa nguyện với Ngài; Con sẽ dâng tế lễ cảm tạ lên Chúa.
Vì Chúa đã giải cứu con khỏi chết, Và giữ chân con khỏi vấp ngã, Để con đi trước mặt Đức Chúa Trời Trong ánh sáng của sự sống.
Đức Chúa Trời ôi! Xin thương xót con, xin thương xót con, Vì linh hồn con nương náu nơi Chúa! Phải, con nương náu mình dưới bóng cánh của Ngài Cho đến khi tai qua nạn khỏi.
Con kêu cầu Đức Chúa Trời Chí Cao, Tức là Đức Chúa Trời hoàn thành mục đích của Ngài cho con.
Từ trời Ngài ban ơn cứu rỗi con. Khiến kẻ áp bức con phải xấu hổ, nhuốc nhơ. (Sê-la) Đức Chúa Trời ban sự nhân từ và sự thành tín của Ngài cho con.
Linh hồn con ở giữa các sư tử; Nằm giữa bầy thú ăn thịt người. Có răng như ngọn giáo, mũi tên Và lưỡi chúng sắc như gươm.
Lạy Đức Chúa Trời, nguyện Chúa được tôn cao trên các tầng trời; Nguyện vinh quang Chúa tỏa sáng trên khắp đất!
Chúng giăng lưới dưới chân con, Linh hồn con nao núng. Chúng đào hầm phía trước con Nhưng chúng lại sa xuống đó. (Sê-la)
Lạy Đức Chúa Trời, lòng con vững chắc, Lòng con vững chắc; Con sẽ hát và cất tiếng ngợi ca.
Hỡi linh hồn ta, hãy tỉnh thức! Hỡi đàn hạc, đàn lia, hãy trỗi dậy! Ta cũng sẽ đánh thức rạng đông.
Lạy Chúa, con sẽ cảm tạ Chúa giữa các dân, Ca ngợi Chúa trong các nước.
Vì lòng nhân từ Chúa cao đến tận trời, Đức thành tín Chúa cao đến tận mây.
Lạy Đức Chúa Trời, nguyện Chúa được tôn cao trên các tầng trời. Nguyện vinh quang Chúa tỏa sáng trên khắp đất!
Hỡi các con trai loài người, các ngươi thực sự nói lên lẽ công chính sao? Các ngươi phán xét công minh sao?
Không, lòng các ngươi mưu toan điều gian ác, Tay các ngươi thi hành sự bạo ngược trong xứ.
Kẻ ác lầm lạc từ trong tử cung. Mới lọt lòng đã sai phạm, dối gian.
Chúng có nọc độc như nọc rắn; Chúng giống như rắn hổ mang giả điếc bịt tai.
Chẳng chịu nghe tiếng của thầy bùa Mặc dù thầy có tài dụ rắn đến đâu.
Lạy Giê-hô-va, xin bẻ răng trong miệng chúng; Lạy Đức Giê-hô-va, xin bẻ nanh các sư tử tơ.
Nguyện chúng tan ra như nước chảy! Khi chúng giương cung, nguyện cho mũi tên chúng bị cùn!
Nguyện chúng như con ốc sên tiêu mòn đi. Như thai bị sẩy của người phụ nữ, không hề thấy mặt trời!
Như gai bị đốt trong lò thế nào Thì Ngài sẽ dùng trận gió quét sạch chúng đi, bất kể chúng còn xanh hay bị cháy.
Người công chính sẽ vui khi thấy sự báo thù; Họ sẽ rửa chân mình trong huyết kẻ ác.
Người ta sẽ nói rằng: “Chắc chắn có phần thưởng cho người công chính, Thật, Đức Chúa Trời đang phán xét trên đất.”
Đức Chúa Trời của con ôi! Xin giải cứu con khỏi các kẻ thù, Và bảo vệ con khỏi những kẻ nổi lên chống lại con.
Xin giải cứu con khỏi quân độc ác Và khỏi bọn khát máu.
Vì chúng đang rình rập để hại mạng sống con; Đức Giê-hô-va ôi! Những kẻ hung bạo họp nhau chống lại con Mặc dù con không chống đối cũng chẳng phạm tội gì.
Chúng chạy đến tấn công dù con không có lỗi lầm gì. Xin Chúa thức dậy để giúp đỡ con và đoái xem con.
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Xin trỗi dậy để trừng phạt các nước; Đừng thương xót những kẻ độc ác, phản bội. (Sê-la)
Buổi chiều chúng quay lại Tru như chó Và đi vòng quanh thành.
Kìa miệng chúng tuôn lời mắng chửi; Môi chúng như những thanh gươm. Vì chúng tự nhủ: “Có ai nghe đâu?”
Nhưng Đức Giê-hô-va ôi! Ngài sẽ cười chúng nó Và nhạo báng các nước.
Đức Chúa Trời là sức mạnh của con, con sẽ ngửa trông nơi Ngài. Chính Ngài là nơi ẩn náu của con.
Đức Chúa Trời sẽ lấy lòng nhân từ Ngài mà tiếp đón con; Đức Chúa Trời sẽ cho con thấy kẻ thù của con bị báo trả.
Lạy Chúa, là cái khiên của chúng con! Đừng hủy diệt chúng ngay, e con dân Chúa mau quên ơn Ngài; Hãy dùng quyền năng Chúa làm chúng tan lạc Và đánh bại chúng.
Vì tội lỗi của miệng chúng, Là lời nguyền rủa và dối trá mà môi chúng nói ra, Nguyện chúng bị mắc bẫy trong sự kiêu ngạo mình!
Xin Chúa nổi giận mà tiêu diệt chúng, Hãy tiêu diệt chúng hoàn toàn. Xin cho chúng biết rằng Đức Chúa Trời đang cai trị Gia-cốp Cho đến tận cùng trái đất. (Sê-la)
Buổi chiều chúng trở lại Tru như chó Và đi vòng quanh thành.
Chúng lang thang đây đó để kiếm ăn; Nếu không được no nê thì chúng sẽ ở đêm tại đó.
Nhưng con sẽ ca hát về sức mạnh của Chúa; Buổi sáng con sẽ hát lớn tiếng về sự nhân từ Chúa Vì Chúa là đồn lũy của con, Nơi trú ẩn trong lúc gian truân.
Lạy Chúa là sức lực con, con sẽ ca ngợi Ngài; Vì Đức Chúa Trời là nơi ẩn náu của con, Tức là Đức Chúa Trời đầy lòng nhân từ với con.
Đức Chúa Trời ôi! Chúa đã từ bỏ chúng con, làm chúng con tan lạc; Chúa đã nổi giận với chúng con. Nhưng bây giờ xin đem chúng con trở lại.
Chúa khiến đất rúng động, làm cho nó nứt ra; Bây giờ, xin Ngài sửa lại các chỗ nứt vì nó đang lung lay.
Chúa làm cho dân Ngài chịu cảnh gian nan, Cho chúng con uống một thứ rượu xây xẩm.
Chúa ban cho người kính sợ Chúa một lá cờ Để vì chân lý mà giương nó ra. (Sê-la)
Hầu cho người yêu dấu của Chúa được giải thoát. Xin Chúa đáp lời cầu xin và lấy tay phải Ngài cứu giúp chúng con.
Từ nơi thánh, Đức Chúa Trời đã phán rằng: “Ta sẽ hoan hỉ phân chia đất Si-chem Và đo vùng thung lũng Su-cốt.
Ga-la-át thuộc về Ta, Ma-na-se cũng vậy; Ép-ra-im là đồn lũy của đầu Ta; Giu-đa là vương trượng của Ta.
Mô-áp là cái chậu rửa của Ta; Ta ném giày Ta trên dân Ê-đôm. Ta reo mừng chiến thắng trên dân Phi-li-tin.”
Ai sẽ đưa con vào thành vững bền? Ai sẽ dẫn con đến đất Ê-đôm?
Lạy Đức Chúa Trời, chẳng phải Chúa đã từ bỏ chúng con sao? Lạy Đức Chúa Trời, Chúa không còn ra trận với quân đội chúng con nữa sao?
Xin Chúa giúp đỡ chúng con khỏi cơn gian truân, Vì sự cứu giúp của loài người là vô ích.
Nhờ Đức Chúa Trời, chúng con sẽ đại thắng; Vì chính Ngài sẽ giày đạp các kẻ thù chúng con.
Lạy Đức Chúa Trời, xin nghe tiếng kêu cầu của con, Xin lắng nghe lời cầu nguyện của con.
Từ vùng địa cực, con kêu cầu cùng Chúa Vì tâm hồn con khốn khổ. Xin dẫn con đến vầng đá Cao hơn con.
Vì Chúa là nơi trú ẩn của con, Là ngọn tháp vững bền để tránh khỏi kẻ thù.
Con sẽ ở trong trại Chúa mãi mãi, Nương náu mình dưới cánh của Ngài. (Sê-la)
Lạy Đức Chúa Trời, Chúa đã nghe lời hứa nguyện của con, Ban cho con cơ nghiệp của những người kính sợ danh Ngài.
Chúa sẽ tăng tuổi thọ cho vua; Năm tháng người trường tồn qua mọi thế hệ.
Nguyện người ngồi trên ngôi mãi mãi trước mặt Đức Chúa Trời; Xin Chúa truyền sự nhân từ và chân thật Ngài gìn giữ người.
Như vậy con sẽ ca ngợi danh Chúa đời đời Và hằng ngày làm trọn lời con hứa nguyện.
Linh hồn con an nghỉ nơi một mình Đức Chúa Trời; Sự cứu rỗi của con từ Ngài mà đến.
Một mình Ngài là vầng đá và sự cứu rỗi của con; Cũng là nơi ẩn náu của con; con sẽ không hề bị rúng động.
Các ngươi xông vào đánh một người cho đến chừng nào? Cả bọn hiệp lại triệt hạ người ta Như một cái vách nghiêng, một hàng rào sắp ngã sao?
Chúng chỉ bàn bạc để đánh đổ người khỏi địa vị cao trọng. Chúng chuộng điều giả dối, Miệng thì chúc phước Nhưng trong lòng thì nguyền rủa. (Sê-la)
Hỡi linh hồn ta, hãy nghỉ an nơi Đức Chúa Trời, Vì niềm hi vọng ta đặt nơi Ngài.
Chỉ một mình Ngài là vầng đá và sự cứu rỗi của ta, Cũng là nơi ẩn náu của ta; ta sẽ chẳng bị rúng động.
Sự cứu rỗi và vinh quang của ta ở nơi Đức Chúa Trời; Ngài là vầng đá của ta, nơi ẩn náu của ta.
Hỡi dân ta, hãy tin cậy Ngài luôn luôn; Hãy dốc đổ nỗi lòng mình ra trước mặt Ngài; Vì Đức Chúa Trời là nơi nương náu của chúng ta. (Sê-la)
Thật người hạ lưu chỉ là hơi thở, Người thượng lưu chỉ là ảo mộng; Đem đặt lên cân, chúng nhẹ tựa lông hồng. Tất cả đều nhẹ hơn hơi thở.
Đừng cậy sự áp bức, Cũng đừng hi vọng hão huyền vào của trộm cắp; Nếu của cải thêm nhiều, chớ chú tâm vào đó.
Đức Chúa Trời có phán một lần, Con có nghe điều nầy hai lần, Rằng quyền năng thuộc về Đức Chúa Trời.
Lạy Chúa, sự nhân từ thuộc về Ngài, Vì Ngài trả cho mỗi người Tùy theo công việc họ làm.
Lạy Đức Chúa Trời, Chúa là Đức Chúa Trời của con, Con hết lòng tìm cầu Chúa Như trong vùng đất khô cằn, nứt nẻ, chẳng có nước. Linh hồn con khát khao Chúa, Thân thể con mong ước Ngài.
Xin cho con nhìn xem Chúa trong nơi thánh. Chiêm ngưỡng quyền năng và vinh quang của Ngài.
Vì sự nhân từ Chúa tốt hơn mạng sống. Môi con sẽ ca ngợi Ngài.
Như vậy con sẽ chúc tụng Chúa suốt đời con; Nhân danh Chúa, con sẽ giơ tay lên.
Linh hồn con được thỏa mãn như ăn tủy xương và mỡ; Môi miệng con sẽ vui vẻ mà ca ngợi Chúa.
Khi nằm trên giường, con nhớ đến Chúa, Và suy ngẫm về Ngài suốt các canh đêm.
Vì Chúa đã giúp đỡ con, Và con hát mừng dưới bóng cánh của Ngài.
Linh hồn con bám chặt lấy Chúa; Tay phải Chúa nâng đỡ con.
Những kẻ tìm hại mạng sống con Sẽ sa xuống vực sâu của đất.
Chúng sẽ bị phó cho sức mạnh của thanh gươm, Làm mồi cho chó rừng.
Nhưng vua sẽ vui vẻ nơi Đức Chúa Trời; Tất cả những người nhân danh Chúa mà thề nguyện đều sẽ tự hào. Còn miệng những kẻ nói dối sẽ bị ngậm lại.
Lạy Đức Chúa Trời, xin nghe tiếng than thở của con, Gìn giữ mạng sống con khỏi sự đe dọa của kẻ thù.
Xin Chúa giấu con khỏi âm mưu của kẻ dữ, Khỏi lũ người độc ác.
Chúng mài lưỡi mình như thanh gươm. Phun lời cay đắng như những mũi tên.
Chúng phục kích để bắn người trọn vẹn; Thình lình chúng bắn tên không chút sợ hãi.
Chúng quyết tâm làm điều ác, Âm thầm bàn tính nhau để gài bẫy hại người. Chúng nói rằng: “Ai sẽ thấy được?”
Chúng mưu toan những việc ác và nói: “Chúng ta đã hoàn thành một kế hoạch tuyệt hảo.” Tư tưởng và lòng dạ của con người thật là hiểm độc.
Nhưng Đức Chúa Trời sẽ bắn tên vào chúng: Thình lình chúng bị thương tích.
Như vậy chúng sẽ vấp ngã, lưỡi chúng nghịch lại chúng; Mọi người thấy chúng đều sẽ lắc đầu.
Cả loài người đều sẽ sợ hãi, Họ sẽ rao truyền công việc của Đức Chúa Trời Và hiểu rõ điều Ngài đã làm.
Người công chính sẽ vui vẻ nơi Đức Giê-hô-va Và nương náu mình nơi Ngài. Mọi người có lòng ngay thẳng đều sẽ tự hào.
Lạy Đức Chúa Trời, Tại Si-ôn, thật đáng ca ngợi Ngài Và giữ trọn lời hứa nguyện với Ngài.
Lạy Chúa là Đấng lắng nghe lời cầu nguyện! Mọi loài xác thịt đều sẽ đến với Ngài.
Dù sự gian ác áp đảo con, Nhưng Chúa tha thứ tội lỗi của chúng con.
Phước cho người được Chúa chọn Và được phép đến ở trong hành lang Ngài. Chúng con sẽ được thỏa mãn với những điều tốt lành của nhà Chúa, Là đền thánh của Ngài.
Lạy Đức Chúa Trời là Đấng cứu rỗi chúng con, Chúa đáp lời chúng con bằng những việc công chính, đáng sợ. Chúa là niềm hi vọng của những người ở tận cùng trái đất Cũng như những kẻ ở tận biển xa.
Chúa dùng quyền năng mà lập nên núi non; Ngài thắt lưng bằng sức mạnh.
Chúa dẹp yên biển cả gầm vang, Ba đào gào thét; Ngài cũng dẹp yên sự náo loạn của các dân.
Những người ở tận cùng trái đất thấy phép mầu của Chúa đều sợ hãi; Chúa khiến buổi hừng đông và buổi hoàng hôn cất tiếng vui mừng.
Chúa thăm viếng đất và tưới nó, Làm cho nó phì nhiêu; Khiến dòng suối của Đức Chúa Trời đầy nước. Ngài chuẩn bị đất Để cung cấp ngũ cốc cho loài người.
Chúa tưới các luống cày, San bằng các mô đất. Ban mưa nhuần làm cho mềm đất, Và ban phước cho hoa lợi.
Chúa lấy sự nhân từ làm vương miện đội cho năm tháng; Các bước Chúa đi qua làm cho đất màu mỡ.
Khiến đồng cỏ nơi hoang mạc thêm mỡ màng Và núi đồi đều sung sướng reo vui.
Đồng cỏ đầy bầy chiên, Các thung lũng bao phủ bằng ngũ cốc; Khắp nơi đều ca hát reo mừng.
Hỡi cả trái đất, Hãy cất tiếng reo mừng Đức Chúa Trời.
Hãy ca ngợi danh vinh quang của Ngài, Hãy ca ngợi và tôn vinh Ngài.
Hãy thưa với Đức Chúa Trời rằng: “Các việc Ngài đáng sợ thay! Vì quyền năng vĩ đại của Chúa, các kẻ thù Ngài đều sẽ quy phục Ngài.
Cả trái đất đều thờ lạy Chúa; Họ ca ngợi Ngài, Chúc tụng danh của Ngài.” (Sê-la)
Hãy đến chiêm ngưỡng công việc của Đức Chúa Trời: Công việc Ngài làm cho con cái loài người thật đáng sợ.
Ngài đổi biển cả ra đất khô; Người ta đi bộ qua sông, Tại nơi ấy chúng con vui mừng trong Ngài.
Ngài dùng quyền năng Ngài mà cai trị đời đời; Mắt Ngài xem xét các nước; Những kẻ phản nghịch chớ tự cao. (Sê-la)
Hỡi các dân, hãy chúc tụng Đức Chúa Trời chúng ta! Hãy làm cho tiếng ca ngợi Chúa vang vọng khắp nơi.
Chính Ngài bảo tồn mạng sống chúng ta, Không để cho chân chúng ta trượt ngã.
Vì Đức Chúa Trời ôi, Chúa đã thử thách chúng con, Luyện chúng con như luyện bạc.
Chúa để chúng con sa vào bẫy lưới, Chất gánh nặng trên lưng chúng con.
Chúa để người ta cưỡi trên đầu chúng con; Chúng con phải đi qua lửa, qua nước, Nhưng Chúa đem chúng con ra nơi giàu có.
Con sẽ mang tế lễ thiêu vào nhà Chúa, Thực hiện các lời con hứa nguyện với Ngài,
Là lời môi con đã nói Và miệng con đã hứa khi gặp gian truân.
Con sẽ dâng cho Chúa những con vật béo tốt làm tế lễ thiêu Chung với mỡ chiên đực. Con cũng sẽ dâng những bò đực và dê đực. (Sê-la)
Hỡi tất cả những người kính sợ Đức Chúa Trời, hãy đến nghe, Tôi sẽ thuật điều Ngài đã làm cho linh hồn tôi.
Miệng tôi kêu cầu Chúa Và lưỡi tôi tôn cao Ngài.
Nếu lòng tôi xu hướng về điều ác Chúa chẳng nghe tôi đâu.
Nhưng Đức Chúa Trời thật có nghe; Ngài đã lắng tai nghe tiếng cầu nguyện tôi.
Đáng ca ngợi Đức Chúa Trời! Vì Ngài chẳng từ chối lời con cầu xin Cũng không cất sự nhân từ Ngài khỏi con.
Nguyện Đức Chúa Trời thương xót chúng con và ban phước cho chúng con, Chiếu sáng mặt Ngài trên chúng con. (Sê-la)
Để đường lối Chúa được biết trên đất Và sự cứu rỗi của Chúa được biết giữa các nước.
Lạy Đức Chúa Trời, nguyện các dân ca ngợi Chúa! Nguyện muôn dân chúc tụng Ngài!
Các nước hãy vui vẻ và hân hoan ca hát, Vì Chúa sẽ phán xét các dân tộc một cách công minh Và dẫn dắt muôn dân trên đất. (Sê-la)
Lạy Đức Chúa Trời, nguyện các dân ca ngợi Chúa! Nguyện muôn dân ca tụng Ngài!
Đất sinh hoa lợi, Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời chúng ta sẽ ban phước cho chúng ta.
Đức Chúa Trời ban phước cho chúng con Và mọi người ở tận cùng trái đất đều sẽ kính sợ Ngài.
Nguyện Đức Chúa Trời trỗi dậy, khiến kẻ thù Ngài bị tan lạc Và làm cho những kẻ ghét Ngài phải trốn chạy trước Ngài.
Như khói tan đi thể nào thì Chúa sẽ làm cho chúng tan đi thể ấy; Như sáp tan chảy trước lửa thể nào Thì những kẻ ác sẽ bị tiêu diệt trước mặt Đức Chúa Trời thể ấy.
Nhưng người công chính sẽ vui vẻ, Hớn hở trước mặt Đức Chúa Trời; Nguyện họ hân hoan, vui sướng.
Hãy hát xướng cho Đức Chúa Trời, hãy ca ngợi danh Ngài! Hãy dọn đường cho Đấng cưỡi trên các tầng mây, Danh Ngài là Đức Giê-hô-va; Hãy vui mừng trước mặt Ngài!
Đức Chúa Trời ở nơi thánh Ngài, Là Cha của trẻ mồ côi và Đấng Phân xử cho người góa bụa.
Đức Chúa Trời làm cho kẻ cô độc có nhà ở, Dẫn kẻ bị tù đày đến sự thịnh vượng, Nhưng khiến kẻ phản bội phải sống trong đất khô cằn.
Lạy Đức Chúa Trời, khi Ngài đi trước dân Ngài, Khi Ngài đi qua hoang mạc (Sê-la)
Thì đất rúng động, các tầng trời đổ mưa xuống Trước mặt Đức Chúa Trời, là Đấng của Si-na-i, Trước mặt Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Đức Chúa Trời ôi, Chúa giáng cơn mưa lớn trên sản nghiệp Ngài; Khi nó khô cằn, Chúa bồi bổ nó lại.
Lạy Đức Chúa Trời, con dân Ngài tìm được một chỗ ở tại đó, Bởi lòng nhân từ, Chúa cung cấp mọi nhu cầu cho người thiếu thốn.
Chúa truyền lệnh, Một đoàn phụ nữ ra đi loan báo rằng:
“Các vua thống lĩnh đạo quân chạy trốn, chạy trốn rồi!” Các phụ nữ ở nhà cũng phân chia chiến lợi phẩm.
Dù các ngươi nằm nghỉ giữa chuồng chiên, Cũng được cánh bồ câu dát bạc Và bộ lông bằng vàng ròng.
Khi Đấng Toàn năng đánh các vua tan tác, Khiến mưa tuyết đổ xuống núi Sanh-môn.
Hỡi rặng núi Ba-san là núi của Đức Chúa Trời, Rặng núi có nhiều đỉnh cao chót vót!
Hỡi các núi có nhiều đỉnh cao kia, sao các ngươi nhìn một cách ganh ghét Núi mà Đức Chúa Trời đã chọn làm nơi ở của Ngài? Phải, Đức Giê-hô-va sẽ ở tại đó đến đời đời.
Xe của Đức Chúa Trời hàng nghìn, hàng vạn, nhiều vô số; Chúa ở giữa các xe ấy, Từ Si-na-i bước vào nơi thánh.
Ngài đã lên nơi núi cao, Dẫn theo muôn vàn kẻ bị tù đày, Ngài nhận lễ vật từ loài người, Ngay cả từ những kẻ phản nghịch, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ở với họ.
Đáng chúc tụng Chúa Là Đấng hằng ngày mang lấy gánh nặng của chúng con, Tức là Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi chúng con. (Sê-la)
Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời cứu rỗi chúng con, Chính nhờ Chúa Giê-hô-va mà loài người thoát chết.
Nhưng Đức Chúa Trời sẽ chà nát đầu kẻ thù Ngài, Và đầu tóc của kẻ cứ miệt mài trong tội ác.
Chúa đã phán rằng: “Từ Ba-san Ta sẽ dẫn dân Ta về, Đem họ lên khỏi biển sâu.
Để chân các ngươi giẫm lên máu kẻ thù Và lưỡi của những con chó các ngươi cũng liếm huyết kẻ thù để hưởng phần.”
Lạy Đức Chúa Trời là Vua của con, mọi người đã thấy đoàn diễu hành rước Chúa, Một đoàn diễu hành đi vào nơi thánh.
Những người ca hát đi trước, những kẻ đánh đàn theo sau, Ở giữa là những thiếu nữ đánh trống cơm.
“Hãy chúc tụng Đức Chúa Trời trong các hội chúng, Hãy chúc tụng Đức Giê-hô-va, hỡi con cháu Y-sơ-ra-ên,”
Kìa bộ tộc Bên-gia-min nhỏ nhất, đi đầu, Theo sau là các nhà lãnh đạo Giu-đa và bộ tộc của họ; Kế đến là các nhà lãnh đạo Sa-bu-lôn và các nhà lãnh đạo Nép-ta-li.
Đức Chúa Trời ôi, xin truyền sức lực của Ngài; Lạy Đức Chúa Trời, xin bày tỏ quyền năng Ngài, như Ngài đã từng làm cho chúng con.
Từ đền thờ của Chúa tại Giê-ru-sa-lem, Các vua sẽ đem lễ vật dâng cho Chúa.
Xin quở trách thú rừng sống trong lau sậy, Quở trách đàn bò đực với những bò con của các dân Cho đến khi chúng quỳ xuống và dâng những nén bạc. Xin Chúa đánh tan các dân tộc hiếu chiến.
Lễ vật triều cống sẽ từ Ai Cập đem đến, Ê-thi-ô-pi sẽ sớm giơ tay hướng về Đức Chúa Trời.
Hỡi các vương quốc trên đất, hãy ca ngợi Đức Chúa Trời! Hãy hát lên, ngợi ca Chúa thánh! (Sê-la)
Ngài là Đấng cưỡi trên các tầng trời thái cổ, Hãy lắng nghe tiếng Chúa vang rền.
Hãy công bố quyền năng Đức Chúa Trời, Vẻ uy nghiêm Ngài trên dân Y-sơ-ra-ên Và sức mạnh Ngài trong mây trời.
Lạy Đức Chúa Trời, Ngài thật đáng sợ trong nơi thánh Ngài; Chính Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên Ban sức mạnh và quyền năng cho con dân Ngài. Đáng chúc tụng Đức Chúa Trời!
Đức Chúa Trời ôi! Xin cứu con, Vì những dòng nước đã ngập đến cổ con.
Con bị lún trong bùn sâu Và bị hỏng chân. Con bị chìm trong nước sâu, Dòng nước cuốn trôi con.
Con kêu lên, mệt lả, Họng con khô khốc, Mắt con hao mòn Khi trông đợi Đức Chúa Trời của con.
Những kẻ ghen ghét con vô cớ Nhiều hơn số tóc trên đầu con; Những kẻ thù hung bạo vô cớ muốn hủy diệt con; Con phải bồi thường vật mà con không ăn cắp.
Đức Chúa Trời ôi! Chúa biết sự ngu dại của con, Các tội lỗi của con không giấu được Chúa.
Lạy Chúa là Đức Giê-hô-va vạn quân, Nguyện những người trông đợi Chúa không bị hổ thẹn vì cớ con; Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ôi! Nguyện những người tìm kiếm Chúa không bị sỉ nhục vì cớ con.
Vì cớ Chúa mà con mang điều nhục nhã Và sự hổ thẹn bao phủ mặt con.
Con trở nên một kẻ xa lạ đối với anh em con, Một người ngoại quốc đối với các con trai của mẹ con.
Vì sự sốt sắng về Nhà Chúa thiêu đốt con, Nỗi sỉ nhục của kẻ sỉ nhục Chúa đã đổ trên con.
Khi con khóc lóc và kiêng ăn để ép linh hồn Thì chúng lại lăng nhục con.
Khi con lấy vải sô làm áo mặc Thì con trở nên trò cười đối với chúng.
Những kẻ ngồi nơi cổng thành đàm tiếu về con, Và con trở thành câu hát chế nhạo của bọn say rượu.
Nhưng Đức Giê-hô-va ôi! Nhờ dịp tiện nầy mà con cầu nguyện cùng Ngài. Đức Chúa Trời ôi! Theo sự thương xót lớn lao của Chúa và theo chân lý cứu rỗi của Ngài, Xin đáp lời con.
Xin cứu con khỏi vũng bùn, Đừng để con lún sâu trong đó. Nguyện con được giải thoát khỏi những kẻ ghét con Và khỏi dòng nước sâu.
Nguyện dòng nước không cuốn trôi con, Vực thẳm không nuốt lấy con, Hầm sâu không khép miệng chôn con trong đó.
Đức Giê-hô-va ôi! Xin hãy đáp lời con vì sự nhân từ Ngài là tốt lành; Tùy lòng thương xót dư dật của Ngài, xin quay lại cùng con.
Xin Chúa đừng ẩn mặt cùng đầy tớ Chúa, Vì con đang gặp gian truân; Xin mau mau đáp lời con.
Cầu xin Chúa đến gần linh hồn con và cứu chuộc con, Vì cớ kẻ thù của con, xin giải cứu con.
Chúa biết nỗi sỉ nhục, Hổ thẹn và nhuốc nhơ của con; Các kẻ thù của con đều ở trước mặt Chúa.
Lòng con tan nát vì bị sỉ nhục, Và con thật khốn khổ. Con trông sự cảm thông mà chẳng thấy, Con tìm người an ủi mà chẳng gặp.
Chúng lấy mật đắng làm thức ăn cho con. Và cho con uống giấm khi khát nước.
Mong cho bàn tiệc của chúng trở nên cái bẫy cho chúng; Và tế lễ của chúng trở thành cái lưới cho bạn bè chúng.
Mong mắt chúng bị mù đi, không nhìn thấy được, Và lưng chúng mãi mãi cong khom.
Xin đổ cơn thịnh nộ Chúa trên chúng. Khiến lửa giận của Ngài bắt kịp chúng.
Mong chỗ ở chúng bị hoang tàn, Chẳng còn ai ở trong trại chúng nữa.
Vì chúng bắt bớ kẻ bị Chúa đánh Và thuật lại nỗi đau đớn của người mà Chúa đã làm bị thương.
Xin Chúa trừng phạt tội ác chồng chất của chúng; Đừng cho chúng hưởng sự công chính của Chúa.
Xin xóa tên chúng khỏi sách sự sống, Và đừng ghi tên chúng vào danh sách những người công chính.
Con bị khốn khổ và đau đớn; Đức Chúa Trời ôi! Nguyện sự cứu rỗi của Chúa bảo vệ con.
Con sẽ hát bài ca chúc tụng danh Đức Chúa Trời; Lấy sự cảm tạ mà tôn cao Ngài.
Điều ấy sẽ đẹp lòng Đức Giê-hô-va hơn tế lễ bằng bò đực, Hoặc con bò đực có sừng và móng rẽ.
Những người khiêm nhường sẽ thấy điều đó và vui mừng; Còn các ngươi là những người tìm kiếm Đức Chúa Trời, nguyện lòng các ngươi tràn đầy sức sống.
Vì Đức Giê-hô-va lắng nghe những người thiếu thốn, Và không khinh dể con dân Ngài đang bị tù.
Nguyện trời, đất, biển Và các loài sinh vật trong đó đều ca ngợi Ngài.
Vì Đức Chúa Trời sẽ cứu Si-ôn Và xây lại các thành của Giu-đa. Con dân Ngài sẽ sống ở đó và chiếm hữu nó.
Dòng dõi các đầy tớ Ngài sẽ thừa hưởng nó; Và ai yêu mến danh Ngài sẽ ở tại nơi ấy.
Đức Chúa Trời ôi! Xin mau mau giải cứu con; Đức Giê-hô-va ôi! Xin mau giúp đỡ con.
Nguyện những kẻ tìm hại mạng sống con Đều phải bị hổ thẹn và nhuốc nhơ; Nguyện những kẻ vui vẻ về sự thiệt hại con Phải thối lui một cách nhục nhã.
Những kẻ nói rằng: “Ha! Ha!” Nguyện chúng phải thối lui vì hổ thẹn.
Nguyện tất cả người nào tìm kiếm Chúa Được mừng rỡ, vui vẻ nơi Chúa; Nguyện những kẻ yêu mến sự cứu rỗi của Chúa Luôn nói rằng: “Đức Chúa Trời thật vĩ đại!”
Nhưng con bị khốn cùng và thiếu thốn; Đức Chúa Trời ôi! Xin mau đến cùng con: Chúa là Đấng giúp đỡ con và là Đấng giải cứu con; Đức Giê-hô-va ôi! Xin đừng chậm trễ.
Lạy Đức Giê-hô-va, con nương náu mình nơi Ngài; Xin đừng bao giờ để con bị hổ thẹn.
Xin lấy đức công chính của Chúa mà cứu chuộc con và giải thoát con; Xin nghiêng tai qua con và cứu con.
Xin Chúa làm vầng đá để con nương náu Là nơi để con được vào đó luôn luôn; Xin Chúa ra lệnh cứu con Vì Chúa là vầng đá và là đồn lũy của con.
Lạy Đức Chúa Trời của con, xin cứu con khỏi tay kẻ độc ác, Và khỏi tay kẻ bất chính cùng người hung bạo.
Vì, lạy Chúa là Đức Giê-hô-va, Ngài là niềm hi vọng Và là sự tin cậy của con từ thuở thanh xuân.
Con nương tựa nơi Chúa từ lúc mới ra đời; Chính Chúa đem con ra khỏi lòng mẹ. Con sẽ ca ngợi Chúa luôn luôn.
Con trở nên điềm gở cho nhiều người; Nhưng Chúa là nơi nương náu vững bền của con.
Miệng con đầy lời ngợi ca Chúa, Hằng ngày con luôn tôn vinh Ngài.
Xin Chúa đừng từ bỏ con trong lúc già cả; Cũng đừng lìa khỏi con khi sức lực hao mòn.
Vì kẻ thù nói nghịch con, Những kẻ rình rập mạng sống con âm mưu với nhau.
Chúng nói: “Đức Chúa Trời đã bỏ hắn Hãy đuổi theo và bắt hắn, Vì chẳng có ai giải cứu hắn cả.”
Đức Chúa Trời ôi! Xin chớ đứng xa con; Đức Chúa Trời con ôi! Xin mau mau đến giúp đỡ con.
Nguyện kẻ thù của con phải hổ thẹn và bị tiêu diệt; Nguyện kẻ nào tìm cách hãm hại con Bị bao phủ bằng sỉ nhục và nhuốc nhơ.
Nhưng con sẽ hi vọng luôn luôn Và ca ngợi Chúa càng ngày càng thêm.
Miệng con sẽ thuật lại sự công chính của Chúa, Hằng ngày con rao truyền ơn cứu rỗi của Ngài, Vì con không biết phải kể sao cho xiết.
Con sẽ đến ca ngợi các việc quyền năng của Chúa Giê-hô-va; Con sẽ nhớ đến đức công chính của Chúa, Và chỉ nhớ đến đức công chính của Ngài mà thôi.
Lạy Đức Chúa Trời, Chúa đã dạy con từ buổi thanh xuân, Cho đến bây giờ con vẫn rao truyền các công việc lạ lùng của Ngài.
Lạy Đức Chúa Trời, dù khi con đã già và tóc bạc rồi, Xin Chúa đừng từ bỏ con Cho đến khi con rao truyền sức mạnh của Ngài cho thế hệ mai sau, Và quyền năng Ngài cho dòng dõi kế tiếp.
Lạy Đức Chúa Trời, sự công chính của Chúa Cao đến tận trời. Chính Ngài đã làm những công việc vĩ đại, Lạy Đức Chúa Trời, ai giống như Ngài?
Chúa là Đấng đã làm cho chúng con thấy vô số gian truân, đắng cay, Ngài sẽ khiến chúng con được sống lại Và đem chúng con lên Khỏi vực sâu của đất.
Chúa sẽ gia thêm sự tôn trọng cho con, Và trở lại an ủi con.
Lạy Đức Chúa Trời của con, con cũng sẽ dùng đàn lia mà ca ngợi Chúa, Tôn vinh sự thành tín của Ngài. Lạy Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, Con sẽ dùng đàn hạc mà ca tụng Ngài.
Môi con sẽ reo mừng khi con ca ngợi Chúa, Vì linh hồn con đã được Ngài cứu chuộc.
Suốt ngày lưỡi con cũng sẽ thuật lại sự công chính của Chúa Vì những kẻ tìm cách hại con Đã bị xấu hổ và nhục nhã.
Lạy Đức Chúa Trời, xin ban cho vua công lý của Ngài, Và ban cho vương tử đức công chính của Ngài.
Người sẽ phán xét dân Ngài một cách ngay thẳng, Phân xử kẻ nghèo khổ một cách công minh.
Nguyện các núi đem lại sự thịnh vượng, Và các đồi đem công chính cho dân chúng.
Vua sẽ phán xét kẻ khốn cùng trong dân chúng, Giải cứu người thiếu thốn Và chà nát kẻ áp bức.
Hễ mặt trời, mặt trăng tồn tại bao lâu Thì người sẽ sống bấy lâu, và cho đến muôn đời.
Nguyện vua sẽ như mưa rơi trên cỏ mới phát Giống như trận mưa rào tưới đều đất đai.
Trong thời trị vì của vua, sự công chính hưng thịnh, Và cảnh thái bình sẽ kéo dài cho đến khi mặt trăng không còn chiếu sáng nữa.
Người sẽ cai trị từ biển nầy tới biển kia, Từ Sông cho đến cùng trái đất.
Những người sống trong hoang mạc sẽ quỳ lạy trước mặt vua, Còn kẻ thù của vua sẽ liếm bụi đất.
Các vua Ta-rê-si và những cù lao Sẽ triều cống cho vua. Vua Sa-ba và vua Sê-ba Sẽ mang quà đến tặng vua.
Nguyện tất cả các vua sẽ sấp mình xuống trước mặt vua; Mọi nước sẽ phục vụ vua.
Vì vua sẽ giải cứu kẻ thiếu thốn khi họ kêu cầu Và cứu giúp người khốn cùng không có ai giúp đỡ.
Vua sẽ thương xót người thiếu thốn và kẻ thấp hèn Và cứu mạng sống của người thiếu thốn.
Vua sẽ cứu đời họ khỏi cảnh áp bức và bạo tàn; Huyết của họ là quý báu dưới mắt vua.
Nguyện vua được trường thọ! Và thiên hạ sẽ dâng vàng Sa-ba cho vua, Nguyện người ta sẽ cầu nguyện cho vua luôn luôn. Và hằng ngày chúc phước cho vua.
Nguyện ngũ cốc sẽ dư dật trên đất Và trên các đỉnh núi; Nguyện bông trái của nó nhiều như cây rừng Li-ban, Còn người ở thành thị sẽ hưng thịnh Như cỏ của đất.
Nguyện danh vua sẽ còn mãi mãi, Mặt trời còn đến chừng nào thì danh vua sẽ tồn tại chừng nấy; Người ta sẽ nhân danh vua mà chúc phước nhau! Mọi nước đều sẽ coi vua là có phước.
Đáng ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Chỉ một mình Ngài làm những việc diệu kỳ!
Đáng ca ngợi danh vinh quang Ngài đến đời đời! Nguyện khắp trái đất được đầy vinh quang của Ngài! A-men! A-men!
Các bài cầu nguyện của Đa-vít con trai Y-sai đến đây kết thúc.
Đức Chúa Trời thật tốt lành đối với Y-sơ-ra-ên, Tức là những người có lòng trong sạch.
Còn về phần con, chân con gần vấp ngã, Suýt chút nữa bước con bị trượt.
Vì khi con thấy sự thịnh vượng của kẻ ác Thì ganh ghét kẻ kiêu ngạo.
Vì chúng chẳng bị đau đớn khi chết; Thân thể chúng vẫn mập mạnh.
Chúng chẳng gặp rối ren như những người khác, Cũng không bị tai họa như người đời.
Vì thế, sự kiêu ngạo làm cái kiềng nơi cổ chúng; Bạo ngược bao phủ chúng như áo quần.
Mắt chúng lộ ra trong mỡ; Lòng chúng đầy những ý tưởng điên rồ.
Chúng chế giễu, nói những lời độc ác và đe dọa Chúng nói cách kiêu kỳ.
Miệng thì nói hành thiên thượng Còn lưỡi lại vu cáo thế gian.
Vì cớ ấy dân Ngài nghiêng về phía chúng, Và họ uống cạn chén nước của chúng.
Chúng nói: “Làm sao Đức Chúa Trời biết được? Đấng Chí Cao có tri thức sao?”
Kìa, kẻ ác bình an vô sự luôn luôn; Của cải chúng cứ gia tăng mãi.
Con đã giữ lòng con tinh sạch là vô ích Và rửa tay con trong sự vô tội là luống công.
Vì hằng ngày con phải chịu gian nan, Mỗi buổi sáng con bị sửa phạt.
Nếu con có nói rằng: “Ta sẽ nói như thế” Thì con đã phạm tội bất trung với dòng dõi con cái Chúa.
Khi con suy ngẫm để hiểu rõ điều ấy Thì con cảm thấy cực nhọc phiền lòng.
Cho đến khi con vào nơi thánh của Đức Chúa Trời, Thì mới hiểu được sự cuối cùng của chúng.
Chúa thật đặt chúng trong nơi trơn trợt; Ngài làm cho chúng rơi vào cảnh diệt vong.
Kìa, chúng bị hủy diệt trong chốc lát, Nỗi kinh hoàng khiến chúng tiêu vong.
Lạy Chúa, như người ta coi thường giấc chiêm bao khi tỉnh thức thể nào, Thì Chúa cũng xua tan hình bóng của chúng khi Ngài tỉnh thức thể ấy.
Khi lòng con chua xót, Và dạ con xốn xang,
Thì bấy giờ con trở nên kẻ ngu si, dốt nát, Con khác nào một thú vật trước mặt Ngài vậy.
Nhưng con cứ ở cùng Chúa luôn luôn; Chúa nắm lấy tay phải con.
Chúa sẽ dùng sự khuyên dạy mà dẫn dắt con, Rồi sau đó, tiếp rước con trong vinh quang.
Ở trên trời con có ai trừ ra Chúa? Còn dưới đất con chẳng ước ao người nào khác hơn Chúa.
Thể xác và tâm hồn con bị tiêu hao, Nhưng Đức Chúa Trời là sức mạnh của lòng con; Và là phần của con đến đời đời.
Vì kìa những kẻ xa Chúa sẽ hư vong; Chúa sẽ hủy diệt những kẻ phạm tội bất trung, từ bỏ Ngài.
Nhưng thật phước hạnh cho con được đến gần Đức Chúa Trời; Con chọn Chúa Giê-hô-va làm nơi nương náu mình, Để thuật lại tất cả công việc của Ngài.
Đức Chúa Trời ôi! Vì sao Chúa bỏ chúng con luôn luôn? Tại sao cơn giận Chúa nổi phừng cùng bầy chiên của đồng cỏ Ngài?
Xin nhớ lại hội mà Chúa đã lập từ xưa, Bộ tộc mà Ngài đã chuộc để làm cơ nghiệp của Ngài; Cũng xin nhớ đến núi Si-ôn là nơi Chúa đã ngự.
Xin Chúa quá bước đến những nơi đổ nát hoàn toàn: Kẻ thù đã phá hủy hết mọi vật trong nơi thánh.
Các cừu địch Chúa gầm thét giữa nơi hội họp; Chúng dựng cờ lên để làm dấu hiệu.
Chúng giống như người đốn cây cầm rìu giơ lên Chặt đám rừng rậm kia.
Bây giờ chúng dùng rìu và búa Đập bể tất cả vật chạm trổ.
Chúng đã phóng hỏa đốt nơi thánh của Chúa, Triệt hạ và làm ô uế nơi ngự của danh Ngài.
Chúng tự nhủ: “Chúng ta hãy nghiền nát chúng.” Chúng đã đốt các nhà hội của Đức Chúa Trời trong xứ.
Chúng con chẳng còn thấy các dấu lạ, Cũng không còn nhà tiên tri nào nữa; Và giữa chúng con cũng chẳng ai biết việc nầy sẽ kéo dài bao lâu.
Đức Chúa Trời ôi! Kẻ chống nghịch sẽ sỉ nhục Ngài cho đến chừng nào? Kẻ thù cứ xúc phạm danh Ngài mãi sao?
Sao Chúa rút tay lại, tức là tay phải của Ngài? Xin vung tay ra và tiêu diệt chúng đi!
Dầu vậy, từ nghìn xưa, Đức Chúa Trời là Vua của con Ngài thi hành sự cứu rỗi trên khắp đất.
Chúa đã dùng quyền năng Ngài mà rẽ biển ra, Đập nát đầu của quái vật dưới nước.
Chúa chà nát đầu Lê-vi-a-than, Ban nó làm thực phẩm cho dân sống trong hoang mạc.
Chúa khiến suối và khe phun nước, Và làm cho các sông lớn phải cạn khô.
Ngày thuộc về Chúa, đêm cũng thuộc về Chúa; Ngài đã thiết lập mặt trăng và mặt trời.
Chúa đã định các ranh giới của đất, Làm nên mùa hè và mùa đông.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin nhớ rằng kẻ thù đã sỉ nhục, Và một dân ngu dại đã xúc phạm danh Ngài.
Xin chớ phó sinh mạng bồ câu của Chúa cho loài dã thú; Cũng đừng quên mãi mãi cuộc sống của kẻ khốn cùng, là dân Chúa.
Xin Chúa đoái đến giao ước của Ngài, Vì các nơi tối tăm của đất đều là nơi đầy bạo hành.
Nguyện kẻ bị áp bức không trở về trong hổ thẹn; Nguyện kẻ khốn cùng và người thiếu thốn ca ngợi danh Ngài.
Lạy Đức Chúa Trời, xin trỗi dậy bênh vực lý lẽ của Ngài. Xin nhớ lại bọn ngu dại hằng ngày chế nhạo Ngài.
Xin đừng quên tiếng la hét của kẻ thù Chúa, Sự ồn ào của kẻ phản nghịch Ngài cứ mãi dâng lên.
Lạy Đức Chúa Trời, chúng con cảm tạ Chúa; Chúng con cảm tạ vì danh Chúa ở gần. Người ta thuật lại các công việc lạ lùng của Ngài.
Đến thời điểm Ta đã định, Chính Ta sẽ phán xét công minh.
Khi đất và mọi người trên đất rúng động Chính Ta sẽ giữ vững các trụ nó. (Sê-la)
Tôi nói với kẻ kiêu ngạo rằng: “Chớ kiêu ngạo,” Và nói với kẻ ác rằng: “Đừng ngước sừng lên;
Đừng ngước sừng các ngươi cao lên Cũng đừng cứng cổ mà nói lời xấc xược.”
Vì chẳng ai từ phương đông, phương tây Hay là từ phương nam có thể tôn cao người nào.
Nhưng chính Đức Chúa Trời thi hành sự phán xét: Ngài hạ kẻ nầy xuống, nhấc người kia lên.
Vì trong tay Đức Giê-hô-va có cái chén Đầy rượu pha, sủi bọt, Ngài rót nó ra. Tất cả kẻ ác ở thế gian đều phải uống, Phải uống cạn rượu ấy cho tới cặn.
Nhưng chính tôi sẽ rao truyền các điều đó mãi mãi, Cũng sẽ ca ngợi Đức Chúa Trời của Gia-cốp.
Ta sẽ chặt tất cả các sừng kẻ ác Nhưng các sừng của người công chính sẽ được ngước lên.
Trong Giu-đa người ta biết Đức Chúa Trời, Danh Ngài thật vĩ đại giữa Y-sơ-ra-ên.
Đền Tạm của Ngài ở Sa-lem, Và nơi ngự của Ngài tại Si-ôn.
Tại nơi ấy, Ngài đã bẻ gãy những mũi tên lửa, Cái khiên, thanh gươm và vũ khí chiến tranh. (Sê-la)
Chúa rực rỡ, oai nghi Trở về từ các núi chiến lợi phẩm.
Các dũng sĩ đã bị cướp lột, Họ chìm sâu trong giấc ngủ mình; Chẳng một người mạnh dạn nào Nhấc nổi cánh tay mình.
Lạy Đức Chúa Trời của Gia-cốp, Khi Chúa quở trách, ngựa và người cưỡi ngựa đều ngã chết.
Chính mình Chúa thật đáng sợ; Cơn giận Chúa vừa nổi lên, Ai đứng nổi trước mặt Chúa?
Từ trên trời, Chúa truyền sự phán xét, Thì đất sợ hãi và nín lặng.
Đức Chúa Trời trỗi dậy phán xét Để giải cứu các người nhu mì trên đất (Sê-la)
Cơn giận loài người hẳn sẽ ngợi ca Chúa; Còn cơn giận dư lại, Chúa sẽ ngăn cản.
Hãy hứa nguyện với Giê-hô-va Đức Chúa Trời, Và thực hiện điều các ngươi đã hứa với Ngài. Mọi người ở chung quanh Ngài Hãy đem lễ vật dâng lên Đấng đáng kính sợ.
Ngài diệt tính kiêu ngạo của các quan trưởng; Các vua thế gian phải kính sợ Ngài.
Con kêu cầu với Đức Chúa Trời, Cất tiếng hướng về Đức Chúa Trời và xin Ngài lắng nghe con.
Trong ngày gian truân, con tìm cầu Chúa; Ban đêm, tay con giơ thẳng lên không mỏi; Nhưng linh hồn con không được an ủi.
Con nhớ đến Đức Chúa Trời và bồn chồn, than thở; Tâm linh con nao sờn. (Sê-la)
Chúa giữ mí mắt con mở ra; Con bị bối rối, không nói nên lời.
Con suy nghĩ về những ngày xưa Và các năm đã qua.
Ban đêm con nhớ lại bài hát của con; Con suy ngẫm trong lòng và tâm linh con băn khoăn tự hỏi:
“Chúa sẽ từ bỏ đến đời đời ư? Ngài chẳng còn ban ơn nữa sao?
Sự nhân từ của Ngài chấm dứt mãi mãi ư? Lời hứa của Ngài vĩnh viễn không còn nữa sao?
Đức Chúa Trời quên làm ơn sao? Trong cơn giận, Ngài đóng chặt lòng thương xót ư?” (Sê-la)
Con nói: “Nỗi đau đớn của con là: Tay phải của Đấng Chí Cao đã đổi thay.”
Con sẽ nhớ mãi công việc của Đức Giê-hô-va, Nhớ đến các phép lạ của Ngài thuở xưa;
Cũng sẽ suy ngẫm về mọi công tác Chúa, Và suy tư về những công việc của Ngài.
Lạy Đức Chúa Trời, đường lối Chúa là thánh. Có thần nào vĩ đại bằng Đức Chúa Trời chăng?
Chúa là Đức Chúa Trời hay làm phép lạ; Ngài bày tỏ quyền năng Ngài giữa các dân.
Chúa dùng cánh tay mình mà chuộc dân Ngài, Tức là con cháu của Gia-cốp và Giô-sép. (Sê-la)
Lạy Đức Chúa Trời, khi các dòng nước thấy Chúa, Phải, khi các dòng nước thấy Chúa thì sợ hãi, Và vực sâu run rẩy.
Đám mây tuôn nước xuống, Bầu trời vang tiếng sấm Và các mũi tên Chúa bay khắp bốn phương.
Tiếng sấm Chúa ở trong gió trốt; Tia chớp chiếu sáng thế gian; Đất chuyển động và rung rinh.
Con đường của Chúa ở trong biển, Các lối của Chúa ở dưới nước sâu, Còn các dấu chân Chúa không ai thấy được.
Chúa dùng tay Môi-se và A-rôn Để dẫn dắt dân Ngài như một đàn chiên.
Hỡi dân ta, hãy lắng tai nghe lời khuyên dạy của ta; Hãy nghiêng tai nghe lời của miệng ta.
Ta sẽ mở miệng nói bằng ẩn dụ, Giãi bày những huyền nhiệm từ đời xưa,
Là những điều chúng ta đã nghe biết, Và tổ phụ đã thuật lại cho chúng ta.
Chúng ta sẽ chẳng giấu các điều ấy với con cháu chúng ta, Nhưng sẽ thuật lại cho thế hệ tương lai Vinh quang của Đức Giê-hô-va cùng quyền năng Ngài, Và các phép mầu mà Ngài đã làm.
Ngài đã lập chứng ước với Gia-cốp, Định luật pháp trong Y-sơ-ra-ên, Và truyền lệnh cho tổ phụ chúng ta Phải dạy lại cho con cháu mình;
Để thế hệ tương lai, Tức là con cháu sẽ được sinh ra, biết những điều đó, Và đến lượt họ, họ sẽ truyền lại cho con cháu mình,
Hầu cho con cháu họ để lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời, Không quên các công việc Ngài, Nhưng gìn giữ các điều răn của Ngài;
Và để họ không giống như tổ phụ họ, Là một thế hệ ương ngạnh và nổi loạn, Một thế hệ không có lòng kiên định Và không có tinh thần trung tín với Đức Chúa Trời.
Con cháu Ép-ra-im được trang bị bằng cung tên Nhưng lại quay lưng trong ngày chiến trận.
Họ không gìn giữ giao ước của Đức Chúa Trời, Cũng khước từ tuân theo luật pháp của Ngài.
Họ quên những việc mà Ngài đã làm Và các phép mầu mà Ngài đã bày tỏ cho họ.
Tại Ai Cập, nơi cánh đồng Xô-an. Ngài làm những phép lạ trước mặt tổ phụ họ.
Ngài rẽ biển ra và cho họ đi ngang qua đó, Khiến nước dựng lên thành đống.
Ngài dẫn dắt họ ban ngày bằng áng mây, Và ban đêm bằng ánh lửa.
Ngài chẻ vầng đá ra trong hoang mạc Và cho họ uống nước thỏa thích như từ vực sâu.
Ngài cũng khiến dòng suối từ vầng đá phun ra Và làm cho nước tuôn chảy như dòng sông.
Dù vậy họ cứ phạm tội với Ngài, Phản nghịch cùng Đấng Chí Cao trong hoang mạc.
Họ cố tình thử thách Đức Chúa Trời, Đòi bằng được thức ăn mà mình thích.
Họ nói nghịch lại Đức Chúa Trời rằng: “Đức Chúa Trời có thể dọn bàn trong hoang mạc được sao?
Dù Ngài đã đập vầng đá Cho nước phun ra thành suối, Liệu Ngài có thể ban bánh Và cung cấp thịt cho dân Ngài được chăng?”
Nghe vậy, Đức Giê-hô-va liền nổi giận; Một ngọn lửa thiêu đốt Gia-cốp, Và cơn giận nổi lên cùng Y-sơ-ra-ên.
Vì họ không tin Đức Chúa Trời, Cũng chẳng nhờ cậy sự cứu rỗi của Ngài.
Tuy nhiên, Ngài truyền cho các tầng mây trên cao Và mở các cửa trên trời,
Ban mưa ma-na xuống cho họ ăn, Và ban cho họ lương thực từ trời.
Người phàm được ăn bánh của thiên sứ; Ngài cung cấp cho họ thức ăn dồi dào.
Từ trời, Ngài khiến gió đông thổi tới, Dùng quyền năng dẫn gió nam về.
Ngài đổ cơn mưa thịt trên họ nhiều như bụi, Và chim bay đến nhiều như cát biển;
Ngài khiến các vật đó rơi xuống giữa trại quân, Chung quanh nơi ở của họ.
Như vậy họ được ăn no nê thỏa thích, Ngài ban cho họ điều họ thèm muốn.
Nhưng trước khi họ thỏa cơn thèm muốn, Thức ăn vẫn còn trong miệng họ,
Thì cơn giận của Đức Chúa Trời nổi lên cùng họ; Ngài giết những kẻ mập mạnh hơn hết, Đánh hạ những người trai trẻ của Y-sơ-ra-ên.
Dù đến thế, họ vẫn còn phạm tội, Không tin các phép mầu của Ngài.
Vì thế, Ngài làm cho các ngày của họ tiêu tan như hơi thở, Năm tháng của họ kết thúc trong kinh hoàng.
Khi Ngài đánh giết họ, họ mới cầu hỏi Ngài; Họ trở lại và hết lòng tìm kiếm Đức Chúa Trời.
Họ nhớ lại rằng Đức Chúa Trời là vầng đá của họ, Đức Chúa Trời Chí Cao là Đấng cứu chuộc mình.
Nhưng họ lấy miệng tâng bốc Chúa, Dùng lưỡi dối gạt Ngài.
Lòng họ chẳng khắng khít với Ngài, Họ cũng không trung tín trong giao ước với Ngài.
Nhưng vì lòng thương xót, Ngài tha thứ tội ác Và chẳng hủy diệt họ; Nhiều khi Ngài phải nén cơn giận, Không nổi trận lôi đình.
Ngài nhớ lại rằng họ chỉ là xác thịt, Một hơi thở thoáng qua, không trở lại.
Đã bao lần họ phản loạn cùng Ngài trong sa mạc, Và làm buồn lòng Ngài giữa chốn hoang vu!
Họ cứ tái diễn việc thử thách Đức Chúa Trời, Làm tổn thương Đấng thánh của Y-sơ-ra-ên.
Họ không nhớ đến quyền năng của Ngài Trong ngày Ngài giải cứu họ khỏi kẻ thù;
Là khi Ngài làm các dấu lạ tại Ai Cập Và những phép mầu trong cánh đồng Xô-an.
Ngài biến các sông của chúng thành máu, Các dòng nước ấy không thể uống được.
Ngài sai muỗi mòng cắn nuốt chúng, Và ếch nhái tàn hại chúng;
Ngài phó hoa lợi chúng cho châu chấu, Giao sản vật chúng cho cào cào.
Ngài phá vườn nho chúng bằng mưa đá, Hủy vườn sung của chúng bằng tuyết giá.
Ngài phó đàn gia súc của chúng cho mưa đá, Giao bầy chiên chúng cho sấm sét.
Ngài trút trên chúng lửa giận dữ, Cơn thịnh nộ, sự rủa sả và tai ương, Tức là cả một đoàn thiên sứ hủy diệt được sai đến.
Ngài mở lối cho cơn giận của Ngài; Chẳng dung tha chúng khỏi sự chết, Nhưng phó mạng sống chúng cho dịch bệnh.
Ngài đánh giết mọi con đầu lòng Ai Cập, Tức là tinh hoa của sức lực trong các trại của Cham.
Rồi Ngài đem dân Ngài ra như con chiên, Dẫn dắt họ trong hoang mạc như một bầy chiên.
Ngài dẫn đưa họ an toàn, họ không lo sợ gì; Nhưng biển vùi lấp những kẻ thù của họ.
Ngài đưa họ đến bờ cõi thánh của Ngài, Tức là đến núi mà tay phải Ngài đã tạo ra.
Ngài cũng đuổi các dân ngoại bang khỏi họ; Bắt thăm chia đất làm sản nghiệp, Đưa các bộ tộc Y-sơ-ra-ên vào ở trong trại của các dân ấy.
Dù vậy họ vẫn thử thách Và phản loạn với Đức Chúa Trời Chí Cao, Không tuân giữ các chứng ước của Ngài.
Nhưng họ tráo trở và bất trung như tổ phụ mình; Họ quanh co như cây cung sai lệch.
Họ chọc giận Chúa vì các nơi cao, Khiến Ngài nổi giận vì những tượng chạm.
Nghe điều ấy, Đức Chúa Trời nổi giận; Ngài nhất quyết từ bỏ Y-sơ-ra-ên.
Ngài lìa bỏ đền tạm tại Si-lô, Tức là lều trại, nơi Ngài ngự giữa loài người;
Sức lực Ngài bị phó cho lưu đày, Vinh hiển Ngài bị giao vào tay kẻ thù.
Ngài cũng phó dân Ngài cho gươm giáo, Và nổi giận với cơ nghiệp mình.
Lửa thiêu nuốt những chàng trai của họ, Các cô gái không còn được nghe hát mừng hôn lễ.
Các thầy tế lễ gục ngã vì gươm, Nhưng các góa phụ không thể khóc than.
Bấy giờ, Chúa như người thức dậy từ giấc ngủ, Như dũng sĩ say men chiến thắng.
Ngài đánh cho kẻ thù phải quay lưng bỏ chạy; Làm cho chúng bị sỉ nhục đời đời.
Rồi Ngài từ bỏ trại Giô-sép, Cũng chẳng chọn bộ tộc Ép-ra-im;
Nhưng chọn bộ tộc Giu-đa, Là núi Si-ôn mà Ngài yêu mến.
Ngài xây đền thánh như nhà trên trời, Như trái đất mà Ngài đã vững lập đời đời.
Ngài cũng chọn Đa-vít làm đầy tớ Ngài, Bắt ông từ các chuồng chiên;
Ngài đem ông ra khỏi đàn chiên còn bú Để ông chăn giữ Gia-cốp là dân Ngài, Và Y-sơ-ra-ên là cơ nghiệp Ngài.
Ông chăn giữ họ với tấm lòng liêm chính, Dắt dẫn họ bằng đôi tay khéo léo.
Đức Chúa Trời ôi! Dân ngoại đã vào trong sản nghiệp Chúa; Làm ô uế đền thánh của Chúa; Và khiến cho Giê-ru-sa-lem trở nên đống gạch vụn.
Chúng đã ném thây các đầy tớ Chúa Làm thức ăn cho chim trời. Cũng đã vứt thịt của các người trung tín với Ngài cho thú rừng trên đất.
Chúng đổ huyết họ ra như nước Khắp nơi trong thành Giê-ru-sa-lem, Và chẳng có ai chôn cất họ.
Chúng con đã trở nên sự sỉ nhục cho kẻ lân cận mình, Vật nhạo báng và đồ chê cười cho những kẻ ở chung quanh chúng con.
Đức Giê-hô-va ôi! Cho đến chừng nào? Ngài sẽ giận mãi mãi sao? Lòng ghen tương Ngài sẽ cháy như lửa sao?
Xin đổ cơn giận của Chúa trên các dân Không biết Ngài, Và trên các vương quốc Không cầu khẩn danh Ngài.
Vì chúng đã ăn nuốt Gia-cốp, Và phá hủy chỗ ở của người.
Xin Chúa đừng nhớ lại các tội ác của tổ phụ chúng con mà phạt chúng con; Nguyện sự thương xót Ngài mau mau đến đón rước chúng con, Vì chúng con bị khổ nhục vô cùng.
Lạy Đức Chúa Trời là Đấng cứu rỗi của chúng con, xin giúp đỡ chúng con, Vì vinh quang của danh Chúa; Xin giải cứu và tha thứ cho chúng con, Vì cớ danh Ngài.
Vì sao các dân nói rằng: “Đức Chúa Trời của chúng ở đâu?” Nguyện sự báo thù vì huyết mà các đầy tớ Chúa đã đổ ra Được thi hành giữa các dân trước mắt chúng con.
Nguyện tiếng than thở của các tù nhân thấu đến trước mặt Chúa; Tùy theo quyền năng lớn lao của Chúa, Xin giải cứu những kẻ đang đối mặt với tử thần.
Lạy Chúa, xin báo trả trực tiếp các lân bang chúng con gấp bảy lần. Về sự sỉ nhục mà chúng đã làm cho Ngài.
Còn chúng con là dân của Chúa và là bầy chiên của đồng cỏ Ngài, Chúng con sẽ cảm tạ Chúa mãi mãi; Từ đời nầy qua đời kia, chúng con sẽ truyền ra sự ca ngợi Ngài.
Lạy Đấng chăn giữ Y-sơ-ra-ên, xin lắng tai nghe! Ngài là Đấng dẫn dắt Gia-cốp như bầy chiên, Lạy Đấng ngự trên Chê-ru-bim, xin Ngài chiếu sáng rực rỡ.
Trước mặt Ép-ra-im, Bên-gia-min và Ma-na-se. Xin thi thố quyền năng Ngài Và đến cứu chúng con.
Lạy Đức Chúa Trời, xin phục hưng chúng con, Và làm cho mặt Chúa chiếu sáng trên chúng con thì chúng con sẽ được cứu.
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân, Chúa nổi giận về lời cầu nguyện của dân Chúa cho đến chừng nào?
Chúa đã nuôi họ bằng bánh giọt lệ Và cho họ uống nước mắt đầy ly.
Chúa làm chúng con thành đề tài tranh cãi cho kẻ lân cận chúng con; Và kẻ thù cùng nhau chế giễu chúng con.
Lạy Đức Chúa Trời vạn quân, xin phục hưng chúng con Và làm cho mặt Chúa chiếu sáng trên chúng con thì chúng con sẽ được cứu.
Từ Ai Cập, Chúa đã đem về một cây nho; Ngài đuổi các dân ra rồi trồng cây ấy.
Ngài cày xới đất cho nó, Nó châm rễ và bò đầy trên đất.
Các núi bị bóng nó che phủ Và cành nó giống như cây bá hương của Đức Chúa Trời.
Cành nó vươn ra đến biển, Và chồi nó lan rộng đến sông.
Vì sao Chúa phá hàng rào nó Để cho kẻ qua người lại hái quả nó?
Heo rừng cắn phá nó, Và các thú đồng ăn nó.
Đức Chúa Trời vạn quân ôi! Xin hãy trở lại, Từ trên trời xin nhìn xuống, đoái xem Và thăm viếng cây nho nầy,
Là gốc nho mà tay phải Chúa đã trồng, Và là chồi mà Ngài đã ban sức mạnh.
Cây nho ấy bị lửa cháy và bị chặt; Vì sự quở trách của mặt Chúa, chúng phải hư mất.
Nguyện tay Chúa phù hộ người của tay phải Chúa, Tức là con người mà Chúa đã ban sức mạnh.
Rồi chúng con sẽ không lìa khỏi Chúa nữa; Xin làm cho chúng con được sống lại, thì chúng con sẽ cầu khẩn danh Chúa.
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân, xin phục hưng chúng con, Làm cho mặt Chúa chiếu sáng trên chúng con thì chúng con sẽ được cứu.
Hãy cất tiếng ca vang cho Đức Chúa Trời là sức lực của chúng ta; Hãy trỗi tiếng reo mừng cho Đức Chúa Trời của Gia-cốp.
Hãy cất tiếng ca và gióng trống cơm, Gẩy đàn hạc du dương hòa với đàn lia.
Hãy thổi kèn khi trăng non, Lúc trăng rằm và các ngày lễ của chúng ta.
Vì đó là một luật lệ cho Y-sơ-ra-ên, Một phán quyết từ Đức Chúa Trời của Gia-cốp.
Ngài lập điều ấy làm chứng ước cho Giô-sép Khi Ngài đi đánh Ai Cập. Tôi nghe một thứ tiếng mà tôi không biết:
“Ta đã cất gánh nặng khỏi vai ngươi; Tay ngươi thả cái giỏ nặng nề ra.
Trong cơn gian truân, ngươi kêu cầu thì Ta giải cứu ngươi, Từ nơi kín đáo của sấm sét, Ta đã đáp lời ngươi. Và cũng thử thách ngươi nơi dòng nước Mê-ri-ba. (Sê-la)
Hỡi dân Ta, hãy nghe, Ta khuyến cáo ngươi: Y-sơ-ra-ên ơi, phải chi ngươi lắng nghe Ta!
Giữa ngươi chớ có thần lạ nào, Ngươi cũng không được quỳ lạy trước thần của dân ngoại.
Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, Đấng đã đem ngươi ra khỏi Ai Cập. Hãy há to miệng ngươi ra thì Ta sẽ làm cho đầy.
Nhưng dân Ta không lắng nghe tiếng Ta, Y-sơ-ra-ên không muốn vâng phục Ta.
Vì vậy, Ta phó họ cho sự cứng lòng của họ, Để họ đi theo mưu kế của riêng mình.
Ôi! Phải chi dân Ta lắng nghe Ta! Phải chi Y-sơ-ra-ên chịu đi trong đường lối Ta!
Thì chẳng bao lâu Ta làm cho kẻ thù của họ bị khuất phục, Và Ta trở tay chống lại các cừu địch họ.
Những kẻ ghét Đức Giê-hô-va sẽ quy phục Ngài Còn dân Ta sẽ tồn tại đời đời.
Ta sẽ nuôi họ bằng lúa mì ngon nhất, Và làm cho họ được thỏa mãn với mật ong nơi vầng đá.”
Đức Chúa Trời ngự trong hội đồng của Chúa; Ngài phán xét giữa các thần:
“Các ngươi phán xét không công minh Và thiên vị kẻ ác cho đến chừng nào? (Sê-la)
Hãy bênh vực người khốn cùng và kẻ mồ côi; Xét xử công minh cho người thiếu thốn và kẻ khốn cùng.
Hãy cứu vớt kẻ yếu đuối và người thiếu thốn, Giải cứu họ khỏi tay kẻ ác.”
Chúng không biết cũng không hiểu gì, Chúng bước đi trong tối tăm; Vì thế, các nền trái đất đều bị rúng động.
Ta phán: “Các ngươi là thần Tất cả đều là con trai của Đấng Chí Cao.
Tuy nhiên, các ngươi sẽ chết như loài người, Và sẽ ngã xuống như mọi thủ lĩnh khác.”
Lạy Đức Chúa Trời, xin mau mau phán xét thế gian, Vì muôn dân đều là cơ nghiệp của Ngài.
Đức Chúa Trời ôi! Xin đừng làm thinh. Đức Chúa Trời ôi! Xin đừng nín lặng, hay ngồi yên.
Vì kìa, các kẻ thù Chúa nổi loạn, Và những kẻ ghét Ngài ngẩng đầu lên.
Chúng âm mưu làm hại dân Chúa, Bàn tính với nhau chống lại những người mà Ngài bảo vệ.
Chúng nói: “Hãy đến tiêu diệt chúng nó khỏi các nước, Để không còn ai nhớ đến danh Y-sơ-ra-ên nữa.”
Vì chúng đồng lòng âm mưu với nhau Lập giao ước nghịch cùng Chúa:
Các trại Ê-đôm và người Ích-ma-ên, Mô-áp và người Ha-ga-rít,
Ghê-banh, Am-môn và A-ma-léc, Phi-li-tin với cư dân thành Ty-rơ;
A-si-ri cũng liên hiệp với chúng Mà hết lòng hỗ trợ con cháu Lót. (Sê-la)
Hãy xử chúng như Ma-đi-an, Như Si-sê-ra và như Gia-bin tại suối Ki-sôn,
Là những kẻ bị tiêu diệt tại Ên Đô-rơ Và trở thành phân cho đất.
Hãy làm cho bọn quý tộc của chúng giống như Ô-rép và Xê-ép. Và tất cả vương hầu chúng giống như Xê-bách và Xanh-mu-na,
Vì chúng nói rằng: “Hãy chiếm những đồng cỏ của Đức Chúa Trời Làm tài sản của chúng ta.”
Đức Chúa Trời của con ôi! Xin làm cho chúng giống như bụi cát trong cơn lốc, Như rơm rác trước trận cuồng phong.
Như lửa thiêu hủy rừng, Như lửa đốt cháy núi thể nào,
Thì xin Chúa lấy cuồng phong mà rượt đuổi chúng, Và dùng giông tố làm chúng kinh hoàng thể ấy.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin làm cho chúng hổ mặt, nhuốc nhơ Để chúng tìm kiếm danh Ngài.
Nguyện chúng bị hổ thẹn và thất kinh đến đời đời; Nguyện chúng bị sỉ nhục và hư mất,
Để chúng biết rằng Chúa là Đấng duy nhất, Danh Ngài là Đức Giê-hô-va, Là Đấng Chí Cao cai trị trên khắp đất.
Lạy Đức Giê-hô-va vạn quân, Nơi ngự của Ngài đáng yêu thay!
Linh hồn con mong ước đến nỗi hao mòn Về hành lang của Đức Giê-hô-va; Tâm hồn và thể xác con cất tiếng ca ngợi Đức Chúa Trời hằng sống.
Lạy Đức Giê-hô-va vạn quân Là Vua của con và là Đức Chúa Trời của con, Ngay cả con chim sẻ còn tìm được một nơi để ở Và chim én còn kiếm được một chỗ để làm tổ đẻ con, Là nơi gần bàn thờ của Chúa.
Phước cho người nào được ở trong nhà Chúa! Họ sẽ ca ngợi Chúa mãi mãi. (Sê-la)
Phước cho người nào được sức lực trong Chúa, Và lòng họ hướng về con đường dẫn đến Si-ôn.
Đang khi đi qua trũng khóc lóc. Họ làm cho trũng ấy trở nên những suối nước; Mưa sớm cũng phủ phước cho nó.
Họ đi tới, sức lực ngày càng tăng, Cho đến khi họ ra mắt Đức Chúa Trời tại Si-ôn.
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân, xin nghe lời cầu nguyện của con; Đức Chúa Trời của Gia-cốp ôi, xin Ngài lắng tai nghe. (Sê-la)
Lạy Đức Chúa Trời là cái khiên của chúng con; Xin đoái xem mặt của người được Chúa xức dầu.
Vì một ngày trong hành lang Chúa Đáng hơn một nghìn ngày ở nơi khác. Con đã chọn thà làm người giữ cửa trong nhà Đức Chúa Trời Còn hơn là sống trong trại kẻ dữ.
Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời là mặt trời và là cái khiên; Đức Giê-hô-va sẽ ban ân điển và vinh quang; Ngài sẽ chẳng từ chối điều tốt lành nào Cho những người sống cuộc đời trọn vẹn.
Lạy Đức Giê-hô-va vạn quân, Phước cho người nào tin cậy nơi Ngài!
Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài đã làm ơn cho xứ sở Ngài; Ngài đem những người bị lưu đày của Gia-cốp trở về.
Chúa đã tha gian ác cho dân Ngài Và khỏa lấp mọi tội lỗi của họ. (Sê-la)
Chúa đã thu hồi cơn giận của Chúa, Làm nguôi cơn thịnh nộ của Ngài.
Lạy Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi của chúng con, Xin phục hưng chúng con và dừng cơn thịnh nộ trên chúng con.
Chúa sẽ giận chúng con mãi mãi ư? Cơn thịnh nộ Chúa sẽ kéo dài qua các thế hệ sao?
Chúa không làm cho chúng con hồi sinh Để cho dân Chúa vui mừng trong Ngài sao?
Lạy Đức Giê-hô-va, xin bày tỏ lòng nhân từ của Ngài đối với chúng con, Và ban cho chúng con sự cứu rỗi của Ngài.
Con sẽ nghe điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán, Vì Ngài sẽ phán bình an với dân Ngài và với những người trung tín của Ngài; Nhưng họ chớ nên quay lại sự ngu dại nữa.
Sự cứu rỗi của Ngài chắc chắn ở gần những người kính sợ Ngài, Để vinh quang Ngài cứ ở mãi trong xứ sở chúng ta.
Thương xót và chân thật đã gặp nhau; Công chính và bình an đã hôn nhau.
Sự chân thật từ dưới đất vươn lên; Sự công chính từ trên trời nhìn xuống.
Phải, Đức Giê-hô-va sẽ ban vật tốt, Và đất đai của chúng ta sẽ sinh hoa lợi.
Sự công chính sẽ đi trước mặt Ngài, Và dọn đường cho bước chân Ngài.
Đức Giê-hô-va ôi! Xin nghiêng tai nhậm lời con, Vì con đang khốn cùng và thiếu thốn.
Xin bảo vệ linh hồn con, vì con là người trung tín; Đức Chúa Trời của con ôi! Xin cứu đầy tớ Chúa, Là người vẫn tin cậy Ngài.
Chúa ôi! Xin thương xót con, Vì hằng ngày con kêu cầu Ngài.
Xin làm cho linh hồn đầy tớ Chúa được vui mừng Vì Chúa ôi! Linh hồn con ngưỡng vọng Chúa.
Chúa ôi! Chúa là thiện, sẵn lòng tha thứ, Ban sự nhân từ vô lượng cho những người kêu cầu Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin lắng tai nghe lời cầu nguyện của con, Xin để ý đến tiếng nài xin của con.
Trong ngày gian truân, con sẽ kêu cầu cùng Chúa, Vì Chúa nhậm lời con.
Chúa ôi! Trong vòng các thần không có ai giống như Chúa, Cũng chẳng có công việc gì giống như công việc Ngài.
Muôn dân mà Chúa đã tạo dựng Sẽ đến thờ lạy trước mặt Chúa Và tôn vinh danh Ngài.
Vì Chúa rất vĩ đại, làm các phép mầu, Chỉ một mình Chúa là Đức Chúa Trời mà thôi.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin dạy con đường lối của Chúa, Thì con sẽ đi theo chân lý của Ngài; Xin khiến lòng con kính sợ danh Ngài.
Lạy Chúa là Đức Chúa Trời của con, con hết lòng ca ngợi Chúa, Tôn vinh danh Chúa mãi mãi.
Vì lòng nhân từ của Chúa đối với con rất lớn lao; Chúa đã giải cứu linh hồn con khỏi vực sâu của âm phủ.
Lạy Đức Chúa Trời, những kẻ kiêu ngạo đã nổi lên chống lại con, Một lũ hung bạo tìm hại mạng sống con; Chúng chẳng để Chúa đứng trước mặt mình.
Nhưng Chúa ơi, Chúa là Đức Chúa Trời hay thương xót và làm ơn, Chậm nóng giận, đầy lòng nhân từ và chân thật.
Ôi! Cầu Chúa đoái xem con và thương xót con; Xin ban sức mạnh Chúa cho đầy tớ Chúa Và cứu con trai của tớ gái Ngài.
Xin Chúa ban một dấu hiệu về ơn Chúa đối với con Để những kẻ ghét con được thấy dấu ấy và hổ thẹn, Vì Đức Giê-hô-va ôi, chính Ngài đã giúp đỡ và an ủi con.
Chúa đặt nền cho thành của Ngài Trên núi thánh.
Đức Giê-hô-va yêu mến các cổng Si-ôn Hơn những nơi ở của Gia-cốp.
Hỡi thành của Đức Chúa Trời, Người ta đã nói về vẻ vinh quang của ngươi. (Sê-la)
Ta sẽ nói đến Ra-háp và Ba-by-lôn là những người quen biết ta; Kìa Phi-li-tin và Ty-rơ với Ê-thi-ô-pi; Họ nói: “Người nầy đã sinh tại Si-ôn.”
Phải, người ta sẽ nói về Si-ôn rằng: “Kẻ nầy và kẻ kia đã sinh ra tại đó”; Chính Đấng Chí Cao sẽ vững lập Si-ôn.
Khi Đức Giê-hô-va ghi các dân vào sổ Thì Ngài sẽ kể rằng: “Kẻ nầy đã sinh tại Si-ôn.” (Sê-la)
Những người ca hát và những kẻ nhảy múa sẽ nói rằng: “Mọi nguồn phước hạnh của ta đều ở trong ngươi.”
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi của con, Ngày và đêm con kêu cầu trước mặt Ngài.
Nguyện lời cầu nguyện con thấu đến trước mặt Chúa; Xin nghiêng tai nghe tiếng khẩn cầu của con.
Vì linh hồn con đầy dẫy khổ đau, Mạng sống con đã cận kề âm phủ.
Con bị kể vào số những kẻ đi xuống huyệt; Con như người sức cùng lực kiệt,
Bị bỏ quên giữa vòng kẻ chết, Giống như những kẻ bị giết nằm trong mồ mả Mà Chúa không còn nhớ đến nữa, Là kẻ bị dứt bỏ khỏi tay Ngài.
Chúa đã để con nằm dưới hầm sâu, Trong vực thẳm tối tăm.
Cơn giận Chúa đè nặng trên con, Ngài khiến các lượn sóng của Ngài phủ chụp lấy con. (Sê-la)
Chúa khiến những kẻ quen biết con lìa xa con; Con trở thành một vật ghê tởm đối với họ. Con bị giam cầm, không thoát ra được.
Mắt con hao mòn vì hoạn nạn; Đức Giê-hô-va ôi! Hằng ngày con cầu khẩn Chúa, Và giơ tay lên hướng về Ngài.
Chúa có vì kẻ chết mà làm phép lạ sao? Những kẻ qua đời có trỗi dậy để ca ngợi Chúa chăng? (Sê-la)
Lòng nhân từ Chúa có được rao truyền trong mồ mả sao? Hoặc sự thành tín Chúa có được giảng ra trong vực sâu chăng?
Các phép lạ Chúa có được biết đến nơi tối tăm sao? Hoặc sự công chính Chúa có được bày tỏ trong xứ lãng quên chăng?
Nhưng Đức Giê-hô-va ôi! Về phần con, con kêu cầu cùng Chúa; Vừa sáng, lời cầu nguyện con thấu đến trước mặt Ngài.
Đức Giê-hô-va ôi! Sao Ngài từ bỏ linh hồn con, Và giấu mặt Ngài với con?
Từ tuổi thanh xuân, con bị hoạn nạn gần chết; Chúa làm cho con kinh khiếp và bối rối.
Cơn giận của Chúa vùi dập con, Ngài đem sự kinh hãi đến để hủy diệt con.
Hằng ngày các điều ấy vây quanh con như nước lũ, Từ bốn phía phủ chụp lấy con.
Chúa khiến bạn bè lìa xa con, Chỉ còn bóng đêm là bạn thân của con.
Con sẽ ca hát về lòng nhân từ của Đức Giê-hô-va mãi mãi, Miệng con sẽ truyền ra đức thành tín của Ngài từ đời nầy qua đời kia.
Vì con đã nói: “Lòng nhân từ của Chúa được lập vững đến đời đời, Ngài làm vững bền sự thành tín của Ngài như các tầng trời.”
Ngài phán: “Ta đã lập giao ước với người được chọn của Ta, Ta đã thề với Đa-vít, đầy tớ Ta, rằng:
‘Ta sẽ lập dòng dõi ngươi đến mãi mãi, Và dựng ngôi ngươi bền vững đến đời đời.’” (Sê-la)
Lạy Đức Giê-hô-va, các tầng trời sẽ ca ngợi các phép lạ Ngài; Đức thành tín của Ngài cũng được ca ngợi trong hội của các thánh.
Vì ai ở trên các tầng trời có thể sánh được với Đức Giê-hô-va? Trong vòng các thần, ai giống như Đức Giê-hô-va?
Đức Chúa Trời thật đáng kính sợ trong hội các thánh, Rất đáng kinh hãi hơn những kẻ đứng chầu chung quanh Ngài.
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân, Ai có quyền năng giống như Chúa? Lạy Đức Giê-hô-va, sự thành tín Ngài ở chung quanh Ngài.
Chúa cai trị sự gầm thét của biển: Khi sóng nổi lên, Ngài khiến chúng lặng im.
Chúa đã chà nát Ra-háp khác nào một xác chết, Bằng cánh tay đại năng, Ngài đánh tan tác quân thù.
Các tầng trời đều thuộc về Chúa, đất cũng thuộc về Ngài; Chúa đã sáng tạo thế giới và mọi vật ở trong đó.
Phương bắc, phương nam cũng bởi Chúa dựng nên; Tha-bô và Hẹt-môn đều vui mừng vì danh Chúa.
Chúa có cánh tay đại năng, Bàn tay Chúa có sức mạnh và tay phải Chúa giơ cao lên.
Sự công chính và công lý là nền của ngôi Chúa; Sự nhân từ và sự chân thật đi trước mặt Chúa.
Phước cho dân tộc nào biết cất tiếng reo mừng! Lạy Đức Giê-hô-va, họ bước đi trong ánh sáng của mặt Chúa.
Hằng ngày họ vui mừng vì danh Chúa, Nhờ sự công chính của Ngài, họ được tôn cao.
Vì chính Chúa là vinh quang của sức mạnh họ; Nhờ ơn Chúa, sừng của chúng con sẽ được ngước cao lên.
Vì Đức Giê-hô-va là cái khiên của chúng con, Đấng thánh của Y-sơ-ra-ên là Vua chúng con.
Bấy giờ, Chúa phán với người thánh của Chúa qua khải tượng, rằng: “Ta đã đặt một dũng sĩ để giúp đỡ ngươi, Và tôn cao một người được lựa chọn giữa vòng dân chúng.
Ta đã tìm được Đa-vít là đầy tớ Ta, Xức cho người bằng dầu thánh của Ta,
Bàn tay Ta sẽ nâng đỡ người, Cánh tay Ta sẽ làm cho người mạnh mẽ.
Quân thù sẽ chẳng áp bức người, Kẻ ác cũng sẽ không hạ nhục người được.
Ta sẽ chà nát kẻ thù của người ngay trước mặt người. Và cũng đánh gục những kẻ ghét người.
Nhưng sự thành tín và sự nhân từ Ta sẽ ở cùng người; Trong danh Ta, sừng người sẽ được ngước lên.
Ta cũng sẽ đặt tay người trên biển, Và tay phải người trên các dòng sông.
Người sẽ gọi Ta rằng: ‘Ngài là Cha của con, Là Đức Chúa Trời của con và là vầng đá cứu rỗi của con.’
Ta cũng sẽ lập người làm con trưởng nam Ta, Là vua cao trọng hơn hết các vua trên đất.
Ta sẽ cứ giữ lòng nhân từ Ta đối với người cho đến đời đời, Và làm cho giao ước giữa Ta với người được vững bền.
Ta cũng sẽ làm cho dòng dõi người còn đến đời đời Và ngôi người sẽ tồn tại như các ngày của trời.
Nếu con cháu người lìa bỏ luật pháp Ta, Không đi theo phán quyết Ta;
Nếu họ vi phạm luật lệ Ta, Không vâng giữ các điều răn của Ta,
Thì Ta sẽ dùng roi mà trừng phạt sự nổi loạn của họ, Và lấy tai họa mà sửa phạt tội lỗi của họ.
Nhưng lòng nhân từ Ta đối với người sẽ không dời đổi, Và sự thành tín Ta đối với người cũng không hề dứt.
Ta sẽ không hủy bỏ giao ước Ta, Cũng chẳng thay đổi lời đã phán bởi môi miệng Ta.
Ta đã lấy sự thánh khiết Ta mà thề một lần đủ cả; Ta sẽ không nói dối với Đa-vít.
Dòng dõi người sẽ còn đến đời đời, Và ngôi người sẽ tồn tại như mặt trời ở trước mặt Ta.
Ngôi ấy sẽ được vững bền mãi mãi như mặt trăng, Là bằng chứng vững chắc giữa mây trời.” (Sê-la)
Nhưng bây giờ Chúa lại từ bỏ và khinh thường người, Nổi giận cùng người được xức dầu của Ngài.
Chúa đã hủy bỏ giao ước với đầy tớ Ngài; Ngài làm ô uế vương miện người trong bụi đất.
Chúa đã triệt hạ tất cả tường thành của người, Phá hủy những đồn lũy người.
Mọi kẻ đi ngang qua đều cướp phá người; Các lân bang sỉ nhục người.
Chúa đã nhấc cao tay phải của kẻ thù người lên; Ngài làm cho mọi kẻ thù địch với người vui mừng.
Chúa làm cho lưỡi gươm người quay lại, Không còn giúp đỡ người trong cơn chiến trận.
Chúa chấm dứt thời huy hoàng của người, Ném ngôi người xuống đất.
Ngài rút ngắn tuổi thanh xuân của người, Và bao phủ người bằng sự sỉ nhục, nhuốc nhơ. (Sê-la)
Đức Giê-hô-va ôi! Ngài sẽ ẩn mặt cho đến chừng nào? Cơn giận Ngài sẽ cháy như lửa cho đến bao giờ?
Xin Chúa nhớ lại đời người thật ngắn ngủi! Ngài dựng nên con loài người vô nghĩa biết bao!
Ai là người sống mà chẳng thấy sự chết? Ai sẽ cứu linh hồn mình khỏi quyền âm phủ? (Sê-la)
Lạy Chúa, sự nhân từ mà Chúa đã lấy sự thành tín thề hứa với Đa-vít ngày xưa, Bây giờ ở đâu?
Chúa ôi! Xin nhớ lại nỗi sỉ nhục của các đầy tớ Chúa; Sự sỉ nhục của muôn dân chất chứa trong lòng con.
Lạy Đức Giê-hô-va, đó là nỗi sỉ nhục mà những kẻ thù Chúa đã dùng Để sỉ nhục mỗi bước của người được Chúa xức dầu.
Đáng chúc tụng Đức Giê-hô-va đến đời đời! A-men! A-men!
Lạy Chúa, từ đời nầy qua đời kia, Chúa là nơi ở của chúng con.
Trước khi núi non sinh ra, Đất và thế gian được dựng nên, Từ trước vô cùng cho đến đời đời Chúa là Đức Chúa Trời.
Chúa khiến loài người trở vào bụi tro Và phán rằng: “Hỡi con cái loài người, hãy trở về cát bụi”
Vì một nghìn năm dưới mắt Chúa Khác nào ngày hôm qua đã qua rồi, Giống như một canh ban đêm.
Chúa khiến chúng trôi đi như dòng nước lũ; chúng giống như một giấc ngủ, Tựa như cỏ mới mọc ban mai.
Buổi sáng nó nở bông và tốt tươi; Đến chiều nó tàn tạ và khô héo.
Thật chúng con bị hao mòn vì cơn giận của Chúa; Bị kinh hãi vì cơn thịnh nộ của Ngài.
Chúa đã đặt gian ác chúng con trước mặt Chúa, Để những tội lỗi kín đáo chúng con trong ánh sáng mặt Ngài.
Bởi cơn giận của Chúa, các ngày chúng con đều qua đi; Năm chúng con tan mất như hơi thở.
Tuổi tác của chúng con đến được bảy mươi, Còn nếu mạnh khỏe thì đến tám mươi, Nhưng sự kiêu căng của nó chỉ rước lấy lao khổ và buồn thảm, Vì đời người chóng qua, rồi chúng con bay mất đi.
Ai biết được sức giận của Chúa? Ai hiểu được cơn giận của Chúa để thêm lòng kính sợ Ngài?
Cầu xin Chúa dạy chúng con biết đếm các ngày chúng con Hầu cho chúng con được lòng khôn ngoan.
Đức Giê-hô-va ôi, xin trở lại! Ngài còn giận cho đến bao giờ? Xin thương xót các đầy tớ Ngài!
Mỗi buổi sáng, xin sự nhân từ của Chúa làm cho chúng con được thỏa nguyện, Thì trọn đời chúng con sẽ hát mừng vui vẻ.
Xin Chúa làm cho chúng con được vui mừng để bù lại các ngày Chúa làm cho chúng con bị hoạn nạn, Và tương xứng với những năm mà chúng con đã thấy tai họa.
Nguyện công việc của Chúa bày tỏ ra cho các đầy tớ Chúa, Và vinh quang Ngài chói sáng trên con cái họ!
Nguyện ơn Chúa là Đức Chúa Trời chúng con giáng trên chúng con; Cầu Chúa lập cho vững công việc của tay chúng con; Phải, xin lập cho vững công việc của tay chúng con.
Người nào ở nơi kín đáo của Đấng Chí Cao, Sẽ hằng được ở dưới bóng của Đấng Toàn Năng.
Tôi thưa với Đức Giê-hô-va rằng: “Ngài là nơi nương náu con và là đồn lũy con; Cũng là Đức Chúa Trời của con, con tin cậy nơi Ngài.”
Vì Ngài sẽ giải cứu ngươi khỏi bẫy chim Và khỏi dịch lệ độc hại.
Ngài sẽ lấy lông Ngài mà che chở ngươi Và dưới cánh Ngài ngươi sẽ được nương náu mình; Sự thành tín của Ngài là cái khiên và cái mộc của ngươi.
Ngươi sẽ chẳng sợ sự kinh khiếp ban đêm Hoặc tên bay ban ngày,
Hoặc dịch lệ lây ra trong tối tăm Hay là sự hủy diệt phá hoại đang lúc trưa.
Sẽ có nghìn người sa ngã bên ngươi, Và vạn người sa ngã bên phải ngươi. Nhưng tai họa sẽ chẳng đến gần ngươi.
Ngươi chỉ lấy mắt mình nhìn xem Và sẽ thấy sự báo trả cho kẻ ác.
Bởi vì ngươi đã nhờ Đức Giê-hô-va làm nơi nương náu mình Và Đấng Chí Cao làm nơi cư trú mình,
Nên sẽ chẳng có tai họa gì xảy đến ngươi, Cũng chẳng có dịch bệnh nào tới gần trại ngươi.
Vì Ngài sẽ ban lệnh cho các thiên sứ Ngài Gìn giữ ngươi trong mọi đường lối ngươi.
Thiên sứ sẽ nâng ngươi trên bàn tay mình Kẻo chân ngươi vấp nhằm đá chăng.
Ngươi sẽ bước đi trên sư tử và rắn hổ mang; Còn sư tử tơ và con rắn ngươi sẽ giày đạp dưới chân.
Vì người kính mến Ta nên Ta sẽ giải cứu người; Ta sẽ bảo vệ người vì người biết danh Ta.
Người sẽ kêu cầu Ta, Ta sẽ đáp lời người; Trong cơn gian truân, Ta sẽ ở cùng người, Giải cứu người và tôn quý người.
Ta sẽ cho người thỏa lòng sống lâu Và chỉ cho người thấy sự cứu rỗi của Ta.
Lạy Đấng Chí Cao, thật tốt đẹp biết bao khi ca ngợi Đức Giê-hô-va Và chúc tụng danh của Ngài;
Rao truyền lòng nhân từ Chúa vào mỗi buổi sáng, Và sự thành tín của Ngài vào ban đêm,
Trên nhạc cụ mười dây và trên đàn hạc Hòa với đàn lia.
Vì Đức Giê-hô-va ôi, Ngài đã làm cho con vui vẻ bởi công việc Ngài; Và mừng rỡ về công tác của tay Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, công việc Ngài vĩ đại biết bao! Tư tưởng Ngài rất sâu sắc!
Người u mê không biết được, Kẻ ngu dại cũng chẳng hiểu thấu.
Dù người dữ mọc lên như cỏ Và kẻ ác được hưng thịnh, Chúng sẽ bị hủy diệt đời đời.
Nhưng lạy Đức Giê-hô-va, Ngài được tôn cao mãi mãi.
Vì Đức Giê-hô-va ôi, kìa, kẻ thù Ngài, Vì kìa, kẻ thù của Ngài sẽ hư mất; Tất cả kẻ làm ác sẽ bị đánh tan tác.
Nhưng Chúa làm cho sừng của con ngước cao lên như sừng bò tót; Con được xức bằng dầu mới.
Mắt con đã thấy kẻ thù của con bị phạt Và tai con nghe kẻ ác của con bị báo trả.
Người công chính sẽ mọc lên như cây kè, Và lớn lên như cây bá hương ở Li-ban.
Những người được trồng trong nhà Đức Giê-hô-va Sẽ trổ hoa trong hành lang của Đức Chúa Trời chúng ta.
Dù đến tuổi già cả, họ sẽ còn sinh bông trái, Thịnh vượng và xanh tươi.
Để chứng tỏ Đức Giê-hô-va là chính trực; Ngài là vầng đá của con, và trong Ngài chẳng có sự bất chính.
Đức Giê-hô-va cai trị, Ngài mặc vẻ uy nghiêm; Đức Giê-hô-va mặc và thắt lưng bằng sức mạnh. Thế giới được thiết lập vững bền, không hề bị rúng động.
Ngôi Chúa đã lập vững từ thời xưa; Chúa hiện hữu từ trước vô cùng.
Lạy Đức Giê-hô-va, sóng biển nổi lên, Đại dương gầm thét; Biển cả trỗi tiếng ầm ầm.
Đức Giê-hô-va ngự trên cao, đầy quyền năng, Mạnh hơn tiếng gầm thét của các dòng nước lớn, Hơn biển cả ba đào.
Lạy Đức Giê-hô-va, các chứng ước Ngài rất chắc chắn, Sự thánh khiết là xứng đáng Cho nhà Ngài đến đời đời.
Lạy Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, sự báo thù thuộc về Ngài, Đức Chúa Trời ôi, sự báo thù thuộc về Ngài, xin chiếu rạng vinh quang Ngài.
Lạy Chúa là Thẩm phán của thế gian, Xin trỗi dậy báo trả xứng đáng cho kẻ kiêu ngạo.
Lạy Đức Giê-hô-va, kẻ ác cứ được vui sướng Hả hê cho đến bao giờ?
Chúng buông những lời xấc xược; Tất cả kẻ làm ác đều khoe khoang.
Lạy Đức Giê-hô-va, chúng chà nát con dân Ngài, Gây khốn khổ cho cơ nghiệp Ngài.
Chúng giết kẻ góa bụa và khách lạ, Sát hại trẻ mồ côi.
Chúng nói: “Đức Giê-hô-va sẽ không thấy đâu, Đức Chúa Trời của Gia-cốp chẳng để ý đến!”
Nầy người u mê trong dân chúng, hãy suy xét; Hỡi kẻ ngu dại, bao giờ các ngươi mới khôn ra?
Đấng đã dựng nên lỗ tai lại không nghe sao? Đấng đã nắn nên con mắt sẽ chẳng thấy sao?
Đấng khiển trách các nước Sẽ chẳng trừng phạt sao? Ngài là Đấng dạy tri thức cho loài người.
Đức Giê-hô-va biết tư tưởng loài người, Chúng chỉ là hư ảo.
Lạy Đức Giê-hô-va, phước cho người nào được Ngài sửa phạt Và dạy luật pháp Ngài cho,
Để ban cho người ấy được an nghỉ trong ngày hoạn nạn, Cho đến khi hầm đã đào xong cho kẻ ác.
Vì Đức Giê-hô-va không lìa con dân Chúa, Cũng chẳng bỏ cơ nghiệp Ngài.
Công lý sẽ trở về với người công chính, Và tất cả người nào có lòng ngay thẳng sẽ đi theo điều ấy.
Ai sẽ vì con đứng lên, chống lại kẻ dữ? Ai sẽ đứng dậy bênh vực con, chống lại kẻ bạo tàn?
Nếu Đức Giê-hô-va không giúp đỡ con, Thì linh hồn con đã sớm về miền đất im lặng rồi.
Lạy Đức Giê-hô-va, khi con nói: “Chân con vấp ngã” Thì lòng nhân từ Ngài nâng đỡ con.
Khi lòng con đầy ưu tư lo lắng Thì sự an ủi của Ngài làm cho linh hồn con vui vẻ.
Bọn thống trị độc ác dùng sắc luật làm cho dân tình khốn khổ Lẽ nào Ngài liên minh với chúng?
Chúng hiệp lại để hại mạng sống người công chính Và kết án tử hình kẻ vô tội.
Nhưng Đức Giê-hô-va là đồn lũy của con, Đức Chúa Trời là vầng đá bảo vệ con.
Ngài sẽ báo trả chúng vì bạo lực của chúng, Và hủy diệt chúng vì tính độc ác của chúng; Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng con sẽ hủy diệt chúng.
Hãy đến hát xướng cho Đức Giê-hô-va, Cất tiếng reo mừng cho Vầng Đá cứu rỗi của chúng ta.
Chúng ta hãy đến trước mặt Chúa với lòng cảm tạ, Và reo mừng hát ca ngợi Ngài.
Vì Giê-hô-va là Đức Chúa Trời vĩ đại, Là Vua cao cả trên tất cả các thần.
Các vực sâu của đất đều ở trong tay Ngài; Những đỉnh núi cũng thuộc về Ngài.
Biển thuộc về Ngài vì chính Ngài đã dựng nên nó; Còn đất khô do tay Ngài nắn thành.
Hãy đến cúi xuống mà thờ lạy Đức Giê-hô-va; Hãy quỳ gối xuống trước Đấng Tạo Hóa của chúng ta!
Vì Ngài là Đức Chúa Trời chúng ta: Chúng ta là dân của đồng cỏ Ngài Và là chiên do tay Ngài dìu dắt. Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài,
Thì chớ cứng lòng như tại Mê-ri-ba, Như ngày Ma-sa trong hoang mạc.
Là nơi tổ phụ các ngươi đã thử Ta, Dò xét Ta và thấy công việc Ta.
Trong bốn mươi năm, Ta ghê tởm thế hệ nầy, Ta phán: “Đó là một dân có lòng lầm lạc, Chẳng nhận biết đường lối Ta.”
Vì thế, Ta nổi giận mà thề rằng: “Họ sẽ chẳng bao giờ bước vào sự an nghỉ của Ta.”
Hãy hát cho Đức Giê-hô-va một bài ca mới. Hỡi cả trái đất, hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va.
Hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va và chúc tụng danh Ngài; Từng ngày hãy rao truyền sự cứu rỗi của Ngài.
Hãy thuật lại vinh quang Ngài giữa các nước, Công bố những việc diệu kỳ của Ngài cho muôn dân.
Vì Đức Giê-hô-va thật vĩ đại, rất đáng được ca ngợi, Ngài đáng kính sợ hơn tất cả các thần.
Vì tất cả các thần của các dân tộc đều là hình tượng, Còn Đức Giê-hô-va đã dựng nên các tầng trời.
Uy nghiêm và rực rỡ ở trước mặt Ngài; Quyền năng và vẻ đẹp ở nơi thánh Ngài.
Hỡi dòng giống các dân tộc, hãy chúc tôn Đức Giê-hô-va, Hãy quy vinh quang và quyền năng về Đức Giê-hô-va.
Hãy quy vinh quang về Đức Giê-hô-va xứng đáng với danh Ngài. Hãy đem tế lễ mà vào hành lang Ngài.
Hãy trang sức bằng sự thánh khiết mà thờ phượng Đức Giê-hô-va; Hỡi cả trái đất, hãy run sợ trước mặt Ngài.
Hãy công bố giữa các nước rằng: “Đức Giê-hô-va cai trị! Thế giới được thiết lập vững bền, không bao giờ rúng động. Ngài sẽ phán xét các dân tộc theo lẽ công bằng.”
Nguyện các tầng trời vui vẻ và đất mừng rỡ, Nguyện biển và mọi vật trong biển gầm vang.
Nguyện đồng ruộng và mọi vật trong đó đều hớn hở. Bấy giờ cây cối trong rừng sẽ reo mừng
Trước mặt Đức Giê-hô-va; vì Ngài đang đến, Ngài đang đến để phán xét thế gian; Ngài sẽ lấy đức công chính mà phán xét thế giới, Dùng chân lý mà phán xét mọi dân tộc.
Đức Giê-hô-va cai trị! Hỡi trái đất, hãy mừng rỡ! Hỡi muôn vàn hải đảo, hãy vui vẻ!
Mây và bóng tối dày đặc vây quanh Ngài, Sự công chính và công lý làm nền móng cho ngôi Ngài.
Lửa bay ra trước mặt Ngài Và thiêu đốt hết kẻ thù chung quanh.
Tia chớp của Ngài soi sáng thế gian; Trái đất nhìn thấy và rúng động.
Các núi tan chảy như sáp trước mặt Đức Giê-hô-va, Trước mặt Chúa của cả địa cầu.
Các tầng trời rao truyền sự công chính Ngài, Muôn dân chiêm ngưỡng vinh quang Ngài.
Nguyện tất cả kẻ thờ hình tượng, Và những kẻ khoe khoang về hình tượng đều bị hổ thẹn. Hỡi các thần, hãy thờ lạy Đức Giê-hô-va!
Lạy Đức Giê-hô-va, Si-ôn nghe và hoan hỉ, Các con gái Giu-đa đều nức lòng mừng rỡ, Vì sự phán xét của Ngài.
Vì Đức Giê-hô-va ôi! Ngài là Đấng Chí Cao trên cả trái đất, Ngài được tôn cao vượt trên tất cả các thần.
Hỡi những người yêu mến Đức Giê-hô-va, hãy ghét điều ác. Ngài bảo vệ linh hồn các thánh của Ngài Và giải cứu họ khỏi tay kẻ ác.
Ánh sáng chiếu rọi người công chính Và niềm vui tràn ngập trong lòng người ngay thẳng.
Hỡi người công chính, hãy vui mừng nơi Đức Giê-hô-va! Và cảm tạ danh thánh của Ngài.
Hãy hát cho Đức Giê-hô-va một bài ca mới, Vì Ngài đã làm các phép mầu. Tay phải và cánh tay thánh của Ngài Đã đem chiến thắng về cho Ngài.
Đức Giê-hô-va đã công bố sự cứu rỗi của Ngài Và bày tỏ đức công chính Ngài trước mặt các nước.
Ngài nhớ lại lòng nhân từ và sự thành tín của Ngài Đối với nhà Y-sơ-ra-ên; Các đầu cùng đất đã thấy Ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời chúng ta.
Hỡi cả trái đất, hãy cất tiếng reo mừng cho Đức Giê-hô-va, Và bật lên khúc ca chúc tụng Ngài.
Hãy dùng đàn hạc và giọng ca Mà tôn ngợi Đức Giê-hô-va!
Hãy dùng tiếng kèn và tiếng tù và mà reo mừng Trước mặt Vua tức là Đức Giê-hô-va!
Nguyện biển và mọi sinh vật trong biển, Thế giới cùng những người sống trong đó đều cất tiếng ca vang!
Nguyện các sông vỗ tay, Núi đồi cùng nhau hát mừng trước mặt Đức Giê-hô-va!
Vì Ngài đến để phán xét thế gian; Ngài sẽ phán xét thế giới theo sự công chính, Và xét xử các dân tộc theo lẽ công bằng.
Đức Giê-hô-va cai trị! Các dân tộc hãy run sợ; Ngài ngự trên các Chê-ru-bim; trái đất bị rúng động.
Đức Giê-hô-va tại Si-ôn thật vĩ đại! Ngài được tôn cao trên mọi dân tộc.
Nguyện họ ca ngợi danh vĩ đại và đáng sợ của Chúa. Ngài là thánh!
Ngài là Vua quyền năng; Ngài yêu công chính; Ngài thiết lập sự công bằng, Thi hành sự phán xét và công lý trong nhà Gia-cốp.
Hãy tôn cao Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta Và thờ phượng dưới bệ chân Ngài. Ngài là thánh!
Trong các thầy tế lễ của Ngài có Môi-se và A-rôn, Trong những người cầu khẩn danh Ngài có Sa-mu-ên. Họ đã kêu cầu Đức Giê-hô-va và Ngài đáp lời họ.
Ngài phán với họ từ trụ mây; Họ tuân giữ các chứng ước Ngài Và luật lệ mà Ngài ban cho.
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng con, Chúa đã đáp lời họ; Chúa là Đức Chúa Trời hay tha thứ, Nhưng Ngài báo trả những việc ác của họ.
Hãy tôn cao Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta Và thờ phượng trên núi thánh Ngài; Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là thánh!
Hỡi cả trái đất, Hãy cất tiếng reo mừng cho Đức Giê-hô-va!
Hãy vui vẻ phục vụ Đức Giê-hô-va, Hãy ca hát mà đến trước mặt Ngài.
Phải biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời. Chính Ngài đã dựng nên chúng ta, chúng ta thuộc về Ngài; Chúng ta là dân của Ngài, là bầy chiên trong đồng cỏ Ngài.
Hãy cảm tạ mà vào các cổng Ngài, Hãy ngợi ca mà vào hành lang Ngài. Hãy cảm tạ Ngài, chúc tụng danh của Ngài.
Vì Đức Giê-hô-va là thiện, Sự nhân từ Ngài hằng có mãi mãi Và sự thành tín Ngài còn đến đời đời.
Con sẽ hát xướng về lòng nhân từ và đức công chính của Chúa; Lạy Đức Giê-hô-va, con sẽ ca ngợi Ngài.
Con sẽ sống cách khôn ngoan theo con đường trọn vẹn; Khi nào Chúa sẽ đến với con? Con sẽ lấy lòng thành thật Mà sống trong nhà con.
Con sẽ chẳng để điều gian ác trước mắt con; Con ghét công việc của kẻ bất trung, Chúng sẽ không dính líu gì đến con.
Lòng gian tà sẽ lìa khỏi con; Con sẽ chẳng biết đến điều ác.
Kẻ lén lút nói xấu người lân cận mình, Con sẽ loại trừ. Còn kẻ nào có mắt tự cao và lòng kiêu ngạo, Con sẽ chẳng dung tha.
Mắt con sẽ tìm kiếm người trung tín trong xứ, Và cho họ ở chung với con; Ai đi theo con đường trọn vẹn Sẽ phục vụ con.
Kẻ lừa đảo sẽ chẳng được ở trong nhà con; Bọn dối trá sẽ không đứng nổi trước mặt con.
Mỗi buổi sáng, con sẽ tiêu diệt Tất cả kẻ dữ trong xứ, Trục xuất mọi kẻ ác Khỏi thành của Đức Giê-hô-va.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin nghe lời cầu nguyện con, Nguyện tiếng kêu cứu của con thấu đến Ngài.
Trong ngày gian truân, Xin chớ ẩn mặt Ngài với con; Xin nghiêng tai nghe con; Trong ngày con kêu cầu, xin mau mau đáp lời con.
Vì các ngày con tan như mây khói, Xương cốt con như than cháy trong lò.
Lòng con như cỏ hoa bị vùi dập và khô héo; Con quên cả ăn uống.
Vì than thở rên xiết. Thân con chỉ còn da bọc xương.
Con giống như con bồ nông nơi rừng vắng, Khác nào chim cú ở chốn đồng hoang.
Con trằn trọc thao thức; Con giống như chim sẻ quạnh hiu trên mái nhà.
Hằng ngày kẻ thù sỉ nhục con; Chúng chế giễu và nguyền rủa con.
Bởi cơn giận và thịnh nộ của Chúa, Con phải ăn bụi tro khác nào ăn bánh,
Và nuốt lệ đắng pha với thức uống của con. Vì Chúa nâng con lên cao rồi ném con xuống thấp.
Ngày tháng qua mau như bóng ngã dài, Đời khô héo khác nào hoa cỏ.
Nhưng Đức Giê-hô-va ơi, Ngài ngự trên ngôi mãi mãi, Kỷ niệm Ngài còn mãi từ đời nầy sang đời kia.
Chúa sẽ sớm thương xót Si-ôn; Vì đây là giờ Ngài ban ơn cho nó. Và thời điểm đã đến rồi.
Các đầy tớ Chúa yêu mến từng viên đá Si-ôn Và thương xót cả đến bụi đất nó nữa.
Bấy giờ muôn dân sẽ kính sợ danh Đức Giê-hô-va, Và tất cả các vua trên thế gian sẽ kính sợ vinh quang Ngài.
Khi Đức Giê-hô-va dựng lại Si-ôn, Ngài sẽ hiện ra trong vinh quang Ngài.
Ngài sẽ nghe lời cầu nguyện của kẻ khốn cùng, Không khinh dể lời nài xin của họ.
Hãy ghi lại điều nầy cho thế hệ mai sau, Để một dân tộc trong tương lai sẽ ca ngợi Đức Giê-hô-va.
Vì từ nơi thánh trên cao, Ngài nhìn xuống, Từ trên trời, Ngài xem xét thế gian.
Ngài lắng nghe tiếng rên xiết của các tù nhân, Và giải phóng những người bị án chết.
Như thế, người ta truyền rao danh Đức Giê-hô-va trong Si-ôn, Và ca ngợi Ngài tại Giê-ru-sa-lem,
Khi muôn dân muôn nước nhóm lại Để thờ phượng Đức Giê-hô-va.
Ngài đã làm cho sức lực con suy yếu giữa đường; Khiến ngày tháng đời con ngắn lại.
Con thưa rằng: “Đức Chúa Trời ôi! Các năm Chúa tồn tại từ đời nầy qua đời kia. Xin đừng cất con đi Khi nửa đời dang dở!”
Thuở xưa, Chúa lập nền trái đất, Các tầng trời là công việc của tay Chúa.
Trời đất sẽ bị hư hoại, nhưng Chúa vẫn trường tồn; Trời đất sẽ cũ mòn như quần áo. Chúa sẽ thay đổi trời đất như chiếc áo và nó bị đổi thay.
Nhưng Chúa vẫn y nguyên, Các năm Chúa mãi mãi trường tồn.
Con cháu của đầy tớ Chúa sẽ còn mãi, Dòng dõi họ sẽ được vững lập trước mặt Ngài.
Hỡi linh hồn ta, hãy chúc tụng Đức Giê-hô-va! Mọi điều gì ở trong ta, Hãy ca ngợi danh thánh của Ngài!
Hỡi linh hồn ta, hãy chúc tụng Đức Giê-hô-va, Chớ quên các ân huệ của Ngài.
Chính Ngài tha thứ các tội ác ngươi, Chữa lành mọi bệnh tật ngươi,
Cứu chuộc mạng sống ngươi khỏi chốn hư nát, Lấy lòng nhân từ và thương xót mà làm vương miện đội cho ngươi.
Ngài làm cho ngươi được mãn nguyện với những điều tốt đẹp Để tuổi thanh xuân của ngươi hồi phục như của chim phụng hoàng.
Đức Giê-hô-va thi hành sự công chính Và công lý cho mọi người bị áp bức.
Ngài bày tỏ cho Môi-se đường lối Ngài, Và cho Y-sơ-ra-ên biết các công việc Ngài.
Đức Giê-hô-va đầy lòng thương xót, hay làm ơn, Chậm nóng giận và giàu lòng nhân từ.
Ngài không bắt tội luôn luôn, Cũng chẳng giữ lòng giận đến đời đời.
Ngài không đối đãi với chúng ta theo tội lỗi chúng ta, Cũng không báo trả chúng ta theo sự gian ác của chúng ta.
Vì các tầng trời cách xa mặt đất bao nhiêu, Thì lòng nhân từ của Ngài càng lớn cho người nào kính sợ Ngài bấy nhiêu.
Phương đông xa cách phương tây bao nhiêu, Thì Ngài cũng cất sự vi phạm chúng ta cách xa chúng ta bấy nhiêu.
Đức Giê-hô-va thương xót người kính sợ Ngài, Khác nào cha thương xót con cái mình vậy.
Vì Ngài biết chúng ta được nắn nên từ đâu; Ngài nhớ lại rằng chúng ta vốn từ cát bụi.
Đời loài người như cây cỏ, Như cỏ hoa nở bông nơi đồng nội;
Rồi một cơn gió thổi trên bông hoa, và nó chẳng còn, Chỗ nó không còn nhận biết nó nữa.
Nhưng lòng nhân từ của Đức Giê-hô-va hằng còn đời đời Cho những người kính sợ Ngài, Và đức công chính của Ngài dành cho chắt chít của họ.
Tức là cho người nào gìn giữ giao ước Ngài Và ghi nhớ các kỷ cương Ngài để làm theo.
Đức Giê-hô-va đã lập ngôi Ngài trên các tầng trời, Vương quốc Ngài cai trị trên muôn vật.
Hỡi các thiên sứ của Đức Giê-hô-va, Là các đấng có sức mạnh làm theo mệnh lệnh Ngài, Và vâng theo tiếng Ngài! Hãy chúc tụng Đức Giê-hô-va!
Hỡi cả thiên binh của Đức Giê-hô-va Là đầy tớ Ngài, làm theo ý muốn Ngài, Hãy ca tụng Đức Giê-hô-va!
Hỡi các tạo vật của Đức Giê-hô-va Ở mọi nơi dưới quyền quản trị của Ngài, Hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va! Hỡi linh hồn ta, hãy chúc tụng Đức Giê-hô-va!
Hỡi linh hồn ta, hãy chúc tụng Đức Giê-hô-va! Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, Chúa thật vĩ đại! Ngài mặc sự rực rỡ và uy nghi!
Chúa bao phủ mình bằng ánh sáng như chiếc áo, Giương các tầng trời ra như lều trại.
Ngài đặt các đòn tay của phòng cao Ngài trên khối nước trên cao, Dùng mây làm xe ngựa, Và cưỡi trên cánh gió.
Ngài sai gió làm sứ giả của Ngài, Ngọn lửa làm đầy tớ Ngài.
Ngài lập quả đất trên các nền của nó; Đời đời nó sẽ không hề bị rúng động.
Chúa lấy đại dương bao phủ đất như chiếc áo, Khiến nước dâng cao hơn các núi.
Nhưng khi Chúa quở trách, nước liền chạy trốn; Nghe tiếng sấm của Ngài, nước vội cuốn xa.
Núi nhô lên, trũng sụp xuống Đến chỗ mà Chúa đã định cho nó.
Chúa định ranh giới cho nước để nước không thể vượt qua, Không còn trở lại phủ ngập trên mặt đất nữa.
Ngài khiến các suối phun ra trong thung lũng, Chúng chảy giữa các núi đồi.
Chúng cung cấp nước uống cho mọi loài thú đồng; Các lừa rừng cũng được giải khát.
Chim trời đến làm tổ bên bờ suối ấy Và cất tiếng hót giữa những cành cây.
Từ phòng cao, Ngài tưới các núi; Đất được thỏa mãn nhờ thành quả của công việc Ngài.
Ngài khiến cỏ xanh mọc lên cho súc vật, Cây cối để con người chăm bón Và đất đai sinh ra thực phẩm.
Rượu nho khiến lòng người hứng khởi, Dầu làm cho mặt mày rạng rỡ, Và bánh để ăn cho đỡ đói lòng.
Cây cối của Đức Giê-hô-va được gội nhuần mưa móc, Tức cây bá hương tại Li-ban mà Ngài đã trồng.
Các loài chim đến xây tổ ấm, Và bầy cò lót ổ trên những ngọn cây ấy.
Núi cao là nơi ở của dê rừng; Vách đá là chỗ ẩn núp của chuột đồng.
Ngài đã làm nên mặt trăng để phân định thời tiết; Mặt trời biết giờ nó lặn.
Chúa làm nên bóng tối, tức ban đêm, Là lúc các thú rừng đi tìm mồi.
Sư tử tơ gầm thét khi săn mồi, Và tìm thức ăn mà Đức Chúa Trời ban cho chúng.
Khi mặt trời mọc, chúng rút về Và nằm trong hang.
Bấy giờ loài người đi ra làm việc Và làm cho đến chiều tối.
Lạy Đức Giê-hô-va, công việc Ngài nhiều biết bao! Ngài đã dựng nên tất cả một cách khôn ngoan; Trái đất đầy dẫy các tạo vật của Ngài.
Còn biển thì rộng lớn bao la. Trong đó có vô số các loài sinh vật Nhỏ và lớn.
Tàu thuyền đi lại trên đó, Cũng có loài Lê-vi-a-than mà Chúa đã dựng nên để đùa giỡn trong đó.
Mọi sinh vật ấy trông đợi Chúa Để Ngài ban thức ăn cho chúng phải thì.
Chúa ban cho chúng và chúng nhận lấy; Chúa xòe tay ra khiến chúng được no nê các vật tốt.
Nhưng khi Chúa ẩn mặt, chúng kinh hãi, Chúa cất hơi thở chúng đi, chúng chết Và trở về bụi đất.
Khi Chúa truyền sinh khí, chúng được dựng nên; Chúa làm cho mặt đất tươi mới.
Nguyện vinh quang Đức Giê-hô-va còn đến mãi mãi; Nguyện Đức Giê-hô-va hài lòng về công việc Ngài.
Ngài nhìn vào đất, đất rúng động; Ngài chạm đến núi, núi bốc khói.
Nếu con sống bao lâu, con sẽ ca hát cho Đức Giê-hô-va bấy lâu; Nếu con còn sống chừng nào, con sẽ ca ngợi Đức Chúa Trời con chừng nấy.
Nguyện sự suy ngẫm của con đẹp lòng Ngài; Vì con vui mừng trong Đức Giê-hô-va.
Nguyện tội nhân bị diệt khỏi đất Và kẻ ác chẳng còn nữa. Hỡi linh hồn ta, hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va! Ha-lê-lu-gia!
Hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va và cầu khẩn danh Ngài! Hãy rao truyền công việc Ngài giữa các dân!
Hãy hát cho Ngài, hãy ca ngợi Ngài! Hãy suy ngẫm tất cả các việc kỳ diệu của Ngài.
Hãy tự hào trong danh thánh Ngài; Nguyện lòng của những người tìm kiếm Đức Giê-hô-va được hoan lạc!
Hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va và quyền năng Ngài, Hãy tìm kiếm mặt Ngài luôn luôn!
Hỡi dòng dõi Áp-ra-ham là đầy tớ Ngài, Hỡi con cháu Gia-cốp là những người Ngài tuyển chọn! Hãy nhớ lại những việc kỳ diệu mà Ngài đã làm, Các phép lạ và phán quyết từ miệng Ngài.
Chính Ngài là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta; Sự phán xét của Ngài ở khắp thế gian.
Ngài nhớ giao ước Ngài mãi mãi, Nghìn đời không quên lời phán của Ngài;
Tức là giao ước Ngài đã lập với Áp-ra-ham, Đã thề cùng Y-sác,
Đã định cho Gia-cốp làm luật lệ, Và cho Y-sơ-ra-ên làm giao ước đời đời,
Khi Ngài phán rằng: “Ta sẽ ban cho con đất Ca-na-an Là phần sản nghiệp của con.”
Lúc ấy họ chỉ là một số ít người. Là những khách lạ trong xứ,
Đi từ nước nầy đến nước khác, Từ vương quốc nọ sang dân tộc kia.
Ngài không cho ai áp bức họ; Vì cớ họ, Ngài cảnh cáo các vua của chúng:
“Đừng đụng đến những người được xức dầu của Ta, Chớ làm hại các nhà tiên tri Ta!”
Ngài khiến nạn đói xảy đến trong xứ Và làm cạn nguồn lương thực.
Nhưng Ngài sai một người đi trước dân Y-sơ-ra-ên Là Giô-sép, bị bán làm nô lệ.
Người ta tra chân ông vào cùm, Buộc xích sắt vào cổ
Cho đến khi điều ông nói trở thành sự thật. Lời của Đức Giê-hô-va đã minh chứng cho ông.
Vua truyền tha Giô-sép, Người cai trị các dân tộc phóng thích ông.
Vua lập ông làm người cai quản triều đình, Quản trị tất cả tài sản mình.
Ông có thẩm quyền trên các triều thần, Và dạy sự khôn ngoan cho các trưởng lão.
Bấy giờ, dân Y-sơ-ra-ên cũng đến Ai Cập; Gia-cốp kiều ngụ trong xứ Cham.
Đức Giê-hô-va làm cho con dân Ngài thêm nhiều, Khiến họ mạnh hơn kẻ thù của họ.
Ngài khiến người Ai Cập trở lòng ghen ghét dân Chúa, Lập mưu hại các đầy tớ Ngài.
Ngài sai đầy tớ Ngài là Môi-se Và A-rôn mà Ngài đã tuyển chọn.
Trong xứ Cham, Hai người thi hành các dấu lạ và phép mầu của Ngài.
Ngài giáng bóng tối và làm cho xứ tối tăm, Nhưng chúng vẫn không nghe lời Ngài.
Ngài biến nước sông thành máu, Và giết chết cá của chúng.
Đất sinh ra ếch nhái nhiều lúc nhúc, Nhảy vào tận phòng ngủ của vua.
Ngài phán, liền có ruồi mòng bay đến, Và muỗi đầy dẫy khắp xứ.
Ngài giáng mưa đá thay vì ban mưa, Và sai lửa đốt cháy cả xứ.
Ngài cũng phá hủy vườn nho và cây vả, Bẻ gãy cây cối trong xứ chúng.
Ngài phán, châu chấu liền bay đến Còn cào cào thì vô số,
Chúng cắn phá tất cả các loại cây cỏ trong xứ, Và phá hoại hoa mầu của đất.
Ngài cũng giết tất cả con đầu lòng trong xứ, Tức là tinh hoa của sức lực chúng.
Ngài dẫn dân Y-sơ-ra-ên ra đi, tay đầy vàng bạc; Không một ai trong các bộ tộc của họ chùn bước.
Người Ai Cập vui mừng khi họ ra đi, Vì nỗi kinh hoàng về Y-sơ-ra-ên đã giáng trên chúng.
Ngài khiến mây giăng để che chở họ, Và ban đêm có trụ lửa soi đường.
Khi họ cầu xin, Ngài đem chim cút đến, Và lấy bánh từ trời cho họ ăn no nê.
Ngài chẻ tảng đá, nước liền phun ra Như một dòng sông chảy qua hoang mạc.
Vì Chúa nhớ lại lời hứa thánh của Ngài, Và không quên Áp-ra-ham là đầy tớ Ngài.
Như thế, Chúa dẫn dân Ngài ra đi một cách hớn hở, Dắt những người Ngài chọn ra đi trong tiếng hát vui mừng.
Ngài lấy đất đai của các nước mà ban cho họ, Và cho họ thừa hưởng công lao của các dân tộc khác
Để họ gìn giữ luật lệ Ngài, Và vâng theo luật pháp Ngài. Ha-lê-lu-gia!
Ha-lê-lu-gia! Hãy ngợi ca Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện, Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Ai có thể thuật các công việc quyền năng của Đức Giê-hô-va, Hoặc đủ lời để ca ngợi Ngài?
Phước cho người nào gìn giữ công lý Và luôn luôn làm điều công chính!
Lạy Đức Giê-hô-va, xin nhớ đến con khi Ngài làm ơn cho dân Ngài! Xin thăm viếng con khi Ngài giải cứu họ.
Để con thấy được sự thịnh vượng của những người được Chúa chọn, Được hòa với niềm vui của con dân Ngài, Và cùng tự hào về cơ nghiệp Ngài.
Chúng con và tổ phụ chúng con đã phạm tội; Chúng con làm điều sai trái và hành động một cách độc ác.
Khi tổ phụ chúng con ở Ai Cập, Họ không quan tâm đến các phép lạ của Chúa, Cũng chẳng nhớ lại lòng nhân từ dư dật của Ngài, Nhưng lại nổi loạn bên bờ biển, tức là Biển Đỏ.
Dù vậy, Ngài vẫn cứu họ vì danh Ngài, Để bày tỏ quyền năng của Ngài.
Ngài quở Biển Đỏ, nó liền khô cạn; Ngài dẫn họ qua biển sâu như đi qua hoang mạc.
Ngài giải thoát họ khỏi tay kẻ ghen ghét, Và cứu chuộc họ khỏi tay kẻ thù.
Nước nhận chìm quân thù; Không để một ai sống sót.
Bấy giờ họ mới tin lời Ngài Và ca ngợi Ngài.
Nhưng họ sớm quên các công việc Ngài; Không chờ đợi sự khuyên dạy của Ngài.
Lòng họ đầy tham dục trong đồng hoang, Và họ đã thử Đức Chúa Trời nơi hoang mạc.
Ngài ban cho điều họ cầu xin, Nhưng giáng bệnh tật hủy hoại mạng sống họ.
Trong trại quân, họ ganh tị với Môi-se và A-rôn, Là người thánh của Đức Giê-hô-va.
Đất hả miệng nuốt Đa-than, Và chôn vùi bọn A-bi-ram.
Lửa bùng cháy giữa hội chúng; Ngọn lửa thiêu đốt những kẻ ác.
Tổ phụ chúng con đã đúc một con bò tơ tại Hô-rếp, Và thờ lạy tượng ấy.
Họ đổi Đấng vinh quang của mình Để lấy hình tượng con bò ăn cỏ.
Họ quên Đức Chúa Trời là Đấng đã giải cứu họ, Và làm những việc vĩ đại cho họ ở Ai Cập;
Ngài thực hiện những việc kỳ diệu trong xứ Cham, Và các điều kinh khiếp bên bờ Biển Đỏ.
Vì vậy, Chúa phán rằng Ngài sẽ hủy diệt họ. Nhưng Môi-se là người được Chúa chọn, Đứng nơi sứt mẻ trước mặt Ngài, Để xin Ngài đừng giận mà hủy diệt họ.
Tiếp theo, tổ phụ chúng con khinh thường miền đất tốt đẹp, Không tin lời hứa của Ngài.
Họ lầm bầm trong trại quân, Không vâng theo tiếng Đức Giê-hô-va.
Vì vậy, Ngài giơ tay mà thề rằng: “Ta sẽ làm cho họ gục ngã trong hoang mạc,
Khiến dòng dõi họ ngã chết giữa các nước, Và phân tán họ trong các xứ.”
Tổ phụ chúng con đã tham dự vào việc thờ thần Ba-anh Phê-ô, Ăn đồ cúng cho người chết,
Như vậy, họ chọc giận Đức Chúa Trời vì những việc làm của họ, Và ôn dịch bùng phát giữa họ.
Bấy giờ Phi-nê-a đứng ra can thiệp Và dịch bệnh ngừng lại.
Từ đời nầy qua đời kia, việc ông làm được kể là công chính Và được ghi nhớ muôn đời.
Tổ phụ chúng con đã chọc giận Ngài bên suối nước Mê-ri-ba, Nên vì cớ họ mà Môi-se phải chịu tai họa,
Và cũng vì họ làm rối trí ông Nên ông nói lỡ lời.
Họ không hủy diệt các dân tộc ở đó, Như Đức Giê-hô-va đã phán dặn.
Nhưng lại pha trộn với các dân ấy, Làm theo những việc chúng làm.
Họ thờ hình tượng của chúng, Và điều nầy trở thành cái bẫy cho họ.
Họ dâng con trai con gái mình Để cúng tế ma quỷ.
Họ làm đổ máu vô tội, Tức là máu của con trai con gái mình Để cúng tế cho hình tượng xứ Ca-na-an, Khiến xứ bị ô uế bởi huyết ấy.
Như vậy, họ bị ô uế bởi công việc mình, Và phạm tội tà dâm bằng hành động của mình.
Vì thế, cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi lên với con dân Ngài, Ngài khinh ghét cơ nghiệp Ngài.
Ngài phó họ vào tay các dân ngoại, Và những kẻ ghét họ thống trị họ.
Kẻ thù cũng áp bức tổ phụ họ. Họ bị khuất phục dưới tay chúng.
Nhiều lần Chúa giải cứu họ, Nhưng họ cố tình chống nghịch Ngài Và chìm đắm trong tội lỗi.
Dù vậy, Ngài vẫn nghe tiếng kêu cầu của họ, Và đoái thương họ trong lúc gian truân.
Ngài nhớ đến họ vì giao ước của Ngài. Và thương xót họ theo lòng nhân từ vô biên của Ngài.
Ngài cũng làm cho họ được ơn Trước những kẻ bắt họ làm nô lệ.
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng con, xin hãy cứu chúng con, Nhóm họp chúng con từ giữa các nước, Để chúng con cảm tạ danh thánh của Chúa Và được vinh hạnh ca ngợi Ngài.
Đáng ca ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Từ trước vô cùng cho đến đời đời! Nguyện tất cả con dân Chúa đều nói: “A-men!” Ha-lê-lu-gia!
Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va vì Ngài là thiện; Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Những người Đức Giê-hô-va đã cứu chuộc khỏi tay kẻ thù Hãy nói như vậy;
Tức là những người Ngài đã tập hợp từ các xứ; Từ phương đông và phương tây, Phương bắc và phương nam.
Họ lưu lạc nơi hoang mạc quạnh hiu, Không tìm được một thành để ở.
Họ bị đói khát, Tâm hồn mỏi mòn tuyệt vọng.
Bấy giờ, trong cơn gian truân, họ kêu cầu Đức Giê-hô-va, Và Ngài giải cứu họ khỏi cảnh hoạn nạn,
Dẫn họ theo con đường ngay thẳng, Cho đến khi họ tìm được một thành để ở.
Nguyện người ta cảm tạ Đức Giê-hô-va vì lòng nhân từ của Ngài, Và vì các phép mầu mà Ngài đã làm cho con loài người!
Vì Ngài làm cho lòng khát khao được thỏa thích, Và lòng đói khát được mãn nguyện với những điều tốt lành.
Có kẻ ngồi trong chỗ tối tăm và bóng chết, Những tù nhân bị khốn khổ trong xích sắt.
Vì đã phản nghịch lời Đức Chúa Trời, Và khinh thường sự khuyên dạy của Đấng Chí Cao.
Vì thế, Ngài dùng lao khổ để hạ lòng họ xuống; Họ ngã quỵ mà không kẻ đỡ nâng.
Bấy giờ, trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va, Và Ngài giải cứu họ khỏi cảnh hoạn nạn.
Ngài đem họ ra khỏi nơi tối tăm và bóng chết, Cũng bứt đứt xích xiềng cho họ.
Nguyện người ta cảm tạ Đức Giê-hô-va vì lòng nhân từ của Ngài, Và vì các phép mầu mà Ngài đã làm cho con loài người!
Vì Ngài đã phá cổng đồng Và bẻ gãy các song sắt.
Kẻ ngu dại bị khốn khổ vì lối sống tội lỗi, Và bị đau đớn vì sự gian ác của mình.
Họ chán ngán các thức ăn, Và đang đến gần cổng tử thần.
Bấy giờ, trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va, Và Ngài giải cứu họ khỏi cảnh hoạn nạn.
Ngài ban lời Ngài và chữa lành họ, Cứu họ khỏi mồ mả.
Nguyện người ta cảm tạ Đức Giê-hô-va vì lòng nhân từ của Ngài, Và vì các phép mầu mà Ngài đã làm cho con loài người!
Nguyện họ dâng tế lễ tạ ơn, Và thuật các công việc của Ngài với bài hát vui mừng.
Có người đi tàu trên đại dương, Và làm việc nơi biển cả;
Họ thấy công việc Đức Giê-hô-va, Xem phép lạ Ngài trong nước sâu.
Ngài khiến bão tố thổi qua, Và ba đào dồi dập;
Vọt lên tận trời cao, rồi chìm xuống vực sâu; Trong cơn khốn khổ, lòng can đảm tiêu tan.
Họ choáng váng lảo đảo như người say; Sự khôn ngoan đều tiêu mất.
Bấy giờ, trong cơn gian truân, họ kêu cầu Đức Giê-hô-va, Và Ngài giải cứu họ khỏi cảnh hoạn nạn.
Ngài làm ngừng bão tố, Khiến ba đào lặng yên.
Họ vui mừng vì sóng êm biển lặng; Chúa dẫn họ đến bến bờ ước ao.
Nguyện người ta cảm tạ Đức Giê-hô-va vì lòng nhân từ của Ngài, Và vì các phép mầu mà Ngài đã làm cho con loài người!
Hãy tôn cao Ngài giữa cộng đồng dân Chúa, Và ca ngợi Ngài trong hội đồng trưởng lão.
Ngài đổi sông ngòi ra hoang mạc, Suối nước thành đất khô cằn.
Và đất màu mỡ ra đất mặn, Vì sự gian ác của dân cư ở đó.
Ngài biến hoang mạc thành ao hồ, Đất khô ra suối nước.
Ngài làm cho những kẻ đói có chỗ để ở, Và họ xây thành để sinh sống.
Họ gieo giống trong ruộng và trồng nho, Rồi thu hoa lợi dư dật.
Đức Chúa Trời ban phước cho họ, và họ sinh sản thêm nhiều. Ngài không để cho bầy súc vật của họ bị giảm sút.
Khi quân số họ bị suy giảm và bị sỉ nhục Vì sự áp bức, gian nan và buồn rầu.
Ngài đổ sự nhuốc nhơ trên các vua chúa, Khiến họ lưu lạc trong đất hoang vu không lối thoát.
Nhưng Ngài cứu vớt kẻ thiếu thốn khỏi cơn hoạn nạn, Và làm cho gia quyến họ đông như bầy chiên.
Những người ngay thẳng sẽ thấy điều ấy và vui mừng; Còn bọn gian ác đều phải ngậm miệng lại.
Nguyện người khôn ngoan chú ý những điều nầy, Và suy ngẫm về lòng nhân từ của Đức Giê-hô-va.
Lạy Đức Chúa Trời, lòng con vững chắc! Con sẽ hát, linh hồn con sẽ ca ngợi Ngài.
Hỡi đàn hạc và đàn lia, hãy tỉnh thức! Ta sẽ đánh thức rạng đông.
Lạy Đức Giê-hô-va, con sẽ cảm tạ Ngài giữa các dân, Ca ngợi Ngài trong các nước.
Vì lòng nhân từ Chúa vĩ đại hơn các tầng trời, Đức thành tín Ngài cao đến tận mây.
Lạy Đức Chúa Trời, nguyện Chúa được tôn cao hơn các tầng trời; Nguyện vinh quang Ngài tỏa khắp trái đất!
Xin lấy tay phải Chúa mà giải cứu và đáp lời con, Để người mà Ngài yêu mến được giải thoát.
Đức Chúa Trời đã phán trong đền thánh của Ngài rằng: “Ta sẽ hân hoan phân chia Si-chem, Và đo đạc thung lũng Su-cốt.
Ga-la-át thuộc về Ta, Ma-na-se cũng vậy; Ép-ra-im là đồn lũy cho đầu Ta; Giu-đa là vương trượng của Ta;
Mô-áp là cái bồn rửa của Ta; Ta ném giày Ta trên Ê-đôm; Ta cất tiếng reo mừng về đất Phi-li-tin.”
Ai sẽ đưa con vào thành vững bền? Ai sẽ dẫn con đến đất Ê-đôm?
Lạy Đức Chúa Trời, chẳng phải Chúa là Đấng đã từ bỏ chúng con sao? Lạy Đức Chúa Trời, Chúa không còn ra trận với đạo quân chúng con nữa.
Xin Chúa giúp đỡ chúng con chống lại kẻ thù, Vì sự giúp đỡ của loài người là vô ích.
Nhờ Đức Chúa Trời, chúng con sẽ chiến đấu dũng cảm, Vì chính Ngài sẽ giày đạp kẻ thù của chúng con.
Lạy Đức Chúa Trời mà con ca ngợi, Xin đừng nín lặng!
Vì miệng kẻ ác và bọn lừa dối hả ra chống lại con, Chúng nói nghịch con bằng lưỡi dối trá.
Vây phủ con bằng lời ghen ghét, Và tấn công con vô cớ.
Chúng tố cáo con mặc dù con yêu thương chúng, Vì thế, con chỉ biết cầu nguyện.
Chúng lấy dữ trả lành, Lấy ghét báo thương.
Xin sai kẻ ác chống lại nó, Và đặt kẻ chống đối đứng bên phải nó.
Khi nó bị phán xét, nguyện nó bị kết tội Và lời cầu nguyện nó bị kể như tội lỗi.
Nguyện các ngày của đời nó ngắn đi, Nguyện kẻ khác chiếm lấy chức vụ nó
Nguyện con cái nó trở thành kẻ mồ côi, Và vợ nó thành người góa bụa.
Nguyện con cái nó đi lang thang ăn mày, Phải đi xin ăn xa khỏi nhà hoang của chúng.
Nguyện chủ nợ xiết hết mọi vật nó có. Kẻ ngoại bang cướp lấy hoa lợi của công lao nó.
Nguyện chẳng ai làm ơn cho nó, Không ai thương xót đến những đứa con mồ côi của nó.
Nguyện dòng dõi nó bị diệt đi, Tên chúng bị xóa mất trong thế hệ kế tiếp.
Nguyện sự gian ác của tổ phụ nó bị nhắc lại trước mặt Đức Giê-hô-va; Tội lỗi của mẹ nó không hề bôi xóa được.
Nguyện các tội ác ấy hằng ở trước mặt Đức Giê-hô-va Để Ngài xóa kỷ niệm chúng khỏi đất.
Vì nó không nhớ làm ơn, Nhưng lại bắt bớ người khốn cùng thiếu thốn, Và kẻ có lòng đau thương để giết đi.
Nó ưa nguyền rủa; sự nguyền rủa đổ trên đầu nó; Nó không thích chúc phước; phước cũng cách xa nó.
Nó mặc sự nguyền rủa khác nào chiếc áo; Sự nguyền rủa thấm vào thân nó như nước, Như dầu thấm vô xương cốt nó.
Nguyện sự nguyền rủa như chiếc áo bao bọc nó, Như cái đai luôn thắt quanh lưng.
Đức Giê-hô-va sẽ báo trả như vậy cho kẻ thù của con, Và cho những kẻ nói điều ác để hại mạng sống con.
Nhưng lạy Chúa là Đức Giê-hô-va, Vì danh Chúa, xin hậu đãi con; Vì lòng nhân từ Chúa là tốt lành, xin giải cứu con.
Vì con khốn cùng và thiếu thốn; Lòng con đau xót tận tâm can.
Đời con qua đi như bóng xế chiều, Bị đẩy đi đây đó như cào cào.
Gối con run rẩy vì kiêng ăn, Thân thể con gầy mòn, ốm yếu.
Con trở thành nỗi sỉ nhục cho chúng; Mỗi khi chúng thấy con thì lắc đầu.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con ôi! Xin giúp đỡ con, Và cứu con theo lòng nhân từ của Chúa;
Để người ta biết rằng đây là tay Đức Giê-hô-va, Chính Ngài đã làm điều đó.
Chúng nguyền rủa con, nhưng Chúa lại ban phước cho con. Khi chúng dấy lên chắc sẽ bị hổ thẹn, Còn đầy tớ Chúa sẽ được vui vẻ.
Nguyện kẻ thù của con phải mặc lấy sự sỉ nhục, Bao phủ mình bằng sự xấu hổ như cái áo.
Bấy giờ, miệng con sẽ hết sức cảm tạ Đức Giê-hô-va Và ca ngợi Ngài giữa đoàn dân đông.
Vì Ngài đứng bên phải người thiếu thốn, Để giải cứu mạng sống họ khỏi kẻ kết án.
Đức Giê-hô-va phán với Chúa của con rằng: “Hãy ngồi bên phải Ta Cho đến khi Ta đặt các kẻ thù của Con làm bệ chân cho Con.”
Từ Si-ôn, Đức Giê-hô-va sẽ mở rộng Vương quyền hùng mạnh của Con. Hãy thống trị trên các kẻ thù của Con.
Trong ngày Chúa biểu dương sức mạnh, Con dân Ngài sẽ tình nguyện hiến thân; Những chàng trai mặc trang phục thánh đi theo Ngài, Lấp lánh như những giọt sương từ lòng rạng đông
Đức Giê-hô-va đã thề và không đổi ý rằng: “Con là thầy tế lễ đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc.”
Chúa ở bên phải Đức Chúa Trời, Sẽ chà nát các vua trong ngày Chúa nổi giận.
Ngài sẽ phán xét các nước, Làm cho khắp nơi đầy xác chết; Ngài cũng sẽ chà nát Những kẻ đứng đầu trên cả trái đất.
Vua sẽ uống nước suối bên đường; Vì thế, vua ngẩng cao đầu đắc thắng.
Ha-lê-lu-gia! Con sẽ hết lòng ca ngợi Đức Giê-hô-va Trong đoàn người ngay thẳng và giữa hội chúng.
Công việc Đức Giê-hô-va thật vĩ đại; Tất cả những ai ham thích đều sẽ suy ngẫm đến.
Công việc Ngài đầy vinh quang và uy nghiêm; Đức công chính Ngài còn đến đời đời.
Ngài lập kỷ niệm về các phép mầu của Ngài. Đức Giê-hô-va hay làm ơn và đầy lòng thương xót.
Ngài ban thực phẩm cho người kính sợ Ngài, Và ghi nhớ giao ước Ngài mãi mãi.
Ngài đã bày tỏ cho dân Ngài quyền năng của công việc Ngài, Và ban cho họ sản nghiệp của các nước.
Công việc của tay Ngài là thành tín và công chính; Các kỷ cương của Ngài đều đáng tin tưởng,
Được lập vững bền đời đời vô cùng Và được thực thi trong sự thành tín và ngay thẳng.
Ngài đã giải cứu dân Ngài, Và truyền lệnh lập giao ước Ngài đến đời đời. Danh Ngài là thánh và đáng kính sợ.
Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu sự khôn ngoan; Người nào vâng giữ điều răn Ngài được thông sáng. Sự ca ngợi Ngài còn đến đời đời.
Ha-lê-lu-gia! Phước cho người nào kính sợ Đức Giê-hô-va, Hết lòng yêu thích điều răn của Ngài!
Con cháu người ấy sẽ cường thịnh trên đất; Dòng dõi người ngay thẳng sẽ được phước.
Của cải và giàu có đều ở trong nhà người ấy, Và sự công chính của người ấy còn đến đời đời.
Ánh sáng soi nơi tối tăm cho người ngay thẳng, Tức là người hay làm ơn, có lòng thương xót và công chính.
Phước cho người nào có lòng rộng rãi, sẵn sàng cho mượn Và điều hành mọi công việc trong sự chính trực.
Người công chính sẽ chẳng hề bị rúng động, Kỷ niệm người ấy còn đến đời đời.
Người ấy không sợ các tin dữ; Lòng người ấy vững bền, tin cậy Đức Giê-hô-va.
Lòng người ấy kiên định, chẳng hề sợ hãi, Cho đến khi người ấy thấy các kẻ thù mình bị đánh bại.
Người ấy rải tiền của, bố thí cho người nghèo khổ, Sự công chính của người ấy còn đến đời đời, Sừng người ấy sẽ được ngước lên trong vinh quang.
Kẻ ác thấy điều đó thì tức giận, Nghiến răng và bị diệt mất; Tham vọng của kẻ ác sẽ tiêu tan.
Ha-lê-lu-gia! Hỡi các đầy tớ Đức Giê-hô-va, hãy ca ngợi Chúa! Hãy ca ngợi danh Đức Giê-hô-va.
Đáng chúc tụng danh Đức Giê-hô-va. Từ bây giờ cho đến đời đời!
Từ nơi mặt trời mọc cho đến nơi mặt trời lặn, Hãy ca ngợi danh Đức Giê-hô-va!
Đức Giê-hô-va được tôn cao trên các nước. Vinh quang Ngài cao hơn các tầng trời.
Ai giống như Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta? Ngôi Ngài ở trên cao.
Ngài cúi xuống Để xem xét trời và đất.
Ngài nâng người khốn cùng lên khỏi bụi tro, Nhấc kẻ thiếu thốn khỏi đống rác.
Đặt họ ngồi chung với các bậc quyền quý, Tức là với các bậc quyền quý trong dân chúng.
Ngài khiến đàn bà hiếm muộn Được làm mẹ vui vẻ với đàn con trong nhà! Ha-lê-lu-gia!
Khi Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập, Nhà Gia-cốp lìa bỏ một dân nói ngôn ngữ khác,
Thì Giu-đa trở nên đền thánh Ngài, Và Y-sơ-ra-ên thành vương quốc của Ngài.
Biển thấy điều ấy thì chạy trốn; Sông Giô-đanh phải chảy ngược dòng;
Núi nhảy như chiên đực; Đồi phóng như chiên con.
Nầy biển, sao ngươi chạy trốn? Hỡi Giô-đanh, vì sao ngươi chảy ngược dòng?
Hỡi núi, sao ngươi nhảy như chiên đực? Nầy đồi, sao ngươi nhảy như chiên con?
Hỡi đất, hãy run rẩy trước mặt Chúa, Trước mặt Đức Chúa Trời của Gia-cốp,
Là Đấng biến vầng đá ra ao nước, Đổi đá cứng thành nguồn nước.
Lạy Đức Giê-hô-va, vì lòng nhân từ và đức thành tín của Ngài, Nguyện vinh quang không thuộc về chúng con, không thuộc về chúng con Nhưng đáng thuộc về danh Ngài!
Vì sao các nước dám nói rằng: “Đức Chúa Trời của chúng ở đâu?”
Đức Chúa Trời chúng ta ở trên các tầng trời; Ngài làm bất cứ điều gì vừa ý Ngài.
Còn hình tượng của chúng làm bằng bạc bằng vàng, Là công việc tay người ta làm ra.
Hình tượng có miệng mà không nói; Có mắt mà chẳng thấy;
Có tai mà không nghe; Có mũi mà chẳng ngửi;
Có tay nhưng không thể sờ; Có chân mà không biết đi; Có cổ họng mà chẳng phát ra tiếng nào.
Kẻ nào làm hình tượng và nhờ cậy chúng Đều giống như chúng.
Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy tin cậy Đức Giê-hô-va; Ngài là sự cứu giúp và cái khiên của họ.
Hỡi nhà A-rôn, hãy tin cậy Đức Giê-hô-va: Ngài là sự cứu giúp và cái khiên của họ.
Hỡi các người kính sợ Đức Giê-hô-va, hãy tin cậy Đức Giê-hô-va: Ngài là sự cứu giúp và cái khiên của họ.
Đức Giê-hô-va nhớ đến chúng con: Ngài sẽ ban phước, ban phước cho nhà Y-sơ-ra-ên, Cũng sẽ ban phước cho nhà A-rôn.
Ngài sẽ ban phước cho những người kính sợ Đức Giê-hô-va Hoặc nhỏ hay lớn cũng vậy.
Nguyện Đức Giê-hô-va gia tăng phước lành trên các ngươi, Cả các ngươi và con cháu các ngươi nữa.
Nguyện Đức Giê-hô-va là Đấng dựng nên trời và đất, Ban phước cho các ngươi.
Các tầng trời thuộc về Đức Giê-hô-va, Nhưng Ngài đã ban quả đất cho con cái loài người.
Kẻ chết hoặc kẻ xuống cõi im lặng Chẳng ca ngợi Đức Giê-hô-va.
Nhưng chúng con sẽ ca ngợi Đức Giê-hô-va Từ bây giờ cho đến đời đời! Ha-lê-lu-gia!
Tôi yêu mến Đức Giê-hô-va Vì Ngài nghe tiếng tôi và lời nài xin của tôi.
Tôi sẽ cầu khẩn Ngài trọn đời tôi Bởi vì Ngài có nghiêng tai qua tôi.
Dây sự chết vương vấn tôi, Nỗi đau đớn của âm phủ nắm lấy tôi, Tôi gặp gian truân và sầu khổ.
Nhưng tôi kêu cầu danh Đức Giê-hô-va rằng: “Đức Giê-hô-va ôi! Cầu xin Ngài giải cứu linh hồn con.”
Đức Giê-hô-va hay làm ơn và là công chính; Đức Chúa Trời chúng ta có lòng thương xót.
Đức Giê-hô-va bảo vệ người thật thà; Khi tôi bị khốn khổ, Ngài giải cứu tôi.
Hỡi linh hồn ta, hãy trở về nơi an nghỉ ngươi, Vì Đức Giê-hô-va đã hậu đãi ngươi.
Chúa đã giải cứu linh hồn tôi khỏi chết, Mắt tôi khỏi giọt lệ, Và chân tôi khỏi vấp ngã.
Tôi sẽ đi trước mặt Đức Giê-hô-va Trong đất kẻ sống.
Tôi vững tin dù tôi có nói: “Con đau buồn quá đỗi.”
Trong cơn bối rối, tôi nói rằng: “Mọi người đều nói dối”
Tôi sẽ lấy gì báo đáp Đức Giê-hô-va Về các ơn lành mà Ngài đã làm cho tôi?
Tôi sẽ cầm chén cứu rỗi Mà cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va.
Tôi sẽ trả xong cho Đức Giê-hô-va các điều tôi hứa nguyện, Trước mặt toàn thể con dân Ngài.
Sự chết của những người thánh Là quý báu dưới mắt Đức Giê-hô-va.
Lạy Đức Giê-hô-va, con là đầy tớ Ngài; Thật con là đầy tớ Ngài, con trai của tớ gái Ngài; Ngài đã mở gông cùm cho con.
Con sẽ dâng lên Chúa tế lễ tạ ơn Và cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va.
Con sẽ trả xong cho Đức Giê-hô-va các điều con hứa nguyện, Trước mặt toàn thể con dân Ngài,
Trong hành lang của nhà Đức Giê-hô-va, Ở giữa Giê-ru-sa-lem! Ha-lê-lu-gia!
Hỡi các nước, hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va; Hỡi muôn dân, hãy ca tụng Ngài!
Vì lòng nhân từ Ngài đối với chúng ta rất lớn, Đức thành tín của Đức Giê-hô-va còn đến đời đời! Ha-lê-lu-gia!
Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va vì Ngài là thiện; Lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Nguyện Y-sơ-ra-ên nói rằng: “Lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.”
Nguyện nhà A-rôn nói rằng: “Lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.”
Nguyện những người kính sợ Đức Giê-hô-va nói rằng: “Lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.”
Trong cơn gian truân, tôi cầu khẩn Đức Giê-hô-va; Đức Giê-hô-va đáp lời tôi và đặt tôi nơi rộng rãi,
Đức Giê-hô-va bênh vực tôi, tôi chẳng sợ, Loài người sẽ làm gì tôi?
Đức Giê-hô-va bênh vực tôi; Ngài là Đấng giúp đỡ tôi. Tôi sẽ thấy kẻ thù mình bị đánh bại.
Thà nương náu mình nơi Đức Giê-hô-va Còn hơn tin cậy loài người.
Thà nương náu mình nơi Đức Giê-hô-va Còn hơn tin cậy vua chúa.
Các nước đã vây tôi; Tôi nhân danh Đức Giê-hô-va mà hủy diệt chúng!
Chúng bao vây tôi, bủa khắp bốn bề; Tôi nhân danh Đức Giê-hô-va mà hủy diệt chúng!
Chúng bao vây tôi khác nào đàn ong; Nhưng chúng bị dập tắt như ngọn lửa gai; Tôi nhân danh Đức Giê-hô-va mà hủy diệt chúng!
Ngươi xô ta mạnh để ta ngã quỵ, Nhưng Đức Giê-hô-va giúp đỡ ta.
Đức Giê-hô-va là sức mạnh và là bài ca của ta; Ngài trở nên sự cứu rỗi ta.
Trong trại người công chính có tiếng vui mừng cứu rỗi: “Tay phải Đức Giê-hô-va làm những việc lớn lao;
Tay phải Đức Giê-hô-va giơ cao lên; Tay phải Đức Giê-hô-va làm những việc lớn lao!”
Tôi sẽ chẳng chết đâu nhưng được sống Để thuật lại những công việc Đức Giê-hô-va.
Đức Giê-hô-va đã sửa phạt tôi cách nghiêm khắc, Nhưng không phó tôi vào sự chết.
Hãy mở cho tôi các cửa công chính, Tôi sẽ bước vào để ca ngợi Đức Giê-hô-va.
Đây là cửa của Đức Giê-hô-va; Những người công chính sẽ vào đó.
Con sẽ cảm tạ Chúa vì Chúa đã đáp lời con Và trở nên sự cứu rỗi của con.
Hòn đá mà thợ xây loại ra Đã trở nên đá góc nhà.
Đó là việc của Đức Giê-hô-va, Một điều kỳ diệu dưới mắt chúng con.
Nầy là ngày Đức Giê-hô-va làm nên; Chúng con sẽ mừng rỡ và vui vẻ trong ngày ấy.
Đức Giê-hô-va ôi! Xin giải cứu chúng con; Đức Giê-hô-va ôi! Xin cho chúng con được thịnh vượng.
Đáng ca ngợi Đấng nhân danh Đức Giê-hô-va mà đến! Từ nơi nhà Đức Giê-hô-va, chúng con chúc tụng Ngài.
Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, Ngài đã ban cho chúng con ánh sáng. Hãy lấy dây cột sinh tế Vào các sừng bàn thờ.
Chúa là Đức Chúa Trời của con, con sẽ cảm tạ Chúa; Chúa là Đức Chúa Trời của con, con sẽ tôn cao Ngài.
Hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va vì Ngài là thiện; Lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Phước cho những người trọn vẹn trong đường lối mình, Đi theo luật pháp của Đức Giê-hô-va.
Phước cho những người gìn giữ chứng cớ Ngài. Và hết lòng tìm kiếm Ngài.
Họ không làm điều gian ác, Nhưng đi trong đường lối Ngài.
Chúa đã truyền cho chúng con các kỷ cương của Chúa Để chúng con cẩn thận giữ lấy.
Ôi! Ước gì đường lối con được vững chắc Để con tuân giữ các luật lệ Chúa!
Khi con chú tâm vào các điều răn Chúa Thì con chẳng bị hổ thẹn.
Khi con học các phán quyết công chính của Chúa Thì con ca ngợi Chúa với lòng ngay thật.
Con sẽ tuân giữ các luật lệ Chúa, Xin đừng bao giờ từ bỏ con.
Người trẻ tuổi phải làm sao cho đường lối mình được trong sạch? Phải cẩn thận theo lời Chúa.
Con hết lòng tìm kiếm Chúa, Đừng để con lạc khỏi các điều răn Chúa.
Con giấu lời Chúa trong lòng con Để con không phạm tội cùng Chúa.
Lạy Đức Giê-hô-va, đáng chúc tụng Ngài. Xin dạy con các luật lệ Ngài!
Con lấy môi con thuật lại Các phán quyết miệng Chúa truyền ra.
Con vui thích con đường chứng ước của Chúa, Hơn vui hưởng vinh hoa phú quý.
Con sẽ suy ngẫm kỷ cương Chúa, Chú tâm vào đường lối của Ngài.
Con ưa thích luật lệ Chúa Sẽ không quên lời của Ngài.
Xin Chúa ban ơn lành cho đầy tớ Chúa Để con được sống và vâng giữ lời Ngài.
Xin Chúa mở mắt con Để con thấy sự diệu kỳ trong luật pháp của Chúa.
Con là khách lạ trên đất; Xin chớ giấu con các điều răn Chúa.
Linh hồn con hằng khao khát mỏi mòn Về các phán quyết của Chúa.
Chúa quở trách kẻ kiêu ngạo là kẻ bị nguyền rủa, Đi sai lạc khỏi các điều răn của Chúa.
Xin lăn khỏi con nỗi sỉ nhục và khinh bỉ, Vì con vâng giữ các chứng ước Chúa.
Dù các vua chúa ngồi bàn mưu chống lại con, Nhưng đầy tớ Chúa cứ suy ngẫm luật lệ Ngài.
Các chứng ước Chúa là niềm vui thích của con, Cũng là những cố vấn cho con.
Linh hồn con dính vào bụi đất, Xin khiến con sống lại theo lời Chúa.
Con đã tỏ bày với Chúa đường lối con và Chúa đã đáp lời; Xin dạy con các luật lệ Ngài.
Xin cho con hiểu được con đường kỷ cương của Chúa, Thì con sẽ suy ngẫm các công việc kỳ diệu của Ngài.
Linh hồn con ưu sầu, tuôn tràn giọt lệ; Xin khiến con mạnh mẽ nhờ lời của Chúa.
Xin khiến con tránh xa con đường dối trá, Và làm ơn dạy con luật pháp của Ngài.
Con đã chọn con đường chân thật, Đặt phán quyết của Chúa trước mặt con.
Đức Giê-hô-va ôi! Con gắn bó với các chứng ước Chúa: Xin đừng để con bị hổ thẹn.
Khi Chúa mở rộng lòng con, Thì con sẽ chạy theo con đường giới răn của Chúa.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin dạy con đường luật lệ của Chúa cho con Thì con sẽ tuân giữ cho đến cuối cùng.
Xin Chúa ban cho con sự thông sáng để con vâng giữ Và hết lòng tuân theo luật pháp của Ngài.
Xin khiến con đi trong con đường điều răn của Chúa Vì con yêu thích con đường ấy.
Xin khiến lòng con hướng về chứng ước Chúa Chứ đừng hướng về lợi lộc bất chính.
Xin đừng để mắt con hướng về những điều vô nghĩa; Nhưng cho con sống theo đường lối Chúa.
Xin Chúa khiến lời Chúa được ứng nghiệm cho đầy tớ Ngài, Tức là người kính sợ Chúa.
Xin cất khỏi con nỗi sỉ nhục mà con sợ hãi, Vì phán quyết của Chúa thật tốt lành.
Con mong ước các kỷ cương Chúa biết bao! Xin khiến con được sống trong sự công chính của Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, nguyện sự nhân từ Ngài đến với con, Tức là sự cứu rỗi của Ngài, theo lời phán hứa của Ngài!
Vậy con sẽ đối đáp với kẻ làm sỉ nhục con, Vì con tin vào lời Chúa.
Xin đừng cất khỏi miệng con lời của chân lý, Vì con đặt niềm hi vọng nơi phán quyết của Chúa.
Con sẽ luôn vâng giữ luật pháp Chúa Cho đến đời đời vô cùng.
Con sẽ bước đi cách ung dung, Vì đã tìm kiếm kỷ cương của Chúa.
Con sẽ rao truyền chứng ước Chúa trước các vua Mà không hổ thẹn chút nào.
Con vui thích các điều răn Chúa Vì con yêu mến chúng.
Con giơ tay lên hướng về điều răn Chúa mà con yêu mến Và suy ngẫm các luật lệ Ngài.
Xin Chúa nhớ lại lời Chúa đã phán với đầy tớ Chúa, Vì nhờ lời ấy, Ngài khiến con hi vọng.
Lời Chúa làm cho con được sống lại, Đó là nguồn an ủi con trong cơn hoạn nạn.
Kẻ kiêu ngạo không tiếc lời chế nhạo con, Nhưng con không xây bỏ luật pháp Chúa.
Lạy Đức Giê-hô-va, con nhớ lại các phán quyết từ xưa của Ngài, Nên con được an ủi.
Con phẫn nộ, bất bình Khi kẻ ác từ bỏ luật pháp Chúa.
Các luật lệ Chúa là bài ca của con Trong cuộc đời lữ khách.
Lạy Đức Giê-hô-va, ban đêm con nhớ lại danh Ngài Và vâng giữ luật pháp Ngài.
Con được hưởng phước lành Vì con vâng giữ các kỷ cương của Chúa.
Đức Giê-hô-va là phần cơ nghiệp của con; Con hứa sẽ vâng giữ lời Ngài.
Con đã hết lòng cầu khẩn ơn lành của Chúa; Xin thương xót con tùy theo lời Chúa.
Khi con suy nghĩ về đường lối con, Thì con quay bước trở về chứng ước của Chúa.
Con nhanh chóng, không hề chậm trễ Mà vâng giữ các điều răn Chúa.
Dây kẻ ác đã giăng bẫy hại con, Nhưng con không quên luật pháp Chúa.
Nửa đêm, con thức dậy để cảm tạ Chúa, Vì các phán quyết công chính của Ngài.
Con là bạn hữu của mọi người kính sợ Chúa, Và của những ai tuân theo các kỷ cương của Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, khắp đất đầy dẫy sự nhân từ Ngài; Xin dạy con các luật lệ Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài đã hậu đãi đầy tớ Ngài Theo như lời Ngài.
Xin dạy con tri thức và sự phán đoán đúng đắn Vì con tin vào các điều răn Chúa.
Trước khi bị hoạn nạn thì con lầm lạc Nhưng bây giờ con vâng giữ lời Chúa.
Chúa là thiện và luôn ban ơn lành; Xin dạy con các luật lệ Ngài.
Kẻ kiêu ngạo dùng lời dối trá bôi nhọ con, Nhưng con sẽ hết lòng tuân giữ kỷ cương của Chúa.
Lòng của chúng chai lì, dày như mỡ, Nhưng con yêu thích luật pháp của Chúa.
Hoạn nạn là điều tốt cho con, Nhờ đó con học biết luật lệ của Chúa.
Luật pháp truyền phán từ miệng Chúa Thật quý báu cho con hơn hàng nghìn đồng vàng và bạc.
Bàn tay Chúa dựng nên con và nắn đúc hình con; Xin ban cho con sự khôn sáng để con học điều răn Ngài.
Những người kính sợ Chúa sẽ vui mừng khi thấy con, Vì con đặt hi vọng nơi lời Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, con biết rằng sự phán xét của Ngài là công chính Và bởi sự thành tín mà Ngài làm cho con bị khổ nạn.
Nguyện sự nhân từ Chúa an ủi con Theo như lời Chúa đã hứa với đầy tớ Ngài.
Nguyện lòng thương xót của Chúa đến với con để con được sống, Vì con yêu thích luật pháp Ngài.
Nguyện kẻ kiêu ngạo bị hổ thẹn Vì chúng dùng sự giả dối mà xuyên tạc con; Nhưng con sẽ suy ngẫm kỷ cương của Chúa.
Nguyện những kẻ kính sợ Chúa trở lại với con. Thì họ sẽ hiểu biết chứng ước Ngài.
Nguyện lòng con được trọn vẹn trong các luật lệ Chúa Để con không bị hổ thẹn.
Linh hồn con mòn mỏi vì mong ước sự cứu rỗi của Chúa; Con hi vọng nơi lời Ngài.
Mắt con hao mòn vì mong ước lời Chúa; Con tự nhủ: “Đến bao giờ Ngài mới an ủi con?”
Vì con trở thành như bầu da bị khói bám đen, Nhưng con không quên các luật lệ Chúa.
Đầy tớ Chúa phải chịu đựng cho đến bao giờ? Chừng nào Chúa mới trừng phạt những kẻ bắt bớ con?
Kẻ kiêu ngạo đã đào hầm hại con, Là điều không theo luật pháp của Chúa.
Các điều răn Chúa là thành tín; Xin Chúa giúp đỡ con vì người ta vu khống để bắt bớ con.
Thiếu chút nữa chúng tiêu diệt con khỏi mặt đất. Nhưng con không lìa bỏ kỷ cương của Chúa.
Xin làm cho con được sống theo lòng nhân từ của Chúa, Thì con sẽ tuân giữ chứng ước từ miệng Chúa.
Lạy Đức Giê-hô-va, lời Ngài được vững lập Đời đời trên trời.
Sự thành tín Chúa trường tồn từ đời nầy qua đời kia. Chúa đã lập quả đất và nó luôn vững bền.
Theo phán quyết của Chúa, các điều đó còn đứng vững đến hôm nay, Vì muôn vật đều là đầy tớ Ngài.
Nếu luật pháp Chúa không phải là điều con yêu thích Thì con đã bị tiêu diệt trong cơn hoạn nạn rồi.
Con chẳng hề quên kỷ cương của Chúa Vì nhờ đó, Chúa làm cho con được sống.
Con thuộc về Chúa, xin cứu con Vì con tìm kiếm kỷ cương của Ngài.
Kẻ ác rình rập để giết con, Nhưng con chú tâm vào các chứng ước Chúa.
Con đã thấy mọi vật toàn hảo đều có điểm tận cùng, Nhưng luật pháp Chúa là vô cùng vô tận.
Con yêu mến luật pháp Chúa biết bao! Trọn ngày con suy ngẫm luật pháp ấy.
Các điều răn Chúa làm cho con khôn ngoan hơn kẻ thù con, Vì các điều răn ấy ở cùng con luôn luôn.
Con thấu hiểu hơn tất cả những người dạy con, Vì con suy ngẫm các chứng ước Chúa.
Con thông hiểu hơn các bậc lão thành, Vì con tuân giữ kỷ cương của Chúa.
Con giữ chân con tránh mọi đường tà Để con tuân theo lời của Chúa.
Con không xây bỏ các phán quyết Chúa, Vì Chúa đã dạy dỗ con.
Lời Chúa ngọt họng con dường bao! Thật ngọt hơn mật ong trong miệng con!
Nhờ kỷ cương Chúa, con được thông sáng; Vì vậy con ghét mọi đường giả dối.
Lời Chúa là ngọn đèn cho chân con, Ánh sáng cho đường lối con.
Con đã thề và cam kết rằng, Con sẽ giữ các phán quyết công chính của Chúa.
Đức Giê-hô-va ôi! Con bị khốn khổ tột cùng; Xin làm cho con được sống nhờ lời của Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin chấp nhận tế lễ tự nguyện bằng lời ca ngợi của con, Và dạy dỗ con các phán quyết của Ngài.
Mạng sống con luôn đối diện với hiểm nguy, Nhưng con không quên luật pháp Chúa.
Kẻ ác gài bẫy hại con, Nhưng con không lìa bỏ kỷ cương Chúa.
Chứng ước Chúa là cơ nghiệp đời đời của con, Vì chứng ước ấy là niềm vui của lòng con.
Con chuyên tâm làm theo luật lệ Chúa, Mãi mãi và cho đến cuối cùng.
Con ghét những kẻ hai lòng, Nhưng yêu mến luật pháp của Chúa.
Chúa là nơi ẩn náu và cái khiên của con; Con hi vọng nơi lời Chúa.
Nầy kẻ làm ác, hãy lìa khỏi ta! Để ta tuân giữ điều răn của Đức Chúa Trời.
Xin Chúa nâng đỡ con theo lời Chúa hứa để con được sống; Xin đừng để con bị hổ thẹn khi con đặt hi vọng nơi Ngài.
Xin nâng đỡ con và ban bình an cho con; Để con luôn chú tâm về các luật lệ Chúa.
Chúa từ chối những kẻ đi sai lạc luật lệ Chúa, Vì thói lừa dối của chúng chỉ vô ích mà thôi.
Chúa loại bỏ kẻ ác khỏi thế gian như cặn bã; Vì thế, con yêu mến các chứng ước của Chúa.
Da thịt con rởn ốc vì sợ hãi Chúa, Cũng run sợ trước sự phán xét của Ngài.
Con đã làm điều ngay thẳng và công chính; Xin đừng phó con cho kẻ áp bức con.
Xin Chúa bảo đảm hạnh phúc cho đầy tớ Ngài; Xin đừng để kẻ kiêu ngạo áp bức con.
Mắt con mòn mỏi trông đợi sự cứu rỗi, Và lời công chính của Chúa.
Xin đãi đầy tớ Chúa theo lòng nhân từ Ngài, Và dạy con các luật lệ Ngài.
Con là đầy tớ Chúa, xin ban cho con sự thông sáng Để con thông hiểu các chứng ước của Ngài.
Thời điểm mà Đức Giê-hô-va phải hành động đã đến, Vì loài người đã phá bỏ luật pháp Ngài.
Con yêu mến điều răn Chúa hơn vàng, Thậm chí hơn cả vàng ròng.
Thật vậy, con nhận biết tất cả kỷ cương của Chúa về muôn vật là đúng; Và con ghét mọi đường lối giả dối.
Chứng ước Chúa thật diệu kỳ Cho nên lòng con giữ lấy.
Sự giảng giải Lời Chúa đem lại ánh sáng, Ban sự thông hiểu cho người thật thà.
Con mở miệng và khát khao, Vì mong ước điều răn của Chúa.
Xin Chúa đoái trông và thương xót con, Như Ngài vẫn thường làm đối với những người yêu mến danh Chúa.
Xin gìn giữ chân con vững bước trong lời Chúa; Đừng để điều ác cai trị con.
Xin cứu con khỏi sự áp bức của loài người, Để con vâng giữ các kỷ cương Chúa.
Xin khiến mặt Chúa soi sáng trên đầy tớ Chúa, Và dạy con các luật lệ Ngài.
Nước mắt con tuôn ra như suối, Vì người ta không vâng giữ luật pháp Chúa.
Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài là công chính, Sự phán xét của Ngài là ngay thẳng.
Chúa ban chứng ước của Ngài Trong sự công chính và thành tín.
Lòng sốt sắng làm con bị tiêu hao, Vì kẻ áp bức con đã quên lời Chúa.
Lời Chúa rất tinh tuyền, Nên đầy tớ Chúa yêu mến lời ấy.
Con nhỏ bé, bị khinh khi Nhưng con không quên các kỷ cương Chúa.
Sự công chính của Chúa là sự công chính đời đời, Luật pháp Chúa là chân thật.
Dù gian truân và sầu khổ đổ trên con, Con vẫn yêu thích các điều răn Chúa.
Chứng ước Chúa là công chính đời đời. Xin ban cho con sự thông hiểu để con được sống.
Lạy Đức Giê-hô-va, con hết lòng kêu cầu Ngài, xin đáp lời con; Con sẽ vâng giữ luật lệ Ngài.
Con kêu cầu Chúa, xin cứu con Thì con sẽ giữ các chứng ước Ngài.
Con thức trước rạng đông và kêu cầu; Con hi vọng nơi lời Chúa.
Suốt các canh đêm, mắt con mở ra Để suy ngẫm lời Chúa.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin nghe tiếng con tùy theo lòng nhân từ Ngài; Xin cho con được sống tùy theo phán quyết Ngài.
Những kẻ có mưu đồ độc ác đến bách hại con; Chúng sống xa luật pháp của Chúa.
Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài luôn ở gần con, Và các điều răn Ngài là chân thật.
Từ xưa, qua chứng ước Chúa, con biết rõ Ngài lập các điều răn ấy cho đến đời đời.
Xin Chúa đoái xem nỗi khốn khổ của con và giải cứu con, Vì con không quên luật pháp của Ngài.
Xin Chúa bênh vực lý lẽ con và cứu chuộc con; Cũng khiến con được sống theo lời Chúa hứa.
Sự cứu rỗi cách xa kẻ ác, Vì chúng không tìm kiếm các luật lệ Chúa.
Đức Giê-hô-va ôi, lòng thương xót Ngài thật bao la! Xin khiến con được sống tùy theo luật lệ Ngài.
Kẻ bắt bớ và thù địch của con thật nhiều, Nhưng con không xây bỏ các chứng ước Chúa.
Con thấy bọn phản bội và ghê tởm chúng Vì chúng không vâng giữ lời Chúa.
Xin Chúa thấy lòng con yêu mến kỷ cương Chúa biết bao! Lạy Đức Giê-hô-va, xin cho con được sống tùy theo lòng nhân từ Ngài.
Toàn bộ lời Chúa là chân thật; Các phán quyết công chính của Chúa còn đến đời đời.
Các vua chúa bắt bớ con vô cớ, Nhưng lòng con kính sợ lời Ngài.
Con vui vẻ về lời Chúa Giống như người thu được nhiều chiến lợi phẩm.
Con chán ghét và kinh tởm điều dối trá, Nhưng con yêu mến luật pháp Chúa.
Mỗi ngày con ca ngợi Chúa bảy lần Về các luật lệ công chính của Ngài.
Người nào yêu mến luật pháp Chúa được bình an vô sự; Chẳng có điều gì làm cho họ vấp ngã.
Lạy Đức Giê-hô-va, con hi vọng nơi sự cứu rỗi của Ngài, Và con làm theo các điều răn Ngài.
Linh hồn con vâng giữ các chứng ước Chúa; Con yêu mến các chứng ước ấy vô cùng.
Con vâng giữ kỷ cương và chứng ước Chúa, Vì mọi đường lối con đều bày tỏ trước mặt Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, nguyện tiếng kêu cầu của con thấu đến Ngài. Xin ban cho con sự thông sáng theo lời Chúa hứa!
Nguyện lời cầu khẩn con thấu đến trước mặt Chúa; Xin giải cứu con tùy theo lời Ngài.
Nguyện môi miệng con tuôn trào lời ca ngợi, Vì Chúa dạy con các luật lệ Ngài.
Nguyện lưỡi con ca tụng về lời Chúa, Vì tất cả điều răn Ngài là công chính.
Nguyện tay Chúa phù hộ con, Vì con đã chọn đi theo các kỷ cương Chúa.
Lạy Đức Giê-hô-va, con mong ước sự cứu rỗi của Chúa, Và con yêu thích luật pháp của Ngài.
Nguyện linh hồn con được sống để ca ngợi Chúa; Xin các phán quyết của Ngài giúp đỡ con.
Con lầm đường như chiên lạc lối; xin Chúa tìm kiếm đầy tớ Ngài, Vì con không quên điều răn của Ngài.
Trong cơn gian truân, con kêu cầu Đức Giê-hô-va, Ngài đã đáp lời con.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin giải cứu linh hồn con Khỏi môi dối trá, Khỏi lưỡi phỉnh gạt.
Hỡi lưỡi phỉnh gạt, người ta sẽ ban cho ngươi điều chi? Cho thêm ngươi điều gì nữa?
Chắc hẳn là mũi tên nhọn của dũng sĩ Và than đỏ hực của cây giếng giêng.
Khốn nạn cho con vì con ngụ trong đất Mê-siếc Và ở dưới các trại Kê-đa!
Linh hồn con phải ở chung quá lâu Với kẻ ghét hòa bình.
Con muốn hòa bình Nhưng khi nói đến, Chúng đòi chiến tranh.
Tôi ngước mắt lên trên núi: Sự cứu giúp tôi đến từ đâu?
Sự cứu giúp tôi đến từ Đức Giê-hô-va Là Đấng dựng nên trời và đất.
Ngài không để cho chân ngươi trượt ngã; Đấng gìn giữ ngươi không hề buồn ngủ.
Đấng gìn giữ Y-sơ-ra-ên Không hề chợp mắt cũng không buồn ngủ.
Đức Giê-hô-va là Đấng gìn giữ ngươi; Đức Giê-hô-va là bóng che ở bên phải ngươi.
Mặt trời sẽ không hại ngươi lúc ban ngày, Mặt trăng cũng không hại ngươi trong ban đêm.
Đức Giê-hô-va sẽ gìn giữ ngươi khỏi mọi tai họa. Ngài sẽ gìn giữ mạng sống ngươi.
Đức Giê-hô-va sẽ gìn giữ ngươi Khi ra khi vào, Từ nay cho đến đời đời.
Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi rằng: “Chúng ta hãy đi đến nhà Đức Giê-hô-va.”
Hỡi Giê-ru-sa-lem, chân chúng ta đang đứng Trong các cổng của ngươi.
Giê-ru-sa-lem là cái thành được xây kiên cố Vách thành liên kết nhau thật vững vàng.
Các bộ tộc của Đức Giê-hô-va lên nơi ấy, Theo mệnh lệnh được ban cho dân Y-sơ-ra-ên Để cảm tạ danh của Đức Giê-hô-va.
Vì tại đó có lập các ngai phán xét Tức là các ngai nhà Đa-vít.
Hãy cầu hòa bình cho Giê-ru-sa-lem; Nguyện người nào yêu mến ngươi sẽ được thịnh vượng.
Nguyện hòa bình ở trong tường thành ngươi, Và thịnh vượng trong các cung đền ngươi!
Vì anh em ta và bạn hữu ta, Ta nói rằng: “Nguyện hòa bình ở trong ngươi!”
Vì nhà của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, Ta sẽ cầu mong phước lành cho ngươi.
Con ngước mắt lên hướng về Chúa, Là Đấng ngự trên các tầng trời,
Như mắt đầy tớ Ngửa trông nơi tay ông chủ mình, Như mắt tớ gái Ngửa trông nơi tay bà chủ mình thể nào, Thì mắt chúng con cũng ngưỡng vọng Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng con thể ấy, Cho đến chừng nào Ngài thương xót chúng con.
Đức Giê-hô-va ôi! Xin thương xót chúng con, xin thương xót chúng con! Vì chúng con chán ngán sự khinh bỉ.
Linh hồn chúng con chán ngán Sự nhạo báng của kẻ tự phụ, Và sự khinh miệt của bọn kiêu căng.
Y-sơ-ra-ên đáng phải nói: “Nếu Đức Giê-hô-va không bênh vực chúng ta,
Khi loài người tấn công chúng ta, Khi cơn giận của chúng nổi lên cùng chúng ta;
Nếu Đức Giê-hô-va không bênh vực chúng ta, Thì chúng đã nuốt sống chúng ta rồi;
Nước lụt chắc đã nhận chìm chúng ta, Dòng thác đã quét qua linh hồn chúng ta.
Và những lượn sóng cuồng nộ Đã cuốn trôi sinh mạng chúng ta rồi.”
Đáng chúc tụng Đức Giê-hô-va, Ngài không phó chúng ta Làm mồi cho nanh vuốt chúng!
Linh hồn chúng ta thoát khỏi chúng Như chim thoát khỏi bẫy của kẻ bẫy chim; Bẫy bị gẫy, Và chúng ta thoát khỏi.
Sự cứu giúp của chúng ta ở trong danh Đức Giê-hô-va, Là Đấng dựng nên trời và đất.
Những người tin cậy Đức Giê-hô-va khác nào núi Si-ôn, Không rúng động nhưng tồn tại đời đời.
Các núi vây quanh Giê-ru-sa-lem thể nào Đức Giê-hô-va cũng vây phủ con dân Ngài thể ấy. Từ bây giờ cho đến đời đời.
Vì vương trượng kẻ ác Sẽ không được đặt trên sản nghiệp của người công chính, Để người công chính không nhúng tay Vào việc gian ác.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin làm điều tốt lành cho người lành Và cho người có lòng chính trực.
Còn về những kẻ đi theo đường cong quẹo, Đức Giê-hô-va sẽ đuổi chúng đi chung với kẻ làm ác. Nguyện sự bình an giáng trên Y-sơ-ra-ên!
Khi Đức Giê-hô-va đã đưa những người bị lưu đày của Si-ôn trở về, Thì chúng con như người nằm mơ.
Bấy giờ miệng chúng con đầy tiếng vui cười, Lưỡi chúng con reo mừng ca hát. Trong các dân ngoại, người ta nói rằng: “Đức Giê-hô-va đã làm cho họ những việc vĩ đại”
Thật, Đức Giê-hô-va đã làm cho chúng con những việc vĩ đại, Vì thế, chúng con vui mừng.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin đưa chúng con trở về từ cảnh lưu đày, Như nước đổ về các dòng suối cạn ở Nê-ghép!
Người nào gieo giống trong nước mắt Sẽ gặt hái cách vui mừng.
Người nào vừa đi vừa khóc, Đem giống ra vãi, Chắc sẽ trở về cách vui mừng, Mang bó lúa mình.
Nếu Đức Giê-hô-va không cất nhà Thì thợ xây có lao nhọc cũng luống công. Nếu Đức Giê-hô-va không canh giữ thành, Thì người lính canh có thức đêm cũng vô ích.
Thật uổng công cho những ai thức khuya dậy sớm, Và ăn bánh lao khổ. Chúa cũng ban giấc ngủ Cho người Ngài yêu mến như vậy.
Kìa, con cái là cơ nghiệp Đức Giê-hô-va ban cho; Bông trái của tử cung là phần thưởng.
Con cái sinh ra đang tuổi thanh xuân Khác nào mũi tên trong tay dũng sĩ.
Phước cho người nào để chúng đầy ống tên! Người sẽ không hổ thẹn Khi đối đáp với kẻ thù mình tại cổng thành.
Phước cho người nào kính sợ Đức Giê-hô-va, Đi trong đường lối Ngài!
Vì ngươi sẽ hưởng thành quả của tay mình, Được phước và may mắn.
Vợ ngươi ở trong nhà ngươi Sẽ như cây nho sai trái; Con cái ngươi ở chung quanh bàn ăn Khác nào những chồi ô-liu.
Kìa người nào kính sợ Đức Giê-hô-va Sẽ được phước như thế.
Xin Đức Giê-hô-va từ Si-ôn ban phước cho ngươi; Nguyện trọn đời ngươi Được thấy sự phồn thịnh của Giê-ru-sa-lem.
Nguyện ngươi sẽ được thấy con cháu của con cháu mình! Nguyện sự bình an giáng trên Y-sơ-ra-ên!
“Từ khi tôi còn thơ ấu, chúng thường áp bức tôi” Bây giờ, Y-sơ-ra-ên hãy nói:
“Từ khi tôi còn thơ ấu, chúng thường áp bức tôi, Nhưng không thắng tôi được.
Nông dân đã cày xéo trên lưng tôi, Xẻ đường cày dài trên đó.”
Đức Giê-hô-va là công chính; Ngài đã dứt dây trói của kẻ ác.
Nguyện những kẻ ghét Si-ôn Bị hổ thẹn và thối lui.
Nguyện chúng như cỏ trên mái nhà Khô héo trước khi bị nhổ đi;
Người gặt nắm không đầy tay mình, Kẻ bó lúa không gom đầy một ôm.
Người qua kẻ lại không nói: “Cầu xin Đức Giê-hô-va ban phước lành cho các ngươi! Chúng ta nhân danh Đức Giê-hô-va chúc phước cho các ngươi.”
Đức Giê-hô-va ôi! Từ nơi vực sâu, Con cầu khẩn Ngài.
Chúa ôi! Xin nghe tiếng kêu cầu của con; Xin Chúa lắng tai nghe tiếng nài xin của con.
Lạy Đức Giê-hô-va, nếu Ngài ghi khắc tội lỗi, Thì Chúa ôi! Ai sẽ còn sống?
Nhưng Chúa sẵn lòng tha thứ Để người ta kính sợ Ngài.
Tôi trông đợi Đức Giê-hô-va, linh hồn tôi trông đợi Ngài; Tôi hi vọng nơi lời của Ngài.
Linh hồn tôi trông đợi Chúa Hơn người lính canh trông đợi sáng, Thật hơn người lính canh trông đợi sáng.
Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy hi vọng nơi Đức Giê-hô-va Vì Đức Giê-hô-va đầy lòng nhân từ, Và Ngài ban ơn cứu rỗi cách dồi dào.
Chính Ngài sẽ chuộc Y-sơ-ra-ên Khỏi mọi điều gian ác.
Lạy Đức Giê-hô-va, lòng con không kiêu ngạo, Mắt con không tự cao; Con cũng không theo đuổi những việc quá lớn lao, Hay những việc kỳ diệu quá cho con.
Con đã làm cho linh hồn con êm dịu, an tịnh, Như đứa trẻ đã thôi bú bên mẹ mình; Linh hồn ở trong con cũng như đứa trẻ thôi bú vậy.
Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy trông cậy nơi Đức Giê-hô-va Từ nay cho đến đời đời.
Đức Giê-hô-va ôi! Xin nhớ lại Đa-vít Và mọi khổ nạn người phải chịu.
Người thề với Đức Giê-hô-va Và hứa nguyện với Đấng Toàn Năng của Gia-cốp:
“Con sẽ không vào trại mình, Chẳng lên giường nằm nghỉ,
Con không cho mắt con ngủ, Cũng không cho mí mắt con nhắm lại
Cho đến khi nào con tìm được một chỗ cho Đức Giê-hô-va, Một nơi ngự cho Đấng Toàn Năng của Gia-cốp.”
Kìa chúng con có nghe nói về Hòm Giao Ước tại Ê-phơ-rát, Và tìm thấy Hòm ấy trong cánh đồng Gia-a.
Chúng con sẽ vào nơi ngự của Ngài; Thờ phượng dưới bệ chân của Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin mau vào nơi an nghỉ của Ngài Với Hòm Giao Ước đầy quyền năng Ngài!
Nguyện các thầy tế lễ của Chúa được mặc sự công chính, Những người tin kính của Ngài sẽ reo mừng.
Vì Đa-vít là đầy tớ Chúa, Xin đừng khước từ người được xức dầu của Ngài.
Đức Giê-hô-va đã thề hứa với Đa-vít, Một lời thề mà Ngài không bao giờ bội ước, rằng: “Ta sẽ đặt một người do ngươi sinh ra Lên ngôi kế vị.
Nếu con cái ngươi gìn giữ giao ước Ta Và chứng ước mà Ta sẽ dạy cho chúng, Thì con cái chúng Cũng sẽ ngồi trên ngôi ngươi đến đời đời.”
Vì Đức Giê-hô-va đã chọn Si-ôn; Ngài ước ao Si-ôn làm nơi ngự của Ngài;
Ngài phán: “Đây là nơi an nghỉ của Ta đời đời; Ta sẽ ngự ở đây vì Ta ước ao như thế.
Ta sẽ ban phước cho Si-ôn được lương thực dư dật, Cho những kẻ nghèo của thành ấy được ăn bánh no nê.
Ta cũng sẽ mặc cho các thầy tế lễ thành ấy sự cứu rỗi, Và những người tin kính của nó sẽ reo mừng.
Tại đó, Ta sẽ khiến sừng Đa-vít vươn lên; Ta đã chuẩn bị ngọn đèn cho người được xức dầu của Ta.
Ta sẽ lấy sự xấu hổ mặc cho kẻ thù người; Nhưng vương miện trên đầu người sẽ sáng rực rỡ.”
Kìa, anh em ăn ở hòa thuận nhau Thật tốt đẹp biết bao!
Điều ấy như dầu quý giá đổ trên đầu, Chảy xuống râu, Tức râu của A-rôn, Chảy xuống gấu áo người;
Giống như sương móc Hẹt-môn, Sa xuống các núi Si-ôn. Vì tại đó Đức Giê-hô-va đã ban phước Tức là sự sống cho đến đời đời.
Hỡi các đầy tớ Đức Giê-hô-va, là những người ban đêm đứng trong nhà Chúa, Hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va!
Hãy giơ tay lên hướng về nơi thánh, Và chúc tụng Đức Giê-hô-va!
Nguyện Đức Giê-hô-va là Đấng dựng nên trời và đất, Từ Si-ôn ban phước cho ngươi!
Ha-lê-lu-gia! Hãy ca ngợi danh Đức Giê-hô-va. Hỡi các đầy tớ Đức Giê-hô-va,
Là những người đứng trong nhà Đức Giê-hô-va, Nơi hành lang của nhà Đức Chúa Trời chúng ta, Hãy ca ngợi Ngài!
Hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va vì Đức Giê-hô-va là thiện; Hãy chúc tụng danh Ngài vì đó là niềm vui.
Vì Đức Giê-hô-va đã chọn Gia-cốp cho chính Ngài, Lấy Y-sơ-ra-ên làm cơ nghiệp riêng của Ngài.
Con biết Đức Giê-hô-va là vĩ đại, Chúa chúng con vượt trội trên tất cả các thần.
Đức Giê-hô-va làm bất cứ điều gì đẹp ý Ngài, Dù ở trên trời hay dưới đất, Trong biển hay trong các vực sâu.
Ngài khiến mây nổi lên từ tận cùng trái đất, Làm sấm chớp cùng với mưa, Khiến gió thổi ra từ các kho tàng của Ngài.
Ngài đánh giết các con đầu lòng xứ Ai Cập, Từ loài người cho đến loài thú.
Ngài thi hành những dấu lạ phép mầu giữa Ai Cập, Để trừng phạt Pha-ra-ôn và tất cả quần thần.
Ngài cũng đánh bại nhiều dân tộc lớn Và giết các vua hùng mạnh,
Tức là Si-hôn, vua dân A-mô-rít, Óc, vua Ba-san Và tất cả vua xứ Ca-na-an.
Ngài ban đất của chúng làm sản nghiệp, Tức là sản nghiệp cho Y-sơ-ra-ên là dân Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, danh Ngài còn đến đời đời; Lạy Đức Giê-hô-va, kỷ niệm Ngài tồn tại từ đời nầy qua đời kia.
Vì Đức Giê-hô-va sẽ bênh vực dân Ngài, Và thương xót các đầy tớ Ngài.
Hình tượng của các dân bằng bạc và bằng vàng, Là sản phẩm do tay người làm ra.
Hình tượng có miệng mà không nói, Có mắt mà không thấy,
Có tai mà không nghe, Và trong miệng không có hơi thở.
Kẻ nào làm hình tượng, Và ai nhờ cậy chúng Đều giống như chúng.
Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, hãy chúc tụng Đức Giê-hô-va! Hỡi nhà A-rôn, hãy chúc tụng Đức Giê-hô-va!
Hỡi nhà Lê-vi, hãy chúc tụng Đức Giê-hô-va! Hỡi những người kính sợ Đức Giê-hô-va, hãy chúc tụng Đức Giê-hô-va!
Từ Si-ôn, đáng chúc tụng Đức Giê-hô-va Là Đấng ngự tại Giê-ru-sa-lem! Ha-lê-lu-gia!
Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va vì Ngài là thiện; Lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Hãy cảm tạ Đức Chúa Trời của các thần, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Hãy cảm tạ Chúa của muôn chúa, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Chỉ một mình Ngài làm nên các phép mầu vĩ đại, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Ngài đã dùng sự khôn sáng mà dựng nên các tầng trời, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Ngài trải đất ra trên nước, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Ngài dựng nên các vì sáng lớn, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời;
Mặt trời để cai trị ban ngày, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Mặt trăng và các ngôi sao để cai trị ban đêm, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Ngài đã đánh giết các con đầu lòng ở Ai Cập, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Bằng bàn tay quyền năng và cánh tay giơ ra, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Ngài chia Biển Đỏ ra làm hai, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời,
Khiến dân Y-sơ-ra-ên đi qua giữa biển ấy, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Nhưng đẩy Pha-ra-ôn và cả đạo binh người xuống Biển Đỏ, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Ngài dẫn dân Ngài qua hoang mạc, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Đánh bại các vua lớn, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Giết những vua danh tiếng, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời;
Tức là Si-hôn, vua dân A-mô-rít, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời;
Và Óc, vua Ba-san, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Ngài ban đất của chúng làm sản nghiệp, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời;
Tức sản nghiệp cho Y-sơ-ra-ên là đầy tớ Ngài, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Ngài nhớ đến thân phận nhọc nhằn của chúng con, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời;
Giải cứu chúng con khỏi kẻ thù, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Ngài cũng ban thức ăn cho mọi loài xác thịt, Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Hãy cảm tạ Đức Chúa Trời của các tầng trời! Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời.
Chúng tôi đang ngồi bên bờ sông Ba-by-lôn, Nhớ về Si-ôn và khóc.
Chúng tôi treo đàn hạc của chúng tôi Trên cành dương liễu bên sông ấy.
Vì ở đó những kẻ bắt chúng tôi làm thân lưu đày Bảo chúng tôi ca hát; Kẻ ngược đãi chúng tôi bắt chúng tôi phải hát vui vẻ; Chúng bảo: “Hãy hát cho chúng ta một bài ca của Si-ôn đi!”
Trên đất ngoại quốc, Làm sao chúng tôi hát được bài ca của Đức Giê-hô-va?
Hỡi Giê-ru-sa-lem, nếu ta quên ngươi, Nguyện tay phải ta quên năng lực nó đi!
Nếu ta không nhớ đến ngươi, Chẳng coi Giê-ru-sa-lem là niềm vui tuyệt đỉnh của ta, Nguyện lưỡi ta dính vào vòm miệng!
Lạy Đức Giê-hô-va, xin nhớ những gì con cháu Ê-đôm đã làm; Trong ngày Giê-ru-sa-lem thất thủ, Chúng reo lên: “Hãy phá hủy! Hãy phá hủy! San bằng cho đến tận nền nó đi!”
Hỡi con gái Ba-by-lôn, kẻ phải bị hủy diệt! Phước cho kẻ báo trả ngươi Tùy theo điều ác mà ngươi đã làm cho chúng ta!
Phước cho người bắt con nhỏ ngươi, Và đập nát chúng trên đá!
Con sẽ hết lòng cảm tạ Chúa, Ca ngợi Chúa trước mặt các thần.
Con sẽ hướng về đền thánh của Chúa mà thờ lạy, Cảm tạ danh Chúa vì lòng nhân từ và đức thành tín của Ngài. Vì Chúa đã làm cho lời Chúa và danh Chúa Được tôn cao hơn tất cả.
Trong ngày con kêu cầu, Chúa đáp lời, Giục lòng con can đảm và mạnh mẽ.
Lạy Đức Giê-hô-va, các vua thế gian sẽ ca ngợi Ngài, Vì họ đã nghe những lời từ miệng Ngài.
Phải, họ sẽ ca tụng về đường lối Đức Giê-hô-va, Vì vinh quang vĩ đại của Đức Giê-hô-va.
Mặc dù Đức Giê-hô-va là cao cả, Ngài cũng đoái thương những người thấp hèn; Nhưng từ xa, Ngài đã nhận biết kẻ kiêu ngạo rồi.
Dù con đi giữa gian truân, Chúa cũng gìn giữ mạng sống con; Ngài giơ tay ra chống trả cơn giận của kẻ thù con, Và tay phải Ngài giải cứu con.
Đức Giê-hô-va sẽ hoàn thành mọi việc thuộc về con. Lạy Đức Giê-hô-va, lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời; Xin đừng bỏ công việc của tay Ngài!
Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài đã dò xét con Và biết rõ con.
Chúa biết khi con ngồi, lúc con đứng dậy; Từ xa Chúa biết rõ tư tưởng con.
Chúa xem xét lối con đi và chỗ con nằm nghỉ, Quen biết các đường lối con.
Khi lời chưa ở trên lưỡi con, Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài đã biết hết rồi.
Chúa bao phủ con phía sau và phía trước, Đặt tay Chúa trên mình con.
Sự tri thức dường ấy thật diệu kỳ quá cho con, Cao đến nỗi con không thể vươn tới được!
Con sẽ đi đâu xa Thần Chúa? Con sẽ trốn đâu khỏi sự hiện diện của Ngài?
Nếu con lên trời, Chúa ở tại đó, Nếu con nằm dưới âm phủ, kìa Chúa cũng có ở đó.
Nếu con chắp cánh hừng đông Bay qua tận cùng biển cả,
Tại đó tay Chúa cũng sẽ dẫn dắt con, Tay phải Chúa sẽ nắm giữ con.
Nếu con nói: “Bóng tối chắc sẽ che khuất con, Và ánh sáng chung quanh con trở nên đêm tối,”
Thì bóng tối ấy cũng không thể che nổi Chúa, Ban đêm sẽ sáng như ban ngày, Và bóng tối cũng thành ánh sáng đối với Chúa.
Vì chính Chúa nắn nên tâm can con, Dệt thành con trong lòng mẹ con.
Con cảm tạ Chúa vì con được dựng nên một cách đáng sợ và lạ lùng. Công việc Chúa thật quá diệu kỳ, Lòng con biết rõ lắm.
Khi con được dựng nên trong nơi kín đáo, Được đan dệt cách tinh xảo ở nơi sâu thẳm của đất, Thì các xương cốt con không giấu được Chúa.
Mắt Chúa đã thấy thể chất vô hình của con; Số các ngày định cho con, Đã biên vào sổ Chúa Khi chưa có một ngày nào trong các ngày ấy.
Lạy Đức Chúa Trời, các tư tưởng Chúa quý báu cho con biết bao! Các tư tưởng ấy thật vĩ đại!
Nếu con muốn đếm các tư tưởng ấy thì nhiều hơn cát. Khi tỉnh thức, con vẫn còn ở với Ngài.
Đức Chúa Trời ôi! Chúa hẳn sẽ tiêu diệt kẻ ác. Hỡi bọn khát máu, hãy đi cho khuất mắt ta!
Chúng cố tình nói những điều độc ác về Chúa, Kẻ thù Ngài nổi dậy chống Ngài luống công.
Lạy Đức Giê-hô-va, lẽ nào con không ghét những kẻ ghét Chúa? Và không ghê tởm bọn phản nghịch Chúa?
Con ghét cay ghét đắng chúng, Kể chúng như kẻ thù của con vậy.
Đức Chúa Trời ôi! Xin tra xét con và biết lòng con; Xin thử nghiệm con và biết tư tưởng con;
Thử xem con có lối ác nào không, Và dẫn con vào con đường đời đời.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin giải cứu con khỏi kẻ ác; Bảo vệ con khỏi kẻ bạo tàn,
Là kẻ mưu toan điều ác trong lòng, Và suốt ngày gây chiến.
Chúng mài nhọn lưỡi mình như lưỡi rắn, Môi chúng có nọc độc của rắn hổ mang. (Sê-la)
Lạy Đức Giê-hô-va, xin giữ con khỏi tay kẻ ác, Bảo vệ con khỏi kẻ bạo tàn, Là kẻ âm mưu làm chân con vấp ngã.
Những kẻ kiêu ngạo gài bẫy, Chúng giăng dây, giương lưới dọc đường Và gài bẫy hại con. (Sê-la)
Con thưa với Đức Giê-hô-va rằng: “Ngài là Đức Chúa Trời của con. Đức Giê-hô-va ôi! Xin lắng tai nghe tiếng nài xin của con.”
Lạy Chúa là Đức Giê-hô-va, là sức mạnh giải cứu của con, Chúa che chở đầu con trong ngày chiến trận.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin đừng ban cho kẻ ác điều chúng ước ao; Xin chớ giúp cho mưu kế chúng thành công, kẻo chúng tự cao chăng. (Sê-la)
Nguyện sự gian ác của kẻ nói xấu con Đổ lại trên đầu chúng!
Nguyện than lửa đỏ đổ trên chúng! Nguyện chúng bị quăng vào lửa, Trong vũng lầy, không ngóc đầu lên nổi!
Đừng cho kẻ có lưỡi gian trá được vững bền trong xứ; Nguyện tai họa sẽ đuổi theo kẻ bạo tàn!
Con biết rằng Đức Giê-hô-va sẽ bênh vực công lý cho kẻ nghèo khổ, Phán xét công minh cho người thiếu thốn.
Người công chính hẳn sẽ cảm tạ danh Chúa; Người ngay lành sẽ sống trong sự hiện diện của Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, con cầu khẩn Ngài mau mau đến cùng con. Khi con kêu cầu, xin Ngài lắng nghe tiếng con.
Nguyện lời cầu nguyện con như hương thơm dâng lên trước Chúa, Và tay con giơ lên như tế lễ buổi chiều!
Lạy Đức Giê-hô-va, xin gìn giữ miệng con Và canh cửa môi con.
Xin đừng cho lòng con hướng về điều xấu xa Để tham dự vào việc gian ác với bọn gian tà; Đừng để con ăn thức ngon của chúng.
Nguyện người công chính đánh con vì lòng nhân từ, Và sự sửa dạy của họ là dầu tốt nhất xức cho con, Đầu con sẽ không từ chối. Nhưng trong khi kẻ ác làm điều gian ác thì con vẫn luôn cầu nguyện.
Khi các thẩm phán chúng bị ném xuống vách đá; Chúng sẽ hiểu rằng lời con là đúng.
Chúng nói: “Hài cốt chúng tôi bị rải ra nơi cửa âm phủ Giống như người ta cày xới đất đai.”
Chúa Giê-hô-va ôi! Mắt con ngưỡng vọng Chúa, Con nương náu mình nơi Ngài; xin đừng bỏ linh hồn con bơ vơ.
Cầu Chúa giữ con khỏi bẫy mà chúng đã gài Và khỏi lưới của bọn làm ác.
Nguyện kẻ ác bị sa vào lưới mà chúng đã giăng Còn con thì được thoát khỏi.
Tôi cất tiếng kêu cầu Đức Giê-hô-va; Tôi cất tiếng cầu khẩn Đức Giê-hô-va.
Tôi tuôn đổ nỗi thở than của tôi trước Ngài, Trình bày cảnh gian nan của tôi.
Khi tâm linh con mỏi mòn, Thì Chúa biết rõ đường lối con. Trên đường con đi, Chúng âm mưu gài bẫy con.
Xin Chúa nhìn phía bên phải con, Kìa, chẳng có ai chú ý đến con cả; Cũng không có nơi nào để con nương thân; Chẳng ai quan tâm đến mạng sống con.
Lạy Đức Giê-hô-va, con kêu cầu với Ngài rằng: “Ngài là nơi nương náu của con, Là phần của con trong đất kẻ sống.”
Xin Chúa lắng nghe tiếng con, Vì con khốn khổ vô cùng; Xin cứu con khỏi kẻ bắt bớ con Vì chúng mạnh hơn con.
Xin giải cứu linh hồn con khỏi ngục tù Để con cảm tạ danh Chúa. Những người công chính sẽ vây quanh con Vì Chúa đã làm ơn cho con.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin nghe lời cầu nguyện con, Lắng tai nghe sự nài xin của con; Vì đức thành tín và công chính của Chúa Xin đáp lời con.
Xin đừng phán xét đầy tớ Chúa, Vì trước mặt Chúa chẳng người sống nào được xưng là công chính.
Kẻ thù đuổi theo linh hồn con, Chà đạp mạng sống con dưới đất; Hắn làm cho con phải ở nơi tối tăm, giống kẻ đã chết từ lâu rồi.
Vì vậy tâm linh con mỏi mòn, Tâm hồn con tuyệt vọng.
Con nhớ lại những ngày xưa, Nghĩ đến mọi việc Chúa làm Và suy ngẫm công việc của tay Ngài.
Con giơ tay lên hướng về Chúa; Linh hồn con khát khao Chúa như đất khô hạn vậy. (Sê-la)
Đức Giê-hô-va ôi! Xin mau mau đáp lời con! Tâm linh con mỏi mòn. Xin Chúa đừng giấu mặt với con, Kẻo con giống như kẻ xuống huyệt chăng.
Buổi sáng, xin cho con nghe được lòng nhân từ Chúa, Vì con tin cậy nơi Ngài; Xin chỉ cho con biết con đường phải đi Vì linh hồn con ngưỡng vọng Chúa.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin giải cứu con khỏi kẻ thù; Con đến nương náu mình nơi Ngài.
Xin dạy con làm theo ý muốn Chúa, Vì Chúa là Đức Chúa Trời của con; Nguyện Thần tốt lành của Chúa Dẫn con vào đất bằng phẳng.
Lạy Đức Giê-hô-va, vì danh Ngài, xin cho con được sống; Nhờ đức công chính của Ngài, xin đem linh hồn con khỏi cảnh gian truân.
Nhờ lòng nhân từ của Chúa, xin tiêu diệt hết mọi kẻ thù của con, Và hủy phá những kẻ áp bức con Vì con là đầy tớ Ngài.
Chúc tụng Đức Giê-hô-va là Vầng Đá của con! Ngài dạy tay con đánh giặc, tập ngón tay con chiến đấu.
Ngài là Đấng nhân từ và đồn lũy của con, Là nơi ẩn náu của con và Đấng giải cứu con, Cũng là cái khiên của con, nơi con nương náu mình; Ngài khiến các dân chịu khuất phục con.
Lạy Đức Giê-hô-va, loài người là gì mà Ngài biết đến? Con loài người là chi mà Ngài lại quan tâm?
Loài người như hơi thở, Đời người như bóng bay qua.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin Ngài hạ các tầng trời và ngự xuống, Đụng đến núi thì núi sẽ bốc khói lên.
Xin Ngài phát sấm chớp, làm kẻ thù tản lạc, Xin Ngài bắn tên, khiến chúng rối loạn.
Từ trời cao, xin Chúa giơ tay giải cứu, Vớt con lên khỏi dòng thác lũ, Và khỏi tay kẻ ngoại bang.
Miệng của chúng buông lời dối gạt, Tay phải chúng là tay phải gian tà.
Lạy Đức Chúa Trời, con sẽ hát cho Ngài một bài ca mới, Dùng đàn hạc mười dây mà tấu khúc tôn vinh Ngài.
Chúa đã cứu các vua, Và giải cứu Đa-vít, đầy tớ Chúa, khỏi thanh gươm tàn bạo.
Xin giải cứu con thoát khỏi tay kẻ ngoại bang; Miệng của chúng buông lời dối gạt, Tay phải chúng là tay phải gian tà.
Nguyện các con trai chúng con đang tuổi thanh xuân Giống như cây đâm chồi mạnh mẽ; Nguyện các con gái chúng con như những cây cột, Chạm trổ theo kiểu đền thờ.
Nguyện các kho vựa chúng con được đầy tràn Với đủ thứ sản vật; Nguyện đàn chiên chúng con sinh sản hàng nghìn, hàng vạn Trong đồng ruộng của chúng con.
Nguyện đàn bò chúng con sinh sản nhiều; Nguyện tường thành không bị chọc thủng, Dân không bị lưu đày, Và không có tiếng khóc than trên đường phố.
Phước cho dân tộc nào được như vậy! Phước cho dân tộc nào có Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời mình!
Lạy Vua là Đức Chúa Trời của con, con sẽ tôn cao Ngài, Chúc tụng danh Ngài đến đời đời vô cùng.
Hằng ngày con sẽ chúc tụng Chúa. Ca ngợi danh Ngài đến đời đời vô cùng.
Đức Giê-hô-va thật vĩ đại và đáng ca ngợi; Sự vĩ đại vô cùng của Ngài không ai thấu hiểu được.
Thế hệ nầy qua thế hệ kia sẽ truyền tụng công việc Chúa, Và công bố những việc quyền năng của Ngài.
Con suy ngẫm về sự oai nghi rực rỡ, đầy vinh quang của Chúa, Và về công việc lạ lùng của Ngài.
Người ta sẽ công bố về quyền năng cao cả đáng sợ của Chúa, Và con sẽ truyền rao sự vĩ đại của Ngài.
Người ta sẽ loan truyền kỷ niệm về sự tốt lành vô biên của Chúa, Và reo mừng ca hát về đức công chính của Ngài.
Đức Giê-hô-va luôn ban ơn, hay thương xót, Chậm nóng giận và đầy nhân từ.
Đức Giê-hô-va làm lành cho muôn người, Ơn thương xót của Ngài ở trên mọi vật mà Ngài dựng nên.
Lạy Đức Giê-hô-va, các công việc Ngài sẽ ca ngợi Ngài; Những người trung tín với Ngài cũng sẽ chúc tụng Ngài.
Họ sẽ nói về vinh quang của vương quốc Chúa, Thuật lại quyền năng của Ngài,
Để bày tỏ cho loài người biết công việc quyền năng của Chúa Và vinh quang oai nghi của vương quốc Ngài.
Vương quốc Chúa là vương quốc đời đời, Quyền cai trị của Chúa tồn tại từ thế hệ nầy qua thế hệ kia.
Đức Giê-hô-va nâng đỡ mọi người sa ngã, Và vực dậy mọi kẻ ngã lòng.
Con mắt muôn vật đều ngửa trông Chúa, Chúa ban cho chúng thức ăn đúng kỳ.
Chúa rộng mở tay Ngài, Làm thỏa nguyện mọi loài sinh vật.
Đức Giê-hô-va là công chính trong mọi đường lối Ngài, Và đầy nhân từ trong mọi công việc Ngài.
Đức Giê-hô-va ở gần mọi người cầu khẩn Ngài, Tức ở gần mọi người thành tâm cầu khẩn Ngài.
Ngài làm thỏa nguyện mọi người kính sợ Ngài, Cũng nghe tiếng kêu cầu của họ và giải cứu họ.
Đức Giê-hô-va bảo vệ mọi người yêu mến Ngài, Nhưng Ngài hủy diệt mọi kẻ ác.
Miệng con sẽ cất tiếng ca ngợi Đức Giê-hô-va; Nguyện mọi loài xác thịt chúc tụng danh thánh của Ngài cho đến đời đời vô cùng.
Ha-lê-lu-gia! Hỡi linh hồn ta, hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va!
Con sẽ ca ngợi Đức Giê-hô-va suốt đời. Nếu con còn sống bao lâu, con sẽ ca hát cho Đức Chúa Trời của con bấy lâu.
Chớ tin cậy vua chúa, Cũng đừng tin cậy con người là nơi không có sự cứu rỗi.
Hơi thở tắt đi, loài người liền trở về cát bụi; Trong chính ngày đó, các kế hoạch nó bị tiêu tan.
Phước cho người nào có Đức Chúa Trời của Gia-cốp giúp đỡ mình, Đặt niềm hi vọng nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình!
Ngài là Đấng dựng nên trời và đất, Biển và mọi vật ở trong đó; Ngài giữ lòng thành tín đời đời.
Ngài thi hành công lý cho kẻ bị áp bức, Và ban bánh cho người đói. Đức Giê-hô-va giải phóng người bị tù.
Đức Giê-hô-va mở mắt người mù; Đức Giê-hô-va nâng đỡ những kẻ ngã lòng; Đức Giê-hô-va yêu mến người công chính.
Đức Giê-hô-va bảo vệ khách lạ, Nâng đỡ kẻ mồ côi và người góa bụa, Nhưng Ngài phá hỏng đường lối kẻ ác.
Đức Giê-hô-va sẽ cai trị đời đời; Hỡi Si-ôn, Đức Chúa Trời ngươi làm Vua từ đời nầy qua đời kia! Ha-lê-lu-gia!
Ha-lê-lu-gia! Thật là tốt đẹp khi ca hát cho Đức Chúa Trời chúng ta; Thật là vui thỏa và xứng hợp khi chúc tụng Ngài!
Đức Giê-hô-va xây cất Giê-ru-sa-lem; Ngài tập hợp những người bị tản lạc của Y-sơ-ra-ên;
Chữa lành những tâm hồn tan vỡ Và băng bó vết thương của họ.
Ngài định số lượng các vì sao, Và đặt tên cho tất cả ngôi sao.
Chúa chúng con thật vĩ đại, có quyền năng vô hạn; Sự thông sáng Ngài vô cùng vô tận.
Đức Giê-hô-va nâng đỡ người khiêm nhường, Nhưng đánh đổ kẻ ác xuống đất.
Hãy hát bài ca cảm tạ cho Đức Giê-hô-va, Đánh đàn hạc mà ca ngợi Đức Chúa Trời chúng ta.
Ngài che phủ các tầng trời bằng mây, Dự bị mưa cho đất, Làm cho cỏ mọc trên các núi đồi.
Ngài ban thức ăn cho thú vật, Và cho bầy quạ con ăn khi chúng kêu mồi.
Sự hài lòng của Ngài không ở nơi sức của ngựa, Niềm vui thích của Ngài cũng chẳng ở nơi đôi chân của loài người,
Nhưng Ngài hài lòng về những người kính sợ Ngài, Và những ai đặt hi vọng nơi lòng nhân từ của Ngài.
Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va! Hỡi Si-ôn, hãy ca tụng Đức Chúa Trời ngươi!
Vì Ngài đã làm cho then cửa ngươi được vững chắc, Và ban phước cho con cái ngươi ở giữa ngươi.
Ngài ban hòa bình cho bờ cõi ngươi, Làm cho ngươi được đầy dẫy lúa mì tốt nhất.
Ngài truyền lệnh cho trái đất; Lời của Ngài chạy rất nhanh.
Ngài ban mưa tuyết như lông chiên, Rải sương móc như tro.
Ngài ném băng giá xuống từng mảnh; Ai chịu được cơn giá rét của Ngài?
Ngài truyền lệnh, băng tuyết tan ra, Khiến gió thổi lên và nước tuôn chảy.
Ngài công bố lời Ngài cho Gia-cốp, Luật lệ và phán quyết Ngài cho Y-sơ-ra-ên.
Ngài chẳng hề làm như thế với nước nào khác; Họ không biết các phán quyết của Ngài. Ha-lê-lu-gia!
Ha-lê-lu-gia! Từ các tầng trời, hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va! Trong các nơi cao, hãy ca ngợi Ngài.
Hỡi các thiên sứ Ngài, hãy ca ngợi Ngài! Hỡi cả thiên binh Ngài, hãy ca ngợi Ngài!
Hỡi mặt trời, mặt trăng, hãy ca ngợi Ngài! Hỡi tất cả các vì sao sáng, hãy ca ngợi Ngài!
Hỡi trời của các tầng trời, Hỡi nguồn nước trên các tầng trời, Hãy ca ngợi Ngài!
Muôn vật hãy ca ngợi danh Đức Giê-hô-va, Vì Ngài ra lệnh, tất cả đều được dựng nên.
Ngài thiết lập các vật ấy vững chắc đến đời đời vô cùng; Ngài ban các quy luật để chúng không thể vượt qua.
Hỡi các quái vật của biển và các vực sâu trên đất, Hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va.
Hỡi lửa và mưa đá, tuyết và hơi nước, Gió và bão, hãy vâng lệnh Ngài,
Các núi và đồi, Cây trái và mọi cây bá hương,
Thú rừng và các loài súc vật, Loài côn trùng và loài chim,
Các vua thế gian và các dân tộc, Vương hầu và mọi thẩm phán của thế gian,
Thanh niên và trinh nữ, Người già và người trẻ,
Muôn vật hãy ca ngợi danh Đức Giê-hô-va! Vì chỉ danh Ngài đáng được tôn cao; Vinh quang Ngài ở trên cả trái đất và các tầng trời.
Ngài đã nâng cái sừng của con dân Ngài ngước lên, Để những người trung tín của Ngài ca ngợi Ngài, Tức Y-sơ-ra-ên là một dân gần gũi bên Ngài! Ha-lê-lu-gia!
Ha-lê-lu-gia! Hãy hát cho Đức Giê-hô-va một bài ca mới! Hãy ca ngợi Ngài trong hội các thánh Ngài.
Nguyện Y-sơ-ra-ên mừng rỡ nơi Đấng đã dựng nên mình; Nguyện con cái Si-ôn vui vẻ nơi Vua mình.
Nguyện họ nhảy múa mà ca ngợi danh Ngài, Dùng trống cơm và đàn hạc mà hòa tấu dâng lên Ngài!
Vì Đức Giê-hô-va hài lòng về con dân Ngài; Ngài lấy sự cứu rỗi trang sức cho người khiêm nhường.
Nguyện các thánh đồ Ngài vui mừng trong vinh quang, Hãy hát mừng khi bệnh trên giường mình!
Hãy đặt lời ca ngợi Đức Chúa Trời trong miệng họ, Thanh gươm hai lưỡi ở trong tay họ
Để báo thù các nước, Trừng phạt các dân,
Để trói các vua của chúng bằng xiềng Và đóng gông bằng sắt các quý tộc của chúng.
Để thi hành sự phán xét đã được ghi. Đó là vinh quang của các thánh đồ! Ha-lê-lu-gia!
Ha-lê-lu-gia! Hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va trong nơi thánh Ngài! Hãy ca ngợi Ngài trên bầu trời kỳ vĩ của Ngài.
Hãy ca ngợi Ngài về các việc quyền năng Ngài! Hãy ca ngợi Ngài theo sự oai nghi vĩ đại của Ngài!
Hãy thổi kèn mà ca ngợi Ngài, Hãy gảy đàn lia, đàn hạc mà ca tụng Ngài!
Hãy đánh trống cơm và nhảy múa mà ca ngợi Ngài! Hãy dùng nhạc cụ bằng dây và thổi sáo mà ca tụng Ngài!
Hãy dùng chập chõa dội tiếng, Phèng la vang rền mà ca ngợi Ngài!
Mọi sinh vật có hơi thở, Hãy ca ngợi Đức Giê-hô-va! Ha-lê-lu-gia!
Châm ngôn của Sa-lô-môn, con trai Đa-vít, vua Y-sơ-ra-ên:
Để học biết sự khôn ngoan và lời khuyên dạy, Để hiểu rõ những lời thông sáng,
Để nhận lãnh lời khuyên dạy sáng suốt, Để sống ngay thẳng, công minh và chính trực;
Giúp cho người đơn sơ trở nên khôn khéo, Người trẻ tuổi thêm tri thức và thận trọng.
Người khôn ngoan sẽ nghe và tăng thêm kiến thức, Người hiểu biết sẽ tìm được lời hướng dẫn,
Để hiểu biết châm ngôn, ẩn dụ, Lời nói của người khôn ngoan và câu đố bí ẩn của họ.
Kính sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu tri thức, Còn kẻ ngu muội xem thường sự khôn ngoan và lời khuyên dạy.
Hỡi con ta, hãy nghe lời khuyên dạy của cha, Đừng từ bỏ khuôn phép của mẹ con;
Vì những lời ấy sẽ như một vòng hoa xinh đẹp trên đầu con, Như dây chuyền trang sức cho cổ của con.
Hỡi con ta, nếu bọn người tội lỗi quyến rũ, Con đừng nghe theo.
Nếu chúng nói: “Hãy đến với chúng tôi, để mai phục làm đổ máu người, Rình rập để vô cớ làm hại người vô tội;
Chúng ta sẽ nuốt sống chúng như âm phủ, Và nuốt nguyên vẹn như những kẻ đi xuống mồ mả;
Chúng ta sẽ được các thứ của báu, Nhà chúng ta sẽ đầy của cướp;
Chúng ta hãy bắt thăm chia phần với nhau, Tất cả chúng ta sẽ có chung một túi bạc.”
Hỡi con ta, đừng đi theo con đường của chúng, Hãy giữ chân con khỏi lối đi của chúng,
Vì chúng nhanh chân chạy đến điều ác, Vội vàng làm đổ máu người.
Thật là luống công khi giăng lưới Trước mặt các loài chim;
Nhưng chúng mai phục để làm đổ máu chính mình, Rình rập hại mạng sống mình.
Đó là số phận của những kẻ tham lợi bất nghĩa; Lợi ấy cướp đi mạng sống của kẻ được nó.
Sự khôn ngoan kêu lớn tiếng ngoài đường phố, Cất tiếng vang dội nơi quảng trường;
Sự khôn ngoan kêu la ồn ào ở đầu đường; Phát biểu nơi lối vào cổng thành rằng:
“Hỡi kẻ khờ dại, các ngươi yêu mến sự khờ dại cho đến bao giờ? Kẻ nhạo báng sẽ ưa sự nhạo báng Và kẻ ngu dại sẽ ghét tri thức cho đến chừng nào?
Hãy trở lại nghe lời ta sửa dạy, Nầy, ta sẽ đổ thần linh ta trên các ngươi; Khiến các ngươi hiểu biết lời ta dạy.
Vì ta kêu gọi mà các ngươi không chịu lắng nghe, Ta giơ tay ra lại chẳng có ai quan tâm;
Nhưng các ngươi đã bỏ hết lời ta khuyên dạy, Không chịu nhận lời quở trách của ta;
Nên ta sẽ cười lúc các ngươi gặp tai ương, Và chế giễu khi các ngươi kinh hãi;
Khi nỗi kinh hoàng xảy đến thình lình như gió bão, Tai ương ập đến như bão tố cuồng phong, Và sự ngặt nghèo, cùng khốn giáng trên các ngươi.
Bấy giờ chúng sẽ kêu cầu ta, nhưng ta không đáp lời; Sáng sớm chúng sẽ tìm ta, nhưng không gặp được.
Chính vì chúng ghét tri thức, Không chọn sự kính sợ Đức Giê-hô-va,
Cũng không muốn theo sự khuyên dạy ta, Và chê bai các lời ta quở trách;
Vì vậy, chúng phải gánh hậu quả việc mình làm, Và chuốc lấy mọi điều mình toan tính.
Vì sự bội nghịch của kẻ ngu dốt sẽ giết chúng, Và sự yên ổn của kẻ dại dột sẽ làm hại chúng.
Nhưng ai chịu nghe ta hẳn sẽ sống an lành, Sẽ được an toàn, không sợ tai họa nào.”
Hỡi con ta, nếu con tiếp nhận lời ta dạy Và trân trọng tuân giữ các điều răn của ta,
Lắng tai nghe điều khôn ngoan, Hướng lòng con về sự thông sáng;
Phải, nếu con cầu xin sự thông sáng Và cất tiếng khẩn nài sự hiểu biết,
Nếu con tìm nó như tìm tiền bạc, Kiếm nó như kiếm báu vật kín giấu,
Bấy giờ con sẽ hiểu biết sự kính sợ Đức Giê-hô-va Và tìm được tri thức về Đức Chúa Trời.
Vì Đức Giê-hô-va ban cho sự khôn ngoan; Từ miệng Ngài ra điều tri thức và thông sáng.
Ngài dành sự khôn ngoan thật cho người ngay thẳng; Ngài là thuẫn đỡ cho người sống chính trực,
Để bảo vệ con đường của người công chính Và giữ gìn các lối của thánh đồ Ngài.
Bấy giờ con sẽ hiểu biết sự công chính và công minh, Sự chính trực và mọi đường lối tốt đẹp.
Vì sự khôn ngoan sẽ vào lòng con, Tri thức sẽ làm linh hồn con vui thích.
Tính thận trọng sẽ canh giữ con, Sự thông sáng sẽ luôn bảo vệ con,
Để giải thoát con khỏi đường kẻ ác, Cứu con khỏi kẻ nói lời gian tà,
Và khỏi kẻ từ bỏ con đường ngay thẳng Mà đi theo các lối tối tăm;
Là kẻ vui sướng khi làm điều ác, Thích thú sự đồi trụy của kẻ ác.
Chúng quanh co trong các lối đi, Và lầm lạc trong các nẻo đường mình.
Sự khôn ngoan cứu con khỏi dâm phụ, Là người đàn bà xa lạ buông lời quyến dụ;
Kẻ đã lìa bỏ người bạn đời của tuổi thanh xuân Và quên giao ước của Đức Chúa Trời mình;
Vì nhà nó chìm xuống cõi chết, Đường lối nó dẫn đến chốn âm ti.
Mọi kẻ đến với nó đều không trở lại, Chẳng một ai đạt được con đường sự sống.
Sự khôn ngoan sẽ khiến con đi trong đường người lương thiện Và noi theo các lối người công chính.
Vì người ngay thẳng sẽ được định cư trong xứ, Và người trọn vẹn sẽ còn ở đó luôn luôn.
Nhưng kẻ gian ác sẽ bị dứt khỏi xứ, Kẻ bất trung sẽ bị xua đuổi khỏi quê hương.
Hỡi con ta, chớ quên lời ta khuyên dạy, Lòng con hãy giữ các điều răn của ta;
Vì nó sẽ cho con được gia tăng tuổi thọ, Và được an khang thịnh vượng.
Đừng để sự nhân từ và sự chân thật lìa bỏ con; Hãy đeo nó vào cổ, Ghi nó nơi bia lòng con.
Như vậy trước mặt Đức Chúa Trời và loài người, Con sẽ tìm được ân huệ và sự khôn ngoan thật.
Hãy hết lòng tin cậy Đức Giê-hô-va, Đừng nương cậy nơi sự thông sáng của con.
Hãy nhận biết Ngài trong mọi đường lối của con, Chính Ngài sẽ san bằng các nẻo con đi.
Đừng khôn ngoan theo mắt mình; Hãy kính sợ Đức Giê-hô-va và lìa khỏi điều ác.
Như vậy rốn con sẽ được lành mạnh Và xương con được cứng cáp.
Hãy lấy tài sản và hoa lợi đầu mùa của con Mà tôn vinh Đức Giê-hô-va;
Như thế, nhà kho của con sẽ đầy lúa mì, Và hầm ép rượu của con sẽ tràn rượu mới.
Hỡi con ta, chớ khinh sự sửa phạt của Đức Giê-hô-va, Đừng buồn lòng khi Ngài quở trách.
Vì Đức Giê-hô-va yêu thương ai thì trách phạt nấy. Như một người cha đối với con trai yêu dấu của mình.
Phước cho người nào tìm được sự khôn ngoan Và nhận được sự thông sáng!
Vì thà được khôn ngoan hơn là được tiền bạc, Hoa lợi nó sinh ra tốt hơn vàng ròng.
Sự khôn ngoan quý báu hơn châu ngọc, Chẳng một báu vật nào con ưa thích sánh kịp nó được.
Tay phải sự khôn ngoan cầm nắm sự trường thọ, Còn trong tay trái có sự giàu sang và danh vọng.
Các đường của sự khôn ngoan là đường vui thích, Mọi lối của nó đều là lối bình an.
Sự khôn ngoan là cây sự sống cho ai nắm lấy nó; Người nào cầm giữ nó đều được phước hạnh.
Đức Giê-hô-va dùng sự khôn ngoan đặt nền quả đất; Nhờ sự thông sáng mà thiết lập các tầng trời.
Do tri thức của Ngài, các vực sâu mở toang, Và mây đọng thành sương móc.
Hỡi con ta, hãy giữ sự khôn ngoan thật và tính thận trọng, Đừng để nó lìa xa mắt con,
Nó sẽ là sự sống của linh hồn con, Là đồ trang sức cho cổ con.
Con sẽ bước đi vững vàng trong đường lối con, Và chân con không vấp ngã.
Khi con nằm, chẳng có điều sợ hãi; Phải, con sẽ nằm và được ngủ ngon giấc.
Đừng sợ sự kinh khiếp xảy đến thình lình, Cũng đừng sợ sự tàn hại xảy đến cho kẻ ác;
Vì Đức Giê-hô-va là nơi nương cậy của con, Ngài sẽ gìn giữ chân con khỏi cạm bẫy.
Đừng từ chối làm lành cho người nào đáng được hưởng, Khi tay con có thể làm điều ấy.
Nếu con có vật mà người lân cận đang cần, Thì đừng nói: “Hãy đi và trở lại, ngày mai tôi sẽ cho anh.”
Đừng lập mưu hại người lân cận của con, Vì người đang sống yên ổn bên con.
Đừng tranh chấp vô cớ với ai, Nếu người ấy không làm điều gì hại con.
Đừng ganh tị với kẻ hung bạo, Cũng đừng chọn đường lối nào của hắn;
Vì Đức Giê-hô-va ghê tởm kẻ gian tà, Nhưng Ngài kết bạn cùng người ngay thẳng.
Sự nguyền rủa của Đức Giê-hô-va ở trong nhà kẻ ác. Nhưng Ngài ban phước cho chỗ ở của người công chính.
Chúa nhạo báng kẻ hay nhạo báng, Nhưng Ngài ban ơn cho người khiêm nhường.
Người khôn ngoan sẽ hưởng được vinh quang, Còn kẻ ngu dại tự nâng mình lên sẽ bị hổ thẹn.
Hỡi các con, hãy nghe lời khuyên dạy của người cha, Hãy chú ý để học biết sự thông sáng;
Vì ta ban cho các con một đạo lý tốt lành; Đừng lìa bỏ những lời dạy dỗ của ta.
Khi còn thơ ấu, ta là con trai của cha ta, Đứa con một mà mẹ ta yêu quý.
Cha ta có dạy rằng: “Lòng con hãy ghi nhớ các lời ta Hãy tuân giữ điều răn của ta, thì con sẽ được sống.
Hãy tìm cầu sự khôn ngoan và sự thông sáng, Chớ quên và chớ từ bỏ các lời của miệng ta;
Đừng lìa bỏ sự khôn ngoan thì sự khôn ngoan sẽ gìn giữ con; Hãy yêu mến sự khôn ngoan thì sự khôn ngoan sẽ bảo vệ con.
Sự khôn ngoan là điều quan trọng nhất, hãy tìm cầu sự khôn ngoan; Hãy dùng hết những gì con có mà mua sự thông sáng.
Hãy tôn cao sự khôn ngoan thì sự khôn ngoan sẽ đưa con lên, Hãy gắn bó với sự khôn ngoan thì sự khôn ngoan đem vinh dự đến cho con.
Sự khôn ngoan sẽ đội trên đầu con một vòng hoa xinh đẹp, Ban cho con một mão miện vinh quang.”
Hỡi con ta, hãy nghe và tiếp nhận các lời ta, Thì năm tháng của đời con sẽ được thêm nhiều lên.
Ta đã hướng con vào đường lối khôn ngoan, Dẫn con đi trên đường ngay nẻo chính.
Khi con đi, bước chân con sẽ không ngập ngừng, Lúc con chạy, cũng không hề vấp ngã.
Hãy nắm chặt lời khuyên dạy, đừng buông ra, Phải cầm giữ, vì nó là sự sống của con.
Đừng bước vào đường kẻ ác, Chớ đi theo lối kẻ gian tà.
Hãy tránh xa đường ấy, đừng đi ngang qua nó; Hãy quay lưng, cứ thẳng bước mà đi.
Vì chúng không chợp mắt nếu chưa làm điều ác; Không thể ngủ yên khi chưa gây vấp ngã cho ai.
Chúng ăn bánh của sự gian ác Và uống rượu của sự bạo tàn.
Nhưng đường người công chính sáng như mặt trời chiếu rạng, Càng sáng thêm cho đến giữa trưa.
Còn nẻo kẻ gian ác ngập tràn bóng tối; Chúng chẳng biết mình vấp ngã vì đâu!
Hỡi con ta, hãy chú tâm đến lời ta dạy, Lắng tai nghe những lời thuyết giảng của ta.
Các lời ấy chớ để xa tầm mắt con, Hãy giữ lấy nơi lòng con mãi mãi.
Vì những lời ấy là sự sống cho ai tìm được nó, Là sức khỏe cho toàn thân của họ.
Hãy cẩn thận giữ tấm lòng của con hơn hết, Vì các nguồn sự sống do nơi nó mà ra.
Con hãy dẹp bỏ miệng lưỡi gian tà, Và tránh xa đôi môi giả dối.
Đôi mắt con hãy nhìn ngay phía trước, Mí mắt con hướng thẳng trước mặt con.
Hãy san bằng các nẻo của chân con, Để mọi đường lối con được vững chắc.
Đừng quay sang bên phải hay bên trái; Phải giữ chân con khỏi chốn gian tà.
Hỡi con ta, hãy chú tâm đến sự khôn ngoan ta, Hãy lắng tai nghe lời thông sáng của ta;
Để con giữ được sự thận trọng, Và môi con bảo tồn tri thức.
Vì môi kẻ dâm phụ tiết ra mật ngọt, Miệng lưỡi nó trơn hơn dầu;
Nhưng cuối cùng, nó đắng như ngải cứu, Sắc như gươm hai lưỡi.
Đôi chân kẻ dâm phụ đi vào cõi chết; Các bước nó dẫn xuống âm phủ.
Nó không hướng đến con đường sự sống; Các lối nó lầm lạc mà nó chẳng biết.
Vậy bây giờ, hỡi các con, hãy lắng nghe ta; Đừng từ bỏ các lời của miệng ta.
Hãy giữ đường lối con cách xa nó, Đừng đến gần lối vào nhà nó,
Kẻo con trao thanh danh mình cho người khác Và nộp năm tháng đời con cho kẻ bạo tàn.
Kẻo người ngoài sẽ được no nê tài sản của con, Và công lao con sẽ vào nhà kẻ xa lạ.
Đến cuối cùng, con phải rên xiết, Khi thân xác con bị tiêu hao.
Con phải kêu lên: “Sao tôi đã ghét lời khuyên dạy, Và lòng tôi khinh thường sự quở trách!
Sao tôi không vâng lời thầy giáo, Và chẳng lắng tai nghe những người dạy dỗ mình!
Tôi chịu hầu hết mọi tai ương Giữa hội chúng và cộng đoàn.”
Hãy uống nước hồ con chứa, Và nước chảy từ giếng của con.
Có nên để cho các nguồn nước của con chảy tràn ra ngoài, Và các dòng suối của con tuôn nơi công cộng không?
Hãy để chúng thuộc riêng về con, Đừng bao giờ chia sẻ với người xa lạ.
Nguyện nguồn mạch con được phước. Hãy vui thích với người vợ con cưới lúc thanh xuân;
Như nai cái đáng yêu và sơn dương duyên dáng, Nguyện ngực nàng làm con luôn thỏa mãn, Và tình yêu nàng khiến con say mê mãi mãi.
Hỡi con ta, sao con lại say mê dâm phụ Và ôm ấp người đàn bà xa lạ?
Vì các đường nẻo của con người ở trước mặt Đức Giê-hô-va, Ngài san bằng mọi lối đi của họ.
Kẻ ác sẽ bị chính tội ác mình bắt lấy, Và bị dây tội lỗi mình trói buộc.
Nó sẽ chết vì không nghe lời khuyên dạy, Và lạc lối vì quá điên rồ.
Hỡi con ta, nếu con bảo lãnh cho người lân cận mình, Nếu con đưa tay cam kết với người xa lạ,
Thì con bị trói buộc vì lời miệng mình đã hứa, Và vướng mắc vì lời miệng con đã nói ra.
Vậy hỡi con ta, vì con đã rơi vào tay người lân cận, Hãy làm điều nầy để tự giải cứu mình: Hãy đi, hạ mình và nài nỉ người lân cận con!
Đừng cho hai mắt con ngủ, Hoặc mí mắt con chợp lại.
Hãy tự giải cứu mình như linh dương thoát khỏi tay thợ săn, Như chim thoát khỏi tay người đánh bẫy.
Hỡi kẻ lười biếng, hãy đến với loài kiến, Xem xét cách nó sống để học khôn!
Dù không có thủ lĩnh, Quan chức hay người cai trị,
Nó vẫn biết dự trữ lương thực cho mình vào mùa hè, Và thu gom thực phẩm trong mùa gặt.
Hỡi kẻ lười biếng, ngươi còn nằm mãi cho đến bao giờ? Chừng nào ngươi mới thức giấc?
Ngủ một chút, chợp mắt một chút, Khoanh tay nằm nghỉ một chút,
Thì sự nghèo khổ sẽ đến với ngươi như kẻ trộm cắp, Cảnh túng thiếu sẽ tấn công ngươi như kẻ cướp có vũ trang.
Kẻ vô lại, kẻ độc ác; Là kẻ ăn không ngồi rồi, miệng buông lời dối trá,
Hắn nháy mắt, khều chân, Và dùng ngón tay ra hiệu;
Lòng đầy gian tà, hắn mưu toan điều ác, Lúc nào cũng gieo điều tranh cãi.
Vì thế, tai họa thình lình ập đến trên hắn; Trong phút chốc, hắn bị suy sụp không phương cứu chữa.
Có sáu điều Đức Giê-hô-va ghét Và bảy điều Ngài ghê tởm:
Mắt kiêu ngạo, lưỡi dối trá, Tay làm đổ máu vô tội,
Lòng mưu toan những việc ác, Chân vội vàng chạy đi làm điều dữ,
Kẻ làm chứng gian và nói điều dối trá, Người gieo tranh cãi giữa anh em.
Hỡi con ta, hãy tuân giữ lời răn bảo của cha, Đừng từ bỏ các lời dạy dỗ của mẹ con.
Hãy luôn ghi tạc nó vào lòng con Và đeo nó nơi cổ con.
Khi con bước đi, nó sẽ hướng dẫn con; Lúc con ngủ, nó sẽ gìn giữ con; Và khi con thức dậy, nó sẽ trò chuyện với con.
Vì điều răn là ngọn đèn, luật pháp là ánh sáng, Và sự quở trách khuyên dạy là con đường sự sống,
Để giữ con khỏi người đàn bà gian ác Và khỏi lời đường mật của dâm phụ.
Lòng con chớ thèm muốn nhan sắc nó, Đừng để ánh mắt nó chinh phục con.
Vì người ta có thể thuê gái mại dâm bằng giá một ổ bánh, Còn người đàn bà ngoại tình làm mất cả linh hồn quý giá.
Có ai để lửa trong người Mà áo quần không bốc cháy?
Có ai bước trên than lửa đỏ Mà chân lại không bị phỏng chăng?
Kẻ đến với vợ người lân cận mình cũng vậy; Bất cứ ai đụng đến nàng hẳn không khỏi bị trừng phạt.
Chẳng ai coi khinh kẻ trộm Khi nó ăn cắp để thỏa mãn cơn đói.
Dù vậy nếu bị bắt gặp, nó phải bồi thường gấp bảy lần; Và phải nộp hết tài sản trong nhà mình.
Nhưng người phạm tội ngoại tình là kẻ mất trí; Ai làm như vậy, tự hủy diệt linh hồn mình.
Người ấy sẽ bị thương tích và mang ô nhục, Sự sỉ nhục ấy không bao giờ xóa được.
Vì người chồng sẽ ghen tuông giận dữ, Lúc báo thù chẳng chút xót thương.
Anh ta không chấp nhận bất cứ giá đền bù nào, Dù con có đút lót bao nhiêu, cũng một mực chối từ.
Hỡi con ta, hãy gìn giữ các lời ta Và giấu các điều răn của ta trong lòng con.
Hãy tuân thủ các điều răn của ta thì con sẽ được sống, Và hãy giữ lời dạy dỗ của ta như con ngươi của mắt con.
Hãy buộc chặt nó vào ngón tay con, Khắc ghi nó trên bia lòng con.
Hãy nói với sự khôn ngoan: “Ngươi là chị em ta,” Và gọi sự thông sáng là bà con mình;
Để nó gìn giữ con khỏi dâm phụ, Khỏi người đàn bà xa lạ nói lời đường mật.
Vì tại cửa sổ nhà ta, Ta nhìn qua song cửa mặt võng,
Và thấy trong bọn ngây thơ, Giữa đám thanh niên, Có một gã trai trẻ thiếu ý thức.
Gã đi ngang qua đường gần góc nhà dâm phụ; Rồi tiến về hướng nhà người đàn bà ấy,
Vào lúc chạng vạng cuối ngày, Hoặc giữa đêm khuya tăm tối.
Kìa, người đàn bà ra đón gã ấy, Ăn mặc như gái mại dâm, lòng đầy mưu kế.
Đó là người đàn bà ồn ào, bướng bỉnh, Đôi chân không chịu ở yên trong nhà;
Khi ở ngoài đường, lúc nơi phố chợ, Rình rập tại mỗi góc đường.
Người đàn bà ôm chặt gã ấy mà hôn, Mặt chai mày đá, nói với gã rằng:
“Em đã dâng sinh tế của tế lễ bình an, Hôm nay em trả xong các lời khấn nguyện.
Vì thế em ra đây đón anh, Em đã tìm kiếm anh và gặp được.
Em đã trải lên giường Vải Ai Cập nhiều màu sắc,
Em đã xông chỗ nằm Bằng mộc dược, lô hội và quế hương.
Hãy đến, chúng ta sẽ ân ái say đắm cho đến sáng; Vui sướng với nhau trong men ái tình.
Vì chồng em vắng nhà; Anh ấy đã lên đường đi xa lắm,
Đem theo mình túi bạc, Đến ngày rằm mới trở về nhà.”
Người đàn bà dùng hết cách quyến rũ gã ấy, Làm gã xiêu lòng vì những lời đường mật.
Gã lập tức đi theo người đàn bà ấy, Như một con bò bị dẫn đến lò sát sinh, Như kẻ ngu dại bị cùm dẫn đi chịu trừng phạt;
Cho đến khi một mũi tên xuyên qua gan gã ấy, Như con chim vội sa vào lưới, Mà không ngờ rằng đó là cạm bẫy bắt lấy sự sống mình!
Vậy bây giờ hỡi các con ta, hãy lắng nghe, Hãy lưu tâm đến lời ta dạy bảo.
Lòng con đừng hướng về con đường người đàn bà ấy; Chớ lạc vào các lối nó.
Vì người đàn bà ấy đã làm nhiều người gục ngã, Và vô số người bởi nó mà bị diệt vong.
Nhà người đàn bà ấy là đường vào âm phủ, Dẫn xuống chốn tử vong.
Chẳng phải sự khôn ngoan đã kêu gọi, Và sự thông sáng đã lên tiếng sao?
Sự khôn ngoan đứng trên các đỉnh cao, Bên đường phố, tại các giao lộ.
Gần bên cổng, nơi lối vào thành; Bên thềm cửa, sự khôn ngoan kêu to:
“Hỡi con người, ta kêu gọi các ngươi, Và tiếng gọi của ta hướng về con cái loài người!
Những người ngây thơ hãy học biết sự khôn khéo; Những kẻ ngu dại hãy học biết lẽ khôn ngoan.
Hãy lắng nghe, vì ta sẽ nói những điều cao quý, Môi ta thốt ra điều ngay thẳng.
Vì miệng ta sẽ truyền ra chân lý, Còn môi ta ghê tởm sự gian tà.
Mọi lời ta nói đều ngay thẳng, Không có điều gì dối trá quanh co.
Tất cả đều rõ ràng cho người nào hiểu biết, Và ngay thẳng cho người nào tìm được sự tri thức.
Hãy đón nhận lời khuyên dạy của ta thay vì bạc, Tiếp nhận tri thức hơn là vàng nguyên chất;
Vì sự khôn ngoan có giá trị hơn châu ngọc, Mọi báu vật đều không sánh kịp.
Ta là sự khôn ngoan ở chung với sự khôn khéo, Ta tìm được tri thức và sự thận trọng.
Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là ghét điều ác; Ta ghét sự kiêu căng ngạo mạn, Đường lối ác và miệng gian tà.
Mưu lược và sự thông sáng đều thuộc về ta, Ta là sự hiểu biết; năng lực thuộc về ta.
Nhờ ta, các vua cai trị, Và các quan chức cao cấp đưa ra phán quyết công bằng.
Nhờ ta, các thủ lĩnh và giới quý tộc biết cách lãnh đạo, Tất cả đều cai trị một cách công chính.
Ta yêu những người yêu mến ta, Người hết lòng tìm kiếm ta sẽ gặp ta.
Sự giàu có và danh vọng, Thịnh vượng lâu dài và sự công chính đều ở với ta.
Bông trái ta tốt hơn vàng, hơn cả vàng ròng, Hoa lợi của ta quý hơn bạc nguyên chất.
Ta bước theo đường công chính, Ở giữa các nẻo ngay thẳng,
Để ban của cải cho những người yêu mến ta, Và làm đầy các kho tàng của họ.
Đức Giê-hô-va đã có ta từ buổi ban đầu theo cách của Ngài, Từ thuở xa xưa, trước mọi công trình của Ngài.
Ta đã được lập nên từ trước vô cùng, Từ ban đầu, trước khi có địa cầu.
Lúc chưa có các vực sâu, chưa có nguồn nước dồi dào. Thì ta đã được sinh ra.
Trước khi núi non được hình thành, Và có các đồi cao, thì đã có ta;
Ngay cả trước khi Đức Giê-hô-va dựng nên mặt đất, Những cánh đồng và hạt bụi đầu tiên của quả đất.
Khi Ngài thiết lập các tầng trời, Và đặt khung vòm trên mặt vực sâu, thì có ta ở đó.
Khi Ngài vững lập các tầng mây trên cao, Khiến các nguồn nước dưới vực thẳm tuôn chảy,
Định ranh giới cho biển Để nước không tràn ra khỏi giới hạn Ngài định, Và khi Ngài lập nền móng địa cầu,
Thì ta ở bên Ngài như người thợ cả. Hằng ngày ta là niềm vui của Ngài, Và luôn luôn vui vẻ trước mặt Ngài.
Ta vui vẻ với thế giới có người ở của Ngài Và vui thích với dòng dõi loài người.
Vậy bây giờ, các con ơi, hãy nghe ta! Phước cho người nào tuân giữ đường lối ta.
Hãy nghe lời khuyên dạy và sống khôn ngoan; Đừng buông lỏng nó.
Phước cho người nào lắng nghe lời ta, Hằng ngày tỉnh thức nơi cửa ta Và túc trực bên các trụ cửa ngay lối vào nhà ta.
Vì ai tìm được ta là tìm được sự sống, Và hưởng được ân huệ của Đức Giê-hô-va.
Nhưng ai xúc phạm ta là làm hại linh hồn mình; Tất cả những kẻ ghét ta thì yêu sự chết.”
Sự khôn ngoan xây cất nhà mình, Đẽo cho mình bảy cây cột,
Làm thịt thú vật, pha rượu nho, Dọn bàn tiệc sẵn sàng
Và sai các tớ gái mình ra đi. Từ các nơi cao của thành, sự khôn ngoan kêu gọi:
“Ai là người ngu dốt, hãy vào đây!” Còn với người thiếu hiểu biết, sự khôn ngoan bảo:
“Hãy đến ăn bánh của ta Và uống rượu ta đã pha.
Hãy từ bỏ sự khờ dại thì sẽ được sống, Và hãy bước theo con đường thông sáng.”
Ai sửa dạy kẻ nhạo báng sẽ chuốc lấy sỉ nhục cho mình; Và ai khiển trách kẻ hung ác sẽ bị nhuốc nhơ.
Đừng khiển trách kẻ nhạo báng kẻo nó ghét con; Hãy khiển trách người khôn ngoan thì người sẽ yêu con.
Hãy trao cơ hội cho người khôn ngoan, người sẽ khôn ngoan hơn; Hãy dạy dỗ người công chính, người sẽ tăng thêm tri thức.
Sự kính sợ Đức Giê-hô-va, ấy là khởi đầu sự khôn ngoan, Sự nhận biết Đấng Thánh, đó là sự thông sáng.
Vì nhờ ta, các ngày của con sẽ được thêm nhiều lên, Và tuổi đời của con sẽ được gia tăng.
Nếu con khôn ngoan thì chính con được ích lợi; Nếu con nhạo báng thì một mình con phải gánh chịu hậu quả.
Người đàn bà điên dại hay la lối, Ngu muội, chẳng hiểu biết gì.
Nó ngồi trước cửa nhà mình, Trên ghế ở các nơi cao của thành,
Để mời mọc những người qua lại, Là những người đi thẳng đường mình,
Và nói: “Ai ngu dốt, hãy vào đây!” Nó cũng nói với người thiếu hiểu biết rằng:
“Nước uống trộm ngọt lắm, Bánh ăn vụng ngon thay!”
Chúng chẳng biết đó là nơi chết chóc, Khách nó mời đều xuống vực thẳm âm ti.
Đây là các châm ngôn của Sa-lô-môn: Con khôn ngoan làm cho cha vui vẻ, Nhưng con ngu dại khiến mẹ buồn phiền.
Của phi nghĩa chẳng lợi ích gì, Nhưng đức công chính cứu người khỏi chết.
Đức Giê-hô-va không để linh hồn người công chính phải đói khát, Nhưng Ngài loại bỏ tham vọng của kẻ gian tà.
Bàn tay lười biếng khiến cho nghèo khó, Còn bàn tay siêng năng hẳn sẽ làm giàu.
Người thu trữ trong mùa hè là con khôn ngoan, Nhưng kẻ ngủ vùi trong mùa gặt là con sỉ nhục.
Đầu người công chính được ban phước lành, Nhưng miệng kẻ gian ác chất chứa điều tàn bạo.
Kỷ niệm của người công chính được khen ngợi, Còn tên tuổi kẻ gian ác sẽ mục nát.
Tấm lòng khôn ngoan đón nhận điều răn, Nhưng môi miệng ngu dại sẽ bị diệt vong.
Người sống ngay thẳng sẽ được an toàn, Còn kẻ theo đường lối quanh co sẽ bị vạch trần.
Kẻ nheo mắt hiểm độc gây ra đau khổ, Và môi miệng ngu dại sẽ bị diệt vong.
Miệng của người công chính là nguồn sự sống, Nhưng miệng kẻ gian ác chất chứa bạo tàn.
Sự thù ghét sinh ra tranh cãi, Lòng yêu thương khỏa lấp mọi tội tình.
Sự khôn ngoan tìm thấy trên môi người hiểu biết, Nhưng roi vọt dành cho lưng kẻ ngu si.
Người khôn ngoan tích lũy tri thức, Miệng kẻ ngu dại đem hủy diệt đến gần.
Tài sản là thành trì kiên cố của người giàu có, Sự suy sụp là thảm cảnh của kẻ nghèo nàn.
Công lao của người công chính hướng về sự sống, Còn hoa lợi kẻ gian ác hướng về tội lỗi.
Người tuân giữ lời khuyên dạy, đi trong đường sự sống; Kẻ từ chối sự quở trách hẳn phải lạc lầm.
Kẻ giấu sự thù ghét có môi giả dối, Ai buông lời vu khống là kẻ ngu si.
Hễ lắm lời, vi phạm nào có thiếu; Nhưng ai cầm giữ môi miệng là người khôn ngoan.
Lưỡi người công chính như bạc quý, Lòng kẻ ác gian chẳng đáng giá gì.
Môi người công chính nuôi sống nhiều người, Còn kẻ ngu dại chết vì thiếu hiểu biết.
Phước lành của Đức Giê-hô-va làm cho giàu có; Ngài chẳng thêm vào đó đau khổ nhọc nhằn.
Kẻ ngu dại xem việc gây tội ác như trò vui, Nhưng người thông sáng yêu thích sự khôn ngoan.
Điều kẻ gian ác khiếp sợ sẽ xảy ra cho nó, Nhưng điều người công chính ước ao sẽ được ban cho.
Khi giông bão thổi qua, kẻ ác không còn nữa, Nhưng nền móng người công chính mãi mãi vững bền.
Như giấm làm ghê răng, khói làm cay mắt, Kẻ lười biếng đối với người sai nó là như thế.
Sự kính sợ Đức Giê-hô-va gia tăng ngày tháng, Còn tuổi đời kẻ ác sẽ bị rút ngắn đi.
Hi vọng của người công chính dẫn đến niềm vui, Còn sự trông đợi của kẻ ác sẽ tan biến đi.
Đường lối Đức Giê-hô-va là đồn lũy cho người ngay thẳng, Nhưng là chỗ diệt vong cho kẻ làm ác.
Người công chính chẳng bao giờ bị lay chuyển, Nhưng kẻ gian ác không được ở trên đất.
Miệng người công chính sinh ra sự khôn ngoan, Còn lưỡi của kẻ gian tà sẽ bị cắt mất.
Môi người công chính nói điều tốt đẹp, Miệng kẻ hung ác chỉ nói chuyện gian tà.
Đức Giê-hô-va ghê tởm chiếc cân gian dối, Nhưng quả cân đúng làm Ngài hài lòng.
Khi kiêu ngạo đến, sỉ nhục cũng đến theo; Nhưng sự khôn ngoan vẫn ở với người khiêm nhường.
Sự liêm chính của người ngay thẳng dẫn dắt họ, Còn sự gian tà của kẻ bất trung hủy diệt chúng.
Tài sản chẳng ích lợi gì trong ngày thịnh nộ, Nhưng sự công chính giải cứu khỏi sự chết.
Sự công chính của người trọn vẹn làm cho đường lối người ngay thẳng, Còn sự gian ác của kẻ ác đánh ngã hắn.
Sự công chính của người ngay thẳng giải cứu họ, Nhưng lòng tham của kẻ bất trung đánh bẫy chúng.
Khi kẻ ác chết, sự trông mong của hắn tiêu tan, Và hi vọng của kẻ cường bạo cũng tan thành mây khói.
Người công chính được cứu khỏi hoạn nạn, Còn kẻ gian ác vào thế chỗ cho người.
Kẻ vô đạo dùng môi miệng làm hại người lân cận, Nhưng người công chính nhờ tri thức mà được giải cứu.
Khi người công chính may mắn, cả thành vui vẻ, Và khi kẻ ác bị diệt vong thì có tiếng reo mừng.
Nhờ phước lành của người ngay thẳng, thành phố được tôn cao, Nhưng do miệng kẻ gian ác, thành bị sụp đổ.
Ai xem thường người lân cận mình là người thiếu hiểu biết, Nhưng người thông sáng giữ im lặng.
Kẻ mách lẻo tiết lộ điều thầm kín, Còn người đáng tin cậy giữ kín việc riêng tư.
Không có lãnh đạo, dân tộc sẽ sụp đổ, Nhưng nhờ có nhiều cố vấn mà được an toàn.
Ai bảo lãnh cho người lạ sẽ mang họa, Nhưng ai ghét việc bảo lãnh sẽ được an thân.
Người đàn bà nhân hậu được tôn trọng, Còn người đàn ông mạnh mẽ sẽ được tài sản.
Người nhân hậu làm ích cho linh hồn mình, Còn kẻ hung bạo làm hại bản thân.
Kẻ làm điều ác nhận tiền công hư ảo, Nhưng người gieo điều công chính được phần thưởng chắc chắn.
Người kiên định trong sự công chính dẫn đến sự sống, Còn kẻ đeo đuổi điều ác đưa đến sự chết.
Đức Giê-hô-va ghê tởm kẻ có lòng gian tà, Nhưng Ngài vui thích người có đường lối trọn vẹn.
Chắc chắn kẻ ác không tránh khỏi bị trừng phạt, Nhưng dòng dõi người công chính sẽ được giải cứu.
Một người đàn bà đẹp mà thiếu chín chắn Giống như một vòng vàng đeo nơi mũi heo.
Sự khao khát của người công chính sẽ được điều thiện, Còn hi vọng của kẻ ác chỉ là cơn thịnh nộ.
Có người rải của cải mình ra, lại được nhiều hơn; Cũng có người quá keo kiệt, nhưng chỉ được sự túng thiếu.
Người có lòng rộng rãi sẽ được thịnh vượng, Ai cho người uống nước, chính mình sẽ được nước uống.
Dân chúng nguyền rủa kẻ đầu cơ lúa gạo, Nhưng chúc phước cho người bán nó ra.
Ai tìm điều thiện sẽ gặp ân huệ, Ai đeo đuổi điều ác, điều ác sẽ đến bên mình.
Người nào tin cậy nơi của cải mình sẽ bị sụp đổ, Còn người công chính được hưng thịnh như cành lá xanh tươi.
Ai quấy rối gia đình mình sẽ được gió làm cơ nghiệp, Còn kẻ điên dại phải làm nô lệ cho người có lòng khôn ngoan.
Trái của người công chính là cây sự sống, Người khôn ngoan chinh phục được nhiều linh hồn.
Nếu người công chính được báo đáp trên đất nầy, Thì kẻ gian ác và tội lỗi phải bị báo trả nhãn tiền!
Ai yêu sự sửa phạt là yêu tri thức, Ai ghét sự quở trách là kẻ ngu dại.
Người lành nhận được ân phúc từ Đức Giê-hô-va, Nhưng kẻ âm mưu điều ác bị Ngài kết tội.
Loài người không thể nhờ gian ác mà được đứng vững, Nhưng cội rễ của người công chính không bị lay chuyển.
Người vợ đức hạnh là mão miện cho chồng, Còn vợ làm xấu hổ khiến chồng như mục nát trong xương.
Tư tưởng của người công chính là đúng đắn, Âm mưu của kẻ ác đều là lừa gạt.
Lời kẻ ác rình rập làm đổ máu, Nhưng miệng người ngay thẳng giải cứu người.
Kẻ ác bị đánh đổ, chúng không còn nữa, Nhưng nhà người công chính vẫn đứng vững.
Một người được khen ngợi tùy theo sự khôn ngoan mình, Còn kẻ có lòng gian tà sẽ bị coi khinh.
Thà làm một người tầm thường mà có đầy tớ Còn hơn kẻ tự tôn mà lại thiếu ăn.
Người công chính chăm lo cho sự sống của bầy gia súc mình, Nhưng lòng thương xót của kẻ ác là sự hung bạo.
Ai cày đất mình sẽ được lương thực dư dật, Còn ai đi theo kẻ lười biếng là kẻ thiếu hiểu biết.
Kẻ ác tham muốn của phi nghĩa, Nhưng cội rễ của người công chính sinh bông trái.
Kẻ ác mắc bẫy vì những tội lỗi của đôi môi, Còn người công chính thoát khỏi hoạn nạn.
Một người sẽ được đầy tràn phước hạnh nhờ kết quả của môi miệng mình, Và mỗi người sẽ được báo trả tùy theo việc tay mình đã làm.
Đường lối của kẻ ngu dại vốn ngay thẳng theo mắt nó, Nhưng người khôn ngoan lắng nghe lời khuyên dạy.
Kẻ ngu dại bộc lộ ngay lòng giận dữ, Nhưng người khôn khéo bỏ qua điều làm sỉ nhục mình.
Nhân chứng thật nói ra điều công chính, Còn kẻ chứng gian chỉ nói chuyện lọc lừa.
Lời nói bừa bãi khác nào nhát gươm đâm, Nhưng lưỡi người khôn ngoan đem lại sự chữa lành.
Môi chân thật bền vững đời đời, Còn lưỡi dối trá chỉ tồn tại trong chốc lát.
Lòng dạ kẻ mưu ác chứa đầy sự lừa đảo, Nhưng tấm lòng người hòa giải tràn ngập niềm vui.
Chẳng có sự tổn hại nào xảy đến cho người công chính, Nhưng tai họa phủ đầy trên kẻ gian ác.
Môi dối trá là điều ghê tởm đối với Đức Giê-hô-va, Còn người hành động chân thật làm vui lòng Ngài.
Người khôn khéo chẳng khoe khoang tri thức, Lòng kẻ ngu dại bộc lộ sự điên rồ.
Tay siêng năng sẽ nắm quyền cai trị, Còn tay lười biếng thì phải phục dịch.
Sự lo âu trong lòng làm cho con người suy sụp, Nhưng một lời lành khiến lòng vui vẻ.
Người công chính dẫn lối cho bạn mình, Còn đường kẻ ác khiến họ lạc lầm.
Kẻ lười biếng không nướng thịt đã săn được, Nhưng người siêng năng được tài sản quý báu.
Trên đường công chính có sự sống, Bước đi trên lối nó không có sự chết.
Con khôn ngoan nghe lời khuyên dạy của cha, Nhưng kẻ nhạo báng không chịu nghe lời quở trách.
Nhờ bông trái của môi miệng mà một người được hưởng điều lành, Còn tham vọng của bọn xảo trá là sự hung bạo.
Người canh giữ môi miệng giữ được mạng sống mình, Nhưng kẻ hở môi quá luôn bị thất bại.
Lòng kẻ lười biếng thèm muốn mà chẳng được gì, Còn lòng người siêng năng sẽ được thỏa mãn.
Người công chính ghét lời dối trá, Kẻ gian ác đáng bị ghê tởm và hổ thẹn.
Sự công chính bảo vệ người sống ngay thẳng, Nhưng sự gian ác đánh đổ kẻ phạm tội.
Có kẻ làm ra vẻ giàu mà chẳng có gì hết; Cũng có người làm ra vẻ nghèo lại có nhiều của cải.
Giá chuộc mạng sống một người là của cải của người ấy, Nhưng người nghèo chẳng thèm nghe lời đe dọa.
Ánh sáng của người công chính reo vui, Nhưng ngọn đèn của kẻ gian ác lại vụt tắt.
Sự kiêu ngạo chỉ sinh ra điều tranh cãi, Còn sự khôn ngoan ở với người chịu nghe lời khuyên dạy.
Của phi nghĩa sẽ sớm hao mòn, Nhưng ai khéo tay thu góp thì của cải sẽ gia tăng.
Hi vọng bị hoãn lại khiến lòng đau đớn, Nhưng ước mơ được thành là cây sự sống.
Kẻ xem thường lời dạy hẳn phải trả giá, Còn người kính trọng giới răn chắc chắn được ban thưởng.
Lời dạy của người khôn ngoan là nguồn sự sống, Giúp người nghe thoát bẫy tử vong.
Sự thông sáng thật được hưởng ân huệ, Nhưng đường của kẻ xảo trá đầy gian nan.
Tất cả người khôn khéo đều hành động theo tri thức, Nhưng kẻ ngu muội lộ ra điều điên dại.
Sứ giả gian ác rơi vào tai họa, Còn khâm sai trung tín đem lại sự chữa lành.
Ai bỏ qua lời khuyên dạy sẽ bị nghèo khổ và sỉ nhục, Nhưng ai đón nhận lời quở trách sẽ được tôn trọng.
Ước mơ được thành làm cho tâm hồn êm dịu, Lìa bỏ gian tà là điều kẻ ngu dại gớm ghê.
Ai giao tiếp với người khôn sẽ trở nên khôn ngoan, Nhưng kẻ làm bạn với bọn ngu dại sẽ bị tàn hại.
Tai họa đuổi theo kẻ có tội, Còn phước lành là phần thưởng của người công chính.
Người lành để lại gia sản cho con cháu mình, Nhưng của cải kẻ có tội để dành cho người công chính.
Đất do người nghèo khai phá sinh ra nhiều lương thực, Nhưng sự bất công quét sạch lương thực ấy đi.
Người nào kiêng roi vọt là ghét con cái mình, Nhưng ai thương con sẽ sớm lo sửa dạy nó.
Người công chính được ăn uống no nê, Còn bụng kẻ ác phải bị đói lả.
Người nữ khôn ngoan xây dựng nhà mình, Nhưng người đàn bà ngu dại dùng tay phá hủy nó.
Người sống ngay thẳng kính sợ Đức Giê-hô-va, Còn kẻ theo đường lối quanh co khinh bỉ Ngài.
Trong miệng kẻ ngu dại có cây roi dành cho sự kiêu ngạo, Nhưng môi người khôn ngoan bảo vệ người.
Ở đâu không có bò, nơi đó máng cỏ trống không, Nhưng nhờ sức bò, hoa lợi dồi dào.
Chứng nhân trung thực không hề nói dối, Còn kẻ chứng gian thốt ra lời lẽ điêu ngoa.
Kẻ nhạo báng tìm khôn ngoan mà không gặp, Nhưng người hiểu biết dễ dàng gặp tri thức.
Hãy tránh xa kẻ ngu dại, Vì con chẳng học được tri thức nơi môi miệng nó.
Cái khôn của người khôn khéo là hiểu rõ đường lối mình, Nhưng sự điên rồ của kẻ ngu dại là sự lừa dối.
Kẻ ngu dại coi thường tội lỗi, Người ngay thẳng được Chúa ban ơn.
Nỗi cay đắng của tâm hồn chỉ lòng mình biết, Niềm vui trong thâm tâm đâu chia sẻ được với người ngoài.
Nhà kẻ gian ác sẽ bị phá hủy, Nhưng trại người ngay thẳng sẽ được hưng thịnh.
Có một con đường dường như chính đáng cho loài người, Nhưng cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết.
Ngay cả trong lúc cười cợt, lòng vẫn buồn thảm, Và cuối cùng cuộc vui là nỗi sầu khổ.
Kẻ tái phạm sẽ nhận hậu quả theo đường lối của mình, Còn người lành sẽ hưởng kết quả của việc mình làm.
Kẻ ngây thơ tin hết mọi điều, Nhưng người thận trọng xem xét bước đi của mình.
Người khôn ngoan sợ điều ác và tránh xa, Nhưng kẻ ngu dại thì liều lĩnh và bất cẩn.
Người nóng vội hành động điên dại, Còn kẻ âm mưu điều ác sẽ bị ghét.
Kẻ ngây thơ được sự điên dại làm cơ nghiệp, Nhưng người khôn ngoan được đội vương miện bằng tri thức.
Kẻ dữ phủ phục trước mặt người lành, Và kẻ gian ác chầu chực trước cửa người công chính.
Người nghèo khó, ngay cả láng giềng cũng ghét, Nhưng người giàu có thì được nhiều người thương.
Ai khinh bỉ người lân cận là phạm tội, Còn ai thương xót người nghèo khó thì có phước.
Kẻ mưu toan điều ác lại chẳng lầm lạc sao? Còn người định làm điều thiện gặp nhân từ và chân thật.
Mọi công lao đều đem đến ích lợi, Nhưng lời nói suông chỉ mang lại cảnh nghèo nàn.
Vương miện của người khôn ngoan là sự giàu có, Còn vòng hoa của kẻ ngu dại là sự điên rồ.
Chứng nhân chân thật cứu nhiều mạng sống, Nhưng kẻ nói dối chỉ là phỉnh gạt.
Trong sự kính sợ Đức Giê-hô-va có nơi nương cậy vững chắc, Và con cái Ngài sẽ được một nơi ẩn náu.
Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là nguồn sự sống, Giúp con người tránh khỏi cạm bẫy sự chết.
Dân chúng đông đảo là vinh quang của vua, Thiếu dân, kẻ cai trị cũng phải sụp đổ.
Người chậm nóng giận thì đầy sự thông sáng, Nhưng kẻ hay nóng tính tăng lên sự điên rồ.
Tấm lòng bình tịnh là sự sống của thân xác, Còn sự ghen ghét làm mục nát trong xương.
Kẻ ức hiếp người cô thế làm nhục Đấng tạo hóa mình, Ai thương xót người nghèo khó là tôn kính Ngài.
Kẻ ác bị sụp đổ vì sự gian ác mình, Nhưng người công chính trong khi chết vẫn có nơi ẩn náu.
Sự khôn ngoan lưu lại trong lòng người hiểu biết, Còn điều ở bên trong kẻ ngu dại được lộ ra.
Sự công chính làm cho đất nước được tôn trọng, Nhưng tội lỗi làm cho dân tộc bị hổ thẹn.
Vua dành ân huệ cho đầy tớ nào ăn ở khôn sáng, Nhưng cơn giận của vua trút trên kẻ gây điều xấu hổ.
Lời đáp êm dịu làm nguôi cơn giận, Còn lời xẳng xớm trêu cơn thịnh nộ.
Lưỡi người khôn ngoan tô điểm tri thức, Nhưng miệng kẻ ngu dại chỉ tuôn ra sự điên rồ.
Mắt của Đức Giê-hô-va ở khắp mọi nơi, Xem xét kẻ gian ác và người lương thiện.
Lưỡi hiền lành là cây sự sống, Nhưng lưỡi gian tà làm tan nát tâm linh.
Kẻ ngu dại khinh lời khuyên dạy của cha mình, Còn ai nghe lời quở trách trở nên khôn khéo.
Nhà của người công chính có nhiều báu vật, Nhưng hoa lợi của kẻ ác chỉ đem rối loạn đến cho họ.
Môi người khôn ngoan rải ra sự tri thức, Còn lòng kẻ ngu dại chẳng được như thế.
Đức Giê-hô-va ghê tởm sinh tế của kẻ ác, Nhưng Ngài vui thích lời cầu nguyện của người ngay thẳng.
Đức Giê-hô-va ghê tởm đường lối kẻ ác, Nhưng Ngài yêu mến người đeo đuổi sự công chính.
Hình phạt nặng nề dành cho kẻ bỏ đường ngay thẳng, Còn kẻ ghét lời quở trách sẽ phải chết mất.
Âm phủ và chốn hủy diệt còn phơi bày trước mặt Đức Giê-hô-va, Huống chi là lòng dạ của con người!
Kẻ nhạo báng không thích bị quở trách; Hắn không muốn đến với người khôn ngoan.
Lòng vui mừng làm cho vẻ mặt hân hoan, Nhưng lòng buồn bã khiến tâm trí nao sờn.
Lòng người hiểu biết tìm kiếm tri thức, Còn miệng kẻ ngu dại nuôi mình bằng sự điên rồ.
Mọi ngày của kẻ bị hoạn nạn đều là xấu, Nhưng lòng vui mừng dự yến tiệc luôn luôn.
Thà có ít của mà kính sợ Đức Giê-hô-va Còn hơn là có nhiều tài sản mà bối rối cặp theo.
Thà một món rau mà yêu thương nhau Còn hơn ăn bò mập béo mà ganh ghét cặp theo.
Kẻ nhạy giận thường gây xung đột, Nhưng người chậm giận làm yên cuộc tranh cãi.
Con đường kẻ lười biếng như một hàng rào gai, Còn nẻo người ngay thẳng được ban bằng.
Con khôn ngoan làm vui lòng cha nó, Nhưng đứa ngu dại khinh bỉ mẹ mình.
Kẻ thiếu hiểu biết lấy sự điên dại làm vui, Nhưng người khôn sáng cứ thẳng đường tiến bước.
Thiếu bàn bạc, chương trình đành phải hỏng, Nhờ có nhiều cố vấn, kế hoạch sẽ thành công.
Miệng khéo đáp khiến người vui vẻ, Lời nói đúng lúc thật tốt đẹp biết bao!
Con đường sự sống dẫn người khôn ngoan đi lên, Để tránh khỏi âm phủ ở dưới thấp.
Đức Giê-hô-va đánh đổ nhà kẻ kiêu ngạo, Nhưng Ngài giữ vững ranh giới người góa bụa.
Tư tưởng gian ác là điều ghê tởm đối với Đức Giê-hô-va, Nhưng lời thanh sạch được đẹp lòng Ngài.
Kẻ tham lợi phi nghĩa gây rối rắm nhà mình, Còn ai ghét của hối lộ sẽ được sống.
Lòng người công chính suy nghĩ cách trả lời, Nhưng miệng kẻ gian ác buông ra điều dữ.
Đức Giê-hô-va ở xa kẻ ác, Nhưng Ngài nghe lời cầu nguyện của người công chính.
Ánh sáng của mắt khiến lòng vui vẻ, Tin tốt lành làm xương cốt cứng mạnh.
Người nào lắng nghe lời quở trách của sự sống Sẽ được ở giữa những người khôn ngoan.
Ai khước từ lời khuyên dạy là khinh bỉ linh hồn mình, Nhưng ai nghe lời quở trách đạt được sự thông sáng.
Sự kính sợ Đức Giê-hô-va dạy điều khôn ngoan, Và sự khiêm nhường đi trước sự tôn trọng.
Những toan tính trong lòng là việc của con người, Nhưng câu trả lời đến từ Đức Giê-hô-va.
Mọi đường lối của con người đều là trong sạch theo mắt mình, Nhưng Đức Giê-hô-va đánh giá tấm lòng.
Hãy phó thác công việc của con cho Đức Giê-hô-va, Thì những lo toan của con sẽ được thành tựu.
Đức Giê-hô-va dựng nên muôn vật đều có mục đích, Ngay cả kẻ ác cũng là để dành cho ngày tai họa.
Đức Giê-hô-va ghê tởm mọi kẻ có lòng kiêu ngạo, Chắc chắn nó sẽ không tránh khỏi hình phạt.
Nhờ sự nhân từ và chân thật mà tội lỗi được tha thứ, Bởi sự kính sợ Đức Giê-hô-va, người ta tránh khỏi điều ác.
Khi Đức Giê-hô-va hài lòng về phẩm hạnh của người nào, Thì Ngài khiến kẻ thù hòa thuận với người ấy.
Thà ít của mà sống công chính Còn hơn là nhiều hoa lợi mà sống bất công.
Con người hoạch định đường lối mình, Nhưng Đức Giê-hô-va chỉ dẫn các bước của người.
Sấm ngôn ở trên môi vua, Miệng vua sẽ không sai lầm khi xét xử.
Cán cân và bàn cân chính xác thuộc về Đức Giê-hô-va; Mọi quả cân trong bao là công việc của Ngài.
Hành động gian ác là điều ghê tởm cho vua chúa, Vì nhờ sự công chính mà ngôi nước được vững bền.
Môi miệng công chính khiến vua hài lòng, Vua ưa thích lời nói của người ngay thẳng.
Cơn giận của vua như sứ giả sự chết, Nhưng người khôn ngoan làm nó nguôi đi.
Sắc mặt vua sáng ngời, chiếu ra sự sống; Ân huệ vua như mây đem lại mưa xuân.
Được khôn ngoan, quý hơn vàng ròng biết mấy! Được thông sáng, đáng chuộng hơn bạc biết bao!
Con đường người ngay thẳng là tránh xa điều ác; Ai canh giữ đường lối mình là giữ linh hồn mình.
Sự kiêu ngạo đi trước sự hủy diệt, Và tính tự cao đi trước sự sa ngã.
Thà sống khiêm nhường với người cùng khốn Còn hơn là chia của cướp với kẻ kiêu ngạo.
Ai giữ theo đạo lý, tìm được ích lợi, Và ai trông cậy nơi Đức Giê-hô-va thật phước biết bao!
Người có lòng khôn ngoan được gọi là người hiểu biết, Lời dịu dàng gia tăng tri thức.
Người có được thông sáng tức là có được nguồn sự sống, Nhưng sự điên rồ là hình phạt của kẻ ngu dại.
Lòng người khôn ngoan dạy dỗ miệng mình, Và thêm sự học thức cho đôi môi.
Lời nói ân hậu giống như tàng ong, Ngon ngọt cho tâm hồn và khỏe mạnh cho xương cốt.
Có một con đường dường như chính đáng cho loài người, Nhưng cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết.
Bụng đói khiến người ta làm việc, Miệng muốn ăn thúc giục họ phải làm.
Kẻ vô đạo mưu toan hại người, Trên môi nó như có ngọn lửa hừng.
Kẻ gian tà gieo điều tranh cạnh, Kẻ phỉ báng chia rẽ bạn thân.
Kẻ hung bạo quyến dụ bạn mình, Và dẫn người vào con đường không tốt.
Kẻ nhắm mắt mưu toan điều ác, Kẻ bặm môi thực hiện việc gian tà.
Tóc bạc là vương miện vinh quang Dành cho người đi trong đường công chính.
Người chậm giận thắng hơn dũng sĩ, Và ai cai trị lòng mình thắng hơn kẻ chiếm lấy thành.
Người ta rút thăm trong vạt áo, Nhưng mọi quyết định đến từ Đức Giê-hô-va.
Thà một miếng bánh khô mà hòa thuận Còn hơn là nhà đầy thịt tế lễ lại tranh cãi nhau.
Một đầy tớ khôn sáng sẽ cai trị trên đứa con hư hỏng của ông chủ, Và được hưởng cơ nghiệp với các anh em trong nhà.
Nồi để luyện bạc, lò để luyện vàng, Nhưng Đức Giê-hô-va thử lòng của loài người.
Kẻ làm ác hướng lòng về môi gian ác; Kẻ hay nói dối lắng tai nghe lưỡi hiểm độc.
Ai nhạo báng người bần cùng là sỉ nhục Đấng Tạo Hóa mình; Ai vui mừng về tai họa sẽ không tránh khỏi bị trừng phạt.
Vương miện người già, ấy là đàn con cháu, Còn vinh dự của con cháu, ấy là bậc cha ông.
Lời tốt lành không xứng với kẻ ngu dại; Môi miệng giả dối lại càng không xứng với bậc vương giả.
Của hối lộ giống như viên ngọc thần dưới mắt kẻ sở hữu nó; Dù xoay hướng nào hắn cũng thành công.
Người nào che đậy lỗi lầm, tìm kiếm tình yêu thương, Còn ai nhắc đi nhắc lại vấn đề, chia rẽ tình bạn thân thiết.
Lời quở trách thấm sâu vào người hiểu biết Hơn là trăm roi đánh vào kẻ ngu dại.
Kẻ gian ác chỉ tìm cách phản loạn, Một sứ giả dữ tợn sẽ được sai đi đánh nó.
Thà người ta gặp gấu cái bị cướp con Hơn là gặp kẻ ngu dại trong sự điên cuồng của nó.
Kẻ nào lấy ác trả thiện, Tai họa sẽ không bao giờ lìa khỏi nhà nó.
Khởi đầu cuộc tranh chấp như khai nguồn nước chảy; Vậy hãy thôi tranh cãi trước khi nó bùng nổ.
Người xưng kẻ ác là công chính và kẻ lên án người công chính, Cả hai đều ghê tởm đối với Đức Giê-hô-va.
Ích lợi gì cho kẻ ngu dại cầm bạc trong tay để mua sự khôn ngoan, Khi nó không có lòng ham học?
Bạn bè thương mến nhau luôn luôn, Và anh em sinh ra để giúp đỡ nhau lúc hoạn nạn.
Kẻ thiếu hiểu biết vội vàng giao kết, Đứng ra bảo lãnh người lân cận mình.
Ai ưa tranh cạnh, ưa điều tội lỗi; Ai xây cửa cao, tìm kiếm sự sụp đổ.
Kẻ có lòng xảo trá không tìm được phước lành, Và ai có lưỡi gian tà sẽ sa vào tai họa.
Ai sinh con ngu muội sẽ phải buồn phiền; Cha của kẻ ngu dại chẳng vui vẻ gì!
Lòng vui mừng vốn là một phương thuốc hay, Còn trí nao sờn làm cho xương cốt khô héo.
Kẻ ác lén lút nhận hối lộ Để làm sai lệch cán cân công lý.
Người hiểu biết hướng mặt về sự khôn ngoan, Nhưng con mắt kẻ ngu dại ở nơi địa cực.
Con ngu muội là điều buồn rầu cho cha Và là nỗi cay đắng cho mẹ đã sinh ra nó.
Phạt vạ người công chính là không đúng, Đánh người đáng kính vì lòng ngay thẳng của họ là sai lầm.
Ai nói năng dè dặt là người có tri thức, Ai có tính điềm tĩnh là người thông sáng.
Khi giữ im lặng, dù người ngu dại cũng được kể là khôn ngoan, Người biết kiềm chế môi miệng được xem là thông sáng.
Kẻ lập dị tìm kiếm điều mình ưa thích, Bất chấp lời khôn ngoan thật.
Kẻ ngu dại không ưa thích sự thông sáng, Nhưng chỉ muốn bày tỏ ý kiến mình.
Khi kẻ gian ác đến, sự khinh bỉ cũng đến, Và sự sỉ nhục đồng hành với điều nhuốc nhơ.
Lời nói từ miệng loài người như nước sâu thăm thẳm, Nguồn khôn ngoan như suối nước tuôn tràn.
Thiên vị kẻ ác để ức hiếp người công chính trong khi xét xử Là điều không đúng,
Môi kẻ ngu dại gây ra cuộc tranh cãi, Miệng nó xúi giục chuyện đánh nhau.
Miệng kẻ ngu dại làm nó suy sụp, Môi nó là cạm bẫy của linh hồn mình.
Lời kẻ mách lẻo như miếng ăn ngon, Nó thấu xuống ruột gan.
Kẻ thả trôi trong công việc mình Cũng là anh em của kẻ phá hoại.
Danh Đức Giê-hô-va là một pháo đài kiên cố, Người công chính chạy đến đó, tìm được nơi trú ẩn an toàn.
Tài sản người giàu là thành trì kiên cố của người, Là bức tường cao trong trí tưởng tượng của người ấy.
Lòng tự cao đi trước sự suy bại, Nhưng sự khiêm nhường đi trước sự tôn trọng.
Trả lời trước khi nghe, Đó là sự điên dại và hổ thẹn cho ai làm như vậy.
Tinh thần của một người nâng đỡ người ấy lúc bệnh hoạn, Nhưng tinh thần suy sụp thì ai vực dậy được?
Lòng người thông sáng đón nhận tri thức, Tai người khôn ngoan tìm kiếm sự hiểu biết.
Tặng vật của một người dọn đường cho người ấy Và dẫn người đến trước mặt kẻ quyền thế.
Bên tiên cáo cứ cho mình là đúng, Nhưng khi bên kia đến đối chất mới rõ đúng sai.
Việc bắt thăm chấm dứt điều tranh tụng Và phân giải giữa những kẻ có quyền thế.
Lấy lòng một anh em đã bị làm mếch lòng, Khó hơn đánh chiếm một thành kiên cố; Sự tranh chấp như thế giống như then cửa đền đài.
Bụng được no nê do bông trái của miệng; Hoa lợi đôi môi làm cho người no đủ.
Sống chết do nơi quyền của lưỡi, Người yêu chuộng nó sẽ ăn bông trái của nó.
Ai tìm được một người vợ là tìm được một điều phước, Và hưởng được ân lành từ Đức Giê-hô-va.
Người nghèo khẩn khoản nài xin, Còn kẻ giàu thì trả lời thô lỗ.
Một người có nhiều bạn bè có thể là điều tai hại, Nhưng có một bạn thân thiết còn hơn anh em ruột thịt.
Thà làm người nghèo khổ mà ăn ở thanh liêm Còn hơn là kẻ có môi miệng gian tà, là kẻ ngu dại.
Lòng thiếu tri thức chẳng phải là một điều hay, Kẻ nào vội vàng bước đi sẽ bị vấp ngã.
Sự ngu dại của một người phá hỏng đường lối người, Và lòng người lại oán trách Đức Giê-hô-va.
Sự giàu có kết nhiều bè bạn, Còn người nghèo khó dù bạn cũng lìa xa.
Nhân chứng gian không khỏi bị trừng phạt, Kẻ buông lời giả dối không sao trốn thoát.
Có nhiều kẻ tìm ơn của người hào phóng, Và mọi người đều là bạn của kẻ hay ban tặng.
Tất cả anh em ruột của kẻ nghèo đều ghét người, Huống chi bè bạn lại chẳng lìa xa! Người đuổi theo nài nỉ, Nhưng chúng chẳng còn ở đó!
Ai có được sự khôn ngoan, yêu mến linh hồn mình; Và ai giữ sự thông sáng, tìm được phước lành.
Nhân chứng gian sẽ không khỏi bị trừng phạt, Kẻ buông lời giả dối sẽ bị hư mất.
Nếp sống sung túc chẳng xứng với kẻ ngu dại, Huống chi kẻ tôi mọi lại cai trị người quý tộc!
Sự khôn ngoan của một người khiến người chậm nóng giận, Và vì danh dự của mình mà bỏ qua tội phạm.
Vua nổi giận khác nào sư tử gầm thét, Còn ân huệ của vua như sương móc trên cỏ xanh.
Con trai ngu muội là tai họa cho cha nó, Một người vợ hay tranh cạnh giống như nhà dột mưa chảy không dứt.
Nhà cửa và tài sản là cơ nghiệp của tổ phụ để lại, Còn một người vợ khôn ngoan do nơi Đức Giê-hô-va mà đến.
Sự lười biếng làm cho người ta mê ngủ, Và kẻ ăn không ngồi rồi sẽ bị đói khát.
Ai tuân giữ điều răn, giữ lấy linh hồn mình, Nhưng kẻ xem thường đường lối mình sẽ chết.
Ai thương xót người nghèo là cho Đức Giê-hô-va vay mượn, Ngài sẽ đáp lại việc lành ấy cho người.
Hãy sửa phạt con cái ngươi lúc còn hi vọng, Nhưng đừng định tâm giết nó.
Người hay nổi giận dữ tợn sẽ phải mang hình phạt; Vì nếu con giải cứu hắn, hẳn phải giải cứu lần nữa.
Hãy nghe lời khuyên và đón nhận sự giáo huấn, Để cuối cùng, con được khôn ngoan.
Trong lòng loài người có nhiều mưu kế, Nhưng ý định của Đức Giê-hô-va sẽ được thành tựu.
Điều mà người ta mong ước nơi con người là lòng trung thành, Thà làm người nghèo khổ còn hơn là kẻ nói dối.
Sự kính sợ Đức Giê-hô-va dẫn đến sự sống: Làm cho người ta được thỏa nguyện, Và ngăn cản mọi tai họa.
Kẻ lười biếng thò tay vào đĩa, Rồi không thèm đưa nó lên miệng mình.
Hãy đánh phạt kẻ nhạo báng thì người ngây thơ sẽ trở nên khôn khéo; Hãy khiển trách người hiểu biết, người ấy sẽ thêm tri thức.
Kẻ ngược đãi cha và xua đuổi mẹ mình Là đứa con gây xấu hổ và sỉ nhục.
Hỡi con ta, khi không nghe lời khuyên dạy nữa, Con sẽ lầm lạc cách xa các lời tri thức.
Nhân chứng gian tà nhạo báng sự công chính, Và miệng kẻ ác nuốt chửng tội lỗi.
Sự trừng phạt dành sẵn cho kẻ nhạo báng, Roi vọt sắm sẵn cho lưng kẻ ngu dại.
Rượu khiến người ta nhạo báng, thức uống say gây tiếng ồn ào; Ai dùng nó quá độ chẳng phải là khôn ngoan.
Cơn giận kinh khiếp của vua giống như sư tử gầm thét; Ai chọc giận vua là làm hại mạng sống mình.
Người tránh khỏi điều tranh cãi đáng được tôn trọng; Chỉ những kẻ ngu dại mới lao vào đó.
Kẻ lười biếng không chịu cày cấy đúng thời vụ; Đến mùa gặt, nó sẽ xin ăn nhưng chẳng được gì.
Mưu kế trong lòng người như giếng nước sâu, Người thông sáng sẽ múc lấy tại đó.
Nhiều người khoe rằng mình trung thành, Nhưng ai có thể tìm được một người trung tín?
Người công chính ăn ở cách thanh liêm; Con cháu người ấy thật có phước!
Vua ngồi trên ngai xử đoán, Đưa mắt mình tra xét mọi điều ác.
Ai có thể nói: “Tôi đã tẩy sạch lòng mình; Tôi đã sạch tội rồi?”
Hai thứ quả cân và hai dụng cụ đo lường, Cả hai đều ghê tởm đối với Đức Giê-hô-va.
Việc trẻ con làm, hoặc trong sạch hoặc chính đáng, Cũng đều bày tỏ bản tính nó.
Tai để nghe, mắt để thấy, Đức Giê-hô-va đã làm ra cả hai.
Đừng mê ngủ, kẻo con trở nên nghèo khổ; Hãy mở mắt ra thì con sẽ được ăn bánh no nê.
Người mua luôn nói: “Xấu, xấu!” Rồi khi rời khỏi lại tự khen mình.
Có vàng và nhiều châu ngọc, Nhưng đôi môi tri thức là báu vật quý giá.
Hãy nắm lấy áo hắn vì hắn đã bảo lãnh cho người không quen; Hãy giữ vật làm tin của hắn vì hắn bảo lãnh cho người đàn bà xa lạ.
Bánh nhờ dối gạt mà được, lúc mới ăn thì ngon ngọt, Nhưng sau đó, miệng sẽ đầy đá sỏi.
Nhờ bàn luận, các kế hoạch được lập vững; Hãy tiến hành chiến tranh bằng sự khôn ngoan.
Kẻ mách lẻo hay tiết lộ điều thầm kín; Con đừng giao du với kẻ quá hở môi.
Ngọn đèn của kẻ nguyền rủa cha mẹ mình, Sẽ tắt giữa đêm tối mờ mịt.
Có được tài sản quá nhanh chóng lúc đầu Thì cuối cùng sẽ chẳng được phước.
Đừng nói: “Ta sẽ báo thù!” Hãy chờ đợi Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ cứu con.
Hai thứ quả cân là điều ghê tởm đối với Đức Giê-hô-va, Và cây cân giả trá đâu phải là vật tốt lành.
Các bước đi của loài người do Đức Giê-hô-va quyết định, Làm sao loài người hiểu được đường lối mình?
Nói cách vội vàng rằng: “Vật nầy là vật thánh!” Và sau khi đã khấn nguyện rồi mới suy nghĩ lại, Đó là một cái bẫy nguy hiểm cho con người.
Vua khôn ngoan tra xét kẻ ác, Và cho bánh xe cán trên chúng.
Tâm linh con người là ngọn đèn của Đức Giê-hô-va, Dò thấu các nơi bí ẩn của lòng người.
Sự nhân từ và chân thật bảo hộ vua; Vua lấy lòng nhân từ mà nâng đỡ ngôi nước mình.
Sức lực là vinh quang của người trai trẻ, Còn tóc bạc là sự tôn trọng của người già.
Những thương tích và dấu vết làm cho sạch điều ác; Còn roi vọt thấm vào nơi sâu kín của lòng.
Lòng của vua trong tay Đức Giê-hô-va khác nào dòng nước chảy; Ngài muốn làm nghiêng lệch nó bên nào tùy ý Ngài.
Mọi đường lối của con người đều chính đáng theo mắt mình, Nhưng Đức Giê-hô-va đánh giá tấm lòng.
Làm theo sự công chính và ngay thẳng Được đẹp lòng Đức Giê-hô-va hơn là dâng sinh tế.
Mắt tự cao, lòng kiêu ngạo, Và ngọn đèn của kẻ ác đều là tội lỗi.
Các ý tưởng của người cần mẫn chắc chắn dẫn đến sự dư dật, Còn tất cả kẻ hấp tấp chỉ chạy đến điều thiếu thốn.
Tài sản nhờ dùng lưỡi dối gạt mà được Là hơi thở thoáng qua, là cạm bẫy sự chết.
Sự hung bạo của kẻ ác sẽ đùa chúng đi, Vì chúng không chịu làm điều công chính.
Con đường của kẻ phạm tội là quanh co, Nhưng công việc người trong sạch là ngay thẳng.
Thà ở một góc trên mái nhà Còn hơn là ở chung nhà với người đàn bà hay tranh cạnh.
Lòng kẻ dữ mong ước điều ác; Nó không thương xót người lân cận mình.
Khi kẻ nhạo báng bị phạt, người khờ dại trở nên khôn ngoan; Khi được khuyên dạy, người khôn ngoan càng thêm tri thức.
Đấng công chính xem xét nhà kẻ ác; Là Đấng xô những kẻ ác vào tai họa.
Kẻ bịt tai không chịu nghe tiếng kêu la của người nghèo khổ, Khi kẻ ấy kêu la thì chẳng ai đáp lại.
Quà biếu kín đáo làm nguôi cơn tức giận; Hối lộ bí mật làm dịu trận lôi đình.
Khi công lý được thi hành là niềm vui cho người công chính, Nhưng là nỗi sợ hãi cho kẻ làm ác.
Người lầm lạc khỏi đường khôn sáng Sẽ ở trong hội kẻ chết.
Ai ham sự vui chơi chắc chắn sẽ nghèo khó; Còn ai ưa rượu với dầu sẽ chẳng làm giàu.
Kẻ ác trở thành giá chuộc cho người công chính, Và kẻ dối gạt thế chỗ cho người ngay thẳng.
Thà ở một nơi vắng vẻ Còn hơn là ở với một người đàn bà hay tranh cạnh và càu nhàu.
Báu vật và dầu còn lại trong nhà người khôn ngoan, Nhưng kẻ ngu dại tiêu xài hết.
Người nào đeo đuổi sự công chính và nhân từ Sẽ tìm được sự sống, sự công chính và tôn trọng.
Người khôn ngoan tấn công thành của dũng sĩ Và triệt hạ đồn lũy mà chúng tin cậy.
Ai giữ miệng lưỡi mình Là giữ linh hồn mình khỏi hoạn nạn.
“Nhạo báng” là tên của kẻ tự cao, kiêu ngạo, Nó cư xử cách xấc xược theo tính kiêu căng của nó.
Ước vọng của kẻ lười biếng giết chết nó, Vì hai tay nó không chịu làm việc.
Suốt ngày nó chỉ tham lam, thèm muốn. Nhưng người công chính ban cho rộng rãi.
Sinh tế của kẻ ác là một vật ghê tởm; Huống chi chúng đem đến với ý gian tà.
Nhân chứng giả dối sẽ bị hư mất, Nhưng người biết lắng nghe sẽ được nói mãi.
Kẻ ác tự làm mặt chai mày đá, Còn người ngay thẳng làm vững đường lối mình.
Chẳng có sự khôn ngoan, thông sáng, hay là mưu kế nào Có thể chống lại Đức Giê-hô-va được.
Ngựa sắm sẵn cho ngày chiến trận, Nhưng sự chiến thắng thuộc về Đức Giê-hô-va.
Danh tiếng tốt quý hơn tiền của nhiều, Còn ân huệ quý hơn bạc vàng.
Kẻ giàu và người nghèo đều gặp nhau; Đức Giê-hô-va đã dựng nên cả hai.
Người khôn khéo thấy trước tai họa và ẩn mình, Nhưng kẻ khờ dại cứ lao tới và mang họa.
Phần thưởng cho sự khiêm nhường và kính sợ Đức Giê-hô-va Là sự giàu có, tôn trọng và sự sống.
Trên đường kẻ gian tà có gai chông và cạm bẫy; Ai gìn giữ linh hồn mình phải tránh xa nó.
Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo, Để khi trở về già, nó cũng không lìa khỏi đó.
Người giàu cai trị kẻ nghèo, Ai vay mượn là đầy tớ của kẻ cho vay mượn.
Kẻ gieo bất công chắc chắn sẽ gặt tai họa, Và cây roi thịnh nộ của hắn sẽ bị gãy.
Người có mắt nhân lành sẽ được phước, Vì người lấy bánh của mình cho người nghèo khó.
Hãy đuổi kẻ nhạo báng, thì sự cãi lẫy cũng sẽ ra đi; Sự tranh cãi và lăng nhục sẽ chấm dứt.
Ai yêu tấm lòng trong sạch và môi miệng nhân hậu, Sẽ được làm bạn của vua.
Mắt của Đức Giê-hô-va trông nom người có tri thức, Nhưng Ngài đánh đổ lời của kẻ gian tà.
Kẻ lười biếng nói: “Có con sư tử ở ngoài đó! Tôi sẽ bị giết giữa đường!”
Miệng của dâm phụ là một cái hố sâu; Ai bị Đức Giê-hô-va nổi giận sẽ rơi vào đó.
Sự ngu dại buộc vào lòng con trẻ, Nhưng roi răn dạy sẽ làm cho điều ấy lìa xa nó.
Kẻ áp bức người nghèo để làm giàu cho mình, Cũng như kẻ tặng cho người giàu, Đều dẫn đến sự nghèo thiếu.
Hãy lắng tai nghe lời người khôn ngoan, Hãy chú tâm vào sự tri thức của ta.
Vì con sẽ vui thích khi giữ nó trong lòng, Và tập trung nó trên đôi môi con.
Ngày nay ta đã dạy cho con hiểu biết các điều đó, Để con có lòng tin cậy Đức Giê-hô-va.
Chẳng phải ta đã chép cho con Ba mươi lời khuyên răn và tri thức đó sao?
Nhằm dạy con những lời đúng đắn và chân thật, Để con lấy lời chân thật mà đáp lại người sai con.
Đừng bóc lột người nghèo vì họ nghèo khó, Cũng đừng hà hiếp người khốn khổ nơi cổng thành;
Vì Đức Giê-hô-va sẽ bênh vực lý lẽ của họ, Và đoạt lấy sự sống của kẻ cướp bóc họ.
Đừng làm bạn với người hay nổi giận, Cũng đừng giao du với kẻ hung bạo,
Kẻo con tập theo đường lối nó, Và linh hồn con bị mắc bẫy chăng.
Đừng đồng bọn với những kẻ bắt tay giao kèo, Hoặc kẻ bảo lãnh nợ;
Nếu con không có gì để trả, Chúng sẽ lấy giường con đang nằm!
Đừng dời các cột mốc ranh giới xưa Mà tổ phụ con đã dựng.
Con có thấy người nào siêng năng trong công việc mình chăng? Người ấy hẳn sẽ phục vụ các vua, Chứ chẳng phải phục vụ người tầm thường đâu.
Khi con ngồi ăn với người có chức quyền, Hãy để ý kỹ người ở trước mặt con;
Nếu con vốn tham ăn, Hãy để con dao nơi cổ họng con.
Chớ thèm món ăn ngon của người, Vì đó là thức ăn phỉnh gạt.
Con đừng nhọc công để làm giàu; Hãy thôi nhờ cậy sự thông sáng của con.
Khi con liếc mắt vào sự giàu sang, có phải nó đã bay mất rồi không? Chắc chắn nó mọc cánh như chim đại bàng, Và tung cánh bay lên trời cao.
Đừng ăn bánh của kẻ có mắt gian ác, Cũng đừng tham muốn những món ngon của hắn.
Vì điều hắn nghĩ trong lòng mới chính là con người hắn. Hắn nói với con: “Hãy ăn uống đi!” Nhưng hắn không thật lòng với con.
Miếng ăn mà con đã ăn, con sẽ mửa ra, Và uổng phí những lời tốt đẹp của con.
Đừng nói vào tai kẻ ngu dại, Vì nó sẽ coi khinh lời lẽ khôn ngoan của con.
Đừng dời cột mốc ranh giới xưa, Và đừng xâm phạm cánh đồng của kẻ mồ côi;
Vì Đấng cứu chuộc của họ là Đấng quyền năng, Sẽ bênh vực sự kiện tụng của họ chống lại con.
Hãy chuyên tâm về lời khuyên dạy, Và lắng tai nghe các lời tri thức.
Đừng bỏ qua việc răn dạy trẻ thơ; Dù đánh nó bằng roi, nó sẽ chẳng chết đâu.
Khi con đánh nó bằng roi, Là giải cứu linh hồn nó khỏi âm phủ.
Hỡi con ta, nếu lòng con khôn ngoan, Thì chính lòng ta cũng sẽ vui mừng;
Phải, tận đáy lòng ta sẽ hớn hở Khi miệng con nói điều ngay thẳng.
Lòng con đừng ganh tị với kẻ tội lỗi, Nhưng hằng ngày hãy kính sợ Đức Giê-hô-va.
Vì chắc chắn sẽ có một kết thúc tốt đẹp, Và hi vọng của con sẽ chẳng thành ra luống công.
Hỡi con ta, hãy nghe và trở nên khôn ngoan, Hãy hướng lòng con vào đường chính đáng.
Đừng nhập bọn với những tên bợm rượu Hoặc với những kẻ tham ăn;
Vì bợm rượu và kẻ tham ăn sẽ trở nên nghèo khổ, Còn kẻ mê ngủ sẽ ăn mặc rách rưới.
Hãy nghe lời cha đã sinh ra con, Đừng khinh bỉ mẹ con khi người trở nên già yếu.
Hãy mua chân lý, sự khôn ngoan, lời khuyên dạy, và sự thông sáng, Đừng bao giờ bán đi!
Cha của người công chính sẽ có niềm vui lớn; Người nào sinh con khôn ngoan sẽ vui mừng về nó.
Ước gì cha và mẹ con được hớn hở, Và người đã sinh ra con được mừng vui.
Hỡi con ta, hãy dâng lòng con cho ta, Và mắt con hãy vui thích trong đường lối ta;
Vì kỹ nữ là một cái hố sâu Và dâm phụ là một cái giếng hẹp.
Nó đứng rình như một kẻ trộm, Làm tăng thêm nhiều kẻ bất trung trong loài người.
Ai bị hoạn nạn? Ai rên xiết? Ai cãi cọ? Ai than thở? Ai bị thương tích vô cớ? Ai có con mắt đỏ?
Đó là những kẻ nấn ná bên rượu, Đi nếm thứ rượu pha.
Đừng nhìn rượu khi nó đỏ hồng, Lúc nó chiếu sao trong ly Và tuôn chảy dễ dàng.
Cuối cùng, nó cắn như rắn, Tiết ra nọc như nọc rắn độc.
Mắt con sẽ nhìn người dâm phụ, Và lòng con sẽ nói điều gian tà.
Thật, con sẽ như người nằm giữa đáy biển, Khác nào kẻ nằm trên chót cột buồm.
Con sẽ nói rằng: “Người ta đập tôi nhưng tôi không đau! Người ta đánh tôi nhưng tôi không cảm biết! Khi tôi tỉnh dậy, Tôi sẽ trở lại tìm uống nó nữa.”
Đừng ganh tị với kẻ ác, Cũng đừng ước ao ở chung với chúng.
Vì lòng chúng chỉ nghĩ đến điều hung bạo, Và môi chúng nói ra sự tổn hại.
Nhờ sự khôn ngoan, cửa nhà được xây cất Và được vững vàng bởi sự thông sáng.
Nhờ tri thức, các phòng ốc đều chứa đầy Của cải quý báu và đẹp đẽ.
Người khôn ngoan có sức mạnh, Và người tri thức gia tăng năng lực.
Con phải nhờ sự chỉ dẫn khôn ngoan mà đánh giặc, Nhờ có nhiều cố vấn mà chiến thắng.
Sự khôn ngoan cao xa quá cho kẻ ngu dại; Nơi cổng thành, nó không dám mở miệng ra.
Kẻ nào mưu tính làm điều ác Sẽ bị xem là kẻ gian xảo.
Tư tưởng ngu dại là tội lỗi; Kẻ nhạo báng bị người ta ghê tởm.
Nếu con ngã lòng trong ngày hoạn nạn, Thì sức lực con thật yếu kém thay!
Hãy giải cứu những kẻ bị đùa đến sự chết; Và cứu những người đi lảo đảo tới chốn hành hình.
Nếu con nói: “Kìa, chúng tôi chẳng biết điều nầy,” Thì Đấng cân nhắc lòng người không xem xét điều ấy sao? Và Đấng gìn giữ linh hồn con không biết đến ư? Ngài chẳng báo cho mỗi người tùy theo công việc họ làm sao?
Hỡi con ta, hãy ăn mật vì nó ngon lành; Mật từ tàng ong thật ngọt ngào cho miệng con.
Hãy biết rằng sự khôn ngoan đối với linh hồn con cũng vậy; Nếu con tìm được sự khôn ngoan hẳn sẽ có tương lai, Và hi vọng của con sẽ chẳng trở thành luống công.
Hỡi kẻ ác, chớ rình rập nơi ở của người công chính; Đừng phá phách chỗ nghỉ của người.
Vì người công chính dù ngã bảy lần cũng đứng lên được, Còn kẻ hung ác bị chìm đắm trong tai họa.
Đừng vui mừng khi kẻ thù của con gục ngã; Lúc nó bị đánh đổ, lòng con đừng hớn hở,
Kẻo Đức Giê-hô-va không hài lòng về điều đó, Và xoay cơn thịnh nộ Ngài khỏi nó chăng.
Đừng nổi giận vì cớ kẻ làm ác, Cũng đừng ganh tị những kẻ hung dữ;
Vì kẻ làm ác không có tương lai, Và đèn kẻ hung dữ sẽ tắt đi.
Hỡi con ta, hãy kính sợ Đức Giê-hô-va và tôn trọng vua; Đừng liên kết với những kẻ phản nghịch,
Vì tai họa xảy đến thình lình trên chúng, Và ai biết được sự phá hại sẽ đến từ cả hai?
Đây cũng là những câu nói của người khôn ngoan: Trong việc phân xử, Thiên vị là điều không tốt.
Người nào nói với kẻ ác rằng: “Anh là người công chính,” Sẽ bị dân chúng nguyền rủa, và các nước ghê tởm.
Nhưng người nào quở trách kẻ ác hẳn sẽ được hài lòng, Và phước lành sẽ giáng trên họ.
Ai đáp lời chính đáng Như hôn nơi môi.
Hãy ổn định công việc bên ngoài của con, Và chuẩn bị mọi việc trong cánh đồng; Sau đó hãy cất nhà của con.
Đừng vô cớ làm chứng nghịch người lân cận con, Cũng đừng lấy môi miệng mình mà lừa dối.
Đừng nói: “Tôi sẽ làm cho hắn như hắn đã làm cho tôi; Tôi sẽ báo trả mỗi người theo những gì người đã làm.”
Ta có đi ngang qua cánh đồng của kẻ lười biếng, Và gần vườn nho của kẻ thiếu hiểu biết;
Kìa, gai góc mọc um tùm, Cỏ dại phủ đầy khắp đất, Còn tường rào bằng đá thì sụp đổ hoang tàn.
Ta nhìn xem và để tâm suy nghĩ, Ta đã thấy và nhận được sự dạy dỗ nầy:
Ngủ một chút, chợp mắt một chút, Khoanh tay nằm nghỉ một chút,
Thì sự nghèo khổ sẽ đến trên con như một kẻ cướp, Và sự thiếu thốn của con áp tới như một kẻ được vũ trang.
Đây cũng là những châm ngôn của Sa-lô-môn do người của Ê-xê-chia, vua Giu-đa, sao chép:
Vinh quang của Đức Chúa Trời là giấu kín một điều gì, Nhưng vinh quang của các vua là tìm ra một điều gì đó.
Người ta không thể dò thấu chiều cao của bầu trời và chiều sâu của quả đất thể nào, Thì cũng không thể dò thấu lòng của các vua thể ấy.
Lấy cặn bã ra khỏi bạc, Thì thợ bạc có được một vật dụng;
Loại trừ kẻ ác khỏi mặt vua, Thì ngôi vua sẽ được lập vững trên nền công chính.
Đừng phô trương mình trước mặt vua, Cũng đừng ngồi tại chỗ của người cao trọng,
Vì thà người ta nói với con rằng: “Hãy lên đây,” Hơn là hạ con xuống trước mặt người quyền quý mà mắt con đã thấy.
Chớ vội gây ra điều tranh tụng, Kẻo khi kẻ lân cận con làm cho con xấu hổ Thì rốt cuộc con sẽ chẳng biết làm gì.
Hãy đối chất với chính người lân cận con, Nhưng đừng tiết lộ việc riêng của người khác;
Kẻo khi người nghe điều ấy sẽ sỉ nhục con, Và tiếng xấu về con không rút lại được.
Lời nói đúng lúc Khác nào quả táo bằng vàng có cẩn bạc.
Đối với tai biết nghe, lời quở trách của người khôn ngoan Khác nào một chiếc nhẫn vàng, một đồ trang sức bằng vàng ròng.
Sứ giả trung tín đối với người sai đi Giống như tuyết mát mẻ trong ngày mùa gặt, Vì người bổ sức cho linh hồn của chủ mình.
Kẻ nào tự khoe khoang giả dối về lễ vật mình Giống như có mây, có gió, mà không mưa.
Luôn chậm nóng giận mới khuyên được các thủ lĩnh; Còn lưỡi mềm mại bẻ gãy xương cốt.
Nếu con tìm được mật, hãy ăn vừa phải, Kẻo khi ăn no chán con sẽ mửa ra chăng.
Đừng thường xuyên bước chân đến nhà người lân cận con, Kẻo người chán con và trở lòng ghét con chăng.
Kẻ làm chứng dối chống lại người lân cận mình Khác nào một cái dùi cui, một cây gươm, một mũi tên nhọn.
Tin cậy kẻ bất trung trong ngày hoạn nạn Giống như răng bị gãy, như chân bị trẹo đi.
Ai hát cho lòng buồn thảm nghe Khác nào kẻ lột áo mình vào ngày lạnh, Và như giấm đổ trên vết thương.
Nếu kẻ thù của con có đói, hãy cho nó ăn; Nếu nó khát, hãy cho uống;
Vì như vậy, con chất than lửa hồng trên đầu nó, Và Đức Giê-hô-va sẽ thưởng cho con.
Gió bấc sinh ra mưa, Còn lưỡi nói hành cách kín đáo khiến cho mặt mày giận dữ.
Thà ở một góc trên mái nhà Còn hơn là ở chung nhà với người đàn bà hay tranh cạnh.
Tin tốt lành từ xứ xa đến Giống như nước mát mẻ cho người đang khao khát.
Người công chính nghiêng ngã trước mặt kẻ gian ác Khác nào một suối nước bị vấy đục, một nguồn nước bị ô nhiễm.
Ăn mật nhiều quá thì không tốt, Mãi lo tìm kiếm vinh quang cho mình cũng vậy.
Người nào không chế ngự lòng mình Khác nào một cái thành đổ nát, không tường lũy.
Như tuyết trong mùa hạ, hoặc mưa trong mùa gặt, Vinh dự không xứng cho kẻ ngu dại.
Như chim sẻ bay, như chim én lượn, Lời rủa sả vô cớ cũng vậy, nó chẳng hề xảy đến.
Roi dùng cho ngựa, hàm thiếc dành cho lừa, Còn đòn vọt dành cho lưng kẻ ngu dại.
Đừng đáp lời kẻ ngu dại như sự ngu dại của nó, Kẻo chính con cũng giống nó chăng.
Hãy đáp lại kẻ ngu dại xứng với sự ngu dại của nó, Kẻo nó tưởng rằng nó khôn ngoan.
Người nào nhờ kẻ ngu dại chuyển tin tức, Chẳng khác gì chặt chân mình và chuốc sự tổn hại.
Như chân người què đong đưa vô dụng, Câu châm ngôn trong miệng kẻ ngu dại cũng vậy.
Tôn trọng kẻ ngu dại Giống như bỏ viên ngọc vào đống đá.
Câu châm ngôn nơi miệng kẻ ngu dại Khác nào một cái gai đâm vào tay người say rượu.
Ai mướn người ngu dại và khách qua đường Giống như lính bắn cung gây thương tích mọi người.
Kẻ ngu dại lặp lại việc ngu dại của mình Khác nào con chó đã mửa ra rồi liếm lại.
Con có thấy người nào khôn ngoan theo mắt mình chăng? Kẻ ngu dại còn có sự trông cậy hơn nó.
Kẻ lười biếng nói: “Có con sư tử ngoài đường! Có một con sư tử trong đường phố!”
Kẻ lười biếng lăn trở trên giường mình Khác nào cửa xoay trên bản lề.
Kẻ lười biếng thò tay mình vào đĩa, Mệt nhọc lắm để đưa nó lên miệng.
Kẻ lười biếng tự nghĩ mình khôn ngoan Hơn bảy người đối đáp cách hợp lý.
Kẻ nổi giận về cuộc tranh cãi không liên hệ đến mình Khác nào người nắm tai của con chó chạy rông.
Kẻ điên cuồng phóng hỏa, Bắn tên, gây chết chóc,
Khác nào kẻ lường gạt người lân cận mình, Rồi lại nói: “Tôi đùa đấy mà!”
Lửa tắt vì thiếu củi; Không có kẻ mách lẻo, cuộc tranh cãi cũng ngưng.
Đốt than cho than cháy đỏ, chụm củi để lửa cháy bùng, Kẻ hay tranh cạnh gây ra điều cãi cọ cũng như thế.
Lời kẻ mách lẻo giống như thức ăn ngon, Thấu đến tận gan ruột.
Môi miệng sốt sắng mà lòng dạ độc ác Khác nào bình gốm tráng bạc pha.
Kẻ ghen ghét giả vờ ngoài môi miệng, Nhưng trong lòng mưu việc dối gian;
Khi nó nói ngon ngọt thì chớ tin, Vì trong lòng nó có bảy điều ghê tởm.
Dù ghen ghét được che đậy dưới trò lừa đảo, Sự gian ác của nó sẽ bị lộ ra giữa công chúng.
Ai đào hầm sẽ té xuống đó; Kẻ lăn đá, lại bị đá đè.
Lưỡi dối trá ghét những người nó làm hại, Và miệng xu nịnh gây ra sự đổ vỡ.
Đừng khoe khoang về ngày mai, Vì con chẳng biết ngày mai sẽ xảy ra điều gì.
Hãy để người khác khen con, Miệng con đừng làm như thế; Hãy để người ngoài khen con, Môi con đừng tự khen mình.
Đá thì nặng, cát cũng nặng, Nhưng cơn tức giận của kẻ ngu dại còn nặng hơn hai thứ đó.
Sự phẫn nộ thật là dữ tợn, và cơn giận như nước vỡ bờ, Nhưng ai có thể đứng nổi trước sự ghen tị?
Một lời quở trách tỏ tường Hơn là yêu thương kín đáo.
Bạn bè gây thương tích do lòng yêu thương chân thật, Còn hơn kẻ thù hôn hít cách giả tạo.
Kẻ no nê giày đạp mật ong dưới chân mình, Nhưng vật gì đắng cũng hóa ngọt đối với người đói khát.
Kẻ lưu lạc xa cách nơi ở của mình, Giống như chim bay đây đó khỏi tổ của nó vậy.
Dầu và hương liệu làm khoan khoái lòng người, Lời khuyên từ đáy lòng bạn bè cũng êm dịu như thế.
Đừng từ bỏ bạn của con hay bạn của cha con; Trong ngày hoạn nạn, đừng đi đến nhà anh em mình, Vì anh em xa Không bằng láng giềng gần.
Hỡi con ta, hãy khôn ngoan và làm vui lòng ta, Để ta có thể đối đáp kẻ sỉ nhục ta.
Người khôn khéo thấy trước tai họa và ẩn mình; Còn kẻ khờ dại cứ lao tới và mang họa.
Hãy nắm lấy áo hắn vì hắn đã bảo lãnh cho người không quen, Hãy giữ vật làm tin của hắn vì hắn bảo lãnh cho người đàn bà xa lạ.
Người nào dậy sớm lớn tiếng chúc phước cho bạn hữu, Lời chúc phước đó sẽ bị kể là lời nguyền rủa.
Nhà dột liên miên trong ngày mưa dầm Và một người đàn bà hay tranh cạnh, cả hai đều như nhau;
Ai muốn ngăn giữ người đàn bà ấy Khác nào ngăn giữ gió, và như tay phải cầm lấy dầu.
Giống như sắt mài nhọn sắt, Cũng vậy, con người mài giũa diện mạo bạn mình.
Ai chăm sóc cây vả sẽ ăn trái của nó, Và ai phục vụ chủ mình sẽ được tôn trọng.
Mặt phản chiếu trong nước thể nào, Lòng người đối với người cũng thể ấy.
Con mắt loài người chẳng bao giờ chán, Cũng như âm phủ và vực sâu không bao giờ đầy.
Nồi thử bạc, lò thử vàng, Còn sự khen ngợi thử loài người.
Dù con dùng chày mà giã kẻ ngu dại trong cối chung với gạo, Thì sự điên dại cũng không lìa khỏi nó.
Hãy biết thật rõ tình trạng bầy chiên của con, Và lưu tâm đến các đàn gia súc;
Vì sự giàu có không tồn tại mãi, Và mão miện cũng không còn đến đời đời.
Cỏ khô mất đi, cỏ non lại mọc ra, Người ta thu nhặt rau cỏ trên núi.
Lông chiên sẽ cung cấp áo quần cho con, Dê đực là giá mua đồng ruộng.
Sữa dê có đủ để làm thức ăn cho con, Cho người nhà của con Và để nuôi các đầy tớ gái của con.
Kẻ ác chạy trốn dù không ai đuổi theo; Nhưng người công chính dũng mãnh như sư tử.
Khi xứ sở loạn lạc Thì có nhiều lãnh tụ; Nhưng nhờ một người hiểu biết sáng suốt, Đất nước sẽ bền vững lâu dài.
Người nghèo áp bức kẻ cùng khốn Khác nào trận mưa lũ quét sạch mùa màng.
Kẻ bỏ luật pháp khen ngợi kẻ ác, Còn người giữ luật pháp chống lại chúng.
Kẻ buông mình vào điều ác, chẳng hiểu sự công chính, Nhưng ai tìm kiếm Đức Giê-hô-va hiểu biết mọi sự.
Thà làm người nghèo khó mà sống chính trực Còn hơn là kẻ giàu có mà theo đường lối quanh co.
Ai tuân giữ luật pháp là đứa con hiểu biết, Nhưng ai kết bạn với kẻ phóng đãng làm nhục cha mình.
Kẻ nào nhờ cho vay nặng lãi mà của cải mình tăng thêm, Là chất chứa của ấy cho người có lòng thương xót kẻ nghèo khổ.
Người nào bịt tai không chịu nghe luật pháp, Lời cầu nguyện của người ấy đáng ghê tởm.
Kẻ nào làm cho người ngay thẳng lầm lạc trong đường xấu xa, Chính kẻ đó sẽ sa vào hố mình đã đào; Nhưng người trọn vẹn được hưởng phước lành.
Người giàu tự cho mình là khôn ngoan, Nhưng người nghèo mà thông sáng thì biết rõ người ấy.
Khi người công chính chiến thắng thì được vinh quang lớn, Lúc kẻ gian ác nổi lên, mọi người đều ẩn trốn.
Người nào giấu tội lỗi mình sẽ không được may mắn, Nhưng ai xưng nó ra và lìa bỏ nó thì sẽ được thương xót.
Người kính sợ Chúa luôn luôn hưởng phước; Còn ai cứng lòng sẽ rơi vào tai họa.
Kẻ ác cai trị dân nghèo Khác nào sư tử gầm thét, hoặc gấu đuổi theo mồi.
Kẻ cai trị thiếu hiểu biết chỉ lo bóc lột, Nhưng người ghét lợi bất chính sẽ được trường thọ.
Kẻ mắc nợ máu của một người Sẽ trốn chạy cho đến chết, Đừng ai giúp đỡ nó!
Ai ăn ở cách liêm chính sẽ được cứu rỗi, Còn ai đi theo đường lối bất chính sẽ sa ngã thình lình.
Người nào cày ruộng sẽ đầy lương thực, Nhưng ai theo kẻ lười biếng sẽ đầy sự nghèo khổ.
Người trung tín sẽ được nhiều phước lành, Nhưng kẻ vội làm giàu hẳn không khỏi bị phạt.
Thiên vị là điều chẳng tốt; Vì một mẩu bánh mà người ta có thể phạm tội.
Người có mắt gian tham vội chạy theo của cải, Chẳng biết rằng sự thiếu thốn sẽ ập đến bên mình.
Ai quở trách một người, về sau sẽ được biết ơn Hơn là kẻ dùng lưỡi xu nịnh.
Kẻ nào ăn cắp của cha hay mẹ mình Và nói rằng: “Chẳng phải là phạm tội đâu,” Kẻ ấy là đồng bọn với kẻ phá hoại.
Kẻ tham lam gây ra sự tranh cãi, Nhưng người tin cậy Đức Giê-hô-va sẽ được hưng thịnh.
Kẻ nào tin cậy nơi lòng mình là kẻ ngu muội; Còn ai ăn ở cách khôn ngoan sẽ được cứu rỗi.
Ai ban cho người nghèo sẽ không thiếu thốn, Còn ai nhắm mắt làm ngơ sẽ bị nhiều lời nguyền rủa.
Khi kẻ ác nổi lên, mọi người đều ẩn trốn, Nhưng khi chúng sụp đổ, người công chính lại gia tăng.
Người thường xuyên bị quở trách mà lại cứng cổ, Sẽ bị sụp đổ thình lình, không phương cứu chữa.
Khi người công chính gia tăng thì dân chúng vui mừng, Nhưng khi kẻ ác cai trị, dân chúng lại rên xiết.
Người yêu mến sự khôn ngoan làm cho cha vui thỏa, Còn kẻ kết bạn với phường kỹ nữ, phá tan của cải.
Nhờ công lý, vua làm cho đất nước bền vững, Nhưng ai đòi hối lộ, làm cho đất nước suy vong.
Kẻ nào xu nịnh người lân cận, Là giăng lưới dưới chân người.
Trong tội lỗi của kẻ ác có một cái bẫy, Nhưng người công chính ca hát mừng rỡ.
Người công chính biết quyền lợi của người nghèo khổ, Còn kẻ ác không hiểu điều tri thức ấy.
Kẻ nhạo báng châm lửa cho thành bị thiêu hủy, Nhưng người khôn ngoan làm nguôi cơn giận.
Nếu người khôn ngoan tranh luận với kẻ ngu dại, Dù người giận hay cười cũng chẳng được yên.
Kẻ khát máu ghét người trọn vẹn, Nhưng người ngay thẳng bảo tồn mạng sống người ấy.
Kẻ ngu dại bộc lộ cơn giận dữ của mình, Còn người khôn ngoan kiên nhẫn kiềm chế nó.
Nếu người cai trị lắng nghe lời giả dối, Thì cả bầy tôi trở nên gian ác.
Người nghèo và kẻ áp bức gặp nhau ở điểm nầy: Đức Giê-hô-va ban ánh sáng cho đôi mắt của cả hai.
Vua nào phân xử công minh cho người nghèo Thì ngôi vua sẽ được vững bền mãi mãi.
Roi vọt và sự quở trách ban cho sự khôn ngoan, Còn đứa con phóng túng làm nhục mẹ nó.
Khi kẻ ác tăng thêm thì tội lỗi cũng gia tăng, Nhưng người công chính sẽ thấy sự sụp đổ của chúng.
Hãy sửa phạt con cái, nó sẽ cho con được an tịnh, Và làm cho lòng con vui mừng.
Ở đâu không có khải tượng, dân chúng phóng túng, Nhưng phước cho người biết tuân giữ luật pháp!
Đừng sửa trị đầy tớ bằng lời nói suông, Vì dù nó hiểu, cũng không vâng theo.
Con có thấy kẻ hấp tấp trong lời nói mình chăng? Một kẻ ngu muội còn có hi vọng hơn hắn.
Người nào nuông chiều đầy tớ mình từ thuở nhỏ, Cuối cùng nó trở thành đứa cứng đầu.
Người hay giận gây ra điều tranh cãi, Kẻ nóng tính phạm rất nhiều tội lỗi.
Sự kiêu ngạo của một người sẽ hạ người ấy xuống, Nhưng ai có tinh thần khiêm nhường sẽ được tôn trọng.
Kẻ nào chia phần với tên trộm là ghét linh hồn mình; Nó nghe lời nguyền rủa mà không tiết lộ điều gì.
Lo sợ loài người là một cạm bẫy, Nhưng ai nhờ cậy Đức Giê-hô-va thì được an toàn.
Nhiều người tìm kiếm ân huệ của kẻ cai trị, Nhưng công lý cho con người đến từ Đức Giê-hô-va.
Kẻ bất chính là điều ghê tởm đối với người công chính, Nhưng người sống ngay thẳng là điều ghê tởm cho kẻ ác.
Lời của A-gu-rơ con trai Gia-kê, châm ngôn mà người ấy nói cho Y-thi-ên và U-canh:
Thật, ta ngu dốt hơn ai hết, Ta không có sự thông sáng của con người.
Ta chưa được học sự khôn ngoan, Và chưa học biết tri thức về Đấng Thánh.
Ai đã lên trời rồi lại xuống? Ai đã góp gió trong đôi bàn tay? Ai đã bọc nước trong áo? Ai lập các giới hạn của đất? Tên của Đấng ấy là gì, Và tên con trai Đấng ấy là chi? Nếu con biết, hãy nói đi!
Mọi lời của Đức Chúa Trời đều được tinh luyện; Ngài là cái khiên cho người nương cậy nơi Ngài.
Đừng thêm gì vào lời Ngài, Kẻo con bị Ngài quở trách, Và bị kể là người nói dối chăng!
Con cầu xin Chúa hai điều; Xin Ngài đừng từ chối trước khi con chết:
Xin khiến sự gian ác và lời dối trá cách xa con; Đừng để con nghèo khổ hoặc giàu sang, Xin cho con lương thực đủ dùng;
Kẻo khi dư dật, con từ chối Chúa Mà nói rằng: “Đức Giê-hô-va là ai?” Hoặc khi con bị nghèo khổ mà đi trộm cắp, Và làm ô danh Đức Chúa Trời của con chăng.
Đừng vu khống đầy tớ với chủ nó, Kẻo nó nguyền rủa và con phải mắc tội chăng.
Có hạng người nguyền rủa cha mình Cũng không chúc phước cho mẹ mình.
Có hạng người cho là mình trong sạch, Nhưng chưa được rửa sạch vết nhơ của mình.
Có hạng người có cặp mắt kiêu hãnh, Và mí mắt tự cao làm sao!
Có hạng người có răng sắc như gươm, Hàm răng bén như dao, Để nuốt mất những người bần cùng khỏi đất, Và những người nghèo túng khỏi loài người.
Con đỉa có hai con gái, Chúng kêu: “Hãy cho! Hãy cho!” Có ba điều không bao giờ thỏa mãn, Và bốn điều chẳng bao giờ nói: “Đủ rồi!”
Đó là: Âm phủ, dạ hiếm muộn, Đất khan nước, và lửa, Chẳng bao giờ nói: “Đủ rồi!”
Con mắt nhạo báng cha, Khinh thường việc vâng lời mẹ, Sẽ bị các con quạ nơi thung lũng móc đi, Và các chim ưng con ăn nó.
Có ba việc kỳ diệu quá đối với ta, Và bốn điều mà ta không hiểu nổi:
Đường chim ưng bay trên trời, Lối rắn bò trên tảng đá, Đường tàu chạy giữa biển, Và đường tình ái giữa nam nữ.
Đây là cách sống của người đàn bà ngoại tình: Ăn xong, lau miệng, Và nói: “Tôi có làm gì tội lỗi đâu!”
Có ba điều làm cho trái đất rúng động, Và bốn việc khiến nó không chịu nổi:
Tên nô lệ được lên làm vua, Kẻ ngu dại được no nê thức ăn,
Người đàn bà dễ ghét lấy được chồng, Và đứa tớ gái thay thế bà chủ mình.
Có bốn loài vật nhỏ trên đất, Nhưng rất mực khôn ngoan:
Con kiến dù là loài yếu ớt, Nhưng biết lo dự trữ thức ăn trong mùa hạ;
Con thỏ rừng dù là loài không có sức lực, Nhưng biết làm chỗ ở trong hốc đá;
Loài cào cào dù không có vua chúa, Nhưng bay ra thành đội ngũ;
Con thằn lằn mà người ta lấy tay bắt được, Vẫn ở trong cung vua.
Ba con vật có dáng đi đẹp đẽ, Và bốn loài có bước oai phong:
Sư tử mạnh hơn hết trong các loài vật, Chẳng lui bước trước bất cứ loài nào;
Con gà trống oai vệ; con dê đực; Và vua khi duyệt binh.
Nếu con có dại dột mà tự cao tự đại, Hoặc nếu con có âm mưu điều ác, Hãy lấy tay che miệng lại.
Ép sữa làm ra sữa đông, Và đấm vào mũi làm cho phun máu; Cũng vậy, chọc giận sinh ra điều tranh cãi.
Lời của vua Lê-mu-ên, các châm ngôn mà mẹ vua dạy cho người:
Hỡi con ta! Hỡi con mà dạ ta đã cưu mang! Hỡi con của sự khấn nguyện! Ta nên nói điều gì với con đây?
Đừng trao sức lực con cho đàn bà, Đừng theo con đường khiến cho vua chúa bị bại hoại.
Hỡi Lê-mu-ên, chẳng xứng hợp cho các vua, Chẳng xứng hợp cho các vua uống rượu, Hoặc các quan chức hỏi: “Rượu ở đâu?”
Kẻo khi uống say, họ quên luật lệ, Mà đi ngược lại quyền lợi của người khốn khổ chăng.
Hãy đem chất men cho người sắp chết, Và rượu cho người có lòng đắng cay;
Hãy cho họ uống và quên nỗi nghèo khổ của mình, Chẳng còn nhớ đến nỗi cực nhọc của mình nữa.
Hãy mở miệng bênh vực người câm, Và biện hộ cho những người bị ruồng bỏ.
Hãy mở miệng, xét xử công minh, Bảo vệ quyền lợi cho người nghèo nàn cùng khốn.
Ai có thể tìm được một người nữ tài đức? Giá trị nàng trổi hơn châu ngọc.
Lòng người chồng tin cậy nàng, Chàng sẽ chẳng thiếu hoa lợi.
Trọn đời nàng làm cho chồng được ích lợi, Chứ không gây tổn hại.
Nàng lo tìm lông chiên và sợi gai, Rồi vui vẻ bắt tay vào việc.
Nàng giống như các tàu buôn, Từ xứ xa chở hàng về.
Nàng thức dậy khi trời còn tối, Cung cấp thức ăn cho người nhà, Và giao công việc cho các tớ gái mình.
Nàng để ý đến một cánh đồng và mua nó; Nhờ hoa lợi của hai tay mình, nàng lập một vườn nho.
Nàng thắt lưng bằng sức lực Và làm cho hai cánh tay mạnh mẽ.
Nàng thấy công việc mình được ích lợi; Ban đêm đèn nàng chẳng tắt.
Nàng đặt tay vào con quay, Và các ngón tay nàng cầm con suốt.
Nàng mở rộng tay giúp người nghèo khó, Đưa tay ra tiếp kẻ khốn cùng.
Nàng không sợ người nhà bị lạnh khi tuyết giá, Vì cả nhà đều mặc áo bằng lông chiên đỏ sậm.
Nàng tự làm những chăn mền; Áo quần nàng đều bằng vải gai mịn màu tía.
Nơi cổng thành, chồng nàng được nổi tiếng Khi ngồi chung với các trưởng lão trong xứ.
Nàng may áo quần bằng vải gai đem bán; Cung cấp đai thắt lưng cho nhà buôn.
Nàng mặc lấy sức lực và oai phong, Mỉm cười khi nghĩ đến tương lai.
Miệng nàng nói năng khôn ngoan, Lưỡi nàng khuyên dạy điều nhân ái.
Nàng coi sóc mọi việc trong nhà, Không bao giờ lười biếng.
Con cái nàng trỗi dậy chúc nàng được phước; Chồng nàng cũng khen ngợi nàng rằng:
“Có nhiều người nữ làm việc xuất sắc, Nhưng nàng trổi hơn tất cả.”
Duyên là giả dối, sắc lại hư không, Nhưng người nữ nào kính sợ Đức Giê-hô-va sẽ được khen ngợi.
Hãy ban cho nàng bông trái của tay nàng, Và để các công việc nàng khen ngợi nàng tại cổng thành.
Lời của người truyền đạo, con trai của Đa-vít, vua tại Giê-ru-sa-lem.
Người truyền đạo nói: Hư không của sự hư không, Hư không của sự hư không! Tất cả đều hư không.
Con người được ích lợi gì Khi phải lao khổ nhọc nhằn dưới ánh mặt trời?
Thế hệ nầy qua đi, thế hệ khác đến, Nhưng quả đất cứ tồn tại mãi mãi.
Mặt trời mọc, mặt trời lặn, Rồi vội vã trở về nơi nó mọc.
Gió thổi về hướng nam, Rồi xoay qua hướng bắc; Gió xoay đi vần lại không ngừng, Rồi trở về vòng cũ của nó.
Mọi sông đều đổ vào biển, Nhưng biển vẫn không đầy; Nơi mà sông thường chảy vào, Thì từ đó sông lại tiếp tục chảy ra.
Muôn vật đều mòn mỏi, Loài người không thể nói hết được; Mắt nhìn mãi vẫn không thỏa mãn, Tai nghe mãi cũng chẳng ích gì.
Điều gì đã có chính là điều sẽ có, Điều gì đã làm chính là điều sẽ làm; Chẳng có điều gì mới ở dưới mặt trời.
Nếu có điều gì mà người ta nói: “Hãy xem, cái nầy mới!” Thật ra điều ấy đã có rồi, Trong các thời đại trước chúng ta.
Không ai nhớ đến người thời trước; Và đối với những người thời sau, Là những người chưa xuất hiện, cũng vậy, Những người sau họ cũng không nhớ đến họ.
Ta là người truyền đạo đã làm vua Y-sơ-ra-ên tại Giê-ru-sa-lem.
Ta chuyên tâm tìm hiểu và dùng sự khôn ngoan mình để khảo sát mọi việc xảy ra dưới bầu trời. Đó là công việc lao khổ mà Đức Chúa Trời đã giao cho loài người lo thực hiện.
Ta đã quan sát mọi việc xảy ra dưới ánh mặt trời; kìa, tất cả đều hư không theo luồng gió thổi.
Cái gì đã cong thì không thể làm cho ngay được, Và cái gì đã thiếu thì không thể đếm cho đủ.
Ta tự nhủ: “Nầy, ta đã được sự khôn ngoan hơn tất cả các vua cai trị trước ta tại Giê-ru-sa-lem; thật, ta đã kinh nghiệm nhiều về sự khôn ngoan và tri thức.”
Ta cũng chuyên tâm học biết sự khôn ngoan, học biết sự ngu dại và điên rồ. Ta nhận thấy điều đó cũng chỉ là theo luồng gió thổi.
Vì càng nhiều khôn ngoan, càng thêm phiền não, Ai thêm tri thức là thêm khổ đau.
Ta tự nhủ: “Nầy, ta sẽ thử điều vui sướng và nếm mùi hạnh phúc!” Kìa, điều đó cũng là hư không.
Ta nói: “Cười là điên; vui sướng mà làm chi?”
Ta tự nghĩ phải uống rượu để thân xác vui say mà vẫn giữ tâm trí được khôn ngoan. Ta phải lao vào lối sống điên dại cho đến khi biết đâu là điều tốt mà con người nên làm dưới bầu trời suốt những chuỗi ngày của đời mình.
Ta đã thực hiện những công trình lớn: xây cất cung điện, lập vườn nho,
lập cho mình vườn cây ăn trái và vườn hoa, trồng đủ thứ cây trái ở đó.
Ta đào hồ chứa nước để tưới cả rừng cây đang lớn.
Ta mua nhiều tôi trai tớ gái; cũng có nhiều đầy tớ sinh ra trong nhà ta. Ta có bầy bò và chiên nhiều hơn tất cả những người sống trước ta tại Giê-ru-sa-lem.
Ta cũng thu chứa bạc, vàng và những báu vật của các vua, và từ các tỉnh. Ta có nhiều nam nữ ca sĩ. Còn về lạc thú của đàn ông thì ta có nhiều cung phi mỹ nữ.
Như vậy, ta trở nên cao trọng và vượt trội hơn tất cả các vị vua sống trước ta tại Giê-ru-sa-lem. Hơn nữa, ta vẫn giữ được sự khôn ngoan.
Ta không từ chối điều mắt mình thèm muốn, cũng chẳng ngăn lại điều lòng mình ưa thích, vì lòng ta vui vẻ về mọi công lao của ta; và đó là phần ta được hưởng trong mọi công lao của mình.
Rồi ta ngẫm nghĩ mọi việc tay mình đã làm, và những lao khổ mình đã chịu để làm các công việc ấy; kìa, mọi điều đó là sự hư không, theo luồng gió thổi, và chẳng ích lợi gì cả dưới mặt trời.
Ta quay sang suy nghĩ về sự khôn ngoan, ngu dại, và điên rồ; vì người kế vị vua sẽ làm được gì? Chẳng qua là làm điều người khác đã làm từ lâu rồi.
Ta nhận thấy rằng sự khôn ngoan ích lợi hơn ngu dại, như ánh sáng ích lợi hơn bóng tối.
Người khôn ngoan có con mắt trong đầu mình, Còn kẻ ngu dại bước đi trong bóng tối. Tuy nhiên, ta thấy rồi cả hai sẽ cùng chung một số phận.
Nên ta tự nhủ: “Việc xảy đến cho kẻ dại cũng sẽ xảy đến cho ta; vậy, ta khôn ngoan cho lắm để làm gì?” Ta lại tự nhủ: “Đó cũng là sự hư không.”
Người ta chẳng nhớ mãi người khôn ngoan cũng như kẻ ngu dại; vì trong những ngày sắp đến, tất cả đều bị quên lãng. Phải, người khôn ngoan cũng như kẻ ngu dại đều phải chết!
Vậy, ta ghét cuộc sống, vì đối với ta, mọi việc làm ra dưới ánh mặt trời đều xấu; tất cả đều hư không, theo luồng gió thổi.
Ta cũng ghét mọi công việc mà ta đã vất vả làm ra dưới ánh mặt trời, vì phải để lại cho người sống sau mình.
Ai biết được rằng người ấy sẽ khôn ngoan hay là ngu dại? Dù sao hắn sẽ cai quản mọi việc mà ta đã lấy sự lao khổ và khôn ngoan làm ra dưới ánh mặt trời. Điều đó cũng là sự hư không.
Bởi thế, ta trở nên thất vọng về mọi công việc ta đã lao khổ làm ra dưới ánh mặt trời.
Vì có người làm việc vất vả với sự khôn ngoan, tri thức và tài năng, rồi phải để lại cơ nghiệp của mình cho kẻ chẳng hề lao khổ làm ra nó. Điều đó cũng là một sự hư không và một đại họa.
Vậy, con người được gì qua mọi công việc vất vả và lao tâm khó nhọc mà họ làm dưới ánh mặt trời?
Suốt ngày, người chỉ gặp những chuyện khổ đau; công việc người đầy khó nhọc, đến nỗi ban đêm tâm trí cũng chẳng được nghỉ ngơi. Điều đó cũng là sự hư không.
Không gì tốt hơn cho con người là ăn, uống, và hưởng phước của công lao mình. Ta thấy điều đó cũng đến từ bàn tay Đức Chúa Trời.
Vì ai là người được ăn và hưởng sự vui sướng hơn ta?
Bởi Đức Chúa Trời ban sự khôn ngoan, tri thức và niềm vui cho người nào đẹp lòng Ngài; nhưng Ngài khiến kẻ có tội phải lao khổ mà thu góp chất chứa để rồi trao lại cho người đẹp lòng Đức Chúa Trời. Điều đó cũng là hư không, theo luồng gió thổi.
Mọi việc đều có thời điểm, mọi sự dưới bầu trời đều có định kỳ của nó:
Có kỳ sinh ra, có kỳ chết đi; Có kỳ gieo trồng, có kỳ nhổ vật đã trồng;
Có kỳ giết chết, có kỳ chữa lành; Có kỳ phá đổ, có kỳ xây cất;
Có kỳ khóc lóc, có kỳ vui cười; Có kỳ tang chế, có kỳ nhảy múa;
Có kỳ ném đá, có kỳ gom đá; Có kỳ ôm ấp, có kỳ ruồng bỏ;
Có kỳ tìm kiếm, có kỳ đánh mất; Có kỳ giữ lại, có kỳ ném đi;
Có kỳ xé rách, có kỳ khâu vá; Có kỳ nín lặng, có kỳ lên tiếng;
Có kỳ yêu, có kỳ ghét; Có kỳ chiến tranh, có kỳ hòa bình.
Người làm việc có được ích lợi gì về công lao khó nhọc của mình chăng?
Ta đã thấy công việc mà Đức Chúa Trời giao cho con người phải gắng sức làm.
Mọi việc Đức Chúa Trời đã làm đều là tốt đẹp trong thời điểm của nó. Mặc dù Đức Chúa Trời đặt sự vĩnh cửu trong lòng con người, nhưng họ vẫn không thể hiểu được công việc Ngài làm từ ban đầu cho đến cuối cùng.
Vậy, ta nhận ra rằng chẳng có điều gì tốt hơn cho loài người là vui vẻ và làm lành trọn đời mình.
Hơn nữa, ai nấy hãy ăn, uống và hưởng phước của công lao mình, vì đó cũng là sự ban cho của Đức Chúa Trời.
Ta thấy rằng mọi việc Đức Chúa Trời đã làm thì còn đến đời đời; người ta chẳng thêm gì được, cũng không bớt chi được. Đức Chúa Trời làm như thế để loài người kính sợ Ngài.
Điều gì hiện có thì đã có từ xưa, Điều gì sẽ xảy đến thì đã xảy ra từ lâu rồi; Đức Chúa Trời cho tái diễn những việc đã qua.
Ta lại còn thấy dưới ánh mặt trời: Nơi pháp đình có điều gian ác, Chỗ công lý có sự bất công.
Ta tự nhủ: “Đức Chúa Trời sẽ xét xử người công chính và kẻ gian ác, vì có kỳ định cho mọi sự, mọi việc.”
Ta lại tự nhủ: “Việc xảy ra như vậy, vì Đức Chúa Trời muốn thử nghiệm con người, và chỉ cho họ biết rằng mình không hơn gì loài thú.
Vì việc xảy đến cho loài người và loài thú đều giống nhau; loài nầy chết, loài kia cũng chết. Cả hai đều thở cùng một thứ hơi thở; loài người chẳng hơn gì loài thú, vì tất cả đều hư không.
Tất cả đều quy vào một chỗ; tất cả do bụi đất mà ra, tất cả đều sẽ trở về bụi đất.
Ai biết được, hoặc linh của loài người đi lên, hoặc hồn của loài thú sa xuống đất?”
Thế thì, ta thấy chẳng có gì tốt hơn cho loài người là vui hưởng công việc mình; ấy là phần riêng của mỗi người, vì ai sẽ đem mình trở lại để thấy điều sẽ xảy ra sau nầy?
Ta trở lại xem xét mọi nỗi áp bức diễn ra dưới ánh mặt trời: Kìa, kẻ bị áp bức tuôn trào nước mắt Mà không ai an ủi họ! Kẻ áp bức cậy quyền cậy thế, Nhưng kẻ bị áp bức thì không được ai an ủi!
Vậy nên, ta cho rằng những người chết, Những người đã chết rồi, Có phước hơn những người còn sống, Những người vẫn còn đang sống.
Nhưng có phước hơn hai hạng người kia Là người chưa được sinh ra, Chưa thấy những việc gian ác Diễn ra dưới ánh mặt trời.
Ta nhận thấy con người làm việc với mọi lao khổ và tài năng, chỉ vì muốn ganh đua giữa người nầy với kẻ khác mà thôi. Điều nầy cũng là sự hư không, theo luồng gió thổi.
Kẻ ngu dại khoanh tay lười biếng, Tự hủy hoại chính mình.
Thà đầy một lòng bàn tay mà được thư thái Còn hơn là đầy cả hai bàn tay mà phải lao khổ, Và chạy theo luồng gió thổi.
Ta trở lại xem xét một điều hư không nữa dưới ánh mặt trời:
Có một người sống cô độc; Không con cái, cũng không có anh em. Nhưng người không ngừng lao khổ, Mắt chăm nhìn của cải không hề chán; Người không tự hỏi rằng: “Tôi phải chịu lao khổ, Bắt mình từ bỏ những lạc thú là vì ai?” Đây cũng là sự hư không, Thật là công việc cực nhọc.
Hai người hơn một, Vì họ sẽ được công giá tốt về công lao của mình.
Nếu người này ngã Thì người kia sẽ đỡ bạn mình lên. Nhưng thật khốn khổ cho người sống một mình mà bị ngã, Vì không có ai đỡ mình lên!
Cũng vậy, nếu hai người ngủ chung thì ấm; Còn một mình thì làm sao ấm được?
Hơn nữa, nếu ở một mình dễ bị người khác áp đảo, Nhưng hai người thì có thể chống cự lại; Một sợi dây bện ba tao thật khó đứt.
Một người trẻ nghèo mà khôn, còn hơn một ông vua già mà dại, chẳng còn biết nghe lời khuyên can.
Vì người trẻ ấy ra khỏi ngục để làm vua, dù người sinh ra vốn nghèo nàn trong vương quốc mình.
Ta thấy mọi người sống, đi lại dưới ánh mặt trời, đều theo người thứ nhì trẻ tuổi nầy, là người sẽ lên thay thế vị vua kia.
Dân chúng theo vị vua trẻ nầy đông vô cùng. Tuy nhiên, những thế hệ sau không còn mến phục vua nầy nữa. Thật điều nầy cũng là sự hư không, theo luồng gió thổi.
Hãy cẩn trọng khi con bước chân đến nhà Đức Chúa Trời. Thà đến gần mà lắng nghe hơn là dâng sinh tế như những kẻ ngu dại, vì họ không nhận biết mình làm điều ác.
Con đừng vội vàng mở miệng, Cũng đừng hấp tấp nói điều gì trước mặt Đức Chúa Trời, Vì Đức Chúa Trời ở trên trời, Còn con ở dưới đất. Vậy, hãy ít lời.
Nhiều điều lo lắng sinh ra chiêm bao, Còn nhiều lời thì sinh ra ngu dại.
Khi con hứa nguyện điều gì với Đức Chúa Trời thì đừng chậm trễ hoàn nguyện, vì Ngài chẳng vui thích kẻ dại. Vậy, hãy hoàn thành điều con hứa nguyện.
Thà đừng hứa nguyện hơn là hứa nguyện mà không hoàn nguyện.
Đừng để miệng con khiến con phạm tội, và đừng nói trước mặt sứ giả của Đức Chúa Trời rằng: “Đó là lầm lỡ.” Sao con làm cho Đức Chúa Trời nổi giận vì lời nói của con, và Ngài phá hủy công việc của tay con?
Ở đâu có quá nhiều chiêm bao, ở đó có nhiều điều hư không và lắm lời. Vậy, hãy kính sợ Đức Chúa Trời.
Khi con thấy trong một địa phương có người nghèo bị áp bức, công lý và lẽ phải bị chà đạp, thì đừng ngạc nhiên về vấn đề nầy; vì một quan chức cao được quan chức cao hơn che chở, và trên họ còn có quan chức cao hơn nữa.
Nhưng trong mọi trường hợp, có một vị vua cho những cánh đồng được canh tác vẫn ích lợi cho xứ sở hơn.
Kẻ ham tiền bạc chẳng bao giờ thỏa mãn về tiền bạc; Kẻ ham của cải chẳng bao giờ thỏa mãn về lợi nhuận. Điều nầy cũng là hư không.
Của cải càng thêm nhiều, Người ăn xài cũng gia tăng. Người có của cải được ích lợi gì, Ngoài việc ngắm nhìn nó?
Người làm việc khó nhọc, vẫn ngủ ngon giấc, Dù ăn nhiều hay ít. Nhưng lắm tiền nhiều của Khiến người giàu không yên giấc được.
Có một tai họa trầm trọng mà ta thấy xảy ra dưới ánh mặt trời: Có người chất chứa của cải Lại chuốc lấy điều bất hạnh cho mình.
Vì thất bại trong việc kinh doanh, Người ấy mất hết của cải; Người có sinh một con trai, Nhưng chẳng còn gì để lại cho nó.
Khi lọt lòng mẹ nó trần truồng thể nào Thì sẽ ra đi thể ấy; Khi ra đi trong tay nó chẳng đem theo thứ gì Từ công lao khó nhọc của mình.
Đây cũng là một tai họa trầm trọng: Người vào đời thể nào phải ra đi thể ấy. Vậy, con người phải chịu lao khổ theo luồng gió thổi Thì có ích gì đâu?
Hơn nữa, con người phải sống suốt đời trong tăm tối, Phải chịu nhiều phiền muộn, đau buồn và tức giận.
Kìa, ta thấy rằng thật là tốt đẹp và thích đáng cho con người ăn, uống, và vui hưởng mọi công lao mình làm ra dưới ánh mặt trời trọn đời sống mà Đức Chúa Trời ban cho; vì đó là phần con người được hưởng.
Như thế, tất cả những ai được Đức Chúa Trời ban sự giàu có, của cải, cũng như cho quyền sử dụng của cải ấy sẽ nhận lấy phần mình, và vui hưởng công lao mình làm ra. Đó chính là món quà Đức Chúa Trời ban tặng.
Người ấy sẽ không còn nhớ nhiều về đời sống mình, vì Đức Chúa Trời làm cho lòng người tràn ngập niềm vui.
Ta lại thấy một tai họa khác xảy ra dưới ánh mặt trời, đó là một tai họa lớn đối với loài người:
Có một người được Đức Chúa Trời ban cho sự giàu có, của cải và danh vọng, đến nỗi người không thiếu bất cứ điều gì lòng mình mong muốn. Nhưng Đức Chúa Trời không cho người ấy hưởng những điều đó, mà lại cho một người xa lạ khác hưởng. Đó là sự hư không, một tai họa đau thương.
Nếu có một người sinh hàng trăm con cái và sống lâu trăm tuổi, mà lòng không được thỏa nguyện về các phước lành, và chết chẳng được chôn, ta cho rằng đứa bé chết lúc mới sinh còn có phước hơn người ấy.
Vì nó đến trong sự hư không, lại trở về với bóng tối; tên tuổi nó bị chôn vùi trong bóng tối.
Nó chưa hề thấy, cũng chưa hề biết đến ánh mặt trời; tuy nhiên, nó được an nghỉ hơn người kia.
Giả sử người kia sống đến hai nghìn năm nhưng không hưởng được một chút phước hạnh nào thì có ích gì? Chẳng phải mọi người đều về cùng một chỗ sao?
Mọi nỗi lao khổ của con người là vì miệng mình, nhưng lòng thèm khát thì không bao giờ được thỏa mãn.
Người khôn ngoan có lợi gì hơn kẻ ngu dại? Người nghèo mà biết cách xử thế có được lợi gì không?
Điều mắt thấy tốt hơn là điều mơ ước viển vông. Đây cũng là sự hư không, theo luồng gió thổi.
Điều gì hiện có thì đã được đặt tên từ lâu rồi, loài người sẽ ra sao thì đã được cho biết từ trước; vậy loài người không thể cưỡng lại Đấng mạnh hơn mình.
Càng nhiều lời càng thêm sự hư không; vậy nói nhiều có ích lợi gì cho con người?
Vì ai biết được điều gì là tốt cho con người trong chuỗi ngày hư không và qua mau như chiếc bóng? Ai có thể nói trước cho con người điều gì sẽ xảy ra dưới ánh mặt trời sau khi mình lìa đời?
Danh thơm tiếng tốt hơn dầu quý giá, Ngày chết hơn ngày sinh.
Đi đến nhà tang chế Hơn là đến nhà yến tiệc, Vì đó là điểm cuối cùng của mọi người, Và người sống để tâm suy nghĩ.
Buồn rầu tốt hơn vui cười, Vì nhờ mặt buồn mà lòng được vui.
Lòng người khôn ngoan ở trong nhà tang chế, Còn lòng kẻ ngu dại ở trong chốn vui chơi.
Nghe lời quở trách của người khôn ngoan Tốt hơn nghe lời ca khen của những kẻ ngu dại.
Vì tiếng cười của kẻ ngu dại Giống như tiếng củi gai nổ lách tách dưới nồi. Đó cũng là sự hư không.
Sự áp bức khiến người khôn hóa dại, Của hối lộ làm hư hỏng lòng người.
Kết thúc một việc tốt hơn khởi đầu việc đó; Tính kiên nhẫn tốt hơn tính tự cao.
Đừng vội để cho lòng mình nổi giận, Vì cơn giận nằm sẵn trong bụng kẻ ngu dại.
Đừng hỏi: “Tại sao ngày trước tốt hơn bây giờ?” Vì hỏi như vậy là chẳng khôn ngoan.
Sự khôn ngoan đáng giá như thừa hưởng cơ nghiệp, Và đem lại lợi ích cho những người thấy ánh mặt trời.
Vì núp bóng sự khôn ngoan cũng như núp bóng tiền bạc; Nhưng lợi ích của tri thức là được sự khôn ngoan gìn giữ mạng sống người nào sở hữu nó.
Hãy suy ngẫm về công việc của Đức Chúa Trời; Ai có thể làm cho thẳng được vật mà Ngài đã bẻ cong?
Trong ngày thịnh vượng, hãy vui hưởng, Trong ngày tai họa, hãy suy ngẫm; Vì Đức Chúa Trời cho cả hai ngày ấy xảy ra Để loài người không thể khám phá điều gì sẽ xảy đến trong tương lai.
Trong những ngày hư không của ta, ta đã thấy tất cả mọi điều: Người công chính chết sớm, dù sống công chính; Còn kẻ gian ác lại được sống lâu, dù sống gian ác.
Đừng tỏ ra quá công chính, Cũng đừng tỏ ra quá khôn ngoan; Sao lại hủy hoại chính mình?
Đừng gian ác quá, cũng đừng sống điên dại; Tại sao con phải chết trước kỳ định?
Tốt hơn, con hãy nắm giữ điều nầy Mà cũng đừng buông tay khỏi điều kia, Vì người kính sợ Đức Chúa Trời tránh khỏi mọi điều đó.
Sự khôn ngoan khiến cho người khôn có sức mạnh Hơn cả mười thủ lĩnh trong thành.
Thật, chẳng có người công chính nào trên đất Luôn làm điều thiện mà không bao giờ phạm tội.
Đừng chú tâm đến mọi lời người ta nói, Kẻo con nghe cả lời nguyền rủa của đầy tớ mình chăng!
Vì lòng con biết rõ rằng: Chính con đã nhiều lần nguyền rủa kẻ khác.
Ta đã dùng sự khôn ngoan mà thử nghiệm mọi điều nầy, và ta nói: “Ta sẽ trở nên khôn ngoan,” Nhưng sự khôn ngoan vẫn cách xa ta.
Điều gì xa xôi và sâu thẳm quá, Ai có thể tìm ra được?
Ta lại chuyên tâm tìm hiểu, khảo sát, Và tìm kiếm sự khôn ngoan cùng nguyên lý muôn vật; Ta nhận biết rằng gian ác là ngu xuẩn, Dại dột là điên rồ.
Ta tìm thấy một điều cay đắng hơn sự chết, Đó là người đàn bà có lòng như lưới bẫy, tay như xích xiềng. Ai sống đẹp lòng Đức Chúa Trời sẽ thoát khỏi người đàn bà ấy, Còn kẻ có tội sẽ bị nó bắt lấy.
Người truyền đạo nói: “Sau khi xem xét từng việc một để tìm ra nguyên lý muôn vật, đây là điều ta tìm được.
Đó là điều ta vẫn còn tìm mà chưa tìm ra ý nghĩa: ‘Trong một nghìn người đàn ông, Ta đã tìm được một người; Còn trong tất cả người đàn bà, Ta chẳng tìm được một ai cả.’
Nhưng đây là điều duy nhất ta tìm được: ‘Đức Chúa Trời đã dựng nên con người ngay thẳng, Nhưng chính họ đã tìm ra lắm mưu kế.’”
Ai được như người khôn ngoan? Ai biết được lời giải của sự việc trên đời? Sự khôn ngoan làm cho mặt mày sáng sủa Và biến đổi nét mặt nghiêm khắc.
Ta khuyên phải tuân giữ lệnh vua truyền, vì Đức Chúa Trời có thề hứa với vua.
Đừng vội rời khỏi vua, cũng đừng dự vào âm mưu chống lại vua, vì vua có toàn quyền làm điều mình muốn.
Lời của vua có thẩm quyền tuyệt đối, ai dám hỏi vua rằng: “Bệ hạ làm gì vậy?”
Người tuân lệnh vua sẽ không gặp phải việc chẳng lành, Và lòng người khôn ngoan biết được thời thế và cách ứng phó.
Vì mọi việc đều có thời điểm và cách ứng phó, Dù có nhiều rắc rối khó khăn đè nặng trên con người.
Không ai biết được điều gì sẽ xảy ra; Ai có thể nói trước được điều gì?
Không ai có quyền trên sinh khí để cầm giữ nó lại, Cũng không ai có quyền trên ngày chết. Không ai được miễn trừ trong cuộc chiến đó; Và sự gian ác không cứu được kẻ hành động gian ác.
Ta đã thấy tất cả những điều đó khi chuyên tâm suy nghĩ về mọi việc xảy ra dưới ánh mặt trời. Có khi người nầy cai trị trên người kia, và gây cho người ấy bị tổn hại.
Ta cũng thấy những kẻ gian ác chết và được chôn cất hẳn hoi; từ đất thánh đi ra, dân trong thành chóng quên những việc ác mà người chết đã làm. Đó cũng là sự hư không.
Vì án phạt đối với hành động của kẻ ác không được nhanh chóng thi hành nên lòng dạ con người đầy những âm mưu gian ác.
Dù kẻ có tội làm ác hàng trăm lần mà được sống lâu thì ta vẫn biết rằng người kính sợ Đức Chúa Trời sẽ được phước, vì người kính sợ Ngài.
Nhưng kẻ ác sẽ chẳng được phước, cũng không được sống lâu; đời kẻ ác qua nhanh như bóng vì chúng không kính sợ Đức Chúa Trời.
Còn có một việc hư không nầy nữa xảy ra trên đất: Có lắm người công chính gặp phải những việc như là do họ đã làm điều gian ác; lại có lắm kẻ ác gặp được những việc như là do họ đã làm điều công chính. Ta nói rằng đây cũng là sự hư không.
Ta ca ngợi sự vui sướng, vì dưới ánh mặt trời chẳng có gì tốt cho con người hơn là ăn, uống và vui sướng. Đó là điều gắn liền với chuỗi ngày lao khổ của đời sống mà Đức Chúa Trời ban cho con người dưới ánh mặt trời.
Ta chuyên tâm tìm hiểu sự khôn ngoan và quan sát công việc mà con người đã làm cả ngày lẫn đêm trên đất, không cho mắt mình ngơi nghỉ.
Ta xem xét mọi công việc của Đức Chúa Trời và nhận ra rằng con người không thể khám phá những việc xảy ra dưới ánh mặt trời. Cho dù con người khó nhọc tìm kiếm cũng không khám phá nổi. Ngay cả người khôn ngoan tưởng rằng mình sẽ biết được thì cũng không thể khám phá ra.
Ta đã chuyên tâm nghiên cứu tất cả những điều nầy, và thấy rõ rằng người công chính và khôn ngoan cùng với việc làm của họ đều ở trong tay Đức Chúa Trời; được yêu thương hay bị ghét bỏ, con người không biết được. Tất cả đều thuộc về tương lai.
Mọi việc xảy đến cho mọi người như nhau, cùng chung một số phận: Người công chính cũng như kẻ gian ác, Người tốt cũng như kẻ xấu, Người tinh sạch cũng như kẻ ô uế, Người dâng sinh tế cũng như kẻ không dâng, Người thiện lành cũng như kẻ tội lỗi, Người thề nguyện cũng như kẻ không dám thề nguyện.
Đây là thảm họa trong tất cả những gì xảy ra dưới ánh mặt trời: Vì mọi người chịu chung một số phận nên lòng dạ con người đầy dẫy điều hung ác, và sự điên rồ chiếm hữu tâm trí họ suốt đời, để rốt cuộc phải đi vào cõi chết.
Chỉ những ai thuộc trong số những người sống mới có hi vọng, vì con chó sống còn hơn con sư tử chết!
Người sống biết mình sẽ chết, Nhưng kẻ chết chẳng biết gì cả; Chẳng còn phần thưởng gì cho họ, Vì kỷ niệm về họ đã rơi vào quên lãng.
Ngay cả sự yêu thương, ganh ghét, Và sự đố kỵ của họ cũng đều tiêu tan. Họ sẽ chẳng bao giờ được dự phần gì Trong mọi việc xảy ra dưới ánh mặt trời.
Vậy, hãy ăn cách vui vẻ và uống rượu với lòng hớn hở, vì Đức Chúa Trời đã chấp nhận các việc làm của con.
Hãy luôn ăn mặc như trong ngày lễ hội và đừng quên xức dầu thơm trên đầu con.
Hãy vui sống với người vợ mà con yêu thương trọn những ngày của cuộc đời hư không đã ban cho con dưới ánh mặt trời. Vì đó là phần của con trong cuộc sống, giữa bao công lao khó nhọc mà con đã làm ra dưới ánh mặt trời, suốt những ngày hư không của con.
Mọi việc tay con làm được, hãy làm hết sức mình; vì trong âm phủ, là nơi con đang đi đến, chẳng có công việc, kế hoạch, tri thức hay là sự khôn ngoan.
Ta lại thấy dưới ánh mặt trời: Không phải hễ nhanh chân là chạy giỏi, Mạnh sức là thắng trận, Cũng không phải hễ khôn ngoan là no đủ, Thông sáng là giàu có, Và khôn khéo là được ân huệ; Vì thời thế và cơ hội đều đến cho mọi người.
Con người không biết thời thế của mình. Như cá mắc lưới ác nghiệt, Như chim mắc bẫy, Con người cũng bị mắc nạn Lúc tai họa thình lình ập xuống họ.
Ta cũng thấy một trường hợp xảy ra dưới ánh mặt trời mà sự khôn ngoan rất quan trọng đối với ta.
Có một thành nhỏ kia, với một ít dân cư, bị một vua hùng mạnh đem quân đến bao vây và đắp lũy cao để tấn công nó.
Trong thành đó có một người nghèo mà khôn ngoan, và chính người ấy đã dùng sự khôn ngoan mình giải cứu thành. Nhưng về sau không còn ai nhớ đến người nghèo ấy nữa.
Vậy, ta nói rằng: “Sự khôn ngoan tốt hơn sức mạnh, nhưng sự khôn ngoan của người nghèo bị khinh dể, và lời nói của người ấy không được ai lắng nghe.”
Lời của người khôn ngoan được lắng nghe nơi yên lặng Còn hơn tiếng quát tháo của kẻ chỉ huy đám người khờ dại.
Sự khôn ngoan tốt hơn bất cứ loại vũ khí nào, Nhưng một người phạm tội phá hủy biết bao điều tốt lành.
Con ruồi chết làm thối dầu thơm của người chế nước hoa, Một chút điên dại phương hại đến cả sự khôn ngoan và danh giá.
Lòng người khôn ngoan hướng về điều phải, Còn lòng kẻ ngu dại hướng về điều trái.
Ngay cả khi đi trên đường, kẻ dại thiếu hiểu biết, Và nói cho mọi người rằng mình là kẻ ngu dại.
Nếu người cai trị nổi giận cùng con thì đừng bỏ đi, Vì sự điềm tĩnh tránh được những lỗi lầm nghiêm trọng.
Có một điều tệ hại mà ta đã thấy dưới ánh mặt trời; Một sai lầm xuất phát từ người lãnh đạo:
Đó là kẻ ngu dại được đặt ở địa vị rất cao, Còn người giàu sang lại ở vị trí thấp hèn.
Ta cũng thấy cảnh đầy tớ thì cưỡi ngựa, Trong khi các thủ lĩnh phải đi bộ như đầy tớ.
Kẻ đào hố phải rơi xuống hố, Còn kẻ phá tường sẽ bị rắn cắn.
Ai lăn đá sẽ bị đá gây thương tích; Ai bửa củi có thể bị củi gây hiểm nguy.
Lưỡi rìu cùn mà không mài cho bén, Hẳn phải phí nhiều sức; Nhưng sự khôn ngoan giúp ích cho sự thành công.
Nếu rắn cắn trước khi bị ếm, Thì thầy bùa rắn chẳng còn ích gì.
Miệng người khôn ngoan thốt ra lời ân hậu, Nhưng môi kẻ ngu dại hủy diệt nó.
Nó khởi đầu với lời lẽ điên rồ, Và kết thúc với lời lẽ gian ác ngông cuồng.
Kẻ ngu dại hay lắm lời; Nhưng con người đâu biết được điều gì sẽ xảy đến, Và ai có thể nói cho người biết việc tương lai?
Công việc cực nhọc của kẻ ngu dại làm hắn mệt mỏi Đến nỗi chẳng còn biết đường về thành.
Khốn cho đất nước có vua còn quá trẻ, Và có các nhà lãnh đạo mới sáng đã lo tiệc tùng!
Phước cho đất nước có vua thuộc dòng quý tộc, Và có các nhà lãnh đạo ăn uống có giờ giấc, Cốt để khỏe mạnh chứ không vì no say!
Do biếng nhác nên rường nhà sụp xuống, Đôi tay lười biếng để cho nhà bị dột.
Tiệc tùng để mua vui, Rượu làm cho đời vui vẻ, Và tiền bạc đáp ứng nhu cầu.
Dù trong tư tưởng, con đừng nguyền rủa vua, Dù trong phòng ngủ, con cũng đừng nguyền rủa người giàu có; Vì chim trời có thể đồn ra tiếng nói, Và loài có cánh sẽ thuật lại sự việc.
Hãy rải bánh của con trên mặt nước, Vì sau nhiều ngày, con sẽ tìm lại được.
Hãy chia phần của con cho bảy hoặc tám người, Vì con không biết tai họa nào sẽ xảy ra trên đất.
Khi mây đầy nước Thì mưa tuôn xuống đất; Khi một cây ngã về hướng nam hay hướng bắc, Cây ngã bên nào thì nằm luôn bên đó.
Người nào chỉ ngồi chờ gió thì sẽ không gieo, Còn người cứ đứng trông mây thì sẽ không gặt.
Con không biết đường gió thổi, Cũng chẳng biết bào thai hình thành trong bụng mẹ thế nào; Cũng vậy, con không sao biết được công việc của Đức Chúa Trời Là Đấng tạo dựng muôn vật.
Sáng sớm, hãy đi gieo giống, Chiều đến cũng đừng nghỉ tay; Vì con đâu có biết lần gieo nào thành công, Lần gieo buổi sáng hay buổi chiều, Hoặc cả hai đều mọc tốt như nhau.
Ánh sáng thật là êm dịu; Thật là vui thích cho mắt được thấy ánh mặt trời!
Nếu một người được sống lâu, Hãy vui hưởng tất cả các năm ấy. Nhưng cũng hãy nhớ rằng chuỗi ngày tối tăm sẽ kéo dài; Và mọi việc xảy đến đều là hư không.
Hỡi người trẻ tuổi, hãy vui mừng trong tuổi thiếu niên! Hãy vui hưởng thời thanh xuân của con. Hãy đi theo đường lối lòng mình muốn và mắt mình ưa thích. Nhưng phải biết rằng vì mọi việc ấy, Đức Chúa Trời sẽ đem con ra mà xét xử.
Vậy, hãy xua phiền não khỏi tấm lòng, và cất bỏ điều tai hại khỏi thân xác của con; vì tuổi thiếu niên và thời thanh xuân đều là hư không mà thôi.
Trong tuổi thanh xuân, Hãy tưởng nhớ Đấng Tạo Hóa của con, Trước khi những ngày gian truân ập đến; Trước khi những năm tháng đến gần Mà con nói rằng: “Tôi không thấy thỏa lòng;”
Trước khi mặt trời và ánh sáng, Mặt trăng cùng các ngôi sao trở nên tối tăm, Và mây lại kéo đến sau cơn mưa.
Trong ngày ấy, người giữ nhà run rẩy, Những chàng trai mạnh mẽ phải khòm lưng, Các phụ nữ xay cối phải ngừng lại vì còn số ít, Những người nhìn qua cửa sổ mắt đã mờ đi.
Lúc ấy, hai cánh cửa bên đường đóng lại, Tiếng cối xay nhỏ dần, Người ta bị đánh thức khi nghe tiếng chim hót, Và tiếng các cô gái hát đều hạ xuống.
Người ta cũng sợ sệt khi lên cao, Và kinh hãi lúc đi đường. Bấy giờ, cây hạnh nở hoa, Cào cào lê bước nặng nề; Sự ham muốn không còn nữa, Vì bấy giờ con người đi đến nhà đời đời của mình, Còn những người tang chế đi vòng quanh các đường phố.
Lại hãy nhớ đến Đấng Tạo Hóa trước khi dây bạc đứt Và chén vàng bể; Trước khi vò nước vỡ ra bên suối, Bánh xe gãy ra trên giếng,
Và tro bụi trở về đất như nguyên thủy, Còn thần linh trở về với Đức Chúa Trời là Đấng đã ban nó.
Người truyền đạo nói: “Hư không của sự hư không, Tất cả đều hư không!”
Người truyền đạo không những là người khôn ngoan mà còn là người truyền đạt tri thức cho dân chúng. Ông đã cân nhắc, tìm tòi và sắp xếp nhiều câu châm ngôn.
Người truyền đạo dày công sưu tầm những lời hay ý đẹp, và các lời đã được viết ra đều là trung thực và chân thật.
Lời của người khôn ngoan giống như cây đót của người chăn; các câu châm ngôn được sưu tập khác nào đinh đóng chặt; nó do một người chăn chiên truyền ra.
Hỡi con ta, hãy cẩn thận về bất cứ điều gì vượt quá những lời dạy dỗ nầy. Sách vở viết ra nhiều vô cùng, không bao giờ dứt; còn học hỏi nhiều khiến cho thân xác mệt nhọc.
Lời kết luận cho tất cả những gì đã nghe trên đây là: Hãy kính sợ Đức Chúa Trời và tuân giữ các điều răn của Ngài, Đó là phận sự của con người.
Vì Đức Chúa Trời sẽ đem ra xét xử mọi việc, Kể cả những việc kín giấu, dù thiện hay ác.
Nhã ca, bài ca tuyệt diệu về Sa-lô-môn
Ước gì chàng hôn em với nụ hôn từ miệng chàng! Vì tình anh nồng nàn hơn rượu.
Dầu của anh tỏa ngát hương nồng, Danh tiếng của anh như dầu thơm tuôn chảy; Thảo nào bao thiếu nữ mến yêu anh.
Xin kéo em theo anh, chúng ta cùng mau bước, — Vua đã đưa em về hoàng cung — Chúng ta cùng vui mừng hớn hở với anh, Cùng ca ngợi tình anh, nồng nàn hơn rượu. Các thiếu nữ làm sao mà không yêu anh được!
Hỡi các thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, Tôi đen nhưng xinh đẹp, Đen như các trại Kê-đa, Xinh đẹp như các bức màn của Sa-lô-môn.
Xin đừng nhìn chăm vào tôi vì tôi đen, Mặt trời đã làm sạm da tôi; Các con trai của mẹ tôi giận tôi, Đã giao tôi chăm sóc các vườn nho; Còn vườn nho riêng của tôi, tôi lại không chăm sóc!
Hỡi người yêu dấu của lòng em, Xin cho em biết anh chăn bầy ở đâu, Anh cho chúng nghỉ trưa tại nơi nào; Vì sao em phải như người nữ che mặt Bên bầy của các bạn anh?
Nầy người xinh đẹp nhất trong các người nữ, Nếu em không biết, Thì đi theo dấu của bầy, Dẫn đàn dê con đi ăn Cạnh trại các người chăn.
Người yêu dấu của anh ơi, Anh ví em như con tuấn mã kéo chiến xa của Pha-ra-ôn.
Đôi má em xinh đẹp với các vòng trang sức; Cổ em điểm thêm chuỗi hột trân châu.
Chúng ta sẽ làm cho em Vòng trang sức vàng đính hột bạc.
Trong khi vua ngự nơi nội cung, Dầu cam tùng của tôi tỏa ngát hương thơm.
Với tôi, người yêu của tôi như bó hoa mộc dược Nằm gọn trên ngực tôi.
Với tôi, người yêu tôi là bó hoa phụng tiên Trong vườn nho Ên Ghê-đi.
Người yêu dấu xinh đẹp của anh ơi, Em xinh đẹp và duyên dáng làm sao! Đôi mắt em như đôi mắt bồ câu.
Người yêu của em ơi, anh đẹp trai, Anh thật đáng yêu! Giường chúng ta là cánh đồng xanh ngát.
Những cây xà nhà chúng ta đều bằng gỗ bá hương, Ván ép tường bằng gỗ bá tùng.
Em là đóa tường vi trong cánh đồng Sa-rôn, Là cành huệ trong thung lũng sâu.
Người yêu của anh giữa các thiếu nữ, Như cành huệ giữa đám gai gốc.
Người em yêu giữa các thanh niên, Như cây táo giữa đám cây rừng. Em thích thú được ngồi dưới bóng chàng, Và trái chàng ngọt lịm trong miệng em.
Chàng đưa tôi vào phòng yến tiệc, Ngọn cờ tình yêu phất phới trên tôi.
Xin bổ sức cho tôi bằng bánh nho khô, Làm tươi mát tôi bằng những trái táo; Vì tôi đã ốm tương tư.
Tay trái chàng kê cho tôi gối, Còn tay phải chàng ôm lấy tôi.
Nầy các thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, tôi van xin các cô, Nhân danh đàn hoàng dương và bầy nai đồng nội, Xin đừng khuấy động, đừng đánh thức tình yêu của tôi Cho đến khi tình yêu thỏa nguyện.
Tiếng người yêu tôi đâu đây! Kìa, chàng đến, Nhảy qua các núi, Vượt qua các đồi.
Người yêu tôi như con hoàng dương, Tựa như chú nai tơ. Kìa, chàng đứng sau bức tường nhà chúng tôi, Nhìn ngang qua cửa sổ, Xuyên qua các song cửa.
Người yêu của tôi lên tiếng gọi: “Người yêu dấu, Người đẹp của anh ơi, Hãy mau đến bên anh!
Vì mùa đông đã qua, Mưa không còn rơi nữa;
Muôn hoa nở ra trên đất; Mùa hát xướng đã đến, Và tiếng chim hót vang Khắp mọi nẻo quê nhà.
Cây vả đang kết trái đầu mùa, Nho đang tỏa ngát hương thơm. Người yêu dấu của anh, Người đẹp của anh ơi, Hãy mau đến bên anh!
Bồ câu của anh ơi! Em ẩn mình trong khe đá, bên vách núi cheo leo, Cho anh được nhìn gương mặt em, Và nghe giọng nói em; Vì giọng em ngọt dịu, Gương mặt em yêu kiều.
Xin bắt giúp chúng tôi những con chồn, Những con chồn nhỏ Phá hoại vườn nho; Vì vườn nho chúng tôi đang trổ hoa.”
Người yêu dấu thuộc về tôi, và tôi thuộc về chàng; Chàng cho bầy ăn cỏ giữa đám hoa huệ.
Cho đến khi gió ban mai nhẹ thổi, Và bóng tối tan đi. Người em yêu ơi! Hãy trở về, Như chú hoàng dương Hay con nai tơ trên núi đồi Bê-thẹt.
Đêm về, trên giường ngủ Tôi tìm người mà lòng tôi yêu mến, Tôi tìm kiếm chàng mà không gặp.
Tôi sẽ dậy và đi rảo quanh thành, Khắp các đường phố và quảng trường; Tôi tìm người mà lòng tôi yêu mến. Tôi tìm kiếm chàng mà không gặp.
Những người lính canh gặp tôi Khi họ đi tuần quanh phố. Tôi hỏi: “Các anh có thấy người mà lòng tôi yêu mến không?”
Vừa quay lưng khỏi họ, Tôi đã gặp người mà lòng tôi yêu mến. Tôi ôm chặt lấy chàng, không chịu buông ra Cho đến khi đưa chàng về nhà mẹ tôi, Vào phòng của người đã mang thai tôi.
Nầy các thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, tôi van xin các cô, Nhân danh đàn hoàng dương và bầy nai đồng nội, Xin đừng khuấy động, đừng đánh thức tình yêu của tôi Cho đến khi tình yêu thỏa nguyện.
Ai từ hoang mạc đi lên, Trông như cột khói, Tỏa ngát mùi nhũ hương mộc dược, Ngào ngạt hương phấn mua từ các lái buôn?
Xem kìa, xa giá vua Sa-lô-môn! Có sáu mươi dũng sĩ hộ tống, Những dũng sĩ của Y-sơ-ra-ên.
Tất cả đều cầm gươm Đầy kinh nghiệm chiến trường, Ai cũng mang gươm bên mình Phòng bất trắc đêm hôm.
Vua Sa-lô-môn đặt làm kiệu cho mình Bằng gỗ rừng Li-ban.
Vua làm các trụ kiệu bằng bạc, Lưng kiệu bằng vàng, ghế kiệu bọc vải màu điều, Bên trong bài trí thật dễ thương Bởi các thiếu nữ Giê-ru-sa-lem.
Nầy, các cô gái Si-ôn, Mau ra xem vua Sa-lô-môn. Vua đội chiếc vương miện mà mẹ vua đã đặt trên đầu vua Trong ngày cưới của vua, Ngày mà lòng vua vui thỏa.
Người yêu dấu ơi, em xinh đẹp quá, Em xinh đẹp vô cùng! Mắt em như đôi bồ câu Núp sau tấm mạng che mặt; Tóc em như bầy dê Nhảy tung tăng trên triền Ga-la-át.
Răng em như bầy chiên sắp hớt lông, Vừa tắm mát đi lên, Tất cả theo từng cặp, Không con nào lẻ loi.
Môi em như sợi chỉ hồng, Miệng em xinh xinh; Đôi má em như quả lựu bổ đôi, Ửng hồng sau tấm mạng che mặt.
Cổ em như tháp Đa-vít, Xây lên để trưng bày binh khí; Hàng nghìn thuẫn khiên treo lên đó, Toàn là thuẫn khiên của các anh hùng.
Ngực em như đôi nai tơ, Như cặp hoàng dương song sinh, Đang ăn cỏ giữa đồng hoa huệ.
Cho đến khi gió ban mai nhẹ thổi Và bóng tối tan đi, Ta sẽ lên núi mộc dược, Đến đồi nhũ hương.
Người yêu ơi, em đẹp tuyệt trần, Không tì không vết mười phân vẹn mười.
Nầy cô dâu của anh, hãy cùng anh rời núi Li-ban, Hãy cùng anh rời núi Li-ban. Hãy rời đỉnh A-ma-na, Đỉnh Sa-nia và Hẹt-môn, Rời hang sư tử, Rời núi hùm beo.
Nầy em gái của anh, nàng dâu của anh, Em đã cướp đi trái tim anh Bằng cái liếc mắt; Chỉ với chuỗi trân châu trên cổ Em đã cướp đi trái tim anh.
Nầy em gái của anh, nàng dâu của anh, Tình em ngọt ngào biết bao! Tình em nồng nàn hơn rượu, Nước hoa em không hương liệu nào bằng!
Cô dâu của anh ơi, môi em nhỏ từng giọt mật, Dưới lưỡi em giấu mật ong và sữa; Áo em tỏa ngát như hương rừng Li-ban.
Nầy em gái của anh, nàng dâu của anh Là khu vườn đóng kín; Là nguồn nước ngăn lại, Là suối nước niêm phong.
Là vườn thạch lựu với các chồi non, Với đủ loại trái cây tuyển chọn, Hoa phụng tiên và cây cam tùng;
Cam tùng và hồng hoa, Xương bồ và nhục quế, Và mọi thứ cây có mùi thơm, Mộc dược, lô hội Cùng các hương liệu tuyệt hảo.
Em là mạch nước trong vườn, Là nguồn nước sống tuôn chảy, Là dòng suối ra từ Li-ban!
Hỡi gió bắc, hãy nổi lên, Hỡi gió nam, hãy kéo đến! Hãy thổi trên vườn tôi, Để hương thơm lan tỏa! Ước gì người yêu dấu của tôi vào trong vườn chàng, Và thưởng thức nhiều hoa thơm trái ngọt!
Nầy em gái của anh, nàng dâu của anh, Anh đã vào trong vườn anh rồi! Anh đã hái mộc dược và hương liệu, Ăn tàng ong với mật, Uống rượu với sữa. Các bạn ơi, hãy ăn! Bằng hữu ơi, hãy say men tình yêu!
Tôi ngủ nhưng lòng tôi tỉnh thức. Kìa! Người yêu tôi gõ cửa: “Mở cửa cho anh, em gái của anh, người yêu của anh, Chim bồ câu của anh, người tuyệt hảo của anh! Vì đầu anh ướt đẫm, Mái tóc anh thấm giọt sương đêm.”
Tôi đã thay áo ngoài rồi, Làm sao mặc lại? Tôi đã rửa chân rồi, Làm sao để lấm lại?
Người yêu tôi luồn tay qua khe cửa, Lòng dạ tôi xao xuyến vì chàng.
Tôi liền trỗi dậy mở cửa cho người yêu; Đôi tay tôi nhỏ giọt mộc dược, Và ngón tay tôi thấm đầy mộc dược Chảy xuống cả then cài cửa.
Tôi mở cửa cho người yêu tôi, Nhưng người yêu tôi đã bỏ đi mất rồi. Chàng bỏ đi, lòng tôi chết lịm. Tôi tìm chàng nhưng không gặp; Tôi gọi chàng nhưng chàng không đáp lại.
Các lính gác đi tuần trong phố đã gặp tôi, Chúng đánh tôi, gây thương tích cho tôi; Các kẻ canh giữ tường thành Lột cả áo choàng tôi.
Nầy các thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, tôi van xin các cô, Nếu gặp người tôi yêu dấu, Xin nhắn với chàng rằng Tôi đang ốm tương tư.
Hỡi người nữ đẹp nhất trong các người nữ, Người yêu của chị có hơn gì người khác không? Người yêu của chị có hơn gì người khác Mà chị phải van xin chúng tôi như vậy?
Người yêu tôi trắng trẻo hồng hào, Tuyệt nhất trong muôn người.
Đầu chàng là vàng tinh ròng; Mái tóc gợn sóng Đen nhánh như lông quạ.
Mắt chàng như đôi chim bồ câu Đứng bên dòng suối, Tắm mát trong sữa, Rất hợp với gương mặt chàng.
Đôi má chàng như luống hoa thơm, Tỏa hương ngào ngạt; Môi chàng như hoa huệ, Đẫm mộc dược chảy ròng.
Tay chàng như những ống bằng vàng Nạm hoàng ngọc. Thân thể chàng như khối ngà bóng láng Cẩn ngọc bích.
Đôi chân chàng như cặp trụ cẩm thạch trắng Đặt trên đế vàng ròng; Tướng mạo chàng như núi Li-ban, Tươi tốt như cây bá hương.
Miệng chàng rất ngọt ngào, Cả con người chàng thật đáng yêu. Nầy các thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, Người yêu tôi là thế, bạn tình tôi như vậy đó!
Hỡi người đẹp nhất trong các người nữ, Người yêu của chị đi đâu? Người yêu của chị quay về hướng nào Để chúng tôi cùng chị đi tìm?
Người yêu tôi đi xuống vườn chàng, Chỗ trồng các luống hương liệu, Để cho bầy ăn cỏ trong vườn, Và hái các cành hoa huệ.
Tôi thuộc về người yêu dấu và người yêu dấu thuộc về tôi; Chàng cho bầy ăn cỏ giữa đám hoa huệ.
Người yêu dấu ơi, em đẹp như thành Tiệt-sa, Duyên dáng như Giê-ru-sa-lem, Oai phong như đạo quân giương cờ xung trận.
Thôi đừng nhìn anh nữa, Vì đôi mắt em làm anh bối rối! Tóc em như bầy dê Nhảy tung tăng trên triền Ga-la-át.
Răng em như bầy chiên cái, Vừa tắm mát đi lên, Tất cả theo từng cặp, Không con nào lẻ loi.
Đôi má em như quả lựu bổ đôi, Ửng hồng sau tấm mạng che mặt.
Có sáu mươi hoàng hậu, tám mươi cung phi, Và vô số cung nữ.
Nhưng chim bồ câu, người tuyệt hảo của anh ơi, em là số một! Là con gái duy nhất của mẹ nàng, Đứa con yêu quý nhất của người đã sinh ra nàng. Các thiếu nữ thấy nàng đều khen nàng có phước. Các hoàng hậu và cung phi đều ca ngợi nàng.
Người nữ kia là ai mà xuất hiện như rạng đông, Đẹp như mặt trăng, rực rỡ như mặt trời, Oai phong như đạo quân giương cờ xung trận?
Tôi đi xuống vườn hạnh đào, Để ngắm những chồi non trong thung lũng, Xem vườn nho đã nứt lộc, Thạch lựu đã ra hoa hay chưa.
Em chưa hay biết gì, Thì bỗng nhiên em được đưa lên xe của nhà quyền quý.
Su-la-mít ơi, hãy trở về, hãy trở về! Hãy trở về, trở về, để chúng tôi được ngắm nhìn cô. Vì sao các bạn muốn ngắm nhìn Su-la-mít, Như xem điệu múa của Ma-ha-na-im?
Hỡi công nương, Chân em đi dép đẹp làm sao! Đùi em khác nào vòng trang sức, Tuyệt tác của một nghệ sĩ tài năng.
Rốn em như chung rượu tròn Không bao giờ cạn. Bụng em như đống lúa mạch, Có hoa huệ bao quanh.
Ngực em như đôi nai tơ Như cặp hoàng dương song sinh.
Cổ em như ngọn tháp ngà. Mắt em là hồ nước Hết-bôn Bên cổng thành Bát Ra-bim; Mũi em như ngọn tháp Li-ban Nhìn xuống thành Đa-mách.
Đầu em ngẩng cao như núi Cạt-mên, Tóc em buông dài óng ả, Khiến cho vua cũng mê mải vấn vương.
Em đẹp biết bao, em diễm tuyệt vô cùng, Người yêu dấu ơi, em làm anh say đắm!
Dáng em như thân cọ dừa, Ngực em là chùm trái chín.
Anh thầm nghĩ, Ta sẽ trèo lên cây cọ dừa nầy, Níu lấy các tàu có chùm trái chín; Ước gì ngực em như chùm nho, Hơi thở em ngát mùi hương táo.
Và môi em đượm rượu tuyệt hảo. Mong sao rượu cứ êm ả chảy vào người em yêu, Tràn lên đôi môi người đang ngủ.
Tôi thuộc về người tôi yêu dấu, Ước muốn của chàng dành cho tôi.
Người yêu ơi, hãy đến, Chúng mình sẽ đi ra ngoài đồng, Và nghỉ đêm nơi làng quê.
Chúng mình sẽ dậy sớm đi thăm vườn nho, Xem thử nho đã nứt lộc, Hoa đã nở, Thạch lựu đã trổ bông hay chưa. Tại đó em sẽ dâng tặng tình yêu cho anh.
Trái táo rừng tỏa ngát hương thơm, Tại cửa chúng ta có sẵn mọi thứ trái ngon Cả mới lẫn cũ, Em để dành cho anh, anh yêu dấu của em!
Ước gì anh như anh trai của em, Cùng bú chung bầu sữa mẹ! Để khi gặp anh ngoài đường, Em có thể hôn anh Mà không ai khinh bỉ.
Em sẽ dẫn đưa anh về nhà mẹ em, Tại đó anh sẽ dạy em. Em sẽ mời anh uống rượu thơm, Và uống nước trái thạch lựu.
Tay trái chàng kê cho tôi gối, Còn tay phải chàng ôm lấy tôi.
Nầy các thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, tôi van xin các cô, Đừng khuấy động, đừng đánh thức tình yêu của tôi Cho đến khi tình yêu thỏa nguyện.
Ai kia đang từ hoang mạc đi lên, Nương tựa vào người yêu? Dưới cây táo em đã đánh thức anh. Chính nơi đây mẹ anh đã nhọc nhằn vì anh, Chính nơi đây mẹ anh đau đớn sinh ra anh.
Xin đặt em như chiếc ấn nơi tim anh, Như chiếc ấn trên cánh tay anh; Vì tình yêu say đắm mạnh như sự chết, Lòng ghen mãnh liệt như âm phủ. Lửa tình bùng lên rực sáng, Như ngọn lửa của Đức Giê-hô-va.
Nước lũ không dập tắt được tình yêu, Các sông không nhận chìm nó được. Nếu có ai đem hết gia tài mình Để có được tình yêu, Thì sẽ bị người đời khinh khi thậm tệ.
Chúng tôi có cô em gái nhỏ, Chưa có ngực. Phải làm gì cho em gái chúng ta Trong ngày người ta dạm hỏi nó?
Nếu em là bức tường thành, Chúng tôi sẽ xây trên em một tháp bạc; Nếu em là cánh cửa, Chúng tôi sẽ đóng lại bằng ván hương nam.
Em là bức tường thành, Ngực em như những ngọn tháp; Vì thế, dưới mắt chàng Em là nguồn bình an.
Sa-lô-môn có một vườn nho tại Ba-anh Ha-môn: Vua giao vườn ấy cho các tá điền; Khi thu hoa lợi mỗi người phải nộp cho vua một nghìn miếng bạc.
Tâu vua Sa-lô-môn, một nghìn miếng bạc là của vua, Hai trăm là của các tá điền. Còn vườn nho của em là của em.
Nầy em đang ở trong vườn, Bạn bè đợi tiếng oanh vàng của em! Cho anh nghe giọng em nào!
Mau lên anh, hỡi người yêu dấu, Hãy như con hoàng dương Hay là chú nai con Trên núi đồi thơm ngát!
Vào thời Ô-xia, Giô-tham, A-cha và Ê-xê-chia, là các vua nước Giu-đa, thì Ê-sai, con trai A-mốt, nhận khải tượng về nước Giu-đa và thành Giê-ru-sa-lem.
Hỡi các tầng trời hãy nghe, hỡi đất hãy lắng tai! Vì Đức Giê-hô-va phán rằng: “Ta đã nuôi nấng con cái, cho chúng lớn khôn, Nhưng chúng phản loạn cùng Ta.
Bò còn biết chủ mình, Lừa còn biết máng cỏ của chủ; Nhưng Y-sơ-ra-ên thì không biết, Dân Ta chẳng hiểu gì.”
Khốn cho quốc gia tội lỗi, Dân tộc phạm tội nặng nề, Dòng dõi làm ác, Con cái đồi bại kia! Chúng đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va, Khinh bỉ Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, Trở nên xa lạ và quay lưng đi.
Sao các ngươi cứ tiếp tục nổi loạn Để lại bị trừng phạt nữa? Cả đầu đều bị thương tích, Lòng dạ đều tan nát.
Từ bàn chân cho đến đỉnh đầu, Không chỗ nào lành, Những thương tích, vết sưng bầm, Và những vết thương mới, Chưa được rịt lại, chưa được băng bó, Cũng chưa được xoa dầu cho êm.
Xứ sở các ngươi bị hoang tàn, Thành trì các ngươi bị thiêu hủy; Đất đai các ngươi bị ngoại bang thôn tính Ngay trước mặt các ngươi, Khiến nó hoang tàn khi bị ngoại bang đạp đổ.
Con gái Si-ôn bị bỏ lại Như túp lều trong vườn nho, Như chòi canh trong ruộng dưa, Như thành bị bao vây.
Nếu Đức Giê-hô-va vạn quân Không chừa lại cho chúng ta một ít người sống sót, Thì chúng ta đã như thành Sô-đôm Và giống như thành Gô-mô-rơ rồi!
Hỡi các thủ lĩnh Sô-đôm, Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va! Hỡi dân Gô-mô-rơ, Hãy lắng tai nghe luật pháp của Đức Chúa Trời chúng ta!
Đức Giê-hô-va phán: “Vô số sinh tế của các ngươi chẳng có ý nghĩa gì đối với Ta? Ta đã chán các tế lễ thiêu bằng chiên đực, Và mỡ của súc vật mập. Ta chẳng hài lòng về máu của bò đực, Hoặc chiên con và dê đực.
Khi các ngươi đến trước mặt Ta, Ai đòi hỏi điều nầy từ tay các ngươi, Để các ngươi giày đạp hành lang Ta?
Đừng tiếp tục đem tế lễ chay vô ích đến nữa! Ta ghê tởm trầm hương, Lễ hội trăng mới, ngày sa-bát và các cuộc nhóm họp khác; Ta không chịu nổi việc cứ phạm tội rồi lại nhóm họp trọng thể.
Ta chán ghét các lễ hội trăng mới Và những lễ hội định kỳ của các ngươi. Các lễ hội ấy trở thành gánh nặng cho Ta, Ta mệt mỏi mà mang chúng.
Vì thế, khi các ngươi đưa tay lên, Thì Ta che mắt khỏi các ngươi. Cho dù các ngươi có cầu nguyện nhiều, Ta cũng chẳng nghe. Vì tay các ngươi đẫm máu.
Hãy rửa cho sạch, hãy thanh tẩy chính mình! Hãy loại bỏ những việc ác khỏi mắt Ta; Đừng làm điều ác nữa.
Hãy học làm lành, Tìm kiếm công lý; Giúp đỡ người bị áp bức, Xét xử công minh cho kẻ mồ côi, Bênh vực lý lẽ người góa bụa.”
Đức Giê-hô-va phán: “Bây giờ hãy đến, để chúng ta biện luận với nhau: Dù tội các ngươi đỏ như son, Sẽ trở nên trắng như tuyết; Dù đỏ thắm như vải điều, Sẽ trở nên trắng như lông chiên.
Nếu các ngươi sẵn lòng vâng lời, Thì sẽ được ăn sản vật tốt lành của đất.
Nhưng nếu các ngươi khước từ và nổi loạn, Các ngươi sẽ bị hủy diệt bởi gươm; Vì miệng Đức Giê-hô-va đã phán.”
Ôi! Một thành trung nghĩa Đã trở nên gái điếm! Nó vốn đầy công lý, Và là nơi công chính ngự trị. Nhưng nay đầy những kẻ giết người!
Bạc của ngươi biến thành cặn bã, Rượu nho của ngươi bị pha loãng với nước.
Cấp lãnh đạo của ngươi là những kẻ nổi loạn, Liên kết với những kẻ trộm cướp. Tất cả bọn họ đều thích ăn hối lộ, Và chạy theo quà cáp. Họ không xét xử công minh cho kẻ mồ côi, Cũng chẳng đếm xỉa gì đến vụ kiện của người góa bụa.
Vì thế, Chúa là Đức Giê-hô-va vạn quân, Đấng quyền năng của Y-sơ-ra-ên phán: “Nầy! Ta sẽ thỏa dạ về sự trừng phạt kẻ đối địch Ta, Và báo trả những kẻ thù của Ta.
Ta sẽ ra tay chống lại ngươi; Luyện cho ngươi sạch hết cáu cặn như luyện kim, Và loại bỏ mọi tạp chất khỏi ngươi.
Ta sẽ lập lại các quan xét của ngươi như trước, Và các cố vấn như thuở ban đầu. Sau đó, ngươi sẽ được gọi là thành phố công chính, Là thành trung nghĩa.”
Si-ôn sẽ được chuộc bởi công lý, Và dân trong thành ăn năn sẽ được chuộc bởi sự công chính.
Nhưng những kẻ phản loạn và có tội sẽ cùng bị đập tan, Còn những kẻ bỏ Đức Giê-hô-va sẽ bị diệt vong.
Vậy các ngươi sẽ hổ thẹn vì cây cối Mà mình ưa thích; Và xấu hổ vì các khu vườn Mà mình đã chọn.
Vì các ngươi sẽ giống như cây thông khô lá, Như vườn không có nước.
Người mạnh sẽ như sợi gai thô, Việc làm của nó như tia lửa, Cả hai sẽ cùng nhau cháy, Chẳng ai dập tắt được.
Đây là điều mà Ê-sai, con trai A-mốt, đã thấy về Giu-đa và Giê-ru-sa-lem:
Trong những ngày cuối cùng, Núi của đền thờ Đức Giê-hô-va Sẽ được lập vững trên các đỉnh núi, Vượt cao hơn các đồi. Mọi quốc gia sẽ đổ về đó,
Nhiều dân tộc sẽ đến và nói rằng: “Hãy đến, chúng ta hãy lên núi Đức Giê-hô-va, Đến đền thờ Đức Chúa Trời của Gia-cốp. Ngài sẽ dạy chúng ta đường lối Ngài, Chúng ta sẽ đi trong các nẻo Ngài.” Vì luật pháp sẽ ra từ Si-ôn, Và lời Đức Giê-hô-va sẽ ra từ Giê-ru-sa-lem.
Ngài sẽ phán xét giữa các quốc gia, Và phân xử cho nhiều dân tộc. Bấy giờ, họ sẽ lấy gươm rèn lưỡi cày, Lấy giáo rèn lưỡi liềm. Nước nầy không còn vung gươm đánh nước kia, Họ cũng không còn luyện tập chinh chiến nữa.
Hỡi nhà Gia-cốp, hãy đến! Chúng ta hãy bước đi trong ánh sáng của Đức Giê-hô-va.
Thật, Chúa đã từ bỏ dân Ngài là nhà Gia-cốp. Vì họ đầy dẫy thói tục phương Đông, Và bói toán như người Phi-li-tin; Họ lại bắt tay với con cái dân ngoại.
Đất nước họ đầy bạc vàng Và châu báu nhiều vô kể; Đất nước họ đầy dẫy ngựa chiến Và vô số chiến xa.
Đất nước họ đầy những tượng thần; Họ thờ lạy vật do tay mình làm ra, Là vật ngón tay họ tạo nên.
Như thế, loài người bị khuất phục, Con người bị hạ xuống; Vậy xin Chúa đừng tha thứ cho họ!
Hãy vào trong tảng đá, Ẩn mình trong bụi đất Để tránh khỏi sự kinh khiếp từ Đức Giê-hô-va, Và tránh khỏi sự chói sáng của uy nghiêm Ngài.
Con mắt kiêu căng của loài người sẽ bị hạ xuống, Sự ngạo mạn của con người sẽ bị khuất phục; Trong ngày đó, Chỉ một mình Đức Giê-hô-va được tôn cao.
Vì Đức Giê-hô-va vạn quân đã định một ngày Chống lại mọi kẻ kiêu căng, ngạo mạn, và tự cao; Chúng sẽ bị hạ xuống.
Ngài cũng chống lại mọi cây bá hương của Li-ban Ngạo nghễ, vươn cao, Và mọi cây sồi của Ba-san,
Cùng tất cả các núi cao, Và mọi đồi cả;
Cũng chống lại mọi tháp cao, Mọi tường thành kiên cố,
Mọi tàu bè của Ta-rê-si, Và tất cả tàu thuyền sang trọng.
Tính kiêu căng của loài người sẽ bị khuất phục, Và sự ngạo mạn của con người sẽ bị hạ xuống; Trong ngày đó, chỉ một mình Đức Giê-hô-va được tôn cao.
Bấy giờ, các tượng thần đều sẽ biến mất hoàn toàn.
Người ta sẽ chui vào các hang đá Và trong các hầm dưới đất, Để tránh sự kinh khiếp từ Đức Giê-hô-va Và sự chói sáng của uy nghiêm Ngài, Khi Ngài đứng lên làm cho đất rúng động.
Trong ngày đó, người ta sẽ ném Cho chuột, cho dơi Những tượng thần bằng bạc, bằng vàng, Mà họ đã làm ra để thờ lạy.
Họ sẽ chui vào các hang đá Và khe đá cheo leo, Để tránh khỏi sự kinh khiếp từ Đức Giê-hô-va Và sự chói sáng của uy nghiêm Ngài, Khi Ngài đứng lên làm cho đất rúng động.
Đừng trông cậy nơi con người Là loài có hơi thở trong lỗ mũi, Vì họ nào có đáng giá gì đâu?
Nầy, Chúa là Đức Giê-hô-va vạn quân Sẽ cất khỏi Giê-ru-sa-lem và Giu-đa Nguồn cung cấp và nơi nương cậy, Tức là mọi nguồn cung cấp bánh và nước.
Ngài sẽ cất đi những anh hùng và chiến sĩ, Quan xét và nhà tiên tri, Thầy bói và trưởng lão,
Chỉ huy trưởng năm mươi quân Và các nhân sĩ, cố vấn, Những người thạo nghề ma thuật Và các phù thủy chuyên nghiệp.
Ta sẽ cho những cậu bé chỉ huy họ, Và lũ trẻ con sẽ cai trị họ.
Dân chúng lấn lướt nhau, Giữa người nầy với người kia, Người lân cận với người lân cận. Người trẻ hỗn láo với người già, Người hèn hạ lấn lướt người tôn trọng.
Khi người ta sẽ bắt một anh em Trong nhà cha mình mà nói: “Anh còn áo choàng, Hãy làm lãnh tụ chúng tôi, Và đống đổ nát nầy Sẽ ở dưới quyền của anh!”
Trong ngày đó, người ấy sẽ trả lời rằng: “Tôi sẽ không cai trị đâu, Trong nhà tôi không có bánh cũng không có áo choàng; Xin đừng lập tôi Làm lãnh tụ của dân chúng.”
Vì Giê-ru-sa-lem phải nghiêng ngã Và Giu-đa phải sụp đổ, Bởi lời nói và việc làm của họ đều chống lại Đức Giê-hô-va, Phản loạn trước sự hiện diện vinh quang của Ngài.
Bộ mặt họ làm chứng chống lại họ; Họ tuyên bố tội lỗi mình như thành Sô-đôm, Chẳng giấu giếm gì cả. Khốn cho linh hồn họ, Vì họ đã làm hại chính mình!
Hãy nói với người công chính rằng phước cho họ, Vì họ sẽ hưởng kết quả của việc mình làm.
Khốn cho kẻ gian ác! Nó hẳn phải mang họa, Vì nó sẽ chuốc lấy hậu quả do tay mình gây ra.
Dân ta bị trẻ con ức hiếp, Và đàn bà cai trị họ. Ôi dân ta! Kẻ dẫn đường ngươi làm cho ngươi lạc hướng, Họ làm rối loạn đường lối ngươi.
Đức Giê-hô-va đứng lên biện luận, Ngài đứng mà xét xử các dân tộc.
Đức Giê-hô-va đến phán xét Các trưởng lão của dân Ngài và các lãnh tụ của họ: “Chính các ngươi là kẻ đã ăn nuốt vườn nho, Của cướp bóc người nghèo đang ở trong nhà các ngươi!
Sao các ngươi dám chà đạp dân Ta, Giày vò mặt mày người nghèo khó?” Chúa là Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: “Vì những con gái Si-ôn kiêu kỳ, Vừa đi vừa ngẩng cao cổ, Liếc mắt đưa tình, Vừa đi õng ẹo, Vừa khua kiềng dưới chân,
Nên Chúa sẽ làm cho da đầu con gái Si-ôn đóng vảy Và Đức Giê-hô-va sẽ khiến đầu chúng bị cạo trọc.”
Trong ngày đó, Chúa sẽ lấy đi đồ trang sức như kiềng dưới chân, lưới trùm đầu và lược cài tóc;
hoa tai, xuyến và mạng che mặt;
mão, dây chuyền mắt cá, thắt lưng, hộp hương liệu và bùa hộ mạng;
nhẫn và vòng đeo mũi;
áo lễ, áo lá rộng, áo choàng và túi xách tay;
gương soi, quần áo lót làm bằng vải gai, băng cột tóc và khăn trùm đầu.
Sẽ có mùi hôi thối thay vì hương thơm; Dây thừng thay vì thắt lưng; Đầu hói thay vì tóc quăn; Áo vải thô thay vì áo dài đẹp đẽ; Vết sắt nung thay vì sắc đẹp.
Những người nam của ngươi sẽ gục ngã vì gươm, Những dũng sĩ của ngươi sẽ bị tử trận.
Các cổng Si-ôn sẽ than khóc và thảm sầu; Nó sẽ ngồi trên đất hoang vu.
Trong ngày đó, bảy người nữ sẽ nắm chặt một người nam và nói rằng: “Chúng em tự lo liệu bánh ăn áo mặc, Chỉ xin cho phép chúng em được mang tên chàng; Xin chàng cất đi nỗi hổ nhục của chúng em.”
Trong ngày đó, chồi của Đức Giê-hô-va sẽ đẹp đẽ và vinh quang; hoa quả của đất là niềm hãnh diện và vinh dự của những người Y-sơ-ra-ên còn sống sót.
Những người còn lại ở Si-ôn, những người còn sót lại ở Giê-ru-sa-lem sẽ được gọi là thánh. Tất cả được ghi vào sổ những người sống tại Giê-ru-sa-lem.
Khi Chúa dùng thần công lý và thần thiêu đốt để tẩy rửa sự ô uế của các con gái Si-ôn, và tẩy sạch máu của Giê-ru-sa-lem khỏi giữa nó,
thì trên khắp núi Si-ôn và trên hội chúng, Đức Giê-hô-va sẽ tạo ra một đám mây vào ban ngày, khói và lửa rực sáng vào ban đêm. Vì sẽ có một cái vòm che trên mọi vinh quang;
nó sẽ là cái lều làm bóng che khỏi nắng nóng ban ngày, và là nơi trú ẩn để tránh bão táp mưa sa.
Tôi sẽ hát cho người yêu dấu của tôi Một bài ca về người yêu dấu tôi và vườn nho người: Người yêu dấu của tôi có một vườn nho Trên một ngọn đồi mầu mỡ.
Người đào xới đất, lượm sạch đá, Và trồng loại nho tốt. Người dựng một tháp canh giữa vườn Và đào một hầm ép rượu. Người mong chờ nó sinh trái nho tốt, Nhưng nó lại sinh trái nho hoang.
“Vậy bây giờ, hỡi dân cư Giê-ru-sa-lem Và người Giu-đa! Hãy phân xử giữa Ta Với vườn nho của Ta.
Có điều gì cần làm cho vườn nho của Ta, Mà Ta không làm cho nó chăng? Tại sao Ta mong nó sinh trái nho tốt, Mà nó lại sinh trái nho hoang?
Bây giờ, Ta cho các ngươi biết Những gì Ta sắp làm cho vườn nho của Ta: Ta sẽ phá rào Để nó bị cắn nuốt, Ta sẽ hạ tường Để nó bị giày đạp.
Ta sẽ khiến nó trở nên hoang tàn, Không được tỉa sửa, cũng không được vun xới; Gai góc và bụi rậm mọc lên um tùm. Ta cũng truyền cho mây Không đổ mưa trên nó nữa.”
Vườn nho của Đức Giê-hô-va vạn quân Chính là nhà Y-sơ-ra-ên, Còn người Giu-đa Là những cây trồng mà Ngài vui thích. Ngài mong thấy công lý, Mà chỉ thấy sự phạm pháp; Ngài mong sự công chính, Mà chỉ có tiếng kêu la!
Khốn cho những kẻ thêm nhà vào nhà, Thêm ruộng vào ruộng, Cho đến khi chẳng còn chỗ trống nào, Và các ngươi sống một mình giữa xứ!
Đức Giê-hô-va vạn quân phán vào tai tôi: “Thật, có nhiều nhà sẽ bị bỏ hoang, Những nhà lớn và đẹp ấy sẽ không có người ở!
Một vườn nho khoảng bốn héc-ta Chỉ sản xuất được hai mươi hai lít rượu nho; Hai trăm hai mươi lít hạt giống Chỉ được hai mươi hai lít lúa.”
Khốn cho kẻ dậy sớm Để chạy theo rượu, Nấn ná mãi đến chiều tối Để rượu nung đốt họ!
Trong các yến tiệc của họ, Có đàn hạc, đàn lia, trống nhỏ, sáo và rượu; Nhưng họ không lưu ý đến công việc Đức Giê-hô-va, Cũng chẳng nhìn xem việc tay Ngài làm.
Vì vậy, dân Ta phải bị lưu đày vì thiếu hiểu biết; Người quyền quý của họ phải chịu đói, Còn quần chúng phải chịu khát.
Bởi thế, âm phủ mở rộng lòng tham muốn của nó Và há miệng rộng vô cùng; Người danh giá và quần chúng, Kẻ hay cãi cọ và kẻ say sưa, đều rơi xuống đó.
Loài người bị khuất phục, con người bị hạ thấp; Con mắt kẻ ngạo mạn bị hạ xuống.
Nhưng Đức Giê-hô-va vạn quân được tôn cao khi phán quyết, Đức Chúa Trời là Đấng Thánh bày tỏ chính Ngài là thánh trong sự công chính.
Bấy giờ, những chiên con sẽ ăn cỏ như trong đồng cỏ mình, Những người tạm cư sẽ ăn nơi đổ nát của kẻ giàu.
Khốn cho kẻ dùng dây dối trá kéo sự gian ác, Như dùng cáp kéo xe mà lôi kéo tội lỗi.
Họ nói: “Xin vội vã và nhanh chóng thực hiện công việc Ngài, Để chúng tôi được thấy! Xin chương trình của Đấng Thánh Y-sơ-ra-ên được thực thi, được thành tựu Để chúng tôi được biết!”
Khốn cho những kẻ bảo ác là thiện, Bảo thiện là ác; Lấy tối làm sáng, Lấy sáng làm tối; Lấy đắng làm ngọt, Lấy ngọt làm đắng.
Khốn cho những kẻ coi mình là khôn ngoan, Và tự cho mình là thông sáng!
Khốn cho những tên bợm rượu, Và bọn chuyên pha chế các thức uống say!
Khốn cho những kẻ vì nhận hối lộ mà xưng công chính cho kẻ có tội, Và tước đoạt sự công chính của người công chính!
Vì thế, như lưỡi lửa thiêu nuốt rơm rạ, Và cỏ khô tiêu tan trong ngọn lửa, Thì gốc rễ của họ sẽ mục nát Và nụ hoa của họ cũng bay đi như tro bụi; Vì họ đã loại bỏ luật pháp của Đức Giê-hô-va vạn quân, Và xem thường lời của Đấng Thánh Y-sơ-ra-ên.
Do đó, Đức Giê-hô-va đã nổi cơn thịnh nộ với dân Ngài. Ngài giơ tay chống lại họ và đánh phạt họ, Núi non đều rung chuyển. Xác chết của họ như rác rưởi giữa đường phố. Dù vậy, cơn thịnh nộ Ngài chưa nguôi, Và tay Ngài còn giơ ra.
Ngài sẽ dựng một ngọn cờ cho các dân tộc xa xôi, Và thổi còi kêu gọi chúng từ tận cùng cõi đất; Nầy, chúng vội vã và nhanh chóng chạy đến!
Không ai trong chúng mệt mỏi hay vấp ngã, Không ai ngủ gật hay ngủ mê, Không ai cởi dây thắt lưng Hay bị đứt dây giày.
Mũi tên của chúng mài nhọn, Tất cả cung đều giương lên; Vó ngựa cứng như đá lửa, Bánh xe như gió lốc.
Tiếng gầm của chúng như sư tử, Chúng rống như sư tử tơ; Chúng sẽ gầm gừ và bắt mồi đem đi, Không ai giải cứu được.
Ngày ấy, sẽ có tiếng gầm chống lại chúng, Như tiếng sóng biển ầm ầm; Nếu ai nhìn vào xứ chỉ thấy tối tăm và tai họa, Ánh sáng bị mây mù làm cho tối tăm.
Vào năm vua Ô-xia băng hà, tôi thấy Chúa ngự trên ngai rất cao, vạt áo của Ngài đầy dẫy đền thờ.
Các sê-ra-phim đứng chầu quanh Ngài. Mỗi vị có sáu cánh: hai cái che mặt, hai cái che chân, và hai cái dùng để bay.
Các sê-ra-phim cùng nhau tung hô rằng: “Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Đức Giê-hô-va vạn quân! Khắp đất đầy dẫy vinh quang Ngài!”
Tiếng tung hô ấy vang dội làm cho các trụ cửa nơi ngưỡng cửa rung chuyển, và đền thờ đầy dẫy khói.
Tôi liền kêu lên: “Khốn cho tôi! Tôi chết mất! Vì tôi là người có môi ô uế ở giữa một dân có môi ô uế, bởi mắt tôi đã thấy Vua, tức là Đức Giê-hô-va vạn quân!”
Bấy giờ, một trong các sê-ra-phim bay đến tôi, trong tay cầm than lửa đỏ đã dùng kẹp gắp từ bàn thờ.
Vị ấy đưa than lửa đỏ chạm vào miệng tôi, và nói: “Đây, cái nầy đã chạm đến môi ngươi, lỗi ngươi đã được xóa rồi, tội ngươi được tha rồi.”
Lúc ấy, tôi nghe tiếng Chúa phán: “Ta sẽ sai ai đi? Ai sẽ đi cho chúng ta?” Tôi thưa: “Có con đây, xin Chúa sai con!”
Ngài phán: “Hãy đi và nói với dân nầy rằng: ‘Hãy nghe để mà nghe, Nhưng các ngươi sẽ chẳng hiểu gì; Hãy xem để mà xem, Nhưng các ngươi sẽ chẳng thấy chi.’
Hãy làm cho dân ấy tối dạ, Nặng tai, nhắm mắt; Kẻo mắt họ thấy được, Tai họ nghe được, Lòng họ hiểu được, Rồi họ trở lại và được chữa lành chăng!”
Tôi hỏi: “Lạy Chúa, cho đến bao giờ?” Chúa trả lời: “Cho đến khi các thành bị bỏ hoang, Không có dân cư, Nhà không có người ở, Và đất đai trở nên hoang vu hoàn toàn;
Cho đến khi Đức Giê-hô-va dời dân đi xa, Và nhiều nơi trong xứ trở nên điêu tàn.
Cho dù một phần mười còn lại trong số họ Sẽ bị thiêu nuốt; Nhưng, như khi người ta đốn cây thông, cây sồi còn chừa gốc, Thì giống thánh là gốc của nó.”
Vào thời trị vì của A-cha, con Giô-tham, cháu Ô-xia, vua nước Giu-đa, thì vua nước A-ram là Rê-xin và vua Y-sơ-ra-ên là Phê-ca, con Rê-ma-lia, kéo quân lên đánh thành Giê-ru-sa-lem nhưng không thể chiếm được.
Khi nhà Đa-vít được báo tin rằng: “A-ram đã liên minh với Ép-ra-im,” thì lòng vua A-cha và dân chúng rúng động như cây rừng lung lay trước gió.
Đức Giê-hô-va phán với Ê-sai: “Con hãy cùng con trai của con là Sê-a Gia-súp ra đón A-cha tại cuối kênh dẫn nước hồ trên, nằm trên đường cái dẫn đến cánh đồng thợ giặt.
Con hãy nói với A-cha rằng: ‘Hãy thận trọng và giữ yên lặng, đừng sợ và chớ sờn lòng vì hai đầu que củi chỉ còn khói, tức là cơn giận dữ của Rê-xin, vua A-ram, và của con trai Rê-ma-lia.
Vì A-ram cùng với Ép-ra-im và con trai của Rê-ma-lia mưu tính hại vua, và nói rằng:
Chúng ta hãy lên đánh Giu-đa, xé nó ra từng mảnh, phân chia nó cho chúng ta, và lập một vua giữa nó tức là con trai của Ta-bê-ên.’
Chúa là Đức Giê-hô-va phán: ‘Mưu ấy không thành, Việc đó không xảy ra!
Vì đầu của A-ram là Đa-mách, Đầu của Đa-mách là Rê-xin. (Trong sáu mươi lăm năm nữa, Ép-ra-im sẽ bị hủy diệt, không còn được kể là một dân.)
Đầu của Ép-ra-im là Sa-ma-ri, Đầu của Sa-ma-ri là con của Rê-ma-lia. Nếu các ngươi không tin chắc, Sẽ không thể đứng vững được.’”
Đức Giê-hô-va lại phán với A-cha:
“Hãy xin Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con ban một dấu lạ, hoặc dưới vực sâu hoặc trên trời cao.”
Nhưng A-cha thưa: “Con sẽ không xin và cũng không dám thử Đức Giê-hô-va.”
Ê-sai nói: “Nầy, nhà Đa-vít hãy nghe đây! Có phải các ngươi cho rằng làm phiền người ta là việc nhỏ, mà nay lại muốn làm phiền Đức Chúa Trời ta nữa sao?
Vì vậy, chính Chúa sẽ ban cho các ngươi một dấu lạ: Nầy, một trinh nữ sẽ mang thai, sinh một con trai và đặt tên là Em-ma-nu-ên.
Con trẻ ấy sẽ ăn mỡ sữa và mật, cho đến khi biết bỏ điều dữ và chọn điều lành.
Vì trước khi con trẻ ấy biết bỏ điều dữ chọn điều lành thì đất nước của hai vua mà ngươi sợ sẽ bị bỏ hoang.
Đức Giê-hô-va sẽ giáng trên ngươi, trên dân tộc ngươi và trên hoàng gia những ngày tai họa chưa từng có kể từ ngày Ép-ra-im tách khỏi Giu-đa, đó là Ngài sẽ sai vua A-si-ri đến.”
Trong ngày ấy, Đức Giê-hô-va sẽ thổi còi gọi ruồi ở tận cùng các sông Ai Cập, và gọi ong ở đất A-si-ri đến.
Chúng sẽ đến đậu trong tất cả các thung lũng sâu, các vách đá, các kẽ đá, trong mọi bụi gai và đồng cỏ.
Trong ngày ấy, Chúa sẽ dùng dao cạo thuê bên kia sông, tức là vua A-si-ri, để cạo đầu và lông chân các ngươi, và cắt bỏ cả râu nữa.
Đến lúc ấy, mỗi người chỉ có thể nuôi một con bò cái tơ và hai con chiên.
Nhưng chúng sản xuất sữa dư dật nên người ta sẽ ăn mỡ sữa, vì tất cả những ai còn sót lại trong xứ thì sẽ nuôi mình bằng mỡ sữa và mật.
Đến lúc ấy, tất cả những nơi trồng được một nghìn gốc nho, đáng giá một nghìn miếng bạc, sẽ mọc đầy những gai góc và bụi rậm.
Ai muốn vào đó phải đem theo cung tên, vì cả xứ chỉ toàn là gai góc và bụi rậm.
Các ngươi cũng không còn đến các ngọn đồi mà mình đã cày xới nữa vì sợ gai góc và bụi rậm; nhưng đó sẽ là nơi để thả bò và chỗ cho chiên giẫm nát.
Đức Giê-hô-va phán bảo tôi: “Hãy lấy một tấm bảng lớn, và viết trên đó bằng chữ của con người: ‘Ma-he Sa-la Hát Bát.’”
Tôi đem theo các nhân chứng đáng tin cậy là thầy tế lễ U-ri và Xa-cha-ri, con của Giê-bê-rê-kia.
Sau đó, tôi đến với nữ tiên tri, rồi nàng thụ thai và sinh một con trai. Đức Giê-hô-va bảo tôi: “Hãy đặt tên nó là Ma-he Sa-la Hát Bát;
vì trước khi đứa trẻ biết gọi: ‘Cha ơi!’, ‘Mẹ ơi!’ thì vua A-si-ri sẽ đến lấy đi tài sản của Đa-mách và chiến lợi phẩm ở Sa-ma-ri.”
Đức Giê-hô-va lại phán với tôi lần nữa rằng:
“Vì dân nầy đã khước từ dòng nước êm dịu của Si-lô-ê, và run sợ trước mặt Rê-xin cùng con trai của Rê-ma-lia;
cho nên, Chúa sẽ khiến nước Sông Cái chảy cuồn cuộn trên họ, tức là vua A-si-ri với tất cả vinh quang của vua. Dòng nước ấy sẽ dâng lên khỏi lòng sông, tràn ngập tất cả các bờ,
chảy vào Giu-đa, chảy tràn lan và ngập đến tận cổ. Hỡi Em-ma-nu-ên, cánh nó dang ra che phủ cả xứ ngươi!”
Hỡi các dân, hãy liên kết và bị đập tan! Hỡi tất cả các miền đất xa xăm, hãy lắng tai! Hãy nai nịt, và bị đập tan; Hãy nai nịt, và bị đập tan!
Hãy bàn thảo chiến lược, nhưng nó sẽ bị phá vỡ; Hãy đưa ra kế hoạch, nhưng nó sẽ không đứng vững, Vì Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta.
Với cánh tay mạnh mẽ đặt trên tôi, Đức Giê-hô-va phán dạy và cảnh báo tôi đừng đi theo đường lối dân nầy. Ngài phán:
“Đừng gọi là âm mưu tất cả những gì dân nầy gọi là âm mưu! Đừng sợ điều dân nầy sợ, cũng đừng kinh hãi.
Nhưng hãy tôn Đức Giê-hô-va vạn quân là thánh. Chính Ngài là Đấng mà các ngươi phải kính sợ và khiếp đảm.
Ngài sẽ là nơi thánh; nhưng Ngài là hòn đá vấp chân và là tảng đá vấp ngã cho cả hai nhà Y-sơ-ra-ên, cũng là lưới và bẫy cho dân cư thành Giê-ru-sa-lem.
Nhiều người trong số họ sẽ vấp chân, té ngã và tan nát; họ sẽ mắc bẫy và bị bắt.
Hãy buộc chặt lời chứng, hãy niêm phong luật pháp giữa các môn đồ Ta!”
Tôi trông đợi Đức Giê-hô-va, là Đấng ẩn mặt Ngài khỏi nhà Gia-cốp; tôi vẫn trông cậy Ngài!
Nầy, tôi và con cái mà Đức Giê-hô-va đã ban cho tôi là dấu lạ và điềm báo trong Y-sơ-ra-ên đến từ Đức Giê-hô-va vạn quân, Đấng ngự trên núi Si-ôn.
Nếu có ai bảo các ngươi: “Hãy cầu hỏi đồng cốt và thầy bói, là kẻ nói líu ríu lẩm bẩm,” thì hãy đáp: “Tại sao một dân tộc không cầu hỏi Đức Chúa Trời mình mà lại cầu hỏi kẻ chết cho người sống?”
Hãy theo luật pháp và lời chứng! Nếu họ không nói như vậy, chắc chắn sẽ chẳng có rạng đông cho họ.
Họ sẽ đi lang thang trong xứ, khốn khổ đói khát! Trong lúc đói khổ, họ sẽ nổi giận, nguyền rủa vua và Đức Chúa Trời mình. Họ sẽ ngước mặt lên trời,
rồi cúi nhìn xuống đất, chỉ thấy hoạn nạn và bóng tối, ảm đạm và buồn rầu; họ sẽ bị xô đẩy vào nơi tối tăm mù mịt.
Nhưng sẽ không còn bóng tối cho người đã chịu buồn rầu. Trong quá khứ, Đức Chúa Trời đã hạ nhục đất Sa-bu-lôn và đất Nép-ta-li; nhưng trong tương lai, Ngài sẽ làm vẻ vang vùng đất nằm trên con đường ra biển, là miền bên kia sông Giô-đanh, tức là xứ Ga-li-lê của dân ngoại.
Dân đi trong bóng tối Đã thấy ánh sáng lớn; Những người đang ngồi dưới bóng của sự chết, Nay được ánh sáng chiếu rọi.
Chúa đã làm cho dân nầy gia tăng bội phần, Và khiến họ tràn ngập niềm vui. Họ sẽ vui mừng trước mặt Chúa Như vui mừng trong mùa gặt, Như người ta reo vui lúc chia nhau chiến lợi phẩm.
Vì Chúa đã bẻ cái ách nặng nề, Ngọn roi đánh trên vai họ, Và cây gậy của kẻ áp bức họ, Như Ngài đã làm trong thời Ma-đi-an.
Tất cả giày dép dùng trong chiến trận Và quân phục vấy máu Đều sẽ bị thiêu hủy, làm mồi cho lửa.
Vì một Con Trẻ được sinh cho chúng ta, Tức là một con trai được ban cho chúng ta; Quyền cai trị sẽ đặt trên vai Ngài. Danh Ngài là: “Đấng Kỳ Diệu, Đấng Cố Vấn, Đức Chúa Trời Quyền Năng, Cha Đời Đời, Chúa Bình An.”
Quyền cai trị của Ngài cứ gia tăng mãi, Và nền hòa bình sẽ vô tận Trên ngôi Đa-vít và trên vương quốc Ngài, Để lập vững và duy trì vương quốc ấy Trong công lý và sự công chính, Từ nay cho đến đời đời. Lòng sốt sắng của Đức Giê-hô-va vạn quân Sẽ thực hiện điều ấy!
Chúa đã truyền một lời chống lại Gia-cốp, Và lời ấy giáng trên Y-sơ-ra-ên.
Toàn dân, tức là Ép-ra-im và dân cư Sa-ma-ri, Sẽ biết lời ấy. Với lòng tự cao tự đại, họ nói rằng:
“Gạch đã đổ xuống, Nhưng chúng tôi sẽ xây lại bằng đá quý; Cây sung đã bị đốn ngã, Nhưng chúng tôi sẽ thay bằng cây bá hương.”
Vì vậy, Đức Giê-hô-va sẽ khiến kẻ đối địch của Rê-xin Nổi lên chống lại họ, và khuấy động kẻ thù của họ.
Dân A-ram phía trước, dân Phi-li-tin phía sau, Há miệng ra nuốt Y-sơ-ra-ên. Dù vậy, cơn giận Ngài chưa quay khỏi Và tay Ngài vẫn còn giơ ra!
Nhưng dân chúng không quay về Đấng đánh phạt mình Cũng chẳng tìm kiếm Đức Giê-hô-va vạn quân.
Vậy nên chỉ trong một ngày, Đức Giê-hô-va sẽ cắt khỏi Y-sơ-ra-ên Cả đầu lẫn đuôi, cả cành cọ lẫn cây sậy.
Đầu là trưởng lão và người được tôn trọng, Đuôi là kẻ tiên tri dạy điều dối trá.
Những kẻ dẫn dắt dân nầy đã sai lạc, Còn những người được dẫn dắt thì bị hủy diệt.
Vì vậy, Chúa không vui lòng về giới trẻ của họ, Cũng chẳng xót thương kẻ mồ côi và góa bụa, Vì tất cả họ đều vô đạo và gian ác, Miệng nào cũng nói điều ngu xuẩn. Dù vậy, cơn giận Ngài chưa quay khỏi Và tay Ngài vẫn còn giơ ra!
Vì sự gian ác cháy bừng lên như lửa, Thiêu hủy gai gốc và bụi rậm, Đốt cháy các bụi cây trong rừng, Làm cho khói cuồn cuộn bốc lên.
Bởi cơn giận của Đức Giê-hô-va vạn quân, Đất bị thiêu đốt, dân trở thành mồi cho lửa; Người ta chẳng còn tiếc thương anh em mình.
Họ cấu xé bên phải mà vẫn đói, Và ăn nuốt bên trái vẫn chưa no; Ai nấy ăn thịt của chính cánh tay mình.
Ma-na-se chống Ép-ra-im, và Ép-ra-im chống Ma-na-se, Rồi cả hai cùng chống lại Giu-đa. Dù vậy, cơn giận của Đức Giê-hô-va chưa quay khỏi Và tay Ngài vẫn còn giơ ra! Chương nầy bản 1926 theo số câu của Nt, do đó so le một câu so với các bản tiếng Anh. Cần chỉnh lại không?
Khốn cho những kẻ lập ra luật bất công, Những kẻ viết nên đạo luật trái lẽ,
Để tước đoạt quyền lợi của người cô thế Và cướp mất công lý khỏi người nghèo khó trong dân Ta, Biến người góa bụa thành miếng mồi của chúng, Và kẻ mồ côi trở thành chiến lợi phẩm!
Các ngươi sẽ làm gì khi đến ngày trừng phạt, Khi tai họa từ xa ập đến? Các ngươi sẽ trốn đến ai để cầu cứu? Các ngươi sẽ để danh vọng mình ở đâu?
Chúng chỉ còn một việc là khom lưng giữa đám tù binh Và ngã gục giữa những người bị giết. Dù vậy, cơn giận của Chúa chưa quay khỏi Và tay Ngài vẫn còn giơ ra.
Khốn cho A-si-ri, cây roi của sự thịnh nộ Ta! Cây gậy trong tay nó là sự tức giận của Ta!
Ta sai nó chống lại một nước bất kính, Ta truyền cho nó đánh một dân chọc giận Ta, Để cướp bóc, tước đoạt Và giày đạp chúng như bùn ngoài đường.
Nhưng nó không hiểu như thế, Lòng nó chẳng nghĩ như vậy; Nó muốn tiêu diệt Và loại trừ thật nhiều nước.
Vì nó nói rằng: “Chẳng phải các tướng lĩnh của ta đều là vua sao?
Chẳng phải Ca-nô sẽ như Cạt-kê-mít, Ha-mát sẽ như Ạt-bát, Sa-ma-ri sẽ như Đa-mách sao?
Như tay ta đã nắm được các vương quốc có thần tượng, Tượng thần của họ còn hơn cả Giê-ru-sa-lem và Sa-ma-ri,
Ta lại chẳng làm cho Giê-ru-sa-lem và thần tượng nó Như ta đã làm cho Sa-ma-ri và thần tượng nó sao?”
Nhưng khi Chúa đã hoàn thành mọi công việc của Ngài trên núi Si-ôn và tại Giê-ru-sa-lem, Ngài phán: “Ta sẽ trừng phạt những việc làm của lòng tự đại và sự kiêu hãnh của con mắt tự cao của vua A-si-ri.
Vì vua nầy nói rằng: ‘Ta đã hành động bằng sức mạnh của tay ta Và bởi sự khôn ngoan của ta, vì ta thông minh. Ta đã xóa bỏ biên giới các dân, Và cướp đoạt các kho báu của chúng. Như một người hùng mạnh, Ta đã hạ bệ các vua
Tay ta đã bắt lấy của cải các dân Như bắt một tổ chim; Ta đã thu gom cả mặt đất, Như người thu gom trứng bỏ rơi; Chẳng ai vỗ cánh, Há miệng, hay kêu hót!’”
Cái rìu lại khoe mình với người cầm rìu, Hay cái cưa lại tự tôn tự đại với kẻ cầm cưa sao? Điều đó giống như cây roi điều khiển người giơ roi, Cây gậy nâng người cầm gậy!
Vậy nên, Chúa là Đức Giê-hô-va vạn quân Sẽ làm cho những người mập mạnh của vua ấy trở nên gầy mòn; Và dưới cảnh vinh hoa của vua ấy, Lửa sẽ cháy lên như một đám lửa thiêu đốt.
Ánh sáng của Y-sơ-ra-ên sẽ trở nên lửa, Đấng Thánh của nó sẽ là một ngọn lửa, Sẽ đốt cháy và thiêu nuốt gai góc và bụi rậm Chỉ trong một ngày.
Còn sự trù phú của rừng và vườn cây ăn quả của vua ấy, Ngài sẽ tận diệt hết, cả hồn lẫn xác, Như kẻ kiệt sức đi loạng choạng.
Số cây trong rừng còn lại chẳng là bao, Một đứa trẻ cũng có thể đếm được.
Trong ngày đó, dân sót của Y-sơ-ra-ên và những người sống sót của nhà Gia-cốp sẽ không còn nương cậy vào kẻ đã đánh họ nữa; nhưng họ sẽ thật lòng nương cậy vào Đức Giê-hô-va là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên.
Một số dân sót, tức là dân sót của Gia-cốp, sẽ trở lại cùng Đức Chúa Trời quyền năng.
Hỡi Y-sơ-ra-ên, dù dân ngươi đông như cát biển thì chỉ một phần sót lại sẽ trở về. Sự hủy diệt đã được quyết định, công lý sẽ tràn lan.
Vì Chúa là Đức Giê-hô-va vạn quân đã quyết định thực hiện sự hủy diệt trên khắp đất.
Vì vậy, Chúa là Đức Giê-hô-va vạn quân phán thế nầy: “Hỡi dân Ta đang ở Si-ôn, đừng sợ người A-si-ri khi chúng đánh ngươi bằng roi và giơ gậy chống lại ngươi, như người Ai Cập đã làm.
Vì chỉ còn ít lâu nữa thôi, sự trừng phạt sẽ chấm dứt; và cơn thịnh nộ của Ta sẽ hướng về chúng để hủy diệt chúng.
Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ quất roi trên chúng, như đã đánh người Ma-đi-an nơi tảng đá Ô-rép; Ngài cũng giơ gậy trên biển như đã làm tại Ai Cập.
Trong ngày đó, gánh nặng của chúng sẽ cất khỏi vai ngươi, ách của chúng sẽ cất khỏi cổ ngươi; ách sẽ bị gãy vì sự béo mập của ngươi.”
Chúng đến A-giát, xuyên qua Mi-gơ-rôn, Để hành lý tại Mích-ma.
Vượt qua đèo, chúng nói: “Chúng ta sẽ đóng trại qua đêm tại Ghê-ba.” Ra-ma run sợ, Ghi-bê-a của Sau-lơ chạy trốn!
Hỡi con gái Ga-lim, hãy cất tiếng kêu to! Hỡi người La-ít, hãy chú ý lắng nghe! Đáng thương cho người A-na-tốt!
Mát-mê-na lẩn trốn, Cư dân Ghê-bim tìm nơi ẩn núp.
Chính ngày đó, chúng sẽ dừng lại ở Nóp, Vung tay chống lại núi của con gái Si-ôn, Và chống lại đồi của Giê-ru-sa-lem!
Nầy, Chúa là Đức Giê-hô-va vạn quân, Sẽ dùng uy lực đáng sợ mà chặt các cành cây; Những cây kiêu kỳ đều bị đốn ngã, Những cây cao lớn bị hạ thấp.
Ngài dùng rìu sắt đốn những bụi cây trong rừng, Và Li-ban sẽ ngã xuống bởi Đấng Quyền Năng.
Có một chồi sẽ nứt ra từ gốc Gie-sê, Một cành từ rễ nó sẽ ra trái.
Thần của Đức Giê-hô-va sẽ ngự trên Ngài, Là thần khôn ngoan và thông sáng, Thần mưu lược và quyền năng, Thần tri thức và kính sợ Đức Giê-hô-va.
Ngài vui thích trong sự kính sợ Đức Giê-hô-va. Ngài sẽ không xét xử theo mắt thấy, Cũng chẳng phán quyết theo tai nghe.
Nhưng Ngài sẽ xét xử trong sự công chính cho người cô thế, Và phán quyết công bằng cho kẻ nhu mì trên đất. Ngài sẽ đánh thế gian bằng cây gậy nơi miệng mình, Và lấy hơi thở nơi môi mà giết kẻ gian ác.
Sự công chính sẽ làm dây thắt lưng của Ngài, Và sự thành tín sẽ làm dây ràng hông.
Bấy giờ, sói sẽ ở với chiên con, Beo nằm chung với dê con; Bê, sư tử tơ và thú béo ở chung với nhau, Một trẻ nhỏ sẽ chăn dắt chúng.
Bò cái sẽ ăn chung với gấu, Các con nhỏ của chúng nằm chung với nhau; Sư tử ăn rơm như bò.
Trẻ còn bú chơi đùa bên hang rắn hổ mang, Trẻ thôi bú sẽ thò tay vào hang rắn lục.
Chúng sẽ chẳng làm hại, cũng chẳng cắn giết ai Trên khắp núi thánh Ta; Vì sự hiểu biết Đức Giê-hô-va sẽ đầy dẫy thế giới Như các dòng nước phủ đầy biển.
Trong ngày đó, cội rễ Gie-sê sẽ đứng lên làm ngọn cờ cho các dân tộc; các nước đều tìm đến Ngài, và nơi ngự của Ngài sẽ đầy vinh quang.
Trong ngày đó, Chúa còn đưa tay ra một lần nữa để chuộc dân sót của Ngài, tức là dân còn lại từ A-si-ri, Ai Cập, Pha-trô, Cút, Ê-lam, Si-nê-a, Ha-mát và các hải đảo.
Ngài sẽ dựng một ngọn cờ cho các nước, Quy tụ những người Y-sơ-ra-ên bị ruồng bỏ, Tập hợp những người Giu-đa lưu lạc Từ bốn phương trên đất.
Bấy giờ, sự ghen tị của Ép-ra-im không còn nữa, Kẻ thù của Giu-đa sẽ bị tiêu diệt; Ép-ra-im sẽ không còn ghen tị Giu-đa, Và Giu-đa không còn căm thù Ép-ra-im nữa.
Họ sẽ tấn công Phi-li-tin về phía tây, Cùng nhau cướp bóc dân phương Đông; Tay họ giơ ra chống lại dân Ê-đôm và Mô-áp, Dân Am-môn thần phục họ.
Đức Giê-hô-va sẽ làm khô cạn vịnh Ai Cập; Vung tay trên Sông Cái với ngọn gió nóng, Ngài tách nó ra thành bảy dòng suối, Và khiến người ta có thể đi qua không ướt dép.
Vậy sẽ có một đường cái cho dân sót của Ngài, Là những người còn lại từ A-si-ri; Cũng như đã có một đường cái cho Y-sơ-ra-ên, Trong ngày họ ra khỏi đất Ai Cập.
Trong ngày đó, ngươi sẽ nói rằng: “Lạy Đức Giê-hô-va, con cảm tạ Chúa, Dù Ngài đã nổi giận với con, Nhưng cơn giận Chúa đã quay khỏi, Và Chúa lại an ủi con.
Nầy, Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi của con; Con sẽ tin cậy và không sợ hãi. Vì Giê-hô-va, chính Đức Giê-hô-va, là sức mạnh và bài ca của con, Ngài đã trở nên sự cứu rỗi của con.”
Vậy nên, các ngươi sẽ vui vẻ múc nước nơi nguồn cứu rỗi.
Trong ngày đó, các ngươi sẽ nói rằng: “Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, Hãy kêu cầu danh Ngài; Hãy cho các dân tộc biết công việc của Ngài! Hãy nhắc họ nhớ rằng danh Ngài đáng được tôn cao!
Hãy ca tụng Đức Giê-hô-va, vì Ngài đã làm những công việc rực rỡ; Hãy cho cả thế giới biết rõ điều nầy!
Hỡi cư dân Si-ôn, hãy reo hò và lớn tiếng tung hô! Vì Đấng đang ngự giữa ngươi là vĩ đại, Là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên!”
Lời tiên tri về Ba-by-lôn; điều mà Ê-sai, con trai A-mốt, đã thấy:
Hãy dựng một ngọn cờ trên núi trọc! Hãy cất tiếng lên với chúng, Vẫy tay gọi chúng Vào các cửa của người quý tộc!
Chính Ta đã ra lệnh cho những người đã được Ta biệt riêng ra, Cũng đã gọi các dũng sĩ của Ta đến Để thi hành cơn thịnh nộ của Ta; Họ là những người vui mừng về sự cao trọng của Ta.
Trên các núi có tiếng náo động, Như tiếng của một đoàn quân đông đảo! Đó là tiếng gầm thét của các vương quốc, Tức các nước họp lại với nhau. Đức Giê-hô-va vạn quân đang tập trung Một đạo quân để ra trận.
Đức Giê-hô-va và những vũ khí thịnh nộ của Ngài Đến từ miền đất xa xăm, từ cuối tận phương trời, Để hủy diệt cả mặt đất.
Hãy than khóc, vì ngày của Đức Giê-hô-va đã gần rồi! Ngày đó sẽ đến như cuộc tàn phá từ Đấng Toàn Năng.
Vì vậy, mọi tay đều bủn rủn, Mọi lòng đều tan chảy.
Họ sẽ kinh hãi. Sự đau đớn và thảm sầu bắt lấy họ; Họ đau đớn như cơn quặn thắt của sản phụ lúc sinh con. Mọi người sửng sốt nhìn nhau, Mặt đỏ bừng như ngọn lửa!
Nầy, ngày Đức Giê-hô-va đến, Là ngày thảm khốc, thịnh nộ và tức giận dữ dội, Để làm cho đất trở nên hoang tàn Và tiêu diệt những kẻ có tội khỏi đó.
Lúc ấy, các ngôi sao trên trời và các chòm sao Sẽ không chiếu sáng nữa; Mặt trời vừa mọc lên thì đã tối sầm, Và mặt trăng cũng không còn soi sáng nữa.
Ta sẽ trừng phạt thế gian vì sự gian ác, Phạt kẻ ác vì tội lỗi của chúng; Ta sẽ chấm dứt sự kiêu căng của kẻ ngạo mạn, Và hạ sự tự cao của kẻ bạo ngược.
Ta sẽ làm cho con người hiếm hơn vàng ròng, Cho loài người hiếm hơn vàng Ô-phia.
Vì vậy, Ta sẽ khiến các tầng trời rung chuyển, Quả đất bị lay động dời khỏi chỗ nó Bởi cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va vạn quân, Trong ngày Ngài tức giận dữ dội.
Bấy giờ, như linh dương bị săn đuổi, Như bầy chiên không có người chăn, Ai nấy sẽ trở về với dân tộc mình, Và sẽ trốn về xứ sở mình.
Bất cứ kẻ nào người ta tìm thấy sẽ bị đâm, Mọi người bị bắt đều ngã gục dưới lưỡi gươm.
Các trẻ thơ của họ bị đập tan nát Trước mắt họ, Nhà cửa bị cướp phá, Vợ họ bị cưỡng hiếp.
Nầy, Ta sẽ khiến người Mê-đi chống lại họ; Quân ấy chẳng quý bạc, Cũng không thích vàng.
Cung của chúng bắn nát các thanh niên; Chúng không thương xót thai trong lòng mẹ; Mắt chúng chẳng thương tiếc trẻ con.
Ba-by-lôn là sự huy hoàng của các vương quốc, Là niềm kiêu hãnh ngạo mạn của người Canh-đê, Sẽ giống như Sô-đôm và Gô-mô-rơ, Khi Đức Chúa Trời lật đổ chúng.
Nó sẽ vĩnh viễn không người ở, Từ đời nầy sang đời kia sẽ chẳng ai cư trú; Người Ả-rập sẽ không cắm trại tại đó, Người chăn chiên cũng không cho bầy mình nằm nghỉ nơi ấy.
Nhưng thú dữ hoang mạc sẽ nghỉ ở đó, Nhà cửa thì đầy những chim cú; Đà điểu tới đó trú ngụ, Và dê rừng sẽ nhảy nhót tại đó.
Linh cẩu sủa vang trong cung điện, Chó rừng tru lên trong các lâu đài xa hoa. Thời điểm Ba-by-lôn sụp đổ đã gần kề, Các ngày của nó sẽ không còn kéo dài nữa.
Thật, Đức Giê-hô-va sẽ thương xót Gia-cốp và chọn Y-sơ-ra-ên một lần nữa. Ngài sẽ cho họ định cư trên đất của họ. Người ngoại bang sẽ liên kết với họ và sẽ hợp tác với nhà Gia-cốp.
Các dân sẽ dẫn đưa họ trở về quê hương. Trên đất của Đức Giê-hô-va, nhà Y-sơ-ra-ên sẽ chiếm hữu các dân ấy làm tôi trai tớ gái. Họ sẽ bắt giữ những kẻ đã bắt giữ họ, và cai trị những kẻ đã áp bức họ.
Đến ngày Đức Giê-hô-va cho ngươi được nghỉ ngơi khỏi cảnh đau khổ, rối loạn, và lao động nặng nhọc mà người ta cưỡng bách ngươi,
thì ngươi sẽ nói lên lời chế nhạo nầy về vua Ba-by-lôn rằng: “Kẻ áp bức đã đến lúc tận số rồi! Cơn giận dữ của hắn cũng phải kết thúc thôi!
Đức Giê-hô-va đã bẻ gãy cây gậy của kẻ ác Và cây trượng của kẻ cai trị,
Là kẻ không ngừng đánh các dân Trong cơn giận dữ, Cai trị các nước trong cơn thịnh nộ Và sự bức hại không ai ngăn được.
Nay cả thế giới đều được nghỉ ngơi yên ổn; Trỗi giọng hoan ca!
Cả đến cây tùng cũng hoan hỉ vì ngươi, Cây bá hương trên núi Li-ban nói rằng: ‘Từ khi ngươi nằm xuống, Không còn ai lên đốn ta nữa!’
Âm phủ sâu thẳm cũng bị khuấy động vì ngươi Để đón ngươi đến. Nó đã vì ngươi đánh thức các âm hồn, Tức là tất cả lãnh tụ trên đất; Nó đã làm cho tất cả vua của các nước Phải đứng dậy khỏi ngai mình.
Tất cả những người ấy Sẽ nói với ngươi rằng: ‘Nầy, ngài cũng yếu ớt như chúng tôi, Trở nên giống như chúng tôi rồi!
Sự sang trọng với tiếng đàn hạc của ngài Đều bị đem xuống âm phủ. Một lớp dòi làm nệm cho ngài, Còn sâu bọ thì làm mền!’”
Hỡi sao mai, con trai của rạng đông, Sao ngươi từ trời rơi xuống! Hỡi kẻ đánh bại các nước, Sao ngươi bị hạ xuống đất!
Chính ngươi đã nói trong lòng rằng: “Ta sẽ lên trời, Ta sẽ nhấc ngai ta lên Cao hơn các ngôi sao của Đức Chúa Trời. Ta sẽ ngồi trên núi hội kiến Xa tít về phương bắc.
Ta sẽ lên cao hơn các đám mây, Làm cho ta giống Đấng Rất Cao.”
Nhưng ngươi phải bị đem xuống âm phủ, Xuống tận đáy vực sâu!
Những người thấy ngươi Sẽ chăm chú nhìn ngươi và hỏi: “Có phải đây là kẻ đã từng làm rung chuyển địa cầu, Làm cho các vương quốc đảo điên,
Làm cho thế giới trở thành hoang mạc, Lật đổ các thành Và không mở cửa ngục cho kẻ bị cầm tù chăng?”
Tất cả vua chúa các nước khi nằm xuống, Đều được an táng long trọng nơi lăng tẩm mình.
Nhưng ngươi thì bị ném xa khỏi mộ Như một cành non ghê tởm, Như áo của những người bị giết, bị đâm bằng gươm, Bị xô xuống những tảng đá dưới hố, Như một xác chết bị giày đạp dưới chân!
Ngươi sẽ không được chôn với các vua trong lăng tẩm, Vì ngươi đã tiêu diệt xứ sở Và giết hại dân chúng. Dòng dõi kẻ làm ác Sẽ mãi mãi không được nhắc đến.
Vì tội lỗi của cha ông, Hãy chuẩn bị một chỗ tàn sát con cháu của chúng; Kẻo chúng nổi lên chiếm đất đai, Và lập thành trì khắp mặt đất!
Đức Giê-hô-va vạn quân tuyên phán: “Ta sẽ đứng lên chống lại chúng. Ta sẽ tiêu diệt danh Ba-by-lôn và dân sót lại, cả đến con cháu và dòng dõi kế tiếp,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Ta sẽ làm cho đất nước ấy thành nơi ở của loài nhím, thành ra ao tù; và Ta sẽ dùng chổi hủy diệt mà quét sạch đất ấy.” Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
Đức Giê-hô-va vạn quân đã thề rằng: “Chắc chắn điều Ta đã hoạch định sẽ xảy ra, Điều Ta đã quả quyết sẽ đứng vững.
Ta sẽ đập tan quân A-si-ri trong đất Ta; Ta sẽ giày đạp nó trên các núi Ta. Ách của nó sẽ được cất khỏi dân Ta, Gánh nặng nó sẽ được cất khỏi vai họ.”
Đó là kế hoạch đã được hoạch định Cho cả thế giới; Đó là cánh tay đã giơ ra Trên tất cả các nước.
Vì Đức Giê-hô-va vạn quân đã hoạch định Thì ai bãi bỏ được? Cánh tay Ngài đã giơ ra Thì ai có thể làm cho rút lại được?
Vào năm vua A-cha băng hà, lời tiên tri nầy đã được công bố:
“Hỡi cả dân Phi-li-tin, đừng vội vui mừng, Vì roi đánh ngươi đã bị bẻ gãy, Bởi vì từ dòng dõi rắn sẽ sinh ra rắn lục, Và con của nó sẽ là rắn lửa bay.
Bấy giờ, người nghèo hơn hết sẽ tìm được thức ăn, Kẻ túng thiếu sẽ nằm nghỉ yên ổn. Nhưng Ta sẽ khiến dòng dõi ngươi chết đói, Và những kẻ còn sót lại của ngươi sẽ bị giết.
Hỡi cổng, hãy than khóc! Hỡi thành, hãy kêu la! Hỡi cả dân Phi-li-tin, hãy tan chảy! Vì có một luồng khói đến từ phương bắc, Không ai rời bỏ hàng ngũ mình.”
Phải trả lời thế nào cho sứ giả của nước nầy? Hãy trả lời rằng: “Đức Giê-hô-va đã lập Si-ôn, Và kẻ nghèo khổ trong dân Ngài sẽ tìm được nơi ẩn náu.”
Lời tiên tri về Mô-áp: Trong một đêm, A Mô-áp bị tàn phá và tiêu diệt! Trong một đêm, Kiệt Mô-áp cũng bị tàn phá và tiêu diệt!
Dân Đi-bôn lên miếu thờ Trên các nơi cao mà khóc lóc. Mô-áp khóc than Về Nê-bô và Mê-đê-ba; Tất cả đều bị hói đầu Và phải bị cắt râu.
Ngoài đường phố, họ mặc áo sô; Trên mái nhà và trong các quảng trường, Mọi người đều khóc than, hạ mình và khóc lóc.
Hết-bôn và Ê-lê-a-lê kêu la, Tiếng kêu của họ nghe thấu đến Gia-hát. Vì vậy, linh chiến của Mô-áp kêu thất thanh; Tâm hồn họ run rẩy.
Lòng tôi kêu la vì Mô-áp; Kẻ trốn chạy của nó phải trốn đến Xoa và Ê-lát Sê-li-sia. Vì tại đèo Lu-hít, Họ vừa trèo vừa khóc; Trên con đường Hô-rô-na-im, Họ cất tiếng kêu than về sự hủy diệt.
Các dòng nước ở Nim-rim Đã cạn kiệt; Cỏ đã khô héo, cỏ non chẳng có, Không còn một cây xanh nào.
Vì vậy, tài sản thu được Và báu vật tích lũy, Họ đều mang sang Khe Cây Liễu.
Tiếng kêu khóc vang ra Khắp lãnh thổ Mô-áp; Tiếng than van thấu đến Ê-la-im Và thấu đến Bê-e Ê-lim.
Các dòng nước ở Đi-môn đầy máu; Nhưng Ta còn giáng thêm tai họa trên Đi-môn, Sai sư tử đuổi kịp những người Mô-áp thoát nạn Và những kẻ còn sót lại trong xứ.
Hãy gửi chiên con Cho người cai trị vùng đất Từ Sê-la qua hoang mạc, Đến núi của con gái Si-ôn.
Tại những chỗ cạn của sông Ạt-nôn, Các thiếu nữ Mô-áp bị đuổi đi Như đàn chim vỡ tổ.
Chúng kêu cứu: “Xin chỉ bảo, xin quyết định, Giữa ban trưa, xin phủ bóng che chúng tôi như ban đêm; Xin che giấu những người bị đuổi, Và đừng tố giác những kẻ trốn tránh!
Xin cho phép những kẻ bị đuổi của Mô-áp Trú ngụ giữa các người; Hãy làm nơi ẩn náu cho họ Khỏi kẻ hủy diệt. Vì kẻ áp bức sẽ không còn, Sự hủy diệt chấm dứt, Và kẻ giày đạp bị diệt khỏi đất.
Khi ấy, ngai báu sẽ được vững lập trong sự nhân từ, Trong trại Đa-vít sẽ có một nhà lãnh đạo Ngồi trên ngai ấy trong sự trung tín; Người sẽ tìm kiếm công lý Và nhanh chóng thực hiện sự công chính.”
Chúng ta đã nghe sự kiêu căng của Mô-áp, Nó thật là ngạo mạn! Nó tự cao, kiêu căng và xấc xược; Sự khoe khoang của nó là trống rỗng!
Vì thế, Mô-áp sẽ khóc than, Mọi người đều than khóc vì Mô-áp. Các ngươi hãy khóc, hãy rên xiết Vì bánh nho của Kiệt Ha-rê-sết!
Vì cánh đồng Hết-bôn đã khô héo, Và vườn nho Síp-ma cũng vậy; Những nhà cai trị các nước Đã chặt các gốc nho tốt, Mà cành nó từng vươn tới Gia-ê-xe, Lan ra hoang mạc; Chồi của nó đâm ra Tới bên kia biển.
Vì vậy, cùng với sự khóc lóc của Gia-ê-xe, Ta khóc cho vườn nho Síp-ma. Hỡi Hết-bôn, hỡi Ê-lê-a-lê, Ta sẽ tưới nước mắt trên các ngươi, Vì tiếng reo hò của người đạp nho lúc hái trái mùa hạ, Và mùa gặt của các ngươi không còn nữa!
Sự vui mừng hoan hỉ đã bị cất khỏi Vườn cây ăn quả; Và trong vườn nho Cũng không còn tiếng reo mừng, Không còn ai đạp nho trong hầm ép rượu; Ta đã làm dứt tiếng reo vui của người đạp nho.
Bởi thế, lòng Ta vì Mô-áp than van như tiếng đàn hạc, Tâm hồn Ta vì Kiệt Hê-re cũng vậy.
Lúc ấy, dù Mô-áp chịu mệt nhọc đi đến nơi cao, Vào trong đền miễu nó để cầu nguyện cũng luống công!
Đó là lời Đức Giê-hô-va đã phán về Mô-áp từ xưa.
Nhưng bây giờ, Đức Giê-hô-va phán rằng: “Trong ba năm nữa, theo cách tính của người làm thuê, vinh quang của Mô-áp cùng với đoàn dân đông đảo của nó sẽ bị khinh miệt; số còn sót lại sẽ rất ít và yếu ớt.”
Lời tiên tri về Đa-mách: “Nầy, Đa-mách sẽ không còn là một thành nữa Mà sẽ trở nên một đống đổ nát.
Các thành của A-rô-e bị bỏ hoang Và sẽ làm chỗ cho bầy chiên nằm nghỉ, Chẳng ai làm chúng kinh hãi.
Đồn lũy sẽ biến mất khỏi Ép-ra-im, Vương quốc của Đa-mách cũng không còn; Số người còn sót lại của A-ram Cũng sẽ giống như vinh quang của dân Y-sơ-ra-ên.” Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
“Trong ngày đó, vinh quang của Gia-cốp sẽ giảm đi, Thân xác béo mập sẽ trở nên gầy ốm.
Điều ấy sẽ xảy ra như khi con gặt túm các ngọn lúa Rồi dùng cánh tay cắt bông lúa; Và như khi người ta mót lúa Trong thung lũng Rê-pha-im
Thì sẽ còn sót lại những bông lúa mót được; Như khi người ta rung cây ô-liu, Còn sót hai ba trái Trên đầu cành rất cao, Hoặc bốn năm trái Trên những cành sai quả.” Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán vậy.
Trong ngày đó, người ta sẽ hướng về Đấng Tạo Hóa mình, và mắt họ chăm nhìn Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên.
Họ sẽ không còn hướng về các bàn thờ là công việc của tay mình, và không còn nhìn đến các vật bởi ngón tay mình làm ra, dù là các tượng Át-tạt-tê hay bàn thờ dâng hương.
Trong ngày đó, các thành kiên cố của họ sẽ giống như những nơi bị bỏ hoang trong rừng hoặc trên đỉnh núi, là những nơi đã bị bỏ hoang trước mặt con dân Y-sơ-ra-ên; đó là cảnh hoang tàn.
Vì ngươi đã quên Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi ngươi, Không nhớ đến Vầng Đá trú ẩn của ngươi. Cho nên dù ngươi trồng vườn cây tốt nhất, Lại ươm mầm giống nho ngoại quốc;
Trong ngày ngươi trồng, ngươi thấy nó lớn lên, Vào một buổi sáng, hạt giống đâm chồi nở hoa; Nhưng trong ngày buồn rầu đau đớn Thì mùa màng mất hết!
Ôi, các dân đông đảo náo động làm sao! Chúng gầm lên như biển cả thét gào! Tiếng ồn ào của các dân Ầm ầm như tiếng của nhiều dòng thác đổ!
Thật, các dân gào lên như nhiều dòng nước đổ ầm ầm, Nhưng khi Chúa quở trách, chúng trốn đi xa, Và bị đùa đi như rơm rác trên núi bị gió thổi, Như bụi đất gặp cơn gió bão.
Vào buổi tối, kìa, có sự kinh hãi, Trước lúc bình minh, chúng chẳng còn gì. Đó là phần của quân cướp phá, Là số phận dành cho bọn cướp bóc chúng ta.
Khốn cho đất đập cánh kêu vù vù, Là đất ở bên kia các sông của Cút;
Ngươi sai sứ dùng thuyền bằng lau vượt biển, Lướt trên mặt nước! Hỡi các sứ giả nhanh nhẹn, Hãy đi đến một nước có người cao da bóng, Đến một dân mà xa gần ai cũng sợ, Một nước hùng cường và hay xâm lược, Là đất nước có nhiều sông ngòi chia cắt.
Hỡi tất cả cư dân trên thế giới, Là những người sống trên mặt đất! Vừa khi ngọn cờ dựng trên núi, Các ngươi hãy xem! Vừa khi kèn thổi lên, Các ngươi hãy lắng nghe!
Vì Đức Giê-hô-va đã phán với tôi thế nầy: “Từ chỗ Ta đang ngự, Ta sẽ yên lặng nhìn xem Như tia nắng lung linh từ ánh mặt trời, Như làn sương trong ánh nắng mùa gặt.
Trước kỳ thu hoạch, khi mùa hoa đã hết, Và hoa đã thành những chùm nho chín, Người ta sẽ dùng liềm cắt những cành non, Tỉa bỏ những cành rậm lá.
Chúng sẽ cùng bị bỏ lại Cho chim săn mồi trên núi Và cho thú vật trên đất. Chim săn mồi sẽ ăn chúng trong mùa hạ, Tất cả thú vật trên đất sẽ ăn suốt mùa đông.”
Lúc ấy, dân tộc người cao da bóng, tức là dân mà xa gần ai cũng sợ, một nước hùng cường và hay xâm lược, là đất nước có nhiều sông ngòi chia cắt, chính dân ấy sẽ đem lễ vật dâng lên Đức Giê-hô-va vạn quân tại nơi danh Đức Giê-hô-va vạn quân ngự, là núi Si-ôn.
Lời tiên tri về Ai Cập: “Nầy, Đức Giê-hô-va cưỡi trên đám mây, Nhanh chóng đến Ai Cập. Các tượng thần của Ai Cập đều run rẩy trước mặt Ngài, Lòng người Ai Cập thất đảm kinh hồn.
Ta sẽ khiến người Ai Cập chống lại người Ai Cập; Người ta sẽ gây chiến với anh em mình, Người lân cận chống người lân cận, Thành nầy chống thành kia, Vương quốc nầy chống vương quốc nọ.
Người Ai Cập sẽ mất hết tinh thần, Ta sẽ làm xáo trộn kế hoạch của chúng. Bấy giờ, chúng sẽ cầu hỏi các tượng thần, Các thầy phù thủy, đồng cốt, và thầy bói.
Ta sẽ phó dân Ai Cập Vào tay các bạo chúa, Một vua bạo ngược sẽ cai trị chúng.” Chúa là Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
Biển sẽ không còn nước, Sông sẽ cạn và khô.
Kênh rạch sẽ trở nên hôi thối, Sông suối của Ai Cập cạn dần và khô đi; Lau sậy đều chết héo.
Các đồng cỏ dọc bờ sông Và cửa sông Nin, Cùng tất cả đồng ruộng đã gieo của nó đều khô héo, Bị cuốn đi, không còn nữa.
Những người đánh cá sẽ khóc than, Mọi kẻ giăng câu ở sông Nin đều rên xiết, Và kẻ thả lưới trên các dòng nước đều ủ rũ.
Những người dệt vải gai mịn Và những người dệt vải trắng đều xấu hổ.
Các thợ dệt của Ai Cập đều chán nản, Tất cả người làm thuê đều buồn rầu.
Các quan chức ở Xô-an chỉ là ngu dại; Các cố vấn khôn ngoan của Pha-ra-ôn đưa ra những ý kiến điên rồ. Sao các ngươi có thể nói với Pha-ra-ôn: “Tôi là con của bậc hiền triết, Là con cháu các vua thời xưa”?
Vậy thì các bậc hiền triết của ngươi ở đâu? Họ hãy nói cho ngươi biết Những gì Đức Giê-hô-va vạn quân đã định Để chống lại Ai Cập.
Các quan chức ở Xô-an đã trở nên dại dột, Các quan chức ở Nốp bị lừa dối; Những người làm viên đá góc cho các bộ tộc của chúng Đã làm cho Ai Cập lầm lạc.
Đức Giê-hô-va đã trộn vào giữa chúng Một linh nhầm lẫn, Nó làm cho Ai Cập lầm lạc trong mọi việc, Như người say vừa đi lảo đảo vừa nôn mửa.
Chẳng còn việc gì có thể làm cho Ai Cập nữa, Dù là đầu hay đuôi, việc lớn hay việc nhỏ.
Trong ngày đó, người Ai Cập sẽ giống như đàn bà run rẩy sợ hãi khi thấy tay Đức Giê-hô-va vạn quân vung lên, giơ ra chống lại chúng.
Bấy giờ, đất Giu-đa sẽ trở thành nỗi kinh hoàng cho Ai Cập. Mỗi khi người ta nhắc đến Giu-đa trước mặt ai thì người ấy khiếp sợ, vì chương trình của Đức Giê-hô-va vạn quân dự định trừng phạt Ai Cập.
Trong ngày đó, tại đất Ai Cập sẽ có năm thành nói tiếng Ca-na-an và nhân danh Đức Giê-hô-va vạn quân mà thề. Một trong các thành ấy được gọi là Thành Hủy Diệt
Trong ngày đó, sẽ có một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va ngay giữa đất Ai Cập, và có một cột trụ cho Đức Giê-hô-va gần biên giới.
Đó là dấu hiệu và bằng chứng cho Đức Giê-hô-va vạn quân tại đất Ai Cập. Khi họ kêu cầu Đức Giê-hô-va vì bị áp bức thì Ngài sẽ sai một vị cứu tinh đến bảo vệ và giải cứu họ.
Đức Giê-hô-va sẽ làm cho Ai Cập biết Ngài; và trong ngày đó, người Ai Cập sẽ nhận biết Đức Giê-hô-va. Họ sẽ dâng sinh tế và tế lễ mà thờ phượng Ngài; họ sẽ khấn nguyện cùng Đức Giê-hô-va và hoàn nguyện.
Đức Giê-hô-va sẽ đánh Ai Cập; Ngài đánh rồi lại chữa lành. Họ sẽ trở về cùng Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ nghe lời họ khẩn cầu và chữa lành cho họ.
Trong ngày đó, sẽ có con đường cái đi từ Ai Cập đến A-si-ri; người A-si-ri sẽ đến Ai Cập, và người Ai Cập sẽ đến A-si-ri. Người Ai Cập và người A-si-ri sẽ cùng nhau thờ phượng Đức Giê-hô-va.
Trong ngày đó, Y-sơ-ra-ên sẽ cùng với Ai Cập và A-si-ri thành bộ ba để làm nguồn phước giữa thế gian,
vì Đức Giê-hô-va vạn quân đã ban phước cho họ. Ngài phán: “Phước cho Ai Cập là dân Ta, A-si-ri là công trình của tay Ta, Y-sơ-ra-ên là cơ nghiệp của Ta!”
Vào năm mà vua A-si-ri là Sa-gôn sai tổng tư lệnh đến Ách-đốt để tấn công và chiếm thành,
thì chính lúc ấy có lời Đức Giê-hô-va phán qua Ê-sai, con trai A-mốt, rằng: “Hãy đi, mở vải sô khỏi lưng con, và cởi giày khỏi chân con.” Ê-sai làm đúng như thế, ông cởi trần và đi chân đất.
Đức Giê-hô-va lại phán: “Như đầy tớ Ta là Ê-sai đã đi mình trần và chân đất trong ba năm để làm dấu lạ và điềm báo về Ai Cập và Cút thể nào,
thì cũng vậy, những người Ai Cập bị bắt và người Cút bị lưu đày, cả trẻ lẫn già, đều bị vua A-si-ri giải đi mình trần, chân đất, và hở mông để làm nhục Ai Cập thể ấy.
Bấy giờ, những ai xem Cút là niềm hi vọng, và xem Ai Cập là niềm kiêu hãnh của mình sẽ khiếp sợ và hổ thẹn.
Trong ngày đó, những cư dân miền duyên hải nầy sẽ nói rằng: ‘Kìa dân tộc mà chúng ta xem là niềm hi vọng, và chạy đến cầu cứu để được giải thoát khỏi vua A-si-ri, nay đã bị như thế! Chúng ta làm sao trốn khỏi được?’”
Lời tiên tri về hoang mạc gần biển. Nó đến từ hoang mạc, Là vùng đất kinh hoàng, Giống như cơn gió lốc càn quét Nê-ghép.
Có một khải tượng kinh hoàng đã tỏ ra cho tôi: Kẻ phản bội đang phản bội, Kẻ hủy diệt đang hủy diệt! “Hỡi người Ê-lam, hãy tiến lên! Hỡi người Mê-đi, hãy bao vây! Ta sẽ làm cho dứt Mọi tiếng than thở của nó.”
Vì thế, lưng tôi đau lắm, Cơn quặn thắt bắt lấy tôi Như cơn quặn thắt của đàn bà lúc sinh đẻ; Sự đau đớn mà tôi chịu khiến tôi không nghe được, Sự kinh hãi làm cho tôi không thấy được!
Lòng tôi dao động, Nỗi khiếp sợ khiến tôi bàng hoàng; Buổi hoàng hôn mà tôi mong đợi Trở nên nỗi khiếp sợ cho tôi.
Người ta dọn bàn tiệc, Cắt kẻ canh giữ, rồi họ ăn uống. “Hỡi các quan chức, hãy đứng dậy! Hãy bôi dầu vào thuẫn!”
Vì Chúa phán với tôi thế nầy: “Hãy đi, đặt người canh gác, Truyền nó báo lại điều gì nó thấy.
Khi nó thấy quân lính cưỡi ngựa đi từng cặp, Có người cưỡi lừa và lạc đà Thì phải chú ý, Phải hết sức chú ý.”
Người canh gác kêu lên: “Thưa chúa, tôi đứng trên tháp canh suốt ngày, Tôi trực tại trạm canh suốt đêm.
Kìa, có quân lính cưỡi ngựa Đi từng cặp mà đến!” Rồi người lính canh nói: “Ba-by-lôn đã sụp đổ, sụp đổ rồi! Mọi hình tượng tà thần của nó Đã bể nát dưới đất!”
Hỡi kẻ bị đập như thóc trên sân đập lúa của tôi! Điều tôi đã nghe từ Đức Giê-hô-va vạn quân, Là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Thì tôi đã báo cho anh em biết rồi.
Lời tiên tri về Đu-ma: Từ Sê-i-rơ, có tiếng gọi tôi: “Nầy người lính canh, đêm thế nào rồi? Nầy người lính canh, đêm thế nào rồi?”
Người lính canh đáp: “Buổi sáng đến, đêm cũng đến. Nếu muốn hỏi thì cứ hỏi; Nhưng hãy trở lại, hãy đến đây.”
Lời tiên tri về Ả-rập: Hỡi đoàn thương buôn người Đê-đan, Các ngươi sẽ nghỉ đêm trong rừng Ả-rập.
Hỡi cư dân đất Thê-ma, Hãy đem nước đến cho những kẻ khát, Và đem bánh cho những người lánh nạn.
Vì họ chạy trốn để thoát khỏi lưỡi gươm, Trốn khỏi gươm tuốt trần, Trốn khỏi cung giương ra, Và trốn cuộc chiến ác liệt.
Chúa đã phán với tôi thế nầy: “Còn một năm nữa, theo năm của người làm thuê, mọi vinh quang của Kê-đa sẽ chấm dứt.
Những dũng sĩ bắn cung của dân Kê-đa còn lại rất ít. Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã phán vậy.”
Lời tiên tri về thung lũng khải tượng. Có việc gì xảy ra cho các ngươi, Mà tất cả các ngươi đều leo lên nóc nhà vậy?
Hỡi thành đầy tiếng ồn ào huyên náo, Là thành vui vẻ kia! Những kẻ bị giết của ngươi chẳng phải chết vì gươm, Cũng không phải là tử trận.
Tất cả những người cai trị ngươi đều cùng nhau chạy trốn, Họ bị bắt trói mà không cần cung tên. Tất cả người của ngươi bị phát hiện Đều bị trói chung với nhau, dù họ đã trốn đi xa.
Vì vậy, tôi nói: “Hãy ngoảnh mặt khỏi tôi! Hãy để tôi khóc lóc thảm thiết; Đừng cố tìm cách an ủi tôi Về sự hủy diệt của con gái dân tôi!”
Thật là một ngày kinh hoàng, giày đạp và hỗn loạn, Được bày tỏ trong thung lũng khải tượng Bởi Chúa là Đức Giê-hô-va vạn quân; Tường thành bị phá hủy, Tiếng kêu cứu vang đến núi.
Ê-lam đeo giỏ đựng tên Với chiến xa và kỵ binh, Còn Ki-rơ thì mở thuẫn sẵn sàng.
Các thung lũng đẹp nhất của ngươi đầy chiến xa, Còn kỵ binh thì dàn trận ngay trước cổng thành.
Màn che Giu-đa đã bị cất đi rồi. Trong ngày đó, ngươi trông vào vũ khí trong Cung Rừng.
Các ngươi thấy thành Đa-vít có nhiều lỗ hổng, nên trữ nước ở hồ dưới.
Các ngươi đếm nhà cửa ở Giê-ru-sa-lem, rồi triệt hạ một số nhà cửa để củng cố tường thành.
Các ngươi lại xây hồ chứa nước giữa hai lớp tường thành để chứa nước ao cũ. Nhưng các ngươi không trông lên Đấng đã làm nên điều nầy; các ngươi không nhìn xem Đấng đã dự định điều nầy từ xưa.
Trong ngày đó, Chúa là Đức Giê-hô-va vạn quân Kêu gọi các ngươi khóc lóc và than vãn, Cạo đầu và mặc áo sô;
Thay vào đó, các ngươi lại vui mừng hoan hỉ: Mổ bò, giết chiên, Ăn thịt và uống rượu. Các ngươi nói: “Nào, hãy ăn uống đi, Vì ngày mai chúng ta sẽ chết!”
Chính Đức Giê-hô-va vạn quân đã tiết lộ điều nầy vào tai tôi: “Chắc chắn tội nầy sẽ chẳng bao giờ được tha cho đến khi các ngươi chết.” Chúa là Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
Chúa là Đức Giê-hô-va vạn quân phán bảo tôi: “Con hãy đi nói với viên quản lý Sép-na là người cai quản cung điện, rằng:
‘Ông đang làm gì ở đây? Ông có bà con gì ở đây không mà lại đục cho mình một phần mộ tại đây? Thật, ông đang đục cho mình một phần mộ trên cao, khoét cho mình một nơi an nghỉ trong vầng đá!
Hỡi kẻ mạnh sức! Nầy, Đức Giê-hô-va sắp túm chặt ông, và quăng mạnh ông ra xa.
Ngài sẽ cuộn tròn ông và ném ông như quả bóng vào một xứ rộng mênh mông. Tại đó, ông sẽ chết; chiến xa đã từng làm cho ông vẻ vang cũng nằm ở đó. Ông sẽ là nỗi ô nhục cho nhà chủ mình!’
Chúa phán: ‘Ta sẽ cách chức ngươi, và ngươi sẽ bị truất khỏi địa vị mình.
Trong ngày đó, Ta sẽ kêu gọi đầy tớ Ta là Ê-li-a-kim, con trai Hinh-kia.
Ta sẽ lấy áo ngươi mặc cho người, lấy đai ngươi thắt cho người, lấy quyền bính của ngươi trao vào tay người. Người sẽ là cha đối với cư dân Giê-ru-sa-lem và nhà Giu-đa.
Ta sẽ đặt chìa khóa nhà Đa-vít trên vai người. Người mở thì không ai đóng được, và đóng thì không ai mở được.
Ta sẽ làm cho người vững chắc như cọc lều đóng xuống đất; và người sẽ trở nên một ngai vinh quang cho nhà cha mình.
Người ta sẽ treo trên người mọi vinh quang của nhà cha mình, con cái dòng dõi, và tất cả những vật dụng bé nhỏ, từ cái chén đến cái bình.’”
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Trong ngày đó, cái chốt đóng vào nơi vững chắc sẽ bị long ra và rơi xuống; và vật nặng treo trên đó sẽ bị cắt đứt.” Đức Giê-hô-va đã phán vậy.
Lời tiên tri về Ty-rơ: Hỡi tàu bè Ta-rê-si, hãy than khóc, Vì Ty-rơ đã bị hủy phá, Không còn nhà cửa, cũng chẳng còn lối vào! Từ đất Kít-tim, họ đã biết được tin nầy.
Hãy nín lặng! Hỡi cư dân duyên hải, Hỡi những thương gia ở Si-đôn, Là những kẻ vượt biển chở đầy hàng.
Hạt giống của Si-ho, mùa màng của sông Nin, Được chở theo đường biển, Là nguồn lợi của nó; Nó là nơi giao thương của các nước.
Hỡi Si-đôn, hãy hổ thẹn! Vì biển đã nói, Pháo đài của biển nói rằng: “Tôi không quặn đau, cũng không sinh con, Không nuôi thanh niên, cũng không nuôi thiếu nữ.”
Khi tin nầy đồn đến Ai Cập, Người ta chắc sẽ rất đau xót khi nghe tin về Ty-rơ.
Hãy dời qua Ta-rê-si; Hỡi cư dân duyên hải, hãy than khóc!
Phải chăng đây là thành vui vẻ của các ngươi? Là thành có từ thời cổ Mà chân nó đã đem nó Đến các miền xa trú ngụ.
Ai đã định điều nầy chống lại Ty-rơ, Là thành đã đội mão miện? Các thương gia của nó vốn thuộc hàng quý tộc, Các nhà buôn của nó vốn là hạng danh giá trong thiên hạ.
Chính Đức Giê-hô-va vạn quân đã định điều ấy, Để hạ tính kiêu căng của mọi vinh quang, Và làm nhục mọi kẻ sang trọng trên mặt đất.
Hỡi con gái Ta-rê-si, hãy đi xuyên qua đất ngươi, Như lưu vực sông Nin; Không còn sự trói buộc nào nữa.
Đức Giê-hô-va đã giơ tay Ngài trên biển, Làm cho các vương quốc rúng động. Ngài đã truyền lệnh về Ca-na-an: Phải phá hủy đồn lũy nó.
Ngài phán: “Hỡi con gái Si-đôn, là trinh nữ bị áp bức, Ngươi sẽ chẳng còn vui mừng nữa! Hãy mau chạy sang xứ Kít-tim! Nhưng tại đó ngươi cũng sẽ không được an thân.”
Hãy xem đất của người Canh-đê! Ở đây không còn dân nữa. Người A-si-ri đã làm cho nó thành chỗ ở của dã thú. Chúng đã dựng tháp, vây thành, phá hủy cung điện, và làm cho nó thành ra đống đổ nát.
Hỡi tàu bè Ta-rê-si, hãy than khóc! Vì đồn lũy các ngươi đã bị phá hủy rồi.
Lúc ấy, thành Ty-rơ sẽ bị quên lãng trong bảy mươi năm, tức là một đời vua. Sau bảy mươi năm ấy, Ty-rơ sẽ như bài ca của kỹ nữ:
“Hỡi kỹ nữ bị lãng quên kia! Hãy lấy đàn hạc dạo quanh thành phố, Đàn cho thật hay, hát cho thật nhiều Để người ta nhớ đến ngươi!”
Sau bảy mươi năm ấy, Đức Giê-hô-va sẽ thăm viếng thành Ty-rơ; nó sẽ trở lại nghề cũ của nó và làm điếm cho mọi vương quốc trần gian trên mặt đất nầy.
Nhưng lợi nhuận và tiền công của nó sẽ được biệt ra thánh cho Đức Giê-hô-va, thay vì gom góp tích trữ. Vì lợi nhuận ấy sẽ được dành cho những người phục vụ trước mặt Đức Giê-hô-va, để họ được ăn sung mặc sướng.
Nầy, Đức Giê-hô-va sẽ làm cho đất trống không và hoang vu; Ngài làm cho mặt đất biến dạng và dân cư tan lạc.
Bấy giờ, mọi người sẽ cùng chung cảnh ngộ: Thầy tế lễ cũng như dân chúng; Ông chủ cũng như tớ trai, bà chủ cũng như tớ gái; Kẻ bán cũng như người mua; Kẻ cho mượn cũng như người mượn, Chủ nợ cũng như con nợ.
Mặt đất sẽ hoàn toàn trống không và hoang vu, Vì Đức Giê-hô-va đã phán lời nầy.
Quả đất sầu thảm và hoang tàn, Thế gian hao mòn và hoang tàn; Dân được tôn cao nhất trên đất cũng phải hao mòn.
Quả đất bị ô uế Bởi dân cư của nó, Vì họ đã vi phạm luật pháp, Trái điều răn, Và phá vỡ giao ước đời đời.
Vì thế, sự nguyền rủa ăn nuốt đất, Cư dân trên nó phải mắc tội. Do đó dân trên đất bị thiêu hủy, Chỉ ít người còn sót lại.
Rượu mới than vãn, Cây nho tàn héo, Mọi người có lòng vui vẻ đều thở dài;
Tiếng trống vui vẻ đã ngưng, Tiếng ồn ào của cuộc vui đã hết, Âm điệu vui tươi của đàn hạc đã dứt.
Chẳng còn ai vừa uống rượu vừa hát ca; Rượu mạnh sẽ đắng cay cho người uống nó.
Thành phố hỗn loạn đã đổ nát; Nhà cửa đều đóng lại, không ai vào được.
Ngoài đường phố có tiếng kêu la đòi rượu; Mọi cuộc vui đều trở nên tăm tối, Niềm vui trên đất đã rời xa!
Trong thành chỉ còn cảnh hoang tàn, Cổng thành bị đập phá tiêu tan.
Vì giữa các dân trên đất, Sẽ giống như lúc người ta rung cây ô-liu, Và như khi mót trái nho sau mùa hái trái.
Những người sống sót nầy sẽ cất tiếng reo mừng; Từ phương tây, họ lớn tiếng vui mừng Ca ngợi uy nghiêm của Đức Giê-hô-va.
Vậy từ phương đông, hãy tôn vinh Đức Giê-hô-va, Từ các hải đảo, hãy tôn cao Danh Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Từ các nơi tận cùng mặt đất, chúng tôi đã nghe tiếng ca ngợi: “Vinh quang thuộc về Đấng Công Chính.” Nhưng tôi nói: “Tôi mòn mỏi, tôi mòn mỏi! Khốn nạn cho tôi, những kẻ phản bội! Những kẻ phản bội cứ tiếp tục phản bội!”
Hỡi cư dân trên đất, Sự kinh hãi, hố sâu, và lưới bẫy Đang chờ đợi các ngươi.
Ai trốn khỏi tiếng kinh hãi Sẽ rơi xuống hố; Nếu lên khỏi hố Sẽ mắc vào lưới bẫy. Vì các cửa sổ trên trời đều mở ra, Các nền dưới đất đều rung chuyển.
Đất bị đập vỡ tan nát, Đất bị xé ra từng mảnh, Đất bị rúng động dữ dội.
Đất lảo đảo như người say, Lắc lư như túp lều tranh; Tội lỗi của nó chất nặng lên nó, Và nó sẽ ngã xuống, không sao dậy nổi!
Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va sẽ trừng phạt Đạo binh ở trên các tầng trời cao, Và các vua trần gian ở dưới đất thấp.
Họ bị tập trung lại Như tù nhân trong hầm; Họ bị giam trong ngục tối. Sau nhiều ngày, họ sẽ bị trừng phạt.
Mặt trăng sẽ xấu hổ, Mặt trời sẽ mắc cỡ; Vì Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ trị vì Trên núi Si-ôn và tại Giê-ru-sa-lem. Ngài bày tỏ vinh quang Trước mặt các trưởng lão Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài là Đức Chúa Trời của con! Con tôn vinh Ngài, con ca ngợi danh Ngài; Vì Ngài đã làm những việc kỳ diệu Là những việc đã được hoạch định từ xưa một cách thành tín và chân thật.
Vì Ngài đã làm cho thành phố trở nên đống gạch vụn, Thành trì kiên cố trở nên đống đổ nát. Đền đài của dân ngoại chẳng phải là thành nữa, Nó sẽ chẳng bao giờ được xây dựng lại.
Vì thế, một dân hùng mạnh sẽ tôn vinh Ngài; Thành của các nước hung ác sẽ kính sợ Ngài.
Vì Ngài là nơi nương tựa cho người cô thế, Là chốn nương náu cho kẻ nghèo thiếu trong lúc khó khăn, Là nơi trú ẩn khỏi cơn bão táp, Là bóng mát tránh cơn nóng bức, Khi những kẻ hung bạo thổi hơi ra Như bão táp xông vào tường thành.
Ngài làm cho tiếng ồn ào của dân ngoại nín lặng Như giảm sức nóng trên đất khô hạn; Và làm im tiếng hát của kẻ hung bạo Như nắng nóng tan đi bởi bóng mây.
Trên núi nầy, Đức Giê-hô-va vạn quân dọn cho mọi dân tộc Một yến tiệc béo bổ, một tiệc rượu ngon, Đồ béo có tủy, và rượu ngon tinh chế.
Trên núi nầy, Ngài sẽ xé bỏ Cái màn che mặt phủ trên mọi dân tộc, Và tấm chăn che phủ muôn nước.
Ngài sẽ vĩnh viễn tiêu diệt sự chết. Chúa là Đức Giê-hô-va sẽ lau ráo nước mắt Khỏi mặt mọi người; Và xóa sạch sự sỉ nhục của dân Ngài Khỏi cả mặt đất. Vì Đức Giê-hô-va đã phán vậy.
Trong ngày đó, người ta sẽ nói rằng: “Kìa, đây là Đức Chúa Trời chúng ta; Chúng ta trông đợi Ngài, và Ngài đã cứu chúng ta. Đây là Đức Giê-hô-va mà chúng ta trông đợi, Chúng ta hãy hân hoan vui mừng về sự cứu rỗi của Ngài!”
Vì tay Đức Giê-hô-va sẽ đặt trên núi nầy; Nhưng Mô-áp sẽ bị giày đạp ngay tại chỗ, Như đống rơm bị giày đạp trong hố phân.
Nó sẽ dang tay ra trong đó, Như người bơi lội dang tay ra để bơi. Nhưng Đức Giê-hô-va sẽ hạ sự kiêu ngạo nó xuống, Và đánh bại âm mưu của tay nó.
Tường thành của ngươi với lũy cao kiên cố, Ngài sẽ triệt hạ, đánh đổ và ném xuống đất, Xuống tận bụi đất.
Trong ngày đó, ở đất Giu-đa người ta sẽ hát bài ca nầy: “Chúng ta có một thành kiên cố! Chúa lấy sự cứu rỗi Làm tường, làm lũy.
Hãy mở các cổng Cho dân công chính, Là dân giữ lòng trung tín, được vào đó.
Người nào để tâm trí mình nương cậy nơi Chúa Thì Ngài sẽ gìn giữ người trong sự bình an trọn vẹn, Vì người tin cậy Ngài.
Hãy tin cậy Đức Giê-hô-va đến đời đời, Vì Đức Giê-hô-va, chính Đức Giê-hô-va, Là vầng đá của mọi thời đại!
Ngài đã hạ bệ những kẻ ở trên cao; Triệt hạ thành cao ngất, San thành bình địa Và ném nó xuống bụi đất.
Nó sẽ bị giày đạp dưới chân, Dưới bàn chân của kẻ nghèo nàn, Dưới bước chân của người cô thế.”
Đường người công chính là đường ngay thẳng; Lạy Đấng Ngay Thẳng, xin Ngài làm cho đường người công chính được bằng phẳng.
Lạy Đức Giê-hô-va, thật vậy, trên con đường phán xét của Ngài, Chúng con trông đợi Ngài; Linh hồn chúng con khao khát Danh Ngài và kỷ niệm của Ngài.
Ban đêm linh hồn con khao khát Chúa; Vâng, thần linh trong con thiết tha tìm kiếm Ngài. Vì khi sự phán xét của Ngài thực thi trên đất Thì cư dân trên thế giới học biết sự công chính.
Dù nhận được ân huệ, Kẻ ác cũng không học điều công chính. Sống trong đất ngay thẳng, nó vẫn hành động gian tà, Và không nhìn thấy uy nghiêm của Đức Giê-hô-va.
Lạy Đức Giê-hô-va, tay Ngài đã giơ lên Mà chúng vẫn không thấy. Xin cho chúng thấy lòng sốt sắng của Ngài vì dân Ngài, và chúng xấu hổ. Xin lửa thiêu nuốt kẻ thù của Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài thiết lập sự bình an cho chúng con, Vì mọi công việc của chúng con đều do Ngài làm cho chúng con!
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng con, Ngoài Ngài, đã từng có các chủ khác cai trị chúng con, Nhưng bây giờ, chúng con chỉ tin cậy một mình Ngài Và cầu khẩn danh Ngài.
Chúng đã chết, sẽ không còn sống nữa; Những âm hồn không trỗi dậy được, Vì Ngài đã trừng phạt và hủy diệt chúng, Xóa sạch mọi kỷ niệm của chúng.
Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài đã làm cho dân nầy lớn mạnh, Ngài đã làm cho dân nầy lớn mạnh. Ngài đã được tôn vinh; Ngài đã mở mang bờ cõi đất nầy.
Lạy Đức Giê-hô-va, trong cảnh khốn cùng, Họ đã tìm kiếm Ngài; Khi bị Ngài sửa trị, họ hết lòng cầu khẩn Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, trước mặt Ngài, Chúng con khác nào sản phụ sắp sinh, Quặn thắt, kêu la trong cơn đau đớn.
Chúng con đã thai nghén, quặn thắt, Nhưng chỉ sinh ra gió. Chúng con không đem lại sự giải cứu cho quả đất, Cũng chẳng sinh ra cư dân trên thế gian nầy.
Những người chết của Ngài sẽ sống, Xác của họ sẽ trỗi dậy! Hỡi những kẻ ở trong bụi đất, hãy thức dậy và reo vui! Vì sương móc của Ngài như sương móc rạng đông, Và đất sẽ buông tha các âm hồn.
Hỡi dân Ta, hãy đi vào phòng Và đóng cửa lại. Hãy ẩn mình một lát, Cho đến khi cơn thịnh nộ đã qua.
Vì nầy, Đức Giê-hô-va ra khỏi nơi Ngài ngự Để trừng phạt tội lỗi của dân cư trên đất. Bấy giờ, đất sẽ để lộ máu ra Và không che đậy những kẻ đã bị giết nữa.
Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va sẽ dùng gươm cứng, lớn và mạnh Để trừng phạt lê-vi-a-than là con rắn luồn lách, Trừng phạt lê-vi-a-than là con rắn uốn lượn; Và Ngài sẽ giết con quái vật dưới biển.
Trong ngày đó, Các ngươi hãy hát cho vườn nho sai trái!
“Chính Ta, Đức Giê-hô-va là Đấng canh giữ nó, Vẫn thường xuyên tưới nước cho nó. Ta canh giữ nó ngày đêm, Kẻo người ta phá hại nó chăng.
Ta không còn giận nữa. Nếu nó chỉ sinh gai góc và bụi rậm, Ta sẽ đi đánh chúng nó, Ta sẽ đốt nó chung với nhau.
Không gì bằng nhờ sức Ta Hãy làm hòa với Ta, Phải, hãy làm hòa với Ta!”
Sẽ đến lúc Gia-cốp đâm rễ, Y-sơ-ra-ên kết nụ và nở hoa, Và sẽ ra trái đầy trên mặt đất.
Có phải Ngài đánh nó như đánh kẻ đã đánh nó không? Hay nó có bị giết như những kẻ giết nó đã bị giết không?
Ngài đã trừng phạt nó cách chừng mực Bằng cách đuổi nó đi; Ngài dùng cơn lốc mãnh liệt đùa nó đi Trong một ngày có gió đông.
Vậy, nhờ điều sau đây mà tội của Gia-cốp sẽ được tha, Và đây là tất cả những gì nó cần làm để tội nó được xóa bỏ: Nó phải làm cho tất cả đá của bàn thờ Trở nên như đá vôi tán vụn, Các tượng A-sê-ra và các bàn thờ dâng hương Sẽ không bao giờ dựng lại nữa.
Vì thành kiên cố đã trở nên hoang vắng, Nơi cư trú đã bị bỏ hoang và lãng quên như hoang mạc. Bò tơ sẽ đến ăn cỏ tại đó, Nằm và nhơi những cành cây.
Khi cành khô và bị bẻ gãy, Các phụ nữ đến lấy mà nhen lửa. Vì dân nầy không chịu hiểu, Nên Đấng đã làm nên nó không thương xót, Đấng tạo nên nó chẳng ban ơn.
Rồi sẽ đến ngày Đức Giê-hô-va sẽ đập lúa từ dòng Sông Cái cho đến suối Ai Cập; hỡi con dân Y-sơ-ra-ên, các ngươi sẽ được thu nhặt từng người một!
Trong ngày đó, kèn lớn sẽ thổi lên. Bấy giờ, những kẻ bị thất lạc trong đất A-si-ri và những kẻ bị đày sang đất Ai Cập sẽ đến thờ phượng Đức Giê-hô-va trên núi thánh tại Giê-ru-sa-lem.
Khốn cho mão miện kiêu ngạo của những bợm rượu Ép-ra-im, Khốn cho vòng hoa chóng tàn, là đồ trang sức xa hoa Cho thủ phủ thung lũng phì nhiêu của những kẻ bị rượu đánh ngã!
Nầy, từ nơi Chúa có một người mạnh mẽ và có quyền thế, Giống như cơn bão mưa đá, cuồng phong tàn phá, Như nước lớn vỡ bờ, lũ lụt tràn lan; Người sẽ dùng tay ném chúng xuống đất.
Mão miện kiêu ngạo của những bợm rượu Ép-ra-im Sẽ bị chà đạp dưới chân.
Vòng hoa chóng tàn là đồ trang sức xa hoa Cho thủ phủ của thung lũng phì nhiêu, Cũng sẽ giống như trái vả chín trước mùa hè; Khi có người thấy và hái được nó thì đã nuốt ngay.
Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ là mão triều thiên vinh quang Và mão miện rực rỡ cho phần còn sót lại của dân Ngài.
Ngài sẽ là Thần Công Lý cho người ngồi tòa xét xử, Và là sức mạnh cho những người đẩy lùi chiến trận nơi cổng thành.
Ngay cả những người nầy cũng loạng choạng vì rượu, Và đi lảo đảo vì rượu mạnh. Thầy tế lễ và nhà tiên tri đều loạng choạng vì rượu mạnh, Họ bị nuốt chửng vì rượu, Và bị lảo đảo vì rượu mạnh; Họ quờ quạng trong khải tượng, Và nhầm lẫn trong phán đoán;
Tất cả các bàn tiệc đầy đồ nôn mửa, Chẳng còn chỗ nào sạch!
“Vậy, người sẽ dạy kiến thức cho ai, Và sẽ giải thích cho ai hiểu sứ điệp của mình? Có phải là dạy cho những trẻ thôi bú, Mới rời khỏi vú chăng?
Vì mệnh lệnh thêm mệnh lệnh, mệnh lệnh thêm mệnh lệnh; Hàng thêm hàng, hàng thêm hàng; Một chút chỗ nầy, một chút chỗ kia!”
Vì vậy, Đức Giê-hô-va sẽ dùng môi miệng người ngoại quốc Và tiếng khác mà phán với dân nầy.
Ngài đã phán với họ: “Đây là chỗ nghỉ ngơi, Hãy để kẻ mệt mỏi được nghỉ; Đây là chỗ yên tĩnh.” Nhưng họ không chịu lắng nghe.
Cho nên lời Đức Giê-hô-va đối với họ sẽ là: Mệnh lệnh thêm mệnh lệnh, mệnh lệnh thêm mệnh lệnh; Hàng thêm hàng, hàng thêm hàng; Một chút chỗ nầy, một chút chỗ kia; Để họ bước tới thì ngã ngửa, Bị vỡ nát, sập bẫy và bị bắt!
Vì thế, hỡi những kẻ ngạo mạn, Đang cai trị dân nầy ở Giê-ru-sa-lem, Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va.
Vì các ngươi nói: “Chúng tôi đã kết ước với sự chết, Chúng tôi có một hợp đồng với âm phủ. Khi tai nạn hủy diệt tràn qua Sẽ chẳng chạm đến chúng tôi. Vì chúng tôi lấy sự gian dối làm nơi nương náu, Lấy sự lừa đảo làm nơi trú ẩn.”
Vậy nên, Chúa là Đức Giê-hô-va phán thế nầy: “Nầy, Ta đặt tại Si-ôn một hòn đá, Là đá thử nghiệm, đá góc nhà, đá quý, Làm nền tảng vững chắc Để ai tin sẽ không hành động vội vã.
Ta sẽ lấy sự công minh làm dây đo, Và sự công chính làm chuẩn mực; Mưa đá sẽ quét sạch nơi nương náu của kẻ gian dối, Nước sẽ tràn ngập chỗ trú ẩn.”
Bấy giờ, giao ước của các ngươi với sự chết sẽ bị hủy bỏ, Hợp đồng của các ngươi với âm phủ sẽ không đứng vững. Khi tai họa hủy diệt tràn qua Thì các ngươi sẽ bị nó chà đạp.
Mỗi lần tai họa tràn đến, nó sẽ bắt lấy các ngươi Vì hết buổi sáng nầy đến buổi sáng khác, Ngày cũng như đêm, tai họa sẽ tràn qua; Chỉ có sự khiếp sợ Làm cho các ngươi hiểu biết sứ điệp.
Giường ngắn quá không thể duỗi mình; Mền hẹp quá không đủ đắp kín.
Vì Đức Giê-hô-va sẽ đứng dậy như ở núi Phê-ra-xim, Ngài sẽ nổi giận như tại thung lũng Ga-ba-ôn Để làm công việc Ngài, là công việc khác thường; Để thực hiện công tác Ngài, là công tác lạ lùng.
Vậy bây giờ, đừng khinh lờn nữa, Kẻo dây trói các ngươi càng siết chặt thêm; Vì tôi đã nghe lệnh hủy diệt trên khắp đất nước nầy Từ Chúa là Đức Giê-hô-va vạn quân.
Hãy lắng tai nghe tiếng tôi; Hãy chú ý nghe lời tôi nói!
Có phải người cày ruộng để gieo cứ cày mỗi ngày không? Người ấy cứ vỡ đất và bừa mãi sao?
Khi mặt đất đã được ban bằng rồi, Chẳng phải người ấy vãi tiểu hồi và gieo đại hồi, Tỉa lúa mì trên luống, Lúa mạch tại chỗ riêng, Và đại mạch theo khu vực của nó sao?
Ấy là Đức Chúa Trời đã chỉ dẫn Và dạy bảo nông dân cách phải làm.
Vì người ta không đập tiểu hồi bằng trái lăn, Cũng chẳng cho bánh xe lăn trên đại hồi; Nhưng tiểu hồi thì đập bằng cái que, Đại hồi thì đập bằng cây gậy.
Người ta xay lúa mì để làm bánh, Nhưng không đập mãi; Dù bánh xe cán hoặc chân ngựa đạp trên hạt thóc, Thì nó cũng không giập nát.
Điều nầy cũng đến từ Đức Giê-hô-va vạn quân, Kế hoạch Ngài thật kỳ diệu, Sự khôn ngoan Ngài thật tuyệt vời!
Khốn cho A-ri-ên, A-ri-ên, Là thành mà Đa-vít đã đóng trại! Năm nầy sang năm khác, Các kỳ lễ cứ xoay vần.
Ta sẽ vây hãm A-ri-ên, Nó sẽ có tang chế và than vãn, Nhưng nó vẫn là A-ri-ên cho Ta.
Ta sẽ đóng trại chung quanh ngươi, Lập đồn bao vây ngươi, Đắp lũy chống lại ngươi.
Ngươi sẽ bị chôn vùi, và từ lòng đất ngươi sẽ kêu lên, Từ bụi đất, lời nói ngươi thều thào yếu ớt. Tiếng ngươi từ dưới đất vọng lên giống như tiếng đồng cốt, Lời nói ngươi thì thầm từ bụi đất.
Nhưng muôn vàn kẻ thù của ngươi sẽ như đám bụi li ti, Lũ cường bạo như trấu bay đi. Điều đó sẽ xảy đến thình lình, chỉ trong chốc lát.
Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ trừng phạt chúng Bằng sấm sét, động đất, tiếng động lớn, Giông tố, bão táp, và ngọn lửa thiêu nuốt.
Quân đội của tất cả các nước tiến đánh A-ri-ên, Tất cả những kẻ tiến đánh, công phá đồn lũy, và siết chặt nó Đều sẽ tan biến như chiêm bao, như giấc mơ trong ban đêm.
Như người đói nằm mơ thấy mình được ăn, Nhưng khi thức giấc bụng vẫn đói; Như người khát nằm mơ thấy mình được uống, Nhưng khi thức giấc thấy mình kiệt sức và vẫn khát, Quân đội của tất cả các nước tiến đánh núi Si-ôn Cũng sẽ như vậy.
Hãy sững sờ và kinh ngạc! Hãy làm cho mình mù mắt và quáng lòa! Họ say nhưng không phải vì rượu; Họ lảo đảo nhưng không phải vì rượu mạnh.
Vì Đức Giê-hô-va đã đổ thần ngủ mê trên các ngươi; Ngài đã bịt mắt các ngươi là các nhà tiên tri, Và đã trùm đầu các ngươi là những nhà tiên kiến.
Vì vậy đối với các ngươi, khải tượng về tất cả điều nầy giống như những lời ghi trong cuộn sách bị niêm phong. Nếu đưa cho người biết đọc và bảo: “Hãy đọc sách nầy,” thì người ấy sẽ trả lời rằng: “Tôi không thể đọc được vì sách nầy đã bị niêm phong.”
Hoặc nếu đưa cuộn sách cho người không biết đọc và bảo: “Hãy đọc sách nầy,” thì người ấy sẽ trả lời: “Tôi không biết đọc.”
Chúa phán: “Vì dân nầy chỉ lấy miệng đến gần Ta, Lấy môi miếng tôn vinh Ta, Nhưng lòng chúng nó thì cách xa Ta lắm. Việc chúng kính sợ Ta chẳng qua là điều răn của loài người, Do loài người dạy bảo.
Vì thế, Ta sẽ tiếp tục làm Những việc lạ lùng giữa dân nầy, Việc rất lạ đến nỗi sự khôn ngoan của người khôn ngoan sẽ tiêu mất, Và sự thông sáng của người thông sáng sẽ bị che khuất.”
Khốn cho những kẻ giấu ý đồ của mình khỏi Đức Giê-hô-va cách sâu kín, Làm việc trong bóng tối Và tự nhủ: “Ai thấy ta, ai biết ta?”
Các ngươi thật là mâu thuẫn: Thợ gốm lại coi như đất sét sao? Vật được làm ra có thể nào nói về người làm ra mình rằng: “Hắn đâu có làm ra tôi”? Hoặc cái bình có được nói về thợ gốm rằng: “Hắn chẳng hiểu biết gì,” không?
Chẳng phải còn ít lâu nữa Thì Li-ban sẽ trở thành vườn cây ăn trái, Và vườn cây ăn trái sẽ được coi như rừng rậm hay sao?
Trong ngày đó, người điếc sẽ nghe được Lời trong cuộn sách, Mắt người mù sẽ ra khỏi cảnh tối tăm mù mịt Và thấy được.
Người nhu mì sẽ gia tăng niềm vui trong Đức Giê-hô-va, Người nghèo khổ sẽ vui mừng trong Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên.
Vì kẻ bạo ngược không còn nữa, Kẻ ngạo mạn sẽ chấm dứt, Và mọi kẻ rình rập làm ác sẽ bị diệt trừ,
Tức là những kẻ dùng lời nói làm cho người ta bị kết tội, Kẻ gài bẫy người phân xử tại cổng thành, Những kẻ dùng lý lẽ ngụy tạo để khuất phục người công chính.
Vì thế, Đức Giê-hô-va là Đấng cứu chuộc Áp-ra-ham đã phán về nhà Gia-cốp như sau: “Giờ đây, Gia-cốp sẽ không còn hổ thẹn nữa, Và mặt nó sẽ chẳng còn tái xanh.
Nhưng khi Gia-cốp thấy con cái mình, Là việc tay Ta làm ra giữa họ, Thì họ sẽ tôn danh Ta là Thánh; Họ sẽ tôn thánh Đấng Thánh của Gia-cốp, Và kính sợ Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Những kẻ có tâm linh lầm lạc sẽ được hiểu biết, Và kẻ hay oán trách sẽ được dạy dỗ.”
Đức Giê-hô-va phán: “Khốn cho con cái phản nghịch! Chúng lập kế hoạch không theo ý Ta, Lập liên minh không bởi Thần Ta, Để thêm tội vào tội.
Chúng không hỏi ý Ta Mà đã đi xuống Ai Cập, Để tìm nơi ẩn náu dưới sự che chở của Pha-ra-ôn Và núp bóng Ai Cập!
Vì vậy, sự che chở của Pha-ra-ôn sẽ trở thành sự sỉ nhục cho các ngươi, Việc núp bóng Ai Cập sẽ làm các ngươi phải xấu hổ.
Dù các thủ lĩnh nó đã có mặt tại Xô-an, Và các sứ giả đã đến Ha-ne;
Tất cả sẽ thất vọng và xấu hổ Vì một dân chẳng ích gì cho mình, Chẳng giúp đỡ cũng chẳng ích lợi gì, Nhưng chỉ đem lại xấu hổ và ô nhục.”
Lời tiên tri về các thú vật miền Nê-ghép: Xuyên qua miền đất gian nan khốn khổ, Miền đất của những sư tử đực và sư tử cái, Miền đất của rắn độc và rắn lửa bay, Chúng chở của cải mình trên lưng lừa, Và chở báu vật trên gu lạc đà Đến cho một dân chẳng giúp ích gì cho chúng.
Vì sự cứu giúp của người Ai Cập chỉ là hư không, vô ích Nên Ta gọi nó là “Ra-háp ngồi yên bất động.”
Bây giờ, con hãy ghi những lời nầy trên một tấm bảng, Hãy chép vào một cuộn sách Để lưu lại đời sau mãi mãi.
Vì chúng là một dân phản nghịch, Là con cái gian dối, Con cái không muốn lắng nghe Luật pháp của Đức Giê-hô-va.
Chúng nói với các nhà tiên kiến: “Đừng thấy khải tượng nữa,” Và nói với những người thấy khải tượng rằng: “Đừng nói cho chúng tôi những khải tượng về điều chân thật nữa! Hãy nói cho chúng tôi những điều êm tai, Và hãy kể những chuyện huyền hoặc.
Hãy lìa đường, bỏ lối, Đừng nói đến Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên trước mặt chúng tôi!”
Vì vậy, Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên phán: “Vì các ngươi khinh thường lời nầy, Mà tin tưởng vào sự áp bức và gian dối, Và nương cậy vào đó,
Nên đối với các ngươi, Tội ấy như vết nứt lộ ra trên một bức tường cao, Sắp sụp đổ thình lình, trong nháy mắt.
Nó sẽ bị bể nát như cái bình của thợ gốm bị bể ra, Bể ra từng mảnh chẳng thương tiếc; Đến nỗi người ta không tìm được một mảnh gốm Để lấy lửa trong bếp Hay múc nước ngoài ao.”
Chúa là Đức Giê-hô-va, Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên phán: “Nhờ quay trở lại và yên nghỉ, các ngươi sẽ được giải cứu; Nhờ yên lặng và tin cậy, các ngươi sẽ được sức mạnh. Nhưng các ngươi đã không muốn như thế!
Các ngươi nói: ‘Không, chúng tôi sẽ cưỡi ngựa chạy trốn!’ Vì vậy, các ngươi sẽ phải chạy trốn. ‘Chúng tôi sẽ cưỡi ngựa phóng nhanh!’ Vì vậy, những kẻ truy đuổi các ngươi cũng sẽ phóng nhanh!
Một người dọa, nghìn người chạy trốn; Năm người dọa, các ngươi đều bỏ chạy Cho đến khi các ngươi còn sót lại Như cột cờ trên đỉnh núi, Như ngọn cờ ở trên đồi.”
Dù vậy, Đức Giê-hô-va còn chờ đợi để ban ơn cho các ngươi; Ngài sẽ đứng lên để tỏ lòng thương xót các ngươi. Vì Giê-hô-va là Đức Chúa Trời công minh. Phước cho mọi người trông đợi Ngài!
Hỡi dân ở Si-ôn, là người ở Giê-ru-sa-lem! Ngươi sẽ không còn khóc lóc nữa. Khi ngươi kêu cầu Ngài, chắc chắn Ngài sẽ ban ơn; vừa khi nghe tiếng ngươi kêu cầu, Ngài liền nhậm lời.
Chúa sẽ ban bánh hoạn nạn và nước khốn khó cho các ngươi, Bấy giờ, những người dạy dỗ ngươi không còn ẩn mặt nữa; mắt ngươi sẽ thấy những người dạy dỗ mình.
Khi ngươi xoay qua bên phải hoặc bên trái, tai ngươi sẽ nghe có tiếng phía sau mình rằng: “Nầy là đường đây, hãy noi theo!”
Các ngươi sẽ làm ô uế các tượng chạm dát bạc và tượng đúc bọc vàng. Các ngươi sẽ ném chúng ra xa như đồ ô uế và nói: “Hãy cút khỏi đây!”
Chúa sẽ ban mưa cho hạt giống ngươi gieo trên đất; lương thực là sản phẩm từ đất đai sẽ màu mỡ và dồi dào. Trong ngày đó, bầy súc vật của ngươi sẽ ăn trên đồng cỏ rộng rãi.
Bò và lừa cày ruộng sẽ ăn thức ăn ngon mà người ta rê bằng xẻng và chĩa.
Trong ngày có cuộc tàn sát lớn, các đồn lũy sụp đổ, thì trên mọi núi cao đồi cả sẽ có những suối nước chảy.
Ánh sáng mặt trăng sẽ như ánh sáng mặt trời, và ánh sáng mặt trời sẽ tăng gấp bảy lần như ánh sáng của bảy ngày, trong ngày Đức Giê-hô-va băng bó vết thương cho dân Ngài, và chữa lành thương tích cho họ.
Nầy, danh Đức Giê-hô-va từ xa mà đến; Cơn giận của Ngài nổi lên phừng phừng, Khói dày đặc bay lên; Đôi môi Ngài đầy thịnh nộ, Lưỡi Ngài giống như lửa thiêu nuốt;
Hơi thở Ngài như dòng nước chảy xiết, Tràn ngập đến cổ. Ngài sàng sảy các nước bằng cái sàng hủy diệt, Và đặt hàm thiếc vào hàm các dân để dẫn chúng lạc đường.
Bấy giờ, các ngươi sẽ ca hát như trong đêm thánh lễ. Lòng các ngươi vui mừng như người thổi sáo lên núi Đức Giê-hô-va, đến cùng Vầng Đá của Y-sơ-ra-ên.
Đức Giê-hô-va sẽ làm cho nghe tiếng oai nghiêm Ngài. Ngài sẽ cho thấy cánh tay răn đe của Ngài trong cơn thịnh nộ, trong ngọn lửa thiêu nuốt, trong bão táp, giông tố và mưa đá.
A-si-ri sẽ khiếp sợ vì tiếng Đức Giê-hô-va. Ngài sẽ dùng roi đánh A-si-ri.
Mỗi khi giơ roi trừng phạt mà Đức Giê-hô-va đã định trên nó, thì có tiếng trống và tiếng đàn hạc; và Ngài ra tay tranh chiến với nó.
Vì Tô-phết đã được chuẩn bị từ lâu, nó được chuẩn bị cho vua. Nó sâu và rộng, thật nhiều lửa và củi; hơi thở của Đức Giê-hô-va như dòng suối lưu huỳnh đốt cháy nó.
Khốn cho những kẻ xuống Ai Cập để cầu cứu, Dựa vào ngựa chiến, Nhờ cậy vào đoàn chiến xa đông đảo Và lực lượng kỵ binh hùng hậu, Mà không nhìn lên Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên Và chẳng tìm cầu Đức Giê-hô-va!
Nhưng chính Ngài là Đấng Khôn Ngoan! Đấng giáng họa, Đấng không rút lại lời đã phán ra. Ngài sẽ đứng lên chống lại nhà kẻ ác Và chống lại kẻ giúp bọn gian tà.
Người Ai Cập chỉ là loài người, không phải là Đức Chúa Trời; Ngựa chiến của chúng chỉ là xác thịt, không phải là thần. Khi Đức Giê-hô-va dang tay ra, Kẻ giúp đỡ sẽ lảo đảo, người được giúp sẽ ngã nhào Tất cả cùng bị diệt vong.
Đức Giê-hô-va đã phán với tôi thế nầy: “Như sư tử hoặc sư tử tơ gầm thét khi bắt được mồi, Mặc dù một đám chăn chiên họp lại chống nó, Thì không vì tiếng la hét mà nó sợ hãi, Không vì náo động mà nó khiếp sợ; Cũng vậy, Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ ngự xuống Để đánh trận trên núi Si-ôn và trên ngọn đồi của nó.
Như chim bay lượn thể nào Thì Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ bảo vệ Giê-ru-sa-lem thể ấy; Ngài sẽ bảo vệ và giải thoát, Ngài sẽ vượt qua và cứu vớt nó.”
Hỡi con dân Y-sơ-ra-ên, hãy trở lại cùng Đấng mà anh em đã hết sức chống nghịch.
Vì trong ngày đó, ai nấy sẽ bỏ các tượng thần bằng bạc bằng vàng do chính tay tội lỗi của anh em làm ra.
A-si-ri sẽ ngã gục dưới lưỡi gươm chẳng phải của con người, Và một lưỡi gươm không phải của loài người sẽ ăn nuốt nó. Nó sẽ phải trốn chạy trước lưỡi gươm ấy, Và những thanh niên của nó sẽ phải làm lao dịch.
Tảng đá của nó sẽ qua đi vì kinh hoàng, Các quan chức của nó khiếp sợ vì thấy ngọn cờ, Đó là lời phán của Đức Giê-hô-va, Đấng có lửa tại Si-ôn, có lò tại Giê-ru-sa-lem.
Nầy, sẽ có một vua trị vì theo sự công chính, Các quan chức sẽ cai trị theo lẽ công minh.
Sẽ có một người như nơi núp gió Và chỗ che bão táp, Như suối nước trong nơi khô hạn, Như bóng vầng đá lớn trong đất cằn cỗi.
Bấy giờ, mắt của những người thấy được sẽ không nhắm lại, Tai của những người nghe được sẽ lắng nghe.
Lòng của người hấp tấp sẽ có sự thông sáng để hiểu biết; Lưỡi của người cà lăm sẽ nói lưu loát và rõ ràng.
Kẻ ngu dại sẽ không được gọi là cao quý, Kẻ quỷ quyệt chẳng ai cho là đáng kính.
Vì kẻ ngu dại sẽ nói những lời dại dột, Lòng họ mưu đồ việc gian ác Để làm chuyện vô đạo, Nói điều xúc phạm đến Đức Giê-hô-va; Làm cho người đói phải trống bụng Và kẻ khát chẳng được uống.
Kẻ quỷ quyệt dùng những vũ khí gian tà, Nghĩ ra những mưu ác và dùng lời dối trá Để làm hại người nhu mì và người nghèo khó, Dù họ đòi hỏi điều chính đáng.
Nhưng người cao quý chỉ mưu cầu những điều cao quý, Và đứng vững trên những việc cao quý.
Hỡi những đàn bà tự mãn, Hãy trỗi dậy mà nghe tiếng Ta! Hỡi những con gái vô tâm, Hãy để tai nghe lời Ta!
Trong một năm và mấy ngày nữa, Các ngươi là kẻ vô tâm sẽ run rẩy, Vì mùa hái nho sẽ mất Và mùa gặt hái cũng không đến.
Hỡi những đàn bà tự mãn, hãy run rẩy! Hỡi những kẻ vô tâm, hãy bối rối! Hãy cởi áo, hãy ở trần, Hãy thắt lưng bằng vải sô.
Chúng sẽ đấm ngực than khóc Về đồng ruộng màu mỡ, Và vườn nho sai quả,
Vì gai góc và bụi rậm Mọc lên trên đất dân Ta, Vì mọi nhà hoan lạc trong thành vui nhộn Không còn nữa.
Thật vậy, cung điện vắng tanh, Thành đông đúc bị bỏ hoang; Đồi và tháp canh trở nên hang động đến muôn đời Cho lừa rừng làm nơi đùa giỡn, Và làm đồng cỏ cho các bầy súc vật.
Cho đến khi Thần từ trên cao được đổ xuống cho chúng ta, Hoang mạc biến thành vườn cây ăn quả, Vườn cây ăn quả được xem như một cánh rừng.
Bấy giờ, lẽ công minh sẽ ở trong hoang mạc, Và sự công chính ở trong vườn cây ăn quả.
Sản phẩm của công chính là sự bình an, Thành quả của công chính là sự yên ổn và an ninh mãi mãi.
Dân Ta sẽ cư trú trong nơi bình an, Trong chỗ ở an toàn, và nơi nghỉ ngơi thanh thản.
Nhưng mưa đá sẽ đổ trên rừng, Và thành trì sẽ bị triệt hạ.
Phước cho các ngươi, Những người gieo giống bên mọi dòng nước, Thả cho bò lừa đi ăn cỏ tự do.
Khốn cho ngươi là kẻ hủy diệt Mà chính ngươi chưa bị hủy diệt, Là kẻ phản bội Mà chưa bị ai phản bội! Khi ngươi ngưng hủy diệt Thì ngươi sẽ bị hủy diệt; Khi ngươi thôi phản bội Thì ngươi sẽ bị phản bội.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin thương xót chúng con! Chúng con trông đợi Chúa. Xin ban sức mạnh cho chúng con mỗi buổi sáng, Giải cứu chúng con trong lúc hoạn nạn.
Nghe tiếng ồn ào, các dân đều chạy trốn; Khi Chúa đứng lên, các nước chạy tán loạn.
Của cải các ngươi sẽ bị gom như cào cào; Người ta xông vào nó như đàn châu chấu xông tới.
Đức Giê-hô-va được tôn cao vì Ngài ngự trên cao. Ngài làm cho Si-ôn đầy dẫy công lý và sự công chính.
Ngài sẽ là sự bền vững cho ngày giờ của ngươi, Là sự phong phú của ơn cứu rỗi, sự khôn ngoan, và tri thức; Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là kho báu Ngài ban.
Nầy, những dũng sĩ của chúng kêu la ngoài đường; Các sứ giả hòa bình khóc lóc đắng cay.
Đường cái hoang vắng, Đường sá không người qua lại; Người ta đã phá vỡ giao ước, Xem thường nhân chứng, Chẳng coi ai ra gì.
Đất đai than khóc và hao mòn; Li-ban xấu hổ và khô héo; Sa-rôn giống như đồng hoang; Ba-san và Cạt-mên trơ trụi.
Đức Giê-hô-va phán: “Bây giờ, Ta sẽ đứng dậy; Bây giờ, Ta sẽ tự tôn cao; Bây giờ, Ta sẽ được tôn vinh!
Các ngươi mang thai rơm rạ, hẳn sẽ sinh ra cỏ rác. Hơi thở của các ngươi là lửa thiêu nuốt mình.
Các dân sẽ như vôi đang bị nung, Như gai đã bị chặt và đốt trong lửa.
Hỡi những kẻ ở xa, hãy nghe việc Ta đã làm; Hỡi những kẻ ở gần, hãy nhận biết sức mạnh của Ta.”
Tại Si-ôn, bọn tội nhân kinh hãi, Đám vô đạo run rẩy; chúng nói: “Ai trong chúng ta có thể ở với lửa thiêu nuốt? Ai trong chúng ta có thể ở với lửa cháy đời đời?”
Người bước theo sự công chính và nói điều chính trực, Xem thường món lợi bất chính, Giữ tay không nhận hối lộ; Bịt tai không nghe chuyện đổ máu, Nhắm mắt không nhìn việc ác.
Người như thế sẽ được ở nơi cao, Có đồn lũy bằng vách đá làm nơi trú ẩn; Người ấy sẽ luôn được cung cấp bánh ăn Và chẳng lo thiếu nước uống.
Mắt ngươi sẽ chiêm ngưỡng Vua trong vẻ đẹp của Ngài, Và sẽ thấy miền đất trải rộng ra xa.
Lòng ngươi sẽ suy ngẫm sự kinh khiếp, và tự hỏi: “Các quan chức ở đâu? Kẻ thu thuế ở đâu? Người kiểm tra các tháp canh ở đâu?”
Ngươi sẽ chẳng còn thấy dân bạo ngược ấy nữa, Là dân nói tiếng xa lạ khó nghe, Nói thứ tiếng không thể hiểu được.
Hãy nhìn xem Si-ôn là thành của các kỳ đại lễ của chúng ta! Mắt ngươi sẽ thấy Giê-ru-sa-lem, Là chỗ ở yên tĩnh, là lều sẽ không còn dời đi nữa, Các cọc lều không còn bị nhổ đi, Tất cả dây thừng không bị đứt.
Vì uy nghiêm của Đức Giê-hô-va sẽ ở với chúng ta tại đó, Là nơi có sông suối rộng lớn, Không có thuyền chèo đi lại, Chẳng có tàu lớn vượt qua.
Thật, Đức Giê-hô-va là Đấng Phán xét của chúng ta, Đức Giê-hô-va là Đấng Lập Pháp của chúng ta, Đức Giê-hô-va là Vua của chúng ta; Chính Ngài sẽ cứu rỗi chúng ta.
Các dây của ngươi đã bị tháo lỏng, Không thể giữ chân cột buồm Và không thể giương buồm được. Bấy giờ, người ta sẽ chia nhau nhiều chiến lợi phẩm; Ngay cả người què cũng được phần của nó.
Dân cư sẽ không còn nói: “Tôi bị bệnh.” Người sống trong đó sẽ được tha tội.
Hỡi các nước hãy đến gần mà nghe; Hỡi các dân, hãy chú ý! Đất và mọi vật trên đó, Thế giới và mọi vật sinh ra từ nó, Hãy cùng lắng nghe!
Vì Đức Giê-hô-va nổi giận chống lại mọi nước, Cơn thịnh nộ Ngài giáng trên tất cả quân đội của chúng; Ngài khiến chúng bị hủy diệt, Phó chúng cho cuộc tàn sát.
Những kẻ bị giết của chúng sẽ bị ném bỏ, Xác chết xông lên mùi hôi thối; Núi non máu chảy đầm đìa.
Tất cả tinh tú trên bầu trời sẽ tan tác, Các tầng trời sẽ cuốn lại như cuộn sách; Tất cả tinh tú sẽ tàn lụi Như lá nho khô rơi rụng, Cũng như lá vả khô rơi xuống từ cây vả.
Vì gươm Ta ở trên trời đã uống thỏa mãn; Nầy, nó sẽ xuống trừng phạt Ê-đôm, Dân mà Ta đã phó cho sự hủy diệt để chịu phán xét.
Gươm của Đức Giê-hô-va dính đầy máu, vấy đầy mỡ, Là máu của chiên con và dê đực, Mỡ trái cật của chiên đực. Vì có một cuộc dâng sinh tế cho Đức Giê-hô-va ở Bốt-ra, Là sự tàn sát lớn trong đất Ê-đôm.
Bò rừng, bò tơ và bò đực Đều ngã xuống với chúng; Đất của chúng sẽ say vì máu, Bụi của chúng thấm đầy mỡ béo.
Vì Đức Giê-hô-va có ngày báo thù, Có năm báo trả vì cớ Si-ôn.
Các sông suối Ê-đôm sẽ biến thành nhựa thông, Bụi đất nó biến thành lưu huỳnh, Đất đai nó trở thành nhựa thông đang cháy.
Ngày đêm không bao giờ tắt, Khói bay lên không dứt. Đất sẽ bị bỏ hoang từ đời nầy sang đời kia; Mãi mãi không còn ai đi qua đó.
Bồ nông và nhím sẽ chiếm lấy nó, Chim cú và chim quạ sẽ ở tại đó. Chúa sẽ giăng dây đo hỗn độn Và dây dọi trống rỗng trên nó.
Giới quý tộc của nó không còn; Ở đó không được gọi là vương quốc nữa, Tất cả các quan chức của nó đều không là gì cả.
Gai góc sẽ mọc trên các lâu đài, Bụi rậm và cỏ rác mọc lên trong các đồn lũy. Nó sẽ trở thành hang chó rừng, Và chỗ ở của đà điểu.
Thú rừng và chó rừng sẽ gặp nhau tại đó; Loài dê ma quái hú gọi nhau; Yêu quái sẽ qua đêm tại đó, Và tìm được cho mình một chỗ nghỉ ngơi.
Chim cú sẽ làm tổ tại đó, đẻ trứng, ấp cho nở, Và nhóm con lại dưới bóng cánh mình; Tại đó, diều hâu cũng tụ họp lại, Trống mái có đôi.
Hãy tìm trong sách Đức Giê-hô-va và đọc: Trong những thú vật ấy, không thiếu một con nào, Chẳng một con nào là không đủ đôi. Vì chính miệng Đức Giê-hô-va đã truyền, Và Thần Ngài đã quy tụ chúng lại.
Chính Chúa đã bắt thăm, Tay Ngài dùng dây đo chia phần cho chúng. Những thú vật ấy sẽ chiếm hữu đất nầy mãi, Và ở đó từ đời nầy sang đời kia.
Hoang mạc và đất khô hạn sẽ vui vẻ; Đồng hoang sẽ mừng rỡ và trổ hoa như hoa thủy tiên.
Nó sẽ trổ nhiều hoa và vui mừng, Hớn hở trỗi tiếng hát ca. Vinh quang của Li-ban sẽ được ban cho nó, Cùng với vẻ đẹp của Cạt-mên và Sa-rôn. Chúng sẽ thấy vinh quang Đức Giê-hô-va Và sự huy hoàng của Đức Chúa Trời chúng ta.
Hãy làm cho mạnh mẽ những bàn tay yếu ớt, Làm cho vững vàng những đầu gối run rẩy!
Hãy bảo những người có lòng lo sợ rằng: “Hãy vững lòng, đừng sợ! Nầy, Đức Chúa Trời của anh em sẽ đến với sự báo thù, Tức là sự báo trả của Đức Chúa Trời. Chính Ngài sẽ đến và cứu anh em!”
Bấy giờ, mắt người mù sẽ thấy được, Tai người điếc sẽ nghe được.
Bấy giờ, người què sẽ nhảy nhót như con nai, Lưỡi người câm sẽ ca hát vang lừng. Vì có những dòng nước trào lên trong hoang mạc, Và các suối tuôn chảy nơi đồng hoang.
Cát nóng sẽ biến thành ao hồ, Đất khô hạn sẽ biến thành suối nước. Nơi chó rừng đã ở Sẽ trở thành đồng cỏ, có sậy và cói.
Tại đó, sẽ có một đường cái, Một con đường gọi là Đường Thánh. Kẻ bất khiết sẽ không được đi qua, Nhưng nó dành cho những người được chuộc. Ai đi trong đường ấy Dù khờ dại cũng không lầm lạc.
Tại đó không có sư tử, Cũng không có một thú dữ nào đi trên đường ấy; Chẳng ai thấy chúng ở đó. Nhưng những người được chuộc sẽ bước đi trên đường ấy.
Những người Đức Giê-hô-va cứu chuộc sẽ trở về, Họ sẽ đến Si-ôn trong tiếng reo hò mừng rỡ; Niềm vui bất tận sẽ ở trên đầu họ. Họ sẽ tràn ngập niềm hân hoan vui mừng, Và sự buồn bực than vãn sẽ biến mất.
Vào năm thứ mười bốn triều vua Ê-xê-chia thì San-chê-ríp, vua A-si-ri, lên đánh và chiếm được tất cả các thành kiên cố của Giu-đa.
Vua A-si-ri sai Ráp-sa-kê từ La-ki đến Giê-ru-sa-lem với một lực lượng hùng hậu đe dọa vua Ê-xê-chia. Ráp-sa-kê đứng tại cống dẫn nước ao trên, nằm trên đường cái dẫn đến cánh đồng thợ giặt.
Bấy giờ Ê-li-a-kim, con trai của Hinh-kia, quan quản lý cung điện, cùng với thư ký Sép-na và quan thái sử Giô-a, con trai của A-sáp, đi ra gặp Ráp-sa-kê.
Ráp-sa-kê nói với họ: “Hãy tâu với vua Ê-xê-chia rằng đại đế là vua A-si-ri phán thế nầy: ‘Sự tin tưởng của ngươi dựa vào đâu?
Ta hỏi ngươi rằng chỉ lời nói suông là có thể thay thế mưu lược và sức mạnh để chiến đấu được sao? Bây giờ, ngươi cậy vào ai mà dám nổi lên chống lại ta?
Nầy, ngươi dựa vào Ai Cập, là cây gậy bằng sậy đã giập, mà ai dựa vào nó thì bị đâm thủng bàn tay. Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, là như vậy đối với tất cả những ai nương cậy ông ấy.
Có lẽ ngươi nói với ta rằng: “Chúng tôi tin cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi.” Nhưng chẳng phải ấy là Đấng mà Ê-xê-chia đã dẹp bỏ các nơi cao và các bàn thờ Ngài, khi truyền cho Giu-đa và Giê-ru-sa-lem rằng: “Các ngươi hãy thờ lạy trước bàn thờ nầy,” hay sao?
Vậy bây giờ, hãy đánh cuộc với chủ ta là vua A-si-ri. Ta sẽ cấp cho ngươi hai nghìn con ngựa, nếu ngươi tìm đủ số kỵ binh để cưỡi!
Ngay cả khi ngươi cậy vào Ai Cập để có chiến xa và kỵ binh, liệu ngươi có thể đẩy lui được một tướng kém nhất trong số các thuộc hạ của chủ ta không?
Hơn nữa, chẳng phải là theo lệnh của Đức Giê-hô-va mà ta lên đánh xứ nầy để tiêu diệt nó sao? Đức Giê-hô-va đã phán với ta rằng: Hãy lên đánh xứ nầy và tiêu diệt nó đi!’”
Ê-li-a-kim cùng Sép-na và Giô-a nói với Ráp-sa-kê: “Xin nói với các đầy tớ ông bằng tiếng A-ram, vì chúng tôi hiểu tiếng ấy. Xin đừng nói với chúng tôi bằng tiếng Giu-đa kẻo dân ở trên tường thành nghe được.”
Nhưng Ráp-sa-kê trả lời: “Có phải chủ ta sai ta truyền mấy lời nầy cho chủ ngươi và cho ngươi thôi sao? Chẳng phải cũng truyền cho những người ngồi trên tường thành kia, là kẻ sắp phải cùng với các ngươi ăn phân, uống nước tiểu mình sao?”
Thế rồi Ráp-sa-kê đứng dậy, dùng tiếng Giu-đa mà nói to lên rằng: “Hãy nghe lời phán của đại đế là vua A-si-ri!
Vua phán thế nầy: ‘Đừng để vua Ê-xê-chia lừa dối các ngươi, vì vua ấy không thể giải cứu các ngươi đâu!
Cũng đừng để vua Ê-xê-chia khiến các ngươi tin cậy Đức Giê-hô-va khi nói rằng: “Đức Giê-hô-va chắc chắn sẽ giải cứu chúng ta cùng với thành nầy, và sẽ chẳng phó nó vào tay vua A-si-ri đâu!”
Đừng nghe Ê-xê-chia, vì vua A-si-ri phán thế nầy: Hãy làm hòa với ta và ra hàng, thì ai cũng sẽ được ăn trái nho, trái vả, và uống nước từ hồ chứa của mình,
cho tới khi ta đến và đem các ngươi vào một xứ như xứ các ngươi, tức là xứ có ngũ cốc và rượu mới, một xứ có bánh và vườn nho.
Hãy coi chừng, kẻo Ê-xê-chia dỗ dành các ngươi mà nói rằng: “Đức Giê-hô-va sẽ giải cứu chúng ta!” Vậy, có thần nào của các nước đã giải cứu xứ họ khỏi tay vua A-si-ri được không?
Các thần của Ha-mát và Ạt-bát ở đâu? Các thần của Sê-phạt-va-im ở đâu? Các thần ấy có giải cứu Sa-ma-ri khỏi tay ta được không?
Trong tất cả các thần của các xứ nầy, có thần nào đã cứu xứ mình ra khỏi tay ta chưa? Vậy, làm thế nào Đức Giê-hô-va cứu nổi Giê-ru-sa-lem khỏi tay ta!’”
Họ im lặng, không đáp lại một lời, vì lệnh vua đã truyền: “Các ngươi đừng đáp lại hắn.”
Ê-li-a-kim, con trai của Hinh-kia, quan quản lý cung điện, cùng thư ký Sép-na, và quan thái sử Giô-a, con trai của A-sáp, xé áo mình ra, trở về gặp vua Ê-xê-chia và thuật lại những lời của Ráp-sa-kê.
Khi nghe tin ấy, vua Ê-xê-chia liền xé áo mình, mặc áo sô và đi vào đền thờ Đức Giê-hô-va.
Vua sai quan quản lý cung điện là Ê-li-a-kim, thư ký Sép-na và các thầy tế lễ cao niên mặc áo sô đến gặp nhà tiên tri Ê-sai, con trai của A-mốt.
Họ nói với ông: “Vua Ê-xê-chia nói thế nầy: ‘Hôm nay là ngày hoạn nạn, quở phạt và ô nhục; như đàn bà đã đến lúc phải sinh con nhưng không đủ sức để sinh.
Chắc Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông đã nghe những lời của Ráp-sa-kê mà chủ hắn là vua A-si-ri đã sai đến để nhạo báng Đức Chúa Trời hằng sống; và Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông sẽ trừng phạt chúng theo những lời mà Ngài đã nghe. Vậy, xin ông dâng lời cầu nguyện cho những người còn sót lại đây!’”
Khi các đầy tớ của vua Ê-xê-chia đến gặp Ê-sai,
thì Ê-sai nói với họ: “Các ông hãy về tâu lại với chủ mình rằng Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Đừng sợ những lời con đã nghe, là những lời mà các đầy tớ của vua A-si-ri đã xúc phạm đến Ta.
Nầy, Ta sẽ đặt một thần linh trong nó, khiến nó nghe tin đồn mà rút quân về nước. Ta sẽ làm cho nó ngã chết dưới lưỡi gươm ngay tại xứ sở nó.’”
Khi Ráp-sa-kê trở về thì gặp vua A-si-ri đang đánh thành Líp-na, vì ông được tin vua đã rời khỏi La-ki.
Bấy giờ, vua A-si-ri được tin báo về Tiệt-ha-ca, vua Cút, rằng: “Vua ấy đang kéo quân ra giao chiến với bệ hạ.” Nghe thế, vua A-si-ri lại sai các sứ giả đến gặp Ê-xê-chia, và dặn rằng:
“Các ngươi hãy nói với Ê-xê-chia, vua Giu-đa, rằng: ‘Đừng để Đức Chúa Trời, là Đấng mà ngươi tin cậy, lừa dối ngươi rằng Giê-ru-sa-lem sẽ không rơi vào tay vua A-si-ri đâu.
Nầy, hẳn ngươi có nghe những gì các vua A-si-ri làm cho tất cả các nước, chúng đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Còn ngươi, ngươi sẽ thoát được sao?
Thần của các nước mà cha ông ta đã tiêu diệt, tức là các thần của Gô-xan, Ha-ran, Rết-sép, và người Ê-đen ở tại Tê-la-sa, có giải cứu họ được chăng?
Vua của Ha-mát, vua của Ạt-bát, vua của các thành Sê-phạt-va-im, Hê-na, và Y-va ở đâu?’”
Ê-xê-chia nhận bức thư do các sứ giả trao tận tay. Đọc xong, vua liền đi lên đền thờ Đức Giê-hô-va và trải thư ra trước mặt Đức Giê-hô-va.
Ê-xê-chia cầu nguyện với Đức Giê-hô-va:
“Lạy Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Đấng ngự trên các chê-ru-bim, chỉ một mình Ngài là Đức Chúa Trời của mọi vương quốc trên đất; chính Ngài đã tạo nên trời và đất.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin nghiêng tai và nghe! Lạy Đức Giê-hô-va, xin mở mắt và xem! Xin nghe mọi lời mà San-chê-ríp đã gửi đến để phỉ báng Đức Chúa Trời hằng sống.
Lạy Đức Giê-hô-va, các vua A-si-ri thật đã tàn phá mọi xứ sở và đất đai của họ,
ném các thần của họ vào lửa; vì chúng không phải là thần, mà chỉ là sản phẩm bằng gỗ và bằng đá do tay người làm ra, nên chúng đã bị hủy diệt.
Vậy bây giờ, lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng con, xin giải cứu chúng con khỏi tay San-chê-ríp, để mọi vương quốc trên đất đều biết rằng chỉ một mình Ngài là Đức Giê-hô-va!”
Ê-sai, con trai của A-mốt, sai người đến tâu với vua Ê-xê-chia rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Vì con đã cầu xin Ta về San-chê-ríp, vua A-si-ri,
đây là lời Đức Giê-hô-va đã phán về nó: ‘Trinh nữ Si-ôn Khinh miệt ngươi, chế nhạo ngươi; Con gái Giê-ru-sa-lem Lắc đầu sau lưng ngươi!
Ngươi đã phỉ báng và xúc phạm đến ai? Ngươi đã lên giọng Và ngước mắt tự cao chống lại ai? Ngươi dám chống lại Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên sao!
Ngươi đã dùng các thuộc hạ phỉ báng Chúa, Ngươi nói: “Với vô số chiến xa, Ta lên các đỉnh núi cao, Đến đỉnh cao chót vót của Li-ban. Ta sẽ đốn những cây bá hương cao hơn hết, Và những cây tùng tốt nhất của nó. Ta sẽ đến chỗ xa nhất Trong rừng cây rậm rạp.
Ta đã đào giếng Và uống nước; Ta đã làm cạn khô mọi sông ngòi Ai Cập. Với đôi bàn chân của ta.”
Có phải ngươi không hề nghe rằng Ta đã định việc nầy từ lâu? Những gì Ta đã hoạch định từ xa xưa, Nay Ta khiến nó xảy ra; Để ngươi biến các thành kiên cố, Ra những đống đổ nát hoang tàn.
Cư dân các thành ấy phải bó tay, Khiếp sợ và hổ thẹn; Họ như cây cỏ ngoài đồng, Giống như đám cỏ xanh, Như cỏ non mọc trên mái nhà, Khác nào cánh đồng trước khi lúa mì mọc lên.
Nhưng Ta biết khi ngươi ngồi, lúc ngươi đứng; Khi ngươi ra, lúc ngươi vào, Và ngay cả khi ngươi điên cuồng chống lại Ta.
Vì ngươi điên cuồng chống lại Ta, Và lời ngạo mạn của ngươi đã thấu đến tai Ta Nên Ta móc khoen vào mũi ngươi, Tra hàm thiếc vào miệng ngươi, Ta sẽ khiến ngươi phải trở về Theo con đường mà ngươi đã đến.’
Hỡi Ê-xê-chia, đây sẽ là dấu hiệu cho con: Năm nay các con sẽ ăn sản vật tự mọc, năm thứ nhì ăn sản vật mọc lên do hạt giống tự rơi; nhưng đến năm thứ ba, hãy gieo và gặt, trồng nho và ăn trái.
Những người trốn thoát của nhà Giu-đa còn sống sót sẽ tiếp tục đâm rễ ở dưới và ra trái ở trên.
Vì sẽ có dân sót lại đi ra từ Giê-ru-sa-lem, và nhóm người trốn thoát ra từ núi Si-ôn. Lòng sốt sắng của Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ thực hiện điều đó.
Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán về vua A-si-ri như sau: ‘Nó sẽ không vào được thành nầy, sẽ chẳng bắn vào đó một mũi tên nào, cũng chẳng dùng khiên hay đắp lũy mà tấn công thành.
Nó sẽ theo con đường mình đã đến mà trở về, không vào thành nầy được đâu.’ Đức Giê-hô-va phán vậy.
Vì Ta và vì Đa-vít, đầy tớ Ta, chính Ta sẽ bảo vệ và giải cứu thành nầy.”
Bấy giờ, một thiên sứ của Đức Giê-hô-va vào trại quân của người A-si-ri, và giết một trăm tám mươi lăm nghìn người. Sáng hôm sau, người ta dậy sớm và thấy toàn là xác chết!
San-chê-ríp, vua A-si-ri, rút quân về, và ở tại Ni-ni-ve.
Một hôm, khi vua San-chê-ríp đang cúi lạy thần của mình trong đền thờ Nít-róc, thì các con trai của vua là A-tra-mê-léc và Sa-rết-se dùng gươm giết vua, rồi trốn sang xứ A-ra-rát. Con vua là Ê-sạt-ha-đôn lên kế vị.
Trong những ngày đó, Ê-xê-chia lâm bệnh sắp chết. Nhà tiên tri Ê-sai, con trai A-mốt, đến gặp vua và nói: “Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Hãy sắp đặt việc nhà của con vì con sắp chết, không sống được nữa.’”
Ê-xê-chia quay mặt vào tường và cầu nguyện với Đức Giê-hô-va:
“Lạy Đức Giê-hô-va, xin nhớ lại rằng con vẫn bước đi trước mặt Ngài cách trung tín hết lòng, và làm điều thiện dưới mắt Ngài!” Rồi Ê-xê-chia khóc rất thảm thiết.
Bấy giờ, có lời Đức Giê-hô-va phán cho Ê-sai:
“Hãy trở lại nói với Ê-xê-chia rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Đa-vít, tổ phụ vua, phán thế nầy: ‘Ta đã nghe lời cầu nguyện của con và thấy nước mắt con. Nầy, Ta sẽ cho con sống thêm mười lăm năm nữa.
Ta sẽ giải cứu con cùng thành nầy khỏi tay vua A-si-ri, và Ta sẽ bảo vệ thành nầy.’
Đây là dấu hiệu Đức Giê-hô-va ban cho vua để chứng tỏ rằng Đức Giê-hô-va sẽ thực hiện điều Ngài đã phán hứa:
‘Nầy, Ta sẽ làm cho bóng mặt trời đã chiếu xuống các bậc của đồng hồ mặt trời của A-cha lui lại mười bậc.’” Vậy, trên đồng hồ mặt trời, bóng mặt trời đã lui lại mười bậc mà nó đã đi qua.
Sau khi lâm bệnh và được chữa lành thì Ê-xê-chia, vua Giu-đa, đã viết những lời nầy:
Tôi từng nói: “Giữa chừng cuộc đời, Tôi phải ra đi; Những năm còn lại của đời tôi, Tôi bị tiêu mất nơi các cửa âm phủ!”
Tôi từng nói: “Tôi chẳng còn thấy Đức Giê-hô-va nữa, Là Đức Giê-hô-va ở trên đất người sống. Tôi không còn nhìn thấy loài người nữa, Là những người đang sống trên trần gian.
Nơi ở của tôi bị nhổ lên và dời xa khỏi tôi Như cái lều của người chăn chiên. Tôi cuốn đời tôi như thợ dệt cuốn vải; Chúa cắt tôi khỏi khung cửi; Sớm còn tối mất, Chúa kết thúc đời tôi!
Tôi giữ yên lặng cho đến sáng mai, Nhưng Ngài đã xé tất cả xương tôi như sư tử. Sớm còn tối mất, Chúa kết thúc đời tôi!
Tôi rầm rì như chim hạc, chim yến; Gù gù như chim bồ câu; Mắt tôi mỏi mòn nhìn lên cao.” “Lạy Chúa, con đang trong cơn khốn đốn, Xin Ngài cứu giúp con.
Con biết nói gì đây? Vì Ngài đã phán với con Thì Ngài cũng đã làm thành việc ấy. Suốt đời, con sẽ bước đi cách khiêm nhường Vì tâm hồn con đầy nỗi đắng cay.
Lạy Chúa, người ta sống là nhờ những điều ấy; Thần linh con cũng nhờ đó mà sống! Xin Chúa chữa lành cho con Và bảo tồn sự sống của con.”
Nầy, nỗi cay đắng của tôi Đã trở nên sự bình an! Chúa đã yêu thương linh hồn tôi, Đem nó ra khỏi hầm hủy diệt, Vì Chúa đã ném mọi tội lỗi tôi Ra sau lưng Ngài.
Vì âm phủ không thể cảm tạ Chúa, Sự chết không thể ca ngợi Ngài; Những kẻ đã xuống mồ Không còn hi vọng nơi sự thành tín của Ngài nữa.
Người sống, chỉ có người sống mới cảm tạ Chúa, Như tôi làm hôm nay. Người làm cha hãy dạy cho con cái mình Biết sự thành tín của Ngài.
Đức Giê-hô-va là Đấng cứu rỗi tôi! Trọn đời chúng tôi sẽ đàn và hát Trong nhà Đức Giê-hô-va!
Ê-sai bảo các đầy tớ vua: “Hãy lấy một cái bánh trái vả đắp trên chỗ ung độc thì vua sẽ sống.”
Ê-xê-chia hỏi: “Có dấu hiệu nào cho biết rằng ta còn được lên đền thờ Đức Giê-hô-va không?”
Trong lúc đó, vua Ba-by-lôn là Mê-rô-đác Ba-la-đan, con vua Ba-la-đan, sai người đem thư và quà tặng cho vua Ê-xê-chia, vì nghe tin vua bị bệnh và được chữa lành.
Ê-xê-chia chào mừng các sứ thần và cho họ xem kho báu của vua như vàng bạc, hương liệu, dầu quý, tất cả kho vũ khí và mọi vật trong các kho tàng. Chẳng có vật gì trong cung điện và trong toàn lãnh thổ mà Ê-xê-chia không cho họ xem.
Nhà tiên tri Ê-sai đến gặp vua Ê-xê-chia và hỏi: “Những người ấy đã nói gì với vua, và họ từ đâu đến?” Ê-xê-chia đáp: “Họ từ xứ Ba-by-lôn xa xôi đến thăm ta.”
Ê-sai hỏi tiếp: “Họ đã xem gì trong cung vua?” Ê-xê-chia đáp: “Họ đã xem tất cả những gì có trong cung điện của ta. Chẳng vật gì trong các kho tàng mà ta không cho họ xem.”
Bấy giờ, Ê-sai nói với Ê-xê-chia: “Xin vua nghe lời Đức Giê-hô-va vạn quân phán:
‘Nầy, trong những ngày đến, mọi vật trong cung điện của con, tất cả những gì mà tổ tiên con đã tích trữ trong các kho tàng cho đến ngày nay, đều sẽ bị đem qua Ba-by-lôn; chẳng còn một thứ gì!’ Đức Giê-hô-va phán vậy.
‘Trong số các con ruột của con, do chính con sinh ra, một số sẽ bị bắt đi làm hoạn quan trong cung vua Ba-by-lôn.’”
Ê-xê-chia đáp lời Ê-sai: “Lời Đức Giê-hô-va mà ông vừa nói là tốt!” Vì vua thầm nghĩ: “Trong đời ta sẽ được hòa bình và ổn định.”
Đức Chúa Trời của các ngươi phán: “Hãy an ủi, hãy an ủi dân Ta.
Hãy nói cho thấu lòng Giê-ru-sa-lem, Và rao rằng cuộc chiến của nó đã kết thúc, Tội lỗi nó đã được tha; Nó đã chịu gấp đôi từ tay Đức Giê-hô-va Về mọi tội lỗi của mình.”
Có tiếng kêu lên trong hoang mạc: “Hãy mở một con đường cho Đức Giê-hô-va; Hãy dọn thẳng đường cái trong đồng hoang cho Đức Chúa Trời chúng ta!
Mọi thung lũng sẽ được nâng lên, Mọi núi đồi sẽ bị hạ xuống; Các nơi gập ghềnh sẽ được làm cho phẳng, Các chỗ gồ ghề sẽ trở nên đồng bằng.
Bấy giờ, vinh quang Đức Giê-hô-va sẽ hiển hiện, Và mọi người đều sẽ xem thấy, Vì chính Đức Giê-hô-va đã phán vậy.”
Có tiếng nói: “Hãy kêu lên!” Và có tiếng đáp: “Tôi phải kêu thế nào?” “Loài người giống như cỏ, Mọi vẻ đẹp của nó như cỏ hoa đồng nội.
Cỏ khô, hoa rụng, Vì hơi thở của Đức Giê-hô-va thổi qua. Thật vậy, loài người chỉ là cỏ:
Cỏ khô, hoa rụng, Nhưng lời của Đức Chúa Trời chúng ta đứng vững đời đời!”
Ai rao tin lành cho Si-ôn, Hãy lên trên núi cao! Ai rao tin lành cho Giê-ru-sa-lem, Hãy ra sức cất tiếng lên! Hãy cất tiếng lên, đừng sợ! Hãy bảo các thành của Giu-đa rằng: “Đây là Đức Chúa Trời của các ngươi!”
Nầy, Chúa Giê-hô-va sẽ đến trong quyền năng, Ngài dùng cánh tay Ngài mà cai trị. Nầy, sự ban thưởng Ngài ở với Ngài, Sự báo trả Ngài ở trước mặt Ngài.
Ngài sẽ chăn bầy mình như người chăn chiên; Tập họp các chiên con trong cánh tay mình Và ẵm chúng vào lòng; Nhẹ nhàng dẫn các chiên cái đang cho bú.
Ai đã lấy lòng bàn tay mà lường biển cả, Lấy gang tay mà đo các tầng trời? Ai đã lấy đấu mà đong bụi đất? Ai đã dùng cân mà cân núi Và dùng cân bàn mà cân đồi?
Ai lường được Thần của Đức Chúa Trời, Và ai làm cố vấn cho Ngài để dạy Ngài điều gì?
Ngài đã hỏi ý kiến ai để được thông hiểu? Ai đã dạy cho Ngài đường công lý? Ai đã dạy Ngài tri thức Và chỉ cho Ngài phương cách nhận thức?
Kìa, các nước giống như một giọt nước nhỏ trong thùng, Giống như là một hạt bụi rơi trên cân; Nầy, Ngài nhấc các hải đảo lên như nhấc một vật nhỏ.
Rừng Li-ban không đủ củi đốt lửa, Những thú vật ở đó chẳng đủ làm tế lễ thiêu.
Trước mặt Ngài, mọi nước đều không là gì cả, Ngài xem chúng như trống không và hư vô.
Vậy, các ngươi có thể ví Đức Chúa Trời với ai, Lấy hình ảnh nào so sánh với Ngài được?
Khi người thợ đúc tượng Thì thợ bạc lấy vàng bọc nó, Và đúc những dây chuyền bằng bạc cho nó.
Người nghèo không lo nổi tượng đúc Thì chọn gỗ không mục, Và tìm thợ lành nghề Để dựng một tượng thật vững chắc.
Các ngươi không biết sao? Các ngươi chưa nghe sao? Chẳng phải điều đó đã được dạy cho các ngươi từ ban đầu sao? Chẳng phải các ngươi đã hiểu quả đất được đặt nền móng sao?
Chính Ngài là Đấng ngự trên vòm che quả đất, Và các cư dân trên đất giống như cào cào. Ngài là Đấng giương các tầng trời ra như cái màn Và căng chúng ra như trại để ở.
Ngài làm cho các quan chức cao cấp ra như con số không, Và làm cho các thẩm phán trên đất ra hư không.
Họ vừa mới được trồng, vừa mới được gieo, Cây vừa mới châm rễ trong đất, Thì Đức Giê-hô-va thổi hơi qua, và họ liền khô héo; Nầy, một cơn gió lốc đùa họ đi như rơm rác.
Đấng Thánh phán: “Các con so sánh Ta với ai? Ai sẽ ngang bằng với Ta?”
Hãy ngước mắt lên cao mà xem: Ai đã sáng tạo những vật nầy? Ngài là Đấng khiến các thiên thể ra theo số lượng và đội ngũ, Ngài gọi đích danh tất cả chúng, Không bỏ sót một thiên thể nào, Vì sức mạnh vĩ đại Và quyền năng vô biên của Ngài.
Vậy hỡi Gia-cốp, sao con nói; Hỡi Y-sơ-ra-ên, sao con than thở: “Đường lối tôi đã bị che khuất khỏi Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời tôi không còn quan tâm đến quyền lợi của tôi”?
Con không biết sao? Con chưa nghe sao? Giê-hô-va là Đức Chúa Trời đời đời, Đấng đã sáng tạo toàn cõi đất, Chẳng mỏi mệt, chẳng yếu sức; Sự hiểu biết của Ngài không thể dò được.
Ngài ban năng lực cho người mệt mỏi, Thêm sức mạnh cho kẻ chẳng có sức.
Các thanh niên cũng phải mòn mỏi mệt nhọc, Người trai tráng cũng phải vấp ngã.
Nhưng ai trông đợi Đức Giê-hô-va chắc chắn được sức mới, Cất cánh bay cao như chim ưng, Chạy mà không mệt nhọc, Đi mà không mòn mỏi.
Hỡi các hải đảo, hãy im lặng trước mặt Ta! Hãy để các dân tộc nhận lấy sức mới; Hãy để chúng đến gần và lên tiếng! Chúng ta hãy đến gần nhau để phán đoán!
Ai đã khiến một người nổi lên từ phương đông, Lấy sự công chính gọi người đến bên chân mình? Ngài phó các nước trước mặt người, Khiến người chinh phục các vua; Ngài phó họ cho lưỡi gươm của người như bụi đất, Và phó họ cho cây cung của người như rơm rác bị gió đùa đi.
Người truy đuổi họ Và vượt qua con đường người chưa hề đặt chân đến Mà vẫn bình an.
Ai đã thực hiện và hoàn thành việc đó? Ai đã kêu gọi các thế hệ từ ban đầu? Ấy chính là Ta, Đức Giê-hô-va, Đấng Đầu Tiên và Cuối Cùng.
Các hải đảo thấy và khiếp sợ, Các nơi tận cùng cõi đất đều run rẩy. Chúng đều lại gần và tiến đến.
Ai nấy giúp đỡ người lân cận Và bảo anh em mình: “Hãy can đảm lên!”
Thợ chạm khuyến khích thợ bạc, Thợ gò khuyến khích thợ rèn; Họ nói về mối hàn rằng: “Thế là tốt!”, Rồi dùng đinh đóng để tượng khỏi lung lay.
Nhưng hỡi Y-sơ-ra-ên, con là đầy tớ Ta, Hỡi Gia-cốp là kẻ Ta đã chọn, Các con là dòng dõi của Áp-ra-ham, bạn Ta.
Ta đã nắm lấy con từ tận cùng cõi đất, Gọi con từ các miền xa xăm Và bảo con rằng: “Con là đầy tớ Ta, Ta đã chọn con, không từ bỏ con.”
Đừng sợ vì Ta ở với con, Chớ kinh khiếp vì Ta là Đức Chúa Trời của con! Ta sẽ làm cho con mạnh mẽ; phải, Ta sẽ giúp đỡ con, Dùng tay phải công chính của Ta mà nắm giữ con.
Nầy, mọi kẻ nổi giận cùng con Sẽ hổ thẹn và bị sỉ nhục. Những kẻ nổi lên chống nghịch con Sẽ trở nên hư không và bị diệt vong.
Con sẽ tìm những kẻ gây hấn với con, Nhưng không tìm thấy chúng; Những kẻ tranh chiến với con Sẽ bị diệt sạch và không còn gì cả.
Vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, Đấng nắm giữ tay phải con Và phán với con rằng: “Đừng sợ, Chính Ta sẽ giúp đỡ con.”
Hỡi sâu bọ Gia-cốp, đừng sợ! Hỡi những người Y-sơ-ra-ên, Chính Ta sẽ giúp đỡ con, Đức Giê-hô-va phán vậy; Đấng cứu chuộc con là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên.
Nầy, Ta sẽ khiến con làm dụng cụ đập lúa Vừa mới vừa sắc bén và có nhiều răng. Con sẽ giày đạp và nghiền nát các núi, Làm cho các đồi trở nên như rơm rác.
Con sẽ rê chúng, và gió sẽ đùa chúng đi, Một cơn gió lốc sẽ làm chúng tan tác. Nhưng con sẽ vui mừng trong Đức Giê-hô-va, Và sẽ tự hào trong Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên.
Những người nghèo nàn và thiếu thốn tìm nước uống Mà không được, Lưỡi họ khô vì khát. Nhưng Ta là Đức Giê-hô-va sẽ nhậm lời họ; Ta là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên sẽ không từ bỏ họ.
Ta sẽ khiến sông chảy ra trên các đồi trọc, Và suối trào lên giữa các thung lũng. Ta sẽ biến hoang mạc thành ao hồ, Và đất khô thành các nguồn nước.
Ta sẽ đặt trong hoang mạc cây bá hương, Cây keo, cây sim và cây ô-liu; Ta sẽ trồng nơi đồng hoang cây tùng, Cây sam, và cây hoàng dương chung với nhau.
Để mọi người xem thấy và biết, Cùng nhau suy ngẫm và hiểu rằng Tay Đức Giê-hô-va đã làm điều ấy, Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên đã dựng nên nó.
Đức Giê-hô-va phán: “Hãy trình bày vụ kiện của các ngươi;” Vua của Gia-cốp phán: “Hãy đưa ra lý lẽ của các ngươi.”
Hãy để chúng đến gần và nói cho chúng ta biết Điều sẽ xảy đến! Hãy nói cho chúng ta những điều đã có từ trước, Để chúng ta suy nghiệm Và biết kết cuộc của nó; Hoặc nói cho chúng ta biết những gì sắp xảy đến.
Hãy nói những việc sẽ xảy đến sau nầy, Để chúng ta biết các ngươi là thần; Cũng hãy ban phước hoặc giáng họa, Để chúng ta cùng nhau thấy và kinh ngạc.
Nầy, các ngươi chẳng ra gì, Việc các ngươi làm cũng là vô ích; Kẻ chọn các ngươi thật đáng ghê tởm!
Ta khiến một người từ phương bắc nổi lên, và người đã đến; Người kêu cầu danh Ta từ phía mặt trời mọc. Người sẽ giẫm lên những kẻ cai trị như giẫm trên bùn đất, Như thợ gốm nhồi đất sét dưới chân.
Ai đã nói cho chúng ta biết điều đó từ ban đầu? Ai đã rao ra từ trước để chúng ta nói: “Người ấy đúng”? Nhưng chẳng ai rao, chẳng ai báo cả, Cũng chẳng ai đã từng nghe tiếng các ngươi.
Chính Ta là Đấng đầu tiên đã phán với Si-ôn: “Nầy, chúng đây!” Và Ta sẽ sai một sứ giả báo tin lành đến Giê-ru-sa-lem.
Ta nhìn xem nhưng chẳng có ai cả; Trong số họ, không có một cố vấn Để khi Ta hỏi, họ có thể đáp một lời.
Nầy, tất cả họ chỉ là hư ảo; Công việc của họ là vô giá trị; Tượng đúc của họ là hư không như làn gió thoảng.
Đây là đầy tớ Ta, Người mà Ta nâng đỡ, Là Người mà Ta đã chọn, và linh hồn Ta hài lòng. Ta đã đặt Thần Ta trên Người, Và Người sẽ bày tỏ công lý cho các nước.
Người sẽ chẳng kêu la, cũng chẳng lên tiếng, Chẳng để ngoài đường phố nghe tiếng mình.
Người sẽ không bẻ cây sậy đã giập, Và chẳng tắt tim đèn gần tàn. Người sẽ lấy đức thành tín bày tỏ công lý.
Người sẽ không mòn mỏi, không ngã lòng Cho đến khi thiết lập xong công lý trên mặt đất; Các hải đảo sẽ trông đợi luật pháp Người.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời, Đấng đã dựng nên và giương các tầng trời ra, Đã trải rộng mặt đất, cùng với mọi vật ra từ nó, Đấng ban hơi sống cho dân trên đất, Và ban thần linh cho người bước đi trên đó; Ngài phán:
“Ta là Đức Giê-hô-va, Ta đã gọi ngươi trong sự công chính, Ta sẽ nắm tay ngươi và gìn giữ ngươi. Ta sẽ lập ngươi làm giao ước của dân, Làm ánh sáng cho các nước,
Để mở mắt cho người mù, Đem tù nhân ra khỏi ngục, Kẻ ngồi trong chốn tối tăm ra khỏi nhà giam.
Ta là Đức Giê-hô-va, đó chính là danh Ta. Ta không nhường vinh quang Ta cho ai khác, Cũng không nhường sự ca ngợi Ta cho các tượng thần!
Nầy, những việc trước đây đã xảy ra, Nay Ta lại báo cho các ngươi những việc mới; Ta cho các ngươi biết Trước khi nó xảy ra.”
Hãy hát cho Đức Giê-hô-va một bài ca mới, Bài hát ca ngợi Ngài từ nơi tận cùng cõi đất! Hỡi những người đi biển cùng mọi vật trong biển, Các hải đảo cùng cư dân của nó, Hãy gầm thét lên.
Hoang mạc cùng các thành trong nó hãy cất tiếng lên; Các làng Kê-đa sinh sống cũng vậy; Cư dân Sê-la hãy vui mừng ca hát, Hãy reo hò từ trên các đỉnh núi.
Hãy dâng vinh quang cho Đức Giê-hô-va, Và loan báo sự ca ngợi Chúa nơi các hải đảo.
Đức Giê-hô-va sẽ đi ra như một dũng sĩ, Như một chiến binh lòng đầy nhiệt huyết; Ngài thét lớn, hô to xung trận, Và Ngài sẽ đánh bại các kẻ thù mình.
Ta giữ yên lặng đã lâu, Ta đã nín lặng, Ta đã tự kiềm chế. Nhưng bây giờ, Ta rên la, nói hổn hển, thở chẳng ra hơi Như đàn bà sinh đẻ.
Ta sẽ tàn phá núi đồi, Làm cho mọi cỏ cây đều khô héo; Ta sẽ biến sông ngòi thành hải đảo, Làm cho các ao hồ đều khô cạn.
Ta sẽ dẫn người mù đi trên đường chưa quen, Dắt họ trên các nẻo chưa biết. Ta sẽ biến bóng tối trước mặt họ thành ra ánh sáng, Những chỗ gồ ghề trở thành bằng phẳng. Thật, Ta sẽ làm những điều nầy, Và sẽ không từ bỏ họ.
Còn những kẻ tin cậy các tượng thần, Nói với các tượng đúc: “Các ngài là thần chúng tôi,” Đều sẽ quay lưng lại và hoàn toàn xấu hổ!
“Hỡi những kẻ điếc, hãy lắng nghe; Hỡi những kẻ mù, hãy nhìn và thấy!
Ai là người mù, nếu không phải là đầy tớ Ta? Ai là người điếc như sứ giả mà Ta đã sai đi? Ai là người mù như một người tận hiến của Ta, Hoặc mù như đầy tớ của Đức Giê-hô-va?
Ngươi thấy nhiều điều mà chẳng lưu tâm; Ngươi có tai mở ra mà không nghe gì cả.”
Đức Giê-hô-va vui lòng vì sự công chính Ngài, Làm cho luật pháp được tôn trọng và vinh quang.
Nhưng ấy là một dân bị cướp giật và tước đoạt; Tất cả đều mắc bẫy trong hang, Và bị giam trong ngục; Họ trở thành chiến lợi phẩm mà không ai giải cứu, Trở thành vật bị cướp đoạt Mà chẳng ai nói rằng: “Hãy trả lại!”
Ai trong các ngươi là người lắng nghe điều nầy, Ai sẽ chú ý để hiểu những việc xảy ra về sau?
Ai đã phó Gia-cốp cho sự cướp bóc, Và phó Y-sơ-ra-ên cho kẻ tước đoạt? Chẳng phải là Đức Giê-hô-va, Đấng mà chúng ta phạm tội nghịch cùng Ngài sao? Vì không ai muốn đi theo đường lối Ngài, Chẳng tuân giữ luật pháp Ngài.
Thế nên, Chúa đã trút cơn giận phừng phừng Và chiến tranh khốc liệt trên nó; Lửa cháy chung quanh mà nó không hiểu, Lửa thiêu đốt nó mà nó chẳng quan tâm.
Bây giờ Đức Giê-hô-va phán: Hỡi Gia-cốp! Đấng đã dựng nên con, Hỡi Y-sơ-ra-ên! Đấng đã tạo thành con, phán: “Đừng sợ, vì Ta đã cứu chuộc con. Ta đã gọi đích danh con và con thuộc về Ta.
Khi con vượt qua các dòng nước, Ta sẽ ở cùng; Khi con lội qua sông, sẽ chẳng bị nước cuốn. Khi con bước qua lửa, sẽ chẳng bị cháy, Ngọn lửa sẽ chẳng thiêu đốt con.
Vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, Cứu Chúa của con. Ta ban Ai Cập làm giá chuộc con, Cút và Sê-ba để thay thế con.
Vì Ta xem con là quý báu và đáng chuộng. Chính Ta đã yêu con, Nên Ta sẽ ban người thế con, Và ban các dân tộc thay mạng sống con.
Đừng sợ, vì Ta ở với con, Ta sẽ đem dòng dõi con đến từ phương đông, Và quy tụ con từ phương tây.
Ta sẽ bảo phương bắc rằng: ‘Hãy buông tha!’ Và bảo phương nam rằng: ‘Đừng cầm giữ lại!’ Hãy đem các con trai Ta về từ nơi xa xăm, Đem các con gái Ta về từ nơi tận cùng cõi đất;
Tức là tất cả những người được gọi bằng danh Ta, Ta đã dựng nên họ vì vinh quang Ta, Ta đã tạo thành và đã làm nên họ.”
Hãy đem dân nầy ra, là dân có mắt mà mù, Là dân có tai mà điếc!
Tất cả các nước hãy tập hợp lại với nhau, Các dân hãy quy tụ lại. Ai trong họ có thể rao truyền điều nầy, Và nói cho chúng ta biết những điều từ trước? Họ hãy đem nhân chứng ra để chứng minh họ là đúng, Và cho người ta nghe mà nói rằng: “Ấy là thật!”
Đức Giê-hô-va phán: “Các con là nhân chứng của Ta, Và là đầy tớ Ta đã chọn, Để các con được biết và tin Ta, Và hiểu rằng Ta là Đấng ấy. Chẳng có thần nào được tạo thành trước Ta, Và cũng chẳng có thần nào sau Ta nữa.
Ta, chính Ta là Đức Giê-hô-va, Ngoài Ta, không có Cứu Chúa nào khác.
Chính Ta đã rao truyền, đã cứu rỗi và đã chỉ bảo, Chẳng có thần lạ nào giữa các con.” Đức Giê-hô-va phán: “Các con là nhân chứng của Ta, Và Ta là Đức Chúa Trời.
Phải, từ thuở xa xưa Ta là Đức Chúa Trời; Chẳng ai có thể thoát khỏi tay Ta. Khi Ta hành động, ai có thể ngăn cản Ta được?”
Đức Giê-hô-va, Đấng Cứu Chuộc các con, Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên phán thế nầy: “Vì các con, Ta đã sai đánh Ba-by-lôn, Đuổi tất cả bọn chúng, tức là những người Canh-đê, Như là những kẻ chạy trốn, Xuống các tàu mà chúng đã từng reo hò vang dội.
Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng Thánh của các con, Đấng sáng tạo Y-sơ-ra-ên, là Vua của các con.”
Đức Giê-hô-va, Đấng đã mở đường trong biển, Và vạch lối qua dòng nước mạnh;
Đấng khiến chiến xa và chiến mã, Quân binh và dũng sĩ Cùng nhau nằm xuống, không dậy được nữa; Họ bị dập đi, như người ta dập tắt tim đèn; Đấng ấy phán:
“Đừng nhớ lại những việc đã qua, Cũng đừng nghĩ đến chuyện thuở trước.
Nầy, Ta sắp làm một việc mới! Bây giờ nó đang hiện ra mà các con không biết sao? Ấy là Ta sẽ vạch một con đường trong hoang mạc, Và khiến những dòng sông chảy nơi đất khô cằn.
Loài dã thú, chó rừng và đà điểu Sẽ tôn vinh Ta, Vì Ta cho các dòng nước chảy trong hoang mạc, Và cho các sông chảy nơi đất khô cằn, Để dân mà Ta đã chọn được uống.
Ta đã tạo nên dân nầy cho Ta, Họ sẽ hát ca ngợi Ta.
Nhưng hỡi Gia-cốp, con chẳng từng kêu cầu Ta! Hỡi Y-sơ-ra-ên, con đã chán Ta!
Con đã không dâng chiên làm tế lễ thiêu cho Ta, Không dâng sinh tế để tôn kính Ta. Ta không đặt gánh nặng cho con với các lễ vật phải dâng, Cũng chẳng làm nhọc con vì phải xông hương.
Con không lấy tiền mua xương bồ cho Ta, Và chẳng lấy mỡ của sinh tế làm cho Ta thỏa lòng. Nhưng lại lấy tội lỗi mình làm cho Ta phiền lòng, Và lấy sự gian ác làm cho Ta mệt mỏi.
Ta, chính Ta là Đấng vì chính mình Mà xóa các sự vi phạm của con, Ta sẽ không nhớ đến tội lỗi của con nữa.
Hãy nhắc lại cho Ta nhớ, Chúng ta hãy tranh luận với nhau; Hãy đưa ra lý lẽ để chứng tỏ con đúng.
Thủy tổ của con đã phạm tội, Các nhà lãnh đạo của con nổi lên chống lại Ta.
Vì vậy, Ta làm nhục các chức sắc của nơi thánh; Ta phó Gia-cốp cho sự hủy diệt, Và phó Y-sơ-ra-ên cho sự phỉ báng.”
“Bây giờ hỡi Gia-cốp, đầy tớ Ta, Hỡi Y-sơ-ra-ên mà Ta đã chọn, hãy nghe!
Đức Giê-hô-va là Đấng đã tạo nên con, Đã hình thành con từ trong lòng mẹ, và sẽ giúp đỡ con; Ngài phán: Hỡi Gia-cốp, đầy tớ Ta, Và Giê-su-run mà Ta đã chọn, đừng sợ!
Vì Ta sẽ rót nước trên người khát khao, Cho suối chảy nơi đất khô hạn. Ta sẽ đổ Thần Ta trên dòng dõi con Và ban phước lành trên hậu tự con.
Chúng sẽ nẩy nở giữa đám cỏ, Như cây liễu bên dòng nước.
Người nầy sẽ nói rằng: ‘Tôi thuộc về Đức Giê-hô-va;’ Người kia xưng mình bằng danh của Gia-cốp, Kẻ khác nữa viết trên tay mình rằng: ‘Tôi thuộc về Đức Giê-hô-va’ Và xưng mình bằng danh Y-sơ-ra-ên.”
Đức Giê-hô-va là Vua và Đấng Cứu Chuộc của Y-sơ-ra-ên, Là Đức Giê-hô-va vạn quân, phán: “Ta là đầu tiên và cuối cùng; Ngoài Ta không có Đức Chúa Trời nào khác.
Ai giống như Ta? Hãy để người ấy lên tiếng, Loan báo và trình bày cho Ta Điều gì xảy ra từ khi Ta lập dân tộc cổ xưa nầy. Hãy để chúng loan báo những điều đang xảy ra Và những điều sắp xảy đến cho chúng.
Chớ kinh hãi, cũng đừng bối rối. Chẳng phải Ta đã nói cho các ngươi biết từ xưa rồi sao? Các ngươi làm chứng cho Ta. Ngoài Ta, có Đức Chúa Trời nào khác không? Thật, chẳng có Vầng Đá nào khác; Ta biết chẳng có ai cả.”
Tất cả các thợ tạc tượng đều là hư ảo, những điều họ yêu thích chẳng có ích gì. Các nhân chứng của họ không thấy cũng không biết, nên họ phải mang xấu hổ.
Ai là kẻ tạo một vị thần và đúc một tượng mà không có ích gì cả?
Nầy, mọi kẻ tham dự vào việc đó sẽ bị xấu hổ; những thợ ấy chẳng qua là loài người. Hãy để tất cả họ tụ họp lại và đứng lên! Họ đều kinh hãi và xấu hổ.
Thợ rèn lấy một thỏi sắt nướng trên than lửa, rồi dùng búa để tạo hình; anh ta dùng cánh tay mạnh mẽ mà làm việc. Dù đói và kiệt sức, anh ta không uống nước và mệt lả.
Thợ mộc căng dây mực, dùng phấn vẽ kiểu, đẽo bằng cái chàng, dùng com-pa phác họa hình dạng con người, và làm nên tượng người đẹp đẽ, đặt trong nhà.
Anh ta đi đốn cây bá hương; hoặc chọn cây bách, cây sồi, và để nó lớn lên giữa các thứ cây trên rừng. Anh ta trồng cây thông, rồi mưa xuống làm cho nó lớn lên.
Người ta sẽ dùng gỗ của các cây ấy làm củi đốt; một phần dùng để sưởi, một phần dùng để nhóm lửa nướng bánh, rồi cũng lấy một phần để làm một vị thần mà thờ lạy, một tượng chạm để quỳ lạy trước mặt nó.
Người ta lấy một nửa đem chụm lửa, nướng thịt trên đó để ăn cho no, hoặc sưởi cho ấm, và nói rằng: “A, ta sưởi ấm quá, lại được nhìn ngọn lửa!”
Phần gỗ còn lại, người ta làm một vị thần, tức là một tượng chạm cho mình, rồi cúi xuống trước mặt nó mà thờ lạy và cầu khẩn với nó rằng: “Xin giải cứu tôi, vì ngài là thần của tôi!”
Những người ấy không biết và không suy xét; vì mắt họ nhắm lại để không thấy, lòng họ đóng lại để không hiểu.
Không ai chịu suy nghĩ lại, chẳng ai dùng trí khôn mà nhận thức rằng: “Ta đã lấy một nửa chụm lửa, đã nướng bánh trên lửa than, đã nướng thịt và ăn; rồi phần còn lại, ta dùng làm một vật đáng ghê tởm sao? Ta lại đi cúi lạy một khúc gỗ sao?”
Người ấy nuôi mình bằng tro bụi, lòng mê muội đã làm cho lầm đường, chẳng thể cứu linh hồn mình. Người không bao giờ tự hỏi: “Chẳng phải trong tay phải ta là đồ giả dối sao?”
Hỡi Gia-cốp, hãy nhớ các điều nầy! Hỡi Y-sơ-ra-ên, vì con là đầy tớ Ta. Ta đã tạo nên con, con là đầy tớ Ta; Hỡi Y-sơ-ra-ên, Ta sẽ không quên con!
Ta đã xóa sự vi phạm của con như mây dày đặc, Và tội lỗi con như đám mây. Hãy trở lại cùng Ta, vì Ta đã chuộc con.
Hỡi các tầng trời, hãy ca hát vui mừng, Vì Đức Giê-hô-va đã hành động! Hỡi các nơi thấp dưới đất, hãy reo hò! Hỡi các núi, hỡi rừng cùng mọi cây cối trên rừng, Hãy trỗi tiếng hát ca! Vì Đức Giê-hô-va đã cứu chuộc Gia-cốp, Và sẽ bày tỏ vinh quang Ngài trong Y-sơ-ra-ên.
Đức Giê-hô-va là Đấng Cứu Chuộc con, Đấng đã tạo nên con từ trong lòng mẹ, phán thế nầy: “Ta là Đức Giê-hô-va đã làm nên mọi vật, Một mình Ta đã giương các tầng trời Và trải đất ra — Nào có ai ở với Ta? —
Ta là Đấng làm hỏng các điềm dối của kẻ tiên tri giả, Khiến thầy bói trở nên ngu dại, Làm cho người khôn ngoan phải thất bại, Biến tri thức của họ ra dại khờ.
Chúa chứng thực lời của đầy tớ Ngài, Thực hiện lời của các sứ giả Ngài Nói về thành Giê-ru-sa-lem rằng: ‘Nó sẽ có người ở’ Và về các thành của Giu-đa rằng: ‘Nó sẽ được xây dựng lại, Ta sẽ dựng lại các nơi đổ nát của nó.’
Chúa phán với vực nước sâu rằng: ‘Hãy khô đi, Ta sẽ làm cạn các sông của ngươi.’
Ngài là Đấng đã phán rằng: ‘Si-ru là người chăn chiên của Ta, Người sẽ thực hiện mọi điều Ta muốn;’ Là người nói về Giê-ru-sa-lem rằng: ‘Nó sẽ được xây lại,’ Và về đền thờ rằng: ‘Nó sẽ được đặt nền móng lại.’”
Đức Giê-hô-va phán về Si-ru, người được xức dầu của Ngài, như thế nầy: Ta đã nắm lấy tay phải của người, Để người chinh phục các nước trước mặt mình; Ta sẽ mở thắt lưng các vua, Mở các cửa thành trước mặt người Và khiến các cổng không còn bị đóng kín nữa.
“Chính Ta sẽ đi trước mặt ngươi, San phẳng các đường gập ghềnh; Phá vỡ các cửa bằng đồng, Bẻ gãy then cài bằng sắt.
Ta sẽ ban cho ngươi các kho báu bí ẩn, Của cải chứa trong những nơi kín đáo, Để ngươi biết rằng chính Ta là Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Đấng đã gọi đích danh ngươi.
Vì Gia-cốp, đầy tớ Ta, Và vì Y-sơ-ra-ên, người mà Ta đã chọn, Nên Ta đã gọi đích danh ngươi, Ta đã ban cho ngươi một tước hiệu, dù ngươi không biết Ta.
Ta là Đức Giê-hô-va, không có Đấng nào khác, Ngoài Ta, không có Đức Chúa Trời nào khác. Dù ngươi không biết Ta, Ta sẽ thắt lưng ngươi,
Để từ đông sang tây, người ta được biết rằng, Ngoài Ta, không có Đấng nào khác. Ta là Đức Giê-hô-va, không có Đấng nào khác.
Ta là Đấng tạo ra ánh sáng và dựng nên bóng tối, Làm ra bình an và dựng nên tai họa; Chính Ta, Đức Giê-hô-va, là Đấng làm mọi điều nầy.
Hỡi các tầng trời, từ trên cao hãy tuôn sương móc, Hãy để mây đổ mưa công chính xuống; Đất hãy mở ra để sinh bông trái cứu rỗi, Đồng thời sự công chính cũng nẩy mầm. Ta là Đức Giê-hô-va, chính Ta đã dựng nên điều đó.”
Khốn cho kẻ tranh cãi với Đấng tạo nên mình! Nó chỉ là một bình trong các bình bằng đất! Đất sét có thể nào hỏi thợ gốm, là người nặn ra nó rằng: “Ông đang nặn ra hình gì?” Hoặc nói: “Sản phẩm tay ông làm ra không được khéo”?
Khốn cho kẻ dám hỏi cha mình: “Ông sinh ra cái gì?” Hoặc hỏi mẹ: “Bà mang nặng đẻ đau làm gì?”
Đức Giê-hô-va, Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, Là Đấng đã làm ra Y-sơ-ra-ên, phán thế nầy: “Hãy hỏi Ta về những việc sẽ đến; Hãy bảo Ta về các con cái Ta Và về công việc của tay Ta.
Chính Ta đã làm ra quả đất, Và sáng tạo loài người trên đó. Chính tay Ta đã giương các tầng trời ra, Và truyền lệnh cho các thiên thể.
Chính Ta đã khiến người nầy nổi lên trong sự công chính, Và làm cho mọi đường lối người bằng phẳng. Người sẽ xây dựng lại thành của Ta, Và phóng thích kẻ bị lưu đày của Ta Mà không đòi giá chuộc, cũng không cần quà cáp,” Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán thế nầy: “Tài sản của Ai Cập, nguồn lợi của Cút Và người Sa-bê, người có vóc dáng cao lớn, Đều sẽ về tay ngươi và thuộc về ngươi; Họ sẽ bước theo ngươi, mang xiềng mà đến, Họ sẽ quỵ lụy trước mặt ngươi, nài nỉ và nói: ‘Thật, Đức Chúa Trời ở với ông; Ngoài Ngài, không có Đấng nào khác, Không có Đức Chúa Trời nào khác!’”
Lạy Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên là Cứu Chúa, Ngài thật là Đức Chúa Trời ẩn mình!
Tất cả những người làm hình tượng phải bị xấu hổ, sỉ nhục; Họ cùng nhau rút lui trong sự hổ thẹn.
Còn Y-sơ-ra-ên được Đức Giê-hô-va giải cứu, Với sự cứu rỗi đời đời; Cho đến đời đời vô cùng, Các ngươi không còn bị xấu hổ, sỉ nhục nữa!
Vì Đức Giê-hô-va là Đấng đã sáng tạo các tầng trời, Là Đức Chúa Trời đã tạo nên quả đất, Ngài làm ra và lập vững nó, Chẳng phải sáng tạo để bỏ hoang Nhưng làm nên để con người ở. Đấng ấy phán thế nầy: “Ta là Đức Giê-hô-va, không có Đấng nào khác!
Ta không nói một cách bí ẩn, Chẳng phán trong vùng đất tối tăm. Ta chẳng từng phán với dòng dõi Gia-cốp rằng: ‘Các ngươi tìm Ta là vô ích’ sao? Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng phán điều công chính, Truyền dạy điều chân thật.”
Hỡi những người lánh nạn của các nước, Hãy tập hợp lại và đến, hãy cùng nhau đến gần! Những kẻ khiêng tượng gỗ, Khấn vái với thần không cứu được ai, Thật chúng không hiểu biết gì cả!
Vậy hãy loan báo, và hãy bảo chúng đến gần; Hãy bàn luận với nhau! Ai đã nói cho biết điều nầy từ trước? Ai đã tiên báo từ nghìn xưa? Chẳng phải chính Ta là Đức Giê-hô-va sao? Ngoài Ta, chẳng có Đức Chúa Trời nào khác, Là Đức Chúa Trời công chính và là Cứu Chúa; Ngoài Ta, không có Đấng nào khác.
Hỡi tất cả những ai ở các nơi tận cùng cõi đất, Hãy quay về với Ta và được cứu rỗi! Vì Ta là Đức Chúa Trời, chẳng có Chúa nào khác.
Ta đã nhân danh chính Ta mà thề, Lời công chính ra từ miệng Ta Sẽ không bao giờ trở lại; Mọi đầu gối sẽ quỳ trước mặt Ta, Và mọi lưỡi sẽ nhân danh Ta mà thề.
Người ta sẽ nói về Ta rằng: “Chỉ ở trong Đức Giê-hô-va mới có sự công chính và sức mạnh;” Và người ta sẽ đến với Ngài. Mọi kẻ nổi giận cùng Ngài sẽ bị hổ thẹn.
Nhưng trong Đức Giê-hô-va, tất cả dòng dõi Y-sơ-ra-ên Sẽ được xưng công chính và được vinh quang.
Thần Bên gục xuống, thần Nê-bô ngã quỵ, Tượng của chúng phải chở trên loài thú và súc vật. Những tượng các ngươi thường khiêng Trở thành gánh nặng đè trên những con vật mệt nhọc.
Chúng cùng ngã quỵ và gục xuống, Không thể cứu gánh nặng trên lưng, Và chính chúng cũng bị lưu đày.
“Hỡi nhà Gia-cốp và tất cả dân sót của nhà Y-sơ-ra-ên, Hãy nghe Ta! Ta đã mang nặng các ngươi từ khi còn trong lòng mẹ, Bồng ẵm các ngươi từ lúc mới sinh;
Cho đến khi các ngươi già cả, đầu râu tóc bạc, Ta chính là Đấng luôn gánh vác các ngươi. Ta đã tạo nên thì sẽ còn bồng ẵm các ngươi. Ta sẽ gánh vác và giải cứu các ngươi.
Các ngươi so sánh Ta với ai và kể Ta bằng ai? Các ngươi đối chiếu Ta với ai để thấy chúng ta giống nhau?
Người ta lấy vàng trong túi ra, Và lấy cân mà cân bạc; Họ thuê thợ bạc đúc một thần, Rồi cúi xuống thờ lạy.
Họ vác tượng ấy trên vai, và đem đi, Đặt tượng vào chỗ nó, và nó cứ đứng đó; Tượng không thể dời khỏi chỗ nó. Nếu có ai kêu cầu thì nó chẳng trả lời, Và không thể cứu họ khỏi tai họa.”
“Hãy ghi nhớ điều nầy, và hãy suy xét; Hỡi những kẻ phạm tội, hãy nghĩ lại!
Hãy nhớ lại những việc trước đây, từ thời xa xưa; Vì Ta là Đức Chúa Trời, chẳng có Chúa nào khác; Ta là Đức Chúa Trời, chẳng có ai giống như Ta.
Từ ban đầu, Ta đã báo trước việc cuối cùng, Và đã nói từ thuở xưa những việc chưa thực hiện. Ta đã phán: ‘Kế hoạch của Ta sẽ thành tựu, Và Ta sẽ thực hiện mọi điều Ta muốn.’
Từ phương đông, Ta đã gọi một con chim săn mồi; Từ xứ xa xăm, Ta gọi người thực hiện kế hoạch của Ta đến. Điều Ta đã phán, Ta sẽ hoàn thành; Điều Ta đã hoạch định, Ta sẽ thực hiện.
Hỡi những kẻ cứng lòng, Hỡi những kẻ xa cách sự công chính, Hãy nghe Ta.
Ta đem sự công chính Ta đến gần, nó chẳng ở xa, Và sự cứu rỗi của Ta sẽ không trì hoãn. Ta sẽ đặt sự cứu rỗi trong Si-ôn Cho Y-sơ-ra-ên là vinh quang của Ta.”
Hỡi trinh nữ Ba-by-lôn, Hãy xuống và ngồi trong bụi đất! Hỡi con gái Canh-đê, Hãy ngồi dưới đất, chẳng còn ở trên ngai! Vì ngươi sẽ không còn được xưng Là dịu dàng thanh tú nữa.
Hãy lấy cối xay và xay bột; Hãy bỏ lúp che mặt, Và vén vạt áo để phơi trần ống chân Mà lội qua sông.
Sự lõa lồ của ngươi phải bị phơi bày, Sự sỉ nhục ngươi phải lộ ra. Ta sẽ báo thù, Không chừa một ai.
Đấng Cứu Chuộc chúng ta Là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên; Danh Ngài là Đức Giê-hô-va vạn quân.
Hỡi con gái Canh-đê, Hãy ngồi yên lặng, và rút vào bóng tối! Vì ngươi sẽ không còn được gọi Là nữ hoàng của các vương quốc.
Ta đã nổi giận cùng dân Ta, Làm hoen ố cơ nghiệp Ta Và phó chúng vào tay ngươi. Nhưng ngươi không tỏ ra thương xót chúng; Ngươi đã đặt trên người già cả Một cái ách thật nặng
Ngươi nghĩ rằng: “Mãi mãi ta sẽ là nữ hoàng.” Ngươi không để tâm đến những điều nầy, Cũng chẳng nghĩ đến cuối cùng của nó.
Bây giờ hãy nghe đây hỡi kẻ hưởng lạc, Là kẻ sống yên ổn, Bụng bảo dạ rằng: “Ta đây, ngoài ta chẳng còn ai; Ta sẽ không ở góa, Cũng chẳng biết mất con là gì.”
Trong phút chốc, trong cùng một ngày, Cả hai tai họa ấy là cảnh mất con và góa bụa Sẽ xảy đến cho ngươi. Hai tai họa ấy cùng ập xuống ngươi, Dù ngươi có nhiều ma thuật Và có lắm quyền lực của phù chú!
Ngươi cậy sự gian ác của mình Và nói rằng: “Chẳng ai thấy ta.” Sự khôn ngoan và tri thức của ngươi Đã dẫn ngươi đi sai lạc, Và ngươi tự nói trong lòng rằng: “Ta đây, ngoài ta chẳng còn ai!”
Vì thế, tai họa sẽ ập đến trên ngươi Mà ngươi chẳng biết từ đâu; Hoạn nạn sẽ giáng trên ngươi Mà ngươi không thể ngăn cản được; Sự hủy diệt thình lình xảy đến cho ngươi, Mà ngươi không thể lường trước.
Hãy đứng lên, dùng phù chú và vô số ma thuật Mà ngươi đã tập luyện từ khi còn trẻ. Có lẽ sẽ giúp ích cho ngươi, Có lẽ nhờ đó ngươi sẽ trở nên đáng sợ chăng!
Ngươi đã nhọc sức vì lắm lời bàn. Những kẻ nhìn trời, xem sao, xem trăng mới Mà đoán việc tương lai; Bây giờ, hãy đứng lên và cứu ngươi Khỏi những việc sẽ xảy đến trên ngươi.
Kìa, họ sẽ trở nên như rơm rạ Bị lửa thiêu đốt; Họ không thể cứu mạng mình Khỏi quyền ngọn lửa; Lửa ấy chẳng phải là than hồng để sưởi, Hoặc lửa để ngồi kề bên.
Những gì mà ngươi làm khó nhọc thì đã trở nên như thế; Những kẻ buôn bán với ngươi từ thời trẻ Thì lang thang mỗi người một ngã, Chẳng ai đến cứu ngươi được!
Hãy nghe đây, hỡi nhà Gia-cốp, Là những người được xưng bằng danh Y-sơ-ra-ên, Ra từ nguồn Giu-đa, Là những người nhân danh Đức Giê-hô-va mà thề, Và kêu cầu Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Nhưng không có lòng chân thật và công chính.
Vì họ xưng mình là người xuất thân từ thành thánh, Và nương cậy Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên; Danh Ngài là Đức Giê-hô-va vạn quân:
“Ta đã báo trước từ xưa những việc qua rồi; Những việc ấy ra từ miệng Ta, và Ta đã nói cho chúng biết; Thình lình, Ta thực hiện, Và những việc ấy xảy ra.
Vì Ta biết ngươi cứng đầu, Cổ ngươi có gân sắt, Trán ngươi cứng như đồng,
Nên Ta đã báo cho ngươi những điều ấy từ xưa, Ta đã cho ngươi biết trước khi nó xảy ra, Kẻo ngươi nói: ‘Tượng thần của tôi đã làm những điều ấy, Tượng chạm, tượng đúc của tôi đã truyền như thế.’
Ngươi đã nghe rồi, hãy xem mọi điều ấy. Chẳng phải các ngươi sẽ thuật lại sao? Từ nay, Ta sẽ cho ngươi biết những việc mới, Là những việc bí mật mà các ngươi chưa biết.
Bây giờ, những việc đó mới được dựng nên, chưa từng có trước đây; Trước ngày nầy, các ngươi chưa bao giờ nghe, Kẻo ngươi nói rằng: ‘Nầy, tôi đã biết rồi!’
Ngươi chưa từng nghe, cũng chưa từng biết, Từ trước, tai ngươi chưa mở ra. Vì Ta biết rằng ngươi hay phản bội, Đáng được gọi là kẻ phản loạn từ trong lòng mẹ.
Vì danh Ta mà Ta trì hoãn cơn giận; Vì vinh quang Ta mà Ta kiềm chế sự tức giận đối với ngươi, Để không hủy diệt ngươi.
Nầy, Ta luyện ngươi nhưng không phải như luyện bạc; Ta đã thử nghiệm ngươi trong lò hoạn nạn.
Đó là vì Ta, vì chính Ta mà Ta sẽ làm điều đó, Lẽ nào Ta để danh Ta bị lăng nhục sao? Ta không nhường vinh quang Ta cho thần nào khác.
Hỡi Gia-cốp tức là Y-sơ-ra-ên mà Ta đã gọi, Hãy nghe Ta! Ta là Đấng ấy; Ta là đầu tiên và là cuối cùng.
Tay Ta đã đặt nền móng quả đất, Tay phải của Ta đã giương các tầng trời; Khi Ta gọi, Trời và đất đều đứng lên.
Tất cả các ngươi hãy tập hợp lại và lắng nghe! Ai trong số họ đã rao báo những điều nầy? Người mà Đức Giê-hô-va yêu Sẽ làm hài lòng Ngài trong việc chống lại Ba-by-lôn, Cánh tay người sẽ chống lại người Canh-đê.
Ta, chính Ta đã phán và đã gọi người, Ta đã đem người đến, và người sẽ thành công trong đường lối mình.
Hãy đến gần Ta và nghe điều nầy: Từ ban đầu, Ta chưa từng nói cách bí mật. Ta đã ở đó từ lúc điều ấy xảy ra. Bây giờ, Chúa là Đức Giê-hô-va sai Ta đến Cùng với Thần của Ngài.”
Đức Giê-hô-va, Đấng Cứu Chuộc ngươi, Là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên phán thế nầy: “Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, Là Đấng dạy dỗ ngươi để ngươi được ích lợi, Và dẫn ngươi vào con đường ngươi phải đi.
Ước gì ngươi đã chú ý đến các điều răn của Ta, Thì sự bình an của ngươi sẽ như dòng sông, Và sự công chính của ngươi như sóng biển;
Dòng dõi ngươi sẽ đông như cát, Con cháu ngươi nhiều như cát bụi. Danh của chúng sẽ không bị diệt, Cũng chẳng bị xóa bỏ trước mặt Ta.”
Hãy ra khỏi Ba-by-lôn! Hãy trốn xa người Canh-đê! Hãy vui vẻ reo hò mà loan báo và công bố tin nầy, Hãy truyền ra cho đến tận cùng cõi đất! Hãy nói: “Đức Giê-hô-va đã cứu chuộc Gia-cốp, là đầy tớ Ngài!”
Khi Ngài dẫn họ qua sa mạc thì họ không khát; Vì Ngài đã khiến nước từ vầng đá chảy ra cho họ, Ngài chẻ vầng đá thì nước tuôn ra.
Nhưng Đức Giê-hô-va phán: “Những kẻ ác chẳng bao giờ được bình an.”
Hỡi các hải đảo, hãy nghe tôi! Hỡi các dân xa xăm, hãy chú ý: Đức Giê-hô-va đã gọi tôi từ trong bụng mẹ, Ngài nhắc đến tên tôi khi tôi còn trong lòng mẹ.
Ngài khiến miệng tôi giống như thanh gươm sắc bén, Che tôi dưới bóng tay Ngài. Ngài làm cho tôi như mũi tên nhọn, Và cất tôi trong ống tên của Ngài.
Ngài phán với tôi: “Hỡi Y-sơ-ra-ên, con là đầy tớ Ta, Ta sẽ được tôn vinh bởi con.”
Còn tôi, tôi nói: “Tôi đã làm việc luống công, Đã tốn sức vô ích và không kết quả.” Nhưng Đức Giê-hô-va xét công minh cho tôi, Đức Chúa Trời ban phần thưởng cho tôi.
Bây giờ, Đức Giê-hô-va, Đấng đã lập tôi làm đầy tớ Ngài từ trong bụng mẹ, Để tôi dẫn Gia-cốp trở về cùng Ngài Và tập hợp Y-sơ-ra-ên cho Ngài; Vì tôi được tôn trọng dưới mắt Đức Giê-hô-va, Và Đức Chúa Trời tôi là sức mạnh của tôi;
Ngài phán với tôi rằng: “Việc con làm đầy tớ Ta để lập lại các bộ tộc của Gia-cốp, Và đưa những người Y-sơ-ra-ên được bảo vệ trở về Chỉ là việc nhỏ; Ta sẽ khiến con làm ánh sáng cho các nước, Để đem sự cứu rỗi của Ta đến tận cùng trái đất.”
Đức Giê-hô-va, Đấng Cứu Chuộc và Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, Phán cùng người bị người ta khinh thường, Bị dân nầy ghê tởm, là đầy tớ của kẻ có quyền thế: “Các vua sẽ thấy và đứng lên; Các thủ lĩnh sẽ quỳ lạy Vì Đức Giê-hô-va là Đấng thành tín, Là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, Đấng đã chọn con.”
Đức Giê-hô-va phán thế nầy: “Ta đã nhậm lời con trong thì thuận tiện, Ta đã phù hộ con trong ngày cứu rỗi. Ta sẽ gìn giữ con, Đặt con làm giao ước của dân, Để xây dựng lại xứ sở, Và chia đất bị bỏ hoang làm cơ nghiệp;
Để bảo kẻ bị tù: ‘Hãy đi ra,’ Bảo kẻ ở trong bóng tối: ‘Hãy ra ngoài ánh sáng!’ Họ sẽ chăn bầy trên đường đi, Và đồng cỏ họ sẽ ở trên mọi đồi trọc.
Họ sẽ không đói cũng không khát, Hơi nắng và mặt trời chẳng còn hành hạ họ, Vì Đấng thương xót họ sẽ dẫn dắt họ, Đem họ đến gần các suối nước.
Ta sẽ khiến mọi núi của Ta trở thành đường đi, Và các đường cái của Ta sẽ được bồi đắp.
Kìa, những người nầy sẽ đến từ nơi xa, Những người kia sẽ đến từ phương bắc, và từ phương tây, Và những người khác đến từ đất Si-nim.
Hỡi các tầng trời, hãy reo hò! Hỡi đất, hãy vui mừng! Hỡi các núi, hãy cất tiếng hát ca! Vì Đức Giê-hô-va đã an ủi dân Ngài, Và thương xót những kẻ khốn khổ của Ngài.”
Nhưng Si-ôn từng nói rằng: “Đức Giê-hô-va đã từ bỏ tôi; Chúa tôi đã quên tôi.”
“Người mẹ có thể nào quên cho con mình bú, Hoặc không thương đến con ruột của mình chăng? Dù người mẹ quên con mình, Ta vẫn không bao giờ quên con.
Nầy, Ta đã chạm con trong lòng bàn tay Ta; Các tường thành của con luôn ở trước mặt Ta.
Con cái của con nhanh chóng trở về; Kẻ phá hại, hủy diệt con sẽ rời khỏi con.
Hãy ngước mắt nhìn chung quanh; Tất cả chúng đều tập trung lại và đến với con!” Đức Giê-hô-va phán: “Thật như Ta hằng sống, Con sẽ đeo tất cả chúng như đồ trang sức, Và mang chúng như thắt lưng của cô dâu!
Thật, các nơi đổ nát hoang vu, Và đất bị tàn phá của con, Nay trở nên quá chật hẹp cho dân chúng ở. Những kẻ ăn nuốt con sẽ lánh xa con.
Con cái mà con sinh trong thời gian mất người thân Sẽ nói vào tai con: ‘Đất đai chật hẹp quá cho con, Hãy dọn chỗ cho con ở.’
Chắc con sẽ nói trong lòng: ‘Ai đã sinh cho tôi những đứa con nầy? Tôi đã mất hết con cái; Tôi đã bị lưu đày không con, và tản lạc! Vậy thì ai đã nuôi những đứa trẻ nầy? Kìa, tôi đã bị bỏ lại một mình; Vậy, những đứa trẻ nầy từ đâu ra?’”
Chúa là Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, Ta sẽ giá tay trên các nước, Dựng ngọn cờ cho muôn dân. Bấy giờ, chúng sẽ bồng các con trai của con trong lòng, Vác các con gái của con trên vai mà đến.
Các vua sẽ làm cha nuôi của con, Các hoàng hậu sẽ làm vú của con. Họ sẽ cúi sát đất trước mặt con, Liếm bụi đất dưới chân con. Rồi con sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va; Và những người trông cậy Ta sẽ chẳng hổ thẹn.
Có thể nào giật lại chiến lợi phẩm từ tay kẻ mạnh không? Người công chính bị cầm tù có được giải cứu chăng?”
Nhưng Đức Giê-hô-va phán: “Thật, những kẻ bị người mạnh bạo bắt lấy sẽ được cứu thoát, Chiến lợi phẩm của kẻ bạo ngược sẽ được giành lại. Vì Ta sẽ chống cự kẻ đối địch con, Và chính Ta sẽ giải cứu con cái của con.
Ta sẽ làm cho kẻ áp bức con tự ăn thịt mình, Say máu mình như say rượu mới. Mọi người sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va, Cứu Chúa của con, Là Đấng Cứu Chuộc con, Đấng Toàn Năng của Gia-cốp!”
Đức Giê-hô-va phán: “Giấy ly hôn của mẹ ngươi Mà Ta đã ly dị ở đâu? Hoặc trong số các chủ nợ của Ta, Ta đã bán các ngươi cho ai? Nầy, các ngươi bị bán là vì tội lỗi mình; Mẹ các ngươi bị ly dị là vì sự vi phạm của các ngươi.
Tại sao khi Ta đến, chẳng có một ai? Khi Ta gọi, không ai đáp lại? Có phải tay Ta quá ngắn, không cứu chuộc được chăng? Hay Ta không đủ sức để giải cứu chăng? Nầy, Ta chỉ quở trách một tiếng, biển liền khô cạn. Ta biến sông trở thành hoang mạc; Cá dưới sông vì không có nước phải chết khát Và hóa ra hôi thối.
Ta lấy sự tối tăm mặc cho các tầng trời, Và khoác cho chúng tấm vải sô.”
Chúa là Đức Giê-hô-va đã ban cho Ta Cái lưỡi của người được dạy dỗ, Để Ta biết dùng lời nói Nâng đỡ kẻ mệt mỏi. Ngài đánh thức Ta mỗi buổi sáng, Ngài đánh thức tai Ta Để lắng nghe như người học trò vậy.
Chúa là Giê-hô-va đã mở tai Ta, Còn Ta, Ta không chống lại, Cũng không thối lui.
Ta đã đưa lưng cho kẻ đánh Ta, Và đưa má cho kẻ nhổ râu Ta; Ta không che mặt Khi bị sỉ vả hoặc bị nhổ nước bọt vào mặt.
Chúa là Đức Giê-hô-va sẽ giúp đỡ Ta Nên Ta không bị xấu hổ; Vì vậy, Ta làm cho mặt Ta cứng như đá, Vì biết rằng mình chẳng có điều gì phải hổ thẹn.
Đấng xưng công chính cho Ta đã đến gần. Ai tranh tụng với Ta? Hãy cùng Ta đứng lên! Ai là kẻ đối địch với Ta? Hãy lại gần Ta!
Thật, Chúa là Đức Giê-hô-va sẽ giúp đỡ Ta; Ai định tội Ta được? Nầy, tất cả chúng sẽ cũ mòn như chiếc áo Và bị mối ăn.
Trong các ngươi, ai là người kính sợ Đức Giê-hô-va, Nghe theo tiếng của đầy tớ Ngài? Người nào đi trong bóng tối Và không có sự sáng Thì hãy tin cậy danh Đức Giê-hô-va Và nương tựa nơi Đức Chúa Trời mình.
Nầy, tất cả các ngươi là kẻ đốt lửa Và thắp đuốc, Hãy đi giữa ngọn lửa Và đuốc mình đã đốt! Đây là điều tay Ta đã làm cho các ngươi: Các ngươi sẽ nằm xuống trong đau khổ!
“Hỡi những người đeo đuổi sự công chính, Là người tìm kiếm Đức Giê-hô-va, hãy nghe Ta! Hãy nhìn xem vầng đá mà từ đó các ngươi được đục ra, Và hầm đá mà từ đó các ngươi được đào lên!
Hãy nhìn xem tổ phụ các ngươi là Áp-ra-ham Và Sa-ra, là người đã sinh ra các ngươi; Ta đã gọi Áp-ra-ham khi người chỉ có một mình, Nhưng Ta đã ban phước cho người, Và làm cho người trở nên đông đảo.
Vì Đức Giê-hô-va an ủi Si-ôn; Ngài an ủi mọi nơi đổ nát của nó. Ngài khiến hoang mạc trở nên vườn Ê-đen, Đồng hoang trở nên vườn của Đức Giê-hô-va; Giữa vườn ấy sẽ có sự vui vẻ, mừng rỡ, Lời tạ ơn và tiếng hát ca.
Hỡi dân Ta, hãy chú ý nghe Ta; Hỡi nước Ta, hãy lắng nghe Ta! Vì luật pháp sẽ ra từ Ta, Và công lý của Ta sẽ là ánh sáng cho muôn dân.
Sự công chính của Ta đã gần kề, Ơn cứu rỗi của Ta sắp hiện ra, Cánh tay của Ta sẽ cai trị các dân. Các hải đảo sẽ trông đợi Ta, Và chúng hi vọng nơi cánh tay Ta.
Hãy ngước mắt lên các tầng trời, Và cúi nhìn dưới đất; Vì các tầng trời sẽ tan ra như khói, Đất sẽ cũ mòn như chiếc áo, Cư dân trên đất sẽ chết như ruồi. Nhưng sự cứu rỗi của Ta còn đời đời, Sự công chính của Ta không bao giờ chấm dứt.
Hỡi những người hiểu biết công lý, hãy nghe Ta! Các ngươi là những người ghi khắc luật pháp Ta trong lòng; Đừng sợ người ta đả kích, Cũng đừng kinh hãi vì những lời sỉ vả của họ.
Vì mối sẽ cắn nuốt họ như cắn áo, Mọt sẽ ăn họ như ăn lông chiên. Nhưng sự công chính của Ta sẽ còn mãi mãi, Ơn cứu rỗi của Ta còn từ đời nầy sang đời kia.”
Hỡi cánh tay Đức Giê-hô-va Hãy thức dậy, hãy thức dậy mặc lấy sức mạnh! Hãy thức dậy như ngày xưa, Như các thời cổ đại! Chẳng phải chính Ngài đã phanh thây Ra-háp, Đã đâm quái vật biển đó sao?
Chẳng phải chính Ngài đã làm cạn biển, Tắt các nguồn nước của vực lớn; Làm một con đường dưới biển sâu Để dân được cứu chuộc đi qua đó sao?
Dân mà Đức Giê-hô-va đã chuộc sẽ trở về, Họ sẽ đến Si-ôn trong tiếng hò reo. Niềm vui bất tận sẽ đội trên đầu họ, Họ sẽ được vui vẻ mừng rỡ; Còn sự buồn bã than vãn sẽ biến mất.
“Ta, chính Ta là Đấng an ủi các ngươi. Ngươi là ai mà sợ loài người là loài hay chết, Sợ con cái loài người là kẻ sẽ trở nên như cỏ?
Ngươi lại quên Đức Giê-hô-va, Đấng đã tạo nên ngươi, Đã giương các tầng trời Và đặt nền móng quả đất, Để suốt ngày ngươi cứ run sợ Vì cơn giận của kẻ áp bức, Khi nó định hủy diệt ngươi sao? Nhưng bây giờ, cơn giận của kẻ áp bức ấy ở đâu?
Kẻ bị bắt đem đi sẽ nhanh chóng được thả ra; Sẽ không chết trong ngục tối, Và cũng không thiếu lương thực.
Vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, Là Đấng làm cho biển động, và sóng vỗ ầm ầm. Danh Ta là Đức Giê-hô-va vạn quân.
Ta đã đặt lời Ta trong miệng ngươi, Và cho ngươi núp dưới bóng bàn tay Ta, Trong khi dựng các tầng trời, Đặt nên móng quả đất, Và nói với Si-ôn rằng: ‘Ngươi là dân Ta.’”
Hỡi Giê-ru-sa-lem, Hãy thức dậy, thức dậy và đứng lên! Ngươi đã uống chén thịnh nộ Từ tay Đức Giê-hô-va, Đã uống cạn Chén làm cho loạng choạng.
Trong số các con trai mà Giê-ru-sa-lem đã sinh ra, Không một đứa nào dắt nó; Trong số các con trai mà nó đã nuôi, Chẳng một đứa nào đến cầm lấy tay nó.
Hai tai họa nầy đã xảy đến cho ngươi, Tức là tàn phá và hủy diệt, đói kém và gươm đao; Ai là người cảm thương ngươi? Ta sẽ lấy gì an ủi ngươi?
Con cái ngươi đều ngất xỉu, Nằm ngổn ngang khắp đường phố, Như sơn dương mắc lưới, Chúng ở dưới cơn giận của Đức Giê-hô-va Và sự quở trách của Đức Chúa Trời ngươi!
Vậy hãy nghe đây, hỡi kẻ khốn khổ, Là kẻ say nhưng không phải vì rượu:
Chúa là Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời ngươi, Là Đấng bênh vực dân Ngài, phán thế nầy: “Kìa, Ta đã lấy lại từ tay ngươi chén làm cho loạng choạng, Là chén của cơn thịnh nộ Ta; Ngươi sẽ không còn uống nó nữa.
Ta sẽ đặt chén ấy vào tay kẻ làm khổ ngươi, Là những kẻ bảo ngươi rằng: ‘Hãy nằm xuống cho ta bước qua!’ Rồi lưng ngươi như nền đất, Như đường đi cho người ta qua lại.”
Hỡi Si-ôn, hãy thức dậy, Hãy thức dậy, hãy mặc lấy sức mạnh ngươi! Hỡi Giê-ru-sa-lem, là thành thánh, Hãy mặc trang phục lộng lẫy của ngươi! Vì kẻ không cắt bì và kẻ ô uế Sẽ không còn vào nơi ngươi nữa.
Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy đứng dậy, Giũ bụi bặm và ngồi trên ngôi; Hỡi con gái Si-ôn, là kẻ tù đày, Hãy tự cởi trói khỏi cổ ngươi.
Vì Đức Giê-hô-va phán thế nầy: “Các ngươi đã bị bán mà không được trả tiền, thì cũng sẽ được chuộc lại mà không cần tiền bạc.”
Chúa là Đức Giê-hô-va phán: “Trước kia, dân Ta đã xuống Ai Cập tạm trú tại đó. Nhưng về sau, người A-si-ri đã áp bức họ.”
Đức Giê-hô-va phán: “Bây giờ Ta làm gì đây? Vì dân Ta đã vô cớ bị đày đi.” Đức Giê-hô-va phán: “Những kẻ cai trị họ cất tiếng kêu la, và danh Ta thường xuyên bị xúc phạm, ngày nầy sang ngày khác.
Vậy, dân Ta sẽ biết danh Ta. Thật, trong ngày đó, họ sẽ biết rằng chính Ta là Đấng phán rằng: ‘Ấy chính là Ta!’”
Những người rao truyền sự bình an, Loan báo tin lành, Công bố sự cứu rỗi, Và nói với Si-ôn rằng: “Đức Chúa Trời ngươi trị vì;” Bàn chân của những người ấy trên các núi Xinh đẹp biết bao!
Những kẻ canh gác của ngươi cất tiếng hát, Họ cùng nhau reo mừng; Vì họ sẽ tận mắt thấy Đức Giê-hô-va trở lại Si-ôn.
Hỡi những nơi đổ nát của Giê-ru-sa-lem, Hãy trỗi giọng hát mừng rập ràng. Vì Đức Giê-hô-va đã an ủi dân Ngài, Đã chuộc lại Giê-ru-sa-lem.
Đức Giê-hô-va để trần cánh tay thánh của Ngài Trước mắt mọi nước; Mọi nơi tận cùng trái đất Đều thấy sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời chúng ta!
Hãy đi ra, hãy đi ra, hãy ra khỏi chỗ đó! Đừng đụng đến đồ ô uế, hãy ra khỏi nó. Các ngươi là người mang vật dụng thờ phượng Đức Giê-hô-va, Hãy thanh tẩy chính mình!
Nhưng các ngươi ra đi không cần phải vội vàng, Cũng không cần phải trốn tránh, Vì Đức Giê-hô-va sẽ đi trước các ngươi, Và Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đi sau bảo vệ các ngươi.
Nầy, đầy tớ Ta sẽ hành động cách khôn ngoan, Sẽ được tán dương, được tôn vinh, Và tôn cao tột cùng.
Nhưng nhiều người sẽ ngạc nhiên về Người; Mặt mày Người tiều tụy hơn bất cứ người nào khác, Hình dáng Người không giống con loài người.
Cũng vậy, Người sẽ thanh tẩy nhiều dân tộc; Các vua ngậm miệng lại vì Người, Vì họ sẽ thấy điều chưa ai nói cho mình, Và sẽ hiểu điều mình chưa từng nghe.
Ai tin điều đã được rao truyền cho chúng ta? Và cánh tay Đức Giê-hô-va đã được bày tỏ cho ai?
Người đã lớn lên trước mặt Ngài như một cái chồi, Như cái rễ ra từ đất khô. Người chẳng có vẻ đẹp cũng chẳng có sự uy nghi để chúng ta nhìn ngắm; Không có gì trong diện mạo Người khiến chúng ta ưa thích được.
Người đã bị người ta khinh rẻ và chối bỏ, Từng trải sự đau khổ, biết sự đau ốm, Bị khinh như kẻ mà người ta che mặt chẳng thèm xem; Chúng ta cũng chẳng coi Người ra gì.
Thật, Người đã mang sự đau ốm của chúng ta, Đã gánh nỗi đau khổ của chúng ta Mà chúng ta lại nghĩ rằng Người đã bị Đức Chúa Trời đánh, đập Và làm cho khốn khổ.
Nhưng Người đã vì tội lỗi của chúng ta mà bị vết, Vì gian ác của chúng ta mà bị thương. Bởi sự trừng phạt Người chịu, chúng ta được bình an, Bởi lằn roi Người mang, chúng ta được lành bệnh.
Tất cả chúng ta đều như chiên đi lạc, Ai theo đường nấy; Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của tất cả chúng ta Đều chất trên Người.
Người bị ngược đãi và khốn khổ, Nhưng không hề mở miệng. Như chiên con bị đem đi làm thịt, Như chiên câm lặng trước mặt kẻ hớt lông, Người không hề mở miệng.
Người đã bị ức hiếp, xét xử và bị giết đi. Trong những kẻ đồng thời với Người, có ai suy xét rằng Người đã bị đánh phạt và cất khỏi đất người sống Là vì tội lỗi của dân Ta?
Người ta đã đặt mộ Người chung với những kẻ ác, Nhưng khi chết, Người được chôn với kẻ giàu, Dù Người không hề làm điều hung dữ, Và chẳng có sự dối trá trong miệng.
Đức Giê-hô-va vui lòng để Người bị tổn thương, Và chịu đau khổ. Sau khi đã dâng mạng sống làm tế lễ chuộc tội, Người sẽ thấy dòng dõi mình; Các ngày của Người sẽ dài thêm, Và ý muốn của Đức Giê-hô-va nhờ tay Người được thành tựu.
Nhờ sự khốn khổ của linh hồn mình, Người sẽ thấy kết quả và mãn nguyện. Đầy tớ công chính của Ta sẽ lấy sự hiểu biết về mình Làm cho nhiều người được xưng công chính, Vì Người gánh lấy tội lỗi của họ.
Vì thế, Ta sẽ chia phần cho Người đồng với những người lớn. Người sẽ chia chiến lợi phẩm với những kẻ mạnh; Vì Người đã đổ mạng sống mình cho đến chết, Đã bị liệt vào hàng tội nhân, Đã mang lấy tội lỗi nhiều người, Và cầu thay cho những kẻ phạm tội.
“Hỡi người hiếm muộn, chưa sinh con, hãy ca hát; Hỡi kẻ chưa từng đau đớn vì sinh nở, Hãy trỗi tiếng reo mừng. Vì con cái của phụ nữ bị bỏ Sẽ đông hơn con cái của phụ nữ có chồng.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Hãy mở rộng chỗ trại ngươi, Giương màn chỗ ngươi đang ở, chớ để chật hẹp; Hãy giăng dây cho dài, Đóng cọc cho chắc!
Vì ngươi sẽ lan rộng ra bên phải và bên trái; Dòng dõi ngươi sẽ chiếm các nước làm cơ nghiệp, Chúng sẽ làm cho các thành hoang vu trở nên đông dân.
“Đừng sợ, vì ngươi sẽ chẳng bị hổ thẹn. Đừng nản, vì ngươi không còn xấu hổ nữa. Ngươi sẽ quên điều sỉ nhục lúc còn trẻ, Và không còn nhớ sự nhục nhã trong cảnh góa bụa.
Vì chồng ngươi là Đấng Tạo Hóa ngươi; Danh Ngài là Đức Giê-hô-va vạn quân. Đấng Cứu Chuộc ngươi là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên Sẽ được xưng là Đức Chúa Trời của cả trái đất.
Đức Giê-hô-va đã gọi ngươi về Như gọi vợ đã bị bỏ, và tâm thần sầu não, Tức là vợ cưới lúc còn trẻ và đã bị từ bỏ.” Đức Chúa Trời ngươi phán:
“Ta đã bỏ ngươi trong một thời gian ngắn, Nhưng Ta sẽ đón ngươi về với lòng thương xót vô hạn.
Trong cơn tức giận tột cùng, Ta ngoảnh mặt khỏi ngươi một lúc, Nhưng vì lòng nhân từ vô biên, Ta sẽ thương xót ngươi,” Đấng Cứu Chuộc ngươi là Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Đối với Ta, điều nầy cũng giống như nước lụt thời Nô-ê, Như Ta đã thề rằng nước lụt thời Nô-ê Sẽ không bao giờ tràn ngập mặt đất nữa, Thì Ta cũng thề rằng Ta sẽ không giận ngươi Và cũng không trách phạt ngươi nữa.
Dù núi dời, Dù đồi chuyển, Nhưng lòng nhân từ của Ta không dời khỏi ngươi, Và giao ước bình an của Ta chẳng chuyển lay;” Đức Giê-hô-va là Đấng thương xót ngươi phán vậy.
“Hỡi những người cùng khốn, bị bão tố dồi dập, mất sự an ủi, Nầy, Ta sẽ lấy ngọc lam làm đá xây nhà của ngươi, Và lát nền bằng ngọc bích.
Ta sẽ lấy hồng ngọc làm tường có tháp canh của ngươi, Lấy đá quý lấp lánh làm các cổng của ngươi; Toàn bộ tường thành của ngươi đều làm bằng bửu thạch.
Tất cả con cái ngươi sẽ được Đức Giê-hô-va dạy dỗ, Và chúng sẽ được bình an vô cùng.
Ngươi sẽ được lập vững trên sự công chính, Ngươi sẽ thoát khỏi sự áp bức, chẳng sợ gì cả; Và thoát khỏi sự kinh hãi, vì nó sẽ không đến gần ngươi.
Nếu có ai tấn công ngươi, Thì điều đó không phải đến từ Ta. Ai tấn công ngươi, Sẽ sụp đổ vì ngươi.
Nầy, chính Ta đã dựng nên người thợ rèn, Đốt than thổi lửa, Sản xuất vũ khí để dùng; Cũng chính Ta đã dựng nên kẻ hủy diệt Để thực hiện việc tàn phá.
Nhưng tất cả vũ khí được chế tạo để chống lại ngươi đều không thành công; Ngươi sẽ định tội mọi lưỡi nổi lên kiện cáo ngươi. Đó là cơ nghiệp của các đầy tớ Đức Giê-hô-va, Và sự công chính của họ do Ta ban cho.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Hỡi tất cả những ai đang khát, Hãy đến nguồn nước! Người nào không có tiền bạc, Hãy đến mua mà ăn! Hãy đến mua rượu và sữa Mà không cần tiền, không đòi giá.
Sao các ngươi trả tiền để mua vật không phải là bánh? Sao các ngươi đem công lao mình đổi lấy vật chẳng làm cho no? Hãy chăm chú nghe Ta, hãy ăn vật ngon Và cho linh hồn các ngươi vui thích trong của béo.
Hãy nghiêng tai và đến với Ta; Hãy nghe Ta thì linh hồn các ngươi được sống. Ta sẽ lập với các ngươi một giao ước đời đời, Tức là tình yêu vững bền của Ta dành cho Đa-vít.
Nầy, Ta đã lập người làm nhân chứng cho các nước, Làm nhà lãnh đạo để chỉ huy các dân.”
“Thật, ngươi sẽ kêu gọi nước mà ngươi chưa biết, Và nước chưa biết ngươi sẽ chạy đến với ngươi, Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, Là Đấng làm cho ngươi được vinh hiển.”
Hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va trong khi có thể gặp; Hãy kêu cầu đang khi Ngài ở gần!
Kẻ gian ác hãy lìa bỏ đường lối mình, Người xấu xa hãy từ bỏ các ý tưởng mình; Hãy trở lại cùng Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ thương xót, Hãy đến cùng Đức Chúa Trời chúng ta, vì Ngài tha thứ dồi dào.
Đức Giê-hô-va phán: “Ý tưởng Ta không phải là ý tưởng các ngươi, Đường lối các ngươi chẳng phải là đường lối Ta.
Vì các tầng trời cao hơn đất bao nhiêu, Thì đường lối Ta cao hơn đường lối các ngươi, Ý tưởng Ta cao hơn ý tưởng các ngươi cũng bấy nhiêu.
Vì như mưa và tuyết từ trời rơi xuống Và không trở về đó nữa mà tưới nhuần đất đai, Làm cho đâm chồi nẩy lộc, Để có hạt giống cho kẻ gieo, có bánh cho kẻ ăn,
Thì lời của Ta cũng vậy, Đã ra khỏi miệng Ta sẽ không trở về luống công, Nhưng sẽ thực hiện ý Ta muốn, Và hoàn thành việc Ta giao.
Vì các ngươi sẽ đi ra trong niềm vui, Được đưa đường trong sự bình an. Trước mặt các ngươi, núi và đồi sẽ trỗi tiếng ca hát, Mọi cây cối ngoài đồng sẽ vỗ tay.
Cây tùng sẽ mọc lên thay cho bụi gai, Và cây sim sẽ lớn lên thay cho gai góc; Điều đó sẽ làm cho biết danh Đức Giê-hô-va Và là một dấu hiệu đời đời, không hề bị tiêu diệt.”
Đức Giê-hô-va phán: “Hãy giữ điều chính trực Và thực hành lẽ công chính, Vì sự cứu rỗi của Ta gần đến, Sự công chính của Ta sắp được bày tỏ.
Phước cho người làm điều nầy, Và phước cho con loài người nắm giữ nó, Tức là người giữ ngày sa-bát, không xúc phạm ngày ấy; Và giữ tay mình khỏi mọi điều ác!”
Dân ngoại trở về cùng Đức Giê-hô-va chớ nói rằng: “Đức Giê-hô-va chắc chắn sẽ tách tôi ra khỏi dân Ngài.” Người bị hoạn cũng đừng nói: “Nầy, tôi là một cây khô.”
Vì Đức Giê-hô-va phán thế nầy: “Những người bị hoạn mà giữ các ngày Sa-bát Ta, Chọn điều đẹp lòng Ta, Giữ vững giao ước Ta,
Thì Ta sẽ ban cho họ một chỗ trong nhà Ta, Trong các tường thành của Ta, Và cho họ một danh tốt hơn danh của con trai con gái; Ta lại sẽ ban cho họ một danh đời đời, Là danh chẳng hề mai một.
Các dân ngoại trở về cùng Đức Giê-hô-va Để phục vụ Ngài, yêu mến danh Đức Giê-hô-va, Và trở nên đầy tớ Ngài, Tức là mọi người giữ ngày Sa-bát, không xúc phạm ngày ấy, Và giữ vững giao ước Ta,
Thì Ta sẽ đem họ lên núi thánh của Ta, Và khiến họ vui mừng trong nhà cầu nguyện của Ta. Tế lễ thiêu và sinh tế mà họ dâng trên bàn thờ Ta Sẽ được nhậm; Vì nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện Cho mọi dân tộc.
Chúa là Đức Giê-hô-va, Đấng tập hợp những người Y-sơ-ra-ên tan lạc, phán rằng: ‘Ngoài những người đã được tập hợp rồi, Ta sẽ còn tập hợp các dân khác về cùng nó nữa.’”
Hỡi loài thú đồng, hỡi loài thú rừng, Tất cả hãy đến mà cắn nuốt.
Tất cả những kẻ canh giữ của Y-sơ-ra-ên Đều đui mù, không biết gì cả. Tất cả chúng đều là chó câm, Không biết sủa; Chỉ mộng mơ, nằm dài Và ham ngủ.
Chúng là loài chó mê ăn, Không biết no. Ấy là những kẻ chăn chiên thiếu hiểu biết; Tất cả chúng đều tẽ tách theo đường riêng, Ai nấy lo tìm lợi lộc cho chính mình.
Chúng rủ nhau: “Hãy đến, tôi sẽ lấy rượu, Chúng ta sẽ say vì rượu mạnh; Ngày mai cũng như hôm nay, Và còn trọng thể hơn nữa.”
Người công chính chết đi, Chẳng ai lưu tâm đến; Người nhân đức bị cất đi, Nhưng không ai hiểu rằng: Chính vì tai họa sắp đến, Mà người công chính được cất đi;
Người sẽ đi vào sự bình an. Người nào sống ngay thẳng Thì được an nghỉ trên giường mình.
Nhưng các ngươi là con cháu của phù thủy, Dòng dõi của kẻ gian dâm và mại dâm kia, Hãy lại gần đây!
Các ngươi nhạo cười ai? Các ngươi há miệng rộng Và le lưỡi chống lại ai? Chẳng phải các ngươi là con cái phản loạn, Là dòng dõi dối trá sao?
Các ngươi hành dâm với nhau bên cây cối, Dưới mọi lùm cây xanh; Các ngươi giết con cái làm sinh tế nơi thung lũng, Trong những hốc đá!
Những tảng đá bóng láng trong thung lũng là phần riêng của ngươi; Thật, đó là tài sản của ngươi. Ngươi đã làm lễ quán Và dâng tế lễ chay cho chúng! Ta có nguôi giận được vì những việc đó không?
Ngươi đặt giường mình trên núi rất cao, Và lên đó dâng sinh tế.
Ngươi đặt các biểu tượng tà thần Phía sau cánh cửa và các trụ cửa; Vì ngươi lìa bỏ Ta nên đã mở giường ngươi ra rồi leo lên đó; Và làm cho giường mình rộng thêm. Ngươi lập giao ước với các tà thần, Ưa thích giường của chúng, Và ngắm nhìn sự lõa lồ của chúng.
Ngươi đã đem dầu và thêm nhiều hương liệu Đến dâng cho thần Mo-lóc; Ngươi đã sai các sứ giả mình đi phương xa, Hạ mình xuống tận âm phủ!
Ngươi đã mệt nhọc vì đường dài, Mà chưa bao giờ nói: “Ấy là vô ích!” Ngươi đã tìm thấy sức mới cho mình Nên ngươi không mòn mỏi.
Ngươi kinh khiếp ai, và sợ hãi ai Đến nỗi ngươi nói dối, Ngươi không nhớ đến Ta, Và không lưu tâm đến Ta? Có phải vì lâu nay Ta im lặng Nên ngươi không kính sợ Ta chăng?
Nầy, chính Ta sẽ phơi bày việc thực hành nếp sống công chính của ngươi, Nhưng những việc ấy không giúp ích gì cho ngươi.
Khi ngươi kêu cứu, hãy để các thần mà ngươi đã tập hợp giải cứu ngươi! Gió sẽ thổi các thần ấy đi, Một hơi thở sẽ lùa chúng đi tất cả. Nhưng ai ẩn náu nơi Ta sẽ hưởng đất nầy, Và được núi thánh của Ta làm cơ nghiệp.
Có lời phán: “Hãy đắp đường, hãy đắp đường! Hãy san phẳng! Hãy dẹp bỏ chướng ngại vật khỏi đường dân Ta!”
Đấng cao cả, Đấng được tôn cao, ngự nơi đời đời vô cùng, Danh Ngài là Thánh; Đấng ấy phán: “Ta ngự trong nơi cao và thánh, Nhưng cũng ở với người ăn năn đau đớn và tâm linh khiêm nhường, Để làm tươi tỉnh tâm linh của người khiêm nhường, Và làm tươi tỉnh tấm lòng người ăn năn đau đớn.
Ta không kết tội luôn luôn, Cũng chẳng tức giận mãi mãi; Vì thần linh sẽ mòn mỏi trước mặt Ta, Và các sinh linh mà Ta đã tạo nên cũng vậy.
Vì tội tham lam của nó mà Ta nổi giận và đánh nó. Trong cơn giận dữ, Ta đã ẩn mặt với nó, Nhưng nó cứ trở lại con đường của lòng mình.
Ta đã thấy đường lối nó, nhưng Ta sẽ chữa lành, Dẫn dắt và ban sự an ủi cho nó, Cùng với những kẻ than khóc của nó.
Ta tạo nên lời ca ngợi trên môi miệng chúng: ‘Bình an! Bình an cho kẻ ở xa và cho kẻ ở gần!’” Đức Giê-hô-va phán: “Ta sẽ chữa lành cho nó.
Nhưng những kẻ ác giống như biển động, Không yên tịnh được, Nước động cuộn lên bùn lầy và cáu cặn.”
Đức Chúa Trời tôi phán: “Những kẻ gian ác chẳng được hưởng bình an.”
“Hãy kêu to lên, đừng kiềm chế! Hãy cất tiếng lên như tiếng tù và! Báo cho dân Ta biết sự phản loạn của họ, Và báo cho nhà Gia-cốp biết tội lỗi của nhà ấy!
Ngày lại ngày, họ tìm kiếm Ta, Và muốn biết đường lối Ta, Như thể một dân đã làm điều công chính Và chưa từng bỏ luật lệ của Đức Chúa Trời mình! Họ xin Ta sự xét xử công minh, Và vui mừng đến gần Đức Chúa Trời.
Họ hỏi: ‘Chúng con kiêng ăn, sao Chúa không thấy? Chúng con hạ mình, sao Chúa chẳng biết đến?’ Nầy, trong ngày kiêng ăn, các ngươi vẫn tìm điều mình ưa thích, Và áp bức những kẻ làm công cho mình.
Thật ra, các ngươi kiêng ăn để cãi cọ và tranh chấp, Dùng nắm tay gian ác mà đánh đấm nhau. Các ngươi đừng kiêng ăn như đã làm hôm nay, Để tiếng kêu của các ngươi sẽ thấu đến nơi cao.
Có phải đó là sự kiêng ăn mà Ta chọn lựa, Là ngày mà người ta hạ mình xuống chăng? Có phải cúi đầu xuống như cây sậy, Nằm trên vải sô và tro bụi, Mà các ngươi gọi đó là kiêng ăn, Là ngày được Đức Giê-hô-va chấp nhận chăng?
Chẳng phải sự kiêng ăn mà Ta chọn, đó là: Tháo những xiềng gian ác, Mở dây trói của ách, Thả cho kẻ bị áp bức được tự do, Và bẻ gãy mọi ách hay sao?
Chẳng phải là chia sẻ thức ăn cho người đói, Đem kẻ nghèo khổ, không nhà cửa về nhà mình, Khi thấy người trần truồng thì mặc cho, Và không ngoảnh mặt làm ngơ với anh em cốt nhục mình hay sao?”
“Bấy giờ, ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông, Vết thương ngươi sẽ nhanh chóng được chữa lành. Sự công chính ngươi sẽ đi trước mặt ngươi, Và vinh quang của Đức Giê-hô-va sẽ bảo vệ sau ngươi.
Bấy giờ, ngươi cầu xin, Đức Giê-hô-va sẽ đáp lời; Ngươi kêu cứu, Ngài sẽ phán: ‘Có Ta đây!’ Nếu ngươi vứt bỏ cái ách khỏi ngươi, Không xỉ vả và không nói lời độc ác;
Nếu ngươi dốc lòng lo cho người đói, Và đáp ứng nhu cầu kẻ khốn cùng, Thì ánh sáng của ngươi sẽ chiếu ra trong bóng tối, Và sự tối tăm của ngươi sẽ sáng ngời như giữa trưa.
Đức Giê-hô-va sẽ cứ dắt đưa ngươi, Làm cho ngươi no lòng giữa nơi khô hạn lớn; Làm vững mạnh các xương cốt ngươi; Ngươi sẽ như vườn năng tưới, Như suối nước chẳng hề khô cạn.
Dân ngươi sẽ xây lại những nơi đổ nát ngày xưa; Ngươi sẽ dựng lại các nền móng của nhiều thế hệ trước. Người ta sẽ gọi ngươi là Người tu bổ những lỗ hổng tường thành, Và Người phục hồi phố xá cho dân cư ngụ.
Nếu ngươi trở lại, giữ chân mình khỏi phạm ngày sa-bát, Không làm theo ý mình trong ngày thánh của Ta; Nếu ngươi xem ngày sa-bát là ngày vui thích, Ngày thánh của Đức Giê-hô-va là đáng trọng; Nếu ngươi tôn trọng ngày đó, Không đi đường riêng, không làm theo ý riêng, Và không nói những lời vô bổ;
Thì bấy giờ, ngươi sẽ được vui thỏa trong Đức Giê-hô-va, Ta sẽ cho ngươi cưỡi lên các đỉnh cao trên đất; Ta sẽ nuôi ngươi bằng cơ nghiệp của Gia-cốp, tổ phụ ngươi.” Chính miệng Đức Giê-hô-va đã phán như vậy.
Nầy, tay Đức Giê-hô-va chẳng phải ngắn mà không cứu được; Tai Ngài cũng chẳng phải nặng mà không nghe được đâu.
Nhưng chính vì sự gian ác của các ngươi Đã phân cách các ngươi với Đức Chúa Trời mình, Và tội lỗi các ngươi đã che khuất Ngài khỏi các ngươi Đến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa.
Vì bàn tay các ngươi đã bị ô uế do vấy máu, Ngón tay các ngươi bị ô uế vì tội ác, Môi miệng các ngươi nói lời dối trá, Lưỡi các ngươi thì thầm việc xấu xa.
Không ai lấy lẽ công chính mà kiện cáo; Chẳng ai lấy điều chân thật mà tranh tụng. Người ta tin cậy vào điều hư không và lời dối trá, Họ cưu mang điều ác và đẻ ra tội trọng.
Họ ấp trứng rắn Và dệt màng nhện; Ai ăn trứng đó sẽ chết, Và một cái trứng bị vỡ sẽ nở ra rắn độc.
Màng của họ không dùng làm áo được, Không thể mặc được hàng mà họ đã dệt ra; Công việc của họ là công việc gian ác, Đôi tay họ đầy những việc hung tàn.
Chân họ chạy đến điều ác, Họ vội vã làm đổ máu vô tội; Tư tưởng họ là tư tưởng gian tà, Sự tàn phá và hủy diệt ở trên đường lối họ.
Họ chẳng bao giờ biết con đường bình an, Không có sự chính trực trong đường lối họ. Họ tự làm quanh quẹo các lối của mình, Ai bước đi trong đó thì chẳng biết đến sự bình an!
Vì thế, công lý đã cách xa chúng ta, Lẽ công chính cũng không bắt kịp chúng ta. Chúng ta trông mong ánh sáng mà chỉ thấy bóng tối, Trông mong sự chói sáng mà bước đi trong tối tăm.
Chúng ta mò mẫm dọc theo tường như người mù, Mò mẫm như người không có mắt; Giữa trưa mà vấp chân như chạng vạng; Giữa những kẻ mạnh mẽ mà mình như người chết.
Chúng ta rên xiết như con gấu gầm gừ, Và rên rỉ như tiếng gù của chim bồ câu; Chúng ta trông đợi công lý mà nó không đến, Trông đợi sự cứu thoát mà nó cách xa!
“Vì trước mặt Chúa, sự vi phạm của chúng con thật nhiều, Tội lỗi chúng con làm chứng nghịch cùng chúng con. Vì sự vi phạm của chúng con vẫn ở với chúng con Và chúng con nhận biết sự gian ác mình.
Chúng con đã phản loạn và chối bỏ Đức Giê-hô-va, Quay lưng không theo Đức Chúa Trời mình. Chúng con nói điều bạo ngược và phản loạn, Thốt ra những lời dối trá đã cưu mang trong lòng.
Vì thế, công lý bị đẩy lui, Sự công chính đứng cách xa; Vì chân lý vấp ngã giữa quảng trường, Và sự ngay thẳng không thể vào được.
Chân lý đã không còn, Ai lánh điều dữ thì bị cướp giật.” Đức Giê-hô-va đã thấy rằng Dưới mắt Ngài, tất cả đều gian ác, bất công.
Ngài thấy không có người công chính nào cả, Và ngạc nhiên vì không ai khẩn cầu. Ngài dùng chính cánh tay mình đem sự cứu rỗi đến; Với sự công chính của Ngài hỗ trợ.
Ngài mặc áo giáp bằng đức công chính, Đội mão cứu rỗi trên đầu; Mặc áo bằng sự báo thù, Khoác trên mình áo choàng của lòng sốt sắng.
Ngài báo trả cho mỗi người tùy việc họ làm: Sự thịnh nộ cho kẻ đối địch với Ngài, và sự báo oán cho các kẻ thù; Ngài sẽ báo trả các hải đảo.
Từ phương tây, người ta kính sợ danh Đức Giê-hô-va, Từ phương đông, họ tôn kính vinh quang Ngài; Vì Ngài sẽ đến như dòng sông chảy xiết, Bởi hơi thở Đức Giê-hô-va đùa nó đi.
“Đấng Cứu Chuộc sẽ đến Si-ôn, Đến cùng những người thuộc về Gia-cốp đã từ bỏ tội lỗi,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: “Về phần Ta, đây là giao ước Ta lập với họ: ‘Thần Ta ở trên các con, và những lời Ta đã đặt nơi miệng các con sẽ không rời khỏi miệng các con, miệng của dòng dõi các con, và miệng dòng dõi của dòng dõi các con, từ nay cho đến đời đời!’” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Hãy đứng lên và tỏa sáng ra! Vì ánh sáng ngươi đã đến, Và vinh quang Đức Giê-hô-va đã chiếu sáng trên ngươi.
Nầy, bóng tối bao trùm mặt đất, Mây mù che phủ các dân; Nhưng Đức Giê-hô-va chiếu sáng trên ngươi, Vinh quang Ngài hiện ra trên ngươi.
Các nước sẽ tìm đến ánh sáng ngươi, Các vua sẽ hướng về ánh bình minh rực rỡ của ngươi.
Hãy ngước mắt lên nhìn chung quanh; Tất cả họ họp nhau lại, kéo đến ngươi. Các con trai ngươi sẽ đến từ nơi xa, Các con gái ngươi sẽ được bồng ẵm bên hông.
Bấy giờ, ngươi sẽ thấy và được rạng rỡ, Lòng ngươi vừa run sợ vừa rộng mở, Vì sự phong phú của biển cả sẽ đổ về ngươi, Sự giàu có của các nước sẽ đến với ngươi.
Vô số lạc đà sẽ bao phủ xứ ngươi, Kể cả lạc đà tơ của xứ Ma-đi-an và Ê-pha; Tất cả những người từ Sê-ba sẽ đến. Họ đem theo vàng với trầm hương, Và dâng lời ca ngợi Đức Giê-hô-va.
Tất cả bầy súc vật của Kê-đa sẽ được tập trung nơi ngươi, Các chiên đực của Nê-ba-giốt sẽ được dùng làm tế lễ Để ngươi dâng lên bàn thờ Ta, một tế lễ đẹp lòng Ta; Và Ta sẽ làm cho nhà vinh quang của Ta càng thêm vinh quang.
Những người nầy là ai mà bay như mây, Như chim bồ câu bay về tổ?
Các hải đảo chắc chắn sẽ trông đợi Ta; Đoàn tàu Ta-rê-si trước hết sẽ đem con cái ngươi từ xứ xa về, Cùng với bạc vàng của họ, Để tôn vinh danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, Vì Ngài đã làm cho ngươi được vinh hiển.
Dân ngoại sẽ xây lại tường thành ngươi, Các vua của họ sẽ phục vụ ngươi. Vì trong cơn tức giận, Ta đã đánh ngươi, Nhưng nay Ta lại thương xót ngươi theo ân huệ của Ta.
Các cổng thành của ngươi sẽ luôn luôn mở, Cả ngày lẫn đêm đều không đóng lại, Để người ta đem của cải các nước đến cho ngươi; Và dẫn các vua của họ về làm tù binh.
Vì dân tộc nào và vương quốc nào Không thần phục ngươi sẽ bị diệt vong; Những dân tộc ấy sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn.
Cây tùng, cây sam, cây bách là vinh quang của Li-ban, Cũng sẽ được đem đến cho ngươi Để trang hoàng đền thánh Ta; Ta sẽ làm cho chỗ Ta đặt chân được vẻ vang.
Con cái những kẻ áp bức ngươi Sẽ cúi đầu đến cùng ngươi, Mọi kẻ khinh dể ngươi Sẽ quỳ dưới chân ngươi. Chúng sẽ gọi ngươi là Thành của Đức Giê-hô-va, Là Si-ôn của Đấng Thánh Y-sơ-ra-ên.
Thay vì lãng quên và ghét bỏ ngươi, Đến nỗi không ai đi qua nơi ngươi, Thì Ta sẽ làm cho ngươi cao trọng mãi mãi, Và là niềm vui cho nhiều thế hệ.
Ngươi sẽ hút sữa của các nước, Bú vú của các vua. Ngươi sẽ biết rằng Ta, Đức Giê-hô-va, là Đấng Cứu Rỗi ngươi, Và Đấng Cứu Chuộc ngươi là Đấng Toàn Năng của Gia-cốp.
Ta sẽ ban vàng thay cho đồng, Ta sẽ ban bạc thay cho sắt, Đồng thay cho gỗ, Sắt thay cho đá. Ta sẽ khiến sự bình an trông nom ngươi Và sự công chính cai quản ngươi.
Xứ sở ngươi sẽ không còn nghe nói đến chuyện hung bạo, Lãnh thổ ngươi cũng không còn cảnh hoang tàn đổ nát. Ngươi sẽ gọi tường thành của mình là “Sự Cứu Rỗi”, Và gọi các cổng thành mình là “Sự Ca Ngợi.”
Ngươi sẽ không còn nhờ mặt trời Soi sáng ban ngày, Và cũng chẳng còn nhờ mặt trăng Chiếu sáng ban đêm; Vì Đức Giê-hô-va sẽ là ánh sáng đời đời cho ngươi, Đức Chúa Trời ngươi sẽ là vinh quang của ngươi.
Mặt trời của ngươi không còn lặn nữa, Mặt trăng cũng chẳng còn khuyết; Vì Đức Giê-hô-va sẽ là ánh sáng đời đời cho ngươi, Những ngày sầu thảm của ngươi đã chấm dứt.
Tất cả dân ngươi sẽ là công chính, Và họ sẽ hưởng đất nầy đời đời. Họ là mầm non chính Ta đã trồng, Là công việc tay Ta làm để Ta được vinh quang.
Người nhỏ nhất sẽ có nghìn con cháu, Người hèn yếu nhất sẽ trở nên một dân hùng mạnh. Chính Ta là Đức Giê-hô-va, Ta sẽ nhanh chóng thực hiện điều ấy đúng kỳ!
Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên Ta, Vì Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho Ta Để giảng tin lành cho người nghèo. Ngài sai Ta đến để rịt lành những tấm lòng tan vỡ; Để công bố tự do cho kẻ bị bắt giữ, Và cho những người bị cầm tù được ra khỏi ngục;
Để công bố năm thi ân của Đức Giê-hô-va, Và ngày báo thù của Đức Chúa Trời chúng ta; Để an ủi mọi kẻ khóc than;
Để ban mão hoa cho những kẻ khóc than ở Si-ôn Thay vì tro bụi, Ban dầu vui mừng thay vì tang chế, Ban áo ngợi ca thay vì tâm linh sầu khổ. Họ sẽ được gọi là cây công chính, Là cây Đức Giê-hô-va đã trồng để làm vinh hiển Ngài.
Họ sẽ xây lại các nơi đổ nát ngày xưa, Dựng lại các nơi hoang tàn lúc trước; Trùng tu những thành bị phá hủy, Là những nơi bị bỏ hoang từ bao đời.
Những khách lạ sẽ đứng chăn chiên cho các ngươi, Dân ngoại sẽ làm ruộng và trồng vườn nho cho các ngươi.
Còn các ngươi sẽ được gọi là thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va, Người ta sẽ gọi các ngươi là đầy tớ của Đức Chúa Trời chúng ta; Các ngươi sẽ hưởng của cải các nước, Và thu lấy vinh hoa của chúng.
Thay vì sự xấu hổ, các ngươi sẽ hưởng gấp đôi, Thay vì nhục nhã, sẽ vui mừng về phần bắt thăm của mình; Các ngươi sẽ có sản nghiệp gấp đôi trong xứ, Và được niềm vui bất tận.
Vì Ta, Đức Giê-hô-va, yêu sự chính trực, Ghét sự trộm cướp và gian tà; Nên Ta sẽ theo lòng thành tín mà đền bù cho dân Ta, Và lập giao ước đời đời với họ.
Dòng dõi họ sẽ được biết đến trong các nước, Con cháu họ sẽ nổi tiếng trong các dân; Mọi người thấy họ sẽ phải nhìn nhận rằng Họ là một dòng dõi được Đức Giê-hô-va ban phước.
Ta sẽ rất vui vẻ trong Đức Giê-hô-va, Linh hồn ta mừng rỡ trong Đức Chúa Trời ta; Vì Ngài mặc áo cứu rỗi cho ta, Khoác trên ta áo choàng công chính, Như chàng rể chỉnh tề khăn áo giống thầy tế lễ, Như cô dâu trang sức ngọc ngà châu báu.
Vì như đất đai làm cho cây cối mọc lên, Vườn tược làm cho hạt giống nẩy mầm thể nào, Thì Chúa Giê-hô-va sẽ làm cho sự công chính nẩy mầm Và lời ca ngợi trỗi vang trước mặt muôn dân thể ấy.
Vì cớ Si-ôn, Ta sẽ không nín lặng, Vì cớ Giê-ru-sa-lem, Ta sẽ chẳng nghỉ yên, Cho đến khi sự công chính của nó chiếu ra như ánh sáng, Và sự cứu rỗi nó rực lên như ngọn đuốc.
Bấy giờ, các nước sẽ thấy sự công chính của ngươi, Tất cả các vua sẽ thấy vinh quang ngươi; Người ta sẽ gọi ngươi bằng một tên mới, Là tên do chính miệng Đức Giê-hô-va đặt cho.
Ngươi sẽ là mão miện đẹp đẽ trong tay Đức Giê-hô-va, Sẽ là vương miện trong bàn tay Đức Chúa Trời ngươi.
Người ta sẽ không còn gọi ngươi là “kẻ bị ruồng bỏ,” Chẳng gọi đất ngươi là “đất hoang vu” nữa; Nhưng ngươi sẽ được gọi là “người mà Ta vui thích”, Và đất ngươi sẽ được gọi là “người có chồng”; Vì Đức Giê-hô-va vui thích ngươi, Và đất ngươi sẽ có chồng.
Như chàng trai sẽ cưới một trinh nữ, Thì con cái ngươi cũng sẽ nhận sản nghiệp ngươi; Như chú rể vui mừng vì cô dâu, Thì Đức Chúa Trời ngươi cũng vui mừng vì ngươi.
Hỡi Giê-ru-sa-lem, trên các tường thành ngươi, Ta đã đặt lính canh; Suốt cả ngày đêm, Họ sẽ không bao giờ nín lặng. Hỡi những kẻ nhắc nhở Đức Giê-hô-va, Đừng nghỉ ngơi chút nào.
Cũng đừng để Ngài nghỉ ngơi Cho đến khi Ngài tái lập Giê-ru-sa-lem Và dùng nó làm sự ca ngợi trong khắp đất!
Đức Giê-hô-va đã đưa tay phải Và cánh tay quyền năng của Ngài mà thề: “Ta sẽ không ban ngũ cốc của ngươi Làm lương thực cho kẻ thù ngươi nữa; Dân ngoại sẽ không được uống rượu nho mới Mà ngươi đã khó nhọc làm ra.
Nhưng những người gặt hái sẽ được ăn hoa lợi mình, Và ca ngợi Đức Giê-hô-va; Những người hái nho sẽ được uống rượu Trong sân của nơi thánh Ta.”
Hãy đi qua, hãy đi qua các cổng thành; Hãy dọn đường cho dân chúng; Hãy đắp đường, hãy đắp đường cái, Hãy dọn sạch đá; Hãy dựng một ngọn cờ cho các dân.
Nầy, Đức Giê-hô-va đã rao truyền Đến tận cùng cõi đất: “Hãy bảo con gái Si-ôn rằng: ‘Kìa, sự cứu rỗi ngươi đang đến! Phần thưởng đi theo Ngài, Và sự ban thưởng đi trước Ngài.’”
Người ta sẽ gọi họ là “dân thánh”, Là “dân được Đức Giê-hô-va cứu chuộc”; Còn ngươi sẽ được gọi là “thành mà người ta tìm đến”, Tức là “thành không bị ruồng bỏ”.
Đấng từ thành Bốt-ra của Ê-đôm đến, Mặc áo đỏ thẫm, trang phục lộng lẫy, Bước đi oai vệ với sức mạnh vĩ đại, Đấng ấy là ai? “Ấy chính là Ta, Đấng phán lời công chính, Đấng có quyền năng cứu rỗi!”
Vì sao y phục của Chúa đỏ thắm, Trang phục Ngài như trang phục của người đạp bồn nho?
“Chỉ một mình Ta đạp nơi bồn ép nho, Trong các dân chẳng ai ở với Ta. Ta đã đạp lên chúng trong cơn tức giận, Giẫm nát chúng trong cơn thịnh nộ của Ta; Máu của chúng như nước nho văng tung tóe lên áo Ta, Toàn bộ y phục Ta đều vấy máu cả.
Vì lòng Ta đã định ngày báo thù, Và năm cứu chuộc của Ta đã đến.
Ta nhìn xem, không ai giúp đỡ; Ta ngạc nhiên, chẳng ai hỗ trợ; Nên chính cánh tay Ta cứu giúp Ta, Cơn thịnh nộ Ta hỗ trợ Ta.
Trong cơn tức giận, Ta đã giày đạp các dân; Ta khiến chúng say vì cơn thịnh nộ của Ta, Và làm cho máu chúng đổ ra trên đất.”
Tôi xin nhắc lại sự nhân từ của Đức Giê-hô-va, Và sự ca ngợi Đức Giê-hô-va, Vì mọi điều Đức Giê-hô-va đã làm cho chúng ta, Và những ơn phước lớn lao Ngài đã ban cho nhà Y-sơ-ra-ên Theo lòng thương xót, Và sự nhân từ vô biên của Ngài.
Vì Ngài đã phán: “Thật, họ là dân Ta, Tức là con cái sẽ chẳng lừa dối.” Và Ngài làm Đấng Cứu Rỗi họ.
Mỗi khi dân Ngài bị khốn khổ thì chính Ngài cũng khốn khổ, Và thiên sứ trước mặt Ngài đã cứu họ. Vì tình yêu và lòng thương xót, Chính Ngài đã cứu chuộc họ; Ngài đã bồng ẵm và mang lấy họ suốt các ngày thuở xưa.
Nhưng họ đã nổi loạn Và làm buồn Thánh Linh của Ngài. Vì thế, Ngài trở thành kẻ thù của họ, Chính Ngài chiến đấu chống lại họ.
Bấy giờ, dân Ngài nhớ lại Môi-se ngày xưa và hỏi: “Đấng đã đem người chăn Và bầy chiên lên khỏi biển ở đâu? Đấng đã đặt Thánh Linh của Ngài Giữa dân Ngài, ở đâu?”
Đấng khiến cánh tay vinh quang Ngài Đi bên phải Môi-se, Là Đấng đã rẽ nước ra trước mặt họ, Để rạng danh đời đời;
Là Đấng đã dìu dắt dân Ngài vượt trên sóng đào, Như ngựa phi trong hoang mạc mà không vấp ngã.
Thần của Đức Giê-hô-va đã khiến dân Ngài nghỉ ngơi, Như bầy súc vật xuống thung lũng tìm nơi nghỉ. Ngài dẫn dắt dân Ngài như thế Để danh Ngài được vinh quang.
Từ trên trời, xin Chúa nhìn xuống, Từ chỗ ở thánh và vinh quang của Ngài, xin Chúa xem! Lòng sốt sắng và công việc quyền năng của Ngài ở đâu? Sự xúc động và lòng thương xót của Ngài Bị ngăn lại rồi ư!
Thật, Ngài là Cha chúng con; Dù Áp-ra-ham không biết chúng con, Và Y-sơ-ra-ên chẳng thừa nhận chúng con; Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài vẫn là Cha chúng con, Danh Ngài là Đấng Cứu Chuộc chúng con từ trước vô cùng.
Lạy Đức Giê-hô-va, sao để chúng con lầm lạc khỏi đường Ngài? Sao để lòng chúng con cứng cỏi đến nỗi chẳng kính sợ Ngài? Vì các đầy tớ Ngài và các bộ tộc của cơ nghiệp Ngài, Xin Chúa trở lại!
Dân thánh của Ngài mới sở hữu xứ nầy chưa bao lâu, Mà kẻ thù chúng con đã giày đạp nơi thánh của Ngài.
Đã từ lâu, chúng con như một dân không hề được Ngài cai trị, Và không còn được gọi bằng danh Ngài nữa.
Ôi! Ước gì Chúa xé các tầng trời và ngự xuống, Làm rúng động núi non trước mặt Ngài;
Như lửa đốt củi khô, Như lửa đun sôi nước, Để kẻ thù biết đến danh Ngài, Và các dân tộc run rẩy trước mặt Ngài.
Khi Ngài đã làm những việc đáng sợ mà chúng con không trông mong, Thì Ngài ngự xuống, và núi non đều rúng động trước mặt Ngài.
Từ xưa, người ta chưa từng nghe nói đến, Tai chưa hề nghe, mắt chưa hề thấy, Ngoài Ngài, có Đức Chúa Trời nào khác, Đã hành động như thế cho người trông đợi Ngài.
Ngài đã đón rước người vui lòng làm điều công chính, Người đi trong đường lối Ngài và nhớ đến Ngài. Kìa, Ngài đã nổi giận vì chúng con phạm tội; Ở lâu trong tội như thế mà còn được cứu sao?
Tất cả chúng con đều trở nên như vật ô uế, Mọi việc công chính của chúng con như miếng giẻ bẩn thỉu; Tất cả chúng con đều khô héo như chiếc lá, Và tội ác chúng con như gió đùa mình đi.
Không có ai kêu cầu danh Ngài, Hay cố gắng nắm lấy Ngài; Vì Ngài đã ẩn mặt khỏi chúng con, Để chúng con bị tiêu tan trong tội ác mình.
Thế nhưng, lạy Đức Giê-hô-va, bây giờ Ngài là Cha chúng con; Chúng con là đất sét, Ngài là thợ gốm; Tất cả chúng con là công việc của tay Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin đừng quá giận, Đừng nhớ mãi tội ác chúng con! Nầy, chúng con xin Ngài đoái xem, Tất cả chúng con đều là dân Ngài.
Các thành thánh của Ngài đã trở nên hoang mạc, Si-ôn cũng đã trở nên hoang mạc, Giê-ru-sa-lem thành chốn điêu tàn.
Đền thánh đẹp đẽ của chúng con, Là nơi tổ phụ chúng con ca ngợi Ngài Thì đã bị thiêu hủy; Tất cả những nơi chúng con quý nhất đều đã bị tàn phá.
Lạy Đức Giê-hô-va, đã đến nỗi nầy, Ngài còn cầm lòng được sao? Lẽ nào Ngài cứ im lặng Để chúng con đau khổ tột cùng sao?
Những người vốn không cầu hỏi Ta, đã cầu xin Ta; Những người vốn chẳng tìm Ta thì đã gặp được Ta. Ta đã phán với một dân chưa từng kêu cầu danh Ta rằng: “Ta đây, có Ta đây!”
Suốt ngày Ta đã giơ tay ra Hướng về một dân phản nghịch; Là những kẻ đi trong đường lối không tốt, Theo ý riêng mình;
Là dân không ngừng chọc giận Ta, Ngay trước mặt Ta: Chúng dâng sinh tế trong các khu vườn, Xông hương trên các đống gạch,
Ngồi trong mồ mả, Trọ đêm trong nơi kín đáo Để ăn thịt heo, Đựng nước luộc thịt ghê tởm trong chén bát của mình.
Thế mà chúng dám nói rằng: “Hãy tránh ra xa, Đừng lại gần ta, vì ta thánh hơn ngươi!” Bọn đó là khói nơi mũi Ta, Như lửa cháy suốt ngày.
Đây là điều đã được ghi chép trước mặt Ta: “Ta sẽ không nín lặng nhưng sẽ báo trả; Phải, Ta sẽ báo trả đích đáng
Tội của các ngươi cũng như tội của tổ phụ các ngươi.” Đức Giê-hô-va phán vậy; “Vì chúng đã xông hương trên các núi, Và nói phạm đến Ta trên các đồi Nên Ta sẽ đo lường việc làm trước kia của chúng Và báo trả đích đáng.”
Đức Giê-hô-va phán thế nầy: “Khi người ta thấy rượu mới trong chùm nho Thì nói rằng: ‘Đừng làm hư đi, Vì trong trái đó có phước lành;’ Ta cũng sẽ làm như vậy vì các đầy tớ Ta, Để Ta không hủy diệt tất cả.
Ta sẽ khiến một dòng dõi ra từ Gia-cốp, Và một người thừa kế các núi Ta, ra từ Giu-đa; Những người mà Ta đã chọn sẽ thừa hưởng chúng, Và các đầy tớ Ta sẽ ở đó.
Đối với dân Ta, những người tìm kiếm Ta, Sa-rôn sẽ thành đồng cỏ cho bầy chiên, Và thung lũng A-cô làm nơi nghỉ cho đàn bò.
Còn các ngươi, những kẻ đã từ bỏ Đức Giê-hô-va Và quên núi thánh Ta; Là kẻ dọn bàn cho thần Vận May, Và rót đầy rượu pha cho thần Định Mệnh;
Ta sẽ định cho các ngươi phải bị gươm đao, Tất cả các ngươi đều phải cúi xuống để bị giết; Vì Ta đã kêu gọi mà các ngươi không đáp lời, Ta đã phán mà các ngươi không lắng nghe. Các ngươi đã làm điều ác dưới mắt Ta, Và đã chọn điều Ta không hài lòng.”
Vì vậy, Chúa Giê-hô-va phán: “Nầy, các đầy tớ Ta sẽ ăn, Còn các ngươi sẽ phải đói; Nầy, các đầy tớ Ta sẽ uống, Còn các ngươi sẽ phải khát; Nầy, các đầy tớ Ta sẽ vui mừng, Còn các ngươi sẽ phải xấu hổ;
Nầy, các đầy tớ Ta sẽ ca hát vì lòng đầy vui vẻ, Còn các ngươi sẽ kêu la vì lòng tràn ngập buồn đau, Các ngươi sẽ than khóc vì tâm linh tan nát.
Tên các ngươi sẽ lưu lại Để những người được chọn của Ta làm lời nguyền rủa; Chúa Giê-hô-va sẽ giết ngươi, Nhưng Ngài sẽ gọi các đầy tớ Ngài bằng một tên khác.
Vì vậy, những ai trên đất cầu phúc cho mình Sẽ nhân danh Đức Chúa Trời chân thật mà cầu; Và những ai trên đất thề nguyện Sẽ nhân danh Đức Chúa Trời chân thật mà thề. Vì những khổ đau trước kia đã bị quên lãng Và đã khuất mắt Ta.”
“Vì nầy, Ta sẽ tạo dựng trời mới đất mới; Những việc trước kia sẽ không còn được nhớ đến, Không còn nhắc đến trong tâm trí nữa.
Nhưng hãy vui mừng và hân hoan mãi mãi Về những gì Ta đã tạo dựng; Vì nầy, Ta đã tạo dựng Giê-ru-sa-lem cho niềm hân hoan, Và dân thành ấy cho sự vui mừng.
Ta sẽ hoan hỉ vì Giê-ru-sa-lem, Ta sẽ vui mừng vì dân Ta; Nơi ấy sẽ không còn nghe tiếng khóc lóc, Hay kêu la đau đớn nữa.
Tại đó sẽ không có trẻ con chết yểu, Cũng chẳng có người già không tròn tuổi thọ; Vì chết lúc trăm tuổi là chết trẻ, Và kẻ chỉ sống đến trăm tuổi bị coi như đáng nguyền rủa.
Người ta sẽ xây nhà và được ở, Sẽ trồng vườn nho và được ăn trái.
Họ sẽ không xây nhà cho người khác ở, Chẳng trồng vườn nho cho kẻ khác ăn. Vì tuổi thọ của dân Ta sẽ như tuổi của cây; Những người được chọn của Ta sẽ được hưởng công việc tay mình làm.
Họ sẽ không nhọc công vô ích, Không sinh con để gặp tai ương bất ngờ; Vì họ và con cháu họ Là dòng dõi được Đức Giê-hô-va ban phước.
Ta sẽ nhậm lời họ trước khi họ kêu cầu Ta; Họ còn đang nói, Ta đã nghe rồi.
Muông sói và chiên con sẽ ăn chung với nhau, Sư tử sẽ ăn rơm như bò, Còn rắn thì ăn bụi đất. Sẽ chẳng có ai làm tổn hại hay hủy phá Trong khắp núi thánh của Ta.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: “Trời là ngai của Ta, Đất là bệ chân Ta. Các ngươi sẽ xây nhà thế nào cho Ta? Nơi nào sẽ làm chỗ nghỉ ngơi cho Ta?
Tay Ta đã làm ra mọi điều nầy, Và tất cả đều hiện hữu.” Đức Giê-hô-va phán vậy. “Đây là người mà Ta đoái xem, Là người khiêm nhường và có tâm linh thống hối, Người run sợ khi nghe lời Ta phán.
Còn những ai làm thịt một con bò giống như kẻ giết người; Kẻ dâng chiên con làm sinh tế giống như kẻ bẻ cổ một con chó; Kẻ dâng tế lễ chay giống như kẻ dâng huyết heo; Kẻ xông hương giống như kẻ thờ thần tượng. Vì chúng đã chọn đường lối riêng cho mình, Và lòng chúng chỉ ưa thích những việc ghê tởm.
Ta cũng sẽ chọn những tai ương cho chúng, Sẽ đem đến cho chúng điều chúng kinh hãi. Vì Ta đã gọi mà không ai đáp lại, Ta đã phán mà chẳng ai lắng nghe; Chúng đã làm điều ác dưới mắt Ta, Và chọn điều Ta không hài lòng.”
Hỡi những người nghe lời phán của Đức Giê-hô-va mà run, Hãy nghe lời Ngài: “Anh em các con là kẻ ghét các con Và loại bỏ các con vì danh Ta, từng nói rằng: ‘Xin Đức Giê-hô-va được vinh quang, Để chúng tôi thấy sự vui mừng các người!’ Nhưng chính họ sẽ bị hổ thẹn.”
Có tiếng ồn ào vang ra từ trong thành, Có tiếng phát ra từ đền thờ, Là tiếng của Đức Giê-hô-va, Đấng báo trả những kẻ thù Ngài.
Trước khi chuyển dạ, Người đàn bà đã sinh con; Trước khi cơn quặn thắt đến, Nàng đã sinh một trai.
Ai đã từng nghe một việc như thế? Ai đã từng thấy những việc giống như vậy? Có đất nước nào chuyển dạ trong một ngày, Hay dân tộc nào được sinh ra trong một lúc không? Thế mà Si-ôn mới vừa chuyển dạ Đã sinh con cái.
Đức Giê-hô-va phán: “Chính Ta đã khiến tử cung người mẹ mở ra, Lại không cho sinh nở sao? Hay Ta là Đấng khiến sinh nở lại ngăn tử cung sao?” Đức Chúa Trời ngươi phán vậy.
Hỡi tất cả những người yêu mến Giê-ru-sa-lem! Hãy vui mừng với nó, hãy hân hoan vì nó. Hỡi tất cả những người than khóc Giê-ru-sa-lem! Hãy cùng nó hớn hở vui mừng,
Để các ngươi được bú và no nê Nơi vú của sự an ủi nó; Để các ngươi được uống và thỏa thích Từ nguồn sung mãn vinh quang của nó.
Vì Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, Ta sẽ cho sự bình an tuôn chảy đến nó như một dòng sông, Và vinh quang của các nước tràn ngập như dòng suối; Các con sẽ được bú, được bồng ẵm bên hông, Và mơn trớn trên đầu gối.
Ta sẽ an ủi các con Như người mẹ an ủi con mình, Các con sẽ được an ủi tại Giê-ru-sa-lem.”
“Các ngươi sẽ thấy, và lòng hớn hở; Xương cốt các ngươi sẽ nẩy nở như cỏ non. Tay Đức Giê-hô-va sẽ được bày tỏ cho các đầy tớ Ngài, Và Ngài sẽ nổi thịnh nộ cùng kẻ thù Ngài.
Vì nầy, Đức Giê-hô-va sẽ ngự đến trong lửa, Và chiến xa của Ngài như cơn gió lốc, Để trút cơn giận của Ngài trong thịnh nộ Và sự quở trách của Ngài trong ngọn lửa hừng.
Vì Đức Giê-hô-va sẽ dùng lửa và gươm Mà xét xử mọi xác thịt; Và nhiều người sẽ chết bởi Đức Giê-hô-va.
Những kẻ dọn mình cho sạch để vào các khu vườn thờ lạy tượng thần giữa vườn, ăn thịt heo, thịt chuột và những vật ghê tởm khác, sẽ chết chung với nhau.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Còn Ta, Ta biết việc làm và ý tưởng của họ. Đến kỳ, Ta sẽ tập hợp tất cả các nước và các thứ tiếng; họ sẽ đến và được thấy vinh quang Ta.
Ta sẽ đặt một dấu hiệu giữa họ, và sai những người sống sót của họ đến các nước Ta-rê-si, Phun, Lút, là dân có tài bắn cung, đến Tu-banh và Gia-van, đến các hải đảo xa xôi, là nơi chưa nghe nói về Ta và chưa từng thấy vinh quang Ta. Họ sẽ loan báo vinh quang của Ta giữa các nước.”
Đức Giê-hô-va phán: “Các dân ngoại sẽ đem tất cả anh em các ngươi về từ mọi nước. Chúng chở họ trên ngựa, xe, kiệu, la, lạc đà một gu mà đến núi thánh Ta là Giê-ru-sa-lem, để dâng họ như một lễ vật lên Đức Giê-hô-va; cũng như con dân Y-sơ-ra-ên đem lễ vật trong vật dụng thanh sạch vào đền thờ Đức Giê-hô-va vậy.”
Đức Giê-hô-va phán: “Ta cũng sẽ chọn một số người trong họ làm thầy tế lễ và người Lê-vi.”
“Vì như trời mới đất mới Mà Ta sắp tạo dựng, Sẽ tồn tại trước mặt Ta thể nào, Thì dòng dõi và tên tuổi các ngươi cũng sẽ tồn tại thể ấy.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: “Từ ngày trăng mới nầy đến ngày trăng mới khác, Từ ngày sa-bát nọ đến ngày sa-bát kia, Mọi xác thịt sẽ đến thờ lạy trước mặt Ta.
Họ sẽ đi ra và thấy xác của những kẻ phản loạn chống lại Ta; sâu bọ trong xác họ không bao giờ chết, lửa thiêu đốt họ không bao giờ tắt, và họ sẽ là vật ghê tởm cho mọi người.”
Đây là sứ điệp của Giê-rê-mi, con trai Hinh-kia, một trong những thầy tế lễ ở A-na-tốt, xứ Bên-gia-min.
Đức Giê-hô-va đã phán lời nầy với ông vào năm thứ mười ba thời trị vì của Giô-si-a, con trai A-môn, vua Giu-đa,
và suốt thời trị vì của Giê-hô-gia-kim, con trai Giô-si-a, vua Giu-đa, cho đến cuối năm thứ mười một thời Sê-đê-kia, con trai Giô-si-a, vua Giu-đa, khi dân thành Giê-ru-sa-lem bị lưu đày vào tháng thứ năm.
Lời của Đức Giê-hô-va phán với tôi rằng:
“Trước khi tạo nên con trong lòng mẹ, Ta đã biết con, Trước khi con ra đời, Ta đã biệt riêng con; Ta đã lập con làm nhà tiên tri cho các nước.”
Tôi thưa: “Ôi! Lạy Chúa Giê-hô-va! Con không biết ăn nói thế nào, vì con còn non trẻ.”
Nhưng Đức Giê-hô-va phán với tôi: “Đừng nói: ‘Con còn non trẻ;’ Vì con sẽ đi khắp nơi nào Ta sai con đi, Và sẽ nói mọi điều Ta truyền con nói.
Đừng sợ chúng nó, Vì Ta ở với con để giải cứu con.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Rồi Đức Giê-hô-va đưa tay chạm vào miệng tôi. Đức Giê-hô-va phán với tôi: “Nầy, Ta đã đặt lời Ta trong miệng con.
Hãy xem, ngày nay Ta đã lập con nắm quyền trên các dân tộc, các vương quốc, Để con bứng gốc hoặc phá sập, Tiêu diệt hoặc lật đổ, Xây dựng hoặc vun trồng.”
Lời Đức Giê-hô-va lại đến với tôi: “Giê-rê-mi, con thấy gì?” Tôi thưa: “Con thấy một nhánh cây hạnh.”
Đức Giê-hô-va phán: “Con thấy đúng đó, Ta đang thức để thực hiện lời Ta đã phán.”
Lời Đức Giê-hô-va lại đến với tôi lần thứ hai rằng: “Con thấy gì?” Tôi thưa: “Con thấy một nồi nước sôi, miệng nồi nghiêng xuống từ phương bắc.”
Đức Giê-hô-va phán: “Tai họa từ phương bắc sẽ giáng trên tất cả cư dân trong xứ nầy.
Vì nầy, Ta sẽ triệu tập tất cả dòng tộc của các vương quốc phương bắc lại — Đức Giê-hô-va phán vậy — chúng sẽ đến và tất cả đều đặt ngai mình tại lối vào các cổng thành Giê-ru-sa-lem, bao vây thành lũy nó cũng như tất cả các thành của Giu-đa.
Ta sẽ tuyên án trừng phạt chúng về mọi điều gian ác mà chúng đã làm khi lìa bỏ Ta, dâng hương cho các thần khác, và cúi lạy các sản phẩm do tay chúng làm ra.
Nhưng riêng con, hãy thắt lưng và nhanh chóng nói với chúng mọi điều mà Ta truyền cho con. Đừng khiếp sợ chúng kẻo chính Ta làm cho con khiếp sợ trước mặt chúng.
Nầy ngày nay, chính Ta lập con lên làm một thành trì vững chắc, làm cột sắt, tường đồng để chống lại cả xứ nầy, chống lại các vua Giu-đa, các thủ lĩnh, các thầy tế lễ, và dân trong xứ.
Chúng sẽ giao chiến với con nhưng không thắng được — Đức Giê-hô-va phán vậy — vì Ta ở với con để giải cứu con.”
Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hãy đi và nói vào tai dân Giê-ru-sa-lem rằng: Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Ta nhớ đến lòng trung thành của ngươi lúc ngươi còn trẻ, Tình yêu của ngươi như cô dâu mới về nhà chồng, Lúc ngươi theo Ta trong hoang mạc, Trên vùng đất không gieo trồng.
Y-sơ-ra-ên là dân biệt ra thánh cho Đức Giê-hô-va, Là trái đầu mùa của hoa lợi Ngài. Những ai ăn nuốt dân ấy sẽ mắc tội, Tai họa sẽ giáng trên chúng.’” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Hỡi nhà Gia-cốp và mọi gia tộc Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va!
Đức Giê-hô-va phán thế nầy: “Tổ phụ các ngươi có thấy điều bất chính nào trong Ta không Mà đã lìa xa Ta, Đi theo sự hư không, Và trở thành những kẻ vô giá trị?
Họ không hề hỏi: ‘Đức Giê-hô-va đâu rồi? Ấy là Đấng đã đem chúng ta lên khỏi Ai Cập, Dắt chúng ta qua hoang mạc, Qua xứ hoang vu đầy hầm hố, Miền đất khô cằn và trũng bóng chết Nơi không có người qua lại, Và chẳng ai dám ở.’
Ta đã đem các ngươi vào một vùng đất trù phú Để hưởng hoa quả và các sản vật tốt đẹp của nó. Nhưng khi vào đó, các ngươi đã làm ô uế đất Ta, Đã làm cho sản nghiệp Ta trở nên ghê tởm.
Các thầy tế lễ không buồn hỏi: ‘Đức Giê-hô-va ở đâu?’ Những người giảng dạy luật pháp không còn biết đến Ta nữa. Những kẻ chăn nổi lên chống lại Ta; Các nhà tiên tri lại nhân danh Ba-anh mà nói tiên tri, Chạy theo các thần tượng vô ích.”
Đức Giê-hô-va phán: “Vì vậy, Ta buộc tội các ngươi Và buộc tội cả con cháu của các ngươi nữa.
Hãy qua đảo Kít-tim mà xem, Hãy cử người đến Kê-đa mà tìm hiểu thật kỹ càng; Để xem đã từng có việc như thế bao giờ chưa.
Có dân tộc nào thay đổi thần của mình không? — Dù chúng chẳng phải là thần — Thế mà dân Ta đã đổi vinh quang của mình Để lấy thần tượng vô ích!
Hỡi các tầng trời, hãy kinh ngạc về việc nầy, Hãy rúng động và thật sự bàng hoàng.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Dân Ta đã phạm hai điều ác: Chúng đã lìa bỏ Ta, Là nguồn nước sống; Tự đào bể chứa nước, Bể bị rạn nứt, Không chứa nước được.
Y-sơ-ra-ên có phải là một nô lệ hay một đầy tớ được sinh ra trong nhà chủ không? Vậy tại sao nó lại bị cướp đoạt?
Các sư tử tơ gầm gừ, Rống lên chống lại nó, Làm cho đất nó trở nên hoang vu; Các thành nó bị thiêu hủy, không người ở.
Ngay cả dân thành Nốp và Tác-pha-nết Cũng cạo trọc đầu ngươi.
Chẳng phải chính ngươi đã tự gây ra điều đó cho mình Vì đã lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời, Khi Ngài đang dắt ngươi trên đường đó sao?
Bây giờ, ngươi được gì khi xuống Ai Cập Để uống nước Si-ho? Ngươi được gì khi qua A-si-ri Để uống nước sông Ơ-phơ-rát?
Tội ác ngươi sẽ trừng phạt ngươi, Sự bội bạc của ngươi sẽ cáo trách ngươi. Hãy nhận biết và thấy rõ sự xấu xa và cay đắng Khi lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời, Và không có lòng kính sợ Ta.” Chúa là Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
“Từ lâu Ta đã bẻ ách, Bứt đứt xiềng xích cho ngươi, Nhưng ngươi lại nói: ‘Tôi sẽ không phục vụ nữa.’ Thật vậy, trên mọi đồi cao, Dưới mỗi lùm cây rậm lá, Ngươi cúi xuống như một gái điếm.
Còn Ta, Ta đã trồng ngươi như một cây nho tuyển, Từ giống nho thuần chủng. Nhưng sao ngươi lại thoái hóa Thành cây nho hoang tạp chủng?
Dù ngươi có dùng thuốc tẩy Và nhiều xà phòng để tẩy rửa chính mình, Thì trước mặt Ta, dấu vết tội ác ngươi vẫn sờ sờ ra đó.” Chúa Giê-hô-va phán vậy.
“Làm sao ngươi dám nói: ‘Tôi đâu có bị ô uế, Tôi đâu có theo thần Ba-anh’? Hãy nhìn vào đường lối ngươi nơi thung lũng; Hãy biết rõ điều ngươi đã làm, Như con lạc đà cái tơ lanh lẹ, chạy lung tung.
Như con lừa rừng quen sống trong hoang mạc Hít gió khi động đực, Ai có thể kìm hãm cơn thèm khát nó được? Muốn tìm nó không có gì khó nhọc, Cứ đến trong tháng nó động đực thì sẽ tìm được nó.
Hãy giữ chân ngươi không đi chân đất, Cổ ngươi không bị khát! Nhưng ngươi nói: ‘Vô ích! Tôi đã yêu thích các thần ngoại bang Và sẽ đi theo chúng.’
Kẻ trộm xấu hổ khi bị bắt quả tang thế nào. Thì nhà Y-sơ-ra-ên, Gồm vua chúa, giới lãnh đạo, Các thầy tế lễ, các nhà tiên tri, cũng sẽ xấu hổ như thế.
Chúng nói với khúc gỗ: ‘Ngài là cha tôi,’ Với cục đá: ‘Ngài đã sinh ra tôi.’ Vì chúng đã quay lưng, Thay vì quay mặt lại với Ta. Nhưng trong lúc hoạn nạn, chúng lại nói: ‘Xin mau cứu giúp chúng con!’
Vậy chứ các thần mà các ngươi tự lập ra Đâu cả rồi? Nếu chúng có thể cứu các ngươi trong lúc hoạn nạn Thì hãy để chúng đến cứu giúp đi! Vì hỡi Giu-đa, ngươi có bao nhiêu thành Thì cũng có bấy nhiêu thần kia mà!
Sao ngươi còn dám tranh luận với Ta? Tất cả các ngươi đều phản nghịch Ta.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Ta đã đánh con cái các ngươi thật vô ích, Chúng không chịu sửa dạy, Gươm các ngươi đã giết các nhà tiên tri Như sư tử vồ mồi.
Hỡi các người trong thế hệ nầy! Hãy suy ngẫm lời của Đức Giê-hô-va: Có phải đối với Y-sơ-ra-ên, Ta là một hoang mạc, Một vùng đất tối tăm mù mịt chăng? Thế sao dân Ta lại nói: ‘Chúng tôi muốn đi đâu thì đi, Chúng tôi sẽ không đến với Ngài nữa’?
Có trinh nữ nào quên đồ trang sức, Hay có cô dâu nào quên áo cưới của mình không? Nhưng dân Ta đã quên Ta Từ bao ngày không đếm được.
Thật ngươi đã khéo vạch đường mở lối Để tìm kiếm tình yêu! Ngươi còn dạy các đường lối đó Cho cả những người đàn bà xấu nết.
Trên vạt áo ngươi Cũng vấy máu của người nghèo vô tội, Dù ngươi không bắt quả tang họ đào ngạch khoét vách, Nhưng bất chấp tất cả.
Ngươi vẫn nói: ‘Tôi vô tội, Cơn giận của Ngài đã lìa khỏi tôi!’ Nầy, vì ngươi nói: ‘Tôi không có tội.’ Nên Ta sẽ phán xét ngươi
Làm sao ngươi có thể thay đổi đường lối mình Nhanh như thế? Ngươi đã xấu hổ về A-si-ri thể nào, Cũng sẽ xấu hổ về Ai Cập thể ấy.
Từ nơi đó, ngươi sẽ chắp tay trên đầu Mà ra đi, Vì Đức Giê-hô-va loại bỏ những kẻ mà ngươi trông cậy, Chúng sẽ chẳng làm cho ngươi được thịnh vượng.”
Đức Giê-hô-va phán: “Nếu người kia ly dị vợ, Người vợ nầy ra đi và lấy chồng khác, Thì người chồng cũ có thể quay lại Với người đàn bà đó không? Đất ấy chẳng phải đã bị ô uế lắm sao? Ngươi đã đàng điếm với nhiều tình nhân, Còn tính trở lại với Ta sao?
Hãy ngước mắt nhìn các đồi trọc! Có nơi nào mà ngươi chẳng ăn nằm với người khác? Ngươi đã ngồi bên đường để chờ đợi tình nhân, Như người Ả-rập trong hoang mạc. Ngươi đã làm ô uế đất nầy Bằng những trò dâm ô đồi trụy.
Vì thế nên mưa đã bị giữ lại, Mưa cuối mùa cũng không đến; Dầu vậy ngươi vẫn không biết nhục, Vẫn mặt chai mày đá như gái mại dâm.
Chẳng phải từ lâu nay ngươi đã gọi Ta: ‘Cha của con ơi, Ngài là bạn của con từ thuở thiếu thời,
Lẽ nào Ngài căm giận mãi mãi, Và phẫn nộ đời đời sao?’ Nầy, dù đã nói như vậy, Ngươi cứ tiếp tục làm điều ác mình muốn.”
Vào thời trị vì của vua Giô-si-a, Đức Giê-hô-va phán với tôi: “Con có thấy điều mà Y-sơ-ra-ên bội bạc đã làm không? Nó đã lên mọi núi cao, đến dưới mỗi lùm cây rậm lá mà đàng điếm.
Ta nghĩ rằng sau khi làm mọi việc ấy nó sẽ trở về với Ta, nhưng nó không trở về. Em gái bất trung của nó là Giu-đa đã thấy điều đó.
Ta thấy rằng khi Y-sơ-ra-ên bội bạc vì tội ngoại tình, Ta đã từ bỏ nó và trao giấy ly hôn cho nó, nhưng em gái Giu-đa bất trung của nó chẳng chút sợ sệt, vẫn tiếp tục đàng điếm.
Vì coi thường sự dâm loạn của mình nên nó tự làm ô uế mình cùng với đất nầy, ngoại tình cả với đá và gỗ.
Đến vậy rồi mà em gái bất trung của nó là Giu-đa vẫn cứ giả dối, không hết lòng trở về với Ta.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va cũng phán với tôi rằng: “Y-sơ-ra-ên bội bạc nhưng còn công chính hơn so với Giu-đa bất trung.
Hãy đi, hướng về phía bắc mà công bố những lời nầy: ‘Hỡi Y-sơ-ra-ên bội bạc, hãy trở về! Đức Giê-hô-va phán, Ta sẽ không nghiêm nét mặt mà nhìn các ngươi đâu, Vì Ta giàu lòng thương xót; Ta không căm giận đời đời.’ Đức Giê-hô-va phán vậy.
‘Chỉ cần ngươi nhìn nhận lỗi mình rằng: Ngươi đã chống lại Giê-hô-va Đức Chúa Trời; Ngươi đã giong ruổi theo các thần ngoại bang dưới mỗi lùm cây rậm lá, Và không lắng nghe tiếng Ta.’” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: “Hỡi con cái bội bạc, hãy trở về! Vì Ta là chủ của các ngươi. Ta sẽ lấy từ các ngươi mỗi thành một người, mỗi gia tộc hai người, Và đem đến Si-ôn.
Ta sẽ ban cho các ngươi những người chăn đẹp lòng Ta. Họ sẽ lấy tri thức và sự khôn ngoan mà chăn dắt các ngươi.”
Đức Giê-hô-va lại phán: “Khi các ngươi gia tăng và phát triển nhiều trong xứ, thì lúc ấy người ta sẽ không nói đến Hòm Giao Ước của Đức Giê-hô-va nữa! Người ta sẽ không còn liên tưởng hay nhắc nhớ đến, không còn nuối tiếc hay muốn đóng một cái Hòm khác.
Lúc ấy người ta sẽ gọi Giê-ru-sa-lem là ngôi của Đức Giê-hô-va. Mọi dân tộc sẽ nhân danh Đức Giê-hô-va mà tụ họp về Giê-ru-sa-lem, họ sẽ không bướng bỉnh sống theo lòng dạ gian ác của mình nữa.
Trong những ngày đó, nhà Giu-đa sẽ cùng đi với nhà Y-sơ-ra-ên, rồi chúng sẽ cùng nhau ra khỏi đất phương bắc, trở về xứ mà Ta đã ban cho tổ phụ các ngươi làm sản nghiệp.
Ta đã nói: ‘Làm sao để đưa ngươi vào hàng con cái Ta, Và ban cho ngươi một miền đất tốt tươi. Cơ nghiệp quý giá nhất giữa các dân. Ta đã nói: Ngươi sẽ gọi Ta là “Cha tôi.” Và sẽ không quay lưng lìa bỏ Ta.
Nhưng hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, Người đàn bà không chung thủy lìa bỏ chồng thể nào Thì các ngươi cũng không chung thủy với Ta thể ấy.’” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Có tiếng kêu than nghe được từ các đồi trọc, Đó là tiếng con dân Y-sơ-ra-ên khóc lóc cầu khấn, Vì chúng đã đi con đường lầm lạc, Đã quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình.
“Hỡi con cái bội bạc, hãy trở về! Ta sẽ chữa lành chứng bội bạc của các ngươi.” Các ngươi đáp: “Nầy, chúng con đến với Ngài, Vì Ngài là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng con.
Sự thờ lạy trên các đồi cao Và tiếng ồn ào trên các núi thật ra chỉ là sự dối trá. Thật, chỉ trong Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng con Mới có sự cứu rỗi cho Y-sơ-ra-ên.
Từ thời niên thiếu của chúng con, Thần đáng xấu hổ đã nuốt hết công lao của tổ phụ chúng con, Bầy chiên, bầy bò, Con trai, con gái của họ.
Chúng con đáng phải nằm trong sự xấu hổ, Đắp lên mình điều sỉ nhục. Vì cả chúng con lẫn tổ phụ chúng con Đều đã phạm tội với Giê-hô-va Đức Chúa Trời; Từ thời niên thiếu cho đến bây giờ, Chúng con không chịu lắng nghe tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng con.”
Đức Giê-hô-va phán: “Hỡi Y-sơ-ra-ên, nếu ngươi trở về, Nếu ngươi trở về với Ta, Nếu ngươi dẹp bỏ những việc ghê tởm khỏi mặt Ta, Và không dao động nữa,
Nếu ngươi nhân danh ‘Đức Giê-hô-va hằng sống’ Mà thề cách trung thực, ngay thẳng và công chính, Thì các nước sẽ được Ngài ban phước Và được vinh hiển trong Ngài.”
Đức Giê-hô-va phán với người Giu-đa và dân thành Giê-ru-sa-lem thế nầy: “Hãy vỡ đất hoang, Đừng gieo trồng trong gai gốc.
Hỡi người Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem, Hãy cắt bì chính mình vì Đức Giê-hô-va, Cắt bỏ dương bì khỏi lòng dạ các ngươi! Nếu không, cơn giận Ta sẽ phừng lên như lửa, Thiêu đốt các ngươi, không ai dập tắt được, Vì việc ác các ngươi đã làm.”
Hãy loan báo trong Giu-đa và công bố trong Giê-ru-sa-lem rằng: “Hãy thổi kèn khắp đất. Hãy kêu lớn tiếng rằng: ‘Nào, chúng ta hãy tập hợp lại Và trốn vào các thành kiên cố!’
Hãy giương cờ hướng về Si-ôn! Hãy trốn đi, đừng dừng lại! Vì Ta sẽ đem đến một tai họa từ phương bắc, Một sự tàn phá khủng khiếp.
Sư tử đã ra từ rừng rậm, Kẻ hủy diệt các nước đã lên đường, Đã rời khỏi chỗ nó, Để làm cho đất nước ngươi hoang tàn; Các thành của ngươi hoang phế Không còn một bóng người.
Vì thế, hãy quấn vải sô vào người Khóc lóc kêu van, Vì cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va Chưa lìa khỏi chúng ta đâu.”
Đức Giê-hô-va phán: “Trong ngày đó, vua chúa và giới lãnh đạo đều mất tinh thần; Các thầy tế lễ kinh hoàng, Các nhà tiên tri sửng sốt.”
Tôi liền thưa: “Ôi! Lạy Chúa Giê-hô-va! Thật Ngài đã gạt dân nầy và Giê-ru-sa-lem rồi. Ngài hứa: ‘Các ngươi sẽ được bình an,’ thế mà gươm đang kề cổ!”
Bấy giờ sẽ có lời nói với dân nầy và Giê-ru-sa-lem rằng: “Một ngọn gió nóng từ các đồi trọc trong hoang mạc sẽ thổi trên con gái dân Ta, không phải để rê hay sảy lúa,
nhưng là một cơn gió rất mạnh thổi đến theo lệnh Ta cho các việc đó. Bấy giờ chính Ta sẽ tuyên phạt chúng.”
Nầy, nó sẽ kéo đến như đám mây, Chiến xa nó như cơn lốc, Ngựa chiến của nó nhanh hơn đại bàng. Khốn cho chúng tôi vì chúng tôi bị diệt mất!
Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy tẩy sạch gian ác trong lòng ngươi, Để ngươi được cứu. Ngươi còn dung túng những ý tưởng xấu xa trong lòng Cho đến bao giờ?
Vì có tiếng loan báo từ đất Đan, Và công bố tai ương từ núi Ép-ra-im.
“Hãy truyền cho các nước! Hãy báo cho Giê-ru-sa-lem rằng: ‘Những kẻ vây hãm từ phương xa đến, Chúng hò hét chống lại các thành Giu-đa.
Chúng bao vây Giê-ru-sa-lem như người giữ ruộng; Vì thành ấy đã phản loạn với Ta.’” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Đường lối và việc làm của ngươi Đã gây ra cho ngươi mọi điều ấy. Đó là kết cục bất hạnh của ngươi, thật cay đắng! Cay đắng tận tâm can.”
Ôi! Nỗi đau của tôi, nỗi đau của tôi, Nỗi quặn thắt trong lòng! Tâm hồn tôi bối rối; Tôi không thể nín lặng. Linh hồn ơi, ta đã nghe tiếng kèn Và tiếng hò xung trận!
Tai ương dồn dập tai ương, Khắp xứ hoang tàn. Lều trại tôi thình lình bị phá hủy, Màn trướng tả tơi trong phút chốc.
Tôi còn phải nhìn thấy cờ Và nghe tiếng kèn của quân thù cho đến bao giờ?
“Dân Ta thật dại dột, Chúng chẳng nhận biết Ta. Đó là những đứa con khờ dại, Thiếu hiểu biết, Khéo làm điều ác, Nhưng không biết làm điều thiện.”
Tôi nhìn trái đất, kìa, không có hình dạng và trống rỗng; Tôi xem các tầng trời thì không có ánh sáng.
Tôi nhìn lên các núi, chúng đều rúng động, Mọi đồi cao đều lung lay.
Tôi nhìn quanh, không một bóng người, Tất cả chim trời đều trốn biệt tăm.
Tôi thấy, kìa, đất màu mỡ đã trở thành hoang mạc, Tất cả các thành đều bị hủy phá trước mặt Đức Giê-hô-va, Trước cơn thịnh nộ của Ngài.
Đức Giê-hô-va phán: “Khắp đất sẽ hoang vu, Nhưng Ta không tiêu diệt đến cùng.
Vì thế, mặt đất sẽ sầu thảm, Bầu trời sẽ tăm tối; Vì Ta đã phán, đã định, Thì không đổi ý, chẳng rút lời.”
Khi nghe tiếng của kỵ binh và lính bắn cung, Mọi thành đều chạy trốn; Kẻ chui vào bụi cây, người trèo lên các hẻm đá; Mọi thành đều bị bỏ hoang, Không một ai cư ngụ.
Còn ngươi, hỡi kẻ bị diệt vong, ngươi sẽ làm gì? Dù ngươi có mặc áo màu tím, đeo trang sức bằng vàng, Lấy mực vẽ mắt mình cho to, Trang điểm cho đẹp, cũng chẳng ích lợi gì. Các tình nhân ngươi cũng khinh ngươi, Tìm cách sát hại ngươi.
Vì tôi nghe tiếng kêu la như tiếng đàn bà chuyển dạ, Tiếng rên rỉ như tiếng sản phụ sinh con so. Đó là tiếng của con gái Si-ôn thở hổn hển Và dang tay than khóc: “Khốn khổ cho tôi! Tôi ngất lịm trước mặt bọn giết người!”
“Hãy đi rảo khắp các đường phố Giê-ru-sa-lem, Quan sát và ghi nhận! Hãy tìm kiếm nơi các quảng trường, Nếu ngươi tìm được một người Làm điều công chính, tìm sự chân thật, Thì Ta sẽ tha thứ cho cả thành.
Dù chúng nói: ‘Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống!’ Chúng cũng đã thề dối!”
Lạy Đức Giê-hô-va, mắt Ngài không đoái xem sự chân thật sao? Ngài đánh chúng, Nhưng chúng chẳng thấy đau buồn, Ngài tiêu diệt chúng, Nhưng chúng không chịu sửa dạy. Chúng làm cho mặt mình cứng hơn đá, Không chịu trở về.
Còn tôi, tôi nói: “Đây chỉ là những kẻ nghèo hèn, ngu muội, Vì chúng không biết đường lối của Đức Giê-hô-va, Phán quyết của Đức Chúa Trời mình.
Tôi sẽ đến gặp những người có thế lực Và nói với họ, Vì họ biết rõ đường lối của Đức Giê-hô-va, Phán quyết của Đức Chúa Trời mình.” Nhưng chính họ đã cùng nhau bẻ ách, Bứt dây!
Vì vậy, sư tử trong rừng sẽ giết họ, Chó sói từ hoang mạc sát hại họ. Beo sẽ rình rập bên ngoài thành của họ, Ai ra khỏi thành sẽ bị cắn xé! Vì tội lỗi của họ rất nhiều, Sự bội bạc của họ vô kể.
“Làm sao Ta có thể tha thứ ngươi được? Các con trai ngươi đã lìa bỏ Ta, Nhân danh các thần không phải là thần mà thề thốt. Ta đã nuôi chúng no nê, Mà chúng vẫn phạm tội tà dâm, Tụ họp trong nhà gái mại dâm.
Chúng như những con ngựa nuôi béo động cỡn, Mỗi người bám theo vợ người lân cận mà hú hí.
Ta sẽ không trừng phạt chúng về những tội đó sao? Một dân tộc như thế Mà Ta không báo thù sao?” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Hãy leo vào các luống nho và tàn phá đi, Nhưng đừng phá sạch; Hãy cắt bỏ các nhánh nó, Vì chúng không thuộc về Đức Giê-hô-va.
Vì cả nhà Y-sơ-ra-ên và Giu-đa Đều đã đối xử vô cùng bội bạc với Ta.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Chúng đã chối bỏ Đức Giê-hô-va, Và nói: “Ngài chẳng làm gì đâu! Không có hoạn nạn nào giáng trên chúng ta, Cũng chẳng có gươm đao, đói kém nào cả.
Các nhà tiên tri chỉ như cơn gió thoảng, Lời Chúa không ở trong họ; Điều gì họ nói sẽ xảy đến cho họ thôi.”
Vì vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân phán: “Vì các ngươi đã nói những lời đó, Nầy, Ta sẽ khiến lời Ta như lửa trong miệng ngươi, Dân nầy sẽ như củi, và lửa ấy sẽ thiêu nuốt chúng.”
Đức Giê-hô-va phán: “Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, Ta sẽ đem một dân tộc từ phương xa đến chống lại ngươi. Đó là một dân tộc kiên cường, Một dân tộc kỳ cựu, Một dân tộc mà ngôn ngữ nó ngươi chẳng biết, Chẳng hiểu chúng nói gì.
Bao đựng tên của chúng như mồ mả mở toang; Tất cả bọn chúng đều là những chiến binh hung bạo.
Chúng sẽ ăn sạch mùa màng và lương thực ngươi, Ăn con trai, con gái ngươi; Ăn sạch đàn chiên đàn bò ngươi, Ăn cây nho và cây vả ngươi. Dùng gươm hủy phá các thành kiên cố của ngươi, Mà ngươi hằng tin cậy!”
Đức Giê-hô-va phán: “Dù vậy, trong những ngày đó, Ta sẽ không tận diệt các ngươi đâu.
Khi dân chúng thắc mắc: ‘Tại sao Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta lại giáng mọi điều nầy trên chúng ta?’ thì ngươi hãy nói với họ rằng: ‘Các ngươi đã lìa bỏ Ta và phục vụ các thần ngoại ngay trong đất mình thể nào, thì các ngươi cũng sẽ phục vụ các dân ngoại trong xứ không thuộc về các ngươi thể ấy.’
Hãy loan báo tin nầy cho nhà Gia-cốp; Công bố nó trong Giu-đa:
Hãy lắng nghe, hỡi dân dại dột kém cỏi, Có mắt mà không thấy, Có tai mà không nghe.”
Đức Giê-hô-va phán: “Các ngươi không kính sợ Ta Không run rẩy trước mặt Ta sao? Ta là Đấng đã lấy cát làm ranh giới biển, Một giới hạn vĩnh viễn không thể vượt qua. Sóng có động cũng không thắng được; Biển có gầm thét cũng không tràn qua nổi.
Nhưng lòng dân nầy bướng bỉnh và phản loạn Chúng tẽ tách và đi riêng.
Chúng chẳng bao giờ nói với lòng mình: ‘Chúng ta hãy kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời Đấng đã ban mưa đúng thì, Mưa đầu mùa và mưa cuối mùa, Và giữ cho chúng ta Các tuần lễ nhất định cho mùa gặt.’
Sự gian ác các ngươi đã ngăn trở những điều nầy, Tội lỗi các ngươi khiến các ngươi không được hưởng phước lành.
Vì giữa dân Ta có những kẻ ác; Chúng rình rập như người bẫy chim, Gài bẫy bắt người.
Nhà chúng đầy ắp dối trá, Như lồng đầy chim; Vì thế mà chúng trở nên giàu có và quyền thế,
Chúng to lớn đẫy đà. Tội ác chúng không bờ bến; Chúng không xét xử công minh để kẻ mồ côi được lợi, Cũng chẳng bênh vực quyền lợi của người nghèo khó.”
Đức Giê-hô-va phán: “Ta sẽ không trừng phạt chúng về những tội ấy sao? Một dân tộc như thế Mà Ta không báo thù sao?
Trong đất nầy đã xảy ra Một việc rùng rợn và kinh tởm.
Các nhà tiên tri nói tiên tri dối, Và các thầy tế lễ cai trị theo chỉ đạo của các nhà tiên tri ấy, Vậy mà dân Ta lại ưa thích! Nhưng đến hồi kết cục, các ngươi sẽ làm gì?”
“Hỡi con cái Bên-gia-min, Hãy trốn khỏi Giê-ru-sa-lem để được an toàn! Hãy thổi kèn tại Thê-cô-a, Giương cờ hiệu trên Bết Hát-kê-rem; Vì tai ương và sự tàn phá khủng khiếp, Từ phương bắc đang ập đến.
Ta sẽ tiêu diệt con gái Si-ôn Xinh đẹp, yêu kiều.
Những người chăn sẽ kéo đến đó cùng với bầy chiên mình, Cắm lều dựng trại bao quanh thành, Mạnh ai nấy thả bầy ăn cỏ trên phần đất của mình.”
“Hãy chuẩn bị chiến trận chống lại thành; Nào, chúng ta sẽ tấn công lúc đứng trưa! Nhưng khốn thay cho chúng ta, ngày đã xế, Bóng chiều đã ngả dài!
Nào, chúng ta hãy tấn công vào ban đêm, Hủy diệt các lâu đài của nó!”
Vì Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Hãy đốn cây Và đắp lũy để vây hãm Giê-ru-sa-lem! Đây là thành phải bị trừng phạt; Vì giữa nó đầy dẫy sự ức hiếp.
Như giếng giữ cho nước mát thể nào, Thì thành nầy cũng giữ gian ác mình thể ấy. Khắp thành chỉ nghe bạo hành và hủy phá; Trước mặt Ta chỉ thấy bệnh hoạn và thương tích.
Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy nghe lời răn bảo, Nếu không Ta sẽ chán bỏ ngươi, Làm cho ngươi hoang tàn, Đất ngươi không người ở.”
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Chúng sẽ mót sạch dân còn sót lại của Y-sơ-ra-ên Như người ta mót nho. Hãy đưa tay ra hái một lần nữa, Như người hái nho mót trái sót trên cành.”
Tôi sẽ nói với ai và cảnh cáo người nào, Để họ nghe tôi? Nầy, tai họ chưa cắt bì, Nên không thể nghe được. Nầy, họ coi thường lời của Đức Giê-hô-va, Chẳng thích thú chút nào.
Vì thế, lòng tôi chứa đầy cơn giận của Đức Giê-hô-va, Tôi không thể nín lặng. “Hãy trút cơn giận đó trên trẻ con ngoài đường phố, Trên đám thanh niên đang tụ tập; Cả vợ lẫn chồng, Cụ già và người lớn tuổi đều sẽ bị bắt.
Nhà cửa, ruộng vườn cùng vợ con chúng Sẽ sang qua tay kẻ khác; Vì Ta sẽ giơ tay ra Chống lại dân cư đất nầy,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Vì từ người nhỏ nhất đến người lớn nhất, Tất cả đều tham lợi bất chính; Từ nhà tiên tri đến thầy tế lễ, Đều sống giả dối.
Chúng chữa vết thương dân Ta cách sơ sài, Rồi bảo: ‘Bình an! Bình an!’ Mà không bình an chi hết.
Chúng làm điều ghê tởm, đáng xấu hổ, Nhưng chúng chẳng thấy xấu hổ, Cũng chẳng biết hổ thẹn là gì. Vì vậy, chúng sẽ vấp ngã giữa những kẻ vấp ngã; Đến ngày Ta trừng phạt, chúng sẽ ngã gục,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: “Hãy đứng bên các nẻo đường và nhìn xem, Hãy tìm hiểu những đường lối xa xưa, Xem đâu là đường ngay nẻo chính và đi con đường ấy, Hãy tìm nơi an nghỉ cho linh hồn mình. Nhưng chúng đáp: ‘Chúng tôi không muốn đi con đường ấy.’
Ta đã lập người canh giữ các ngươi; ‘Hãy chú ý nghe tiếng kèn!’ Nhưng chúng nói: ‘Chúng tôi không chú ý đâu!’
Vì vậy, hỡi các nước, hãy nghe; Hỡi cả hội chúng, hãy biết việc gì sẽ xảy đến cho chúng.
Hỡi đất, hãy nghe! Ta sẽ đem tai họa đến trên dân nầy, Tức là hậu quả từ các âm mưu của chúng, Vì chúng chẳng chú ý đến lời Ta, Và từ chối luật pháp Ta.
Ta cần gì nhũ hương đến từ Sê-ba, Hay hương xương bồ đến từ các vùng xa xôi? Tế lễ thiêu của các ngươi không đẹp lòng Ta, Các sinh tế của các ngươi cũng chẳng làm Ta vui thích.”
Vì thế, Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, Ta sẽ đặt chướng ngại vật trước dân nầy Làm cho chúng vấp ngã; Cả cha mẹ và con cái, Láng giềng và bạn hữu đều chết mất.”
Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, một dân tộc đến từ phương bắc; Một cường quốc nổi lên từ tận cùng trái đất.
Chúng nắm chặt cung và giáo, Hung hăng dữ tợn, không có lòng thương xót. Tiếng chúng thét lên như biển gào; Chúng cưỡi ngựa, Muôn người như một, Sẵn sàng tấn công ngươi, Hỡi con gái Si-ôn!”
Nghe tin ấy, Tay chân chúng tôi bủn rủn, Nỗi kinh khiếp siết chặt chúng tôi, Khiến chúng tôi quặn thắt như sản phụ chuyển dạ.
Chớ ra ngoài đồng ruộng, Đừng đi lại trên đường, Vì kẻ thù mang gươm, Gieo kinh hoàng khắp chốn.
Hỡi con gái dân ta, hãy quấn vải sô vào người, Và lăn trong tro bụi. Hãy khóc than như mất con trai một, Hãy than khóc thật đắng cay; Vì kẻ tiêu diệt Sẽ thình lình xông tới chúng ta.
“Ta đã lập con làm người thử nghiệm và đồn lũy giữa dân Ta, Để con nhận biết và thử nghiệm đường lối chúng.
Tất cả bọn chúng đều ngang nghịch, Đi phao vu khắp nơi. Trơ như đồng, cứng như sắt, Chúng chỉ biết phá hoại.
Ống bễ thổi mạnh, Chì tan chảy trong lửa; Nhưng luyện đi luyện lại cũng vô ích, Vì bọn gian ác chưa bị loại bỏ.
Chúng phải bị gọi là ‘bạc phế thải,’ Vì Đức Giê-hô-va đã loại trừ chúng.”
Đây là lời từ Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi:
“Hãy đứng tại cửa nhà Đức Giê-hô-va và công bố lời nầy: ‘Tất cả các ngươi là những người Giu-đa đi qua các cửa nầy để vào thờ phượng Đức Giê-hô-va, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va.
Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán thế nầy: Hãy sửa lại đường lối và việc làm của các ngươi thì Ta sẽ cho các ngươi ở lại nơi nầy.
Đừng tin cậy vào những lời dối trá như: “Đây chính là đền thờ của Đức Giê-hô-va, đền thờ của Đức Giê-hô-va, đền thờ của Đức Giê-hô-va!”
Vì nếu các ngươi thật sự sửa đổi đường lối và việc làm của mình, nếu các ngươi cư xử với nhau cách công bằng,
nếu các ngươi không ức hiếp ngoại kiều, trẻ mồ côi, người góa bụa, và không làm đổ máu vô tội tại nơi nầy, cũng không chạy theo các thần khác để rước họa vào thân,
thì Ta sẽ cho các ngươi ở lại nơi nầy, trong xứ mà Ta đã ban cho tổ phụ các ngươi từ thuở xa xưa cho đến đời đời.
Nhưng các ngươi lại tin cậy những lời dối trá vô giá trị.
Chẳng phải các ngươi trộm cắp, giết người, phạm tội tà dâm, thề dối, dâng hương cho Ba-anh, chạy theo các thần khác, là các thần mà các ngươi không biết đó sao?
Thế mà các ngươi đi vào nhà nầy, là nơi được gọi bằng danh Ta, đứng trước mặt Ta và nói: “Chúng con đã được giải cứu rồi!” Các ngươi làm vậy để tiếp tục vi phạm mọi điều ghê tởm ấy.
Vậy thì các ngươi xem nhà nầy, nơi được gọi bằng danh Ta, là hang trộm cướp sao? Nầy, chính Ta, Ta đã nhìn thấy tất cả.’ Đức Giê-hô-va phán vậy.
‘Vậy, các ngươi hãy đi đến chỗ của Ta tại Si-lô, là nơi Ta đặt danh Ta từ ban đầu, mà xem Ta đã làm gì cho nó vì tội ác của dân Ta là Y-sơ-ra-ên.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Bây giờ, vì các ngươi đã làm những việc ấy, Ta thường xuyên phán bảo các ngươi mà các ngươi không nghe; Ta đã gọi các ngươi mà các ngươi không trả lời.
Cho nên điều gì Ta đã làm cho Si-lô, Ta cũng sẽ làm cho nhà nầy, tức là nhà được gọi bằng danh Ta, nhà mà các ngươi nhờ cậy, và làm cho nơi mà Ta đã ban cho các ngươi cùng tổ phụ các ngươi.
Ta sẽ đuổi các ngươi khỏi mặt Ta, như Ta đã đuổi anh em các ngươi, tức là toàn thể dòng dõi Ép-ra-im.’
Còn con, Giê-rê-mi, con đừng cầu nguyện cho dân nầy, đừng cất tiếng kêu xin, cầu khẩn cho chúng, cũng đừng nài nỉ với Ta, vì Ta sẽ không nghe con đâu.
Con không thấy điều chúng làm trong các thành của Giu-đa và trên các đường phố Giê-ru-sa-lem sao?
Con cái lượm củi, cha nhen lửa, mẹ nhồi bột, để làm bánh dâng cho nữ hoàng trên trời, lại còn làm lễ quán cho các thần khác, để chọc giận Ta.”
Đức Giê-hô-va phán: “Có phải chúng chọc tức Ta không? Chẳng phải chúng tự làm tổn thương, chuốc lấy điều tủi nhục cho mình đó sao?”
Vì thế, Chúa Giê-hô-va phán: “Nầy, cơn giận của Ta, cơn thịnh nộ của Ta, sẽ trút xuống nơi nầy, trên người và thú vật, trên cây cối ngoài đồng và hoa quả của đất; cơn thịnh nộ đó sẽ cháy bừng bừng, không dập tắt được.”
Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: “Hãy thêm tế lễ thiêu vào các sinh tế của các ngươi và ăn thịt sinh tế đi!
Vì trong ngày Ta đem tổ phụ các ngươi ra khỏi Ai Cập, Ta chưa phán hay truyền lệnh gì cho họ về tế lễ thiêu và các sinh tế.
Nhưng đây là mệnh lệnh mà Ta đã truyền cho họ: ‘Hãy nghe tiếng Ta thì Ta sẽ làm Đức Chúa Trời các ngươi và các ngươi sẽ làm dân Ta. Hãy bước theo mọi đường lối Ta dạy, để các ngươi được phước.’
Nhưng họ không nghe, không chú ý, cứ bước đi theo toan tính riêng của mình, theo tâm địa gian ác và ương ngạnh của mình; họ lùi lại chứ không tiến tới.
Từ ngày tổ phụ các ngươi ra khỏi Ai Cập cho đến nay, ngày nầy qua ngày kia, Ta đã liên tục sai tất cả các đầy tớ Ta, tức các nhà tiên tri, đến với họ.
Nhưng họ không nghe Ta, chẳng thèm chú ý, lại còn cứng đầu cứng cổ, ăn ở xấu xa hơn cả tổ phụ mình.”
“Vậy, con sẽ nói với họ mọi lời nầy, nhưng họ sẽ không nghe con. Con sẽ gọi, nhưng họ không trả lời.
Con hãy nói với họ: ‘Đây là dân không vâng theo tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, không chịu sửa dạy. Sự chân thật đã tiêu tan, đã biến mất khỏi môi miệng họ rồi.
Hãy cắt tóc và ném đi; Hãy cất tiếng thở than trên các đồi trọc; Vì Đức Giê-hô-va đã từ chối và loại bỏ thế hệ nầy, Là thế hệ chọc giận Ngài.’”
Đức Giê-hô-va phán: “Con dân Giu-đa đã làm điều ác dưới mắt Ta. Chúng đặt những vật ghê tởm ngay trong nhà được gọi bằng danh Ta, để làm cho nó ô uế.
Chúng đã xây các nơi cao của Tô-phết trong thung lũng Ben Hi-nôm, để đốt con trai con gái mình trong lửa; đó là điều Ta chẳng truyền dạy cũng chẳng hề nghĩ đến.”
Đức Giê-hô-va phán: “Vì vậy mà trong những ngày đến, người ta sẽ không gọi là Tô-phết hay thung lũng Ben Hi-nôm nữa, mà gọi là ‘thung lũng Tàn Sát’, vì người ta sẽ chôn cất tại Tô-phết, cho đến khi không còn chỗ chôn nữa.
Tử thi của dân nầy sẽ làm thức ăn cho chim trời và thú rừng trên đất, và chẳng có ai xua đuổi chúng đi.
Bấy giờ, Ta sẽ làm cho các thành của Giu-đa và đường phố Giê-ru-sa-lem ngưng tiếng reo vui mừng rỡ, tiếng của chú rể và cô dâu, vì đất nầy sẽ trở nên hoang vu.”
Đức Giê-hô-va phán: “Lúc ấy, người ta sẽ lôi ra khỏi mộ xương của các vua Giu-đa, xương của các thủ lĩnh, xương của các thầy tế lễ, xương của các nhà tiên tri, và xương của cư dân Giê-ru-sa-lem.
Người ta sẽ phơi các xương ấy dưới mặt trời, mặt trăng, và tất cả các tinh tú trên trời mà chúng đã yêu mến, phục vụ, đi theo, cầu hỏi, và thờ lạy. Các xương ấy sẽ chẳng được gom lại, cũng chẳng được chôn cất nhưng sẽ thành phân bón trên mặt đất.
Đối với mọi kẻ sống sót của gia tộc gian ác ấy tại những nơi mà Ta đuổi chúng đến, thì thà chết còn hơn sống.” Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
“Con hãy bảo chúng rằng Đức Giê-hô-va có phán: ‘Khi vấp ngã, người ta không đứng dậy sao? Khi lầm lạc, người ta không quay về sao?
Vậy thì tại sao dân nầy cứ quay đi, Giê-ru-sa-lem nầy cứ mãi phản bội? Chúng khăng khăng giữ điều gian trá, Từ chối quay về.
Ta đã chú ý lắng nghe, Nhưng chúng không nói thật, Không một ai ăn năn tội ác mình, Lại còn nói: “Tôi có làm gì đâu!” Tất cả đều theo đuổi con đường riêng Như con ngựa xông vào trận mạc.
Ngay cả chim hạc bay trên không Còn biết mùa di chuyển; Chim gáy, chim yến, chim nhạn, Còn nhớ mùa trở về; Nhưng dân Ta chẳng biết Phán quyết của Đức Giê-hô-va!
Làm sao các ngươi dám nói: “Chúng tôi khôn ngoan, Luật pháp Đức Giê-hô-va ở với chúng tôi,”? Nhưng nầy, ngọn bút giả dối của các thầy thông giáo Đã làm cho luật pháp ấy ra lời dối trá!
Kẻ khôn ngoan sẽ bị xấu hổ, Mất tinh thần và bị mắc bẫy. Chúng nó đã lìa bỏ lời của Đức Giê-hô-va, Thì còn khôn ngoan nỗi gì?
Vì vậy, Ta sẽ phó vợ chúng cho người khác, Ruộng chúng cho chủ mới; Vì từ người nhỏ nhất đến người lớn nhất, Đều tham lợi bất chính; Từ nhà tiên tri đến thầy tế lễ, Đều sống giả dối.
Chúng chữa vết thương con gái dân Ta cách sơ sài, Rồi bảo: “Bình an! Bình an!” Mà không bình an chi hết.
Chúng làm điều ghê tởm, đáng xấu hổ, Nhưng chúng chẳng thấy xấu hổ, Cũng chẳng biết hổ thẹn là gì. Vì vậy, chúng sẽ vấp ngã giữa những kẻ vấp ngã; Đến ngày Ta trừng phạt, chúng sẽ ngã gục,’” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: “Ta muốn gom chúng lại và tiêu diệt chúng, Sẽ không còn trái nho trên cây nho, Chẳng còn trái vả trên cây vả; Lá sẽ khô héo; Những gì Ta đã ban cho chúng sẽ bị tước mất.”
Sao chúng ta cứ ngồi yên? Hãy tập trung lại, cùng chạy vào các thành kiên cố Và chết tại đó! Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã định cho chúng ta phải chết, Ngài cho chúng ta uống nước độc, Vì chúng ta đã phạm tội với Đức Giê-hô-va.
Chúng ta trông đợi bình an, Nhưng không thấy điều tốt đẹp nào đến cả; Mong mỏi kỳ chữa lành, Mà chỉ thấy nỗi khiếp kinh.
Từ thành Đan, người ta đã nghe tiếng hét của ngựa; Đất rung chuyển vì tiếng hí của các con ngựa chiến. Chúng đã đến nuốt đất và sản vật của đất, Nuốt thành và cư dân trong thành.
“Nầy, Ta sẽ sai rắn đến giữa các ngươi, Loài rắn độc chẳng ai ếm chú được, Chúng sẽ cắn các ngươi.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Ước gì tôi được an ủi khỏi cơn đau buồn, Nỗi đớn đau làm tan nát cõi lòng!
Nầy, có tiếng kêu cứu của con gái dân tôi, Từ miền đất xa xăm vọng về: “Đức Giê-hô-va không còn ở trong Si-ôn sao? Vua Si-ôn không còn ngự trong thành sao?” “Tại sao chúng dùng tượng chạm của chúng Và thần hư không của dân ngoại, Mà chọc giận Ta?”
“Mùa gặt đã qua, mùa hạ đã hết, Mà chúng tôi chưa được cứu!”
Vì vết thương của con gái dân tôi mà lòng tôi đau xót, Tôi khóc than sầu muộn, nỗi kinh hoàng bám chặt lấy tôi.
Trong Ga-la-át không có nhũ hương sao? Ở đó cũng không còn thầy thuốc sao? Vậy thì tại sao vết thương con gái dân tôi Không được chữa lành?
Ôi! Ước gì đầu tôi là suối nước, Mắt tôi là nguồn lệ, Tôi sẽ khóc suốt ngày đêm Cho những người bị tàn sát của con gái dân tôi!
Ôi! Ước gì tôi có một lữ quán Trong hoang mạc, Để tôi rời bỏ dân tôi Mà đi xa khỏi họ. Vì họ đều là bọn tà dâm, Là phường gian trá.
“Chúng uốn lưỡi mình như cái cung Chúng nắm quyền trong xứ bằng sự dối trá Chứ không bằng sự chân thật. Chúng đi từ gian ác nầy đến gian ác nọ, Nhưng không nhận biết Ta.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Mỗi người phải thận trọng với người lân cận, Cũng đừng tin tưởng một anh em nào; Vì anh em sẽ lừa gạt anh em, Còn người lân cận thì đi vu khống.
Người nào cũng lừa gạt người lân cận, Không ai nói sự thật. Chúng luyện tập lưỡi mình nói dối, Miệt mài làm điều ác.
Đức Giê-hô-va phán: “Con đang sống giữa cảnh dối trá ấy; Vì dối trá mà chúng từ chối nhận biết Ta.”
Vì vậy, Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Nầy Ta sẽ luyện lọc và thử nghiệm chúng Vì Ta có thể làm gì khác đối với con gái dân Ta?
Lưỡi của chúng là mũi tên ác độc Hay buông lời dối trá. Ngoài miệng thì chúc bình an cho người lân cận Nhưng trong lòng thì giăng bẫy hại người.”
Đức Giê-hô-va phán: “Ta không trừng phạt chúng về các tội ấy sao? Làm sao Ta không báo trả Một dân tộc như thế được chứ?”
Tôi sẽ khóc lóc thở than cho các núi, Xướng lên bài ca sầu não cho các đồng cỏ trong hoang mạc, Vì chúng đã bị đốt cháy, không một bóng người qua lại, Chẳng còn nghe tiếng bầy gia súc; Từ chim trời cho đến thú rừng, Tất cả đều trốn mất.
“Ta sẽ khiến Giê-ru-sa-lem thành đống đổ nát, Thành hang chó rừng; Và làm cho các thành của Giu-đa hoang tàn, Không người ở.”
Ai là người đủ khôn ngoan để hiểu những việc nầy? Miệng Đức Giê-hô-va phán với ai để họ công bố lại? Tại sao xứ sở điêu tàn, quạnh hiu như hoang mạc, không một bóng người qua lại?
Đức Giê-hô-va phán: “Vì chúng đã bỏ luật pháp mà Ta đã lập cho chúng, không vâng lời Ta và không sống theo luật pháp Ta.
Nhưng chúng sống theo tính ương ngạnh của lòng mình, đi theo các thần Ba-anh mà tổ phụ chúng đã dạy.”
Vì thế, Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: “Nầy, Ta sẽ cho dân nầy ăn ngải cứu và uống nước độc.
Ta sẽ làm cho chúng tan lạc giữa các dân tộc mà chúng và tổ phụ chúng chưa từng biết; Ta còn sai gươm giáo đuổi theo cho đến khi đã tận diệt chúng.”
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Hãy xem xét và gọi các phụ nữ khóc mướn đến; Sai tìm những phụ nữ khéo than van về.
Bảo chúng hãy mau cất tiếng bi ai, Để mắt chúng tôi rơi lệ, Mi chúng tôi đầm đìa nước mắt!
Vì có tiếng khóc than vọng về từ Si-ôn rằng: ‘Chúng tôi bị tàn phá! Chúng tôi tủi nhục vô cùng! Vì chúng tôi đã phải lìa xứ sở; Nhà cửa chúng tôi đã bị tàn phá!’”
Hỡi các bà, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va, Hãy mở tai nghe lời từ miệng Ngài; Hãy dạy cho con gái mình bài ca sầu thảm, Dạy cho nhau khúc hát thương đau!
Vì sự chết đã leo qua cửa sổ, Lẻn vào lâu đài chúng ta, Giết hại trẻ con ngoài đường phố Và thanh niên trên các quảng trường.
Con hãy nói: “Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Thây người sẽ ngã xuống Như phân đổ ngoài đồng ruộng, Như gié lúa sau lưng con gặt Chẳng ai lượm chúng làm gì.’”
Đức Giê-hô-va phán: “Người khôn đừng tự hào về sự khôn ngoan mình; Người mạnh đừng tự hào về sức mạnh mình; Người giàu đừng tự hào về sự giàu có mình.
Nhưng ai tự hào hãy tự hào về: Sự thấu hiểu và nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng thực hiện lòng nhân ái, Đức liêm khiết và công chính trên đất; Vì Ta ưa thích những điều ấy.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, sẽ đến ngày Ta trừng phạt những ai chỉ chịu cắt bì trên thân thể,
tức là dân Ai Cập, Giu-đa, Ê-đôm, con cháu Am-môn, Mô-áp và tất cả các dân cạo tóc hai bên thái dương và sống trong hoang mạc. Vì tất cả các dân tộc nầy đều không cắt bì, còn cả nhà Y-sơ-ra-ên thì không cắt bì trong lòng.”
Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va phán với các người.
Đức Giê-hô-va phán thế nầy: “Đừng học đòi lối sống của các dân, Cũng đừng run sợ các điềm trên trời, Dù các dân có run sợ những điềm ấy.
Vì tập tục của các dân ấy chỉ là hư không. Người ta đốn cây trong rừng, Thợ thủ công dùng đục tạo ra hình dạng;
Lấy bạc vàng trang điểm cho tượng đó; Dùng búa và đinh đóng thật chặt Để tượng khỏi lung lay.
Các tượng thần ấy như bù nhìn trong các ruộng dưa, Không biết nói, Không biết đi, nên phải khiêng. Đừng sợ chúng, Vì chúng không thể gieo họa hay ban phước được.”
“Lạy Đức Giê-hô-va, không ai sánh được với Ngài! Ngài thật cao cả, Danh Ngài cao cả quyền uy.
Lạy Vua các nước! Ai mà không kính sợ Ngài? Ngài đáng được tôn kính. Vì giữa những người khôn ngoan trong các nước, Trong khắp vương quốc của họ, Không ai sánh được với Ngài.
Chúng u mê khờ khạo; Sự dạy dỗ từ các tượng thần Chẳng hơn gì từ khúc gỗ.
Bạc dát mỏng nhập từ Ta-rê-si, Vàng từ U-pha, Tác phẩm của thợ chạm và đôi tay của thợ bạc; Khoác lên vải màu xanh màu đỏ tía làm áo; Tất cả đều bởi tay của người thợ khéo.
Nhưng Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chân thật; Ngài là Đức Chúa Trời hằng sống, là Vua đời đời. Đất rúng động khi Ngài nổi giận, Các dân không thể chịu nổi cơn thịnh nộ của Ngài.
Hãy nói với họ rằng những thần nầy không dựng nên trời và đất. Chúng sẽ bị tiêu diệt khỏi mặt đất và khỏi bầu trời.
Chính Đức Giê-hô-va đã tạo dựng địa cầu bằng quyền năng Ngài, Thiết lập thế giới bởi sự khôn ngoan Ngài, Trải rộng các tầng trời bởi sự hiểu biết của Ngài.
Khi Ngài lên tiếng, các nguồn nước trên trời náo động; Ngài khiến hơi nước bốc lên từ tận cùng trái đất. Làm cho chớp lóe lên trong mưa. Thả gió ra từ các kho tàng của Ngài.
Mọi người đều trở nên u mê thiếu hiểu biết; Thợ bạc xấu hổ về tượng thần của mình; Vì các tượng đúc chỉ là giả dối, Chẳng có hơi thở bên trong.
Chúng thật là hư không, một thứ trò hề; Đến ngày đoán phạt chúng sẽ bị tiêu vong.
Phần sản nghiệp của Gia-cốp thì không như thế, Vì Ngài là Đấng đã tạo nên vạn vật, Và Y-sơ-ra-ên là bộ tộc của cơ nghiệp Ngài. Danh Ngài là Đức Giê-hô-va vạn quân.”
Hỡi dân thành bị bao vây, Hãy thu nhặt của cải để lìa khỏi xứ.
Vì Đức Giê-hô-va phán thế nầy: “Kìa, lần nầy Ta sẽ ném dân cư của đất nầy đi xa, Ta sẽ làm cho chúng khốn đốn, Để chúng thức tỉnh.”
Khốn khổ cho tôi vì tôi mang thương tích! Vết thương tôi trầm trọng! Nhưng tôi nghĩ: “Chắc đây là nỗi đau, Mà tôi phải gánh chịu.”
Lều của tôi bị phá hủy, Các dây căng lều của tôi đều bị đứt; Con cái tôi lìa bỏ tôi, Chúng không còn nữa. Không còn ai dựng lại lều, Cũng chẳng còn ai căng màn cho tôi.
Các người chăn bầy đều ngu dại, Không tìm cầu Đức Giê-hô-va. Vì vậy mà chúng không được thịnh vượng, Cả đàn chiên của chúng tan tác.
Nầy, có tiếng đồn bay đến, Một chấn động mạnh từ đất phương bắc, Làm cho các thành của Giu-đa ra hoang tàn, Trở nên hang chó rừng.
Lạy Đức Giê-hô-va, con biết con đường của loài người đi không do họ làm chủ, Họ không thể điều khiển các bước chân của mình.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin sửa dạy con, nhưng trong chừng mực; Chứ không phải trong cơn giận, Kẻo Ngài làm cho con tiêu tán.
Xin Ngài giáng cơn thịnh nộ trên các nước không nhận biết Ngài, Và trên các dân tộc không kêu cầu danh Ngài. Vì chúng đã nuốt Gia-cốp, Và còn nuốt nữa; Chúng tuyệt diệt Gia-cốp, Làm cho chỗ ở nó ra điêu tàn.
Đây là lời Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi:
“Hãy nghe những lời giao ước nầy và nói lại cho người Giu-đa và dân thành Giê-ru-sa-lem.
Con nói với chúng rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: ‘Đáng nguyền rủa cho kẻ nào không nghe lời giao ước
mà Ta đã truyền cho tổ phụ các ngươi khi Ta đem họ ra khỏi Ai Cập, ra khỏi cái lò luyện sắt ấy. Ta đã dặn họ: Hãy nghe tiếng Ta, làm theo mọi điều Ta dạy bảo để các ngươi làm dân Ta, và Ta làm Đức Chúa Trời các ngươi.
Như thế, Ta thực hiện được lời thề mà Ta đã thề với tổ phụ các ngươi là ban cho họ một xứ đượm sữa và mật, như đã có ngày nay.’” Tôi thưa: “Lạy Đức Giê-hô-va! A-men!”
Đức Giê-hô-va phán với tôi: “Hãy công bố mọi lời nầy trong các thành của Giu-đa và trong các đường phố Giê-ru-sa-lem: ‘Hãy lắng nghe lời của giao ước nầy và làm theo.’
Ta đã ân cần khuyên nhủ tổ phụ các ngươi từ ngày đem họ ra khỏi Ai Cập cho đến ngày nay. Ta thường xuyên khuyên nhủ họ: ‘Hãy nghe theo tiếng Ta!’
Nhưng họ không nghe, không chú ý; mỗi người bước đi theo tâm địa gian ác và ương ngạnh của mình. Vì vậy, Ta đã đem đến cho họ mọi lời trong giao ước nầy, là giao ước mà Ta đã dặn họ làm theo mà họ không làm.”
Đức Giê-hô-va phán với tôi: “Đã có âm mưu phản loạn trong người Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem.
Chúng quay về tội ác của tổ tiên chúng là những người không chịu nghe lời Ta. Chúng đã đi theo và thờ lạy các thần khác. Nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa đã bội giao ước mà Ta đã lập với tổ phụ của chúng.
Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán: ‘Nầy, Ta sẽ giáng tai họa trên chúng và chúng không thể tránh khỏi. Dù chúng có kêu cầu Ta, Ta cũng chẳng nghe.
Bấy giờ, các thành của Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem sẽ đi kêu cầu các thần mà chúng vẫn dâng hương, nhưng các thần ấy sẽ không thể cứu được chúng trong kỳ hoạn nạn đâu.
Vì, hỡi Giu-đa, ngươi có bao nhiêu thành thì cũng có bấy nhiêu thần kia mà! Giê-ru-sa-lem có bao nhiêu đường phố các ngươi cũng lập bấy nhiêu bàn thờ cho thần đáng xấu hổ, là những bàn thờ dâng hương cho Ba-anh!’
Về phần con, con đừng cầu thay cho dân nầy, cũng đừng vì chúng mà cất tiếng nài xin hay khẩn cầu, Ta sẽ không nghe chúng dù chúng có kêu van Ta trong cơn hoạn nạn.
Người mà Ta yêu dấu đã làm nhiều điều tệ hại thì còn vào nhà Ta để làm gì nữa? Liệu nhiều thịt thánh có ngăn cản ngươi thoát khỏi tai ương và làm cho ngươi vui vẻ được không?
Đức Giê-hô-va đã từng gọi tên ngươi là ‘cây ô-liu sum suê, trái tốt tươi đẹp mắt.’ Nhưng nay, giữa tiếng cuồng phong gào thét, Ngài châm lửa đốt nó, các cành nó trông thảm hại.
Đức Giê-hô-va vạn quân, là Đấng đã vun trồng ngươi, chính Ngài quyết định giáng tai họa trên ngươi, vì sự gian ác mà nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa đã gây ra khi chọc giận Ta bằng việc dâng hương cho Ba-anh.”
Đức Giê-hô-va cho tôi biết việc ấy, và tôi đã biết. Bấy giờ Ngài cho tôi thấy việc làm của chúng.
Còn tôi, như chiên con ngoan ngoãn Bị dắt đến lò sát sinh. Tôi không biết chúng âm mưu chống lại tôi. Chúng nói: “Hãy diệt cả cây và trái, Loại nó khỏi đất người sống, Để chẳng còn ai nhắc đến tên nó nữa.”
Lạy Đức Giê-hô-va vạn quân! Ngài phán xét công minh, dò xét lòng dạ và tâm trí, Xin cho con thấy sự báo thù Chúa dành cho chúng, Vì con đã giãi bày sự việc của con với Ngài.
Đức Giê-hô-va phán: “Về dân A-na-tốt, những kẻ đòi mạng sống con, đã đe dọa con rằng: ‘Nếu ngươi không muốn chết về tay chúng ta thì đừng nhân danh Đức Giê-hô-va mà nói tiên tri nữa.’
Vì vậy, Đức Giê-hô-va vạn quân khẳng định: ‘Ta sẽ trừng phạt chúng; thanh niên sẽ chết bởi gươm đao, con trai con gái của chúng sẽ chết bởi đói kém;
sẽ không còn một ai sống sót. Vì đến năm trừng phạt, Ta sẽ giáng tai họa trên dân A-na-tốt.’”
Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài luôn công chính Mỗi khi con biện luận với Ngài; Tuy vậy, con xin hỏi Ngài về sự phán xét. Tại sao con đường kẻ ác luôn hưng thịnh? Tại sao những kẻ sống gian trá vẫn yên ổn?
Ngài đã vun trồng chúng, Chúng đã đâm rễ, lớn lên và ra trái. Miệng chúng ở gần Ngài, Nhưng lòng chúng cách xa Ngài.
Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài biết con! Ngài thấy con, Ngài tra xét lòng con đối với Ngài. Xin tách chúng ra như tách chiên để đem đến lò sát sinh Dành riêng chúng cho ngày tàn sát.
Xứ sở bị sầu thảm, Cỏ ngoài đồng héo úa cho đến bao giờ? Vì dân cư gian ác Nên thú rừng và chim chóc đều bị quét sạch. Chúng nói rằng: “Ngài sẽ không thấy kết cục của chúng ta đâu!”
“Nếu con chạy đua với người chạy bộ mà còn mỏi mệt, Thì làm sao đua được với ngựa? Nếu ở trong đất an ổn mà con còn vấp ngã, Thì làm sao con đối phó với rừng rậm Giô-đanh?
Chính anh em con và gia tộc con Cũng đang phản bội con, Chúng gào thét sau lưng con. Dù chúng nói ngon nói ngọt với con, Con cũng đừng tin chúng.
Ta đã lìa bỏ nhà Ta, Bỏ rơi sản nghiệp Ta; Phó những người mà lòng Ta yêu mến Vào tay kẻ thù.
Cơ nghiệp Ta chống lại Ta Như sư tử trong rừng, Gầm thét với Ta; Vì vậy Ta ghét chúng.
Có phải cơ nghiệp Ta như con chim săn mồi vằn vện Bị các chim săn mồi khác vây quanh không? Hãy đi gom các loài thú đồng lại, Để chúng ăn nuốt nó đi!
Nhiều người chăn đã tàn phá vườn nho Ta, Giày đạp lên phần đất của Ta, Biến phần đất Ta yêu thích Thành hoang mạc quạnh hiu.
Chúng đã làm cho đất ấy ra hoang vu, tàn tạ; Nó thở than với Ta. Cả xứ đều hoang vu, Nhưng chẳng ai quan tâm đến.
Trên các đồi trọc trong hoang mạc Quân cướp phá đã tràn đến; Vì lưỡi gươm của Đức Giê-hô-va nuốt đất nầy Từ đầu nầy đến đầu kia, Không có loài xác thịt nào được bình an.
Chúng gieo lúa mì và gặt gai gốc, Nhọc nhằn mà chẳng ích chi. Hãy hổ thẹn về hoa lợi mình, Vì cơn giận phừng phừng của Đức Giê-hô-va!”
Đức Giê-hô-va phán: “Đối với những kẻ lân cận xấu xa của Ta, những kẻ chiếm đoạt sản nghiệp mà Ta ban cho dân Y-sơ-ra-ên của Ta thừa hưởng, thì Ta sẽ bứng chúng khỏi đất mình, và bứng nhà Giu-đa ra khỏi chúng.
Nhưng sau khi đã bứng chúng đi, Ta sẽ lại thương xót chúng và đem mỗi người trở về với sản nghiệp và quê hương mình.
Nếu chúng siêng năng học tập đường lối của dân Ta, nhân danh Ta mà thề rằng: ‘Thật Đức Giê-hô-va hằng sống!’, như cách chúng dạy cho dân Ta thề trước Ba-anh, thì lúc ấy chúng sẽ được vững lập giữa dân Ta.
Nhưng nếu dân tộc nào không nghe, Ta sẽ bứng dân tộc đó đi, và tiêu diệt nó.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán với tôi thế nầy: “Con hãy đi mua cho mình một cái đai bằng vải gai và thắt vào lưng, nhưng chớ ngâm trong nước.”
Theo lời Đức Giê-hô-va truyền phán, tôi mua đai và thắt vào lưng.
Lời Đức Giê-hô-va lại truyền cho tôi lần thứ hai rằng:
“Hãy tháo cái đai con đã mua và đang thắt trên lưng ra, đi ngay đến bờ sông Ơ-phơ-rát và giấu vào một kẽ đá tại đó.”
Tôi đem giấu nó nơi bờ sông Ơ-phơ-rát, như lời Đức Giê-hô-va phán dặn.
Sau đó nhiều ngày, Đức Giê-hô-va bảo tôi: “Con mau đến bờ sông Ơ-phơ-rát lấy lại cái đai mà Ta đã bảo con đem giấu tại đó.”
Tôi đi đến sông Ơ-phơ-rát đào lên và lấy cái đai ra từ chỗ tôi đã giấu trước kia. Nhưng cái đai đã mục, không còn dùng được nữa.
Bấy giờ, lời của Đức Giê-hô-va lại đến với tôi.
Đức Giê-hô-va phán: “Ta sẽ làm cho thói kiêu ngạo của Giu-đa và thói kiêu ngạo lớn của Giê-ru-sa-lem mục nát như thế.
Dân gian ác nầy không chịu nghe lời Ta, cứ bướng bỉnh làm theo ý riêng của lòng dạ mình, chạy theo các thần khác mà phục vụ và thờ lạy. Chúng sẽ trở nên vô dụng như cái đai thắt lưng nầy.”
Đức Giê-hô-va lại khẳng định: “Vì, như cái đai thắt chặt vào lưng người ta thế nào, thì Ta cũng thắt chặt cả nhà Y-sơ-ra-ên và cả nhà Giu-đa vào Ta thể ấy, để chúng làm một dân tộc, một danh xưng, một lời ca ngợi, một niềm vinh dự cho Ta; nhưng chúng không chịu lắng nghe.
Con hãy nói với chúng lời nầy: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: ‘Bình nào cũng phải đầy rượu.’ Chúng sẽ nói với con: ‘Chẳng lẽ chúng tôi không biết bình nào cũng phải đầy rượu sao?’
Con sẽ nói tiếp: ‘Đức Giê-hô-va phán: Nầy, Ta sẽ khiến tất cả dân cư trên đất nầy, các vua ngồi trên ngai Đa-vít, các thầy tế lễ, các nhà tiên tri, và toàn dân Giê-ru-sa-lem đều say sưa.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Ta sẽ làm cho người nầy xung đột với kẻ kia, cha con va chạm nhau. Ta sẽ không nương tay, không xót thương, không thương cảm khi Ta hủy diệt chúng.’”
Hãy nghe, hãy lắng nghe, đừng kiêu ngạo, Vì Đức Giê-hô-va đã phán.
Hãy dâng vinh quang cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời các người Trước khi Ngài khiến tối tăm phủ xuống, Trước khi chân các người vấp ngã Trên các núi lúc chạng vạng; Các người mong đợi ánh sáng Nhưng Ngài biến nó thành bóng sự chết, Trở nên bóng tối dày đặc.
Nhưng nếu các người không nghe Linh hồn tôi sẽ khóc thầm cho thói kiêu ngạo của các người. Tôi sẽ khóc lóc đắng cay, nước mắt đầm đìa, Vì bầy của Đức Giê-hô-va bị bắt đi.
Hãy nói với vua và thái hậu rằng: “Xin xuống khỏi ngai mà ngồi dưới đất, Vì vương miện rực rỡ Đã rơi khỏi đầu các người rồi.”
Các thành Nê-ghép đều bị phong tỏa Không có ai giải vây cho chúng. Cả Giu-đa bị lưu đày, Toàn bộ bị bắt đi.
Hãy ngước mắt lên xem Những kẻ đến từ phương bắc. Bầy chiên đã giao cho ngươi, Bầy chiên làm cho ngươi tự hào, đâu cả rồi?
Ngươi sẽ nói gì khi những người mà ngươi dạy dỗ Và làm bạn với ngươi Được lập lên cai trị ngươi? Chẳng lẽ ngươi không thấy quặn thắt Như người đàn bà đau đớn lúc sinh con sao?
Nếu ngươi tự hỏi trong lòng: “Tại sao những việc nầy xảy đến cho tôi?” Thì đó là vì tội ác nghiêm trọng của ngươi Mà váy ngươi bị tốc lên Thân xác ngươi bị bầm giập.
Người Ê-thi-ô-pi có thể đổi được màu da Hay con beo đổi được vằn nó không? Nếu được, thì các ngươi vốn quen làm điều ác Sẽ làm được điều thiện.
Vậy Ta sẽ rải các ngươi khắp nơi như rơm rác Bị gió hoang mạc cuốn đi.
Đức Giê-hô-va phán: “Đó là số phận của ngươi, Là phần Ta dành cho ngươi, Vì ngươi đã quên Ta Và tin cậy vào sự giả dối.
Ta cũng sẽ tốc váy ngươi lên tận mặt, Để phơi trần nỗi ô nhục của ngươi.
Ta đã thấy những điều ghê tởm của ngươi, Tội ngoại tình, trò hú hí dâm ô đàng điếm của ngươi, Trên các đồi núi, giữa ruộng đồng. Hỡi Giê-ru-sa-lem, khốn cho ngươi! Ngươi không chịu thanh tẩy cho đến bao giờ?”
Đây là lời Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi về cơn hạn hán:
“Giu-đa lâm cảnh tang tóc, Cổng thành tiêu điều; Dân chúng đều khóc than cho xứ sở, Và vang lên tiếng kêu la của Giê-ru-sa-lem.
Người quyền quý sai đầy tớ đi kiếm nước; Chúng đi đến hồ, Nhưng không có nước, Mang bình không trở về; Chúng thẹn thùng, bực dọc, Trùm đầu lại.
Mặt đất nứt nẻ, Vì không có mưa rơi xuống đất, Các nông dân xấu hổ, Trùm đầu lại.
Nai cái đẻ con ngoài đồng rồi bỏ con lại, Vì không có cỏ.
Lừa rừng đứng trên các đồi trọc, Thở hổn hển như chó đồng, Mắt lờ đờ Vì không có cỏ.”
“Lạy Đức Giê-hô-va, dù tội ác chúng con làm chứng nghịch lại chúng con, Xin vì danh Ngài mà hành động! Vì nhiều lần chúng con bất trung với Ngài; Chúng con đã phạm tội với Ngài.
Lạy Chúa, Ngài là niềm hi vọng của Y-sơ-ra-ên, Đấng giải cứu trong cơn hoạn nạn, Sao Ngài như một người khách lạ trong xứ nầy, Như một lữ khách ngủ tạm qua đêm?
Sao Ngài như người hốt hoảng, Như một dũng sĩ không thể ra tay giải cứu? Nhưng, Chúa ôi, Ngài vẫn ở giữa chúng con, Chúng con được mang danh Ngài, Xin đừng lìa bỏ chúng con!”
Đức Giê-hô-va phán với dân nầy như sau: “Chúng thích đi lang thang như thế, Không biết kiềm chế đôi chân; Nên Đức Giê-hô-va không chấp nhận chúng. Bây giờ, Ngài nhớ lại điều chúng đã phạm, Và trừng phạt tội lỗi của chúng.”
Đức Giê-hô-va phán với tôi: “Con đừng cầu xin phước lành cho dân nầy.
Dù chúng có kiêng ăn, Ta cũng sẽ không nghe lời kêu cầu của chúng; dù chúng có dâng tế lễ thiêu và tế lễ chay, Ta cũng không nhậm đâu; nhưng Ta sẽ tiêu diệt chúng bằng gươm đao, đói kém, và dịch bệnh.”
Nhưng tôi thưa rằng: “Ôi! Lạy Chúa Giê-hô-va, có những nhà tiên tri nói với họ rằng: ‘Các ngươi sẽ không thấy gươm đao, cũng chẳng có đói kém, vì Ta sẽ ban cho các con nền hòa bình vững chắc tại nơi nầy.’”
Đức Giê-hô-va lại phán với tôi: “Các kẻ tiên tri ấy đã nhân danh Ta tiên báo những điều dối trá. Ta không hề sai phái chúng, cũng chẳng truyền lệnh hay phán bảo gì với chúng cả. Chúng nói tiên tri với các ngươi theo khải tượng giả dối, lời bói toán, chuyện hão huyền, và sự lừa dối từ lòng dạ xấu xa của chúng.”
Vì thế, Đức Giê-hô-va phán thêm: “Đối với các kẻ tiên tri không bởi Ta sai đến mà dám nhân danh Ta nói tiên tri rằng ‘sẽ không có gươm đao và đói kém xảy ra trong xứ nầy’, thì chính các kẻ tiên tri đó sẽ bị diệt bởi gươm đao và đói kém.
Còn những kẻ đã nghe chúng nói tiên tri sẽ cùng với vợ, con trai, con gái mình bị ném ngoài đường phố Giê-ru-sa-lem, làm nạn nhân của gươm đao, đói kém mà chẳng có ai chôn cất. Vì Ta sẽ khiến điều ác của chúng đổ lại trên đầu chúng.
Con hãy nói với chúng lời nầy: ‘Xin cho mắt tôi ngày đêm không ngớt tuôn trào giọt lệ; Vì trinh nữ của dân tôi bị đánh tơi bời, Vết thương vô cùng trầm trọng.
Nếu tôi ra ngoài đồng ruộng, Thì thấy những người chết vì gươm; Nếu tôi vào trong thành, Thì thấy những kẻ đau ốm vì đói kém. Cả các nhà tiên tri lẫn những thầy tế lễ Đều đi đến một xứ mà họ không biết gì cả.’”
“Ngài đã bỏ hẳn Giu-đa rồi sao? Có phải lòng Ngài đang ghê tởm Si-ôn không? Sao Ngài đánh chúng con, Mà không chữa lành cho chúng con? Chúng con trông đợi bình an, nhưng không thấy điều tốt đẹp nào đến cả; Mong mỏi kỳ chữa lành, mà chỉ thấy nỗi khiếp kinh.
Lạy Đức Giê-hô-va, chúng con nhìn nhận gian ác của chúng con, Và tội lỗi của tổ phụ chúng con, Vì chúng con đã phạm tội với Ngài.
Vì danh Ngài, xin đừng vứt bỏ, Đừng xem thường ngai vinh quang của Ngài. Xin Ngài nhớ lại và đừng hủy bỏ Giao ước mà Ngài đã lập với chúng con.
Có thần nào trong các thần giả dối của dân ngoại làm mưa được không? Hay là do bầu trời tự đổ mưa xuống? Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng con, chẳng phải Ngài là Đấng đó sao? Chúng con trông đợi Ngài, Vì chính Ngài đã làm nên mọi điều ấy.”
Đức Giê-hô-va phán với tôi: “Dù Môi-se và Sa-mu-ên đứng trước mặt Ta, lòng Ta cũng không hướng về dân nầy. Hãy đuổi chúng khỏi Ta, và bảo chúng đi đi!
Khi chúng hỏi con: ‘Chúng tôi sẽ đi đâu?’ thì hãy bảo chúng rằng Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Ai được định cho dịch bệnh, phải chịu dịch bệnh; Ai được định cho gươm đao, phải chịu gươm đao; Ai được định cho đói kém, phải chịu đói kém; Ai được định cho lưu đày, phải chịu lưu đày.’”
Đức Giê-hô-va phán: “Ta sẽ giáng trên chúng bốn loại tai họa: gươm để giết chết, chó để phanh thây, chim trời và thú vật trên đất để ăn nuốt và hủy diệt.
Ta sẽ khiến chúng trở thành nỗi kinh hoàng cho mọi vương quốc trên đất vì những gì Ma-na-se, con trai Ê-xê-chia, vua Giu-đa, đã làm tại Giê-ru-sa-lem.
Hỡi Giê-ru-sa-lem, ai sẽ thương xót ngươi? Ai sẽ tiếc thương ngươi? Ai sẽ quay lại Để thăm hỏi ngươi?”
Đức Giê-hô-va phán: “Ngươi đã từ bỏ Ta, Tiếp tục thối lui; Nên Ta đã đưa tay trên ngươi, để tiêu diệt ngươi. Ta không còn thương xót được nữa.
Ta đã dùng nia sàng sảy chúng Tại các cổng thành trong xứ. Ta đã cướp đi con cái chúng và tiêu diệt dân Ta, Vì chúng không bỏ đường cũ mà quay trở lại.
Người góa bụa sẽ tăng lên Nhiều hơn cát biển. Ta đã sai kẻ hủy diệt đến ngay giữa trưa, Tấn công mẹ của các chiến binh trẻ. Thình lình, Ta sẽ giáng trên chúng Sầu não và kinh hoàng.
Người mẹ sinh bảy con thấy mình mòn mỏi, Trút hơi thở cuối cùng; Mặt trời của bà đã lặn giữa ban ngày; Bà thẹn thùng tủi hổ. Còn những người sống sót Ta sẽ phó cho gươm của kẻ thù.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Mẹ ơi, khốn khổ cho con, vì mẹ đã sinh con ra, Để làm người đương đầu với tranh cãi và biện luận khắp cả xứ. Con không cho ai vay mượn, cũng chẳng vay mượn ai Thế mà mọi người nguyền rủa con.”
Nhưng Đức Giê-hô-va phán: “Chắc chắn Ta sẽ giải cứu con Vì mục đích tốt đẹp; Trong cơn tai ương, hoạn nạn, Ta sẽ khiến kẻ thù đến van xin con.
Sắt, tức là sắt từ phương bắc trộn với đồng, Ai có thể bẻ gãy được?
Tài sản châu báu của các ngươi Ta sẽ cho quân thù cướp sạch mà không trả tiền, Vì mọi tội lỗi các ngươi đã phạm Trên khắp địa phận mình.
Ta sẽ khiến ngươi phục dịch kẻ thù ngươi Trong một xứ mà ngươi chưa từng biết, Vì cơn giận Ta phừng lên, Sẽ thiêu hủy các ngươi.”
Lạy Đức Giê-hô-va! Ngài biết rõ; Xin nhớ đến con và thăm viếng con, Xin báo thù những kẻ bắt bớ con. Xin nhẫn nại để đừng cất con đi; Xin biết rằng con vì Ngài mà chịu nhuốc nhơ!
Gặp được lời Ngài, con đã ăn nuốt rồi; Lời Ngài là sự vui mừng, hớn hở của lòng con; Vì con được xưng bằng danh Ngài, Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân.
Con không ngồi chung hay vui chơi Với đám người đùa cợt; Con ngồi một mình vì tay Ngài đè nặng trên con, Vì Ngài đã khiến sự phẫn nộ đầy dẫy trên con.
Sao nỗi đau của con không dứt, Vết thương của con không chữa được Và không chịu lành? Chẳng lẽ đối với con, Ngài như con suối giả dối, Như dòng nước tắt mạch sao?
Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán: “Nếu con quay trở lại, Ta sẽ phục hồi con, Cho con đứng trước mặt Ta; Nếu con làm cho điều cao quý lìa khỏi điều hèn hạ, Thì con sẽ như miệng Ta. Chúng sẽ quay về với con, Nhưng con không quay về với chúng.
Ta sẽ khiến con Làm tường đồng kiên cố cho dân nầy, Chúng sẽ đánh với con, Nhưng không thắng nổi con, Vì Ta ở với con Để cứu con và giải thoát con.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Ta sẽ rút con khỏi tay kẻ ác, Và chuộc con khỏi quyền lực kẻ bạo tàn.”
Lời của Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Con đừng cưới vợ, cũng đừng sinh con trai con gái tại nơi nầy.”
Vì Đức Giê-hô-va phán như sau về các con trai con gái sẽ sinh tại đây, và về những cha mẹ đã sinh đẻ chúng trong xứ nầy:
“Chúng sẽ chết vì dịch bệnh, không ai khóc than cũng chẳng ai chôn cất. Chúng sẽ thành phân bón trên mặt đất. Chúng sẽ bị diệt bởi gươm đao và đói kém. Thây của chúng sẽ làm đồ ăn cho chim trời và thú vật trên đất.”
Đức Giê-hô-va phán: “Đừng vào nhà đang có tang, đừng than khóc hay phân ưu với chúng, vì Ta đã rút sự bình an, tình yêu vững bền và lòng thương xót ra khỏi dân nầy,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Người lớn kẻ nhỏ đều sẽ chết trong đất nầy. Không có ai chôn cất, chẳng ai khóc thương, cũng không ai tự rạch mình hay cạo đầu vì chúng.
Không ai bẻ bánh cho người thọ tang để an ủi họ về người đã chết; cũng không ai trao chén chia buồn vì sự chết của cha mẹ chúng.
Con cũng đừng vào nhà có tiệc để ngồi ăn uống với chúng.
Vì Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: ‘Nầy, ngay trước mắt các ngươi, trong đời các ngươi, Ta sẽ làm cho xứ nầy im tiếng reo vui rộn rã, không còn tiếng của chú rể cô dâu.’
Khi con loan báo cho dân nầy tất cả những lời ấy, chúng sẽ hỏi con: ‘Tại sao Đức Giê-hô-va quyết định giáng tai họa khủng khiếp nầy trên chúng tôi? Tội ác của chúng tôi là gì? Chúng tôi đã phạm tội gì với Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi?’
Con hãy nói với chúng rằng Đức Giê-hô-va phán: ‘Vì tổ phụ các ngươi đã bỏ Ta mà theo các thần khác, đã phục vụ và thờ lạy các thần ấy. Chúng đã từ bỏ Ta, không tuân giữ luật pháp Ta.
Còn các ngươi lại hành động xấu xa hơn tổ phụ các ngươi nữa; người nào cũng bướng bỉnh đi theo lòng dạ gian ác của mình, không chịu vâng lời Ta.
Vì vậy, Ta sẽ trục xuất các ngươi khỏi đất nầy, ném vào một xứ mà các ngươi và tổ phụ các ngươi chưa từng biết. Tại đó, các ngươi sẽ ngày đêm phục vụ các thần khác; vì Ta sẽ không ban ơn cho các ngươi nữa.’”
Tuy nhiên, Đức Giê-hô-va phán: “Chắc chắn sẽ có ngày người ta không còn nói: ‘Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã đem con dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập,’
nhưng sẽ nói: ‘Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã đem con dân Y-sơ-ra-ên trở về từ phương bắc và từ các nước mà họ đã bị đày đến.’ Vì Ta sẽ lại dẫn chúng trở về đất mà Ta đã ban cho tổ phụ chúng.”
Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, Ta sẽ sai tìm nhiều tay đánh cá đến bắt chúng. Sau đó, Ta sẽ sai tìm nhiều thợ săn để săn chúng trên mọi núi, mọi đồi, và các khe đá.
Vì mắt Ta theo dõi mọi đường lối chúng. Chúng không thể trốn khỏi mặt Ta, và tội lỗi của chúng cũng không che mắt Ta được.
Trước hết Ta sẽ báo trả chúng gấp đôi sự gian ác và tội lỗi chúng đã phạm, vì chúng đã làm ô uế đất Ta bởi thây của các thần tượng đáng ghét, và làm đầy dẫy sản nghiệp bằng những thứ đáng ghê tởm.”
Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài là sức mạnh và đồn lũy của con, Nơi ẩn náu của con trong ngày hoạn nạn! Từ tận cùng trái đất, Các nước sẽ đến với Ngài và thưa: “Tổ phụ chúng con chỉ thừa hưởng các thần giả dối, Những điều hư không, và chẳng được ích lợi gì.
Loài người có thể tự tạo cho mình các thần được sao? Nhưng các thần đó đâu phải là thần!”
“Vì thế, Ta sẽ cho chúng biết, Thật, lần nầy Ta sẽ dạy cho chúng biết Sức mạnh và năng quyền của Ta. Và chúng sẽ biết Danh Ta là Giê-hô-va.”
“Tội lỗi của dân Giu-đa được ghi bằng bút sắt, Khắc bằng mũi kim cương, Trên bia lòng và trên sừng các bàn thờ của chúng,
Để cho con cái chúng nhớ lại bàn thờ Và các trụ thờ A-sê-ra Gần các lùm cây rậm lá Trên các đồi cao.
Hỡi núi Ta trong cánh đồng, Ta sẽ phó mọi của cải, châu báu ngươi cho kẻ cướp Vì tội lỗi ngươi đã phạm trên các nơi cao Trong khắp bờ cõi mình.
Ngươi sẽ tự đánh mất Cơ nghiệp Ta ban cho. Ta sẽ bắt ngươi phục dịch kẻ thù ngươi Trong một xứ mà ngươi chưa từng biết; Vì ngươi đã nhen lửa giận Ta lên, Thì nó sẽ thiêu đốt mãi mãi.”
Đức Giê-hô-va phán: “Đáng nguyền rủa cho kẻ nhờ cậy loài người, Lấy loài xác thịt làm cánh tay, Lòng dạ lìa khỏi Đức Giê-hô-va.
Người ấy như thạch thảo trong hoang mạc, Không thấy phước đến. Phải sống nơi đồng hoang cằn cỗi, Trên đất mặn không dân ở.
Phước cho người nhờ cậy Đức Giê-hô-va, Lấy Đức Giê-hô-va làm nơi nương tựa mình.
Người ấy như cây trồng bên bờ suối, Đâm rễ theo dòng nước chảy; Gặp khi trời nắng cũng chẳng sợ hãi Mà lá vẫn xanh tươi. Gặp năm hạn hán cũng chẳng lo gì Mà cứ ra trái không dứt.
Lòng người ta là dối trá hơn muôn vật, Và rất là xấu xa. Ai có thể biết được?
Ta, Đức Giê-hô-va, dò xét tâm trí, Thử nghiệm tấm lòng, Báo đáp cho mỗi người tùy con đường họ đi, Và tùy kết quả công việc họ làm.”
Kẻ làm giàu bất chính, Giống như chim đa đa ấp trứng không do nó đẻ ra; Đến nửa cuộc đời, của cải ra đi, Và cuối cuộc đời chỉ còn là kẻ ngu dại.
Từ ban đầu, ngôi vinh quang ở trên cao, Là nơi tọa lạc của đền thánh chúng con!
Lạy Đức Giê-hô-va, niềm hi vọng của Y-sơ-ra-ên, Kẻ nào chối bỏ Ngài đều bị xấu hổ! Ai quay lưng với Ngài sẽ bị ghi tên vào bụi đất, Vì chúng đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va là nguồn nước sống.
Lạy Đức Giê-hô-va! Xin Ngài chữa cho con để con được lành; Xin Ngài cứu con để con được cứu; Vì Ngài là Đấng con tôn ngợi.
Kìa, chúng nói với con: “Lời phán của Đức Giê-hô-va ở đâu? Sao không thấy ứng nghiệm!”
Về phần con, con chẳng vội bỏ chức vụ chăn bầy nhưng cứ theo Ngài. Ngài biết, con không trông mong ngày tai họa. Lời từ miệng con thốt ra Đều ở trước mặt Ngài.
Xin đừng để con khiếp sợ; Ngài là nơi ẩn náu của con trong ngày hoạn nạn.
Xin làm cho những kẻ bắt bớ con phải xấu hổ, Nhưng chính con không bị xấu hổ; Xin làm cho chúng khiếp đảm, Nhưng chính con không bị khiếp đảm! Xin giáng trên chúng ngày tai họa, Tàn phá chúng gấp đôi!
Đức Giê-hô-va phán với tôi: “Con hãy ra đứng tại cổng dân chúng, tức là cổng mà các vua Giu-đa thường ra vào, và tại tất cả các cổng thành Giê-ru-sa-lem.
Con hãy nói với chúng: ‘Hỡi các vua Giu-đa, toàn dân Giu-đa, và toàn thể dân cư Giê-ru-sa-lem, là những người qua lại các cổng nầy, hãy lắng nghe lời của Đức Giê-hô-va!
Đức Giê-hô-va phán: Các ngươi hãy vì mạng sống mình mà giữ, đừng khiêng gánh trong ngày sa-bát, cũng đừng mang vác gì qua các cổng thành Giê-ru-sa-lem.
Trong ngày sa-bát, đừng khiêng gánh ra khỏi nhà các ngươi, cũng đừng làm việc gì cả, nhưng hãy biệt riêng ngày sa-bát ra thánh như Ta đã phán dặn tổ phụ các ngươi.
Tuy nhiên, tổ phụ các ngươi chẳng chịu nghe, chẳng quan tâm. Chúng cứng đầu cứng cổ không lắng nghe, không tiếp nhận lời sửa dạy.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Nếu các ngươi chăm chú nghe Ta, không khiêng gánh vào các cổng thành ấy trong ngày sa-bát, nhưng biệt riêng ngày sa-bát ra thánh và không làm việc gì trong ngày đó,
thì các vua nối ngôi Đa-vít và các thủ lĩnh sẽ ngồi xe, cưỡi ngựa, cùng với các quan chức Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem sẽ qua các cổng mà vào thành; và thành ấy sẽ còn đời đời.
Dân chúng từ các thành của Giu-đa và các vùng phụ cận Giê-ru-sa-lem, từ đất Bên-gia-min, từ đất Sơ-phê-la, từ vùng đồi núi, và từ Nê-ghép, sẽ kéo đến, đem tế lễ thiêu và các sinh tế, tế lễ chay và nhũ hương, cùng tế lễ cảm tạ, đến nhà Đức Giê-hô-va.
Nhưng nếu các ngươi không vâng lời Ta mà biệt riêng ngày sa-bát ra thánh, lại còn khiêng gánh đi vào cổng thành Giê-ru-sa-lem trong ngày sa-bát, thì Ta sẽ nhen lửa tại cổng thành, và lửa ấy sẽ thiêu hủy các lâu đài của Giê-ru-sa-lem, không ai dập tắt được.’”
Đây là lời Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi:
“Con hãy mau xuống nhà của người thợ gốm, tại đó Ta sẽ cho con nghe lời Ta.”
Tôi liền đi xuống nhà thợ gốm, và nầy, anh ta đang làm việc trên chiếc bàn xoay.
Mỗi khi chiếc bình bằng đất sét đang nắn trong tay mình bị hỏng, người thợ gốm liền nắn lại chiếc bình khác vừa ý mình.
Bấy giờ, có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, Ta không thể đối xử với ngươi như người thợ gốm nầy hay sao?” Đức Giê-hô-va phán: “Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, đất sét trong tay thợ gốm thể nào, thì các ngươi ở trong tay Ta cũng thể ấy.
Khi Ta công bố bứng gốc, phá vỡ hoặc tiêu diệt một nước hay một vương quốc nào đó,
nhưng nếu nước mà Ta định trừng phạt đó từ bỏ điều ác thì Ta sẽ thay đổi ý định giáng họa trên chúng.
Cũng có khi Ta công bố xây dựng, vun trồng một nước hay một vương quốc nào đó,
nhưng nếu nước ấy làm điều ác dưới mắt Ta, không lắng nghe tiếng Ta, thì Ta sẽ thay đổi ý định ban phước cho chúng.
Vậy, bây giờ con hãy nói với người Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem rằng: ‘Đức Giê-hô-va phán: Nầy, Ta đang định đem tai họa đến cho các ngươi và lên kế hoạch chống lại các ngươi. Mỗi người trong các ngươi hãy từ bỏ con đường gian ác và sửa lại đường lối cùng các công việc mình!’
Nhưng chúng nói: ‘Vô ích! Chúng tôi cứ đi theo kế hoạch của chúng tôi; mỗi người sẽ hành động bướng bỉnh theo lòng xấu xa của mình.’”
Vì thế, Đức Giê-hô-va phán: “Hãy hỏi trong các nước Có ai đã từng nghe sự việc như thế chưa? Trinh nữ Y-sơ-ra-ên Đã làm một việc vô cùng khủng khiếp.
Có bao giờ tuyết của Li-ban Tan chảy trên đỉnh núi chăng? Hay dòng nước mát từ xa chảy đến Mà khô cạn không?
Thế mà dân Ta đã quên Ta, Đốt hương cho các tà thần, Là thần làm cho chúng vấp ngã trên đường đi, Trên các ngõ nẻo từ xa xưa, Để chúng đi trên những con đường Chưa được xây đắp.
Đất nước chúng trở nên hoang tàn, Làm trò cười muôn đời cho thiên hạ; Kẻ qua người lại đều sững sờ Chỉ còn biết lắc đầu.
Ta sẽ làm cho chúng tan tác trước mặt kẻ thù Như trận gió đông thổi qua. Trong ngày chúng bị tai ương, Ta quay lưng ngoảnh mặt với chúng.”
Chúng nói: “Nào, chúng ta hãy lập mưu chống lại Giê-rê-mi. Vì thầy tế lễ không thiếu luật pháp, người khôn ngoan chẳng thiếu lời khuyên bảo, nhà tiên tri không thiếu lời rao báo. Hãy đến, chúng ta sẽ dùng miệng lưỡi mình mà công kích nó, đừng để ý đến bất cứ lời nào của nó.”
Lạy Đức Giê-hô-va, xin để ý đến con, Và lắng nghe tiếng của những kẻ chống đối con!
Có ai lấy ác báo thiện bao giờ không? Thế mà chúng đào hố hại mạng sống con. Xin Ngài nhớ rằng con từng đứng trước mặt Ngài Để cầu xin ơn lành cho chúng, Và xin Ngài không trút cơn phẫn nộ lên chúng.
Vì vậy, xin Ngài phó con cái chúng cho đói kém, Và trao chúng cho quyền lực gươm đao. Đàn bà phải mất con và trở nên góa bụa, Đàn ông chết vì dịch bệnh, Thanh niên ngã gục vì gươm đao giữa chiến trận.
Xin cho tiếng kêu cứu vang ra từ nhà chúng, Khi Ngài khiến quân cướp bất ngờ tấn công! Vì chúng đã đào hố để bắt con, Giăng bẫy cho chân con vấp ngã.
Nhưng Đức Giê-hô-va ôi, chính Ngài đã biết Mọi âm mưu chúng lập ra để giết con. Xin đừng tha thứ gian ác chúng, Đừng xóa tội lỗi chúng khỏi mắt Ngài. Nhưng cho chúng vấp ngã trước mặt Ngài; Xin trừng phạt chúng trong lúc Ngài nổi giận.
Đức Giê-hô-va phán: “Con hãy đến chỗ thợ gốm mua một cái bình bằng đất nung. Rồi con mời một vài trưởng lão trong dân và các thầy tế lễ cao niên đi với con
đến thung lũng Ben Hi-nôm, cạnh lối vào cửa Gốm. Tại đó, con hãy công bố những lời Ta phán với con.
Con hãy nói: ‘Hỡi các vua Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem, hãy lắng nghe lời của Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: Nầy, Ta sẽ giáng tai họa xuống nơi nầy, đến nỗi ai nghe đến đều phải lùng bùng lỗ tai,
vì chúng đã lìa bỏ Ta, biến nơi nầy thành chỗ xa lạ. Tại đây, chúng dâng hương cho các thần khác là các tà thần mà chính chúng cũng như tổ phụ chúng, và các vua Giu-đa đều chưa từng biết. Chúng đã làm cho nơi nầy đầy máu vô tội.
Chúng còn xây cất các nơi cao cho Ba-anh để đốt con trai mình làm tế lễ thiêu cho Ba-anh. Đó là điều Ta không hề truyền bảo, không phán dạy, và lòng Ta cũng chẳng bao giờ nghĩ đến.’
Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán: ‘Nầy, những ngày đến, nơi nầy sẽ không gọi là Tô-phết hay thung lũng Ben Hi-nôm nữa, mà gọi là Thung Lũng Tàn Sát.
Tại nơi nầy, Ta sẽ phá tan âm mưu của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. Ta sẽ làm cho chúng ngã gục dưới lưỡi gươm trước kẻ thù, và dưới tay của những kẻ muốn tìm hại mạng sống chúng. Ta sẽ phó thây chúng làm thức ăn cho chim trời và thú đồng.
Ta sẽ khiến cho thành nầy điêu tàn, làm trò cười cho thiên hạ; người qua kẻ lại đều kinh ngạc và cười chê về mọi thương tích của nó.
Ta sẽ làm cho chúng ăn thịt con trai con gái mình. Trong khi bị vây hãm, bị quân thù và những kẻ muốn tìm hại mạng sống đẩy vào cảnh cùng khốn, chúng ăn thịt lẫn nhau.’
Rồi con đập bể chiếc bình trước mắt những người cùng đi với con,
và nói với họ rằng Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Ta sẽ đập tan dân nầy và thành nầy như đập một chiếc bình gốm, không thể hàn gắn lại được. Người ta sẽ chôn cất tại Tô-phết cho đến khi không còn chỗ để chôn nữa.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Ta sẽ xử nơi nầy cùng dân cư nó như thế đó; Ta sẽ làm cho thành nầy giống như Tô-phết.
Nhà cửa của Giê-ru-sa-lem và cung điện của các vua Giu-đa, tức là tất cả các nhà đã đốt hương cúng thờ các cơ binh trên trời và đã làm lễ quán cho các thần khác tại trên mái nhà, đều sẽ bị ô uế như Tô-phết.’”
Sau khi Giê-rê-mi rời Tô-phết, là nơi Đức Giê-hô-va đã sai ông đi nói tiên tri, ông đứng trong hành lang nhà Đức Giê-hô-va, và nói với toàn dân:
“Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: ‘Nầy, Ta sắp giáng trên thành nầy và các thành phụ cận tất cả những tai họa mà Ta đã báo trước, vì chúng cứng đầu cứng cổ không chịu nghe lời Ta.’”
Pha-su-rơ, con trai của thầy tế lễ Y-mê, làm quản đốc nhà Đức Giê-hô-va, đã nghe Giê-rê-mi tiên báo những việc nầy.
Pha-su-rơ sai đánh nhà tiên tri Giê-rê-mi, cùm ông tại cổng Bên-gia-min, là cổng trên của nhà Đức Giê-hô-va.
Hôm sau, Pha-su-rơ truyền tháo cùm cho Giê-rê-mi. Giê-rê-mi nói với ông ta: “Đức Giê-hô-va không gọi ông là Pha-su-rơ nữa mà gọi là Ma-go Mít-sa-bíp.
Vì Đức Giê-hô-va phán: ‘Nầy, Ta sẽ khiến ngươi trở thành nỗi kinh hãi cho chính mình và tất cả các bạn bè ngươi. Chúng sẽ ngã gục dưới gươm của quân thù và chính mắt ngươi chứng kiến điều đó. Ta cũng sẽ phó toàn dân Giu-đa vào tay vua Ba-by-lôn, vua ấy sẽ đày chúng sang Ba-by-lôn và dùng gươm giết chúng.
Ta sẽ phó mọi của cải trong thành, tất cả các sản vật, mọi vật quý giá, cũng như tất cả các kho báu của vua Giu-đa vào tay quân thù của chúng. Quân thù sẽ cướp phá, tịch thu và mang về Ba-by-lôn.
Còn ông, hỡi Pha-su-rơ, chính ông và những người ở trong nhà ông đều phải bị lưu đày. Ông sẽ đến Ba-by-lôn, chết và chôn tại đó cùng với tất cả bạn bè ông, là những người đã nghe lời tiên tri giả dối của ông.’”
Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài đã thuyết phục con, Con đã bị Ngài thuyết phục; Ngài mạnh hơn con, Và Ngài đã thắng. Suốt ngày con cứ làm trò cười cho thiên hạ, Mọi người nhạo báng con.
Mỗi lần con nói thì con phải la lớn, Con phải gào lên: “Bạo lực và hủy diệt!” Vì lời của Đức Giê-hô-va Mà con bị nhục mạ và chế giễu suốt ngày.
Nếu con nói: “Tôi sẽ không đề cập đến Ngài nữa; Tôi sẽ không nhân danh Ngài mà nói nữa,” Thì lời Ngài như ngọn lửa thiêu đốt lòng con, Âm ỉ trong xương con, Con mệt mỏi vì nín lặng, Không sao chịu được.
Vì con có nghe những lời xầm xì: “Kinh hãi tứ phía! Hãy tố cáo! Chúng ta hãy tố cáo nó đi!” Tất cả các người bạn thân của con Đều trông cho con vấp ngã. Chúng nói: “Biết đâu nó sẽ bị mắc lừa, Chúng ta sẽ thắng nó, Và trả thù nó.”
Nhưng Đức Giê-hô-va ở với con như một dũng sĩ đáng sợ; Vì thế những kẻ bắt bớ con sẽ vấp ngã, Không thắng nổi con. Chúng sẽ thất bại Và nhục nhã ê chề, Nỗi nhục muôn đời, Không bao giờ quên được.
Lạy Đức Giê-hô-va vạn quân! Ngài là Đấng dò xét người công chính, Đấng nhìn thấu lòng dạ và tâm trí. Xin cho con thấy Ngài báo thù chúng, Vì con đã giãi bày việc con với Ngài.
Hãy hát cho Đức Giê-hô-va, Hãy tôn ngợi Đức Giê-hô-va! Vì Ngài đã giải cứu linh hồn người nghèo khó Khỏi tay những kẻ ác.
Đáng nguyền rủa cho cái ngày tôi chào đời! Ngày mẹ tôi sinh ra tôi không đáng được phước!
Đáng nguyền rủa cho người báo tin cho cha tôi: “Ông có một đứa con, một con trai!” Khiến cha tôi vô cùng hớn hở.
Cầu cho người đó giống như các thành Mà Đức Giê-hô-va đã phá đổ không chút xót thương. Sáng sớm, nó nghe tiếng kêu cứu; Đến trưa, nó nghe tiếng hò xung trận.
Vì đã không giết tôi từ trong bụng mẹ Để mẹ tôi làm mồ mả cho tôi, Mang thai tôi suốt đời.
Tại sao tôi phải lọt lòng mẹ Để thấy cảnh cực nhọc lo buồn, Cả đời mang sỉ nhục?
Đây là lời Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi khi vua Sê-đê-kia sai Pha-su-rơ, con trai Manh-ki-gia, và Sô-phô-ni, con trai thầy tế lễ Ma-a-xê-gia, đến gặp ông và nói:
“Xin ông cầu hỏi Đức Giê-hô-va giúp chúng tôi vì Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, tiến đánh chúng ta; biết đâu Đức Giê-hô-va sẽ vì chúng ta mà làm mọi việc lạ lùng của Ngài và khiến vua ấy rút lui khỏi chúng ta.”
Giê-rê-mi trả lời: “Các ông hãy tâu lại với Sê-đê-kia thế nầy:
‘Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Nầy, Ta sẽ quay ngược vũ khí mà các ngươi đang cầm trong tay để đánh đuổi vua Ba-by-lôn và người Canh-đê hiện bao vây các ngươi bên ngoài tường thành, và gom chúng lại giữa thành nầy.
Chính Ta, trong cơn nóng nảy, tức giận và phẫn nộ mãnh liệt sẽ đưa bàn tay mở rộng và cánh tay mạnh mẽ chiến đấu chống lại các ngươi.
Ta sẽ đánh phạt dân cư thành nầy, cả người lẫn súc vật; chúng sẽ chết vì một trận dịch khủng khiếp.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Sau đó, Ta sẽ phó Sê-đê-kia, vua Giu-đa, các triều thần và dân chúng trong thành, tức những người sống sót sau dịch bệnh, gươm đao, đói kém, vào tay Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, vào tay các kẻ thù và những kẻ tìm hại mạng sống chúng. Nê-bu-cát-nết-sa sẽ đánh chúng bằng lưỡi gươm, không xót thương, không nương tay, không thương cảm.’
Con hãy nói với dân nầy: ‘Đức Giê-hô-va phán: Nầy, Ta đặt trước mặt các ngươi con đường dẫn đến sự sống và con đường dẫn đến sự chết.
Kẻ nào cứ ở lại trong thành nầy thì sẽ chết bởi gươm đao, đói kém, và dịch bệnh; nhưng kẻ nào ra khỏi thành và đầu hàng người Canh-đê đang bao vây thì sẽ sống; ít ra người ấy cũng thoát thân và giữ được mạng sống mình.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Vì Ta đã quyết định giáng họa thay vì xuống phước trên thành nầy, nên thành nầy sẽ bị phó vào tay vua Ba-by-lôn, và vua ấy sẽ phóng hỏa đốt thành.’
Về nhà của vua Giu-đa, con hãy nói: ‘Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va,
Hỡi nhà Đa-vít! Đức Giê-hô-va phán: Buổi sáng hãy làm điều công chính, Giải cứu người bị bóc lột khỏi tay kẻ hà hiếp, Kẻo vì các ngươi làm điều ác, Mà cơn giận Ta bừng lên như lửa, Không ai dập tắt được.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Hỡi cư dân trong thung lũng, Hỡi vầng đá trong đồng bằng kia, Ta chống lại các ngươi, Là những người dám nói: Ai sẽ đến chống lại chúng ta? Ai vào được chỗ chúng ta trú ẩn?’”
Đức Giê-hô-va phán: “Ta sẽ trừng phạt các ngươi theo kết quả công việc các ngươi; Ta sẽ đốt lửa trong rừng, Lửa sẽ thiêu nuốt mọi vật chung quanh nó.”
Đức Giê-hô-va phán: “Hãy xuống cung điện vua Giu-đa, tại đó con công bố lời nầy.
Con hãy nói: ‘Hỡi vua của Giu-đa, người đang ngự trên ngai Đa-vít! Vua cùng với triều thần và thần dân của vua là những người vào ra cổng thành nầy, hãy lắng nghe lời của Đức Giê-hô-va!’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Hãy làm điều công minh chính trực; giải cứu người bị bóc lột khỏi tay kẻ hà hiếp. Không gây thiệt hại hay đối xử tàn bạo với các ngoại kiều, các cô nhi quả phụ. Đừng làm đổ máu vô tội tại nơi nầy.
Nếu các ngươi thật lòng vâng theo lời nầy, thì sẽ có các vua nối ngôi Đa-vít ngồi trên xe và cưỡi trên ngựa, cùng với các triều thần và thần dân vào ra các cổng cung điện nầy.
Nhưng nếu các ngươi không lắng nghe những lời nầy, Đức Giê-hô-va khẳng định, Ta chỉ chính mình mà thề rằng cung điện nầy sẽ trở nên hoang tàn.’
Đây là lời Đức Giê-hô-va phán về cung điện vua Giu-đa: ‘Ta xem ngươi như Ga-la-át, Như đỉnh núi Li-ban, Nhưng chắc chắn Ta sẽ biến ngươi ra hoang mạc, Các thành phố không người ở.
Ta sẽ dành sẵn những kẻ phá hoại có vũ khí Tiêu diệt ngươi; Chúng sẽ đốn những cây bá hương tốt nhất của ngươi Và ném vào lửa.’
Các dân tộc đi ngang qua thành nầy đều hỏi nhau: ‘Tại sao Đức Giê-hô-va đã xử như vậy với thành lớn nầy?’
Sẽ có người trả lời: ‘Vì dân thành đó đã bỏ giao ước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình mà thờ lạy và phục vụ các thần khác.’
Đừng khóc cho người chết, Cũng đừng thương tiếc họ; Nhưng hãy khóc cho kẻ ra đi, Vì nó sẽ không trở về, Không còn thấy nơi chôn nhau cắt rốn mình nữa.
Vì Đức Giê-hô-va phán về Sa-lum, con trai Giô-si-a, vua Giu-đa, người kế vị cha mình là Giô-si-a, và là người đã rời khỏi nơi nầy như sau: ‘Vua ấy sẽ không trở về đó nữa,
nhưng sẽ chết tại xứ bị lưu đày và không còn thấy lại đất nầy nữa.’
Khốn thay cho kẻ cất nhà bằng sự bất chính, Xây phòng bằng sự bất nghĩa; Dùng người lân cận làm việc không công, Chẳng trả thù lao cho họ.
Nó nói: ‘Ta sẽ xây một tòa nhà nguy nga, Với nhiều phòng thênh thang.’ Rồi nó trổ nhiều cửa sổ, Ốp tường bằng gỗ bá hương, Và sơn son phết vàng.
Có phải ngươi được làm vua, Vì ngươi tranh đua xây nhà bằng gỗ bá hương không? Chẳng phải cha ngươi đã ăn uống Và làm điều công minh chính trực, Nên được hưng thịnh đó sao?
Người xét xử công minh cho kẻ nghèo khó và thiếu thốn, Nên được hưng thịnh. Đức Giê-hô-va phán: ‘Chẳng phải như vậy là nhận biết Ta đó sao?
Nhưng mắt và lòng ngươi Chỉ biết trục lợi bất chính, Làm đổ máu vô tội, Ra tay áp bức và bạo hành.’”
Vì vậy, về Giê-hô-gia-kim, con trai Giô-si-a, vua Giu-đa, Đức Giê-hô-va phán: “Người ta sẽ không thương khóc người: ‘Than ôi, anh của tôi!’ hay ‘Than ôi, chị của tôi!’ Người ta cũng chẳng thương tiếc người: ‘Than ôi, chúa tôi!’ hay ‘Than ôi, vinh quang của người!’
Người sẽ bị chôn như một con lừa, Bị kéo đi và vứt bên ngoài cổng thành Giê-ru-sa-lem.
Hãy lên núi Li-ban mà kêu la, Hãy cất tiếng than trên dãy Ba-san; Kêu gào trên đỉnh A-ba-rim! Vì tất cả người yêu của ngươi đều bị tiêu diệt.
Ta đã nói với ngươi khi ngươi đang yên ổn, Nhưng ngươi nói: ‘Tôi không muốn nghe.’ Từ nhỏ, lối sống ngươi đã như vậy, Ngươi chẳng bao giờ vâng lời Ta.
Gió sẽ lùa mọi kẻ chăn của ngươi, Những người yêu của ngươi sẽ bị lưu đày; Bấy giờ, ngươi sẽ xấu hổ và tủi nhục Vì mọi gian ác mình.
Ngươi là kẻ cư ngụ giữa cung rừng Li-ban Yên ấm trong các lâu đài bá hương, Khi cơn đau đớn giáng trên ngươi, ngươi sẽ rên xiết, Quặn thắt như người đàn bà lúc sinh con!”
Đức Giê-hô-va phán: “Thật như Ta hằng sống, dù Giê-cô-nia, con trai Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, có là chiếc nhẫn trên tay phải của Ta, Ta cũng lột ngươi đi.
Ta sẽ phó ngươi vào tay những kẻ muốn hại mạng sống ngươi, vào tay những kẻ mà ngươi khiếp sợ, tức vào tay Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, và vào tay người Canh-đê.
Ta sẽ đuổi ngươi và người mẹ đã sinh ra ngươi đến một xứ khác, không phải là nơi chôn nhau cắt rốn của ngươi, và ngươi sẽ chết tại đó.
Còn mảnh đất mà linh hồn chúng khao khát trở về, thì sẽ không được trở về.”
Vậy có phải Giê-cô-nia nầy là chiếc bình vỡ nát bị khinh thường không? Chiếc bình mà không ai ưa thích cả? Tại sao vua ấy và cả dòng dõi nó bị quẳng đi, Bị ném vào trong một xứ mà chúng chưa từng biết?
Hỡi đất, đất, đất! Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va.
Đức Giê-hô-va phán thế nầy: “Hãy ghi nhận người nầy như là kẻ tuyệt tự, Một người cả đời không thành đạt; Vì cả dòng dõi nó không một ai thành đạt, Được ngồi trên ngai Đa-vít Và cai trị trong Giu-đa nữa!”
Đức Giê-hô-va phán: “Khốn cho những kẻ chăn bầy tiêu diệt và làm tan tác bầy chiên của đồng cỏ Ta!
Vì vậy, đây là lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên dành cho những kẻ chăn giữ dân Ta: ‘Các ngươi đã làm tan lạc bầy chiên Ta, xua đuổi và không chú tâm đến chúng. Nầy, Ta sẽ chú ý chống lại các ngươi cùng với những việc gian ác các ngươi làm,’ Đức Giê-hô-va phán vậy.
Chính Ta sẽ tập hợp những con sót lại của bầy từ các nước mà Ta đã đuổi chúng đến. Ta sẽ đem chúng trở về đồng cỏ của chúng; chúng sẽ sinh sôi nẩy nở thật nhiều.
Ta sẽ lập lên những người chăn để chăn dắt chúng và chúng sẽ chẳng còn sợ hãi, chẳng kinh khiếp nữa, và sẽ không lạc mất một con nào,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, những ngày đến, Ta sẽ dấy lên cho Đa-vít một Nhánh Công Chính; Ngài sẽ cai trị như một vị vua, cư xử khôn ngoan, Thực thi điều công minh chính trực trong xứ.
Trong đời vua ấy, Giu-đa sẽ được cứu; Y-sơ-ra-ên sẽ sống yên ổn. Danh xưng của Đấng ấy là: ‘Giê-hô-va Đấng Công Chính của chúng ta!’”
Đức Giê-hô-va phán: “Vì thế, những ngày đến, người ta sẽ chẳng còn nói: ‘Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã đem con dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập.’
Nhưng sẽ nói: ‘Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã đưa dắt dòng dõi nhà Y-sơ-ra-ên về từ phương bắc, từ các nước mà Ngài đã đuổi họ đến.’ Chúng sẽ ở trong đất của mình.”
Về các kẻ tiên tri: Lòng dạ tôi tan nát; Xương cốt tôi rã rời; Tôi như người say, Như người say khướt vì rượu, Chính vì Đức Giê-hô-va Vì những lời thánh của Ngài.
Xứ sở đầy dẫy bọn tà dâm; Bị nguyền rủa nên đất nước sầu thảm, Những đồng cỏ trong hoang mạc đều héo úa. Đường chúng đi là gian tà, Quyền chúng nắm là bất chính.
Đức Giê-hô-va phán: “Kẻ tiên tri lẫn thầy tế lễ đều bại hoại, Ta thấy sự gian ác của chúng ngay trong nhà Ta.
Cho nên đường lối của chúng Sẽ như lối trơn trợt trong tối tăm, Mà chúng bị đuổi vào và vấp ngã tại đó. Vì đến năm trừng phạt, Ta sẽ giáng tai ương trên chúng,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Ta đã thấy sự điên rồ Của bọn tiên tri Sa-ma-ri; Chúng nhân danh Ba-anh mà nói tiên tri, Khiến dân Y-sơ-ra-ên của Ta lạc lối.
Nhưng giữa bọn tiên tri ở Giê-ru-sa-lem, Ta đã thấy điều kinh tởm: Chúng phạm tội tà dâm, bước đi trong dối trá; Chúng tăng cường sức mạnh cho tay kẻ dữ, Đến nỗi không ai từ bỏ gian ác mình. Ta xem cả bọn chúng như Sô-đôm, Và dân cư Giê-ru-sa-lem như Gô-mô-rơ.”
Vì vậy, Đức Giê-hô-va vạn quân phán về bọn tiên tri đó như sau: “Kìa, Ta sẽ cho dân nầy ăn ngải cứu Và cho uống nước độc, Vì các kẻ tiên tri ở Giê-ru-sa-lem Đã làm cho sự bại hoại lan tràn khắp xứ.”
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Đừng nghe lời mà bọn tiên tri đó rao báo cho các ngươi. Chúng gieo rắc hi vọng hão huyền, Nói những khải tượng do chúng tự nghĩ ra Chứ không bởi miệng Đức Giê-hô-va phán dạy.
Chúng tiếp tục nói với những kẻ khinh thường Ta rằng: ‘Đức Giê-hô-va phán: Các ngươi sẽ được bình an.’ Và bảo những kẻ có lòng dạ bướng bỉnh: ‘Chẳng có tai họa nào giáng trên các ngươi cả.’
Vậy, ai được đứng trong cuộc họp của Đức Giê-hô-va, Để ngắm xem và nghe lời Ngài? Ai đã chú ý và vâng theo lời Ngài?
Nầy, cơn giông bão của Đức Giê-hô-va Tức là cơn thịnh nộ của Ngài đã nổi lên, Cơn giông bão quay cuồng, Xoáy xuống đầu kẻ ác.
Cơn giận của Đức Giê-hô-va sẽ không nguôi Cho đến khi Ngài thực thi và hoàn tất Mọi ý định trong lòng Ngài. Trong những ngày cuối cùng, Các ngươi sẽ hiểu rõ điều ấy.
Ta không sai các kẻ tiên tri nầy đi, Thế mà chúng đã chạy; Ta không phán bảo chúng, Thế mà chúng đã nói tiên tri.
Nếu chúng đứng trong cuộc họp của Ta, Thì đã công bố lời Ta cho dân Ta, Giúp dân Ta từ bỏ con đường ác, Và xa lánh những việc làm xấu xa.”
Đức Giê-hô-va phán: “Có phải Ta là Đức Chúa Trời ở gần mà không phải là Đức Chúa Trời ở xa sao?”
Đức Giê-hô-va lại phán: “Ai có thể ẩn mình trong các nơi bí mật để Ta không thấy được chăng?” Đức Giê-hô-va phán tiếp: “Chẳng phải Ta hiện diện mọi nơi, khắp các tầng trời và đất sao?
Ta đã nghe điều mà các kẻ tiên tri nầy nói. Chúng đã nhân danh Ta nói tiên tri giả dối rằng: ‘Tôi thấy chiêm bao! Tôi thấy chiêm bao!’
Các kẻ tiên tri nầy còn tiếp tục lấy lòng dối trá mà nói tiên tri giả dối trong bao lâu? Cứ thốt ra những lời lừa mị từ lòng dạ chúng cho đến bao giờ?
Bằng cách kể cho nhau nghe các chiêm bao, chúng âm mưu làm cho dân Ta quên danh Ta như tổ phụ chúng đã vì Ba-anh mà quên danh Ta vậy.
Nhà tiên tri nào có chiêm bao, hãy thuật lại chiêm bao ấy đi! Ai đã nhận lãnh lời Ta, hãy trung tín truyền lại lời Ta! Rơm rạ có thể xen vào lúa mì sao?” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Lời Ta chẳng phải như lửa, như búa đập vỡ đá sao?” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Vì thế, Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, Ta chống lại các kẻ tiên tri ăn cắp lẫn nhau lời của Ta.”
Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, Ta chống lại các kẻ tiên tri dùng lưỡi mình mà nói: ‘Đức Giê-hô-va phán.’”
Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, Ta chống lại những kẻ dùng chiêm bao giả dối mà nói tiên tri. Chúng kể chiêm bao rồi dùng lời dối trá, khoác lác mà làm cho dân Ta lầm lạc, nhưng Ta không sai phái, cũng chẳng truyền bảo chúng. Chúng chẳng ích lợi gì cho dân nầy cả.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Khi dân nầy, hay một kẻ tiên tri, hoặc một thầy tế lễ, hỏi con rằng: ‘Gánh nặng của Đức Giê-hô-va là gì?’ Con hãy trả lời: ‘Chính ngươi là gánh nặng,’ và Đức Giê-hô-va phán: ‘Ta sẽ từ bỏ các ngươi.’
Còn kẻ tiên tri, thầy tế lễ, hay một người dân nào đó nói: ‘Gánh nặng của Đức Giê-hô-va,’ thì Ta sẽ trừng phạt người ấy và nhà nó.
Vậy, đây là câu mà mỗi người hỏi người lân cận mình và mỗi người hỏi anh em mình: ‘Đức Giê-hô-va đã trả lời thế nào?’ hay ‘Đức Giê-hô-va đã phán điều gì?’
Bấy giờ, các ngươi không được đề cập đến ‘gánh nặng của Đức Giê-hô-va’ nữa; vì lời của người nào sẽ là gánh nặng cho người nấy, vì các ngươi đã xuyên tạc lời của Đức Chúa Trời hằng sống, là Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của chúng ta.
Vậy, con hãy hỏi kẻ tiên tri rằng: ‘Đức Giê-hô-va đã trả lời cho ngươi điều gì?’ hay là: ‘Đức Giê-hô-va đã phán thể nào?’
Nhưng nếu các ngươi nói: ‘Gánh nặng của Đức Giê-hô-va,’ thì Đức Giê-hô-va phán: Vì các ngươi đã nói ‘gánh nặng của Đức Giê-hô-va’ khi mà Ta đã sai người đến và dặn các ngươi không được nói ‘gánh nặng của Đức Giê-hô-va.’
Cho nên Ta sẽ quên hẳn các ngươi và loại bỏ các ngươi cùng với thành mà Ta đã ban cho các ngươi và tổ phụ các ngươi khỏi mặt Ta.
Ta sẽ khiến các ngươi bị xấu hổ mãi mãi, bị sỉ nhục suốt đời, không bao giờ quên được.”
Đức Giê-hô-va chỉ cho tôi thấy hai giỏ trái vả đặt trước đền thờ Đức Giê-hô-va. Việc nầy xảy ra sau khi Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, bắt Giê-cô-nia, con trai Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, cùng các thủ lĩnh Giu-đa, các thợ thủ công và thợ rèn đưa ra khỏi Giê-ru-sa-lem, lưu đày sang Ba-by-lôn.
Một giỏ đựng những trái vả rất tốt, như trái vả đầu mùa; còn giỏ kia thì đựng trái rất xấu, xấu đến nỗi không thể ăn được.
Đức Giê-hô-va hỏi tôi: “Nầy Giê-rê-mi, con thấy gì?” Tôi thưa: “Con thấy trái vả, những trái tốt thì rất tốt, còn những trái xấu thì rất xấu, xấu đến nỗi không thể ăn được.”
Bấy giờ có lời của Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán thế nầy: ‘Giống như những trái vả tốt nầy, Ta sẽ quan tâm và làm phước cho những người Giu-đa bị lưu đày, là những người mà Ta đã đem từ nơi nầy vào đất người Canh-đê.
Ta sẽ để mắt đến chúng, ban phước cho chúng và đưa chúng trở về xứ nầy. Ta sẽ xây dựng chứ không phá đổ; sẽ vun trồng chứ không nhổ đi.
Ta sẽ ban cho chúng tấm lòng nhận biết Ta là Đức Giê-hô-va. Chúng sẽ làm dân Ta và Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của chúng, vì chúng sẽ hết lòng trở về với Ta.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Trái lại, như người ta xử những trái vả xấu, xấu đến nỗi không thể ăn được thể nào, thì Ta cũng sẽ xử Sê-đê-kia, vua Giu-đa, các thủ lĩnh, dân còn sót của Giê-ru-sa-lem đang ở trong xứ, và những người đang sống tại Ai Cập thể ấy.
Ta sẽ làm cho chúng trở thành nỗi kinh hoàng, một tai họa cho mọi vương quốc trên đất; một nỗi ô nhục, một trò cười, một lời mắng nhiếc, một lời nguyền rủa trong mọi nơi mà Ta đuổi chúng đến.
Ta sẽ sai gươm đao, đói kém, dịch bệnh đến giữa chúng, cho đến khi chúng bị tiêu diệt khỏi đất mà Ta đã ban cho chúng và tổ phụ chúng.’”
Vào năm thứ tư đời Giê-hô-gia-kim, con trai Giô-si-a, vua Giu-đa, tức là năm thứ nhất đời Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, có lời phán với Giê-rê-mi liên hệ đến toàn dân Giu-đa.
Nhà tiên tri Giê-rê-mi rao truyền những lời ấy cho toàn dân Giu-đa và tất cả cư dân Giê-ru-sa-lem rằng:
“Đã hai mươi ba năm kể từ năm thứ mười ba đời Giô-si-a, con trai A-môn, vua Giu-đa, đến nay, lời của Đức Giê-hô-va đã phán với tôi và tôi đã không ngừng nói với các người nhưng các người không chịu nghe.
Mặc dù Đức Giê-hô-va đã liên tục sai các đầy tớ Ngài, tức là các nhà tiên tri, đến với các người nhưng các người không chịu nghe, không lắng tai nghe.
Họ nói: ‘Hãy trở lại, mỗi người trong các ngươi hãy từ bỏ đường lối gian ác và những hành vi sai trái của mình, rồi các ngươi sẽ được ở trong đất mà Đức Giê-hô-va đã ban cho các ngươi và tổ phụ các ngươi từ nghìn xưa cho đến đời đời.
Đừng theo các thần khác mà phục vụ và thờ lạy chúng; đừng lấy việc tay mình làm ra mà chọc giận Ta nữa, thì Ta sẽ không giáng họa trên các ngươi.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Nhưng các ngươi chẳng nghe Ta, cứ lấy công việc của tay mình chọc giận Ta mà chuốc họa vào thân.’
Vì thế, Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Vì các ngươi không chịu nghe lời Ta,
nầy, Ta sẽ sai tất cả các dòng tộc phương bắc và Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đầy tớ Ta, đến chống lại xứ nầy và dân cư nó, cùng các nước chung quanh. Ta sẽ tuyệt diệt chúng, làm cho chúng trở nên một vật đáng tởm, một trò cười, một nơi hoang tàn vĩnh viễn.’ Đức Giê-hô-va phán vậy.
‘Ta sẽ làm cho giữa chúng không còn tiếng hoan ca mừng rỡ, tiếng chú rể cô dâu, tiếng của cối xay, và không còn ánh đèn.
Cả xứ nầy sẽ trở nên chốn hoang tàn, ghê tởm, các dân tộc nầy sẽ phải phục dịch vua Ba-by-lôn trong bảy mươi năm.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Khi hết bảy mươi năm, Ta sẽ phạt vua Ba-by-lôn và dân tộc ấy, xứ sở của người Canh-đê, vì tội ác của chúng, và biến xứ sở ấy thành một nơi hoang tàn vĩnh viễn.
Ta sẽ thực hiện mọi lời Ta phán về đất nước ấy, mọi lời được chép trong sách nầy, tức là lời Giê-rê-mi đã nói tiên tri chống lại tất cả các nước.
Chính chúng sẽ phải phục dịch các cường quốc và các vua hùng mạnh khác; và Ta sẽ báo trả chúng tùy theo các hành vi và công việc tay chúng đã làm.’”
Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã phán với tôi rằng: “Con hãy lấy chén rượu thịnh nộ nầy khỏi tay Ta, và bắt tất cả các nước mà Ta sai con đến uống chén ấy.
Chúng sẽ uống, sẽ đi lảo đảo và điên cuồng vì gươm đao mà Ta sẽ sai đến giữa chúng.”
Vì thế, tôi lấy chén ấy từ tay Đức Giê-hô-va và bắt tất cả các nước mà Đức Giê-hô-va sai tôi đến phải uống chén ấy như:
Giê-ru-sa-lem và các thành của Giu-đa, các vua và các thủ lĩnh của thành, để chúng trở nên hoang tàn, ghê tởm, bị chê cười và nguyền rủa như ngày nay;
Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, các triều thần, các thủ lĩnh và toàn dân Ai Cập;
tất cả các dân hỗn tạp, tất cả vua xứ Út-xơ, tất cả vua xứ Phi-li-tin: tức vua của Ách-ca-lôn, của Ga-xa, của Éc-rôn, và những kẻ sống sót ở Ách-đốt;
Ê-đôm, Mô-áp, con cháu Am-môn;
các vua Ty-rơ, tất cả vua ở Si-đôn, và tất cả vua ở các hải đảo ngoài biển khơi;
Đê-đan, Thê-ma, Bu-xơ, những dân cạo tóc hai bên thái dương;
tất cả vua Ả-rập, các vua của các nước thuộc về các dân hỗn tạp sống trong hoang mạc;
tất cả vua của Xim-ri, tất cả vua của Ê-lam, tất cả vua của Mê-đi;
tất cả vua phương bắc, ở gần hoặc ở xa, hết vua nầy đến vua kia; tất cả vương quốc thế gian trên mặt đất. Vua của Sê-sác sẽ uống sau cùng.
“Con cũng bảo với họ: Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán thế nầy: ‘Hãy uống cho say đi và mửa ra, hãy ngã xuống và đừng trỗi dậy nữa, vì gươm đao mà Ta sẽ sai đến giữa các ngươi!’
Nếu chúng không chịu nhận chén từ tay con để uống, thì con hãy nói với chúng rằng Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Chắc chắn các ngươi phải uống!
Vì nầy, thành kia là thành được gọi bằng danh Ta mà Ta còn bắt đầu giáng tai họa, thì các ngươi có thể tránh được hình phạt sao? Không! Các ngươi sẽ không thoát khỏi hình phạt đâu, vì Ta sẽ sai gươm đao đến trên mọi dân cư trên đất,’” Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
“Cho nên, con mau đem mọi lời nầy nói tiên tri chống lại chúng: ‘Từ trên cao, Đức Giê-hô-va đã gào lên, Từ nơi ngự thánh, Ngài đã lên tiếng; Ngài gào to chống lại chuồng chiên Ngài, Ngài cất tiếng kêu lớn như những người đạp nho, Chống lại mọi dân cư trên đất.
Tiếng ầm vang sẽ lan đến tận cùng trái đất; Vì Đức Giê-hô-va cáo buộc các nước, Phán xét mọi xác thịt, Phó kẻ ác cho gươm đao,’ Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Nầy, tai họa sẽ lan tràn Từ nước nầy sang nước khác, Một trận bão dữ dội nổi lên Từ các miền xa xăm của đất.’
Trong ngày đó, xác của những kẻ bị Đức Giê-hô-va giết chết sẽ nằm la liệt khắp mặt đất. Chẳng có ai khóc thương hay tập trung lại để chôn cất; chúng trở thành phân bón trên mặt đất!
Hỡi những người chăn, hãy than khóc, hãy cất tiếng than van! Hỡi những chủ bầy chiên, hãy lăn trong tro bụi! Vì ngày các ngươi bị giết, kỳ các ngươi bị tan lạc đã đến, Các ngươi sẽ ngã xuống như chiếc bình quý giá.
Người chăn hết đường trốn tránh, Chủ bầy chiên không tìm ra lối thoát.
Kìa, tiếng kêu than của người chăn, Lời than khóc của chủ bầy! Vì Đức Giê-hô-va phá tan đồng cỏ của chúng,
Những đồng cỏ yên bình đã trở nên hoang vắng Vì cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va.
Như sư tử đã rời khỏi hang, Vì đất chúng đã trở nên ghê tởm Dưới lưỡi gươm đàn áp, Và cơn giận phừng phừng.”
Khi Giê-hô-gia-kim, con trai Giô-si-a, vua Giu-đa, bắt đầu trị vì, thì có lời phán từ Đức Giê-hô-va.
Đức Giê-hô-va phán thế nầy: “Con hãy đứng trong hành lang nhà Đức Giê-hô-va, công bố mọi lời Ta truyền cho con phải nói với tất cả các thành Giu-đa đã đến thờ phượng trong nhà Đức Giê-hô-va; không được bớt một lời nào.
Có thể chúng sẽ nghe con và tất cả sẽ từ bỏ đường lối xấu xa mà trở lại. Bấy giờ, Ta sẽ đổi ý về các tai họa mà Ta định giáng trên chúng vì những hành vi gian ác của chúng.
Vậy con hãy bảo chúng: Đức Giê-hô-va phán: ‘Nếu các ngươi không chịu nghe Ta, không sống theo luật pháp Ta đã đặt trước mặt các ngươi;
nếu các ngươi không nghe lời các đầy tớ Ta, là các nhà tiên tri mà Ta thường xuyên sai đến với các ngươi mà các ngươi vốn chẳng chịu nghe,
thì Ta sẽ xử nhà nầy như đã xử Si-lô, và khiến thành nầy trở nên lời nguyền rủa giữa mọi nước trên đất.’”
Các thầy tế lễ, các nhà tiên tri, và toàn thể dân chúng đều nghe Giê-rê-mi công bố những lời ấy trong nhà Đức Giê-hô-va.
Khi Giê-rê-mi nói xong mọi điều Đức Giê-hô-va truyền ông phải công bố cho toàn dân, thì các thầy tế lễ, các nhà tiên tri, và toàn thể dân chúng đều túm lấy ông và nói: “Ngươi chắc sẽ chết!
Tại sao ngươi dám nhân danh Đức Giê-hô-va mà nói tiên tri rằng: ‘Nhà nầy sẽ trở nên như Si-lô, thành nầy sẽ hoang tàn, không dân ở?’” Bấy giờ, toàn dân vây quanh Giê-rê-mi trong nhà Đức Giê-hô-va.
Khi nghe tin ấy, các thủ lĩnh Giu-đa rời cung vua, lên nhà Đức Giê-hô-va. Họ ngồi tại lối vào Cổng Mới của nhà Đức Giê-hô-va.
Bấy giờ, các thầy tế lễ và các nhà tiên tri nói với các thủ lĩnh và toàn dân rằng: “Người nầy đáng chết vì đã nói tiên tri chống lại thành nầy, như chính tai các ông đã nghe.”
Nhưng Giê-rê-mi trả lời các thủ lĩnh và toàn dân rằng: “Chính Đức Giê-hô-va đã sai tôi nói tất cả các lời tiên tri về nhà nầy và thành nầy như các ông vừa nghe.
Bây giờ các ông hãy sửa lại đường lối và việc làm của mình đi. Hãy vâng lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ông thì Đức Giê-hô-va sẽ đổi ý về các tai họa mà Ngài đã cảnh báo các ông.
Còn tôi, nầy, tôi đang ở trong tay các ông. Các ông cứ xử tôi theo điều các ông cho là phải và đáng làm.
Dù vậy, các ông phải biết chắc rằng nếu giết tôi thì các ông, thành nầy và dân cư trong thành sẽ gánh lấy huyết vô tội. Vì Đức Giê-hô-va thật sự đã sai tôi đến để công bố mọi lời nầy vào tai các ông.”
Các thủ lĩnh và toàn thể dân chúng nói với các thầy tế lễ và các nhà tiên tri rằng: “Người nầy không đáng chết, vì ông ấy nhân danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta mà nói với chúng ta.”
Một vài trưởng lão trong xứ đứng dậy nói với cả hội chúng:
“Mi-chê ở Mô-rê-sết, nhà tiên tri dưới thời Ê-xê-chia, vua Giu-đa, đã nói với toàn dân Giu-đa rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Si-ôn sẽ bị cày như ruộng, Giê-ru-sa-lem sẽ thành đống đổ nát hoang tàn, Núi của đền thờ sẽ trở nên những gò nổng rậm rạp.’
Nhưng Ê-xê-chia, vua Giu-đa, và cả Giu-đa có tử hình ông ấy không? Chẳng phải vua đã kính sợ Đức Giê-hô-va và nài xin ơn Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va đã đổi ý không giáng tai họa mà Ngài đã báo trước cho họ sao? Còn nay chúng ta lại muốn rước tai họa khủng khiếp vào mình!”
Có một người khác cũng đã nhân danh Đức Giê-hô-va mà nói tiên tri, đó là U-ri, con trai Sê-ma-gia, ở Ki-ri-át Giê-a-rim. Ông cũng nói tiên tri chống lại thành và đất nầy, giống hệt những gì Giê-rê-mi đã nói.
Nhưng khi vua Giê-hô-gia-kim cùng tất cả các dũng sĩ và các thủ lĩnh của vua nghe U-ri nói, thì vua tìm cách giết ông ấy. Nghe tin nầy, U-ri sợ và chạy trốn sang Ai Cập.
Vua Giê-hô-gia-kim liền sai Ên-na-than, con trai Ạc-bồ, và một số người khác qua Ai Cập,
đem U-ri ra khỏi Ai Cập và giải về cho Giê-hô-gia-kim. Vua ra lệnh giết ông ấy bằng gươm và ném xác vào nghĩa trang thường dân.
Nhưng A-hi-cam, con trai Sa-phan, bênh vực Giê-rê-mi, không để ông chết về tay dân chúng.
Khi Sê-đê-kia, con trai Giô-si-a, vua Giu-đa, bắt đầu trị vì, thì có lời của Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi:
Đức Giê-hô-va phán với tôi: “Con hãy làm cho mình một cái roi da và một cái ách, rồi mang vào cổ.
Sau đó, con hãy gửi thông điệp đến cho vua Ê-đôm, vua Mô-áp, vua của con cháu Am-môn, vua Ty-rơ, và vua Si-đôn, qua trung gian của các sứ thần đến Giê-ru-sa-lem yết kiến Sê-đê-kia, vua Giu-đa.
Con dặn các sứ thần ấy phải tâu lại với chủ rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đã phán: Đây là lời các ngươi hãy tâu lại với chủ mình:
‘Chính Ta là Đấng dùng quyền năng lớn lao và cánh tay giang ra mà tạo dựng trái đất, loài người và loài thú trên mặt đất, và ban đất ấy cho ai tùy ý Ta.
Bây giờ, Ta đã phó cả xứ nầy vào tay Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đầy tớ Ta. Ngay cả thú vật ngoài đồng Ta cũng giao cho vua để chúng phục dịch vua ấy.
Mọi nước sẽ phải thần phục vua ấy và con cháu người, cho đến phiên chính đất nước người bị các cường quốc, các vua lớn chinh phục.
Nếu dân nào hoặc vương quốc nào không phục dịch vua ấy, tức Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, và không mang ách của vua Ba-by-lôn vào cổ mình, thì Ta sẽ dùng gươm đao, đói kém, dịch bệnh mà trừng phạt dân ấy, cho đến khi tay vua Nê-bu-cát-nết-sa tận diệt chúng, Đức Giê-hô-va phán vậy.
Vì vậy, chớ nghe lời các kẻ tiên tri, thầy bói, kẻ bàn mộng, thầy chiêm tinh, thầy phù thủy. Chúng nói với các ngươi rằng: Anh em không phải phục dịch vua Ba-by-lôn đâu.
Thực ra chúng chỉ tiên báo giả dối để các ngươi bị dời khỏi đất nước mình, khiến Ta phải đuổi các ngươi đi và các ngươi bị tiêu diệt.
Nhưng dân nào mang ách vua Ba-by-lôn vào cổ và phục dịch vua ấy, thì Ta sẽ cho tiếp tục ở lại xứ mình để cày cấy và cư ngụ ở đó.’ Đức Giê-hô-va phán vậy.”
Tôi cũng nói với Sê-đê-kia, vua Giu-đa, những điều tương tự: “Hãy mang ách của vua Ba-by-lôn vào cổ, hãy phục dịch vua và dân của vua ấy, thì các ngươi được sống.
Tại sao vua và dân vua lại muốn chết bởi gươm đao, đói kém, dịch bệnh, như lời Đức Giê-hô-va đã phán với dân tộc nào không phục dịch vua Ba-by-lôn?
Đừng nghe lời của bọn tiên tri nói với các ngươi: ‘Anh em sẽ không phục dịch vua Ba-by-lôn đâu’, vì đó chỉ là lời tiên tri dối trá mà chúng nói với các ngươi thôi.
Đức Giê-hô-va phán: ‘Ta chẳng hề sai phái chúng, nhưng chúng nhân danh Ta nói tiên tri giả dối. Vì vậy, Ta đuổi các ngươi đi và tiêu diệt các ngươi chung với các tiên tri đã nói tiên tri cho các ngươi.’”
Tôi cũng nói với các thầy tế lễ và tất cả dân chúng rằng: “Đức Giê-hô-va phán: Đừng nghe lời bọn tiên tri tiên báo với các ngươi rằng: ‘Không bao lâu nữa các dụng cụ trong nhà Đức Giê-hô-va sẽ được mang trở về từ Ba-by-lôn!’. Chúng đã nói những lời tiên tri giả dối với các ngươi.
Đừng nghe chúng. Hãy phục dịch vua Ba-by-lôn thì các ngươi sẽ sống. Tại sao thành nầy phải bị hoang tàn?
Nếu chúng thật sự là các nhà tiên tri và lời Đức Giê-hô-va ở với chúng, thì chúng hãy cầu xin Đức Giê-hô-va vạn quân để những dụng cụ còn sót lại trong nhà Đức Giê-hô-va, trong cung vua Giu-đa và trong thành Giê-ru-sa-lem không bị mang qua Ba-by-lôn.
Vì Đức Giê-hô-va vạn quân đã phán về các trụ đồng, các bể nước, các chân đế, và những dụng cụ còn sót lại trong thành nầy,
tức là những thứ mà Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, chưa mang đi khi bắt Giê-cô-nia, con trai Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, từ Giê-ru-sa-lem đày sang Ba-by-lôn cùng với các nhà quý tộc của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
Thật, Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đã phán về các dụng cụ còn sót lại trong nhà Đức Giê-hô-va, trong cung vua Giu-đa và thành Giê-ru-sa-lem rằng:
‘Những vật dụng ấy sẽ bị đem qua Ba-by-lôn và giữ tại đó cho đến ngày Ta thăm viếng chúng. Bấy giờ, Ta sẽ đem những thứ ấy trở về và để lại chỗ nầy.’ Đức Giê-hô-va phán vậy.”
Cũng trong năm ấy, lúc Sê-đê-kia, vua Giu-đa, bắt đầu trị vì vào tháng năm của năm thứ tư, nhà tiên tri Ha-na-nia, con trai A-xua, từ Ga-ba-ôn, nói với tôi trong nhà Đức Giê-hô-va, trước mặt các thầy tế lễ và toàn dân rằng:
“Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: ‘Ta đã bẻ ách của vua Ba-by-lôn.
Trong hai năm nữa, Ta sẽ đem trở về nơi nầy mọi dụng cụ trong nhà Đức Giê-hô-va mà Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đã lấy đi khỏi nơi nầy và mang qua Ba-by-lôn.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Ta cũng đem Giê-cô-nia, con trai Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, và mọi người Giu-đa bị lưu đày qua Ba-by-lôn, trở về tại nơi nầy, vì Ta sẽ bẻ ách của vua Ba-by-lôn.’”
Bấy giờ, trước mặt các thầy tế lễ và tất cả dân chúng đang đứng trong nhà Đức Giê-hô-va, nhà tiên tri Giê-rê-mi đáp lại lời nhà tiên tri Ha-na-nia.
Nhà tiên tri Giê-rê-mi nói: “A-men! Cầu xin Đức Giê-hô-va làm như vậy! Cầu xin Đức Giê-hô-va thực hiện những lời ông vừa tiên báo, và đem những dụng cụ của nhà Đức Giê-hô-va cùng tất cả những người lưu đày từ Ba-by-lôn trở về nơi nầy!
Tuy nhiên, hãy nghe lời tôi nói vào tai ông và toàn thể dân chúng.
Từ xa xưa, các nhà tiên tri trước tôi và ông đã tiên báo về chiến tranh, tai ương, và dịch bệnh giáng trên nhiều xứ và các cường quốc.
Còn nhà tiên tri nào rao báo sự bình an, mà lời tiên tri đó được ứng nghiệm, thì sẽ biết nhà tiên tri đó thật sự do Đức Giê-hô-va sai đến!”
Nhà tiên tri Ha-na-nia tháo cái ách khỏi cổ nhà tiên tri Giê-rê-mi, bẻ gãy ách,
và tuyên bố trước toàn thể dân chúng rằng: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Trong hai năm nữa, Ta cũng sẽ bẻ gãy ách của Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, khỏi cổ mọi dân tộc như vậy.’” Nhà tiên tri Giê-rê-mi bỏ đi.
Sau khi nhà tiên tri Ha-na-nia bẻ chiếc ách khỏi cổ Giê-rê-mi, thì có lời Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi:
“Con hãy đi nói với Ha-na-nia rằng Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Ngươi đã bẻ chiếc ách bằng gỗ nhưng hãy thế vào đó một chiếc ách bằng sắt.
Vì Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: Ta đã đặt ách bằng sắt trên cổ tất cả các nước nầy, để chúng phải phục dịch Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn và chúng đã phải phục dịch vua ấy. Ngay cả thú vật ngoài đồng Ta cũng giao cho vua ấy.’”
Nhà tiên tri Giê-rê-mi nói với Ha-na-nia: “Hỡi Ha-na-nia, hãy nghe! Đức Giê-hô-va không hề sai phái ông, nhưng ông làm cho dân nầy tin cậy vào điều dối trá.
Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán: ‘Nầy, Ta sẽ đuổi ngươi khỏi mặt đất. Chính trong năm nay ngươi sẽ chết vì ngươi đã hô hào nổi loạn chống lại Đức Giê-hô-va.’”
Vào tháng bảy năm ấy, nhà tiên tri Ha-na-nia đã chết.
Đây là lời lẽ trong bức thư mà nhà tiên tri Giê-rê-mi gửi từ Giê-ru-sa-lem cho các trưởng lão còn sót lại trong những người bị lưu đày, cho các thầy tế lễ, các nhà tiên tri và tất cả những người dân bị vua Nê-bu-cát-nết-sa bắt từ Giê-ru-sa-lem đày sang Ba-by-lôn.
Thư viết sau khi vua Giê-cô-nia, thái hậu, các hoạn quan, các thủ lĩnh của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, những người thợ thủ công và thợ rèn đã bị đem khỏi Giê-ru-sa-lem.
Nhà tiên tri giao thư nầy cho Ê-lê-a-sa, con trai Sa-phan, và Ghê-ma-ria, con trai Hinh-kia, là hai người mà Sê-đê-kia, vua Giu-đa, phái sang Ba-by-lôn yết kiến Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn. Thư viết như sau:
“Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán với những người mà Ta khiến phải lưu đày từ Giê-ru-sa-lem qua Ba-by-lôn:
‘Hãy xây nhà mà ở; hãy trồng vườn cây mà ăn trái.
Hãy cưới vợ và sinh con trai con gái. Hãy cưới vợ cho con trai, gả chồng cho con gái để chúng sinh con đẻ cái. Hãy gia tăng dân số tại đó chứ đừng giảm đi.
Hãy tìm cầu sự thịnh vượng cho thành mà Ta đày các con đến. Hãy cầu nguyện với Đức Giê-hô-va cho thành ấy, vì sự thịnh vượng của nó là sự thịnh vượng của các con.’”
Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán rằng: “Đừng để cho bọn tiên tri, bọn thầy bói ở giữa các con lừa dối các con; cũng đừng nghe những kẻ bàn mộng mà mơ mộng hão huyền.
Vì chúng nhân danh Ta mà nói tiên tri để lừa dối các con. Ta chẳng hề sai phái chúng.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: “Khi thời hạn bảy mươi năm cho Ba-by-lôn kết thúc, Ta sẽ thăm viếng các con, sẽ làm trọn lời hứa tốt lành cho các con, và đem các con trở về nơi nầy.”
Đức Giê-hô-va phán: “Vì chính Ta biết chương trình mà Ta hoạch định cho các con; đó là chương trình bình an chứ không phải tai họa, để ban cho các con một tương lai và một hi vọng.
Bấy giờ các con sẽ kêu cầu Ta, chạy đến cầu khẩn Ta, và Ta sẽ nhậm lời các con.
Các con sẽ tìm Ta và gặp được, khi các con tìm kiếm Ta hết lòng.”
Đức Giê-hô-va phán: “Ta sẽ cho các con gặp được Ta và sẽ đem các con về từ chốn lưu đày. Ta sẽ tập hợp các con lại từ mọi nước và mọi nơi mà Ta đã đuổi các con đến. Ta sẽ đem các con về nơi mà từ đó Ta đã lưu đày các con.”
Vì các con nói: “Đức Giê-hô-va đã dấy lên các nhà tiên tri cho chúng ta tại Ba-by-lôn!”
Cho nên, Đức Giê-hô-va phán thế nầy về vị vua đang ngồi trên ngai Đa-vít và dân cư trong thành nầy, cũng như về anh em các con, là những người không bị lưu đày với các con.
Đây là lời Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Nầy, Ta sẽ sai gươm đao, đói kém, và dịch bệnh đến trên chúng; Ta sẽ làm cho chúng giống như những trái vả thối rữa, hư hoại đến nỗi không thể ăn được.
Ta sẽ sai gươm đao, đói kém và dịch bệnh đuổi theo chúng. Ta sẽ biến chúng thành nỗi kinh hoàng cho mọi vương quốc trên đất, một lời nguyền rủa, một thứ ghê tởm, một trò cười, một điều sỉ nhục giữa mọi dân tộc mà Ta đã đuổi chúng đến.”
Đức Giê-hô-va phán: “Đó là vì chúng không nghe lời Ta dù Ta đã liên tục sai các đầy tớ Ta, là các nhà tiên tri, đến với chúng.” Đức Giê-hô-va phán tiếp: “Còn các con cũng không muốn lắng nghe.”
Nhưng, hỡi các con là những kẻ lưu đày mà Ta đã đem từ Giê-ru-sa-lem qua Ba-by-lôn, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va:
“Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán về A-háp, con trai Cô-la-gia, và về Sê-đê-kia, con trai Ma-a-xê-gia, là những kẻ nhân danh Ta nói tiên tri giả dối, rằng: ‘Nầy, Ta sẽ phó chúng vào tay Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn. Vua ấy sẽ giết chúng trước mắt các con.’
Mọi người Giu-đa đang bị lưu đày tại Ba-by-lôn sẽ lấy chuyện hai người ấy làm câu nguyền rủa: ‘Nguyện Đức Giê-hô-va xử ngươi như Sê-đê-kia và A-háp, hai kẻ mà vua Ba-by-lôn đã quay trong lửa!’
Vì chúng đã làm điều đồi bại trong Y-sơ-ra-ên, đã thông dâm với vợ người lân cận, và đã nhân danh Ta phát biểu những lời giả dối mà Ta không hề truyền dạy. Chính Ta là Đấng biết rõ và làm chứng về điều đó.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Còn về Sê-ma-gia ở Nê-hê-lam, con hãy nói như sau:
Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: ‘Ngươi đã nhân danh mình mà gửi thư cho toàn dân ở Giê-ru-sa-lem, cho Sô-phô-ni, con trai thầy tế lễ Ma-a-xê-gia, và cho tất cả thầy tế lễ rằng:
Đức Giê-hô-va đã lập ông làm thầy tế lễ thay cho thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa để cai quản nhà Đức Giê-hô-va, và ra lệnh cùm chân, đeo gông vào cổ mọi kẻ điên dại nổi lên nói tiên tri.
Vậy tại sao ông không khiển trách Giê-rê-mi người A-na-tốt, đang nói tiên tri cho các ông đó?
Chính nó đã gửi thư đến Ba-by-lôn nói với chúng ta: Thời kỳ lưu đày còn lâu lắm; hãy xây nhà mà ở, hãy trồng vườn cây mà ăn trái!’”
Thầy tế lễ Sô-phô-ni đã đọc thư nầy vào tai nhà tiên tri Giê-rê-mi.
Bấy giờ có lời Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi:
“Hãy gửi thông điệp nầy đến toàn thể những người đang bị lưu đày: Đức Giê-hô-va phán về Sê-ma-gia, người Nê-hê-lam như sau: ‘Sê-ma-gia đã nói tiên tri cho các con, làm cho các con tin vào điều dối trá, khi chính Ta không hề sai phái nó.’
Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán: ‘Nầy, Ta sẽ trừng phạt Sê-ma-gia, người Nê-hê-lam, và dòng dõi nó. Không còn một ai trong dòng dõi nó được sống giữa dân nầy. Chính nó cũng sẽ không thấy phước lành Ta sẽ làm cho dân Ta, vì nó đã hô hào phản loạn với Đức Giê-hô-va,’” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đây là lời của Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi:
“Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: ‘Hãy chép mọi lời Ta đã phán với con vào một cuộn sách.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Nầy, những ngày đến Ta sẽ đem dân Y-sơ-ra-ên và dân Giu-đa của Ta trở về từ cảnh lưu đày, Ta sẽ đưa chúng về trong đất mà Ta đã ban cho tổ phụ chúng, và chúng sẽ nhận đất ấy làm sản nghiệp.’ Đức Giê-hô-va phán vậy.”
Đây là những lời Đức Giê-hô-va phán về Y-sơ-ra-ên và Giu-đa:
“Đức Giê-hô-va phán: ‘Chúng ta đã nghe tiếng hốt hoảng Tiếng kinh hoàng, chứ không phải bình an.
Hãy dò hỏi và xem xét Đàn ông có sinh đẻ được không? Tại sao Ta thấy mọi người nam Mặt mày tái xanh Hai tay ôm bụng như đàn bà đang đẻ?
Khốn thay! Ngày ấy thật kinh khiếp Chưa từng có ngày nào như ngày ấy; Đó là thời kỳ khốn đốn cho Gia-cốp! Nhưng nó sẽ được giải cứu khỏi ngày ấy.’
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Trong ngày ấy, Ta sẽ bẻ ách khỏi cổ con; Bứt dây trói cho con, Dân ngoại sẽ không bắt con phục dịch nữa.
Nhưng chúng sẽ phục vụ Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, Và vua mình là Đa-vít Mà Ta sẽ dấy lên cho chúng.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Hỡi Gia-cốp, đầy tớ Ta, đừng sợ. Hỡi Y-sơ-ra-ên, chớ kinh hãi! Vì nầy, Ta sẽ cứu con ra khỏi miền xa xăm, Và dòng dõi con từ chốn lưu đày. Gia-cốp sẽ trở về và sống yên lành an ổn, Không còn sợ hãi ai cả.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Vì Ta ở với con để giải cứu con; Ta sẽ diệt hết các nước Mà Ta đã phân tán các con đến đó, Nhưng với con thì Ta không diệt hết. Con sẽ không tránh khỏi hình phạt Nhưng Ta sẽ sửa phạt con cách công minh.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Thương tích con không được chữa lành, Vết thương con trầm trọng.
Không có ai biện hộ cho con, Thông thường thì vết thương được chữa lành, Nhưng với con thì vô phương cứu chữa.
Tất cả người yêu của con đã quên con, Không quan tâm đến con nữa; Vì Ta đã đánh con bị thương như kẻ thù đánh, Sửa phạt con như kẻ hung bạo sửa phạt, Vì tội lỗi con nghiêm trọng, Gian ác con quá nhiều.
Sao con còn kêu la vì vết thương mình? Nỗi đau của con không thể chữa lành. Vì tội con nghiêm trọng, Gian ác con quá nhiều, Nên Ta phải đối xử với con như thế.
Vì vậy, mọi kẻ nuốt con sẽ bị nuốt; Mọi kẻ thù nghịch con, từng người sẽ bị lưu đày; Những ai bóc lột con sẽ bị bóc lột, Mọi kẻ cướp giật con, Ta sẽ phó cho sự cướp giật.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Ta sẽ phục hồi sức lực cho con, Chữa lành vết thương của con, Vì chúng đã gọi con là kẻ bị ruồng bỏ: “Đó là Si-ôn, chẳng ai ngó ngàng đến!”’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Nầy, Ta sẽ đem lều trại Gia-cốp trở về từ cảnh lưu đày, Ta sẽ thương xót nơi ở nó; Thành nầy sẽ xây lại trên đống hoang tàn, Lâu đài sẽ dựng lại ngay trên vị trí cũ.
Từ nơi chúng vang lên lời tạ ơn Và tiếng reo vui của người hoan hỉ. Ta sẽ làm cho chúng gia tăng, chứ không giảm dần; Ta cũng sẽ làm cho chúng được tôn trọng, chứ chẳng còn nhỏ nhoi.
Con cái chúng sẽ lại như xưa; Hội của chúng sẽ đứng vững trước mặt Ta; Ta sẽ trừng phạt mọi kẻ ức hiếp chúng.
Thủ lĩnh của chúng đến từ chúng, Người cai trị cũng từ chúng mà ra. Ta sẽ đem người ấy lại gần, và nó sẽ đến gần Ta, Vì có ai dám cả gan đến gần Ta? Đức Giê-hô-va phán vậy.
Như vậy, các con sẽ làm dân Ta, Ta sẽ làm Đức Chúa Trời các con.’”
Nầy, cơn bão của Đức Giê-hô-va, Cơn giận của Ngài đã phừng lên, Cơn giông bão quay cuồng Trên đầu kẻ gian ác.
Cơn giận bừng bừng của Đức Giê-hô-va sẽ không nguôi Cho đến khi Ngài thực thi và hoàn tất Mọi ý định trong lòng Ngài. Trong những ngày cuối cùng, Các con sẽ hiểu điều đó.
Đức Giê-hô-va phán: “Đến lúc đó, Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của tất cả các gia tộc Y-sơ-ra-ên, và chúng sẽ làm dân Ta.”
Đức Giê-hô-va phán: “Dân thoát khỏi gươm đao Đã tìm được ân huệ trong hoang mạc, Khi Y-sơ-ra-ên tìm về nơi an nghỉ.”
Từ xa Đức Giê-hô-va đã hiện ra với tôi và phán: “Ta đã yêu thương con bằng tình yêu vĩnh cửu Nên đã lấy lòng nhân từ mà kéo con đến.
Hỡi trinh nữ Y-sơ-ra-ên! Ta sẽ xây con lên và con sẽ được dựng lại; Con sẽ lại trang sức bằng trống cơm, Và ra đi nhảy múa giữa đám người trẩy hội.
Con sẽ lại trồng vườn nho Trên núi Sa-ma-ri, Người trồng cây sẽ trồng Và được hưởng hoa quả.
Sẽ có một ngày, những người canh gác Trên các núi đồi Ép-ra-im hô lên: ‘Nào, chúng ta mau lên núi Si-ôn, Đến với Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta!’”
Đức Giê-hô-va phán: “Hãy trỗi tiếng hoan ca về Gia-cốp; Hãy hò reo vì là dân đứng đầu muôn dân; Hãy truyền rao, tôn ngợi và thưa rằng: ‘Lạy Đức Giê-hô-va, xin giải cứu dân Ngài, Là dân sót lại của Y-sơ-ra-ên.’
Nầy, Ta sẽ đem chúng về từ đất phương bắc, Tụ họp chúng từ tận cùng trái đất. Giữa họ sẽ có kẻ đui, người què, Phụ nữ mang thai và các bà đang sinh đẻ, Cùng hợp thành một hội lớn trở về đây.
Chúng khóc lóc mà đến, Khẩn xin Ta dắt chúng trở về; Ta sẽ đưa chúng đi dọc bờ các sông suối, Trên con đường ngay thẳng, không bị vấp ngã. Vì đối với Y-sơ-ra-ên, Ta là cha, Và Ép-ra-im là con đầu lòng của Ta.
Hỡi các nước, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va; Hãy truyền rao lời Ngài đến các hải đảo xa xăm! Hãy nói: ‘Đấng làm tan lạc Y-sơ-ra-ên sẽ tập trung chúng lại, Canh giữ chúng như người chăn canh giữ bầy chiên.’
Vì Đức Giê-hô-va đã chuộc Gia-cốp, Cứu chúng khỏi tay kẻ mạnh hơn.
Chúng sẽ đến và hát trên nơi cao của Si-ôn; Rạng rỡ về các ơn phước của Đức Giê-hô-va, Về lúa mì, rượu mới, dầu, Về chiên con và bò con; Lòng họ như khu vườn năng tưới, Không còn buồn chán mỏi mệt nữa.
Bấy giờ, các trinh nữ sẽ vui mừng nhảy múa, Thanh niên và các cụ già cùng hân hoan. Ta sẽ đổi sầu thảm của chúng thành nỗi vui mừng, Sẽ an ủi chúng, ban cho chúng niềm vui thay vì nỗi buồn.
Ta sẽ đãi các thầy tế lễ dư dật thức ăn béo; Dân Ta sẽ sung mãn trong ơn lành của Ta,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: “Người ta nghe tại Ra-ma, Tiếng than vãn, khóc lóc đắng cay. Đó là tiếng Ra-chên khóc con cái mình, Không muốn được an ủi về những đứa con, Vì chúng không còn nữa!”
Đức Giê-hô-va phán: “Hãy ngưng tiếng khóc than Lau khô dòng nước mắt, Vì công lao của con sẽ được tưởng thưởng; Chúng sẽ trở về từ xứ của kẻ thù,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: “Sẽ có hi vọng cho tương lai của con; Con cháu con sẽ trở về bờ cõi mình.
Thật, Ta đã nghe tiếng thở than của Ép-ra-im: ‘Ngài đã sửa phạt con, và con bị sửa phạt Như con bò tơ chưa quen ách. Xin Chúa đem con về, thì con sẽ được trở về; Vì Chúa là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con!
Sau khi bị lầm lạc, con đã ăn năn; Sau khi được dạy dỗ, con đã đấm ngực hối hận; Con xấu hổ thẹn thùng Vì đã mang nỗi nhục của tuổi thanh xuân.’
Chẳng phải Ép-ra-im là con yêu dấu của Ta, Đứa con Ta rất mực yêu thương sao? Mỗi lần quở trách nó, Ta vẫn còn nhớ nó lắm. Cho nên lòng Ta yêu mến nó; Ta thương xót nó vô cùng.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Hãy cắm mốc, Dựng bảng chỉ đường; Quan sát kỹ con đường lớn, Con đường mà con đã đi qua. Hỡi các trinh nữ Y-sơ-ra-ên, hãy trở về, Hãy trở về các thành của con!
Hỡi cô gái bất trung, Con còn lang thang đây đó cho đến bao giờ? Vì Đức Giê-hô-va đã làm một điều mới lạ trên đất: Đó là người nữ sẽ bảo bọc người nam.”
Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời Y-sơ-ra-ên, phán: “Khi Ta đem những kẻ lưu đày trở về thì trong đất Giu-đa và các thành nó, người ta sẽ còn nói lời nầy: ‘Hỡi nơi ngự của sự công chính, hỡi núi thánh, Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi!’
Giu-đa và các thành nó sẽ chung sống tại đó, như các nông dân và những người du mục sống chung với đàn gia súc.
Vì Ta đã làm cho lòng mệt mỏi được tươi mới, Mọi kẻ suy yếu được sung mãn.”
Bấy giờ, tôi thức giấc và nhìn quanh, giấc ngủ của tôi thật ngon lành.
Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, những ngày đến, Ta sẽ lấy giống người và giống thú vật mà gieo nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa.
Như Ta đã canh chừng chúng để bứng gốc, phá sập, lật đổ, tiêu diệt và giáng họa thể nào, thì Ta cũng sẽ canh chừng chúng để xây dựng và vun trồng thể ấy,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Trong những ngày đó, người ta sẽ không còn nói: ‘Ông cha ăn trái nho chua Mà con cháu bị ghê răng.’
Nhưng mỗi người sẽ chết vì tội ác của chính mình; ai ăn trái nho chua thì người ấy bị ghê răng.”
Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, những ngày đến, Ta sẽ lập một giao ước mới với nhà Y-sơ-ra-ên và với nhà Giu-đa.
Giao ước nầy sẽ không giống giao ước mà Ta đã lập với tổ phụ chúng trong ngày Ta nắm tay dắt chúng ra khỏi Ai Cập, là giao ước mà chúng đã phá vỡ, dù Ta là Chồng của chúng,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: “Đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật pháp Ta vào lòng dạ chúng và khắc ghi lên tâm khảm chúng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của chúng và chúng sẽ làm dân Ta.
Chúng sẽ không còn phải dạy bảo người lân cận hay anh em mình rằng: ‘Hãy nhận biết Đức Giê-hô-va!’, vì tất cả đều sẽ biết Ta, từ người nhỏ nhất đến người lớn nhất,” Đức Giê-hô-va phán: “Vì Ta sẽ tha thứ gian ác chúng và không nhớ đến tội lỗi chúng nữa.”
Đức Giê-hô-va là Đấng ban mặt trời làm ánh sáng ban ngày, Ấn định quy luật cho mặt trăng, và các ngôi sao soi sáng ban đêm; Đấng khuấy động biển cả cho sóng gió gào thét, Danh Ngài là Đức Giê-hô-va vạn quân, phán rằng:
“Chỉ khi nào quy luật đó Biến mất trước mặt Ta, Thì bấy giờ dòng giống Y-sơ-ra-ên Mới vĩnh viễn không còn là một dân tộc trước mặt Ta nữa.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: “Nếu có ai đo được các tầng trời trên cao, Hay dò được các nền đất bên dưới; Thì Ta sẽ từ bỏ cả dòng giống Y-sơ-ra-ên Vì mọi việc chúng đã làm,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, những ngày đến, khi thành được xây lại cho Đức Giê-hô-va, từ tháp Ha-na-nê-ên đến Cổng Góc.
Dây đo sẽ giăng thẳng đến đồi Ga-rép, và vòng qua đất Gô-a.
Toàn bộ thung lũng chôn xác chết và tro, tất cả cánh đồng chạy đến suối Xết-rôn và đến góc Cổng Ngựa về phía đông, đều sẽ được biệt ra thánh cho Đức Giê-hô-va. Thành ấy sẽ vĩnh viễn không bị đào lên hay phá đổ nữa.”
Vào năm thứ mười triều vua Sê-đê-kia nước Giu-đa, tức là năm thứ mười tám triều vua Nê-bu-cát-nết-sa, có lời của Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi.
Bấy giờ, quân đội của vua Ba-by-lôn bao vây thành Giê-ru-sa-lem, còn nhà tiên tri Giê-rê-mi đang bị giam trong sân vệ binh tại cung điện vua Giu-đa.
Sê-đê-kia, vua Giu-đa, đã giam ông và nói: “Tại sao ngươi dám nói tiên tri là Đức Giê-hô-va phán: ‘Nầy, Ta sẽ phó thành nầy vào tay vua Ba-by-lôn và vua ấy sẽ chiếm thành;
Sê-đê-kia, vua Giu-đa, sẽ không thoát khỏi tay người Canh-đê, nhưng sẽ bị nộp vào tay vua Ba-by-lôn. Sê-đê-kia sẽ thấy tận mắt và nói chuyện mặt đối mặt với vua ấy.
Sê-đê-kia sẽ bị giải về Ba-by-lôn và ở đó cho đến khi Ta thăm viếng; dù các ngươi có kháng cự cũng sẽ không thắng nổi người Canh-đê.’ Đức Giê-hô-va phán vậy?”.
Giê-rê-mi nói: “Có lời của Đức Giê-hô-va phán với tôi rằng:
Nầy Ha-na-mê-ên, con trai chú Sa-lum của con, sẽ đến gặp con và nói: ‘Anh hãy mua đám ruộng của tôi tại A-na-tốt, vì anh có quyền chuộc để mua ruộng ấy.’
Ha-na-mê-ên, con trai chú tôi, vâng lời Đức Giê-hô-va đến gặp tôi trong sân vệ binh và nói: ‘Tôi xin anh mua lại đám ruộng của tôi ở A-na-tốt, trong đất Bên-gia-min, vì anh có quyền chuộc và sở hữu ruộng ấy; xin anh mua giùm đi.’ Bấy giờ, tôi nhận biết đó là lời của Đức Giê-hô-va.
Vậy tôi mua ruộng ở A-na-tốt của Ha-na-mê-ên, con trai chú tôi, và tôi đã cân cho anh ta gần hai trăm gam bạc.
Tôi viết tờ khế ước, niêm phong lại, mời người làm chứng rồi cân bạc trên cân.
Tôi lấy khế ước bán, gồm có bản đã niêm phong với các điều khoản và quy định, và bản không niêm phong
và trao cho Ba-rúc, con trai Nê-ri-gia, cháu Ma-a-xê-gia, trước mặt Ha-na-mê-ên, con trai chú tôi, và trước mặt những người làm chứng đã ký tên vào khế ước, cũng như trước mặt mọi người Giu-đa đang ngồi trong sân vệ binh.
Trước mặt họ, tôi dặn Ba-rúc rằng:
Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: ‘Hãy lấy các khế ước nầy, cả khế ước niêm phong lẫn khế ước không niêm phong, cất vào một chiếc bình gốm, để chúng được bảo quản lâu ngày.’
Vì Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: ‘Người ta sẽ còn mua nhà cửa, ruộng đất, và vườn nho trong xứ nầy.’
Sau khi trao khế ước cho Ba-rúc, con trai Nê-ri-gia, tôi cầu nguyện với Đức Giê-hô-va rằng:
‘Lạy Chúa Giê-hô-va! Chính Ngài đã dùng quyền năng lớn lao và cánh tay quyền uy mà dựng nên trời và đất! Không có việc gì khó quá cho Ngài.
Ngài bày tỏ lòng nhân ái đến nghìn đời, nhưng phạt tội cha ông đến đời con cháu. Ôi! Ngài là Đức Chúa Trời vĩ đại và quyền uy, danh Ngài là Đức Giê-hô-va vạn quân!.
Kế hoạch của Ngài thật lớn lao, công việc Ngài đầy quyền năng. Mắt Ngài soi thấu mọi đường lối của con cái loài người để ban thưởng cho mỗi người tùy theo đường lối và kết quả công việc họ làm.
Ngài đã thực hiện các dấu kỳ phép lạ trong đất Ai Cập, và cho đến ngày nay Ngài vẫn tiếp tục trong Y-sơ-ra-ên cũng như trong mọi nơi khác; Ngài đã làm cho danh Ngài nổi tiếng như hiện nay.
Ngài đã dùng những dấu kỳ phép lạ, đưa bàn tay mạnh mẽ và cánh tay dang ra, gây bao nỗi kinh hoàng mà đem dân Y-sơ-ra-ên của Ngài ra khỏi Ai Cập.
Ngài ban cho chúng đất nầy, một miền đất đượm sữa và mật, mà Ngài đã thề ban cho tổ phụ của chúng.
Chúng đã vào và nhận đất nầy làm sản nghiệp, nhưng không vâng theo tiếng Ngài, không sống theo luật pháp Ngài, không thực hành một điều nào trong mọi điều mà Ngài dặn bảo. Vì vậy, Ngài đã giáng mọi tai ương nầy trên chúng.
Kìa, các ụ đã đắp sát thành để chiếm thành. Vì gươm đao, đói kém, dịch bệnh, nên thành bị rơi vào tay người Canh-đê đang tranh chiến với nó. Điều Ngài phán đã xảy ra, và chính Ngài thấy rõ!
Lạy Chúa Giê-hô-va, Ngài đã phán với con: “Hãy lấy bạc mua thửa ruộng nầy, và mời người làm chứng.” Thế mà thành đã rơi vào tay người Canh-đê!’”
Có lời Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi:
“Nầy, Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của mọi loài xác thịt; có việc gì khó quá cho Ta chăng?
Vì thế, Đức Giê-hô-va phán: Nầy, Ta sẽ phó thành nầy vào tay người Canh-đê, vào tay Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, và vua ấy sẽ chiếm thành.
Những người Canh-đê đang tấn công thành nầy sẽ đến phóng hỏa đốt thành, thiêu hủy các nhà mà người ta dâng hương cho Ba-anh trên mái và làm lễ quán cho các thần khác, để chọc giận Ta.
Vì từ thuở niên thiếu, con cái Y-sơ-ra-ên và con cái Giu-đa chỉ biết làm điều gian ác dưới mắt Ta. Thật, con cái Y-sơ-ra-ên chỉ biết chọc giận Ta bằng những công việc tay chúng làm, Đức Giê-hô-va phán vậy.
Từ ngày được xây lên cho đến ngày nay, thành nầy đã làm cho Ta bực tức và giận dữ. Ta muốn loại bỏ nó khỏi mặt Ta
vì mọi điều ác mà con cái Y-sơ-ra-ên và con cái Giu-đa, chính chúng, vua chúa, các thủ lĩnh, các thầy tế lễ, các nhà tiên tri của chúng, cả người Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem đã làm để chọc giận Ta,
Chúng không quay mặt mà quay lưng lại với Ta. Dù Ta có thường xuyên khuyên dạy chúng, chúng vẫn không nghe, không tiếp nhận lời dạy dỗ.
Chúng đã đặt những vật ghê tởm trong nhà được gọi bằng danh Ta, để làm cho ô uế.
Chúng đã xây các nơi cao của Ba-anh trong thung lũng Ben Hi-nôm để dâng con trai con gái mình cho Mo-lóc. Đó là điều mà Ta không truyền dạy, cũng không nghĩ rằng chúng có thể làm điều ghê tởm như thế để gây cho Giu-đa phạm tội.
Vì thế, bây giờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán về thành mà các ngươi nói rằng nó đã rơi vào tay vua Ba-by-lôn bởi gươm đao, đói kém, dịch bệnh, như sau:
‘Nầy, Ta sẽ tập hợp chúng từ mọi nước mà Ta đã đuổi chúng đến trong cơn bực tức, giận dữ và thịnh nộ. Ta sẽ đem chúng trở về nơi nầy và cho chúng an cư lạc nghiệp.
Chúng sẽ làm dân Ta, và Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của chúng.
Ta sẽ ban cho chúng cùng một tấm lòng, cùng một đường lối để chúng kính sợ Ta trọn đời, nhờ đó chính chúng và dòng dõi con cháu chúng đều được phước.
Ta sẽ lập với chúng một giao ước đời đời: Ta sẽ không lìa bỏ chúng và không ngừng ban phước cho chúng. Ta sẽ đặt sự kính sợ Ta vào lòng chúng để chúng không lìa bỏ Ta nữa.
Ta sẽ lấy làm vui mà ban phước cho chúng, hết lòng hết sức mà trồng chúng bền vững trong đất nầy.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Như Ta đã giáng mọi tai vạ khủng khiếp trên dân nầy, Ta cũng sẽ giáng trên chúng mọi phước lành mà Ta đã hứa với chúng.
Người ta sẽ mua ruộng trong xứ nầy, xứ mà các con bảo: “Đó là nơi hoang vu, không có loài người, cũng không có loài thú, đã rơi vào tay người Canh-đê.”
Người ta sẽ dùng bạc mua ruộng, lập khế ước bán, niêm phong lại, mời người làm chứng trong đất Bên-gia-min và vùng phụ cận Giê-ru-sa-lem, trong các thành Giu-đa và trong các thành miền núi, vùng Sơ-phê-la và vùng Nê-ghép. Vì Ta sẽ đem chúng trở về từ cảnh lưu đày.’” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Trong khi Giê-rê-mi còn bị giam trong sân vệ binh, thì có lời của Đức Giê-hô-va phán với ông lần thứ hai rằng:
“Đức Giê-hô-va là Đấng làm nên việc nầy, Đức Giê-hô-va là Đấng hình thành và tạo lập việc nầy, danh Ngài là Giê-hô-va, phán:
‘Hãy kêu cầu Ta, Ta sẽ trả lời con; Ta sẽ tỏ cho con những việc lớn và khó, là những việc con chưa từng biết.’
Về nhà cửa trong thành nầy và cung điện của vua Giu-đa mà người ta đã phá đi để xây dựng phòng tuyến chống lại các đồn lũy và gươm đao của giặc, thì Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán thế nầy:
‘Khi giao chiến với quân Canh-đê, nhà cửa nầy sẽ đầy dẫy xác của những kẻ mà Ta đã giết trong cơn bực tức và giận dữ; vì dân nầy hung ác mà Ta ngoảnh mặt khỏi thành đó.
Tuy nhiên, Ta sẽ phục hồi sức lực và chữa lành cho thành. Ta sẽ chữa lành cho dân chúng, sẽ tỏ cho chúng thấy cảnh thịnh vượng và yên ổn lâu dài.
Ta sẽ đem kẻ lưu đày Giu-đa và Y-sơ-ra-ên trở về; tái lập chúng như thuở ban đầu.
Ta sẽ thanh tẩy mọi gian ác chúng đã phạm với Ta, tha thứ mọi tội lỗi mà chúng đã phạm cũng như tội nổi loạn chống lại Ta.
Thành nầy sẽ đem lại cho Ta một danh hiệu vui mừng, một lời ca ngợi và một niềm vinh quang trước muôn dân trên đất. Khi nghe mọi điều tốt lành mà Ta làm cho chúng, các dân tộc đều sẽ sợ hãi và run rẩy trước mọi phước lành và bình an mà Ta sẽ ban cho chúng.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Trong chốn nầy là nơi mà các ngươi nói: “Đó là một nơi hoang vu, không còn có loài người, cũng không có loài thú;” trong các thành của Giu-đa và các đường phố Giê-ru-sa-lem, tức những nơi đã bị hoang vu, không có người, không có dân cư, cũng không có loài thú,
người ta sẽ nghe lại tiếng reo hò mừng rỡ, tiếng của chú rể và cô dâu, tiếng hát của những người đem tế lễ tạ ơn vào nhà Đức Giê-hô-va: “Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va vạn quân, Vì Đức Giê-hô-va là nhân từ, Tình thương vững bền của Ngài còn đời đời!” Vì Ta sẽ đem kẻ lưu đày của đất nầy trở về, phục hồi như trước,’ Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Trong chỗ hoang vu nầy, nơi không có bóng người hay thú vật, và trong mọi thành của nó, sẽ lại có những đồng cỏ cho người chăn chiên đem bầy mình đến nghỉ ngơi.
Trong các thành ở miền núi, các thành ở Sơ-phê-la và các thành ở Nê-ghép, trong đất Bên-gia-min, trong các làng phụ cận Giê-ru-sa-lem và trong các thành Giu-đa, những bầy chiên sẽ lại đi qua dưới tay người đếm,’ Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va lại phán: ‘Nầy, những ngày đến, Ta sẽ làm ứng nghiệm lời tốt lành mà Ta đã hứa với nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa.
Trong những ngày ấy và vào thời đó, Ta sẽ khiến một Nhánh công chính đâm chồi từ dòng Đa-vít; Đấng ấy sẽ thi hành lẽ công bình, chính trực trong đất nầy.
Trong những ngày đó, Giu-đa sẽ được giải cứu và Giê-ru-sa-lem sẽ sống yên ổn; thành sẽ mang tên là: Đức Giê-hô-va, sự công chính của chúng ta.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Đa-vít sẽ chẳng thiếu người ngự trên ngai nhà Y-sơ-ra-ên;
các thầy tế lễ dòng Lê-vi cũng sẽ không thiếu người phục vụ trước mặt Ta để dâng tế lễ thiêu, đốt tế lễ chay, và dâng sinh tế hằng ngày.’”
Lại có lời Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi:
“Đức Giê-hô-va phán thế nầy: ‘Nếu các ngươi có thể phá vỡ giao ước của Ta với ngày và giao ước của Ta với đêm, đến nỗi ngày và đêm không đến đúng kỳ của nó,
thì giao ước giữa Ta với Đa-vít, đầy tớ Ta, mới bị phá vỡ, tức là không có con cháu người trị vì trên ngai nữa, và giao ước giữa Ta với các thầy tế lễ dòng Lê-vi, những đầy tớ Ta, cũng vậy.
Không ai có thể đếm được các tinh tú trên trời và lường hết cát dưới biển; Ta cũng sẽ làm cho con cháu Đa-vít, đầy tớ ta, và con cháu Lê-vi, kẻ phục vụ Ta, đông nhiều như vậy.’”
Lời của Đức Giê-hô-va lại đến với Giê-rê-mi:
“Con không để ý đến những gì dân nầy nói sao? Chúng nói: ‘Đức Giê-hô-va đã từ bỏ hai gia tộc mà Ngài đã chọn.’ Như vậy, chúng khinh dể dân Ta, không xem dân nầy là một dân nữa!
Đức Giê-hô-va phán: ‘Nếu Ta không lập giao ước với ngày và đêm, và không lập định luật cho trời và đất,
thì Ta sẽ từ bỏ dòng dõi của Gia-cốp và Đa-vít, đầy tớ Ta, và sẽ không chọn một ai trong dòng dõi người cai trị con cháu Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Vì Ta sẽ đem những kẻ lưu đày trở về và thương xót chúng.’”
Đây là lời từ Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi khi Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, cùng toàn thể quân lực của vua ấy, mọi vương quốc trên đất và mọi dân tộc dưới quyền cai trị của vua ấy, tấn công Giê-ru-sa-lem và các thành phụ cận.
Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: “Con hãy đến nói với Sê-đê-kia, vua Giu-đa, rằng Đức Giê-hô-va phán: ‘Nầy, Ta sẽ phó thành nầy vào tay vua Ba-by-lôn, vua ấy sẽ phóng hỏa đốt thành.
Chính ngươi sẽ không thoát khỏi tay vua ấy nhưng sẽ bị bắt và nộp vào tay vua ấy. Ngươi sẽ thấy tận mắt vua Ba-by-lôn, nói chuyện mặt đối mặt với vua ấy và ngươi sẽ phải đi qua Ba-by-lôn.’
Tuy nhiên, hỡi Sê-đê-kia, vua Giu-đa, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va! Đức Giê-hô-va phán về vua như sau: ‘Ngươi sẽ không chết vì gươm,
nhưng sẽ chết bình an. Người ta sẽ đốt nhang cho ngươi như đã đốt cho tổ phụ ngươi, tức các vua tiền nhiệm của ngươi và sẽ thương khóc ngươi: “Ôi, chúa ôi!” Chính Ta phán lời nầy, Đức Giê-hô-va phán vậy.’”
Nhà tiên tri Giê-rê-mi nói mọi lời ấy với Sê-đê-kia, vua Giu-đa, tại Giê-ru-sa-lem,
trong lúc quân của vua Ba-by-lôn đang tiến đánh Giê-ru-sa-lem và các thành còn lại của Giu-đa, tức là La-ki và A-xê-ca; vì trong các thành của Giu-đa chỉ còn sót lại hai thành kiên cố nầy.
Sau khi vua Sê-đê-kia lập giao ước với toàn dân tại Giê-ru-sa-lem, công bố tự do cho chúng thì có lời của Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi:
“Mọi người đều phải phóng thích các nô lệ Hê-bơ-rơ, cả nam lẫn nữ, không ai được giữ người Giu-đa, anh em mình, làm nô lệ nữa.
Tất cả các thủ lĩnh và dân chúng đều dự vào giao ước ấy, mỗi người phải trả tự do cho nô lệ mình, nam cũng như nữ, không được giữ lại để làm nô lệ nữa.” Họ đã vâng lời và trả tự do cho các nô lệ.
Nhưng sau đó họ lại đổi ý, bắt lại những nô lệ nam cũng như nữ mà họ đã trả tự do đó về làm nô lệ như trước.
Sau việc đó, có lời của Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi:
“Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Khi đem tổ phụ các ngươi ra khỏi Ai Cập, khỏi nhà nô lệ, Ta đã lập giao ước với họ rằng:
‘Đến năm thứ bảy, mỗi người trong các ngươi phải trả tự do cho người anh em Hê-bơ-rơ đã bị bán cho ngươi. Sau sáu năm phục dịch, ngươi phải trả tự do cho người ấy.’ Nhưng tổ phụ các ngươi không vâng lời, cũng không lắng tai nghe Ta.
Gần đây, các ngươi đã trở lại và làm điều ngay thẳng dưới mắt Ta khi công bố tự do cho người lân cận mình. Các ngươi đã lập giao ước trước mặt Ta, trong nhà được gọi bằng danh Ta.
Nhưng các ngươi lại đổi ý và xúc phạm danh Ta. Các ngươi đã bắt lại các nô lệ, nam cũng như nữ, mà mình đã trả tự do theo ước nguyện của họ, ép họ trở lại làm nô lệ cho mình như trước.
Vì thế, Đức Giê-hô-va phán: ‘Các ngươi đã chẳng nghe Ta, không người nào công bố trả tự do cho anh em và người lân cận mình.’ Đức Giê-hô-va phán: ‘Nầy, Ta cũng công bố “tự do” cho các ngươi, nghĩa là để mặc các ngươi cho gươm đao, dịch lệ, đói kém, khiến các ngươi trở nên kinh tởm cho các vương quốc trên thế gian.
Những kẻ đã vi phạm giao ước Ta, không tuân giữ các điều khoản trong giao ước đã lập trước mặt Ta, thì Ta sẽ làm cho chúng như con bò tơ mà chúng mổ làm đôi và đi qua giữa hai phần.
Thật, các thủ lĩnh Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, các hoạn quan, các thầy tế lễ, và toàn dân trong xứ đã đi qua giữa hai phần con bò tơ.
Ta sẽ phó chúng vào tay kẻ thù và những kẻ muốn hại mạng sống chúng. Thây của chúng sẽ làm thức ăn cho loài chim trời và thú vật trên đất.
Ta cũng sẽ phó Sê-đê-kia vua Giu-đa, và các thủ lĩnh vua ấy vào tay kẻ thù và kẻ muốn hại mạng sống chúng, tức là vào tay quân của vua Ba-by-lôn đang rút khỏi các ngươi.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Nầy, Ta sẽ truyền lệnh cho chúng quay lại thành nầy; chúng sẽ đánh, sẽ chiếm, và phóng hỏa đốt thành. Ta sẽ làm cho các thành Giu-đa trở nên hoang tàn, không có dân ở.’”
Vào thời Giê-hô-gia-kim, con trai Giô-si-a, vua Giu-đa, có lời từ Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi rằng:
“Con hãy đến gặp và nói chuyện với nhà của người Rê-cáp, mời họ đến nhà Đức Giê-hô-va, đưa họ vào một phòng nào đó và cho họ uống rượu.”
Vì thế tôi đem Gia-a-xa-nia, con trai Giê-rê-mi, cháu Ha-bát-si-nia, các anh em, tất cả con trai của ông, và cả nhà Rê-cáp
vào nhà Đức Giê-hô-va. Tôi đưa họ đến phòng của các con trai Ha-nan, con trai Gi-đa-lia, người của Đức Chúa Trời, cạnh phòng các thủ lĩnh, bên trên phòng của Ma-a-xê-gia, con trai Sa-lum, là người giữ cửa.
Tôi dọn các bình rượu đầy và chén trước mặt con cháu nhà người Rê-cáp, rồi nói: “Xin mời các ông uống rượu!”
Nhưng họ trả lời: “Chúng tôi không uống rượu, vì tổ phụ chúng tôi là Giô-na-đáp, con trai Rê-cáp đã truyền dạy chúng tôi rằng: ‘Các con và con cháu các con đừng bao giờ uống rượu,
cũng đừng xây nhà, đừng gieo giống, đừng trồng hay mua vườn nho; nhưng suốt đời các con cứ sống trong lều trại để các con được sống lâu trên đất mà mình đang tạm cư.’
Chúng tôi vâng theo mọi lời của Giô-na-đáp, con trai Rê-cáp, tổ phụ chúng tôi truyền dạy. Trọn đời chúng tôi, vợ, con trai, con gái chúng tôi đều không uống rượu.
Chúng tôi cũng không xây nhà để ở, cũng không có vườn nho, ruộng đồng, và hột giống,
nhưng cứ ở trong lều trại. Chúng tôi đã vâng lời và làm theo mọi điều tổ phụ chúng tôi là Giô-na-đáp truyền dạy.
Nhưng khi Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, tấn công xứ sở nầy, chúng tôi nói với nhau: ‘Hãy lên Giê-ru-sa-lem để tránh quân Canh-đê và quân Sy-ri.’ Vì vậy, chúng tôi đến sống tại Giê-ru-sa-lem.”
Bấy giờ có lời Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi:
“Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: Hãy đi nói với người Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem rằng: Đức Giê-hô-va phán: ‘Các ngươi không tiếp nhận sự sửa dạy, và không nghe lời Ta sao?
Lời của Giô-na-đáp, con trai Rê-cáp, truyền dạy con cháu không được uống rượu đã được tuân giữ. Cho đến nay chúng không uống rượu vì đã vâng theo mệnh lệnh của tổ phụ mình. Còn Ta, Ta thường xuyên phán dạy các ngươi mà các ngươi không vâng lời Ta.
Ta đã liên tục sai tất cả đầy tớ Ta, tức các nhà tiên tri, đến nói với các ngươi: “Mỗi người trong các ngươi phải từ bỏ con đường xấu xa và sửa đổi việc làm của các ngươi. Đừng đi theo để phục vụ các thần khác, thì các ngươi sẽ ở trong đất mà Ta đã ban cho các ngươi và tổ phụ các ngươi.” Nhưng các ngươi chẳng để tai vào, và chẳng vâng lời Ta.
Con cháu của Giô-na-đáp, con trai Rê-cáp, đã vâng giữ lời tổ phụ mình truyền dạy, nhưng dân nầy chẳng vâng lời Ta.’
Vì vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: ‘Nầy, Ta sẽ giáng trên Giu-đa và toàn thể dân cư thành Giê-ru-sa-lem mọi tai họa mà Ta đã báo trước cho chúng, vì Ta nói mà chúng không nghe, Ta gọi mà chúng không trả lời.’”
Còn với nhà người Rê-cáp, Giê-rê-mi nói: “Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: ‘Vì các ngươi đã vâng theo mệnh lệnh của tổ phụ mình là Giô-na-đáp, tuân giữ mọi lời răn dạy của người, và làm theo mọi điều người truyền dạy các ngươi.’
nên Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán thế nầy: ‘Giô-na-đáp, con trai Rê-cáp, sẽ chẳng bao giờ thiếu người đứng trước mặt Ta.’”
Vào năm thứ tư đời Giê-hô-gia-kim, con trai Giô-si-a, vua Giu-đa, có lời Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi:
“Con hãy lấy một cuộn sách và chép vào đó mọi lời Ta đã phán với con về Y-sơ-ra-ên, Giu-đa, và tất cả các nước, từ ngày Ta phán với con dưới đời Giô-si-a cho đến ngày nay.
Có lẽ khi người Giu-đa biết mọi tai họa Ta định giáng trên chúng, chúng sẽ trở lại, mỗi người từ bỏ con đường xấu xa của mình, và Ta sẽ tha thứ mọi gian ác và tội lỗi của chúng.”
Giê-rê-mi gọi Ba-rúc, con trai Nê-ri-gia, đến. Giê-rê-mi đọc cho Ba-rúc ghi chép vào cuộn sách mọi lời Đức Giê-hô-va phán với ông.
Giê-rê-mi dặn Ba-rúc: “Tôi bị ngăn cấm, không thể vào nhà Đức Giê-hô-va được.
Vì thế vào ngày kiêng ăn, chính anh hãy vào nhà Đức Giê-hô-va và đọc cho dân chúng nghe lời Đức Giê-hô-va trong cuộn sách mà tôi đã đọc cho anh chép. Anh cũng đọc cho cả dân Giu-đa đến từ các thành nghe nữa.
Có lẽ họ sẽ trở lại kêu cầu Đức Giê-hô-va và từ bỏ đường lối gian ác mình, vì cơn tức giận và thịnh nộ mà Đức Giê-hô-va đã công bố cho dân nầy thật là kinh khủng.”
Ba-rúc, con trai Nê-ri-gia, làm theo mọi điều nhà tiên tri Giê-rê-mi dặn bảo, đọc lời Đức Giê-hô-va trong cuộn sách, tại nhà Đức Giê-hô-va.
Vào tháng chín, năm thứ năm đời Giê-hô-gia-kim, con trai Giô-si-a, vua Giu-đa, tất cả dân thành Giê-ru-sa-lem và dân chúng từ các thành Giu-đa đến Giê-ru-sa-lem, đều công bố kỳ kiêng ăn trước mặt Đức Giê-hô-va.
Tại nhà Đức Giê-hô-va, trong phòng Ghê-ma-ria, con trai thư ký Sa-phan, là phòng nằm trên sân thượng, cạnh Cổng Mới nhà Đức Giê-hô-va, Ba-rúc đọc cho toàn dân nghe mọi lời của Giê-rê-mi từ trong sách.
Khi Mi-chê, con trai Ghê-ma-ria, cháu Sa-phan, nghe đọc xong mọi lời của Đức Giê-hô-va từ trong sách,
liền đi xuống cung vua, vào phòng thư ký. Tất cả các thủ lĩnh đều họp tại đó: Thư ký Ê-li-sa-ma, Đê-la-gia con trai Sê-ma-gia, Ên-na-than con trai Ạc-bồ, Ghê-ma-ria con trai Sa-phan, Sê-đê-kia con trai Ha-na-nia, và tất cả các thủ lĩnh.
Mi-chê thuật cho họ mọi lời mình đã nghe khi Ba-rúc đọc sách vào tai dân chúng.
Bấy giờ, các thủ lĩnh sai Giê-hu-đi, con trai Nê-tha-nia cháu Sê-lê-mia, chắt Cu-si, đến gặp Ba-rúc, và nói: “Hãy đem đến đây cuộn sách mà ông đã đọc cho dân chúng nghe.” Ba-rúc, con trai Nê-ri-gia, cầm cuộn sách trong tay và đến gặp họ.
Họ bảo ông: “Xin ông ngồi và đọc cho chúng tôi nghe.” Ba-rúc đọc cho họ nghe.
Nhưng, sau khi nghe xong mọi lời, họ lo sợ nhìn nhau rồi nói với Ba-rúc: “Chúng ta phải trình với vua tất cả những điều nầy.”
Rồi họ gạn hỏi Ba-rúc: “Hãy cho chúng tôi biết làm sao ông chép được những lời nầy? Có phải ông ấy đọc cho ông không?”
Ba-rúc đáp: “Ông ấy đọc cho tôi những lời nầy, và tôi dùng mực chép vào cuộn sách.”
Các thủ lĩnh nói với Ba-rúc: “Ông và ông Giê-rê-mi hãy đi trốn đi, đừng để ai biết các ông ở đâu.”
Các thủ lĩnh để cuộn sách trong phòng thư ký Ê-li-sa-ma, rồi vào gặp vua tại sân chầu và thuật cho vua tất cả sự việc.
Vua sai Giê-hu-đi đem sách đến. Giê-hu-đi lấy cuộn sách từ phòng thư ký Ê-li-sa-ma và đọc cho vua cùng tất cả các quan trưởng đứng chầu bên vua nghe.
Bấy giờ là tháng chín, vua đang ngự trong cung mùa đông, trước mặt vua có lò sưởi đang cháy.
Mỗi lần Giê-hu-đi đọc được ba bốn cột trong sách, thì vua lấy dao rọc giấy cắt đi và ném vào lửa trong lò sưởi, cho đến khi cả cuộn sách cháy rụi trong lò sưởi.
Vua và các thuộc hạ đã nghe tất cả những lời đó, nhưng không một ai lo sợ hay xé áo mình.
Dù Ên-na-than, Đê-la-gia và Ghê-ma-ria đều cầu xin vua đừng đốt cuộn sách đó, nhưng vua không nghe.
Vua ra lệnh cho Giê-rác-mê-ên, con trai Ham-mê-léc, cho Sê-ra-gia, con trai Át-ri-ên, và cho Sê-lê-mia, con trai Áp-đê-ên, đi bắt thư ký Ba-rúc và nhà tiên tri Giê-rê-mi; nhưng Đức Giê-hô-va giấu hai ông.
Sau khi vua đốt cuộn sách có những lời mà Ba-rúc đã chép lại theo lời đọc từ miệng Giê-rê-mi, thì có lời Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi như sau:
“Con hãy lấy một cuộn khác và chép lại tất cả những lời đã chép trong cuộn trước mà Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, đã đốt.
Còn về Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, con hãy nói: Đức Giê-hô-va phán: ‘Ngươi đã đốt cuộn sách nầy và nói: Sao ngươi dám chép rằng vua Ba-by-lôn chắc chắn sẽ đến tàn phá xứ nầy và tiêu diệt cả người lẫn súc vật?’
Vì lý do đó, Đức Giê-hô-va phán về Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa rằng: ‘Nó sẽ chẳng có ai ngồi trên ngai Đa-vít; xác nó sẽ bị dang nắng ban ngày, và dầm sương ban đêm.
Ta sẽ trừng phạt nó, dòng dõi nó và quần thần nó, vì gian ác của chúng. Ta sẽ giáng trên chúng, trên dân cư Giê-ru-sa-lem và người Giu-đa, mọi tai họa mà Ta đã báo cho chúng nhưng chúng không thèm nghe.’”
Giê-rê-mi lấy một cuộn khác đưa cho thư ký Ba-rúc, con trai Nê-ri-gia. Ba-rúc chép lại mọi lời từ miệng Giê-rê-mi đã được chép trong cuộn sách mà Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, đã đốt trong lửa. Ông còn thêm vào đó một số lời tương tự.
Sê-đê-kia, con trai Giô-si-a, được Nê-bu-cát-nết-sa vua Ba-by-lôn lập làm vua Giu-đa thay cho Giê-cô-nia, con trai Giê-hô-gia-kim.
Nhưng cả vua cùng quần thần và dân chúng trong xứ đều không nghe lời Đức Giê-hô-va phán qua nhà tiên tri Giê-rê-mi.
Vua Sê-đê-kia sai Giê-hu-can, con trai Sê-lê-mia, và thầy tế lễ Sô-phô-ni, con trai Ma-a-xê-gia, đến nói với nhà tiên tri Giê-rê-mi: “Xin ông vì chúng tôi cầu khẩn Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta.”
Bấy giờ, Giê-rê-mi còn đang đi lại giữa dân chúng, chưa bị giam giữ.
Trong khi đang bao vây Giê-ru-sa-lem, quân Canh-đê được tin quân của Pha-ra-ôn đã xuất chinh từ Ai Cập, nên chúng rút lui khỏi Giê-ru-sa-lem.
Bấy giờ, có lời Đức Giê-hô-va phán với nhà tiên tri Giê-rê-mi:
“Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: ‘Các ngươi hãy nói lại với vua Giu-đa, người đã sai các ngươi đến cầu hỏi Ta, rằng: Nầy, quân Pha-ra-ôn đã lên cứu các ngươi sẽ phải quay về xứ sở chúng là Ai Cập.
Quân Canh-đê sẽ quay lại đánh thành nầy. Chúng sẽ chiếm và phóng hỏa đốt thành.’”
Đức Giê-hô-va phán: “Các ngươi đừng tự dối mình rằng: ‘Quân Canh-đê chắc chắn sẽ rút khỏi chúng ta,’ vì chúng sẽ không rút đi đâu.
Dù các ngươi có đánh bại cả đạo quân Canh-đê khi chúng giao chiến với các ngươi đến nỗi trong trại chúng chỉ còn lại các thương binh, thì mỗi người cũng sẽ trỗi dậy phóng hỏa đốt thành nầy.”
Sau khi quân Canh-đê rút khỏi Giê-ru-sa-lem vì đạo quân Pha-ra-ôn đang tiến đánh,
thì Giê-rê-mi ra khỏi Giê-ru-sa-lem, đến đất Bên-gia-min để nhận phần sản nghiệp của mình giữa dân đó.
Nhưng khi nhà tiên tri Giê-rê-mi đến cổng Bên-gia-min thì một cảnh vệ tên là Gi-rê-gia, con trai Sê-lê-mia, cháu Ha-na-nia đã bắt ông và nói: “Ông là kẻ trốn chạy sang quân Canh-đê!”
Giê-rê-mi đáp: “Nói láo! Ta đâu có chạy theo quân Canh-đê.” Nhưng Gi-rê-gia không nghe, cứ bắt Giê-rê-mi và giải về cho các thủ lĩnh.
Các thủ lĩnh nổi giận với Giê-rê-mi; chúng đánh đòn và giam ông trong nhà thư ký Giô-na-than; vì chúng đã biến nhà đó thành nhà tù.
Vậy Giê-rê-mi bị giam vào ngục, nhốt trong hầm tối, và bị giữ ở đó lâu ngày.
Sau đó, vua Sê-đê-kia sai đưa Giê-rê-mi về cung và bí mật hỏi ông: “Đức Giê-hô-va có phán lời gì không?” Giê-rê-mi đáp: “Thưa có!” Rồi ông nói tiếp: “Vua sẽ bị nộp vào tay vua Ba-by-lôn.”
Giê-rê-mi còn hỏi vua Sê-đê-kia: “Tôi đã làm điều gì không phải với vua, quần thần của vua hay với dân nầy, mà vua bỏ tù tôi?
Các nhà tiên tri của vua đã nói tiên tri rằng: ‘Vua Ba-by-lôn sẽ không đến đánh các ngươi hay đánh đất nầy,’ thì nay chúng ở đâu rồi?
Bây giờ, xin vua là chúa tôi vui lòng lắng nghe và chấp nhận lời nài xin của tôi. Xin đừng trả tôi về lại nhà thư ký Giô-na-than, kẻo tôi sẽ chết tại đó.”
Vua Sê-đê-kia truyền giữ Giê-rê-mi trong sân vệ binh, mỗi ngày cấp cho một chiếc bánh từ phố hàng bánh, cho đến khi bánh trong thành không còn nữa. Vì thế, Giê-rê-mi ở lại trong sân vệ binh.
Sê-pha-tia, con trai Ma-than, Ghê-đa-lia, con trai Pha-su-rơ, Giu-can, con trai Sê-lê-mia, và Pha-su-rơ, con trai Manh-ki-gia, đều có nghe những lời Giê-rê-mi giảng trước toàn dân:
“Đức Giê-hô-va phán: ‘Ai ở lại trong thành thì sẽ chết bởi gươm đao, đói kém, hoặc dịch bệnh; nhưng ai ra đầu hàng người Canh-đê thì sẽ được sống; họ sẽ giữ được tính mạng như được chiến lợi phẩm và sẽ sống.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Thành nầy chắc chắn sẽ rơi vào tay đạo quân của vua Ba-by-lôn, vua ấy sẽ chiếm thành.’”
Các thủ lĩnh tâu với vua: “Xin sai giết người nầy đi, vì những lời ông ta nói đã làm nản lòng binh sĩ ở lại trong thành cũng như toàn dân. Người nầy không tìm cầu điều ích lợi cho dân chúng mà chỉ đem lại thiệt hại thôi.”
Vua Sê-đê-kia đáp: “Nầy, nó đang ở trong tay các ngươi. Trẫm không thể làm gì trái ý các ngươi được.”
Họ liền bắt Giê-rê-mi và thả xuống hố của hoàng tử Manh-ki-gia, trong sân vệ binh. Họ dùng dây thả Giê-rê-mi xuống. Hố không có nước, chỉ có bùn; Giê-rê-mi bị lún trong bùn.
Thái giám Ê-bết Mê-lết, người Ê-thi-ô-pi, đang ở trong cung vua thì được tin người ta thả Giê-rê-mi xuống hố. Bấy giờ vua đang ngồi tại cổng Bên-gia-min.
Ê-bết Mê-lết từ trong cung vua đi ra và đến tâu với vua:
“Muôn tâu bệ hạ, những người nầy đã đối xử rất tàn ác với nhà tiên tri Giê-rê-mi. Họ đã thả ông ta xuống hố để ông chết đói dưới đó, vì trong thành không còn bánh nữa.”
Vua liền truyền lệnh cho Ê-bết Mê-lết, người Ê-thi-ô-pi: “Hãy đem ba mươi người ở đây đến kéo nhà tiên tri Giê-rê-mi lên khỏi hố, trước khi ông ấy chết.”
Ê-bết Mê-lết đem những người đó theo mình và đi vào cung vua, đến một chỗ ở dưới kho. Tại đó ông lấy giẻ và áo quần cũ, rồi dòng dây thừng thả xuống hố cho Giê-rê-mi.
Ê-bết Mê-lết, người Ê-thi-ô-pi, nói với Giê-rê-mi: “Xin ông lót mấy miếng giẻ và quần áo cũ ấy giữa nách và dây thừng.” Giê-rê-mi làm đúng như vậy.
Họ dùng dây kéo Giê-rê-mi lên khỏi hố. Giê-rê-mi ở lại trong sân vệ binh.
Vua Sê-đê-kia sai người đưa nhà tiên tri Giê-rê-mi đến gặp riêng vua tại cửa thứ ba của nhà Đức Giê-hô-va. Vua nói với Giê-rê-mi: “Ta có một điều muốn hỏi ngươi, đừng giấu ta điều gì cả!”
Giê-rê-mi liền tâu với vua Sê-đê-kia: “Nếu tôi nói cho vua biết, liệu vua không giết tôi sao? Còn nếu tôi khuyên vua, chắc vua cũng chẳng nghe tôi.”
Vua Sê-đê-kia bí mật thề với Giê-rê-mi rằng: “Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng tạo dựng linh hồn chúng ta, ta sẽ không giết ngươi, và không phó ngươi vào tay những kẻ tìm hại mạng sống ngươi.”
Giê-rê-mi nói với Sê-đê-kia: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán thế nầy: ‘Nếu ngươi đầu hàng các thủ lĩnh của vua Ba-by-lôn thì ngươi sẽ được sống, và thành nầy sẽ không bị thiêu hủy; ngươi và gia đình ngươi sẽ sống.
Nhưng nếu ngươi không đầu hàng các thủ lĩnh vua Ba-by-lôn, thì thành nầy sẽ rơi vào tay người Canh-đê, chúng sẽ phóng hỏa đốt thành, và ngươi sẽ không thoát khỏi tay chúng.’”
Vua Sê-đê-kia nói với Giê-rê-mi: “Ta sợ một khi đã đầu hàng quân Canh-đê, người Giu-đa sẽ nộp ta vào tay chúng và chúng sẽ ngược đãi ta.”
Giê-rê-mi nói: “Người ta sẽ không nộp vua đâu. Chỉ cần vua vâng theo tiếng Đức Giê-hô-va qua những gì tôi nói với vua, thì vua sẽ được an lành và giữ được mạng sống.
Nhưng nếu vua không chịu đầu hàng thì đây là lời Đức Giê-hô-va tỏ cho tôi:
‘Nầy, tất cả phụ nữ còn lại trong cung vua Giu-đa sẽ bị dẫn đến cho các tướng lãnh của vua Ba-by-lôn; họ sẽ nói với vua rằng: Bạn bè thân tín của vua Đã dỗ dành vua và thắng hơn vua; Bây giờ, khi chân vua đã lún sâu trong bùn, Thì chúng tránh xa vua.’
Tất cả vợ con của vua sẽ bị giải nộp cho người Canh-đê; còn vua cũng sẽ không thoát khỏi tay chúng, nhưng sẽ bị vua Ba-by-lôn bắt và thành nầy bị lửa thiêu hủy.”
Sê-đê-kia nói với Giê-rê-mi: “Đừng cho ai biết những lời nầy thì ngươi sẽ không chết.
Nếu các thủ lĩnh biết ta đã nói chuyện với ngươi nên đến gặp ngươi và nói: ‘Hãy thuật lại cho chúng tôi những điều ông đã nói với vua cũng như những gì vua nói với ông, đừng giấu điều gì cả thì chúng tôi sẽ không giết ông’;
ngươi hãy trả lời: ‘Tôi đã cầu xin vua đừng bắt tôi trở về nhà Giô-na-than, kẻo tôi chết ở đó.’”
Thật, các thủ lĩnh tìm gặp và gạn hỏi Giê-rê-mi. Ông lấy những lời vua đã truyền dặn mà đáp lại các quan. Họ thôi không hỏi ông nữa vì không ai biết việc đó.
Như vậy, Giê-rê-mi ở trong sân vệ binh cho đến ngày Giê-ru-sa-lem thất thủ. Khi Giê-ru-sa-lem thất thủ ...
Vào tháng thứ mười, năm thứ chín triều Sê-đê-kia, vua Giu-đa, Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đem cả binh lực đến tấn công và vây hãm Giê-ru-sa-lem.
Ngày mùng chín tháng tư năm thứ mười một triều Sê-đê-kia, thành bị chọc thủng.
Tất cả các quan chức cao cấp của vua Ba-by-lôn đều đến và ngồi ở cổng giữa. Đó là Nẹt-gan Sa-rết-sê, Sam-ga Nê-bô, trưởng hoạn quan Sa-sê-kim, quan chiêm tinh Nẹt-gan Sa-rết-sê, cùng các quan chức cao cấp khác của vua Ba-by-lôn.
Khi thấy chúng, Sê-đê-kia, vua Giu-đa, và tất cả binh lính liền trốn ra khỏi thành. Đang đêm, họ theo con đường trong vườn vua, qua cổng nằm giữa hai bức tường và đi theo con đường về hướng A-ra-ba.
Nhưng đạo quân Canh-đê đuổi theo và bắt kịp Sê-đê-kia tại vùng đồng bằng Giê-ri-cô; chúng bắt vua và giải về cho Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, tại Ríp-la, trong đất Ha-mát. Tại đó, vua Nê-bu-cát-nết-sa xét xử vua Sê-đê-kia.
Vua Ba-by-lôn tàn sát các con trai Sê-đê-kia trước mặt vua ấy tại Ríp-la; vua Ba-by-lôn cũng sai giết tất cả các quan chức Giu-đa nữa.
Vua ấy cũng sai móc mắt Sê-đê-kia, xiềng lại bằng những dây xích đồng để giải về Ba-by-lôn.
Quân Canh-đê phóng hỏa đốt cung vua và nhà cửa của dân chúng, phá đổ tường thành Giê-ru-sa-lem.
Quan chỉ huy vệ binh là Nê-bu-xa-a-đan bắt số dân còn sót lại trong thành, những người đầu hàng, và dân còn sót lại trong xứ, mà đày sang Ba-by-lôn.
Còn những người nghèo khó, không có sản nghiệp gì, thì quan chỉ huy vệ binh Nê-bu-xa-a-đan cho họ ở lại trong đất Giu-đa, đồng thời cấp cho họ các vườn nho và đồng ruộng.
Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, truyền lệnh cho tướng chỉ huy vệ binh Nê-bu-xa-a-đan về Giê-rê-mi như sau:
“Hãy đem ông ấy về, chăm sóc chu đáo. Đừng làm gì tổn hại đến ông nhưng phải làm đúng theo điều ông ấy yêu cầu.”
Chỉ huy trưởng vệ binh Nê-bu-xa-a-đan, quan giám cung Nê-bu-sa-ban, quan chiêm tinh Nẹt-gan Sa-rết-sê, và tất cả các quan chức cao cấp của vua Ba-by-lôn,
sai người đưa Giê-rê-mi ra khỏi sân vệ binh rồi giao cho Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, cháu Sa-phan, đem ông về nhà. Ông sống giữa dân chúng.
Khi còn bị giam trong sân vệ binh, có lời Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi như sau:
“Con hãy đến gặp và bảo Ê-bết Mê-lết, người Ê-thi-ô-pi, rằng: ‘Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: Nầy, Ta sắp thực hiện lời Ta phán về thành nầy tức là giáng họa chứ không phải ban phước. Đến ngày đó, các lời ấy sẽ thành sự thật trước mặt ngươi.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Nhưng trong ngày đó, Ta sẽ giải cứu ngươi, ngươi sẽ không bị nộp vào tay những kẻ làm cho ngươi sợ.
Vì chắc chắn Ta sẽ cứu ngươi, ngươi sẽ không ngã dưới lưỡi gươm. Ngươi sẽ giữ được mạng sống mình như được chiến lợi phẩm, vì ngươi đã tin cậy Ta,’ Đức Giê-hô-va phán vậy.”
Có lời của Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi sau khi chỉ huy trưởng vệ binh Nê-bu-xa-a-đan trả tự do cho ông tại Ra-ma. Lúc Nê-bu-xa-a-đan sai tìm Giê-rê-mi thì ông ấy đang bị xiềng chung với những tù nhân khác của Giê-ru-sa-lem và Giu-đa sắp bị đày qua Ba-by-lôn.
Chỉ huy trưởng vệ binh sai gọi Giê-rê-mi đến và nói: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông đã quyết định giáng tai họa xuống nơi nầy
và Đức Giê-hô-va đã làm như Ngài đã phán. Vì các người phạm tội chống lại Đức Giê-hô-va và không vâng theo tiếng Ngài nên việc nầy đã xảy đến cho các người.
Bây giờ tôi tháo xiềng khỏi tay ông. Nếu ông thấy việc đi với tôi sang Ba-by-lôn là tốt thì xin cứ đi và tôi sẽ săn sóc ông. Nếu ông thấy đi với tôi sang Ba-by-lôn là không phải thì xin đừng đi. Nầy, khắp xứ đang ở trước mặt ông, ông thấy đến nơi nào là tốt và đi đâu là phải, thì xin cứ đi.”
Vì Giê-rê-mi chưa ra về, nên Nê-bu-xa-a-đan nói tiếp: “Ông nên trở về với Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, cháu Sa-phan, là người mà vua Ba-by-lôn phong làm tổng đốc các thành Giu-đa đi! Ông có thể ở với ông ấy giữa dân mình, hay ông muốn đi đâu tùy thích.” Viên chỉ huy trưởng vệ binh cung cấp lương thực và quà tặng rồi để ông đi.
Giê-rê-mi đi đến chỗ Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, ở Mích-pa, và sống với ông ấy giữa dân chúng còn sót lại trong xứ.
Khi các viên chỉ huy và binh lính còn chiếm đóng vùng thôn quê được tin vua Ba-by-lôn đã lập Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, làm tổng đốc trong xứ, và giao cho ông ta cai trị đàn ông, đàn bà, trẻ con, là những người cùng khốn nhất trong xứ, chưa bị lưu đày qua Ba-by-lôn,
thì họ đến gặp Ghê-đa-lia tại Mích-pa. Những viên chỉ huy đó gồm có: Ích-ma-ên con trai Nê-tha-nia, Giô-ha-nan và Giô-na-than là các con trai Ca-rê-át, Sê-ra-gia, con trai Tan-hu-mết, các con trai của Ê-phai ở Nê-tô-pha, và Giê-xa-nia, con trai người Ma-a-ca, cùng binh lính của họ.
Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, cháu Sa-phan, dùng lời thề mà hứa với các người ấy và binh lính của họ: “Anh em đừng ngại làm tôi người Canh-đê; cứ ở lại trong xứ và thần phục vua Ba-by-lôn thì anh em sẽ được an lành.
Riêng tôi, tôi sẽ ở lại Mích-pa để thay mặt anh em tiếp những người Canh-đê sắp đến đây. Còn anh em, hãy thu hoạch rượu nho, hoa quả mùa hạ, và dầu rồi chứa vào các bình. Hãy sống trong các thành mà anh em đã chiếm đóng.”
Cũng vậy, tất cả những người Giu-đa đang ở Mô-áp và giữa con cháu Am-môn, ở Ê-đôm và các xứ khác nghe vua Ba-by-lôn đã chừa lại một số người tiếp tục ở trong xứ Giu-đa, và đã lập Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, cháu Sa-phan, làm tổng đốc,
thì những người Giu-đa đó từ khắp nơi mà họ bị đuổi đến đều trở về xứ Giu-đa, đến với Ghê-đa-lia tại Mích-pa. Họ thu hoạch rất nhiều rượu và trái mùa hạ.
Bấy giờ, Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át, và các viên chỉ huy lực lượng chiếm giữ miền thôn quê, đến tìm Ghê-đa-lia, tại Mích-pa, và nói:
“Ông có biết Ba-a-lít, vua Am-môn, đã sai Ích-ma-ên, con trai của Nê-tha-nia, đến giết ông không?” Nhưng Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, không tin lời họ.
Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át, bí mật nói với Ghê-đa-lia tại Mích-pa: “Xin ông cho tôi đi thủ tiêu Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, sẽ không ai biết cả. Tại sao để nó cất lấy mạng sống ông, làm cho mọi người Giu-đa tụ họp quanh ông phải bị tan lạc, và dân sót của Giu-đa bị tiêu diệt?”
Nhưng Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, nói với Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át, rằng: “Đừng làm điều đó! Điều anh nói về Ích-ma-ên không đúng đâu.”
Vào tháng thứ bảy, Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, cháu Ê-li-sa-ma, thuộc hoàng tộc, và là một quan lớn của vua, đem theo mười người đến gặp Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, tại Mích-pa. Khi đang cùng ăn uống với nhau tại đó,
thì Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, cùng mười người đi theo, đứng dậy rút gươm giết chết Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, cháu Sa-phan, là người mà vua Ba-by-lôn lập làm tổng đốc trong xứ.
Ích-ma-ên cũng giết tất cả những người Giu-đa đang ở với Ghê-đa-lia tại Mích-pa, và các binh lính Canh-đê đang ở đó.
Ngày thứ hai sau vụ ám sát Ghê-đa-lia, khi chưa ai biết việc đó,
thì có tám mươi người từ Si-chem, Si-lô, Sa-ma-ri đến. Họ cạo râu, mặc áo rách, tự rạch thân mình, tay mang những tế lễ chay và nhũ hương để dâng trong nhà Đức Giê-hô-va.
Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, từ Mích-pa ra đón họ, vừa đi vừa khóc. Khi gặp họ, Ích-ma-ên nói: “Mời các ông vào gặp Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam.”
Khi họ vừa đến giữa thành thì Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, cùng các thuộc hạ đã giết họ và quăng xác xuống hố.
Nhưng có mười người trong số họ nói với Ích-ma-ên: “Xin đừng giết chúng tôi, vì chúng tôi có kho dự trữ lương thực giấu trong đồng chứa lúa mì, tiểu mạch, dầu, và mật ong.” Vì thế, Ích-ma-ên ngưng lại, không giết họ cũng như các anh em của họ.
Cái hố mà Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, quăng xác của những người mình đã giết xuống, là hố Ghê-đa-lia, tức là hố do vua A-sa đào để ngăn chặn Ba-ê-sa, vua Y-sơ-ra-ên. Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, đã lấp đầy hố đó bằng xác chết.
Rồi Ích-ma-ên bắt làm tù binh tất cả những người dân còn sót lại tại Mích-pa, tức là các công chúa và những người dân còn sót lại ở Mích-pa mà viên chỉ huy trưởng vệ binh Nê-bu-xa-a-đan đã giao cho Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam. Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, bắt và lưu đày những người ấy, rồi đi qua chỗ dân Am-môn.
Khi Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át, và các chỉ huy quân đội theo ông, nghe mọi điều ác mà Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, đã làm,
thì tập hợp tất cả thuộc hạ mình lại và đi giao chiến với Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia. Họ đuổi kịp Ích-ma-ên tại hồ lớn Ga-ba-ôn.
Khi thấy Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át, và các chỉ huy dưới quyền ông thì đoàn dân đang ở chỗ Ích-ma-ên đều vui mừng.
Tất cả những người bị Ích-ma-ên bắt dẫn đi từ Mích-pa đều trở mặt, chạy theo Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át.
Còn Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, cùng với tám thuộc hạ, thoát khỏi tay Giô-ha-nan và chạy đến chỗ dân Am-môn.
Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át, cùng các tướng chỉ huy của ông đem theo tất cả những người dân vừa được giải cứu khỏi tay Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-mia, là kẻ đã bắt giải họ đi từ Mích-pa sau khi giết Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam. Tất cả họ gồm những chiến binh, đàn bà, trẻ con và các hoạn quan đều được Giô-ha-nan đem về từ Ga-ba-ôn.
Họ tiếp tục lên đường và dừng lại ở Ghê-rút Kim-ham, gần Bết-lê-hem, định chạy qua Ai Cập,
tránh xa quân Canh-đê. Họ sợ quân Canh-đê vì Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, đã giết Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, người mà vua Ba-by-lôn đã lập làm tổng đốc trong xứ.
Bấy giờ, các viên chỉ huy quân đội cùng với Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át, Giê-xa-nia, con trai Hô-sa-gia, và toàn dân từ nhỏ đến lớn
đều đến thưa với nhà tiên tri Giê-rê-mi: “Xin ông nhận lời thỉnh cầu của chúng tôi mà cầu nguyện với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông cho chúng tôi, là những người còn sót lại đây. Như ông thấy đó, chúng tôi chỉ còn lại rất ít chứ không đông như trước.
Xin Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông chỉ cho chúng tôi con đường phải đi và công việc phải làm!”
Nhà tiên tri Giê-rê-mi nói với họ: “Tôi đã nghe rồi! Nầy, tôi sẽ kêu cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em theo yêu cầu của anh em. Tôi sẽ nói cho anh em biết mọi điều Đức Giê-hô-va trả lời cho anh em, không giữ lại điều gì cả.”
Họ nói với Giê-rê-mi: “Cầu xin Đức Giê-hô-va chân thật và thành tín làm chứng cho chúng ta, nếu chúng tôi không làm theo mọi lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông sai phái ông dạy bảo chúng tôi,
dù thuận hay nghịch, chúng tôi vẫn vâng theo tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, là Đấng mà chúng tôi cử ông đến, để khi vâng lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, thì chúng tôi sẽ được phước.”
Mười ngày sau, có lời Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi.
Ông gọi Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át, và tất cả các viên chỉ huy quân đội đang ở với ông, cùng toàn thể dân chúng từ người nhỏ đến người lớn,
và nói: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Đấng anh em đã cử tôi đến để dâng lời cầu xin trước mặt Ngài, phán thế nầy:
‘Nếu các ngươi cứ ở trong đất nầy thì Ta sẽ xây dựng chứ không phá đổ, sẽ vun trồng chứ không nhổ đi; vì Ta lấy làm tiếc về tai họa mà Ta đã giáng trên các ngươi.
Đừng sợ vua Ba-by-lôn, là người các ngươi đang sợ; Đức Giê-hô-va phán, đừng sợ vua ấy, vì Ta ở với các ngươi để cứu vớt và giải thoát các ngươi khỏi tay vua ấy.
Ta sẽ thương xót các ngươi và khiến cho vua ấy cũng thương xót các ngươi, và cho các ngươi trở về đất nước mình.’
Nhưng nếu anh em nói: ‘Chúng tôi không muốn ở trong đất nầy;’ anh em không vâng theo tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình,
mà nói rằng: ‘Không, chúng tôi muốn sang Ai Cập, là nơi chúng tôi sẽ không thấy chiến tranh nữa, không nghe tiếng tù và nữa, chúng tôi sẽ không lo thiếu bánh nữa, và chúng tôi sẽ sinh sống tại đó,’
thì, hỡi dân Giu-đa còn sót lại kia, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va! Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: ‘Khi các ngươi cương quyết đi đến Ai Cập để cư ngụ ở đó,
thì gươm đao mà các ngươi sợ hãi sẽ đuổi kịp các ngươi trong đất Ai Cập; đói kém mà các ngươi kinh khiếp cũng sẽ bám theo các ngươi đến Ai Cập, và các ngươi sẽ chết tại đó.
Vì vậy, những kẻ quyết định đến trú ngụ tại Ai Cập sẽ chết bởi gươm đao, đói kém, và dịch bệnh. Chẳng một ai trong họ còn sống sót; chẳng một ai thoát khỏi tai họa mà Ta sẽ giáng trên chúng.’
Thật thế, Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: ‘Như Ta đã trút cơn giận và thịnh nộ trên dân cư Giê-ru-sa-lem thể nào, thì khi các ngươi vào Ai Cập, Ta cũng sẽ trút cơn thịnh nộ Ta trên các ngươi thể ấy. Các ngươi sẽ thành lời trù ẻo và nỗi kinh hoàng, lời nguyền rủa và nỗi sỉ nhục. Các ngươi sẽ không còn thấy chỗ nầy nữa.’
Hỡi những người Giu-đa còn sót lại, Đức Giê-hô-va đã phán về anh em rằng: ‘Đừng qua Ai Cập.’ Hãy biết rõ rằng hôm nay tôi đã cảnh báo anh em.
Chính anh em đã tự dối mình. Anh em đã cử tôi đến với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của anh em và nói với tôi: ‘Xin vì chúng tôi mà khẩn cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, và xin cho chúng tôi biết tất cả những gì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi phán bảo ông thì chúng tôi sẽ làm theo.’
Hôm nay, tôi đã công bố cho anh em rồi, nhưng anh em không vâng theo tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã sai tôi nói lại cho anh em.
Vậy, hãy biết rõ rằng anh em sẽ chết bởi gươm đao, đói kém và dịch bệnh tại chính nơi mà anh em muốn đến trú ngụ.”
Sau khi Giê-rê-mi đã thuật hết cho toàn dân mọi lời của Giê-hô-va Đức Chúa Trời, tức là tất cả những lời mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ đã sai ông nói lại cho họ nghe,
thì A-xa-ria, con trai Hô-sa-gia, và Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át, cùng những kẻ xấc láo khác, nói với Giê-rê-mi: “Ông nói dối! Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi chưa hề sai ông nói với chúng tôi: ‘Không được đến Ai Cập mà trú ngụ.’
Nhưng chính Ba-rúc, con trai Nê-ri-gia, xúi ông chống lại chúng tôi, muốn nộp chúng tôi vào tay người Canh-đê, để chúng giết chúng tôi hoặc lưu đày chúng tôi sang Ba-by-lôn.”
Như vậy, Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át, tất cả các viên chỉ huy quân đội và toàn thể dân chúng không vâng theo lệnh của Đức Giê-hô-va truyền phải ở lại trong đất Giu-đa.
Trái lại, Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át, và các viên chỉ huy quân đội dẫn tất cả những người Giu-đa còn sót lại đang sống trong xứ Giu-đa vào Ai Cập; tức là những kẻ bị lưu đày trở về từ tất cả các nước mà họ đã bị đuổi đến,
gồm đàn ông, đàn bà, trẻ con, cùng các công chúa, và tất cả những người mà Nê-ba-xa-a-đan, chỉ huy trưởng vệ binh, đã để lại cho Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, cháu Sa-phan, và luôn cả nhà tiên tri Giê-rê-mi và Ba-rúc, con trai Nê-ri-gia.
Vậy họ vào đất Ai Cập vì không vâng lời Đức Giê-hô-va. Và họ đã đến Tác-pha-nết.
Tại Tác-pha-nết, có lời Đức Giê-hô-va phán với Giê-rê-mi:
“Trước mắt những người Giu-đa, con hãy lấy những tảng đá lớn và giấu trong lớp hồ dưới lề đường, trên lối vào lâu đài Pha-ra-ôn tại Tác-pha-nết.
Rồi con nói với chúng: Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: ‘Nầy, Ta sẽ sai gọi đầy tớ Ta là Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn đến, và Ta sẽ đặt ngai nó trên những tảng đá mà Ta mới vừa giấu nầy; vua ấy sẽ căng màn trướng lên trên.
Vua ấy sẽ đến và tấn công Ai Cập; Kẻ nào phải chết thì chết, Kẻ nào phải bị lưu đày thì lưu đày, Kẻ nào phải bị gươm chém thì bị gươm chém!
Ta sẽ phóng hỏa đốt các đền miếu của các thần Ai Cập; Nê-bu-cát-nết-sa sẽ đốt hoặc mang chúng đi. Vua ấy cướp sạch đất Ai Cập như người chăn chiên bắt sạch rận trong áo mình, rồi ra đi cách bình an.
Vua ấy sẽ đập vỡ các trụ thờ của Bết Sê-mết trong đất Ai Cập, và sẽ thiêu hủy những đền miếu của các thần Ai Cập.’”
Có lời phán với Giê-rê-mi về tất cả những người Giu-đa đang sinh sống trong đất Ai Cập, tại Mít-đôn, Tác-pha-nết, Nốp, và vùng Pha-trốt.
Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: “Chính các ngươi đã thấy mọi tai họa mà Ta đã giáng trên Giê-ru-sa-lem và các thành của Giu-đa. Kìa, những thành ấy ngày nay hoang vu, không một bóng người.
Nguyên nhân là do tội ác mà chúng đã phạm để chọc giận Ta. Chúng đã dâng hương và thờ lạy các thần khác mà chính chúng cũng như các ngươi và tổ phụ các ngươi chưa từng biết.
Dù Ta đã liên tục sai tất cả đầy tớ Ta, tức là các nhà tiên tri, đến bảo các ngươi rằng: ‘Ôi, đừng làm điều kinh tởm mà Ta ghét đó!’
Nhưng chúng không nghe, chẳng để tai vào, không từ bỏ điều gian ác và cứ dâng hương cho các thần khác.
Vì thế, Ta trút cơn thịnh nộ và giận dữ xuống thiêu đốt các thành của Giu-đa và các đường phố của Giê-ru-sa-lem, khiến chúng ngày nay trở nên hoang tàn, đổ nát.
Bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán thế nầy: ‘Tại sao các ngươi lại gây cho mình tội ác nghiêm trọng đến nỗi từ đàn ông, đàn bà, trẻ con, đến trẻ thơ đang bú đều bị tiêu diệt khỏi Giu-đa, không một người nào sống sót cho các ngươi?
Tại sao các ngươi chọc giận Ta bằng những việc tay các ngươi làm? Trong đất Ai Cập, nơi các ngươi mới đến cư ngụ, các ngươi đã dâng hương cho các thần khác đến nỗi tự chuốc lấy sự hủy diệt, và trở thành lời nguyền rủa và chế giễu giữa các dân trên đất.
Phải chăng các ngươi đã quên điều gian ác của tổ phụ các ngươi, điều gian ác của các vua Giu-đa, điều gian ác của các hoàng hậu, điều gian ác của chính các ngươi và vợ các ngươi đã phạm trong đất Giu-đa và trong các đường phố Giê-ru-sa-lem?
Cho đến ngày nay, chúng cũng không ăn năn, chẳng kính sợ, chẳng sống theo luật pháp và mệnh lệnh mà Ta đã lập trước mặt các ngươi và tổ phụ các ngươi.’
Vì thế, Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: ‘Nầy, Ta quyết định giáng tai họa trên các ngươi và tiêu diệt cả Giu-đa.
Ta sẽ cất đi dân sót lại của Giu-đa, là những kẻ đã quyết định xuống trú ngụ tại Ai Cập. Chúng sẽ bị diệt sạch tại đó; chúng sẽ ngã trên đất Ai Cập, sẽ chết bởi gươm đao hay đói kém. Từ trẻ con cho đến người lớn đều sẽ chết vì gươm hay đói kém. Chúng trở thành lời nguyền rủa, là cớ cho người ta chế giễu, là nỗi kinh hoàng, ghê tởm và sỉ nhục.
Ta sẽ trừng phạt những kẻ sống trong đất Ai Cập, như đã trừng phạt Giê-ru-sa-lem bằng gươm đao, đói kém, và dịch bệnh.
Trong số những người dân sót lại của Giu-đa chạy xuống cư ngụ tại Ai Cập sẽ chẳng có ai trốn thoát hoặc sống sót để trở về đất Giu-đa, là nơi chúng mong mỏi hồi hương. Chúng sẽ không trở về được, trừ một vài người thoát nạn mà thôi.’”
Bấy giờ, tất cả những người biết vợ mình đã dâng hương cho các thần khác, và tất cả phụ nữ có mặt tại đó, họp thành một hội chúng đông đảo, gồm tất cả dân chúng cư ngụ ở Pha-trốt trong đất Ai Cập, nói với Giê-rê-mi:
“Điều ông vừa nhân danh Đức Giê-hô-va mà nói với chúng tôi, chúng tôi không nghe đâu.
Trái lại, chúng tôi sẽ làm trọn mọi lời đã ra từ miệng chúng tôi, sẽ dâng hương và làm lễ quán cho nữ vương trên trời, như chúng tôi và tổ phụ chúng tôi, các vua và các thủ lĩnh chúng tôi đã làm trong các thành của Giu-đa và trên các đường phố Giê-ru-sa-lem. Lúc ấy, chúng tôi đã có thức ăn dư dật, sống sung túc, không thấy tai họa gì.
Nhưng, từ khi chúng tôi ngưng dâng hương và không làm lễ quán cho nữ vương trên trời, thì chúng tôi thiếu thốn mọi thứ và bị tận diệt bởi gươm đao và đói kém.
Hơn nữa, khi chúng tôi dâng hương và làm lễ quán cho nữ vương trên trời, chẳng lẽ chồng chúng tôi không biết chúng tôi làm bánh theo tượng nữ vương và dâng lễ quán cho thần ấy hay sao?”
Giê-rê-mi nói với toàn thể dân chúng, đàn ông và đàn bà, cùng những kẻ vừa trả lời cho ông như sau:
“Chẳng phải việc các ngươi và tổ phụ các ngươi, các vua và thủ lĩnh các ngươi, cùng dân chúng trong xứ đã dâng hương trong các thành Giu-đa và trên các đường phố Giê-ru-sa-lem đã được Đức Giê-hô-va nhớ và khắc ghi trong tâm trí Ngài đó sao?
Đức Giê-hô-va không còn chịu được các việc làm gian ác của các ngươi và sự ghê tởm mà các ngươi đã phạm, nên ngày nay xứ sở các ngươi đã trở thành lời nguyền rủa, một nơi hoang vu, buồn thảm, không có người ở.
Vì các ngươi đã dâng hương và phạm tội với Đức Giê-hô-va, không vâng theo tiếng Đức Giê-hô-va, và không sống theo luật pháp, mệnh lệnh, và lời răn dạy của Ngài, nên ngày nay tai họa nầy đã giáng trên các ngươi.”
Giê-rê-mi lại nói với toàn dân và tất cả phụ nữ: “Hỡi tất cả người Giu-đa đang sống trong đất Ai Cập, hãy lắng nghe lời Đức Giê-hô-va!
Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: Thật, các ngươi và vợ các ngươi đã miệng nói tay làm. Các ngươi nói: ‘Chúng tôi sẽ thực hiện lời chúng tôi đã khấn nguyện, sẽ dâng hương, và làm lễ quán cho nữ vương trên trời.’ Vậy cứ giữ vững lời nguyện và làm trọn lời nguyện của các ngươi đi!
Nhưng, hỡi những người Giu-đa đang ở trong đất Ai Cập, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va! Đức Giê-hô-va phán: Nầy Ta lấy danh vĩ đại của Ta mà thề rằng trong khắp đất Ai Cập sẽ chẳng có một người Giu-đa nào mở miệng xưng danh Ta kêu cầu rằng: ‘Thật như Chúa Giê-hô-va hằng sống!’
Nầy, Ta sẽ thức canh để giáng họa cho chúng chứ không ban phước; tất cả người Giu-đa đang ở trong đất Ai Cập đều sẽ chết bởi gươm đao và đói kém cho đến khi bị tiêu diệt hoàn toàn.
Chỉ có một số rất ít người thoát khỏi gươm đao sẽ từ Ai Cập trở về trong đất Giu-đa. Bấy giờ, mọi người sót lại của Giu-đa, tức những kẻ đã đến trú ngụ trong đất Ai Cập nầy, sẽ biết lời nào được nghiệm, lời của Ta hay lời của chúng.
Đức Giê-hô-va phán: ‘Đây là dấu hiệu cho các ngươi biết là Ta sẽ trừng phạt các ngươi tại nơi nầy, để các ngươi biết rằng lời Ta phán về tai họa giáng trên các ngươi chắc chắn được thực hiện.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Nầy, Ta sẽ phó Pha-ra-ôn Hốp-ra, vua Ai Cập, vào tay kẻ thù nó, tức là vào tay những kẻ đòi mạng sống nó, như Ta đã phó Sê-đê-kia, vua Giu-đa, vào tay Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, là kẻ thù đòi mạng Sê-đê-kia.’”
Đây là lời của nhà tiên tri Giê-rê-mi nói với Ba-rúc, con trai Nê-ri-gia, khi ông chép vào một cuộn sách những lời do Giê-rê-mi đọc cho ông, vào năm thứ tư đời Giê-hô-gia-kim, con trai Giô-si-a, vua Giu-đa:
“Hỡi Ba-rúc! Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán với anh thế nầy:
‘Ngươi đã nói: Khốn khổ cho tôi! Vì Đức Giê-hô-va đã thêm phiền muộn vào nỗi đau của tôi; tôi đuối sức vì than thở, chẳng được nghỉ ngơi!’”
Con hãy nói với anh ta rằng: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Nầy, Ta sẽ phá những gì Ta đã xây, sẽ nhổ những gì Ta đã trồng, và việc đó xảy ra khắp đất.
Còn ngươi, ngươi tìm cho mình những việc to tát hay sao? Đừng tìm kiếm nữa, vì nầy, Ta sắp giáng tai ương trên mọi loài xác thịt. Nhưng về phần ngươi, dù ngươi đi đến nơi nào, Ta cũng sẽ cho ngươi được an toàn tính mạng.’” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đây là lời Đức Giê-hô-va phán với nhà tiên tri Giê-rê-mi liên quan đến các dân tộc.
Về Ai Cập, đây là sứ điệp cho đạo quân của Pha-ra-ôn Nê-cô, vua Ai Cập, tức là đạo quân bị Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đánh bại tại Cạt-kê-mít, gần sông Ơ-phơ-rát vào năm thứ tư đời vua Giê-hô-gia-kim, con trai Giô-si-a, vua Giu-đa:
“Hãy chuẩn bị thuẫn với khiên Và xông ra chiến trận!
Hỡi các kỵ binh, Hãy thắng ngựa, lên yên! Mau đội mũ chiến và vào vị trí; Mài bén mũi giáo và mặc áo giáp!
Tại sao Ta đã thấy điều nầy? Chúng kinh hãi rút lui; Các chiến binh bị đánh tan tành, Gấp rút trốn chạy. Chúng không kịp nhìn lui; Nỗi kinh hoàng bao trùm tứ phía!” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Người nhanh chân cũng không trốn kịp, Kẻ dũng sĩ cũng khó thoát thân; Về phương bắc, bên bờ sông Ơ-phơ-rát, Chúng vấp ngã té nhào!
Ai đó đã dâng trào như sông Nin, Như những con sông nổi sóng cuồn cuộn?
Ai Cập dâng trào như sông Nin, Như những con sông nổi sóng cuồn cuộn. Nó nói: ‘Ta sẽ dâng lên, bao phủ khắp đất; Tiêu diệt các thành và dân cư trong thành.’
Ngựa chiến, hãy xông tới; Chiến xa, hãy nhào lên! Các chiến binh, hãy xung trận; Người Cút và Phút mang thuẫn, Người Lu-đim giương cung.
Ngày ấy thuộc về Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân, Là ngày báo thù, Để báo trả kẻ thù nghịch Ngài. Gươm nuốt đến no nê, Uống máu say sưa. Vì Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân, Như tế lễ dâng trong đất phương bắc, bên sông Ơ-phơ-rát.
Hỡi trinh nữ, con gái của Ai Cập! Hãy lên Ga-la-át, và lấy nhũ hương; Ngươi dùng nhiều thuốc cũng vô ích, Chẳng chữa lành được ngươi!
Các nước đều nghe đến nỗi nhục của ngươi, Tiếng rên xiết của ngươi vang khắp đất; Vì dũng sĩ vấp dũng sĩ Cả hai cùng ngã nhào.”
Đây là lời Đức Giê-hô-va phán với nhà tiên tri Giê-rê-mi về việc Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, tiến đánh Ai Cập:
“Hãy loan tin trong Ai Cập, công bố tại Mít-đôn, Công bố tại Nốp và Tác-pha-nết rằng: ‘Hãy vào vị trí, chuẩn bị sẵn sàng, Vì gươm đã nuốt chung quanh ngươi.’
Tại sao thần bò A-pít của ngươi bỏ trốn, Con bò của ngươi không kháng cự nổi? Vì Đức Giê-hô-va đã xua đuổi chúng.
Ngài làm cho nhiều người vấp ngã, Người nầy ngã trên kẻ khác, và rủ nhau: ‘Mau đứng dậy, trở về chỗ dân ta, Trở về mảnh đất ta sinh ra, Tránh xa gươm giáo kẻ ức hiếp!’
Tại đó, người ta gọi Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, Là ‘Kẻ ồn ào đánh mất cơ hội.’”
Đức Vua, danh Ngài là Giê-hô-va vạn quân, phán: “Thật như Ta hằng sống, Kẻ thù sẽ đến Như núi Tha-bô giữa các núi khác, Như Cạt-mên nhô ra ngoài biển cả.
Hỡi cư dân Ai Cập, Hãy chuẩn bị khăn gói để đi lưu đày, Vì Nốp sẽ trở nên hoang vu; Bị thiêu hủy, không có người ở.
Ai Cập là một con bò cái tơ xinh đẹp, Nhưng bị ruồi trâu từ phương bắc đến chích.
Cả những tên lính đánh thuê ở giữa nó Như những con bê béo tốt; Nhưng đều quay lưng chạy trốn, Không kháng cự nổi. Vì ngày tai họa, kỳ trừng phạt, Đã giáng trên chúng rồi.
Tiếng nó như con rắn trườn đi Vì quân thù hùng hổ kéo đến; Chúng cầm rìu tấn công nó, Như những người thợ rừng.”
Đức Giê-hô-va phán: “Quân thù đốn phá rừng nó, Dù rừng đó khó xuyên qua, Vì chúng đông hơn cào cào, Không thể đếm được.
Con gái Ai Cập sẽ mang xấu hổ, Sẽ bị nộp vào tay dân phương bắc.”
Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: “Nầy, Ta sẽ phạt A-môn, là thần của Nô, Pha-ra-ôn và Ai Cập, cùng các thần và các vua nó: tức là Pha-ra-ôn và những kẻ nhờ cậy người.
Ta sẽ phó chúng vào tay những kẻ tìm hại mạng sống chúng, vào tay Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, vào tay các thuộc hạ người. Tuy nhiên, về sau Ai Cập sẽ còn có dân ở như ngày xưa.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Hỡi đầy tớ Ta là Gia-cốp, đừng sợ! Hỡi Y-sơ-ra-ên, chớ kinh hãi! Vì nầy, Ta sẽ giải cứu con khỏi miền xa xăm, Và dòng dõi con từ chốn lưu đày. Gia-cốp sẽ trở về và sống yên lành an ổn, Không còn sợ hãi ai cả.”
Đức Giê-hô-va phán: “Hỡi Gia-cốp đầy tớ Ta, đừng sợ, Vì Ta ở với con. Ta sẽ tiêu diệt tất cả các nước Mà Ta đã đuổi con đến; Nhưng với con thì Ta không diệt hết, Con sẽ không tránh khỏi hình phạt Nhưng Ta sẽ sửa phạt con cách công minh.”
Đây là lời Đức Giê-hô-va phán với nhà tiên tri Giê-rê-mi về người Phi-li-tin, trước khi Pha-ra-ôn đánh Ga-xa.
Đức Giê-hô-va phán: “Kìa, những dòng sông dâng trào từ phương bắc, Và trở thành dòng nước vỡ bờ, Làm ngập đất và mọi vật trên đất, Ngập thành phố và dân cư trong thành. Người ta cất tiếng kêu gào, Mọi người dân trong xứ đều than thở.
Tiếng vó ngựa dồn dập, Tiếng chiến xa huyên náo, tiếng bánh xe rầm rập, Cha mẹ bủn rủn tay chân Không quay lại nhìn con cái.
Vì sẽ đến ngày Tất cả dân Phi-li-tin bị tiêu diệt, Tất cả những người sống sót Có thể cứu giúp Ty-rơ và Si-đôn cũng bị loại trừ. Vì Đức Giê-hô-va tiêu diệt dân Phi-li-tin, Là những người sót lại của đảo Cáp-tô.
Ga-xa cạo trọc đầu Ách-ca-lôn câm lặng. Hỡi dân sót lại của A-na-kim Các ngươi tự rạch mình cho đến bao giờ?
Ôi, gươm của Đức Giê-hô-va, Bao giờ ngươi mới nghỉ tay? Hãy trở vào vỏ đi, Nằm yên đó và nghỉ ngơi.
Nhưng Đức Giê-hô-va đã ra lệnh Làm sao ngươi yên nghỉ được? Vì Ngài đã giao cho nó Trừng phạt Ách-ca-lôn và miền duyên hải.”
Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán về Mô-áp như sau: “Khốn cho thành Nê-bô, vì bị hoang tàn! Thành Ki-ri-a-ta-im xấu hổ, vì bị chiếm đóng; Thành Mít-gáp nhục nhã, vì sụp đổ.
Vinh quang của Mô-áp không còn nữa; Tại Hết-bôn, người ta âm mưu hại nó: ‘Nào, chúng ta hãy xóa Mô-áp khỏi các nước!’ Hỡi Mát-mên, ngươi sẽ bị câm lặng; Gươm đao sẽ đuổi theo ngươi.
Tiếng kêu than từ Hô-rô-na-im: ‘Cảnh hoang tàn và hủy diệt khủng khiếp!’
‘Mô-áp tan vỡ rồi!’ Trẻ con nó kêu la inh ỏi.
Lên đèo Lu-hít, Chúng vừa leo vừa khóc không dứt Xuống dốc Hô-rô-na-im, Vang tiếng kêu la hủy diệt thảm sầu.
Hãy trốn đi, tự cứu lấy mình, Như thạch thảo trong hoang mạc!
Vì ngươi trông cậy vào công lao và kho báu mình, Nên ngươi cũng sẽ bị chiếm đóng; Thần Kê-mốt sẽ bị lưu đày Cùng các thầy tế lễ và các thủ lĩnh nó.
Kẻ hủy diệt sẽ vào trong mọi thành, Không thành nào thoát khỏi; Thung lũng sẽ tiêu tan Đồng bằng bị tàn phá, Như Đức Giê-hô-va đã phán.
Hãy cho Mô-áp đôi cánh Để nó bay đi trốn; Các thành nó sẽ hoang tàn, Không còn ai ở.
Đáng nguyền rủa cho kẻ làm việc Đức Giê-hô-va cách chểnh mảng! Đáng nguyền rủa cho kẻ không để gươm mình vấy máu!
Mô-áp vốn an nhàn từ khi còn trẻ, Như rượu lắng cặn, Chưa được rót từ bình nầy sang bình khác, Cũng chưa bị lưu đày; Cho nên vị của nó còn nguyên Và mùi của nó chưa đổi.”
Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, những ngày đến, Ta sẽ sai những người chắt lọc đến chắt nó ra. Họ sẽ rót từ trong bình ra, Làm trống bình nó đi, Rồi đập các bình ra từng mảnh.
Mô-áp sẽ bị xấu hổ vì Kê-mốt, Như nhà Y-sơ-ra-ên bị xấu hổ Vì Bê-tên mà chúng trông cậy.
Làm sao các ngươi có thể nói: ‘Chúng tôi là anh hùng, Là những dũng sĩ nơi chiến trận’?
Mô-áp bị phá hoại, các thành bị xâm chiếm, Các thanh niên ưu tú nhất của nó bị giết,” Đức Vua, danh Ngài là Đức Giê-hô-va vạn quân, phán vậy.
“Tai ương của Mô-áp đã cận kề; Hoạn nạn nó đến rất nhanh.
Hỡi tất cả lân bang, hãy than khóc cho nó! Tất cả những ai biết danh nó, Hãy nói: ‘Cây gậy của quyền uy, Cây gậy của vinh quang đã gãy!’
Hỡi cư dân thành Đi-bôn! Hãy xuống khỏi nơi danh dự Và ngồi chỗ khô cằn. Vì kẻ hủy diệt Mô-áp đã xông lên đánh ngươi, Tàn phá đồn lũy ngươi.
Hỡi cư dân A-rô-e! Hãy đứng bên đường và quan sát, Hãy hỏi đàn ông chạy trốn và đàn bà lánh nạn, rằng: ‘Việc gì đã xảy ra vậy?’
Mô-áp xấu hổ vì bị tàn phá, Hãy than khóc kêu la! Hãy rao bên bờ Ạt-nôn rằng Mô-áp bị hoang tàn.
Án phạt đã giáng trên cao nguyên, trên Hô-lôn, Gia-sa và Mê-phát,
trên Đi-bôn, Nê-bô và Bết Đíp-la-tha-im,
trên Ki-ri-a-ta-im, Bết Ga-mun và Bết Mê-ôn,
trên Kê-ri-giốt, Bốt-ra, và trên tất cả các thành gần xa của Mô-áp.”
Đức Giê-hô-va phán: “Sừng của Mô-áp bị chặt rồi, cánh tay nó đã gãy.
Hãy cho nó uống say, vì nó tự lên mình chống lại Đức Giê-hô-va. Hãy để cho Mô-áp dầm mình trong đồ nó mửa ra và làm trò cười cho thiên hạ.
Chẳng phải Y-sơ-ra-ên từng là trò cười cho ngươi sao? Có bao giờ nó bị bắt giữa những kẻ trộm đâu mà mỗi lần nhắc đến nó thì ngươi lắc đầu?
Hỡi dân cư Mô-áp, Hãy lìa bỏ thành thị và ẩn mình trong hốc đá; Hãy như chim bồ câu Làm tổ trên miệng vực thẳm.
Chúng ta có nghe về tính kiêu ngạo của Mô-áp — Nó vô cùng kiêu ngạo — Về thói xấc xược, kiêu căng, ngạo mạn, Và lòng tự cao tự đại của nó.”
Đức Giê-hô-va phán: “Ta biết tính xấc láo của nó, Những lời khoác lác rỗng tuếch Và những việc sai trái của nó.
Do đó, Ta khóc thương cho Mô-áp, Vì cả dân Mô-áp mà kêu la. Người ta khóc than cho dân Kiệt Hê-rết.
Hỡi cây nho Síp-ma, Ta khóc cho ngươi nhiều hơn khóc Gia-ê-xe! Các nhánh ngươi vượt qua biển, Đến tận biển Gia-ê-xe. Kẻ hủy diệt đã đến Cướp đi trái mùa hạ và mùa nho của ngươi.
Niềm vui mừng hân hoan đã biến mất Khỏi ruộng đồng màu mỡ xứ Mô-áp; Ta đã làm cho rượu cạn khô trong các bàn ép; Không còn ai reo vui khi đạp trái nho nữa; Dù có tiếng reo hò cũng chẳng phải là tiếng reo vui.
Tiếng khóc than vang dậy từ Hết-bôn đến Ê-lê-a-lê và Gia-hát, từ Xoa cho đến Hô-rô-na-im và Ê-lát Sê-li-sia. Vì ngay cả dòng suối Nim-rim cũng khô cạn.”
Đức Giê-hô-va phán: “Ta sẽ tiêu diệt khỏi Mô-áp là kẻ dâng tế lễ ở nơi cao và dâng hương cho các thần của chúng.
Bởi vậy, lòng Ta vì Mô-áp mà trỗi tiếng sáo rên rỉ; vì dân Kiệt Hê-rết mà cất tiếng sáo thở than; vì của cải chúng thâu góp đã mất sạch cả rồi.
Đầu nào cũng cạo trọc, râu nào cũng cạo nhẵn; bàn tay nào cũng có dấu cắt, lưng nào cũng quấn vải sô.
Trên mỗi nóc nhà Mô-áp, tại các quảng trường không gì ngoài tiếng khóc than, vì Ta đã đập vỡ Mô-áp như chiếc bình mà không ai ưa nữa.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Kìa, nó tan nát làm sao! Chúng khóc than như thể nào! Mô-áp nhục nhã quay lưng chạy! Mô-áp sẽ trở nên trò cười Và nỗi hãi hùng cho mọi lân bang.”
Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, kẻ thù sẽ lướt nhanh như đại bàng, Xòe cánh phủ trùm trên Mô-áp.
Thành Kê-ri-giốt thất thủ, Các chiến lũy bị chiếm giữ; Trong ngày đó, lòng các dũng sĩ Mô-áp Như lòng sản phụ lúc chuyển dạ.
Mô-áp sẽ bị tiêu diệt, không còn là một dân nữa, Vì nó đã lên mình chống lại Đức Giê-hô-va.”
Đức Giê-hô-va phán: “Hỡi cư dân Mô-áp! Kinh hoàng, hố sâu, và cạm bẫy đang chờ đợi ngươi.
Ai trốn được cảnh kinh hoàng Sẽ rớt xuống hố sâu, Ai lên khỏi hố sâu, Sẽ rơi vào cạm bẫy. Vì Ta sẽ đem năm trừng phạt Đến trên Mô-áp,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Kẻ lánh nạn kiệt sức Núp dưới bóng Hết-bôn; Nhưng lửa phát ra từ Hết-bôn, Ngọn lửa từ giữa Si-hôn, Thiêu hủy trán của Mô-áp, Và sọ của đám dân hỗn hào.
Hỡi Mô-áp, khốn nạn cho ngươi! Dân thờ thần Kê-mốt bị diệt vong, Con trai ngươi bị bắt làm tù binh, Con gái ngươi bị lưu đày.
Tuy nhiên, đến những ngày cuối cùng, Ta sẽ khiến dân Mô-áp thịnh vượng trở lại,” Đức Giê-hô-va phán vậy. Lời phán xét về Mô-áp chấm dứt ở đây.
Đức Giê-hô-va phán về con cái Am-môn như sau: “Có phải Y-sơ-ra-ên không có con trai, Chẳng còn người thừa kế sao? Vậy, tại sao thần Minh-côm chiếm Gát làm cơ nghiệp, Và dân nó đến ở trong các thành của Gát?”
Đức Giê-hô-va phán: “Vì thế, kìa, những ngày đến, Ta sẽ làm cho tiếng hò xung trận vang lên Chống lại thành Ráp-bát của con cái Am-môn, Nó sẽ thành ra một đống hoang tàn; Làng mạc quanh nó sẽ bị lửa thiêu hủy. Bấy giờ, Y-sơ-ra-ên sẽ chiếm lại cơ nghiệp từ những kẻ đã chiếm lấy cơ nghiệp của họ.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Hỡi Hết-bôn, hãy than khóc vì A-hi đã bị tàn phá! Hỡi con gái Ráp-bát, hãy kêu la! Hãy mặc áo vải sô vào, Chạy tới chạy lui giữa các tường rào mà than khóc! Vì thần Minh-côm của ngươi sẽ bị lưu đày Cùng với những thầy tế lễ và các quan chức.
Hỡi cô gái bội bạc kia, Sao ngươi khoe về các thung lũng, Các thung lũng màu mỡ của ngươi? Ngươi tin cậy vào các kho báu mình, Nên bảo rằng: ‘Ai dám tấn công ta?’”
Chúa là Đức Giê-hô-va vạn quân, phán: “Nầy, Ta sẽ khiến nỗi kinh hãi Từ mọi phía giáng trên ngươi; Mỗi người trong các ngươi sẽ bị đuổi và đâm đầu chạy thẳng, Chẳng có ai tụ họp những người lánh nạn.
Nhưng về sau, Ta sẽ đem con cái Am-môn bị lưu đày trở về,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va vạn quân phán về Ê-đôm như sau: “Chẳng lẽ tại Thê-man không còn sự khôn ngoan? Bậc mưu sĩ không còn khôn sáng? Trí khôn của họ đã biến mất rồi sao?
Hỡi cư dân Đê-đan, Hãy quay lưng chạy trốn, ẩn mình trong các hố sâu! Vì Ta sẽ giáng trên nó tai ương của Ê-sau, Vào thời điểm Ta trừng phạt nó.
Nếu thợ hái nho đến vườn nho ngươi, Họ không chừa lại một ít cho người mót sao? Nếu kẻ trộm đến ban đêm Chẳng phải chúng chỉ cướp những gì chúng muốn thôi sao?
Nhưng Ta đã lột trần Ê-sau, Phơi bày những nơi kín giấu của nó, Nó không thể ẩn mình được. Con cháu, anh em, người lân cận nó đều bị tiêu diệt, Chính nó sẽ không còn.
Hãy để các trẻ mồ côi của ngươi lại, chính Ta sẽ bảo vệ mạng sống chúng; Những bà góa của các ngươi hãy trông cậy vào Ta!”
Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, những kẻ không đáng phải uống chén nầy vẫn phải uống; chẳng lẽ ngươi thoát khỏi hình phạt được sao? Ngươi sẽ không thoát khỏi hình phạt, nhưng phải uống chén ấy.”
Đức Giê-hô-va phán: “Ta đã chỉ chính mình mà thề rằng thành Bốt-sa sẽ trở nên một vật kinh tởm, một trò cười, một nơi hoang tàn, và một lời nguyền rủa. Tất cả các thành của nó sẽ vĩnh viễn hoang phế.”
Nầy là tin mà tôi nghe được từ Đức Giê-hô-va, Và một sứ giả được sai đến giữa các nước: “Hãy tập hợp lại và tấn công nó! Hãy vùng dậy mà chiến đấu!”
“Vì nầy, Ta đã làm cho ngươi bé nhỏ giữa các nước, Và bị mọi người khinh dể.
Hỡi người sống trong khe đá, Chiếm giữ các đỉnh núi cao. Nỗi kinh hoàng mà ngươi gây ra, Và thói kiêu ngạo của lòng ngươi, đã đánh lừa ngươi. Dù ngươi có xây tổ trên cao như tổ đại bàng, Ta cũng khiến ngươi từ đó rớt xuống.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Ê-đôm sẽ trở nên vật đáng tởm, Mọi người đi qua đều kinh ngạc và cười chê vì các thương tích của nó.”
Đức Giê-hô-va phán: “Như sự hủy hoại của Sô-đôm, Gô-mô-rơ và các thành lân cận, Ê-đôm sẽ không có người ở nữa, Chẳng một người nào đến đó cư ngụ.
Như sư tử từ các rừng rậm Giô-đanh tiến về các đồng cỏ tươi tốt quanh năm, Ta sẽ làm cho Ê-đôm thình lình chạy trốn và lập người mà Ta đã chọn để cai trị nó. Vì có ai giống như Ta? Ai sẽ ra lệnh cho Ta? Có người chăn nào dám chống lại Ta không?”
Vậy hãy nghe kế hoạch của Đức Giê-hô-va đã vạch ra để phán xét Ê-đôm và ý định Ngài đã lập để phán xét dân cư Thê-man: Cả những con vật bé nhỏ trong bầy cũng sẽ bị kéo đi và đồng cỏ của chúng trở nên hoang vu đáng sợ.
Tiếng sụp đổ của chúng làm đất rúng động, tiếng kêu la của chúng thấu đến Biển Đỏ.
Nầy, kẻ thù bay vút lên và lướt nhanh như đại bàng, xòe cánh phủ trùm trên Bốt-ra. Trong ngày đó, lòng các chiến sĩ Ê-đôm như lòng sản phụ lúc chuyển dạ.
Về Đa-mách: “Thành Ha-mát và Ạt-bát đều xấu hổ, Vì chúng nghe tin dữ; Chúng khiếp đảm, bối rối như biển động, Không thể yên lặng.
Đa-mách đã bủn rủn, quay lưng trốn chạy, Nỗi hoảng sợ ngự trị nó; Nó buồn rầu đau đớn, Như sản phụ lúc sinh con.
Tại sao thành phố nổi tiếng ấy, Thành phố đem cho Ta niềm vui, Lại không bị hoang vắng?”
“Bởi vậy, trong ngày đó, các thanh niên nó sẽ ngã gục trên các quảng trường, Tất cả lính chiến nó sẽ phải nín lặng.” Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy
“Ta sẽ châm lửa đốt tường thành Đa-mách, Lửa sẽ thiêu hủy các cung điện của Bên Ha-đát.”
Về Kê-đa và các vương quốc ở Hát-so mà vua Ba-by-lôn là Nê-bu-cát-nết-sa đã đánh, Đức Giê-hô-va phán như sau: “Hãy trỗi dậy tiến đánh Kê-đa, Tiêu diệt các dân tộc phương Đông.
Cướp đi lều trại và bầy súc vật chúng nó, Cả màn che và mọi thứ vật dụng, Dẫn luôn lạc đà của chúng đi Người ta sẽ kêu lớn: ‘Kinh hãi tứ phía!’”
Đức Giê-hô-va phán: “Hỡi cư dân Hát-so, hãy trốn đi! Hãy lánh đi thật xa! Ẩn mình trong các hố sâu! Vì Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, Âm mưu chống các ngươi, Lập kế hoạch hại các ngươi.”
Đức Giê-hô-va phán: “Hãy trỗi dậy, tiến đánh một dân tộc bình thản, Đang sống yên ổn, Không có cửa đóng, then cài Ở một nơi riêng biệt.
Lấy lạc đà chúng làm chiến lợi phẩm, Bầy vật đông đúc của chúng làm mồi ngon. Ta sẽ rải theo mọi hướng gió Những kẻ cạo tóc hai bên thái dương; Ta sẽ giáng tai họa trên chúng từ mọi phía.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Hát-so sẽ trở thành hang chó rừng, Là chốn hoang tàn mãi mãi, Không còn ai ở đó nữa; Chẳng có một người nào đến đó trú ngụ!”
Lúc Sê-đê-kia, vua Giu-đa mới trị vì, có lời Đức Giê-hô-va phán với nhà tiên tri Giê-rê-mi về Ê-lam.
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Nầy, Ta sẽ bẻ cung của Ê-lam là sức mạnh chủ yếu của nó.
Ta sẽ khiến gió từ bốn phương thổi đến Ê-lam. Ta sẽ rải chúng theo mọi hướng gió ấy; không nước nào mà không có những kẻ bị đuổi khỏi Ê-lam.
Ta sẽ khiến Ê-lam kinh hãi trước kẻ thù và trước những kẻ tìm đòi mạng sống chúng.” Đức Giê-hô-va phán: “Ta sẽ giáng tai họa trên chúng tức là cơn giận phừng phừng của Ta, Ta còn sai gươm đao đuổi theo cho đến khi Ta tận diệt chúng.”
Đức Giê-hô-va phán: “Ta sẽ đặt ngai Ta trong Ê-lam, sẽ tiêu diệt vua và thủ lĩnh nó.
Nhưng trong những ngày cuối cùng, Ta sẽ đem các kẻ lưu đày của Ê-lam trở về.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đây là lời Đức Giê-hô-va phán qua nhà tiên tri Giê-rê-mi về Ba-by-lôn, về đất của người Canh-đê:
“Hãy loan báo và công bố cho các nước, Hãy giương cờ và công bố, Đừng giấu gì cả; hãy nói: ‘Ba-by-lôn đã thất thủ, Thần Bên hổ thẹn, Thần Mê-rô-đác kinh hãi, Hình tượng nó xấu hổ, Tượng thần nó bị đập tan!’
Vì một dân từ phương bắc tấn công nó, làm cho đất nó hoang vu, không có dân ở; cả người và súc vật đều chạy xa, trốn biệt.”
Đức Giê-hô-va phán: “Trong những ngày đó, vào thời điểm đó, con cái Y-sơ-ra-ên và con cái Giu-đa cùng nhau trở lại; chúng vừa đi vừa khóc, tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình.
Chúng hỏi đường trở về Si-ôn, mặt nhìn về hướng ấy và nói: ‘Hãy đến và liên kết với Đức Giê-hô-va bằng một giao ước đời đời, giao ước không bao giờ quên lãng!’
Dân Ta vốn là bầy chiên lạc; những kẻ chăn làm cho chúng lạc đường để chúng bơ vơ trên các núi, lang thang hết núi đến đồi, quên cả ràn của mình.
Ai gặp chúng đều vồ nuốt chúng. Kẻ thù chúng nói rằng: ‘Chúng ta không mắc tội vì chúng đã phạm tội với Đức Giê-hô-va là đồng cỏ thật, tức là Đức Giê-hô-va, niềm hi vọng của tổ phụ chúng.’
Hãy trốn khỏi Ba-by-lôn, hãy ra khỏi đất của người Canh-đê, hãy đi trước như những con dê đầu đàn!
Vì nầy, Ta sẽ dấy lên một liên minh các cường quốc từ phương bắc chống lại Ba-by-lôn. Chúng dàn trận tấn công thành, đánh chiếm thành. Mũi tên của chúng như dũng sĩ thiện xạ, chẳng trở về tay không.
Canh-đê sẽ bị cướp phá, những kẻ cướp phá nó sẽ được no nê”. Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Hỡi kẻ cướp sản nghiệp của Ta, Vì các ngươi vui mừng hớn hở, Chạy nhảy tung tăng như bò tơ trong sân đạp lúa, Hí vang như bầy ngựa giống,
Nên mẹ các ngươi sẽ vô cùng xấu hổ, Người sinh ra các ngươi sẽ nhục nhã ê chề. Kìa, nó đứng chót trong các nước, Một hoang mạc, một xứ cằn cỗi, một chốn hoang vu.
Vì cơn giận của Đức Giê-hô-va, không còn ai đến ở chỗ nó, Tất cả trở nên chốn hoang tàn; Ai đi ngang qua Ba-by-lôn đều kinh ngạc Và chê cười về các thương tích của nó.
Hỡi các ngươi là kẻ giương cung! Hãy dàn quân bao vây Ba-by-lôn; Hãy bắn nó, đừng tiếc các mũi tên Vì nó đã phạm tội với Đức Giê-hô-va.
Khắp bốn bề hãy lên tiếng chống lại nó, Nó đã đầu hàng; Pháo đài nó đã sập, Thành lũy nó sụp đổ; Vì đây là sự báo trả của Đức Giê-hô-va! Hãy báo trả nó, Hãy làm cho nó như nó đã làm.
Hãy loại khỏi Ba-by-lôn kẻ gieo giống Và kẻ cầm liềm trong mùa gặt. Vì sợ lưỡi gươm của kẻ ức hiếp Nên ai nấy sẽ trở về với dân tộc mình, Và trốn về quê hương mình.
Y-sơ-ra-ên là con chiên lạc bầy bị sư tử rượt đuổi. Trước đây là vua A-si-ri vồ nuốt nó, và sau nầy là Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, gặm xương nó.”
Vì vậy, Đức Giê-hô-va vạn quân Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như sau: “Nầy, Ta sẽ trừng phạt vua Ba-by-lôn và xứ sở nó như đã trừng phạt vua A-si-ri.
Nhưng Ta sẽ đem Y-sơ-ra-ên về trong đồng cỏ nó, nó sẽ ăn cỏ no nê trên Cạt-mên và Ba-san, và trên đồi núi Ép-ra-im và Ga-la-át.”
Đức Giê-hô-va phán: “Trong những ngày đó, vào thời điểm đó, người ta sẽ tìm tội ác của Y-sơ-ra-ên mà không thấy; tìm lỗi lầm của Giu-đa mà chẳng gặp; vì Ta sẽ tha thứ cho những kẻ sống sót mà Ta đã chừa lại.”
“Hãy kéo đến đất Mê-ra-tha-im Và tiến đánh nó; Hãy tấn công cư dân Phê-cốt, Giết và tiêu diệt cho đến người cuối cùng; Hãy làm đúng mọi điều Ta đã truyền dạy ngươi.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Tiếng giao chiến vang động trong đất; Tai họa khủng khiếp!
Cái búa đập cả trái đất Đã bị bẻ gãy tan tành! Giữa các nước, Ba-by-lôn thật kinh hoàng làm sao!
Hỡi Ba-by-lôn, Ta đã gài bẫy, Ngươi đã mắc vào mà không biết! Ngươi đã bị phát hiện và bị bắt, Vì đã thách thức Đức Giê-hô-va.
Đức Giê-hô-va đã mở kho vũ khí Đem khí giới của cơn thịnh nộ ra, Vì Chúa là Đức Giê-hô-va vạn quân Có việc phải làm trong đất người Canh-đê.
Từ bốn phương trời hãy đến chống lại nó; Mở toang các kho vựa nó ra, Chất thành đống, và hãy diệt trừ tất cả; Đừng để sót thứ gì!
Hãy giết tất cả bò đực nó, Đem hết xuống lò sát sinh. Khốn thay cho chúng vì ngày chúng đã đến, Là thời kỳ chúng bị trừng phạt!
Hãy nghe những người chạy trốn và lánh nạn khỏi Ba-by-lôn đến Si-ôn để rao về sự báo trả của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, sự báo trả cho đền thờ Ngài.
Hãy triệu tập những kẻ bắn cung, tất cả những tay cung thiện xạ tiến đánh Ba-by-lôn. Hãy đóng trại chung quanh nó; đừng để một ai trốn thoát! Hãy báo trả cho nó tùy theo việc nó đã làm; hãy làm cho nó đúng như nó đã làm, vì nó kiêu căng xúc phạm đến Đức Giê-hô-va, Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên.
Bởi vậy, trong ngày đó, các thanh niên nó sẽ gục ngã trên các quảng trường; tất cả lính chiến nó sẽ phải nín lặng.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Chúa là Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Nầy, hỡi dân kiêu ngạo! Ta chống lại ngươi; Vì ngày ngươi đã đến, Là thời điểm Ta trừng phạt ngươi.
Kẻ kiêu ngạo sẽ sẩy chân vấp ngã, Không ai đỡ nó dậy. Ta sẽ châm lửa đốt các thành nó, Lửa sẽ thiêu nuốt mọi thứ chung quanh nó.”
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Con cái Y-sơ-ra-ên và con cái Giu-đa đều bị ức hiếp; những kẻ bắt chúng đều giữ chúng nghiêm nhặt, không chịu thả chúng đi.
Đấng Cứu Chuộc chúng thật mạnh mẽ. Danh Ngài là Đức Giê-hô-va vạn quân. Ngài chắc chắn sẽ bênh vực chúng để đem an bình cho đất nước chúng, nhưng làm rối loạn dân cư Ba-by-lôn.”
Đức Giê-hô-va phán: “Gươm đao giáng trên người Canh-đê, Trên dân cư Ba-by-lôn, Trên các thủ lĩnh và những người khôn ngoan của nó.
Gươm đao giáng trên bọn tiên tri giả, Khiến chúng thành kẻ dại dột! Gươm đao giáng trên các dũng sĩ, Khiến chúng bị khiếp kinh!
Gươm đao giáng trên ngựa và chiến xa, Trên đám dân ô hợp giữa nó, Khiến chúng thành đàn bà! Gươm đao giáng trên các kho tàng, Khiến chúng bị cướp sạch!
Hạn hán giáng trên sông suối, Khiến chúng bị cạn khô! Vì đó là xứ của hình tượng, Chúng điên cuồng vì tượng thần.
Vì vậy, tại Ba-by-lôn thú vật sa mạc sẽ ở với chó rừng, đà điểu cũng đến sống ở đó; không bao giờ còn có dân đến cư ngụ nữa, từ đời nầy đến đời kia không ai đến định cư ở đó.”
Đức Giê-hô-va phán: “Như lúc Đức Chúa Trời hủy diệt Sô-đôm, Gô-mô-rơ và các thành lân cận, sẽ không còn ai đến sinh sống, hay một người nào cư ngụ tại đó nữa.
Nầy, một dân tộc đến từ phương bắc; Một cường quốc và nhiều vua Nổi lên từ tận cùng trái đất.
Chúng nắm chặt cung và giáo, Hung hăng dữ tợn, không có lòng thương xót. Tiếng chúng thét lên như biển gào, Cưỡi trên ngựa, chúng dàn trận Nhất loạt tấn công ngươi, Hỡi con gái Ba-by-lôn!
Nghe tin ấy, Tay chân vua Ba-by-lôn bủn rủn, Nỗi kinh khiếp siết chặt ông ta Khiến ông quặn thắt như sản phụ chuyển dạ.
Nầy, như sư tử từ các rừng rậm Giô-đanh tiến về các đồng cỏ tươi tốt quanh năm; Ta sẽ làm cho Ba-by-lôn thình lình chạy trốn và lập người mà Ta đã chọn để cai trị nó. Vì có ai giống như Ta? Ai sẽ ra lệnh cho Ta? Có người chăn nào dám chống lại Ta không?”
Vậy hãy nghe kế hoạch Đức Giê-hô-va đã vạch để phán xét Ba-by-lôn và ý định Ngài đã lập để phán xét dân Canh-đê: Cả những con vật bé nhỏ trong bầy cũng sẽ bị kéo đi, đồng cỏ của chúng trở nên hoang vắng đáng sợ.
Tiếng sụp đổ của chúng làm đất rúng động, và tiếng kêu la của chúng thấu đến các nước.
Đức Giê-hô-va phán: “Nầy Ta sẽ khiến một ngọn gió hủy diệt, Nổi lên tàn phá Ba-by-lôn, Và dân cư Canh-đê.
Ta sẽ sai các dân ngoại đến Ba-by-lôn Sàng sảy và làm tiêu hao xứ sở nó; Vì trong ngày hoạn nạn, Chúng sẽ tấn công Ba-by-lôn tứ phía.
Đừng để người bắn cung kịp giương cung, Cũng đừng để nó kịp mặc áo giáp. Đừng nương tay với những thanh niên Ba-by-lôn, Hãy diệt sạch cả đạo quân nó.
Chúng bị đâm chết trong đất người Canh-đê, Người bị thương la liệt trên đường phố.
Y-sơ-ra-ên cùng Giu-đa chẳng bị bỏ bê, Bởi Đức Chúa Trời là Đức Giê-hô-va vạn quân của họ; Dù xứ sở chúng dẫy đầy tội lỗi Vì chống lại Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên.
Hãy trốn khỏi Ba-by-lôn, Mỗi người tự cứu lấy mạng sống mình! Đừng vì tội nó mà bị chết mất. Vì đây là kỳ báo trả của Đức Giê-hô-va; Ngài sẽ báo trả nó xứng đáng.
Ba-by-lôn vốn là cái chén vàng trong tay Đức Giê-hô-va, Làm cho cả đất say sưa; Các nước đã uống rượu nó, Vì thế mà trở nên điên cuồng.
Thình lình, Ba-by-lôn sụp đổ tan tành, Hãy khóc thương cho nó! Hãy lấy nhũ hương xoa lên vết thương nó; Biết đâu nó được chữa lành.
‘Chúng ta cố chữa lành cho Ba-by-lôn Nhưng nó vẫn không lành. Hãy lìa bỏ nó, Mỗi người hãy trở về xứ mình; Vì án phạt nó thấu đến tận trời, Lên tận mây xanh.’
‘Đức Giê-hô-va biện minh cho chúng ta. Hãy đến, chúng ta hãy rao ra trong Si-ôn Công việc của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta.’
Hãy chuốt mũi tên cho nhọn, Cầm thuẫn cho chắc! Đức Giê-hô-va đã giục lòng các vua của Mê-đi, vì ý định của Ngài là hủy diệt Ba-by-lôn. Đây là sự báo trả của Đức Giê-hô-va, Ngài báo trả cho đền thờ của Ngài.
Hãy giương cờ hiệu, Tiến đánh các tường thành Ba-by-lôn! Hãy tăng cường phòng vệ, Dựng vọng canh, bố trí quân phục kích! Vì Đức Giê-hô-va vừa hoạch định vừa thực hiện Điều mà Ngài đã phán về dân cư Ba-by-lôn.
Hỡi thành sống bên những dòng sông lớn, Có nhiều kho báu, Giờ cuối cùng của ngươi đã đến, Thời gian cho ngươi đã không còn!
Đức Giê-hô-va vạn quân đã lấy chính Ngài mà thề: Chắc chắn Ta sẽ khiến những đạo quân đông như cào cào tấn công ngươi; Chúng sẽ reo hò chiến thắng.
Chính Ngài là Đấng đã dựng nên trái đất bằng quyền năng Ngài, Lập nên thế giới bằng sự khôn ngoan của Ngài, Dùng sự sáng suốt Trải rộng các tầng trời.
Khi Ngài lên tiếng, các nguồn nước trên các tầng trời xáo động, Ngài khiến hơi nước bốc lên từ tận cùng trái đất. Khiến chớp theo mưa, Phát tán gió từ trong kho tàng của Ngài.
Mọi người đều ngu muội, không hiểu biết; Các thợ bạc đều xấu hổ về tượng đúc của mình; Vì hình tượng là giả dối, Không có hơi thở bên trong.
Chúng chỉ là hư không, là sản phẩm lừa dối; Đến ngày đoán phạt, chúng sẽ bị diệt vong.
Nhưng cơ nghiệp của Gia-cốp thì không như thế, Vì chính Ngài là Đấng đã tạo nên mọi vật, Y-sơ-ra-ên là bộ tộc của cơ nghiệp Ngài; Danh Ngài là Đức Giê-hô-va vạn quân.
Ngươi là cái búa, là vũ khí cho Ta; Ta sẽ dùng ngươi đập tan các dân tộc Và tiêu diệt các vương quốc.
Ta sẽ dùng ngươi phá tan ngựa và người cưỡi ngựa; Ta sẽ dùng ngươi phá tan xe và kẻ cưỡi xe.
Ta sẽ dùng ngươi phá tan đàn ông và đàn bà, Người già và con trẻ. Ta sẽ dùng ngươi phá tan thanh niên và thiếu nữ.
Ta sẽ dùng ngươi phá tan người chăn và bầy của nó, Kẻ cày ruộng và bò kéo cày. Ta sẽ dùng ngươi phá tan các tổng đốc và các quan cai trị.”
“Nhưng trước mắt các ngươi, Ta sẽ báo trả Ba-by-lôn và mọi dân cư Canh-đê về mọi điều ác mà chúng đã làm tại Si-ôn.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, hỡi núi hủy diệt, Ta chống lại ngươi, Kẻ tàn phá cả thế gian! Ta sẽ giơ tay ra hành hại ngươi, Sẽ khiến ngươi lăn xuống từ các vách đá, Biến ngươi thành ngọn núi bị thiêu rụi.
Người ta sẽ chẳng lấy được từ chỗ ngươi một viên đá góc nhà Hoặc viên đá nền, Nhưng ngươi sẽ hoang tàn mãi mãi.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Hãy giương cờ lên trong xứ; Thổi kèn giữa các nước; Chuẩn bị các dân để chiến cự với nó! Hãy triệu tập các vương quốc: A-ra-rát, Min-ni, Ách-kê-na đến đánh nó! Hãy cử một tổng chỉ huy quân đội, Sai ngựa chiến xông lên như cào cào hung hăng!
Hãy chuẩn bị các nước tiến đánh nó, Tức các vua Mê-đi, cùng với các tổng đốc, các quan cai trị Và cả xứ sở mà họ cai quản!
Đất rúng động và sầu thảm Vì ý định của Đức Giê-hô-va đối với Ba-by-lôn đã được thực hiện, Để làm cho Ba-by-lôn hoang vu, Không có dân ở.
Các chiến sĩ Ba-by-lôn ngừng giao chiến, Rút vào trong các pháo đài; Chúng đã kiệt sức, Trở nên như đàn bà. Nhà cửa trong thành bị đốt, Then cổng thành bị bẻ gãy.
Lính trạm nầy gặp lính trạm kia, Hết sứ giả nầy đến sứ giả khác, Báo tin cho vua Ba-by-lôn rằng Thành của vua ấy hoàn toàn thất thủ.
Các bến sông đều bị chiếm giữ, Các đầm lau sậy bị lửa thiêu đốt, Binh lính khiếp đảm.”
Vì Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: “Con gái Ba-by-lôn giống như sân đập lúa Vào kỳ đập lúa; Chẳng bao lâu nữa Mùa gặt của nó sẽ đến.”
“Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đã nuốt chúng tôi, Nghiền nát chúng tôi; Vua ấy làm cho chúng tôi thành chiếc bình trống, Nuốt chửng chúng tôi như con quái vật nuốt mồi, Lấy thức ăn ngon chúng tôi nhét đầy bụng, Rồi đuổi chúng tôi đi.”
Dân thành Si-ôn sẽ nói: “Nguyện sự bạo ngược đã làm cho chúng con và con cháu chúng con giáng trên Ba-by-lôn!” Giê-ru-sa-lem sẽ nói: “Nguyện huyết chúng con đổ lại trên dân Canh-đê!”
Vì thế, Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, Ta sẽ bênh vực con, Báo trả cho con. Ta sẽ làm cạn biển nó Và nguồn nước nó khô cạn;
Ba-by-lôn sẽ thành đống hoang tàn, Thành hang chó rừng, Thành chốn kinh tởm và trò cười cho thiên hạ, Không người ở.
Chúng gầm gừ như sư tử tơ, Thét lên như sư tử con.
Khi chúng hung hăng nóng nảy, Ta sẽ dọn tiệc cho chúng no say, để chúng hả hê, Và ngủ một giấc nghìn thu, Không bao giờ dậy nữa.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Ta sẽ đem chúng đến lò sát sinh, Như chiên con, chiên đực và dê đực.
Ôi, Sê-sác đã thất thủ, Thành mà cả thiên hạ ca ngợi đã bị chiếm đóng! Ôi, giữa muôn dân, Ba-by-lôn đã trở nên hoang vu rùng rợn!
Biển dâng tràn ngập Ba-by-lôn, Những cơn sóng cuồng nộ nhận chìm nó.
Các thành nó đã trở nên nỗi kinh hoàng, Trở thành vùng đất khô cằn, hoang mạc, Vùng đất không người ở, Không một bóng người qua lại.
Ta sẽ trừng phạt thần Bên trong Ba-by-lôn, Móc vật nó đã nuốt ra khỏi miệng nó. Các dân tộc sẽ chẳng đổ về đó nữa. Tường thành Ba-by-lôn sẽ sụp đổ!
Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi nó, Mỗi người hãy tự cứu lấy mình Khỏi cơn giận phừng phừng của Đức Giê-hô-va!
Các ngươi đừng ngã lòng, đừng sợ hãi Trước những tin đồn trong xứ, Vì năm nay một tin đồn đến, Rồi năm sau lại có tin đồn khác; Bạo lực lan tràn trong xứ, Cường quyền tiếp nối cường quyền.
Vì thế, nầy, những ngày đến, Ta sẽ trừng phạt các hình tượng của Ba-by-lôn; Toàn xứ sở nó phải xấu hổ, Người bị tàn sát sẽ ngã chết giữa thành.
Bấy giờ, trời, đất và mọi vật trong đó Đều cất tiếng reo vui về Ba-by-lôn Vì những kẻ hủy diệt từ phương bắc Đến tàn phá nó.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Bao nhiêu người trên đất bị gục ngã vì Ba-by-lôn; Bây giờ, Ba-by-lôn phải gục ngã vì đã giết nhiều người Y-sơ-ra-ên.
Các ngươi là kẻ đã thoát khỏi lưỡi gươm, Hãy đi, đừng đứng lại! Từ phương xa, hãy nhớ đến Đức Giê-hô-va Và tâm tư hằng ghi khắc Giê-ru-sa-lem!
Chúng con xấu hổ vì phải nghe lời lăng nhục; Nỗi nhục nhã phủ lên mặt chúng con Vì ngoại bang đã xâm nhập Những nơi thánh của nhà Đức Giê-hô-va.
Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán: “Nầy những ngày đến, Ta sẽ trừng phạt các hình tượng của Ba-by-lôn Khắp trong xứ nó, Những người bị thương sẽ rên xiết.
Dù Ba-by-lôn có lên tận trời, Có dựng pháo đài kiên cố trên cao, Ta cũng sẽ sai những kẻ tiêu diệt đến Tấn công nó.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Hãy nghe tiếng kêu than từ Ba-by-lôn, Tiếng hủy diệt khủng khiếp từ xứ sở người Canh-đê!
Vì Đức Giê-hô-va đang tiêu diệt Ba-by-lôn, Làm im tiếng ồn ào của nó. Các lượn sóng quân thù xông lên như nước vỡ bờ, Tiếng thét gào vang dội.
Vì kẻ tiêu diệt đã kéo đến Chống lại Ba-by-lôn. Các dũng sĩ của nó đều bị bắt, Cung chúng nó bị gãy; Vì Giê-hô-va là Đức Chúa Trời thưởng phạt, Chắc chắn Ngài sẽ báo trả đích đáng.
Đức Vua, danh Ngài là Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Ta sẽ khiến cho các thủ lĩnh, các kẻ khôn ngoan, Các tổng đốc, các quan cai trị, và các dũng sĩ của nó say mèm, Chúng sẽ ngủ một giấc nghìn thu, Không bao giờ tỉnh dậy.”
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Tường thành kiên cố của Ba-by-lôn Sẽ bị san bằng, Cổng thành cao vút của nó Sẽ bị lửa thiêu rụi. Thế là, các dân khó nhọc mà chẳng được gì, Các nước làm việc cho lửa và đều mệt mỏi.”
Đây là lời của nhà tiên tri Giê-rê-mi dặn bảo Sê-ra-gia, con trai Nê-ri-gia, cháu Ma-ha-sê-gia, khi ông đi qua Ba-by-lôn với Sê-đê-kia, vua Giu-đa, vào năm thứ tư thời trị vì của vua ấy. Bấy giờ Sê-ra-gia làm quan đại thần.
Giê-rê-mi chép tất cả các tai ương sẽ xảy đến cho Ba-by-lôn vào một cuộn sách. Tất cả những điều nầy đều viết về Ba-by-lôn.
Giê-rê-mi nói với Sê-ra-gia: “Khi đã đến Ba-by-lôn, ông nhớ đọc lớn tất cả những lời nầy,
và nói: ‘Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài đã phán rằng Ngài sẽ hủy diệt thành nầy, đến nỗi từ loài người cho đến loài vật đều không sống nổi, và nơi nầy sẽ hoang vu mãi mãi.’
Sau khi đọc xong sách nầy thì ông buộc sách vào một cục đá và ném xuống sông Ơ-phơ-rát,
rồi công bố: ‘Ba-by-lôn sẽ chìm xuống như vậy và sẽ không ngoi lên được nữa, vì tai họa mà Ta sắp giáng trên nó. Chúng sẽ sờn ngã.’” Lời của Giê-rê-mi chấm dứt ở đây.
Sê-đê-kia lên ngôi vua khi được hai mươi mốt tuổi và trị vì mười một năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ vua tên là Ha-mu-ta, con gái của Giê-rê-mi, người Líp-na.
Vua ấy làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, giống như mọi việc vua Giê-hô-gia-kim đã làm.
Chính vì cơn giận của Đức Giê-hô-va đối với những việc đã xảy ra tại Giê-ru-sa-lem và Giu-đa mà Ngài trục xuất họ khỏi mặt Ngài. Sê-đê-kia nổi lên chống lại vua Ba-by-lôn.
Ngày mùng mười tháng mười của năm thứ chín đời vua Sê-đê-kia, Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đem cả quân lực tiến đánh Giê-ru-sa-lem. Chúng đóng quân bao vây và xây đắp chiến lũy chung quanh thành.
Thành bị bao vây cho đến năm thứ mười một đời vua Sê-đê-kia.
Ngày mồng chín tháng tư, nạn đói trở nên trầm trọng đến nỗi trong thành không còn thức ăn nữa.
Tường thành bị chọc thủng. Ban đêm, dù trong vòng vây của quân Canh-đê, tất cả binh lính đều trốn khỏi thành bằng cổng giữa hai bức tường, gần vườn của vua. Chúng đi theo con đường hướng về A-ra-ba.
Nhưng đạo quân Canh-đê đuổi theo và bắt kịp Sê-đê-kia tại vùng đồng bằng Giê-ri-cô; binh lính bỏ vua, chạy tán loạn.
Chúng bắt vua và giải về cho vua Ba-by-lôn, tại Ríp-la, trong đất Ha-mát. Tại đó, vua Ba-by-lôn xét xử vua Sê-đê-kia.
Vua Ba-by-lôn tàn sát các con trai Sê-đê-kia trước mặt vua ấy; vua cũng sai giết tất cả các quan chức Giu-đa tại Ríp-la nữa.
Vua ấy cũng sai móc mắt Sê-đê-kia, xiềng lại bằng những dây xích đồng. Vua Ba-by-lôn giải Sê-đê-kia về Ba-by-lôn, giam trong ngục cho đến ngày qua đời.
Vào ngày mùng mười tháng năm, năm thứ mười chín đời Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, quan chỉ huy vệ binh Nê-bu-xa-a-đan, cận thần của vua Ba-by-lôn, vào thành Giê-ru-sa-lem.
Ông ra lệnh đốt đền thờ Đức Giê-hô-va, cung vua và tất cả nhà cửa trong thành Giê-ru-sa-lem, và thiêu rụi tất cả các dinh thự của giới quý tộc.
Toàn bộ quân Canh-đê dưới quyền quan chỉ huy vệ binh, đã phá sập tất cả các bức tường chung quanh Giê-ru-sa-lem.
Tiếp đến, quan chỉ huy vệ binh Nê-bu-xa-a-đan ra lệnh lưu đày những người nghèo nhất trong dân chúng, những người còn sót lại trong thành, những kẻ đã đầu hàng vua Ba-by-lôn và những thợ thủ công còn sót lại.
Quan chỉ huy vệ binh Nê-bu-xa-a-đan chỉ để những người nghèo khó nhất ở lại trong xứ để trồng vườn nho và làm ruộng.
Quân Canh-đê đập nát các trụ đồng trong đền thờ Đức Giê-hô-va, cả chân đế và bể nước trong đền thờ Đức Giê-hô-va rồi lấy đồng đó đem về Ba-by-lôn.
Chúng lấy đi nồi, xẻng, kéo cắt tim đèn, chậu, đĩa dâng hương, và tất cả những dụng cụ bằng đồng dùng vào việc thờ phượng.
Quan chỉ huy vệ binh cũng lấy đi cả những chén, lư hương, chậu, nồi, giá đèn, đĩa dâng hương, và bát. Vật dụng nào bằng vàng thì lấy vàng, vật dụng nào bằng bạc thì lấy bạc.
Còn hai cột trụ, một bể nước và mười hai con bò bằng đồng làm chân đế cho bể nước, mà vua Sa-lô-môn đã chế tạo cho nhà Đức Giê-hô-va; khối lượng đồng của những thứ ấy không thể cân được.
Mỗi cột trụ cao tám mét, chu vi năm mét ba, rỗng ruột và dày cỡ bốn ngón tay.
Trên đầu cột có chóp đồng, cao hai mét hai, chung quanh chóp trụ có lưới và trái lựu toàn bằng đồng. Cột trụ kia cũng có lưới và trái lựu giống như cột nầy.
Bốn phía có chín mươi sáu trái lựu; tổng số là một trăm trái lựu bao quanh lưới trụ.
Quan chỉ huy vệ binh bắt Sê-ra-gia, thầy tế lễ cả, và Sô-phô-ni, thầy tế lễ phó, cùng ba người canh cửa đền.
Trong thành, ông cũng bắt một hoạn quan chỉ huy binh lính, bảy cận thần của vua có mặt trong thành, một thư ký của chỉ huy trưởng quân đội lo việc tuyển quân trong xứ; cùng sáu mươi người dân trong xứ có mặt trong thành.
Quan chỉ huy vệ binh Nê-bu-xa-a-đan bắt và giải những người ấy đến vua Ba-by-lôn tại Ríp-la.
Vua Ba-by-lôn sai đánh và giết họ tại Ríp-la, trong đất Ha-mát. Thế là dân Giu-đa bị lưu đày biệt xứ.
Đây là số người mà Nê-bu-cát-nết-sa lưu đày: Năm thứ bảy, có ba ngàn hai mươi ba người Giu-đa.
Năm thứ mười tám đời Nê-bu-cát-nết-sa, có tám trăm ba mươi hai người từ thành Giê-ru-sa-lem.
Năm thứ hai mươi ba đời vua ấy, quan chỉ huy vệ binh Nê-bu-xa-a-đan bắt đày bảy trăm bốn mươi lăm người Giu-đa. Tổng cộng là bốn ngàn sáu trăm người.
Năm lưu đày thứ ba mươi bảy của vua Giu-đa là Giê-hô-gia-kin, tức là năm trị vì đầu tiên của Ê-vinh Mê-rô-đác, vua Ba-by-lôn, vào ngày hai mươi lăm tháng mười hai, vua nầy ân xá cho Giê-hô-gia-kin, vua Giu-đa, và đem ra khỏi ngục.
Vua nói năng nhã nhặn với vua Giê-hô-gia-kin và ban cho ông ngai cao hơn ngai của các vua khác cùng số phận với mình tại Ba-by-lôn.
Vậy, Giê-hô-gia-kin cởi bỏ áo tù, ngày ngày dùng bữa với vua suốt đời.
Hằng ngày, vua Ba-by-lôn ban bổng lộc đều đặn cho Giê-hô-gia-kin, suốt những ngày vua còn sống cho đến khi qua đời.
Ôi! Xưa là thành đông đúc, Nay ngồi quạnh quẽ một mình! Xưa đầy quyền thế giữa các dân, Nay như một góa phụ! Xưa là nữ chúa giữa các tỉnh, Nay là kẻ lao dịch khổ sai!
Nàng khóc nức nở suốt đêm, Nước mắt tràn đôi má. Bao người yêu thuở trước, Không ai an ủi nàng. Bạn bè phản bội nàng, Trở thành bọn nghịch thù.
Giu-đa bị lưu đày khốn khổ, Chịu nô dịch nặng nề. Sống nhờ giữa các dân, Không tìm được nơi an nghỉ. Những kẻ truy đuổi đã bắt được nàng, Khi nàng lâm vào bước đường cùng.
Đường phố Si-ôn tang tóc Vì không còn ai đến trong ngày lễ hội. Mọi cửa thành hoang vu, Các thầy tế lễ thở than; Các trinh nữ khổ đau, Thân phận nàng chìm trong cay đắng.
Đối thủ nàng trở thành kẻ thống trị, Kẻ thù nàng được thịnh vượng, Vì Đức Giê-hô-va làm cho nàng khốn khổ Bởi tội lỗi nàng nhiều quá. Con cái nàng bị bắt, Đưa đi lưu đày trước mặt kẻ thù.
Ánh hào quang của con gái Si-ôn Đã biến mất. Các thủ lĩnh nàng như đàn nai Không tìm ra đồng cỏ; Không còn sức chạy trốn Trước những kẻ săn đuổi.
Trong những ngày khốn khổ lang thang, Giê-ru-sa-lem nhớ lại những báu vật Mà xưa kia mình thừa hưởng. Khi dân nàng rơi vào tay kẻ thù, Chẳng một ai tiếp cứu, Quân thù nhìn nàng chế nhạo Cảnh hoang vu của nàng!
Giê-ru-sa-lem phạm tội nặng nề, Vì vậy, đã trở nên ô uế; Mọi kẻ từng tôn kính nàng nay khinh dể cười chê, Vì chúng thấy nàng trơ trụi. Chính nàng cũng thở than Và ngoảnh mặt đi.
Vết bẩn còn trên váy nàng; Nàng chẳng nghĩ đến tương lai; Nàng đã sa sút khác thường Mà chẳng ai an ủi! “Lạy Đức Giê-hô-va, xin đoái xem nỗi ưu phiền của con, Vì kẻ thù đã huênh hoang tự đắc!”
Kẻ thù đã dang tay Cướp sạch mọi thứ quý giá của nàng; Chính nàng nhìn thấy các dân ngoại Xông vào đền thánh, Chúng là kẻ mà Ngài đã cấm Không được vào hội của Ngài.
Cả dân nàng vừa đi xin bánh Vừa thở than; Đổi cả kho tàng để có thức ăn Để làm tươi tỉnh linh hồn mình. “Lạy Đức Giê-hô-va xin đoái xem, Vì con tủi nhục biết chừng nào!”
“Hỡi những tất cả những ai đi qua đây! Các người không quan tâm gì sao? Hãy đến và xem! Có nỗi buồn nào sánh được Với nỗi buồn mà Đức Giê-hô-va đã giáng trên tôi, Mà Ngài trừng phạt tôi Trong ngày Ngài nổi giận phừng phừng chăng?
Từ trên cao Ngài đã giáng lửa xuống Thiêu đốt xương cốt tôi. Ngài đã giăng lưới dưới chân tôi, Làm cho tôi thối lui. Ngài bỏ tôi cô quạnh, Mòn mỏi suốt cả ngày.
Tội lỗi tôi bị buộc vào cái ách Chính tay Ngài buộc chúng lại với nhau. Nó đè nặng trên cổ tôi, Bào mòn sức lực tôi. Chúa đã phó tôi vào tay chúng, Là những kẻ mà tôi không chống cự nổi!
Chúa đã khinh thường Mọi lính chiến ở giữa tôi; Ngài triệu tập một đội quân đông đúc chống lại tôi Để nghiền nát các thanh niên tôi; Chúa đã giày đạp trinh nữ Giu-đa Như đạp nho trong hầm ép rượu.
Vì thế mà tôi khóc; Mắt tôi tuôn trào giọt lệ; Vì người an ủi tôi đã xa tôi, Không ai làm tươi tỉnh tâm linh tôi. Con cái tôi bơ vơ, Vì kẻ thù đã thắng thế.”
Si-ôn đưa tay ra, Nhưng chẳng ai an ủi nó; Đức Giê-hô-va đã khiến cho các lân bang Trở thành kẻ thù của Gia-cốp; Giê-ru-sa-lem đã trở thành Một vật ô uế ở giữa chúng.
“Đức Giê-hô-va là Đấng công chính, Vì tôi đã chống lại mệnh lệnh Ngài. Hỡi tất cả các dân, hãy lắng nghe Hãy nhìn nỗi khổ đau của tôi! Thanh niên, thiếu nữ tôi Đã bị lưu đày.
Tôi đã kêu cầu những người thân thiết Nhưng họ lừa dối tôi; Các thầy tế lễ và trưởng lão Đã chết trong thành, Trong lúc tìm thức ăn Để phục hồi sức lực.
Lạy Đức Giê-hô-va, xin đoái xem! Con đang khốn khổ dường nào; Ruột gan con rối bời; lòng con nổi loạn. Vì con vô cùng ngang bướng! Ngoài đường gươm đao chém giết Trong nhà chết chóc tràn lan.
Chúng nghe tiếng con than thở, Nhưng không ai đến an ủi. Mọi kẻ thù con đều mừng rỡ, Khi Ngài đem tai họa đến cho con. Xin đem ngày mà Ngài đã rao báo đến, Để chúng cũng khốn khổ như con.
Xin cho mọi gian ác chúng lộ ra trước mặt Ngài! Xin Ngài phạt chúng Như Ngài đã phạt con Vì mọi tội con đã phạm; Con đã than thở nhiều Và tim con héo hắt.”
Ôi, vì sao Chúa nổi giận Phủ mây đen trên con gái Si-ôn? Ngài đã ném từ trời cao xuống đất Vẻ huy hoàng của Y-sơ-ra-ên; Trong ngày thịnh nộ, Ngài không nhớ đến bệ chân của Ngài.
Chúa nuốt các nơi cư trú của Gia-cốp Không chút xót thương; Trong cơn giận, Ngài đạp đổ các đồn lũy của con gái Giu-đa; Triệt hạ và làm ô nhục, Cả vương quốc lẫn các thủ lĩnh.
Trong cơn giận phừng phừng, Ngài chặt hết sừng của Y-sơ-ra-ên. Ngài rút bàn tay phải lại, Khi quân thù tấn công. Như ngọn lửa hừng mà Ngài đã đốt lên giữa Gia-cốp, Thiêu hủy mọi thứ chung quanh.
Ngài giương cung như kẻ thù, Tay phải Ngài vung lên như địch thủ; Ngài đã giết hết những kẻ làm vui mắt chúng con. Ngài trút giận ra như đổ lửa Trên trại của thiếu nữ Si-ôn.
Chúa đã trở thành kẻ thù, Ngài nuốt Y-sơ-ra-ên; Ngài nuốt mọi đền đài dinh thự, Triệt hạ các đồn lũy, Làm cho con gái Giu-đa Thêm tang tóc đau thương.
Ngài hủy phá đền thờ của nó như phá hủy túp lều của một khu vườn; Ngài triệt hạ cả nơi hội họp của Ngài. Tại Si-ôn, Đức Giê-hô-va đã làm cho lãng quên Ngày lễ hội và ngày sa-bát; Trong cơn phẫn nộ, Ngài truất bỏ vua và thầy tế lễ.
Đức Giê-hô-va đã loại bỏ bàn thờ, Khinh thường nơi thánh; Ngài đã phó thành quách cung điện Si-ôn Vào tay quân thù; Chúng reo hò trong nhà Đức Giê-hô-va Như trong ngày lễ hội.
Đức Giê-hô-va đã định phá hủy Tường thành của con gái Si-ôn; Ngài đã giăng dây đo, Tiêu diệt không nương tay. Ngài làm cho tường và lũy sầu thảm, Cùng nhau hao mòn tàn tạ.
Các cổng thành lún sâu trong đất; Ngài đã phá tung và bẻ gãy các then cài. Vua và thủ lĩnh bị lưu đày biệt xứ; Luật pháp không còn, Ngay các nhà tiên tri cũng không nhận được Khải tượng từ Đức Giê-hô-va.
Các trưởng lão của thiếu nữ Si-ôn Lặng lẽ ngồi trên đất; Đầu rải tro bụi, Mình mặc áo gai. Các trinh nữ Giê-ru-sa-lem Cúi đầu sát đất.
Mắt tôi hao mòn vì tuôn tràn giọt lệ, Ruột gan rối bời; Lòng dạ tôi đổ ra trên đất Vì con gái dân tôi bị hủy diệt; Vì trẻ em và trẻ sơ sinh Ngất đi giữa các đường phố.
Chúng kêu đòi mẹ: “Thức ăn ở đâu? Rượu ở đâu?” Chúng ngất đi như người bị thương Trên các đường phố trong thành, Rồi chúng trút linh hồn Trong lòng mẹ.
Hỡi cô gái Giê-ru-sa-lem, Ta làm chứng gì cho ngươi? So sánh ngươi với ai? Hỡi trinh nữ Si-ôn, Ta lấy gì ví sánh với ngươi để an ủi ngươi? Sự thương tổn của ngươi như biển cả, Ai có thể chữa lành?
Các tiên tri ngươi đã cho ngươi thấy Những khải tượng giả dối và phù phiếm; Họ chẳng vạch trần tội lỗi ngươi Để đem ngươi trở về từ chốn lưu đày. Nhưng chỉ cho ngươi thấy Những lời tiên tri dối trá và lầm lạc.
Những người qua lại trên đường Vỗ tay, huýt sáo, lắc đầu, Nhạo báng thiếu nữ Giê-ru-sa-lem: “Có phải đây là thành phố mà người ta gọi là: ‘Vẻ đẹp toàn hảo, Niềm vui của cả địa cầu’ không?”
Mọi kẻ thù của ngươi Hả miệng chống lại ngươi; Chúng huýt sáo, nghiến răng, rồi gào lên: “Chúng ta đã tiêu diệt nó! Đây là ngày chúng ta mong đợi, Chúng ta đã đạt được rồi, đã tìm thấy rồi!”
Đức Giê-hô-va làm điều Ngài hoạch định, Thực hiện lời Ngài đã phán; Như lời Ngài truyền từ xa xưa, Ngài đã lật đổ chẳng chút xót thương; Ngài làm cho kẻ thù ngươi vui về ngươi, Giương cao sừng kẻ thù ngươi.
Lòng dân ngươi đã kêu cầu Chúa, Hỡi các tường thành của Si-ôn, Hãy để cho nước mắt ngươi Ngày đêm tuôn chảy như dòng sông! Đừng khi nào nghỉ ngơi, Cũng đừng để con ngươi của mắt ngươi đứng yên!
Ban đêm, hãy thức dậy kêu cầu Vào đầu mỗi canh khuya! Hãy trút đổ lòng ra như nước Trước mặt Chúa. Hãy giơ tay hướng về Chúa Vì sự sống của con cái ngươi, Chúng ngất đi vì đói, Ở khắp mọi đầu đường góc phố.
Lạy Đức Giê-hô-va xin đoái xem! Ngài đã đối xử với ai thế nầy? Làm sao người đàn bà đành ăn trái của ruột mình, Tức là con cái mình đang ẵm trong tay? Làm sao thầy tế lễ và nhà tiên tri Lại bị giết trong nơi thánh của Chúa?
Ngoài phố, trẻ thơ và người già Nằm la liệt; Thanh niên thiếu nữ của con Đều ngã gục bởi gươm đao. Ngài đã giết chúng trong ngày thịnh nộ, Tàn diệt chúng chẳng chút xót thương.
Ngài đã nhóm bao nỗi kinh hoàng của con từ mọi phía, Như trong ngày trẩy hội; Trong ngày Đức Giê-hô-va nổi giận, Chẳng một ai trốn thoát hoặc sống sót. Những kẻ con đã ẵm bồng và nuôi dạy, Đều đã bị kẻ thù của con tiêu diệt.
Tôi là người đã từng trải nỗi khốn khổ, Dưới cây gậy thịnh nộ của Ngài.
Ngài đã dẫn tôi và đưa tôi đi Trong tối tăm, không một tia sáng;
Thật, suốt ngày, Ngài đưa tay Hành hạ tôi liên tục.
Ngài khiến da thịt tôi hao mòn, Xương cốt tôi gãy vụn;
Bao vây tôi, giam hãm tôi Bằng cay đắng nhọc nhằn;
Ngài bắt tôi ở chỗ tối tăm, Như người chết tự bao giờ.
Ngài xây tường quanh tôi, tôi không sao trốn thoát; Ngài xiềng tôi bằng dây xích nặng;
Dù tôi kêu la và cầu cứu, Ngài vẫn để ngoài tai lời cầu nguyện của tôi;
Ngài lấy đá chận lối tôi, Khiến đường tôi đi khúc khuỷu.
Ngài như con gấu rình rập tôi, Như sư tử ẩn mình chờ đợi;
Ngài khiến tôi lạc đường, xé tôi ra từng mảnh, Và bỏ tôi bơ vơ;
Ngài đã giương cung và dựng tôi lên Làm mục tiêu cho mũi tên của Ngài.
Ngài khiến những mũi tên trong bao Cắm sâu vào tim tôi.
Tôi trở thành trò cười cho dân tôi, Là bài vè cho chúng nghêu ngao suốt ngày.
Ngài đã cho tôi ngậm đầy cỏ đắng, Nuốt ngải cứu chán chê.
Ngài mài răng tôi trên sỏi đá, Để tôi nằm co ro trong tro bụi.
Linh hồn tôi xa cách sự bình an, Không còn nhớ phước hạnh là gì.
Tôi tự nhủ: “Sức chịu đựng của ta đã hết, Niềm hi vọng nơi Đức Giê-hô-va đã tiêu tan.”
“Xin Chúa nhớ đến nỗi phiền ưu và cảnh đời lưu lạc của con, Chỉ có ngải cứu và mật đắng.
Con vẫn luôn nhớ đến điều đó, Linh hồn con mòn mỏi trong con.
Nhưng khi nhớ lại điều đó Thì con có niềm hi vọng.”
Nhờ lòng nhân từ của Đức Giê-hô-va mà chúng ta không bị tiêu diệt, Lòng thương xót của Ngài không bao giờ dứt.
Mỗi buổi sáng, lòng thương xót của Chúa tươi mới luôn, Sự thành tín Ngài lớn biết bao.
Tôi tự nhủ: “Đức Giê-hô-va là sản nghiệp tôi, Nên tôi hi vọng nơi Ngài.”
Đức Giê-hô-va nhân từ với những ai trông đợi Ngài, Với linh hồn nào tìm kiếm Ngài.
Thật tốt cho người yên lặng trông chờ Ơn cứu rỗi của Đức Giê-hô-va.
Thật tốt cho người nào Mang ách lúc còn trẻ,
Để nó ngồi một mình trong yên lặng Khi Ngài đã đặt ách trên nó.
Cứ để miệng nó hôn bụi đất! Có thể còn hi vọng;
Nó cứ đưa má cho người ta vả, Chuốc lấy bao sỉ nhục ê chề.
Vì Chúa không từ bỏ ai mãi mãi.
Dù Ngài có làm cho đau buồn, Ngài vẫn thương xót Theo lòng nhân từ cao cả của Ngài;
Vì trong thâm tâm, Ngài không muốn Gây khổ đau hoặc buồn bã cho con cái loài người.
Khi người ta giày đạp Mọi tù nhân trong xứ,
Để uốn cong công lý của một người Trước mặt Đấng Chí Cao,
Để gây thiệt hại cho người khi xử kiện, Thì Chúa không chấp nhận.
Ai ra lệnh cho điều đó xảy ra, Nếu không phải là Chúa đã phán truyền?
Chẳng lẽ từ miệng Đấng Chí Cao Lại ra vừa tai họa lẫn phước lành?
Tại sao người đang sống phàn nàn Về hình phạt dành cho tội lỗi mình?
Chúng ta hãy xem đi xét lại đường lối mình, Và trở về với Đức Giê-hô-va.
Chúng ta hãy đưa tay, Hướng lòng về Đức Chúa Trời trên trời, và thưa:
“Chúng con đã phạm tội và bội nghịch, Ngài đã không tha thứ!
Ngài ẩn mình trong thịnh nộ và đuổi theo chúng con, Sát hại chúng con chẳng chút xót thương;
Ngài ẩn mình trong mây Để không lời cầu nguyện nào thấu đến được.
Ngài biến chúng con thành rác rến, Thành vật phế thải giữa các dân.
Mọi kẻ thù của chúng con Đều há miệng rộng chống lại chúng con;
Chúng con rơi vào kinh hãi và vực thẳm Hoang tàn và đổ nát.”
Nước mắt tôi chảy thành suối Vì con gái dân tôi bị tiêu diệt.
Nước mắt tôi tuôn chảy triền miên Không ngưng nghỉ.
Cho đến khi Đức Giê-hô-va từ trời cao Đoái xem và nhìn thấy.
Mắt tôi khiến linh hồn tôi đau xót Vì số phận của các thiếu nữ trong thành.
Những kẻ vô cớ thù ghét tôi, Săn đuổi tôi như đuổi chim.
Họ muốn chôn sống tôi trong hố Rồi ném đá lấp tôi lại.
Nước ngập lên đầu tôi, Tôi nghĩ: “Ta chết mất!”
“Lạy Đức Giê-hô-va, từ hố sâu thăm thẳm Con kêu cầu danh Ngài.
Ngài đã nghe tiếng con, Xin đừng bịt tai khỏi lời kêu cứu của con.
Ngài đã đến bên con khi con kêu cầu Ngài, Ngài đã phán: ‘Đừng sợ!’
Lạy Chúa, Ngài đã bênh vực lẽ phải cho con, Cứu chuộc mạng sống con.
Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài đã thấy con bị ức hiếp; Xin minh xét cho con!
Ngài đã thấy hết ý định trả thù Và mọi âm mưu của chúng chống lại con.
Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài đã nghe mọi lời sỉ nhục, Và mọi âm mưu của chúng chống lại con,
Miệng của những kẻ nổi lên chống lại con Bàn tính nhau để hại con suốt ngày.
Ngài thấy đó, khi chúng ngồi lúc chúng đứng Con là bài vè cho chúng nghêu ngao.
Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ báo trả chúng Tùy theo việc tay chúng làm.
Xin cho lòng chúng cứng cỏi, Và giáng lời nguyền rủa trên chúng.
Trong cơn giận, Ngài truy đuổi và tiêu diệt chúng Khỏi bầu trời của Đức Giê-hô-va.”
Than ôi! Vàng đã phai mờ, Vàng ròng cũng biến đổi! Những hòn đá thánh nằm rải rác Khắp mọi đầu đường góc phố!
Các con trai ưu tú của Si-ôn, Quý giá như vàng ròng, Nay bị coi như bình đất, Do tay thợ gốm làm ra!
Ngay cả chó rừng Còn đưa vú cho con bú, Nhưng con gái dân tôi lại trở nên hung dữ, Như đà điểu trong hoang mạc.
Lưỡi của trẻ thơ còn bú Dính vào vòm họng vì khát; Trẻ con xin bánh Nhưng chẳng ai cho.
Những người từng nếm cao lương mỹ vị, Nay bơ vơ ngoài đường phố; Những kẻ lớn lên trong nhung lụa, Nay ôm đống phân tro.
Tội lỗi con gái dân tôi Lớn hơn tội lỗi Sô-đôm, Là thành sụp đổ trong phút chốc, Không một bàn tay cứu giúp.
Giới quý tộc nó tinh sạch hơn tuyết, Trắng hơn sữa. Da thịt hồng hào hơn san hô, Gương mặt rạng ngời như bích ngọc.
Nhưng nay mặt đen hơn than, Không ai nhận ra họ trong đường phố; Chỉ còn da bọc xương, Khô đét như khúc gỗ.
Những kẻ chết vì gươm Còn may mắn hơn người bị chết đói: Họ chết dần chết mòn trong đau đớn, Vì thiếu sản vật ngoài đồng.
Đôi tay của người mẹ đầy lòng thương xót Lại đi nấu thịt của con mình; Biến chúng thành thức ăn Trong lúc con gái dân tôi bị chà đạp.
Đức Giê-hô-va đã làm cho hả giận, Trút đổ cơn thịnh nộ của Ngài ra; Ngài nhen lửa tại Si-ôn, Thiêu rụi cả nền móng nó.
Các vua trên đất không tin, Muôn dân trên thế gian chẳng ngờ, Kẻ thù và địch quân lại có thể tiến vào Các cổng thành Giê-ru-sa-lem.
Chính vì tội lỗi của các nhà tiên tri, Vì gian ác của các thầy tế lễ, Là những kẻ đã làm đổ máu người công chính Ngay giữa thành.
Họ đi lang thang ngoài đường phố Như người mù. Bị máu làm ô uế Đến nỗi không ai dám đụng đến áo quần họ.
Người ta kêu lên: “Tránh ra! Đồ ô uế đấy! Tránh ra! Tránh xa ra! Đừng đụng đến!” Vì thế, họ trốn tránh và lưu lạc đó đây; Dân chúng trong các nước nói: “Chúng không được trú ngụ ở đây nữa.”
Chính Đức Giê-hô-va đã phân tán chúng, Ngài không đoái xem chúng nữa. Thầy tế lễ không dám ngẩng mặt lên, Người già cả không được kính mến.
Mắt chúng tôi mòn mỏi, Vô vọng chờ mong sự cứu giúp! Từ vọng canh, chúng tôi ngóng đợi Một dân không thể cứu chúng tôi.
Người ta dòm ngó bước chân chúng tôi Để chúng tôi không thể đi trên phố; Sự cuối cùng của chúng tôi đã gần! Ngày chúng tôi đã hết! Kết cục của chúng tôi đã đến!
Kẻ đuổi theo chúng tôi Nhanh hơn chim đại bàng trên trời cao. Chúng truy đuổi chúng tôi trên các núi, Rình rập chúng tôi trong hoang mạc.
Người chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va, tức là hơi thở của chúng tôi, Đã mắc bẫy chúng; Đó là người mà chúng tôi thường nói: “Núp dưới bóng người chúng ta sẽ sống giữa các nước.”
Hỡi con gái Ê-đôm, cư ngụ trong đất Út-xơ, Cứ vui mừng hớn hở đi; Nhưng chén thịnh nộ cũng sẽ đến tay ngươi, Ngươi cũng sẽ say sưa và trần truồng.
Hỡi con gái Si-ôn, hình phạt ngươi đã trọn, Ngài không giữ ngươi ở chốn lưu đày nữa! Nhưng, hỡi con gái Ê-đôm, Ngài sẽ trừng phạt ngươi; Vạch trần gian ác ngươi!
Lạy Đức Giê-hô-va, xin nhớ đến những gì đã giáng trên chúng con; Xin đoái xem sự sỉ nhục của chúng con!
Sản nghiệp chúng con đã về tay dân ngoại, Nhà cửa chúng con thuộc về kẻ xa lạ.
Chúng con mồ côi cha, Mẹ chúng con thành góa phụ.
Chúng con phải trả tiền để có nước uống, Phải mua mới có củi chụm.
Kẻ đuổi kịp chúng con chận cổ chúng con; Chúng con mệt nhừ rồi vẫn không được nghỉ!
Chúng con ngửa tay xin người Ai Cập Và người A-si-ri, để có đủ bánh ăn.
Tổ phụ chúng con đã phạm tội và nay đã qua đời; Chúng con phải gánh chịu gian ác của họ.
Đám tôi đòi cai trị chúng con, Không ai giải cứu chúng con khỏi tay chúng.
Chúng con liều mạng để có bánh ăn, Bất chấp gươm đao trong hoang mạc.
Da thịt chúng con nóng như lò nướng Vì cơn đói thiêu đốt chúng con!
Chúng cưỡng hiếp phụ nữ tại Si-ôn, Và làm nhục các trinh nữ trong các thành Giu-đa.
Tay chúng đã treo các thủ lĩnh lên, Chúng cũng không kính trọng người già cả.
Kẻ trai tráng buộc phải mang cối xay, Còn thiếu niên lảo đảo dưới gánh củi.
Các trưởng lão đã rời cổng thành, Giới thanh niên không còn chơi nhạc.
Lòng chúng con mất hết niềm vui, Cuộc nhảy múa đã đổi thành tang chế.
Mão triều thiên rơi khỏi đầu chúng con, Khốn thay cho chúng con, vì chúng con phạm tội!
Vì thế mà lòng chúng con đau khổ, Mắt chúng con mờ đi,
Vì núi Si-ôn đã trở nên hoang vu, Làm nơi cho chồn cáo lảng vảng.
Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài trị vì đời đời, Ngôi Ngài tồn tại từ thế hệ nầy sang thế hệ kia.
Sao Ngài quên chúng con mãi mãi, Lìa bỏ chúng con lâu ngày như vậy?
Lạy Đức Giê-hô-va, xin phục hồi chúng con để chúng con được hồi phục! Xin làm mới lại ngày tháng chúng con như thuở xa xưa!
Phải chăng Ngài đã cương quyết từ bỏ chúng con, Và giận chúng con vô cùng?
Vào năm thứ ba mươi, ngày mùng năm tháng tư, khi tôi đang ở giữa những người bị lưu đày bên bờ sông Kê-ba, các tầng trời mở ra và tôi thấy những khải tượng của Đức Chúa Trời.
Ngày mùng năm tháng ấy — năm thứ năm sau khi vua Giê-hô-gia-kin bị lưu đày —
có lời của Đức Giê-hô-va phán riêng với thầy tế lễ Ê-xê-chi-ên, con trai Bu-xi, trong xứ người Canh-đê, bên bờ sông Kê-ba. Chính tại đó, tay Đức Giê-hô-va đặt trên ông.
Kìa tôi thấy có một luồng gió bão từ hướng bắc thổi đến, một đám mây lớn bọc lửa tỏa sáng chung quanh, và từ giữa lửa có cái gì rực sáng như đồng chiếu sáng cả bầu trời.
Từ giữa nó, có cái gì giống như bốn sinh vật, hình dạng như sau: chúng giống hình người,
nhưng mỗi con có bốn mặt và bốn cánh.
Chân của chúng thẳng, bàn chân như bàn chân bò con đực chiếu sáng như đồng bóng loáng.
Dưới cánh của chúng, bốn bên đều có tay người. Bốn con có mặt và có cánh ấy như sau:
cánh tiếp giáp nhau; khi chúng đi thì không quay lại nhưng mỗi con cứ đi thẳng tới trước.
Về hình dạng mặt của chúng thì bốn con đều có mặt người; bốn con đều có mặt sư tử ở bên phải; bốn con đều có mặt bò ở bên trái và bốn con đều có mặt chim ưng.
Đó là mặt của chúng. Còn cánh của chúng thì giương lên cao; mỗi con có hai cánh giáp với nhau và có hai cánh che thân mình.
Mỗi con đi thẳng tới; thần khiến đi đâu thì đi đó, không quay lại trong khi đi.
Hình dạng của những sinh vật ấy giống như hình than lửa đang cháy và hình ngọn đuốc, di chuyển giữa các sinh vật ấy; lửa cháy sáng và có tia chớp từ lửa phát ra.
Các sinh vật ấy chạy qua chạy lại giống như hình tia chớp.
Khi tôi nhìn các sinh vật ấy, tôi thấy trên đất có một bánh xe ở bên cạnh các sinh vật ấy, mỗi sinh vật bốn mặt đều có một bánh xe.
Hình dạng và cấu trúc những bánh xe ấy giống như bích ngọc lấp lánh; tất cả bốn bánh đều giống nhau; hình dạng và cấu trúc như là bánh xe lồng trong bánh xe.
Khi đi thì chúng đi theo bốn hướng và không quay lại khi đi.
Các vành bánh xe cao, trông đáng sợ và cả bốn vành bánh xe của các sinh vật đều đầy những mắt.
Khi các sinh vật đi, thì các bánh xe ấy cũng đi bên cạnh; và khi các sinh vật cất lên khỏi đất, thì các bánh xe cũng cất lên như vậy.
Thần muốn đi đâu thì các sinh vật đi đó, và các bánh xe cũng cất lên cùng các sinh vật vì thần của các sinh vật đó ở trong các bánh xe.
Khi các sinh vật đi, thì chúng cũng đi; khi các sinh vật dừng, thì chúng cũng dừng; và khi các sinh vật cất lên khỏi đất, thì các bánh xe cùng cất lên với chúng, vì thần của sinh vật ở trong các bánh xe.
Trên các đầu của sinh vật có một vòm chiếu sáng như thủy tinh dễ sợ trải ra trên đầu chúng.
Dưới vòm đó, các cánh của chúng giương thẳng ra, cái nầy tiếp giáp cái kia. Mỗi sinh vật ấy đều có hai cánh che thân thể mình.
Khi đi tới, tôi nghe tiếng của những cánh chúng như tiếng nước chảy ầm ầm, như tiếng của Đấng Toàn Năng, tiếng ồn ào của một đoàn quân vậy. Khi chúng dừng lại thì cánh rủ xuống.
Lúc chúng dừng lại và rủ cánh xuống thì từ nơi vòm trên đầu có tiếng vang ra.
Trên vòm phía trên đầu các sinh vật có cái gì tựa như cái ngai bằng bích ngọc, và trên ngai ấy có cái gì giống như hình người.
Tôi thấy từ thắt lưng của người ấy trở lên giống như đồng bóng loáng, sáng rực như hình ngọn lửa, và từ thắt lưng của người ấy trở xuống, tôi thấy như hình ngọn lửa sáng rực chung quanh.
Ánh sáng mà tôi thấy chung quanh đó giống như ánh sáng của cầu vồng trong mây vào ngày mưa. Đó là hình ảnh vinh quang của Đức Giê-hô-va. Khi thấy vậy, tôi liền sấp mặt xuống đất và nghe tiếng đang phán với tôi.
Chúa phán với tôi rằng: “Hỡi con người, chân con hãy đứng cho vững, Ta sẽ phán với con.”
Ngài vừa phán với tôi như vậy thì Thần vào trong tôi, làm cho chân tôi đứng lên và tôi nghe Đấng đang phán với mình.
Ngài phán với tôi: “Hỡi con người, Ta sai con đến với dân Y-sơ-ra-ên, đến với các dân nổi loạn chống lại Ta. Chúng và tổ phụ chúng đã phạm tội nổi loạn chống lại Ta cho đến chính hôm nay.
Đó là con cái dày mặt cứng lòng mà Ta sai con đến với chúng. Khá nói với chúng rằng: ‘Chúa Giê-hô-va có phán như vậy!’
Dù chúng có nghe hoặc không chịu nghe con vì chúng vốn là nhà nổi loạn, thì ít nữa chúng cũng biết rằng ở giữa chúng có một nhà tiên tri.
Nhưng hỡi con người, con chớ sợ chúng và cũng chớ sợ lời của chúng, dù phải gặp gai chông và sống giữa bọ cạp đi nữa. Đừng sợ lời của chúng và đừng kinh hãi khi đối mặt với chúng vì chúng là nhà nổi loạn.
Vậy con hãy truyền lời Ta phán với chúng cho dù chúng có nghe hay không, vì chúng là dân nổi loạn.
Nhưng hỡi con người, hãy lắng nghe điều Ta phán với con. Đừng nổi loạn như nhà hay nổi loạn ấy. Hãy mở miệng ra ăn vật mà Ta ban cho con.”
Tôi ngước nhìn và thấy một bàn tay cầm một cuộn sách đưa về phía tôi.
Ngài mở cuộn sách ấy ra trước mặt tôi. Đó là cuộn sách có chữ viết cả bên trong lẫn bên ngoài, với những lời đầy đau thương, than khóc, và khốn nạn được chép vào đó.
Chúa phán với tôi rằng: “Hỡi con người, hãy ăn vật mà con thấy; hãy ăn cuộn sách nầy rồi đi và nói với nhà Y-sơ-ra-ên.”
Tôi mở miệng ra và Ngài khiến tôi ăn cuộn sách ấy.
Ngài phán: “Hỡi con người, hãy lấy cuộn sách Ta cho mà ăn cho no dạ, làm cho đầy bụng.” Vậy tôi ăn vào và thấy trong miệng ngọt như mật.
Ngài lại phán: “Hỡi con người, hãy đi đến nhà Y-sơ-ra-ên và truyền những lời Ta cho họ.
Ta không sai con đến với một dân ngoại nói tiếng khó hiểu mà đến với nhà Y-sơ-ra-ên.
Cũng không sai con đến với nhiều dân tộc nói tiếng khó hiểu, giọng khó nghe, khiến con không thể hiểu được. Mà giá như Ta sai con đến với họ thì chắc họ sẽ nghe con thôi.
Nhưng nhà Y-sơ-ra-ên sẽ chẳng nghe con vì họ không muốn nghe Ta. Vì cả nhà Y-sơ-ra-ên đều cứng trán cứng lòng.
Nầy Ta sẽ làm cho mặt của con chai cứng để đối mặt với họ, và trán của con chai cứng để chạm trán với họ.
Ta làm cho trán con cứng như kim cương, rắn hơn đá lửa. Đừng sợ hãi họ, cũng đừng run rẩy vì bộ mặt của họ vì họ là nhà nổi loạn.”
Rồi Ngài phán với tôi rằng: “Hỡi con người, hãy nhận vào lòng và nghe vào tai mọi lời Ta sẽ phán với con.
Hãy đi đến với những người bị lưu đày, đến với đồng bào con và nói với họ rằng ‘Chúa Giê-hô-va phán như vậy,’ cho dù họ có nghe hay không.”
Bấy giờ Thần cất tôi lên và tôi nghe có tiếng động rất lớn ở đằng sau tôi rằng: “Đáng chúc tụng vinh quang của Đức Giê-hô-va từ nơi Ngài đang ngự!”
Tôi cũng nghe tiếng động do cánh của các sinh vật đập vào nhau, tiếng của những bánh xe bên cạnh các sinh vật ấy và tiếng động rất lớn.
Thần cất tôi lên và đem tôi đi; tôi đi mà lòng đầy cay đắng, giận dữ. Tay Đức Giê-hô-va đặt trên tôi một cách mạnh mẽ.
Tôi đến với những người bị lưu đày ở Tên A-bíp, bên bờ sông Kê-ba. Tôi dừng lại nơi họ đang sinh sống và lưu lại đó với họ trong bảy ngày, lòng đầy buồn rầu.
Sau bảy ngày ấy, có lời của Đức Giê-hô-va phán với tôi thế nầy:
“Hỡi con người, Ta đã lập con làm người canh giữ nhà Y-sơ-ra-ên. Vậy hãy nghe lời từ miệng Ta và thay Ta cảnh cáo họ.
Khi Ta nói với kẻ dữ: ‘Mầy chắc sẽ chết!’ Nếu con không cảnh cáo nó, không nói với nó, và khuyên nó từ bỏ đường lối xấu xa để cứu mạng mình, thì kẻ dữ đó sẽ chết trong tội lỗi nó, nhưng Ta sẽ đòi máu nó nơi tay con.
Trái lại, nếu con cảnh cáo kẻ dữ mà nó không từ bỏ điều dữ cùng đường lối gian ác mình, thì nó sẽ chết trong tội lỗi nó, nhưng con sẽ giải cứu được linh hồn mình.
Cũng một lẽ ấy, nếu người công chính bỏ sự công chính mà phạm tội và Ta đặt sự ngăn trở trước mặt nó, thì nó sẽ chết. Vì con không cảnh cáo nó nên nó sẽ chết vì tội lỗi nó, và những việc công chính mà nó đã làm không được nhớ đến, nhưng Ta sẽ đòi máu nó nơi tay con.
Trái lại, nếu con cảnh cáo người công chính đừng phạm tội, và người ấy không phạm tội thì chắc chắn người ấy sẽ sống vì đã nghe lời cảnh cáo, và con sẽ giải cứu được linh hồn mình.”
Tại đó, tay Đức Giê-hô-va đặt trên tôi và Ngài phán với tôi rằng: “Hãy mau mau đi vào đồng bằng, tại đó Ta sẽ phán với con.”
Vậy tôi lập tức đi vào đồng bằng. Và tại đó, tôi thấy vinh quang Đức Giê-hô-va hiện diện giống như vinh quang mà tôi đã thấy trên bờ sông Kê-ba. Tôi liền sấp mặt xuống đất.
Nhưng Thần vào trong tôi làm cho chân tôi đứng lên. Rồi Ngài phán với tôi rằng: “Hãy đi, giam mình trong nhà con.
Hỡi con người, nầy người ta sẽ lấy dây trói con lại và con không thể đi ra gặp họ.
Ta sẽ khiến lưỡi con dính vào vòm miệng; con sẽ câm, không quở trách họ được vì họ là nhà nổi loạn.
Nhưng khi Ta phán với con, Ta sẽ mở miệng con và con sẽ bảo họ rằng: ‘Chúa Giê-hô-va phán thế nầy: Ai muốn nghe, hãy nghe; ai không muốn nghe, thì đừng nghe! Vì họ là nhà nổi loạn.’”
“Hỡi con người, hãy lấy một viên gạch đặt nó trước mặt con và vẽ thành Giê-ru-sa-lem trên đó.
Con hãy vây hãm nó, dựng đồn, đắp lũy nghịch với nó; đóng quân bao vây và đặt máy phá thành chung quanh chống lại nó.
Rồi hãy lấy một chảo sắt làm bức tường sắt ngăn giữa con với thành, rồi xây mặt lại với nó. Nó sẽ bị vây và con sẽ vây nó. Đó sẽ là một điềm cho nhà Y-sơ-ra-ên.
Kế đó, con nằm nghiêng bên trái và đặt tội lỗi nhà Y-sơ-ra-ên trên con. Con nằm như vậy bao nhiêu ngày thì sẽ mang lấy tội lỗi của họ cũng bấy nhiêu.
Vì Ta đã định cho con, số ngày bằng với số năm tội lỗi của họ, tức là ba trăm chín mươi ngày. Con sẽ mang lấy tội lỗi nhà Y-sơ-ra-ên như vậy.
Khi những ngày ấy kết thúc, con sẽ nằm nghiêng bên phải và mang lấy tội lỗi của nhà Giu-đa suốt bốn mươi ngày mà Ta định cho con, một ngày thay cho một năm.
Con hãy quay mặt về thành Giê-ru-sa-lem đang bị vây hãm, và đưa cánh tay trần ra để nói tiên tri chống lại nó.
Nầy, Ta dùng dây trói con lại và con sẽ chẳng xoay qua xoay lại được cho đến khi những ngày bao vây thành kết thúc.
Con cũng hãy lấy lúa mì, lúa mạch, đậu, đậu lăng, kê và đại mạch để vào cái bình dùng làm bánh cho mình. Con nằm nghiêng bao nhiêu ngày thì con sẽ ăn bánh đó bấy nhiêu ngày, tức là ba trăm chín mươi ngày.
Đồ ăn mà con sẽ ăn mỗi ngày nặng khoảng hai trăm gam; và con sẽ ăn theo giờ quy định.
Nước mà con uống cũng sẽ lường khoảng hơn nửa lít và uống theo giờ quy định.
Con sẽ ăn bánh ấy như ăn bánh mạch nha, và con phải dùng phân người để nướng bánh trước mắt họ.”
Đức Giê-hô-va lại phán: “Con cái Y-sơ-ra-ên sẽ ăn bánh ô uế như vậy trong các nước mà Ta sẽ đuổi họ đến.”
Tôi nói: “Ôi! Lạy Chúa Giê-hô-va, linh hồn con chẳng hề bị ô uế. Từ lúc nhỏ cho đến bây giờ, con chẳng hề ăn con vật tự nhiên chết hoặc bị thú rừng cắn xé, và chẳng có thịt gì bất khiết vào trong miệng con.”
Ngài phán: “Được, Ta cho phép con lấy phân bò thay phân người để nướng bánh.”
Rồi Ngài lại phán: “Hỡi con người, nầy Ta sẽ cắt đứt nguồn lương thực ở Giê-ru-sa-lem, họ sẽ cân bánh mà ăn trong cơn sợ hãi, lường nước mà uống trong nỗi kinh hoàng.
Vì thiếu bánh và nước, họ nhìn nhau kinh hoàng và bị tiêu hao do tội lỗi mình.”
“Hỡi con người, hãy lấy một thanh gươm bén dùng làm dao cạo râu mà đưa qua đầu và râu của con. Sau đó, dùng cân để cân mà chia tóc ra.
Khi những ngày vây thành kết thúc, con hãy đốt một phần ba tóc ấy ở giữa thành, rồi lấy một phần ba khác dùng gươm mà đánh nó ở chung quanh thành. Và rải một phần ba cuối cùng ra trước gió vì chính Ta sẽ tuốt gươm đuổi theo sau.
Trong những sợi tóc còn lại, con hãy lấy một ít mà buộc vào vạt áo choàng của mình.
Con cũng hãy lấy vài sợi tóc trong số đó quăng vào lửa và đốt cháy. Từ đó, lửa sẽ lan ra đến cả nhà Y-sơ-ra-ên.”
Chúa Giê-hô-va phán: “Đây là thành Giê-ru-sa-lem; Ta đã đặt nó làm trung tâm của các dân tộc và của các nước chung quanh nó.
Nhưng nó phản bội phán quyết Ta, làm điều độc ác hơn các dân tộc khác, chống lại luật lệ Ta hơn các nước chung quanh vì họ từ bỏ phán quyết Ta và không bước theo luật lệ Ta.
Do đó, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Vì các ngươi ương ngạnh hơn các dân tộc chung quanh, không bước theo luật lệ Ta, cũng không gìn giữ phán quyết Ta; ngay cả tiêu chuẩn của các nước chung quanh, các ngươi cũng không theo nổi.’
Vì thế, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Nầy, Ta, chính Ta sẽ chống lại ngươi và Ta sẽ thi hành sự phán xét ở giữa ngươi để các dân tộc đều thấy.
Vì mọi điều ghê tởm của ngươi, Ta sẽ làm cho ngươi một điều mà trước kia Ta chưa hề làm, và sau nầy cũng không hề làm nữa.
Do đó, ở giữa ngươi, cha sẽ ăn thịt con, con sẽ ăn thịt cha. Ta sẽ thi hành sự phán xét trên ngươi, và Ta sẽ làm cho tất cả những người sống sót của ngươi tan lạc theo mọi hướng gió.’”
Chúa Giê-hô-va phán: “Thật như Ta hằng sống, vì ngươi đã làm ô uế nơi thánh Ta bằng những điều ghê tởm, kinh khủng nên Ta sẽ triệt hạ ngươi không thương tiếc. Mắt Ta sẽ không đoái thương ngươi nữa.
Một phần ba trong ngươi sẽ chết vì dịch bệnh, bị tiêu hao vì nạn đói kém ở giữa ngươi; một phần ba sẽ chết vì gươm đao ở chung quanh ngươi; còn một phần ba nữa Ta sẽ làm tan lạc theo mọi hướng gió và lấy gươm truy đuổi họ.
Cơn giận Ta sẽ được trọn và cơn thịnh nộ Ta lắng xuống và nguôi đi. Khi Ta đã trút cơn giận trên họ rồi thì họ sẽ biết rằng vì lòng sốt sắng mà chính Ta, Đức Giê-hô-va, đã phán với họ.
Ta sẽ làm cho ngươi ra hoang vu và trở thành nỗi sỉ nhục trong các nước chung quanh ngươi và trước mắt kẻ đi qua.
Khi Ta nổi giận phán xét ngươi, đổ cơn thịnh nộ trách phạt ngươi, thì ngươi sẽ trở thành nỗi nhuốc nhơ và sự chê cười, lời cảnh cáo và nỗi kinh hoàng cho các nước chung quanh ngươi. Chính Ta là Đức Giê-hô-va phán vậy!
Ta sẽ bắn vào các ngươi những mũi tên độc của cơn đói kém để hủy diệt các ngươi; Ta sẽ bắn để tiêu diệt các ngươi. Ta sẽ thêm sự đói kém trên các ngươi và sẽ cắt đứt nguồn lương thực của các ngươi.
Ta sẽ giáng cơn đói kém trong các ngươi và sai thú dữ cướp đi con cái các ngươi. Dịch bệnh và sự đổ máu sẽ trải qua giữa ngươi, và Ta lại sẽ sai gươm giáo đến trên ngươi nữa. Chính Ta là Đức Giê-hô-va đã phán vậy!”
Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy xây mặt về các núi của Y-sơ-ra-ên và nói tiên tri chống lại họ,
rằng: ‘Hỡi các núi của Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời của Chúa Giê-hô-va. Chúa Giê-hô-va phán với các núi, các đồi, các khe suối và các thung lũng: Nầy Ta, chính Ta, sẽ sai gươm đao đến trừng phạt các ngươi, hủy diệt các nơi cao của các ngươi.
Bàn thờ của các ngươi sẽ bị phá tan, bàn thờ xông hương của các ngươi sẽ bị đập vỡ nát; Ta sẽ ném những kẻ bị giết của các ngươi trước mặt thần tượng các ngươi.
Ta sẽ đặt những xác chết của con cái Y-sơ-ra-ên trước mặt thần tượng của họ và rải hài cốt các ngươi chung quanh bàn thờ của các ngươi.
Bất cứ nơi nào các ngươi ở thì thành trì sẽ bị tàn phá, các nơi cao sẽ bị hoang vu đến nỗi bàn thờ của các ngươi bị điêu tàn và đổ nát, thần tượng bị đập bể và không còn nữa; bàn thờ xông hương bị triệt hạ và mọi công việc của các ngươi bị xóa sạch.
Những kẻ bị giết sẽ ngã xuống giữa các ngươi, và các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va!
Tuy nhiên, Ta sẽ còn chừa lại một số người, vì sẽ có một số người trốn thoát khỏi lưỡi gươm khi các ngươi bị tan lạc trong các nước.
Những kẻ trốn thoát trong các ngươi sẽ nhớ đến Ta trong các nước mà họ bị bắt đến, và họ biết rằng lòng Ta đau đớn vì sự tà dâm của họ đã khiến họ lìa bỏ Ta và cặp mắt tà dâm của họ hướng về các thần tượng mình. Bấy giờ, họ tự oán ghét mình về mọi điều dữ họ đã làm và về những việc kinh tởm của họ.
Họ sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va, và lời cảnh báo về tai họa mà Ta giáng xuống không phải là chuyện viển vông đâu.’”
Chúa Giê-hô-va phán thế nầy: “Hãy vỗ tay, giậm chân và nói: ‘Than ôi! Vì mọi điều dữ đáng ghê tởm của nhà Y-sơ-ra-ên! Vì họ sẽ chết bởi gươm đao, đói kém và dịch bệnh.’
Kẻ nào ở xa sẽ chết bởi dịch bệnh. Kẻ nào ở gần sẽ ngã dưới lưỡi gươm. Kẻ sống sót và kẻ bị bao vây sẽ chết bởi đói kém. Như thế, Ta sẽ trút xong cơn giận của Ta trên họ.
Khi những kẻ bị giết của họ nằm giữa đám thần tượng chung quanh bàn thờ, trên mỗi gò cao, trên mọi đỉnh núi, dưới mọi cây xanh và cây thông rậm rạp, khắp những nơi họ dâng hương thơm ngào ngạt cho các thần tượng mình, bấy giờ các ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.
Vậy, Ta sẽ giơ tay ra chống lại họ, và khắp nơi họ ở, Ta sẽ làm cho đất trở nên hoang vu, tiêu điều, từ hoang mạc cho đến Đíp-lát. Bấy giờ họ sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.”
Lại có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, Chúa Giê-hô-va phán với đất nước Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Sự cuối cùng đã đến! Bốn phương của đất nầy đã đến hồi kết thúc!
Bây giờ, sự cuối cùng đã đến với ngươi. Ta sẽ đổ cơn giận ta trên ngươi; Ta sẽ phán xét ngươi theo đường lối ngươi và sẽ trừng phạt ngươi về những điều ghê tởm của ngươi.
Mắt Ta chẳng tiếc ngươi, Ta sẽ không thương xót ngươi; nhưng Ta sẽ báo trả ngươi theo đường lối của ngươi, và những điều ghê tởm của ngươi sẽ ở giữa ngươi. Bấy giờ, các ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Tai họa, một tai họa khủng khiếp đang đến!
Kỳ cuối cùng đã đến, kỳ cuối cùng đã đến rồi! Nó thức dậy chống lại ngươi. Kìa nó đang đến!
Hỡi cư dân trong đất, số phận ngươi đã định; kỳ đã đến, ngày đã gần rồi; sẽ có sự rối loạn thay cho tiếng reo mừng trên núi đồi.
Nay Ta sắp đổ cơn thịnh nộ Ta trên ngươi và làm cho trọn cơn giận Ta giáng trên ngươi. Ta sẽ phán xét ngươi theo cách ngươi ăn ở và báo trả ngươi về những điều ghê tởm của ngươi.
Mắt Ta chẳng tiếc ngươi, chẳng thương xót ngươi đâu. Ta sẽ báo trả ngươi theo đường lối ngươi và những điều ghê tởm của ngươi sẽ ở giữa ngươi. Bấy giờ, các ngươi sẽ biết rằng chính Ta, Đức Giê-hô-va, là Đấng trừng phạt.
Nầy, ngày ấy đây! Nó đang đến! Số phận đã định đoạt, cây gậy đã trổ hoa, sự kiêu căng đã đâm chồi.
Sự cường bạo đã nổi lên như gậy gian ác; không một ai trong họ còn sống sót, không còn đám đông, không còn sự giàu có, không còn sự sang trọng giữa họ nữa.
Thì giờ đã đến, ngày đã gần kề! Kẻ mua chớ vui, kẻ bán chớ buồn, vì cơn giận đang ở trên cả đoàn dân.
Vì kẻ bán dù còn sống cũng không thể trở lại lấy của mình đã bán. Vì khải tượng về cả đoàn dân sẽ không thể bị đảo ngược. Vì sự gian ác của họ, không một ai có thể bảo tồn được mạng sống mình.
Kèn đã thổi, mọi sự đều sẵn sàng nhưng chẳng ai ra trận vì cơn giận của Ta ở trên cả đoàn dân.
Bên ngoài thì có gươm đao, bên trong thì có dịch bệnh và đói kém! Kẻ nào ở ngoài đồng sẽ chết bởi gươm đao; kẻ nào ở trong thành sẽ bị cơn đói kém và dịch bệnh vồ nuốt lấy.
Những người sống sót sẽ chạy thoát và sẽ ở trên núi như bồ câu ở thung lũng, mọi người đều than khóc về sự gian ác mình.
Mọi bàn tay đều mòn mỏi, mọi đầu gối đều yếu đuối như nước!
Họ sẽ thắt lưng bằng vải sô, bị bao phủ bằng sự kinh khiếp; mọi mặt đều hổ thẹn, mọi đầu đều cạo trọc.
Họ sẽ ném bạc mình ra ngoài đường, vàng của họ sẽ trở thành vật ô uế. Vàng hay bạc cũng không thể cứu họ trong ngày nổi giận của Đức Giê-hô-va. Chúng không thể làm cho họ đỡ đói hay no bụng vì đó là thứ làm cho họ sa vào tội lỗi!
Những đồ trang sức làm cho họ kiêu căng và họ dùng đồ ấy làm những hình tượng ghê tởm và đáng ghét. Vì thế, Ta đã làm cho đồ ấy trở thành ô uế cho họ!
Ta sẽ phó những đồ ấy vào tay dân ngoại làm chiến lợi phẩm, làm của cướp cho kẻ ác trong thế gian, và chúng sẽ làm ô uế nó.
Ta sẽ xây mặt khỏi họ, người ta sẽ làm ô uế nơi thánh của Ta; những kẻ trộm cướp sẽ vào đó và làm ô uế nó.
Hãy chuẩn bị xiềng xích! Vì đất đầy dẫy tội phạm đẫm máu và thành đầy dẫy bạo hành.
Ta sẽ đem những kẻ độc ác nhất trong các dân ngoại đến để chiếm lấy nhà của họ. Ta sẽ làm cho sự kiêu ngạo của kẻ mạnh bị dập tắt; các nơi thánh của họ bị ô uế.
Sự kinh hoàng sắp xảy đến! Họ sẽ tìm sự bình an nhưng không tìm được.
Tai họa chồng chất trên tai họa, tin dữ kế tiếp tin dữ. Họ sẽ tìm khải tượng nơi nhà tiên tri nhưng luật pháp lìa khỏi thầy tế lễ, và mưu trí lìa khỏi các trưởng lão.
Vua sẽ than khóc, người lãnh đạo sẽ mặc lấy sự kinh hãi, tay của dân trong đất đều run rẩy. Ta sẽ đối đãi với họ tùy theo cách họ ăn ở; Ta sẽ phán xét họ tùy theo tội của họ. Bấy giờ, họ sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.’”
Vào năm thứ sáu, ngày mùng năm tháng sáu, khi tôi đang ngồi trong nhà đối diện với các trưởng lão Giu-đa, thì tay Chúa Giê-hô-va đặt trên tôi.
Bấy giờ, tôi thấy một hình dạng giống như lửa. Từ ngang lưng người ấy trở xuống là lửa; còn từ lưng trở lên thì sáng chói tựa đồng bóng loáng.
Người ấy giơ ra trông giống như hình bàn tay nắm lấy một lọn tóc trên đầu tôi. Thần cất tôi lên giữa khoảng đất và trời trong khải tượng của Đức Chúa Trời. Tôi được đem đến thành Giê-ru-sa-lem, nơi cửa vào sân trong về phía bắc, là nơi có dựng hình tượng ghen tuông làm cho nổi ghen.
Kìa vinh quang Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên hiện diện tại đó như tôi đã xem trong khải tượng ở đồng bằng.
Ngài phán với tôi: “Hỡi con người, hãy ngước mắt về phía bắc.” Vậy tôi ngước mắt về phía bắc, và kìa, về phía bắc cổng bàn thờ, nơi lối vào, có hình tượng ghen tuông.
Ngài phán với tôi: “Hỡi con người, con có thấy điều họ đang làm, tức là những điều quá ghê tởm mà nhà Y-sơ-ra-ên đã phạm tại đây khiến Ta phải xa đền thánh Ta chăng? Nhưng con sẽ còn thấy những điều ghê tởm lớn hơn nữa!”
Sau đó, Ngài dẫn tôi đến cửa hành lang. Tôi nhìn thấy một lỗ thủng trên tường.
Ngài phán với tôi: “Hỡi con người, hãy đục tường ấy đi. Khi tôi đục tường xong thì thấy có một cái cửa.”
Ngài lại phán: “Hãy vào xem những điều gian ác đáng kinh tởm mà họ làm ở đây.”
Vậy tôi bước vào và nhìn thấy, kìa, chung quanh tường có chạm đủ mọi thứ hình tượng côn trùng và thú vật ghê tởm, mọi thần tượng của nhà Y-sơ-ra-ên.
Đứng trước mặt các thần tượng ấy là bảy mươi trưởng lão của nhà Y-sơ-ra-ên, trong số đó có Gia-a-xa-nia, con trai Sa-phan, mỗi người tay cầm lư hương khói thơm bay lên nghi ngút.
Ngài phán với tôi: “Hỡi con người, con có thấy điều các trưởng lão nhà Y-sơ-ra-ên, mỗi người làm trong bóng tối, trong phòng chạm hình tượng của mình không? Vì họ nói rằng: ‘Đức Giê-hô-va không thấy chúng ta đâu; Đức Giê-hô-va đã từ bỏ đất nầy!’”
Ngài lại phán: “Con sẽ còn thấy những điều kinh tởm lớn hơn nữa mà họ đã làm!”
Rồi Ngài dẫn tôi đến lối vào cổng bắc của nhà Đức Giê-hô-va; kìa, tại đó tôi thấy các phụ nữ ngồi khóc thần Tham-mu.
Ngài phán với tôi: “Hỡi con người, có thấy chưa? Con sẽ còn thấy những điều kinh tởm lớn hơn nữa!”
Kế đó, Ngài đem tôi vào hành lang trong của nhà Đức Giê-hô-va, nơi lối vào đền thờ Đức Giê-hô-va, giữa cổng vòm và bàn thờ. Tôi thấy có khoảng hai mươi lăm người, lưng quay về hướng đền thờ Đức Giê-hô-va, còn mặt quay về hướng đông mà thờ lạy mặt trời ở phía đông.
Ngài phán với tôi: “Hỡi con người, con thấy chưa? Nhà Giu-đa đã phạm những điều ghê tởm như thế mà họ cho là việc nhỏ mọn sao? Họ còn làm cho tội ác mình đầy dẫy trong đất và chọc giận Ta nữa sao? Kìa, họ lấy nhánh cây để gần mũi mình!
Vì thế, Ta sẽ xử họ theo cơn giận; mắt Ta chẳng tiếc, cũng chẳng xót thương đâu. Dù họ có kêu la thấu đến tai Ta, Ta cũng chẳng thèm nghe.”
Ngài kêu lớn tiếng vào tai tôi rằng: “Các đao phủ của thành phố hãy đến gần, mỗi người cầm khí giới hủy diệt trong tay mình.”
Và kìa, có sáu người từ cổng trên về phía bắc đi đến, mỗi người cầm vũ khí giết người trong tay. Trong bọn họ có một người mặc vải gai, lưng đeo tráp bút mực. Sáu người bước vào đứng bên bàn thờ bằng đồng.
Vinh quang Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên dời khỏi Chê-rúp là nơi thường ngự mà đến ngưỡng cửa đền thờ. Đức Giê-hô-va gọi người mặc vải gai, lưng đeo tráp bút mực
và phán: “Hãy đi qua khắp thành, tức là thành Giê-ru-sa-lem, và ghi dấu trên trán những người nào than thở, khóc lóc về mọi điều kinh tởm đã phạm giữa thành nầy.”
Rồi tôi nghe Ngài phán với những người kia rằng: “Hãy theo sau người ấy, đi khắp thành và đánh giết; mắt ngươi chớ đoái tiếc, cũng đừng thương xót.
Hãy giết hết, bất kể người già, người trẻ, trinh nữ, đàn bà và trẻ em. Nhưng chớ đến gần người nào có ghi dấu trên trán. Hãy bắt đầu từ những người già cả ở trước đền thờ.”
Ngài lại phán với họ: “Hãy làm ô uế đền thờ, làm cho xác chết đầy dẫy các hành lang! Hãy đi ra!” Vậy họ đi ra và đánh giết trong thành.
Trong khi họ đánh giết thì tôi ở lại một mình. Tôi ngã sấp mặt xuống và kêu lên rằng: “Ôi! Lạy Chúa Giê-hô-va, Chúa sắp đổ cơn giận trên thành Giê-ru-sa-lem mà hủy diệt hết dân còn sót lại của Y-sơ-ra-ên sao?”
Ngài phán với tôi: “Tội ác của nhà Y-sơ-ra-ên và Giu-đa thật quá lớn. Đất đầy dẫy máu, trong thành đầy dẫy bất công vì họ nói rằng: ‘Đức Giê-hô-va đã lìa bỏ đất nầy, Đức Giê-hô-va chẳng thấy gì cả.’
Về phần Ta, mắt Ta cũng chẳng đoái tiếc, cũng không thương xót. Ta sẽ làm cho đường lối họ đổ lại trên đầu họ.”
Kìa, người mặc vải gai, lưng đeo tráp bút mực đến tường trình rằng: “Tôi làm đúng như lời Ngài đã truyền.”
Tôi nhìn và thấy vòm trời phía trên đầu các chê-ru-bim có cái gì giống như cái ngai bằng đá bích ngọc.
Ngài phán với người mặc vải gai rằng: “Hãy đi vào giữa các bánh xe quay tít ở dưới chê-rúp. Hãy lấy những than lửa đỏ từ giữa các chê-ru-bim bỏ đầy cả hai tay ngươi và rải ra trên thành nầy.” Người ấy vào nơi đó trước mắt tôi.
Khi người ấy đi vào thì các chê-ru-bim đang đứng bên phải đền thờ, và mây phủ đầy hành lang trong.
Vinh quang của Đức Giê-hô-va cất lên từ chê-rúp và đứng nơi ngưỡng cửa của đền thờ. Đền thờ đầy mây và hành lang đầy ánh vinh quang rực rỡ của Đức Giê-hô-va.
Tiếng của những cánh chê-ru-bim vang ra đến hành lang ngoài giống như tiếng của Đức Chúa Trời Toàn Năng khi Ngài phán.
Khi Đức Giê-hô-va đã truyền lệnh cho người mặc vải gai rằng: “Hãy lấy lửa từ giữa các bánh xe quay tít, từ giữa các chê-ru-bim”, thì người ấy đi vào và đứng bên cạnh một bánh xe.
Rồi một chê-rúp giơ tay ra lấy lửa từ giữa các chê-ru-bim và đem đặt vào tay người mặc vải gai. Người nầy nhận lấy rồi đi ra.
Dưới cánh các chê-ru-bim có hình một bàn tay người.
Tôi nhìn và thấy có bốn bánh xe bên cạnh các chê-ru-bim, mỗi bánh xe bên cạnh một chê-rúp, và hình dáng những bánh xe ấy giống như bích ngọc.
Về hình dáng, bốn bánh xe đều giống nhau, mỗi cái giống như bánh xe lồng trong bánh xe.
Khi đi, chúng đi theo bốn hướng, không xoay qua xoay lại; tùy theo bánh xe dẫn đầu hướng về bên nào thì chúng đi theo bên ấy, và khi đi chúng chẳng xoay lại.
Toàn thân các chê-ru-bim, gồm cả lưng, tay, cánh, bánh xe đều đầy những mắt khắp chung quanh. Cả bốn bánh xe đều như vậy.
Bấy giờ, tôi nghe các bánh xe ấy được gọi là “các bánh xe quay tít.”
Mỗi chê-rúp có bốn mặt: mặt thứ nhất là mặt Chê-rúp; mặt thứ nhì là mặt người; mặt thứ ba là mặt sư tử; mặt thứ tư là mặt chim ưng.
Bấy giờ, các chê-ru-bim cất lên: Đây là những sinh vật mà tôi thấy bên bờ sông Kê-ba.
Khi các chê-ru-bim đi thì các bánh xe đi bên cạnh; khi các chê-ru-bim xòe cánh để cất lên khỏi đất thì các bánh xe vẫn ở bên cạnh chúng.
Khi các chê-ru-bim dừng lại thì các bánh xe cũng dừng lại; và khi các chê-ru-bim cất lên thì chúng cũng cất lên vì thần của các sinh vật ấy ở trong các bánh xe ấy.
Bấy giờ vinh quang của Đức Giê-hô-va ra khỏi ngưỡng cửa đền thờ và đứng trên các chê-ru-bim.
Các chê-ru-bim xòe cánh cất lên khỏi đất trước mắt tôi khi chúng ra đi cùng với các bánh xe bên cạnh. Chúng dừng nơi lối vào của cổng phía đông nhà Đức Giê-hô-va, và vinh quang Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ở trên chúng.
Đó là những sinh vật mà tôi thấy ở dưới Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên bên bờ sông Kê-ba, và tôi biết chúng là chê-ru-bim.
Mỗi chê-rúp có bốn mặt và bốn cánh; dưới cánh có hình bàn tay người.
Hình dạng của các mặt chúng giống những mặt mà tôi đã thấy cả hình và chính chúng, bên bờ sông Kê-ba. Mỗi sinh vật đều đi thẳng về phía trước.
Thần cất tôi lên và đem đến cổng Đông nhà Đức Giê-hô-va hướng về phía đông. Nầy, tại lối vào cổng, tôi thấy có hai mươi lăm người, trong đó có Gia-a-xa-nia, con trai A-xua, và Phê-la-tia, con trai Bê-na-gia, đều là những người lãnh đạo của dân chúng.
Ngài phán với tôi: “Hỡi con người, đó là những người toan tính điều gian tà, lập mưu độc ác trong thành nầy.
Chúng nói: ‘Hiện nay chưa đến thời kỳ xây nhà! Thành nầy là nồi, chúng ta là thịt’
Vì thế, hãy nói tiên tri chống lại chúng. Hỡi con người, hãy nói tiên tri đi!”
Thần của Đức Giê-hô-va giáng trên tôi và bảo tôi: “Hãy nói đi! Đây là điều Đức Giê-hô-va phán: ‘Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên! Các ngươi đã nói như thế vì Ta biết những suy nghĩ trong trí các ngươi.
Các ngươi đã giết rất nhiều người trong thành nầy và làm cho đường phố đầy xác chết.’
Cho nên, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Những kẻ bị giết mà các ngươi đã để giữa thành là thịt, mà thành là nồi, còn các ngươi sẽ bị đem đi khỏi đó.
Các ngươi sợ gươm đao nhưng Ta sẽ khiến gươm đao đến trên các ngươi, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Ta sẽ đem các ngươi ra khỏi thành nầy và phó các ngươi vào tay dân ngoại để trừng phạt các ngươi.
Các ngươi sẽ ngã bởi gươm; Ta sẽ trừng phạt các ngươi tại biên giới Y-sơ-ra-ên, và các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
Thành nầy sẽ chẳng làm nồi cho các ngươi, và các ngươi sẽ chẳng là thịt trong nồi; Ta sẽ trừng phạt các ngươi tại biên giới của Y-sơ-ra-ên.
Bấy giờ, các ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va, vì các ngươi đã không bước theo luật lệ Ta, không vâng giữ các phán quyết Ta, nhưng các ngươi đã làm theo tiêu chuẩn của các nước chung quanh mình.’”
Khi tôi đang nói tiên tri thì Phê-la-tia, con trai Bê-na-gia, chết. Tôi sấp mặt xuống và kêu lớn tiếng rằng: “Ôi! Lạy Chúa Giê-hô-va, Ngài sắp diệt hết dân sót lại của Y-sơ-ra-ên hay sao?”
Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, dân cư thành Giê-ru-sa-lem đã nói với chính anh em ngươi, tức là bà con ngươi và tất cả mọi người thuộc nhà Y-sơ-ra-ên, rằng: ‘Hãy lìa xa Đức Giê-hô-va đi; đất nầy đã được ban cho chúng tôi làm sản nghiệp.’
Vì thế, hãy nói với họ: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Mặc dù Ta đã dời họ qua các dân tộc, đã phân tán họ trong nhiều nước, Ta vẫn còn là nơi thánh cho họ trong một thời gian ngắn tại các nước mà họ đi đến.’
Vậy nên hãy nói: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Ta sẽ tập hợp các ngươi lại từ giữa các dân tộc, sẽ quy tụ các ngươi từ các nước mà các ngươi bị tản lạc, và Ta sẽ ban đất của Y-sơ-ra-ên cho các ngươi.
Họ sẽ đến đó và sẽ loại bỏ mọi vật đáng ghét và đáng ghê tởm của nó khỏi nơi đó.
Ta sẽ ban cho họ một tấm lòng mới, phú thần mới trong họ, cất lòng bằng đá khỏi xác thịt họ và sẽ ban cho họ lòng bằng thịt
để họ đi theo lề luật Ta, vâng giữ và thi hành các phán quyết Ta. Họ sẽ làm dân Ta và Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ.
Nhưng các kẻ để lòng mình ham mê những vật đáng ghét và ghê tởm thì Ta sẽ làm cho đường lối họ đổ lại trên đầu họ,’ Chúa Giê-hô-va phán vậy.”
Bấy giờ các chê-ru-bim giương cánh lên với các bánh xe bên cạnh chúng, và vinh quang Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên cũng ở trên chúng.
Vinh quang của Đức Giê-hô-va cất lên từ giữa thành và dừng lại trên núi về phía đông của thành.
Thần cất tôi lên và trong khải tượng, tôi được Thần của Đức Chúa Trời đem đi qua xứ Canh-đê, đến với những người đang bị lưu đày. Rồi khải tượng mà tôi đã thấy rời khỏi tôi.
Bấy giờ tôi thuật lại cho những người đang bị lưu đày mọi điều mà Đức Giê-hô-va đã bày tỏ cho tôi.
Có lời Đức Giê-hô-va lại phán với tôi:
“Hỡi con người, con đang ở giữa nhà nổi loạn. Họ có mắt để thấy mà không thấy, có tai để nghe mà không nghe, vì họ là nhà nổi loạn.
Vậy hỡi con người, con hãy chuẩn bị hành lý lưu đày và đi lưu đày giữa ban ngày trước mắt họ. Hãy làm kẻ lưu đày, đi từ nơi con ở đến một nơi khác trước mắt họ. Mặc dù họ là nhà nổi loạn, nhưng biết đâu họ sẽ suy nghĩ lại.
Con sẽ đem hành lý của con ra như hành lý của kẻ bị lưu đày trước mắt họ giữa ban ngày. Rồi buổi chiều, chính con sẽ ra đi như một kẻ lưu đày trước mắt họ.
Con cũng đục một cái lỗ qua tường trước mắt họ, rồi từ lỗ đó đem vật dụng của con ra.
Trước mắt họ, con sẽ mang hành lý trên vai và đem đi lúc trời tối. Con hãy che mặt để không thấy đất nầy vì Ta đã đặt con làm một điềm cho nhà Y-sơ-ra-ên.”
Tôi làm theo lời Chúa đã phán dặn. Tôi đem hành lý của tôi ra như hành lý của kẻ bị lưu đày giữa ban ngày, và đến chiều tôi tự tay đục một lỗ qua tường. Tôi mang hành lý trên vai và ra đi trong đêm tối trước mắt họ.
Sáng hôm sau, có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi rằng:
“Hỡi con người, chẳng phải nhà Y-sơ-ra-ên là nhà nổi loạn sẽ hỏi con: ‘Ngươi làm gì đó’ sao?
Hãy trả lời với họ: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Sứ điệp nầy liên quan đến vua ở Giê-ru-sa-lem cùng cả nhà Y-sơ-ra-ên trong thành đó.’
Con hãy nói: ‘Tôi là điềm cho các người. Họ sẽ gặp điều như tôi đã làm; họ sẽ bị lưu đày và giam giữ.’
Vua từ giữa họ sẽ vác hành lý trên vai mình mà đi ra trong bóng tối. Họ sẽ đục lỗ qua tường để mang đồ ra; vua sẽ che mặt vì mắt vua sẽ không thấy đất nầy.
Ta cũng sẽ giăng lưới trên vua, và vua sẽ mắc vào bẫy Ta. Ta sẽ đem vua qua Ba-by-lôn là đất của người Canh-đê. Nhưng vua sẽ không thấy đất ấy mặc dù sẽ chết tại đó.
Những kẻ ở chung quanh vua để giúp đỡ vua và quân lính thì Ta sẽ làm cho tản lạc theo mọi hướng gió và Ta sẽ tuốt gươm mà đuổi theo họ.
Khi Ta làm tản lạc họ trong các dân tộc và rải họ ra trong các nước thì họ sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.
Tuy nhiên, Ta sẽ chừa lại một số ít người thoát khỏi gươm đao, đói kém, dịch bệnh để họ có thể thuật lại mọi điều ghê tởm của mình cho các dân tộc mà họ sẽ đến ở, và họ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.”
Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy ăn bánh trong sự run rẩy, hãy uống nước trong sự bối rối, lo âu.
Con hãy nói với dân chúng trong xứ rằng: ‘Đây là điều mà Chúa Giê-hô-va phán về cư dân ở Giê-ru-sa-lem, và ở trong đất Y-sơ-ra-ên: Họ sẽ ăn bánh trong sự lo âu và uống nước trong sự kinh hãi, vì đất nầy vốn trù phú sẽ trở nên hoang tàn do sự bạo hành của tất cả những người sống ở đó.
Các thành đông dân sẽ trở nên tiêu điều, đất sẽ bị hoang vu và các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.’”
Lại có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, có một câu tục ngữ về các ngươi trong xứ Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Ngày tháng trôi qua, mọi khải tượng không thành sự thật.’ Lời ấy có nghĩa gì?
Vì thế, hãy nói với họ: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Ta sẽ làm cho câu tục ngữ ấy chấm dứt, không ai dùng nó làm tục ngữ trong Y-sơ-ra-ên nữa.’ Nhưng hãy nói với họ rằng: ‘Những ngày gần đến, mọi khải tượng sẽ thành sự thật!’
Vì sẽ chẳng còn một khải tượng hư không hoặc một điều bói khoa dua nịnh nào nữa trong nhà Y-sơ-ra-ên.
Vì Ta là Đức Giê-hô-va, Ta sẽ phán và lời Ta phán sẽ thành sự thật, không chậm trễ đâu. Hỡi nhà nổi loạn! Chính trong ngày các ngươi mà Ta sẽ rao lời tiên tri và nó sẽ thành sự thật, Chúa Giê-hô-va phán vậy.”
Lại có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, nhà Y-sơ-ra-ên nói rằng: ‘Khải tượng mà người nầy thấy còn lâu mới thành sự thật và ông ta nói tiên tri về một tương lai còn xa vời.’
Vậy nên, hãy nói với họ: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Chẳng có lời nào của Ta sẽ bị chậm trễ nhưng lời Ta phán sẽ thành sự thật, Chúa Giê-hô-va phán vậy.’”
Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy nói tiên tri chống lại bọn tiên tri của Y-sơ-ra-ên là những kẻ đang nói tiên tri, và con hãy bảo bọn nói tiên tri theo ý riêng mình rằng: ‘Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va!’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Khốn cho bọn tiên tri dại dột theo thần riêng mình và không thấy gì cả.
Hỡi Y-sơ-ra-ên, bọn tiên tri của ngươi giống như những con cáo ở chốn hoang tàn!
Các ngươi chưa đi lên những chỗ sứt mẻ và không sửa lại tường thành cho nhà Y-sơ-ra-ên để nó có thể đứng vững mà chiến đấu trong ngày Đức Giê-hô-va.
Chúng đã thấy điều hư không và bói toán dối trá. Chúng nói rằng: “Đức Giê-hô-va có phán”, nhưng Đức Giê-hô-va đã không sai chúng, thế mà chúng mong Ngài làm cho lời chúng nói trở thành sự thật.
Chẳng phải các ngươi đã thấy khải tượng hư không và bói toán dối trá khi các ngươi nói rằng: “Đức Giê-hô-va có phán”, mà thật ra Ta chưa hề phán sao?’
Vì thế, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Vì các ngươi nói những lời hư không, thấy những điều dối trá nên Ta chống lại các ngươi,’ Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Tay Ta sẽ chống lại bọn tiên tri thấy khải tượng hư không, bói toán dối trá. Chúng sẽ không dự vào hội đồng của dân Ta nữa, không được ghi vào sổ nhà Y-sơ-ra-ên nữa, và không bước vào đất của Y-sơ-ra-ên. Bấy giờ, các ngươi sẽ biết Ta là Chúa Giê-hô-va.
Thật vậy, vì chúng lừa dối dân Ta, nói rằng: ‘Bình an’, mà chẳng có bình an gì cả. Khi có ai xây tường, thì nầy, chúng trét vôi trắng lên!
Hãy nói với bọn trét vôi trắng đó rằng tường ấy sẽ sụp đổ. Mưa to sẽ đến. Hỡi mưa đá lớn, ngươi sẽ sa xuống và gió bão sẽ xé rách tường ấy!
Khi tường đổ xuống, chẳng phải người ta hỏi các ngươi rằng: ‘Vôi mà các ngươi đã trét trên tường bây giờ ở đâu rồi?’
Vậy nên Chúa Giê-hô-va phán: ‘Trong cơn giận, Ta sẽ khiến gió bão xé rách nó; trong cơn thịnh nộ, Ta sai mưa lũ đến; và trong cơn giận dữ, Ta giáng mưa đá lớn hủy diệt nó.
Ta sẽ phá đổ bức tường mà các ngươi đã trét vôi trắng lên, hạ nó sát đất đến nỗi chỉ còn trơ trọi cái nền của tường. Khi tường đổ xuống, các ngươi sẽ bị tiêu diệt trong đó và biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
Ta sẽ trút hết cơn giận trên tường và kẻ trét vôi trắng trên nó. Ta sẽ nói với các ngươi rằng: “Tường chẳng còn nữa, những kẻ trét vôi cũng vậy.
Họ là các kẻ tiên tri của Y-sơ-ra-ên đã nói tiên tri về Giê-ru-sa-lem và thấy khải tượng bình an cho thành ấy mà không có bình an gì cả, Chúa Giê-hô-va phán vậy.”’
Hỡi con người, con hãy quay mặt lại với các con gái của dân tộc con, là những kẻ nói tiên tri theo ý riêng mình, và con hãy nói tiên tri chống lại chúng.
Hãy bảo chúng rằng: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Khốn cho những đàn bà may dải bùa đeo nơi cổ tay và làm khăn che đầu đủ cỡ để săn linh hồn. Các ngươi muốn săn đuổi linh hồn dân Ta để bảo vệ linh hồn các ngươi sao?
Các ngươi đã làm nhục Ta giữa dân Ta vì mấy nắm mạch nha và mấy miếng bánh mì. Các ngươi lừa dối dân Ta là kẻ thích nghe những lời dối trá ấy để giết chết những kẻ không đáng chết và cho sống những kẻ không đáng sống.’
Vì thế, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Nầy Ta ghét những dải bùa của các ngươi mà các ngươi dùng để săn linh hồn như đánh bẫy chim. Ta sẽ rút họ ra khỏi cánh tay các ngươi và thả những linh hồn mà các ngươi đã săn như chim ấy.
Ta cũng sẽ xé khăn các ngươi và cứu dân Ta khỏi tay các ngươi. Họ sẽ không ở trong tay các ngươi như miếng mồi nữa. Bấy giờ, các ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.
Vì các ngươi lấy điều dối trá làm nản lòng người công chính mà chính Ta cũng chưa bao giờ làm họ nản lòng. Nhưng các ngươi làm cho tay kẻ ác mạnh lên để chúng không từ bỏ đường lối ác mình hầu được sống.
Các ngươi sẽ không còn thấy khải tượng hư không và coi bói toán nữa. Ta sẽ cứu dân Ta thoát khỏi tay các ngươi và bấy giờ các ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.’”
Một vài trưởng lão của Y-sơ-ra-ên đến với tôi và ngồi trước mặt tôi.
Bấy giờ có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, những kẻ nầy mang thần tượng mình trong lòng và đặt trước mặt mình sự gian ác gây cho vấp phạm. Vậy Ta có nên để họ tiếp tục cầu hỏi Ta chăng?
Vì thế, hãy nói với họ rằng: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Nếu người nào trong nhà Y-sơ-ra-ên mang thần tượng mình trong lòng và đặt trước mặt mình sự gian ác gây cho vấp phạm, rồi người ấy lại đến với nhà tiên tri, thì chính Ta là Đức Giê-hô-va sẽ trả lời cho nó về vô số thần tượng của nó.
Như thế, Ta sẽ thu phục lòng dân Y-sơ-ra-ên vốn đã lìa xa Ta vì thờ thần tượng.’
Vì vậy, hãy nói với nhà Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Hãy quay trở lại, từ bỏ thần tượng các ngươi, quay mặt khỏi mọi sự kinh tởm của các ngươi.
Vì tất cả mọi người Y-sơ-ra-ên, hay khách lạ trú ngụ trong Y-sơ-ra-ên đã lìa xa Ta mà mang thần tượng mình vào lòng và đặt trước mặt mình sự gian ác gây cho vấp phạm, rồi đến với nhà tiên tri để cầu hỏi Ta, thì chính Ta là Đức Giê-hô-va sẽ trả lời cho nó.
Ta sẽ hướng mặt chống lại người ấy, khiến nó trở nên dấu lạ và câu tục ngữ. Ta sẽ loại bỏ nó khỏi dân Ta. Bấy giờ, các ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.
Nếu kẻ tiên tri nào bị dụ dỗ mà nói lời nào đó, thì chính Ta, Đức Giê-hô-va, sẽ để cho kẻ tiên tri ấy bị dụ dỗ và Ta sẽ dang tay chống lại nó, tiêu diệt nó khỏi dân Y-sơ-ra-ên của Ta.
Cả hai sẽ bị trừng phạt; sự trừng phạt dành cho kẻ tiên tri và sự trừng phạt dành cho kẻ cầu hỏi đều như nhau.
Nhờ đó, nhà Y-sơ-ra-ên không còn lầm lạc xa cách Ta nữa và cũng không làm ô uế mình nữa bởi mọi vi phạm, nhưng họ sẽ làm dân Ta và Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, Chúa Giê-hô-va phán vậy.’”
Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, đất nước nào không trung thành và phạm tội chống lại Ta, và Ta sẽ giơ tay ra chống lại nó, cắt đứt nguồn lương thực của nó, giáng cơn đói kém và diệt hết người cùng thú vật trong đó,
thì dù trong đất nước đó có ba người nầy là Nô-ê, Đa-ni-ên và Gióp, cũng chỉ cứu được linh hồn của họ nhờ sự công chính của họ, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Nếu Ta sai thú dữ đi khắp nơi phá hại và khiến đất hoang vu, đến nỗi chẳng ai dám đi qua vì sợ các thú ấy;
và nếu trong xứ có ba người đó, Chúa Giê-hô-va phán, thật như Ta hằng sống, họ cũng chẳng cứu được con trai hay con gái của họ nhưng họ chỉ được cứu một mình, còn đất thì bị hoang vu.
Hay là nếu Ta sai gươm đao đến trên đất đó và phán: ‘Gươm đao phải trải qua trong xứ và Ta tiêu diệt người và thú vật trong đó,’
thì dù trong xứ có ba người đó, Chúa Giê-hô-va phán, thật như Ta hằng sống, họ cũng chẳng cứu được con trai hay con gái của họ, nhưng chỉ được cứu một mình.
Hay là nếu Ta sai ôn dịch đến trong đất đó, nếu Ta trút cơn giận mà làm đổ máu, diệt hết người và thú vật khỏi nó
thì dù có Nô-ê, Đa-ni-ên và Gióp ở đó, Chúa Giê-hô-va phán, thật như Ta hằng sống, họ cũng chẳng cứu được con trai hay con gái của họ, nhưng chỉ cứu được mạng sống họ nhờ sự công chính của họ mà thôi.
Vậy Chúa Giê-hô-va phán: ‘Ta lấy bốn sự trừng phạt nặng nề tức là gươm đao, đói kém, thú dữ và dịch bệnh mà giáng trên Giê-ru-sa-lem để hủy diệt người và thú vật trong đó.
Tuy nhiên, nầy, những người còn sót lại, kể cả con trai, con gái, sẽ được đem ra khỏi xứ và họ sẽ đi đến với các ngươi. Các ngươi sẽ thấy đường lối và việc làm của họ thì sẽ tự an ủi mình về tai họa Ta đã giáng trên Giê-ru-sa-lem, tức là mọi điều mà Ta đã giáng trên nó.
Phải, họ sẽ làm cho các ngươi được an ủi khi các ngươi thấy đường lối và việc làm của họ, và các ngươi sẽ hiểu rằng chẳng phải là vô cớ mà Ta đã giáng mọi điều ấy cho Giê-ru-sa-lem,’” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, thân cây nho so với các cây khác có gì tốt hơn không? Và nhánh nho so với các cây rừng thì có gì hơn không?
Người ta có thể lấy gỗ nó để làm việc gì không? Có dùng làm chốt để treo vật gì được không?
Không, nó sẽ bị ném vào lửa để làm củi, và khi lửa đã đốt hai đầu và khúc giữa cũng cháy thì nó còn dùng được vào việc gì?
Nầy, khi nó còn nguyên cũng chẳng dùng được vào việc gì huống chi là khi lửa đã thiêu nuốt và nó đã bị đốt cháy, thì còn dùng làm gì được nữa?”
Vì thế, Chúa Giê-hô-va phán: “Như thân cây nho giữa các cây rừng mà Ta lấy làm củi ném vào lửa, thì Ta cũng sẽ phó cư dân Giê-ru-sa-lem như vậy.
Ta sẽ hướng mặt Ta chống lại họ. Họ sẽ ra khỏi lửa nhưng lửa sẽ thiêu đốt họ, và khi Ta hướng mặt chống lại họ, thì các ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.
Ta sẽ làm đất nầy hoang vu vì họ đã phản bội Ta,” Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Lại có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy làm cho Giê-ru-sa-lem biết những điều kinh tởm của nó.
Con hãy nói: ‘Chúa Giê-hô-va phán với Giê-ru-sa-lem: Nguồn gốc và sinh quán của ngươi là đất Ca-na-an; cha ngươi là người A-mô-rít, mẹ ngươi là người Hê-tít.
Lúc ngươi sinh ra, ngày ngươi mới đẻ, rốn ngươi chưa cắt, Ta cũng chưa rửa ngươi trong nước cho sạch sẽ, chưa xát bằng muối, chưa bọc bằng khăn.
Chẳng có mắt nào đoái trông ngươi để làm một trong những việc đó cho ngươi vì lòng thương xót ngươi, nhưng ngươi đã bị ném giữa đồng trống trong ngày ngươi sinh ra vì người ta ghê tởm ngươi.’
Khi Ta đi ngang qua, thấy ngươi cựa quậy trong vũng máu mình. Ta phán với ngươi rằng: ‘Dù ở giữa vũng máu, ngươi hãy sống! Thật, Ta phán với ngươi: Dù ở giữa vũng máu ngươi hãy sống!
Ta đã làm cho ngươi thêm nhiều ra như cây mọc ngoài đồng. Ngươi đã nẩy nở, lớn lên và trở nên rất xinh đẹp. Ngực ngươi nẩy nở, tóc ngươi dài ra nhưng ngươi vẫn còn trần truồng.
Khi Ta đi ngang qua và nhìn ngươi, thấy ngươi đã lớn, đến tuổi yêu đương. Ta lấy áo ngoài trùm trên ngươi để che sự trần truồng của ngươi. Phải, Ta đã thề với ngươi, kết ước với ngươi và ngươi thuộc về Ta,’ Chúa Giê-hô-va phán vậy.
‘Ta rửa ngươi trong nước, làm cho sạch máu vấy trên mình ngươi và xức dầu thơm cho ngươi.
Ta mặc áo thêu cho ngươi, mang giày sắc lam, thắt lưng bằng vải gai mịn, và đắp bằng hàng lụa cho ngươi.
Ta lấy đồ nữ trang tô điểm cho ngươi, đeo vòng vào tay, mang kiềng vào cổ,
tra khoen nơi mũi, đeo hoa tai vào tai và đội vương miện đẹp trên đầu ngươi.
Như vậy, ngươi được trang sức bằng vàng bằng bạc; áo quần của ngươi bằng vải gai mịn, bằng hàng lụa, bằng đồ thêu. Ngươi nuôi mình bằng bột mì lọc, mật ong và dầu. Ngươi đã trở nên xinh đẹp tuyệt trần và thăng tiến đến nỗi được ngôi hoàng hậu.
Danh tiếng ngươi lừng lẫy trong các nước nhờ sắc đẹp của ngươi, và bởi vẻ oai nghi của Ta đã ban cho ngươi, khiến vẻ đẹp ngươi thêm toàn hảo,’ Chúa Giê-hô-va phán vậy.
‘Nhưng ngươi cậy sắc đẹp mình, cậy danh tiếng mình mà sa vào thói tà dâm và bán dâm cho khách qua đường.
Ngươi dùng quần áo mình làm cho những nơi cao trở nên sặc sỡ để làm điều dâm loạn tại đó. Những việc như thế trước kia và sau nầy cũng không bao giờ xảy ra.
Ngươi cũng đã lấy những đồ trang sức đẹp đẽ làm bằng vàng và bạc mà Ta đã ban cho ngươi để làm những hình người nam rồi hành dâm với chúng.
Ngươi lấy áo quần thêu của mình mà đắp cho chúng, lấy dầu và hương thơm của Ta mà bày ra trước chúng.
Bánh mà Ta đã ban cho ngươi, bột mì lọc, dầu và mật ong mà Ta cho ngươi ăn thì ngươi đem dâng lên như hương thơm cho chúng. Thật điều đó đã xảy ra,’ Chúa Giê-hô-va phán vậy.
‘Ngươi đã bắt các con trai, con gái mà ngươi đã sinh ra cho Ta đem dâng làm sinh tế cho chúng để thiêu nuốt đi. Những điều dâm loạn đó là nhỏ mọn sao?
Ngươi đã giết con cái Ta và đưa qua lửa để dâng cho chúng.
Trong mọi điều ghê tởm và tà dâm ấy, ngươi không nhớ lại lúc còn trẻ, khi ngươi còn trần truồng, cựa quậy trong vũng máu mình.’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Khốn nạn, khốn nạn cho ngươi! Sau khi làm mọi điều độc ác ấy,
ngươi lại xây bàn thờ và dựng các nơi cao cho mình trên mọi đường phố.
Ở mọi đầu đường, ngươi xây nơi cao và làm hoen ố vẻ đẹp của ngươi, bán mình cho khách qua đường và sự tà dâm cứ gia tăng mãi.
Ngươi đã bán dâm cho người Ai Cập, là người láng giềng có thân thể vạm vỡ, và chọc giận Ta bằng thói tà dâm ngày càng nhiều.
Vì thế, Ta đã giơ tay Ta ra chống lại ngươi; thu hẹp biên giới ngươi và phó ngươi cho ý muốn của kẻ ghét ngươi, tức các con gái Phi-li-tin, và chúng hổ thẹn về sự dâm ô của ngươi.
Ngươi cũng đã bán dâm cho người A-si-ri vì ngươi chưa thỏa mãn. Sau khi đã phạm tội tà dâm với chúng, ngươi vẫn chưa biết chán.
Ngươi đã làm cho sự dâm dục lan tràn đến tận Canh-đê là xứ thương mại, nhưng ngươi cũng chưa biết chán!’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Sao lòng ngươi mê đắm đến thế! Ngươi phạm mọi việc đó là việc của đàn bà tà dâm mà không biết xấu hổ
khi ngươi xây bàn thờ nơi mọi đầu đường, dựng nơi cao trên mỗi quảng trường. Ngươi chỉ khác với gái mại dâm là bán dâm mà không lấy tiền.
Ngươi là đàn bà ngoại tình, thích ăn nằm với người lạ thay vì chồng mình.
Mọi gái mại dâm đều nhận tiền công nhưng ngươi thì tặng lễ vật cho tất cả tình nhân, hối lộ cho chúng để chúng từ khắp nơi đến mua dâm nơi ngươi.
Ngươi đã làm trái ngược với đàn bà khác trong chuyện tà dâm: không ai tìm ngươi để mua dâm, nhưng ngươi lại đưa tiền cho khách thay vì khách trả tiền cho ngươi. Thật là chuyện ngược đời!
Vậy nên hỡi kỹ nữ, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va.’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Vì ngươi đã đổ ra sự ô uế, phơi sự trần truồng khi bán dâm cho các tình nhân ngươi; vì mọi thần tượng ghê tởm của ngươi, và vì máu của con cái ngươi đã hiến tế cho chúng,
cho nên, nầy, Ta sẽ tập hợp tất cả tình nhân ngươi lại, tức những kẻ ngươi ưa thích, mọi kẻ ngươi yêu cũng như mọi kẻ ngươi ghét. Ta sẽ tập hợp chúng lại từ khắp nơi để chống lại ngươi, và Ta sẽ phơi sự trần truồng của ngươi cho chúng thấy hết.
Ta sẽ trừng phạt ngươi như trừng phạt đàn bà phản bội chồng và làm đổ máu. Ta sẽ lấy máu của sự giận dữ và ghen tuông mà đổ trên ngươi.
Ta cũng sẽ phó ngươi vào tay chúng; chúng sẽ phá tan bàn thờ và đạp đổ các nơi cao của ngươi; lột quần áo, đồ trang sức ngươi để ngươi trần truồng, lõa lồ.
Chúng sẽ khiến một đám đông nổi lên chống lại ngươi, ném đá và đâm ngươi bằng gươm.
Chúng sẽ đốt nhà của ngươi, trừng phạt ngươi trước mắt nhiều phụ nữ. Ta sẽ làm cho ngươi hết dâm loạn và ngươi cũng không còn đưa tiền cho khách nữa.
Lúc ấy, cơn giận Ta sẽ dứt, sự ghen tuông Ta sẽ lìa khỏi ngươi và Ta nguôi cơn giận, không giận ngươi nữa.
Vì ngươi không nhớ lúc mình còn trẻ, nhưng lại nóng giận chống lại Ta trong mọi việc, cho nên, phải, Ta cũng sẽ làm cho đường lối ngươi đổ lại trên đầu ngươi,’ Chúa Giê-hô-va phán vậy. Chẳng phải ngươi đã thêm tội tà dâm vào mọi điều kinh tởm của ngươi đó sao?
Người hay dùng tục ngữ sẽ lấy câu tục ngữ nầy mà nói về ngươi: ‘Mẹ thế nào, con gái thế ấy!’
Ngươi là con gái của mẹ ngươi, mẹ ngươi đã chán bỏ chồng con; ngươi cũng giống như các chị ngươi, là những người đã chán bỏ chồng con. Mẹ ngươi là người Hê-tít và cha ngươi là người A-mô-rít.
Chị ngươi là Sa-ma-ri cùng các con gái nó ở bên trái ngươi; em ngươi là Sô-đôm cùng các con gái nó ở bên phải ngươi.
Còn ngươi không những bước theo đường lối chúng mà còn phạm những điều ghê tởm như chúng. Ngươi cho điều đó là nhỏ mọn sao? Ngươi đã tự làm cho mình bại hoại hơn trong mọi đường lối ngươi.
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Thật như Ta hằng sống, Sô-đôm, em ngươi, chính nó và con gái nó cũng chưa từng làm như ngươi và con gái ngươi đã làm.
Đây là sự gian ác của em gái ngươi là Sô-đôm: Nó và các con gái nó kiêu ngạo, thức ăn thừa mứa, và lười biếng, nhưng lại không giúp đỡ kẻ nghèo nàn và thiếu thốn.
Chúng trở nên tự cao, làm những việc ghê tởm trước mặt Ta nên Ta đã tiêu diệt chúng khi Ta thấy mọi điều đó.
Sa-ma-ri chưa phạm đến phân nửa tội mà ngươi đã phạm. Ngươi đã làm nhiều điều kinh tởm hơn nó, và so với những điều ghê tởm của ngươi thì các chị ngươi còn công chính hơn.
Ngươi phán xét các chị em ngươi thì chỉ chuốc lấy sự xấu hổ cho mình thôi. Vì tội lỗi ngươi còn ghê tởm hơn chúng nên chúng công chính hơn ngươi. Vậy hãy chịu sỉ nhục, xấu hổ vì ngươi đã làm cho chị em ngươi được kể là công chính!
Ta sẽ đem những người bị lưu đày của Sô-đôm và các con gái nó trở về, đem những người bị lưu đày của Sa-ma-ri và các con gái nó trở về, và cũng đem những người bị lưu đày của ngươi ở giữa chúng trở về nữa,
để ngươi phải bị nhuốc nhơ, sỉ nhục về mọi điều ngươi đã làm, và như thế ngươi trở thành niềm an ủi cho chúng.
Chị em ngươi là Sô-đôm và con gái nó sẽ được phục hồi như xưa; Sa-ma-ri cùng con gái nó cũng được phục hồi như xưa, và ngươi cùng con gái ngươi cũng sẽ được phục hồi như xưa.
Trong ngày kiêu hãnh, miệng ngươi chẳng nhắc đến tên Sô-đôm, em ngươi.
Lúc ấy sự độc ác của ngươi chưa lộ ra, ngươi chưa trở thành đề tài chế giễu của con gái A-ram, của tất cả láng giềng, và các con gái Phi-li-tin ở chung quanh đều khinh bỉ ngươi.
Ngươi phải rước lấy hậu quả của tội tà dâm và những điều ghê tởm của ngươi,’” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Vì Chúa Giê-hô-va phán rằng: “Ngươi đã khinh thường lời thề mà phá hủy giao ước Ta, nên Ta sẽ đối xử với ngươi xứng với điều ngươi đã làm.
Tuy nhiên, Ta sẽ nhớ lại giao ước mà chính Ta đã lập với ngươi trong những ngày ngươi còn trẻ, và Ta sẽ lập với ngươi một giao ước đời đời.
Khi tiếp nhận các chị và em ngươi, ngươi sẽ nhớ lại đường lối mình mà hổ thẹn. Bấy giờ, Ta sẽ trao chúng cho ngươi làm con gái nhưng không dựa trên giao ước với ngươi.
Ta sẽ lập giao ước Ta với ngươi, và ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.
Ngươi sẽ nhớ lại mà xấu hổ, và vì quá xấu hổ nên ngươi không còn mở miệng nói điều gì nữa khi Ta tha thứ mọi điều ngươi đã làm,” Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Lại có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy ra câu đố, kể lời ví dụ cho nhà Y-sơ-ra-ên.
Con hãy nói rằng: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Có một con chim ưng lớn, cánh rộng, lông cánh dài, thân đầy lông nhiều sắc, đến Li-ban và bẻ ngọn cây bá hương đi.
Nó bẻ cành non trên cao đem đến một vùng đất thương mại và đặt trong một thành của những người buôn bán.
Sau đó, nó lấy giống của đất ấy đem trồng nơi đất tốt, đặt gần chỗ nhiều nước và trồng như cây liễu.
Cây nứt lên trở thành một cây nho sum suê, thấp là đà. Những nhánh nó hướng về phía chim ưng, rễ nó đâm sâu xuống lòng đất. Vậy nó trở nên một cây nho sinh ra nhiều cành và chồi non.
Nhưng có một con chim ưng lớn khác, cánh lớn, lông nhiều. Và kìa, cây nho đâm rễ về phía nó và cành vươn về hướng nó để được nó tưới nước.
Cây nho được trồng nơi đất tốt gần chỗ nhiều nước để mau nứt tược ra trái, và trở nên cây nho tốt.’
Hãy nói với họ: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Cây nho sẽ lớn lên xanh tốt sao? Chim ưng kia không nhổ bật rễ, hái trái và làm khô héo những lá non mới nứt của nó sao? Không cần có cánh tay mạnh mẽ hay nhiều người mới làm trốc rễ nó.
Kìa khi nó được trồng, nó có xanh tốt chăng? Khi gió đông đụng đến nó, nó không khô héo cả sao? Vâng, nó sẽ khô héo ngay trên luống đất mà nó đã lớn lên.’”
Bấy giờ, có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hãy nói với nhà nổi loạn ấy rằng: ‘Các ngươi không biết điều đó có nghĩa gì sao?’ Hãy bảo họ: ‘Kìa, vua Ba-by-lôn đã đến Giê-ru-sa-lem, bắt vua và các nhà quý tộc đem qua Ba-by-lôn với mình.
Vua Ba-by-lôn đã chọn một người trong dòng dõi hoàng tộc và lập giao ước với người ấy, bắt người ấy thề. Vua cũng bắt những người có thế lực trong xứ đem đi
để cho vương quốc phải suy tàn, không tự dấy lên được nữa; nhưng nhờ giữ giao ước ấy mà vương quốc được tồn tại.
Tuy nhiên, vua ấy đã nổi loạn chống lại vua Ba-by-lôn bằng cách sai sứ giả đến Ai Cập để xin cấp ngựa chiến và một đạo quân đông đảo. Vua ấy có thành công chăng? Người đã làm những việc như thế sẽ thoát nạn được sao? Người hủy bỏ giao ước làm sao chạy thoát được!’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Thật như Ta hằng sống, vua ấy sẽ chết tại Ba-by-lôn, trong đất của vua đã tôn người lên ngôi, mà người đã coi thường lời thề và hủy bỏ giao ước.
Pha-ra-ôn sẽ không đem một đạo binh lớn và những toán lính đông đến giao tranh cứu viện khi người ta đắp lũy dựng đồn để hủy diệt nhiều người.
Thật vậy, Sê-đê-kia đã coi thường lời thề, hủy bỏ giao ước. Vì người đã trao tay giao kết rồi mà còn làm những việc ấy nên chắc chắn không thoát nạn!’
Vì thế, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Thật như Ta hằng sống, nó đã khinh thường lời thề Ta, hủy bỏ giao ước Ta nên Ta sẽ đổ lại tất cả trên đầu nó.
Ta sẽ giăng lưới Ta trên nó, và nó sẽ mắc vào lưới Ta. Ta sẽ đem nó qua Ba-by-lôn, tại đó, Ta sẽ phán xét nó về tội bất trung với Ta.
Tất cả quân lính của nó chạy trốn sẽ ngã dưới lưỡi gươm; những kẻ còn sót lại sẽ bị tan lạc theo mọi hướng gió. Bấy giờ, các ngươi sẽ biết chính Ta, là Đức Giê-hô-va, đã phán vậy.’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Chính Ta cũng sẽ lấy ngọn cây bá hương cao và Ta sẽ trồng. Ở nơi tận cùng những nhánh nó, Ta sẽ bẻ một chồi non và chính Ta sẽ trồng nó trên hòn núi cao chót vót.
Thật, Ta sẽ trồng nó trên núi cao của Y-sơ-ra-ên; nó sẽ nứt nhánh, ra trái và sẽ trở nên cây bá hương xinh tốt. Mọi loài chim sẽ đến núp dưới nó và tất cả những giống có cánh sẽ núp dưới bóng các cành của nó.
Mọi cây ngoài đồng sẽ biết rằng Ta, Đức Giê-hô-va, đã hạ cây cao xuống và cất cây thấp lên. Ta đã làm khô héo cây xanh và làm cho cây khô xanh tốt. Ta, Đức Giê-hô-va, đã phán và làm thành điều đó.’”
Lại có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi như sau:
“Các ngươi muốn nói gì khi lặp lại câu tục ngữ nầy về đất Y-sơ-ra-ên: ‘Cha ăn trái nho chua Mà con bị ghê răng’?
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Thật như Ta hằng sống, các ngươi sẽ không cần dùng câu tục ngữ ấy trong Y-sơ-ra-ên nữa.’
Nầy, mọi linh hồn đều thuộc về Ta; linh hồn của cha cũng như linh hồn của con đều thuộc về Ta; linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết.
Nếu người nào sống công chính, làm điều công minh, chính trực,
không ăn đồ cúng trên núi hoặc ngưỡng vọng các thần tượng của nhà Y-sơ-ra-ên; không làm nhục vợ kẻ lân cận mình hoặc không lại gần phụ nữ đang có kinh nguyệt;
không áp bức ai nhưng trả của cầm lại cho kẻ mắc nợ; không trộm cướp vật gì của ai nhưng ban bánh cho kẻ đói và mặc áo cho kẻ trần truồng;
không cho vay lấy lãi, không tăng tiền lãi; rút tay lại không làm điều gian ác, phân xử công minh giữa người nầy với người khác;
noi theo luật lệ Ta, vâng giữ mệnh lệnh Ta và ăn ở cách chân thật, thì người ấy là người công chính và chắc chắn sẽ sống, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Nếu người nào sinh con là trộm cướp, làm đổ máu hoặc làm điều nào trong những điều ác đã nói trên kia;
dù cha nó không làm những điều trên; nhưng nó ăn đồ cúng trên núi, làm nhục vợ người lân cận mình;
áp bức kẻ nghèo nàn thiếu thốn, trộm cướp vật gì của ai, không trả lại của cầm cho người mắc nợ, ngưỡng vọng các thần tượng và phạm điều kinh tởm,
cho vay lấy lãi và tăng tiền lãi, thì đứa con đó sẽ sống không? Không, nó sẽ không sống! Vì nó đã phạm những điều kinh tởm; chắc chắn nó sẽ chết và máu nó sẽ đổ lại trên nó.
Nhưng nếu người ấy sinh con trai và con trai ấy thấy mọi tội lỗi mà cha mình đã phạm thì lo sợ không dám làm điều gì ác giống như vậy;
nếu đứa con ấy không ăn đồ cúng trên núi hoặc không ngưỡng vọng thần tượng của nhà Y-sơ-ra-ên; nếu nó không làm nhục vợ kẻ lân cận mình;
không áp bức ai, không lấy của cầm của người mắc nợ, không cướp vật gì của ai, nhưng ban bánh cho kẻ đói và mặc áo cho kẻ trần truồng;
rút tay không hại kẻ nghèo, không đòi lời hay tăng lãi, nhưng vâng giữ mệnh lệnh Ta và noi theo luật lệ Ta, thì đứa con ấy sẽ không chết vì sự gian ác của cha nó, mà chắc chắn nó sẽ sống.
Còn nếu cha nó đã dùng bạo lực ức hiếp, cướp bóc anh em mình, và làm điều không lành giữa đồng bào mình, thì cha nó sẽ chết vì tội ác mình.
Các ngươi còn nói rằng: ‘Tại sao đứa con không gánh chịu tội ác của cha nó?’ Bởi vì đứa con đó đã làm điều công minh, chính trực vâng giữ và làm theo tất cả luật lệ Ta. Chắc chắn nó sẽ sống.
Linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết. Con sẽ không gánh chịu tội ác của cha và cha cũng không gánh chịu tội ác của con. Điều công chính của người công chính sẽ được kể cho người công chính; điều dữ của kẻ dữ sẽ bị kể cho kẻ dữ.
Nhưng nếu kẻ dữ từ bỏ mọi tội mình đã phạm, vâng giữ mọi luật lệ Ta; nếu nó làm điều công minh, chính trực, thì nó sẽ sống chứ không chết đâu.
Không một tội nào nó đã phạm sẽ bị nhớ lại để chống lại nó. Nó sẽ sống vì điều công chính nó đã làm.
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Chẳng lẽ Ta lại vui vì sự chết của kẻ dữ sao? Chẳng phải Ta vui vì nó từ bỏ đường lối mình để được sống sao?
Nhưng nếu người công chính từ bỏ đức công chính của mình mà phạm tội, làm những việc ghê tởm như kẻ ác đã làm, thì người ấy có được sống không? Không, không một việc công chính nào người ấy đã làm sẽ được nhắc đến. Vì sự bất trung và tội lỗi nó đã phạm nên nó sẽ chết.’
Các ngươi lại nói rằng: ‘Đường lối của Chúa là không chính trực.’ Vậy hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, hãy nghe: Đường lối của Ta không chính trực sao? Chẳng phải đường lối của các ngươi không chính trực đó sao?
Nếu người công chính từ bỏ đức công chính mình mà phạm tội thì người ấy sẽ chết; vì tội ác đã phạm mà người ấy sẽ chết.
Nếu kẻ dữ từ bỏ điều dữ mình đã phạm và làm điều công minh chính trực thì nó sẽ cứu linh hồn mình.
Vì nó biết suy xét và từ bỏ mọi tội phản nghịch mình đã phạm thì chắc chắn nó sẽ sống, không chết đâu.
Nhưng nhà Y-sơ-ra-ên nói: ‘Đường lối của Chúa là không chính trực.’ Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, có phải là đường lối của Ta không chính trực sao? Chẳng phải đường lối của các ngươi không chính trực đó sao?
Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, Ta sẽ phán xét các ngươi, mỗi người tùy theo việc mình làm. Hãy ăn năn và từ bỏ mọi tội phản nghịch của các ngươi đi! Như vậy, điều đó sẽ không trở thành cớ vấp phạm cho các ngươi.
Hãy ném xa các ngươi mọi tội phản nghịch mình đã phạm. Hãy làm cho mình một tấm lòng mới và một tâm linh mới! Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, sao các ngươi muốn chết?’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Thật vậy, Ta chẳng vui chút nào về sự chết của kẻ phải chết. Vậy các ngươi hãy ăn năn để được sống!’”
Vậy con hãy đọc bài ai ca về các nhà lãnh đạo Y-sơ-ra-ên
và nói: “Mẹ ngươi xưa kia như thế nào? Là sư tử cái ở giữa những sư tử đực; Nằm giữa những sư tử con, Và nuôi bầy con mình.
Nó nuôi một sư tử con trong bầy Trở thành một sư tử tơ, Tập bắt mồi Và ăn thịt người ta.
Các dân nghe tiếng về nó; Nó bị bắt trong hầm. Chúng dùng móc dẫn đi Điệu nó qua Ai Cập.
Khi sư tử cái đợi chờ đã lâu Và niềm hi vọng đã mất, Nó bắt một con khác trong bầy Và nuôi dưỡng thành một sư tử tơ.
Nó đi lại giữa những sư tử, Trở thành một sư tử tơ, Tập bắt mồi Và ăn thịt người ta.
Nó phá hủy cung đền của chúng Và tàn phá các thành; Đất và mọi vật trong đó đều bị hoang vu, Vì tiếng gầm thét của nó.
Các nước ở mọi miền chung quanh Nổi lên chống lại nó, Bủa lưới trên nó; Nó bị bắt trong hầm.
Chúng dùng móc kéo nó nhốt vào cũi Rồi điệu nó đến vua Ba-by-lôn; Chúng bỏ nó vào ngục Để cho tiếng nó không vang ra nữa, Trên núi Y-sơ-ra-ên.
Mẹ ngươi như một cây nho trong vườn Được trồng bên mé nước. Lắm cành nhiều quả, Nhờ có nhiều nước.
Những cành nó khỏe chắc, Trở nên cây gậy của nhà cai trị. Thân nó vươn cao Giữa tàng cây rậm rạp. Ai cũng nhìn thấy nó, Vì thân cao, cành lá um tùm.
Nhưng nó đã bị nhổ bởi cơn giận Và bị quăng xuống đất. Gió đông đã làm nó khô héo, Trái nó rụng sạch. Những cành to lớn của nó bị héo tàn; Lửa đã thiêu đốt nó đi!
Bây giờ nó bị trồng nơi hoang mạc, Trong đất khô và thiếu nước.
Lửa phát ra từ thân nó, Thiêu đốt cành và trái nó Đến nỗi không còn cành khỏe chắc nữa, Để làm gậy cho nhà cai trị. Đó là bài ai ca dùng để khóc than.”
Vào năm thứ bảy, ngày mùng mười tháng năm, có một vài trưởng lão Y-sơ-ra-ên đến cầu hỏi Đức Giê-hô-va, và họ ngồi trước mặt tôi.
Bấy giờ, có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy nói với các trưởng lão Y-sơ-ra-ên và bảo họ rằng: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Có phải các ngươi đến cầu hỏi Ta chăng?’ Chúa Giê-hô-va phán: ‘Thật như Ta hằng sống, Ta không để cho các ngươi cầu hỏi Ta đâu.’
Hỡi con người, con muốn phán xét họ, con muốn phán xét họ chăng? Hãy nói cho họ biết những điều kinh tởm của tổ phụ họ.
Con hãy nói với họ rằng: Chúa Giê-hô-va phán: ‘Trong ngày Ta chọn Y-sơ-ra-ên, Ta giơ tay thề cùng dòng dõi nhà Gia-cốp và bày tỏ chính mình Ta cho họ biết trong đất Ai Cập. Ta giơ tay phán với họ rằng: Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi.’
Trong ngày ấy, Ta thề hứa cùng họ rằng Ta sẽ đem họ ra khỏi đất Ai Cập để vào đất mà Ta đã tìm sẵn cho họ, tức là đất đượm sữa và mật, đất tốt nhất trong mọi đất.
Ta phán với họ: ‘Các ngươi mỗi người phải ném xa mình những điều kinh tởm của mắt các ngươi và chớ làm ô uế mình bằng các thần tượng của Ai Cập! Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi.’
Nhưng họ nổi loạn chống lại Ta và không muốn nghe Ta; mỗi người không ném bỏ những điều kinh tởm của mắt mình và không từ bỏ các thần tượng của Ai Cập. Bấy giờ, Ta phán rằng Ta sẽ đổ cơn giận Ta trên họ, trút hết cơn thịnh nộ Ta chống lại họ giữa đất Ai Cập.
Nhưng Ta hành động vì cớ danh Ta để cho danh ấy không bị xúc phạm trước mắt các dân ngoại, nơi mà họ đang sinh sống. Trước mắt các dân ấy, Ta đã bày tỏ chính mình Ta cho họ biết khi đem họ ra khỏi đất Ai Cập.
Vậy, Ta đã dẫn họ ra khỏi đất Ai Cập và đem họ vào trong hoang mạc.
Ta ban cho họ luật lệ Ta và làm cho họ biết phán lệnh Ta để người nào làm theo đó thì được sống.
Ta cũng cho họ những ngày sa-bát của Ta như một dấu hiệu giữa Ta và họ, để họ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va đã biệt riêng họ ra thánh.
Nhưng nhà Y-sơ-ra-ên nổi loạn chống lại Ta trong hoang mạc. Họ không noi theo luật lệ Ta, loại bỏ phán lệnh Ta là điều mà người nào làm theo sẽ nhờ đó được sống; họ vi phạm nghiêm trọng các ngày sa-bát Ta. Bấy giờ, Ta phán Ta sẽ đổ cơn giận Ta trên họ và tiêu diệt họ trong hoang mạc.
Nhưng Ta đã hành động vì cớ danh Ta để danh ấy không bị xúc phạm trước mắt các dân ngoại, là các dân đã chứng kiến Ta đem họ ra khỏi chúng.
Ta cũng đã giơ tay thề với họ trong hoang mạc rằng Ta sẽ không đem họ vào đất mà Ta đã ban cho họ, là đất đượm sữa và mật, đất tốt nhất trong mọi đất.
Vì họ đã loại bỏ phán lệnh Ta, không noi theo luật lệ Ta và xúc phạm những ngày sa-bát của Ta, bởi lòng họ đã hướng về thần tượng mình.
Tuy nhiên, mắt Ta đã đoái thương họ, không hủy diệt họ hoặc tận diệt họ trong hoang mạc.
Ta phán với con cái họ trong hoang mạc rằng: ‘Đừng noi theo luật lệ của ông cha các ngươi, đừng giữ những quy định của họ hay tự làm ô uế bởi những thần tượng của họ.
Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi; hãy noi theo luật lệ Ta, vâng giữ phán lệnh Ta và làm theo.
Hãy biệt riêng những ngày sa-bát của Ta ra thánh; nó sẽ làm dấu hiệu giữa Ta và các ngươi để cho họ biết rằng Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi.’
Nhưng con cái họ đã nổi loạn chống lại Ta, không noi theo luật lệ Ta, không vâng giữ để làm theo phán lệnh Ta, là điều mà người nào làm theo thì được sống, và họ vi phạm những ngày sa-bát của Ta nữa. Bấy giờ, Ta nói Ta sẽ đổ cơn giận Ta trên họ, trút hết cơn thịnh nộ của Ta chống lại họ trong hoang mạc.
Tuy nhiên, Ta đã rút tay Ta lại và đã hành động vì danh Ta để danh ấy không bị xúc phạm trước mắt các dân ngoại, là dân chứng kiến Ta đã đem họ ra khỏi chúng.
Ta cũng đã giơ tay thề với họ trong hoang mạc rằng Ta sẽ làm cho họ tan lạc giữa các dân và rải ra trong nhiều nước,
vì họ không vâng giữ phán lệnh Ta nhưng đã loại bỏ luật lệ ta, vi phạm những ngày sa-bát Ta và mắt họ đã hướng về các thần tượng của tổ phụ mình.
Ta cũng đã ban cho họ những luật lệ không tốt và những phán lệnh không thể nhờ đó mà được sống.
Ta đã làm cho họ bị ô uế bởi của cúng khi họ đem dâng mọi con đầu lòng qua lửa, để vì đó, Ta làm cho họ ra hoang vu hầu cho họ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
Vì thế, hỡi con người, hãy nói với nhà Y-sơ-ra-ên và bảo chúng: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Tổ phụ các ngươi đã xúc phạm Ta vì họ đã không trung thành với Ta.
Khi Ta đem họ vào đất mà Ta đã thề ban cho họ, bấy giờ họ đã tìm thấy các đồi cao, các cây rậm và dâng sinh tế mình tại đó. Họ đã bày ra tại đó của cúng để chọc giận Ta; họ đã đốt hương có mùi thơm và cũng làm lễ quán tại đó.
Bấy giờ Ta hỏi họ: “Nơi cao mà các ngươi đến đó là gì?” Cho nên nơi cao ấy còn gọi là Ba-ma.’ cho đến ngày nay.
Vì thế, hãy nói với nhà Y-sơ-ra-ên: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Các ngươi tự làm ô uế theo cách tổ phụ các ngươi và các ngươi hành dâm theo những điều kinh tởm của họ sao?
Khi dâng lễ vật và dâng con mình qua lửa, các ngươi đã tự làm ô uế với những thần tượng mình cho đến ngày nay. Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, lẽ nào Ta cứ để cho các ngươi cầu hỏi sao? Chúa Giê-hô-va phán: Thật như Ta hằng sống, Ta không để cho các ngươi cầu hỏi Ta đâu!
Các ngươi nói rằng: “Chúng tôi muốn giống các dân tộc, các quốc gia trên đất, thờ thần gỗ và đá.” Nhưng điều các ngươi nghĩ trong trí đó sẽ không bao giờ xảy ra đâu.’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Thật như Ta hằng sống, Ta sẽ dùng tay mạnh mẽ và cánh tay giơ ra, lấy thịnh nộ đổ ra mà cai trị các ngươi!
Ta sẽ đem các ngươi ra khỏi các dân tộc; Ta sẽ dùng tay mạnh mẽ, cánh tay giơ ra và cơn thịnh nộ đổ xuống để nhóm các ngươi lại từ các nước mà các ngươi đã bị tan lạc trong đó.
Ta sẽ đem các ngươi vào nơi hoang mạc của các dân và tại đó Ta sẽ đối mặt phán xét các ngươi.
Như Ta đã phán xét tổ phụ các ngươi trong hoang mạc xứ Ai Cập thể nào thì Ta cũng phán xét các ngươi thể ấy,’ Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Ta sẽ làm cho các ngươi đi qua dưới gậy và sẽ đem các ngươi vào trong dây giao ước.
Ta sẽ tẩy sạch khỏi các ngươi những kẻ phản nghịch và bọn nổi loạn chống lại Ta. Ta sẽ đem họ ra khỏi đất họ trú ngụ nhưng họ sẽ không được vào đất Y-sơ-ra-ên. Như vậy, các ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.
Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, về các ngươi thì Chúa Giê-hô-va phán: ‘Hãy đi, mỗi người trong các ngươi hãy thờ thần tượng mình! Nhưng sau đó, các ngươi chắc sẽ lắng nghe Ta và sẽ không nói phạm danh Thánh của Ta nữa, bởi của cúng và bởi thần tượng các ngươi.’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Vì trên núi thánh Ta, trên núi cao của Y-sơ-ra-ên, tại đó toàn thể nhà Y-sơ-ra-ên sẽ phục vụ Ta ở trong đất ấy. Tại đó, Ta sẽ chấp nhận họ và tại đó Ta sẽ đòi tế lễ của các ngươi và những lễ vật bằng trái đầu mùa của các ngươi cùng mọi lễ vật thánh.
Ta sẽ chấp nhận các ngươi như mùi hương thơm khi Ta đem các ngươi ra khỏi các dân tộc và tập hợp các ngươi từ những nước mà các ngươi đã bị tan lạc, và sự thánh khiết Ta sẽ được bày tỏ giữa các ngươi trước mắt các dân ngoại.
Các ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va khi Ta đem các ngươi vào đất của Y-sơ-ra-ên là đất mà Ta đã giơ tay thề ban cho tổ phụ các ngươi.
Tại đó, các ngươi sẽ nhớ lại đường lối mình và mọi hành động làm cho mình bị ô uế. Các ngươi sẽ kinh tởm chính mình về mọi việc gian ác mà mình đã phạm.
Các ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va khi Ta sẽ vì danh Ta mà đối đãi với các ngươi không theo đường lối xấu xa và việc làm đồi bại của các ngươi. Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, Chúa Giê-hô-va phán vậy.’”
Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy xây mặt về phía nam và rao giảng chống lại phía nam. Hãy nói tiên tri chống lại những khu rừng ở đồng bằng Nê-ghép.
Hãy nói với rừng Nê-ghép rằng: ‘Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va! Chúa Giê-hô-va phán: Nầy, Ta sẽ nhen lửa trong ngươi, lửa sẽ thiêu đốt tất cả cây xanh và cả cây khô nơi ngươi. Ngọn lửa sẽ không tắt, mọi khuôn mặt của nó sẽ bị đốt cháy từ nam chí bắc.
Mọi xác thịt sẽ thấy rằng chính Ta, Đức Giê-hô-va, đã nhen lửa lên và lửa ấy sẽ không hề tắt.’”
Bấy giờ tôi nói: “Ôi! Lạy Chúa Giê-hô-va, họ nói về con rằng: Chẳng phải nó là kẻ làm ra những ẩn dụ sao?”
Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy xây mặt về phía Giê-ru-sa-lem, rao giảng chống lại các nơi thánh; hãy nói tiên tri chống lại đất Y-sơ-ra-ên.
Hãy nói với đất Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Đức Giê-hô-va phán: Nầy, Ta chống lại ngươi. Ta sẽ tuốt gươm ra khỏi vỏ để tiêu diệt người công chính lẫn kẻ gian ác khỏi ngươi.
Vì Ta sẽ tiêu diệt người công chính lẫn kẻ gian ác khỏi ngươi thì gươm Ta cũng sẽ tuốt khỏi vỏ để tiêu diệt mọi xác thịt từ nam chí bắc.
Và mọi xác thịt sẽ biết Ta, Đức Giê-hô-va, đã tuốt gươm khỏi vỏ thì sẽ không nạp trở vào nữa!’
Hỡi con người, con hãy than thở với lòng đau thương; phải, hãy than thở trước mắt họ cách đắng cay.
Nếu họ nói với con: ‘Tại sao ngươi than thở?’ Thì con trả lời rằng: ‘Vì tin tức được loan truyền khiến mọi lòng đều tan chảy, mọi tay đều yếu đuối, mọi trí đều mỏi mòn, mọi đầu gối đều yếu như nước. Nầy, điều đó sắp xảy ra và sẽ trở thành sự thật, Chúa Giê-hô-va phán vậy!’”
Lại có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy nói tiên tri rằng: ‘Đức Giê-hô-va phán: Hãy nói rằng: Một thanh gươm, một thanh gươm nhọn và sáng!
Nó nhọn để chém giết; nó sáng chói lòa như chớp. Chúng ta có nên vui mừng chăng? Cây gậy của con trai Ta khinh thường mọi cây khác.
Người ta đã trao thanh gươm nầy để mài cho sáng, để cầm trong tay; đó là thanh gươm nhọn và sáng đặt vào tay kẻ chém giết.’
Hỡi con người, hãy kêu la và than thở vì gươm ở trên dân Ta, ở trên mọi nhà lãnh đạo Y-sơ-ra-ên là những kẻ đã bị phó cho gươm cùng với dân Ta. Vì thế, hãy vỗ đùi!
Hãy xem xét, nếu con coi thường cây gậy, liệu điều đó sẽ không xảy đến sao? Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Hỡi con người, vậy con hãy nói tiên tri đi! Hãy vỗ tay, múa gươm đôi ba lần. Đó là thanh gươm giết hại, một thanh gươm giết chết vô số người, đang vây phủ chung quanh
để làm cho lòng họ tan chảy và gây vấp ngã. Ta đã đặt gươm ngăm đe mọi cửa của họ. Ôi! Thanh gươm được làm cho bóng nhoáng, bén nhọn để giết người!
Con hãy tham gia tấn công bên phải và dàn trận bên trái tùy nơi mặt con hướng về.
Ta cũng vỗ hai tay và khiến cơn giận Ta nguôi đi. Chính Ta, Đức Giê-hô-va, phán vậy.”
Lại có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, con cũng hãy vạch cho mình hai con đường để cho thanh gươm của vua nước Ba-by-lôn đi qua. Hai con đường ấy đều xuất phát từ một vùng đất. Tại mỗi đầu đường, con cũng hãy làm một bảng để chỉ đường đi vào thành.
Con hãy vạch một con đường cho gươm đi qua hướng về Ráp-ba, thành của con cái Am-môn, và một con đường hướng về Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem là thành bền vững.
Vì vua Ba-by-lôn đứng tại ngã ba là nơi vào hai con đường ấy để bói quẻ. Vua lắc những mũi tên, cầu hỏi các thần tượng và xem xét lá gan.
Trong tay phải của vua có quẻ bói về thành Giê-ru-sa-lem bảo dùng máy phá thành, ra lệnh chém giết, cất tiếng hô xung trận, dùng những máy phá thành để tấn công vào cổng thành, đắp lũy và lập đồn bao vây thành.
Những kẻ đã thề nguyền xem những quẻ bói chỉ là những lời giả dối, nhưng vua thì sẽ nhắc cho họ nhớ lại việc gian ác mình khiến họ bị đi lưu đày.
Vậy nên Chúa Giê-hô-va phán: ‘Vì các ngươi đã được nhắc để nhớ lại sự gian ác mình, tội lỗi bị vạch trần, lỗi lầm trong mọi việc làm bị lộ ra; vì các ngươi được nhắc tội lỗi ấy nên các ngươi sẽ bị bắt đi.
Về phần ngươi là vua chúa Y-sơ-ra-ên, kẻ gian ác đáng chết kia, ngày của ngươi đã đến, giờ trừng phạt đã gần.’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Hãy cất mũ, lột vương miện đi; những thứ nầy không còn như trước nữa! Cái gì thấp sẽ được nâng cao, cái gì cao sẽ bị hạ thấp.
Đổ nát, đổ nát, đổ nát! Ta sẽ làm điều ấy. Điều ấy chẳng bao giờ xảy ra cho đến chừng nào Đấng đáng được quyền xét xử đến thì Ta sẽ giao cho người.’
Hỡi con người, hãy nói tiên tri về con cái Am-môn và sự khinh lờn của chúng rằng Chúa Giê-hô-va phán: ‘Hãy nói: Thanh gươm, thanh gươm đã tuốt ra để tàn sát, được mài sáng như tia chớp để hủy diệt!
Đang khi chúng thấy khải tượng sai lầm, bói quẻ dối trá cho ngươi thì chúng đặt ngươi trên cổ kẻ gian ác đáng bị hủy diệt; ngày của chúng đã đến, thì giờ trừng phạt chúng gần kề.
Hãy nạp gươm ngươi vào vỏ! Ta sẽ phán xét ngươi trong nơi mà ngươi được dựng nên, trong đất mà ngươi được sinh ra.
Ta sẽ đổ cơn giận Ta trên ngươi; lấy lửa thịnh nộ Ta mà thổi trên ngươi và Ta sẽ phó ngươi trong tay những kẻ tàn bạo, bọn đồ tể.
Ngươi sẽ làm mồi cho lửa; máu ngươi sẽ đổ trên đất và người ta sẽ không còn nhớ đến ngươi nữa vì chính Ta, Đức Giê-hô-va, đã phán.’”
Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, có phải con sẽ phán xét, có phải con sẽ phán xét thành đẫm máu nầy chăng? Vậy thì hãy làm cho nó biết mọi điều ghê tởm của nó.
Hãy nói với nó: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Một thành làm đổ máu ở giữa nó đã đến kỳ định; nó đã làm các thần tượng để tự làm ô uế mình.
Ngươi trở nên tội lỗi bởi máu ngươi làm đổ ra, và trở nên ô uế bởi các thần tượng mà ngươi đã làm ra. Như vậy, ngươi đã làm cho những ngày của ngươi gần hơn và những năm của ngươi đến mau hơn. Vì thế, Ta đã làm cho ngươi thành nỗi ô nhục cho các dân tộc, làm trò cười cho tất cả các nước.
Những người ở gần cũng như ở xa sẽ nhạo cười ngươi là thành ô nhục, đầy rối loạn.
Hãy xem: Các nhà lãnh đạo Y-sơ-ra-ên trong ngươi mỗi người đều dùng quyền lực làm đổ máu.
Nơi ngươi, người ta khinh thường cha mẹ; nơi ngươi, người ta ngược đãi khách lạ; nơi ngươi, người ta hà hiếp kẻ mồ côi cùng người góa bụa.
Ngươi coi thường các vật thánh Ta và vi phạm các ngày sa-bát Ta!
Nơi ngươi, có những kẻ vu khống nhằm gây đổ máu; nơi ngươi, có kẻ dọn tiệc trên các núi; giữa ngươi, có kẻ phạm tội tà dâm.
Nơi ngươi, có kẻ phơi bày sự lõa lồ của cha mình; nơi ngươi, có kẻ làm nhục đàn bà đang kỳ kinh nguyệt.
Nơi ngươi, kẻ nầy phạm điều kinh tởm với vợ người lân cận mình, kẻ khác làm ô uế dâu mình, kẻ khác nữa thì làm nhục chị em mình là con gái của cha mình.
Nơi ngươi, người ta nhận hối lộ để làm đổ máu, ngươi đã lấy lãi và tăng tiền lãi, ngươi áp bức người lân cận để trục lợi và đã quên Ta, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Kìa, Ta đập tay Ta vào lợi phi nghĩa mà ngươi đã làm và vào máu đã đổ ra giữa ngươi.
Đến ngày Ta xét xử ngươi, liệu lòng ngươi có chịu được và tay ngươi có đủ sức chăng? Ta, Đức Giê-hô-va, đã nói thì Ta sẽ thi hành.
Ta sẽ làm cho ngươi tan lạc giữa các dân tộc, phân tán ngươi trong các nước, và Ta sẽ tiêu trừ điều ô uế khỏi giữa ngươi.
Bấy giờ, chính ngươi sẽ bị khinh bỉ trước mắt các dân tộc và ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.’”
Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, đối với Ta, nhà Y-sơ-ra-ên đã trở nên như cặn bã; tất cả chúng chỉ là đồng, thiếc, sắt, chì, trong lò; chúng chỉ là cặn bã của bạc.
Vì thế, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Vì tất cả các ngươi đã trở nên cặn bã, cho nên Ta sẽ nhóm các ngươi lại giữa thành Giê-ru-sa-lem.
Như người ta tập trung bạc, đồng, sắt, chì, thiếc, để bỏ vào lò và thổi lửa lên trên cho tan chảy ra thể nào, thì trong cơn giận và sự thịnh nộ của Ta, Ta cũng sẽ nhóm các ngươi lại và ném vào lò để làm tan chảy ra cũng thể ấy.
Thật Ta sẽ nhóm các ngươi lại và thổi lửa giận Ta trên các ngươi thì các ngươi sẽ tan chảy ra trong đó.
Như bạc tan chảy ra trong lò thì các ngươi cũng sẽ tan chảy ra giữa thành ấy và các ngươi sẽ biết rằng Ta, Đức Giê-hô-va, đã đổ cơn thịnh nộ Ta trên các ngươi.’”
Lại có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy nói với nó rằng: ‘Ngươi là đất chẳng được tẩy sạch, trong ngày thịnh nộ chẳng được mưa dào.
Những kẻ tiên tri của nó lập mưu giữa nó như sư tử gầm gừ cắn xé mồi; chúng nuốt các linh hồn, cướp lấy tài sản và những vật quý, làm cho số người góa bụa gia tăng trong thành.
Các thầy tế lễ nó phạm luật pháp Ta và làm ô uế vật thánh Ta; chúng chẳng phân biệt cái gì là thánh, cái gì là tục; chẳng dạy người ta phân biệt cái gì là ô uế, cái gì là tinh sạch; chúng nhắm mắt chẳng quan tâm các ngày sa-bát Ta, khiến Ta bị xúc phạm giữa chúng.
Các nhà lãnh đạo ở giữa nó giống như muông sói xé mồi; chúng chỉ lo làm đổ máu, làm mất linh hồn để được lợi bất nghĩa.
Các kẻ tiên tri nó tô vôi trét phấn trên chúng bằng những khải tượng hư không và bói khoa dối trá. Chúng nói rằng: “Đây là điều Chúa Giê-hô-va phán” trong khi Đức Giê-hô-va chưa hề phán.
Dân trong xứ làm điều bạo ngược, phạm tội trộm cướp, khuấy rối kẻ nghèo nàn, thiếu thốn và hà hiếp khách lạ, bất chấp công lý.
Ta đã tìm một người trong chúng để xây lại tường thành, vì đất mà đứng chỗ sứt mẻ trước mặt Ta hầu cho Ta không hủy diệt nó, nhưng Ta chẳng tìm được một ai.
Do đó, Ta đã đổ cơn thịnh nộ trên chúng và lấy lửa giận của Ta đốt chúng. Ta đã làm cho đường lối của chúng đổ lại trên đầu chúng, Chúa Giê-hô-va phán vậy.’”
Lại có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, có hai phụ nữ là con cùng một mẹ.
Chúng bán dâm ở Ai Cập, bán dâm từ khi còn trẻ; tại đó, ngực chúng bị nắn và trinh tiết bị mất.
Đứa chị tên là Ô-hô-la và đứa em tên là Ô-hô-li-ba. Chúng thuộc về Ta và sinh con trai, con gái. Ô-hô-la tức là Sa-ma-ri, còn Ô-hô-li-ba tức là Giê-ru-sa-lem.
Ô-hô-la hành nghề mại dâm trong khi nó đã thuộc về Ta. Nó đi theo tình nhân nó là dân A-si-ri, kẻ lân cận nó.
Chúng mặc áo tím, là các tổng đốc và các cấp chỉ huy, tất cả đều là những thanh niên tuấn tú, những kỵ binh.
Nó bán dâm cho những người ưu tú nhất của A-si-ri; nó tự làm ô uế với những kẻ mà nó tham muốn cùng mọi thần tượng của chúng.
Nó không từ bỏ nghề mại dâm mà nó đã đem đến từ Ai Cập là nơi người ta đã làm nhục nó lúc còn trẻ, làm cho nó mất đi trinh tiết và trút đổ sự dâm dục của chúng trên nó.
Vì thế, Ta đã phó nó trong tay các tình nhân nó, tức là trong tay những người A-si-ri mà nó đã say đắm.
Chúng lột trần nó, bắt lấy con trai, con gái nó và giết nó bằng gươm. Nó đã trở nên câu tục ngữ trong đám đàn bà và sự phán xét đã giáng trên nó.
Em gái nó là Ô-hô-li-ba đã thấy mọi việc đó; dù vậy nó buông mình theo tình dục hơn chị nó, và dâm đãng còn nhiều hơn nữa.
Nó phải lòng những người A-si-ri, các tổng đốc và các cấp chỉ huy, tức là kẻ lân cận nó; chúng ăn mặc sang trọng, thích cưỡi ngựa, tất cả đều là những thanh niên tuấn tú.
Ta thấy nó cũng đã tự làm ô uế và cả hai chị em cùng theo một cách.
Nó lại càng dâm dục hơn nữa khi thấy những hình người được chạm trên vách thành, những hình tượng của người Canh-đê sơn đỏ,
thắt dây lưng và bịt khăn trên đầu thả thòng xuống, trông giống các nhà lãnh đạo. Tất cả chúng giống như những người Ba-by-lôn sinh trưởng tại xứ Canh-đê.
Vừa thấy chúng thì nó đã say mê và sai sứ giả đến với chúng ở Canh-đê.
Những người Ba-by-lôn đến với nó, lên giường âu yếm và làm ô uế nó bởi sự dâm dục mình. Sau khi bị ô uế với chúng rồi thì lòng nó sinh ra chán ghét.
Nó đã phơi bày thói dâm ô mình, lột trần mình ra thì lòng Ta cũng chán nó như đã chán chị nó.
Nhưng nó thêm nhiều sự dâm dục khi nhớ lại những ngày nó còn trẻ, thuở nó bán dâm trong đất Ai Cập.
Nó ham mê những tình nhân của nó, là những kẻ thích chuyện xác thịt như lừa, dâm ô như ngựa.
Vì ngươi mong ước sự dâm dục hồi còn trẻ, lúc những người Ai Cập sờ mó ngực ngươi và làm mất trinh tiết của ngươi.
Cho nên, hỡi Ô-hô-li-ba, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Nầy, Ta sẽ giục những tình nhân mà lòng ngươi đã chán, chống lại ngươi và Ta sẽ đem chúng đến tấn công ngươi tứ phía:
tức là những người Ba-by-lôn, tất cả người Canh-đê, Phê-cốt, Sô-a và Cô-a cùng tất cả người A-si-ri đang ở với chúng, là những thanh niên tuấn tú, mọi tổng đốc và các cấp chỉ huy, các nhà lãnh đạo và các quan chức cao cấp, tất cả đều cưỡi ngựa.
Chúng trang bị những khí giới, những chiến xa, xe tải và một đoàn quân đông đảo đến chống lại ngươi; chúng dùng những thuẫn, khiên và mũ trận mà vây chung quanh ngươi. Ta sẽ giao sự phán xét cho chúng và chúng sẽ xét xử ngươi theo luật của chúng.
Ta sẽ nổi ghen chống lại ngươi và chúng trừng phạt ngươi trong cơn giận dữ. Chúng sẽ cắt mũi và tay ngươi; còn những kẻ sót lại trong ngươi sẽ ngã bởi gươm. Chúng sẽ bắt con trai con gái ngươi; những kẻ còn sót lại trong ngươi sẽ bị lửa thiêu nuốt.
Chúng lột áo quần ngươi và cướp lấy đồ châu báu ngươi.
Như thế, Ta sẽ dứt bỏ tính đàng điếm của ngươi và thói dâm ô mà ngươi đã đem đến từ đất Ai Cập. Ngươi sẽ không ngước mắt nhìn chúng và không nhớ đến Ai Cập nữa.’
Vì Chúa Giê-hô-va phán: ‘Nầy Ta sẽ phó ngươi trong tay những kẻ ngươi ghét, và trong tay những kẻ ngươi đã chán.
Chúng sẽ đối xử với ngươi trong sự căm ghét và cướp lấy công lao ngươi. Chúng sẽ để ngươi trần truồng, lõa lồ và thói đàng điếm, dâm đãng của ngươi sẽ bị phơi bày ra.
Ngươi sẽ bị đối xử như vậy vì ngươi đã bán dâm cho các dân và làm ô uế mình bằng những thần tượng của chúng.
Ngươi đã đi theo con đường của chị ngươi cho nên Ta sẽ để chén của nó trong tay ngươi.’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Ngươi sẽ uống chén của chị ngươi Là chén sâu và to Chứa được rất nhiều; Ngươi sẽ bị chê cười nhạo báng.
Ngươi sẽ bị say khướt và buồn rầu, Vì chén của chị Sa-ma-ri ngươi Là chén kinh hoàng và đổ nát.
Ngươi sẽ uống chén ấy và uống cạn, Ngươi sẽ đập chén ra từng mảnh và nhai nó, Rồi ngươi tự xé ngực ngươi; Như Ta đã phán,’ Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Vì thế, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Vì ngươi đã quên Ta, bỏ Ta ra sau lưng ngươi, nên ngươi phải rước lấy hậu quả về sự bỉ ổi và thói đàng điếm của ngươi!’”
Đức Giê-hô-va phán với tôi rằng: “Hỡi con người, con sẽ phán xét Ô-hô-la và Ô-hô-li-ba chăng? Hãy nói cho chúng biết những điều kinh tởm của chúng.
Chúng đã phạm tội tà dâm và tay chúng vấy máu. Chúng đã phạm tội tà dâm với những thần tượng mình; ngay cả con cái chúng sinh cho Ta, chúng cũng dâng qua lửa để làm thức ăn cho thần tượng!
Chúng còn làm điều nầy nữa: Cùng trong một ngày chúng đã làm ô uế nơi thánh Ta và phạm các ngày sa-bát Ta.
Sau khi đã giết con cái mình dâng cho thần tượng, ngay trong ngày ấy, chúng vào trong nơi thánh Ta để làm ô uế nơi ấy! Đó là điều chúng đã làm giữa nhà Ta!
Các ngươi đã sai sứ giả để gọi những người từ phương xa đến với mình. Khi chúng đến, ngươi vì chúng mà tắm rửa, vẽ mắt mình và đeo đồ trang sức.
Ngươi ngồi trên giường sang trọng; trước giường dựng một cái bàn và đặt trên đó hương và dầu của Ta.
Tiếng ồn ào của đám đông nhàn rỗi vây quanh; có người hèn hạ cùng người say sưa từ hoang mạc được đưa đến; chúng đeo vòng nơi tay hai chị em ngươi và đội vương miện rực rỡ trên đầu.
Ta phán về kẻ bị tàn tạ vì tội tà dâm rằng: ‘Bây giờ, chúng đang hành dâm với nhau’
Chúng đến với nó như đến với gái mại dâm thế nào thì chúng cũng đến với Ô-hô-la và Ô-hô-li-ba là những đàn bà tà dâm thể ấy.
Nhưng những người công chính sẽ phán xét chúng như phán xét đàn bà ngoại tình và đàn bà làm đổ máu, vì chúng phạm tội ngoại tình và bàn tay chúng vấy máu.
Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Ta sẽ đem một đám đông chống lại chúng và sẽ phó chúng vào sự kinh hãi và cướp bóc.
Đám đông ấy sẽ ném đá chúng; lấy gươm đâm chúng, giết con trai, con gái chúng và lấy lửa đốt nhà chúng.
Như vậy, Ta sẽ tận diệt sự tà dâm trong đất để cho mọi phụ nữ được cảnh báo đừng làm theo sự dâm dục của các ngươi nữa.
Người ta sẽ đổ lại sự dâm dục các ngươi trên chính mình các ngươi; các ngươi sẽ mang tội lỗi về thần tượng mình và các ngươi sẽ biết rằng Ta là Chúa Giê-hô-va.’”
Vào ngày mùng mười, tháng mười, năm thứ chín, có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy ghi chép tên ngày nầy, chính ngày nầy, vì vua Ba-by-lôn đã đến gần thành Giê-ru-sa-lem vào chính ngày nầy.
Hãy kể một ẩn dụ cho nhà nổi loạn và nói với chúng rằng: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Hãy đặt nồi, hãy bắc nồi Và đổ nước vào.
Hãy bỏ những miếng thịt vào, Tất cả những miếng thịt ngon, đùi, vai Và bỏ xương tốt nhất cho đầy.
Hãy chọn con tốt nhất trong bầy Và chất củi dưới nồi để nấu xương. Hãy đun sôi lên Để hầm xương trong nồi.’
Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Khốn cho thành đẫm máu, Khốn cho nồi bị ten rét Mà ten rét không chùi sạch được! Hãy lấy từng miếng ra cho đến hết, Không bốc thăm lựa chọn gì cả.
Vì máu mà nó đã đổ ra còn ở giữa nó; Nó đã đổ máu ấy trên tảng đá trọi Chứ không đổ trên đất Để cho bụi đất lấp đi.
Chính vì để cho cơn giận nổi lên và báo thù Mà Ta đổ máu nó trên tảng đá trọi, Đến nỗi nó không thể che đậy được nữa.’
Vì thế, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Khốn cho thành đẫm máu! Ta cũng sẽ chất một đống củi lớn.
Hãy chất củi, đốt lửa hực lên, Nấu cho rục thịt, khô nước Và cho xương bị cháy đi.
Sau đó, hãy đặt nồi không trên than lửa đỏ, Cho đến khi nó nóng và đồng bốc cháy Để sự ô uế nó tan ra bên trong nó, và ten rét của nó bị thiêu hủy đi.
Thật là nhọc công vô ích, Vì ten rét nhiều quá, không thể tẩy sạch, Dù đã bỏ vào lửa, ten rét ấy cũng không ra!
Sự ô uế của ngươi là tội tà dâm. Vì Ta đã tẩy sạch ngươi nhưng ngươi không muốn được tẩy sạch nên ngươi sẽ không được thanh tẩy nữa, cho đến chừng nào cơn giận của Ta đối với ngươi nguôi đi.
Ta, Đức Giê-hô-va, đã phán thì điều đó sẽ phải xảy ra. Ta sẽ thực hiện, Ta sẽ không lui đi, không thương xót, không đổi ý. Người ta sẽ phán xét ngươi theo đường lối và việc làm của ngươi,’ Chúa Giê-hô-va phán vậy.”
Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, bằng một tai họa bất ngờ, Ta sẽ cất khỏi con điều mắt con ưa thích nhưng con không được than thở, không được khóc lóc và không được đổ nước mắt.
Hãy than thầm chứ đừng khóc cho kẻ chết; hãy vấn khăn trên đầu con và mang giày vào chân; chớ che râu mép lại và đừng ăn bánh mà người ta phúng viếng.”
Vậy buổi sáng tôi nói với dân chúng, đến chiều thì vợ tôi chết. Sáng hôm sau, tôi làm theo như lời đã phán với tôi.
Bấy giờ dân chúng nói với tôi: “Ông không nói cho chúng tôi biết những điều ông làm đây có ý nghĩa gì sao?”
Tôi trả lời: “Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
‘Hãy nói với nhà Y-sơ-ra-ên rằng Chúa Giê-hô-va phán: Nầy Ta sẽ làm ô uế nơi thánh Ta, là nơi các ngươi lấy làm hãnh diện về sức mạnh mình, mắt các ngươi ưa thích, lòng các ngươi yêu mến. Con trai, con gái các ngươi mà các ngươi đã để lại sẽ ngã chết bởi gươm.
Bấy giờ, các ngươi sẽ làm như tôi đã làm; các ngươi không che râu mép, không ăn bánh mà người ta phúng viếng.
Khăn các ngươi sẽ cứ để yên trên đầu, giày các ngươi sẽ mang luôn dưới chân; các ngươi không kêu than, không khóc lóc nhưng sẽ bị hao mòn vì tội ác mình, và các ngươi cùng nhau than thở.
Ê-xê-chi-ên sẽ là một dấu hiệu cho các ngươi; các ngươi sẽ làm giống như nó đã làm. Khi mọi sự đó xảy đến, các ngươi sẽ biết Ta là Chúa Giê-hô-va.’
Hỡi con người, về phần con, trong ngày Ta cất khỏi chúng sức mạnh, niềm vui, vinh quang, điều ưa thích của mắt chúng, điều ham mến của lòng, con trai và con gái chúng,
trong ngày đó, sẽ có kẻ trốn thoát đến báo tin cho con nghe.
Trong ngày đó, miệng con sẽ mở ra và nói với kẻ trốn thoát. Con sẽ nói và không câm lặng nữa. Con sẽ là một dấu hiệu cho chúng và chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.”
Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy xây mặt về hướng dân Am-môn và nói tiên tri chống lại chúng.
Con hãy nói với dân Am-môn: ‘Hãy nghe lời của Chúa Giê-hô-va. Chúa Giê-hô-va phán rằng vì ngươi nói: “Ha ha!” về nơi thánh Ta khi nó bị ô uế, về đất Y-sơ-ra-ên khi nó bị hoang vu và về nhà Giu-đa khi nó bị bắt lưu đày;
cho nên, nầy, Ta sẽ phó ngươi cho dân phương Đông làm sản nghiệp. Chúng sẽ đóng trại và cất nhà mình ở giữa ngươi; chúng sẽ ăn hoa quả và uống sữa của ngươi.
Ta sẽ khiến thành Ráp-ba làm đồng cỏ cho lạc đà và đất Am-môn làm chỗ nghỉ ngơi cho bầy súc vật. Lúc ấy, các ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.’
Vì Chúa Giê-hô-va phán: ‘Bởi ngươi đã vỗ tay, giậm chân, lòng đầy khinh bỉ và reo mừng nghịch với đất Y-sơ-ra-ên,
cho nên, nầy, Ta đã giơ tay Ta ra chống lại ngươi. Ta sẽ phó ngươi làm mồi cho các nước; Ta sẽ loại trừ ngươi ra khỏi các dân; Ta sẽ tiêu diệt ngươi khỏi các quốc gia. Ta sẽ hủy diệt ngươi và ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.’”
Chúa Giê-hô-va phán: “Vì Mô-áp và Sê-i-rơ có nói rằng: ‘Kìa, nhà Giu-đa cũng như các nước khác,’
cho nên, nầy, Ta sẽ phá các thành nơi biên giới của Mô-áp, tức là tất cả các thành làm vinh hiển cho xứ ấy như thành Bết Giê-si-mốt, Ba-anh Mê-ôn và Ki-ri-a-ta-im.
Ta sẽ phó xứ Mô-áp và Am-môn cho dân phương Đông làm sản nghiệp để cho dân Am-môn không còn được ghi nhớ giữa các nước nữa.
Ta cũng sẽ thi hành sự phán xét trên Mô-áp và chúng sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.”
Chúa Giê-hô-va phán: “Vì dân Ê-đôm đã trả thù nhà Giu-đa và nó đã phạm tội nặng khi báo thù nhà ấy, nên Chúa Giê-hô-va phán rằng:
‘Ta sẽ giơ tay chống lại Ê-đôm, sẽ tiêu diệt người và vật ở đó; Ta sẽ làm cho thành ấy hoang vu; từ Thê-man đến Đê-đan, chúng sẽ ngã chết bởi gươm.
Ta sẽ dùng tay dân Y-sơ-ra-ên để báo thù trên Ê-đôm và dân ấy sẽ đối xử với dân Ê-đôm theo cơn thịnh nộ và tức giận của Ta. Bấy giờ, chúng sẽ biết sự báo thù của Ta như thế nào, Chúa Giê-hô-va phán vậy.’”
Chúa Giê-hô-va phán: “Vì dân Phi-li-tin với sự khinh bỉ và mối thù truyền kiếp đã báo thù một cách độc ác nhằm hủy diệt Giu-đa,
cho nên, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Nầy, Ta sẽ giơ tay ra chống lại dân Phi-li-tin, tiêu diệt người Cơ-rết và giết hết những kẻ còn sót lại dọc theo bờ biển.
Ta sẽ thi hành sự báo thù lớn đối với chúng, dùng cơn giận trừng phạt chúng. Bấy giờ, chúng sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va khi Ta báo thù chúng.’”
Vào năm thứ mười một, ngày mùng một của tháng, có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi rằng:
“Hỡi con người, Ty-rơ đã nói về Giê-ru-sa-lem rằng: ‘Ha ha! Thành làm cửa của các dân đã bị đổ nát rồi! Đã đến phiên ta, ta sẽ được thịnh vượng, còn nó giờ đã trở nên hoang vu.’
Vì thế, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Hỡi Ty-rơ! Nầy, Ta sẽ chống lại ngươi. Ta sẽ khiến nhiều nước chống lại ngươi như biển nổi ba đào.
Chúng sẽ hủy phá những vách thành Ty-rơ và triệt hạ các tháp của nó. Ta sẽ cào sạch bụi đất khiến nó thành một tảng đá trọi.
Nó sẽ trở thành một chỗ để người ta phơi lưới ở giữa biển, vì chính Ta đã phán.’ Chúa Giê-hô-va phán: ‘Nó sẽ làm chiến lợi phẩm cho các nước.
Các con gái nó đang ở đồng ruộng sẽ bị giết bằng gươm, và chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.’
Vì Chúa Giê-hô-va phán: ‘Nầy, Ta sẽ đem Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, là vua của các vua, với ngựa, chiến xa, kỵ binh cùng đạo quân đông đảo, hùng mạnh từ phương bắc đến tấn công thành Ty-rơ.
Vua ấy sẽ dùng gươm giết các con gái của ngươi đang ở ngoài đồng; sẽ xây đồn đắp lũy và giương thuẫn lên chống lại ngươi.
Vua sẽ đặt máy phá vách thành và dùng búa triệt hạ các tháp của ngươi.
Ngựa của vua ấy nhiều lắm đến nỗi tung bụi đất che phủ ngươi. Các tường thành ngươi rung chuyển vì tiếng của kỵ binh, xe tải và chiến xa khi vua ấy tiến vào thành qua các cổng như tiến vào một thành bị chọc thủng.
Vó ngựa của vua ấy sẽ giẫm nát các đường phố của ngươi; vua sẽ giết dân ngươi bằng gươm và những cột trụ kiên cố của ngươi sẽ bị ném xuống đất.
Kẻ thù sẽ cướp tài sản của ngươi, đoạt lấy hàng hóa ngươi, phá đổ vách thành ngươi. Chúng sẽ phá đền đài ngươi và ném những đá, gỗ và bụi đất của ngươi xuống biển.
Ta sẽ làm tiếng hát của ngươi câm bặt và người ta sẽ không còn nghe tiếng đàn hạc của ngươi nữa.
Ta sẽ khiến ngươi trở thành tảng đá trọi; ngươi sẽ trở thành một chỗ để người ta phơi lưới và không bao giờ được xây dựng lại, vì Ta là Đức Giê-hô-va đã phán.’ Chúa Giê-hô-va phán vậy.”
Chúa Giê-hô-va phán với thành Ty-rơ rằng: “Chẳng phải khi nghe tiếng ngươi bị đổ xuống, kẻ bị thương rên xiết, sự tàn sát xảy ra giữa ngươi thì các hải đảo đều rúng động sao?
Tất cả các thủ lĩnh miền biển đều xuống khỏi ngai mình, cởi áo choàng ra và lột bỏ những áo thêu. Họ bị sự kinh hãi vây phủ và ngồi xuống đất. Họ luôn luôn sợ hãi, khiếp vía vì ngươi.
Họ sẽ hát cho ngươi bài ai ca về ngươi rằng: ‘Sao ngươi bị hủy diệt, biến mất khỏi biển khơi? Hỡi thành danh tiếng, Và vững bền ở giữa biển Là chỗ người đi biển cư ngụ. Ngươi với dân cư ngươi Làm cho mọi người khiếp sợ.
Bây giờ, các hải đảo sẽ run rẩy Trong ngày ngươi bị đổ nát Và các hải đảo trong biển sẽ kinh khiếp Về sự sụp đổ của ngươi!’”
Thật thế, Chúa Giê-hô-va phán: “Khi Ta sẽ làm cho ngươi hoang vu như những thành không có dân ở, khi Ta sẽ khiến sóng từ vực sâu phủ trên ngươi, và các dòng nước lớn che lấp ngươi;
bấy giờ, Ta sẽ khiến ngươi xuống với những kẻ đã xuống vực sâu, đến với dân đời xưa. Ta sẽ khiến ngươi ở trong những nơi rất thấp của đất, trong những chỗ hoang vu từ đời xưa với những kẻ đã xuống vực sâu để cho ngươi không có dân ở nữa, nhưng Ta sẽ đặt vinh hiển trong đất người sống.
Ta sẽ dùng ngươi làm một nỗi kinh hoàng. Ngươi sẽ không còn nữa, và dù người ta có tìm ngươi cũng sẽ không hề thấy ngươi nữa,” Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Lại có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy làm một bài ai ca về thành Ty-rơ.
Hãy nói với thành Ty-rơ: ‘Ngươi là thành ở nơi cửa biển, buôn bán với các dân của nhiều hải đảo,’ Chúa Giê-hô-va phán: Hỡi Ty-rơ, ngươi có nói: ‘Ta là vẻ đẹp toàn hảo.’
Bờ cõi ngươi ở giữa biển; Những kẻ xây dựng ngươi đã làm cho ngươi có vẻ đẹp toàn hảo.
Họ đã dùng gỗ tùng của Sê-nia Làm ván đóng thuyền; Lấy gỗ bá hương của Li-ban Làm cột buồm cho ngươi.
Lấy gỗ sồi của Ba-san Làm mái chèo của ngươi; Lấy gỗ bách từ đảo Kít-tim Làm ván lợp, Và cẩn bằng ngà voi.
Dùng vải gai mịn thêu của Ai Cập làm buồm, Và làm cờ xí cho ngươi; Dùng vải sắc tía, sắc xanh từ hải đảo Ê-li-sa Làm màn che cho ngươi.
Dân cư Si-đôn và A-vát Là bạn chèo của ngươi; Hỡi Ty-rơ, những người khôn ngoan Làm hoa tiêu cho ngươi.
Các trưởng lão ở Ghê-banh và người thông thái xứ ấy Giúp ngươi sửa chữa những chỗ hư hỏng trên tàu. Tất cả những tàu biển cùng thủy thủ đều ở với ngươi Để trao đổi hàng hóa cho ngươi.
Người Ba Tư, người Lút, người Phút Làm lính chiến trong quân đội ngươi. Chúng treo thuẫn và mũ trận trên ngươi, Và làm cho ngươi trở nên lộng lẫy.
Những người A-vát cùng quân lính của ngươi Canh gác quanh tường thành ngươi, Những người Ga-mát thì ở trên các tháp; Chúng treo thuẫn chung quanh tường thành ngươi Và làm cho vẻ đẹp của ngươi thêm hoàn hảo.
Những dân ở thành Ta-rê-si buôn bán với ngươi đủ mọi thứ của cải; họ đổi bạc, sắt, thiếc, chì, để lấy hàng của ngươi.
Các dân ở Gia-van, ở Tu-banh và ở Mê-siếc buôn bán với ngươi; họ đổi nô lệ và vật dụng bằng đồng để lấy hàng hóa ngươi.
Những người của Bết Tô-ga-ma đem ngựa, ngựa chiến, la, để đổi lấy hàng của ngươi.
Những người Đê-đan là khách hàng ngươi; nhiều hải đảo giao thương với ngươi; họ cống nộp cho ngươi ngà voi và gỗ mun.
Vì ngươi có rất nhiều sản phẩm nên A-ram giao thương với ngươi; họ lấy bích ngọc, vải điều, hàng thêu, vải gai mịn, san hô, hồng ngọc mà trao đổi hàng với ngươi.
Giu-đa và Y-sơ-ra-ên cũng buôn bán với ngươi; họ đem lúa mì ở Min-nít, bánh ngọt, mật ong, dầu và hương liệu để trao đổi hàng hóa với ngươi.
Vì ngươi có nhiều sản phẩm, của cải đầy dẫy nên Đa-mách lấy rượu nho ở Hên-bôn và lông chiên trắng mà trao đổi với ngươi.
Người Vê-đan và Gia-van từ U-dan đến trao đổi hàng hóa với ngươi; họ đem sắt luyện, nhục quế và xương bồ để đổi lấy hàng.
Người Đê-đan đem vải hoa phủ trên ngựa để bán cho ngươi.
Người Ả-rập và tất cả nhà lãnh đạo ở Kê-đa giao thương với ngươi và đem đến bán cho ngươi những chiên con, chiên đực và dê đực.
Những thương nhân ở Sê-ba và Ra-a-ma buôn bán với ngươi; họ lấy mọi thứ hương liệu hảo hạng, mọi thứ đá quý và vàng mà đổi lấy hàng của ngươi.
Ha-ran, Can-nê và Ê-đen cùng những thương nhân ở Sê-ba, A-si-ri và Kin-mát đều là khách hàng của ngươi.
Trong các chợ, chúng buôn bán với ngươi quần áo đẹp đẽ, áo màu tía và hàng thêu, thảm nhiều màu, và dây thừng bện chặt.
Các thuyền Ta-rê-si chuyên chở hàng hóa qua lại, Và ngươi được chất đầy nặng trĩu Ở giữa biển khơi.
Nhưng các tay chèo của ngươi đã dẫn ngươi Vượt trên nước lớn, Và gió đông đã đập nát ngươi Ở giữa biển khơi.
Đến ngày hủy diệt của ngươi, Của cải, hàng hóa, việc trao đổi hàng của ngươi, Thủy thủ và hoa tiêu của ngươi, Những người sửa chữa tàu bè ngươi, Những người trao đổi hàng hóa với ngươi, Tất cả lính chiến của ngươi, Và mọi người khác ở trên tàu, Đều sẽ rơi xuống dưới lòng biển.
Bởi tiếng kêu của những viên hoa tiêu, Các đồng cỏ chung quanh ngươi đều rung chuyển.
Tất cả những kẻ cầm chèo, những thủy thủ, Tất cả các hoa tiêu ngoài biển, Đều xuống khỏi tàu mình Và đứng vững trên đất.
Chúng sẽ cất tiếng than khóc ngươi, Và kêu gào cay đắng vì ngươi; Chúng ném bụi trên đầu mình, Và lăn lóc trong tro bụi.
Chúng sẽ cạo đầu vì ngươi, Và mặc áo sô. Chúng sẽ khóc thương ngươi, Và lòng đầy cay đắng.
Khi chúng đau thương khóc lóc vì ngươi, Chúng làm một bài ai ca về ngươi rằng: ‘Ai trở nên quạnh hiu giống như thành Ty-rơ Ở giữa biển cả?
Khi hàng của ngươi ra khỏi các biển, Ngươi đã làm cho nhiều dân được thỏa mãn; Bởi của cải và hàng hóa ngày càng nhiều, Ngươi đã làm giàu cho các vua trên đất.
Bấy giờ, ngươi bị tan nát vì biển cả, Chìm dưới nước sâu; Hàng hóa và dân chúng của ngươi Đều chìm xuống biển với ngươi.
Tất cả các dân ở những hải đảo Đều sửng sốt vì ngươi; Các vua chúng đều khiếp vía, Biến sắc mặt vì lo âu.
Những thương nhân ở giữa các dân phỉ báng ngươi. Ngươi trở thành nỗi kinh khiếp; Và bị hủy diệt vĩnh viễn!’”
Lại có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy nói với vua Ty-rơ rằng: Chúa Giê-hô-va phán: ‘Vì lòng ngươi tự cao, Ngươi nói rằng: “Ta là một vị thần, Ta ngồi trên ngai của các thần, Ở giữa biển cả.” Nhưng ngươi chỉ là loài người chứ không phải là thần, Dù ngươi tự cho tâm trí mình Giống như tâm trí thần thánh.
Ngươi khôn ngoan hơn Đa-ni-ên sao? Chẳng có sự mầu nhiệm nào giấu kín với ngươi sao?
Ngươi đã được giàu có Nhờ sự khôn khéo và thông sáng của mình; Ngươi đã thâu chứa vàng bạc Trong kho tàng ngươi.
Nhờ sự khôn khéo trong việc buôn bán, Ngươi đã làm cho sự giàu có mình gia tăng, Và lòng ngươi tự cao vì sự giàu có của ngươi.’
Vì vậy, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Vì ngươi tự cho tâm trí mình Giống như tâm trí thần thánh.
Cho nên, Ta sẽ khiến những người ngoại quốc tàn bạo nhất trong các dân Nổi dậy chống lại ngươi; Chúng sẽ rút gươm chống lại sự khôn sáng hoa mỹ ngươi, Và làm ô uế vẻ vinh quang ngươi.
Chúng sẽ xô ngươi xuống hố, Và ngươi sẽ chết trong lòng biển Như người bị giết.
Trước mặt kẻ giết ngươi, Ngươi còn dám nói rằng “ta là thần” chăng? Khi ngươi ở trong tay của kẻ làm ngươi bị thương Thì ngươi là loài người chứ chẳng phải là thần.
Ngươi sẽ chết bởi tay người ngoại quốc Như những kẻ chưa chịu cắt bì. Chúa Giê-hô-va phán, chính Ta đã công bố như vậy.’”
Lại có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy làm một bài ai ca về vua Ty-rơ và nói với vua ấy rằng: Chúa Giê-hô-va phán: ‘Ngươi trở thành một kiểu mẫu, Về sự khôn ngoan và vẻ đẹp toàn hảo.
Ngươi vốn ở trong Ê-đen, là vườn của Đức Chúa Trời. Ngươi đã có đủ mọi thứ ngọc báu, Là ngọc mã não, ngọc vàng lợt, ngọc kim cương, Ngọc thủy thương, ngọc sắc biếc, ngọc bích, Ngọc sắc chàm, ngọc sắc xanh, ngọc hồng lựu và vàng nữa. Nghề làm ra trống cơm và ống sáo thuộc về ngươi, Từ ngày ngươi mới được dựng nên đã chuẩn bị sẵn rồi.
Ngươi là một chê-rúp được xức dầu đang che phủ; Ta đã lập ngươi lên trên núi thánh của Đức Chúa Trời; Ngươi đã đi dạo giữa các hòn đá sáng như lửa.
Đường lối ngươi trọn vẹn, Từ ngày ngươi được dựng nên, Cho đến khi thấy sự gian ác trong ngươi.
Khi buôn bán thạnh lợi, Ngươi càng trở nên bạo ngược, và phạm tội; Vì thế, Ta đã xô ngươi như là vật ô uế xuống khỏi núi Đức Chúa Trời; Hỡi chê-rúp che phủ kia, Ta diệt ngươi giữa các hòn đá sáng như lửa!
Lòng ngươi kiêu ngạo vì vẻ đẹp ngươi, Và vinh quang của ngươi làm hư hỏng sự khôn ngoan mình. Ta đã xô ngươi xuống đất, Đặt ngươi trước mặt các vua, Làm trò cho họ xem.
Ngươi đã làm ô uế nơi thánh ngươi, Bởi tội ác chất chồng, Và bởi sự buôn bán không chính trực của ngươi. Vì thế, Ta đã khiến lửa ra từ giữa ngươi Thiêu nuốt ngươi, Và Ta đã làm cho ngươi trở nên tro trên đất Trước mặt mọi kẻ xem thấy.
Tất cả những kẻ biết ngươi trong các dân Sẽ kinh khủng về ngươi. Ngươi đã trở nên một điều kinh khiếp, Và ngươi sẽ vĩnh viễn không còn nữa.’”
Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy xây mặt về phía Si-đôn và nói tiên tri chống lại nó.
Ngươi hãy nói: Chúa Giê-hô-va phán: ‘Hỡi Si-đôn, nầy Ta chống lại ngươi; Ta muốn làm sáng danh Ta ở giữa ngươi. Chúng sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va Khi Ta sẽ thi hành sự phán xét, Và bày tỏ sự thánh khiết Ta ở giữa nó.
Ta sẽ sai dịch bệnh đến trong thành, Và máu đổ ra trong các đường phố nó. Những kẻ bị thương sẽ ngã xuống giữa nó, Vì gươm từ bốn bề sẽ xông vào nó. Lúc ấy, chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
Nhà Y-sơ-ra-ên sẽ không còn chà chuôm hiểm độc hay gai nhọn gây đau đớn nữa, tức là những nước láng giềng thường đối xử với nó cách khinh bỉ. Bấy giờ, chúng sẽ biết Ta là Chúa Giê-hô-va.’”
Chúa Giê-hô-va phán: “Khi Ta nhóm nhà Y-sơ-ra-ên lại từ giữa các dân mà chúng đã bị tan lạc, Ta sẽ bày tỏ sự thánh khiết Ta giữa chúng trước mắt các dân. Lúc ấy, chúng sẽ ở trong đất mà Ta đã ban cho đầy tớ Ta là Gia-cốp.
Chúng sẽ ở đó bình yên, sẽ cất nhà và trồng vườn nho. Chúng sẽ ở đó bình yên khi Ta đã thi hành sự phán xét của Ta chống lại những nước láng giềng của chúng, là kẻ đã đối xử với chúng cách khinh bỉ. Lúc ấy, chúng sẽ biết rằng Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng.”
Vào ngày mười hai, tháng mười, năm thứ mười, có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy xây mặt chống lại Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, và nói tiên tri chống lại vua ấy và cả xứ Ai Cập nữa.
Hãy nói: Chúa Giê-hô-va phán: ‘Hỡi Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, Nầy, Ta chống lại ngươi, Ngươi là con quái vật khổng lồ Nằm giữa các sông. Ngươi nói rằng: “Sông Nin của ta thuộc về ta Chính ta đã làm nên nó.”
Ta sẽ đặt những móc trong hai hàm ngươi, Và khiến cá trong các sông của ngươi dính vào vảy ngươi. Ta sẽ kéo ngươi lên khỏi các sông của ngươi, Cùng với tất cả cá trong các sông Đã dính vào vảy ngươi nữa.
Ta sẽ ném ngươi vào hoang mạc, Ngươi và tất cả cá trong các sông ngươi. Ngươi sẽ ngã xuống trên cánh đồng trống, Sẽ chẳng được lượm lại hay thâu lại. Ta đã phó ngươi làm đồ ăn Cho loài thú dưới đất và loài chim trên trời.
Bấy giờ, tất cả cư dân Ai Cập sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va, vì ngươi đã trở thành cây gậy bằng sậy cho nhà Y-sơ-ra-ên.
Khi chúng đưa tay cầm lấy ngươi thì ngươi bị gãy và làm rách cả hai vai chúng. Khi chúng tựa trên ngươi thì ngươi bị giập ra và làm cho lưng chúng sụm xuống.’
Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Nầy, Ta sẽ đem gươm đến chống lại ngươi và sẽ tiêu diệt cả người lẫn thú vật.
Đất Ai Cập sẽ trở nên hoang vu, vắng vẻ và chúng sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.’ Vì Pha-ra-ôn có nói rằng: ‘Sông Nin thuộc về ta, ta đã làm nên nó.’
‘Cho nên, nầy, Ta chống lại ngươi và các sông ngươi. Ta sẽ khiến đất Ai Cập trở nên như sa mạc hoang vu, vắng vẻ từ Mít-đôn đến Sy-e-nê và đến tận biên giới Ê-thi-ô-pi.
Chẳng có bàn chân người đi qua đó, cũng chẳng có bàn chân thú vật đi qua nữa. Nó sẽ chẳng có dân cư sống ở đó trong bốn mươi năm.
Ta sẽ khiến Ai Cập thành một đất hoang vu ở giữa những đất hoang vu và các thành của nó sẽ điêu tàn ở giữa các thành điêu tàn trong bốn mươi năm. Ta sẽ làm dân Ai Cập tan lạc trong các dân và rải chúng ra trong các nước.’
Vì Chúa Giê-hô-va phán: ‘Mãn bốn mươi năm, Ta sẽ nhóm dân Ai Cập lại từ giữa các dân mà chúng đã bị tản lạc.
Ta sẽ làm cho những kẻ lưu đày của Ai Cập trở về và đem chúng về trong đất Pha-trốt là quê cha đất tổ của chúng, nhưng chúng chỉ lập được một nước suy yếu.
Nước Ai Cập sẽ là một nước yếu kém hơn hết các nước, và sẽ không được tôn cao trên các nước nữa. Ta sẽ khiến chúng yếu đi để chúng không cai trị trên các nước nữa.
Nước ấy sẽ không còn làm nguồn trông cậy cho nhà Y-sơ-ra-ên nữa, nhưng Y-sơ-ra-ên sẽ nhớ lại tội lỗi của chúng khi chúng quay sang cầu cứu nước ấy. Lúc ấy, chúng sẽ biết rằng Ta là Chúa Giê-hô-va.’”
Vào ngày mùng một, tháng giêng, năm thứ hai mươi bảy, có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đã bắt quân đội làm việc nặng nhọc để tấn công Ty-rơ; mọi đầu đều bị cạo trọc, mọi vai đều bị trầy trụa. Tuy nhiên, vua ấy và quân lính không đạt được lợi ích gì từ phía thành Ty-rơ để bù lại công lao tiến đánh thành ấy.
Vì thế, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Ta sẽ phó đất Ai Cập cho Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn; vua ấy sẽ bắt dân chúng giải đi, cướp phá và thu chiến lợi phẩm như là tiền công trả cho đạo quân của vua.
Ta đã phó đất Ai Cập cho vua ấy để thưởng công khó của chúng vì chúng đã làm việc cho Ta.’ Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Trong ngày đó, Ta sẽ khiến nhà Y-sơ-ra-ên mọc ra một cái sừng, và Ta sẽ cho con mở miệng giữa chúng và chúng sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.”
Lại có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy nói tiên tri rằng Chúa Giê-hô-va phán: ‘Hãy khóc than! Thật là ngày khốn nạn!
Vì ngày ấy gần rồi, Ngày của Đức Giê-hô-va đã gần, Là ngày mây mù, Thời kỳ tai họa cho các dân tộc.
Gươm sẽ đánh trên Ai Cập, Và nỗi thống khổ sẽ đến với Ê-thi-ô-pi Khi những kẻ bị giết sẽ ngã chết ở Ai Cập; Chúng sẽ bắt dân chúng giải đi, Và những nền của nó bị phá đổ.
Ê-thi-ô-pi, Phút, Lút, mọi dân pha tạp, Cúp và dân của đất giao ước, sẽ cùng ngã chết bởi gươm với Ai Cập.’”
Đức Giê-hô-va phán: “Những ai giúp đỡ Ai Cập sẽ ngã; Sức mạnh mà nó tự hào sẽ bị hạ xuống. Chúng sẽ ngã chết bởi gươm, Từ Mít-đôn đến Sy-e-nê. Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Chúng sẽ bị hoang vu ở giữa các nước bị hoang vu, Và các thành của nó sẽ ở giữa các thành bị tàn phá.
Lúc ấy, chúng sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va, Khi Ta phóng hỏa Ai Cập Và mọi kẻ giúp đỡ nó bị chà nát.
Trong ngày đó, các sứ giả mà Ta sai đi bằng tàu sẽ làm cho người Ê-thi-ô-pi đang bình an phải sợ hãi. Dân chúng sẽ buồn rầu trong ngày tai họa của Ai Cập, vì nầy, ngày ấy đang đến!
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Ta sẽ dùng tay Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, Để tiêu diệt đoàn dân của Ai Cập.
Vua ấy cùng với dân mình là một dân độc ác trong các dân, Sẽ được đem đến để phá hại đất. Chúng sẽ rút gươm đánh Ai Cập Và làm cho đất đầy xác chết.
Ta sẽ làm cho sông Nin khô cạn, Và bán đất ấy vào tay những kẻ dữ. Ta sẽ dùng tay dân ngoại Tàn phá đất ấy và mọi vật trong đó. Ta là Đức Giê-hô-va đã phán.’
Chúa Giê-hô-va lại phán: ‘Ta sẽ hủy diệt các thần tượng Và tiêu trừ các hình tượng khỏi thành Nốp. Trong đất Ai Cập sẽ không có vua nữa, Và Ta sẽ rải sự kinh khiếp trong đất Ai Cập.
Ta sẽ làm cho Pha-trốt bị hoang vu; Phóng hỏa thành Xô-an, Và thi hành sự trừng phạt trên thành Nô.
Ta sẽ đổ cơn giận Ta trên thành Sin, Là pháo đài của Ai Cập, Và sẽ tiêu diệt dân chúng thành Nô.
Ta sẽ phóng hỏa Ai Cập, Thành Sin sẽ vô cùng đau thương; Thành Nô sẽ bị phá tan, Và thành Nốp sẽ bị giặc tàn phá giữa ban ngày.
Thanh niên thành Ôn và Phi Bê-sết sẽ ngã chết bởi gươm, Và thiếu nữ các thành ấy sẽ bị lưu đày.
Tại Tác-pha-nết ban ngày sẽ tối tăm, Khi Ta bẻ gãy các ách của Ai Cập ở đó, Và sức mạnh đầy tự hào của nó sẽ chấm dứt. Nó sẽ bị một đám mây che khuất, Con gái nó sẽ bị lưu đày.
Ta sẽ thi hành sự phán xét trên Ai Cập, Và chúng sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.’”
Vào ngày mùng bảy, tháng giêng, năm thứ mười một, có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, Ta đã bẻ cánh tay của Pha-ra-ôn, vua Ai Cập. Nầy, không ai rịt thuốc để chữa lành; không ai băng bó vết thương để nó lấy lại sức mà cầm gươm.
Vì thế, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Nầy, Ta chống lại Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, và sẽ bẻ hai cánh tay nó, cả cánh tay đang mạnh cùng với cánh tay bị gãy và làm cho gươm rớt khỏi tay nó.
Ta sẽ làm cho dân Ai Cập tan lạc trong các dân và rải chúng ra trong các nước.
Ta sẽ làm cho cánh tay vua Ba-by-lôn thêm mạnh, đặt gươm Ta trong tay vua ấy, nhưng Ta sẽ bẻ gãy cánh tay của Pha-ra-ôn. Pha-ra-ôn sẽ rên rỉ trước mặt vua Ba-by-lôn như một người bị thương sắp chết vậy.
Ta sẽ làm cho hai cánh tay của vua Ba-by-lôn mạnh mẽ, nhưng hai cánh tay của Pha-ra-ôn thì sẽ xụi xuống. Chúng sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va khi Ta trao gươm Ta trong tay vua Ba-by-lôn, và vua ấy sẽ giơ gươm ấy ra chống xứ Ai Cập.
Ta sẽ làm tan lạc dân Ai Cập trong các dân, rải chúng ra trong các nước và chúng sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.’”
Vào ngày mùng một, tháng ba, năm thứ mười một, có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy nói với Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, cùng cả đoàn dân của vua rằng: ‘Sự lớn mạnh của ngươi so sánh với ai?
Hãy xem A-si-ri: Ngày trước nó giống như cây bá hương của Li-ban, Cành lá đẹp đẽ, rợp bóng như rừng, Thân cao lớn Và ngọn cao vút tận mây.
Các dòng nước nuôi nó, Các mạch nước ngầm làm cho nó lớn lên, Khiến cho các dòng sông Chảy quanh chỗ nó trồng, Và cho các con kênh Tưới mọi cây cối ngoài đồng.
Vì thế, cây bá hương ấy Cao hơn tất cả các cây ngoài đồng, Cành lá um tùm, Nhánh nó vươn dài ra Nhờ có nhiều nước.
Mọi giống chim trời Làm tổ trên cành nó; Mọi loài thú đồng Đẻ con dưới nhánh nó, Và tất cả các nước lớn Đều núp dưới bóng nó.
Nó xinh tốt bởi thân to lớn, Nhánh vươn dài ra, Vì rễ nó đâm xuống Chỗ có nhiều nước.
Chẳng có cây bá hương nào trong vườn Đức Chúa Trời Sánh được với nó. Cây tùng không bằng cành nó, Cây bàng cũng không bằng nhánh nó. Chẳng có cây nào của vườn Đức Chúa Trời Xinh tốt bằng nó cả.
Ta đã làm cho nó xinh tốt, Với cành lá sum suê; Tất cả những cây của Ê-đen Là những cây trong vườn Đức Chúa Trời Đều ganh tị với nó.’
Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Vì nó cao lớn, ngọn cao vút tận mây và lòng nó kiêu ngạo vì vẻ cao lớn ấy,
cho nên Ta sẽ phó nó vào tay một người hùng mạnh của các nước để xử lý nó. Ta đã đuổi nó ra vì những tội ác nó.
Một dân hung bạo nhất trong tất cả các dân ngoại sẽ chặt nó và bỏ lại. Những nhánh nó rơi xuống trên các núi và trong mọi thung lũng; những cành nó bị gãy nơi bờ khe trong xứ và mọi dân trên đất tránh xa bóng nó và lìa bỏ nó.
Mọi loài chim trời sẽ đậu trên sự đổ nát của nó và mọi loài thú đồng sẽ đến nghỉ trên những cành nó,
để chẳng có cây nào trồng gần nước dám kiêu ngạo về sự cao lớn mình hoặc về ngọn cây cao vút tận mây. Không có cây nào được các dòng nước tưới mà cao lớn như thế; tất cả chúng bị phó cho sự chết, cho vực sâu của đất ở giữa con cái loài người và cho những kẻ sa xuống hố thẳm!’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Ngày mà nó xuống âm phủ, Ta sẽ khiến người ta than khóc vì nó; Ta lấp vực sâu, ngăn các sông, chận những dòng nước lớn. Ta khiến Li-ban than khóc vì nó và mọi cây ngoài đồng bị héo tàn vì nó.
Ta làm cho các dân tộc nghe tiếng nó đổ xuống mà rúng động, khi Ta ném nó xuống tận âm phủ cùng với tất cả những kẻ sa xuống hố thẳm ấy! Bấy giờ, mọi cây của Ê-đen, những cây xinh tốt, được tuyển chọn của Li-ban, tất cả những cây được tưới nước dồi dào, đều được an ủi trong vực sâu của đất.
Chúng cũng sa xuống âm phủ với nó, ở gần những kẻ bị gươm giết, tức là những kẻ vốn là đồng minh của nó và ở dưới bóng nó giữa các nước.’
Cây nào trong những cây của vườn Ê-đen giống với ngươi về sự vinh hiển tôn trọng? Ngươi cũng sẽ bị xô xuống cùng với các cây của Ê-đen trong vực sâu của đất như vậy; ngươi sẽ nằm giữa những kẻ không chịu cắt bì, với những kẻ đã bị gươm giết. Pha-ra-ôn và tất cả thần dân của nó sẽ đồng chung số phận. Chúa Giê-hô-va phán vậy.”
Vào ngày mùng một, tháng mười hai, năm thứ mười hai, có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy làm một bài ai ca về Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, rằng: ‘Ngươi giống như một con sư tử giữa các dân tộc; Khác nào con quái vật dưới biển, Vẫy đập giữa dòng nước. Ngươi lấy chân khuấy đục nước, Và làm cho các sông đầy bùn.’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Ta sẽ giăng lưới Ta trên ngươi, Với một đoàn người gồm nhiều dân tộc, Và chúng sẽ kéo ngươi lên trong lưới của Ta.
Ta sẽ bỏ ngươi lại trên đất, Và ném ngươi giữa đồng trống. Ta sẽ khiến mọi loài chim trời đậu trên ngươi, Và các loài thú khắp đất ăn thịt ngươi thỏa thích.
Ta sẽ rải thịt ngươi trên các núi, Và lấy xác ngươi lấp đầy các thung lũng.
Ta sẽ lấy máu ngươi tưới đất Cho đến tận các núi đồi; Các khe nước sẽ đầy xác ngươi.
Khi Ta dập tắt ngươi thì Ta sẽ che các tầng trời, Và làm các ngôi sao tối tăm; Dùng mây bao bọc mặt trời, Và mặt trăng sẽ không chiếu sáng nữa.
Ta sẽ làm cho ánh sáng của các vì sao trên trời, Tắt lịm trên ngươi, Và Ta sẽ đem sự mờ tối phủ trên đất ngươi,’ Chúa Giê-hô-va phán vậy.
‘Ta sẽ làm cho lòng của nhiều dân tộc bối rối, Khi Ta loan báo sự hủy diệt ngươi trong các dân tộc, Giữa các nước mà ngươi chưa biết đến.
Ta sẽ làm cho nhiều dân kinh hoàng về ngươi, Và các vua chúng sẽ vì cớ ngươi mà mất vía, Khi Ta vung gươm trước mặt chúng. Vào ngày ngươi sụp đổ, Mọi người đều kinh hãi từng phút từng giây, Lo lắng cho mạng sống mình.’
Thật vậy, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Gươm của vua Ba-by-lôn Sẽ tấn công ngươi.
Ta sẽ khiến đoàn dân đông đảo của ngươi ngã chết Dưới lưỡi gươm của những kẻ tàn bạo, Là những kẻ độc ác nhất trong các dân. Chúng sẽ đập tan sự kiêu ngạo của Ai Cập Và cả đoàn dân nó đều sẽ bị tiêu diệt.
Ta cũng sẽ hủy diệt tất cả súc vật nó Bên bờ sông lớn; Nước sẽ không còn bị khuấy đục bởi chân người, Hoặc bởi móng chân thú vật nữa.
Bấy giờ, Ta sẽ làm cho các dòng nước của chúng được trong sạch, Và làm cho các sông chúng chảy như dầu,’ Chúa Giê-hô-va phán vậy.
‘Khi Ta khiến đất Ai Cập thành nơi hoang vu, Và sự trù phú vốn có trong đất ấy bị vét sạch; Khi Ta đánh hạ tất cả dân cư ở đó, Thì chúng sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.
Đây là bài ai ca mà chúng sẽ than khóc. Những con gái các nước sẽ than khóc bằng một giọng thảm thương. Chúng sẽ hát bài ấy để khóc cho Ai Cập và cho tất cả dân cư nó,’ Chúa Giê-hô-va phán vậy.”
Vào năm thứ mười hai, ngày mười lăm của tháng, có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy than vãn về đoàn dân Ai Cập. Hãy xô dân ấy cùng với những con gái của các nước có danh tiếng xuống vực sâu của đất, khiến chúng đồng số phận với những kẻ bị sa xuống hố thẳm!
Ngươi đẹp hơn ai? Vậy hãy sa xuống và nằm chung với những kẻ không chịu cắt bì.
Phải, những kẻ ấy sẽ ngã xuống giữa những người đã bị gươm giết. Ai Cập bị phó cho gươm và bị giải đi cùng với cả đoàn dân nó!
Từ giữa âm phủ, những lính chiến rất mạnh bạo cùng những kẻ giúp đỡ nó sẽ nói về nó rằng: ‘Chúng đã xuống đó, chúng đã nằm yên với những kẻ chưa chịu cắt bì, là những kẻ bị gươm giết!’
A-si-ri ở tại đó với cả đoàn dân nó; chung quanh nó đều là mồ mả. Tất cả chúng đã bị giết và ngã chết bởi gươm.
Mồ mả nó ở những nơi sâu thẳm của hầm hố và dân nó đứng chung quanh mồ mả nó. Tất cả đều bị giết; chúng vốn là những kẻ gieo rắc sự kinh hoàng trên đất người sống mà nay đã ngã chết bởi gươm.
Tại đó có Ê-lam với cả đoàn dân ở chung quanh mồ mả nó. Tất cả đều bị giết và ngã chết bởi gươm. Những kẻ chưa chịu cắt bì ấy đã xuống nơi vực sâu của đất, tức là những kẻ đã gieo rắc sự kinh hoàng trên đất người sống. Chúng bị hổ thẹn cùng với những kẻ sa xuống hố thẳm.
Giường của nó bị đặt ở giữa những kẻ bị giết, cùng với đoàn dân đứng chung quanh mồ mả nó. Tất cả những kẻ chưa chịu cắt bì ấy đã chết bởi gươm vì chúng đã gieo rắc sự kinh hoàng trên đất người sống. Chúng phải chịu hổ thẹn cùng với những kẻ sa xuống hố thẳm, và người ta đã đặt nó giữa những kẻ bị giết.
Tại đó có Mê-siếc, Tu-banh và cả dân chúng của nó; mồ mả của chúng ở chung quanh chúng. Tất cả đều là những kẻ chưa chịu cắt bì bị giết bởi gươm, vì chúng đã gieo rắc sự kinh hoàng trên đất người sống.
Chúng không nằm chung với những lính chiến mạnh dạn, chưa chịu cắt bì đã ngã chết, tức là những người đã xuống âm phủ cùng với khí giới đánh giặc của mình. Người ta đã đặt gươm dưới đầu chúng, và tội ác chúng chất trên hài cốt chúng vì chúng đã gieo rắc sự kinh hoàng cho những lính chiến mạnh bạo trên đất người sống.
Nhưng ngươi sẽ bị đập tan giữa những kẻ chưa chịu cắt bì và sẽ nằm chung với những kẻ bị giết bởi gươm.
Ê-đôm ở tại đó với các vua và cả các nhà lãnh đạo nó; dù là những người mạnh mẽ, chúng cũng bị đặt chung với những kẻ bị giết bởi gươm. Chúng nằm chung với những kẻ chưa chịu cắt bì và với những kẻ sa xuống hố thẳm.
Tại đó cũng có tất cả những nhà lãnh đạo ở phương bắc, và tất cả dân Si-đôn đều đi xuống với những kẻ bị giết, mặc dù chúng đã dùng sức mạnh làm cho người ta kinh hoàng. Chúng nằm xuống như những kẻ chưa chịu cắt bì cùng với những kẻ bị giết bởi gươm; chúng phải bị hổ thẹn cùng với những kẻ sa xuống hố thẳm.
Pha-ra-ôn thấy chúng thì được an ủi về cả đoàn dân mình, tức là Pha-ra-ôn và cả đạo binh mình đã bị giết bởi gươm, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Mặc dù Ta để cho Pha-ra-ôn gieo rắc sự kinh khiếp trên đất người sống, nhưng nó và cả dân của nó sẽ nằm giữa những kẻ chưa chịu cắt bì và những kẻ đã bị giết bởi gươm,” Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy nói với dân tộc con và cảnh báo họ rằng: ‘Khi Ta sai gươm đến trên một đất nào và dân đất ấy chọn một người trong chúng để làm người canh gác;
người ấy thấy gươm đến trong đất thì thổi kèn để cảnh báo dân chúng.
Nếu ai nghe tiếng kèn mà không chịu nghe lời cảnh báo, và gươm đến bắt lấy nó thì máu của nó sẽ đổ lại trên đầu nó.
Vì nó đã nghe tiếng kèn mà không cảnh giác nên máu của nó sẽ đổ lại trên nó. Nhưng nếu nó chịu nghe lời cảnh báo thì cứu được mạng sống mình.
Trái lại, nếu người canh gác thấy gươm đến mà không thổi kèn để cảnh báo dân chúng, nên gươm đến cướp mạng sống của một người nào đó thì người đó sẽ chết trong sự gian ác mình, nhưng Ta sẽ đòi máu nó nơi tay người canh gác.’
Nầy hỡi con người, Ta đã lập con làm người canh gác cho nhà Y-sơ-ra-ên, nên hãy nghe lời từ miệng Ta và thay Ta mà cảnh cáo chúng.
Khi Ta phán cùng kẻ dữ rằng: ‘Hỡi kẻ dữ, ngươi chắc chắn sẽ chết!’ Nếu con không cảnh cáo kẻ dữ phải từ bỏ đường lối xấu xa của nó, thì kẻ dữ ấy sẽ chết trong sự gian ác mình, nhưng Ta sẽ đòi máu nó nơi tay con.
Ngược lại, nếu con đã cảnh cáo kẻ dữ phải từ bỏ đường lối xấu xa của nó mà nó không chịu từ bỏ, thì nó sẽ chết trong sự gian ác nó nhưng con đã giải cứu mạng sống mình.
Hỡi con người, hãy nói với nhà Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Các ngươi nói: Vì sự gian ác và tội lỗi chúng tôi chất nặng trên chúng tôi khiến chúng tôi hao mòn vì nó; làm sao chúng tôi có thể sống được?’
Hãy nói với chúng rằng: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Thật như Ta hằng sống, Ta chẳng vui về sự chết của kẻ dữ, nhưng vui vì nó từ bỏ đường lối mình và được sống. Các ngươi hãy từ bỏ, từ bỏ đường lối xấu xa của mình đi! Sao các ngươi muốn chết, hỡi nhà Y-sơ-ra-ên?’
Về phần con, hỡi con người, hãy nói với dân tộc con rằng: Sự công chính của người công chính sẽ không cứu được nó khi nó phạm tội, và sự dữ của kẻ dữ sẽ không làm cho nó sa ngã một khi nó đã từ bỏ điều dữ ấy. Người công chính sẽ không nhờ sự công chính vốn có của mình mà được sống trong ngày mình phạm tội.
Dù Ta có nói với người công chính rằng nó chắc chắn sẽ sống, tuy nhiên, nếu nó cậy sự công chính mình mà phạm tội, thì chẳng có một việc công chính nào của nó được nhớ đến nhưng nó sẽ chết trong sự gian ác mình đã phạm.
Khi Ta nói với kẻ dữ rằng: ‘Ngươi chắc chắn sẽ chết!’ Nếu kẻ dữ ấy từ bỏ tội lỗi và làm điều công bình, chính trực;
nếu nó trả lại của cầm, hoàn trả vật nó đã cướp, bước theo lệ luật của sự sống và không phạm điều gian ác, thì chắc chắn nó sẽ sống và không chết đâu.
Chẳng có một tội nào nó đã phạm sẽ bị nhớ lại để chống lại nó; nó đã làm điều công bình, chính trực, chắc chắn nó sẽ sống.
Nhưng dân tộc con nói rằng: ‘Đường lối của Chúa không ngay thẳng’ trong khi chính đường lối của chúng mới không ngay thẳng.
Nếu người công chính từ bỏ sự công chính của mình mà phạm điều gian ác thì nó sẽ chết trong đó.
Nếu kẻ dữ từ bỏ điều dữ của mình và làm điều công bình, chính trực, thì nhờ đó nó sẽ sống.
Nhưng các ngươi nói rằng: ‘Đường lối của Chúa không ngay thẳng!’ Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, Ta sẽ phán xét các ngươi, mỗi người theo việc mình làm.”
Vào ngày mồng năm, tháng mười, năm thứ mười hai, sau khi chúng tôi bị bắt đi lưu đày, có một người đã trốn khỏi Giê-ru-sa-lem đến nói với tôi rằng: “Thành đã bị thất thủ rồi!”
Bấy giờ, vào buổi chiều trước khi người trốn thoát ấy đến, tay Đức Giê-hô-va ở trên tôi và Ngài đã mở miệng tôi trước khi người trốn thoát ấy đến vào buổi sáng. Vậy miệng tôi được mở ra và tôi không còn bị câm nữa.
Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, những kẻ ở trong nơi đổ nát trên đất Y-sơ-ra-ên nói rằng: ‘Áp-ra-ham chỉ có một mình mà đã hưởng được đất nầy. Còn chúng ta đông người thì chắc chắn đất nầy sẽ được ban cho chúng ta làm cơ nghiệp.’
Vì thế, hãy bảo chúng rằng: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Các ngươi ăn huyết của thú vật, mắt hướng về thần tượng mình và làm đổ máu, các ngươi sẽ được hưởng đất nầy sao?
Các ngươi cậy gươm mình phạm những điều kinh tởm; mỗi người trong các ngươi làm nhục vợ của kẻ lân cận mình. Các ngươi sẽ được hưởng đất nầy sao?’
Vậy con hãy nói với chúng rằng: Chúa Giê-hô-va phán: ‘Thật như Ta hằng sống, những người ở nơi đổ nát sẽ ngã chết bởi gươm, và Ta sẽ phó những kẻ ở ngoài đồng cho thú vật cắn nuốt; còn những kẻ ở trong các đồn lũy, hang hố thì sẽ chết vì dịch bệnh.
Ta sẽ làm đất nầy trở nên hoang vu, điêu tàn, quyền thế mà nó tự hào sẽ bị diệt đi; các núi của Y-sơ-ra-ên sẽ trở nên hoang vu đến nỗi chẳng có ai qua lại nữa.
Bấy giờ, chúng sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va khi Ta làm cho đất nầy trở nên hoang vu, điêu tàn vì mọi điều kinh tởm mà chúng đã làm.’
Hỡi con người, dân tộc con ở dọc tường thành và trước cửa nhà bàn tán về con; chúng nói với nhau, người nầy bảo người kia: ‘Xin hãy đến nghe sứ điệp từ Đức Giê-hô-va.’
Chúng kéo cả đoàn mà đến với con; dân Ta ngồi trước mặt con và lắng nghe con nhưng chúng không làm theo. Miệng chúng nói những lời đầy yêu thương nhưng lòng chúng chỉ tìm lợi bất chính.
Nầy, chúng coi con như là kẻ hát hay, có giọng tốt và đàn giỏi; chúng nghe lời con nói nhưng không làm theo.
Vì vậy, khi tai nạn nầy xảy đến, và kìa, nó đang đến, thì chúng biết rằng có một nhà tiên tri đang ở giữa chúng.”
Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy nói tiên tri chống lại những người chăn của Y-sơ-ra-ên; hãy nói tiên tri và bảo những người chăn ấy rằng: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Khốn cho những kẻ chăn của Y-sơ-ra-ên là những kẻ chỉ lo nuôi mình! Chẳng phải những người chăn phải nuôi bầy chiên sao?
Các ngươi ăn mỡ sữa, mặc lông chiên, giết những con chiên mập mà các ngươi không cho bầy chiên ăn!
Các ngươi chẳng làm cho những con chiên bệnh được mạnh, chẳng chữa lành những con đau, chẳng rịt thuốc những con bị thương; chẳng đem những con bị đuổi trở về, chẳng tìm những con bị lạc mất, nhưng các ngươi lại lấy sự độc ác, gay gắt mà cai trị chúng.
Vì không có người chăn thì chúng tan lạc, và khi đã tan lạc thì chúng trở nên mồi cho tất cả loài thú ngoài đồng.
Chiên Ta tan lạc trên mọi núi và mọi đồi cao; chiên Ta bị phân tán khắp mặt đất, chẳng có ai kiếm, chẳng có ai tìm.’
Vậy nên, hỡi những người chăn, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va:
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Thật như Ta hằng sống, vì không có người chăn nên bầy chiên Ta đã làm mồi và đã trở thành đồ ăn cho mọi loài thú đồng. Những người chăn của Ta cũng không tìm kiếm chiên Ta, nhưng chúng chỉ lo nuôi mình mà không nuôi chiên Ta.’
Vì thế, hỡi những người chăn, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va:
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Nầy Ta chống lại những người chăn đó và Ta sẽ đòi lại chiên của Ta nơi tay chúng. Ta không để cho chúng chăn chiên của Ta nữa, và chúng cũng không thể tự chăn chính mình nữa. Ta sẽ giải cứu chiên Ta khỏi miệng chúng để chiên không làm đồ ăn cho chúng.’
‘Chúa Giê-hô-va phán: Nầy chính Ta sẽ tìm chiên Ta, Ta sẽ tìm kiếm chúng.
Như người chăn tìm kiếm bầy mình trong ngày nó ở giữa những chiên mình bị tan lạc, thì Ta cũng sẽ tìm kiếm chiên Ta như vậy. Ta sẽ giải cứu chúng khỏi mọi nơi mà chúng đã bị tan lạc trong ngày mây mù tăm tối.
Ta sẽ đem chúng ra khỏi giữa các dân; Ta sẽ tập hợp chúng lại từ các nước và đem chúng về trong đất riêng của chúng. Ta sẽ chăn chúng trên các núi của Y-sơ-ra-ên, kề khe nước và trong mọi khu dân cư trong xứ.
Ta sẽ nuôi chúng trong những đồng cỏ tốt và chuồng chúng sẽ ở trên các núi, nơi đất cao của Y-sơ-ra-ên. Ở đó, chúng sẽ nghỉ trong chuồng êm ấm và ăn cỏ trong đồng cỏ màu mỡ, tức là trên các núi của Y-sơ-ra-ên.
Chính Ta sẽ chăn chiên Ta và cho chúng an nghỉ,’ Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Ta sẽ tìm con chiên lạc mất, dắt con chiên bị đuổi trở về, rịt lành con chiên bị thương và làm cho con chiên yếu được mạnh. Nhưng Ta sẽ hủy diệt những con mập và mạnh. Ta sẽ dùng sự công chính để chăn chúng.
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Còn về các ngươi là bầy chiên Ta, nầy, Ta phán xét giữa chiên và chiên, giữa chiên đực và dê đực.
Các ngươi ăn trong đồng cỏ xinh tốt chưa đủ sao mà lại lấy chân giày đạp cỏ còn lại? Các ngươi đã uống nước trong chưa đủ sao mà lại lấy chân làm vẩn đục nước còn thừa?
Còn bầy chiên của Ta thì phải ăn cỏ mà chân các ngươi đã giày đạp, và uống nước mà chân các ngươi đã làm vẩn đục!’
Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Nầy, chính Ta sẽ phán xét giữa những chiên mập và chiên gầy.
Vì các ngươi lấy hông, lấy vai mà đẩy, lấy sừng mà húc tất cả chiên con yếu ớt cho đến chừng các ngươi đã làm tan lạc chúng ra ngoài.
Nhưng Ta sẽ giải cứu bầy chiên Ta, chúng sẽ không làm mồi nữa, và Ta sẽ phán xét giữa chiên và chiên.
Ta sẽ lập trên chúng chỉ một người chăn, người sẽ nuôi chúng, tức là Đa-vít đầy tớ Ta. Chính người sẽ nuôi chúng, làm người chăn của chúng.
Ta, Đức Giê-hô-va, sẽ làm Đức Chúa Trời của chúng, và Đa-vít, đầy tớ Ta, sẽ làm vua giữa chúng. Ta Đức Giê-hô-va đã phán vậy.
Bấy giờ, Ta sẽ lập một giao ước hòa bình với bầy chiên Ta. Ta sẽ đuổi những thú dữ trong xứ đi để dân Ta có thể ở yên ổn trong hoang mạc và ngủ trong rừng.
Ta sẽ làm cho chúng với các miền chung quanh đồi Ta trở nên nguồn phước. Ta sẽ khiến mưa sa nơi mùa thuận tiện; đó sẽ là cơn mưa phước lành.
Cây ngoài đồng sẽ ra trái và đất sẽ sinh hoa lợi. Chúng sẽ ở yên trong đất mình và sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va khi Ta đã bẻ gãy những đòn của ách chúng, và đã giải cứu chúng khỏi tay những kẻ bắt chúng phục dịch.
Chúng sẽ chẳng làm mồi của các dân ngoại nữa, và những loài thú của đất sẽ chẳng cắn xé chúng nữa. Chúng sẽ ở yên ổn, chẳng ai làm cho sợ hãi.
Ta sẽ lập cho chúng một nông trại danh tiếng, chúng sẽ không chết đói trong đất mình nữa, và cũng không còn bị các lân bang lăng nhục nữa.
Chúng sẽ biết Ta, Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng ở cùng chúng và biết rằng nhà Y-sơ-ra-ên là dân Ta, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Các ngươi là chiên của Ta, là chiên của đồng cỏ Ta; các ngươi là loài người và Ta là Đức Chúa Trời của các ngươi,’ Chúa Giê-hô-va phán vậy.”
Lời của Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy xây mặt hướng về núi Sê-i-rơ và nói tiên tri chống lại nó.
Hãy nói với chúng, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Hỡi núi Sê-i-rơ, nầy, Ta chống lại ngươi! Ta sẽ giơ tay ra chống lại ngươi, làm cho ngươi trở nên hoang vu, điêu tàn.
Ta sẽ làm cho các thành của ngươi ra hoang mạc và ngươi sẽ trở nên hoang vu. Bấy giờ, ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.
Vì ngươi còn mang mối thù xa xưa và đã phó con cái Y-sơ-ra-ên vào gươm đao trong ngày tai họa của họ vào thời điểm cuối cùng.’
Vì thế, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Thật như Ta hằng sống, Ta sẽ phó ngươi trong máu, và máu sẽ đuổi theo ngươi. Vì ngươi không ghét chuyện làm đổ máu, nên máu sẽ đuổi theo ngươi!
Vậy Ta sẽ làm cho núi Sê-i-rơ hoang vu, điêu tàn và khiến nó bị hủy diệt, không còn người qua kẻ lại nữa.
Ta sẽ làm cho các núi nó đầy những kẻ bị giết; những người bị gươm giết sẽ ngã xuống trên các đồi của ngươi, dưới các thung lũng và mọi khe suối của ngươi.
Ta sẽ làm cho ngươi ra hoang vu đời đời; các thành của ngươi sẽ không có dân cư ở nữa và các ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.
Vì ngươi có nói rằng: “Hai dân tộc ấy và hai nước ấy sẽ thuộc về tôi và chúng tôi sẽ chiếm hữu chúng” mặc dù Đức Giê-hô-va đang hiện diện ở đó.’
Cho nên, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Thật như Ta hằng sống, Ta sẽ đối xử với ngươi theo cơn giận và lòng ghen ghét mà ngươi đã đối xử với họ khi thù ghét họ, và Ta sẽ bày tỏ chính mình Ta ở giữa họ khi Ta phán xét ngươi.
Ngươi sẽ biết Ta, Đức Giê-hô-va, đã nghe những lời sỉ nhục mà ngươi đã nói ra chống lại các núi Y-sơ-ra-ên, rằng: “Các núi ấy đã bị hoang vu và đã phó cho chúng ta ăn nuốt.”
Các ngươi đã lấy miệng tôn cao mình để chống lại Ta và đã nói nhiều điều xúc phạm Ta. Thật Ta, đã nghe điều đó!’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Trong khi cả trái đất vui mừng thì Ta sẽ làm cho ngươi trở thành hoang vu.’
Vì ngươi đã reo vui khi sản nghiệp nhà Y-sơ-ra-ên bị hoang vu, cho nên Ta cũng đối xử với ngươi như vậy. Hỡi núi Sê-i-rơ, ngươi với cả Ê-đôm, tức là cả xứ ấy sẽ bị hoang vu, và chúng sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.”
Hỡi con người, hãy nói tiên tri về các núi của Y-sơ-ra-ên rằng: “Hỡi các núi của Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va!
Chúa Giê-hô-va phán: Vì kẻ thù có nói về các ngươi rằng: ‘Ha ha! Những gò cao đời xưa đã thuộc về sản nghiệp của chúng ta rồi!’”
Vì thế, hãy nói tiên tri rằng: “Chúa Giê-hô-va phán: ‘Thật, vì chúng đã làm cho các ngươi nên hoang vu và tấn công các ngươi từ mọi phía để các ngươi trở nên sản nghiệp của dân sót lại của các nước và các ngươi bị dân chúng chê bai, đàm tiếu.’
Do đó, hỡi các núi của Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời của Chúa Giê-hô-va: ‘Chúa Giê-hô-va phán với các núi và các gò, với khe suối và thung lũng, với nơi đổ nát và với các thành bị bỏ hoang đã phó cho dân sót lại của các nước chung quanh cướp bóc và nhạo báng’
Vì thế, đây là điều Chúa Giê-hô-va phán: ‘Thật trong cơn ghen tương nóng nảy, Ta công bố chống lại dân sót của các nước và cả Ê-đôm, là những kẻ đầy lòng vui mừng và khinh dể, định lấy đất của Ta làm sản nghiệp riêng cho chúng để chúng cướp lấy các đồng cỏ.’
Vậy nên, hãy nói tiên tri về đất của Y-sơ-ra-ên; hãy nói với các núi và các đồi, khe suối và thung lũng rằng: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Thật, Ta phán trong cơn ghen tuông và nóng giận của Ta vì các ngươi đã bị các nước sỉ nhục.’
Vì thế, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Ta đã thề rằng, các nước chung quanh các ngươi cũng sẽ bị sỉ nhục.
Còn các ngươi, các núi Y-sơ-ra-ên, sẽ sinh nhánh và ra trái cho dân Y-sơ-ra-ên, vì họ sắp trở về.
Nầy, Ta hướng về các ngươi, quay lại với các ngươi và các ngươi sẽ được cày cấy gieo giống.
Trên đất các ngươi, Ta sẽ gia tăng dân số cả nhà Y-sơ-ra-ên. Các thành sẽ có người ở, các nơi đổ nát sẽ được xây dựng lại.
Ta sẽ thêm loài người và loài vật trên đất các ngươi, chúng sẽ gia tăng và nẩy nở. Ta sẽ làm cho các ngươi đông dân như ngày xưa và ban ơn cho các ngươi nhiều hơn thuở ban đầu. Bấy giờ, các ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.
Ta sẽ làm cho có dân cư sống trên đất của ngươi, tức là dân Y-sơ-ra-ên của Ta. Thật, họ sẽ được ngươi làm sở hữu và ngươi sẽ là sản nghiệp của họ; ngươi sẽ không làm mất con cái họ nữa.’”
Chúa Giê-hô-va phán: “Vì người ta nói với các ngươi rằng: ‘Hỡi đất, ngươi nuốt người ta và làm mất con cái của dân ngươi’
Vì thế, ngươi chẳng nuốt người ta nữa và không làm mất con cái của dân ngươi nữa, Đức Giê-hô-va phán vậy.
Ta sẽ không để cho ngươi nghe những lời sỉ nhục của các nước nữa; ngươi sẽ không còn chịu sự khinh bỉ của các dân nữa và không khiến dân mình vấp phạm nữa, Chúa Giê-hô-va phán vậy.”
Lại có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, khi nhà Y-sơ-ra-ên ở trong đất mình, họ đã làm ô uế đất ấy bởi đường lối và việc làm của mình. Đường lối họ ở trước mặt Ta như là sự ô uế của một người đàn bà trong kỳ kinh nguyệt.
Ta đã đổ cơn thịnh nộ của Ta trên họ vì cớ huyết mà họ đã làm đổ ra trên đất, và vì họ đã làm ô uế đất ấy bởi thần tượng mình.
Ta đã làm cho họ tan lạc trong các dân và họ đã bị phân tán trong nhiều nước; Ta đã phán xét họ theo đường lối và việc làm của họ.
Nơi nào mà họ đã đến trong các nước, họ đều phạm danh thánh Ta đến nỗi người ta nói về họ rằng: ‘Đó là dân của Đức Giê-hô-va nhưng họ phải bị đày khỏi đất của Ngài!’
Nhưng Ta lo ngại cho danh thánh của Ta mà nhà Y-sơ-ra-ên đã phạm trong các dân tộc, là nơi họ đã đi đến.
Vì vậy, hãy nói với nhà Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Chúa Giê-hô-va phán: Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, không phải vì cớ các ngươi mà Ta phải hành động, nhưng vì cớ danh thánh Ta mà các ngươi đã xúc phạm trong các dân là nơi các ngươi đã đi đến.
Ta sẽ thánh hóa danh vĩ đại của Ta, là danh đã bị xúc phạm trong các dân; thật, giữa các dân đó, các ngươi đã xúc phạm danh ấy. Chúa Giê-hô-va phán: Như vậy, các dân tộc sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va khi Ta bày tỏ trước mắt chúng sự thánh khiết của danh Ta qua các ngươi.
Ta sẽ thu lại các ngươi từ giữa các dân, nhóm các ngươi lại từ mọi nước và đem vào đất riêng của các ngươi.
Ta sẽ rưới nước trong trên các ngươi và các ngươi sẽ trở nên sạch; Ta sẽ tẩy sạch hết mọi sự ô uế và mọi thần tượng của các ngươi.
Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi và đặt Thần mới trong các ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi xác thịt các ngươi và ban cho các ngươi lòng bằng thịt.
Ta sẽ đặt Thần Ta trong các ngươi và khiến các ngươi noi theo luật lệ Ta, thì các ngươi sẽ giữ mệnh lệnh Ta và làm theo.
Các ngươi sẽ ở trong đất mà Ta đã ban cho tổ phụ các ngươi; các ngươi sẽ làm dân Ta, và Ta sẽ làm Đức Chúa Trời các ngươi.
Ta sẽ giải cứu các ngươi khỏi mọi ô uế. Ta sẽ gọi lúa mì tốt lên, khiến cho nẩy nở thêm nhiều và không đem cơn đói kém đến trên các ngươi.
Ta sẽ thêm nhiều trái cây và hoa lợi của đồng ruộng để các ngươi không bị xấu hổ ở giữa các nước vì đói kém.
Bấy giờ, các ngươi sẽ nhớ lại đường lối xấu xa và việc làm không tốt của mình. Các ngươi sẽ ghê tởm chính mình vì tội lỗi và những điều kinh tởm của các ngươi.’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Chẳng phải vì cớ các ngươi mà Ta làm như vậy, các ngươi phải biết điều đó. Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, hãy cảm thấy hổ thẹn và nhục nhã về đường lối mình!’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Trong ngày mà Ta tẩy sạch mọi tội lỗi các ngươi, Ta sẽ làm cho các thành có dân ở và những nơi đổ nát sẽ được tái thiết.
Đất hoang vu sẽ được cày cấy thay vì bị bỏ hoang trước mắt mọi người đi qua.
Chúng sẽ nói rằng: “Đất hoang vu nầy đã trở nên như vườn Ê-đen; những thành đổ nát, hoang vu và điêu tàn, bây giờ đã được trùng tu và có dân ở!”
Bấy giờ, các dân tộc còn sót lại chung quanh các ngươi sẽ biết rằng Ta, Đức Giê-hô-va, đã xây dựng lại nơi bị tàn phá và trồng lại nơi bị phá hủy. Ta, Đức Giê-hô-va, đã phán và sẽ thực hiện điều đó.’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Ta còn muốn nhà Y-sơ-ra-ên cầu xin Ta để Ta làm điều nầy cho: Đó là Ta sẽ làm cho dân số họ gia tăng như một bầy chiên.
Các thành đổ nát sẽ đông người như những bầy chiên dâng làm tế lễ, như bầy chiên ở Giê-ru-sa-lem vào các kỳ lễ trọng thể. Và họ sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.’”
Tay của Đức Giê-hô-va đặt trên tôi; Ngài dắt tôi ra bởi Thần Đức Giê-hô-va và đặt tôi giữa thung lũng; thung lũng ấy đầy những hài cốt.
Ngài dẫn tôi đi vòng quanh những hài cốt ấy. Kìa, có rất nhiều hài cốt trong thung lũng đó, và các hài cốt ấy rất khô.
Ngài phán với tôi rằng: “Hỡi con người, những hài cốt nầy có thể sống chăng?” Tôi thưa: “Lạy Chúa Giê-hô-va, chính Chúa biết điều đó!”
Ngài lại phán với tôi: “Hãy nói tiên tri về hài cốt ấy và bảo chúng: ‘Hỡi hài cốt khô, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va.’
Chúa Giê-hô-va phán với những hài cốt ấy rằng: ‘Nầy, Ta sẽ phú hơi thở vào trong các ngươi và các ngươi sẽ sống.
Ta sẽ đặt gân vào trong các ngươi, sẽ khiến thịt mọc lên trên các ngươi và che các ngươi bằng da. Ta sẽ phú hơi thở trong các ngươi và các ngươi sẽ sống; rồi các ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.’”
Vậy, tôi nói tiên tri như Ngài đã phán dặn. Khi tôi đang nói tiên tri thì có tiếng động mạnh và những xương hợp lại, ráp thành từng bộ với nhau.
Tôi nhìn thấy gân và thịt sinh ra trên những xương ấy, có da bao bọc nhưng không có hơi thở ở trong.
Bấy giờ Ngài phán với tôi: “Hỡi con người, hãy nói tiên tri cùng gió; hãy nói tiên tri và bảo gió rằng Chúa Giê-hô-va phán: Hỡi hơi thở, hãy đến từ gió bốn phương và thở trên những người bị giết chết để chúng được sống.”
Vậy tôi nói tiên tri như Ngài đã phán dặn, và hơi thở đi vào trong chúng. Chúng sống và đứng dậy trên chân mình, hợp thành một đạo quân rất lớn.
Ngài phán với tôi: “Hỡi con người, những hài cốt nầy là cả nhà Y-sơ-ra-ên. Nầy, chúng nói rằng: ‘Xương chúng tôi đã khô, niềm hi vọng chúng tôi đã mất, chúng tôi bị diệt sạch!’”
Vậy, hãy nói tiên tri và bảo chúng rằng Chúa Giê-hô-va phán: “Hỡi dân Ta, nầy, Ta sẽ mở mồ mả các ngươi, làm cho các ngươi ra khỏi mồ mả, và Ta sẽ đem các ngươi về trong đất của Y-sơ-ra-ên.
Hỡi dân Ta, các ngươi sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va khi Ta đã mở mồ mả các ngươi và đem các ngươi lên khỏi mồ mả.
Ta sẽ đặt Thần Ta trong các ngươi và các ngươi sẽ sống. Ta sẽ lập các ngươi trong đất riêng của các ngươi, rồi các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va; Ta đã phán và Ta đã thực hiện,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Lại có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy lấy một cây gậy và viết trên nó rằng: ‘Cho Giu-đa và cho con dân Y-sơ-ra-ên liên kết với nó.’ Hãy lấy một cây gậy khác và viết trên đó: ‘Cho Giô-sép, tức là cây gậy của Ép-ra-im và của cả nhà Y-sơ-ra-ên liên kết với nó.’
Hãy ghép hai cây gậy ấy lại với nhau thành một cây trong tay con.
Khi dân tộc con hỏi: ‘Ông không giải thích cho chúng tôi những điều nầy có ý nghĩa gì sao?’
thì con hãy trả lời rằng Chúa Giê-hô-va phán: ‘Nầy, Ta sẽ lấy gậy của Giô-sép, tức là cây gậy ở trong tay Ép-ra-im, và của các bộ tộc Y-sơ-ra-ên liên kết với nó; Ta sẽ ghép nó với cây gậy của Giu-đa để làm nên chỉ một cây gậy mà thôi, và hai cây gậy sẽ trở thành một trong tay Ta.’
Con hãy cầm những cây gậy mà con đã viết chữ trên đó cho họ xem
và nói với họ rằng Chúa Giê-hô-va phán: ‘Nầy, Ta sẽ đem con cái Y-sơ-ra-ên ra khỏi các nước mà họ đã đi đến. Ta sẽ nhóm họ lại từ bốn phương và đem họ về trong đất riêng của họ.
Ta sẽ làm cho họ thành một nước trong đất ấy trên các núi của Y-sơ-ra-ên, và chỉ có một vua sẽ cai trị họ. Họ sẽ không còn là hai nước và không bị chia thành hai vương quốc nữa.
Họ sẽ không tự làm ô uế bởi các thần tượng nữa, hoặc bởi những vật đáng kinh tởm, hoặc bởi mọi vi phạm của mình. Ta sẽ giải cứu họ khỏi mọi nơi mà họ đã phạm tội. Ta sẽ tẩy sạch họ; họ sẽ làm dân Ta và Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ.
Đầy tớ Ta là Đa-vít sẽ làm vua trên họ và tất cả sẽ chỉ có một người chăn mà thôi. Họ sẽ bước theo các mệnh lệnh của Ta; họ sẽ gìn giữ các luật lệ của Ta và làm theo.
Họ sẽ ở trong đất mà Ta đã ban cho đầy tớ Ta là Gia-cốp, và là đất mà tổ phụ các ngươi đã ở. Họ, con cái họ và các thế hệ tiếp nối của họ sẽ ở đó cho đến đời đời. Đầy tớ Ta là Đa-vít sẽ làm vua của họ mãi mãi.
Ta sẽ lập với họ một giao ước hòa bình, tức là giao ước đời đời giữa họ với Ta. Ta sẽ thiết lập và làm cho dân số họ gia tăng. Ta sẽ dựng đền thánh Ta giữa họ đời đời.
Ta sẽ ngự ở giữa họ; Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ và họ sẽ làm dân Ta.
Bấy giờ, các nước sẽ biết Ta, Đức Giê-hô-va, đã làm cho dân Y-sơ-ra-ên ra thánh vì đền thánh Ta sẽ ở giữa họ đời đời.’”
Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hỡi con người, hãy xây mặt hướng về Gót ở đất Ma-gốc là vua của Rô-sơ, Mê-siếc và Tu-banh mà nói tiên tri chống lại nó.
Con hãy nói rằng Chúa Giê-hô-va phán: ‘Hỡi Gót, vua của Rô-sơ, Mê-siếc và Tu-banh, nầy, Ta chống lại ngươi.
Ta sẽ quay ngươi lại, đặt móc trong hàm ngươi và đem ngươi ra trận cùng với cả đạo quân ngươi, ngựa cùng người cưỡi ngựa, tất cả đều mặc áo chiến và hợp thành một đoàn quân rất đông. Tất cả chúng đều mang những thuẫn lớn, thuẫn nhỏ và cầm gươm.
Những lính chiến của Ba Tư, Cút và Phút sẽ ở cùng chúng, tất cả đều mang thuẫn và đội mũ sắt.
Gô-me và tất cả quân đội nó; nhà Tô-ga-ma ở phía cực bắc với cả đạo quân nó, tức là nhiều dân ở với ngươi.
Ngươi hãy sẵn sàng; ngươi cùng tất cả dân chúng nhóm lại xung quanh ngươi khá sửa soạn trước. Ngươi sẽ chỉ huy chúng.
Sau nhiều ngày, ngươi sẽ được kêu gọi để chiến đấu. Trong những năm sau cùng, ngươi sẽ xâm lăng một xứ đã được giải cứu khỏi gươm, và dân của nó tập hợp từ nhiều dân tộc về vùng đồi núi Y-sơ-ra-ên, là nơi vốn bị hoang phế từ lâu. Họ đã được đem về từ các dân tộc và tất cả đều sống bình an.
Ngươi và cả đạo binh ngươi cùng với nhiều dân tộc ở với ngươi sẽ tiến tới, tấn công như vũ bão, như một đám mây bao phủ cả đất.’”
Chúa Giê-hô-va phán: “Trong những ngày đó, có những ý tưởng sẽ lóe lên trong trí ngươi và ngươi sẽ có mưu đồ độc ác.
Ngươi sẽ nói: ‘Ta sẽ đi đến xứ mà làng mạc không có thành quách, ta sẽ đến cùng những dân yên lặng, an ổn, tức là tất cả những người sống trong những nơi không có tường, không then và không cửa.
Ta sẽ thu chiến lợi phẩm và cướp phá rồi ra tay tấn công những nơi đổ nát mà nay đã có người ở và tiến đánh một dân được đem về từ các nước, tức là một dân có nhiều đàn súc vật và của cải đang cư ngụ tại trung tâm của xứ.’
Sê-ba và Đê-đan, những thương gia của Ta-rê-si và tất cả chiến sĩ trẻ của nó sẽ nói với ngươi rằng: ‘Có phải ngươi đến để cướp của? Có phải ngươi tập trung quân lính mình để đánh phá, cướp đi bạc và vàng, súc vật và của cải, và thu quá nhiều chiến lợi phẩm sao?’
Vì thế, hỡi con người, hãy nói tiên tri và bảo Gót rằng Chúa Giê-hô-va phán: ‘Trong ngày đó, ngươi không biết rằng dân Y-sơ-ra-ên của Ta đang sống bình yên sao?
Bấy giờ, ngươi sẽ đến từ nơi ngươi ở là vùng cực bắc, ngươi và nhiều dân ở với ngươi, tất cả đều cưỡi ngựa, một đoàn người rất đông họp thành một đạo quân hùng mạnh.
Hỡi Gót! Ngươi sẽ đến đánh dân Y-sơ-ra-ên Ta như một đám mây che phủ đất. Thật vậy, trong những ngày sau rốt, Ta sẽ khiến ngươi chinh phạt đất Ta để các dân tộc nhìn biết Ta khi Ta dùng ngươi để bày tỏ sự thánh khiết của Ta trước mắt chúng.’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Chẳng phải thời xưa Ta đã dùng đầy tớ Ta là các nhà tiên tri của Y-sơ-ra-ên truyền phán sao? Trong những ngày ấy, họ nói tiên tri trong nhiều năm rằng Ta sẽ khiến ngươi đến đánh dân Ta.’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Đây là điều sẽ xảy ra trong ngày đó: Khi Gót sẽ tấn công đất Y-sơ-ra-ên thì cơn giận của Ta sẽ nổi phừng lên trên mũi Ta.
Trong cơn ghen tuông và thịnh nộ, Ta nói rằng: Thật trong ngày đó sẽ có cơn động đất lớn xảy ra ở xứ Y-sơ-ra-ên.
Trước mặt Ta, cá biển, chim trời, loài thú đồng, tất cả những côn trùng bò trên đất, mọi người trên mặt đất đều sẽ run rẩy. Các núi đều bị quăng xuống, những vách đá đều đổ xuống, và tất cả tường thành đều bị sụp xuống đất.’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Ta sẽ gọi gươm đến chống lại Gót trên mọi núi của Ta. Mọi người sẽ quay gươm chống lại anh em mình.
Ta sẽ thi hành sự phán xét chống lại nó bằng dịch bệnh và đổ máu. Ta sẽ khiến những trận mưa lớn, mưa đá, lửa và diêm sinh đổ xuống trên nó, trên đạo quân nó và nhiều dân đi với nó.
Như vậy, Ta sẽ bày tỏ sự vĩ đại và thánh khiết của Ta, và Ta sẽ được nhận biết trước mắt nhiều dân tộc. Chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.’”
“Hỡi con người, hãy nói tiên tri chống lại Gót và bảo nó rằng Chúa Giê-hô-va phán: ‘Hỡi Gót vua của Rô-sơ, Mê-siếc và Tu-banh, nầy, Ta chống lại ngươi,
Ta sẽ quay ngươi lại. Ta sẽ dẫn ngươi đi và khiến ngươi đến từ vùng cực bắc, và đem ngươi lên trên các núi của Y-sơ-ra-ên.
Ta sẽ đánh rơi cây cung của ngươi khỏi tay trái và làm những mũi tên của ngươi rơi khỏi tay phải.
Ngươi sẽ ngã xuống trên các núi của Y-sơ-ra-ên; ngươi và tất cả đạo quân ngươi, cả đến những dân theo ngươi cũng vậy. Ta sẽ phó ngươi cho mọi loài chim và loài thú đồng làm thức ăn.
Ngươi sẽ ngã xuống trên đồng ruộng như Ta đã phán,’ Chúa Giê-hô-va phán vậy.
‘Bấy giờ, Ta sẽ sai lửa giáng trên Ma-gốc và trên những kẻ ở an ổn nơi các hải đảo và chúng sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va.
Ta sẽ bày tỏ danh thánh Ta giữa dân Y-sơ-ra-ên Ta và Ta không để chúng nói phạm đến danh thánh Ta nữa. Các dân tộc sẽ biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng thánh của Y-sơ-ra-ên.
Nầy, điều ấy đang đến và sẽ xảy ra, Chúa Giê-hô-va phán vậy. Đây là ngày mà Ta đã công bố!
Bấy giờ, những dân cư các thành của Y-sơ-ra-ên sẽ đi ra để đốt và phó cho lửa các khí giới, thuẫn lớn và nhỏ, cung và tên, giáo và sào. Chúng sẽ đem chụm các thứ ấy trong suốt bảy năm.
Chúng sẽ không cần tìm củi ở ngoài đồng, không đốn gỗ trong rừng vì chúng lấy khí giới mà chụm lửa. Chúng sẽ bóc lột những kẻ đã bóc lột mình và cướp giựt những kẻ đã cướp giựt mình, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Trong ngày ấy, Ta sẽ cho Gót một chỗ làm mồ chôn tại Y-sơ-ra-ên trong thung lũng của những du khách về phía đông của biển. Mồ chôn đó sẽ ngăn đường của du khách vì tại đó người ta sẽ chôn Gót và cả đoàn dân nó. Người ta sẽ gọi nơi đó là thung lũng của Ha-môn Gót.
Nhà Y-sơ-ra-ên sẽ phải mất bảy tháng để chôn xác chúng và tẩy sạch xứ sở.
Tất cả dân chúng trong xứ sẽ chôn chúng. Đó là một ngày trọng đại cho dân Y-sơ-ra-ên, tức là ngày mà Ta sẽ được vinh hiển, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Họ sẽ thường xuyên sai những người đi khắp xứ để chôn những thây còn lại trên mặt đất và tẩy sạch đi. Sau bảy tháng, họ sẽ đi tìm kiếm.
Khi họ đi qua khắp xứ và thấy những hài cốt thì họ cắm một cột mốc bên cạnh cho đến khi những người đào huyệt đến chôn những hài cốt ấy trong thung lũng Ha-môn Gót.
Cũng sẽ có một thành được gọi tên là Ha-môn. Như vậy, người ta sẽ tẩy sạch xứ sở.’
Hỡi con người, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Hãy nói với mọi loài chim và mọi loài thú đồng rằng: Hãy tụ họp lại từ bốn phương và vây quanh một sinh tế mà Ta dọn cho chúng mầy, tức là một sinh tế lớn trên các núi Y-sơ-ra-ên để chúng mầy được ăn thịt và uống máu.
Chúng mầy sẽ ăn thịt của người mạnh bạo, uống máu của các nhà lãnh đạo trong thiên hạ, những chiên đực, chiên con, dê đực, bò đực mập của Ba-san.
Chúng mầy sẽ ăn mỡ cho no, uống máu cho say từ sinh tế mà ta giết cho chúng mầy.
Nơi bàn Ta, chúng mầy sẽ ăn no nê thịt ngựa và thịt kẻ cưỡi ngựa, thịt của dũng sĩ và mọi lính chiến,’ Chúa Giê-hô-va phán vậy.”
“Ta sẽ bày tỏ vinh quang Ta ra trong các nước; tất cả các dân tộc sẽ thấy Ta thi hành sự phán xét và đặt tay Ta trên chúng.
Từ ngày đó về sau, nhà Y-sơ-ra-ên sẽ biết Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ.
Bấy giờ, các dân tộc sẽ biết rằng nhà Y-sơ-ra-ên đã bị lưu đày vì cớ tội lỗi của nó, vì nó đã phạm tội chống lại Ta. Chính vì vậy mà Ta ẩn mặt Ta với họ, phó họ vào tay những kẻ thù và tất cả đã ngã chết bởi gươm.
Ta sẽ đối xử với họ như thế vì sự ô uế và tội ác của họ, và Ta đã ẩn mặt với họ.
Cho nên, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Bây giờ, Ta sẽ đem những kẻ lưu đày của Gia-cốp trở về; Ta sẽ thương xót cả nhà Y-sơ-ra-ên và Ta sẽ ghen tuông vì danh thánh Ta.
Họ sẽ quên đi sự xấu hổ và mọi tội bất trung mà họ đã phạm với Ta khi họ được sống bình yên trong xứ sở mình, không còn sợ hãi ai cả.
Khi Ta đã đem họ về từ giữa các dân và quy tụ họ lại từ đất của kẻ thù họ, thì Ta sẽ bày tỏ sự thánh khiết Ta qua họ trước mắt nhiều nước.
Họ sẽ biết rằng Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ khi Ta để họ bị lưu đày trong các nước rồi quy tụ họ lại trong xứ của họ, chẳng để sót một ai.
Ta sẽ không ẩn mặt với họ nữa vì Ta sẽ đổ Thần Ta trên nhà Y-sơ-ra-ên,’ Chúa Giê-hô-va phán vậy.”
Vào năm thứ hai mươi lăm sau khi chúng ta bị lưu đày, vào đầu năm, ngày mùng mười của tháng, tức là mười bốn năm sau khi Giê-ru-sa-lem bị thất thủ, cũng trong ngày ấy, tay của Đức Giê-hô-va đặt trên tôi và Ngài đem tôi vào trong thành ấy.
Trong các khải tượng của Đức Chúa Trời, tôi thấy Ngài đem tôi vào đất Y-sơ-ra-ên và đặt tôi trên một hòn núi rất cao, trên núi đó, về phía nam, có một công trình kiến trúc giống như một thành.
Khi Ngài dẫn tôi vào đó, tôi thấy một người hình dáng như người bằng đồng. Người ấy đứng nơi hiên cửa, tay cầm một sợi dây gai và một cây sào để đo.
Người ấy bảo tôi: “Hỡi con người, hãy lấy mắt mà xem, lấy tai mà nghe và để lòng vào những việc mà tôi sẽ tỏ cho ông; vì để cho ông nhìn thấy mà ông được đem đến đây. Vậy hãy thuật lại mọi điều ông thấy cho nhà Y-sơ-ra-ên.”
Kìa, có một cái tường ngoài bao chung quanh đền thờ. Người ấy cầm trong tay một cây sào để đo, dài ba mét, tức sáu am-ma, mỗi am-ma nầy dài hơn mét thường một gang tay. Người ấy đo bề rộng của tường là một cây sào và bề cao là một cây sào.
Kế đó, người ấy đi đến nơi cổng phía đông, bước lên những tam cấp để đo ngạch cổng, bề rộng một cây sào; ngạch khác cũng rộng một cây sào.
Mỗi phòng dài một cây sào và rộng một cây sào. Giữa các phòng có một khoảng cách hai mét rưỡi; ngưỡng cửa gần bên tiền sảnh của cổng ấy rộng một cây sào.
Người ấy đo tiền sảnh của cổng phía trong, cũng một cây sào.
Người ấy đo tiền sảnh của cổng được bốn mét và những trụ nó được một mét. Đó là tiền sảnh của cổng phía trong.
Nơi cổng phía đông, mỗi bên có ba phòng, cả ba phòng đều có kích thước bằng nhau; và các cột mỗi bên cũng có kích thước bằng nhau.
Người ấy đo chiều rộng của lối vào cổng được năm mét và chiều dài được sáu mét rưỡi.
Trước các phòng, mỗi bên có một hàng rào cao nửa mét, và mỗi phòng hình vuông mỗi cạnh ba mét.
Người ấy đo cổng vào từ phía sau, từ mái của phòng nầy đến mái của phòng kia, được mười hai mét rưỡi chiều ngang; hai lối ra vào đối diện nhau.
Người ấy đo các trụ là ba mươi mét, gần các trụ ấy có hành lang bao quanh cổng vào.
Khoảng cách giữa cổng vào và tiền sảnh của cổng trong là hai mươi lăm mét.
Các phòng và những trụ nó ở phía trong cổng cho đến các tiền sảnh đều có những cửa sổ chấn song. Phía bên trong và chung quanh đó đều có những cửa sổ. Trên các trụ có những hình cây chà là.
Sau đó, người ấy dẫn tôi vào hành lang ngoài. Nầy, tại đây có những phòng và lối đi lót đá chung quanh hành lang; dọc lối đi lót đá ấy có ba mươi phòng.
Lối đi lót đá chạy dọc theo cổng, có chiều dài bằng cổng ấy. Đây là lối đi thấp có lót đá.
Người ấy đo khoảng cách từ phía trước cổng dưới cho đến phía trước hành lang trong, được năm mươi mét phía đông, và phía bắc cũng vậy.
Người lại đo chiều dài và chiều ngang của cổng phía bắc, dẫn đến hành lang ngoài.
Hai bên cổng, mỗi bên có ba phòng; các trụ và tiền sảnh cũng đồng kích thước với cổng thứ nhất: hai mươi lăm mét chiều dài và mười hai mét rưỡi chiều ngang.
Những cửa sổ, tiền sảnh và hình cây chà là của nó cũng đồng kích thước với cổng phía đông. Có bảy bậc thang dẫn lên cổng và một tiền sảnh ở bên trong nó.
Đối diện với cổng phía bắc và cổng phía đông là cổng dẫn vào hành lang trong. Người ấy đo từ cổng nầy đến cổng kia, được năm mươi mét.
Sau đó, người ấy dẫn tôi đi về phía nam. Nầy, tại đó có cổng phía nam. Người ấy đo các trụ và các tiền sảnh cũng đồng kích thước với nhau.
Tiền sảnh ấy có những cửa sổ chung quanh giống như những cửa sổ khác. Chiều dài của tiền sảnh nầy là hai mươi lăm mét và chiều ngang là mười hai mét rưỡi.
Có cầu thang bảy bậc dẫn lên cổng và một tiền sảnh ở bên trong nó; trên các trụ cả hai mặt đều có những hình cây chà là.
Hành lang trong có một cái cổng xây về hướng nam, và người ấy đo từ cổng nầy đến cổng kia về phía nam là năm mươi mét.
Kế đó, người ấy đem tôi vào hành lang trong qua cổng phía nam. Người ấy đo cổng phía nam và cổng ấy có đồng một kích thước với các cổng khác.
Các phòng, các trụ và tiền sảnh của nó có cùng một kích thước với nhau. Cổng và các tiền sảnh đều có những cửa sổ chung quanh. Các tiền sảnh có chiều dài là hai mươi lăm mét và chiều ngang là mười hai mét rưỡi.
Chung quanh có các tiền sảnh, chiều dài mười hai mét rưỡi, chiều ngang hai mét rưỡi.
Các tiền sảnh của cổng đối diện hành lang ngoài đều có các hình cây chà là trên các trụ nó và có cầu thang tám bậc để bước lên.
Kế đó, người ấy dẫn tôi vào hành lang trong về phía đông. Người đo cổng ấy và nó có cùng một kích thước với những cổng khác.
Những phòng, những trụ và tiền sảnh của nó có cùng một kích thước như những cái khác. Cổng nầy và tiền sảnh đều có những cửa sổ chung quanh; các tiền sảnh dài hai mươi lăm mét, rộng mười hai mét rưỡi.
Các tiền sảnh của cổng nầy đối diện với hành lang ngoài đều có hình cây chà là trên các trụ cả hai mặt và có một cầu thang tám bậc để bước lên.
Rồi người ấy đem tôi vào trong cổng phía bắc; người ấy đo cổng ấy và nó có cùng một kích thước với những cổng khác.
Những phòng, những trụ và những tiền sảnh của nó cũng có cùng kích thước và có những cửa sổ chung quanh. Cổng ấy có chiều dài hai mươi lăm mét, rộng mười hai mét rưỡi.
Những trụ của nó đối diện với hành lang ngoài đều có hình cây chà là trên các trụ ấy cả hai mặt, và có một cầu thang tám bậc để bước lên.
Một cái phòng có cửa ở gần các trụ của cổng ấy, là nơi người ta rửa các tế lễ thiêu.
Trong tiền sảnh của cổng, có hai cái bàn mỗi bên, trên đó người ta giết những sinh tế dùng cho tế lễ thiêu, tế lễ chuộc sự mắc lỗi và tế lễ chuộc tội.
Phía ngoài tiền sảnh, gần chỗ bước lên hướng về cổng phía bắc, có hai cái bàn; bên kia tiền sảnh của cổng cũng có hai cái bàn.
Như vậy, có bốn cái bàn ở bên nầy cổng và bốn cái bàn ở bên kia, tổng cộng là tám cái. Trên các bàn đó, người ta giết những sinh tế.
Lại có bốn cái bàn bằng đá vuông dùng cho tế lễ thiêu, dài nửa mét, rộng bảy mươi lăm cen-ti-mét, cao nửa mét. Người ta đặt trên đó những dụng cụ dùng để giết sinh tế cho tế lễ thiêu và các tế lễ khác.
Có những móc rộng bằng lòng bàn tay gắn bốn phía tường; thịt tế lễ phải để trên các bàn.
Phía ngoài cổng trong, có những phòng để cho người ca hát nơi hành lang kề bên cổng phía bắc, hướng về phía nam. Cũng có một phòng nữa về phía cổng đông, hướng về phía bắc.
Người ấy bảo tôi: “Cái phòng hướng về phía nam dành cho các thầy tế lễ trông coi đền thờ,
và cái phòng hướng về phía bắc dành cho các thầy tế lễ trông coi bàn thờ. Đó là các con trai của Xa-đốc, tức là trong vòng các con trai Lê-vi đến gần Đức Giê-hô-va để phụng sự Ngài.”
Sau đó, người ấy đo hành lang vuông, chiều dài năm mươi mét và chiếu ngang năm mươi mét. Bàn thờ thì ở trước đền thờ.
Kế đến, người ấy đem tôi vào tiền sảnh của đền thờ và người ấy đo các trụ của tiền sảnh, mỗi bên hai mét rưỡi; chiều ngang của cổng là bảy mét, chiều sâu của cổng mỗi bên một mét rưỡi.
Tiền sảnh có chiều dài mười mét và chiều ngang năm mét rưỡi. Có một cầu thang mười bậc dẫn lên tiền sảnh và bên cạnh các trụ có hai cây cột, mỗi bên một cây.
Sau đó, người ấy đem tôi vào trong đền thờ và người ấy đo các trụ. Các trụ có bề ngang ba mét mặt nầy và ba mét mặt kia; tức là bằng bề ngang của các trụ đền tạm thuở xưa.
Chiều ngang của cửa vào là năm mét, hai mét rưỡi bên nầy, hai mét rưỡi bên kia. Người ấy đo phía ngoài đền thánh, có chiều dài hai mươi mét và chiều ngang mười mét.
Người ấy vào bên trong và đo các trụ cửa vào là một mét; chiều cao của cửa là ba mét và chiều rộng của cửa ba mét rưỡi.
Người ấy đo phía trong cùng của đền thánh, chiều dài mười mét, chiều rộng mười mét. Người ấy nói với tôi: Đây là nơi chí thánh.
Rồi người ấy đo tường của đền thờ dày ba mét; chiều ngang của những phòng bên hông khắp chung quanh nhà là hai mét.
Những phòng bên hông có ba tầng, mỗi tầng ba mươi phòng; những phòng ấy giáp với một bức tường chạy chung quanh đền thờ dùng làm cái đà cho các phòng bên hông để chúng không gác lên trên tường đền thờ.
Những phòng bên hông càng lên cao càng rộng. Công trình kiến trúc chung quanh đền thờ được xây theo kiểu càng lên cao tường càng hẹp, cho nên phòng càng lên cao càng rộng. Người ta đi lên từ tầng dưới đến tầng trên xuyên qua tầng giữa.
Tôi cũng thấy đền thờ nằm trên một cái nền cao bằng một cây sào, tức là ba mét; nền của các phòng bên hông cũng vậy.
Bề dày của tường ngoài của các phòng bên hông là hai mét rưỡi; tường ấy dài hơn nền của các nhà bên hông là hai mét rưỡi.
Khoảng cách giữa các phòng bên hông đền thờ và các phòng khác rộng mười mét, chạy chung quanh đền thờ.
Những cửa của các phòng bên hông mở ra về phần đất trống, một cửa hướng về phía bắc, một cửa hướng về phía nam; và phần đất trống đó rộng hai mét rưỡi.
Tòa nhà đối diện với sân đền thờ, về hướng tây, rộng ba mươi lăm mét. Tường bao quanh tòa nhà ấy dày hai mét rưỡi, dài bốn mươi lăm mét.
Tiếp theo, người ấy đo đền thờ dài năm mươi mét; khoảng sân đền thờ, tòa nhà với tường của nó cũng dài năm mươi mét.
Chiều ngang của mặt tiền tòa nhà và sân đền thờ về phía đông là năm mươi mét.
Kế đó, người ấy đo chiều dài của các tòa nhà đối diện với sân phía sau đền thờ, kể cả hành lang hai bên là năm mươi mét. Đền thờ phía trong và phía ngoài, các tiền sảnh đối diện hành lang,
các ngưỡng cửa, các cửa sổ chấn song, các hành lang chung quanh ba tầng ấy, phía trước các ngưỡng cửa, tất cả đều bọc bằng ván chung quanh. Từ đất đến các cửa sổ và các cửa sổ đều được che lại.
Trên cửa, bên trong và bên ngoài đền thờ, khắp tường chung quanh bề trong và bề ngoài,
đều chạm hình các Chê-ru-bim và hình các cây chà là; một cây chà là ở giữa hai Chê-ru-bim. Mỗi Chê-ru-bim có hai mặt:
một mặt người hướng về hình cây chà là phía bên nầy, một mặt sư tử tơ hướng về hình cây chà là phía bên kia. Khắp cả đền thờ đều chạm như vậy.
Từ dưới đất lên đến cửa ra vào, người ta chạm hình Chê-ru-bim và cây chà là trên tường của đền thờ.
Các khuôn cửa của đền thờ hình vuông và mặt trước của nơi thánh cũng giống như vậy.
Một bàn thờ bằng gỗ cao một mét rưỡi, dài một mét. Các góc, bệ và những cạnh của bàn thờ đều bằng gỗ. Người ấy bảo tôi rằng: “Đây là cái bàn ở trước mặt Đức Giê-hô-va.”
Đền thờ và nơi thánh có hai cửa.
Mỗi cửa có hai cánh khép lại được, cửa nầy hai cánh, cửa kia hai cánh.
Có những Chê-ru-bim và những cây chà là chạm trên cửa đền thờ cũng như trên tường. Có một mái hiên bằng gỗ trước tiền sảnh, phía bên ngoài.
Trên tường của tiền sảnh là những cửa sổ chấn song có chạm những hình cây chà là ở hai bên. Các phòng bên cạnh đền thờ và mái che cũng được trang trí như vậy.
Sau đó, người ấy dẫn tôi vào hành lang ngoài về phía bắc và đem tôi vào phòng đối diện với sân đền thờ và đối diện với tòa nhà ở phía bắc.
Mặt tiền của tòa nhà phía bắc có chiều dài năm mươi mét, chiều ngang hai mươi lăm mét.
Tiếp giáp với một khu vực mười mét thuộc sân trong và một khu vực đối diện với nền được lát đá thuộc sân ngoài, là hành lang ba tầng.
Phía trước các phòng có đường đi rộng năm mét và phía trong có một con đường rộng nửa mét; các cửa phòng đều xây về hướng bắc.
Những phòng trên thì hẹp hơn những phòng dưới và những phòng giữa, vì bị các hành lang choán chỗ.
Các phòng ở tầng ba không có cột như ở hành lang, nên những phòng trên và những phòng giữa phải thụt vào và hẹp hơn những phòng dưới.
Bức tường ngoài chạy dọc theo các phòng, về phía hành lang ngoài và đối diện với các phòng, đo được hai mươi lăm mét.
Chiều dài của các phòng ở hành lang ngoài là hai mươi lăm mét, còn các phòng đối diện đền thờ dài năm mươi mét.
Dưới các phòng ấy, về phía đông, có một cửa cho những người từ hành lang ngoài đi vào.
Cũng có những phòng dọc theo chiều ngang của tường hành lang về phía đông, ngay trước sân và đối diện với đền thờ.
Có một con đường phía trước các phòng ấy cũng như phía trước các phòng về hướng bắc; tất cả các phòng ấy đều có chiều dài và chiều ngang bằng nhau. Tất cả các lối ra, lối vào đều có kích thước giống nhau.
Các cửa phòng phía nam cũng giống như vậy. Ở đầu đường, có một cái cửa để người ta đi vào, đối diện với bức tường phía đông.
Bấy giờ, người ấy bảo tôi rằng: “Các phòng phía bắc và các phòng phía nam ngay trước sân đền thờ là những phòng thánh, là nơi các thầy tế lễ đến gần Đức Giê-hô-va sẽ ăn những tế lễ rất thánh. Các thầy ấy sẽ để ở đó những tế lễ rất thánh, tế lễ chay, tế lễ chuộc sự mắc lỗi và tế lễ chuộc tội vì nơi đó là thánh.
Khi đã vào nơi thánh rồi, các thầy tế lễ không được ra khỏi nơi thánh để ra sân ngoài cho đến khi họ cởi và để lại các y phục đã mặc, vì những y phục ấy là thánh. Họ phải thay y phục khác trước khi đến gần nơi dành cho dân chúng.”
Sau khi đã đo phía trong nhà rồi, người ấy đem tôi ra qua cổng phía đông và đo chung quanh đền thờ.
Người ấy dùng cây sào đo phía đông được hai trăm năm mươi mét.
Người ấy dùng cây sào đo phía bắc được hai trăm năm mươi mét.
Người ấy dùng cây sào đo phía nam được hai trăm năm mươi mét.
Người ấy trở qua phía tây để đo, được hai trăm năm mươi mét.
Như thế, người ấy đo bốn phía tường chung quanh đền thờ, chiều dài hai trăm năm mươi mét, chiều rộng hai trăm năm mươi mét. Tường nầy dùng để phân biệt nơi thánh với nơi phàm.
Rồi người ấy dẫn tôi vào cổng, tức là cổng nhìn về phía đông.
Tôi thấy vinh quang của Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên từ phương đông đến. Tiếng Ngài giống như tiếng nước lớn và đất sáng rực vì vinh quang Ngài.
Khải tượng mà tôi thấy bấy giờ giống với khải tượng đã hiện ra cho tôi khi Ngài đến để hủy diệt thành nầy. Nó cũng giống với khải tượng mà tôi đã thấy bên bờ sông Kê-ba và tôi sấp mặt xuống đất.
Vinh quang của Đức Giê-hô-va vào trong đền thờ qua cổng phía đông.
Thần cất tôi lên và đem tôi vào nơi hành lang trong, và kìa, vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền thờ.
Tôi nghe có ai nói với tôi từ bên trong đền thờ, và có một người đứng gần bên tôi.
Người ấy nói với tôi: “Hỡi con người, đây là nơi đặt ngai Ta, là nơi để bàn chân Ta. Tại đây, Ta sẽ ngự giữa con dân Y-sơ-ra-ên đến đời đời. Từ nay về sau, nhà Y-sơ-ra-ên gồm cả dân chúng và các vua của họ sẽ không làm ô uế danh thánh Ta bởi sự tà dâm của họ và bởi những xác chết của các vua họ trên các nơi cao nữa.
Khi họ đặt ngưỡng cửa của họ gần ngưỡng cửa Ta và đặt trụ cửa của họ gần trụ cửa Ta, đến nỗi giữa Ta với họ chỉ cách nhau một bức tường mà thôi, thì họ đã làm ô uế danh thánh Ta. Vì những việc làm ghê tởm của họ nên Ta giận mà hủy diệt họ.
Bây giờ, họ phải bỏ thói tà dâm và ném những xác chết của vua họ cách xa Ta thì Ta sẽ ở giữa họ đời đời.
Hỡi con người, hãy mô tả đền thờ cho nhà Y-sơ-ra-ên để họ biết xấu hổ về tội lỗi mình. Hãy để họ đo theo kiểu mẫu nầy.
Khi họ hổ thẹn về mọi điều mình đã làm thì con hãy cho họ xem đồ án của đền thờ: sự sắp đặt, đường ra, lối vào, tất cả các đồ án, các quy định và tất cả luật lệ về nó. Hãy viết những điều ấy trước mắt họ để họ giữ lấy mọi đồ án lẫn luật lệ của nó để tuân theo.
Đây là luật lệ về đền thờ. Tất cả khu vực chung quanh, trên đỉnh núi là nơi rất thánh. Phải, đó là luật lệ về đền thờ vậy.
Đây là kích thước của bàn thờ đo bằng am-ma (mỗi am-ma nầy dài hơn am-ma thường một gang tay). Đáy của nó cao nửa mét và rộng nửa mét, cái gờ viền quanh rãnh cao một gang tay. Đây là chiều cao bàn thờ.
Từ đáy trên mặt đất cho đến cái rìa dưới là một mét, với cái gờ nửa mét. Từ rìa nhỏ đến rìa lớn là hai mét, với cái gờ nửa mét.
Lò bàn thờ cao hai mét và từ lò bàn thờ nhô lên bốn cái sừng.
Lò bàn thờ hình vuông, chiều dài sáu mét và chiều rộng sáu mét.
Rìa phía trên cũng hình vuông, bảy mét chiều dài và bảy mét chiều rộng; có một cái gờ chung quanh hai tấc rưỡi và một cái máng nửa mét. Còn những bậc cấp của nó xây về phía đông.”
Người ấy nói với tôi rằng: “Hỡi con người, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Đây là các luật lệ về bàn thờ khi nó được xây xong để dâng tế lễ thiêu và làm lễ rưới huyết trên đó.’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Khi các thầy tế lễ, họ Lê-vi về dòng Xa-đốc, đến gần Ta để phục vụ Ta, con hãy trao cho họ một con bò đực tơ để họ làm lễ chuộc tội.
Con hãy lấy huyết nó bôi trên bốn sừng bàn thờ, bốn góc của rìa và gờ chung quanh để làm sạch bàn thờ và làm lễ chuộc tội cho bàn thờ.
Con hãy đem con bò đực dâng làm tế lễ chuộc tội và thiêu nó trong nơi định sẵn của đền thờ, bên ngoài nơi thánh.
Vào ngày thứ hai, con phải dâng một con dê đực không tì vết làm tế lễ chuộc tội, và bàn thờ sẽ được thanh tẩy như đã dùng bò đực mà thanh tẩy vậy.
Khi đã thanh tẩy bàn thờ xong, con phải dâng một con bò đực tơ không tì vết và một con chiên đực không tì vết bắt từ trong bầy ra.
Con sẽ dâng chúng trước mặt Đức Giê-hô-va, và các thầy tế lễ rắc muối lên và dâng làm tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va.
Trong bảy ngày, mỗi ngày con phải cung cấp một con dê đực để làm tế lễ chuộc tội và dâng một con bò đực tơ, một con chiên đực không tì vết bắt ra từ trong bầy.
Trong bảy ngày, họ phải làm lễ chuộc tội cho bàn thờ và phải thanh tẩy nó để biệt riêng nó ra thánh.
Khi những ngày ấy qua rồi, từ ngày thứ tám trở đi, các thầy tế lễ sẽ dâng tế lễ thiêu và tế lễ bình an của các ngươi trên bàn thờ ấy và Ta sẽ chấp nhận các ngươi, Chúa Giê-hô-va phán vậy.’”
Người ấy đem tôi đến cổng ngoài của nơi thánh hướng về phía đông. Cổng ấy vẫn đóng.
Đức Giê-hô-va phán với tôi: “Cổng nầy sẽ đóng luôn, không mở nữa. Chẳng ai được vào cổng nầy vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã vào bằng cổng ấy. Vì thế, cổng ấy phải đóng lại.
Chỉ có vua là người duy nhất có thể đến ngồi tại đó để ăn bánh trước mặt Đức Giê-hô-va. Vua sẽ đi vào bởi tiền sảnh của cổng và cũng đi ra bởi đường ấy.”
Rồi người ấy dẫn tôi đến trước đền thờ bằng cổng phía bắc. Tôi nhìn xem, nầy, vinh quang của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền thờ Đức Giê-hô-va, và tôi sấp mặt xuống đất.
Bấy giờ, Đức Giê-hô-va phán với tôi: “Hỡi con người, hãy chú tâm, lấy mắt nhìn kỹ và lắng tai nghe mọi điều Ta sẽ phán với con liên quan đến mọi quy định và mọi luật lệ về đền thờ của Đức Giê-hô-va. Hãy chú tâm đến lối vào đền thờ và mọi lối ra khỏi nơi thánh.
Con hãy nói với kẻ nổi loạn tức là nhà Y-sơ-ra-ên rằng, Chúa Giê-hô-va phán: ‘Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, những điều ghê tởm của các người đã quá đủ rồi!
Các ngươi đã đem con cái dân ngoại là những kẻ không cắt bì trong lòng và trong xác thịt vào nơi thánh Ta để làm ô uế đền thờ Ta khi các ngươi dâng bánh, mỡ và huyết cho Ta. Như vậy, các ngươi đã phá bỏ giao ước Ta bằng mọi điều ghê tởm của các ngươi.
Chính các ngươi không giữ những vật thánh của Ta nhưng các ngươi đã lập kẻ khác coi giữ đền thánh Ta thay cho các ngươi.’
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Chẳng có một người ngoại nào không cắt bì trong lòng và trong xác thịt mà được vào nơi thánh Ta. Ngay cả một người ngoại quốc ở giữa con cái Y-sơ-ra-ên cũng không được vào đó.
Khi dân Y-sơ-ra-ên lầm lạc thì những người Lê-vi cũng đã xa cách Ta, bỏ Ta để phục vụ các thần tượng; họ sẽ mang tội lỗi mình.
Dù vậy, họ sẽ phục vụ trong nơi thánh Ta, làm người giữ cửa đền thờ và phục vụ Ta. Họ sẽ giết các sinh tế để làm tế lễ thiêu và các tế lễ khác cho dân chúng; họ sẽ đứng trước mặt dân chúng để phục vụ.
Vì họ đã phục vụ dân chúng trước mặt những thần tượng mình và làm cho nhà Y-sơ-ra-ên sa vào tội lỗi; vì thế, Ta đã giơ tay lên chống lại họ và họ sẽ mang tội lỗi mình, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Họ sẽ không đến gần Ta để làm trọn các công việc của thầy tế lễ trước mặt Ta. Hoặc họ sẽ không đến gần vật thánh nào của Ta hay vật rất thánh, nhưng sẽ mang lấy sự hổ thẹn và những điều ghê tởm mà mình đã phạm.
Tuy nhiên, Ta sẽ lập họ chịu trách nhiệm canh giữ đền thờ để làm trọn chức vụ và mọi công việc cần trong đó.’”
“Còn các thầy tế lễ họ Lê-vi, con cháu của Xa-đốc, vẫn coi giữ nơi thánh Ta trong khi con cái Y-sơ-ra-ên lầm lạc cách xa Ta. Những người đó sẽ đến gần Ta để phục vụ Ta. Họ sẽ đứng trước mặt Ta để dâng mỡ và huyết, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Đó là những người sẽ vào nơi thánh Ta, đến gần nơi bàn Ta để phục vụ Ta và thi hành công việc của Ta.
Khi họ vào các cổng của hành lang trong thì họ sẽ mặc áo bằng vải gai; họ sẽ không mặc đồ bằng lông chiên trong khi phục vụ nơi các cổng của hành lang hoặc trong đền thờ.
Họ sẽ đội khăn bằng vải gai trên đầu và mặc quần đùi bằng vải gai đến ngang lưng; họ sẽ không được mặc thứ vải nào làm đổ mồ hôi.
Nhưng khi đi qua hành lang ngoài là nơi có dân chúng thì họ phải cởi y phục đã mặc trong lúc phục vụ ra và để trong các phòng thánh, rồi mặc áo khác, không để cho áo mình làm cho dân chúng nên thánh.
Họ sẽ không cạo đầu, cũng không để tóc dài nhưng sẽ cắt tóc ngắn.
Chẳng có thầy tế lễ nào được uống rượu khi bước vào hành lang trong.
Họ không được lấy đàn bà góa hoặc bị để làm vợ nhưng phải lấy một trinh nữ thuộc dòng dõi Y-sơ-ra-ên, hay là lấy vợ góa của một thầy tế lễ khác.
Họ sẽ dạy dân Ta phân biệt giữa điều thánh khiết với điều phàm tục, chỉ cho dân Ta biết phân biệt điều tinh sạch với điều ô uế.
Khi có sự tranh tụng, họ phải đứng ra làm quan tòa, và phải xét xử theo phán quyết của Ta. Họ phải vâng giữ các luật pháp và các quy luật Ta trong mọi kỳ lễ của Ta và biệt ra thánh các ngày sa-bát của Ta.
Họ sẽ không được đến gần xác chết kẻo bị ô uế. Tuy nhiên, nếu người chết là cha hoặc mẹ mình, con trai hay con gái mình, anh em hay chị em chưa có chồng, thì thầy tế lễ có thể bị ô uế.
Sau khi được tẩy sạch, thầy tế lễ phải đợi bảy ngày nữa.
Vào ngày mà thầy tế lễ ấy vào nơi thánh trong hành lang trong để phục vụ tại đó, thì ông phải dâng một tế lễ chuộc tội cho chính mình, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Còn về gia tài để dành cho họ thì chính Ta là gia tài của họ. Các ngươi chớ cho họ sản nghiệp nào trong Y-sơ-ra-ên cả vì chính Ta là sản nghiệp của họ.
Họ sẽ nuôi mình bằng những tế lễ chay, tế lễ chuộc sự mắc lỗi và tế lễ chuộc tội. Bất cứ vật gì mà dân Y-sơ-ra-ên hiến dâng sẽ thuộc về họ.
Tất cả hoa quả đầu mùa tốt nhất trong mọi sản vật cùng tất cả tế lễ chay mà các ngươi dâng, đều sẽ thuộc về thầy tế lễ. Các ngươi cũng sẽ dâng cho các thầy tế lễ bột nhồi tốt nhất của mình để phước hạnh sẽ tuôn đổ trên gia đình các ngươi.
Các thầy tế lễ không được ăn thịt của một con vật nào, dù là chim hay thú tự nhiên chết hay là bị thú xé.”
“Khi các ngươi bắt thăm để chia xứ làm sản nghiệp, hãy lấy trước một phần đất mà dâng cho Đức Giê-hô-va; đó là phần đất thánh. Nó có chiều dài là mười hai nghìn năm trăm mét và chiều ngang là năm nghìn mét. Toàn khu vực sẽ là thánh.
Trên phần đất ấy, các ngươi hãy lấy một mảnh đất vuông để làm nơi thánh, chiều dài hai trăm năm mươi mét, chiều ngang cũng hai trăm năm mươi mét. Chung quanh mảnh đất ấy sẽ có một khoảng đất trống là hai mươi lăm mét.
Trong khu vực đất thánh đó, các ngươi hãy để riêng một khu đất có chiều dài mười hai nghìn năm trăm mét và chiều rộng năm nghìn mét để làm nơi thánh, là nơi rất thánh tại đó.
Đó sẽ là phần đất thánh của khu vực dành cho các thầy tế lễ là người phục vụ nơi thánh và đến gần Đức Giê-hô-va để phục vụ Ngài. Đó sẽ là chỗ để xây nhà cho họ và một chỗ thánh cho nơi thánh.
Một khu đất khác có chiều dài mười hai nghìn năm trăm mét, chiều ngang năm nghìn mét, sẽ thuộc về người Lê-vi. Những người nầy phục vụ trong đền thờ và được hai mươi thành.
Bên cạnh phần đất thánh, các ngươi hãy lấy một phần đất có chiều ngang hai nghìn năm trăm mét và chiều dài là mười hai nghìn năm trăm mét, để xây thành. Nó sẽ thuộc về cả nhà Y-sơ-ra-ên.
Vua được phần đất giới hạn bởi một bên là đất thánh và một bên là đất xây thành. Đất đó chạy về phía tây đến ranh giới phía tây của đất nước, phía đông đến ranh giới phía đông của đất nước. Chiều dài từ ranh giới phía đông đến ranh giới phía tây cũng bằng từ bộ tộc nầy đến bộ tộc kia.
Đó sẽ là phần đất thuộc sở hữu của vua Y-sơ-ra-ên. Các vua của Ta sẽ không áp bức dân Ta nữa, nhưng sẽ chia phần đất còn lại cho các bộ tộc Y-sơ-ra-ên.
Chúa Giê-hô-va phán: ‘Hỡi các vua Y-sơ-ra-ên, các ngươi làm như thế là đủ rồi! Hãy bỏ sự bạo hành và áp bức, hãy làm điều công minh, chính trực. Hãy ngừng cướp bóc tài sản của dân Ta, Chúa Giê-hô-va phán vậy.’”
“Hãy dùng những cái cân chính xác, cái ê-pha chính xác, cái bát chính xác.
Cái ê-pha và cái bát phải có sức chứa bằng nhau; cái bát chứa được một phần mười của hô-me; hô-me là tiêu chuẩn để đo lường.
Một siếc-lơ bằng hai mươi ghê-ra; hai mươi siếc-lơ cộng với hai mươi lăm siếc-lơ, cộng với mười lăm siếc-lơ là một min.
Nầy là lễ vật mà các ngươi phải dâng: Mỗi một hô-me lúa mì lấy một phần sáu ê-pha, mỗi một hô-me mạch nha lấy một phần sáu ê-pha.
Còn về dầu, được đong bằng bát, thì mỗi cô-rơ lấy ra một phần mười (một cô-rơ bằng một hô-me hay mười bát, vì mười bát là một hô-me.)
Trong những đồng cỏ tươi xanh của Y-sơ-ra-ên, cứ hai trăm con chiên thì sẽ lấy một chiên con để làm tế lễ chay, tế lễ thiêu, và tế lễ bình an mà chuộc tội cho dân chúng, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Tất cả dân trong xứ sẽ phải góp phần vào lễ vật dâng cho vua của Y-sơ-ra-ên.
Nhưng vua có bổn phận chuẩn bị những tế lễ thiêu, tế lễ chay và lễ quán trong các lễ hội, ngày trăng mới, ngày sa-bát cùng mọi ngày lễ của nhà Y-sơ-ra-ên. Vua sẽ dâng tế lễ chuộc tội, tế lễ chay, tế lễ thiêu và tế lễ bình an để chuộc tội cho nhà Y-sơ-ra-ên.”
Chúa Giê-hô-va phán: “Ngày mồng một tháng giêng, con hãy lấy một con bò đực tơ không tì vết và thanh tẩy nơi thánh.
Thầy tế lễ sẽ lấy huyết của sinh tế chuộc tội mà bôi lên các trụ cửa đền thờ, trên bốn góc rìa bàn thờ và trên các trụ cổng của sân trong.
Ngày mồng bảy tháng ấy, con cũng làm giống như vậy cho những người vì vô ý hoặc ngu dại mà phạm tội. Như vậy, con sẽ làm lễ chuộc tội cho đền thờ.
Ngày mười bốn tháng giêng, các ngươi phải giữ lễ Vượt Qua; các ngươi sẽ phải ăn bánh không men trong bảy ngày.
Trong ngày ấy, vua sẽ vì mình và vì cả dân chúng trong xứ mà chuẩn bị một con bò đực làm tế lễ chuộc tội.
Trong bảy ngày của kỳ lễ, mỗi ngày vua chuẩn bị bảy con bò đực và bảy con chiên đực không tì vết làm tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va trong bảy ngày, và mỗi ngày một con dê đực làm tế lễ chuộc tội.
Vua cũng thêm vào đó cứ mỗi con bò đực một ê-pha, mỗi con chiên đực một ê-pha, mỗi ê-pha một hin dầu để làm tế lễ chay.
Vào ngày rằm tháng bảy của kỳ lễ và suốt bảy ngày, vua cũng sẽ chuẩn bị tế lễ chuộc tội, tế lễ thiêu, tế lễ chay và dầu y như trước.”
Chúa Giê-hô-va phán: “Cổng của sân trong hướng về phía đông sẽ đóng luôn trong sáu ngày làm việc, nhưng sẽ mở trong ngày sa-bát và ngày trăng mới.
Vua sẽ vào đó bằng cổng tiền sảnh và đứng gần trụ cổng trong khi các thầy tế lễ dâng tế lễ thiêu và tế lễ bình an. Vua sẽ cúi lạy nơi lối vào của cổng rồi bước ra, nhưng cổng sẽ không đóng lại trước khi chiều tối.
Vào những ngày sa-bát và ngày trăng mới, dân chúng trong xứ sẽ thờ lạy trước mặt Đức Giê-hô-va nơi lối vào cổng ấy.
Tế lễ thiêu mà vua sẽ dâng cho Đức Giê-hô-va trong ngày sa-bát là sáu con chiên con không tì vết và một con chiên đực không tì vết.
Tế lễ chay sẽ là một ê-pha bột dâng với con chiên đực, còn tế lễ chay dâng với các chiên con thì vua muốn dâng bao nhiêu tùy sức và cứ mỗi ê-pha bột kèm theo một hin dầu.
Vào ngày trăng mới, vua sẽ dâng một con bò đực tơ không tì vết, sáu con chiên con và một con chiên đực cũng không tì vết.
Về của lễ chay, vua sẽ dâng một ê-pha bột cùng với một con bò đực, một ê-pha bột cùng với con chiên đực. Còn về các chiên con thì vua dâng bao nhiêu tùy sức và mỗi ê-pha bột kèm một hin dầu.
Khi vua đi vào thì phải đi qua tiền sảnh của cổng và cũng sẽ đi ra theo đường ấy.
Khi dân chúng trong xứ đến chầu trước mặt Đức Giê-hô-va trong các kỳ lễ hội, nếu ai đi vào bởi đường cổng phía bắc để thờ phượng thì sẽ đi ra bởi đường cổng phía nam; còn ai đi vào bởi đường cổng phía nam thì sẽ đi ra bởi đường cổng phía bắc. Không ai được trở ra bởi đường cổng mà mình đã vào, nhưng phải đi ra thẳng trước mặt mình.
Vua sẽ đi vào cùng một lúc với dân chúng và khi dân chúng đi ra thì vua cũng đi ra.
Trong các lễ hội và các ngày lễ trọng thể, tế lễ chay sẽ là một ê-pha bột dâng với con bò đực, một ê-pha bột dâng với một con chiên đực. Còn về các chiên con thì vua muốn dâng bao nhiêu tùy sức, cứ một ê-pha bột kèm theo một hin dầu.
Khi vua dâng cho Đức Giê-hô-va một tế lễ tình nguyện, bất luận tế lễ thiêu hay tế lễ bình an, thì người ta sẽ mở cổng phía đông cho vua. Vua sẽ dâng tế lễ thiêu hay tế lễ bình an như vua đã dâng tế lễ ấy trong ngày sa-bát. Sau đó, vua đi ra, và khi đã đi ra rồi thì cổng phải được đóng lại.”
“Mỗi ngày, vua phải dâng cho Đức Giê-hô-va một con chiên con một tuổi không tì vết vào mỗi buổi sáng.
Mỗi buổi sáng, vua phải dâng chiên con ấy với một phần sáu ê-pha bột, kèm theo một phần ba hin dầu để hòa với bột. Tế lễ chay dâng cho Đức Giê-hô-va hằng ngày là luật lệ đời đời.
Tất cả những buổi sáng, người ta sẽ dâng chiên con, tế lễ chay và dầu làm tế lễ thiêu hằng ngày.”
Chúa Giê-hô-va phán: “Khi vua lấy vật gì từ trong tài sản vua mà ban cho một trong các con trai mình thì vật ấy sẽ thuộc các con trai vua. Đó là tài sản của chúng do quyền thừa kế.
Nhưng nếu vua lấy vật gì trong tài sản vua mà ban cho một trong các đầy tớ mình thì vật ấy sẽ thuộc về người đầy tớ cho đến năm phóng thích; sau đó vật ấy sẽ trở về với vua. Tài sản của vua thì phải thuộc về các con trai của vua.
Vua không được lấy bất cứ vật gì thuộc về tài sản của dân chúng và đuổi họ khỏi cơ nghiệp của họ. Vua sẽ lấy của riêng mình mà ban cho các con trai mình làm tài sản để không một ai trong dân Ta bị mất tài sản của mình.”
Sau đó, người ấy dẫn tôi qua cửa kề bên cổng và dắt tôi vào các phòng thánh của các thầy tế lễ hướng về phía bắc, và nầy, tại đó có một chỗ nơi tận cùng về phía tây.
Người ấy nói với tôi: “Đó là nơi các thầy tế lễ nấu những tế lễ chuộc tội và chuộc sự mắc lỗi, cùng hấp những tế lễ chay để không đem ra sân ngoài và làm cho dân chúng nên thánh chăng.
Rồi người ấy đem tôi ra sân ngoài và dẫn tôi đến bốn góc sân; nầy, mỗi góc sân có một cái sân nhỏ.
Nơi bốn góc sân có những sân nhỏ bao quanh dài hai mươi mét và rộng mười lăm mét; tất cả bốn sân ở bốn góc đều có kích thước bằng nhau.
Có một bức tường bao lấy bốn cái sân ấy và chung quanh dưới chân tường có những bếp lửa.”
Người ấy bảo tôi rằng: “Đây là những nhà bếp, là nơi những người phục vụ trong đền thờ nấu thịt các sinh tế của dân chúng.”
Kế đó, người ấy dẫn tôi về đến cửa đền thờ và nầy, dòng nước chảy ra từ dưới ngưỡng cửa của đền thờ về phía đông (vì đền thờ xây về hướng đông). Dòng nước ấy từ bên phải đền thờ chảy xuống phía nam của bàn thờ.
Người ấy đem tôi ra bằng con đường của cổng phía bắc và dẫn tôi đi vòng quanh phía bên ngoài cho đến cổng ngoài hướng về phía đông và nước từ phía nam chảy về.
Tiến về phía đông, tay cầm một cái dây đo, người ấy đo được năm trăm mét, và dẫn tôi lội qua nước; nước vừa đến mắt cá.
Người ấy lại đo năm trăm mét và dẫn tôi đi qua nước; nước vừa đến đầu gối. Người ấy lại đo năm trăm mét nữa và dẫn tôi đi qua nước; nước lên đến ngang hông.
Người ấy lại đo năm trăm mét nữa; bấy giờ là một con sông mà tôi không thể đi qua được vì nước đã lên cao, mà phải bơi qua; đó là một con sông mà người ta không thể đi qua được.
Bấy giờ, người ấy bảo tôi: “Hỡi con người, ngươi có thấy không?” Rồi người ấy đem tôi trở lại nơi bờ sông.
Khi đến đó rồi, nầy, hai bên bờ sông có rất nhiều cây.
Người ấy bảo tôi: “Dòng nước nầy chảy thẳng đến phương đông xuống nơi đồng bằng và chảy về biển, và khi đã chảy về biển thì nước biển trở nên ngọt.
Bất cứ nơi nào mà sông ấy chảy đến thì mọi sinh vật, tức là sinh vật sống động trong nước, đều sẽ được sống và ở đó sẽ có rất nhiều loài cá. Nước ấy chảy đến đâu thì nước biển trở nên ngọt, và nơi nào sông ấy chảy đến thì mọi vật sẽ sống ở đó.
Những người đánh cá sẽ đứng trên bờ sông ấy; từ Ên Ghê-đi cho đến Ên Ê-la-im sẽ là nơi để giăng lưới. Ở đó, có nhiều loại cá, giống như cá ở Biển Lớn vậy.
Nhưng các đầm lầy của nó sẽ không trở nên ngọt mà dùng làm ruộng muối.
Trên bờ sông ấy, bên nầy và bên kia, sẽ sinh đủ loại cây ăn trái, lá chúng không hề héo và trái chúng không hề dứt. Mỗi tháng, chúng sẽ sinh ra trái mới, vì nước chảy ra từ nơi thánh tưới cho chúng. Trái nó dùng để ăn, lá nó dùng để làm thuốc.”
Chúa Giê-hô-va phán: “Nầy là ranh giới của vùng đất mà các ngươi sẽ chia cho mười hai bộ tộc Y-sơ-ra-ên làm sản nghiệp. Giô-sép sẽ được hai phần.
Các ngươi sẽ chia nhau làm sản nghiệp vì Ta đã thề sẽ ban đất nầy cho tổ phụ các ngươi, và các ngươi sẽ được đất ấy làm sản nghiệp.
Đây là ranh giới của đất: Về phía bắc, từ Biển Lớn theo con đường Hết-lôn cho đến đường dẫn đến Xê-đát,
Ha-mát, Bê-rốt và Síp-ra-im, (biên giới giữa Đa-mách và Ha-mát), Hát-se Hát-thi-côn, tức trên biên giới của Ha-vơ-ran.
Biên giới nầy chạy dài từ biển đến Hát-sa-ê-nôn đến biên giới phía bắc của Đa-mách, và đến biên giới Ha-mát phía bắc.
Phía đông chạy dài giữa Ha-vơ-ran, Đa-mách, Ga-la-át và đất Y-sơ-ra-ên, dọc theo sông Giô-đanh. Các ngươi hãy đo phần đất từ biên giới phía bắc cho đến biển phía đông. Đó là biên giới phía đông.
Phía nam chạy từ Tha-ma cho đến sông Mê-ri-ba tại Ca-đe, đến tận khe Ai Cập cho đến Biển Lớn. Đó là biên giới phía nam.
Phía tây sẽ là Biển Lớn, từ biên giới phía nam cho đến lối vào Ha-mát. Đây là biên giới phía tây.
Các ngươi phải chia đất nầy cho nhau theo từng bộ tộc Y-sơ-ra-ên.
Các ngươi phải bắt thăm để chia sản nghiệp cho chính các ngươi và cho những người ngoại cư ngụ giữa các ngươi và sinh con cái giữa các ngươi. Các ngươi sẽ coi họ như những người dân sinh trưởng tại Y-sơ-ra-ên; họ cũng được phân chia sản nghiệp giữa các bộ tộc Y-sơ-ra-ên.
Người ngoại cư ngụ trong bộ tộc nào thì các ngươi sẽ lấy sản nghiệp ở đó mà cấp cho họ,” Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Đây là tên các bộ tộc: Phần đất từ phía cực bắc chạy dài từ Hết-lôn cho đến đường vào Ha-mát, đến tận Hát-sa-ê-nôn (là biên giới của Đa-mách với Ha-mát), trải dài từ phía đông sang phía tây, là phần đất thuộc về Đan.
Tiếp giáp với địa phận Đan, từ phía đông đến phía tây, sẽ là phần đất của A-se.
Tiếp giáp với địa phận A-se, từ phía đông đến phía tây, sẽ là phần đất của Nép-ta-li.
Tiếp giáp với địa phận Nép-ta-li, từ phía đông đến phía tây, sẽ là phần đất của Ma-na-se.
Tiếp giáp với địa phận của Ma-na-se từ phía đông đến phía tây, sẽ là phần đất của Ép-ra-im.
Tiếp giáp với địa phận của Ép-ra-im, từ phía đông đến phía tây, sẽ là phần đất của Ru-bên.
Tiếp giáp với địa phận của Ru-bên, từ phía đông đến phía tây, sẽ là phần đất của Giu-đa.
Tiếp giáp với địa phận của Giu-đa, từ phía đông đến phía tây, sẽ là phần đất mà các ngươi sẽ biệt riêng. Phần đất ấy sẽ là mười hai nghìn năm trăm mét chiều ngang và chiều dài từ đông sang tây bằng một phần của các bộ tộc. Nơi thánh sẽ ở giữa phần đất ấy.
Phần đất mà các ngươi sẽ dâng cho Đức Giê-hô-va có chiều dài mười hai nghìn năm trăm mét và chiều ngang năm nghìn mét.
Phần đất thánh sẽ dành cho các thầy tế lễ, có mười hai nghìn năm trăm mét chiều dài, về phía bắc, năm nghìn mét chiều ngang về phía tây, năm nghìn mét về phía đông, và mười hai nghìn năm trăm mét chiều dài về phía nam. Nơi thánh của Đức Giê-hô-va sẽ ở chính giữa.
Phần đất ấy sẽ dành cho các thầy tế lễ đã được biệt ra thánh, tức là cho các con trai của Xa-đốc là những người phục vụ trong nơi thánh Ta; họ không lầm lạc như người Lê-vi trong lúc con cái Y-sơ-ra-ên lầm lạc.
Họ sẽ có một phần đặc biệt lấy ra từ phần đất thánh, là phần rất thánh tiếp giáp với địa phận người Lê-vi.
Người Lê-vi sẽ bắt thăm phần dọc theo địa phận của thầy tế lễ, gồm mười hai nghìn năm trăm mét chiều dài, và năm nghìn mét chiều ngang. Tổng cộng chiều dài là mười hai nghìn năm trăm mét, và chiều ngang là năm nghìn mét.
Phần đất ấy họ sẽ không được bán, không được đổi, không được nhượng trái đầu mùa của đất ấy cho người khác vì nó đã biệt ra thánh cho Đức Giê-hô-va.
Phần còn lại, hai nghìn năm trăm mét chiều ngang, mười hai nghìn năm trăm mét chiều dài, làm đất sử dụng chung cho thành phố, để làm nhà ở và làm đồng cỏ. Thành phố sẽ ở chính giữa.
Kích thước của nó như sau: Phía bắc hai nghìn hai trăm năm mươi mét; phía nam hai nghìn hai trăm năm mươi mét, phía đông hai nghìn hai trăm năm mươi mét, phía tây hai nghìn hai trăm năm mươi mét.
Đồng cỏ của thành phố, về phía bắc sẽ có một trăm hai mươi lăm mét; phía nam có một trăm hai mươi lăm mét; phía đông một trăm hai mươi lăm mét; và phía tây một trăm hai mươi lăm mét.
Về vùng đất còn lại dọc theo phần đất thánh, sẽ là năm nghìn mét phía đông và năm nghìn mét phía tây, tức là bề dài của phần đất thánh ấy, sẽ làm nơi cung cấp hoa lợi dùng làm thực phẩm cho những người làm việc trong thành.
Những người làm việc trong thành gồm tất cả các bộ tộc Y-sơ-ra-ên sẽ cày cấy phần đất ấy.
Tổng diện tích của phần đất biệt riêng gồm mười hai nghìn năm trăm mét chiều dài, mười hai nghìn năm trăm mét chiều ngang; các ngươi phải dâng phần đất thánh ấy làm tài sản thành phố.
Phần đất còn lại ở hai bên đất thánh và địa phận thành phố sẽ thuộc về vua. Nó trải dài về phía đông từ mười hai nghìn năm trăm mét của phần đất thánh cho đến biên giới phía đông, và về phía tây, từ mười hai nghìn năm trăm mét cho đến biên giới phía tây, dọc theo các phần đất của các bộ tộc. Nó sẽ thuộc về vua; còn phần đất thánh cùng với nơi thánh của đền thờ sẽ ở chính giữa.
Như vậy, trừ phần sản nghiệp của người Lê-vi và địa phận thành phố thì phần của vua sẽ ở giữa địa phận Giu-đa và địa phận Bên-gia-min.
Về phần các bộ tộc còn lại: Từ đông sang tây, là phần đất dành cho Bên-gia-min.
Tiếp giáp với địa phận Bên-gia-min, từ đông sang tây, là phần dành cho Si-mê-ôn.
Tiếp giáp với địa phận Si-mê-ôn, từ đông sang tây, là phần đất dành cho Y-sa-ca;
Tiếp giáp với địa phận Y-sa-ca, từ đông sang tây, là phần đất dành cho Sa-bu-lôn.
Tiếp giáp với địa phận Sa-bu-lôn, từ đông sang tây, là phần đất dành cho Gát.
Và biên giới phía nam Gát sẽ chạy dài từ phía nam, từ Tha-ma đến sông Mê-ri-ba ở Ca-đe, đến Suối Ai Cập cho đến Biển Lớn.
Đây là đất mà các ngươi sẽ bắt thăm để chia cho các bộ tộc Y-sơ-ra-ên làm sản nghiệp và là phần của họ, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Đây là những lối ra của thành phố: Về phía bắc, đo được hai nghìn hai trăm năm mươi mét.
Những cổng thành sẽ đặt tên theo tên các bộ tộc Y-sơ-ra-ên. Phía bắc ba cổng: cổng Ru-bên, cổng Giu-đa, và cổng Lê-vi.
Phía đông đo được hai nghìn hai trăm năm mươi mét, và có ba cổng: cổng Giô-sép, cổng Bên-gia-min, và cổng Đan.
Phía nam đo được hai nghìn hai trăm năm mươi mét, và có ba cổng: cổng Si-mê-ôn, cổng Y-sa-ca, và cổng Sa-bu-lôn.
Phía tây đo được hai nghìn hai trăm năm mươi mét, và có ba cổng: cổng Gát, cổng A-sa, và cổng Nép-ta-li.
Chu vi thành sẽ có chín nghìn mét, và từ nay về sau, tên của thành sẽ là: “Đức Giê-hô-va ngự tại đó!”
Vào năm thứ ba triều vua Giê-hô-gia-kim của Giu-đa, vua Ba-by-lôn là Nê-bu-cát-nết-sa đến bao vây thành Giê-ru-sa-lem.
Chúa phó Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, và một số vật dụng trong nhà Đức Chúa Trời vào tay vua Nê-bu-cát-nết-sa. Vua nầy đem các vật dụng đó vào đền các thần mình tại xứ Si-nê-a, và để trong kho của các thần ấy.
Vua ra lệnh cho Át-bê-na, quan đứng đầu các hoạn quan, đem đến một số con cái Y-sơ-ra-ên thuộc dòng dõi hoàng tộc và quý tộc.
Những thanh niên nầy phải là những người không khuyết tật, mặt mày khôi ngô, khôn ngoan trên nhiều phương diện, có kiến thức rộng và sáng suốt, đủ khả năng phục vụ trong cung vua. Át-bê-na cũng phải dạy cho họ văn chương và ngôn ngữ của người Canh-đê.
Vua định phần ăn mỗi ngày cho họ, từ phần thức ngon vua ăn và rượu vua uống. Sau ba năm nuôi dạy như thế, họ sẽ đứng chầu trước mặt vua.
Trong số các thanh niên ấy có Đa-ni-ên, Ha-na-nia, Mi-sa-ên và A-xa-ria là những người thuộc bộ tộc Giu-đa.
Quan đứng đầu các hoạn quan đặt tên mới cho họ: Đa-ni-ên là Bên-tơ-xát-sa; Ha-na-nia là Sa-đơ-rắc; Mi-sa-ên là Mê-sác và A-xa-ria là A-bết-nê-gô.
Nhưng Đa-ni-ên quyết định trong lòng không để cho mình ô uế bởi thức ngon vua ăn và rượu vua uống, nên xin quan đứng đầu các hoạn quan đừng bắt mình phải tự làm ô uế.
Đức Chúa Trời khiến viên quan đứng đầu các hoạn quan yêu thương và cảm thông với Đa-ni-ên.
Tuy nhiên, viên quan nầy nói với Đa-ni-ên: “Ta sợ vua là chủ ta, người đã chỉ định phần ăn thức uống cho các ngươi. Nếu nhà vua thấy mặt mày các ngươi tiều tụy hơn các thanh niên cùng tuổi, thì chẳng phải các ngươi đã nộp đầu ta cho nhà vua đó sao?”
Đa-ni-ên nói với Ham-mên-xa là người được quan đứng đầu các hoạn quan giao nhiệm vụ trông coi Đa-ni-ên, Ha-na-nia, Mi-sa-ên và A-xa-ria rằng:
“Xin ông thử các đầy tớ ông trong mười ngày; chỉ cho chúng tôi ăn rau uống nước thôi.
Sau đó, ông cứ so sánh sắc diện của chúng tôi với sắc diện của các thanh niên dùng thức ăn của vua; rồi ông hãy xử các đầy tớ ông theo điều ông thấy.”
Ham-mên-xa chấp nhận lời đề nghị đó và thử họ trong mười ngày.
Sau mười ngày, sắc diện họ trông hồng hào, đầy đặn hơn tất cả các thanh niên dùng thức ăn của vua.
Vì thế, Ham-mên-xa rút lại phần thức ăn ngon và rượu của họ, chỉ cho họ ăn rau mà thôi.
Đức Chúa Trời ban cho bốn thanh niên nầy tri thức và khả năng hiểu biết mọi thứ văn chương cùng sự khôn ngoan. Riêng Đa-ni-ên còn thấu hiểu tất cả các khải tượng và chiêm bao.
Đến thời kỳ vua ấn định phải trình diện họ, người đứng đầu các hoạn quan đưa họ đến trước mặt Nê-bu-cát-nết-sa.
Vua nói chuyện với họ và thấy trong cả nhóm không có ai bằng Đa-ni-ên, Ha-na-nia, Mi-sa-ên và A-xa-ria. Vì vậy, họ được đứng chầu trước mặt vua.
Khi vua hỏi họ những câu hỏi về mọi sự khôn ngoan sáng suốt thì thấy họ giỏi gấp mười lần những thuật sĩ và pháp sư trong toàn vương quốc mình.
Vậy nên, Đa-ni-ên cứ ở đó cho đến năm thứ nhất triều vua Si-ru.
Năm thứ hai triều vua Nê-bu-cát-nết-sa, vua thấy chiêm bao khiến tâm trí vua bối rối, không ngủ được.
Vua cho triệu tập các thuật sĩ, pháp sư, phù thủy và người Canh-đê để cắt nghĩa giấc chiêm bao cho vua. Họ vào chầu trước mặt vua.
Vua nói với họ: “Trẫm đã thấy một giấc chiêm bao và tâm trí trẫm bối rối vì muốn biết ý nghĩa giấc chiêm bao đó.”
Những người Canh-đê tâu với vua bằng tiếng A-ram rằng: “Bệ hạ vạn tuế! Xin bệ hạ thuật lại giấc chiêm bao cho các đầy tớ bệ hạ, và chúng tôi sẽ đưa ra lời giải nghĩa.”
Vua trả lời với những người Canh-đê: “Đây là điều trẫm đã quyết định: Nếu các ngươi không nói cho trẫm biết nội dung và lời giải thích giấc chiêm bao đó thì các ngươi sẽ bị xé ra từng mảnh, nhà các ngươi sẽ thành đống phân.
Nhưng nếu các ngươi nói cho trẫm rõ giấc chiêm bao và lời giải thích thì trẫm sẽ ban cho các ngươi quà tặng, phần thưởng và quyền cao chức trọng. Vậy hãy nói cho trẫm giấc chiêm bao đó và lời giải nghĩa đi.”
Họ tâu lần thứ hai: “Xin bệ hạ thuật lại giấc chiêm bao cho các đầy tớ bệ hạ, và chúng tôi sẽ đưa ra lời giải nghĩa.”
Vua đáp: “Trẫm biết các ngươi đang tìm cách kéo dài thời gian vì các ngươi biết điều trẫm đã quyết định:
Nếu các ngươi không nói cho trẫm biết giấc chiêm bao thì chỉ có một án lệnh dành cho các ngươi thôi. Các ngươi âm mưu với nhau đem những lời giả dối bậy bạ nói với trẫm cho đến khi mọi việc thay đổi. Vậy, hãy nói cho trẫm giấc chiêm bao và trẫm sẽ biết rằng các ngươi có thể giải nghĩa được.”
Những người Canh-đê tâu với vua: “Không một người nào trên thế gian nầy có thể đáp ứng yêu cầu của bệ hạ được, vì chẳng có vua nào, dù có uy quyền vĩ đại đến đâu đi nữa, lại đem việc như thế hỏi thuật sĩ, pháp sư hay người Canh-đê bao giờ.
Việc bệ hạ đòi hỏi thật là khó khăn, không ai có thể tỏ cho bệ hạ được ngoại trừ các thần không ở chung với loài xác thịt.”
Nghe vậy, vua nổi trận lôi đình và ra lệnh giết hết các nhà thông thái của Ba-by-lôn.
Thế là lệnh giết các nhà thông thái được ban ra; người ta tìm Đa-ni-ên và các bạn của ông để giết.
Bấy giờ, Đa-ni-ên cẩn thận dùng lời khôn khéo nói với A-ri-ốc, quan chỉ huy vệ quân của vua, đang trên đường đi giết các nhà thông thái của Ba-by-lôn.
Đa-ni-ên hỏi A-ri-ốc, quan chỉ huy vệ quân của vua: “Tại sao vua lại ra lệnh khẩn cấp như vậy?” A-ri-ốc nói cho Đa-ni-ên biết rõ vấn đề.
Đa-ni-ên lập tức vào xin vua cho thêm thời gian để giải thích giấc chiêm bao đó cho vua.
Rồi Đa-ni-ên trở về nhà và nói rõ mọi việc cho các bạn mình là Ha-na-nia, Mi-sa-ên và A-xa-ria,
và bảo họ cầu xin ơn thương xót của Đức Chúa Trời ở trên trời về điều bí nhiệm nầy, để Đa-ni-ên và các bạn không bị tiêu diệt chung với những nhà thông thái khác của Ba-by-lôn.
Đêm ấy, điều bí nhiệm được bày tỏ cho Đa-ni-ên trong một khải tượng. Đa-ni-ên ca ngợi Đức Chúa Trời trên trời.
Đa-ni-ên nói: “Tôn ngợi danh Đức Chúa Trời đời đời vô cùng! Vì mọi sự khôn ngoan và quyền năng đều thuộc về Ngài.
Chính Ngài thay đổi thì giờ và mùa, Phế lập các vua; Ngài ban khôn ngoan cho người khôn ngoan Và hiểu biết cho người hiểu biết.
Chính Ngài bày tỏ những việc sâu xa bí ẩn; Ngài biết những gì xảy ra trong bóng tối Và ánh sáng ở với Ngài.
Lạy Đức Chúa Trời của tổ phụ con, Con cảm tạ và tôn ngợi Ngài, Vì Ngài đã ban sự khôn ngoan và năng lực cho con, Bây giờ, Ngài tỏ cho con biết điều chúng con cầu hỏi Ngài, Vì Ngài tỏ cho chúng con biết vấn nạn của vua.”
Vậy, Đa-ni-ên đến nhà A-ri-ốc, là người vua đã giao việc tiêu diệt các nhà thông thái Ba-by-lôn, và nói: “Đừng diệt các nhà thông thái Ba-by-lôn; xin đưa tôi vào trước mặt vua thì tôi sẽ giải nghĩa điềm chiêm bao cho vua.”
A-ri-ốc lập tức đưa Đa-ni-ên vào chầu vua và tâu với vua: “Hạ thần đã tìm được một người trong những người lưu đày từ Giu-đa có thể giải thích giấc chiêm bao của bệ hạ.”
Vua hỏi Đa-ni-ên, cũng gọi là Bên-tơ-xát-sa, “Ngươi có thể tỏ cho trẫm biết giấc chiêm bao trẫm đã thấy cùng với lời giải thích được không?”
Đa-ni-ên trả lời: “Không có một nhà thông thái, một pháp sư, thuật sĩ hay chiêm tinh nào có thể tỏ cho vua điều bí nhiệm mà vua đã hỏi cả.
Nhưng Đức Chúa Trời ở trên trời là Đấng bày tỏ những điều bí nhiệm, sẽ cho vua Nê-bu-cát-nết-sa biết những gì sẽ xảy đến trong những ngày cuối cùng. Đây là giấc chiêm bao và các khải tượng đến trong tâm trí của vua khi vua nằm trên giường:
Tâu đức vua, khi vua nằm trên giường suy nghĩ về việc sắp xảy đến thì Đấng bày tỏ điều bí nhiệm đã cho vua biết việc phải xảy đến.
Về phần tôi, không phải tôi khôn ngoan hơn người khác, nhưng điều bí nhiệm đã tỏ ra cho tôi để tôi giải thích lại cho vua hiểu, nhờ đó vua biết những ý tưởng trong lòng mình.
Tâu đức vua, nầy, vua đã thấy một pho tượng lớn. Pho tượng đó to lớn và vô cùng rực rỡ, đứng sừng sững trước mặt vua, hình thù rất dễ sợ.
Đầu pho tượng nầy bằng vàng ròng; ngực và hai cánh tay bằng bạc; bụng và đùi bằng đồng;
ống chân bằng sắt và bàn chân thì một phần bằng sắt một phần bằng đất sét.
Khi vua đang mải nhìn pho tượng thì có một hòn đá chẳng phải bởi bàn tay loài người đục ra, đập vào bàn chân bằng sắt và đất sét của pho tượng, khiến chúng vỡ tan tành.
Bấy giờ sắt, đất sét, đồng, bạc và vàng đều cùng vỡ vụn, giống như trấu trên sân đập lúa mùa hạ, và bị gió cuốn đi không để lại một dấu vết nào cả. Nhưng hòn đã đập vào pho tượng thì trở thành một hòn núi lớn, chiếm cả mặt đất.
Đó là giấc chiêm bao. Bây giờ, chúng tôi xin giải thích cho vua ý nghĩa của nó.
Tâu đức vua, ngài là vua của các vua; Đức Chúa Trời trên trời đã ban cho vua vương quốc, quyền uy, sức mạnh và vinh quang.
Ngài đã trao vào tay vua con cái loài người, thú đồng và chim trời; dù chúng ở nơi nào Ngài cũng giao cho vua cai trị tất cả. Vậy, vua là cái đầu bằng vàng.
Nhưng sau vua, sẽ xuất hiện một vương quốc khác, kém hơn vương quốc của vua; rồi một vương quốc thứ ba, là vương quốc bằng đồng, sẽ thống trị khắp đất.
Lại có một vương quốc thứ tư, mạnh như sắt, vì sắt đập nát và phá tan tành mọi vật; và như sắt đập nát và phá tan tành mọi vật thể nào, thì vương quốc ấy cũng đập nát và phá tan tành các nước khác thể ấy.
Như vua đã thấy, bàn chân và ngón chân, một phần bằng đất sét một phần bằng sắt, đó là một vương quốc bị phân chia, nhưng trong vương quốc đó sẽ có một phần sức mạnh của sắt, như vua đã thấy sắt trộn với đất sét.
Những ngón chân một phần bằng sắt một phần đất sét nên vương quốc đó vừa mạnh vừa giòn.
Như vua đã thấy sắt trộn với đất sét, các dân tộc trong vương quốc cũng pha trộn nhau nhưng không kết hợp nhau được, như sắt không thể pha trộn với đất sét được.
Trong đời các vua nầy, Đức Chúa Trời trên trời sẽ lập một vương quốc không bao giờ bị tiêu diệt, chủ quyền của vương quốc đó sẽ không bao giờ rơi vào tay một dân tộc khác. Vương quốc đó sẽ đập tan và tiêu diệt tất cả các vương quốc khác, còn chính nó sẽ tồn tại đời đời.
Như vua đã thấy, hòn đá đục ra từ núi không phải bởi bàn tay loài người, đã đập vỡ sắt, đồng, đất sét, bạc và vàng. Đức Chúa Trời cao cả đã cho vua biết việc gì sẽ đến. Giấc chiêm bao nầy là thật và lời giải thích trên là chắc chắn.”
Bấy giờ, vua Nê-bu-cát-nết-sa sấp mặt xuống lạy Đa-ni-ên rồi truyền đem lễ vật và trầm hương dâng cho ông.
Vua nói với Đa-ni-ên, “Thật, Đức Chúa Trời của các ngươi là Đức Chúa Trời của các thần, là Chúa của các vua, là Đấng mặc khải những điều bí nhiệm, nhờ Ngài mà ngươi có thể bày tỏ những điều bí nhiệm nầy.”
Vua đặt Đa-ni-ên vào địa vị cao trọng và ban cho ông tặng phẩm quý giá. Vua lập ông cai trị toàn tỉnh Ba-by-lôn và đứng đầu các thủ lĩnh của các nhà thông thái Ba-by-lôn.
Theo lời thỉnh cầu của Đa-ni-ên, vua bổ nhiệm Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-nê-gô cùng cai quản tỉnh Ba-by-lôn; còn Đa-ni-ên thì túc trực trong cung vua.
Vua Nê-bu-cát-nết-sa làm một pho tượng bằng vàng cao hai mươi bảy mét, ngang hai mét bảy và dựng trong đồng bằng Đu-ca, thuộc tỉnh Ba-by-lôn.
Vua Nê-bu-cát-nết-sa cho triệu tập các thống đốc, thủ lĩnh, tổng trấn, các quan tham mưu, thủ kho, các luật gia, các quan tòa, và các quan chức cấp tỉnh đến dự lễ khánh thành pho tượng mà vua Nê-bu-cát-nết-sa dựng lên.
Vậy các thống đốc, thủ lĩnh, tổng trấn, các quan tham mưu, thủ kho, các luật gia, các quan tòa, và các quan chức cấp tỉnh đều tập trung lại để dự lễ khánh thành pho tượng mà vua Nê-bu-cát-nết-sa đã dựng lên. Khi họ đã đứng trước pho tượng mà vua Nê-bu-cát-nết-sa đã dựng,
thì quan nghi lễ lớn tiếng tuyên bố: “Đây là lệnh cho tất cả các dân tộc, các quốc gia, các ngôn ngữ:
Khi các ngươi nghe tiếng tù và, tiếng sáo, tiếng đàn lia, đàn sắt, đàn hạc, trống và toàn bộ các nhạc khí trỗi lên thì mau sấp mình xuống thờ lạy tượng vàng mà vua Nê-bu-cát-nết-sa đã dựng.
Ai không sấp mình xuống thờ lạy thì lập tức bị ném vào giữa lò lửa hực.”
Vì thế, ngay khi nghe tiếng tù và, tiếng sáo, tiếng đàn lia, đàn sắt, đàn hạc, trống và toàn bộ các nhạc khí trỗi lên thì mọi dân tộc, quốc gia, các ngôn ngữ đều sấp mình xuống thờ lạy pho tượng vàng mà vua Nê-bu-cát-nết-sa đã dựng.
Bấy giờ, có một số người Canh-đê đến tố cáo những người Giu-đa.
Họ tâu với vua Nê-bu-cát-nết-sa rằng: “Bệ hạ vạn tuế!
Chính bệ hạ đã truyền lệnh rằng mọi người khi nghe tiếng tù và, tiếng sáo, tiếng đàn lia, đàn sắt, đàn hạc, trống và toàn bộ các nhạc khí trỗi lên, thì phải sấp mình xuống thờ lạy tượng vàng;
kẻ nào không sấp mình xuống thờ lạy pho tượng đó sẽ bị ném vào giữa lò lửa hực.
Thế mà ở đây có mấy người Do Thái, những người mà bệ hạ đã lập lên cai trị tỉnh Ba-by-lôn, là Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-nê-gô, đã không kiêng nể bệ hạ. Tâu bệ hạ, những người ấy không phục vụ các thần của bệ hạ cũng chẳng thờ lạy tượng vàng bệ hạ đã dựng.”
Bấy giờ, vua Nê-bu-cát-nết-sa giận dữ truyền lệnh đem Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-nê-gô đến. Ba người đó bị đưa đến trước mặt vua.
Vua Nê-bu-cát-nết-sa nói với họ: “Nầy, Sa-đơ-rắc, Mê-sác, A-bết-nê-gô, có phải các ngươi cố tình không phục vụ các thần của trẫm và không thờ lạy tượng vàng mà trẫm đã dựng lên không?
Bây giờ, khi nghe tiếng tù và, tiếng sáo, tiếng đàn lia, đàn sắt, đàn hạc, trống và toàn bộ các nhạc khí trỗi lên mà các ngươi sẵn sàng sấp mình xuống quỳ lạy pho tượng trẫm đã làm nên thì tốt; nhưng nếu các ngươi không quỳ lạy thì lập tức các ngươi sẽ bị ném vào lò lửa hực, thử xem thần nào có thể giải cứu các ngươi khỏi tay trẫm?”
Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-nê-gô thưa với vua: “Tâu vua Nê-bu-cát-nết-sa, chúng tôi không cần trình lại với vua vấn đề nầy.
Nếu chúng tôi bị ném vào lò lửa, thì thưa đức vua, Đức Chúa Trời mà chúng tôi thờ phượng có thể cứu chúng tôi thoát khỏi lò lửa hực và khỏi tay vua.
Còn nếu Ngài không cứu, thì xin đức vua biết cho rằng chúng tôi cũng không phục vụ các thần của vua và không thờ lạy pho tượng vàng mà vua đã dựng.”
Bấy giờ, vua Nê-bu-cát-nết-sa giận tái mặt, nhìn Sa-đơ-rắc, Mê-sác, A-bết-nê-gô và truyền lệnh đốt lò lửa nóng gấp bảy lần lúc bình thường.
Vua sai các binh sĩ lực lưỡng nhất trong quân đội trói Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-nê-gô mà ném vào lò lửa hực.
Ba người ấy liền bị trói với nguyên quần trong, áo dài, áo ngắn cùng các triều phục khác và bị ném vào giữa lò lửa hực.
Vì lệnh vua quá nghiêm, lò lửa lại vô cùng nóng nên các binh sĩ ném Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-nê-gô bị ngọn lửa thiêu rụi.
Còn ba người là Sa-đơ-rắc, Mê-sác, A-bết-nê-gô vẫn bị trói mà rơi vào giữa lò lửa hực.
Bấy giờ, vua Nê-bu-cát-nết-sa kinh ngạc, đứng phắt dậy, hỏi các quan tham mưu: “Có phải chúng ta đã ném vào lò lửa ba người không?” Họ trả lời: “Tâu bệ hạ, đúng vậy.”
Vua lại nói: “Kìa, trẫm thấy có bốn người không bị trói bước đi giữa lửa mà chẳng hề hấn gì cả; và dáng vẻ của người thứ tư giống như con trai của các thần.”
Rồi vua Nê-bu-cát-nết-sa đến gần cửa lò lửa hực và kêu lớn tiếng: “Hỡi Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-nê-gô là đầy tớ của Đức Chúa Trời Chí Cao, hãy bước ra và lại đây!” Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-nê-gô liền bước ra khỏi lò lửa.
Các thống đốc, thủ lĩnh, tổng trấn, và các quan tham mưu của vua đều xúm lại và thấy lửa không có quyền tác hại trên thân thể ba người ấy; cũng chẳng có một sợi tóc nào trên đầu họ bị sém, quần áo họ không bị nám, ngay cả mùi lửa cũng không dính vào họ.
Vua Nê-bu-cát-nết-sa lại nói: “Tôn ngợi Đức Chúa Trời của Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-nê-gô, Đấng đã sai thiên sứ Ngài đến và giải cứu các đầy tớ Ngài. Họ biết nhờ cậy Ngài, dám trái mạng vua và liều bỏ thân thể mình để không phục vụ và thờ phượng thần nào khác ngoài Đức Chúa Trời mình.
Vì vậy, ta ban chiếu chỉ nầy: Bất kỳ dân tộc nào, quốc gia nào, ngôn ngữ nào có người xúc phạm đến Đức Chúa Trời của Sa-đơ-rắc, Mê-sác, A-bết-nê-gô thì sẽ bị xé ra từng mảnh, và nhà nó sẽ trở thành đống phân; vì không có thần nào khác có thể giải cứu được như thế.”
Vua thăng chức cho Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-nê-gô trong tỉnh Ba-by-lôn.
Vua Nê-bu-cát-nết-sa gửi cho tất cả các dân tộc, các quốc gia, các ngôn ngữ trên khắp đất: “Chúc các ngươi được bình an gấp bội!
Ta rất vui được chia sẻ cho các ngươi những dấu lạ phép mầu mà Đức Chúa Trời Chí Cao đã làm cho ta.
Ôi! Những dấu lạ của Ngài thật lớn lao, Những phép mầu của Ngài phi thường làm sao! Vương quốc của Ngài là vương quốc trường tồn, Quyền uy của Ngài từ thế hệ nầy sang thế hệ khác.”
Ta, Nê-bu-cát-nết-sa, đang sống an nhàn trong cung điện ta, sung túc trong đền đài ta,
thì ta thấy một giấc chiêm bao khiến ta kinh hoàng. Những ý tưởng kỳ quặc trên giường và những hình ảnh trong đầu làm cho ta bối rối.
Vì vậy, ta ra chiếu chỉ triệu tập tất cả các nhà thông thái của Ba-by-lôn đến trước mặt ta để họ giải nghĩa giấc chiêm bao cho ta.
Các thuật sĩ, các pháp sư, người Canh-đê và thầy bói đều đến. Ta kể giấc chiêm bao cho họ nghe, nhưng họ không thể giải thích ý nghĩa cho ta.
Sau cùng có Đa-ni-ên, gọi là Bên-tơ-xát-sa theo tên vị thần của ta, vào chầu ta. Người có linh của Đức Chúa Trời thánh khiết ở với mình. Ta thuật chiêm bao ta cho người:
“Nầy, Bên-tơ-xát-sa, người đứng đầu các thuật sĩ, ta biết rằng linh của Đức Chúa Trời thánh khiết ở trong ngươi và không có một điều bí nhiệm nào là khó cho ngươi cả, vậy hãy nói cho ta những khải tượng mà ta đã thấy trong chiêm bao và ý nghĩa của nó.
Đây là những khải tượng hiện ra trong đầu ta khi ta nằm trên giường: Nầy, ta thấy một cây mọc giữa mặt đất; Một cây cao lớn lạ thường.
Cây đó lớn lên và vững mạnh; Ngọn cây chạm đến trời Và khắp đất đều trông thấy.
Lá đẹp, trái sai, Cung cấp đủ thức ăn cho mọi loài. Thú đồng núp dưới bóng nó; Chim trời đậu trên cành nó, Và mọi sinh vật đều nhờ nó nuôi sống.
Trong những hình ảnh hiện ra trong đầu ta đang lúc nằm trên giường, ta thấy có một đấng canh giữ, đấng thánh từ trên trời xuống.
Đấng ấy kêu lớn tiếng rằng: ‘Hãy đốn cây và chặt cành nó; Tuốt hết lá và rải trái nó khắp nơi; Hãy làm cho thú vật tránh xa tán nó Và chim chóc rời khỏi cành nó!
Nhưng hãy chừa lại gốc và rễ nó trong đất, Dùng xích sắt và đồng mà xiềng nó lại Giữa đám cỏ xanh trong đồng ruộng. Cho nó ướt đẫm sương trên trời Và chia phần cỏ dưới đất với thú đồng!
Hãy thay đổi tâm trí nó Từ tâm trí người ra tâm trí của thú vật, Và cứ để nó như vậy suốt bảy kỳ.
Án lệnh nầy được các đấng canh giữ truyền phán, Và quyết định nầy ra từ lời các đấng thánh, Để mọi sinh linh biết rằng Đấng Chí Cao cai trị vương quốc của loài người; Ngài muốn ban nó cho ai tùy ý Và có thể lập kẻ hèn mọn nhất lên cai trị.’
Đó là chiêm bao mà ta, vua Nê-bu-cát-nết-sa, đã thấy. Còn ngươi, Bên-tơ-xát-sa, hãy cho ta biết ý nghĩa, vì tất cả các nhà thông thái trong vương quốc ta không thể giải nghĩa cho ta được, nhưng ngươi có thể, vì linh của Đức Chúa Trời thánh khiết ngự trong ngươi.”
Bấy giờ, Đa-ni-ên, cũng gọi là Bên-tơ-xát-sa, bị câm trong giây lát. Các ý tưởng làm cho ông bối rối. Vua bảo: “Hỡi Bên-tơ-xát-sa, đừng để cho giấc chiêm bao và lời giải nghĩa làm rối ngươi.” Bên-tơ-xát-sa nói: “Thưa chúa, ước gì chiêm bao đến với những kẻ ghét ngài, và lời giải nghĩa dành cho kẻ thù ngài!
Cây mà vua đã thấy trở nên lớn và vững mạnh, ngọn cây chạm đến trời và khắp đất đều xem thấy,
lá thì đẹp và trái thì sai, cung cấp đủ thức ăn cho mọi loài; thú đồng núp dưới bóng nó, các loài chim trời làm tổ trên cành nó.
Tâu đức vua, đó chính là vua. Vua đã trở nên lớn mạnh và cường thịnh; sự cao cả của vua vươn cao tận trời, quyền thống trị của vua trải rộng đến tận cùng trái đất.
Kế đó, vua thấy một đấng canh giữ, là đấng thánh từ trời xuống và bảo: ‘Hãy đốn cây và hủy diệt nó đi, nhưng hãy chừa lại gốc của rễ nó trong đất, rồi dùng một dây xích sắt và đồng xiềng giữa đám cỏ xanh trong đồng ruộng, cho nó bị ướt đẫm bởi sương móc trên trời và chia phần với các thú đồng, cho đến khi bảy kỳ đã trải qua trên nó.’
Tâu đức vua, đây là lời giải và án lệnh của Đấng Chí Cao ban xuống cho vua là chúa tôi:
Vua sẽ bị đuổi khỏi loài người và sống chung với thú vật ngoài đồng. Vua sẽ bị buộc phải ăn cỏ như bò và sẽ ướt đẫm sương móc trên trời; bảy kỳ sẽ trải qua trên vua cho đến khi vua nhận biết rằng Đấng Chí Cao cai trị vương quốc loài người và Ngài muốn ban cho ai tùy ý.
Còn lệnh truyền phải chừa lại gốc của rễ cây đó có nghĩa là vương quốc của vua sẽ được hồi phục cho vua khi vua nhận biết Đấng cai trị các tầng trời.
Vì vậy, tâu đức vua, xin nghe lời khuyên của tôi, hãy từ bỏ tội lỗi bằng cách làm điều công chính, hãy thương xót những người nghèo khó để chuộc những điều gian ác mình. Như vậy, thời thái bình thịnh trị của vua có thể kéo dài thêm.”
Tất cả những việc đó đều xảy đến cho vua Nê-bu-cát-nết-sa.
Mười hai tháng sau, khi đang đi dạo trên sân thượng hoàng cung Ba-by-lôn,
vua nói: “Đây chẳng phải là Ba-by-lôn vĩ đại mà ta đã xây dựng làm đế đô bằng uy quyền cao cả của ta để biểu dương vinh quang rạng rỡ của ta đó sao?”
Lời chưa dứt khỏi miệng vua thì có tiếng từ trên trời phán: “Hỡi Nê-bu-cát-nết-sa, đây là lời báo cho ngươi biết: Vương quyền đã lìa khỏi ngươi.
Ngươi sẽ bị đuổi khỏi loài người và sống chung với thú vật ngoài đồng. Ngươi bị buộc phải ăn cỏ như bò và trải qua bảy kỳ cho đến khi ngươi nhận biết rằng Đấng Chí Cao cai trị vương quốc loài người và Ngài muốn ban cho ai tùy ý.”
Ngay lúc đó, lời nói ấy đã ứng nghiệm cho vua Nê-bu-cát-nết-sa. Vua bị đuổi khỏi loài người, ăn cỏ như bò; thân thể vua ướt đẫm sương móc trên trời cho đến khi tóc vua cũng mọc như lông đại bàng, móng tay móng chân giống như móng chim.
Khi những ngày đó chấm dứt, ta, Nê-bu-cát-nết-sa, ngước mắt lên trời, trí khôn ta phục hồi, ta cảm tạ Đấng Chí Cao. Ta ca ngợi và tôn vinh Đấng Hằng Sống, Quyền cai trị của Ngài là uy quyền đời đời, Vương quốc Ngài từ thế hệ nầy đến thế hệ kia.
Tất cả cư dân trên đất đều kể như con số không. Ngài làm theo ý Ngài muốn cả với cơ binh trên trời Lẫn dân cư trên đất. Không ai cản được tay Ngài Hoặc hỏi: “Ngài làm gì vậy?”
Cùng lúc đó trí khôn ta hồi phục. Ta tìm lại được vinh quang cho vương quốc ta, uy nghi và rực rỡ trở lại với ta. Các nhà tham mưu và các quan đại thần đều đến chầu ta. Ta lại được lập lên cai trị vương quốc và càng trở nên cao trọng hơn trước.
Bây giờ, ta, Nê-bu-cát-nết-sa ca ngợi, tôn vinh và tán dương Vua Trời Vì mọi công việc Ngài đều chân thật Và mọi đường lối Ngài đều ngay thẳng. Kẻ nào bước đi cách kiêu ngạo Ngài có thể hạ xuống.
Vua Bên-xát-sa mở tiệc linh đình thết đãi một nghìn đại thần. Vua uống rượu trước mặt họ.
Đang lúc uống rượu, vua Bên-xát-sa truyền đem ly tách bằng vàng và bạc mà phụ vương Nê-bu-cát-nết-sa đã lấy trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, để vua và các đại thần, các hoàng hậu và cung phi của vua dùng uống rượu.
Người ta đem ra ly tách bằng vàng đã lấy từ đền thờ, tức là nhà của Đức Chúa Trời, tại Giê-ru-sa-lem; vua và các đại thần, các hoàng hậu và cung phi dùng các ly tách đó để uống rượu.
Vậy họ vừa uống rượu vừa ngợi khen các thần bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng, bằng sắt, bằng gỗ và bằng đá.
Ngay lúc đó, những ngón tay của bàn tay người xuất hiện, viết lên tường vôi của hoàng cung, đối ngang giá đèn; vua trông thấy phần bàn tay đang viết.
Bấy giờ mặt vua biến sắc, tâm trí bàng hoàng, xương cốt rã rời, hai đầu gối run lập cập.
Vua lớn tiếng truyền lệnh triệu tập các pháp sư, người Canh-đê và thầy bói đến. Vua nói với các nhà thông thái Ba-by-lôn: “Ai đọc được chữ nầy và giải thích cho trẫm rõ ý nghĩa thì sẽ được mặc cẩm bào đỏ thẫm, đeo vòng vàng vào cổ và sẽ là nhân vật thứ ba trong việc cai trị vương quốc.”
Bấy giờ, tất cả các nhà thông thái của vua đều đến, nhưng họ không đọc được chữ cũng không thể giải nghĩa cho vua được.
Vua Bên-xát-sa vô cùng bối rối, mặt vua biến sắc; các quan đại thần lúng túng.
Nghe tiếng bàn tán của vua và các đại thần, hoàng thái hậu bước vào phòng tiệc. Bà nói: “Hoàng thượng vạn tuế! Xin hoàng thượng đừng để tâm trí bối rối, sắc mặt biến đổi!
Trong vương quốc ngài có một người mang linh của Đức Chúa Trời thánh khiết ở trong mình. Dưới đời phụ vương của ngài, người ta thấy nơi người nầy có ánh sáng, thông hiểu và khôn ngoan, như sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. Phụ vương ngài là Nê-bu-cát-nết-sa đã lập người ấy làm đầu các thuật sĩ, pháp sư, người Canh-đê và thầy bói.
Vì trong Đa-ni-ên, người mà vua đã đặt tên Bên-tơ-xát-sa, có thần linh siêu phàm, có tri thức và thông hiểu để giải nghĩa chiêm bao, giải thích các điều mầu nhiệm, giải quyết các nan đề, nên bây giờ hãy sai gọi Đa-ni-ên để ông ấy giải nghĩa cho.”
Bấy giờ, Đa-ni-ên được đưa đến trước mặt vua. Vua nói với Đa-ni-ên: “Ngươi có phải là Đa-ni-ên, một trong những người Do Thái lưu đày mà cha ta đã giải về từ Giu-đa không?
Trẫm có nghe nói rằng linh của các thần ở trong ngươi nên ngươi có ánh sáng, sự thông hiểu và khôn ngoan lạ thường.
Các nhà thông thái, các pháp sư, đã được mời đến trước mặt trẫm để đọc những chữ nầy và giải thích cho trẫm, nhưng họ không giải nghĩa được.
Trẫm nghe nói rằng ngươi có thể giải nghĩa và giải quyết những nan đề. Vậy, nếu ngươi đọc được chữ viết nầy và giải nghĩa cho trẫm, thì ngươi sẽ được mặc cẩm bào đỏ thẫm, đeo vòng vàng vào cổ và sẽ là nhân vật thứ ba trong việc cai trị vương quốc.”
Trước mặt vua, Đa-ni-ên trả lời: “Xin vua giữ lại các quà tặng, và dành phần thưởng cho người khác! Tuy nhiên, tôi sẽ đọc chữ viết đó và giải nghĩa cho vua.
Tâu đức vua, Đức Chúa Trời Chí Cao đã ban vương quyền, uy quyền cao cả, vinh quang và uy nghiêm cho phụ vương ngài là Nê-bu-cát-nết-sa.
Chính vì quyền uy cao cả Chúa ban cho phụ vương ngài mà tất cả các dân tộc, các quốc gia, các ngôn ngữ đều run sợ trước vua ấy. Vua muốn giết ai thì giết và muốn để ai sống thì để, muốn nâng ai lên hay hạ ai xuống tùy ý.
Nhưng khi lòng dạ trở nên kiêu căng, tâm linh cứng cỏi, thì vua ấy đã hành động một cách ngạo nghễ; do đó vua đã bị truất ngôi và tước bỏ vinh quang.
Vua đã bị đuổi khỏi loài người; tâm trí trở nên tâm trí súc vật, phải sống chung với lừa rừng, ăn cỏ như bò và thân thể bị ướt đẫm sương móc trên trời, cho đến khi vua ấy nhận biết rằng Đức Chúa Trời Chí Cao cai trị vương quốc loài người và Ngài muốn lập ai lên đó tùy ý Ngài.
Còn vua, tâu vua Bên-xát-sa, con của vua ấy, dù vua biết hết các việc ấy, lòng vua vẫn không chịu nhún nhường chút nào.
Trái lại, vua đã tự cao tự đại chống lại Chúa trên trời, sai đem ly tách của nhà Chúa đến cho vua uống rượu với các quan đại thần, các hoàng hậu và cung phi của vua. Vua đã tôn vinh thần bằng bạc, vàng, đồng, sắt, gỗ và đá là những thần không thấy không nghe không biết gì, nhưng lại không thờ phượng Đức Chúa Trời là Đấng cầm trong tay Ngài hơi thở và mọi đường lối của vua.
Vì thế, Ngài đã sai phần bàn tay nầy đến và viết lên hàng chữ nầy.
Hàng chữ đã viết như sau: MÊ-NÊ, MÊ-NÊ, TÊ-KEN, U-PHÁC-SIN.
Đây là nghĩa của dòng chữ đó: Mê-nê nghĩa là: Đức Chúa Trời đã đếm và chấm dứt số ngày của vua;
Tê-ken là: Vua đã bị đặt trên bàn cân và thấy kém thiếu.
Phê-rết là: Vương quốc của vua bị phân chia rồi giao cho người Mê-đi và người Ba Tư.”
Vua Bên-xát-sa lập tức truyền lệnh đem cẩm bào đỏ thẫm mặc cho Đa-ni-ên; đeo vòng vàng vào cổ và công bố rằng ông là nhân vật thứ ba trong vương quốc.
Ngay đêm đó, Bên-xát-sa, vua Canh-đê, bị giết.
Đa-ri-út, người Mê-đi, tiếp quản vương quốc ở độ tuổi sáu mươi hai.
Vua Đa-ri-út quyết định bổ nhiệm một trăm hai mươi thống đốc để cai trị khắp vương quốc,
và trên họ có ba vị tể tướng, một trong ba vị đó là Đa-ni-ên. Các thống đốc phải khai trình với ba vị tể tướng nầy để nhà vua không bị thiệt hại.
Đa-ni-ên vượt hẳn hai vị tể tướng kia và các thống đốc vì ông có thần linh siêu phàm; vua có ý định lập ông cai trị toàn vương quốc.
Vì thế, các tể tướng và thống đốc tìm cách bắt bẻ Đa-ni-ên về việc nước. Nhưng họ không thể tìm được ở ông một lỗi lầm hay một lý do nào để phiền trách, vì ông là người trung tín, không hề sơ suất hay mắc sai lầm.
Vậy những người đó nói: “Chúng ta không thể tìm được một lý cớ nào để tố cáo tên Đa-ni-ên nầy, ngoại trừ lý do liên quan đến luật pháp của Đức Chúa Trời nó.”
Các tể tướng và thống đốc kéo nhau vào chầu vua và tâu: “Vua Đa-ri-út vạn tuế!
Tất cả các tể tướng trong vương quốc, các tướng lãnh, các thống đốc, các quan tham mưu và các tổng đốc đều đồng tình xin bệ hạ ra một sắc chỉ và ban hành một lệnh cấm nghiêm nhặt là trong ba mươi ngày nếu ai kêu cầu bất cứ thần nào hay người nào khác ngoài vua, thì tâu bệ hạ, kẻ ấy phải bị quăng vào hầm sư tử.
Bây giờ, kính xin bệ hạ lập lệnh cấm đó và ký vào chỉ dụ để luật nầy không thay đổi được như luật pháp bất di bất dịch của người Mê-đi và người Ba Tư vậy.”
Vua Đa-ri-út ký vào chỉ dụ và lệnh cấm đó.
Khi Đa-ni-ên được tin rằng chỉ dụ đó đã được ký thì về nhà, lên một phòng cao, nơi có các cửa sổ hướng về Giê-ru-sa-lem. Tại đó, mỗi ngày ba lần ông quỳ gối cầu nguyện và ca ngợi Đức Chúa Trời như vẫn làm từ trước đến nay.
Bấy giờ, những người đó kéo đến và bắt gặp Đa-ni-ên đang cầu nguyện và khẩn nài trước mặt Đức Chúa Trời mình.
Họ liền vào chầu vua và tâu với vua về lệnh cấm: “Tâu bệ hạ, chẳng phải bệ hạ đã từng ký một lệnh cấm rằng trong ba mươi ngày hễ ai cầu xin thần nào hay người nào ngoài vua thì sẽ bị quăng vào hầm sư tử đó sao?” Vua trả lời: “Đúng vậy, theo luật pháp bất di bất dịch của người Mê-đi và người Ba Tư.”
Họ thưa với vua rằng: “Trong nhóm dân lưu đày từ Do Thái có Đa-ni-ên không chút kiêng nể bệ hạ. Tâu bệ hạ, dù bệ hạ đã ký lệnh cấm, nó vẫn cứ cầu nguyện mỗi ngày ba lần.”
Khi nghe những lời đó vua rất đau lòng và quyết tâm giải thoát cho Đa-ni-ên. Mãi đến khi mặt trời lặn vua vẫn cố gắng tìm cách giải cứu ông.
Nhưng các người kia lại kéo đến chầu vua và nói: “Tâu bệ hạ, xin bệ hạ biết rằng theo luật pháp của người Mê-đi và người Ba Tư, mọi lệnh cấm hay sắc chỉ mà vua đã lập đều bất di bất dịch.”
Lập tức, theo lệnh vua, người ta đem Đa-ni-ên đến và ném vào hầm sư tử. Vua nói với Đa-ni-ên: “Đức Chúa Trời ngươi là Đấng ngươi bền lòng phục vụ sẽ giải cứu ngươi!”
Người ta đem đến một tảng đá đặt trên miệng hầm. Vua đóng ấn của vua và ấn các đại thần để không điều gì có thể thay đổi tình trạng của Đa-ni-ên được nữa.
Sau đó, vua trở về cung, và suốt đêm không ăn uống cũng không màng đến thú tiêu khiển nào cả. Vua không thể ngủ được.
Vừa rạng sáng vua đã trỗi dậy, vội vàng đi đến hầm sư tử.
Đến gần miệng hầm, vua lấy giọng đau buồn gọi Đa-ni-ên. Vua nói: “Hỡi Đa-ni-ên, đầy tớ của Đức Chúa Trời hằng sống! Đức Chúa Trời ngươi mà ngươi bền lòng phục vụ có thể giải cứu ngươi khỏi sư tử chăng?”
Đa-ni-ên liền tâu với vua: “Chúc bệ hạ sống mãi mãi!
Đức Chúa Trời của tôi đã sai thiên sứ Ngài đến và bịt miệng sư tử nên chúng không làm hại đến tôi, bởi vì trước mặt Ngài tôi được kể là vô tội. Tâu bệ hạ, trước mặt bệ hạ tôi cũng không làm điều gì sai trái cả.”
Vua vô cùng mừng rỡ và truyền đem Đa-ni-ên lên khỏi hầm. Vậy Đa-ni-ên được đem lên khỏi hầm, và trên thân thể ông không có một thương tích nào cả vì ông đã tin cậy Đức Chúa Trời mình.
Theo lệnh vua, những kẻ đã kiện cáo Đa-ni-ên cùng vợ con của họ đều bị đem đến quăng vào hầm sư tử. Khi họ chưa chạm đến đáy hầm thì sư tử đã vồ lấy và xé xương họ ra từng mảnh.
Bấy giờ vua Đa-ri-út viết cho tất cả các dân tộc, các quốc gia, các ngôn ngữ trên khắp đất: “Chúc các ngươi được bình an gấp bội!
Ta ban chiếu chỉ rằng trên khắp vương quốc ta mọi người phải tôn kính và run sợ trước mặt Đức Chúa Trời của Đa-ni-ên Vì Ngài là Đức Chúa Trời hằng sống Và tồn tại đời đời. Vương quốc Ngài không bao giờ bị tiêu diệt, Quyền cai trị của Ngài sẽ vô cùng vô tận.
Ngài cứu rỗi và giải thoát, Làm những dấu lạ phép mầu trên trời dưới đất; Ngài đã giải cứu Đa-ni-ên Khỏi nanh vuốt sư tử.”
Đa-ni-ên tiếp tục thành đạt dưới thời vua Đa-ri-út và vua Si-ru, người Ba Tư.
Năm thứ nhất triều vua Bên-xát-sa, nước Ba-by-lôn, khi đang nằm trên giường, Đa-ni-ên thấy chiêm bao và những khải tượng trong đầu mình. Ông viết ra để thuật lại nội dung giấc chiêm bao ấy.
Đa-ni-ên nói: “Ban đêm, trong khải tượng, tôi thấy gió khắp bốn phương trời khuấy động biển cả.
Bốn con thú lớn từ biển đi lên; mỗi con một khác.
Con thứ nhất giống như sư tử nhưng mang cánh đại bàng. Tôi nhìn cho đến khi những cánh nó bị bẻ gãy, nó bị nhấc lên khỏi đất và đứng trên hai chân như người; nó được ban cho lòng dạ loài người.
Nầy một con thú khác xuất hiện, con thú thứ hai, giống như con gấu, nó đứng nghiêng một bên, miệng ngậm ba khúc xương sườn giữa hai hàm răng. Người ta bảo nó: ‘Đứng lên, ăn thật nhiều thịt đi.’
Kế đó, tôi còn đang nhìn thì kìa, một con thú khác giống như con beo, trên lưng có bốn cánh như cánh chim. Con thú có bốn đầu và được trao quyền cai trị.
Sau đó, trong khải tượng ban đêm tôi lại thấy một con thú thứ tư trông dữ tợn, đáng sợ và mạnh mẽ phi thường. Nó có bộ răng bằng sắt khổng lồ; nó nuốt và nghiền nát, rồi dùng chân giày đạp vật gì còn lại. Nó khác hẳn các con thú trước và có đến mười cái sừng.
Tôi đang suy nghĩ về các sừng đó thì kìa, có một cái sừng khác, nhỏ hơn, mọc lên giữa những sừng ấy; ba cái trong những sừng trước bị nhổ tận gốc trước mặt nó. Sừng nhỏ nầy có nhiều mắt giống mắt người và một cái miệng nói những lời xấc xược.
Tôi nhìn cho đến khi Các ngai được sắp đặt hẳn hoi, Có Đấng Thượng Cổ ngồi trên đó. Áo Ngài trắng như tuyết, Tóc trên đầu Ngài như lông chiên tinh sạch. Ngai Ngài là những ngọn lửa Có các bánh xe cháy hừng hực.
Trước mặt Ngài, Một dòng sông lửa chảy ra. Nghìn nghìn hầu hạ Ngài Vạn vạn chầu trước mặt Ngài. Tòa bắt đầu xét xử, Sổ sách đã mở ra.
Bấy giờ, tôi tiếp tục nhìn vì có tiếng của những lời xấc xược từ các sừng ấy nói ra. Tôi vẫn nhìn cho đến khi con thú bị giết, xác nó bị hủy diệt và làm mồi cho lửa.
Những con thú còn lại cũng bị tước quyền thống trị nhưng được kéo dài đời sống thêm một thời và một kỳ.
Trong những khải tượng ban đêm Tôi lại nhìn thấy một vị giống như con người Đến với những đám mây trời. Vị ấy đến gần Và được đưa đến trước mặt Đấng Thượng Cổ.
Đấng Thượng cổ ban cho vị ấy quyền thống trị, Vinh quang và vương quốc. Mọi dân tộc, mọi quốc gia, mọi ngôn ngữ Đều phục vụ vị ấy. Quyền thống trị Ngài là quyền đời đời, Chẳng hề mai một, Và vương quốc Ngài Không bao giờ suy vong.”
“Tôi, Đa-ni-ên, tâm linh tôi khắc khoải, những khải tượng trong đầu làm tôi bối rối.
Tôi đến gần một trong những người đứng đó và hỏi sự thật về tất cả những điều nầy. Người ấy giải nghĩa cho tôi như sau:
‘Bốn con thú lớn đó là bốn vua sẽ xuất hiện trên đất.
Nhưng các thánh của Đấng Chí Cao sẽ tiếp nhận vương quốc và nắm giữ vương quốc ấy đời đời cho đến đời đời vô cùng.’
Bấy giờ, tôi muốn biết chắc chắn về con thú thứ tư, là con khác hẳn các con thú khác, vô cùng dữ tợn với răng sắt và móng đồng. Nó cắn nuốt, nghiền nát và lấy chân giày đạp những gì còn sót lại.
Tôi cũng muốn biết thêm về mười cái sừng ở trên đầu nó và về cái sừng khác mọc lên khiến ba sừng rụng xuống trước mặt nó, là cái sừng có mắt và miệng nói những lời xấc xược và có vẻ mạnh bạo hơn những sừng khác.
Khi tôi nhìn, cái sừng nầy tranh chiến với các thánh và chiến thắng,
cho đến khi Đấng Thượng Cổ ngự đến, lập sự phán xét để bênh vực các thánh của Đấng Chí Cao, và đến kỳ các thánh thừa hưởng vương quốc.
Người ấy giải thích với tôi: ‘Con thú thứ tư Sẽ là vương quốc thứ tư trên đất, Khác hẳn mọi vương quốc kia; vương quốc đó sẽ ăn nuốt, Giày đạp và nghiền nát cả trái đất.
Mười cái sừng là mười vua Sẽ ra từ vương quốc đó. Nhưng sẽ có một vua nổi lên sau, Khác hẳn các vua trước, Và sẽ đánh đổ ba vua.
Vua nầy sẽ nói những lời xúc phạm Đấng Chí Cao, Làm hao mòn các thánh của Đấng Chí Cao. Vua định thay đổi thời và luật pháp. Các thánh sẽ bị phó vào tay vua ấy Cho đến một kỳ, hai kỳ và nửa kỳ.
Nhưng tòa sẽ phán xét Và quyền thống trị của nó sẽ bị tước bỏ Để tận diệt và hủy phá vĩnh viễn quyền ấy.
Bấy giờ, vương quốc, quyền thống trị Và sự cao trọng của các vương quốc trong thiên hạ Sẽ được ban cho dân các thánh của Đấng Chí Cao. Vương quốc của Ngài là vương quốc vĩnh cửu Và mọi quyền thống trị đều phục vụ và vâng lời Ngài.’
Sự việc kết thúc tại đây. Còn tôi, Đa-ni-ên, các ý tưởng khiến tôi vô cùng bối rối, mặt mày biến sắc; nhưng tôi vẫn ghi nhớ những việc đó trong lòng.”
Năm thứ ba triều vua Bên-xát-sa có một khải tượng hiện đến với tôi, Đa-ni-ên. Khải tượng nầy đến sau khải tượng tôi đã thấy trước đây.
Trong khải tượng, tôi thấy mình đang ở trong cung Su-sơ, thuộc tỉnh Ê-lam, và cũng trong khải tượng, tôi thấy mình đang ở cạnh sông U-lai.
Tôi ngước mắt lên và thấy một con chiên đực có hai sừng đứng cạnh bờ sông. Cả hai sừng đều cao, nhưng một sừng cao hơn sừng kia; và sừng cao hơn lại mọc lên sau.
Bấy giờ, tôi thấy con chiên đực lấy sừng húc về phía tây, phía bắc và phía nam. Không một loài thú nào chống cự nó được và không gì có thể thoát khỏi tay nó. Nó muốn làm gì tùy thích và ngày càng lớn mạnh.
Khi tôi đang chăm chú nhìn thì kìa, một con dê đực đến từ phía tây, đi rảo khắp mặt đất mà chân không chạm đất. Con dê đó có một cái sừng lớn nhô hẳn lên giữa hai con mắt.
Nó đến chỗ con chiên đực có hai sừng mà tôi đã thấy đứng cạnh bờ sông. Con dê hùng hổ xông vào con chiên đực.
Tôi thấy nó tiến sát con chiên đực và giận dữ húc con chiên đực làm gãy hai cái sừng. Con chiên đực không đủ sức chống lại; con dê vật nó xuống rồi giày đạp lên trên, và chẳng ai có thể cứu con chiên đực khỏi nó được.
Con dê đực trở nên cực kỳ to lớn. Nhưng đang lúc nó mạnh mẽ thì cái sừng lớn của nó bị gãy, và ngay chỗ đó có bốn cái sừng nhô ra theo hướng gió bốn phương trời.
Từ một trong các sừng đó nhú ra một cái sừng nhỏ rồi trở nên vô cùng lớn, hướng về phía nam, phía đông và về miền đất vinh hiển.
Nó vươn đến tận đạo quân trên trời, làm cho một phần đạo quân và một phần các ngôi sao rơi xuống đất, rồi giày đạp lên chúng.
Nó tự cho mình lớn bằng vị Tướng Chỉ huy đạo quân, dẹp bỏ tế lễ thiêu hằng hiến khỏi Ngài và phá đổ nơi thánh của Ngài.
Do tội ác mà đạo quân đã bị phó cho nó cùng với tế lễ thiêu hằng hiến. Cái sừng đó quăng sự thật xuống đất. Nó thành công trong mọi việc nó làm.
Bấy giờ tôi nghe một đấng thánh nói, và một đấng thánh khác nói với đấng đang nói đó rằng: “Khải tượng về tế lễ thiêu hằng hiến, về tội ác đưa đến sự hủy diệt, về việc phó nơi thánh cùng đạo quân để bị giày đạp dưới chân nó, sẽ còn kéo dài đến bao giờ?”
Đấng ấy trả lời: “Cho đến hai nghìn ba trăm buổi chiều và buổi sáng; sau đó nơi thánh sẽ được thanh tẩy.”
Khi tôi, Đa-ni-ên, nhìn thấy khải tượng đó và đang tìm hiểu thì bỗng dưng có ai đó mang hình dạng người nam đứng trước mặt tôi.
Tôi nghe tiếng một người nam gọi từ giữa sông U-lai bảo rằng: “Gáp-ri-ên, hãy giải thích cho người nầy hiểu khải tượng đi.”
Vị ấy liền đến gần chỗ tôi đứng. Thấy vị ấy đến, tôi kinh hãi và ngã sấp mặt xuống đất. Nhưng vị ấy bảo tôi: “Hỡi con người, hãy hiểu rằng khải tượng nầy liên quan đến thời kỳ cuối cùng.”
Khi vị ấy còn đang nói với tôi thì tôi chìm vào giấc ngủ mê, mặt sấp xuống đất. Nhưng vị ấy chạm vào tôi khiến tôi đứng dậy,
và bảo: “Nầy, ta sẽ bảo cho ngươi biết điều sẽ xảy đến vào cuối kỳ thịnh nộ, vì điều nầy liên quan đến kỳ cuối cùng đã được ấn định.
Con chiên đực có hai sừng mà ngươi đã thấy là các vua nước Mê-đi và Ba Tư.
Con dê đực là vua nước Hi Lạp, và cái sừng lớn mọc giữa hai con mắt là vua đầu tiên.
Còn cái sừng gãy đi và có bốn sừng khác mọc thế vào chỗ đó, tức là bốn vương quốc nổi lên từ quốc gia đó nhưng không có sức mạnh của quốc gia đó.
Vào cuối thời trị vì của chúng, Khi tội ác đã đạt đến tột đỉnh, Một vua có bộ mặt hung dữ, lắm mưu mô xảo quyệt, Sẽ xuất hiện.
Quyền lực của vua ấy gia tăng, nhưng không bởi sức riêng của mình. Vua ấy gây ra những sự tàn phá khốc liệt Và thành công trong mọi việc mình làm. Vua ấy cũng tiêu diệt những người hùng mạnh Cùng dân thánh.
Nhờ vào xảo thuật, Vua ấy thực hiện thành công các mưu đồ gian dối. Vua sinh lòng tự cao tự đại, Vua bất ngờ tiêu diệt nhiều người, Và dám nổi lên chống lại Chúa của các chúa. Nhưng vua ấy sẽ bị tiêu diệt Dù không bởi tay loài người.
Khải tượng về các buổi chiều và các buổi sáng đã nói đến là sự thật. Nhưng ngươi phải giữ kín khải tượng đó, vì nó thuộc về tương lai xa.”
Bấy giờ, tôi, Đa-ni-ên, kiệt sức và đau ốm trong nhiều ngày. Sau đó tôi trỗi dậy và làm công việc cho vua. Tôi rất bàng hoàng về khải tượng ấy và vẫn không sao hiểu hết ý nghĩa.
Năm thứ nhất triều vua Đa-ri-út, con trai A-suê-ru, thuộc dòng giống người Mê-đi, là người được lập lên cai trị vương quốc Canh-đê;
vào năm thứ nhất triều vua ấy, tôi, Đa-ni-ên, qua nghiên cứu Kinh Thánh, biết được số năm phải trải qua trước khi mãn thời kỳ điêu tàn của Giê-ru-sa-lem, mà lời Đức Giê-hô-va đã phán với nhà tiên tri Giê-rê-mi, là bảy mươi năm.
Tôi hướng mặt về Chúa là Đức Chúa Trời mà tìm kiếm, khấn nguyện, nài xin với sự kiêng ăn, quấn vải sô và rắc tro lên đầu.
Vậy tôi khẩn cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi và xưng tội với Ngài: “Lạy Chúa là Đức Chúa Trời cao cả và đáng kính sợ, Đấng giữ giao ước và tình thương đối với những ai yêu mến Ngài và tuân giữ điều răn Ngài.
Chúng con đã phạm tội, làm điều sai quấy, ăn ở gian ác; chúng con đã phản loạn, quay lưng lại với điều răn và luật lệ Ngài.
Chúng con đã không nghe các đầy tớ Ngài là các nhà tiên tri, những người đã nhân danh Ngài mà nói với các vua, các thủ lĩnh, và tổ phụ chúng con cùng toàn dân trong xứ.
Lạy Chúa, sự công chính thuộc về Ngài còn sự hổ mặt thuộc về chúng con, như ngày nay, thuộc về người Do Thái, dân cư Giê-ru-sa-lem, tất cả Y-sơ-ra-ên, người ở gần cũng như kẻ ở xa, trong mọi nước mà Ngài đã đuổi họ đến vì những gian ác họ đã phạm với Ngài.
Lạy Chúa, sự hổ mặt thuộc về chúng con, thuộc về các vua, các thủ lĩnh, và tổ phụ chúng con, vì chúng con đã phạm tội với Ngài.
Sự thương xót và tha thứ đều thuộc về Chúa là Đức Chúa Trời chúng con, vì chúng con đã phản loạn với Ngài.
Chúng con đã không vâng lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng con, không sống trong luật pháp mà Ngài đã dùng đầy tớ Ngài là các nhà tiên tri dạy dỗ chúng con.
Toàn dân Y-sơ-ra-ên đều vi phạm luật pháp Ngài, quay lưng đi, không chịu vâng theo tiếng Ngài. Vì vậy, những lời nguyền rủa và thề nguyện chép trong luật pháp Môi-se, đầy tớ của Đức Chúa Trời, đã đổ trên chúng con vì chúng con đã phạm tội với Ngài.
Ngài đã thực hiện các lời cảnh cáo chúng con và các thẩm phán đã xét xử chúng con, bằng cách giáng đại họa trên chúng con, khủng khiếp đến nỗi khắp thiên hạ chưa từng có tai họa nào giống như tai họa đã giáng trên Giê-ru-sa-lem.
Tất cả tai họa nầy đã giáng trên chúng con đúng như đã được chép trong luật pháp Môi-se. Dù vậy, chúng con vẫn không khẩn xin ơn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình để từ bỏ gian ác và hướng lòng về sự thành tín của Ngài.
Vì thế, Đức Giê-hô-va chờ sẵn và giáng tai họa ấy trên chúng con vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng con vốn công chính trong mọi việc Ngài làm, chỉ có chúng con không chịu vâng theo tiếng Ngài.
Bây giờ, lạy Chúa là Đức Chúa Trời của chúng con, Ngài đã dùng bàn tay quyền uy đem dân Ngài ra khỏi đất Ai Cập, đã làm cho danh Ngài lừng lẫy như ngày nay; còn chúng con đã phạm tội, đã làm điều gian ác.
Chúa ôi, tùy theo mọi việc công chính của Ngài, xin Ngài nguôi giận và ngưng phẫn nộ đối với thành Giê-ru-sa-lem của Ngài, tức là núi thánh Ngài, Chính vì tội lỗi của chúng con và sự gian ác của tổ phụ chúng con mà Giê-ru-sa-lem và dân Ngài bị những kẻ chung quanh chúng con sỉ nhục.
Vì vậy bây giờ, lạy Đức Chúa Trời của chúng con, xin lắng nghe lời khấn nguyện nài xin của đầy tớ Ngài! Vì danh Chúa, xin chiếu sáng mặt Ngài trên đền thánh hoang tàn của Ngài!
Lạy Đức Chúa Trời của con, xin lắng tai nghe, xin ghé mắt nhìn cảnh hoang tàn của chúng con và thành phố mang danh Ngài! Chúng con không dựa vào sự công chính của mình mà cầu khẩn Ngài, nhưng dựa vào sự thương xót vô biên của Ngài.
Lạy Chúa, xin lắng nghe! Lạy Chúa, xin tha thứ! Lạy Chúa, xin đoái xem và hành động! Lạy Đức Chúa Trời của con, vì danh Ngài, xin đừng trì hoãn; bởi vì thành Ngài và dân Ngài đã được gọi bằng danh Ngài!”
Tôi tiếp tục thưa chuyện và cầu nguyện, xưng nhận tội lỗi của tôi cũng như tội lỗi dân Y-sơ-ra-ên tôi và trình dâng trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi lời khẩn nguyện cho núi thánh của Đức Chúa Trời tôi.
Khi tôi đang dâng lời cầu nguyện, thì Gáp-ri-ên, người mà tôi đã thấy trong khải tượng đầu tiên, bay nhanh đến bên tôi vào giờ dâng sinh tế buổi chiều.
Người dạy dỗ tôi và nói với tôi: “Hỡi Đa-ni-ên, bây giờ ta đến để ban sự khôn ngoan và hiểu biết cho ngươi.
Ngay khi ngươi bắt đầu cầu xin thì lời đã ban ra, và ta đến để công bố lời đó cho ngươi, vì ngươi rất được yêu quý. Vậy hãy suy nghĩ lời đó và hiểu rõ khải tượng.
Có bảy mươi tuần lễ đã được ấn định cho dân ngươi và thành thánh ngươi để chấm dứt sự vi phạm, tiêu trừ tội lỗi, đền chuộc tội ác và đem lại sự công chính đời đời, để khải tượng và lời tiên tri được ứng nghiệm, và xức dầu cho Nơi Chí Thánh.
Vậy ngươi hãy biết và hiểu rằng từ khi lệnh phục hồi và xây lại Giê-ru-sa-lem cho đến khi Đấng Chịu Xức Dầu xuất hiện, thì được bảy tuần lễ và sáu mươi hai tuần lễ. Thành đó sẽ được xây lại, có đường phố và chiến hào, ngay trong thời kỳ khó khăn.
Sau sáu mươi hai tuần lễ ấy, Đấng Chịu Xức Dầu sẽ bị trừ đi và sẽ không có gì cả. Quân đội của một thủ lĩnh sắp đến sẽ hủy phá thành và đền thánh. Sự cuối cùng sẽ đến như nước lụt. Chung cuộc chiến tranh sẽ xảy ra, cảnh hoang tàn đã được ấn định.
Thủ lĩnh ấy sẽ lập giao ước vững bền với nhiều người trong một tuần lễ. Nhưng đến giữa tuần ấy, hắn sẽ ngưng việc dâng sinh tế và tế lễ chay. Kẻ hủy phá sẽ đến trên cánh của những điều ghê tởm cho đến kỳ hủy diệt cuối cùng đã được ấn định giáng trên kẻ hủy phá.”
Năm thứ ba triều vua Si-ru, nước Ba Tư, có lời mặc khải cho Đa-ni-ên, cũng gọi là Bên-tơ-xát-sa. Lời đó là chân thật, liên quan đến một cuộc chiến tranh lớn. Đa-ni-ên hiểu lời đó và nhận ra ý nghĩa của khải tượng.
Trong những ngày đó tôi, Đa-ni-ên, đang buồn rầu suốt ba tuần lễ.
Tôi không ăn cao lương mỹ vị, không nếm thịt và rượu, cũng không xức dầu thơm trong suốt ba tuần lễ đó.
Ngày thứ hai mươi bốn tháng giêng, tôi đang đứng bên bờ sông lớn, tức là sông Ti-gơ-rít.
Tôi ngước nhìn lên thì thấy một người mặc vải gai, lưng thắt đai bằng vàng ròng U-pha.
Thân hình sáng như bích ngọc, gương mặt như ánh chớp, đôi mắt như ngọn đuốc hừng, đôi tay và đôi chân như đồng đánh bóng, và tiếng nói như tiếng đám đông.
Tôi, Đa-ni-ên, chỉ một mình tôi thấy khải tượng đó. Những người ở với tôi tuy không thấy khải tượng nhưng họ đều run sợ, chạy trốn để tìm chỗ ẩn mình.
Vậy, tôi còn lại một mình và thấy khải tượng lớn đó. Tôi không còn sức nữa. Mặt tôi tái xanh như người sắp chết. Tôi kiệt sức.
Nhưng tôi vẫn nghe tiếng phán của người. Vừa nghe tiếng người, tôi bị ngất đi, mặt sấp xuống đất.
Bấy giờ, có một bàn tay chạm vào tôi, đỡ tôi dậy khi đầu gối và bàn tay tôi run rẩy.
Người ấy nói với tôi: “Hỡi Đa-ni-ên, người rất được yêu quý, hãy hiểu rõ những lời ta nói với ngươi. Hãy đứng thẳng lên vì bây giờ ta đã được sai đến cùng ngươi.” Khi người đã nói với tôi lời ấy, tôi run rẩy đứng lên.
Người bảo tôi: “Hỡi Đa-ni-ên, đừng sợ. Ngay từ ngày đầu, ngươi đã hết lòng tìm hiểu và tự hạ mình trước mặt Đức Chúa Trời ngươi, nên Ngài đã nghe những lời của ngươi, và chính vì những lời ấy mà ta đã đến.
Thủ lĩnh của các vua Ba Tư đã ngăn trở ta trong hai mươi mốt ngày. Nhưng Mi-ca-ên, một trong các thiên sứ trưởng, đã đến giúp đỡ ta, và ta ở lại đó bên cạnh các vua Ba Tư.
Bây giờ, ta đến để giúp ngươi hiểu việc gì sẽ xảy đến cho dân ngươi trong những ngày cuối cùng, vì đây là khải tượng liên quan đến những ngày sắp đến.”
Trong khi người nói với tôi những lời đó, tôi cúi mặt xuống đất và bị câm lặng.
Nầy có một vị mang hình dạng như các con trai loài người chạm đến môi tôi. Tôi liền mở miệng và nói được. Tôi thưa với vị đứng trước mặt tôi: “Thưa chúa, khải tượng đã làm tôi đau đớn và kiệt sức.
Làm sao đầy tớ của chúa có thể thưa chuyện với chúa được? Vì hiện nay tôi không còn một chút sức lực nào, cũng chẳng còn hơi thở trong tôi nữa!”
Bấy giờ, vị có hình dạng người nam lại chạm đến tôi và thêm sức cho tôi.
Người bảo tôi: “Hỡi người rất được yêu quý, đừng sợ hãi. Hãy an tâm và can đảm! Hãy can đảm lên!” Khi người đang nói với tôi, tôi được thêm sức và nói: “Thưa chúa, xin ngài cứ nói, vì Ngài đã thêm sức cho tôi.”
Người nói: “Ngươi có biết tại sao ta đến với ngươi không? Bây giờ ta phải quay lại để giao chiến với thủ lĩnh của Ba Tư, và khi ta vừa đi thì thủ lĩnh của Hi Lạp sẽ đến.
Nhưng ta sẽ báo cho ngươi biết những gì đã được chép trong sách chân lý. Không có ai hiệp sức với ta để chống lại chúng, ngoại trừ Mi-ca-ên, thiên sứ của các ngươi.”
Về phần ta, từ năm thứ nhất triều vua Đa-ri-út người Mê-đi, ta đã đứng cạnh để hỗ trợ và thêm sức cho Mi-ca-ên.
“Bây giờ ta sẽ cho ngươi biết sự thật. Nầy, có ba vua nữa sẽ xuất hiện tại Ba Tư. Vua thứ tư giàu có hơn tất cả các vua khác. Khi của cải làm cho vua ấy trở nên hùng mạnh thì vua xúi giục dân chúng chống lại vương quốc Hi Lạp.
Rồi sẽ có một vua hùng mạnh xuất hiện. Vua ấy sẽ thống trị với cả quyền lực to lớn và theo ý mình.
Nhưng khi vua ấy đã đứng vững thì vương quốc của vua bị tan rã và phân chia theo hướng gió bốn phương trời, chứ không được truyền lại cho con cháu, cũng không dùng quyền lực trước đây mà cai trị nữa. Vương quốc vua sẽ bị nhổ tận gốc và trao cho những người khác không thuộc dòng dõi vua.
Vua phương nam sẽ trở nên hùng mạnh, nhưng một trong các tướng lãnh của vua sẽ lớn mạnh hơn vua và vương quyền của người ấy sẽ lớn lắm.
Nhiều năm sau, các vua đó sẽ liên kết nhau, công chúa phương nam được gả cho vua phương bắc để kết hòa hảo. Nhưng công chúa không duy trì được quyền lực; vua phương bắc và dòng dõi vua cũng không đứng nỗi. Lúc ấy, công chúa cùng với những người hộ tống nàng, cha nàng và chồng nàng đều sẽ bị giao nộp.
Một chồi cùng gốc với công chúa sẽ lên nối ngôi vua phương nam. Vua ấy sẽ đem quân vào thành lũy vua phương bắc, tấn công và chiến thắng.
Vua sẽ mang về Ai Cập các thần của họ, từ các tượng đúc đến các đồ dùng bằng vàng bằng bạc. Vua án binh, không tấn công vua phương bắc trong vài năm.
Sau đó, vua phương bắc có tiến vào lãnh địa của vua phương nam, nhưng lại trở về xứ mình.
Các con trai của vua phương bắc tiến hành chiến tranh. Họ chiêu mộ nhiều đoàn quân đông đúc rồi kéo quân đến, tràn lấn, vây bủa khắp nơi; họ đưa cuộc chiến đến tận các thành trì của vua phương nam.
Bấy giờ vua phương nam tức giận, xông ra giao chiến với vua phương bắc. Dù vua phương bắc đã chiêu mộ một đoàn quân đông đúc, nhưng đoàn quân nầy cũng sẽ rơi vào tay vua phương nam.
Khi đánh bại được đoàn quân đó, vua phương nam sinh lòng kiêu ngạo. Vua sẽ đánh bại hàng ngàn, hàng vạn địch quân nhưng không chiến thắng.
Vua phương bắc lại sẽ chiêu mộ một đoàn quân đông đúc hơn trước, và đến cuối cùng các kỳ, tức là các năm, vua ấy lại tiến công với một đoàn quân hùng hậu, trang bị rất đầy đủ.
Trong khi ấy, nhiều người nổi lên chống lại vua phương nam. Những kẻ bạo loạn trong dân ngươi sẽ nổi lên để làm ứng nghiệm khải tượng, nhưng chúng sẽ thất bại.
Vua phương bắc sẽ đến xây dựng đồn lũy và chiếm được một thành kiên cố. Quân phương nam sẽ không đương đầu nổi, ngay cả đoàn quân tinh nhuệ cũng không đủ sức kháng cự.
Vua phương bắc sẽ tiến đánh theo ý mình, và chẳng ai đương đầu nổi với vua ấy. Vua sẽ đứng trong đất vinh hiển, cầm quyền sinh sát trong tay.
Vua quyết tâm tiến chiếm bằng sức mạnh của vương quốc mình. Vua sẽ lập giao ước với vua phương nam, gả công chúa cho vua nầy để thôn tính vương quốc, nhưng việc đó không thành, không mang lại lợi ích nào cho vua cả.
Sau đó, vua chuyển hướng về vùng duyên hải và chiếm được nhiều nơi. Nhưng một tướng lãnh sẽ chấm dứt thái độ kiêu căng của vua, làm cho chính tính kiêu căng của vua chống lại vua.
Vua quay trở về với các thành lũy trên đất mình; nhưng sẽ phải vấp ngã và té nhào, và chẳng ai còn gặp lại vua ấy nữa.
Người lên kế vị vua ấy sẽ sai người đi bóc lột thuế khóa để duy trì sự xa xỉ của vương quốc, nhưng chẳng bao lâu sau vua ấy sẽ bị sát hại mà không phải vì oán giận hay chiến trận nào cả.
Lên kế vị vua là một tay bần tiện, không được trao vương quyền. Hắn bất chợt xuất hiện, dùng thủ đoạn xảo quyệt chiếm đoạt vương quốc.
Quân ngoại xâm tràn vào như nước lũ sẽ bị cuốn trôi và tan vỡ trước mặt vua ấy, cả đến thủ lĩnh của giao ước cũng vậy.
Sau khi lập hòa ước với các nước khác, vua ấy thực hiện các mưu đồ gian dối để củng cố lực lượng, dù với quốc gia nhỏ bé.
Vua ấy sẽ bất chợt tiến chiếm các khu đất trù phú nhất trong tỉnh và sẽ làm điều mà cha ông, tổ tiên mình chưa từng làm. Vua đem chiến lợi phẩm, những đồ vật đã cướp được và của cải phân phát cho các thuộc hạ. Vua cũng lên kế hoạch tiến đánh các thành lũy, nhưng chỉ trong một thời gian mà thôi.
Sau đó, vua dốc lòng dốc sức đem một quân lực hùng mạnh tiến đánh vua phương nam. Vua phương nam sẽ nghênh chiến bằng một dạo quân đông đúc và vô cùng hùng hậu, nhưng không thể chống cự nổi vì có âm mưu phản bội vua.
Chính những kẻ ăn bánh trên bàn vua sẽ hại vua; đạo quân của vua sẽ bị quét sạch, nhiều người bị thương vong.
Còn hai vua ấy, trong lòng đều toan tính hại nhau; họ ngồi cùng một bàn tiệc nhưng trao đổi nhau những lời dối trá. Tuy nhiên, mưu định đó không thành vì sự cuối cùng sẽ đến vào thời điểm ấn định.
Vua phương bắc sẽ trở về xứ với rất nhiều của cải; nhưng lòng vua quyết định chống lại giao ước thánh. Vua sẽ thực hiện ý đồ nầy trên đường trở về xứ sở mình.
Đến thời điểm ấn định vua ấy sẽ trở lại và tiến vào phương nam, nhưng lần nầy không giống như lần trước.
Tàu bè từ Kít-tim sẽ tấn công vua nên vua hoảng sợ rút lui và giận dữ chống lại giao ước thánh. Vua ấy sẽ trở về và ưu ái những kẻ từ bỏ giao ước thánh.
Quân lính do vua ấy gửi đến chiếm đóng và làm ô uế thành lũy của đền thánh. Chúng dẹp bỏ tế lễ thiêu hằng hiến và lập lên điều ghê tởm gây ra cảnh hoang tàn.
Vua dùng lời đường mật mà quyến dụ những kẻ xem thường giao ước; nhưng những người nhận biết Đức Chúa Trời sẽ kiên quyết chống lại.
Những người khôn sáng trong dân chúng sẽ dạy dỗ nhiều người, dù trong một thời gian, họ sẽ phải gục ngã bởi gươm đao và lửa hừng, bởi tù đày và cướp bóc.
Trong khi họ gục ngã, sự trợ giúp họ nhận được không nhiều, nhưng lại có lắm kẻ dùng lời giả dối mà theo họ.
Một số trong những người khôn sáng sẽ sa ngã để nhờ đó mà được luyện lọc, thanh tẩy và phiếu trắng cho kỳ cuối cùng, vì còn phải chờ cho đến thời điểm ấn định.
Vua phương bắc sẽ làm theo ý mình, tự cao tự đại, tôn mình cao hơn mọi thần. Vua ấy sẽ nói những lời kỳ quặc chống lại Đức Chúa Trời của các thần. Vua sẽ thành công cho đến khi cơn thịnh nộ chấm dứt, vì việc gì Chúa đã định thì phải được thi hành.
Vua ấy sẽ không quan tâm đến các thần của tổ phụ mình hay thần mà phụ nữ sùng bái. Vua sẽ chẳng coi thần nào ra gì vì tự tôn mình cao hơn tất cả.
Thay vào đó, vua lại tôn kính thần của các thành lũy. Vua lấy vàng, bạc, đá quý và các báu vật dâng cho thần mà tổ phụ mình không biết.
Vua sẽ nhờ thần ngoại bang để chiếm đóng các thành lũy vững bền. Người nào công nhận vua sẽ được ban bổng lộc giàu sang, giao quyền cai trị rộng rãi và được phân chia đất đai để thưởng công.
Đến thời kỳ cuối cùng, vua phương nam sẽ tấn công vua phương bắc. Nhưng vua phương bắc đem chiến xa, kỵ binh và nhiều tàu chiến phản công như vũ bão. Vua nầy còn xâm lăng các nước, tràn lấn như nước lũ.
Vua cũng tiến vào vùng đất vinh hiển. Hàng vạn người sẽ ngã gục, nhưng dân Ê-đôm, Mô-áp và thành phần ưu tú của dân Am-môn sẽ thoát khỏi tay vua ấy.
Vua ấy sẽ dang tay trên các nước, ngay cả Ai Cập cũng không thoát khỏi.
Vua sẽ kiểm soát các kho vàng bạc và tất cả báu vật của Ai Cập. Dân Li-by và Ê-thi-ô-pi đều chạy theo vua ấy.
Nhưng tin tức từ phương đông và phương bắc sẽ làm cho vua bối rối. Vua sẽ giận dữ đem quân đi tàn phá và tiêu diệt nhiều người.
Vua sẽ dựng lều trại hoàng gia tại khoảng giữa biển và núi thánh vinh quang. Nhưng ngày tận số của vua sẽ đến mà không một ai cứu giúp cả.”
“Lúc ấy, đại thiên sứ Mi-ca-ên, đấng bảo vệ con dân ngươi sẽ đứng dậy. Sẽ có một thời kỳ ngặt nghèo chưa từng thấy kể từ khi lập nước cho đến bấy giờ. Nhưng lúc ấy, những ai trong dân ngươi có tên trong quyển sách kia sẽ được giải cứu.
Nhiều người ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, người thì để hưởng sự sống đời đời, kẻ thì để chịu tủi nhục ghê tởm đời đời.
Những người khôn sáng sẽ rực rỡ như sự sáng chói trên bầu trời; và những người dắt đưa nhiều người đến sự công chính sẽ chiếu sáng như các ngôi sao đời đời mãi mãi.
Còn ngươi, hỡi Đa-ni-ên, hãy giữ kín những lời nầy và niêm phong cuộn sách nầy lại cho đến kỳ cuối cùng. Nhiều người sẽ đi đây đi đó và sự hiểu biết sẽ gia tăng.”
Bấy giờ, tôi, Đa-ni-ên, đang nhìn và nầy, có hai người khác đang đứng, một người bên nầy sông, một người bên kia sông.
Một trong hai người hỏi người mặc vải gai đang đứng trên mặt sông: “Đến bao giờ những điều kỳ lạ nầy mới chấm dứt?”
Tôi nghe người mặc vải gai đứng trên mặt sông, giơ tay phải và tay trái lên trời, nhân danh Đấng hằng sống mà thề rằng: “Sẽ phải trải qua một kỳ, hai kỳ và nửa kỳ, và khi quyền lực của dân thánh chấm dứt thì những điều nầy mới hoàn tất.”
Tôi nghe nhưng không hiểu, nên tôi hỏi: “Lạy chúa tôi, cuối cùng các việc nầy sẽ thế nào?”
Người ấy đáp: “Hỡi Đa-ni-ên, đừng lo nghĩ gì, vì những lời nầy đã được giữ kín và niêm phong cho đến kỳ cuối cùng.
Nhiều người sẽ được thanh tẩy, phiếu trắng và tinh luyện. Nhưng những kẻ ác sẽ tiếp tục làm ác. Không kẻ ác nào hiểu nổi, nhưng người khôn sáng sẽ hiểu.
Từ thời bãi bỏ tế lễ thiêu hằng hiến và lập lên điều ghê tởm gây ra cảnh hoang tàn, sẽ có một ngàn hai trăm chín mươi ngày.
Phước cho người bền lòng trông đợi suốt một ngàn ba trăm ba mươi lăm ngày!
Còn ngươi, hãy giữ trung tín cho đến cuối cùng. Ngươi sẽ được an nghỉ và đến cuối những ngày, ngươi sẽ đứng dậy trong sản nghiệp mình.”
Đây là lời Đức Giê-hô-va phán với Ô-sê, con trai Bê-ê-ri, dưới thời các vua Ô-xia, Giô-tham, A-cha, Ê-xê-chia của Giu-đa, và vua Giê-rô-bô-am, con trai Giô-ách, của Y-sơ-ra-ên.
Khi Đức Giê-hô-va bắt đầu phán với Ô-sê, Đức Giê-hô-va bảo ông: “Hãy đi cưới một người đàn bà ngoại tình và sinh con cái ngoại tình, vì đất nước nầy phạm tội ngoại tình khi lìa bỏ Đức Giê-hô-va.”
Vậy, Ô-sê cưới Gô-me, con gái của Đíp-la-im. Bà mang thai và sinh cho ông một người con trai.
Bấy giờ Đức Giê-hô-va phán với ông: “Hãy đặt tên nó là Gít-rê-ên, vì chẳng bao lâu nữa Ta sẽ trừng phạt nhà Giê-hu về tội đổ máu tại Gít-rê-ên, và chấm dứt vương quốc của nhà Y-sơ-ra-ên.
Trong ngày đó Ta sẽ bẻ cung của Y-sơ-ra-ên trong thung lũng Gít-rê-ên.”
Nàng lại mang thai và sinh một người con gái. Đức Giê-hô-va phán với Ô-sê: “Hãy đặt tên nó là Lô Ru-ha-ma, vì Ta không còn thương xót nhà Y-sơ-ra-ên, cũng không tha thứ cho chúng nữa.
Nhưng Ta sẽ thương xót nhà Giu-đa và sẽ giải cứu chúng, vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng. Ta sẽ không cần dùng đến cung tên, gươm đao hay chiến tranh, cũng không dùng ngựa hay kỵ binh mà giải cứu chúng.”
Sau khi cai sữa Lô Ru-ha-ma, Gô-me lại mang thai và sinh một con trai.
Đức Giê-hô-va phán: “Hãy đặt tên nó là Lô Am-mi, vì các ngươi không còn là dân của Ta nữa và Ta cũng không còn là Đức Chúa Trời của các ngươi nữa.”
“Nhưng dân số Y-sơ-ra-ên sẽ đông như cát biển, không thể lường, cũng không thể đếm được. Tại chính nơi chúng nghe phán: ‘Các ngươi không phải là dân Ta,’ sẽ lại nghe: ‘Các ngươi là con Đức Chúa Trời hằng sống.’
Dân Giu-đa và dân Y-sơ-ra-ên sẽ tụ họp lại và chọn cho mình một thủ lĩnh chung; chúng sẽ vươn lên từ đất nầy, vì đó là ngày trọng đại của Gít-rê-ên.”
“Hãy gọi anh em các ngươi là Am-mi và chị em các ngươi là Ru-ha-ma.”
“Hãy tố cáo mẹ các ngươi, Hãy tố cáo đi vì nó chẳng phải là vợ Ta, Ta chẳng phải là chồng nó! Bảo nó vứt bỏ vẻ điếm đàng trên mặt Và dấu vết ngoại tình giữa ngực nó đi.
Nếu không, Ta sẽ lột trần nó ra, Để nó như ngày mới lọt lòng mẹ, Biến nó thành hoang mạc, Thành mảnh đất cằn cỗi, Khiến nó phải chết khát.
Ta sẽ không thương xót con cái nó Vì chúng là những đứa con ngoại tình.
Thật vậy, mẹ chúng nó ngoại tình, Kẻ mang thai chúng nó đã làm điều ô nhục. Vì nó nói: ‘Tôi sẽ đi theo các tình nhân của tôi; Họ sẽ cho tôi bánh, nước, lông chiên, vải, Dầu và thức uống.’
Vì vậy, Ta sẽ lấy gai gốc chận đường nó, Xây một bức tường quanh nó Để nó không thể tìm được lối đi.
Nó sẽ đuổi theo tình nhân mà không kịp, Tìm kiếm mà không gặp chúng. Bấy giờ, nó tự nhủ: ‘Ta sẽ quay về với người chồng đầu tiên, Vì hồi đó ta sung sướng hơn bây giờ.’
Thật nó không biết rằng chính Ta, Đấng đã ban lúa mì, rượu mới và dầu cho nó, Chính Ta đã cho nó vô số bạc, vàng Mà chúng đem dùng cho Ba-anh.
Vì thế, vào mùa gặt Ta sẽ lấy lại lúa mì của Ta, Đến mùa rượu, Ta sẽ lấy rượu mới; Ta sẽ lấy lại len và vải của Ta, Vốn dùng để che tấm thân trần của nó.
Bấy giờ Ta sẽ phơi bày cái đáng xấu hổ của nó Trước mặt các tình nhân nó, Và chẳng ai cứu được nó khỏi tay Ta.
Ta sẽ chấm dứt mọi cuộc vui của nó, Những ngày lễ, ngày trăng mới, Ngày sa-bát và tất cả các lễ hội trọng thể của nó.
Ta sẽ phá các cây nho và cây vả của nó, Là những cây mà nó khoe rằng: ‘Nầy là tiền công Mà các tình nhân trả cho tôi.’ Ta sẽ biến chúng thành rừng hoang Cho các thú rừng ăn nuốt nó.
Ta sẽ trừng phạt nó Vì những ngày nó dâng hương cho Ba-anh; Đeo bông tai và diện nữ trang, Chạy theo các tình nhân nó, Còn Ta thì nó bỏ quên!” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Vì vậy, nầy, Ta sẽ quyến dụ nó, Đưa nó vào hoang mạc, Lấy lời ngọt ngào nói với nó.
Từ nơi đó, Ta sẽ ban cho nó vườn nho, Biến thung lũng A-cô thành cánh cửa hi vọng. Tại đó, nó sẽ đáp ứng như trong ngày trẻ tuổi, Như trong ngày nó ra khỏi Ai Cập.”
Đức Giê-hô-va phán: “Trong ngày đó, Ngươi sẽ gọi Ta là ‘chồng tôi’ Và sẽ không gọi Ta là ‘chủ tôi’ nữa.
Vì Ta sẽ không cho nó mở miệng gọi các thần Ba-anh, Và sẽ không còn ai nhắc đến tên chúng nữa.
Trong ngày đó, Ta sẽ lập giao ước giữa các ngươi Với các thú rừng, chim trời, Với các loài bò sát trên đất. Ta sẽ bẻ gãy cung tên, gươm giáo Và làm cho chiến tranh biến khỏi xứ nầy, Để các ngươi được nằm yên ổn.
Ta sẽ cưới ngươi cho Ta đời đời; Ta sẽ cưới ngươi cho Ta trong sự công minh và chính trực, Nhân từ và thương xót.
Phải, Ta sẽ cưới ngươi cho Ta trong sự thành tín; Và ngươi sẽ biết Đức Giê-hô-va.”
Đức Giê-hô-va phán: “Trong ngày đó Ta sẽ đáp lời, Ta sẽ đáp lời các tầng trời, Các tầng trời sẽ đáp lời đất.
Đất sẽ đáp lời lúa mì, Rượu mới, và dầu; Cả ba thứ đó sẽ đáp lời Gít-rê-ên.
Ta sẽ gieo nó cho Ta trong đất Tỏ lòng thương xót ‘kẻ không được thương xót.’ Và phán với dân ‘không phải là dân Ta’ rằng: ‘Ngươi là dân Ta’, Và dân đó sẽ trả lời: ‘Ngài là Đức Chúa Trời của chúng con.’”
Đức Giê-hô-va phán với tôi: “Hãy đi và yêu lại người đàn bà đang ngoại tình và đang có tình nhân, như Đức Giê-hô-va vẫn yêu con cái Y-sơ-ra-ên dù chúng nó hướng về các thần khác và ưa thích bánh nho khô”
Vậy, tôi đã mua lại nàng với giá khoảng một trăm bảy mươi gam bạc và khoảng ba trăm ba mươi lít lúa mạch.
Rồi tôi bảo nàng: “Bà phải ở yên cho tôi một thời gian; không được bán dâm, không được ngoại tình với bất cứ người đàn ông nào; tôi cũng đối xử với bà như thế.”
Vì trong một thời gian dài, con dân Y-sơ-ra-ên sẽ không có vua, không có thủ lĩnh, không có sinh tế, không có trụ tượng, không có ê-phót và không có thê-ra-phim.
Nhưng sau đó con dân Y-sơ-ra-ên sẽ trở lại tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình và Đa-vít vua mình. Trong những ngày cuối cùng, chúng sẽ run sợ mà trở về với Đức Giê-hô-va và hưởng phước lành của Ngài.
Hỡi con dân Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va Vì Đức Giê-hô-va lên án dân cư xứ nầy: “Trong xứ nầy, không có sự thành tín, chẳng có sự nhân từ Cũng chẳng có sự hiểu biết Đức Chúa Trời.
Chỉ tràn ngập sự nguyền rủa, thất tín, giết người, Trộm cắp và ngoại tình; Chúng gây hết cảnh đổ máu nầy đến cảnh đổ máu khác.
Vì vậy, xứ sở sầu thảm; Mọi người dân đều hao mòn, Cả thú rừng và chim trời cũng vậy; Cả đến cá biển cũng chẳng còn.
Dù vậy đừng có ai biện luận, Chớ có ai quở trách! Vì dân ngươi giống như những người đối địch thầy tế lễ.
Ngươi sẽ vấp ngã giữa ban ngày; Các nhà tiên tri cũng sẽ vấp ngã với ngươi trong ban đêm, Và Ta sẽ tiêu diệt mẹ ngươi.
Dân Ta bị tiêu diệt vì thiếu hiểu biết; Vì ngươi đã từ chối sự hiểu biết, Nên Ta cũng không để ngươi làm thầy tế lễ cho Ta nữa; Vì ngươi đã quên luật pháp của Đức Chúa Trời ngươi, Nên Ta cũng sẽ quên con cái ngươi.
Chúng càng sinh sản bao nhiêu Càng phạm tội chống lại Ta bấy nhiêu; Ta sẽ đổi vinh quang của chúng thành tủi nhục.
Chúng sống nhờ tội lỗi dân Ta; Thích thú khi dân Ta phạm tội.
Rồi sẽ đến lúc, dân thể nào thầy tế lễ thể ấy; Ta sẽ trừng phạt chúng vì đường lối chúng, Và báo trả tùy theo việc chúng làm.
Chúng sẽ ăn mà không no, Chúng hành dâm mà không sinh sản; Vì chúng đã lìa bỏ Đức Giê-hô-va, Chạy theo các thần khác.
Nạn dâm dục, rượu cũ và rượu mới Làm chúng mất hết trí khôn.
Dân Ta cầu hỏi tượng gỗ, Xin cây gậy phán truyền. Vì thói điếm đàng làm cho chúng lầm lạc, Chúng sống dâm loạn, xa cách Đức Chúa Trời.
Chúng dâng sinh tế trên các đỉnh núi, Đốt hương trên các đồi, Dưới cây sồi, cây dương, cây thông Vì bóng nó mát mẻ. Vì thế mà con gái các ngươi làm điếm, Con dâu các ngươi ngoại tình.
Ta sẽ không phạt con gái các ngươi vì tội điếm đàng, Cũng không phạt con dâu các ngươi vì tội ngoại tình. Vì chính đàn ông các ngươi đi với phường điếm đĩ, Dâng sinh tế với gái mại dâm; Một dân tộc không hiểu biết sẽ bị diệt vong.
Hỡi Y-sơ-ra-ên, dù ngươi có dâm loạn Cũng đừng để Giu-đa phạm tội! Vậy chớ vào Ghinh-ganh! Đừng lên Bết A-ven! Đừng nhân danh ‘Đức Giê-hô-va hằng sống’ mà thề.
Vì Y-sơ-ra-ên bướng bỉnh Như con bò cái tơ bất trị; Chẳng lẽ bây giờ Đức Giê-hô-va nuôi dưỡng chúng Như chiên con trong đồng cỏ thênh thang?
Ép-ra-im thỏa hiệp với thần tượng, Hãy để mặc nó!
Chúng chè chén say sưa, Rồi tha hồ đàng điếm; Chúng ham thích sự sỉ nhục hơn vinh quang.
Gió đã cuốn chúng đi trong cánh nó Và chúng sẽ xấu hổ vì các tế lễ mình.”
“Hỡi các thầy tế lễ, hãy nghe điều nầy; Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, hãy chú ý; Hỡi triều đình, hãy lắng tai! Sự phán xét dành cho các ngươi Vì các ngươi đã thành cái bẫy ở Mích-pa Và cái lưới bủa trên Tha-bô.
Những kẻ phản loạn đã chìm sâu trong sự tàn sát; Nhưng Ta sẽ trừng phạt tất cả bọn chúng.
Ta biết Ép-ra-im, Và Y-sơ-ra-ên không che giấu được Ta; Hỡi Ép-ra-im, ngươi đã là gái mại dâm! Còn Y-sơ-ra-ên bị ô uế!
Công việc của chúng ngăn trở chúng Trở về với Đức Chúa Trời mình. Vì lòng dâm dục ngự trị chúng Nên chúng không nhận biết Đức Giê-hô-va.
Sự kiêu ngạo của Y-sơ-ra-ên tố cáo nó; Y-sơ-ra-ên và Ép-ra-im gục ngã trong tội ác mình; Giu-đa cùng gục ngã với chúng.
Chúng sẽ đi với các bầy chiên bầy bò mình Để tìm kiếm Đức Giê-hô-va, Nhưng chúng không gặp Ngài! Ngài đã lìa khỏi chúng.
Chúng đã lừa dối Đức Giê-hô-va Vì đã sinh ra những đứa con hoang. Bây giờ, ngày trăng mới sẽ nuốt chúng Cùng với sản nghiệp mình.
Hãy thổi tù và ở Ghi-bê-a, Thổi kèn ở Ra-ma! Hãy lên tiếng báo động ở Bết A-ven! Hỡi Bên-gia-min, quân thù ở sau ngươi!
Ép-ra-im sẽ trở nên hoang tàn Trong ngày quở phạt; Giữa các bộ tộc Y-sơ-ra-ên Ta loan báo một việc chắc chắn sẽ xảy đến.
Các thủ lĩnh Giu-đa Giống như kẻ lấn địa giới; Ta sẽ đổ cơn giận trên chúng Như trút nước.
Ép-ra-im bị ức hiếp, Bị nghiền nát bởi sự phán xét; Vì nó đã quyết định chạy theo điều dơ bẩn.
Vì vậy, Ta giống như con mọt đục khoét Ép-ra-im Và như sự mục nát phá hoại nhà Giu-đa.
Khi Ép-ra-im thấy bệnh tật mình, Và Giu-đa thấy vết thương mình, Thì Ép-ra-im qua A-si-ri, Sai người đến với vị vua hùng mạnh. Nhưng vua ấy không thể chữa bệnh Cũng không rịt lành vết thương cho các ngươi.
Vì Ta sẽ như một con sư tử cho Ép-ra-im, Như một sư tử tơ cho nhà Giu-đa. Chính Ta sẽ cắn xé rồi đi; Ta sẽ mang theo, và sẽ không ai giải cứu được.
Ta sẽ đi, sẽ trở về nơi Ta ngự Cho đến khi chúng nhận biết tội mình và tìm kiếm mặt Ta. Trong cảnh khốn cùng, chúng sẽ nhiệt thành tìm kiếm Ta.”
“Hãy đến, chúng ta hãy trở về cùng Đức Giê-hô-va Vì Ngài đã xé chúng ta, nhưng Ngài sẽ chữa lành; Ngài đã đánh chúng ta, nhưng sẽ băng bó vết thương.
Sau hai ngày Ngài sẽ khiến chúng ta tỉnh lại; Ngày thứ ba Ngài sẽ dựng chúng ta dậy, Để chúng ta sống trước mặt Ngài.
Chúng ta hãy nhận biết Đức Giê-hô-va; Hãy gắng sức nhận biết Ngài. Sự hiện đến của Ngài là chắc chắn Như sự xuất hiện của mặt trời sớm mai; Ngài sẽ đến với chúng ta như mưa, Như mưa xuân tưới đất.”
Ta sẽ làm gì cho ngươi, hỡi Ép-ra-im? Ta sẽ làm gì cho ngươi, hỡi Giu-đa? Tình yêu các ngươi dành cho Ta giống như mây buổi sáng, Như sương mai chóng tan.
Vì vậy, Ta đã dùng các nhà tiên tri cắt chúng ra; Ta đã giết chúng bằng lời nói từ miệng Ta, Sự phán xét của Ta lóe lên như ánh sáng.
Vì Ta muốn lòng thương xót chứ không phải sinh tế, Thích sự nhận biết Đức Chúa Trời hơn là tế lễ thiêu.
Nhưng như A-đam, chúng đã vi phạm giao ước, Và tại đó, chúng đã phản bội Ta.
Ga-la-át là thành của những kẻ làm ác, Thành đầy vết máu.
Như bọn cướp rình rập người qua lại, Băng nhóm thầy tế lễ cũng giết người, Trên con đường đi đến Si-chem, Chúng phạm tội ác thật khủng khiếp!
Trong nhà Y-sơ-ra-ên, Ta đã thấy một điều ghê tởm; Ở đó, Ép-ra-im làm điều dâm loạn, Y-sơ-ra-ên trở nên ô uế!
Hỡi Giu-đa, ngươi cũng vậy, Một mùa gặt đã định cho ngươi, Khi Ta đem dân Ta trở về từ chốn lưu đày.
Khi Ta muốn chữa lành cho Y-sơ-ra-ên Thì tội lỗi của Ép-ra-im Và sự gian ác của Sa-ma-ri bị phơi bày. Vì chúng làm điều giả dối, Kẻ trộm lẻn vào bên trong Kẻ cướp đánh phá bên ngoài.
Chúng không tự nhủ lòng rằng Ta nhớ hết mọi điều gian ác của chúng. Bây giờ hành vi của chúng bao vây chúng, Sờ sờ trước mặt Ta.
Chúng lấy sự gian ác mình làm vui lòng vua, Dùng lời dối trá làm vừa lòng các thủ lĩnh.
Tất cả bọn chúng đều là kẻ ngoại tình, Giống như lò nướng bánh cháy rực, Người nướng bánh ngừng khơi lửa Từ khi nhồi bột cho đến lúc bột dậy men.
Trong ngày vui của vua chúng ta Các thủ lĩnh phát ốm vì hơi nồng của rượu; Vua bắt tay cả những kẻ ưa nhạo báng.
Chúng rình rập, lòng chúng đầy âm mưu Như lò nướng hừng hực; Người nướng bánh ngủ suốt đêm Nhưng đến sáng lò nướng vẫn cháy phừng phừng.
Tất cả bọn chúng đều nóng như lò lửa Nuốt chửng các quan xét của chúng. Tất cả vua của chúng đều bị sụp đổ Không ai trong đám họ kêu cầu Ta.
Ép-ra-im pha trộn với các dân khác; Ép-ra-im khác nào chiếc bánh không trở.
Các dân ngoại đã nuốt hết sức lực nó Mà nó không biết! Tóc trên đầu đã lốm đốm bạc, Mà nó chẳng hay!
Tính kiêu ngạo của Y-sơ-ra-ên tố cáo lại nó; Dù vậy, chúng vẫn không trở lại cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, Và cũng chẳng tìm kiếm Ngài!
Ép-ra-im giống như chim bồ câu Khờ khạo, thiếu khôn ngoan; Chúng kêu cứu Ai Cập, rồi chạy đến với A-si-ri.
Khi chúng ra đi, Ta sẽ giăng lưới trên chúng; Ta sẽ làm cho chúng rơi xuống như chim trời; Ta sẽ sửa phạt chúng Theo như điều hội chúng đã nghe.
Khốn cho chúng, Vì chúng lìa bỏ Ta! Chúng đáng bị tiêu diệt, Vì đã chống lại Ta! Chính Ta, Ta muốn giải cứu chúng, Nhưng chúng dùng lời dối trá chống lại Ta.
Chúng không hết lòng kêu cầu Ta, Nhưng lại than vãn trên giường mình; Chúng tự rạch mình để cầu xin lúa mì và rượu mới; Chúng đã phản bội Ta.
Dù chính Ta đã tập luyện và làm cho cánh tay chúng mạnh mẽ, Chúng vẫn mưu đồ gian ác chống lại Ta.
Chúng không hướng về Đấng Chí Cao; Chúng khác nào cây cung bị hỏng, Các thủ lĩnh của chúng sẽ ngã bởi gươm đao Vì lưỡi chúng thốt ra lời giận dữ. Chúng trở thành trò cười Trong đất Ai Cập.
“Hãy đưa kèn lên miệng ngươi mà thổi! Kẻ thù như chim đại bàng chụp xuống nhà Đức Giê-hô-va; Vì chúng đã chống lại giao ước Ta, Vi phạm luật pháp Ta.
Chúng kêu đến Ta: ‘Lạy Đức Chúa Trời chúng con, chúng con là Y-sơ-ra-ên Chúng con nhận biết Ngài!’
Y-sơ-ra-ên đã loại bỏ điều lành, Kẻ thù sẽ đuổi theo nó.
Chúng đã lập vua mà không bởi Ta, Chọn thủ lĩnh mà Ta không biết. Chúng lấy bạc vàng của mình làm thần tượng Để chúng bị hủy diệt.
Hỡi Sa-ma-ri, bò con của ngươi đã bị bỏ rồi! Cơn giận của Ta đã thiêu đốt chúng. Cho đến bao giờ Chúng mới không phạm tội?
Vì bò con đó do Y-sơ-ra-ên làm ra, Một người thợ đã tạo ra nó; Nó không phải là Đức Chúa Trời. Bò con của Sa-ma-ri Sẽ bị bể thành từng mảnh.
Vì chúng đã gieo gió thì phải gặt bão. Chúng là cây lúa đứng không kết hạt, Không sinh ra bột được. Mà nếu nó có sinh ra bột Thì dân ngoại cũng sẽ nuốt hết.
Y-sơ-ra-ên đã bị nuốt. Bây giờ chúng ở giữa các dân Như thứ vật dụng mà chẳng ai ưa thích.
Vì chúng đã lên với A-si-ri Như con lừa hoang lang thang một mình. Ép-ra-im đã mua chuộc những kẻ yêu nó.
Dù chúng có mua chuộc để liên minh với các nước Thì bây giờ Ta cũng tập hợp chúng lại. Để chẳng bao lâu nữa chúng bắt đầu quằn quại Dưới gánh nặng của vua và các thủ lĩnh.
Khi Ép-ra-im càng thêm nhiều bàn thờ để chuộc tội Thì những bàn thờ ấy càng khiến nó sa vào tội lỗi.
Ta đã viết cho nó hàng vạn điều trong luật lệ Ta, Nhưng nó xem chúng như điều gì xa lạ.
Dù chúng dâng sinh tế cho Ta Và ăn thịt sinh tế, Nhưng Đức Giê-hô-va vẫn không chấp nhận chúng. Bây giờ Ngài nhớ lại sự gian ác của chúng Và trừng phạt tội lỗi chúng; Chúng phải trở về Ai Cập!
Y-sơ-ra-ên đã quên Đấng Tạo Hóa mình, Lo xây dựng đền đài; Giu-đa gia tăng các thành kiên cố; Nhưng Ta sẽ phóng hỏa các thành đó Và lửa sẽ thiêu hủy các thành lũy nó.”
Hỡi Y-sơ-ra-ên, chớ vui mừng! Đừng hân hoan như các dân tộc khác. Vì ngươi đã gian dâm, lìa bỏ Đức Chúa Trời ngươi. Ngươi đã ưa thích tiền công của kẻ bán dâm Trên mọi sân đập lúa.
Sân đập lúa và hầm ép rượu cũng không nuôi nổi chúng Rượu mới sẽ làm cho chúng thất vọng.
Chúng sẽ không còn ở trong đất của Đức Giê-hô-va Nhưng Ép-ra-im phải trở về Ai Cập Và sẽ ăn thức ăn ô uế trong A-si-ri.
Chúng sẽ không được rót rượu của lễ quán dâng lên Đức Giê-hô-va nữa, Các sinh tế của chúng cũng chẳng đẹp lòng Ngài. Bánh của chúng sẽ như bánh nhà có tang, Những ai ăn đến đều bị ô uế; Vì bánh của chúng chỉ để cho chúng đỡ đói, Không được đem vào nhà Đức Giê-hô-va.
Các ngươi sẽ làm gì trong kỳ lễ hội, Trong ngày lễ của Đức Giê-hô-va?
Cho dù chúng thoát khỏi cảnh tàn phá, Ai Cập sẽ tập trung chúng lại, Và Mem-phi sẽ an táng chúng. Bụi rậm sẽ phủ trên những đồ bằng bạc rất quý của chúng, Gai gốc sẽ lấn vào lều trại chúng.
Những ngày trừng phạt đã đến, Những ngày báo trả đã tới rồi! Y-sơ-ra-ên sẽ biết điều nầy. Kẻ tiên tri là khờ dại, Người có thần linh là điên cuồng Vì tội ác tày trời của ngươi Và lòng hận thù của ngươi quá lớn.
Nhà tiên tri, cùng với Đức Chúa Trời của ta Là người canh gác Ép-ra-im, Nhưng bẫy lưới giăng bủa mọi lối của ông, Lòng hận thù ở ngay trong nhà Đức Chúa Trời mình.
Chúng chìm sâu trong bại hoại Như những ngày của Ghi-bê-a. Đức Chúa Trời sẽ nhớ lại tội ác của chúng, Và sẽ trừng phạt tội lỗi của chúng.
“Ta đã gặp Y-sơ-ra-ên Như gặp chùm nho trong hoang mạc; Ta đã thấy tổ phụ các ngươi Như trái đầu mùa trên cây vả tơ. Nhưng chúng đã đến Ba-anh Phê-ô; Dâng mình cho vật đáng xấu hổ Và trở nên ghê tởm như vật chúng đã yêu.
Vinh quang của Ép-ra-im sẽ bay đi như chim; Không sinh đẻ, không mang thai, không ốm nghén nữa!
Vì dù chúng có nuôi dưỡng con cái Ta cũng cướp đi cho đến nỗi không còn một người nam nào. Thật khốn nạn cho chúng Khi Ta lìa bỏ chúng!
Ta đã thấy Ép-ra-im, như thành Ty-rơ, Được trồng trong đồng cỏ; Nhưng nay Ép-ra-im phải đem con cái mình Nộp cho kẻ sát nhân!
Lạy Đức Giê-hô-va, xin ban cho chúng Ngài sẽ ban cho chúng điều gì? Xin ban cho chúng cái dạ sinh non Và những vú không có sữa!
Mọi gian ác của chúng đều ở Ghinh-ganh; Tại nơi đó Ta ghét chúng. Vì những việc làm gian ác của chúng Ta sẽ đuổi chúng khỏi nhà Ta; Ta sẽ chẳng thương yêu chúng nữa. Tất cả các thủ lĩnh của chúng là phường phản bội.
Ép-ra-im bị đánh; Rễ nó đã khô. Chúng sẽ không còn ra trái nữa; Dù chúng có sinh con Ta cũng sẽ giết hết những đứa con yêu quý mà chúng đã cưu mang.”
Đức Chúa Trời ta sẽ từ bỏ chúng Vì chúng không nghe lời Ngài Và chúng sẽ phải phiêu bạt giữa các nước.
Y-sơ-ra-ên là một cây nho tươi tốt Sinh ra bông trái. Trái nó càng sai chừng nào Nó càng thêm nhiều bàn thờ chừng nấy; Đất nước nó càng hưng thịnh Nó càng trang hoàng các trụ thờ đẹp đẽ hơn.
Lòng của chúng phân hai; Bây giờ chúng phải bị định tội. Chúa sẽ triệt hạ bàn thờ, Và phá hủy các trụ thờ của chúng.
Bây giờ chúng sẽ nói: “Chúng ta không có vua Vì chúng ta không kính sợ Đức Giê-hô-va, Nhưng nếu có vua, vua ấy có thể làm gì cho chúng ta?”
Chúng nói những lời trống rỗng Và thề dối khi lập giao ước; Cho nên sự tranh tụng nẩy nở như cỏ độc Trong các luống cày ngoài đồng ruộng.
Dân cư Sa-ma-ri sẽ lo sợ Cho những bò con; của Bết A-ven Dân chúng sẽ khóc than cho nó, Bọn thầy cúng vốn vui thích nó cũng than khóc Vì vinh quang của nó đã biến mất.
Chính nó cũng bị đem qua A-si-ri Triều cống cho đại vương của nước nầy. Bấy giờ, Ép-ra-im sẽ xấu hổ, Y-sơ-ra-ên sẽ hổ thẹn về mưu đồ của mình.
Vua Sa-ma-ri tiêu tan Như bọt trên mặt nước.
Các nơi cao của A-ven, tức là tội lỗi của Y-sơ-ra-ên, Sẽ bị phá hủy. Gai gốc và bụi rậm sẽ mọc lên Trên các bàn thờ của chúng. Bấy giờ, chúng sẽ nói với các núi rằng: Hãy bao phủ chúng tôi! Và nói với các đồi rằng: Hãy đổ xuống trên chúng tôi!
Hỡi Y-sơ-ra-ên, từ ngày Ghi-bê-a ngươi đã phạm tội rồi! Chúng đều đứng ở đó; Lẽ nào chiến tranh không đuổi kịp Con cái của sự gian ác trong Ghi-bê-a sao?
Ta đã quyết định trừng phạt chúng Các dân sẽ tập hợp để chống lại chúng Khi chúng bị trừng phạt vì hai tội đã phạm.
Ép-ra-im như bò cái tơ thuần thục Ưa thích đạp lúa, Nhưng Ta đã để dành cái cổ béo tốt của nó. Ta sẽ đặt ách trên Ép-ra-im; Giu-đa sẽ cày Và Gia-cốp sẽ tự bừa đất.
Hãy gieo cho mình sự công chính, Và gặt sự nhân từ; Hãy vỡ đất mới! Vì đây là kỳ tìm kiếm Đức Giê-hô-va Cho đến khi Ngài đến Và đổ mưa công chính trên các ngươi.
Các ngươi đã cày sự gian ác, Gặt sự bất công, Ăn trái của sự nói dối. Vì ngươi đã trông cậy nơi đường lối mình, Và muôn vàn dũng sĩ của ngươi.
Vì vậy, sự rối loạn sẽ sinh ra trong dân ngươi: Và người ta sẽ hủy phá mọi đồn lũy của ngươi Như San-man đã hủy phá Bết Ạt-bên trong ngày tranh chiến, Ngày mà các bà mẹ bị giập nát với các con mình.
Hỡi người Bê-tên, đó là điều người ta sẽ làm cho các ngươi, Vì sự gian ác của các ngươi quá lớn. Vừa khi hừng sáng, Vua Y-sơ-ra-ên sẽ bị tiêu diệt.
“Khi Y-sơ-ra-ên còn thơ ấu Ta đã yêu mến nó; Ta gọi con trai Ta ra khỏi Ai Cập.
Ta gọi nó chừng nào Nó càng trốn tránh Ta chừng nấy. Chúng đã dâng tế lễ cho các tượng Ba-anh Và đốt hương cho tượng chạm.
Dù vậy Ta đã dạy Ép-ra-im bước đi, Lấy cánh tay mà nâng đỡ nó. Nhưng chúng chẳng biết rằng Ta đã chữa lành cho chúng.
Ta đã dùng dây nhân từ, Dùng xích yêu thương mà kéo chúng đến. Ta đã như người cởi ách khỏi hàm chúng, Và cúi xuống để cho chúng ăn.
Chúng sẽ không trở về đất Ai Cập nữa, Nhưng người A-si-ri sẽ làm vua của chúng, Vì chúng không chịu trở lại cùng Ta.
Gươm đao sẽ hoành hành trên các thành của chúng, Phá hủy các then cửa và nuốt sạch chúng Vì các âm mưu của chúng.
Thật dân Ta quyết ý từ bỏ Ta. Cho dù chúng kêu cầu Đấng Chí Cao Ngài cũng không đỡ chúng dậy.
Hỡi Ép-ra-im, làm sao Ta bỏ ngươi được? Hỡi Y-sơ-ra-ên, làm sao Ta đành giao ngươi cho kẻ thù? Làm sao Ta đối xử với ngươi như Át-ma Hay như với Sê-bô-im được? Tim Ta rung động, Lòng thương xót của Ta như nung như đốt.
Ta sẽ không thi hành cơn phẫn nộ Ta Và sẽ chẳng tiêu diệt Ép-ra-im. Vì Ta là Đức Chúa Trời chứ không phải là người; Ta là Đấng Thánh ở giữa ngươi, Ta chẳng đến với ngươi trong cơn thịnh nộ.
Chúng sẽ bước theo Đức Giê-hô-va, Ngài gầm thét như sư tử; Vâng, Ngài sẽ gầm thét, Con cái Ngài sẽ từ phương tây run rẩy mà đến.
Chúng sẽ run rẩy mà đến Như chim từ Ai Cập, Như bồ câu từ đất A-si-ri, Ta sẽ khiến chúng trở về nhà mình.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Ép-ra-im lấy sự nói dối, Nhà Y-sơ-ra-ên lấy sự lừa phỉnh mà bao bọc Ta. Nhưng Giu-đa vẫn đi với Đức Chúa Trời Và giữ lòng trung tín với Đấng Thánh.
Ép-ra-im chăn giữ gió, Suốt ngày chạy theo gió đông. Cứ gia tăng lời dối trá và bạo tàn; Chúng lập giao ước với A-si-ri Và đem dầu sang Ai Cập.
Đức Giê-hô-va lên án Giu-đa Và trừng phạt Gia-cốp theo đường lối nó; Ngài sẽ báo trả nó theo việc nó làm.
Trong bụng mẹ Gia-cốp đã nắm gót anh mình, Lúc trưởng thành nó đấu tranh với Đức Chúa Trời.
Nó vật lộn với thiên sứ và thắng cuộc, Nó khóc lóc và xin ơn thương xót. Ngài đã gặp Gia-cốp tại Bê-tên Và tại đó Ngài phán dạy chúng ta:
“Ngài là Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân; Danh Ngài là Đức Giê-hô-va.
Vậy ngươi hãy trở về với Đức Chúa Trời ngươi; Giữ lòng nhân từ và tính công bằng, Và luôn luôn trông đợi Đức Chúa Trời ngươi.”
Là tay buôn bán, nó cầm cân giả trong tay, Nó ưa bóc lột.
Ép-ra-im từng nói: “Thật, ta đã giàu rồi; Ta đã có nhiều của cải cho mình. Trong mọi việc ta làm Chẳng hề thấy một việc gian ác nào để gọi là tội lỗi.”
Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi Từ khi ngươi ra khỏi đất Ai Cập, Ta sẽ lại cho ngươi ở dưới các trại Như trong những ngày lễ Hội Kiến.
Ta cũng đã phán với các nhà tiên tri; Chính Ta đã gia tăng các khải tượng. Dùng các nhà tiên tri Mà dạy dỗ bằng ngụ ngôn.
Ga-la-át đầy gian ác, Chắc chắn chúng sẽ thành hư không. Chúng dâng bò đực trong Ghinh-ganh, Các bàn thờ của chúng không khác gì những đống đá Trên các luống cày ngoài đồng ruộng
Gia-cốp trốn sang đất A-ram; Y-sơ-ra-ên làm tôi để được vợ, Vì để có vợ mà phải đi chăn bầy.
Đức Giê-hô-va dùng một nhà tiên tri đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập Và cũng dùng nhà tiên tri canh giữ nó.
Ép-ra-im đã khơi dậy cơn giận đắng cay Nên máu nó sẽ đổ lại trên nó, Và Chúa sẽ báo trả sự nhục mạ của nó.
Mỗi khi Ép-ra-im lên tiếng, người ta run rẩy; Nó được tôn cao trong Y-sơ-ra-ên. Nhưng vì phạm tội thờ Ba-anh, Nên nó phải chết.
Bây giờ, chúng phạm tội càng thêm; Chúng làm cho mình những tượng đúc, Dùng tài khéo léo của mình mà đúc những tượng bằng bạc; Tất cả đều là sản phẩm của thợ thủ công! Người ta nói về những kẻ dâng sinh tế rằng: “Con người mà lại hôn bò con!”
Vì thế, chúng sẽ giống như mây buổi sáng, Như sương ban mai chóng tan, Như rơm rác bị gió lốc cuốn khỏi sân đập lúa, Như làn khói bay qua cửa sổ!
Chính Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, Đấng đem ngươi ra khỏi đất Ai Cập; Ngoài Ta, ngươi chớ thừa nhận thần nào khác, Không có Cứu Chúa nào khác, ngoại trừ Ta!
Chính Ta đã biết ngươi lúc ngươi còn trong hoang mạc, Trong vùng đất khô cằn.
Nhưng khi chúng được nuôi trong đồng cỏ Và được ăn no nê thì chúng sinh lòng kiêu ngạo; Do đó, chúng đã quên Ta.
Vì thế đối với chúng, Ta sẽ như sư tử, Như con beo rình rập bên đường.
Ta sẽ vồ chúng như gấu cái mất con. Ta sẽ xé nát lồng ngực chúng Và nuốt chúng ngay tại chỗ như sư tử; Thú rừng sẽ xé xác chúng ra từng mảnh.
Hỡi Y-sơ-ra-ên, ngươi bị hủy diệt Vì ngươi chống lại Ta, là Đấng cứu giúp ngươi.
Bây giờ vua ngươi đâu rồi? Hãy để người giải cứu ngươi trong tất cả các thành! Các quan xét là những người mà ngươi đòi cho được rằng: “Hãy cho tôi một vua và các nhà lãnh đạo!” Họ đâu cả rồi?
Trong cơn giận, Ta đã ban cho ngươi một vua, Và trong cơn thịnh nộ, Ta lại cất đi.
Sự gian ác của Ép-ra-im được buộc lại, Tội lỗi của nó được cất giữ.
Cơn đau quặn thắt của đàn bà sinh đẻ sẽ đến trên nó, Nhưng nó là đứa con không khôn ngoan; Vì đã đến lúc chào đời mà nó không chịu rời khỏi lòng mẹ.
Ta lại cứu chúng khỏi quyền lực của âm phủ Và chuộc chúng khỏi sự chết sao? Hỡi sự chết, tai họa mầy ở đâu? Hỡi âm phủ, sự hủy diệt mầy ở đâu? Sự thương xót bị giấu khỏi mắt Ta.
Mặc dù Ép-ra-im có sinh sôi nảy nở giữa anh em mình Thì một ngọn gió đông sẽ thổi đến, Tức là gió của Đức Giê-hô-va thổi lên từ hoang mạc, Làm cạn các nguồn nước và làm khô các suối. Ngọn gió ấy sẽ cướp đi kho tàng chứa mọi bảo vật.
Sa-ma-ri sẽ mang tội của nó, Vì nó đã nổi loạn chống lại Đức Chúa Trời mình! Chúng sẽ ngã chết dưới lưỡi gươm; Các con trẻ của chúng sẽ bị đập nát, Và những đàn bà có mang của chúng sẽ bị mổ bụng.
Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy trở lại cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, Vì chính tội lỗi ngươi làm cho ngươi vấp ngã.
Các ngươi hãy đem lời nói Mà trở lại cùng Đức Giê-hô-va; Hãy thưa với Ngài rằng: “Xin cất bỏ mọi tội ác chúng con Và nhậm điều tốt lành, Để chúng con dâng tế lễ ngợi ca bằng đôi môi Thay vì bò tơ đực.
A-si-ri không thể giải cứu chúng con, Chúng con sẽ không cưỡi ngựa chiến nữa. Chúng con không còn gọi sản phẩm do tay chúng con làm ra Là thần của chúng con nữa; Vì chỉ trong Ngài, kẻ mồ côi mới nhận được sự thương xót!”
Ta sẽ chữa lành sự bội nghịch của chúng. Ta sẽ yêu thương chúng hết lòng, Vì cơn giận của Ta đã xây khỏi chúng.
Ta sẽ như sương móc cho Y-sơ-ra-ên; Nó sẽ trổ hoa như cây huệ Và đâm rễ như Li-ban.
Các cành non của nó vươn ra xa; Sự xinh tốt của nó giống như sự xinh tốt của cây ô-liu, Mùi thơm của nó như mùi thơm của Li-ban.
Những người ngồi dưới bóng nó sẽ trở về. Chúng sẽ hồi sinh như cây lúa. Chúng sẽ trổ hoa như cây nho Và mùi thơm của Y-sơ-ra-ên sẽ như rượu Li-ban.
Hỡi Ép-ra-im, Ta có liên hệ gì với các tượng thần? Chính Ta đã nhậm lời và sẽ đoái xem ngươi. Ta sẽ như cây bách xanh tươi; Nhờ Ta mà ngươi sinh hoa kết quả.
Ai là người khôn ngoan, hãy hiểu những điều nầy? Ai là người thông sáng, hãy biết những điều ấy? Vì các đường lối của Đức Giê-hô-va là ngay thẳng; Những người công chính sẽ bước đi trong đó, Còn những kẻ phạm tội thì vấp ngã trong đó.
Lời Đức Giê-hô-va phán với Giô-ên, con trai của Phê-thu-ên:
Hỡi các trưởng lão, hãy nghe điều nầy! Hỡi tất cả cư dân trên đất, hãy lắng tai! Có bao giờ xảy ra điều nầy trong thời các ngươi, Hay trong thời tổ phụ các ngươi chưa?
Hãy kể lại chuyện nầy cho con cái các ngươi, Rồi con cái các ngươi kể lại cho con cái chúng, Và con cái chúng sẽ kể lại cho thế hệ tiếp theo.
Cái gì sâu keo còn để lại thì cào cào ăn; Cái gì cào cào còn để lại thì sâu lột vỏ ăn; Cái gì sâu lột vỏ còn để lại thì châu chấu ăn.
Hỡi những kẻ say sưa, hãy tỉnh dậy và khóc lóc! Hỡi mọi kẻ nghiện rượu, hãy khóc than, Vì rượu ngọt đã bị cất khỏi miệng các ngươi!
Vì một dân hùng mạnh và đông vô số tiến đánh đất Ta; Răng chúng là răng sư tử, Chúng có răng hàm của sư tử cái.
Chúng phá hủy cây nho Ta, Và lột vỏ cây vả Ta; Chúng lột sạch vỏ và ném đi, Để trơ các cành cây trắng hếu.
Hãy than khóc như một trinh nữ mặc áo sô Than khóc chồng sắp cưới lúc thanh xuân!
Tế lễ chay và lễ quán bị dứt khỏi đền thờ Đức Giê-hô-va; Các thầy tế lễ phụng sự Đức Giê-hô-va đang than khóc.
Đồng ruộng bị phá hoang, Đất đai thảm sầu, vì ngũ cốc bị hủy hoại; Rượu mới đã cạn khô, mà dầu thì cũng không còn.
Hỡi nhà nông, hãy hổ thẹn; Hỡi người trồng nho, hãy than khóc về lúa mì và lúa mạch, Vì mùa màng ngoài đồng đã mất.
Cây nho khô héo, cây vả úa tàn; Ngay cả cây lựu, cây chà là, cây táo, Và mọi cây cối ngoài đồng đều khô héo; Niềm vui của loài người cũng héo úa!
Hỡi các thầy tế lễ, hãy mặc áo sô và than khóc! Hỡi những người phục vụ nơi bàn thờ, hãy khóc than! Hỡi những người phục vụ Đức Chúa Trời tôi, Hãy đến mặc áo sô mà thức suốt đêm! Vì tế lễ chay và lễ quán không còn được dâng lên Trong đền thờ Đức Chúa Trời các ngươi!
Hãy định ngày kiêng ăn! Hãy triệu tập một hội đồng trọng thể! Hãy tập hợp các trưởng lão và tất cả cư dân trong xứ Tại đền thờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi! Và hãy kêu cầu Đức Giê-hô-va!
Ôi ngày ấy! Vì ngày Đức Giê-hô-va đến gần. Nó đến như một cơn hủy diệt đến từ Đấng Toàn Năng.
Chẳng phải lương thực đã bị cất đi Ngay trước mắt chúng ta, Và niềm vui mừng hân hoan Đã dứt khỏi nhà Đức Chúa Trời chúng ta sao?
Hạt giống đã teo đi dưới những cục đất; Nhà kho tan hoang, vựa lẫm đổ nát, Vì ngũ cốc đã cạn kiệt.
Kìa, súc vật rên rỉ thảm thương! Bầy bò thơ thẩn bối rối! Vì chúng không còn đồng cỏ nữa. Cả bầy chiên cũng khốn khổ.
Lạy Đức Giê-hô-va, con kêu cầu Ngài. Vì lửa đã thiêu nuốt các đồng cỏ nơi hoang mạc, Ngọn lửa đã đốt sạch mọi cây cối ngoài đồng!
Những thú đồng cũng khao khát hướng về Ngài, Vì các suối nước đã cạn khô, Lửa đã thiêu nuốt các đồng cỏ nơi hoang mạc.
Hãy thổi tù và trong Si-ôn, Hãy thổi vang trên núi thánh Ta! Tất cả cư dân trong xứ hãy run rẩy! Vì ngày Đức Giê-hô-va đến gần, ngày ấy đã gần kề.
Đó là một ngày tối tăm u ám, Một ngày mây đen dày đặc! Vì một dân đông đảo và hùng mạnh kéo đến Tỏa ra khắp núi đồi như ánh bình minh; Việc như thế xưa nay chưa hề có, Và muôn đời về sau cũng sẽ không bao giờ có nữa.
Trước mặt chúng, có lửa thiêu nuốt, Sau lưng chúng, có ngọn lửa cháy bừng. Trước khi chúng đến, đất đai như vườn Ê-đen; Sau khi chúng qua, chỉ còn là hoang mạc điêu tàn. Không có gì thoát khỏi chúng hết.
Hình dạng chúng như đàn ngựa; Chúng chạy xông tới như đoàn kỵ binh.
Chúng nhảy trên các đỉnh núi nghe như tiếng chiến xa, Như tiếng ngọn lửa thiêu đốt rơm rạ; Như một đội quân hùng mạnh sẵn sàng lâm trận.
Các dân kinh hãi trước mặt chúng, Mọi gương mặt đều tái đi.
Chúng chạy xông tới như những dũng sĩ, Và trèo lên tường thành như các chiến binh; Ai nấy tiến thẳng theo đường mình, Không hề sai hàng ngũ.
Chúng chẳng xô đẩy nhau, ai tiến theo đường nấy; Chúng xông qua những khí giới mà không hề bỏ ngũ.
Chúng đổ xô vào thành phố, chạy trên tường thành, Trèo vào nhà qua các cửa sổ như kẻ trộm.
Trước mặt chúng, đất rúng động, Các tầng trời rung chuyển, Mặt trời, mặt trăng trở nên tối tăm, Các ngôi sao thu ánh sáng lại.
Đức Giê-hô-va làm cho tiếng Ngài vang ra trước đội quân Ngài, Vì trại quân Ngài rất đông và những người làm theo lời Ngài rất mạnh. Ngày của Đức Giê-hô-va thật lớn lao và rất đáng sợ, Ai có thể chịu nổi?
Đức Giê-hô-va phán: “Bây giờ, hãy hết lòng trở về cùng Ta, Hãy kiêng ăn, khóc lóc và đau buồn.
Hãy xé lòng các con và đừng xé áo. Hãy trở về với Giê-hô-va Đức Chúa Trời các con, Vì Ngài nhân từ, thương xót, chậm giận và giàu tình thương; Đổi ý không giáng tai họa.
Biết đâu Ngài sẽ quay lại, đổi ý, và để lại phước lành sau Ngài, Cho các con có cơ hội dâng tế lễ chay, lễ quán Lên Giê-hô-va Đức Chúa Trời các con?”
Hãy thổi kèn trong Si-ôn, Hãy định ngày kiêng ăn, Hãy triệu tập một hội đồng trọng thể!
Hãy nhóm họp dân chúng, Biệt riêng hội chúng ra thánh; Hãy mời các trưởng lão đến; Hãy nhóm họp các thiếu nhi, Kể cả trẻ thơ đang bú! Chú rể hãy ra khỏi phòng mình, Và cô dâu hãy ra khỏi chốn loan phòng!
Các thầy tế lễ là những người phụng sự Đức Giê-hô-va, Hãy khóc lóc, kêu than giữa cổng đền thờ và bàn thờ rằng: “Lạy Đức Giê-hô-va, xin thương xót dân Ngài, Đừng để cơ nghiệp Ngài bị các dân sỉ nhục và đàm tiếu. Sao để người ta nói giữa các dân rằng: ‘Đức Chúa Trời chúng nó ở đâu?’”
Đức Giê-hô-va đã nổi ghen vì đất nầy, Và Ngài tỏ lòng thương xót dân Ngài.
Đức Giê-hô-va đã trả lời và phán với dân Ngài rằng: “Nầy, Ta sẽ ban cho các con: Ngũ cốc, rượu mới và dầu, Các con sẽ được no nê các thứ đó. Ta sẽ không còn để các con Bị sỉ nhục giữa các dân nữa.
Ta sẽ khiến quân thù phương bắc lìa xa các con, Đuổi chúng vào đất khô khan và hoang vắng: Xua quân tiên phong chúng vào biển đông, Quân hậu tập chúng vào biển tây. Mùi hôi của chúng xông lên, Mùi tanh của chúng dậy lên.” Vì chắc chắn Chúa đã làm những việc lớn lao.
Hỡi đất, đừng sợ! Hãy vui mừng hoan hỉ, Vì Đức Giê-hô-va đã làm những việc lớn.
Hỡi các loài thú đồng, đừng sợ, Vì các đồng cỏ nơi hoang mạc sẽ lại xanh tươi, Cây cối sẽ ra trái, Cây vả và cây nho đều cho quả dồi dào.
Hỡi con dân Si-ôn, hãy vui mừng hoan hỉ Trong Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi! Vì Ngài ban mưa đầu mùa cho các ngươi; Đổ mưa đầu mùa và mưa cuối mùa Xuống cho các ngươi như trước.
Các sân đập lúa sẽ đầy lúa mì, Các thùng sẽ tràn rượu mới và dầu.
“Ta sẽ đền bù cho các con Về những năm mùa màng bị cắn phá Bởi cào cào, sâu lột vỏ, sâu keo và châu chấu, Là đạo quân lớn mà Ta đã sai đến giữa các con.
Các con sẽ ăn và được no nê, Và sẽ ca ngợi danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con, Là Đấng đã đối xử với các con cách diệu kỳ. Dân Ta sẽ không bao giờ bị xấu hổ nữa.
Các con sẽ biết rằng Ta ở giữa Y-sơ-ra-ên, Và biết rằng Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời các con, Chẳng có ai khác. Dân Ta sẽ không bao giờ bị xấu hổ nữa.”
“Sau đó, Ta sẽ đổ Thần Ta trên mọi xác thịt. Con trai và con gái các con sẽ nói tiên tri; Những người già được báo mộng, Các thanh niên sẽ thấy khải tượng.
Trong những ngày ấy, Ta cũng đổ Thần Ta Trên các tôi trai tớ gái.
Ta sẽ cho xuất hiện những điềm lạ trên trời và dưới đất, Là máu, lửa, và các trụ khói.
Mặt trời sẽ trở nên tối tăm, Mặt trăng đỏ như máu Trước khi ngày lớn và kinh khiếp của Đức Giê-hô-va đến.”
Bấy giờ, ai kêu cầu danh Đức Giê-hô-va đều sẽ được cứu Vì theo lời Đức Giê-hô-va, Trên núi Si-ôn và trong Giê-ru-sa-lem Sẽ có những người được cứu thoát; Và trong số những người sống sót, Sẽ có người được Đức Giê-hô-va kêu gọi.
“Vì nầy, trong những ngày ấy, là thời kỳ mà Ta sẽ đem những người bị lưu đày của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem trở về,
thì Ta sẽ tập trung tất cả các nước lại và đem chúng xuống thung lũng Giô-sa-phát. Tại đó, Ta sẽ vì dân Ta và sản nghiệp Ta là Y-sơ-ra-ên mà phán xét chúng, vì chúng đã làm cho dân Ta tan tác giữa các dân tộc. Chúng đã phân chia đất Ta,
và bắt thăm về dân Ta. Chúng đã đổi con trai mà lấy gái mại dâm, và bán con gái để lấy rượu mà uống.
Hỡi Ty-rơ và Si-đôn cùng tất cả địa phận của Phi-li-tin, các ngươi có can hệ gì với Ta? Có phải các ngươi muốn trả thù Ta chăng? Nếu thế thì Ta sẽ khiến điều các ngươi làm đổ lại trên đầu các ngươi một cách nhanh chóng và thình lình.
Vì các ngươi đã cướp lấy vàng bạc của Ta, và đem các báu vật của Ta vào trong các đền miếu của các ngươi;
các ngươi đã bán con dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem cho người Hi Lạp, khiến họ phải rời khỏi lãnh thổ mình.
Nầy, Ta sẽ khiến họ nổi dậy từ nơi mà các ngươi đã bán họ; và Ta sẽ khiến điều các ngươi làm đổ lại trên đầu các ngươi.
Ta sẽ phó con trai con gái các ngươi vào tay dân Giu-đa, và họ sẽ bán chúng cho người Sa-bê, là một dân xa xôi.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Hãy loan báo điều nầy giữa các nước: Hãy chuẩn bị chiến tranh, Động viên các dũng sĩ. Tất cả lính chiến hãy tiến tới và xung trận!
Hãy lấy lưỡi cày rèn gươm, Lấy lưỡi liềm rèn giáo. Người yếu ớt hãy nói: “Tôi mạnh mẽ!”
Hỡi tất cả các nước chung quanh, hãy mau đến và tập hợp tại đó! “Lạy Đức Giê-hô-va, xin sai các dũng sĩ của Ngài xuống đó!”
“Các nước hãy dậy, đi lên thung lũng Giô-sa-phát, Vì đó là nơi Ta sẽ ngồi phán xét tất cả các dân tộc chung quanh.
Hãy tra lưỡi hái vào vì mùa gặt đã tới. Hãy đến đạp nho vì hầm ép đã đầy, các thùng đã tràn, Vì tội ác của chúng lớn lắm.”
Đoàn người đông đảo, thật là đông đảo Tại thung lũng Chung Thẩm! Vì ngày Đức Giê-hô-va gần kề Trong thung lũng Chung Thẩm.
Mặt trời và mặt trăng trở nên tối tăm, Các ngôi sao thu ánh sáng lại.
Đức Giê-hô-va gầm thét từ Si-ôn; Ngài làm cho vang tiếng mình ra từ Giê-ru-sa-lem. Các tầng trời và cả mặt đất đều rung chuyển. Nhưng Đức Giê-hô-va là nơi ẩn náu cho dân Ngài, Là đồn lũy cho con dân Y-sơ-ra-ên.
“Bấy giờ, các con sẽ biết Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời các con, Đấng ngự tại Si-ôn, là núi thánh Ta. Giê-ru-sa-lem sẽ là thành thánh Và người ngoại quốc sẽ không còn xâm chiếm nó nữa.”
Trong ngày ấy, các núi nhỏ rượu ngọt ra; Các đồi sẽ tuôn chảy sữa, Tất cả các khe Giu-đa sẽ có nước chảy cuồn cuộn. Một dòng suối sẽ chảy ra từ nhà Đức Giê-hô-va Và nhuần tưới thung lũng Si-tim.
Ai Cập sẽ trở nên hoang vu, Ê-đôm trở thành hoang mạc tiêu điều; Vì chúng đã đối đãi bạo ngược với con dân Giu-đa Và làm đổ máu vô tội ra trong đất mình.
Nhưng Giu-đa sẽ có dân sinh sống mãi mãi, Và Giê-ru-sa-lem sẽ tồn tại từ đời nầy qua đời kia.
Ta sẽ làm sạch nợ máu của họ mà Ta chưa từng làm sạch, Vì Đức Giê-hô-va ngự tại Si-ôn.
Lời của A-mốt, một trong những chủ trại nuôi chiên ở Thê-cô-a, nói về những điều mình thấy liên quan đến dân Y-sơ-ra-ên dưới thời Ô-xia, vua Giu-đa và dưới thời Giê-rô-bô-am, con trai Giô-ách, vua Y-sơ-ra-ên, hai năm trước trận động đất.
Người nói: “Từ Si-ôn, Đức Giê-hô-va gầm thét. Từ Giê-ru-sa-lem, Ngài làm cho vang tiếng mình ra. Những đồng cỏ của kẻ chăn chiên sẽ thảm sầu, Đỉnh núi Cạt-mên sẽ khô héo.”
Đức Giê-hô-va phán: “Vì tội ác của Đa-mách chồng chất thêm tội ác Nên Ta không rút lại án phạt khỏi nó. Vì nó đã lấy dụng cụ đập lúa bằng sắt Mà đập Ga-la-át.
Ta sẽ sai lửa đến trên nhà Ha-xa-ên Để thiêu hủy các đền đài của Bên-ha-đát.
Ta sẽ bẻ gãy then cửa thành Đa-mách; Ta sẽ hủy diệt cư dân khỏi trũng A-ven Và kẻ cầm cây trượng khỏi Bết Ê-đen; Còn dân chúng A-ram sẽ bị lưu đày qua Ki-rơ” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: “Vì tội ác của Ga-xa chồng chất thêm tội ác Nên Ta không rút lại án phạt khỏi nó. Vì nó đã bắt toàn bộ dân chúng đi đày, Và nộp cho Ê-đôm.
Ta sẽ sai lửa đến trên vách thành Ga-xa Để thiêu hủy những đền đài của nó.
Ta sẽ dứt cư dân khỏi Ách-đốt Và kẻ cầm cây trượng khỏi Ách-ca-lôn. Ta sẽ trở tay Ta chống lại Éc-rôn Và phần sót lại của người Phi-li-tin sẽ chết” Chúa Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: “Vì tội ác của Ty-rơ chồng chất thêm tội ác Nên Ta không rút lại án phạt khỏi nó Vì chúng đã nộp cả dân chúng cho Ê-đôm Chẳng hề nhớ đến lời giao ước với anh em.
Ta sẽ sai lửa đến trên vách thành Ty-rơ Lửa sẽ thiêu hủy những đồn lũy của nó.”
Đức Giê-hô-va phán: “Vì tội ác của Ê-đôm chồng chất thêm tội ác Nên Ta không rút án phạt khỏi nó, Vì nó đã dùng gươm đuổi theo anh em mình Không chút xót thương; Nó cứ giữ cơn giận mãi mãi, Và nuôi thịnh nộ đến đời đời.
Ta sẽ sai lửa đến trên Thê-man, Lửa sẽ thiêu hủy những đồn lũy của Bốt-ra.”
Đức Giê-hô-va phán: “Vì tội ác của con cái Am-môn chồng chất thêm tội ác Nên Ta sẽ không rút án phạt khỏi nó. Vì chúng đã mổ bụng phụ nữ mang thai của Ga-la-át Để mở rộng biên cương mình.
Ta sẽ châm lửa đốt vách thành Ráp-ba, Lửa sẽ thiêu hủy những đồn lũy của nó Giữa tiếng kêu la trong ngày chiến trận, Giữa cơn gió lốc trong lúc phong ba.
Vua và các quan chức của chúng Sẽ cùng nhau bị lưu đày,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: “Vì tội ác của Mô-áp chồng chất thêm tội ác Nên Ta không rút lại án phạt khỏi nó. Vì nó đã đốt hài cốt Của vua Ê-đôm thành ra vôi.
Ta sẽ sai lửa đến trên Mô-áp, Lửa sẽ thiêu hủy các đồn lũy của Kê-ri-giốt. Mô-áp sẽ chết trong cơn náo loạn. Giữa tiếng kêu la và tiếng thổi kèn.
Ta sẽ diệt người cai trị khỏi nó Và giết tất cả các quan chức cùng với hắn.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: “Vì tội ác của Giu-đa chồng chất thêm tội ác Nên Ta không rút lại án phạt khỏi nó. Vì chúng đã bỏ luật pháp của Đức Giê-hô-va, Và không vâng theo luật lệ Ngài, Nhưng bị những điều lừa dối làm cho lầm lạc, Đi theo con đường của tổ phụ chúng.
Ta sẽ sai lửa đến trên Giu-đa Lửa sẽ thiêu hủy những đồn lũy của Giê-ru-sa-lem.”
Đức Giê-hô-va phán: “Vì tội ác của Y-sơ-ra-ên chồng chất thêm tội ác Nên Ta không rút lại án phạt khỏi nó. Vì chúng đã bán người công chính để lấy bạc, Bán kẻ nghèo để lấy một đôi dép.
Chúng đạp đầu kẻ nghèo khó xuống tận bùn đen, Và làm sai lệch đường lối của người nhu mì. Con và cha cùng đi đến với một cô gái Và như vậy làm cho ô danh thánh Ta.
Chúng nằm gần mỗi bàn thờ, Trên những áo quần mà chúng đã lấy làm của cầm Và uống rượu của kẻ bị chúng phạt Trong miếu tà thần của chúng.
Dù vậy, chính Ta đã hủy diệt người A-mô-rít trước mặt chúng, Là giống người cao như cây bá hương Và mạnh như cây sồi. Ta đã diệt trái nó trên cành Và rễ nó dưới đất.
Ta đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ai Cập Và dẫn các ngươi trong hoang mạc trải bốn mươi năm Để các ngươi chiếm đất của người A-mô-rít làm sản nghiệp.
Ta đã dấy các nhà tiên tri lên giữa các con trai các ngươi Và dấy những người Na-xi-rê lên giữa những thanh niên của các ngươi. Hỡi con cái Y-sơ-ra-ên, không phải đó là sự thật sao?” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Nhưng các ngươi đã cho các người Na-xi-rê uống rượu Và cấm các nhà tiên tri rằng: ‘Chớ nói tiên tri!’
Nầy, Ta sẽ đè bẹp các ngươi trong chỗ ngươi ở Như cái xe bị đè bẹp bởi những bó lúa.
Người nhanh nhẹn sẽ không thể trốn được; Người mạnh mẽ sẽ không giữ được sức mạnh mình Và người bạo dạn sẽ chẳng cứu được mạng sống mình.
Kẻ giương cung sẽ chẳng đứng vững được; Người có chân lẹ làng sẽ chẳng lánh khỏi được; Người cưỡi ngựa sẽ không thể cứu mình được
Và kẻ can đảm nhất trong những dũng sĩ Sẽ cởi trần mà trốn chạy trong ngày đó” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Hỡi con cái Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời nầy, là lời Đức Giê-hô-va chống lại các ngươi, tức là chống lại cả gia tộc mà Ta đã đem ra khỏi đất Ai Cập.
Ta chỉ biết một mình các ngươi Trong mọi gia tộc trên đất; Vì thế, Ta sẽ trừng phạt các ngươi Về mọi gian ác của các ngươi.
Nếu hai người không đồng ý với nhau Thì có đi chung đường được sao?
Nếu sư tử không bắt được mồi Thì nó có gầm thét trong rừng chăng? Nếu sư tử con không bắt được gì Thì nó có rống lên trong hang sâu không?
Làm sao con chim sa vào lưới giăng trên đất Nếu chẳng có bẫy gài để bắt nó? Bằng chẳng bắt được gì Thì lưới có giật lên khỏi đất sao?
Khi kèn thổi trong thành Thì dân chúng chẳng lo sợ sao? Có tai họa nào xảy đến cho một thành Mà Đức Giê-hô-va không giáng xuống?
Cũng vậy, Chúa Giê-hô-va chẳng làm một việc gì Mà không tỏ sự kín nhiệm Ngài Cho các đầy tớ Ngài là các nhà tiên tri.
Khi sư tử gầm thét Thì ai mà chẳng sợ? Khi Chúa Giê-hô-va phán dạy Thì ai mà chẳng nói tiên tri?
Hãy rao truyền ra trong các đền đài Ách-đốt Và trong các đền đài của Ai Cập. Hãy nói rằng: “Các ngươi hãy tụ họp trên các núi của Sa-ma-ri; Hãy xem bao rối loạn lớn ở đó Và những áp bức giữa dân nó”
Đức Giê-hô-va phán: “Chúng không biết làm điều ngay thẳng; Chúng chất đầy của cải do bạo hành và cướp giật trong các đền đài mình.”
Vì thế, Chúa Giê-hô-va phán: “Kìa, kẻ thù sẽ đến bao vây đất nầy; Nó hủy diệt sức mạnh ngươi Và cướp phá những đền đài của ngươi.”
Đức Giê-hô-va phán: “Như người chăn chiên chỉ gỡ được hai chân Hay một lỗ tai ra khỏi miệng sư tử Thì con cái Y-sơ-ra-ên ngồi tại Sa-ma-ri Trên góc giường và trên trường kỷ của Đa-mách Cũng sẽ được cứu như vậy.
Chúa Giê-hô-va, Đức Chúa Trời vạn quân phán: Hãy nghe và làm chứng chống lại với nhà Gia-cốp.
Trong ngày Ta trừng phạt Y-sơ-ra-ên về tội lỗi nó, Ta cũng sẽ phá hủy các bàn thờ của Bê-tên; Các sừng của bàn thờ sẽ bị chặt Và rơi xuống đất.
Bấy giờ, Ta sẽ phá hủy nhà mùa đông và nhà mùa hạ; Những nhà bằng ngà voi sẽ bị tàn phá Và những nhà lớn sẽ bị hủy diệt,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Hỡi những bò cái của Ba-san, ở trên núi Sa-ma-ri, Hãy nghe đây! Các ngươi áp bức kẻ nghèo nàn, hà hiếp người thiếu thốn, Và nói với chồng của mình rằng: “Hãy đem thức uống đến đây!”
Chúa Giê-hô-va đã lấy đức thánh khiết của Ngài mà thề rằng: “Thì giờ sẽ đến trên các ngươi, Khi người ta sẽ dùng móc bắt lấy các ngươi, Dùng lưỡi câu mà bắt những kẻ sống sót của các ngươi.
Mỗi người trong các ngươi sẽ chui ra Qua những lỗ thủng của tường thành, Và các ngươi sẽ bị ném vào Ha-môn,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Hãy đi đến Bê-tên mà phạm tội; Hãy đi đến Ghinh-ganh mà phạm tội thêm đi! Mỗi buổi sáng, hãy đem sinh tế đến, Và cứ ba ngày thì dâng các phần mười của các ngươi!
Hãy thiêu tế lễ cảm tạ bằng bánh có men; Hãy rao ra những tế lễ lạc hiến; Hãy khoe khoang cho thiên hạ biết đi! Hỡi con cái Y-sơ-ra-ên, vì các ngươi thích làm như thế.” Chúa Giê-hô-va phán vậy.
“Còn Ta, Ta đã làm cho răng các ngươi sạch sẽ trong mọi thành của các ngươi Và làm cho thiếu bánh trong mọi nơi các ngươi ở. Dù vậy, các ngươi cũng không trở lại cùng Ta!” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Ta cũng không ban mưa xuống cho các ngươi Trong ba tháng trước mùa gặt; Ta đã ban mưa trên thành nầy Nhưng không ban mưa trên thành kia. Ruộng nầy đã được mưa, Còn ruộng kia không được mưa thì khô héo.
Vì vậy, người ta đi lang thang từ thành nầy đến thành khác để tìm nước uống Mà không tìm đủ nước để uống. Nhưng các ngươi không trở về cùng Ta” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Ta đã dùng gió nóng và sâu lúa mà đánh các ngươi. Có nhiều vườn rau, vườn nho, cây vả, cây ô-liu của các ngươi đã bị cào cào cắn phá. Nhưng các ngươi chẳng trở về cùng Ta,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Ta đã khiến dịch bệnh đến trên các ngươi cũng như ở Ai Cập. Ta đã dùng gươm giết chết những kẻ trai trẻ của các ngươi Và ngựa của các ngươi đã bị bắt đi. Ta đã làm cho mùi hôi thối từ trại quân các ngươi bay lên lỗ mũi các ngươi. Nhưng các ngươi chẳng trở về cùng Ta,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Ta đã lật đổ một số người trong các ngươi Như khi Đức Chúa Trời đã lật đổ Sô-đôm và Gô-mô-rơ Và các ngươi giống như que củi rút ra khỏi lửa, Nhưng các ngươi chẳng trở về cùng Ta,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Vì vậy, Hỡi Y-sơ-ra-ên, Ta sẽ làm cho ngươi như vậy; Hỡi Y-sơ-ra-ên, vì Ta sẽ làm cho ngươi như vậy Nên ngươi hãy sửa soạn mà gặp Đức Chúa Trời ngươi.”
Thật chính Ngài đã làm nên đồi núi và tạo nên gió; Chính Ngài bày tỏ tư tưởng trong lòng người ra. Ngài đổi hừng đông ra tối tăm Và bước đi trên những nơi cao trên đất. Danh Ngài là Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân.
Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời nầy. Đây là bài ai ca mà ta khóc thương các ngươi:
“Trinh nữ của Y-sơ-ra-ên đã ngã xuống, Sẽ không bao giờ dậy nữa; Nó đã bị ném xuống đất Mà không ai đỡ dậy.”
Vì Chúa Giê-hô-va phán: “Thành nào ra một nghìn quân chỉ còn một trăm, Thành nào ra một trăm quân chỉ còn mười người Cho nhà Y-sơ-ra-ên mà thôi.”
Đây là lời Đức Giê-hô-va phán với nhà Y-sơ-ra-ên: “Hãy tìm kiếm Ta thì các ngươi sẽ sống!
Chớ tìm kiếm Bê-tên, Chớ vào trong Ghinh-ganh, Đừng đi đến Bê-e Sê-ba. Vì Ghinh-ganh sẽ bị lưu đày, Bê-tên sẽ bị tiêu diệt.”
Hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va thì các ngươi sẽ sống; Nếu không, Ngài sẽ như một ngọn lửa bùng lên thiêu đốt nhà Giô-sép Và Bê-tên, không ai dập tắt được.
Các ngươi đổi công lý ra cay đắng Và ném lẽ công chính xuống đất!
Hãy tìm Đấng đã dựng nên chòm sao Rua và sao Cày; Đổi bóng tối ra ban mai, Đổi ban ngày ra đêm đen, Gọi nước biển Và đổ nó ra trên mặt đất; Danh Ngài là Đức Giê-hô-va.
Ngài làm cho kẻ mạnh thình lình bị diệt vong, Các thành lũy bị phá hủy.
Chúng ghét người quở trách chúng nơi cổng thành Và ghê tởm kẻ dám nói ra sự thật.
Vì các ngươi hiếp đáp kẻ nghèo Và đòi họ nộp thuế lúa mì; Vì thế, những nhà mà các ngươi xây bằng đá vuông Nhưng các ngươi sẽ không ở được. Các ngươi đã trồng những vườn nho ngon ngọt Nhưng sẽ không uống rượu nó.
Vì Ta biết sự vi phạm của các ngươi quá nhiều, Tội lỗi của các ngươi không kể xiết; Các ngươi áp bức người công chính, Nhận của hối lộ, Và không bênh vực công lý cho người nghèo nơi cổng thành.
Vì vậy, trong thời như thế, người khôn ngoan sẽ làm thinh Vì là thời buổi gian ác.
Hãy tìm điều lành và đừng tìm điều dữ Để các ngươi được sống Thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân sẽ ở cùng ngươi, Như các ngươi đã nói vậy.
Hãy ghét điều dữ mà yêu điều lành; Hãy thiết lập công lý nơi cổng thành. Có lẽ Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân Sẽ ban ơn cho những kẻ còn sót lại của Giô-sép!
Vậy nên, Chúa Giê-hô-va là Đức Chúa Trời vạn quân phán: “Trong mọi quảng trường, người ta sẽ than khóc; Trong mọi đường phố, người ta sẽ kêu la rằng: ‘Than ôi! Than ôi!’ Người ta sẽ gọi các nông dân đến để than vãn Và những kẻ khóc thuê đến để hát bài ai ca.
Trong các vườn nho sẽ vang tiếng khóc than Vì Ta sẽ đi qua giữa ngươi.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Khốn thay cho các ngươi là kẻ trông mong ngày của Đức Giê-hô-va! Các ngươi trông mong ngày của Đức Giê-hô-va làm gì? Đó là ngày tối tăm chứ không phải là ngày tươi sáng.
Giống như một người chạy trốn sư tử Lại gặp con gấu; Khi bước vào nhà dựa tay trên vách Thì lại bị rắn cắn.
Chẳng phải ngày của Đức Giê-hô-va là ngày tối tăm, không ánh sáng, Ngày mù mịt, không tia sáng đó sao?
Ta chán ghét, khinh thường những kỳ lễ của các ngươi; Ta không ưa thích những lễ hội trọng thể của các ngươi đâu.
Mặc dù các ngươi dâng những tế lễ thiêu và tế lễ chay cho Ta, Ta sẽ không nhận lấy; Ta chẳng đoái xem những con thú mập béo dùng làm tế lễ bình an của các ngươi.
Hãy dẹp bỏ tiếng hát ồn ào của các ngươi khỏi Ta! Ta không muốn nghe tiếng đàn hạc của các ngươi nữa.
Nhưng hãy làm cho công lý chảy xuống như nước, Và sự công chính như sông lớn chảy cuồn cuộn.
Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, các ngươi có dâng sinh tế và tế lễ chay cho Ta Trong bốn mươi năm nơi hoang mạc không?
Vậy mà các ngươi lại khiêng Si-kút, thần của vua mình, Và Ki-giun, thần ngôi sao của các ngươi Mà các ngươi đã làm cho mình.
Vì thế, Ta sẽ cho các ngươi bị lưu đày qua bên kia Đa-mách.” Đức Giê-hô-va phán vậy, Danh Ngài là Đức Chúa Trời vạn quân.
Khốn cho những kẻ tự mãn trong Si-ôn Và cho những người cảm thấy yên ổn trên núi Sa-ma-ri! Khốn cho những người quý phái, đứng đầu của các nước, Là những kẻ mà nhà Y-sơ-ra-ên đến kêu cứu!
Vậy hãy qua Ca-ne và nhìn xem; Từ đó, hãy đi đến thành Ha-mát lớn Và đi xuống thành Gát của người Phi-li-tin. Những thành ấy không tốt hơn những vương quốc nầy sao? Địa phận chúng không lớn hơn địa phận các ngươi sao?
Các ngươi làm cho ngày hoạn nạn xa ra Và làm cho ngôi bạo ngược gần lại!
Các ngươi nằm ngủ trên giường ngà Và duỗi chân dài trên trường kỷ mình; Ăn thịt những chiên con chọn ra trong bầy Và những bò con mập trong chuồng.
Miệng các ngươi hát vớ vẩn để họa theo đàn hạc, Và sáng chế những nhạc cụ cho mình như vua Đa-vít.
Các ngươi uống rượu trong những chén lớn, Dùng dầu quý giá xức cho thơm mình Mà không đau buồn về sự suy tàn của nhà Giô-sép!
Vậy nên, chúng sẽ bị bắt đi lưu đày trước tiên, Cuộc chè chén say sưa và ăn chơi phè phỡn sẽ hết!
Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời vạn quân; Chúa Giê-hô-va đã chỉ chính Ngài mà thề rằng, “Ta ghê tởm tính kiêu ngạo của Gia-cốp và chán ghét cung đền nó. Ta sẽ phó thành nầy và mọi vật trong đó cho kẻ thù.”
Nếu trong một nhà còn lại mười người Thì chúng cũng sẽ chết hết.
Khi người bà con của người chết đem xác đi thiêu và khi ra khỏi nhà, người ấy sẽ hỏi kẻ ở nhà trong rằng: “Còn có ai ở với con không?” Kẻ ấy đáp rằng: “Không có ai cả!” Bấy giờ, người bà con ấy nói rằng: “Hãy im đi! Chúng ta không được nhắc đến Danh Đức Giê-hô-va nữa!”
Vì Đức Giê-hô-va đã truyền lệnh rằng: Nhà lớn sẽ bị đập phá mà đổ nát, Nhà nhỏ sẽ bị tan ra từng mảnh.
Người ta có cho ngựa chạy trên vầng đá không? Người ta có đem bò cày ở đó không? Nhưng các ngươi đã đổi công lý thành thuốc độc Và đổi quả công chính ra nỗi đắng cay.
Các ngươi vui mừng vì đánh chiếm được Lô Đê-ba Và nói rằng: “Chẳng phải nhờ sức riêng mà chúng tôi chiếm được Kác-na-im đó sao?”
Vì thế, Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân phán: “Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, Ta sẽ dấy lên một nước chống lại các ngươi; Nó sẽ áp bức các ngươi từ cửa ngõ Ha-mát Cho đến Suối A-ra-ba.”
Đây là điều mà Chúa Giê-hô-va cho tôi xem thấy: Nầy, Ngài làm nên cào cào trong lúc cỏ bắt đầu mọc lại, tức là cỏ mọc lại sau các kỳ cắt cỏ của vua.
Khi cào cào đã cắn nuốt cỏ trong đất rồi, tôi nói rằng: “Lạy Chúa Giê-hô-va, con cầu xin Ngài tha thứ cho! Gia-cốp có thể đứng nổi sao? Vì nó quá nhỏ bé.”
Đức Giê-hô-va liền đổi ý về việc nầy. Đức Giê-hô-va phán: “Điều đó sẽ không xảy ra đâu.”
Chúa Giê-hô-va cho tôi xem thấy như sau: Kìa, Chúa Giê-hô-va khiến lửa đến để trừng phạt; nó làm khô cạn vực sâu và ăn nuốt đất đai.
Bấy giờ tôi nói rằng: “Lạy Chúa Giê-hô-va, con cầu xin Ngài hãy dừng tay! Gia-cốp có thể đứng nổi sao? Vì nó là quá nhỏ bé!”
Đức Giê-hô-va đã đổi ý về việc nầy. Chúa Giê-hô-va phán: “Điều đó cũng sẽ không xảy đến đâu.”
Ngài cho tôi thấy như sau: Kìa, Chúa đứng trên một bức tường thẳng đứng và tay Ngài cầm một dây chì.
Đức Giê-hô-va phán với tôi: “A-mốt, con thấy gì?” Tôi thưa: “Một dây dọi”. Chúa phán: “Nầy, Ta sẽ đặt dây dọi làm chuẩn đo dân Y-sơ-ra-ên Ta; Ta sẽ không bỏ qua chúng nữa đâu.
Các nơi cao của Y-sác sẽ bị hoang vu, Các nơi thánh của Y-sơ-ra-ên sẽ bị hủy phá Và Ta sẽ dấy gươm đao đánh phá nhà Giê-rô-bô-am.”
Bấy giờ, A-ma-xia, thầy tế lễ của Bê-tên, sai người đến nói với Giê-rô-bô-am là vua Y-sơ-ra-ên rằng: “A-mốt âm mưu chống lại vua ở trong lòng Y-sơ-ra-ên; đất chẳng chịu nổi mọi lời của nó.
Thật vậy, A-mốt nói: ‘Giê-rô-bô-am sẽ chết bởi gươm và Y-sơ-ra-ên chắc sẽ bị lưu đày khỏi xứ sở mình!’”
A-ma-xia nói với A-mốt: “Hỡi nhà tiên kiến, hãy đi khỏi đây. Hãy trốn về đất Giu-đa; về đó mà kiếm ăn, về đó mà nói tiên tri.
Nhưng đừng nói tiên tri tại Bê-tên nữa vì đó là nơi thánh của vua và ấy là đền thờ của vương quốc.”
A-mốt trả lời với A-ma-xia rằng: “Tôi không phải là nhà tiên tri, cũng không phải con của nhà tiên tri, nhưng tôi chỉ là một người chăn bầy và người chăm sóc những cây vả.
Đức Giê-hô-va đã bắt lấy tôi từ sau bầy chiên và Đức Giê-hô-va phán với tôi rằng: ‘Hãy đi nói tiên tri cho dân Y-sơ-ra-ên Ta.’
Bây giờ, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va: Ngươi nói: ‘Chớ nói tiên tri chống lại Y-sơ-ra-ên và đừng rao giảng chống lại nhà Y-sác.’
Cho nên, Đức Giê-hô-va phán: ‘Vợ ngươi sẽ bán dâm trong thành; Con trai và con gái ngươi sẽ ngã chết bởi gươm; Đất ngươi sẽ bị đo và phân chia, Còn ngươi sẽ chết trong một xứ ô uế, Và Y-sơ-ra-ên chắc chắn sẽ bị lưu đày khỏi xứ sở mình.’”
Đây là điều mà Chúa Giê-hô-va cho tôi xem thấy: Một giỏ trái cây mùa hạ.
Bấy giờ Ngài phán: “A-mốt, con thấy gì?” Tôi thưa: “Một giỏ trái cây mùa hạ.” Đức Giê-hô-va lại phán với tôi: “Sự cuối cùng đã đến trên dân Y-sơ-ra-ên Ta; Ta sẽ không bỏ qua cho chúng nữa đâu.
Trong ngày đó, những bài hát trong cung đền Sẽ trở thành tiếng khóc than” Chúa Giê-hô-va phán vậy. “Xác chết vương vãi khắp nơi, và người ta lặng lẽ ném chúng đi.”
Hãy nghe đây! Các ngươi là kẻ áp bức người nghèo nàn, Hủy diệt kẻ khốn cùng trong đất.
Các ngươi nói rằng: “Khi nào trăng mới sẽ qua Để chúng ta có thể bán lúa miến Và ngày sa-bát qua, để chúng ta mở kho lúa mì ra bán; Để bớt ê-pha, thêm nặng siếc-lơ Và dùng cân dối giả để lường gạt,
Để chúng ta lấy bạc mua người khốn cùng, Lấy một đôi dép mua kẻ thiếu thốn Và bán cho đến lúa lép nữa.”
Đức Giê-hô-va lấy sự vinh hiển của Gia-cốp mà thề rằng: “Ta sẽ chẳng hề quên những việc làm của chúng!
Đất sẽ không rúng động về việc đó sao? Và tất cả dân cư nó sẽ không than khóc sao? Cả đất sẽ dậy lên như sông Nin, Nó sẽ lung lay và lún xuống như sông của Ai Cập vậy.”
Chúa Giê-hô-va phán: “Trong ngày đó, Ta sẽ khiến mặt trời lặn xuống giữa trưa Và khiến đất tối tăm giữa ban ngày.
Ta sẽ đổi các ngày lễ các ngươi ra sầu thảm Và tất cả những bài hát của các ngươi thành ra ai ca. Ta sẽ khiến các ngươi mặc áo sô trên lưng Và làm cho mọi đầu đều hói. Ta sẽ làm cho các ngươi than khóc như người mất con trai một Và kết cuộc sẽ như một ngày đắng cay.”
Chúa Giê-hô-va phán: “Nầy những ngày sẽ đến Khi Ta khiến cơn đói kém xảy đến trong đất, Chẳng phải đói về bánh, cũng chẳng phải khát về nước, Nhưng đói khát được nghe lời của Đức Giê-hô-va.
Bấy giờ, chúng sẽ đi lang thang từ biển nầy đến biển khác, Từ phương bắc đến phương đông; Chúng chạy đi đây đó để tìm kiếm lời Đức Giê-hô-va Nhưng không tìm được.
Trong ngày đó, những trinh nữ xinh đẹp và những chàng trai trẻ Sẽ mòn mỏi vì khát.
Tất cả những kẻ chỉ thần của Sa-ma-ri mà thề rằng: ‘Hỡi Đan, thật như thần ngươi sống! Thật như thần của Bê-e Sê-ba sống!’ Tất cả những kẻ ấy sẽ ngã xuống và không dậy được nữa.”
Ta thấy Chúa đứng gần bàn thờ và phán rằng: “Hãy đánh các đầu cột Để những ngạch cửa bị rúng động; Hãy đập sập các tượng trên đầu chúng! Kẻ nào sót lại của họ thì Ta sẽ giết bằng gươm Không một người nào trốn được, Chẳng một ai thoát khỏi.
Dù họ đào đất chui xuống âm phủ Tay Ta cũng sẽ lôi họ lên; Dù họ trèo lên trên trời Ta cũng sẽ kéo họ xuống.
Dù họ trốn trên đỉnh núi Cạt-mên Ta cũng sẽ đi tìm để bắt họ; Dù họ ẩn mình dưới đáy biển Ta cũng sẽ sai rắn biển cắn họ tại đó.
Dù họ bị kẻ thù bắt lưu đày Ở đó, Ta cũng sẽ sai gươm giết họ đi. Thật mắt Ta theo dõi họ Để giáng họa chứ chẳng phải để ban phước đâu.”
Vì Chúa là Đức Giê-hô-va vạn quân, Đấng chạm đến đất thì đất liền tan chảy, Tất cả dân cư nó khóc than; Cả đất dậy lên như sông Nin Và lún xuống như sông của Ai Cập
Chúa đã xây cung đền Ngài trên các tầng trời, Và lập vòng khung Ngài trên đất. Ngài gọi nước biển Và đổ ra trên mặt đất. Danh Ngài là Đức Giê-hô-va.
Đức Giê-hô-va có phán: “Hỡi con cái Y-sơ-ra-ên, đối với Ta, các ngươi có khác gì con cái của Ê-thi-ô-pi đâu? Chẳng phải Ta đã từng đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai Cập, Người Phi-li-tin ra khỏi Cáp-tô, Và người Sy-ri ra khỏi Ki-rơ hay sao?
Kìa, con mắt Chúa Giê-hô-va để trên vương quốc tội lỗi nầy Và Ta sẽ hủy phá nó khỏi mặt đất Nhưng Ta sẽ không diệt sạch nhà Gia-cốp,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Vì nầy, Ta sẽ truyền lệnh và sẽ tan rải nhà Y-sơ-ra-ên ra giữa mọi dân tộc Như lúa mì bị sàng sảy trên cái sàng Mà không có một hạt nào rơi xuống đất.
Tất cả những tội nhân trong dân Ta, Là những kẻ nói rằng: ‘Hoạn nạn sẽ không bắt kịp chúng ta’ Thì chúng sẽ chết bởi gươm.”
“Trong ngày đó, Ta sẽ dựng lại Nhà tạm của Đa-vít đã bị sụp đổ Và tu bổ lại những chỗ đổ nát của nó. Ta sẽ dựng lại những nơi hoang tàn Và xây nó lại như ngày xưa,
Để họ sẽ chiếm phần còn sót lại của Ê-đôm Và tất cả các nước được xưng bởi danh Ta.” Đức Giê-hô-va phán vậy; chính Ngài sẽ làm trọn mọi điều đó.
Đức Giê-hô-va phán: “Nầy những ngày đến, người cày sẽ theo kịp kẻ gặt, Người đạp nho theo kịp kẻ gieo giống. Các núi sẽ nhỏ rượu ngọt ra Và mọi đồi sẽ tuôn chảy.
Ta sẽ đem dân Y-sơ-ra-ên Ta từ chốn lưu đày trở về; Họ sẽ lập lại các thành bị tàn phá và sống ở đó. Họ sẽ trồng vườn nho và uống rượu nó, Họ sẽ cày cấy vườn mình và ăn trái nó.
Ta sẽ lại trồng Y-sơ-ra-ên trên đất của họ Và họ sẽ không hề bị nhổ khỏi đất mà Ta đã ban,” Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời ngươi phán vậy.
Khải tượng của Áp-đia. Chúa Giê-hô-va phán về Ê-đôm: Chúng ta có nghe lời rao từ Đức Giê-hô-va Và một sứ giả được sai đi giữa các nước rằng: “Hãy dấy lên! Nào chúng ta hãy tuyên chiến với nó!
Nầy Ta đã làm cho ngươi trở nên nhỏ bé giữa các nước. Ngươi sẽ bị khinh thường lắm.
Sự kiêu ngạo của lòng ngươi đã lừa dối ngươi. Ngươi là kẻ ở giữa những vầng đá, Sống ở trên cao; Ngươi tự nhủ rằng: ‘Ai có thể xô ta xuống đất?’
Dù ngươi bay cao như chim ưng, Dù ngươi lót ổ giữa các ngôi sao Ta cũng sẽ xô ngươi xuống khỏi đó,” Đức Giê-hô-va phán vậy!
Ôi, ngươi chắc sẽ bị hủy diệt! Nếu kẻ trộm hay là kẻ cướp ban đêm đến nhà ngươi, Chẳng lẽ chúng chỉ cướp vừa đủ thôi sao? Nếu những người hái nho đến cùng ngươi Chẳng lẽ chúng để sót lại một vài chùm nho sao?
Ê-sau sẽ bị lục soát là thể nào! Những đồ châu báu giấu kín của nó sẽ bị khám xét là thể nào!
Tất cả đồng minh của ngươi đã đuổi ngươi đến tận biên giới. Những bạn bè của ngươi thì đánh lừa và áp đảo ngươi; Còn những kẻ ăn bánh ngươi thì gài bẫy ngươi Nhưng chẳng hiểu biết gì cả.
Đức Giê-hô-va phán: “Trong ngày đó Chẳng phải Ta sẽ hủy diệt những kẻ khôn ngoan khỏi xứ Ê-đôm Và những người thông sáng khỏi núi Ê-sau sao?
Hỡi Thê-man, những lính chiến của ngươi sẽ thất kinh; Mọi người bị tàn sát và tiêu diệt khỏi núi Ê-sau.
Vì sự tàn bạo ngươi đối với anh em ngươi là Gia-cốp Nên ngươi sẽ bị hổ thẹn và bị hủy diệt đời đời!
Trong ngày ngươi đứng nhìn kẻ thù cướp của cải nó Quân ngoại xâm tiến vào cổng thành nó Và bắt thăm chia thành Giê-ru-sa-lem Thì ngươi giống như một người trong bọn chúng.
Lẽ ra, ngươi chẳng nên hả hê nhìn anh em ngươi Trong ngày tai họa của nó; Đừng nên vui mừng Trong ngày hủy diệt của con cái Giu-đa; Cũng đừng nói cách khoe khoang Trong ngày nó bị khốn khổ.
Ngươi chẳng nên vào cổng thành dân Ta Trong ngày nó bị tai họa; Đừng hả hê nhìn nó mắc nạn, Trong ngày nó bị khốn khó! Chớ nên cướp lấy của cải nó trong ngày nó bị tai họa.
Ngươi chẳng nên đứng nơi ngã ba đường Để diệt những kẻ chạy trốn của nó, Và nộp những kẻ còn sống sót của nó Trong ngày nó gặp nguy nan.
Vì ngày của Đức Giê-hô-va đã gần trên tất cả các nước. Bấy giờ, người ta sẽ làm cho ngươi như điều chính ngươi đã làm; Những việc làm của ngươi sẽ đổ lại trên đầu ngươi.
Phải, như các ngươi đã uống trên núi thánh Ta thể nào Thì tất cả các nước cũng sẽ cứ uống thể ấy; Phải, chúng sẽ uống và nuốt đi Rồi chúng sẽ như vốn không hề có!
Nhưng trên núi Si-ôn sẽ còn lại những người trốn thoát; Núi ấy sẽ là thánh Và nhà Gia-cốp sẽ được sản nghiệp mình.
Nhà Gia-cốp sẽ là lửa Và nhà Giô-sép sẽ là ngọn lửa; Nhà Ê-sau sẽ là đống rơm Mà họ sẽ đốt và thiêu đi. Nhà Ê-sau sẽ không còn ai sống sót” Vì Đức Giê-hô-va đã phán vậy.
Những người ở Nê-ghép sẽ được núi của Ê-sau; Những kẻ ở Sơ-phê-la sẽ được đất của người Phi-li-tin, Họ sẽ được cánh đồng của Ép-ra-im và cánh đồng của Sa-ma-ri; Những người Bên-gia-min sẽ được đất Ga-la-át.
Những kẻ bị lưu đày của quân đội Y-sơ-ra-ên ở giữa người Ca-na-an Sẽ chiếm được đất cho đến Sa-rép-ta. Những người từ Giê-ru-sa-lem bị lưu đày ở Sê-pha-rát sẽ được các thành ở Nê-ghép.
Những người được giải cứu sẽ lên núi Si-ôn để phán xét núi Ê-sau; Còn vương quốc thì sẽ thuộc về Đức Giê-hô-va.
Có lời Đức Giê-hô-va phán cho Giô-na con trai A-mi-tai:
“Con hãy trỗi dậy, đi đến thành lớn Ni-ni-ve và tố cáo nó vì tội ác chúng đã lên thấu trước mặt Ta.”
Nhưng Giô-na liền trốn qua Ta-rê-si để tránh mặt Đức Giê-hô-va. Ông xuống đến Gia-phô gặp một chiếc tàu đi qua Ta-rê-si. Giô-na trả tiền quá giang và xuống tàu đi Ta-rê-si với họ để lánh mặt Đức Giê-hô-va.
Nhưng Đức Giê-hô-va khiến trận cuồng phong thổi trên biển và một cơn bão lớn xảy ra trên biển làm chiếc tàu gần bị vỡ.
Các thủy thủ đều sợ hãi, ai nấy kêu cầu thần của mình. Rồi họ ném đồ đạc trong tàu xuống biển để cho nhẹ tàu. Nhưng Giô-na đã xuống dưới lòng tàu nằm và ngủ mê.
Thuyền trưởng đến gần ông và bảo: “Ông có thể nằm ngủ được sao? Hãy trỗi dậy! Hãy kêu cầu thần của ông. Có lẽ vị thần ấy sẽ nhớ lại chúng ta thì chúng ta thoát chết.”
Kế đó, các thủy thủ nói với nhau rằng: “Hãy đến, chúng ta hãy bắt thăm để cho biết vì ai mà tai vạ nầy xảy đến cho chúng ta.” Vậy họ bắt thăm và thăm trúng nhằm Giô-na.
Bấy giờ, họ nói với ông: “Hãy cho chúng ta biết vì cớ gì mà tai họa nầy đổ xuống trên chúng ta? Ông làm nghề gì và từ đâu đến? Ông từ nước nào đến? Thuộc về dân nào?”
Ông trả lời: “Tôi là người Hê-bơ-rơ và tôi kính sợ Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời trên trời, Ngài đã làm nên biển và đất khô.”
Những người trên tàu sợ hãi và hỏi ông: “Ông đã làm chuyện gì vậy?” Bấy giờ, họ biết rằng ông đã trốn khỏi mặt Đức Giê-hô-va vì ông đã khai với họ.
Vậy họ hỏi ông: “Chúng tôi phải làm gì với ông để cho biển yên lặng cho chúng ta?” Vì biển càng lúc càng động dữ dội.
Ông trả lời rằng: “Hãy bắt tôi ném xuống biển thì biển sẽ yên lặng cho các anh, vì do chính tôi mà các anh đã gặp phải trận bão lớn nầy.”
Tuy nhiên, những người ấy ra sức chèo vào bờ nhưng không được vì biển càng lúc càng nổi lên dữ dội chống lại họ.
Họ kêu cầu với Đức Giê-hô-va rằng: “Lạy Đức Giê-hô-va, chúng tôi nài xin Ngài, xin đừng làm cho chúng tôi chết vì cớ mạng sống của người nầy và đừng khiến máu vô tội đổ lại trên chúng tôi! Lạy Đức Giê-hô-va vì chính Ngài là Đấng đã làm điều mình muốn.”
Sau đó, họ bắt Giô-na ném xuống biển thì cơn giận dữ của biển liền yên lặng.
Vì vậy, những người ấy rất kính sợ Đức Giê-hô-va. Họ dâng tế lễ cho Đức Giê-hô-va và hứa nguyện với Ngài.
Đức Giê-hô-va chuẩn bị một con cá lớn để nuốt Giô-na. Giô-na ở trong bụng cá ba ngày ba đêm.
Giô-na từ trong bụng cá cầu nguyện với Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình.
Ông nói: “Con gặp hoạn nạn kêu cầu Đức Giê-hô-va Thì Ngài đã trả lời cho con Từ trong bụng âm phủ, con kêu la Thì Ngài đã nghe tiếng con.
Ngài đã ném con xuống vực sâu Nơi đáy biển, Và dòng nước lớn bao bọc lấy con. Tất cả những lượn sóng và ba đào của Ngài Đều phủ quét trên con.
Con than thở: ‘Con đã bị ném khỏi trước mắt Ngài; Dù vậy, con vẫn nhìn lên đền thánh của Ngài.’
Nước bao phủ lấy con cho đến linh hồn con; Vực sâu vây lấy con bốn bề; Rong rêu vấn vít đầu con.
Con đã xuống đến chân nền các núi; Đất đã cài then nó trên con đời đời. Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con, Ngài đã đem mạng sống con lên khỏi hầm hố!
Khi linh hồn con mòn mỏi trong con Thì con nhớ đến Đức Giê-hô-va Và lời cầu nguyện của con thấu đến Ngài, Vào tận trong đền thánh Ngài.
Những kẻ chăm sự hư không giả dối Thì lìa bỏ sự thương xót của mình.
Nhưng con sẽ dùng tiếng cảm tạ Mà dâng tế lễ cho Ngài; Con sẽ trả xong điều con đã hứa nguyện. Sự cứu đến từ Đức Giê-hô-va!”
Đức Giê-hô-va phán với con cá và nó nhả Giô-na ra trên đất khô.
Lại có lời Đức Giê-hô-va phán với Giô-na lần thứ hai rằng:
“Con hãy trỗi dậy, đi đến thành lớn Ni-ni-ve và rao cho nó lời Ta đã phán dạy con.”
Vậy, Giô-na liền đi đến Ni-ni-ve theo lệnh của Đức Giê-hô-va. Ni-ni-ve là một thành rất lớn, phải đi bộ mất ba ngày đường.
Giô-na bắt đầu vào trong thành, đi một ngày đường và công bố rằng: “Còn bốn mươi ngày nữa Ni-ni-ve sẽ bị sụp đổ!”
Dân thành Ni-ni-ve tin Đức Chúa Trời. Họ tuyên bố sự kiêng ăn và từ những người lớn nhất cho đến những kẻ nhỏ nhất đều mặc áo sô.
Tin ấy đồn đến vua Ni-ni-ve, thì vua đứng dậy khỏi ngai lột áo bào mình ra, quấn vải sô và ngồi trong tro.
Rồi vua truyền lệnh nầy trong khắp thành Ni-ni-ve: “Theo sắc lệnh của vua và của các quan đại thần, bất luận người hay súc vật, bất luận bò hay chiên đều không được nếm gì cả. Không được để cho nó ăn hoặc uống nước,
nhưng người và súc vật đều phải quấn vải sô. Mọi người hãy ra sức kêu cầu với Đức Chúa Trời. Mỗi người hãy từ bỏ đường lối xấu xa và việc làm hung dữ của tay mình.
Biết đâu Đức Chúa Trời sẽ đổi ý và nguôi cơn thịnh nộ của Ngài để cho chúng ta thoát chết chăng?”
Bấy giờ, Đức Chúa Trời thấy việc làm của họ và thấy họ đã từ bỏ đường lối xấu xa của mình thì Ngài đổi ý về tai họa định giáng trên họ như đã phán, và Ngài không làm điều đó.
Bấy giờ, Giô-na bất bình và giận dữ.
Ông cầu nguyện với Đức Giê-hô-va rằng: “Lạy Đức Giê-hô-va, chẳng phải đây là điều con đã thưa với Ngài khi con còn ở trong xứ của con sao? Đó là lý do con vội vàng trốn qua Ta-rê-si. Bởi con biết Ngài là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, giàu ơn và đổi ý không giáng tai vạ.
Lạy Đức Giê-hô-va, bây giờ con nài xin Ngài cất mạng sống con đi, vì về phần con, chết còn hơn sống!”
Đức Giê-hô-va hỏi ông: “Con giận có đúng không?”
Bấy giờ, Giô-na ra khỏi thành Ni-ni-ve và ngồi ở phía đông thành. Tại đó, ông làm một cái chòi và ngồi dưới bóng chòi ấy để chờ xem điều sẽ xảy đến cho thành ấy.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời chuẩn bị một dây dưa và khiến nó bò lên cao phía trên chỗ Giô-na ngồi để phủ bóng trên đầu ông và giúp ông đỡ khó chịu. Giô-na rất vui về dây dưa ấy.
Nhưng qua ngày sau, vừa lúc hừng đông, Đức Chúa Trời chỉ định một con sâu đến chích dây ấy, và nó héo.
Khi mặt trời mọc lên, Đức Chúa Trời chuẩn bị một cơn gió nóng thổi từ phương đông và mặt trời giọi xuống trên đầu Giô-na đến nỗi ông ngất đi và ông cầu xin được chết mà rằng: “Về phần con, chết còn hơn sống!”
Nhưng Đức Chúa Trời phán với Giô-na: “Con nổi giận vì cớ dây dưa nầy có đúng không?” Ông thưa: “Con giận cho đến chết cũng phải lắm.”
Đức Giê-hô-va lại phán: “Con tiếc một dây dưa mà con chưa hề khó nhọc vì nó và con cũng không săn sóc cho nó lớn. Nó mọc lên trong một đêm và nó chết trong một đêm.
Còn Ta, Ta lại không tiếc thành lớn Ni-ni-ve trong đó có hơn một trăm hai mươi nghìn người không biết phân biệt tay phải và tay trái, cùng với rất nhiều đàn súc vật đó sao?”
Lời của Đức Giê-hô-va phán với Mi-chê, người Mô-rê-sết trong thời các vua của Giu-đa là Giô-tham, A-cha và Ê-xê-chia, qua những điều người thấy về Sa-ma-ri và Giê-ru-sa-lem.
Hỡi tất cả các dân, hãy nghe! Hỡi đất và mọi vật trên đất, hãy lắng tai! Chúa Giê-hô-va từ đền thánh Ngài, Nguyện xin Chúa làm chứng chống lại các ngươi!
Vì kìa, Đức Giê-hô-va ra từ chỗ Ngài Ngự xuống và đạp trên các nơi cao của đất.
Các núi sẽ tan chảy dưới Ngài, Các thung lũng sẽ nứt ra Như sáp ở trước lửa, Như nước chảy xuống dốc.
Tất cả điều đó là do sự vi phạm của Gia-cốp Và vì tội lỗi của nhà Y-sơ-ra-ên. Sự vi phạm của Gia-cốp là gì? Chẳng phải là Sa-ma-ri sao? Các nơi cao của Giu-đa là gì? Chẳng phải là Giê-ru-sa-lem sao?
Vì thế, Ta sẽ khiến Sa-ma-ri như một đống đổ nát ngoài đồng, Như chỗ trồng nho Và Ta sẽ đổ gạch đá của nó xuống thung lũng, Khiến những nền nhà phơi trần ra.
Tất cả tượng chạm nó sẽ bị đập bể, Tất cả của dâng nó sẽ bị đốt trong lửa; Và Ta sẽ hủy phá tất cả thần tượng nó. Vì nó thu góp những của lễ từ tiền công của gái mại dâm; Cho nên, những của lễ đó sẽ lại được dùng làm tiền công cho gái mại dâm khác.
Vì lý do đó, tôi sẽ khóc lóc và thở than, Cởi trần và đi chân đất; Tôi sẽ kêu gào như chó rừng Và rên xiết như chim cú.
Vì vết thương của nó không thể chữa được; Nó cũng lan ra đến Giu-đa, Đến tận cửa của dân tộc tôi, Tức là đến Giê-ru-sa-lem
Chớ rao tai nạn nầy ra trong Gát! Đừng khóc lóc gì cả! Tại Bết Lê-áp-ra, Hãy lăn lóc trong bụi đất.
Hỡi dân cư Sa-phi-rơ, Hãy ở trần truồng chịu xấu hổ mà đi qua! Dân cư Xa-a-nan Không bước ra. Người Bết-hê-xen khóc than Làm cho các ngươi mất chỗ nương tựa.
Dân cư Ma-rốt nóng lòng Mà trông đợi phước lành, Vì tai vạ từ Đức Giê-hô-va giáng xuống Đã đến cổng của Giê-ru-sa-lem.
Hỡi dân cư La-ki, Hãy lấy ngựa chạy mau thắng vào xe! Chính ngươi đã bắt đầu Làm cho con gái Si-ôn phạm tội, Vì tội ác của Y-sơ-ra-ên Đã thấy trong ngươi.
Vì thế, ngươi sẽ tặng quà Tiễn biệt Mô-rê-sết Gát! Các nhà của thành Ạc-xíp Sẽ lừa dối các vua Y-sơ-ra-ên.
Hỡi dân cư Ma-rê-sa, Ta sẽ đem một kẻ chinh phục các ngươi đến trên các ngươi; Vinh quang của Y-sơ-ra-ên Sẽ đến A-đu-lam.
Hãy làm hói đầu và cạo trọc đầu, Vì con cái mà ngươi ưa thích; Phải, hãy làm cho ngươi hói như chim ưng, Vì họ đều bị bắt lưu đày khỏi ngươi!
Khốn cho những kẻ lập mưu gian ác Và toan tính chuyện tội lỗi trên giường mình! Đến sáng, chúng thực hiện mưu đồ Vì chúng có quyền lực trong tay!
Chúng tham đất ruộng và cướp đi, Tham nhà cửa và lấy đi. Chúng ức hiếp người ta và gia đình họ Tức người và tài sản của họ.
Vì thế, Đức Giê-hô-va phán: “Kìa, Ta định giáng tai họa trên dân nầy Mà các ngươi không thể cởi khỏi cổ; Cũng không ngẩng đầu lên được Vì ấy là kỳ hoạn nạn.
Trong ngày đó, người ta sẽ đàm tiếu về các ngươi; Chúng sẽ hát một bài ai ca rằng: ‘Chúng ta bị hủy diệt hết rồi! Ngài cất sản nghiệp của dân ta Khiến nó lìa khỏi ta, Lấy đất ruộng của ta mà chia cho kẻ phản bội.’”
Cho nên, trong hội của Đức Giê-hô-va sẽ không có một người nào Để bắt thăm chia đất.
Chúng nói rằng: “Các ngươi đừng nói tiên tri nữa. Đừng nói tiên tri những điều như thế; Sự sỉ nhục sẽ không đến với chúng ta đâu”
Hỡi nhà Gia-cốp! Sao dám nói rằng: “Thần của Đức Giê-hô-va mất kiên nhẫn rồi sao?” Ngài làm những việc như thế chăng? Chẳng phải lời của Ta có ích lợi Cho ai bước đi một cách ngay thẳng sao?
Nhưng gần đây, dân Ta dấy lên như kẻ thù. Các ngươi đã ngang nhiên lột áo dài Của những kẻ đi qua đường, Giống như người từ chiến trận trở về.
Các ngươi đuổi những phụ nữ của dân Ta Khỏi ngôi nhà thân yêu của họ Và cất sự vinh quang Ta Khỏi con trẻ họ đời đời.
Các ngươi hãy đứng dậy! Đi đi! Vì đây không phải là nơi an nghỉ của các ngươi; Nó đã bị ô uế dẫn đến sự hủy diệt Và sẽ bị hủy diệt đau thương.
Nếu có kẻ lừa dối đến nói rằng: “Ta sẽ nói tiên tri cho ngươi về rượu và rượu mạnh,” Thì kẻ ấy đúng là loại tiên tri của dân nầy!
Hỡi Gia-cốp! Ta chắc sẽ nhóm tất cả các ngươi lại, Ta chắc sẽ tập trung những người còn sót lại của Y-sơ-ra-ên, Và đem họ họp lại Như bầy chiên trong chuồng, Như một bầy ở giữa đồng cỏ của họ; Nơi đó sẽ có tiếng người ồn ào.
Người mở đường sẽ lên trước họ; Họ phá tường, xông vào cổng thành; Vua của họ sẽ vượt lên trước mặt họ Và Đức Giê-hô-va sẽ dẫn đầu.
Ta phán: “Hỡi các người lãnh đạo của Gia-cốp Và các nhà cai trị của Y-sơ-ra-ên, hãy nghe! Các ngươi không biết công lý sao?
Các ngươi là kẻ ghét điều lành, ưa điều dữ; Lột da dân Ta Và lóc thịt khỏi xương của họ.
Các ngươi ăn thịt dân Ta, Lột lấy da Và bẻ xương ra từng mảnh, Bằm nó như bằm thịt, Như thịt trong chảo.”
Bấy giờ, những người lãnh đạo ấy sẽ kêu cầu Đức Giê-hô-va Nhưng Ngài không trả lời. Ngài sẽ giấu mặt khỏi họ Vì họ đã làm những việc gian ác.
Đây là lời Đức Giê-hô-va phán về các kẻ tiên tri Là kẻ làm cho dân Ta lầm lạc; Nếu có ai cho chúng ăn Thì chúng rao rằng: “Bình an!” Còn nếu ai không cho vật gì vào miệng chúng Thì chúng tuyên chiến chống lại họ.
Vì thế, ban đêm sẽ bao phủ trên các ngươi nên không có khải tượng; Bóng tối sẽ đến nên không có lời tiên đoán nào; Mặt trời sẽ lặn trên các kẻ tiên tri đó Và ban ngày sẽ trở nên tăm tối trên họ.
Những kẻ tiên kiến sẽ phải xấu hổ Và những kẻ tiên tri sẽ bị nhuốc nhơ. Tất cả đều che môi lại Vì chẳng được lời đáp nào từ Đức Chúa Trời.
Nhưng về phần tôi, tôi được đầy dẫy sức mạnh, Công lý và lòng bạo dạn Bởi Thần của Đức Giê-hô-va Để công bố cho Gia-cốp biết sự vi phạm của nó, Và cho Y-sơ-ra-ên biết tội lỗi của nó.
Hỡi các người lãnh đạo của nhà Gia-cốp Và các người cai trị của nhà Y-sơ-ra-ên, hãy nghe điều nầy, Các ngươi ghét công lý Và làm bại hoại sự bình đẳng.
Các người lấy huyết mà xây thành Si-ôn Và lấy gian ác mà xây thành Giê-ru-sa-lem,
Các nhà lãnh đạo phán xét vì hối lộ, Các thầy tế lễ dạy dỗ vì tiền công, Còn các kẻ tiên tri nói tiên tri vì bạc; Rồi chúng lại nương cậy Đức Giê-hô-va mà nói rằng: “Chẳng phải Đức Giê-hô-va đang ở giữa chúng ta sao? Tai vạ sẽ chẳng đến trên chúng ta đâu!”
Do đó, vì các ngươi, Si-ôn sẽ bị cày như ruộng; Giê-ru-sa-lem sẽ trở thành đống đổ nát, Và núi của đền thờ sẽ trở nên như đồi cây rậm rạp!
Trong những ngày sau rốt, Núi của nhà Đức Giê-hô-va Sẽ được lập lên trên núi cao nhất, Và sẽ được nhấc cao hơn các đồi. Các dân tộc sẽ đổ dồn về đó.
Nhiều nước sẽ đi đến đó và nói: “Hãy đến, chúng ta hãy lên núi của Đức Giê-hô-va, Đến nhà của Đức Chúa Trời của Gia-cốp! Ngài sẽ dạy chúng ta về đường lối Ngài Để chúng ta có thể đi trong các nẻo Ngài.” Vì luật pháp sẽ ra từ Si-ôn, Lời của Đức Giê-hô-va đến từ Giê-ru-sa-lem.
Ngài sẽ thi hành sự phán xét giữa nhiều dân tộc, Và phân xử giữa các nước mạnh ở tận phương xa. Họ sẽ lấy gươm rèn lưỡi cày, Lấy giáo rèn lưỡi liềm; Nước nầy chẳng vung gươm chống lại nước khác Và cũng không còn tập trận nữa.
Ai nấy sẽ ngồi dưới cây nho mình Và dưới cây vả mình; Không ai làm cho họ sợ hãi Vì miệng Đức Giê-hô-va vạn quân đã phán.
Mọi dân tộc bước theo Danh của thần mình, Nhưng chúng ta sẽ bước theo danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta Cho đến đời đời vô cùng!
Đức Giê-hô-va phán: “Trong ngày đó Ta sẽ nhóm người què lại, Tập họp kẻ bị đuổi, Và kẻ mà Ta đã làm cho buồn rầu.
Rồi Ta sẽ lấy người què làm dân sót lại Và kẻ bị bỏ làm thành một nước hùng mạnh: Đức Giê-hô-va sẽ cai trị chúng trên núi Si-ôn Từ bây giờ cho đến muôn đời.
Còn ngươi là tháp của bầy, Đồi của con gái Si-ôn, Sẽ đến với ngươi. Quyền cai trị ngày xưa của ngươi sẽ được phục hồi, Tức là vương quốc của con gái Giê-ru-sa-lem.”
Nhưng tại sao bây giờ ngươi kêu gào than khóc? Không có vua ở giữa ngươi sao? Hay là mưu sĩ ngươi đã chết Nên ngươi quặn thắt như phụ nữ đang chuyển dạ?
Hỡi con gái Si-ôn, hãy đau đớn quặn thắt Như phụ nữ đang chuyển dạ! Vì ngươi sẽ đi ra khỏi thành phố Ở trong đồng ruộng Và ngươi sẽ đến Ba-by-lôn. Nhưng ở đó, ngươi sẽ được giải cứu Tại đó, Đức Giê-hô-va sẽ chuộc ngươi Ra khỏi tay kẻ thù ngươi.
Bấy giờ, có nhiều nước họp lại chống lại ngươi, Chúng nói: “Cầu cho nó bị ô uế Và mắt chúng ta khoái chí mà nhìn Si-ôn!
Nhưng chúng không biết ý tưởng Đức Giê-hô-va, Không hiểu kế hoạch của Ngài, Vì Ngài đã nhóm chúng lại Như những bó lúa đưa về sân đập lúa.
Vậy hỡi con gái Si-ôn, Hãy trỗi dậy và giày đạp! Vì Ta sẽ làm cho sừng ngươi cứng như sắt, Móng ngươi như đồng; Ngươi sẽ nghiền nát nhiều dân Và sẽ dâng của cải chiếm được cho Đức Giê-hô-va, Và tài sản cho Chúa của cả thế giới.”
Vậy hỡi con gái của các đạo quân, bây giờ hãy nhóm đội ngũ ngươi! Chúng đã vây hãm chúng ta. Chúng lấy cây gậy đánh trên má người cai trị của Y-sơ-ra-ên.
Hỡi Bết-lê-hem Ép-ra-ta, Ngươi ở trong hàng nghìn Giu-đa là nhỏ lắm, Nhưng từ nơi ngươi, Một Đấng cai trị trên Y-sơ-ra-ên sẽ được sinh ra; Nguồn gốc của Ngài từ đời xưa, Từ trước vô cùng.
Vì thế, Ngài sẽ phó chúng Cho đến lúc người đàn bà chuyển dạ đã sinh con, Và kẻ còn sót lại của anh em Ngài sẽ trở về Với con cái Y-sơ-ra-ên.
Ngài sẽ đứng vững và sẽ cậy sức mạnh của Đức Giê-hô-va, Với oai phong của danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình mà chăn bầy của mình Và chúng sẽ ở bình an, vì bây giờ Ngài sẽ trở nên vĩ đại Cho đến tận cùng trái đất.
Chính Ngài sẽ là sự bình an của chúng ta. Khi người A-si-ri sẽ đến trong đất chúng ta Và giày đạp trong cung đền chúng ta, Thì chúng ta sẽ dấy lên bảy người chăn Và tám thủ lĩnh của dân để chống lại nó.
Họ sẽ dùng gươm hủy phá đất A-si-ri Và các cửa của đất Nim-rốt. Ngài sẽ giải cứu chúng ta khỏi người A-si-ri Khi nó sẽ vào xứ chúng ta Và giày đạp bờ cõi chúng ta.
Phần sót lại của Gia-cốp Sẽ ở giữa nhiều dân, Như giọt sương đến từ Đức Giê-hô-va, Như mưa nhỏ sa xuống trên cỏ, Chẳng đợi người ta Cũng không mong gì ở con trai loài người.
Phần sót lại của Gia-cốp Sẽ ở giữa các nước, Và ở giữa nhiều dân như sư tử ở giữa những thú rừng, Như sư tử tơ ở giữa các bầy chiên; Khi nó đi qua thì chà đạp Và cắn xé không ai giải cứu được.
Nguyện tay Chúa giơ lên trên những kẻ thù Ngài, Và những kẻ thù của Ngài sẽ bị tiêu diệt!
Đức Giê-hô-va phán: “Xảy ra trong ngày đó Ta sẽ hủy diệt ngựa của ngươi khỏi ngươi Và hủy diệt hết chiến xa của ngươi.
Ta sẽ hủy phá các thành trong đất ngươi Và sẽ phá đổ mọi đồn lũy ngươi.
Ta sẽ hủy diệt đồng bóng khỏi tay ngươi Và ngươi sẽ không còn những thầy bói nữa.
Ta sẽ tận diệt những tượng chạm Và trụ tượng khỏi ngươi, Ngươi sẽ không còn quỳ lạy Trước công việc của tay mình làm ra.
Ta sẽ nhổ trụ tượng Át-tạt-tê khỏi ngươi Và hủy diệt các thành của ngươi.
Trong cơn giận dữ, thịnh nộ Ta sẽ thi hành sự báo thù Trên những nước không vâng lời Ta.”
Bây giờ, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va phán; Ngươi hãy trỗi dậy, tranh luận cùng các núi Và làm cho các đồi nghe tiếng ngươi!
Hỡi các núi và các nền vững chắc muôn đời của đất, Hãy nghe lời cáo trạng của Đức Giê-hô-va! Vì Đức Giê-hô-va buộc tội dân Ngài, Và Ngài sẽ tranh luận với Y-sơ-ra-ên.
“Hỡi dân Ta, Ta đã làm gì cho ngươi? Ta đã làm mệt nhọc ngươi nỗi gì? Hãy trả lời cho Ta đi!
Ta đã đem ngươi ra khỏi đất Ai Cập, Đã chuộc ngươi ra khỏi nhà nô lệ Và đã sai Môi-se, A-rôn, Mi-ri-am Đến trước mặt ngươi.
Hỡi dân Ta, hãy nhớ lại điều mà Ba-lác, vua Mô-áp đã bày mưu, Và lời của Ba-la-am, con trai Bê-ô trả lời với nó. Hãy nhớ lại việc Ta đã làm từ Si-tim đến Ghinh-ganh, Để ngươi biết sự công chính của Đức Giê-hô-va!”
Tôi sẽ đem vật gì để chầu trước mặt Đức Giê-hô-va Và quỳ lạy trước mặt Đức Chúa Trời cao cả? Tôi sẽ đến trước mặt Ngài với những tế lễ thiêu Và với những con bê một tuổi sao?
Đức Giê-hô-va có thích hàng nghìn chiên đực Với hàng vạn sông dầu sao? Tôi có nên dâng con đầu lòng của tôi vì sự vi phạm tôi, Và dâng bông trái của thân thể tôi vì tội lỗi của tôi chăng?
Hỡi người! Ngài đã tỏ cho ngươi điều gì là thiện, Điều mà Đức Giê-hô-va đòi hỏi ngươi. Đó chẳng phải là làm điều công chính, ưa sự nhân từ Và bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời ngươi sao?
Tiếng của Đức Giê-hô-va kêu lên chống lại thành nầy; Người khôn phải kính sợ danh Ngài. Hãy nghe cây gậy và Đấng đã chỉ định nó.
Hỡi nhà gian ác, làm sao Ta quên được Kho báu gian tham Và đồ đong lường non đáng ghê tởm của ngươi?
Làm sao Ta có thể tha thứ cho những cái cân gian Và những trái cân giả dối trong bao?
Vì những kẻ giàu của thành nầy đầy cường bạo, Dân cư nó là những kẻ nói dối Và lưỡi gian tà ở trong miệng chúng.
Vì vậy, Ta đánh ngươi, làm cho ngươi bị thương nặng Và làm cho ngươi trở nên hoang vu vì cớ tội lỗi ngươi.
Ngươi sẽ ăn nhưng không được no, Bao tử ngươi vẫn cứ trống; Ngươi sẽ chắt lót nhưng không để dành được; Còn những gì ngươi tích trữ được thì Ta sẽ phó cho gươm.
Ngươi sẽ gieo nhưng không được gặt; Ngươi sẽ ép ô-liu nhưng không được xức dầu; Ngươi sẽ đạp nho nhưng không được uống rượu.
Vì ngươi đã tuân giữ những luật lệ của Ôm-ri Và đi theo các việc làm của nhà A-háp; Ngươi bước đi trong mưu chước chúng; Vì thế, Ta khiến ngươi trở nên hoang vu, Dân cư ngươi sẽ bị chế giễu, Và các ngươi sẽ mang lấy nỗi sỉ nhục của dân Ta.
Khốn nạn cho tôi! Vì tôi như người hái trái cây mùa hạ, Và như người mót nho trong mùa hái nho, Mà không có một chùm nho để ăn; Trái vả đầu mùa Mà linh hồn tôi vẫn ước ao cũng không có.
Người tin kính đã mất đi khỏi đất; Không còn có kẻ ngay thẳng trong loài người. Chúng đều rình rập để làm đổ máu; Mỗi người đều lấy lưới săn bắt anh em mình.
Tay chúng chuyên làm điều ác. Thủ lĩnh thì đòi quà cáp, Thẩm phán thì nhận hối lộ; Còn quan lớn thì lòng đầy tham vọng, Chúng cấu kết với nhau.
Người tốt nhất của chúng giống như chà chuôm, Còn kẻ ngay thẳng nhất của chúng lại xấu hơn hàng rào gai gốc. Ngày của kẻ canh giữ ngươi, Tức là ngày trừng phạt ngươi đã đến rồi; Bây giờ là lúc chúng bối rối.
Chớ tin người lân cận Và đừng để lòng tin cậy nơi bạn hữu mình; Hãy giữ, đừng mở miệng ra Cùng người phụ nữ ngủ trong lòng ngươi.
Vì con trai sỉ nhục cha, Con gái nổi lên nghịch với mẹ, Dâu nghịch cùng bà gia Và kẻ thù của người ta chính là người nhà mình.
Nhưng về phần tôi, tôi sẽ nhìn xem Đức Giê-hô-va, Trông đợi Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi tôi; Đức Chúa Trời tôi sẽ nghe tiếng tôi.
Hỡi kẻ thù tôi, chớ vui mừng vì tôi. Dù bị ngã, tôi sẽ trỗi dậy; Dù ngồi trong bóng tối, Đức Giê-hô-va sẽ là ánh sáng của tôi.
Tôi gánh chịu cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va Vì tôi đã phạm tội với Ngài, Cho đến chừng Ngài bênh vực lý do của tôi Và biện minh cho tôi, Thì Ngài sẽ đem tôi đến ánh sáng, Và tôi sẽ thấy đức công chính của Ngài.
Kẻ thù tôi sẽ thấy điều ấy, Và sẽ bị xấu hổ. Nó là kẻ đã bảo tôi rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ở đâu?” Mắt tôi sẽ thấy sự sụp đổ của nó, Và nó sẽ bị giày đạp Như bùn ngoài đường.
Ngày xây dựng lại tường thành sẽ đến, Là ngày mở rộng biên cương.
Trong ngày đó, người ta sẽ đến với ngươi, Từ A-si-ri và các thành Ai Cập, Từ Ai Cập cho đến sông Cái, Từ biển nầy cho đến biển kia, Và từ núi nầy cho đến núi khác.
Nhưng đất của kẻ thù sẽ trở nên hoang vu Vì hậu quả hành vi của dân cư nó.
Hãy dùng gậy chăn dân ngươi Tức là bầy của sản nghiệp ngươi Nó ở một mình trong rừng, Giữa miền Cạt-mên; Hãy cho nó ăn cỏ ở Ba-san và Ga-la-át Như trong những ngày thuở xưa.
Ta sẽ bày tỏ cho họ những dấu lạ, Như trong những ngày họ ra khỏi đất Ai Cập.
Các nước thấy điều đó sẽ bị xấu hổ Về sức mạnh mình; Chúng sẽ đặt tay trên miệng, Và tai chúng sẽ điếc.
Chúng sẽ liếm bụi như con rắn, Và run rẩy mà ra khỏi hang mình Như loài bò sát trên đất. Chúng sẽ kinh hãi mà đến với Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta Và khiếp sợ trước mặt Ngài.
Ai là Đức Chúa Trời giống như Ngài? Ngài tha thứ sự gian ác và bỏ qua sự vi phạm Của dân sót lại, là sản nghiệp Ngài. Ngài không giữ lòng giận đời đời, Vì Ngài vui thích sự nhân từ.
Ngài sẽ còn thương xót chúng tôi, Giày đạp sự gian ác chúng tôi dưới chân Ngài Và ném tất cả tội lỗi chúng tôi Xuống đáy biển.
Ngài sẽ bày tỏ đức thành tín cho Gia-cốp Và lòng nhân từ cho Áp-ra-ham, Là điều Ngài đã thề hứa với tổ phụ chúng tôi Từ những ngày xưa.
Lời tiên tri về Ni-ni-ve. Sách khải tượng của Na-hum, người Ên-cốt.
Giê-hô-va là Đức Chúa Trời ghen tuông và báo thù; Đức Giê-hô-va là Đấng báo thù và đầy thịnh nộ. Đức Giê-hô-va báo thù những kẻ chống lại Ngài, Và nổi giận đối với kẻ thù của Ngài.
Đức Giê-hô-va chậm giận và có quyền năng rất lớn, Nhưng Ngài chẳng coi kẻ có tội là vô tội. Đức Giê-hô-va bước đi trong gió lốc và bão tố, Đám mây là bụi dưới chân Ngài.
Ngài quở biển và khiến nó phải khô đi, Ngài làm cạn mọi sông ngòi. Ba-san và Cạt-mên đều khô héo, Rừng hoa Li-ban cũng phải úa tàn.
Do Chúa, núi non rung chuyển, Các ngọn đồi đều tan rã; Trước mặt Ngài, quả đất và thế giới Cùng toàn thể cư dân trên đất đều dậy lên.
Ai có thể đứng được trước cơn thịnh nộ của Ngài? Ai có thể chịu nổi sự nóng giận của Ngài? Cơn giận của Ngài tuôn ra như lửa, Các tảng đá phải vỡ ra bởi Ngài.
Đức Giê-hô-va thật tốt lành, Là thành lũy trong ngày hoạn nạn; Ngài biết những ai ẩn náu nơi Ngài.
Nhưng Ngài dùng nước lụt tràn ngập Để tận diệt chỗ ở của nó, Và truy đuổi kẻ thù của Ngài vào bóng tối.
Các ngươi âm mưu gì để chống lại Đức Giê-hô-va? Chính Ngài sẽ ra tay tận diệt, Và sự khốn khổ sẽ không xảy ra lần thứ hai.
Vì dù chúng có đan xen như bụi gai Và loạng choạng như kẻ say khướt, Chúng cũng sẽ bị thiêu rụi như rơm khô.
Chính từ nơi ngươi xuất hiện Một kẻ mưu toan điều dữ chống lại Đức Giê-hô-va, Một kẻ bày mưu gian ác.
Nhưng Đức Giê-hô-va phán: “Dù chúng có liên minh đông đảo, Cũng sẽ bị diệt trừ và qua đi. Hỡi dân Ta, dù Ta đã làm khổ các con, Ta sẽ chẳng còn làm khổ các con nữa.
Nhưng bây giờ, Ta sẽ bẻ gãy ách nó khỏi các con Và bứt đứt dây trói buộc các con.”
Đức Giê-hô-va đã truyền lệnh về Ni-ni-ve: “Ngươi sẽ không còn người nối dõi lưu danh nữa. Ta sẽ trừ diệt tượng chạm và tượng đúc Khỏi đền miếu các thần của ngươi. Ta sẽ làm mồ mả cho ngươi, Vì ngươi hèn mạt.”
Nầy, trên các núi đồi Có bàn chân của sứ giả báo tin lành Và công bố sự bình an! Hỡi Giu-đa, hãy cử hành các ngày lễ Và hoàn thành lời hứa nguyện, Vì kẻ thù sẽ không còn xâm lăng ngươi nữa, Nó đã bị tận diệt.
Kẻ tàn phá đến đánh thẳng vào ngươi. Để bảo vệ thành lũy, Hãy canh phòng đường sá; Hãy nai nịt gọn gàng Và củng cố lực lượng!
Vì Đức Giê-hô-va sẽ phục hồi vinh quang của Gia-cốp Như vinh quang của Y-sơ-ra-ên, Dù những kẻ cướp phá đã cướp phá họ, Và đã phá hại những cành nho của họ.
Cái khiên dũng sĩ của chúng nhuộm đỏ, Các lính chiến mặc binh phục đỏ thắm. Trong ngày chúng dàn trận, Các chiến xa rực sáng như thép nung trong lửa, Và gươm giáo đều vung lên.
Các chiến xa chạy loạn xạ trong các đường phố, Chạy đi chạy lại trong các quảng trường, Trông như những ngọn đuốc, Và phóng nhanh như chớp!
Các quan chức được triệu tập; Nhưng chúng bước đi loạng choạng, Vội vã chạy đến vách thành, Sẵn sàng chống cự.
Các cửa sông bị mở tung, Đền đài đều rung chuyển.
Hoàng hậu bị lột hết trang sức và bị lưu đày; Các nữ tỳ đấm ngực, rền rĩ như chim bồ câu.
Từ lâu, Ni-ni-ve như hồ đầy nước. Giờ đây, chúng đã chạy trốn! Có tiếng kêu: “Đứng lại, đứng lại!” Nhưng không ai quay lại!
Hãy cướp bạc, cướp vàng Vì kho tàng vô tận, Các báu vật nhiều vô số.
Chúng đã bị tàn phá và cướp sạch! Lòng ai nấy đều tan nát, đầu gối chạm vào nhau; Lưng đau đớn, Mặt mày xám ngắt.
Nào, cái hang của sư tử, Là nơi mà sư tử tơ được cho ăn, Là nơi sư tử đực, sư tử cái và con nó bước đi Mà không có gì làm cho chúng sợ hãi, Bây giờ hang ấy ở đâu rồi?
Sư tử đực xé đủ mồi cho con nó Và bóp chết con mồi cho sư tử cái; Hang nó đầy mồi, Ổ nó đầy những con vật bị cắn xé.
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Nầy, Ta chống lại ngươi. Ta sẽ đốt chiến xa của ngươi ra khói, Gươm sẽ ăn nuốt các sư tử tơ của ngươi; Ta sẽ dứt bỏ mồi ngươi khỏi đất, Và người ta không còn nghe tiếng của sứ giả ngươi nữa.”
Khốn cho thành vấy máu! Nó đầy dẫy sự dối trá và cường bạo, Cướp bóc không thôi.
Có tiếng roi quất, tiếng ầm ầm của bánh xe; Ngựa phi nước đại, chiến xa phóng lên.
Kỵ binh xông tới, Gươm vung sáng lòa, giáo phóng chớp nhoáng. Đông đảo người ngã gục, Thây chất thành đống, Xác chết nhiều vô số! Người ta vấp ngã trên những xác chết.
Đó là vì vô số thói dâm đãng của gái mại dâm, Xinh đẹp quyến rũ, làm nữ hoàng ma thuật; Nó bán các nước bởi thói dâm đãng, Và bán các dân bởi ma thuật.
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Nầy, Ta chống lại ngươi; Ta sẽ lật váy ngươi lên phủ mặt ngươi, Phơi bày sự lõa lồ ngươi cho các dân tộc Và cho các vương quốc thấy nỗi ô nhục ngươi.
Ta sẽ ném trên ngươi những vật ghê tởm, Làm cho ngươi bị khinh miệt, Và khiến ngươi thành trò cười cho thiên hạ.
Khi ấy, ai thấy ngươi đều sẽ tránh xa và nói: ‘Ni-ni-ve đã hoang tàn! Ai sẽ tỏ lòng xót thương nó?’ Ta tìm đâu cho ngươi những người an ủi?”
Ngươi có hơn Nô A-môn không? Nó là một thành ở giữa các nhánh sông Nin, Có nước bao bọc chung quanh, Lấy biển làm đồn lũy, Lấy nước làm tường thành.
Cút và Ai Cập là sức mạnh vô biên của nó. Phút và Li-by là kẻ cứu giúp nó.
Dù vậy, chính nó đã bị lưu đày, Và bị cầm tù; Con cái nó cũng đã bị nghiền nát Nơi đầu đường xó chợ. Những người quyền quý bị đem ra bắt thăm, Các quan chức lớn đều bị mang xiềng.
Ngươi cũng thế, sẽ say sưa Và đi ẩn trốn; Chính ngươi cũng sẽ tìm Nơi ẩn núp khỏi kẻ thù.
Tất cả đồn lũy ngươi như những cây vả Đầy trái chín đầu mùa; Khi bị rung thì trái rụng xuống, Rơi ngay vào miệng người ăn.
Nầy, quân đội của ngươi Là những người đàn bà ở giữa ngươi. Các cổng thành của đất nước ngươi Sẽ rộng mở cho quân thù; Lửa đã thiêu nuốt các then cài cổng!
Hãy múc nước để phòng khi bị vây hãm, Hãy củng cố các đồn lũy của ngươi; Hãy đi lấy đất sét, Nhồi hồ và xây sửa lại lò gạch!
Tại đó, lửa sẽ thiêu nuốt ngươi, Gươm sẽ tiêu diệt ngươi; Nó sẽ ăn nuốt ngươi như cào cào ăn mùa màng. Hãy tăng quân số như cào cào, Hãy tăng quân số như châu chấu!
Ngươi đã gia tăng số thương nhân Nhiều hơn sao trên trời; Nhưng tất cả như cào cào cắn phá sạch rồi bay đi.
Vệ binh của ngươi đông như cào cào, Các quan chức ngươi như bầy châu chấu Đậu trên tường rào Trong ngày giá lạnh; Đến khi mặt trời mọc, nó biến đi mất, Không ai biết nó ở đâu.
Hỡi vua A-si-ri, Những người chăn của ngươi đã ngủ rồi! Những người quyền quý của ngươi đều an nghỉ. Dân ngươi tan lạc trên khắp núi non, Không ai tập hợp chúng lại.
Thương tích của ngươi không thuốc chữa, Vết thương ngươi rất trầm trọng. Tất cả những ai nghe nói về ngươi đều vỗ tay, Vì có ai thoát khỏi sự thống trị tàn ác triền miên của ngươi đâu?
Đây là sứ điệp mà nhà tiên tri Ha-ba-cúc nhận được qua khải tượng.
Lạy Đức Giê-hô-va! Con kêu cứu Mà Ngài không lắng nghe, Con kêu van với Ngài vì sự bạo ngược Mà Ngài không giải cứu cho đến chừng nào?
Sao Chúa khiến con thấy sự bất công? Sao Ngài cứ lặng nhìn cảnh ngang trái? Trước mặt con là cảnh tàn phá và bạo ngược; Sự tranh chấp và cãi vã xảy ra khắp nơi.
Vì thế, luật pháp không còn hiệu lực, Công lý chẳng bao giờ được thực thi. Kẻ hung ác bao vây người công chính, Nên công lý bị sai lệch.
“Hãy nhìn vào các nước và để ý xem, Hãy kinh ngạc và sững sờ! Vì Ta sắp làm một việc trong thời các con, Dù có ai thuật lại, các con cũng chẳng tin.
Nầy, Ta khiến người Canh-đê nổi lên; Chúng là một dân dữ tợn hung hăng, Tiến quân vào những miền đất rộng mênh mông, Để chiếm những chỗ ở không thuộc về mình.
Chúng thật đáng khiếp sợ và đáng kinh hãi, Chúng tự đặt luật lệ cho mình, và tự tôn tự đại.
Ngựa chiến của chúng nhanh nhẹn hơn loài báo, Và hung tợn hơn muông sói ban đêm. Kỵ binh chúng phi nước đại đến từ phương xa; Chúng phóng nhanh như đại bàng lao xuống bắt mồi.
Tất cả bọn chúng kéo đến cách hung bạo; Chúng tiến nhanh như vũ bão, Và dồn tù binh lại như cát.
Chúng khinh miệt các vua Và chế nhạo các thủ lĩnh. Chúng chê cười mọi thành trì kiên cố, Và đắp lũy bao vây rồi chiếm lấy thành.
Bấy giờ, chúng ào tới và đùa đi như cuồng phong, Chúng phạm tội trọng Vì xem sức mạnh mình là thần thánh.”
Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời, Là Đấng Thánh của con! Chẳng phải Ngài có từ đời đời vô cùng sao? Vậy, chúng con sẽ không chết! Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài đã chỉ định dân ấy thực thi sự phán xét. Lạy Chúa là Vầng Đá, Ngài đã lập chúng để trừng phạt!
Mắt Chúa quá thánh sạch chẳng thể nhìn điều ác, Không thể nhìn xem điều sai trái. Sao Ngài lại nhìn những kẻ làm điều gian trá? Sao Ngài lại nín lặng, Khi kẻ gian ác nuốt người công chính hơn nó?
Ngài khiến loài người như loài cá biển Và như loài côn trùng không người cai quản.
Kẻ thù thả câu bắt lấy tất cả, Chúng quăng chài kéo họ lên Và gom hết vào trong lưới của mình. Thế là chúng vui mừng thích thú.
Do đó, chúng dâng sinh tế cho chài, Và đốt hương cho lưới; Vì nhờ chài lưới mà chúng được phần ăn béo bở Và có lương thực dồi dào.
Lẽ nào chúng cứ giũ sạch chài mình, Để không ngừng giết chóc các dân chẳng chút xót thương?
Tôi sẽ đứng nơi vọng canh, Chôn chân nơi thành lũy, Chăm chú nhìn xem Ngài bảo tôi điều gì, Và tôi sẽ có câu trả lời thế nào cho thắc mắc của tôi.
Đức Giê-hô-va trả lời và bảo tôi: “Hãy chép lấy khải tượng; Và ghi nó rõ ràng trên một tấm bảng, Để người đang chạy có thể đọc được.
Vì khải tượng còn phải chờ đến đúng thời điểm ứng nghiệm; Nó nhanh chóng tiến đến chỗ kết thúc, không lừa dối đâu. Nếu nó chậm trễ, hãy chờ đợi; Vì nó chắc chắn sẽ đến, không trì hoãn.
Hãy xem, kẻ kiêu căng Không có tâm hồn ngay thẳng; Nhưng người công chính sẽ sống bởi đức tin mình.
Thật, hắn bị rượu lừa dối, Hắn kiêu ngạo và không hề yên nghỉ. Lòng ham muốn của hắn mở rộng như âm phủ, Như sự chết, hắn không bao giờ no chán; Hắn tập trung mọi nước Và quy tụ muôn dân về cho mình.”
Thế nhưng chẳng phải tất cả các dân tộc ấy ví von châm biếm, và dùng câu đố bí ẩn mà chế nhạo hắn sao? Họ nói: “Khốn cho kẻ gom góp của cải chẳng thuộc về mình! Hắn cứ thu góp cho mình của cải cầm cố cho đến chừng nào?
Chẳng phải các con nợ của ngươi sẽ thình lình nổi lên; Họ sẽ trỗi dậy và khiến ngươi run rẩy sao? Ngươi sẽ trở thành chiến lợi phẩm cho họ.
Vì ngươi đã cướp bóc nhiều nước Nên tất cả những kẻ sống sót của các dân sẽ cướp bóc ngươi, Vì ngươi đã làm đổ máu người, Và vì sự bạo ngược ngươi đã làm cho đất, Cho thành phố và cho tất cả dân cư trong đó.
Khốn cho kẻ thu lợi bất nghĩa cho nhà mình, Để lót ổ mình trên nơi cao, Mong thoát khỏi bàn tay kẻ ác.
Kế hoạch tiêu diệt nhiều dân tộc của ngươi Chỉ đem lại sỉ nhục cho nhà của ngươi; Và làm hại chính mình.
Vì đá trong tường sẽ kêu lên, Và đòn tay trên mái nhà sẽ đáp lại.
Khốn cho kẻ lấy máu xây thành, Và lấy sự gian ác dựng phố!
Kìa, chẳng phải là do Đức Giê-hô-va vạn quân Mà các dân làm việc cực nhọc để làm mồi cho lửa, Và các nước nhọc nhằn cho sự hư không hay sao?
Vì sự nhận biết vinh quang Đức Giê-hô-va Sẽ đầy dẫy khắp đất Như nước phủ đầy biển.
Khốn cho kẻ chuốc rượu cho người lân cận mình, Dốc đổ chén độc hại cho đến khi họ say khướt, Để ngắm nhìn sự lõa lồ của họ!
Ngươi sẽ no đầy sự sỉ nhục thay vì vinh quang. Chính ngươi hãy uống đi và để lộ sự chưa chịu cắt bì. Chén của Đức Giê-hô-va cầm trong tay phải Sẽ đến phiên trao cho ngươi, Và sự sỉ nhục sẽ thay thế vinh quang ngươi.
Vì sự bạo ngược ngươi làm cho Li-ban sẽ phủ lấp ngươi; Và việc ngươi tàn hại các loài thú làm cho ngươi kinh hãi, Vì ngươi đã làm đổ máu người, Và vì sự bạo ngược ngươi đã làm cho đất, Cho thành phố và cho tất cả dân cư trong đó.
Tượng chạm mà thợ đã chạm trổ ra Có ích gì chăng? Tượng đúc là thầy giả dối, Sao người thợ làm tượng câm ấy Lại tin cậy nơi việc mình làm ra?
Khốn cho kẻ nói với gỗ rằng: ‘Hãy thức dậy!’ Và nói với đá câm rằng: ‘Hãy trỗi dậy!’ Nó có dạy dỗ được chăng? Nầy, nó được bọc vàng và bạc, Nhưng chẳng có một chút hơi thở trong nó.
Nhưng Đức Giê-hô-va ngự trong đền thánh Ngài; Trước mặt Ngài, mọi người trên đất hãy lặng thinh!”
Lời cầu nguyện của nhà tiên tri Ha-ba-cúc theo thể thi ca.
Lạy Đức Giê-hô-va! Con đã nghe danh tiếng Ngài Nên con kính sợ Ngài. Lạy Đức Giê-hô-va! Giữa năm tháng vần xoay, Xin Chúa phục hưng công việc Ngài, và tỏ cho mọi người biết. Trong cơn giận, xin Chúa nhớ xót thương!
Đức Chúa Trời đến từ Thê-man Đấng Thánh đến từ núi Pha-ran. Vinh quang Ngài bao phủ các tầng trời, Lời ca ngợi Ngài vang vọng khắp đất. (Sê-la)
Sự chói rạng của Ngài như ánh sáng; Những tia sáng ra từ tay Ngài, Đó là nơi ẩn giấu quyền năng Ngài.
Ôn dịch đi trước Ngài, Tai họa theo sát bước chân Ngài.
Ngài đứng, làm rung chuyển quả đất; Ngài nhìn, làm cho các dân tộc run rẩy; Các núi vạn cổ đều tan nát, Các đồi nghìn thu đều sụp xuống. Đường lối Ngài vẫn giống như xưa.
Con thấy các lều của Cu-san bị hoạn nạn, Các màn trại của đất Ma-đi-an lung lay.
Lạy Đức Giê-hô-va, phải chăng Ngài nổi giận với các sông? Phải chăng cơn thịnh nộ Ngài nghịch với các suối? Có phải sự giận dữ Ngài nổi lên nghịch với biển, Khi Ngài cưỡi ngựa với chiến xa để giải cứu chăng?
Cung Ngài đã lấy ra khỏi bao, Lời thề cùng các bộ tộc là chắc chắn. (Sê-la) Ngài rẽ đất ra làm cho sông tuôn chảy.
Các núi thấy Ngài đều sợ hãi; Các dòng nước chảy xiết Cứ cuồn cuộn chảy, Vực sâu gào thét và giơ tay lên cao.
Mặt trời, mặt trăng đứng yên tại chỗ, Vì sự chói sáng của những mũi tên Ngài, Và tia chớp của ngọn giáo Ngài chiếu ra.
Trong cơn giận, Chúa tuần hành trên đất, Trong cơn thịnh nộ, Ngài giày đạp các dân.
Chúa đi ra để giải cứu dân Ngài, Để giải cứu người được xức dầu của Ngài. Ngài đánh trọng thương đầu kẻ ác, Phá tan nhà nó, phơi trần từ nền đến cổ. (Sê-la)
Ngài lấy giáo nó đâm đầu lính chiến nó; Chúng kéo đến như giông bão để làm tôi tan tác, Chúng hả hê khi ăn nuốt kẻ khốn cùng trong nơi ẩn trốn.
Ngài cưỡi ngựa đi trên biển, Trên các dòng nước lớn đang sôi bọt.
Nghe những điều nầy, toàn thân con run rẩy, Môi con run cầm cập, Xương con như sắp mục nát, Và bước chân con lảo đảo. Con phải nín lặng để chờ ngày hoạn nạn, Là ngày có dân đến tấn công chúng con.
Cho dù cây vả sẽ không nứt lộc nữa, Vườn nho ngưng ra trái, Cây ô-liu bị thất mùa, Ruộng đồng không sinh sản lương thực, Bầy chiên bị dứt khỏi ràn, Và không có bầy bò trong chuồng nữa,
Con vẫn vui mừng trong Đức Giê-hô-va; Con vẫn hớn hở trong Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi con.
Chúa Giê-hô-va là sức mạnh của con, Ngài làm cho chân con giống như chân hươu, Giúp con bước đi trên các đỉnh cao. (Viết cho người điều khiển giàn nhạc đàn dây)
Vào thời của Giô-si-a, con trai A-môn, vua Giu-đa, có lời Đức Giê-hô-va phán với Sô-phô-ni, con trai Cút-si, cháu của Ghê-đa-lia, chắt của A-ma-ria, chít của Ê-xê-chia.
Đức Giê-hô-va phán: “Ta sẽ quét sạch tất cả khỏi mặt đất.
Ta sẽ quét sạch loài người và loài vật, Ta sẽ quét sạch chim trời và cá biển; Ta sẽ khiến cho kẻ ác vấp ngã, Và tiêu diệt loài người khỏi mặt đất.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Ta sẽ giơ tay ra chống lại Giu-đa Và tất cả cư dân Giê-ru-sa-lem; Ta sẽ tận diệt khỏi nơi nầy phần sót lại của Ba-anh, Và tên của các tư tế tà thần cùng các thầy tế lễ.
Ta sẽ tận diệt những kẻ quỳ trên mái nhà Mà thờ lạy các thiên binh, Những kẻ thờ lạy và thề nguyện với Đức Giê-hô-va, Rồi cũng thề nguyện bởi vua mình,
Cùng những kẻ xây bỏ không theo Đức Giê-hô-va, Những kẻ không tìm kiếm Đức Giê-hô-va, và không cầu hỏi Ngài.
Hãy im lặng trước mặt Chúa Giê-hô-va! Vì ngày của Đức Giê-hô-va đã đến gần; Đức Giê-hô-va đã chuẩn bị một sinh tế, Đã biệt riêng các khách Ngài đã mời.
Trong ngày dâng sinh tế của Đức Giê-hô-va, Ta sẽ trừng phạt các thủ lĩnh, các hoàng tử Và tất cả những kẻ mặc y phục ngoại bang.
Cũng trong ngày ấy, Ta sẽ trừng phạt Tất cả những kẻ nhảy qua ngưỡng cửa, Và những kẻ làm cho nhà của chủ mình Đầy dẫy sự bạo ngược và quỷ quyệt.”
Đức Giê-hô-va phán: “Trong ngày đó, Sẽ có tiếng kêu la từ cổng Cá, Tiếng thét gào ở quận Nhì, Tiếng đổ vỡ lớn từ các đồi.
Hỡi cư dân Phố Dưới, hãy than khóc! Vì mọi kẻ buôn bán đã không còn nữa, Và mọi kẻ cân bạc đã bị tiêu diệt.
Lúc ấy, Ta sẽ dùng đèn đuốc lục soát Giê-ru-sa-lem, Và sẽ trừng phạt những kẻ tự mãn như rượu đọng trên lớp cặn, Là những kẻ tự nhủ rằng: ‘Đức Giê-hô-va sẽ không ban phước, Cũng chẳng giáng họa.’
Tài sản của chúng sẽ bị cướp đoạt, Nhà cửa sẽ bị bỏ hoang. Chúng sẽ xây nhà mà không được ở, Trồng nho mà không được uống rượu.”
“Ngày trọng đại của Đức Giê-hô-va đang đến gần, Đến gần rồi, nó đến rất nhanh. Có tiếng kêu la cay đắng trong ngày của Đức Giê-hô-va, Bấy giờ dũng sĩ cũng phải kêu khóc.
Ngày ấy là ngày thịnh nộ, Ngày tai họa và khốn khổ, Ngày hủy phá và hoang vu, Ngày tối tăm và ảm đạm, Ngày mây mù và âm u,
Ngày có tiếng tù và với tiếng la hét tấn công Các thành kiên cố và các tháp cao ở góc tường thành.
Ta sẽ đem sự khốn khổ đến cho loài người; Họ sẽ bước đi như người mù, Vì đã phạm tội với Đức Giê-hô-va; Máu của họ sẽ đổ ra như bụi, Và ruột rữa nát như phân.
Cả đến bạc hoặc vàng của họ Cũng không thể giải cứu họ Trong ngày thịnh nộ của Đức Giê-hô-va. Nhưng toàn cõi đất sẽ bị lửa ghen Ngài thiêu nuốt, Vì Ngài sẽ hủy diệt tất cả dân cư trên đất Một cách thật kinh hoàng!”
Hỡi dân chẳng biết xấu hổ! Hãy tập hợp lại, hãy tập hợp lại,
Trước khi chỉ thị được ban ra, Ngày giờ trôi qua như trấu bay đi; Trước khi cơn nóng giận của Đức Giê-hô-va Đến trên các ngươi; Trước khi ngày thịnh nộ của Đức Giê-hô-va Đến trên các ngươi.
Hỡi tất cả những người nhu mì trên đất, Là người thi hành mệnh lệnh của Chúa, Hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va, Hãy tìm kiếm sự công chính, tìm kiếm sự nhu mì; Có lẽ anh em sẽ được che chở Trong ngày thịnh nộ của Đức Giê-hô-va.
Thật vậy, Ga-xa sẽ bị bỏ hoang, Ách-ca-lôn sẽ tiêu điều; Người ta sẽ đuổi Ách-đốt ra đi giữa trưa, Và Éc-rôn sẽ bị nhổ đi.
Khốn cho cư dân miền duyên hải, Tức là dân Cơ-rết! Hỡi Ca-na-an là đất của người Phi-li-tin, Lời Đức Giê-hô-va cũng nghịch cùng các ngươi: “Ta sẽ tiêu diệt ngươi Cho đến khi không còn dân cư nữa.”
Miền duyên hải sẽ trở thành đồng cỏ, Để những người chăn làm bãi thả chiên Và làm chuồng cho bầy chiên.
Miền ấy sẽ thuộc về phần sót lại của nhà Giu-đa; Họ sẽ chăn chiên tại đó. Buổi tối, họ sẽ nghỉ đêm Trong các nhà của Ách-ca-lôn; Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ sẽ thăm viếng họ, Và đem dân bị lưu đày của họ trở về.
“Ta đã nghe lời nhạo báng của Mô-áp, Lời sỉ vả của dân Am-môn; Chúng nhạo báng dân Ta, Khoe khoang về việc chúng xâm lấn lãnh thổ dân Ta.”
Vì vậy, Đức Giê-hô-va vạn quân, Là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán rằng: “Thật như Ta hằng sống! Mô-áp sẽ giống như Sô-đôm Và dân Am-môn sẽ giống như Gô-mô-rơ; Chúng sẽ trở thành một nơi đầy gai góc, Một hầm muối, một chỗ hoang vu đời đời. Những người sống sót của dân Ta sẽ cướp phá chúng, Dân sót của Ta sẽ chiếm đất đai chúng làm sản nghiệp.”
Đó là điều chúng bị báo trả về sự kiêu ngạo của mình, Vì chúng đã nhạo báng và khoe khoang Chống lại dân của Đức Giê-hô-va vạn quân.
Đối với chúng, Đức Giê-hô-va thật đáng khiếp sợ, Vì Ngài sẽ tiêu diệt tất cả các thần trên đất, Và ai nấy sẽ thờ lạy Ngài ngay tại chỗ mình, Tất cả hải đảo của các nước cũng vậy.
“Còn các ngươi, hỡi dân Cút! Các ngươi sẽ bị giết bởi gươm Ta.”
Đức Giê-hô-va sẽ dang tay về phía bắc, Ngài sẽ hủy diệt A-si-ri, Và làm cho Ni-ni-ve trở nên một nơi hoang vu, Một chỗ khô khan như sa mạc.
Các bầy thú vật sẽ nằm ở giữa thành; Tất cả các loài thú khác, Kể cả chim bồ nông và con nhím, Cũng ở trên những đầu cột. Tiếng chim hót vang qua cửa sổ, Cảnh hoang tàn ở nơi ngưỡng cửa, Vì mọi thứ bằng gỗ bá hương đã bị dỡ đi.
Thành nhộn nhịp nầy đã an nhiên tự đắc mà nói rằng: “Ta đây, ngoài ta không còn ai cả!” Thế mà bây giờ nó đã trở nên hoang vu, Làm chỗ nằm nghỉ cho các loài thú! Mọi người qua lại đều huýt sáo vẫy tay nhạo cười!
Khốn cho thành phản loạn và ô uế, Là thành phố áp bức!
Nó chẳng chịu nghe lời, Không chịu sửa dạy; Chẳng tin cậy Đức Giê-hô-va, Không đến gần Đức Chúa Trời mình.
Các thủ lĩnh trong thành Như sư tử gầm thét; Các thẩm phán nó như muông sói ban đêm, Chúng không để lại gì đến sáng.
Các kẻ tiên tri nó Đều ngạo mạn, dối trá; Các thầy tế lễ nó làm ô uế nơi thánh Và bẻ cong luật pháp.
Đức Giê-hô-va ngự giữa thành, là Đấng công chính, Ngài chẳng hề làm điều ác. Mỗi buổi sáng, Ngài thực thi công lý dưới ánh sáng, Chẳng bao giờ thất bại; Nhưng kẻ bất chính không biết xấu hổ.
“Ta đã tiêu diệt các dân tộc, Khiến các tháp canh ở góc tường thành đổ nát. Ta làm cho đường phố nó ra hoang vắng, Đến nỗi không còn ai qua lại. Các thành của chúng đã bị tiêu diệt, Không còn một người nào, và chẳng có ai cư ngụ.
Ta đã phán bảo: ‘Con chỉ nên kính sợ Ta, Chấp nhận sự sửa dạy!’ Thì chỗ ở nó sẽ không bị phá hủy Theo mọi điều Ta đã định về nó. Nhưng chúng lại dậy sớm Để làm những việc đồi bại.”
Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán: “Hãy chờ đợi Ta, Cho đến ngày Ta sẽ đứng lên cáo buộc; Vì Ta đã quyết định tập hợp các dân tộc Và quy tụ các vương quốc, Để trút trên chúng cơn thịnh nộ, Tức là tất cả cơn giận bừng bừng của Ta. Vì toàn cõi đất sẽ bị thiêu nuốt Bởi lửa ghen của Ta.
Bấy giờ, Ta sẽ biến đổi các dân, Thanh tẩy môi miệng, Để tất cả đều kêu cầu danh Đức Giê-hô-va, Kề vai sát cánh phụng sự Ngài.
Từ bên kia sông ngòi xứ Cút, Những người cầu khẩn Ta, Tức là những kẻ đã bị Ta phân tán, Sẽ đem lễ vật dâng cho Ta.
Vào ngày ấy, con sẽ không còn xấu hổ Về mọi việc mình đã làm để chống lại Ta; Vì lúc ấy, Ta sẽ loại bỏ khỏi con Những kẻ kiêu căng tự đắc; Và con sẽ không còn kiêu ngạo Trên núi thánh Ta nữa.
Ta sẽ để lại giữa con Một dân nghèo nàn và thấp hèn, Họ sẽ ẩn náu trong danh Đức Giê-hô-va.
Số dân sót lại của Y-sơ-ra-ên sẽ không làm ác, Không nói dối, và miệng lưỡi không còn phỉnh gạt; Vì họ sẽ ăn uống và nằm nghỉ, Mà không ai làm cho họ kinh hãi.”
Hỡi con gái Si-ôn, hãy hát to lên! Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy reo hò vang dậy! Hỡi con gái Giê-ru-sa-lem, Hãy nức lòng mừng rỡ!
Đức Giê-hô-va đã cất bỏ án phạt khỏi ngươi, Ngài dẹp sạch kẻ thù ngươi. Vua của Y-sơ-ra-ên là Đức Giê-hô-va ở giữa ngươi, Ngươi sẽ không còn sợ tai ương nào nữa.
Vào ngày ấy, người ta sẽ nói với Giê-ru-sa-lem: “Hỡi Si-ôn, đừng sợ! Đừng để tay ngươi bủn rủn!
Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ngự giữa ngươi, Ngài là Đấng quyền năng sẽ giải cứu ngươi; Ngài sẽ vui mừng hoan hỉ vì ngươi, Vì lòng yêu thương, Ngài sẽ nín lặng, Và vì ngươi, Ngài sẽ ca hát mừng rỡ.”
“Ta sẽ tập hợp những kẻ đang đau buồn, Vì không dự được ngày lễ hội; Họ ra từ con, lấy sự xấu hổ làm gánh nặng.
Nầy, vào lúc ấy, Ta sẽ đối phó với mọi kẻ áp bức con; Ta sẽ cứu chữa người què, Tập hợp kẻ bị xua đuổi. Ta sẽ làm cho họ được khen ngợi và nổi danh Tại khắp nơi họ đã bị sỉ nhục.
Khi ấy, Ta sẽ đem các con trở về, Đó là lúc Ta tập hợp các con lại; Vì Ta sẽ làm cho các con nổi danh Và được khen ngợi giữa mọi dân trên đất, Khi Ta đem những kẻ bị lưu đày của các con trở về Ngay trước mắt các con,” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Vào ngày mồng một tháng sáu, năm thứ hai, triều vua Đa-ri-út, có lời của Đức Giê-hô-va phán qua nhà tiên tri A-ghê cho Xô-rô-ba-bên con trai Sa-anh-thi-ên, tổng đốc xứ Giu-đê, và cho Giê-hô-sua con trai Giô-xa-đác, thầy tế lễ thượng phẩm, như sau:
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Dân nầy nói rằng: ‘Chưa đến lúc xây lại đền thờ Đức Giê-hô-va.’”
Vì vậy, có lời Đức Giê-hô-va phán qua nhà tiên tri A-ghê rằng:
“Nay có phải là lúc các ngươi ở trong nhà có trần bằng ván, trong khi đền thờ nầy còn đổ nát không?
Vậy bây giờ, Đức Giê-hô-va vạn quân phán thế nầy: ‘Hãy để tâm suy xét đường lối các ngươi.
Các ngươi gieo nhiều mà gặt ít, ăn mà không no, uống mà không đã khát, mặc mà không ấm; và kẻ làm thuê thì đựng tiền công mình trong túi lủng.’
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Hãy để tâm suy xét đường lối các ngươi.
Hãy lên núi đem gỗ về và hãy xây dựng đền thờ, để Ta hài lòng về nó và Ta sẽ được tôn vinh,’ Đức Giê-hô-va phán vậy.
‘Các ngươi trông đợi nhiều mà được ít; những gì các ngươi đem vào nhà thì Ta đã thổi lên trên. Tại sao vậy?’ Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Ấy là vì nhà Ta vẫn còn đổ nát, mà các ngươi thì ai nấy bận rộn lo cho nhà riêng mình.
Bởi thế, vì các ngươi mà trời giữ lại sương móc, và đất cũng giữ lại hoa màu.
Ta đã gọi cơn hạn hán đến trên đất, trên núi non, trên ngũ cốc, trên rượu mới, trên dầu, trên sản vật do đất sinh ra, trên người, trên súc vật, và trên mọi việc do tay làm ra.’”
Vậy Xô-rô-ba-bên, con trai Sa-anh-thi-ên, và thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-sua, con trai Giô-xa-đác, cùng tất cả dân sót vâng theo tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình và lời của nhà tiên tri A-ghê mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã sai đến. Dân chúng tỏ lòng kính sợ trước mặt Đức Giê-hô-va.
A-ghê, sứ giả của Đức Giê-hô-va, truyền sứ điệp của Đức Giê-hô-va cho dân chúng rằng: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Chính Ta ở với các con.’”
Rồi Đức Giê-hô-va giục giã lòng của tổng đốc Giu-đa là Xô-rô-ba-bên, con trai Sa-anh-thi-ên, lòng của thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-sua, con trai Giô-xa-đác, và lòng của tất cả dân sót. Họ đều đến làm việc tại đền thờ Đức Giê-hô-va vạn quân, là Đức Chúa Trời của họ.
Đó là ngày hai mươi bốn tháng sáu, năm thứ hai, triều vua Đa-ri-út.
Vào ngày hai mươi mốt tháng bảy, có lời Đức Giê-hô-va phán qua nhà tiên tri A-ghê rằng:
“Hãy hỏi tổng đốc Giu-đa là Xô-rô-ba-bên, con trai Sa-anh-thi-ên, và thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-sua, con trai Giô-xa-đác, cùng tất cả dân sót, rằng:
‘Ai trong các con là người còn sót lại đã từng thấy vinh quang của đền thờ nầy trước đây? Và bây giờ, các con thấy nó thế nào? Chẳng phải là dưới mắt các con, nó chẳng còn gì cả đó sao?’
Vậy bây giờ, Đức Giê-hô-va phán: ‘Hỡi Xô-rô-ba-bên, hãy can đảm lên! Còn con, thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-sua, con trai Giô-xa-đác, cũng hãy can đảm lên! Hỡi toàn dân trong xứ, hãy can đảm lên!’ Đức Giê-hô-va lại phán: ‘Hãy làm việc, vì Ta ở với các con,’ Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
‘Theo lời Ta phán hứa trong giao ước lập với các con khi các con ra khỏi Ai Cập, và Thần Ta vẫn ở giữa các con, nên các con đừng sợ hãi.’
Vì Đức Giê-hô-va vạn quân phán thế nầy: ‘Còn ít lâu nữa thôi, Ta sẽ làm rúng động các tầng trời và mặt đất, biển cả và đất liền.
Ta cũng làm rúng động tất cả các nước, và báu vật của tất cả các nước sẽ đổ về đây; rồi Ta sẽ làm cho đền thờ nầy đầy dẫy vinh quang.’ Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
‘Bạc là của Ta, vàng là của Ta.’ Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Vinh quang sau nầy của đền thờ sẽ lớn hơn vinh quang trước kia. Ta sẽ ban bình an cho nơi nầy.’ Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.”
Vào ngày hai mươi bốn tháng chín, năm thứ hai của triều Đa-ri-út, có lời Đức Giê-hô-va phán với nhà tiên tri A-ghê:
“Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Hãy hỏi các thầy tế lễ về luật pháp rằng:
Nếu có người đựng thịt thánh trong vạt áo, và vạt áo ấy đụng đến bánh hoặc vật gì nấu chín, hoặc rượu, hoặc dầu hay thức ăn gì, thì vật ấy có trở nên thánh không?’” Các thầy tế lễ đều đáp: “Không.”
A-ghê lại hỏi: “Nếu một người bị ô uế vì đụng xác chết, rồi đụng đến các vật ấy thì các vật ấy có bị ô uế không?” Các thầy tế lễ trả lời: “Các vật ấy sẽ bị ô uế.”
A-ghê nói: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Trước mặt Ta, dân nầy, nước nầy cũng vậy, mọi việc tay họ làm cũng thế; những gì họ dâng tại đây đều bị ô uế.’
Vậy bây giờ, hãy để tâm suy nghĩ, từ ngày nầy trở về trước, khi chưa đặt viên đá nầy trên viên đá kia để xây đền thờ Đức Giê-hô-va
thì tình trạng lúc ấy thế nào? Khi người ta đến với một đống lúa đáng được hai mươi lường thì chỉ được mười; và khi người ta đến với hầm ép rượu đáng được năm mươi lường thì chỉ được hai mươi.
Đức Giê-hô-va phán: ‘Ta đã dùng hạn hán, nấm mốc, mưa đá trừng phạt các ngươi trong mọi việc tay các ngươi làm, thế mà không ai trong các ngươi trở lại với Ta.
Bây giờ, hãy để tâm suy nghĩ, từ ngày nầy trở về trước, tức là từ ngày hai mươi bốn tháng chín, ngày đặt nền móng của đền thờ Đức Giê-hô-va, hãy để tâm suy nghĩ về điều đó!
Các ngươi còn hạt giống nơi vựa lẫm không? Cho đến bây giờ, cây nho, cây vả, cây lựu, cây ô-liu, cũng không ra trái. Nhưng từ nay Ta sẽ ban phước cho các ngươi.’”
Vào ngày hai mươi bốn tháng ấy, có lời Đức Giê-hô-va phán lần thứ hai cho A-ghê rằng:
“Hãy nói với tổng đốc Giu-đa là Xô-rô-ba-bên rằng: ‘Ta sẽ làm rung chuyển các tầng trời và đất,
Ta sẽ lật đổ ngai của các vua chúa, hủy diệt quyền thế các vương quốc trần gian. Ta sẽ lật đổ các chiến xa cùng người lái; các ngựa chiến và kỵ binh sẽ ngã gục bởi gươm của anh em mình.’”
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Hỡi Xô-rô-ba-bên, con trai Sa-anh-thi-ên, trong ngày ấy, Ta sẽ chọn con làm đầy tớ Ta!” Đức Giê-hô-va phán: “Ta sẽ đặt con như ấn tín, vì Ta đã chọn con.” Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
Vào tháng tám, năm thứ hai của triều Đa-ri-út, có lời Đức Giê-hô-va phán với nhà tiên tri Xa-cha-ri, con trai Ba-ra-chi, cháu Y-đô, rằng:
“Đức Giê-hô-va rất tức giận tổ phụ các con.
Vậy, con hãy nói với họ rằng Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Hãy trở lại với Ta.’ Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Rồi Ta sẽ trở lại với các con.’ Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
Đừng như tổ phụ các con, những người đã được các nhà tiên tri xưa kia kêu gọi họ rằng Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Hãy từ bỏ đường lối gian ác và việc làm hung dữ của các con.’ Nhưng họ không lắng nghe, cũng chẳng chú ý đến Ta. Đức Giê-hô-va phán vậy.
Nào, tổ phụ các con ở đâu? Còn những nhà tiên tri, họ có sống đời đời chăng?
Tuy nhiên, những lời Ta phán và luật lệ Ta truyền cho đầy tớ Ta là các nhà tiên tri chẳng phải đã bắt kịp tổ phụ các con sao? Nên họ đã trở lại và nói rằng: ‘Mọi điều Đức Giê-hô-va vạn quân đã định xử chúng tôi theo đường lối và việc làm của chúng tôi, thì Ngài đã xử chúng tôi đúng như vậy.’”
Vào ngày hai mươi bốn, tháng mười một, tức là tháng Sê-bát, năm thứ hai của triều Đa-ri-út, có lời Đức Giê-hô-va phán với nhà tiên tri Xa-cha-ri, con trai Ba-ra-chi, cháu Y-đô.
Ban đêm, tôi thấy có một người cưỡi ngựa hồng, đứng giữa những cây sim ở một chỗ trũng. Phía sau người ấy có nhiều ngựa hồng, ngựa nâu, và ngựa bạch.
Tôi hỏi thiên sứ đang nói chuyện với tôi: “Thưa chúa, những người cưỡi ngựa nầy là ai?” Thiên sứ đáp: “Ta sẽ cho ngươi biết những người nầy là ai.”
Người đứng giữa những cây sim nói: “Đây là những người Đức Giê-hô-va sai đi khắp đất.”
Họ báo cáo với thiên sứ của Đức Giê-hô-va đang đứng giữa những cây sim rằng: “Chúng tôi đã đi khắp đất, và thấy mọi nơi đều sống yên ổn.”
Bấy giờ, thiên sứ của Đức Giê-hô-va nói: “Lạy Đức Giê-hô-va vạn quân, Ngài đã nổi giận với Giê-ru-sa-lem và các thành của Giu-đa bảy mươi năm nay. Ngài sẽ không thương xót chúng cho đến bao giờ?”
Đức Giê-hô-va dùng những lời lành, lời đầy an ủi đáp lại thiên sứ đang nói chuyện với tôi.
Bấy giờ, thiên sứ đang nói chuyện với tôi bảo tôi: “Hãy công bố rằng Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Ta vô cùng ghen tức vì Giê-ru-sa-lem và Si-ôn.
Nhưng Ta rất tức giận các dân tộc đang sống an nhàn; vì Ta chỉ giận dân Ta chút ít, mà chúng đã gây thêm tai họa vào.’
Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán: ‘Ta sẽ trở lại với Giê-ru-sa-lem trong sự thương xót. Đền thờ của Ta sẽ được xây lại tại đó, và dây chuẩn mực sẽ giăng trên Giê-ru-sa-lem.’ Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
Hãy công bố một lần nữa rằng Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Các thành của Ta sẽ lại tràn đầy của cải, Đức Giê-hô-va sẽ lại an ủi Si-ôn và lại chọn lựa Giê-ru-sa-lem.’”
Sau đó, tôi ngước mắt lên nhìn, và nầy, có bốn cái sừng.
Tôi hỏi thiên sứ đang nói chuyện với tôi: “Những sừng ấy có nghĩa gì?” Thiên sứ đáp: “Đó là những sừng đã làm tan tác Giu-đa, Y-sơ-ra-ên và thành Giê-ru-sa-lem.”
Kế đến, Đức Giê-hô-va cho tôi thấy bốn người thợ rèn.
Tôi hỏi: “Những người nầy đến làm gì?” Ngài đáp: “Những sừng nầy đã làm tan tác Giu-đa, đến nỗi không ai ngóc đầu lên được. Nhưng những người nầy đến để làm chúng kinh hãi và ném sừng của các nước xuống, là những nước đã giương sừng lên chống lại đất Giu-đa để làm cho nó tan tác.”
Tôi lại ngước mắt lên nhìn, và nầy, có một người cầm dây đo trong tay.
Tôi hỏi người ấy: “Ông đang đi đâu?” Người ấy đáp: “Đi đo Giê-ru-sa-lem, để xem chiều rộng và chiều dài của thành ấy là bao nhiêu.”
Rồi vị thiên sứ đang nói chuyện với tôi đi ra, một thiên sứ khác đến đón người
và bảo người: “Hãy chạy đi nói với chàng trai ấy rằng: ‘Giê-ru-sa-lem sẽ như làng mạc không có tường thành bao bọc, vì có rất đông người và súc vật ở trong nó.’
Đức Giê-hô-va phán: ‘Chính Ta sẽ là bức tường bằng lửa bao quanh thành, và Ta sẽ là vinh quang ngự giữa thành.’”
Đức Giê-hô-va phán: “Nào, nào! Hãy mau trốn khỏi đất phương bắc, vì Ta đã rải các con ra như gió bốn phương trời.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Hỡi Si-ôn, những kẻ đang sống tại Ba-by-lôn, hãy trốn thoát!”
Sau khi bày tỏ vinh quang, Ngài sai tôi đến cùng các nước đã cướp bóc anh em. Vì Đức Giê-hô-va vạn quân phán rằng ai đụng đến anh em tức là đụng đến con ngươi của mắt Ngài.
Vì nầy tôi sẽ vung tay chống lại chúng, để chúng làm mồi cho đầy tớ mình. Bấy giờ, anh em sẽ biết rằng Đức Giê-hô-va vạn quân đã sai tôi.
Đức Giê-hô-va phán: “Hỡi con gái Si-ôn, hãy reo hò vui vẻ! Vì nầy, Ta đang đến và sẽ ở giữa các con.
Trong ngày ấy, nhiều nước sẽ quy phục Đức Giê-hô-va và trở nên dân Ta; Ta sẽ ở giữa các con.” Bấy giờ, anh em sẽ biết rằng Đức Giê-hô-va vạn quân đã sai tôi đến cùng anh em.
Đức Giê-hô-va sẽ nhận Giu-đa làm sản nghiệp Ngài trong đất thánh, và Ngài sẽ lại tuyển chọn Giê-ru-sa-lem.
Mọi người hãy im lặng trước mặt Đức Giê-hô-va, vì Ngài đã thức dậy từ nơi ngự thánh của Ngài.
Đức Giê-hô-va lại cho tôi thấy thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-sua đang đứng trước mặt thiên sứ Đức Giê-hô-va, và Sa-tan đứng bên phải ông để tố cáo ông.
Đức Giê-hô-va nói với Sa-tan: “Hỡi Sa-tan, Đức Giê-hô-va quở trách ngươi! Đức Giê-hô-va, Đấng lựa chọn Giê-ru-sa-lem, quở trách ngươi! Chẳng phải người nầy là que củi đang cháy được kéo ra khỏi lửa sao?”
Bấy giờ, Giê-hô-sua đang mặc áo bẩn đứng trước mặt thiên sứ.
Thiên sứ ấy bảo các vị đang đứng trước mặt mình rằng: “Hãy cởi áo bẩn của người nầy ra.” Rồi thiên sứ nói với Giê-hô-sua: “Hãy xem, Ta đã cất bỏ tội ác khỏi ngươi, và Ta sẽ mặc lễ phục tốt đẹp cho ngươi.”
Lúc ấy, tôi nói: “Xin Chúa cho đội mũ sạch trên đầu người nữa.” Vậy, họ đội mũ sạch và mặc y phục cho người, trong khi thiên sứ Đức Giê-hô-va đang đứng đó.
Thiên sứ Đức Giê-hô-va quả quyết với Giê-hô-sua rằng:
“Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Nếu con bước đi trong đường lối Ta, tuân giữ huấn lệnh Ta, thì con sẽ được cai quản nhà Ta và canh giữ sân Ta; và Ta sẽ cho con gia nhập hàng ngũ những người đứng chầu Ta.
Hỡi thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-sua, con cùng các đồng sự đang ngồi trước mặt con, hãy lắng nghe! Vì họ là điềm báo trước rằng Ta sẽ cho đầy tớ Ta là Chồi Non xuất hiện.
Vì nầy, hòn đá mà Ta đặt trước mặt Giê-hô-sua, chỉ một hòn đá mà có bảy con mắt. Ta sẽ khắc chữ lên đó và sẽ cất sự gian ác khỏi đất nầy trong một ngày.’” Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Vào ngày ấy, ai nấy trong các con sẽ mời người lân cận đến ngồi dưới cây nho và cây vả mình.”
Thiên sứ đã nói chuyện với tôi trở lại và đánh thức tôi, như một người bị đánh thức khỏi giấc ngủ.
Vị ấy hỏi tôi: “Ngươi thấy gì?” Tôi đáp: “Tôi thấy một chân đèn toàn bằng vàng, và một bình dầu trên đỉnh; chân đèn có bảy ngọn đèn, với bảy ống dẫn dầu cho mỗi ngọn đèn trên đỉnh.
Gần bên chân đèn có hai cây ô-liu, một cây ở bên phải bình dầu và một cây ở bên trái.”
Bấy giờ, tôi hỏi thiên sứ đang nói chuyện với tôi: “Thưa chúa, những điều nầy có nghĩa gì?”
Thiên sứ đang nói chuyện với tôi hỏi lại tôi: “Ngươi không biết những điều nầy có nghĩa gì sao?” Tôi đáp: “Thưa chúa, tôi không biết.”
Thiên sứ ấy nói với tôi: “Đây là lời của Đức Giê-hô-va phán cho Xô-rô-ba-bên: ‘Ấy chẳng phải bởi quyền thế, cũng chẳng phải bởi năng lực, nhưng bởi Thần Ta.’ Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
Hỡi núi lớn kia, ngươi là ai? Trước mặt Xô-rô-ba-bên, ngươi sẽ trở nên đồng bằng. Người sẽ đem đá móng ra giữa tiếng reo hò: ‘Phước quá! Phước quá!’”
Lại có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi rằng:
“Tay của Xô-rô-ba-bên đã lập nền móng đền thờ nầy thì cũng chính tay người sẽ hoàn thành.” Và anh em sẽ biết rằng Đức Giê-hô-va vạn quân đã sai tôi đến với anh em.
Vì những ai coi thường các việc nhỏ nhoi trong ngày đầu sẽ vui mừng khi thấy dây chuẩn mực trong tay Xô-rô-ba-bên. Bảy ngọn đèn là mắt Đức Giê-hô-va soi xét khắp đất.
Tôi hỏi thiên sứ: “Hai cây ô-liu ở bên phải và bên trái của chân đèn có nghĩa gì?”
Tôi lại hỏi thiên sứ lần thứ hai: “Hai nhánh ô-liu ở kề bên hai ống dẫn dầu bằng vàng có dầu vàng chảy ra có nghĩa gì?”
Thiên sứ hỏi lại tôi: “Ngươi không biết những điều ấy có nghĩa gì sao?” Tôi đáp: “Thưa chúa, tôi không biết.”
Thiên sứ nói: “Đó là hai người được xức dầu để phục vụ Chúa của cả đất.”
Tôi lại ngước mắt lên nhìn và thấy có một cuốn sách đang bay.
Thiên sứ hỏi tôi: “Ngươi thấy gì?” Tôi đáp: “Tôi thấy một cuốn sách đang bay, chiều dài sách khoảng chín mét, chiều ngang khoảng bốn mét rưỡi.”
Thiên sứ bảo tôi: “Ấy là sự nguyền rủa tuyên ra cho khắp mặt đất. Chiếu theo một mặt của sách ấy, bất cứ ai trộm cắp sẽ bị dứt khỏi đây; và chiếu theo mặt kia của sách ấy, bất cứ ai thề dối sẽ bị dứt khỏi đây.”
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Ta sẽ khiến cuốn sách nầy đi ra, nó sẽ vào nhà kẻ trộm và vào nhà kẻ nhân danh Ta mà thề dối. Nó sẽ ở lại trong nhà kẻ ấy và sẽ thiêu hủy nhà ấy, cả gỗ lẫn đá.”
Thiên sứ nói chuyện với tôi đi ra, và bảo tôi: “Hãy ngước mắt lên mà xem vật gì đang đi ra.”
Tôi hỏi: “Vật gì thế?” Thiên sứ đáp: “Vật đang đi ra là một cái thúng.” Thiên sứ lại nói tiếp: “Đó là tội lỗi của dân cư khắp đất.”
Rồi tôi thấy cái nắp chì được nhấc lên, và có một người đàn bà ngồi trong cái thúng.
Thiên sứ nói: “Người đàn bà nầy tượng trưng cho tội ác.” Rồi thiên sứ đẩy người đàn bà vào cái thúng, và đậy nắp chì trên miệng thúng.
Tôi lại ngước mắt lên nhìn và thấy có hai người đàn bà hiện ra, giương cánh trong gió; cánh của họ giống như cánh cò. Họ nhấc cái thúng lên lơ lửng giữa đất trời.
Tôi hỏi thiên sứ đang nói chuyện với tôi: “Họ đem cái thúng đi đâu vậy?”
Thiên sứ đáp: “Đem đến đất Si-nê-a để xây nhà cho nó. Khi đã xây xong, nó sẽ được đặt vào đó, trên một cái bệ.”
Tôi lại ngước mắt lên nhìn và thấy có bốn cỗ xe đi ra từ giữa hai hòn núi, các núi ấy là núi bằng đồng.
Cỗ xe thứ nhất có ngựa hồng; cỗ xe thứ nhì, ngựa ô;
cỗ xe thứ ba, ngựa bạch; cỗ xe thứ tư, ngựa đốm xám.
Tôi hỏi thiên sứ đang nói chuyện với tôi: “Thưa chúa, những cỗ xe ấy có nghĩa gì?”
Thiên sứ đáp: “Đó là bốn cơn gió trên trời đi ra, sau khi trình diện Chúa của toàn cõi đất.
Cỗ xe thắng ngựa ô tiến về đất phương bắc, cỗ xe ngựa bạch tiến theo sau nó, và cỗ xe ngựa đốm xám tiến về đất phương nam.”
Những con ngựa ấy hăng hái kéo ra và nôn nóng muốn đi tuần khắp đất. Thiên sứ nói với chúng: “Hãy đi đi và hãy tuần tra khắp đất.” Vậy, chúng đi tuần khắp đất.
Sau đó, thiên sứ gọi to và nói với tôi: “Hãy xem, những con ngựa tiến về đất phương bắc đã làm cho Thần Ta được nghỉ ngơi ở vùng đất phương bắc.”
Có lời Đức Giê-hô-va phán với tôi:
“Hãy nhận bạc và vàng từ những người bị lưu đày như Hiên-đai, Tô-bi-gia, và Giê-đa-gia. Nội ngày nay, con hãy đến nhà Giô-si-a, con trai Sô-phô-ni, họ vừa từ Ba-by-lôn trở về.
Con hãy lấy số bạc và vàng ấy làm mão miện, rồi đội lên đầu thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-sua, con trai Giô-xa-đác.
Con hãy nói với người rằng Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Nầy có một người tên là Chồi Non sẽ đâm chồi từ chỗ mình. Người ấy sẽ xây cất đền thờ Đức Giê-hô-va.
Chính Người sẽ xây cất đền thờ Đức Giê-hô-va, chính Người sẽ được sự uy nghiêm, ngồi cai trị trên ngai mình, và làm thầy tế lễ trên ngai mình; sẽ có sự hòa hợp giữa hai chức vị.’
Mão miện sẽ được giữ lại trong đền thờ Đức Giê-hô-va như kỷ vật cho Hê-lem, Tô-bi-gia, Giê-đa-gia và Hên con trai của Sô-phô-ni.”
Những người ở xa sẽ đến góp phần xây dựng đền thờ Đức Giê-hô-va; và anh em sẽ biết rằng Đức Giê-hô-va vạn quân đã sai tôi đến với anh em. Nếu anh em cẩn thận vâng theo tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình thì những điều nầy sẽ xảy ra.
Trong năm thứ tư triều vua Đa-ri-út, vào ngày mồng bốn tháng chín, tức là tháng Kít-lêu, có lời Đức Giê-hô-va phán với Xa-cha-ri.
Lúc ấy, người thành Bê-tên phái Sa-rết-se và Rê-ghem Mê-léc cùng một số người theo họ, đến nài xin ơn Đức Giê-hô-va.
Họ hỏi các thầy tế lễ trong đền thờ Đức Giê-hô-va vạn quân và các nhà tiên tri rằng: “Chúng tôi có nên khóc lóc và biệt mình ra thánh vào tháng thứ năm như vẫn thường làm trong nhiều năm nay chăng?”
Bấy giờ, có lời Đức Giê-hô-va vạn quân phán với tôi rằng:
“Hãy nói với toàn dân trong xứ và các thầy tế lễ rằng: ‘Các ngươi kiêng ăn và than khóc trong tháng năm và tháng bảy suốt bảy mươi năm nay, có phải các ngươi vì chính Ta mà thật sự kiêng ăn không?
Khi các ngươi ăn uống, chẳng phải các ngươi vì mình mà ăn uống hay sao?
Chẳng phải đó là lời Đức Giê-hô-va kêu gọi qua các nhà tiên tri thời xưa, khi Giê-ru-sa-lem và các thành phụ cận còn dân cư và được thịnh vượng, cũng như khi Nê-ghép và Sơ-phê-la có dân cư ngụ hay sao?’”
Sau đó, có lời Đức Giê-hô-va phán với Xa-cha-ri:
“Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Hãy xét xử thật công minh; ai nấy hãy lấy sự nhân từ và thương xót đối xử với anh em mình.
Đừng áp bức kẻ mồ côi, người góa bụa, khách tạm trú, hay là kẻ nghèo khó. Đừng mưu tính điều ác trong lòng để hại anh em mình.’
Nhưng chúng không chịu lắng nghe, bướng bỉnh quay lưng lại, và làm cho tai mình trở nên nặng để khỏi phải nghe.
Chúng làm cho lòng mình cứng như đá kim cương để không nghe luật pháp và những lời mà Đức Giê-hô-va vạn quân đã truyền phán bởi Thần Ngài, qua các nhà tiên tri thời xưa. Vì vậy, có cơn thịnh nộ rất lớn đến từ Đức Giê-hô-va vạn quân.
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: ‘Khi Ta kêu gọi, chúng không chịu nghe thế nào, thì khi chúng kêu cầu, Ta cũng không nghe thế ấy.
Ta đã làm tan tác chúng như bởi một cơn gió lốc cuốn đi khắp các nước mà chúng chưa từng biết. Phía sau chúng là một xứ sở đã trở nên hoang vu đến nỗi không còn ai qua lại. Chúng đã làm cho đất nước tươi đẹp trở thành hoang tàn.’”
Lại có lời Đức Giê-hô-va vạn quân phán như sau:
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Ta đã phát ghen dữ dội vì Si-ôn, Ta vô cùng ghen tức vì nó.”
Đức Giê-hô-va phán: “Ta sẽ trở lại với Si-ôn và sẽ ở giữa Giê-ru-sa-lem. Giê-ru-sa-lem sẽ được gọi là thành Chân Thật, núi của Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ được gọi là Núi Thánh.”
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Sẽ còn có những ông cụ, bà cụ ngồi nghỉ tại các quảng trường của Giê-ru-sa-lem; ai nấy đều cầm gậy vì cao tuổi.
Các quảng trường của thành phố sẽ đầy những con trai và con gái vui chơi tại đó.”
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Trong những ngày ấy, dù đó là điều lạ lùng dưới mắt dân sót nầy, thì dưới mắt Ta nó có lạ lùng gì chăng?” Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Nầy, Ta sẽ giải cứu dân Ta từ các miền đất phương đông và phương tây.
Ta sẽ đem họ về, và họ sẽ ở giữa Giê-ru-sa-lem. Họ sẽ là dân của Ta; còn Ta, Ta sẽ là Đức Chúa Trời của họ trong sự thành tín và công chính.”
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Trong những ngày nầy, các con là những người nghe các lời từ miệng các nhà tiên tri trong ngày mà nhà Đức Giê-hô-va vạn quân, tức là đền thờ, được đặt nền móng để xây dựng, thì các con hãy làm tay mình mạnh mẽ!
Vì trước những ngày ấy, người ta và súc vật đều không được trả tiền công; và vì kẻ thù, người ra kẻ vào đều chẳng được bình an, vì Ta đã khiến mọi người nghịch cùng người lân cận mình.
Nhưng bây giờ Ta sẽ không đối xử với dân sót nầy như trước nữa.” Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
“Vì ở đó sẽ có hạt giống bình an; cây nho sẽ sinh trái và đất sẽ sinh hoa lợi, các tầng trời sẽ đổ sương móc xuống. Ta sẽ cho những người sót lại của dân nầy được hưởng mọi điều đó.
Hỡi nhà Giu-đa và nhà Y-sơ-ra-ên! Các con đã trở thành lời nguyền rủa trong các nước thể nào, thì Ta sẽ giải cứu các con và làm cho các con thành lời chúc phước thể ấy. Các con đừng sợ hãi, nhưng hãy làm cho tay mình mạnh mẽ!”
Vì Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Như Ta đã quyết định giáng tai họa cho các con, khi tổ phụ các con làm Ta nổi giận, và Ta không đổi ý,” Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy,
“thì ngày nay, Ta lại quyết định làm ơn cho Giê-ru-sa-lem và cho nhà Giu-đa. Các con đừng sợ!
Đây là những điều các con phải làm: Ai nấy hãy nói thật với người lân cận mình; tại cổng thành, hãy xét xử chân thật, công minh và ôn hòa;
đừng toan tính điều ác trong lòng để làm hại người lân cận; và đừng ưa thích việc thề dối, vì Ta ghét tất cả những điều đó.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Có lời Đức Giê-hô-va vạn quân lại phán với tôi:
Đức Giê-hô-va vạn quân có phán: “Các kỳ kiêng ăn vào tháng tư, tháng năm, tháng bảy, và tháng mười sẽ trở thành dịp vui mừng hớn hở và những ngày lễ hội cho nhà Giu-đa. Vậy hãy yêu chuộng sự chân thật và bình an.”
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Các dân tộc và cư dân nhiều thành sẽ còn tuôn đến;
và dân thành nầy sẽ đến mời dân thành khác: ‘Nào, chúng ta hãy mau đến nài xin ơn Đức Giê-hô-va và tìm kiếm Đức Giê-hô-va vạn quân; chính tôi cũng đi nữa.’
Như vậy, các dân đông đảo và các nước hùng cường sẽ đến tìm kiếm Đức Giê-hô-va vạn quân tại Giê-ru-sa-lem, để nài xin ơn Đức Giê-hô-va.”
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Trong những ngày ấy, sẽ có mười người thuộc mọi ngôn ngữ từ các nước nắm chặt vạt áo của một người Giu-đa, và nói rằng: ‘Xin cho chúng tôi đi với các anh, vì chúng tôi có nghe rằng Đức Giê-hô-va ở với các anh.’”
Đây là lời tiên tri: Lời Đức Giê-hô-va chống lại đất Ha-đơ-rắc, Lời ấy cũng chống lại Đa-mách. Vì mắt của mọi người và mọi bộ tộc Y-sơ-ra-ên Đều hướng lên Đức Giê-hô-va.
Lời ấy cũng phán về Ha-mát, giáp ranh với Đa-mách, Và phán về Ty-rơ, Si-đôn, là các thành rất khôn ngoan.
Dù Ty-rơ đã xây đồn lũy cho mình, Thu chứa bạc nhiều như bụi đất, Và tích lũy vàng như bùn đất ngoài đường.
Nhưng nầy, Chúa sẽ tước đoạt hết tài sản của nó, Đánh đổ quyền thế nó xuống biển, Còn nó sẽ bị lửa thiêu nuốt.
Ách-ca-lôn sẽ thấy và sợ hãi; Ga-xa cũng đau đớn quằn quại; Éc-rôn cũng vậy, vì niềm hi vọng của nó tiêu tan. Vua Ga-xa sẽ bị tiêu diệt Và Ách-ca-lôn sẽ không có dân cư.
Đám dân tạp sẽ cư ngụ tại Ách-đốt; Ta sẽ diệt trừ sự kiêu ngạo của người Phi-li-tin.
Ta sẽ xóa sạch máu khỏi miệng nó, Và lấy thức ăn ghê tởm ra khỏi răng nó; Nó sẽ như dân sót của Đức Chúa Trời chúng ta, Và sẽ như một tộc trưởng của Giu-đa, Còn Éc-rôn sẽ như người Giê-bu-sít.
Ta sẽ đóng trại để canh giữ nhà Ta, Đề phòng người qua kẻ lại. Kẻ hà hiếp sẽ không còn giày xéo dân Ta nữa, Vì bây giờ Ta đã để mắt trông coi họ.
Hỡi con gái Si-ôn, hãy hết sức vui mừng! Hỡi con gái Giê-ru-sa-lem, hãy reo hò mừng vui! Nầy, Vua ngươi đến với ngươi; Ngài là Đấng Công Chính và ban sự cứu rỗi, Khiêm tốn và cưỡi lừa, Một con lừa con, là con của lừa cái.
Ta sẽ diệt trừ chiến xa khỏi Ép-ra-im Và ngựa chiến khỏi Giê-ru-sa-lem; Cung tên dùng trong chiến trận cũng sẽ bị bẻ gãy, Và Ngài sẽ công bố hòa bình cho các nước; Quyền cai trị của Ngài sẽ trải suốt từ biển nầy đến biển kia, Từ Sông Cái cho đến tận cùng cõi đất.
“Về phần con, vì huyết của giao ước Ta lập với con, Nên Ta sẽ thả những kẻ bị giam cầm của con ra khỏi hố cạn.
Hỡi những kẻ bị giam cầm mà vẫn còn hi vọng, hãy trở về đồn lũy! Chính hôm nay, Ta công bố rằng Ta sẽ bồi hoàn cho con gấp đôi.
Ta sẽ giương Giu-đa ra cho Ta như cái cung, Và Ép-ra-im như mũi tên của nó. Hỡi Si-ôn, Ta sẽ thúc giục con cái của con Chống lại con cái của Gia-van, Và Ta sẽ khiến con như lưỡi gươm của dũng sĩ.”
Bấy giờ, Đức Giê-hô-va sẽ xuất hiện cho dân Ngài thấy, Mũi tên Ngài sẽ phóng đi như tia chớp; Chúa Giê-hô-va sẽ thổi tù và Ngài tiến tới trong gió lốc phương nam.
Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ bảo vệ họ, Họ sẽ ăn nuốt và giày đạp những viên đá dùng bắn ná; Họ sẽ uống và vui say ồn ào như người say rượu, Và sẽ đầy tràn như cái bát, Như các góc bàn thờ.
Ngày ấy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ sẽ giải cứu dân mình Như bầy chiên của Ngài; Họ sẽ chiếu sáng trên đất Như những viên đá quý lấp lánh trên vương miện.
Thật, mọi sự tốt lành đẹp đẽ biết bao! Ngũ cốc sẽ làm cho thanh niên tăng trưởng, Và rượu mới làm cho thiếu nữ vui tươi.
Hãy cầu xin Đức Giê-hô-va ban mưa cuối mùa, Đức Giê-hô-va sẽ làm sấm chớp, Và ban cho mưa dồi dào, Để ai nấy có rau cỏ ngoài đồng.
Vì các thần tượng chỉ nói điều hư không, Các thầy bói chỉ thấy điều gian trá; Chúng rêu rao những chiêm bao giả dối, Và nói lời an ủi rỗng tuếch. Vì vậy, dân chúng tan lạc Như những con chiên khốn khổ vì không có người chăn.
“Cơn giận Ta cháy phừng lên chống lại những kẻ chăn, Ta sẽ trừng phạt các nhà lãnh đạo. Khi Đức Giê-hô-va vạn quân thăm viếng bầy chiên Ngài, tức là nhà Giu-đa, Thì sẽ khiến họ như ngựa chiến oai phong ra trận.
Từ nhà Giu-đa, sẽ xuất hiện đá móng góc nhà, Từ họ, sẽ xuất hiện cọc lều, Từ họ, sẽ xuất hiện cung nỏ chiến trận, Và từ họ, sẽ xuất hiện mọi thủ lĩnh.
Họ sẽ như những dũng sĩ giày đạp quân thù trong trận chiến Như bùn đất ngoài đường phố. Họ sẽ chiến đấu vì Đức Giê-hô-va ở với họ, Và những người cưỡi ngựa sẽ phải xấu hổ.”
“Ta sẽ làm cho nhà Giu-đa trở nên hùng mạnh, Và sẽ giải cứu nhà Giô-sép. Ta sẽ đem chúng trở về vì thương xót chúng, Và chúng sẽ như chưa từng bị Ta từ bỏ; Vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng, và sẽ nhậm lời chúng.
Ép-ra-im sẽ trở nên như dũng sĩ, Lòng chúng hân hoan như khi uống rượu say; Con cái chúng sẽ thấy và vui mừng, Lòng chúng hoan hỉ trong Đức Giê-hô-va.
Ta sẽ huýt sáo tập trung chúng lại, Vì Ta đã cứu chuộc chúng; Và chúng sẽ trở nên đông đảo như xưa.
Ta sẽ rải chúng ra giữa các dân, Nhưng ở những miền xa xăm, chúng sẽ nhớ đến Ta; Chúng sẽ sống với con cái mình, và sẽ trở về.
Ta sẽ đem chúng trở về từ đất Ai Cập, Tập hợp chúng lại từ A-si-ri; Ta sẽ đem chúng vào đất Ga-la-át và Li-ban, Nhưng chúng vẫn chưa tìm đủ chỗ ở.
Chúng sẽ vượt qua biển khốn khổ, Đánh tan sóng biển; Tất cả những chỗ sâu của sông Nin sẽ cạn khô. Sự kiêu ngạo của A-si-ri sẽ bị đánh hạ, Và cây trượng của Ai Cập sẽ biến đi.
Ta sẽ làm cho chúng mạnh mẽ trong Đức Giê-hô-va, Và chúng bước đi trong danh Ngài.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
Hỡi Li-ban, hãy mở các cửa, Cho lửa thiêu nuốt những cây bá hương của ngươi!
Hỡi cây thông, hãy khóc than vì cây bá hương đã ngã xuống, Những cây tốt đẹp đã bị tàn phá. Hỡi cây sồi ở Ba-san, hãy khóc than, Vì rừng rậm đã bị đốn ngã.
Hãy nghe, có tiếng khóc than của những kẻ chăn chiên! Vì vẻ huy hoàng của chúng đã bị tàn phá. Có tiếng gầm thét của những sư tử tơ! Vì niềm kiêu hãnh của Giô-đanh đã bị tiêu tan.
Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Ta phán: “Hãy chăn bầy chiên sắp bị đem làm thịt.
Những kẻ mua chiên để giết đi chẳng thấy mình có tội, còn kẻ bán thì nói rằng: ‘Ca ngợi Đức Giê-hô-va, vì tôi đã nên giàu có!’ Thế mà những kẻ chăn chiên chẳng chút xót thương chúng.”
Đức Giê-hô-va phán: “Thật, Ta chẳng tiếc dân cư đất nầy nữa. Nhưng nầy, Ta sẽ phó ai nấy vào tay người lân cận mình và vào tay vua mình. Chúng sẽ nghiền nát xứ sở, và Ta sẽ không giải cứu một ai khỏi tay chúng.”
Vậy, Ta chăn bầy chiên sắp bị làm thịt, là bầy chiên rất khốn khổ. Ta dùng hai cây gậy: một cây gọi là Ân Huệ, một cây gọi là Hợp Nhất để chăn bầy chiên.
Chỉ trong một tháng, Ta đã tống khứ ba kẻ chăn, vì Ta không chịu đựng chúng được nữa, và chúng cũng chán ghét Ta.
Bấy giờ, Ta nói: “Ta sẽ không chăn bầy nữa. Con nào chết, cứ chết đi; con nào mất, cứ mất đi; còn những con còn lại thì cứ ăn thịt nhau đi.”
Rồi Ta cầm cây gậy Ân Huệ và bẻ gãy nó, để hủy bỏ giao ước mà Ta đã lập với tất cả các dân.
Thế là giao ước bị hủy bỏ ngay hôm ấy, và những con chiên rất khốn khổ trong bầy theo Ta biết rằng ấy là lời Đức Giê-hô-va.
Ta nói với họ: “Nếu các ngươi cho là tốt thì hãy trả công cho Ta, nếu không thì thôi.” Họ cân và trả công cho Ta ba chục miếng bạc
Đức Giê-hô-va phán với Ta: “Hãy lấy số bạc mà chúng định cho Ta ném cho thợ gốm!” Ta lấy ba chục miếng bạc mà ném cho thợ gốm trong nhà Đức Giê-hô-va.
Rồi Ta bẻ cây gậy thứ hai, là cây gậy Hợp Nhất, để dứt tình anh em giữa Giu-đa và Y-sơ-ra-ên.
Đức Giê-hô-va lại phán với Ta: “Hãy lấy lại cho con dụng cụ của kẻ chăn dại dột.
Vì nầy, Ta sẽ dấy lên trong xứ một kẻ chăn chiên chẳng quan tâm đến chiên bị mất, không tìm kiếm chiên lạc, chẳng chạy chữa chiên bị thương, không nuôi con nào mập mạnh. Nhưng con nào mập béo thì người ấy ăn thịt và xé cả móng nó.
Khốn cho kẻ chăn vô ích, Là kẻ bỏ bê bầy mình! Nguyền cho gươm chém vào cánh tay Và mắt phải nó; Nguyền cho cánh tay nó bị teo khô hoàn toàn, Và mắt phải nó bị mù hẳn.”
Lời Đức Giê-hô-va nói tiên tri về Y-sơ-ra-ên. Đức Giê-hô-va là Đấng giương các tầng trời, lập nền móng của đất, và tạo sinh khí trong con người, Đấng ấy phán:
“Nầy, Ta sẽ khiến Giê-ru-sa-lem thành chén rượu làm cho mọi dân chung quanh choáng váng; và khi Giê-ru-sa-lem bị bao vây thì Giu-đa cũng bị tấn công.
Trong ngày ấy, Ta sẽ khiến Giê-ru-sa-lem thành tảng đá nặng nề cho các dân tộc; ai nhấc nó sẽ bị thương nặng. Và mọi nước trên đất sẽ họp nhau chống lại nó.”
Đức Giê-hô-va phán: “Trong ngày ấy, Ta sẽ đánh phạt, khiến mọi con ngựa kinh hãi, người cưỡi ngựa phải điên cuồng. Nhưng Ta sẽ mở mắt nhìn nhà Giu-đa, khi Ta đánh mọi ngựa chiến của các dân, khiến chúng đui mù.
Bấy giờ, các thủ lĩnh Giu-đa sẽ tự nhủ rằng: ‘Cư dân Giê-ru-sa-lem là sức mạnh của ta trong Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của họ.’
Trong ngày ấy, Ta sẽ làm cho các thủ lĩnh Giu-đa giống như một bếp lửa đang cháy giữa đống củi, như một ngọn đuốc cháy giữa những bó lúa; họ sẽ thiêu nuốt tất cả các dân tộc chung quanh, cả bên phải lẫn bên trái. Nhưng cư dân Giê-ru-sa-lem vẫn ở nguyên tại chỗ của nó, tức là Giê-ru-sa-lem.”
Trước hết, Đức Giê-hô-va sẽ cứu các trại của Giu-đa để vinh quang của nhà Đa-vít và vinh quang của cư dân Giê-ru-sa-lem không trội hơn vinh quang của Giu-đa.
Trong ngày ấy, Đức Giê-hô-va sẽ bảo vệ cư dân Giê-ru-sa-lem. Lúc ấy, người yếu nhất trong họ sẽ như Đa-vít; nhà Đa-vít sẽ như Đức Chúa Trời, và sẽ như thiên sứ của Đức Giê-hô-va đi trước họ.
“Vào ngày ấy, Ta sẽ truy tìm để hủy diệt tất cả các nước tiến đánh Giê-ru-sa-lem.”
“Ta sẽ đổ thần ân điển và nài xin trên nhà Đa-vít và trên cư dân Giê-ru-sa-lem. Chúng sẽ nhìn xem Ta là Đấng chúng đã đâm, rồi chúng sẽ than khóc Ngài như người ta than khóc đứa con một, và sẽ thương tiếc Ngài như người ta thương tiếc con đầu lòng.
Trong ngày ấy, sẽ có sự than khóc thảm thiết tại Giê-ru-sa-lem như sự than khóc Ha-đát Rim-môn trong đồng bằng Mê-ghi-đô.
Đất nước nầy sẽ than khóc, mỗi gia tộc than khóc riêng biệt: gia tộc của nhà Đa-vít riêng, vợ con chúng cũng riêng; gia tộc của nhà Na-than riêng, vợ con chúng cũng riêng;
gia tộc của nhà Lê-vi riêng, vợ con chúng cũng riêng; gia tộc Si-mê-i riêng, vợ con chúng cũng riêng;
tất cả các gia tộc còn lại, mỗi gia tộc đều riêng, và vợ con chúng cũng riêng ra như thế.”
Trong ngày ấy, sẽ có một dòng suối mở ra cho nhà Đa-vít và cư dân Giê-ru-sa-lem để tẩy sạch tội lỗi và sự ô uế.
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Trong ngày ấy, Ta sẽ xóa sạch tên của các thần tượng khỏi đất nầy, người ta sẽ không còn nhắc đến nữa. Ta cũng sẽ trục xuất các kẻ tiên tri và linh ô uế khỏi đất nầy.
Nếu có ai còn nói tiên tri thì cha và mẹ nó, là người đã sinh ra nó, sẽ nói với nó rằng: ‘Mầy sẽ không được sống nữa, vì mầy dám nhân danh Đức Giê-hô-va mà nói điều dối trá.’ Rồi cha mẹ là người đã sinh ra nó sẽ đâm nó khi nó nói tiên tri.
Trong ngày ấy, các kẻ tiên tri ai nấy sẽ phải xấu hổ về khải tượng của mình khi nói tiên tri. Họ sẽ không còn mặc áo choàng bằng lông để lừa dối nữa.
Nhưng họ sẽ nói rằng: ‘Tôi không phải là nhà tiên tri mà chỉ là người cày ruộng, vì tôi đã làm tôi mọi từ thuở nhỏ.’
Nếu có ai hỏi: ‘Những vết thương giữa hai cánh tay anh là vì sao?’ Người ấy sẽ đáp: ‘Đó là những vết thương tôi đã bị trong nhà bạn tôi.’”
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Hỡi gươm, hãy nổi dậy đánh kẻ chăn của Ta, Và đánh người thân cận với Ta. Hãy đánh kẻ chăn để bầy chiên tản lạc, Ta cũng sẽ trở tay đánh cả những con bé nhỏ.”
Đức Giê-hô-va phán: “Trong toàn xứ, Hai phần ba sẽ bị dứt bỏ và tiêu diệt, Nhưng một phần ba sẽ được để lại.
Ta sẽ đưa một phần ba ấy vào lửa, Ta sẽ luyện chúng như luyện bạc, Thử chúng như thử vàng. Chúng sẽ kêu cầu danh Ta Và Ta sẽ nhậm lời chúng. Ta sẽ nói rằng: ‘Chúng là dân Ta.’ Và chúng sẽ nói: ‘Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chúng tôi.’”
Nầy, ngày của Đức Giê-hô-va sắp đến, khi người ta sẽ chia những chiến lợi phẩm cướp được của ngươi ở giữa ngươi.
Ta sẽ tập hợp mọi nước lại giao chiến với Giê-ru-sa-lem. Thành sẽ bị chiếm, nhà cửa sẽ bị cướp đoạt, phụ nữ sẽ bị cưỡng hiếp; một nửa dân thành sẽ bị lưu đày, nhưng số dân còn lại sẽ không bị dứt bỏ khỏi thành.
Bấy giờ, Đức Giê-hô-va sẽ ra giao chiến với các nước ấy, như Ngài đã giao chiến trong thời chiến tranh.
Trong ngày ấy, chân Ngài sẽ đứng trên núi Ô-liu, là núi đối diện Giê-ru-sa-lem về phía đông. Núi Ô-liu sẽ bị chẻ ra làm đôi ở chính giữa, tạo nên một thung lũng rất lớn từ đông sang tây; một nửa núi dời qua phía bắc, một nửa kia dời qua phía nam.
Các ngươi sẽ chạy trốn trong thung lũng các núi của Ta, vì thung lũng ấy sẽ chạy dài đến Át-san. Các ngươi sẽ chạy trốn như là trốn khỏi cơn động đất trong thời Ô-xia, vua Giu-đa. Bấy giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tôi sẽ đến, tất cả các thánh sẽ ở với ngươi.
Trong ngày ấy, sẽ không có ánh sáng nữa, những thiên thể chiếu sáng sẽ thu mình lại.
Đó sẽ là một ngày đặc biệt mà Đức Giê-hô-va biết; không phải ban ngày, cũng chẳng phải ban đêm, vì buổi tối vẫn sẽ có ánh sáng.
Vào ngày ấy, nước sống sẽ chảy ra từ Giê-ru-sa-lem, một nửa chảy về biển đông, một nửa chảy về biển tây, chảy suốt mùa hạ lẫn mùa đông.
Đức Giê-hô-va sẽ làm vua khắp đất. Trong ngày ấy, Đức Giê-hô-va sẽ là Đấng duy nhất, và danh Ngài cũng sẽ là danh duy nhất.
Khắp cả xứ sẽ trở nên đồng bằng từ Ghê-ba cho đến Rim-môn, về phía nam Giê-ru-sa-lem. Thành nầy sẽ được nhấc lên và ở nguyên tại chỗ, từ cổng Bên-gia-min cho đến cổng thứ nhất và cổng góc, và từ tháp Ha-na-nê-ên cho đến hầm ép rượu của vua.
Giê-ru-sa-lem sẽ có người ở, nó sẽ chẳng bao giờ bị tàn phá nữa, nhưng sẽ được an toàn.
Đây là tai họa mà Đức Giê-hô-va dùng để trừng phạt mọi dân tiến hành chiến tranh chống lại Giê-ru-sa-lem: Ngài sẽ làm cho ai nấy khi chân còn đang đứng thì thịt thối rữa ra, mắt mục nát trong hốc mắt, lưỡi mục nát trong miệng.
Trong ngày ấy, Đức Giê-hô-va sẽ khiến chúng hoảng loạn vô cùng; ai nấy trong chúng sẽ túm lấy kẻ lân cận mình, và giơ tay lên đánh lẫn nhau.
Giu-đa cũng sẽ chiến đấu tại Giê-ru-sa-lem, và sẽ thu lấy tài sản của tất cả các nước chung quanh gồm vàng, bạc và rất nhiều áo xống.
Tai họa trên cũng giáng xuống ngựa, la, lạc đà, lừa, và tất cả thú vật trong doanh trại.
Sau đó, tất cả những kẻ còn sót lại trong mọi nước tiến đánh Giê-ru-sa-lem sẽ lên đó hàng năm để thờ lạy trước mặt Vua là Đức Giê-hô-va vạn quân, và giữ lễ Lều Tạm.
Trong các dân tộc trên đất, dân tộc nào không lên Giê-ru-sa-lem để thờ lạy trước mặt Vua là Đức Giê-hô-va vạn quân thì sẽ không có mưa cho chúng.
Nếu dân Ai Cập không lên và không đến đó thờ phượng thì cũng không có mưa cho chúng, và chúng phải chịu tai họa mà Đức Giê-hô-va đã dùng phạt các nước không lên giữ lễ Lều Tạm.
Đó là hình phạt mà Ai Cập và các nước khác phải chịu, nếu không lên giữ lễ Lều Tạm.
Trong ngày ấy, trên các lục lạc ngựa sẽ có ghi hàng chữ: “THÁNH CHO ĐỨC GIÊ-HÔ-VA!” Những nồi niêu trong đền thờ Đức Giê-hô-va sẽ giống như những chậu trước bàn thờ.
Tất cả nồi niêu ở Giê-ru-sa-lem và Giu-đa sẽ là thánh cho Đức Giê-hô-va vạn quân. Mọi người đến dâng sinh tế sẽ đến lấy nồi mà nấu. Trong ngày ấy, sẽ không còn có người Ca-na-an nào trong đền thờ Đức Giê-hô-va vạn quân.
Lời tiên tri của Đức Giê-hô-va phán cho Y-sơ-ra-ên qua Ma-la-chi.
Đức Giê-hô-va phán: “Ta yêu các con,” nhưng các ngươi nói rằng: “Chúa yêu chúng con ở đâu?” Đức Giê-hô-va phán: “Chẳng phải Ê-sau là anh Gia-cốp sao?
Nhưng Ta yêu Gia-cốp mà ghét Ê-sau. Ta làm cho đồi núi của nó trở nên hoang vu, và phó sản nghiệp nó cho chó trong hoang mạc.”
Nếu Ê-đôm nói: “Chúng tôi đã bị phá hủy, nhưng chúng tôi sẽ trở về xây dựng lại từ những đống đổ nát,” thì Đức Giê-hô-va vạn quân phán rằng: “Chúng sẽ dựng lại nhưng Ta sẽ phá đổ, và người ta sẽ gọi chúng là Đất Nước Gian Ác, là dân tộc mà Đức Giê-hô-va nổi giận đến đời đời.”
Mắt các ngươi sẽ thấy, và các ngươi sẽ nói rằng: “Đức Giê-hô-va thật vĩ đại, vượt ra ngoài bờ cõi Y-sơ-ra-ên!”
Đức Giê-hô-va vạn quân phán cùng các ngươi: “Hỡi các thầy tế lễ khinh dể danh Ta! Con trai tôn kính cha mình, đầy tớ tôn kính chủ mình. Vậy, nếu Ta là Cha thì sự tôn kính dành cho Ta ở đâu? Và nếu Ta là Chủ thì sự kính sợ dành cho Ta ở đâu?” Các ngươi lại nói rằng: “Chúng tôi có khinh dể danh Ngài đâu?”
“Các ngươi dâng bánh ô uế trên bàn thờ Ta, rồi nói rằng: ‘Chúng tôi có làm ô uế Ngài đâu?’ Các ngươi nghĩ rằng: ‘Bàn của Đức Giê-hô-va đáng khinh bỉ.’
Khi các ngươi dâng một con vật đui mù làm sinh tế thì đó chẳng phải là điều sai trái sao? Khi các ngươi dâng một con vật què hoặc bệnh tật thì đó chẳng phải là điều sai trái sao? Thử dâng nó cho quan tổng đốc của ngươi, xem người có hài lòng và chấp nhận cho ngươi không?” Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
Bây giờ, hãy nài xin ân huệ của Đức Chúa Trời, để Ngài làm ơn cho chúng ta. Nhưng chính tay các ngươi đã làm như thế, liệu Ngài sẽ chấp nhận người nào trong các ngươi không?
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Ước gì trong các ngươi có một người đóng các cửa đền thờ để các ngươi không đốt lửa vô ích nơi bàn thờ Ta.” Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Ta không hài lòng các ngươi, và cũng chẳng nhận nơi tay các ngươi một tế lễ nào cả.
Vì từ nơi mặt trời mọc cho đến nơi mặt trời lặn, danh Ta là vĩ đại giữa các nước. Ở khắp mọi nơi, người ta sẽ dâng hương và dâng tế lễ tinh sạch cho danh Ta, vì danh Ta là vĩ đại giữa các nước.” Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
Nhưng các ngươi đã xúc phạm danh Ta khi nói rằng: “Bàn của Đức Giê-hô-va là ô uế, thức ăn trên nó là đáng khinh bỉ.”
Các ngươi lại nói: “Ôi, việc khó nhọc làm sao!” Rồi các ngươi khinh dể nó. Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Các ngươi đem thú vật ăn cắp, què quặt và bệnh tật làm tế lễ dâng cho Ta. Liệu Ta có thể nhận lễ vật ấy nơi tay các ngươi không?” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Đáng nguyền rủa kẻ gian trá! Trong bầy nó có con thú đực tốt mà nó hứa nguyện, nhưng nó đem con có tật làm sinh tế dâng cho Chúa!” Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Vì Ta là Vua Vĩ Đại, danh Ta là đáng kính sợ giữa các nước.”
“Bây giờ, hỡi các thầy tế lễ, đây là lệnh truyền cho các ngươi.
Nếu các ngươi không lắng nghe, và không để tâm dâng vinh quang cho danh Ta thì Ta sẽ nguyền rủa các ngươi, và sẽ biến những phước lành của các ngươi thành sự nguyền rủa. Phải, Ta đã nguyền rủa rồi vì các ngươi không để tâm tôn kính Ta.” Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
“Nầy, vì các ngươi, Ta sẽ quở trách dòng dõi các ngươi, và sẽ rải phân trên mặt các ngươi, tức là phân của sinh tế mà các ngươi dâng trong các kỳ lễ; các ngươi sẽ bị đem đi với phân ấy.
Các ngươi sẽ biết rằng Ta đã truyền lệnh nầy cho các ngươi để giữ giao ước của Ta với Lê-vi.” Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
“Giao ước của Ta với Lê-vi là giao ước sự sống và bình an mà Ta đã ban cho để người tôn kính Ta; người đã tôn kính và run sợ trước danh Ta.
Luật pháp chân thật ở trong miệng người; và người ta không tìm thấy điều gian ác nào trong môi người. Người đã bước đi với Ta trong sự bình an và ngay thẳng, làm cho nhiều người quay khỏi tội lỗi.
Vì môi miệng của thầy tế lễ phải giữ tri thức, người ta tìm luật pháp trong miệng người, vì người là sứ giả của Đức Giê-hô-va vạn quân.
Nhưng các ngươi đã đi chệch đường lối, dùng luật pháp làm cho nhiều người vấp ngã, và đã phá hủy giao ước Lê-vi.” Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
“Vì vậy, Ta làm cho các ngươi trở thành đáng khinh và hèn hạ trước mặt mọi người, vì các ngươi không tuân giữ đường lối Ta, nhưng tỏ ra thiên vị trong luật pháp.”
Chẳng phải tất cả chúng ta có chung một cha sao? Chẳng phải chỉ có một Đức Chúa Trời đã dựng nên chúng ta sao? Vậy tại sao ai nấy đối xử với anh em mình cách gian dối, xúc phạm giao ước của tổ phụ chúng ta?
Giu-đa ăn ở cách lừa dối, và người ta đã làm điều ghê tởm trong Y-sơ-ra-ên và Giê-ru-sa-lem. Giu-đa đã làm ô uế nơi thánh của Đức Giê-hô-va mà Ngài yêu, vì nó đã cưới con gái của thần ngoại bang.
Bất cứ ai làm điều đó, hoặc người ý thức có thể trả lời hoặc người đem tế lễ dâng lên Đức Giê-hô-va vạn quân, thì Đức Giê-hô-va đều loại trừ họ khỏi các trại của Gia-cốp.
Đây là điều thứ hai mà các ngươi sẽ làm: Các ngươi lấy nước mắt khóc lóc, than thở mà che phủ bàn thờ Đức Giê-hô-va, vì Ngài không còn nhìn đến và không vui nhận các tế lễ dâng lên bởi tay các ngươi.
Các ngươi lại hỏi: “Vì sao vậy?” Đó là vì Đức Giê-hô-va làm chứng giữa ngươi với vợ ngươi cưới lúc trẻ, mà ngươi đã phản bội nàng, dù nàng là người bạn đời và là vợ giao ước của ngươi.
Dù hơi sống của Đức Chúa Trời dư dật, chẳng phải Ngài chỉ làm nên có một người đó sao? Nhưng vì sao chỉ làm một người? Đó là vì tìm kiếm một dòng dõi thánh. Vậy, các ngươi hãy cẩn thận trong tâm linh, đừng phản bội vợ mà mình cưới lúc trẻ.
Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: “Ta ghét việc ly dị, và ghét người nào lấy việc bạo hành làm áo khoác cho mình.” Đức Giê-hô-va vạn quân phán như thế. Vậy, hãy cẩn thận trong tâm linh các ngươi, và đừng phản bội.
Các ngươi đã làm phiền Đức Giê-hô-va bởi những lời nói mình, mà các ngươi lại nói rằng: “Chúng con có làm phiền Ngài đâu?” Đó là khi các ngươi nói: “Ai làm điều ác là tốt đẹp dưới mắt Đức Giê-hô-va, và Ngài ưa thích những người như vậy.” Hoặc hỏi: “Đức Chúa Trời của công lý ở đâu?”
“Nầy, Ta sai sứ giả của Ta đến để dọn đường trước mặt Ta, và Chúa mà các con tìm kiếm sẽ thình lình vào trong đền thờ Ngài; tức là sứ giả của giao ước mà các con trông mong. Kìa, Ngài đang đến!” Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
Nhưng ai sẽ chịu nổi ngày Ngài đến? Ai đứng được khi Ngài hiện ra? Vì Ngài giống như lửa của thợ luyện kim, như tro thợ giặt.
Ngài sẽ như thợ luyện kim tinh luyện bạc; Ngài sẽ thanh tẩy các con trai Lê-vi, làm cho họ tinh ròng như vàng và bạc. Họ sẽ dâng tế lễ cho Đức Giê-hô-va trong sự công chính.
Bấy giờ, tế lễ của Giu-đa và của Giê-ru-sa-lem sẽ được Đức Giê-hô-va chấp nhận như những ngày xa xưa, và như những năm trước kia.
“Ta sẽ đến gần các con để phán xét, và Ta sẽ vội vàng làm chứng chống lại những kẻ thực hành ma thuật, những kẻ tà dâm, những kẻ thề dối, những kẻ bóc lột tiền công của người làm thuê, những kẻ áp bức kẻ mồ côi và người góa bụa, những kẻ làm hại người khách lạ; vì chúng không kính sợ Ta.” Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
“Vì Ta là Đức Giê-hô-va không hề thay đổi, nên các con là con cháu Gia-cốp chẳng bị diệt vong.
Từ thời tổ phụ của các con, các con đã quay khỏi luật lệ Ta, và không tuân giữ. Hãy trở lại cùng Ta thì Ta sẽ trở lại cùng các con.” Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. Nhưng các ngươi nói rằng: “Chúng con sẽ trở lại như thế nào?”
“Người ta có thể ăn trộm Đức Chúa Trời được sao? Thế mà các con ăn trộm Ta!” Nhưng các ngươi nói: “Chúng con có ăn trộm Chúa đâu?” “Các con đã ăn trộm một phần mười và tế lễ phải dâng.
Các con bị nguyền rủa vì tất cả các con, cả nước, đều ăn trộm Ta.
Hãy đem tất cả phần mười vào kho để có lương thực trong nhà Ta. Và từ nay, hãy lấy điều nầy mà thử Ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán, xem Ta có mở các cửa sổ trên trời cho các con, và đổ phước xuống cho các con đến nỗi không chỗ chứa chăng!
Vì các con, Ta sẽ ngăn cấm các vật cắn phá hoa quả của đất đai các con; và không để cây nho ngoài đồng của các con rụng trái trước mùa nữa đâu.” Đức Giê-hô-va phán vậy.
“Mọi nước sẽ cho các con là có phước, vì đất nước các con sẽ là đất nước được vui thích.” Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
Đức Giê-hô-va phán: “Các con đã lấy lời ngang bướng nghịch cùng Ta.” Nhưng các ngươi nói: “Chúng con có nói gì nghịch cùng Ngài đâu?”
Các ngươi đã nói: “Phụng sự Đức Chúa Trời thật là vô ích! Chúng tôi tuân giữ các lệnh truyền của Ngài, và bước đi một cách buồn rầu trước mặt Đức Giê-hô-va vạn quân thì có lợi gì?
Nay, chúng tôi cho những kẻ kiêu ngạo là có phước; những kẻ làm ác không những được phát đạt, mà họ còn thách thức Đức Chúa Trời và được thoát khỏi!”
Bấy giờ, những người kính sợ Đức Chúa Trời nói chuyện với nhau, và Đức Giê-hô-va để ý lắng nghe. Một sách ghi nhớ được chép trước mặt Ngài cho những người kính sợ Đức Giê-hô-va và tôn kính danh Ngài.
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Họ sẽ thuộc về Ta, làm cơ nghiệp riêng của Ta trong ngày Ta hành động. Ta sẽ thương xót họ như một người thương xót con trai phục vụ mình.
Bấy giờ, các con sẽ trở lại và thấy sự khác biệt giữa người công chính và kẻ gian ác, giữa người phụng sự Đức Chúa Trời và kẻ không phụng sự Ngài.”
Đức Giê-hô-va vạn quân phán: “Kìa, ngày ấy đang đến, sẽ cháy như lò lửa. Mọi kẻ kiêu ngạo, mọi kẻ làm ác sẽ như rơm rạ. Ngày ấy đến sẽ thiêu đốt chúng, chẳng để lại cho chúng hoặc rễ hoặc cành.
Nhưng về phần các con là người kính sợ danh Ta thì mặt trời công chính sẽ mọc lên cho các con, trong cánh nó có sự chữa lành. Các con sẽ đi ra và nhảy nhót như bò tơ được thả ra khỏi chuồng.
Các con sẽ giày đạp những kẻ ác, vì trong ngày Ta hành động, chúng sẽ như tro bụi dưới bàn chân các con.” Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
“Hãy nhớ lại luật pháp mà Ta đã truyền cho đầy tớ ta là Môi-se tại Hô-rếp, tức là những lệ luật và phán quyết cho toàn thể Y-sơ-ra-ên.
Nầy, Ta sẽ sai nhà tiên tri Ê-li đến với các con trước khi ngày lớn và đáng sợ của Đức Giê-hô-va đến.
Người sẽ làm cho lòng cha ông trở lại cùng con cháu, lòng con cháu trở lại cùng cha ông, kẻo Ta đến lấy sự nguyền rủa mà đánh đất nầy chăng.”
Gia phả của Đức Chúa Jêsus Christ, con cháu Đa-vít, con cháu Áp-ra-ham.
Áp-ra-ham sinh Y-sác; Y-sác sinh Gia-cốp; Gia-cốp sinh Giu-đa và anh em người.
Giu-đa bởi Ta-ma sinh Phê-rết và Sê-rách. Phê-rết sinh Hết-rôn; Hết-rôn sinh A-ram;
A-ram sinh A-mi-na-đáp; A-mi-na-đáp sinh Na-ha-sôn; Na-ha-sôn sinh Sanh-môn.
Sanh-môn bởi Ra-háp sinh Bô-ô. Bô-ô bởi Ru-tơ sinh Ô-bết. Ô-bết sinh Gie-sê;
Gie-sê sinh vua Đa-vít. Đa-vít bởi vợ của U-ri sinh Sa-lô-môn.
Sa-lô-môn sinh Rô-bô-am; Rô-bô-am sinh A-bi-gia; A-bi-gia sinh A-sa;
A-sa sinh Giô-sa-phát; Giô-sa-phát sinh Giô-ram; Giô-ram sinh Ô-xia.
Ô-xia sinh Giô-tham; Giô-tham sinh A-cha; A-cha sinh Ê-xê-chia.
Ê-xê-chia sinh Ma-na-se; Ma-na-se sinh A-môn; A-môn sinh Giô-si-a.
Giô-si-a, trước thời kỳ lưu đày sang Ba-by-lôn, sinh Giê-cô-nia và các em người.
Sau khi bị lưu đày sang Ba-by-lôn, Giê-cô-nia sinh Sa-anh-thi-ên; Sa-anh-thi-ên sinh Xô-rô-ba-bên;
Xô-rô-ba-bên sinh A-bi-út; A-bi-út sinh Ê-li-a-kim; Ê-li-a-kim sinh A-xô.
A-xô sinh Sa-đốc; Sa-đốc sinh A-chim; A-chim sinh Ê-li-út;
Ê-li-út sinh Ê-lê-a-sa; Ê-lê-a-sa sinh Ma-than; Ma-than sinh Gia-cốp;
Gia-cốp sinh Giô-sép là chồng Ma-ri; Ma-ri là người sinh Jêsus, gọi là Đấng Christ.
Như vậy, từ Áp-ra-ham cho đến Đa-vít có tất cả mười bốn đời; từ Đa-vít cho đến khi bị lưu đày sang Ba-by-lôn có mười bốn đời; và từ khi bị lưu đày sang Ba-by-lôn cho đến Đấng Christ cũng có mười bốn đời.
Sự giáng sinh của Đức Chúa Jêsus Christ đã xảy ra như sau: Ma-ri, mẹ Ngài, đã hứa hôn với Giô-sép, nhưng trước khi chung sống với nhau thì nàng mang thai bởi Đức Thánh Linh.
Giô-sép, chồng nàng là người công chính, không muốn bêu xấu nàng nên định âm thầm từ hôn.
Đang khi Giô-sép ngẫm nghĩ về việc nầy thì một thiên sứ của Chúa hiện đến với ông trong giấc chiêm bao và truyền rằng: “Hỡi Giô-sép con dòng Đa-vít, ngươi chớ ngại cưới Ma-ri làm vợ, vì thai mà nàng đang mang đó là bởi Đức Thánh Linh.
Nàng sẽ sinh một con trai; ngươi hãy đặt tên là Jêsus, vì chính con trai ấy sẽ cứu dân mình ra khỏi tội.”
Những việc nầy xảy ra để ứng nghiệm lời Chúa đã phán bởi nhà tiên tri:
“Nầy, một trinh nữ sẽ mang thai, và sinh một con trai, Rồi người ta sẽ đặt tên con trai ấy là Em-ma-nu-ên,” nghĩa là Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta.
Khi tỉnh giấc, Giô-sép thực hiện đúng như điều thiên sứ của Chúa đã truyền và cưới Ma-ri làm vợ,
nhưng không ăn ở với nàng cho đến khi nàng sinh một con trai và đặt tên là JÊSUS.
Khi Đức Chúa Jêsus đã giáng sinh tại thành Bết-lê-hem miền Giu-đê, vào thời trị vì của vua Hê-rốt, có mấy nhà thông thái ở đông phương đến thành Giê-ru-sa-lem hỏi rằng:
“Vua dân Do Thái vừa sinh tại đâu? Vì chúng tôi đã thấy ngôi sao Ngài bên đông phương nên đến để tôn thờ Ngài.”
Nghe tin ấy, vua Hê-rốt cùng cả thành Giê-ru-sa-lem đều bối rối.
Vua triệu tập các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo trong dân lại để hỏi họ: “Đấng Christ được sinh tại đâu?”
Họ tâu rằng: “Tại thành Bết-lê-hem miền Giu-đê; vì có lời tiên tri chép rằng:
‘Hỡi Bết-lê-hem, thuộc Giu-đê! Ngươi đâu kém gì những thành phố hàng đầu của Giu-đê, Vì từ ngươi sẽ xuất hiện một lãnh tụ, Người sẽ chăn dắt dân Y-sơ-ra-ên của Ta.’ ”
Hê-rốt bí mật mời các nhà thông thái đến để tìm hiểu kỹ về thời gian ngôi sao đã xuất hiện.
Rồi vua sai họ đi đến thành Bết-lê-hem và căn dặn: “Hãy đi dò hỏi thật kỹ về con trẻ ấy; khi tìm gặp rồi, hãy cho ta biết để ta cũng đến tôn thờ Ngài.”
Nghe vua truyền xong, họ liền đi. Kìa, ngôi sao họ đã thấy bên đông phương đi trước họ cho đến nơi con trẻ ở mới dừng lại.
Khi thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng.
Vào đến nhà, họ thấy con trẻ và Ma-ri, mẹ Ngài, thì phủ phục xuống thờ lạy Ngài. Rồi họ mở hộp châu báu ra, dâng lên Ngài những lễ vật là vàng, nhũ hương và mộc dược.
Sau đó, trong chiêm bao, họ được Đức Chúa Trời mách bảo đừng trở lại nơi vua Hê-rốt, nên họ đi đường khác mà về xứ mình.
Khi các nhà thông thái đi rồi, một thiên sứ của Chúa hiện đến với Giô-sép trong chiêm bao và truyền rằng: “Hãy thức dậy, đem con trẻ và mẹ Ngài lánh sang Ai Cập! Cứ ở đó cho đến khi ta truyền bảo, vì vua Hê-rốt sắp tìm con trẻ ấy để giết.”
Đang đêm, Giô-sép thức dậy, đem con trẻ và mẹ Ngài lánh sang Ai Cập,
rồi cứ ở đó cho đến khi vua Hê-rốt băng hà. Việc nầy xảy ra để lời Chúa phán qua nhà tiên tri được ứng nghiệm: “Ta đã gọi Con Ta ra khỏi Ai Cập.”
Khi thấy mình bị các nhà thông thái đánh lừa, vua Hê-rốt vô cùng tức giận, truyền lệnh giết tất cả những bé trai từ hai tuổi trở xuống tại thành Bết-lê-hem và các vùng phụ cận, theo đúng ngày tháng mà các nhà thông thái đã cho vua biết.
Như vậy, lời của nhà tiên tri Giê-rê-mi đã nói được ứng nghiệm:
“Người ta nghe tại Ra-ma Tiếng than vãn, khóc lóc thảm thiết; Ấy là Ra-chên khóc các con mình, Mà không chịu an ủi, Vì chúng không còn nữa.”
Sau khi vua Hê-rốt băng hà, một thiên sứ của Chúa hiện đến với Giô-sép trong chiêm bao tại Ai Cập, và truyền rằng:
“Hãy thức dậy đem con trẻ và mẹ Ngài trở về đất Y-sơ-ra-ên, vì những kẻ tìm giết con trẻ ấy đã chết rồi.”
Giô-sép thức dậy, đem con trẻ và mẹ Ngài trở về Y-sơ-ra-ên.
Nhưng khi nghe tin A-chê-la-u nối ngôi vua cha là Hê-rốt trị vì miền Giu-đê thì Giô-sép sợ, không dám về nơi nầy. Hơn nữa, được chỉ dẫn trong chiêm bao nên ông đến miền Ga-li-lê,
cư ngụ trong một thành gọi là Na-xa-rét. Như vậy, lời các nhà tiên tri đã nói được ứng nghiệm: “Ngài sẽ được gọi là người Na-xa-rét.”
Lúc ấy, Giăng Báp-tít đến rao giảng trong hoang mạc Giu-đê rằng:
“Hãy ăn năn, vì vương quốc thiên đàng đã đến gần!”
Giăng chính là người mà nhà tiên tri Ê-sai đã đề cập đến, khi nói rằng: “Có tiếng người kêu lên trong hoang mạc: ‘Hãy dọn đường cho Chúa. Làm thẳng các lối Ngài.’ ”
Giăng mặc áo lông lạc đà, thắt dây lưng da, ăn châu chấu và mật ong rừng.
Dân chúng từ thành Giê-ru-sa-lem, khắp miền Giu-đê và tất cả vùng phụ cận sông Giô-đanh đều đến với ông.
Họ xưng tội và được ông làm báp-têm dưới sông Giô-đanh.
Khi thấy nhiều người Pha-ri-si và Sa-đu-sê đến chịu báp-têm, Giăng bảo họ rằng: “Hỡi dòng giống rắn độc kia, ai đã báo cho các người biết để chạy trốn cơn thịnh nộ sắp đến?
Vậy hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn,
và đừng tự nói rằng: ‘Áp-ra-ham là tổ tiên chúng tôi’; vì tôi nói cho các người biết rằng Đức Chúa Trời có thể khiến những đá nầy trở thành con cháu Áp-ra-ham.
Chiếc rìu đã để kề gốc cây, bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị đốn và ném vào lửa.
Tôi làm báp-têm cho các người bằng nước để ăn năn tội; nhưng Đấng đến sau tôi, uy quyền hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Ngài. Ngài sẽ làm báp-têm cho các người bằng Đức Thánh Linh và lửa.
Tay Ngài cầm nia mà sảy thật sạch sân lúa mình, rồi thu lúa vào kho; còn rơm rác thì đốt trong lửa chẳng hề tắt.”
Lúc ấy, Đức Chúa Jêsus từ miền Ga-li-lê đến với Giăng tại sông Giô-đanh để được ông làm báp-têm.
Nhưng Giăng cố ngăn cản Ngài, và thưa rằng: “Chính tôi mới cần Ngài làm báp-têm cho, sao Ngài lại đến với tôi?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Bây giờ cứ làm đi, vì chúng ta cần phải hoàn tất mọi việc công chính.” Vậy, Giăng vâng lời Ngài.
Khi được báp-têm xong, vừa lúc Đức Chúa Jêsus lên khỏi nước, thì kìa, các tầng trời mở ra, Ngài thấy Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự xuống như chim bồ câu đậu trên Ngài.
Nầy, có tiếng từ trời phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta hoàn toàn.”
Sau đó, Thánh Linh đem Đức Chúa Jêsus vào hoang mạc để chịu ma quỷ cám dỗ.
Sau khi kiêng ăn bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, Ngài đói.
Kẻ cám dỗ đến gần, nói với Ngài: “Nếu ngươi là Con Đức Chúa Trời, hãy khiến những đá nầy thành bánh đi.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Có lời chép rằng: ‘Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, nhưng cũng nhờ mọi lời nói từ miệng Đức Chúa Trời.’ ”
Ma quỷ đem Ngài vào thành thánh, đặt Ngài trên nóc đền thờ,
và nói: “Nếu ngươi là Con Đức Chúa Trời, hãy lao mình xuống đi, vì có lời chép: ‘Chúa sẽ truyền lệnh cho các thiên sứ, Các đấng ấy sẽ đỡ nâng ngươi trên tay, E chân ngươi vấp phải đá chăng.’ ”
Đức Chúa Jêsus phán: “Cũng có lời chép: ‘Ngươi đừng thách thức Chúa là Đức Chúa Trời ngươi.’ ”
Ma quỷ lại đem Ngài lên đỉnh núi cao, chỉ cho Ngài thấy tất cả các vương quốc trên thế gian với sự huy hoàng của chúng,
và nói: “Nếu ngươi sấp mình thờ lạy ta, ta sẽ cho ngươi tất cả những thứ nầy.”
Đức Chúa Jêsus phán với nó rằng: “Hỡi Sa-tan, hãy lui ngay! Vì có lời chép rằng: ‘Ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi, và chỉ phụng sự một mình Ngài mà thôi.’ ”
Ma quỷ bỏ đi, và kìa, các thiên sứ đến phục vụ Ngài.
Được tin Giăng bị bắt, Đức Chúa Jêsus trở về miền Ga-li-lê.
Ngài rời thành Na-xa-rét, đến ở tại thành Ca-bê-na-um bên bờ biển, trong địa phận Sa-bu-lôn và Nép-ta-li,
để lời của nhà tiên tri Ê-sai đã nói được ứng nghiệm:
“Đất Sa-bu-lôn và Nép-ta-li, Con đường ra biển, bên kia sông Giô-đanh, Miền Ga-li-lê của dân ngoại...
Dân ngồi trong bóng tối, Đã thấy ánh sáng lớn; Và những người ngồi nơi bóng sự chết bao phủ, Đã thấy ánh sáng bừng lên.”
Từ lúc ấy, Đức Chúa Jêsus bắt đầu rao giảng rằng: “Các ngươi hãy ăn năn, vì vương quốc thiên đàng đã đến gần.”
Khi đang đi dọc bờ biển Ga-li-lê, Ngài thấy hai anh em kia là Si-môn, cũng gọi là Phi-e-rơ, và em là Anh-rê đang thả lưới dưới biển, vì họ vốn làm nghề chài lưới.
Ngài phán với họ: “Hãy theo Ta, Ta sẽ khiến các ngươi trở nên tay đánh lưới người.”
Họ lập tức bỏ lưới, đi theo Ngài.
Tiếp tục đi, Ngài thấy hai anh em khác là Gia-cơ, con của Xê-bê-đê, và em là Giăng đang cùng cha vá lưới trên thuyền. Ngài kêu gọi họ.
Hai người liền rời thuyền và cha mình mà theo Ngài.
Đức Chúa Jêsus đi khắp miền Ga-li-lê, dạy dỗ trong các nhà hội, rao giảng Tin Lành của vương quốc thiên đàng, và chữa lành mọi thứ tật bệnh, đau yếu trong dân chúng.
Danh tiếng Ngài loan truyền khắp xứ Sy-ri. Người ta đem những người đau ốm, mắc các thứ bệnh tật, bị quỷ ám, động kinh, bại xuội đến cho Ngài, và Ngài chữa lành tất cả.
Rất nhiều người từ miền Ga-li-lê, Đê-ca-bô-lơ, thành Giê-ru-sa-lem, miền Giu-đê và vùng bên kia sông Giô-đanh lũ lượt đi theo Ngài.
Khi thấy đoàn dân đông, Đức Chúa Jêsus đi lên núi. Lúc Ngài ngồi xuống, các môn đồ đến gần.
Ngài mở lời truyền dạy rằng:
“Phước cho những người nghèo khó tâm linh, Vì vương quốc thiên đàng thuộc về họ!
Phước cho những người than khóc, Vì sẽ được an ủi!
Phước cho những người nhu mì, Vì sẽ thừa hưởng đất!
Phước cho những người đói khát sự công chính, Vì sẽ được no đủ!
Phước cho những người có lòng thương xót, Vì sẽ được thương xót!
Phước cho những người có lòng trong sạch, Vì sẽ thấy Đức Chúa Trời!
Phước cho những người hòa giải, Vì sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời!
Phước cho những người chịu bắt bớ vì sự công chính, Vì vương quốc thiên đàng thuộc về họ!
Phước cho các con khi vì Ta mà các con bị mọi người nhục mạ, bắt bớ, vu cáo đủ mọi điều xấu.
Hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng của các con ở trên trời là rất lớn; bởi vì các nhà tiên tri trước các con cũng từng bị người ta bắt bớ như vậy.”
“Các con là muối của đất, nhưng nếu muối mất vị mặn thì làm thế nào cho nó mặn lại được? Muối ấy trở nên vô dụng, phải ném bỏ đi và bị người ta chà đạp dưới chân.
Các con là ánh sáng cho thế gian. Một cái thành xây trên núi thì không thể bị che khuất được.
Không ai thắp đèn mà lại đặt dưới cái thùng, nhưng đặt trên chân đèn để nó soi sáng mọi người trong nhà.
Cũng vậy, ánh sáng của các con phải chiếu sáng trước mặt mọi người, để họ thấy những việc làm tốt đẹp của các con và ca ngợi Cha các con ở trên trời.”
“Đừng tưởng Ta đến để bãi bỏ luật pháp hay lời tiên tri; Ta đến, không phải để bãi bỏ nhưng để hoàn tất.
Vì thật, Ta bảo các con, trước khi trời đất qua đi thì một chấm, một nét trong luật pháp cũng không thể qua đi được, cho đến lúc mọi sự được hoàn tất.
Do đó, ai bãi bỏ một điều nhỏ nhất trong các điều răn nầy và dạy người ta làm như vậy, thì sẽ bị coi là nhỏ nhất trong vương quốc thiên đàng; còn ai vâng giữ những điều răn ấy và dạy người ta nữa, thì sẽ được coi là lớn trong vương quốc thiên đàng.
Vì Ta bảo cho các con biết: Nếu sự công chính của các con không hơn sự công chính của các thầy thông giáo và người Pha-ri-si, các con không thể vào vương quốc thiên đàng được.
Các con đã nghe lời phán dạy cho người xưa rằng: ‘Chớ giết người; nếu ai giết người thì phải bị tòa án xét xử.’
Nhưng Ta bảo các con: Ai giận anh em mình cũng đáng bị tòa án xét xử; ai mắng anh em mình là ‘ngu xuẩn’ thì đáng bị Hội đồng Công luận xét xử; ai mắng anh em mình là khùng điên thì đáng bị lửa hỏa ngục trừng phạt.
Vì vậy, khi con đem lễ vật dâng nơi bàn thờ mà chợt nhớ người anh em mình đang có điều gì nghịch với mình,
hãy để lễ vật trước bàn thờ, trở về giải hòa với anh em trước đã, rồi hãy đến dâng tế lễ.
Khi con đi đường với kẻ tố cáo mình, hãy nhanh chóng giải hòa với người ấy; nếu không, người ấy sẽ nộp con trước quan tòa, quan tòa giao cho cai ngục, và con sẽ bị bỏ tù.
Thật, Ta bảo con, con sẽ không bao giờ ra khỏi tù được cho đến khi trả nốt đồng tiền cuối cùng.
Các con có nghe lời dạy: ‘Chớ phạm tội tà dâm.’
Nhưng Ta bảo cho các con biết: Hễ ai nhìn phụ nữ mà ham muốn thì trong lòng đã phạm tội tà dâm với người ấy rồi.
Nếu mắt bên phải khiến con phạm tội, hãy móc và ném nó đi! Vì thà con mất một phần thân thể còn hơn là cả thân thể bị ném vào hỏa ngục.
Nếu tay phải của con gây cho con phạm tội, hãy chặt và ném nó đi! Vì thà con mất một phần thân thể còn hơn là cả thân thể phải đi vào hỏa ngục.
Lại cũng dạy rằng: ‘Ai ly dị vợ, hãy cho nàng một giấy ly hôn.’
Nhưng Ta bảo các con: Ai ly dị vợ không phải vì lý do ngoại tình thì làm cho vợ thành ra người ngoại tình, còn ai cưới người đàn bà bị ly dị thì phạm tội ngoại tình.
Các con có nghe lời dạy cho người xưa rằng: ‘Chớ bội lời thề, phải giữ vẹn lời thề đối với Chúa.’
Nhưng Ta bảo các con: Đừng thề gì hết. Đừng chỉ trời mà thề, vì đó là ngai của Đức Chúa Trời;
đừng chỉ đất mà thề, vì đó là bệ chân của Ngài; đừng chỉ thành Giê-ru-sa-lem mà thề, vì đó là thành của Vua lớn.
Cũng đừng chỉ đầu của con mà thề, vì con không thể tự làm cho một sợi tóc ra trắng hay đen được.
Nhưng chỉ nên nói: ‘Phải, phải’ hay ‘Không, không’ là đủ. Còn thêm thắt điều gì là do ác quỷ mà ra.
Các con có nghe lời dạy rằng: ‘Mắt đền mắt, răng đền răng.’
Nhưng Ta bảo các con: Đừng chống cự kẻ ác. Trái lại, nếu ai vả má bên phải, hãy đưa luôn má bên kia cho người ấy;
nếu ai muốn kiện con để lấy áo ngoài, hãy cho người ấy lấy luôn áo trong;
nếu ai bắt con đi một dặm, hãy đi với người ấy hai dặm.
Ai xin, hãy cho; ai mượn của con thì đừng từ chối.
Các con có nghe lời dạy rằng: ‘Hãy thương yêu người lân cận, và hãy ghét kẻ thù nghịch.’
Nhưng Ta bảo các con: Hãy thương yêu kẻ thù nghịch và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các con
để các con được trở nên con của Cha các con ở trên trời, vì Ngài khiến mặt trời mọc lên chiếu sáng kẻ gian ác lẫn người lương thiện, ban mưa cho người công chính lẫn người bất chính.
Nếu các con chỉ yêu thương những ai yêu thương mình thì có gì đáng khen đâu? Những người thu thuế chẳng cư xử như vậy sao?
Nếu các con chỉ chào hỏi anh em mình mà thôi thì có hơn gì ai đâu? Các dân ngoại chẳng cư xử như vậy sao?
Thế thì các con phải nên toàn thiện như Cha các con ở trên trời là toàn thiện.”
“Hãy thận trọng, khi làm việc từ thiện đừng nhằm phô trương trước mặt mọi người. Nếu không, các con chẳng được phần thưởng gì từ Cha các con ở trên trời.
Vậy, khi con làm việc từ thiện, đừng thổi kèn trước mặt mình như những kẻ đạo đức giả làm trong nhà hội và ngoài đường phố để được người ta khen ngợi. Thật, Ta bảo các con, những kẻ ấy đã nhận được phần thưởng của mình rồi.
Nhưng khi con làm việc từ thiện, đừng cho tay trái biết tay phải làm gì
để việc từ thiện của con được kín đáo; và Cha con, Đấng thấy trong nơi kín đáo, sẽ ban thưởng cho con.
Khi các con cầu nguyện, đừng làm như những kẻ đạo đức giả; vì họ thích đứng cầu nguyện trong nhà hội và nơi góc phố để mọi người đều thấy. Thật, Ta bảo các con, những kẻ ấy đã nhận được phần thưởng của mình rồi.
Nhưng khi con cầu nguyện, hãy vào phòng riêng, đóng cửa lại, rồi cầu nguyện với Cha của con, Đấng hiện diện trong nơi kín đáo; và Cha của con, Đấng thấy trong nơi kín đáo, sẽ ban thưởng cho con.
Khi các con cầu nguyện, đừng dùng những lời sáo rỗng như dân ngoại; vì họ nghĩ hễ nói nhiều thì được nhậm.
Đừng bắt chước họ, vì Cha các con biết các con cần gì trước khi các con cầu xin Ngài.
Vậy, các con hãy cầu nguyện như thế nầy: ‘Lạy Cha chúng con ở trên trời; Danh Cha được tôn thánh;
Vương quốc Cha được đến, Ý Cha được nên, ở đất như ở trời!
Xin cho chúng con hôm nay thức ăn đủ ngày;
Xin tha tội cho chúng con, Như chúng con đã tha những kẻ có lỗi với chúng con;
Xin đừng để chúng con bị cám dỗ, Nhưng cứu chúng con khỏi điều ác! [Vì vương quốc, quyền năng, vinh quang đều thuộc về Cha đời đời. A-men.]’
Nếu các con tha lỗi cho người ta, thì Cha các con ở trên trời cũng sẽ tha thứ cho các con.
Nhưng nếu các con không tha lỗi cho người ta, thì Cha các con ở trên trời cũng sẽ không tha thứ cho các con.
Khi các con kiêng ăn, đừng tỏ vẻ âu sầu như những kẻ đạo đức giả, vì họ làm bộ thiểu não để mọi người biết họ kiêng ăn. Thật, Ta bảo các con, những kẻ ấy đã nhận được phần thưởng của mình rồi.
Nhưng khi con kiêng ăn, hãy xức dầu trên đầu, và rửa mặt,
để người ta không biết con đang kiêng ăn, nhưng chỉ có Cha con, là Đấng hiện diện ở nơi kín đáo biết được mà thôi, và Cha con, Đấng thấy trong nơi kín đáo sẽ thưởng cho con.”
“Các con đừng tích trữ của cải ở dưới đất, là nơi có mối mọt, ten rỉ làm hư, và kẻ trộm đào ngạch, khoét vách mà lấy.
Nhưng hãy tích trữ của cải ở trên trời, là nơi không có mối mọt, ten rỉ làm hư, cũng chẳng có kẻ trộm đào ngạch, khoét vách mà lấy.
Vì của cải các con ở đâu, thì lòng các con cũng ở đó.”
“Mắt là đèn của thân thể. Nếu mắt con tốt thì cả thân thể con sẽ đầy ánh sáng,
nhưng nếu mắt con bị hỏng thì cả thân thể con sẽ là bóng tối. Vậy, nếu ánh sáng trong con chỉ là bóng tối thì bóng tối ấy sẽ lớn là dường nào!”
“Không ai có thể làm tôi hai chủ; vì sẽ ghét chủ nầy mà yêu chủ kia, hoặc trọng chủ nầy mà khinh chủ kia. Các con không thể vừa phục vụ Đức Chúa Trời lại vừa phục vụ tiền tài nữa.
Vì vậy, Ta phán với các con: Đừng vì mạng sống mà lo phải ăn gì, uống gì; đừng vì thân thể mà lo phải mặc gì. Mạng sống không quý trọng hơn thức ăn sao, thân thể không quý trọng hơn quần áo sao?
Hãy xem loài chim trời: không gieo, không gặt, không tích trữ vào kho, nhưng Cha các con trên trời vẫn nuôi chúng. Các con lại chẳng quý trọng hơn loài chim sao?
Hơn nữa, có ai trong các con nhờ lo lắng mà làm cho cuộc đời mình dài thêm một khoảnh khắc không?
Còn về quần áo, sao các con lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem những hoa huệ ngoài đồng mọc lên thể nào; chúng chẳng làm lụng khó nhọc, cũng không kéo chỉ;
nhưng Ta bảo các con, dù vua Sa-lô-môn sang trọng đến đâu, cũng không được mặc đẹp như một trong các bông hoa nầy.
Vậy, hỡi những kẻ ít đức tin kia, nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn sống, mai bị ném vào lò, mà Đức Chúa Trời còn cho chúng mặc đẹp như thế, huống chi là các con?
Vì vậy, đừng lo lắng mà tự hỏi: ‘Chúng ta sẽ ăn gì?’ ‘Uống gì?’ ‘Mặc gì?’
Vì tất cả những điều nầy các dân ngoại vẫn tìm kiếm, và Cha các con ở trên trời đã biết mọi nhu cầu của các con.
Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm vương quốc Đức Chúa Trời và sự công chính của Ngài, thì Ngài sẽ ban cho các con mọi điều ấy nữa.
Vậy, chớ lo lắng về ngày mai; vì ngày mai sẽ tự lo cho ngày mai. Sự nhọc nhằn ngày nào đủ cho ngày ấy.”
“Đừng xét đoán ai để các con khỏi bị xét đoán.
Vì các con xét đoán người ta thể nào thì họ cũng xét đoán các con thể ấy, các con lường cho người ta mực nào thì họ cũng sẽ lường cho các con mực ấy.
Sao con thấy cái dằm trong mắt anh em, mà lại không thấy cây đà trong mắt mình?
Sao con có thể bảo anh em: ‘Để tôi lấy cái dằm khỏi mắt anh,’ trong lúc cây đà vẫn còn nằm trong mắt mình?
Hỡi kẻ đạo đức giả! Trước hết hãy lấy cây đà khỏi mắt mình đi, rồi mới thấy rõ mà lấy cái dằm khỏi mắt anh em được.”
“Đừng cho chó những vật thánh, cũng đừng ném ngọc trai cho heo, e chúng chà đạp dưới chân, và quay sang cắn xé các con chăng.
Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ, cửa sẽ mở cho các con.
Vì hễ ai xin thì được; ai tìm thì gặp; và ai gõ thì cửa sẽ được mở.
Có ai trong các con, khi con mình xin bánh lại cho đá?
Hay là xin cá, mà lại cho rắn chăng?
Vậy nếu các con vốn là người xấu, còn biết cho con mình các vật tốt, huống chi Cha các con ở trên trời lại không ban những vật tốt cho những người xin Ngài sao?
Vậy thì, bất cứ điều gì các con muốn người ta làm cho mình, hãy làm điều đó cho họ, vì ấy là luật pháp và lời tiên tri.
Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hủy diệt, người vào đó thì nhiều.
Còn cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, người tìm thấy được thì ít.”
“Hãy đề phòng bọn tiên tri giả, là những kẻ đội lốt chiên đến với các con, nhưng bên trong là muông sói hay cắn xé.
Các con nhận biết họ nhờ bông trái của họ. Nào có ai hái trái nho nơi bụi gai, hoặc trái vả nơi bụi tật lê bao giờ?
Vậy, nếu cây lành thì sinh trái lành; còn cây độc thì sinh trái độc.
Cây lành không thể sinh trái độc, còn cây độc cũng không sinh trái lành được.
Bất cứ cây nào không sinh trái lành, thì bị đốn và ném vào lửa.
Như thế, nhờ bông trái, các con sẽ nhận biết được chúng.
Không phải bất cứ ai nói với Ta: ‘Lạy Chúa, lạy Chúa’, đều được vào vương quốc thiên đàng đâu; nhưng chỉ người nào làm theo ý muốn của Cha Ta ở trên trời mà thôi.
Vào Ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Ta: ‘Lạy Chúa, lạy Chúa! Chúng con đã chẳng từng nhân danh Chúa nói tiên tri, nhân danh Chúa đuổi quỷ, nhân danh Chúa thực hiện nhiều phép lạ đó sao?’
Khi ấy, Ta sẽ phán rõ ràng với họ rằng: ‘Hỡi những kẻ làm ác, hãy lui ra khỏi Ta, Ta chẳng hề biết các ngươi bao giờ!’”
“Vậy, ai nghe lời Ta và làm theo thì giống như một người khôn ngoan, xây nhà mình trên vầng đá.
Dù có mưa tuôn xuống, lũ lụt tràn đến, gió xô mạnh, nhà ấy vẫn đứng vững, vì đã được xây trên vầng đá.
Còn ai nghe lời Ta, nhưng không làm theo, thì giống như người dại dột, xây nhà trên cát.
Khi mưa tuôn xuống, lũ lụt tràn đến, gió xô mạnh thì nhà ấy sẽ sập, thiệt hại nặng nề.”
Khi Đức Chúa Jêsus phán những lời ấy xong, dân chúng kinh ngạc về sự dạy dỗ của Ngài;
vì Ngài dạy cách có thẩm quyền, chứ không như các thầy thông giáo.
Khi Đức Chúa Jêsus từ trên núi xuống, đoàn người rất đông đi theo Ngài.
Kìa, có một người phong hủi đến quỳ trước mặt Ngài và thưa: “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể khiến con được sạch.”
Đức Chúa Jêsus đưa tay chạm đến người ấy, và phán: “Ta muốn, hãy sạch đi.” Lập tức, người phong hủi được sạch.
Đức Chúa Jêsus căn dặn: “Hãy cẩn thận, đừng nói gì với ai, nhưng hãy đi trình diện thầy tế lễ và dâng lễ vật mà Môi-se đã dạy, như một lời chứng cho mọi người.”
Khi Đức Chúa Jêsus vào thành Ca-bê-na-um, có một viên đội trưởng đến nài xin Ngài:
“Thưa Thầy, đầy tớ của tôi bị bại, nằm liệt ở nhà, đau đớn lắm.”
Đức Chúa Jêsus phán: “Ta sẽ đến, chữa lành cho nó.”
Viên đội trưởng đáp: “Lạy Chúa, tôi không xứng đáng rước Chúa vào nhà, chỉ xin Chúa phán một lời thì đầy tớ của tôi sẽ được lành.
Vì chính tôi ở dưới quyền người khác, tôi cũng có quân lính dưới quyền tôi; tôi bảo đứa nầy: ‘Đi!’ thì nó đi; bảo tên khác: ‘Đến!’ thì nó đến; và bảo đầy tớ của tôi: ‘Làm việc nầy!’ thì nó làm.”
Nghe vậy, Đức Chúa Jêsus ngạc nhiên và phán với những người đi theo Ngài rằng: “Thật, Ta bảo các ngươi, Ta chưa thấy ai trong Y-sơ-ra-ên có đức tin như vậy.
Ta bảo cho các ngươi biết: Từ đông phương, tây phương sẽ có nhiều người đến ngồi cùng bàn với Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp trong vương quốc thiên đàng.
Nhưng các con của vương quốc lại bị ném ra chỗ tối tăm bên ngoài, nơi sẽ có than khóc và nghiến răng.”
Rồi Đức Chúa Jêsus phán với viên đội trưởng: “Hãy về đi! Ngươi tin thể nào, thì sẽ được thể ấy.” Chính trong giờ đó, người đầy tớ được lành.
Kế đó, Đức Chúa Jêsus vào nhà Phi-e-rơ, thấy bà gia ông bị sốt, nằm trên giường.
Ngài chạm vào tay bà, cơn sốt lìa khỏi bà; rồi bà đứng dậy phục vụ Ngài.
Tối đến, người ta đem đến cùng Ngài nhiều người bị quỷ ám; Ngài dùng lời phán đuổi quỷ ra và chữa lành mọi người bệnh tật.
Như vậy, lời của nhà tiên tri Ê-sai: “Chính Ngài đã mang lấy tật nguyền của chúng ta, Và gánh lấy mọi bệnh hoạn của chúng ta,” đã được ứng nghiệm.
Khi thấy đoàn người rất đông vây quanh, Đức Chúa Jêsus truyền lệnh đi qua bờ bên kia.
Một thầy thông giáo đến thưa với Ngài: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi sẽ theo đó.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ gối đầu.”
Một môn đồ khác thưa với Ngài: “Lạy Chúa, xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã.”
Nhưng Đức Chúa Jêsus đáp: “Hãy theo Ta, để kẻ chết chôn kẻ chết của họ.”
Đức Chúa Jêsus xuống thuyền, các môn đồ theo Ngài.
Thình lình, một cơn bão mạnh nổi lên trên biển đến nỗi sóng ập vào thuyền; nhưng Ngài đang ngủ.
Các môn đồ đến đánh thức Ngài và kêu lên: “Chúa ơi, xin cứu chúng con với! Chúng ta chết mất!”
Ngài phán: “Hỡi những người ít đức tin kia, sao các con sợ?” Ngài liền đứng dậy quở gió và biển, chúng đều yên lặng như tờ.
Các môn đồ rất kinh ngạc, hỏi nhau: “Người nầy là ai mà ngay cả gió và biển đều vâng lệnh người?”
Khi sang bờ bên kia, vào địa phận dân Ga-đa-ra, Đức Chúa Jêsus gặp hai người bị quỷ ám từ các mồ mả đi ra; chúng rất hung dữ, đến nỗi không ai dám đi qua đường đó.
Chúng gào lên: “Hỡi Con Đức Chúa Trời, chúng tôi có liên can gì với Ngài? Có phải Ngài đến đây để làm khổ chúng tôi trước hạn định không?”
Bấy giờ cách đó không xa, có một đàn heo rất đông đang ăn.
Các quỷ van xin Đức Chúa Jêsus: “Nếu Ngài đuổi chúng tôi ra, xin cho chúng tôi nhập vào đàn heo kia.”
Ngài bảo: “Đi đi!” Các quỷ liền lìa khỏi hai người đó và nhập vào đàn heo. Tức thì cả đàn từ triền dốc lao xuống biển, chết chìm hết.
Những kẻ chăn heo bỏ trốn, chạy về thành, thuật lại mọi việc, kể cả việc xảy ra cho hai người bị quỷ ám.
Cả thành ra gặp Đức Chúa Jêsus; khi vừa thấy Ngài thì nài xin Ngài rời khỏi địa phận họ.
Đức Chúa Jêsus xuống thuyền, vượt biển trở về thành phố quê hương.
Người ta đem đến cho Ngài một người bại liệt nằm trên giường. Đức Chúa Jêsus thấy đức tin của họ thì phán với người bại liệt rằng: “Hỡi con, hãy vững lòng, tội lỗi con đã được tha.”
Khi ấy, có vài thầy thông giáo thầm nghĩ rằng: “Người nầy nói phạm thượng.”
Đức Chúa Jêsus biết ý tưởng họ nên phán: “Tại sao trong lòng các ngươi lại có ý xấu như vậy?
Giữa hai cách nói: ‘Tội lỗi con đã được tha,’ hoặc ‘Hãy đứng dậy bước đi,’ cách nào dễ hơn?
Nhưng, để các ngươi biết rằng Con Người ở thế gian có thẩm quyền tha tội” — rồi Ngài phán với người bại liệt — “Hãy đứng dậy, vác giường và trở về nhà.”
Người bại liệt đứng dậy và đi về nhà mình.
Dân chúng chứng kiến sự việc đều sợ hãi, và tôn vinh Đức Chúa Trời, Đấng đã ban cho loài người thẩm quyền như vậy.
Rời nơi ấy, Đức Chúa Jêsus thấy một người tên là Ma-thi-ơ đang ngồi tại phòng thuế; Ngài phán với ông: “Hãy theo Ta.” Ma-thi-ơ đứng dậy, đi theo Ngài.
Lúc đang ngồi ăn trong nhà, có nhiều người thu thuế và kẻ có tội đến ngồi với Đức Chúa Jêsus và các môn đồ Ngài.
Thấy vậy, người Pha-ri-si nói với môn đồ Ngài: “Tại sao Thầy các anh ăn chung với phường thu thuế và bọn người tội lỗi?”
Khi nghe điều đó, Đức Chúa Jêsus phán: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, nhưng người đau ốm mới cần.
Hãy đi, và học cho hiểu ý nghĩa câu nầy: ‘Ta muốn lòng thương xót hơn sinh tế.’ Vì Ta đến không phải để gọi người công chính, nhưng gọi kẻ có tội.”
Khi ấy các môn đồ của Giăng đến, hỏi Đức Chúa Jêsus: “Vì sao chúng tôi và người Pha-ri-si thường kiêng ăn, còn các môn đồ của Thầy không kiêng ăn?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Có thể nào khách dự tiệc cưới lại buồn rầu trong lúc chàng rể đang ở với họ sao? Nhưng đến khi chàng rể được đem khỏi họ, thì lúc ấy họ mới kiêng ăn.
Không ai vá miếng vải mới vào áo cũ vì mảnh vá sẽ chằng rách áo cũ, làm cho chỗ rách càng tệ hơn.
Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ; nếu làm vậy, bầu sẽ nứt, rượu chảy ra, và bầu bị hỏng. Nhưng người ta đổ rượu mới vào bầu da mới để cả hai được bảo toàn.”
Lúc Đức Chúa Jêsus còn đang phán những lời nầy thì có viên quản lý nhà hội đến, quỳ gối nài xin: “Con gái tôi vừa chết! Xin Thầy đến đặt tay trên cháu để cháu được sống.”
Đức Chúa Jêsus đứng dậy, cùng các môn đồ đi theo viên quản lý.
Bấy giờ, có một phụ nữ bị rong huyết đã mười hai năm, đến đằng sau và chạm vào gấu áo Ngài.
Vì bà tự nghĩ rằng: “Nếu chỉ chạm được vào áo Ngài thôi, ta sẽ được lành.”
Đức Chúa Jêsus quay lại, thấy bà thì phán: “Hỡi con, hãy yên tâm! Đức tin của con đã cứu con.” Ngay giờ đó, người phụ nữ nầy được lành bệnh.
Đức Chúa Jêsus vào nhà viên quản lý nhà hội, thấy phường thổi sáo và đám đông gây ồn ào,
Ngài bảo: “Hãy lui ra! Bé gái nầy không phải chết đâu, nhưng nó đang ngủ.” Chúng nhạo cười Ngài.
Khi đám đông bị đuổi ra rồi, Ngài bước vào, cầm tay bé gái thì nó liền trỗi dậy.
Tin nầy được loan ra khắp vùng đó.
Khi Đức Chúa Jêsus rời nơi đó, có hai người mù đi theo Ngài, và kêu xin rằng: “Con Đa-vít ơi, xin đoái thương chúng con!”
Sau khi vào nhà, hai người mù đến gần Ngài. Đức Chúa Jêsus phán với họ rằng: “Các con có tin Ta làm được điều các con ao ước không?” Họ đáp: “Thưa Chúa, chúng con tin.”
Ngài chạm vào mắt họ và phán: “Các con tin thể nào thì sẽ được thế ấy.”
Mắt họ liền được sáng. Đức Chúa Jêsus nghiêm giọng bảo họ: “Hãy thận trọng, đừng cho ai biết việc nầy.”
Nhưng họ đi ra và đồn danh Ngài khắp vùng.
Khi rời nơi ấy, người ta đem đến cho Ngài một người câm bị quỷ ám.
Quỷ bị đuổi ra và người câm nói được. Dân chúng rất kinh ngạc, nói rằng: “Chưa bao giờ thấy một việc như vậy ở Y-sơ-ra-ên.”
Tuy nhiên, người Pha-ri-si lại nói: “Ông ta nhờ vào quỷ vương để đuổi quỷ.”
Đức Chúa Jêsus đi khắp các thành, các làng, dạy dỗ trong các nhà hội, rao giảng Tin Lành về vương quốc thiên đàng và chữa lành mọi thứ bệnh tật.
Khi thấy những đoàn người đông đảo, Ngài động lòng thương xót vì họ khốn cùng và tan lạc như chiên không có người chăn.
Ngài phán với các môn đồ rằng: “Mùa gặt thì thật trúng nhưng thợ gặt thì ít.
Vậy, hãy cầu xin Chúa mùa gặt sai thợ gặt vào mùa gặt của Ngài.”
Đức Chúa Jêsus gọi mười hai môn đồ đến, ban thẩm quyền để đuổi các uế linh, và chữa lành mọi bệnh tật, yếu đau.
Đây là tên mười hai sứ đồ: Trước nhất là Si-môn, cũng gọi là Phi-e-rơ, và Anh-rê, em người; Gia-cơ, con của Xê-bê-đê, và Giăng, em người;
Phi-líp và Ba-thê-lê-my; Thô-ma và Ma-thi-ơ, người thu thuế; Gia-cơ, con của A-phê, và Tha-đê;
Si-môn, người thuộc nhóm Ca-na-nê-an, và Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, kẻ phản Ngài.
Đức Chúa Jêsus sai mười hai sứ đồ nầy đi và dặn rằng: “Đừng đi vào vùng dân ngoại, cũng đừng vào một thành nào của dân Sa-ma-ri;
nhưng tốt hơn, hãy đến với những con chiên lạc của nhà Y-sơ-ra-ên.
Khi đi đường, hãy rao giảng rằng: ‘Vương quốc thiên đàng đã đến gần.’
Hãy chữa lành người đau yếu, khiến người chết sống lại, làm sạch người phong hủi, và đuổi quỷ. Các con đã nhận không, thì hãy cho không.
Đừng đem vàng, bạc, hoặc tiền trong thắt lưng;
cũng đừng đem túi đi đường, hoặc hai áo, hoặc giày hay gậy, vì người làm việc đáng được thức ăn.
Khi vào bất cứ thành nào hay làng nào, hãy dò hỏi ở đó có ai là người xứng đáng, rồi hãy ở lại nơi ấy cho đến lúc đi.
Hễ vào nhà nào, hãy chúc bình an cho nhà ấy;
nếu nhà ấy xứng đáng, thì sự bình an của các con sẽ đến với họ; bằng không, sự bình an của các con sẽ trở về với các con.
Nếu ai không đón tiếp, hoặc không nghe lời các con thì lúc rời nhà hoặc thành ấy, hãy phủi bụi đã dính nơi chân các con.
Thật, Ta bảo các con, đến ngày phán xét, đất Sô-đôm và Gô-mô-rơ sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn thành ấy.
Nầy, Ta sai các con đi như chiên giữa bầy muông sói. Vậy hãy khôn khéo như rắn, đơn sơ như chim bồ câu.
Hãy đề phòng người đời, vì họ sẽ nộp các con cho Hội đồng Công luận và đánh đòn các con trong nhà hội.
Vì cớ Ta, các con sẽ bị giải đến trước mặt các tổng đốc và các vua, để làm chứng cho họ và các dân ngoại.
Nhưng khi họ đem nộp các con, chớ lo phải nói như thế nào, hoặc nói những gì; trong giờ đó, những gì phải nói sẽ được ban cho các con.
Vì không phải các con tự nói đâu, nhưng Thánh Linh của Cha các con sẽ nói qua các con.
Anh sẽ nộp em để bị giết, cha sẽ nộp con, con cái sẽ nổi lên nghịch lại cha mẹ và khiến họ phải chết.
Các con sẽ bị mọi dân tộc thù ghét vì danh Ta, nhưng ai bền chí cho đến cuối cùng thì sẽ được cứu rỗi.
Khi người ta bắt bớ các con trong thành nầy, hãy trốn sang thành kia; vì thật, Ta bảo các con, các con chưa đi hết các thành của Y-sơ-ra-ên thì Con Người đã đến rồi.
Môn đồ không hơn thầy, đầy tớ không hơn chủ.
Môn đồ được như thầy, đầy tớ được như chủ thì đủ rồi. Chủ nhà mà còn bị gọi là Bê-ên-xê-bun, huống chi là người nhà!
Vậy, các con đừng sợ họ; vì không có điều gì che giấu mà chẳng bị phơi bày; không có điều gì bí mật mà chẳng bị tiết lộ.
Cho nên những gì Ta nói với các con trong bóng tối, hãy nói ra ngoài ánh sáng; những gì các con nghe thì thầm bên tai, hãy công bố trên mái nhà.
Đừng sợ những kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn, nhưng thà sợ Đấng có thể hủy diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục.
Hai con chim sẻ không phải chỉ bán được một đồng sao? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý muốn của Cha các con.
Ngay cả tóc trên đầu các con cũng được đếm hết rồi.
Vì vậy, đừng sợ, vì các con quý giá hơn nhiều chim sẻ.
Thế thì, hễ ai xưng nhận Ta trước mặt thiên hạ, Ta cũng sẽ xưng nhận người ấy trước mặt Cha Ta ở trên trời;
còn ai chối bỏ Ta trước mặt thiên hạ, Ta cũng sẽ chối bỏ họ trước mặt Cha Ta ở trên trời.
Chớ tưởng Ta đến để đem bình an cho thế gian. Ta đến, không phải để đem bình an, mà là gươm giáo.
Ta đến để phân rẽ con trai với cha, con gái với mẹ, nàng dâu với mẹ chồng;
và kẻ thù của người ta lại là người nhà của mình.
Ai yêu cha hoặc mẹ hơn Ta thì không xứng đáng với Ta; ai yêu con trai hoặc con gái hơn Ta cũng không xứng đáng với Ta.
Ai không vác thập tự giá mình mà theo Ta thì chẳng xứng đáng với Ta.
Ai tìm mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai vì Ta mà mất mạng sống mình thì sẽ tìm lại được.
Ai tiếp các con là tiếp Ta; ai tiếp Ta là tiếp Đấng đã sai Ta.
Ai tiếp một nhà tiên tri vì là nhà tiên tri, thì sẽ nhận phần thưởng của nhà tiên tri; ai tiếp một người công chính vì là người công chính, thì sẽ nhận phần thưởng của người công chính.
Ai cho một trong những người bé mọn nầy chỉ một ly nước lạnh, vì người ấy là môn đồ của Ta; thật, Ta bảo các con, người đó sẽ không mất phần thưởng của mình đâu.”
Khi đã truyền dạy cho mười hai sứ đồ xong, Đức Chúa Jêsus rời nơi ấy đi dạy dỗ và rao giảng trong các thành của họ.
Giăng ở trong tù nghe về các công việc của Đấng Christ, nên sai các môn đồ mình đến thưa với Ngài rằng:
“Thầy có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn phải đợi đấng khác?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Hãy về, thuật lại cho Giăng những gì các ngươi nghe và thấy:
Người mù được sáng, người què được đi, người phong hủi được sạch, người điếc được nghe, người chết được sống lại, và người nghèo được nghe Tin Lành.
Phước cho người nào không vấp phạm vì cớ Ta!”
Khi họ ra về, Đức Chúa Jêsus mới nói về Giăng cho đoàn dân rằng: “Các ngươi ra xem gì trong hoang mạc? Một cây sậy bị gió rung chăng?
Các ngươi đi ra để xem điều gì? Có phải để xem người mặc áo sang trọng chăng? Kìa, những người mặc áo sang trọng thì ở trong cung vua.
Các ngươi lại đi ra để xem gì nữa? Có phải để xem một nhà tiên tri chăng? Phải, Ta nói với các ngươi, có người còn hơn cả nhà tiên tri nữa.
Có lời chép về người ấy rằng: ‘Nầy, Ta sai sứ giả Ta đi trước mặt Con, Người sẽ dọn đường trước cho Con.’
Thật, Ta bảo các ngươi, trong những người do người nữ sinh ra, không ai cao trọng hơn Giăng Báp-tít; tuy nhiên, người nhỏ nhất trong vương quốc thiên đàng còn cao trọng hơn ông ấy.
Từ ngày Giăng Báp-tít cho đến bây giờ, vương quốc thiên đàng chịu áp lực dữ dội, và kẻ cường bạo muốn chiếm lấy vương quốc ấy.
Vì tất cả các nhà tiên tri và luật pháp đã nói tiên tri cho đến thời Giăng.
Nếu các ngươi muốn chấp nhận thì ông ấy chính là Ê-li, người phải đến.
Ai có tai, hãy lắng nghe!
Ta sẽ phải ví thế hệ nầy với ai? Thế hệ nầy giống như bọn trẻ con ngồi ngoài chợ, réo gọi bạn bè rồi nói:
‘Chúng tôi thổi sáo, mà các bạn không nhảy múa; Chúng tôi hát bài ai ca, mà các bạn không than khóc.’
Vì Giăng đến, không ăn không uống thì người ta nói: ‘Giăng bị quỷ ám’
Con Người đến, ăn và uống thì họ lại nói: ‘Kìa, một người ham ăn, mê uống; làm bạn với người thu thuế và kẻ tội lỗi!’ Tuy nhiên, sự khôn ngoan được biện minh bằng những hành động của nó.”
Vì dân chúng các thành nơi Đức Chúa Jêsus đã thực hiện nhiều phép lạ vẫn không chịu ăn năn, nên Ngài quở trách rằng:
“Khốn cho ngươi, thành Cô-ra-xin! Khốn cho ngươi, thành Bết-sai-đa! Vì nếu những phép lạ đã thực hiện giữa các ngươi được thực hiện tại Ty-rơ và Si-đôn thì họ đã mặc áo sô, đội tro và ăn năn từ lâu rồi.
Vậy nên Ta bảo các ngươi, đến ngày phán xét, Ty-rơ và Si-đôn sẽ chịu nhẹ hơn các ngươi.
Còn ngươi, thành Ca-bê-na-um, ngươi sẽ được nhắc cao đến tận trời ư? Không, ngươi sẽ bị hạ xuống tận âm phủ. Vì những phép lạ đã thực hiện giữa ngươi, nếu được thực hiện tại Sô-đôm thì thành ấy vẫn tồn tại đến ngày nay.
Vậy nên, Ta bảo các ngươi, trong ngày phán xét, đất Sô-đôm sẽ được xử nhẹ hơn các ngươi”
Lúc ấy Đức Chúa Jêsus nói rằng: “Thưa Cha, Chúa của trời và đất, Con ca ngợi Cha, vì Cha đã giấu những điều nầy với kẻ khôn ngoan, người sáng dạ, mà bày tỏ cho trẻ thơ.
Thật vậy, thưa Cha, vì điều nầy đẹp ý Cha.
Cha Ta đã giao mọi sự cho Ta, ngoài Cha, không ai biết Con. Ngoài Con và người nào Con muốn bày tỏ thì cũng không ai biết Cha.
Hỡi những ai mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến với Ta, Ta sẽ cho các ngươi được an nghỉ.
Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; hãy gánh lấy ách của Ta và học theo Ta thì linh hồn các ngươi sẽ được an nghỉ.
Vì ách Ta dễ chịu và gánh Ta nhẹ nhàng.”
Lúc ấy, vào ngày sa-bát, Đức Chúa Jêsus đi ngang qua cánh đồng lúa mì, các môn đồ Ngài đói nên bắt đầu ngắt bông lúa mà ăn.
Những người Pha-ri-si thấy vậy, nói với Ngài: “Xem kìa, các môn đồ Thầy làm điều không được phép làm trong ngày sa-bát.”
Nhưng Ngài đáp: “Các ngươi chưa đọc về việc Đa-vít đã làm, khi người cùng những người đi theo bị đói sao?
Người đã vào nhà Đức Chúa Trời ăn bánh cung hiến, loại bánh mà người và những kẻ đi theo không được phép ăn, chỉ dành riêng cho các thầy tế lễ.
Hay là các ngươi chưa đọc trong sách luật rằng, vào ngày sa-bát, các thầy tế lễ trong đền thờ vi phạm luật ngày sa-bát mà vẫn không mắc tội đó sao?
Nhưng Ta nói với các ngươi, tại đây, có một Đấng cao trọng hơn cả đền thờ.
Nếu các ngươi hiểu được ý nghĩa của câu nầy: ‘Ta muốn lòng thương xót, chứ không phải sinh tế’ thì các ngươi đã không lên án người vô tội;
vì Con Người là Chúa của ngày sa-bát.”
Đức Chúa Jêsus rời nơi đó, đi vào nhà hội.
Tại đó, có người teo một bàn tay. Họ hỏi Ngài rằng: “Trong ngày sa-bát có được phép chữa bệnh không?” Họ hỏi thế, để có thể tố cáo Ngài.
Ngài phán với họ: “Ai trong các ngươi có một con chiên bị ngã xuống hố trong ngày sa-bát mà lại không kéo nó lên sao?
Huống chi con người còn quý hơn chiên biết chừng nào! Vậy, trong ngày sa-bát được phép làm điều lành.”
Rồi Ngài phán với người teo tay: “Hãy giơ tay ra!” Người ấy giơ tay ra, thì tay được lành như tay kia.
Những người Pha-ri-si đi ra, bàn mưu chống Ngài và tìm cách giết Ngài.
Nhưng Đức Chúa Jêsus biết điều ấy, nên lánh khỏi chỗ đó. Có nhiều người theo Ngài, và Ngài chữa lành tất cả.
Ngài truyền dặn họ đừng tiết lộ cho ai biết Ngài.
Như vậy, để lời nhà tiên tri Ê-sai đã nói được ứng nghiệm:
“Nầy là đầy tớ Ta đã chọn, Người mà Ta yêu quý, đẹp lòng Ta hoàn toàn. Ta sẽ ban Thánh Linh Ta ngự trên Người, Người sẽ rao truyền công lý cho dân ngoại.
Người sẽ không cãi vã, chẳng gào la, Không ai nghe tiếng người ngoài phố.
Người sẽ chẳng bẻ cây sậy đã giập, Không tắt ngọn đèn gần tàn. Cho đến chừng Người đưa công lý đến chiến thắng
Và các dân ngoại đặt hi vọng nơi danh Người.”
Bấy giờ, người ta đem đến cho Đức Chúa Jêsus một người bị quỷ ám, mù và câm; Ngài chữa lành, khiến người ấy nói và thấy được.
Tất cả dân chúng đều kinh ngạc, nói rằng: “Phải chăng người nầy là con vua Đa-vít?”
Nhưng khi nghe vậy những người Pha-ri-si lại bảo: “Người nầy không thể nào đuổi được quỷ, nếu không nhờ quỷ vương Bê-ên-xê-bun.”
Đức Chúa Jêsus biết ý tưởng của họ nên phán: “Vương quốc nào tự chia rẽ sẽ bị sụp đổ, một thành hay một nhà nào tự chia rẽ sẽ không đứng vững.
Nếu Sa-tan đuổi Sa-tan, ấy là tự nó chia rẽ; vương quốc nó làm sao đứng vững được?
Nếu Ta nhờ Bê-ên-xê-bun mà đuổi quỷ, thế thì con cái các ngươi nhờ ai mà đuổi quỷ? Do đó, chính chúng nó sẽ là người xét xử các ngươi.
Còn nếu Ta nhờ Thánh Linh của Đức Chúa Trời mà đuổi quỷ, thì vương quốc Đức Chúa Trời đã đến với các ngươi rồi.
Hay là, làm thế nào người ta có thể vào nhà một người có sức mạnh để cướp tài sản nếu trước hết không trói người ấy lại? Phải trói người ấy lại rồi mới cướp nhà người được.
Ai không ở với Ta là chống lại Ta; ai không liên kết với Ta thì tan tác.
Vì vậy, Ta nói với các ngươi: Mọi tội lỗi và lời phạm thượng đều được tha cho loài người; nhưng phạm thượng đến Thánh Linh sẽ chẳng được tha đâu.
Ai nói nghịch với Con Người thì sẽ được tha; nhưng ai nói nghịch với Đức Thánh Linh thì dù đời nầy hay đời sau cũng sẽ chẳng được tha.
Nếu là cây lành thì quả cũng lành, nếu là cây độc thì quả cũng độc; vì xem quả thì biết cây.
Hỡi dòng dõi rắn độc kia! Các ngươi vốn là xấu, làm sao nói được điều tốt? Vì có đầy dẫy trong lòng thì miệng mới nói ra.
Người tốt do tích lũy điều thiện nên sản sinh điều thiện; còn kẻ xấu do tích tụ điều ác nên sản sinh điều ác.
Nhưng Ta bảo các ngươi, trong ngày phán xét, người ta sẽ khai trình mọi lời vô ích mình đã nói.
Vì bởi lời nói, ngươi sẽ được xưng công chính; cũng bởi lời nói, ngươi sẽ bị định tội.”
Bấy giờ có mấy thầy thông giáo và người Pha-ri-si nói với Ngài rằng: “Thưa Thầy, chúng tôi muốn xem Thầy làm một dấu lạ.”
Ngài đáp: “Thế hệ gian ác, dâm loạn nầy tìm kiếm một dấu lạ, nhưng sẽ chẳng nhận được một dấu lạ nào, ngoài dấu lạ của nhà tiên tri Giô-na.
Vì như Giô-na ở trong bụng cá lớn ba ngày ba đêm, cũng vậy, Con Người sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm.
Trong ngày phán xét, người Ni-ni-ve sẽ trỗi dậy cùng thế hệ nầy và kết án nó, vì dân ấy đã nghe lời rao giảng của Giô-na và ăn năn, nhưng tại đây có một người còn cao trọng hơn Giô-na!
Trong ngày phán xét, nữ hoàng nam phương sẽ trỗi dậy cùng thế hệ nầy mà lên án nó, vì bà từ đầu cùng trái đất đến nghe lời khôn ngoan của vua Sa-lô-môn; nhưng tại đây có người còn cao trọng hơn Sa-lô-môn!
Khi uế linh ra khỏi một người, nó đi qua những nơi khô cằn, tìm chỗ nghỉ, nhưng không tìm được.
Rồi nó nói: ‘Ta sẽ trở về nhà ta, nơi ta vừa ra khỏi.’ Khi về đến, thấy nhà trống, quét dọn sạch, sắp đặt ngăn nắp,
nó liền đi và đem về bảy quỷ khác dữ hơn, cùng vào ở đó. Như vậy, tình trạng sau của người ấy còn tệ hại hơn trước. Thế hệ gian ác nầy cũng sẽ như vậy.”
Khi Đức Chúa Jêsus còn đang nói với đoàn dân thì mẹ và các em Ngài đến, đứng ở ngoài và tìm cách nói chuyện với Ngài.
Có người thưa với Ngài rằng: “Kìa mẹ và các anh em Thầy đang đứng ở ngoài, muốn nói chuyện với Thầy.”
Ngài đáp: “Ai là mẹ Ta, ai là anh em Ta?”
Rồi Ngài chỉ tay về phía các môn đồ và nói: “Đây là mẹ Ta và anh em Ta!
Vì hễ ai làm theo ý muốn của Cha Ta ở trên trời, người ấy là anh em, chị em và là mẹ Ta vậy.”
Cũng trong ngày ấy, Đức Chúa Jêsus rời nhà, ra ngồi bên bờ biển.
Dân chúng tụ họp quanh Ngài đông lắm, đến nỗi Ngài phải xuống thuyền mà ngồi, còn tất cả dân chúng thì đứng trên bờ.
Ngài dùng ẩn dụ để nói với họ nhiều điều. Ngài phán: “Có một người đi ra gieo giống.
Trong khi gieo, một số hạt rơi dọc đường, chim đến ăn hết.
Một số hạt khác rơi trên đất đá, chỉ có ít đất thịt, bị lấp không sâu, liền mọc lên.
Nhưng khi mặt trời mọc lên, bị nắng thiêu đốt thì chúng chết khô vì không có rễ.
Một số khác rơi giữa bụi gai, gai mọc lên làm cho chúng nghẹt ngòi.
Một số khác nữa rơi trên chỗ đất tốt nên kết quả: hạt được một trăm, hạt được sáu chục, hạt ba chục.
Ai có tai, hãy lắng nghe!”
Các môn đồ đến gần hỏi Ngài: “Sao Thầy dùng ẩn dụ để nói với họ?”
Ngài đáp: “Các con đã được ban cho sự hiểu biết về những mầu nhiệm của vương quốc thiên đàng, còn họ thì không được ban cho.
Vì ai có sẽ được cho thêm để được dư dật, còn ai không có sẽ bị cất luôn điều chính mình đang có nữa.
Bởi vậy, Ta dùng ẩn dụ để nói với họ, vì họ xem mà không thấy, lắng tai mà không nghe, không hiểu.
Họ đã làm cho lời tiên tri của Ê-sai được ứng nghiệm: ‘Các ngươi lắng nghe, nhưng không hiểu; Đưa mắt nhìn mà chẳng thấy gì.
Vì lòng dân nầy chai lì; Tai đã nặng, Mắt đã nhắm, Sợ rằng mắt thấy được, Tai nghe được, Lòng hiểu được, Họ tự hối cải, Và Ta sẽ chữa lành chăng.’
Nhưng phước cho mắt các con vì thấy được; phước cho tai các con vì nghe được!
Thật, Ta bảo các con, có nhiều nhà tiên tri, nhiều người công chính mơ ước thấy điều các con thấy nhưng không được thấy; ao ước nghe điều các con nghe mà chẳng được nghe.
Vậy, các con hãy nghe giải thích ẩn dụ về người gieo giống.
Ai nghe đạo của vương quốc thiên đàng mà không hiểu thì quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng mình; ấy là hạt giống rơi dọc đường.
Hạt giống rơi trên đất đá là người khi nghe đạo thì liền vui mừng tiếp nhận;
nhưng đạo không đâm rễ trong lòng, chỉ tồn tại nhất thời, nên khi vì đạo mà gặp hoạn nạn, hay bắt bớ, thì người ấy liền vấp ngã.
Hạt giống rơi giữa bụi gai là người nghe đạo, nhưng sự lo lắng về đời nầy, sự quyến rũ của giàu sang làm cho đạo bị nghẹt ngòi nên không kết quả.
Còn hạt giống gieo trên đất tốt là người nghe, hiểu đạo và có kết quả: một thành một trăm, một thành sáu chục, một thành ba chục.”
Đức Chúa Jêsus phán với họ một ẩn dụ khác: “Vương quốc thiên đàng ví như một người gieo giống tốt trong đồng ruộng mình.
Nhưng lúc mọi người đang ngủ thì kẻ thù của người ấy đến, gieo cỏ lùng vào giữa lúa rồi đi.
Khi lúa mọc lên và trổ bông thì cỏ lùng cũng xuất hiện.
Các đầy tớ của chủ nhà đến trình rằng: ‘Thưa chủ, chẳng phải chủ đã gieo giống tốt trong đồng ruộng của chủ sao? Vậy, cỏ lùng do đâu mà có?’
Chủ đáp: ‘Một kẻ thù đã làm điều ấy.’ Các đầy tớ thưa rằng: ‘Vậy chủ có muốn chúng tôi nhổ cỏ đó không?’
Chủ đáp: ‘Không nên, e khi nhổ cỏ lùng, các ngươi nhổ lầm cả lúa chăng.
Cứ để cả hai cùng lớn lên cho đến mùa gặt; khi vào vụ gặt, ta sẽ dặn thợ gặt thu gom cỏ lùng trước, bó lại từng bó rồi đốt đi; còn lúa thì thu trữ vào kho của ta.’”
Ngài phán với họ một ẩn dụ khác: “Vương quốc thiên đàng giống như một hạt cải người kia đem gieo ngoài đồng.
Hạt ấy nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống, nhưng khi mọc lên thì lại lớn nhất trong các loại rau, và trở thành cây đến nỗi chim trời đến làm tổ trên cành nó.”
Ngài phán với họ một ẩn dụ khác: “Vương quốc thiên đàng giống như men mà người phụ nữ kia lấy ủ vào ba đấu bột cho đến chừng bột dậy cả lên.”
Đức Chúa Jêsus dùng ẩn dụ để truyền dạy mọi điều đó cho dân chúng, không một điều gì Ngài truyền dạy họ mà không dùng ẩn dụ.
Như vậy, để ứng nghiệm lời tiên tri: “Ta sẽ mở miệng để nói các ẩn dụ, Ta sẽ công bố những điều kín giấu từ buổi sáng tạo thế gian.”
Sau khi cho dân chúng về, Đức Chúa Jêsus vào nhà. Các môn đồ đến, thưa với Ngài: “Xin Thầy giải thích ẩn dụ về cỏ lùng trong đồng ruộng cho chúng con.”
Ngài đáp: “Người gieo giống tốt là Con Người;
đồng ruộng là thế gian; giống tốt là con cái của vương quốc thiên đàng; cỏ lùng là con cái quỷ dữ;
kẻ thù gieo cỏ là ma quỷ; mùa gặt là ngày tận thế; thợ gặt là các thiên sứ.
Còn như cỏ lùng bị gom lại và đốt trong lửa thể nào, thì ngày tận thế cũng như vậy;
Con Người sẽ sai thiên sứ Ngài nhặt mọi kẻ gây vấp phạm và mọi kẻ làm ác khỏi vương quốc Ngài,
rồi ném chúng vào lò lửa, nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng.
Khi ấy, những người công chính sẽ tỏa sáng như mặt trời trong vương quốc của Cha mình. Ai có tai, hãy lắng nghe!”
“Vương quốc thiên đàng ví như kho báu chôn giấu trong một đồng ruộng. Một người kia tìm được thì giấu đi, vui mừng đem bán mọi thứ mình có, để mua đồng ruộng ấy.”
“Vương quốc thiên đàng lại giống như một thương gia đi tìm ngọc trai quý;
khi đã tìm được một viên ngọc trai quý hiếm, người ấy liền đi bán mọi thứ mình có để mua viên ngọc ấy.”
“Vương quốc thiên đàng cũng giống như một cái lưới thả xuống biển, bắt đủ mọi thứ cá.
Khi lưới đầy, người ta kéo lên bờ rồi ngồi xuống chọn loại cá tốt cho vào rổ, còn loại xấu thì vứt bỏ.
Đến ngày tận thế cũng vậy, các thiên sứ sẽ đến, tách biệt kẻ ác khỏi những người công chính,
và ném kẻ ác vào lò lửa; ở đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng.”
“Các con có hiểu mọi điều đó không?” Các môn đồ thưa: “Dạ hiểu.”
Ngài phán rằng: “Vì vậy, những thầy thông giáo đã học biết về vương quốc thiên đàng, cũng giống như chủ nhà kia, đem những vật mới lẫn cũ ra khỏi kho báu của mình.”
Khi đã kể các ẩn dụ đó xong, Đức Chúa Jêsus rời khỏi chỗ ấy.
Về đến quê hương, Ngài dạy dỗ dân chúng trong nhà hội đến nỗi họ rất kinh ngạc và nói: “Do đâu người nầy có được sự khôn ngoan và làm được những việc quyền năng như thế?
Chẳng phải người nầy là con trai bác thợ mộc sao? Mẹ người chẳng phải là Ma-ri, và các em người là Gia-cơ, Giô-sép, Si-môn, Giu-đe hay sao?
Tất cả các em gái người chẳng phải đều ở giữa chúng ta đó sao? Vậy, do đâu người nầy có được mọi điều ấy?”
Họ vấp phạm vì Ngài. Nhưng Đức Chúa Jêsus phán với họ rằng: “Nhà tiên tri chỉ bị quê hương và gia đình mình xem thường mà thôi.”
Tại đó, Ngài không làm nhiều việc quyền năng, vì sự vô tín của họ.
Lúc ấy, vua chư hầu Hê-rốt nghe danh tiếng Đức Chúa Jêsus,
thì bảo các cận thần rằng: “Đây là Giăng Báp-tít, người từ cõi chết sống lại, nên mới thực hiện được những phép lạ nầy.”
Vì Hê-rốt đã bắt, trói và bỏ tù Giăng do việc Hê-rô-đia, vợ Phi-líp, em vua.
Bởi Giăng có can vua: “Bệ hạ lấy nàng là điều trái luật pháp.”
Dù muốn giết Giăng, nhưng vua lại sợ dân chúng, vì họ đều tin rằng Giăng là một nhà tiên tri.
Nhưng, khi đến sinh nhật Hê-rốt, con gái của Hê-rô-đia nhảy múa trước mặt khách dự tiệc, làm hài lòng Hê-rốt,
đến nỗi vua thề hứa cho nàng bất cứ điều gì nàng xin.
Bị mẹ xúi giục, nàng tâu rằng: “Xin cho con cái đầu của Giăng Báp-tít đặt trên mâm.”
Vua lấy làm buồn rầu, nhưng vì đã lỡ thề trước những khách dự tiệc, nên truyền lệnh ban cho nàng.
Vua sai người chém đầu Giăng trong ngục,
rồi họ để đầu của ông trên mâm, trao cho cô gái ấy, và nàng đem đến cho mẹ mình.
Sau đó, các môn đồ của Giăng đến, lấy xác của ông đem chôn, rồi đi báo tin cho Đức Chúa Jêsus.
Nghe tin ấy, Đức Chúa Jêsus xuống thuyền, rời chỗ nầy đi đến nơi hoang vắng. Biết vậy, dân chúng từ các thành đi bộ theo Ngài.
Vừa ra khỏi thuyền, Đức Chúa Jêsus thấy đoàn dân đông thì cảm thương, và chữa lành cho những người bệnh.
Đến chiều tối, các môn đồ đến thưa với Ngài: “Nơi nầy hoang vắng, trời tối rồi, xin Thầy cho dân chúng về để họ vào các làng mua thức ăn.”
Đức Chúa Jêsus phán: “Họ không cần phải đi đâu; chính các con hãy cho họ ăn.”
Các môn đồ thưa rằng: “Ở đây, chúng con chỉ có năm cái bánh và hai con cá.”
Ngài phán: “Hãy đem đến đây cho Ta.”
Sau khi truyền cho dân chúng ngồi trên bãi cỏ, Ngài lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời tạ ơn rồi bẻ bánh ra trao cho môn đồ, họ phân phát cho dân chúng.
Mọi người đều ăn no nê. Họ thu lại được mười hai giỏ đầy những mẩu bánh thừa.
Số người ăn khoảng năm nghìn người, không kể phụ nữ và trẻ em.
Sau đó, Ngài giục môn đồ xuống thuyền, đi trước qua bờ bên kia, trong lúc Ngài cho dân chúng ra về.
Khi cho dân chúng về rồi, Ngài đi riêng lên núi để cầu nguyện. Tối đến, Ngài vẫn ở đó một mình.
Lúc bấy giờ, thuyền đã ra giữa biển, bị sóng vỗ mạnh vì gió ngược.
Đến canh tư đêm ấy, Đức Chúa Jêsus bước đi trên mặt biển, đến với các môn đồ.
Khi thấy Ngài bước đi trên mặt biển, các môn đồ kinh hoảng và nói rằng: “Ấy là ma!” Rồi họ la lên vì sợ hãi.
Nhưng Đức Chúa Jêsus liền phán với họ: “Hãy yên lòng, Ta đây, đừng sợ!”
Phi-e-rơ thưa rằng: “Lạy Chúa, nếu phải là Chúa, xin khiến con đi trên mặt nước đến với Chúa.”
Ngài phán: “Hãy lại đây!” Phi-e-rơ ra khỏi thuyền, bước đi trên mặt nước, đến với Đức Chúa Jêsus.
Nhưng khi thấy gió thổi, Phi-e-rơ hoảng sợ, suýt chìm xuống nước nên la lên: “Chúa ơi, xin cứu con!”
Tức thì, Đức Chúa Jêsus đưa tay nắm lấy Phi-e-rơ và nói rằng: “Con thật ít đức tin, sao con lại nghi ngờ?”
Khi Ngài và Phi-e-rơ lên thuyền rồi, thì gió yên lặng.
Những người trên thuyền quỳ lạy Ngài, và thưa rằng: “Thầy thật là Con Đức Chúa Trời!”
Khi đã qua đến bờ bên kia, Đức Chúa Jêsus và môn đồ đến đất Ghê-nê-xa-rết.
Dân vùng đó nhận ra Ngài, họ sai người báo tin khắp các miền chung quanh và đem tất cả những người bệnh đến với Ngài,
nài xin Ngài cho họ chỉ chạm vào gấu áo Ngài mà thôi; và những ai chạm đến đều được lành.
Sau đó, có vài người Pha-ri-si và thầy thông giáo từ thành Giê-ru-sa-lem đến với Đức Chúa Jêsus và hỏi rằng:
“Sao môn đồ Thầy vi phạm truyền thống của cổ nhân, không rửa tay trước khi ăn?”
Ngài đáp: “Thế sao các ngươi cũng vì truyền thống của mình mà vi phạm điều răn của Đức Chúa Trời?
Vì Đức Chúa Trời đã truyền dạy: ‘Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi;’ và ‘ai nguyền rủa cha mẹ thì phải bị xử tử.’
Nhưng các ngươi lại bảo: ‘Nếu ai nói với cha mẹ rằng: Những gì có thể giúp cha mẹ, con đã dâng cho Đức Chúa Trời rồi, thì người ấy không cần phải hiếu kính cha mẹ.’
Như vậy, vì cớ truyền thống của mình, các ngươi đã loại bỏ lời Đức Chúa Trời.
Hỡi những kẻ đạo đức giả! Ê-sai thật đúng khi nói tiên tri về các ngươi rằng:
‘Dân nầy lấy môi miệng tôn kính Ta; Nhưng lòng chúng nó cách xa Ta lắm.
Việc chúng thờ phượng Ta là vô ích, Giáo lý chúng dạy chỉ là những luật lệ của loài người.’ ”
Sau đó, Ngài gọi dân chúng đến và phán: “Hãy nghe và hiểu:
Chẳng phải vật gì vào miệng làm cho con người ô uế; nhưng điều gì từ miệng ra, điều ấy mới làm ô uế con người.”
Sau đó các môn đồ đến, thưa với Ngài: “Thầy có biết những người Pha-ri-si bị xúc phạm khi nghe lời nầy không?”
Ngài đáp: “Cây nào Cha Ta trên trời không trồng thì phải nhổ đi.
Cứ để mặc họ; họ là những kẻ dẫn đường đui mù. Nếu người mù dắt người mù thì cả hai đều ngã xuống hố.”
Phi-e-rơ thưa rằng: “Xin Thầy giải nghĩa ẩn dụ đó cho chúng con.”
Đức Chúa Jêsus hỏi: “Các con cũng vẫn không hiểu sao?
Các con không biết rằng vật gì vào miệng sẽ đi xuống dạ dày, rồi bị thải ra ngoài sao?
Nhưng những gì từ miệng ra đều phát xuất từ trong lòng, những điều ấy mới làm ô uế người.
Vì từ trong lòng nẩy sinh những ý tưởng xấu, giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cướp, làm chứng dối, và vu khống.
Đó chính là những điều làm ô uế người; còn việc ăn không rửa tay, chẳng làm ô uế người đâu.”
Từ đó, Đức Chúa Jêsus đi vào khu vực thành Ty-rơ và Si-đôn.
Kìa, có một người phụ nữ Ca-na-an từ vùng ấy đến và kêu xin rằng: “Lạy Chúa, con của Đa-vít, xin thương xót con với! Con gái của con bị quỷ ám, khốn khổ lắm!”
Nhưng Ngài chẳng đáp một lời. Các môn đồ đến, nài xin Ngài rằng: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà cứ theo sau chúng ta mà van xin mãi.”
Ngài đáp: “Ta được sai đến, chỉ vì những chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên mà thôi.”
Nhưng người phụ nữ nầy đến, quỳ xuống và thưa rằng: “Lạy Chúa, xin giúp đỡ con!”
Ngài đáp: “Lấy bánh của con cái mà ném cho chó ăn là điều không phải lẽ.”
Người phụ nữ lại thưa: “Lạy Chúa, đúng như vậy, nhưng mấy con chó vẫn được ăn những miếng bánh vụn từ bàn chủ rơi xuống.”
Ngài phán rằng: “Hỡi phụ nữ kia, ngươi có đức tin lớn! Điều ngươi ao ước sẽ được thành!” Ngay trong giờ ấy, con gái bà được lành.
Đức Chúa Jêsus rời nơi ấy đi dọc theo biển Ga-li-lê; Ngài lên núi và ngồi tại đó.
Bấy giờ có đoàn người rất đông đến với Ngài, đem theo những người què, mù, câm, tàn tật và nhiều người yếu đau khác đặt nơi chân Đức Chúa Jêsus; Ngài chữa lành cho họ.
Vì vậy, họ rất kinh ngạc khi thấy người câm nói được, người tàn tật được lành, người què đi được, người mù thấy được; và họ ca ngợi Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Kế đó, Đức Chúa Jêsus gọi môn đồ đến và phán rằng: “Ta cảm thương đoàn dân nầy vì họ đã ở với Ta ba ngày, bây giờ không có gì ăn cả. Ta không muốn để họ nhịn đói ra về, e bị xỉu dọc đường chăng.”
Các môn đồ thưa: “Giữa nơi hoang mạc nầy, chúng ta kiếm đâu ra đủ bánh cho đoàn dân đông đảo nầy ăn?”
Ngài hỏi các môn đồ: “Các con có bao nhiêu bánh?” Họ thưa: “Có bảy cái bánh và vài con cá nhỏ.”
Ngài truyền cho đoàn dân ngồi xuống đất,
lấy bảy cái bánh và mấy con cá, tạ ơn, rồi bẻ ra trao cho các môn đồ để họ phân phát cho dân chúng.
Mọi người đều ăn no; những mẩu bánh thừa thu lại được bảy giỏ đầy.
Số người ăn là bốn nghìn người, không kể phụ nữ, trẻ em.
Sau khi cho dân chúng về, Ngài xuống thuyền qua miền Ma-ga-đan.
Những người Pha-ri-si và Sa-đu-sê đến với Đức Chúa Jêsus, và thử Ngài bằng cách xin Ngài cho họ xem một dấu lạ từ trời.
Nhưng Ngài đáp: “Khi chiều tà, các ngươi bảo: ‘Thời tiết sẽ tốt, vì bầu trời đỏ.’
Còn vào sáng sớm, các ngươi bảo: ‘Thời tiết mưa bão, vì bầu trời đỏ và âm u.’ Các ngươi biết phân biệt rõ sắc trời, mà không phân biệt được các thời triệu sao?
Thế hệ gian ác dâm loạn nầy tìm kiếm một dấu lạ; nhưng sẽ không có một dấu lạ nào được ban cho họ ngoài dấu lạ của Giô-na.” Rồi Ngài bỏ họ mà đi.
Khi qua đến bờ bên kia, các môn đồ quên đem bánh theo.
Đức Chúa Jêsus phán với họ: “Hãy thận trọng và đề phòng men của người Pha-ri-si và Sa-đu-sê.”
Các môn đồ bàn luận với nhau và nói: “Tại vì chúng ta không đem theo bánh.”
Biết vậy nên Đức Chúa Jêsus phán: “Hỡi những kẻ ít đức tin, sao các con lại bàn luận với nhau về việc các con không có bánh?
Các con vẫn chưa hiểu sao? Các con không nhớ năm cái bánh cho năm nghìn người, và các con thu được bao nhiêu giỏ bánh thừa?
Hoặc bảy cái bánh cho bốn nghìn người, và các con thu được bao nhiêu giỏ bánh thừa?
Tại sao các con không biết rằng Ta không muốn nói về bánh? Hãy đề phòng men của người Pha-ri-si và Sa-đu-sê.”
Khi ấy, các môn đồ mới hiểu rằng Ngài không bảo đề phòng về men làm bánh, nhưng về sự dạy dỗ của người Pha-ri-si và Sa-đu-sê.
Khi vào khu vực Sê-sa-rê Phi-líp, Đức Chúa Jêsus hỏi các môn đồ rằng: “Theo lời người ta nói thì Con Người là ai?”
Các môn đồ thưa: “Một số người nói là Giăng Báp-tít, một số khác nói là Ê-li, một số khác nữa thì cho là Giê-rê-mi hay là một trong các nhà tiên tri.”
Ngài phán rằng: “Còn các con thì nói Ta là ai?”
Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: “Thầy là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống.”
Đức Chúa Jêsus phán với người: “Hỡi Si-môn, con Giô-na, phước cho con! Vì không phải thịt và máu bày tỏ điều nầy cho con, mà là Cha Ta ở trên trời.
Còn Ta, Ta bảo con rằng: Con là Phi-e-rơ, Ta sẽ xây dựng Hội Thánh Ta trên đá nầy, các cửa âm phủ không thắng được Hội đó.
Ta sẽ giao chìa khóa vương quốc thiên đàng cho con; bất cứ điều gì con buộc dưới đất cũng sẽ bị buộc ở trên trời, và bất cứ điều gì con mở dưới đất cũng sẽ được mở ở trên trời.”
Rồi Ngài nghiêm cấm các môn đồ nói cho ai biết Ngài là Đấng Christ.
Từ lúc đó, Đức Chúa Jêsus bắt đầu bày tỏ cho các môn đồ biết rằng Ngài phải đi đến thành Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ bởi các trưởng lão, các thầy tế lễ cả cùng các thầy thông giáo, và phải bị giết, đến ngày thứ ba phải sống lại.
Phi-e-rơ đem Ngài riêng ra và trách rằng: “Lạy Chúa, Đức Chúa Trời nào nỡ vậy! Việc nầy sẽ không xảy đến cho Chúa đâu!”
Nhưng Ngài quay lại và phán với Phi-e-rơ: “Hỡi Sa-tan, hãy lui ra đằng sau Ta! Ngươi là một chướng ngại cho Ta; vì ngươi chẳng nghĩ đến việc của Đức Chúa Trời, mà chỉ nghĩ đến việc của loài người.”
Rồi Đức Chúa Jêsus phán với các môn đồ rằng: “Nếu ai muốn theo Ta thì phải từ bỏ chính mình, vác thập tự giá mình mà theo Ta.
Vì bất cứ ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai vì Ta mà mất mạng sống thì sẽ tìm lại được.
Nếu người nào được cả thế gian mà mất linh hồn mình thì có ích gì? Người ấy sẽ lấy gì mà đổi linh hồn mình lại?
Vì Con Người sẽ đến trong vinh quang của Cha mình cùng với các thiên sứ. Lúc ấy, Ngài sẽ ban thưởng cho từng người, tùy việc họ làm.
Thật, Ta bảo các con, một vài người đang đứng đây sẽ không chết trước khi thấy Con Người đến trong vương quốc của Ngài.”
Sáu ngày sau, Đức Chúa Jêsus đem riêng Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng là em Gia-cơ, đi với Ngài lên một ngọn núi cao.
Ngài hóa hình trước mặt họ: mặt Ngài chói sáng như mặt trời, áo Ngài trở nên trắng như ánh sáng.
Kìa, có Môi-se và Ê-li hiện ra nói chuyện với Ngài.
Phi-e-rơ thưa với Đức Chúa Jêsus rằng: “Lạy Chúa, chúng ta ở đây rất tốt; nếu Chúa muốn, con sẽ dựng tại đây ba cái trại: một cái cho Chúa, một cái cho Môi-se và một cái cho Ê-li.”
Lúc Phi-e-rơ còn đang nói, có một đám mây sáng rực che phủ họ; và từ trong mây có tiếng phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta hoàn toàn; hãy nghe lời Con ấy!”
Khi các môn đồ nghe tiếng ấy thì ngã sấp mặt xuống đất, kinh hãi vô cùng.
Nhưng Đức Chúa Jêsus đến, chạm vào họ và phán: “Hãy đứng dậy, đừng sợ!”
Các môn đồ ngước mắt lên thì không thấy ai khác ngoài một mình Đức Chúa Jêsus.
Đang khi cùng các môn đồ từ trên núi xuống, Đức Chúa Jêsus ra lệnh cho họ: “Đừng thuật lại cho ai khải tượng nầy cho đến khi Con Người từ cõi chết sống lại.”
Các môn đồ hỏi Ngài: “Vậy thì sao các thầy thông giáo lại nói Ê-li phải đến trước?”
Ngài đáp: “Thật Ê-li phải đến và phục hồi mọi việc.
Nhưng Ta nói với các con: Ê-li đã đến rồi mà người ta không nhận biết người, nhưng đã đối xử với người theo ý họ. Con Người cũng sẽ chịu khổ nạn dưới tay họ như thế.”
Lúc ấy, các môn đồ hiểu rằng Ngài đang nói với họ về Giăng Báp-tít.
Khi Đức Chúa Jêsus và các môn đồ trở lại với đoàn dân thì có một người đến, quỳ trước mặt Ngài, thưa rằng:
“Lạy Chúa xin thương xót đến con trai tôi! Cháu bị bệnh kinh phong, đau đớn lắm; cháu thường bị ngã vào lửa, và cũng thường ngã xuống nước.
Tôi đã đem cháu đến cho môn đồ Ngài, nhưng họ không chữa được.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Hỡi thế hệ vô tín và ngoan cố kia, Ta sẽ ở với các ngươi cho đến chừng nào? Ta sẽ chịu đựng các ngươi cho đến bao giờ? Hãy đem đứa bé lại đây cho Ta.”
Đức Chúa Jêsus quở trách quỷ, và nó liền ra khỏi đứa bé; ngay lúc ấy, đứa bé được lành.
Các môn đồ đến gặp riêng Đức Chúa Jêsus và thưa rằng: “Vì sao chúng con không đuổi quỷ ấy được?”
Ngài đáp: “Vì các con ít đức tin. Ta nói rõ với các con: Nếu các con có đức tin chỉ bằng một hạt cải thì các con có thể bảo hòn núi nầy rằng: ‘Hãy dời từ đây qua đó’ thì nó sẽ dời; và chẳng có điều gì các con không làm được!”
Khi các môn đồ họp lại tại miền Ga-li-lê, Đức Chúa Jêsus phán với họ rằng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta.
Họ sẽ giết Ngài, nhưng đến ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại.” Các môn đồ vô cùng đau buồn.
Khi đến thành Ca-bê-na-um, những người thu thuế đền thờ đến hỏi Phi-e-rơ: “Thầy các anh có nộp thuế không?”
Phi-e-rơ đáp: “Có.” Khi Phi-e-rơ vào nhà, Đức Chúa Jêsus hỏi người trước: “Si-môn ơi, con nghĩ sao? Các vua thế gian bắt ai làm sưu, đóng thuế? Các con trai mình hay người ngoài?”
Phi-e-rơ thưa: “Người ngoài.” Ngài phán rằng: “Vậy thì các con trai được miễn.
Nhưng để khỏi tạo cớ vấp phạm cho họ, con hãy ra biển câu cá, bắt lấy con cá nào mắc câu đầu tiên, mở miệng nó ra, sẽ thấy một đồng bạc. Hãy lấy đồng bạc ấy đóng thuế cho Ta với con!”
Lúc ấy các môn đồ đến hỏi Đức Chúa Jêsus rằng: “Ai là người cao trọng hơn hết trong vương quốc thiên đàng?”
Ngài gọi một đứa trẻ đến, để đứng giữa các môn đồ
và phán: “Thật, Ta bảo các con, nếu các con không biến đổi và trở nên như con trẻ, các con sẽ không bao giờ được vào vương quốc thiên đàng đâu.
Vậy, người nào khiêm nhường như đứa trẻ nầy sẽ là người cao trọng hơn hết trong vương quốc thiên đàng.
Còn ai vì danh Ta tiếp một đứa trẻ như thế nầy tức là tiếp Ta;
nhưng ai gây cho một trong những đứa trẻ đã tin Ta sa vào tội lỗi thì thà buộc cối đá vào cổ người ấy, mà ném xuống biển sâu còn hơn.”
“Khốn thay cho thế gian về những điều gây cho vấp phạm! Vì những điều gây cho vấp phạm tất nhiên phải có, nhưng khốn thay cho ai là kẻ gây vấp phạm!
Nếu tay hay chân con gây cho con phạm tội, hãy chặt và ném nó đi! Vì thà con què chân hay cụt tay mà vào sự sống, còn hơn là đủ cả hai tay, hai chân mà bị ném vào lửa đời đời.
Còn nếu mắt con gây cho con phạm tội, hãy móc và ném nó đi! Vì thà con chột mắt mà vào sự sống, còn hơn đủ cả hai mắt mà bị ném vào lửa hỏa ngục.”
“Hãy thận trọng, đừng xem thường một đứa nào trong những đứa trẻ nầy! Vì Ta bảo các con, các thiên sứ của chúng ở trên trời luôn thấy mặt Cha Ta là Đấng ở trên trời.
Các con nghĩ sao? Nếu một người có một trăm con chiên mà một con bị lạc, thì người ấy chẳng để chín mươi chín con lại trên núi và đi tìm con bị lạc sao?
Thật, Ta bảo các con, nếu người ấy tìm được thì sẽ vui mừng về con đó hơn chín mươi chín con không lạc.
Cũng vậy, Cha các con ở trên trời không muốn một ai trong những đứa trẻ nầy bị hư mất.”
“Nếu anh em con có lỗi với con, hãy gặp riêng và nói cho người ấy biết điều đó. Nếu người ấy chịu nghe thì con được lại anh em.
Nhưng nếu người ấy không chịu nghe thì hãy đem một hay hai người đi với con, để dựa vào lời của hai hoặc ba nhân chứng mà mọi lời được xác nhận.
Nếu người ấy vẫn không chịu nghe những người nầy thì hãy báo cho Hội Thánh; và nếu người ấy không chịu nghe Hội Thánh thì hãy xem người ấy như người ngoại và kẻ thu thuế.
Thật, Ta bảo các con, hễ điều gì các con buộc ở dưới đất cũng sẽ bị buộc ở trên trời; và điều gì các con mở ở dưới đất cũng sẽ được mở ở trên trời.
Ta lại bảo các con, nếu hai người trong các con hiệp ý với nhau ở dưới đất mà cầu xin bất cứ điều gì thì Cha Ta ở trên trời sẽ ban cho họ.
Vì nơi nào có hai, ba người nhân danh Ta họp nhau lại thì Ta sẽ ở giữa họ.”
Lúc ấy, Phi-e-rơ đến gần Đức Chúa Jêsus và hỏi: “Thưa Chúa, nếu anh em con phạm lỗi với con thì con sẽ tha thứ cho họ mấy lần? Có phải đến bảy lần chăng?”
Ngài đáp: “Ta không nói với con chỉ bảy lần đâu, nhưng là bảy mươi lần bảy.
Vậy nên, vương quốc thiên đàng ví như vị vua kia muốn kết toán sổ sách với các đầy tớ của mình.
Khi vua bắt đầu soát sổ, người ta đem đến cho vua một người mắc nợ vua mười nghìn ta-lâng.
Vì người ấy không có gì để trả nên vua ra lệnh bán người, vợ con và tất cả tài sản, để trả nợ.
Người đầy tớ quỳ xuống van nài: ‘Thưa chúa, xin hoãn cho tôi thì tôi sẽ trả hết!’
Vua động lòng thương, thả người ấy về và tha nợ cho.
Nhưng khi đầy tớ ấy ra về, gặp một đồng bạn mắc nợ mình một trăm đơ-ni-ê thì tóm lấy cổ và nói: ‘Hãy trả hết nợ đi.’
Bạn quỳ xuống, nài nỉ: ‘Xin hoãn cho tôi thì tôi sẽ trả cho anh.’
Nhưng người nầy không chịu, cứ bắt bạn bỏ tù cho đến lúc trả hết nợ.
Những đồng bạn khác thấy vậy thì rất buồn, đến thuật lại với vua mọi việc đã xảy ra.
Vua truyền gọi đầy tớ ấy đến và nói: ‘Hỡi đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi van nài ta;
thế sao ngươi lại không thương xót đồng bạn mình, như ta đã thương xót ngươi?’
Vua nổi giận, giao nó cho cai ngục cho đến khi nào trả xong hết nợ.
Nếu mỗi người trong các con không hết lòng tha thứ anh em mình thì Cha Ta trên trời cũng đối xử với các con như vậy.”
Khi dạy những điều nầy xong, Đức Chúa Jêsus rời miền Ga-li-lê đi đến miền Giu-đê, bên kia sông Giô-đanh.
Đoàn người rất đông đi theo Ngài; tại đó Ngài chữa lành bệnh cho họ.
Những người Pha-ri-si đến để thử Ngài và hỏi rằng: “Một người có được phép ly dị vợ vì bất cứ lý do nào không?”
Ngài đáp: “Các ngươi chưa đọc sao? Từ ban đầu Đấng Tạo Hóa đã tạo nên người nam và người nữ,
và phán: ‘Vì lý do đó, người nam sẽ lìa cha mẹ mà kết hợp với vợ mình; và hai người sẽ trở nên một thịt’.
Như thế vợ chồng không còn là hai nữa, mà chỉ là một thịt. Vậy, loài người không được phân rẽ những người mà Đức Chúa Trời đã phối hợp!”
Họ lại hỏi Ngài: “Nếu vậy, tại sao Môi-se lại truyền cấp giấy ly hôn, rồi bỏ vợ?”
Ngài đáp: “Vì lòng các ngươi cứng cỏi, nên Môi-se cho phép ly dị vợ; nhưng, từ lúc ban đầu không có như vậy.
Còn Ta nói với các ngươi: Hễ người nào không vì lý do gian dâm mà ly dị vợ và đi cưới người khác thì phạm tội ngoại tình.”
Các môn đồ thưa rằng: “Nếu chỉ có thể ly dị vợ vì lý do đó thôi thì thà không cưới vợ còn hơn.”
Nhưng Ngài đáp: “Không phải ai cũng có thể nhận được lời nầy đâu, song chỉ có những người được ban cho mà thôi.
Vì có những người bị hoạn từ lúc mới sinh; có người hoạn bởi tay người ta, và có người tự hoạn vì cớ vương quốc thiên đàng. Người nào có thể nhận được lời nầy, hãy nhận đi.”
Khi ấy người ta đem các con trẻ đến để Ngài đặt tay và cầu nguyện, nhưng các môn đồ quở trách họ.
Đức Chúa Jêsus phán: “Hãy để các con trẻ đến với Ta, đừng ngăn cản chúng vì vương quốc thiên đàng thuộc về những người giống như các con trẻ ấy.”
Ngài đặt tay trên các cháu, rồi rời khỏi nơi đó.
Lúc ấy, có một người đến hỏi Ngài: “Thưa Thầy, tôi phải làm điều lành nào để được sự sống đời đời?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Sao ngươi hỏi Ta về điều lành? Chỉ có một Đấng trọn lành mà thôi. Nếu ngươi muốn vào sự sống, hãy tuân giữ các điều răn.”
Người ấy hỏi: “Những điều răn nào?” Đức Chúa Jêsus đáp: “Ngươi chớ giết người; chớ gian dâm; chớ trộm cắp; chớ làm chứng dối;
hãy hiếu kính cha mẹ ngươi và hãy yêu thương người lân cận như chính bản thân mình.”
Người thanh niên ấy thưa: “Tôi đã vâng giữ tất cả những điều nầy, tôi còn thiếu điều gì không?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Nếu ngươi muốn được trọn vẹn, hãy đi, bán những gì mình có và phân phát cho người nghèo thì ngươi sẽ có kho báu ở trên trời; rồi hãy đến theo Ta.”
Khi nghe lời nầy, thanh niên ấy buồn bã bỏ đi, vì anh ta có quá nhiều của cải.
Đức Chúa Jêsus phán với các môn đồ: “Thật, Ta bảo các con, người giàu vào thiên đàng quả là khó.
Ta lại nói với các con, lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào vương quốc Đức Chúa Trời.”
Các môn đồ nghe điều nầy, thì vô cùng kinh ngạc và nói rằng: “Vậy thì ai có thể được cứu?”
Đức Chúa Jêsus nhìn họ và phán: “Loài người không thể làm được điều nầy, nhưng Đức Chúa Trời làm được mọi sự.”
Phi-e-rơ thưa rằng: “Thưa Thầy, chúng con đã bỏ tất cả mà theo Thầy, vậy thì chúng con sẽ được gì?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Thật, Ta bảo các con, đến thời đại muôn vật đổi mới, khi Con Người sẽ ngự trên ngai vinh quang của Ngài thì các con là những người đã theo Ta, cũng sẽ ngồi trên mười hai ngai, để xét đoán mười hai bộ tộc Y-sơ-ra-ên.
Bất cứ người nào vì danh Ta mà từ bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng, người ấy sẽ nhận được gấp trăm lần hơn, và thừa hưởng sự sống đời đời.
Nhưng có nhiều người đầu sẽ trở nên cuối, và người cuối sẽ trở nên đầu.”
“Vương quốc thiên đàng giống như một chủ nông trại kia, sáng sớm đi ra thuê người làm công trong vườn nho của mình.
Sau khi đã thỏa thuận với các người làm công mỗi ngày một đơ-ni-ê, người chủ sai họ vào vườn nho.
Khoảng chín giờ sáng, người chủ trở ra, thấy những người khác rảnh rỗi đang đứng trong chợ
thì bảo họ rằng: ‘Các anh hãy vào vườn nho của tôi, tôi sẽ trả công phải chăng cho.’ Họ liền đi.
Khoảng mười hai giờ trưa, và ba giờ chiều, người chủ lại ra, và cũng làm y như vậy.
Khoảng năm giờ chiều, người chủ đi ra và thấy những người khác đang đứng thì nói với họ rằng: ‘Sao các anh đứng không ở đây cả ngày vậy?’
Họ trả lời: ‘Vì không ai thuê chúng tôi cả.’ Người chủ nói với họ: ‘Các anh cũng hãy đi vào vườn nho của tôi.’
Đến tối, chủ vườn nho nói với người quản lý rằng: ‘Hãy gọi những người làm công đến và trả công cho họ, bắt đầu từ người cuối đến người đầu.’
Những người được thuê từ năm giờ chiều đến, mỗi người lãnh được một đơ-ni-ê.
Khi những người đầu đến, họ tưởng sẽ được nhiều hơn; nhưng họ cũng lãnh được một đơ-ni-ê.
Lúc nhận tiền công, họ cằn nhằn với chủ.
Họ nói: ‘Những người cuối nầy chỉ làm có một giờ, mà chủ cũng đối xử ngang bằng với chúng tôi là những người đã phải làm nặng nhọc và dang nắng cả ngày.’
Nhưng chủ trả lời với một người trong bọn họ rằng: ‘Bạn ơi, tôi không đối xử bất công với bạn đâu! Chẳng phải bạn đã thỏa thuận với tôi một đơ-ni-ê đó sao?
Hãy cầm lấy tiền công của bạn, rồi đi đi; tôi muốn trả cho người cuối nầy như đã trả cho bạn vậy.
Chẳng lẽ tôi không được phép sử dụng những gì tôi có theo ý tôi sao? Hay là bạn thấy tôi rộng lượng mà ganh tị?’
Như vậy, người cuối sẽ nên đầu, còn người đầu sẽ nên cuối.”
Trong lúc đi lên thành Giê-ru-sa-lem, Đức Chúa Jêsus đem mười hai môn đồ riêng ra, và phán với họ rằng:
“Nầy, chúng ta đi lên thành Giê-ru-sa-lem, và Con Người sẽ bị nộp vào tay các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo. Họ sẽ kết án tử hình Ngài,
rồi giao Ngài cho dân ngoại để chúng chế nhạo, đánh đòn, và đóng đinh trên thập tự giá. Nhưng đến ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại.”
Lúc ấy, có mẹ của các con trai Xê-bê-đê cùng hai con mình đến với Đức Chúa Jêsus, quỳ xuống và xin Ngài một việc.
Ngài hỏi: “Bà muốn xin điều gì?” Bà thưa: “Xin cho hai con trai của con đây, một đứa ngồi bên phải, một đứa bên trái của Chúa, trong vương quốc Ngài.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Các con không biết điều mình xin. Các con có thể uống chén Ta sắp uống không?” Họ đáp: “Thưa, có thể được.”
Ngài nói với họ: “Các con sẽ uống chén của Ta; còn việc ngồi bên phải hay bên trái Ta, thì Ta không cho được. Vị trí ấy dành cho những người mà Cha Ta đã chuẩn bị.”
Nghe vậy, mười môn đồ kia rất tức giận hai anh em nầy.
Nhưng Đức Chúa Jêsus gọi họ đến và khuyên rằng: “Các con biết các nhà cầm quyền của dân ngoại thống trị dân, còn những quan chức cao cấp thì dùng quyền lực mà cai trị.
Nhưng giữa các con thì không phải vậy; trái lại, ai muốn làm lớn trong các con, thì phải làm đầy tớ;
còn ai muốn đứng đầu, thì phải làm nô lệ cho các con.
Ngay cả Con Người đã đến, không phải để được người ta phục vụ mình, nhưng để phục vụ người ta và phó mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người.”
Khi Đức Chúa Jêsus và các môn đồ ra khỏi thành Giê-ri-cô, một đoàn người rất đông đi theo Ngài.
Kìa, có hai người mù ngồi bên đường, nghe nói Đức Chúa Jêsus đi qua đó thì kêu lên: “Lạy Con vua Đa-vít, xin thương xót chúng con!”
Dân chúng rầy họ, bảo im đi; nhưng họ càng kêu lớn hơn: “Lạy Chúa, Con vua Đa-vít, xin đoái thương chúng con!”
Đức Chúa Jêsus dừng lại, gọi họ đến và nói rằng: “Các con muốn Ta làm gì cho các con?”
Họ thưa: “Lạy Chúa, xin cho mắt chúng con được mở ra!”
Đức Chúa Jêsus cảm thương, nên chạm vào mắt họ. Lập tức họ được sáng mắt và đi theo Ngài.
Khi Đức Chúa Jêsus và các môn đồ gần đến thành Giê-ru-sa-lem, lúc vào làng Bết-pha-giê, bên núi Ô-liu, Ngài sai hai môn đồ đi,
và dặn rằng: “Hãy đi vào làng đối diện, các con sẽ gặp ngay một con lừa cái bị buộc, bên cạnh có một lừa con. Hãy mở dây và dắt chúng về cho Ta.
Nếu có ai nói gì, các con hãy trả lời rằng: ‘Chúa cần đến chúng’, người ấy sẽ cho dắt lừa đi ngay.”
Việc nầy xảy ra để ứng nghiệm lời của nhà tiên tri nói rằng:
“Hãy nói với con gái Si-ôn rằng: Kìa, vua ngươi đến với ngươi, Nhu mì, cưỡi lừa, Và ngồi trên lừa con, là con của lừa cái.”
Hai môn đồ đi và làm đúng như lời Đức Chúa Jêsus đã dặn.
Họ dắt lừa cái và lừa con về, trải áo mình trên lưng chúng, rồi Ngài cưỡi lên.
Rất nhiều người trong dân chúng trải áo mình trên đường, một số khác chặt cành cây và rải trên đường.
Đoàn người, kẻ đi trước, người theo sau đều hô vang: “Hô-sa-na Con của Đa-vít! Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến! Hô-sa-na trên nơi chí cao!”
Khi Ngài vào Giê-ru-sa-lem, cả thành đều xôn xao, nói rằng: “Người nầy là ai?”
Đoàn người trả lời: “Ấy là Đấng tiên tri Jêsus ở Na-xa-rét, thuộc miền Ga-li-lê.”
Đức Chúa Jêsus vào đền thờ của Đức Chúa Trời, đuổi hết những kẻ bán, người mua trong đền thờ, lật bàn của những kẻ đổi tiền và ghế của những người bán bồ câu.
Ngài phán với họ: “Có lời chép: ‘Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện’, Nhưng các ngươi biến nơi ấy thành hang trộm cướp.”
Những người mù và què đến với Ngài trong đền thờ đều được Ngài chữa lành.
Nhưng khi các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo thấy những việc lạ lùng Ngài làm, và nghe trẻ em reo lên trong đền thờ: “Hô-sa-na Con của Đa-vít” thì họ rất tức giận
và nói với Ngài rằng: “Thầy có nghe những đứa trẻ nầy nói gì không?” Đức Chúa Jêsus đáp: “Có, vậy các ngươi chưa hề đọc lời nầy: ‘Chúa đã được ca ngợi bởi miệng trẻ thơ và trẻ con đang bú’ hay sao?”
Rồi Ngài rời họ, ra khỏi thành, đến làng Bê-tha-ni và nghỉ đêm tại đó.
Sáng hôm sau, khi trở lại thành thì Ngài đói.
Thấy một cây vả bên đường, Ngài đến gần nhưng chẳng thấy gì khác ngoài lá. Ngài nói với cây vả: “Mầy sẽ chẳng bao giờ ra trái nữa!” Cây vả liền khô đi.
Thấy vậy, các môn đồ rất kinh ngạc, nói rằng: “Làm thế nào mà cây vả lại khô ngay như vậy?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Thật, Ta bảo các con, nếu các con có đức tin và chẳng hề nghi ngờ thì không những các con làm được điều Ta đã làm cho cây vả, mà ngay cả việc bảo hòn núi nầy rằng: ‘Hãy nhấc mình lên và lao xuống biển’ thì điều đó cũng sẽ xảy ra.
Trong khi cầu nguyện, bất cứ điều gì các con lấy đức tin mà cầu xin đều sẽ nhận được cả.”
Đức Chúa Jêsus vào đền thờ; lúc Ngài đang giảng dạy, các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân đến chất vấn: “Bởi thẩm quyền nào mà Thầy làm những việc nầy, và ai đã cho Thầy thẩm quyền ấy?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Ta cũng hỏi các ngươi một câu, nếu trả lời được, thì Ta sẽ nói cho các ngươi biết Ta làm những việc nầy bởi thẩm quyền nào.
Báp-têm của Giăng đến từ đâu? Từ trời hay từ loài người?” Họ bàn luận với nhau: “Nếu chúng ta nói: ‘Từ trời’ thì ông ấy sẽ nói với chúng ta: ‘Vậy, tại sao các ngươi không tin Giăng?’
Còn nếu chúng ta nói: ‘Từ loài người’ thì chúng ta ngại dân chúng, vì mọi người đều cho rằng Giăng là một nhà tiên tri.”
Vì vậy, họ trả lời Đức Chúa Jêsus: “Chúng tôi không biết.” Ngài bảo họ: “Ta cũng sẽ không nói cho các ngươi biết bởi thẩm quyền nào Ta làm những việc nầy.”
“Các ngươi nghĩ sao? Một người kia có hai con trai; ông ấy đến nói với người con thứ nhất: ‘Con ơi, hôm nay con hãy đi làm trong vườn nho.’
Người con ấy trả lời: ‘Con không đi,’ nhưng sau ăn năn, rồi đi.
Ông đến với người con thứ hai và cũng nói như vậy. Người con nầy thưa: ‘Vâng, con đi đây,’ nhưng rồi không đi.
Trong hai con trai đó, người nào làm theo ý cha?” Họ đáp: “Người con thứ nhất.” Đức Chúa Jêsus phán với họ rằng: “Thật, Ta bảo các ngươi, những người thu thuế và gái mại dâm sẽ được vào vương quốc Đức Chúa Trời trước các ngươi.
Vì Giăng đến để chỉ cho các ngươi đường lối công chính, nhưng các ngươi không tin; còn những người thu thuế và gái mại dâm đã tin người, ngay cả khi các ngươi thấy như vậy, các ngươi vẫn không ăn năn và tin người.”
“Hãy nghe một ẩn dụ khác. Có một người kia trồng một vườn nho, rào chung quanh, bên trong đào một hầm ép rượu, xây một tháp canh, và cho những kẻ trồng nho thuê, rồi đi qua xứ khác.
Đến mùa hái nho, chủ sai các đầy tớ đến với những kẻ trồng nho để thu hoa lợi.
Nhưng chúng bắt các đầy tớ, đánh người nầy, giết người kia, và ném đá người nọ.
Người chủ lại sai các đầy tớ khác, đông hơn trước, thì chúng vẫn đối xử với họ như vậy.
Cuối cùng, người chủ sai chính con trai mình đến với chúng, vì nghĩ rằng: ‘Chúng sẽ kính nể con ta.’
Nhưng khi những kẻ trồng nho thấy người con trai ấy thì nói với nhau: ‘Đây là đứa con thừa kế. Nào, chúng ta hãy giết nó đi và đoạt lấy gia tài của nó.’
Chúng bắt người con ấy, ném ra ngoài vườn nho và giết đi.
Vậy, khi chủ vườn nho đến sẽ xử bọn trồng nho ấy thế nào?”
Họ trả lời: “Chủ sẽ giết chết bọn gian ác ấy một cách thê thảm, và cho những người trồng nho khác thuê, là những người sẽ nộp hoa lợi cho ông đúng mùa vụ.”
Đức Chúa Jêsus phán với họ: “Các ngươi chưa bao giờ đọc lời nầy trong Kinh Thánh sao: ‘Hòn đá bị thợ xây loại ra Đã trở nên đá đầu góc nhà; Đây là việc Chúa làm, Và ấy là sự diệu kỳ trước mắt chúng ta’?
Vậy nên, Ta nói với các ngươi, vương quốc Đức Chúa Trời sẽ bị cất khỏi các ngươi và ban cho một dân sẽ đem kết quả về cho vương quốc ấy.
Kẻ nào ngã trên đá nầy sẽ bị giập nát, còn đá ấy rơi nhằm ai thì sẽ nghiền nát người ấy.”
Các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si nghe những ẩn dụ nầy thì nhận biết Ngài đang nói về mình.
Họ tìm cách bắt Ngài nhưng lại sợ dân chúng, vì mọi người đều nhìn nhận Ngài là một Đấng tiên tri.
Đức Chúa Jêsus lại dùng ẩn dụ phán với họ:
“Vương quốc thiên đàng giống như một vị vua kia tổ chức tiệc cưới cho con mình.
Vua sai đầy tớ đi nhắc những người được mời đến dự tiệc cưới, nhưng họ không đến.
Vua lại sai những đầy tớ khác và dặn rằng: ‘Hãy nói với những người được mời rằng: Kìa, thức ăn đã chuẩn bị xong, bò và các thú béo đã làm thịt rồi, mọi thứ đã sẵn sàng. Hãy đến dự tiệc cưới.’
Nhưng họ chẳng quan tâm gì đến lời mời, cứ bỏ đi: người đi ra ruộng, kẻ đi buôn bán,
còn những người khác thì bắt các đầy tớ của vua, đối xử thậm tệ, rồi giết đi.
Vua nổi giận, sai binh lính tiêu diệt những kẻ giết người đó và đốt thành của họ.
Sau đó, vua nói với các đầy tớ: ‘Tiệc cưới đã sẵn sàng, nhưng những người được mời chẳng ai xứng đáng dự.
Vì vậy, hãy đi ra các đường chính, hễ gặp bất cứ ai, hãy mời đến dự tiệc cưới.’
Các đầy tớ đi khắp các ngã đường, tập hợp tất cả những người nào họ gặp, không phân biệt xấu, tốt. Vì vậy, phòng tiệc đầy khách mời.
Nhưng khi vua vào xem khách dự tiệc, thấy một người không mặc trang phục tiệc cưới
thì nói với người ấy rằng: ‘Nầy bạn, làm cách nào bạn không mặc trang phục tiệc cưới mà lại vào đây được?’ Người ấy lặng thinh.
Vua truyền cho các đầy tớ: ‘Hãy trói tay chân nó lại và ném ra chỗ bóng tối bên ngoài, nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng.’
Vì nhiều người được gọi, nhưng ít người được chọn.”
Bấy giờ những người Pha-ri-si đi ra, bàn mưu để gài bẫy Đức Chúa Jêsus trong lời nói.
Họ sai các môn đồ mình cùng những người thuộc phe Hê-rốt đến thưa với Đức Chúa Jêsus rằng: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân chính và dạy đường lối của Đức Chúa Trời cách trung thực, không vị nể ai, vì Thầy không nhìn bề ngoài của người ta.
Vậy, xin Thầy cho chúng tôi biết ý kiến: Việc nộp thuế cho Sê-sa có đúng luật hay không?”
Nhưng Đức Chúa Jêsus biết ác ý của họ nên đáp rằng: “Hỡi những kẻ đạo đức giả, tại sao các ngươi thử Ta?
Hãy cho Ta xem một đồng tiền nộp thuế.” Họ đem cho Ngài một đơ-ni-ê.
Ngài hỏi: “Hình và hiệu nầy của ai?”
Họ trả lời: “Của Sê-sa.” Ngài phán: “Vậy hãy trả cho Sê-sa những gì của Sê-sa, và hãy trả cho Đức Chúa Trời những gì của Đức Chúa Trời.”
Khi nghe lời ấy, họ ngạc nhiên và bỏ Ngài mà đi.
Cùng ngày đó, những người Sa-đu-sê, là nhóm người cho rằng không có sự sống lại, đến với Ngài và hỏi:
“Thưa Thầy, Môi-se có nói: ‘Nếu một người chết mà không có con thì người em phải lấy vợ góa của anh để có con nối dõi cho anh mình.’
Bây giờ, trong chúng tôi có bảy anh em; người anh cả lấy vợ, rồi chết, nhưng vì không có con nên để vợ lại cho em.
Người thứ hai, thứ ba, cho đến thứ bảy cũng vậy.
Cuối cùng, người đàn bà cũng chết.
Như vậy, lúc sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ của ai trong bảy người? Vì tất cả đều đã lấy nàng.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Các ngươi lầm rồi, bởi các ngươi vừa không hiểu Kinh Thánh, vừa không hiểu quyền năng của Đức Chúa Trời.
Vì lúc sống lại, người ta sẽ không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng, nhưng giống như thiên sứ trên trời vậy.
Còn về sự sống lại của người chết, các ngươi chưa đọc lời Đức Chúa Trời phán:
‘Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp’ hay sao? Ngài không phải là Đức Chúa Trời của kẻ chết, nhưng của người sống.”
Khi dân chúng nghe lời nầy, họ rất kinh ngạc về sự dạy dỗ của Ngài.
Khi nghe nói Đức Chúa Jêsus đã khiến cho nhóm Sa-đu-sê phải im miệng thì những người Pha-ri-si họp nhau lại.
Một luật gia trong nhóm họ nêu câu hỏi để thử Ngài:
“Thưa Thầy, trong luật pháp, điều răn nào quan trọng nhất?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “‘Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết tâm trí mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi.’
Ấy là điều răn thứ nhất và quan trọng hơn hết.
Còn điều răn thứ hai cũng giống như vậy: ‘Ngươi phải yêu người lân cận như chính mình.’
Tất cả luật pháp và lời tiên tri đều tùy thuộc vào hai điều nầy.”
Trong lúc những người Pha-ri-si tụ họp lại, thì Đức Chúa Jêsus hỏi họ rằng:
“Các ngươi nghĩ thế nào về Đấng Christ? Ngài là Con ai?” Họ đáp: “Con vua Đa-vít.”
Ngài hỏi: “Như vậy, làm thế nào vua Đa-vít lúc được Thánh Linh cảm thúc lại gọi Ngài là Chúa và nói rằng:
‘Chúa phán với Chúa tôi: Hãy ngồi bên phải Ta, Cho đến khi Ta đặt kẻ thù nghịch Con dưới chân Con’?
Nếu vua Đa-vít gọi Ngài là ‘Chúa’ thì làm sao Ngài là con vua ấy được?”
Không ai có thể đáp được một lời, và cũng từ ngày ấy, không ai dám hỏi Ngài điều gì nữa.
Lúc ấy, Đức Chúa Jêsus phán với dân chúng và các môn đồ rằng:
“Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si đều ngồi trên ghế của Môi-se.
Vậy, hãy làm theo và tuân giữ những gì họ bảo các ngươi; nhưng đừng bắt chước những gì họ làm, vì họ chỉ nói mà không làm.
Họ buộc và chất những gánh nặng khó mang trên vai người ta, còn chính họ thì chẳng động ngón tay vào.
Họ làm việc gì cũng cốt để cho người ta thấy. Vì vậy, họ làm những thẻ kinh thật rộng, rủ tua áo cho dài;
họ thích ngồi chỗ danh dự trong bữa tiệc và những ghế quan trọng nhất trong các nhà hội;
họ muốn được chào giữa phố chợ và được gọi là thầy!
Nhưng các ngươi đừng để người nào gọi mình là thầy; vì các ngươi chỉ có một Thầy, còn mọi người đều là anh em.
Cũng đừng gọi bất cứ người nào trên đất nầy là cha; vì các ngươi chỉ có một Cha, là Đấng ở trên trời.
Cũng đừng để người nào gọi mình là chủ; vì các ngươi chỉ có một Chủ, là Đấng Christ.
Ai là người lớn hơn hết giữa các ngươi sẽ làm đầy tớ các ngươi.
Hễ ai tự tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn người nào tự hạ mình xuống sẽ được tôn lên.
Khốn cho các ngươi, các thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là những kẻ đạo đức giả! Vì các ngươi đóng cửa thiên đàng trước mặt người ta; chẳng những chính các ngươi đã không vào mà lại còn ngăn cản những ai muốn vào nữa.
Khốn cho các ngươi, các thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là những kẻ đạo đức giả! Vì các ngươi đi khắp biển cả và đất liền để đem được một người vào đạo; nhưng khi người ấy nhập đạo rồi, các ngươi làm cho người ấy trở nên con của hỏa ngục gấp đôi các ngươi.
Khốn cho các ngươi, những kẻ dẫn đường mù quáng, các ngươi bảo rằng: ‘Nếu người nào chỉ đền thờ mà thề thì không can gì; nhưng nếu chỉ vàng của đền thờ mà thề thì bị ràng buộc.’
Hỡi những kẻ ngu dại mù quáng kia! Vàng hay đền thờ làm cho vàng nên thánh, cái nào trọng hơn?
Các ngươi bảo rằng: ‘Nếu người nào chỉ bàn thờ mà thề thì không can gì, nhưng nếu chỉ lễ vật trên bàn thờ mà thề thì bị ràng buộc.’
Hỡi những kẻ mù quáng! Lễ vật hay bàn thờ làm cho lễ vật nên thánh, cái nào trọng hơn?
Vì vậy, người nào chỉ bàn thờ mà thề tức là chỉ bàn thờ lẫn lễ vật trên đó mà thề;
người nào chỉ đền thờ mà thề tức là chỉ đền thờ lẫn Đấng ngự tại nơi ấy mà thề;
còn người nào chỉ trời mà thề, tức là chỉ ngai của Đức Chúa Trời lẫn Đấng ngự trên ngai mà thề.
Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là những kẻ đạo đức giả! Vì các ngươi dâng một phần mười bạc hà, hồi hương và rau cần, nhưng lại lãng quên những vấn đề trọng đại hơn của luật pháp là công lý, lòng thương xót, và đức tin. Các ngươi phải làm những điều nầy, nhưng cũng không được lãng quên các điều kia.
Hỡi những kẻ dẫn đường mù quáng, các ngươi lọc con ruồi mà lại nuốt con lạc đà!
Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là những kẻ đạo đức giả! Vì các ngươi rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy dẫy sự tham lam và phóng túng.
Hỡi người Pha-ri-si mù quáng! Trước hết, phải rửa bên trong chén đĩa, để bên ngoài cũng được sạch.
Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là những kẻ đạo đức giả! Vì các ngươi giống như những mồ mả tô trắng, bên ngoài có vẻ đẹp đẽ, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và mọi thứ ô uế.
Các ngươi cũng vậy, bên ngoài làm ra vẻ công chính trước mặt người ta, nhưng bên trong thì đầy sự gian ác và đạo đức giả.
Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là những kẻ đạo đức giả! Vì các ngươi xây mộ của các nhà tiên tri, trang hoàng mả của những người công chính,
và nói: ‘Nếu ở cùng thời với các tổ phụ, chúng tôi chắc không tham dự với họ trong việc làm đổ máu các nhà tiên tri.’
Như vậy, các ngươi đã tự xác chứng rằng mình là con cháu của những kẻ sát hại các nhà tiên tri.
Thế thì, hãy đổ cho đầy cái lường tội lỗi của tổ phụ các ngươi đi!
Hỡi loài rắn, dòng dõi rắn độc kia, làm thế nào các ngươi thoát khỏi sự đoán phạt của hỏa ngục được?
Vì vậy, Ta sai các nhà tiên tri, những người khôn ngoan, các thầy thông giáo đến với các ngươi thì các ngươi sẽ giết và đóng đinh những người nầy vào thập tự giá, đánh đòn những người khác trong nhà hội và bắt bớ họ từ thành nầy đến thành kia,
để cho máu của tất cả những người công chính đã chảy ra trên đất đều đổ trên các ngươi, từ máu vô tội của A-bên cho đến máu của Xa-cha-ri con trai Ba-ra-chi, người mà các ngươi đã giết ở giữa khoảng Nơi Thánh và bàn thờ.
Thật, Ta bảo các ngươi, tất cả những điều ấy sẽ xảy đến cho thế hệ nầy.”
“Hỡi Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem! Ngươi giết các nhà tiên tri và ném đá những người được sai đến với ngươi! Đã bao lần Ta muốn tụ họp con cái ngươi như gà mẹ túc con mình lại, ấp ủ dưới cánh mà các ngươi không muốn!
Nầy, nhà các ngươi sẽ bị hoang phế!
Vì Ta bảo các ngươi, các ngươi sẽ không thấy Ta nữa, cho đến lúc các ngươi nói: ‘Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến!’”
Khi Đức Chúa Jêsus đang ra khỏi đền thờ, các môn đồ đến gần chỉ cho Ngài xem những công trình kiến trúc của đền thờ.
Ngài nói: “Các con nhìn thấy tất cả những điều nầy phải không? Thật, Ta bảo các con, nơi nầy sẽ không còn một viên đá nào chồng trên viên đá khác mà không bị đổ xuống.”
Khi Ngài đang ngồi trên núi Ô-liu, các môn đồ đến hỏi riêng Ngài rằng: “Xin nói cho chúng con biết bao giờ việc ấy sẽ xảy ra, và có điềm gì báo trước về sự quang lâm của Thầy và thời kỳ tận thế?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Hãy cảnh giác, đừng để ai lừa dối các con.
Vì có nhiều kẻ sẽ mạo danh Ta đến mà nói rằng: ‘Ta là Đấng Christ’ và sẽ dối gạt nhiều người.
Các con sẽ nghe về chiến tranh và tin đồn về chiến tranh. Hãy thận trọng, đừng bối rối! Vì việc nầy phải xảy ra, nhưng chưa phải là cuối cùng đâu.
Vì dân nầy sẽ nổi lên nghịch với dân khác, nước nọ chống đối nước kia; đói kém, động đất sẽ xảy ra ở nhiều nơi.
Tất cả những điều nầy chỉ là khởi đầu của các cơn đau chuyển dạ.
Khi ấy, người ta sẽ nộp các con, khiến các con bị hoạn nạn và giết chết các con; các con sẽ bị mọi dân tộc thù ghét vì danh Ta.
Bấy giờ, nhiều người sẽ vấp ngã, phản bội nhau, thù ghét nhau.
Nhiều kẻ tiên tri giả sẽ xuất hiện và lừa gạt nhiều người.
Và vì tội ác gia tăng, nên lòng yêu mến của nhiều người sẽ nguội dần.
Nhưng ai bền chí cho đến cuối cùng, thì sẽ được cứu.
Tin Lành về vương quốc Đức Chúa Trời sẽ được rao giảng khắp đất để làm chứng cho muôn dân; bấy giờ, sự cuối cùng sẽ đến.
Khi các con thấy điều gớm ghiếc gây nên cảnh hoang tàn cho Nơi Thánh, như lời nhà tiên tri Đa-ni-ên đã nói (ai đọc phải hiểu),
thì ai ở trong miền Giu-đê, hãy trốn lên núi;
ai ở trên mái nhà, đừng xuống chuyển đồ đạc trong nhà;
ai ở ngoài đồng, chớ trở về lấy áo choàng.
Trong những ngày ấy, khốn thay cho phụ nữ mang thai và các bà còn cho con bú!
Hãy cầu nguyện để các con không phải trốn chạy vào mùa đông hoặc vào ngày sa-bát;
vì lúc ấy sẽ có hoạn nạn lớn, đến nỗi từ lúc sáng thế đến bây giờ chưa từng có, và về sau cũng chẳng bao giờ có như vậy.
Nếu những ngày ấy không rút ngắn thì chẳng có một người nào được cứu; nhưng vì những người được chọn nên những ngày ấy sẽ được rút ngắn.
Khi ấy, nếu có ai nói với các con rằng: ‘Kìa Đấng Christ ở đây,’ hay ‘ở đó’ thì đừng tin.
Vì những kẻ giả danh Đấng Christ và bọn tiên tri giả sẽ xuất hiện và làm nhiều dấu lạ, phép mầu lớn để dối gạt; và nếu có thể, chúng dối gạt cả những người được chọn.
Nầy, Ta đã nói trước cho các con rồi.
Vì vậy, nếu họ bảo các con rằng: ‘Kìa, Ngài ở trong hoang mạc’ thì đừng đến; ‘kìa, Ngài ở trong nhà’ thì đừng tin.
Vì như chớp phát ra từ phương đông, lóe sáng đến phương tây thể nào, thì Con Người cũng sẽ đến thể ấy.
Xác chết ở đâu, kên kên bâu lại đó.
Ngay sau những ngày hoạn nạn đó, mặt trời sẽ tối, mặt trăng sẽ không chiếu sáng, các ngôi sao sẽ từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời sẽ bị rúng động.
Khi ấy, dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện ở trên trời, mọi dân trên đất sẽ than khóc, và sẽ thấy Con Người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà đến.
Ngài sẽ sai thiên sứ mình dùng tiếng kèn vang dội để tụ họp những người được chọn ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời nầy đến tận phương trời kia.
Hãy rút ra bài học từ cây vả: Khi cành vừa đâm chồi, ra lá thì các con biết mùa hạ sắp đến.
Cũng vậy, khi các con thấy tất cả những điều nầy thì biết rằng Con Người đã đến gần, đang ở ngay trước cửa.
Thật, Ta bảo các con, thế hệ nầy sẽ không qua đi cho đến khi mọi điều ấy xảy đến.
Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời Ta nói sẽ không bao giờ qua đâu.”
“Còn về ngày và giờ đó thì không ai biết được, cả thiên sứ trên trời hay là Con cũng vậy, chỉ một mình Cha biết mà thôi.
Như trong thời Nô-ê thể nào thì lúc Con Người đến cũng thể ấy.
Trong những ngày trước nạn lụt, người ta ăn, uống, cưới, gả, cho đến ngày Nô-ê vào tàu;
họ không biết gì hết cho đến lúc nước lụt đến và cuốn đi tất cả. Khi Con Người đến cũng sẽ như vậy.
Lúc ấy, có hai người nam đang ở ngoài đồng: một người được đem đi, một người bị bỏ lại;
có hai người nữ đang xay cối: một người được đem đi, một người bị bỏ lại.
Vì vậy, hãy tỉnh thức, vì các con không biết ngày nào Chúa mình sẽ đến.
Hãy biết điều nầy, nếu chủ nhà biết canh nào kẻ trộm đến thì sẽ tỉnh thức, không để nó xâm nhập nhà mình.
Vì vậy, các con cũng phải sẵn sàng, vì Con Người đến trong giờ các con không ngờ.
Ai là đầy tớ trung tín và khôn ngoan, được chủ giao quản lý nhà mình để cấp phát thức ăn đúng giờ?
Phước cho đầy tớ ấy, khi chủ đến thấy làm như vậy!
Thật, Ta bảo các con, chủ sẽ giao cho đầy tớ ấy quản lý toàn bộ tài sản của mình.
Nhưng nếu là đầy tớ gian ác, nó thầm nghĩ rằng: ‘Chủ ta chưa về ngay đâu;’
rồi bắt đầu đánh đập các bạn cùng làm đầy tớ như mình, và ăn uống với phường say rượu.
Chủ sẽ đến trong ngày nó không ngờ, trong giờ nó không biết,
trừng phạt nó nặng nề, và cho nó chịu chung số phận với những kẻ đạo đức giả ở nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng.”
“Khi ấy, vương quốc thiên đàng sẽ ví như mười trinh nữ cầm đèn đi đón chàng rể.
Trong số đó, có năm cô dại và năm cô khôn.
Những cô dại đem đèn nhưng không đem dầu theo;
còn những cô khôn đem đèn và đem cả dầu theo.
Vì chàng rể đến trễ nên tất cả các cô đều buồn ngủ và ngủ thiếp đi.
Nhưng đến nửa đêm, có tiếng gọi: ‘Kìa, chàng rể đến! Hãy ra đón người!’
Các trinh nữ thức dậy và sửa soạn đèn của mình.
Các cô dại nói với các cô khôn rằng: ‘Xin các chị sớt cho chúng tôi ít dầu vì đèn chúng tôi sắp tắt.’
Nhưng các cô khôn trả lời: ‘Không thể được, sẽ không đủ cho cả chúng tôi và các chị; tốt hơn, các chị nên đi đến người bán dầu mà mua.’
Nhưng trong lúc họ đi mua, thì chàng rể đến. Những người đã sẵn sàng thì đi với chàng rể vào tiệc cưới, và cửa đóng lại.
Một lúc sau, các trinh nữ kia cũng đến, thưa rằng: ‘Chủ ơi, chủ ơi, xin mở cửa cho chúng tôi!’
Nhưng người chủ đáp: ‘Ta nói thật với các cô, ta không biết các cô là ai cả.’
Vậy, hãy tỉnh thức, vì các con không biết ngày, cũng không biết giờ.”
“Khi ấy, vương quốc thiên đàng sẽ giống như một người sắp lên đường đi xa, gọi các đầy tớ lại và giao tài sản mình cho họ.
Chủ giao cho người nầy năm ta-lâng, người kia hai, người khác một, tùy theo khả năng của từng người. Rồi chủ lên đường.
Người đã nhận năm ta-lâng liền đi làm lợi ra, và được thêm năm ta-lâng nữa.
Người nhận hai ta-lâng cũng vậy, được thêm hai ta-lâng nữa.
Nhưng, người đã nhận một ta-lâng thì đi đào đất và giấu bạc của chủ.
Sau một thời gian dài, chủ của những đầy tớ nầy trở về và tính sổ với họ.
Người đã nhận năm ta-lâng đến, đem thêm năm ta-lâng nữa, và nói: ‘Thưa chủ, chủ đã giao cho tôi năm ta-lâng, đây nầy, tôi đã làm lợi thêm được năm ta-lâng nữa.’
Chủ nói với người ấy: ‘Hỡi đầy tớ ngay lành và trung tín kia, được lắm! Ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi cai quản nhiều. Hãy vào chung hưởng niềm vui với chủ ngươi.’
Người đã nhận hai ta-lâng cũng đến và nói: ‘Thưa chủ, chủ đã giao cho tôi hai ta-lâng, đây nầy, tôi đã làm lợi thêm được hai ta-lâng nữa.’
Chủ nói với người ấy rằng: ‘Hỡi đầy tớ ngay lành và trung tín kia, được lắm! Ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi cai quản nhiều. Hãy vào chung hưởng niềm vui với chủ ngươi.’
Người đã nhận một ta-lâng cũng đến và nói: ‘Thưa chủ, tôi biết chủ là người khắt khe, gặt chỗ mình không gieo, thu chỗ mình không rải ra;
nên tôi sợ và đi giấu ta-lâng của chủ ở dưới đất. Đây, xin hoàn lại cho chủ những gì của chủ.’
Nhưng chủ đáp rằng: ‘Hỡi đầy tớ gian ác và lười biếng kia! Có phải ngươi biết rằng ta gặt chỗ ta không gieo, và thu chỗ ta không rải ra không?
Thế thì, lẽ ra ngươi phải giao bạc của ta cho những người buôn bạc, để khi ta trở về sẽ nhận cả vốn lẫn lời chứ.
Vậy, hãy lấy ta-lâng khỏi tên nầy và cho người có mười ta-lâng.
Vì ai có, sẽ cho thêm để họ được dư dật; nhưng ai không có, sẽ bị cất luôn cả điều họ có nữa.
Còn tên đầy tớ vô ích kia, hãy ném nó ra chỗ bóng tối bên ngoài, nơi đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng.’”
“Khi Con Người ngự đến trong vinh quang mình cùng với tất cả các thiên sứ, Ngài sẽ ngồi trên ngai vinh quang.
Muôn dân sẽ tụ họp trước mặt Ngài; và Ngài sẽ chia họ ra như người chăn chia chiên và dê ra:
để chiên bên phải, và dê bên trái.
Lúc ấy, Vua sẽ phán với những người ở bên phải rằng: ‘Hỡi những người được Cha Ta ban phước, hãy đến thừa hưởng vương quốc thiên đàng đã chuẩn bị sẵn cho các con từ khi tạo dựng trời đất.
Vì Ta đói, các con cho Ta ăn; Ta khát, các con cho Ta uống; Ta là khách lạ, các con tiếp rước Ta;
Ta trần truồng, các con mặc cho Ta; Ta ốm đau, các con chăm sóc Ta; Ta bị tù, các con thăm viếng Ta.’
Lúc ấy, những người công chính thưa với Ngài: ‘Lạy Chúa, có khi nào chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn, hoặc khát mà cho uống đâu?
Có khi nào chúng con thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước, hoặc trần truồng mà mặc cho Ngài đâu?
Hay có khi nào chúng con thấy Chúa ốm đau hoặc bị tù mà thăm viếng Ngài đâu?’
Vua sẽ trả lời rằng: ‘Thật, Ta bảo các con, khi các con làm điều ấy cho một người thấp kém nhất trong những anh em nầy của Ta, tức là đã làm cho Ta.’
Kế đó, Ngài phán với những người ở bên trái rằng: ‘Hỡi những kẻ bị nguyền rủa, hãy lui ra khỏi Ta, đi vào lửa đời đời đã chuẩn bị sẵn cho quỷ vương và những quỷ sứ của nó.
Vì Ta đói, các ngươi không cho Ta ăn; Ta khát, các ngươi không cho Ta uống;
Ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước Ta; Ta trần truồng, các ngươi không mặc cho Ta; Ta ốm đau và bị tù, các ngươi không thăm viếng Ta.’
Lúc ấy, những người nầy cũng trả lời: ‘Lạy Chúa, có khi nào chúng tôi thấy Chúa đói, hoặc khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, hoặc ốm đau, hoặc bị tù mà không phục vụ Ngài đâu?’
Ngài sẽ đáp lại rằng: ‘Thật, Ta bảo các ngươi, khi các ngươi không làm điều đó cho một người thấp kém nhất trong những người nầy, tức là các ngươi đã không làm cho Ta.’
Rồi những kẻ nầy sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công chính sẽ vào sự sống đời đời.”
Sau khi phán những lời ấy xong, Đức Chúa Jêsus nói với các môn đồ rằng:
“Các con biết còn hai ngày nữa là đến lễ Vượt Qua, và Con Người sẽ bị nộp để chịu đóng đinh trên thập tự giá.”
Lúc ấy, các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân chúng họp lại tại dinh thầy tế lễ thượng phẩm tên là Cai-phe
để cùng bàn mưu kế bắt và giết Đức Chúa Jêsus.
Tuy nhiên, họ nói: “Không nên ra tay trong dịp lễ, kẻo gây náo động trong dân chúng.”
Khi Đức Chúa Jêsus ở nhà Si-môn, một người phong hủi tại làng Bê-tha-ni,
có một phụ nữ đem một bình bằng ngọc đựng dầu thơm đắt tiền đến gần Ngài và đổ lên đầu Ngài trong lúc Ngài đang ngồi tại bàn ăn.
Các môn đồ thấy vậy thì tức giận và nói rằng: “Sao lãng phí như vậy?
Vì có thể bán dầu nầy lấy một số tiền lớn, đem giúp cho người nghèo.”
Nhưng Đức Chúa Jêsus biết điều nầy nên phán với các môn đồ: “Sao các con làm phiền người phụ nữ ấy? Người nầy đã thực hiện một việc tốt cho Ta.
Vì các con luôn có người nghèo ở quanh mình, nhưng không phải lúc nào cũng có Ta đâu.
Khi đổ dầu trên thân thể Ta, người phụ nữ ấy đã chuẩn bị cho việc chôn cất Ta.
Thật, Ta bảo các con, trên khắp thế giới, bất cứ nơi nào Tin Lành nầy được rao giảng thì việc người phụ nữ nầy đã làm sẽ được nhắc đến để tưởng nhớ người.”
Lúc ấy, có một người trong mười hai môn đồ, tên là Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, đến gặp các thầy tế lễ cả
và nói rằng: “Các ông sẽ trả cho tôi bao nhiêu nếu tôi nộp Người cho các ông?” Họ trả cho tên đó ba mươi miếng bạc.
Từ lúc ấy, Giu-đa tìm cơ hội để phản Ngài.
Bấy giờ, vào ngày thứ nhất của lễ Bánh Không Men, các môn đồ đến với Đức Chúa Jêsus và thưa rằng: “Thầy muốn ăn lễ Vượt Qua tại đâu để chúng con chuẩn bị?”
Ngài đáp: “Hãy vào thành, đến nhà một người và nói với người ấy rằng: ‘Thầy bảo: Giờ Ta gần đến, Ta và các môn đồ sẽ dự lễ Vượt Qua tại nhà của ngươi.’ ”
Các môn đồ làm đúng như lời Đức Chúa Jêsus đã dặn mà chuẩn bị lễ Vượt Qua.
Đến tối, Ngài ngồi ăn với mười hai môn đồ.
Khi đang ăn, Ngài phán: “Thật, Ta bảo các con, một người trong các con sẽ phản Ta.”
Các môn đồ rất buồn rầu và lần lượt hỏi: “Thưa Chúa, có phải con không?”
Ngài đáp: “Người nào chấm tay vào đĩa với Ta, sẽ phản Ta.
Con Người đi như điều đã chép về Ngài; nhưng khốn thay cho kẻ phản Con Người! Thà nó đừng sinh ra thì hơn!”
Giu-đa, kẻ phản bội Ngài hỏi: “Thưa thầy, có phải con không?” Ngài đáp: “Chính con đã nói như thế.”
Khi đang ăn, Đức Chúa Jêsus lấy bánh, cảm tạ, và bẻ ra trao cho các môn đồ, rồi phán: “Hãy lấy, ăn đi! Đây là thân thể Ta.”
Ngài lại lấy chén, tạ ơn, rồi trao cho các môn đồ và nói: “Tất cả các con, hãy uống đi!
Vì đây là huyết Ta, huyết của giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội.
Ta bảo các con, Ta sẽ không uống nước nho nầy nữa, cho đến ngày Ta sẽ cùng các con uống nước nho mới trong vương quốc của Cha Ta.”
Sau khi hát thánh ca, Đức Chúa Jêsus và các môn đồ ra đi, lên núi Ô-liu.
Lúc ấy, Ngài nói với họ rằng: “Đêm nay tất cả các con sẽ vấp ngã vì cớ Ta, như có chép rằng: ‘Ta sẽ đánh người chăn, Và chiên trong bầy sẽ tan tác.’
Nhưng sau khi Ta sống lại, Ta sẽ đến miền Ga-li-lê trước các con.”
Phi-e-rơ thưa: “Dù tất cả đều vấp ngã vì cớ Thầy đi nữa, con sẽ không bao giờ vấp ngã.”
Đức Chúa Jêsus đáp rằng: “Thật, Ta bảo con: Chính đêm nay, trước khi gà gáy, con sẽ chối Ta ba lần.”
Phi-e-rơ thưa: “Cho dù phải chết với Thầy đi nữa, con sẽ chẳng chối Thầy đâu.” Tất cả các môn đồ đều nói như vậy.
Sau đó, Đức Chúa Jêsus với các môn đồ đi đến một nơi gọi là Ghết-sê-ma-nê. Ngài bảo họ: “Hãy ngồi đây, trong lúc Ta đi cầu nguyện ở đằng kia.”
Rồi Ngài đem Phi-e-rơ và hai con trai Xê-bê-đê cùng đi. Ngài bắt đầu đau buồn và bối rối.
Ngài nói: “Linh hồn Ta đau buồn cho đến chết; các con hãy ở đây và tỉnh thức với Ta.”
Đi xa hơn một chút, Ngài sấp mặt xuống và cầu nguyện: “Cha ơi! Nếu có thể được, xin cho chén nầy lìa khỏi con! Dù vậy, không theo ý con, mà theo ý Cha.”
Ngài trở lại với các môn đồ và thấy họ đang ngủ, thì nói với Phi-e-rơ rằng: “Thế các con không thức với Ta được một giờ sao?
Hãy tỉnh thức và cầu nguyện để các con khỏi sa vào chước cám dỗ. Tâm linh thì tha thiết, mà xác thịt lại yếu đuối.”
Ngài lại đi lần thứ nhì và cầu nguyện rằng: “Cha ơi! Nếu chén nầy không thể cất đi được mà con phải uống, thì xin ý Cha được nên.”
Ngài trở lại, thấy các môn đồ vẫn ngủ, vì mắt họ đã quá đừ.
Vì vậy, Ngài rời họ, đi cầu nguyện lần thứ ba, và cầu xin y như lời trước.
Rồi Ngài đến với các môn đồ và nói với họ rằng: “Các con vẫn còn ngủ và nghỉ ngơi được sao? Kìa, giờ đã đến, Con Người sắp bị phản nộp vào tay kẻ có tội.
Hãy đứng dậy, chúng ta đi nào! Kìa, kẻ phản Ta đã đến.”
Trong lúc Đức Chúa Jêsus còn đang nói, thì Giu-đa, một trong mười hai môn đồ đến với một đám đông cầm gươm và gậy do các thầy tế lễ cả và các trưởng lão của dân chúng sai đến.
Bấy giờ, kẻ phản Ngài đã cho chúng một dấu hiệu: “Hễ tôi hôn ai thì chính là người ấy; hãy bắt lấy.”
Giu-đa liền đến gần Đức Chúa Jêsus và nói rằng: “Chào thầy!” Rồi hôn Ngài.
Nhưng Đức Chúa Jêsus nói với nó rằng: “Nầy bạn, bạn định làm gì thì cứ làm đi!” Rồi chúng đến, tra tay trên Đức Chúa Jêsus và bắt Ngài.
Và nầy, một trong những người ở với Đức Chúa Jêsus vung tay rút gươm ra, đánh và chém đứt tai của đầy tớ thầy tế lễ thượng phẩm.
Đức Chúa Jêsus nói với người ấy rằng: “Hãy nạp gươm vào vỏ! Vì hễ ai cầm gươm thì sẽ bị chết bởi gươm.
Con tưởng rằng Ta không thể xin Cha, và Ngài sẽ lập tức sai đến cho Ta hơn mười hai quân đoàn thiên sứ hay sao?
Nếu thế thì làm sao ứng nghiệm lời Kinh Thánh nói rằng, việc nầy phải xảy ra như vậy?”
Ngay lúc ấy, Đức Chúa Jêsus nói với đám đông rằng: “Sao các ngươi đem gươm và gậy đến bắt Ta như bắt một tên cướp vậy? Hằng ngày Ta ngồi dạy dỗ trong đền thờ, mà các ngươi không bắt Ta.
Nhưng mọi điều nầy xảy ra để lời các nhà tiên tri trong Kinh Thánh được ứng nghiệm.” Lúc ấy, tất cả môn đồ đều bỏ Ngài chạy trốn.
Những kẻ đã bắt Đức Chúa Jêsus dẫn Ngài đến nhà thầy tế lễ thượng phẩm Cai-phe, nơi các thầy thông giáo và các trưởng lão đang hội họp.
Phi-e-rơ đi theo Ngài xa xa, đến sân của dinh thầy tế lễ thượng phẩm và vào bên trong ngồi với những kẻ canh gác để xem kết cuộc ra sao.
Lúc ấy, các thầy tế lễ cả và toàn thể Hội đồng tìm chứng dối chống lại Đức Chúa Jêsus để có thể kết án tử hình Ngài.
Nhưng họ không tìm được điều gì cả, mặc dù có nhiều kẻ đứng ra làm chứng dối. Cuối cùng, có hai người bước ra
tố cáo rằng: “Người nầy đã nói: ‘Ta có thể phá đền thờ của Đức Chúa Trời, rồi dựng lại trong ba ngày.’ ”
Thầy tế lễ thượng phẩm đứng dậy và nói: “Ngươi không đáp lại lời những người nầy cáo buộc ngươi sao?”
Nhưng Đức Chúa Jêsus vẫn im lặng. Thầy tế lễ thượng phẩm lại nói với Ngài rằng: “Ta yêu cầu ngươi chỉ Đức Chúa Trời hằng sống mà thề và nói cho chúng ta biết, ngươi có phải là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời không?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Chính ngươi đã nói thế. Nhưng Ta nói với các ngươi, sau nầy các ngươi sẽ thấy Con Người ngồi bên phải Đấng Quyền năng và ngự trên mây trời mà đến.”
Lúc ấy, thầy tế lễ thượng phẩm xé áo mình và nói: “Nó đã nói phạm thượng. Tại sao chúng ta còn cần nhân chứng nữa làm gì? Các ông vừa nghe lời phạm thượng của nó. Các ông nghĩ thế nào?”
Họ trả lời: “Nó đáng chết!”
Rồi chúng khạc nhổ trên mặt Ngài, đánh Ngài. Một vài kẻ tát Ngài,
và nói: “Hỡi Đấng Christ, hãy nói tiên tri cho chúng ta đi! Ai là người đã đánh ngươi vậy?”
Lúc ấy, Phi-e-rơ đang ngồi ở ngoài sân. Một đầy tớ gái đến gần và nói: “Ông cũng là người ở với Jêsus, người Ga-li-lê.”
Nhưng Phi-e-rơ chối ngay trước mặt mọi người rằng: “Tôi không biết cô nói gì.”
Khi ra hiên cửa, một đầy tớ gái khác thấy Phi-e-rơ thì nói với những người đứng gần đó rằng: “Ông nầy ở với Jêsus, người Na-xa-rét.”
Nhưng Phi-e-rơ lại chối và thề rằng: “Tôi không hề biết người ấy.”
Một lúc sau, những người đứng gần đó nói với Phi-e-rơ rằng: “Chắc chắn ông cũng là một người trong bọn họ, vì giọng nói của ông đã tố cáo ông.”
Nhưng Phi-e-rơ nguyền rủa mà thề rằng: “Tôi không biết người đó.” Ngay lúc ấy, gà gáy.
Phi-e-rơ nhớ lại lời Đức Chúa Jêsus đã nói: “Trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối Ta ba lần.” Rồi ông đi ra và khóc lóc đắng cay.
Đến sáng, tất cả các thầy tế lễ cả và các trưởng lão của dân chúng bàn mưu chống lại Đức Chúa Jêsus để giết Ngài.
Họ trói Ngài lại, rồi giải đi giao nộp cho tổng đốc Phi-lát.
Khi Giu-đa, kẻ phản Ngài, thấy Ngài bị kết án thì hối hận, đem ba mươi miếng bạc trả lại cho các thầy tế lễ cả và các trưởng lão,
mà nói rằng: “Tôi đã phạm tội vì nộp huyết vô tội!” Nhưng họ đáp: “Việc ấy thì có liên can gì đến chúng tôi? Đó là việc của anh.”
Giu-đa ném bạc vào đền thờ, rồi trở ra, đi thắt cổ.
Nhưng các thầy tế lễ cả nhặt những miếng bạc và nói: “Để bạc nầy vào công quỹ là không hợp lệ, vì là giá của máu.”
Vì vậy, họ bàn với nhau dùng bạc ấy mua đồng ruộng của thợ gốm để chôn cất các kiều dân.
Vì lý do đó mà đồng ruộng ấy được gọi là Ruộng Máu cho đến ngày nay.
Như vậy, lời của nhà tiên tri Giê-rê-mi nói đã được ứng nghiệm: “Họ lấy ba mươi miếng bạc, là giá mà con cái Y-sơ-ra-ên đã định cho Ngài,
và dùng bạc ấy mua đồng ruộng của thợ gốm, như Chúa đã truyền cho ta.”
Lúc ấy, Đức Chúa Jêsus đứng trước mặt tổng đốc; viên tổng đốc hỏi: “Ngươi có phải là vua dân Do Thái không?” Đức Chúa Jêsus đáp: “Chính ngươi đã nói thế.”
Nhưng khi các thầy tế lễ cả và các trưởng lão tố cáo Ngài, Ngài không trả lời.
Phi-lát hỏi Ngài: “Ngươi không nghe biết bao điều họ làm chứng chống lại ngươi sao?”
Nhưng Đức Chúa Jêsus không đáp một lời nào khiến viên tổng đốc rất đỗi kinh ngạc.
Theo thông lệ, cứ vào dịp lễ, tổng đốc ân xá cho một tù nhân theo ý dân muốn.
Lúc ấy, họ đang giữ một tù nhân khét tiếng tên là Ba-ra-ba.
Vì vậy, khi họ tụ họp lại, thì Phi-lát hỏi: “Các ngươi muốn ta tha người nào, Ba-ra-ba hay Jêsus gọi là Christ?”
Vì ông biết, bởi lòng đố kỵ nên họ đã nộp Ngài.
Ngoài ra, trong lúc ông ngồi xử án, vợ ông cho người đến thưa rằng: “Xin đừng đụng đến người công chính ấy, chính vì người mà hôm nay tôi bị dằn vặt nhiều trong chiêm bao.”
Nhưng các thầy tế lễ cả và các trưởng lão xúi giục dân chúng xin tha Ba-ra-ba và giết Đức Chúa Jêsus.
Tổng đốc lại hỏi: “Trong hai người nầy các ngươi muốn ta tha ai?” Họ trả lời: “Ba-ra-ba.”
Phi-lát nói: “Vậy ta phải xử thế nào với Jêsus gọi là Christ?” Họ đồng loạt trả lời: “Đóng đinh nó trên cây thập tự!”
Tổng đốc hỏi: “Người nầy đã làm điều ác gì?” Nhưng họ lại la lớn hơn: “Đóng đinh nó trên cây thập tự!”
Vì vậy, khi Phi-lát thấy mình chẳng làm được gì, lại còn có thể nẩy sinh bạo động, nên lấy nước và rửa tay trước dân chúng, rồi nói: “Ta vô tội về huyết của người nầy; đó là việc của các ngươi.”
Cả dân chúng đều trả lời: “Xin huyết của nó đổ trên chúng tôi và con cháu chúng tôi!”
Vậy Phi-lát tha Ba-ra-ba cho họ, và đánh đòn Đức Chúa Jêsus, rồi giao Ngài để đóng đinh vào thập tự giá.
Sau đó, lính của tổng đốc đem Đức Chúa Jêsus vào tư dinh tổng đốc và tập trung cả đội binh chung quanh Ngài.
Chúng lột áo Ngài ra và khoác cho Ngài một chiếc áo điều,
đan một chiếc mão gai và đội trên đầu Ngài, rồi đặt một cây sậy trong tay phải Ngài. Chúng quỳ trước mặt Ngài, nhạo báng rằng: “Lạy Vua dân Do Thái.”
Chúng khạc nhổ trên Ngài, lấy cây sậy đánh vào đầu Ngài.
Sau khi đã chế nhạo Ngài, chúng lột áo điều ra, mặc áo của Ngài vào, rồi giải đi để đóng đinh vào thập tự giá.
Lúc đi ra, chúng gặp một người Sy-ren tên là Si-môn, và bắt người nầy vác thập tự giá của Đức Chúa Jêsus.
Khi đến một nơi gọi là Gô-gô-tha, có nghĩa là Đồi Sọ,
chúng cho Ngài uống rượu hòa với mật đắng; nhưng khi đã nếm, thì Ngài không uống.
Sau khi đã đóng đinh Ngài vào thập tự giá, chúng bắt thăm chia nhau y phục của Ngài.
Rồi chúng ngồi đó canh giữ Ngài.
Phía trên đầu Ngài có để một cáo trạng ghi rằng: “ĐÂY LÀ JÊSUS, VUA DÂN DO THÁI.”
Lúc ấy, có hai tên cướp cùng bị đóng đinh với Ngài: một tên ở bên phải, một tên bên trái.
Những kẻ đi qua đều chế giễu, lắc đầu
và nói: “Ngươi là người có thể phá đền thờ và xây lại trong ba ngày, hãy tự cứu mình đi! Nếu ngươi là Con Đức Chúa Trời, hãy xuống khỏi thập tự giá đi!”
Các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo và các trưởng lão cũng chế nhạo Ngài rằng:
“Nó đã cứu người khác mà không thể tự cứu chính mình. Nó là vua Y-sơ-ra-ên mà! Bây giờ hãy để nó xuống khỏi thập tự giá đi thì chúng ta sẽ tin ngay.
Nó tin cậy Đức Chúa Trời. Nếu Ngài yêu thương nó thì bây giờ hãy để Ngài giải cứu nó; vì nó nói: ‘Ta là Con Đức Chúa Trời.’ ”
Hai tên cướp cùng bị đóng đinh với Ngài cũng mắng nhiếc Ngài như vậy.
Từ giữa trưa đến ba giờ chiều, bóng tối bao trùm khắp đất.
Khoảng ba giờ chiều, Đức Chúa Jêsus kêu lớn tiếng: “Ê-li, Ê-li, lam-ma-sa-bách-ta-ni?” nghĩa là: “Đức Chúa Trời của con! Đức Chúa Trời của con! Sao Ngài lìa bỏ con?”
Nghe vậy, vài người đứng gần đó nói: “Người nầy gọi Ê-li.”
Một người trong bọn họ liền chạy đi lấy một miếng bọt biển thấm đầy giấm, để trên đầu cây sậy và đưa cho Ngài uống.
Nhưng các kẻ khác lại bảo: “Hãy đợi, xem Ê-li có đến giải cứu nó không.”
Đức Chúa Jêsus kêu một tiếng lớn nữa, rồi trút linh hồn.
Và kìa, bức màn bên trong đền thờ bị xé làm đôi từ trên xuống dưới, đất rúng động, đá tảng vỡ ra;
các mồ mả cũng mở tung, nhiều thi thể của các thánh đã qua đời được sống lại
và ra khỏi mộ. Sau khi Đức Chúa Jêsus sống lại, các thánh ấy đi vào thành thánh và hiện ra cho nhiều người.
Khi viên đội trưởng và quân lính canh giữ Đức Chúa Jêsus, thấy đất rúng động cùng những gì đã xảy ra thì vô cùng kinh hãi và nói: “Thật, Người nầy là Con Đức Chúa Trời.”
Tại đó có nhiều phụ nữ đứng nhìn từ xa. Họ là những người đã theo Đức Chúa Jêsus từ miền Ga-li-lê, để phục vụ Ngài.
Trong số nầy có Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ Gia-cơ và Giô-sép, cùng với mẹ của hai con trai Xê-bê-đê.
Đến chiều tối, có một người giàu ở thành A-ri-ma-thê, tên là Giô-sép, cũng là môn đồ của Đức Chúa Jêsus,
đến với Phi-lát và xin nhận thi thể Đức Chúa Jêsus. Phi-lát ra lệnh giao cho ông.
Giô-sép nhận xác và khâm liệm bằng vải gai sạch,
rồi đặt trong ngôi mộ mới của mình mà ông đã cho đục trong đá. Ông lăn một tảng đá lớn chận cửa mộ, rồi đi.
Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri khác có mặt tại đó, ngồi đối diện với mộ.
Hôm sau, tức là sau ngày Chuẩn Bị, các thầy tế lễ cả và những người Pha-ri-si tụ họp lại trước mặt Phi-lát,
và nói: “Thưa quan, chúng tôi nhớ tên lừa bịp nầy lúc còn sống có nói: ‘Sau ba ngày Ta sẽ sống lại.’
Vì vậy, xin quan ra lệnh bảo vệ kỹ ngôi mộ cho đến ngày thứ ba, kẻo các môn đồ của nó đến lấy trộm xác đi, rồi nói với mọi người rằng ‘Ngài đã từ cõi chết sống lại,’ và sự lừa bịp sau còn tệ hại hơn sự lừa bịp trước.”
Phi-lát nói với họ: “Các ngươi có lính canh, hãy đi canh mộ cẩn thận theo ý các ngươi.”
Vậy họ đi niêm phong mộ Ngài và cắt lính canh giữ nghiêm nhặt.
Sau ngày sa-bát, lúc rạng sáng ngày thứ nhất trong tuần lễ, Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri khác đến thăm mộ.
Kìa, đất rung chuyển dữ dội, vì một thiên sứ của Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra và ngồi lên trên.
Hình dung thiên sứ sáng như chớp và áo trắng như tuyết.
Các lính canh quá sợ hãi, run rẩy và trở nên như người chết.
Nhưng thiên sứ nói với các phụ nữ rằng: “Đừng sợ hãi, vì ta biết các ngươi tìm Đức Chúa Jêsus, Đấng đã bị đóng đinh vào thập tự giá.
Ngài không ở đây đâu, Ngài đã sống lại rồi, như lời Ngài đã phán. Hãy đến xem chỗ Ngài đã nằm.
Hãy mau đi nói cho các môn đồ Ngài biết rằng Ngài đã từ cõi chết sống lại, và nầy, Ngài đang đi đến miền Ga-li-lê trước các ngươi. Tại đó, các ngươi sẽ gặp Ngài. Ấy là điều ta báo cho các ngươi.”
Hai phụ nữ nầy vội vàng rời khỏi mộ, vừa sợ vừa rất mừng, chạy đi báo tin cho các môn đồ của Ngài.
Bất chợt, Đức Chúa Jêsus gặp họ và nói: “Chào các con!” Họ đến gần, ôm chân Ngài và thờ lạy Ngài.
Đức Chúa Jêsus phán với họ: “Đừng sợ, hãy đi bảo các anh em Ta đến Ga-li-lê, tại đó họ sẽ gặp Ta.”
Trong lúc hai phụ nữ nầy đi, thì vài tên lính canh mộ đi vào thành, thuật cho các thầy tế lễ cả mọi việc đã xảy ra.
Sau khi đã họp bàn với các trưởng lão, họ cho các tên lính một số tiền lớn,
và dặn: “Hãy nói rằng ‘các môn đồ của nó đến vào ban đêm, lúc chúng tôi đang ngủ, và lấy trộm xác đi.’
Nếu việc nầy đến tai tổng đốc, chúng tôi sẽ thuyết phục ông ấy, và tránh phiền lụy cho các anh.”
Vậy chúng nhận tiền và làm y như lời họ dặn. Chuyện nầy được lan truyền trong dân Do Thái cho đến ngày nay.
Mười một môn đồ đi đến miền Ga-li-lê, tới ngọn núi mà Đức Chúa Jêsus đã chỉ cho họ.
Khi thấy Ngài thì họ thờ lạy Ngài. Nhưng còn một vài người nghi ngờ.
Đức Chúa Jêsus đến và phán với họ rằng: “Tất cả thẩm quyền trên trời dưới đất đã giao cho Ta.
Vậy, hãy đi khiến muôn dân trở nên môn đồ Ta, hãy nhân danh Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh làm báp-têm cho họ
và dạy họ giữ mọi điều Ta đã truyền cho các con. Và nầy, Ta luôn ở với các con cho đến tận thế.”
Khởi đầu Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ, Con Đức Chúa Trời.
Như đã chép trong sách tiên tri Ê-sai: “Nầy, Ta sai sứ giả Ta đi trước mặt Con, Người sẽ dọn đường cho Con.
Có tiếng người kêu lên trong hoang mạc: Hãy dọn đường cho Chúa, Làm thẳng các lối Ngài;”
Giăng đã đến trong hoang mạc, vừa rao giảng vừa làm báp-têm về sự ăn năn để được tha tội.
Dân chúng khắp miền Giu-đê và thành Giê-ru-sa-lem đều đến với ông, xưng nhận tội mình và được ông làm báp-têm dưới sông Giô-đanh.
Giăng mặc áo lông lạc đà, thắt dây lưng da, ăn châu chấu và mật ong rừng.
Ông giảng dạy rằng: “Đấng đến sau tôi, uy quyền hơn tôi, tôi không đáng cúi xuống mở quai dép cho Ngài.
Tôi làm báp-têm cho các người bằng nước, nhưng Ngài sẽ làm báp-têm cho các người bằng Đức Thánh Linh.”
Trong những ngày ấy, Đức Chúa Jêsus từ thành Na-xa-rét thuộc miền Ga-li-lê đến, và được Giăng làm báp-têm dưới sông Giô-đanh.
Khi vừa lên khỏi nước, Ngài thấy các tầng trời mở ra, và Thánh Linh tựa như chim bồ câu ngự xuống trên Ngài.
Rồi có tiếng từ trời phán: “Con là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta hoàn toàn!”
Ngay lúc ấy, Thánh Linh thúc giục Ngài vào trong hoang mạc.
Ngài ở trong hoang mạc bốn mươi ngày, chịu Sa-tan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ phục vụ Ngài.
Sau khi Giăng bị bỏ tù, Đức Chúa Jêsus đến Ga-li-lê, rao giảng Tin Lành của Đức Chúa Trời.
Ngài phán: “Giờ đã trọn, vương quốc Đức Chúa Trời đã đến gần, các ngươi hãy ăn năn và tin nhận Tin Lành.”
Khi đi dọc theo bờ biển Ga-li-lê, Ngài thấy Si-môn và em là Anh-rê đang thả lưới dưới biển, vì họ vốn làm nghề chài lưới.
Đức Chúa Jêsus phán với họ: “Hãy theo Ta, Ta sẽ khiến các ngươi trở nên tay đánh lưới người.”
Họ lập tức bỏ lưới mà theo Ngài.
Đi một quãng nữa, Ngài thấy Gia-cơ, con của Xê-bê-đê, và em là Giăng đang vá lưới trên thuyền.
Ngài liền gọi họ. Họ để cha mình là Xê-bê-đê ở lại trên thuyền với mấy người làm thuê và theo Ngài.
Đức Chúa Jêsus cùng các môn đồ đến thành Ca-bê-na-um. Nhân ngày sa-bát, Ngài liền vào nhà hội và bắt đầu giảng dạy.
Mọi người đều kinh ngạc về sự dạy dỗ của Ngài, vì Ngài dạy một cách có thẩm quyền, chứ không như các thầy thông giáo.
Ngay lúc đó, trong nhà hội có một người bị uế linh ám,
la lớn: “Jêsus người Na-xa-rét ơi, việc của chúng tôi liên can gì đến Ngài? Ngài đến để diệt chúng tôi sao? Tôi biết Ngài là ai, là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời.”
Nhưng Đức Chúa Jêsus nghiêm trách nó: “Im ngay! Hãy ra khỏi người nầy!”
Uế linh vật mạnh người ấy, thét lên một tiếng rồi ra khỏi.
Mọi người đều kinh ngạc đến nỗi họ bàn tán với nhau: “Chuyện gì vậy? Một giáo huấn mới đầy thẩm quyền! Ngài ra lệnh cho cả tà linh, và chúng cũng phải tuân theo!”
Danh tiếng Đức Chúa Jêsus lập tức lan truyền ra khắp vùng phụ cận Ga-li-lê.
Vừa ra khỏi nhà hội, Đức Chúa Jêsus cùng với Gia-cơ và Giăng vào nhà của Si-môn và Anh-rê.
Bà gia của Si-môn đang bị sốt nằm trên giường. Họ liền thưa với Ngài về bệnh trạng của bà.
Ngài đến gần, cầm tay đỡ bà dậy; bà hết sốt và bắt đầu phục vụ mọi người.
Chiều tối, khi mặt trời vừa lặn, người ta đem tất cả những người bệnh tật và bị quỷ ám đến với Đức Chúa Jêsus.
Cả thành tụ họp trước cửa.
Ngài chữa lành nhiều người đau yếu mắc đủ các chứng bệnh khác nhau, và đuổi nhiều quỷ nhưng không cho phép quỷ lên tiếng vì chúng biết Ngài là ai.
Sáng hôm sau, khi trời vẫn còn tối, Ngài đã thức dậy, bước ra, đi vào nơi thanh vắng và cầu nguyện tại đó.
Si-môn cùng các bạn đi tìm Ngài.
Khi đã gặp được Ngài, họ thưa: “Mọi người đang tìm Thầy.”
Nhưng Ngài phán với họ: “Chúng ta hãy đi nơi khác, vào những làng quanh đây để Ta còn giảng dạy ở đó nữa; vì đây chính là lý do mà Ta đã đến.”
Ngài đi khắp miền Ga-li-lê, rao giảng trong các nhà hội và đuổi quỷ.
Có một người phong hủi đến với Đức Chúa Jêsus, quỳ xuống và khẩn xin: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể khiến con được sạch.”
Đức Chúa Jêsus động lòng thương xót, đưa tay chạm vào người ấy và phán: “Ta muốn, hãy sạch đi.”
Lập tức phong hủi biến mất, người ấy được sạch.
Đức Chúa Jêsus bảo anh ta đi ngay, và nghiêm giọng căn dặn:
“Hãy cẩn thận, đừng nói gì với ai, nhưng hãy đi trình diện thầy tế lễ, và dâng tế lễ về việc con được sạch theo điều Môi-se dạy, như một lời chứng cho họ.”
Nhưng người ấy đi, loan truyền tin nầy khắp nơi, kể hết mọi chuyện, đến nỗi Đức Chúa Jêsus không thể công khai vào thành được mà phải ở những nơi hoang vắng bên ngoài thành. Dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Ngài.
Vài ngày sau, Đức Chúa Jêsus trở lại thành Ca-bê-na-um, dân chúng nghe tin Ngài ở trong nhà
nên tụ họp lại rất đông, đến nỗi ngay trước cửa cũng không còn chỗ trống. Ngài giảng đạo cho họ.
Bấy giờ có bốn người khiêng đến Ngài một người bại liệt.
Vì đám đông, họ không thể đem người ấy đến gần Ngài được nên đã dỡ mái nhà ngay trên chỗ Ngài đang ngồi; rồi từ lỗ trống đó họ dòng giường người bại xuống.
Thấy đức tin của họ, Đức Chúa Jêsus phán với người bại: “Hỡi con, tội lỗi con đã được tha.”
Nhưng có mấy thầy thông giáo ngồi đó thắc mắc trong lòng rằng:
“Sao người nầy nói như vậy? Thật là phạm thượng! Ngoài Đức Chúa Trời, còn ai có thể tha tội được?”
Tâm trí Đức Chúa Jêsus đã nhận biết ngay những gì họ đang nói với nhau nên phán: “Tại sao trong lòng các ngươi lại thắc mắc như vậy?
Theo các ngươi, giữa việc bảo người bại liệt rằng: ‘Tội con đã được tha,’ và việc bảo: ‘Hãy đứng dậy vác giường mình mà đi’ thì việc nào dễ hơn?
Nhưng, để các ngươi biết rằng Con Người ở thế gian có thẩm quyền tha tội”. Ngài phán với người bại liệt:
“Ta bảo con, hãy đứng dậy, vác giường và đi về nhà!”
Người bại liệt đứng dậy, lập tức vác giường đi ra trước mặt mọi người đến nỗi ai nấy đều kinh ngạc và tôn vinh Đức Chúa Trời rằng: “Chúng ta chưa từng thấy việc như vậy bao giờ!”
Đức Chúa Jêsus lại đi về phía biển; cả đám đông đến với Ngài, và Ngài dạy dỗ họ.
Trên đường đi, Ngài thấy Lê-vi, con A-phê, đang ngồi tại phòng thuế thì phán với ông: “Hãy theo Ta.” Lê-vi đứng dậy đi theo Ngài.
Đang khi Đức Chúa Jêsus ngồi ăn tại nhà Lê-vi, có nhiều người thu thuế và kẻ có tội ngồi cùng bàn với Ngài và các môn đồ Ngài, vì trong số đó có nhiều người đã theo Ngài.
Các thầy thông giáo thuộc phái Pha-ri-si thấy Ngài ăn chung với những kẻ có tội và người thu thuế thì nói với các môn đồ Ngài rằng: “Tại sao Ngài lại ăn chung với phường thu thuế và bọn người tội lỗi?”
Nghe vậy, Đức Chúa Jêsus nói: “Người mạnh khỏe không cần đến thầy thuốc đâu, nhưng là người đau ốm. Ta đến không phải để gọi người công chính, nhưng gọi kẻ có tội.”
Bấy giờ các môn đồ của Giăng và người Pha-ri-si đều kiêng ăn, có người đến thưa với Đức Chúa Jêsus rằng: “Tại sao các môn đồ của Giăng và môn đồ của phái Pha-ri-si đều kiêng ăn, còn các môn đồ của Thầy lại không kiêng ăn?”
Đức Chúa Jêsus trả lời: “Có thể nào khách dự tiệc cưới lại kiêng ăn khi chàng rể còn ở với họ? Chừng nào chàng rể còn ở với họ, thì họ không thể kiêng ăn được.
Nhưng đến khi chàng rể được đem đi khỏi họ thì trong ngày ấy họ sẽ kiêng ăn.
Không ai vá miếng vải mới vào áo cũ; nếu làm vậy thì miếng vá sẽ chằng rách áo cũ, và chỗ rách sẽ càng tệ hơn.
Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ; nếu làm vậy, rượu sẽ làm nứt bầu, rượu mất mà bầu cũng chẳng còn; nhưng rượu mới phải đựng trong bầu da mới.”
Vào ngày sa-bát Đức Chúa Jêsus đi ngang qua cánh đồng lúa mì. Khi đang đi, các môn đồ Ngài bắt đầu ngắt mấy bông lúa.
Những người Pha-ri-si nói với Ngài: “Kìa, tại sao môn đồ của Thầy làm điều không được phép làm trong ngày sa-bát?”
Ngài đáp: “Các ngươi chưa từng đọc về chuyện Đa-vít đã làm khi người cùng những người đi theo lâm vào cảnh túng đói sao?
Trong thời A-bia-tha làm thầy tế lễ thượng phẩm, Đa-vít đã vào nhà Đức Chúa Trời ăn bánh cung hiến và cho những người đi theo ăn nữa, dù bánh ấy chỉ có những thầy tế lễ mới được phép ăn.”
Rồi Ngài phán: “Ngày sa-bát được tạo nên vì loài người, chứ không phải loài người được tạo nên vì ngày sa-bát.
Vậy Con Người cũng là Chúa của ngày sa-bát.”
Lần khác, Đức Chúa Jêsus vào nhà hội; ở đó có một người đàn ông bị teo một bàn tay.
Họ theo dõi xem Ngài có chữa cho người đó trong ngày sa-bát không, để tố cáo Ngài.
Ngài bảo người teo tay: “Hãy ra đứng giữa đây!”
Rồi Ngài hỏi họ: “Trong ngày sa-bát được phép làm việc lành hay việc dữ, nên cứu người hay giết người?” Nhưng họ đều im lặng.
Ngài đưa mắt nhìn họ, vừa giận vừa buồn vì lòng họ cứng cỏi, rồi phán với người teo tay: “Hãy giơ tay ra.” Người ấy giơ ra, thì tay được lành.
Các người Pha-ri-si đi ra, lập tức bàn mưu với những người thuộc phe Hê-rốt chống Ngài để tìm cách giết Ngài.
Đức Chúa Jêsus cùng các môn đồ lánh ra phía biển; một đoàn người rất đông từ Ga-li-lê kéo đến theo Ngài. Ngoài ra còn nhiều đoàn người đông đúc khác từ Giu-đê,
thành Giê-ru-sa-lem, miền Y-đu-mê, vùng bên kia sông Giô-đanh, khu vực chung quanh thành Ty-rơ và thành Si-đôn, khi nghe về mọi việc Ngài làm, đã lũ lượt đến với Ngài.
Vì quá đông người nên Ngài bảo các môn đồ chuẩn bị sẵn cho Ngài một chiếc thuyền, để Ngài khỏi bị họ lấn ép.
Ngài đã chữa lành nhiều bệnh nhân; vì vậy, ai có bệnh đều cố áp sát Ngài để được chạm vào Ngài.
Mỗi khi uế linh thấy Ngài, chúng đều sấp mình trước mặt Ngài và kêu lên: “Thầy là Con Đức Chúa Trời!”
Nhưng Ngài nghiêm cấm chúng tiết lộ Ngài là ai.
Đức Chúa Jêsus đi lên núi, gọi những người Ngài muốn, và họ đến với Ngài.
Ngài lập mười hai người, gọi là sứ đồ, để ở với Ngài, sai họ đi truyền giảng,
và ban cho họ thẩm quyền đuổi quỷ.
Đây là mười hai sứ đồ mà Ngài đã lập: Si-môn, Ngài đặt tên là Phi-e-rơ;
Gia-cơ con Xê-bê-đê, và Giăng em Gia-cơ, Ngài đặt tên hai người là Bô-a-nẹt, nghĩa là con trai của sấm sét;
Anh-rê, Phi-líp, Ba-thê-lê-my, Ma-thi-ơ, Thô-ma, Gia-cơ con A-phê, Tha-đê, Si-môn người Ca-na-nê-an,
và Giu-đa Ích-ca-ri-ốt là kẻ phản Ngài.
Đức Chúa Jêsus về nhà; cả một đám đông lại tụ họp tại đó đến nỗi Ngài và các môn đồ không thể dùng bữa được.
Người nhà của Ngài nghe vậy liền tìm đến để giữ Ngài lại, vì người ta nói rằng “Ngài đã bị mất trí.”
Các thầy thông giáo từ thành Giê-ru-sa-lem xuống lại nói: “Người nầy bị Bê-ên-xê-bun ám, và nhờ quyền của quỷ vương mà đuổi quỷ.”
Đức Chúa Jêsus gọi họ đến, dùng ẩn dụ mà nói: “Sa-tan có thể tự đuổi Sa-tan được sao?
Nếu một nước tự chia rẽ thì nước ấy không thể đứng vững được;
nếu một nhà tự chia rẽ, thì nhà ấy không thể đứng vững được.
Cũng vậy, nếu quỷ Sa-tan tự chống lại chính mình và chia rẽ nhau thì nó không thể đứng vững được mà đã tận số rồi!
Không ai có thể vào nhà một người có sức mạnh để cướp tài sản mà không lo trói người ấy trước; phải trói người đó lại, rồi mới cướp nhà người được.
Thật, Ta bảo các ngươi, mọi tội lỗi sẽ được tha cho con cái loài người, kể cả những lời phạm thượng mà chúng nói ra.
Nhưng ai xúc phạm đến Đức Thánh Linh thì sẽ chẳng bao giờ được tha, mà phải mắc tội đời đời.”
Ngài phán như vậy vì họ nói rằng: “Người nầy bị uế linh ám.”
Mẹ và các em Đức Chúa Jêsus đến, đứng bên ngoài và cho người vào gọi Ngài.
Đám đông đang ngồi quanh Ngài, thưa với Ngài: “Kìa, mẹ và anh em Thầy ở ngoài kia, đang tìm Thầy.”
Ngài đáp: “Ai là mẹ Ta, ai là anh em Ta?”
Rồi Ngài đưa mắt nhìn những người ngồi chung quanh mình và nói: “Đây là mẹ Ta và anh em Ta!
Ai làm theo ý muốn Đức Chúa Trời ấy là anh em, chị em, và mẹ Ta vậy.”
Đức Chúa Jêsus lại bắt đầu giảng dạy bên bờ biển. Có một đoàn người rất đông tụ họp quanh Ngài nên Ngài phải xuống ngồi trên một chiếc thuyền, còn tất cả dân chúng thì đứng trên bờ.
Ngài dùng ẩn dụ dạy dỗ họ nhiều điều. Trong khi dạy, Ngài phán:
“Hãy nghe đây! Có một người đi ra gieo giống.
Trong khi gieo, một số hạt rơi dọc đường, chim đến ăn hết.
Một số khác rơi trên đất đá, chỉ có ít đất, vì lấp không sâu nên liền mọc lên.
Nhưng khi mặt trời mọc lên, bị nắng thiêu đốt thì chúng khô héo vì không có rễ.
Một số khác rơi giữa bụi gai; gai mọc lên làm cho nghẹt ngòi và không kết quả được.
Một số khác nữa rơi trên chỗ đất tốt nên kết quả, lớn lên và nẩy nở, một hạt ra ba chục, hạt khác sáu chục, hạt khác một trăm.”
Ngài lại phán: “Ai có tai để nghe, hãy nghe!”
Khi Đức Chúa Jêsus còn lại một mình, những người ở quanh Ngài cùng với mười hai sứ đồ đến hỏi Ngài về các ẩn dụ.
Ngài phán: “Sự mầu nhiệm về vương quốc Đức Chúa Trời đã được ban cho các con; nhưng đối với người ngoài, thì mọi sự đều nằm trong các ẩn dụ,
để họ: Xem thì vẫn xem, mà không thấy, Nghe thì vẫn nghe, mà không hiểu; E rằng họ hối cải mà được tha tội chăng.”
Rồi Ngài nói: “Các con không hiểu ẩn dụ nầy sao? Vậy thì làm sao hiểu được tất cả các ẩn dụ khác?
Người gieo giống, tức là gieo đạo.
Những hạt ở dọc đường là những kẻ đã chịu nghe đạo được gieo ra, nhưng họ vừa nghe xong thì Sa-tan lập tức đến, cất đi đạo đã gieo trong lòng họ.
Cũng vậy, những hạt gieo nơi đất đá là những người khi nghe đạo liền vui mừng tiếp nhận;
nhưng đạo không đâm rễ trong lòng, chỉ tồn tại nhất thời; nên khi vì đạo mà gặp hoạn nạn hay bắt bớ, họ liền vấp ngã.
Những hạt rơi giữa bụi gai giống như những người nghe đạo,
nhưng sự lo lắng về đời nầy, sự quyến rũ của giàu sang, và sự tham muốn những thứ khác xâm chiếm lòng họ, làm cho đạo bị nghẹt ngòi, không kết quả được.
Còn những hạt được gieo trên đất tốt giống như những người nghe đạo thì tiếp nhận và kết quả, hạt nầy ra ba chục, hạt khác sáu chục, hạt khác nữa một trăm.”
Đức Chúa Jêsus lại hỏi họ: “Có ai đem đèn đặt dưới cái thùng hoặc dưới gầm giường, thay vì đặt trên chân đèn không?
Vì chẳng có điều gì giấu kín mà không phải lộ ra, chẳng có điều gì bí mật mà không bị đưa ra ánh sáng.
Nếu ai có tai để nghe, hãy nghe!”
Ngài lại phán: “Hãy suy xét điều mình nghe. Các con lường cho người ta mực nào thì họ cũng sẽ lường cho các con mực ấy, và còn được cho thêm nữa.
Vì ai có sẽ được cho thêm; còn ai không có sẽ bị cất luôn điều mình đang có.”
Ngài tiếp tục phán: “Vương quốc Đức Chúa Trời cũng tựa như một người vãi hạt giống xuống đất;
dù ngủ hay thức, dù đêm hay ngày, hạt giống vẫn cứ nẩy mầm và mọc lên mà người ấy chẳng biết thể nào.
Vì đất tự sinh sản hoa màu, lúc đầu là cây mạ, rồi làm đòng và kết hạt.
Khi lúa chín, người ấy liền đem lưỡi hái ra gặt, vì mùa thu hoạch đã đến.”
Ngài lại phán: “Chúng ta có thể lấy điều gì để so sánh hoặc dùng ẩn dụ nào để nói về vương quốc Đức Chúa Trời?
Vương quốc ấy giống như một hạt cải, khi đem gieo, nó nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống trên đất;
nhưng khi gieo rồi, nó mọc lên, trở thành lớn nhất trong các loại rau, cành lá sum suê đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới tàng nó được.”
Ngài dùng nhiều ẩn dụ tương tự để giảng đạo, tùy theo khả năng tiếp thu của họ.
Ngài không bao giờ giảng cho họ mà không dùng ẩn dụ; nhưng khi ở riêng với các môn đồ, Ngài giải thích tất cả cho họ.
Chiều tối hôm ấy, Đức Chúa Jêsus bảo các môn đồ: “Chúng ta hãy qua bờ bên kia.”
Sau khi lìa đoàn dân, Ngài vẫn ở trong thuyền và các môn đồ đưa Ngài đi; có một số thuyền khác cùng đi nữa.
Một cơn bão lớn nổi lên, sóng ập vào thuyền đến nỗi thuyền đầy nước;
nhưng Ngài đang ở đằng sau lái, tựa trên chiếc gối mà ngủ. Môn đồ đánh thức Ngài và thưa: “Thầy ơi, Thầy không lo chúng ta chết sao?”
Ngài thức dậy, quở gió và truyền cho biển rằng: “Hãy yên đi, lặng đi!” Gió liền ngưng bặt và biển lặng như tờ.
Rồi Ngài bảo các môn đồ: “Sao các con sợ hãi đến thế? Không có đức tin sao?”
Các môn đồ vô cùng kinh hãi, nói với nhau: “Người nầy là ai mà ngay cả gió và biển cũng phải vâng lệnh người?”
Đức Chúa Jêsus cùng các môn đồ sang đến bờ biển bên kia, trong miền Giê-ra-sê.
Khi Ngài bước ra khỏi thuyền, lập tức có một người bị uế linh ám từ nghĩa địa chạy đến trước mặt Ngài.
Người nầy sống giữa các mồ mả, dù dùng xiềng cũng không ai giữ anh ta được.
Nhiều lần bị cùm chân, xiềng tay, nhưng anh ta đều bẻ xiềng tháo cùm, không ai đủ sức chế ngự được.
Cả ngày lẫn đêm anh ta cứ lang thang hết nghĩa địa đến đồi núi, la hét, rồi lấy đá đánh bầm mình.
Khi thấy Đức Chúa Jêsus từ đằng xa, anh ta chạy đến, sấp mình trước mặt Ngài
và kêu lên: “Lạy Jêsus, Con Đức Chúa Trời Chí Cao, tôi có liên can gì với Ngài? Nhân danh Đức Chúa Trời tôi xin Ngài đừng làm khổ tôi.”
Vì Đức Chúa Jêsus vừa phán: “Hỡi uế linh, hãy ra khỏi người nầy.”
Rồi Ngài lại hỏi: “Ngươi tên gì?” Uế linh đáp: “Tên tôi là ‘Quân đoàn’ vì chúng tôi đông lắm.”
Uế linh lại van xin Ngài đừng đuổi chúng ra khỏi miền đó.
Bấy giờ có một đàn heo rất đông đang ăn trên sườn đồi.
Các uế linh van nài: “Xin Ngài cho chúng tôi nhập vào đàn heo kia.” Đức Chúa Jêsus cho phép.
Các uế linh ra khỏi người ấy và nhập vào đàn heo. Cả đàn khoảng hai nghìn con, từ triền dốc lao xuống biển và chết chìm trong đó.
Những người chăn heo chạy trốn và đồn tin ấy ra khắp thành thị, thôn quê; dân chúng kéo đến để xem điều gì đã xảy ra.
Khi đến chỗ Đức Chúa Jêsus, họ thấy người đã từng bị quỷ “Quân đoàn” ám đang ngồi đó, mặc quần áo và tâm trí tỉnh táo thì họ sợ hãi lắm.
Những người đã chứng kiến sự việc thuật cho họ nghe chuyện gì đã xảy đến cho người bị uế linh ám và cho đàn heo.
Họ nài xin Ngài rời khỏi địa phận mình.
Khi Ngài xuống thuyền, người vốn bị quỷ ám xin được theo Ngài.
Nhưng Đức Chúa Jêsus từ chối và bảo: “Hãy về nhà, đến với những người thân và thuật lại cho họ những điều lớn lao mà Chúa đã làm cho con, và Ngài đã thương xót con như thế nào.”
Người ấy đi khắp miền Đê-ca-bô-lơ thuật lại những điều lớn lao mà Đức Chúa Jêsus đã làm cho mình; ai nấy đều kinh ngạc.
Đức Chúa Jêsus lại xuống thuyền vượt qua bờ bên kia. Một đoàn người rất đông tụ họp chung quanh Ngài lúc Ngài đang ở bên bờ biển.
Bấy giờ, một trong những viên quản lý nhà hội tên là Giai-ru đến. Khi thấy Đức Chúa Jêsus, ông liền phủ phục dưới chân Ngài,
nài xin rằng: “Con gái nhỏ của tôi sắp chết. Xin Thầy đến và đặt tay trên cháu, để cháu được chữa lành và sống.”
Đức Chúa Jêsus đi với Giai-ru. Một đoàn người rất đông cùng đi theo và lấn ép Ngài.
Trong số đó có một phụ nữ bị rong huyết đã mười hai năm.
Lâu nay bà đã khốn khổ trong tay nhiều thầy thuốc, hao tốn hết tiền của, nhưng bệnh không thuyên giảm mà ngày càng nặng thêm.
Bà đã nghe nói về Đức Chúa Jêsus nên lẩn vào giữa đám đông, tiến đến phía sau Ngài và chạm vào áo Ngài.
Vì bà tự nhủ: “Chỉ cần chạm được áo Ngài, thì ta sẽ được lành.”
Lập tức, máu cầm lại. Bà cảm nhận ngay rằng mình đã được chữa lành.
Đức Chúa Jêsus liền nhận biết có một năng quyền vừa ra từ Ngài nên Ngài quay sang phía đám đông và hỏi: “Ai đã chạm vào áo Ta?”
Các môn đồ thưa: “Thầy thấy đám đông chen lấn Thầy, sao Thầy còn hỏi: ‘Ai chạm đến Ta?’ ”
Ngài nhìn chung quanh để xem ai đã làm điều đó.
Người phụ nữ biết điều gì đã xảy đến cho mình nên run sợ, đến phủ phục dưới chân Ngài và trình bày với Ngài tất cả sự thật.
Đức Chúa Jêsus phán: “Hỡi con gái Ta, đức tin của con đã cứu con; hãy đi bình an và được lành bệnh.”
Khi Ngài còn đang nói, có người từ nhà của Giai-ru đến nói với ông: “Con gái ông đã chết rồi, còn phiền Thầy làm gì nữa?”
Chẳng bận tâm đến những lời ấy, Đức Chúa Jêsus bảo viên quản lý nhà hội: “Đừng sợ, chỉ tin mà thôi.”
Ngài không cho ai theo mình ngoài Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng, em Gia-cơ.
Đến nhà Giai-ru, thấy mọi người đang làm om sòm, kẻ khóc người than inh ỏi,
Ngài bước vào nhà và nói với họ: “Sao các ngươi làm ồn ào và khóc lóc vậy? Không phải cháu bé chết đâu, nhưng nó đang ngủ.”
Họ nhạo cười Ngài. Ngài đuổi mọi người ra ngoài, rồi đưa cha mẹ đứa trẻ cùng ba môn đồ đến chỗ cháu bé đang nằm.
Ngài cầm tay cháu bé và phán: “Ta-li-tha-cum”; nghĩa là: “Nầy bé gái, Ta truyền cho con hãy trỗi dậy.”
Lập tức cháu gái trỗi dậy và bước đi, vì cháu đã lên mười hai tuổi. Mọi người đều kinh ngạc.
Ngài nghiêm giọng ra lệnh cho họ không được cho ai biết việc nầy, và bảo họ cho đứa trẻ ăn.
Đức Chúa Jêsus rời nơi đó, trở về quê hương mình; các môn đồ cùng đi theo.
Đến ngày sa-bát, Ngài bắt đầu dạy dỗ trong nhà hội. Nhiều người nghe Ngài giảng thì kinh ngạc và nói: “Do đâu ông nầy có được những điều ấy? Sự khôn ngoan mà ông ta được ban cho là gì? Làm sao tay ông ta có thể làm được nhiều việc quyền năng như thế?
Chẳng phải ông nầy là người thợ mộc, con trai Ma-ri, anh của Gia-cơ, Giô-sê, Giu-đe, và Si-môn đó sao? Các em gái ông chẳng phải đang ở đây với chúng ta sao?” Và họ vấp phạm vì Ngài.
Nhưng Đức Chúa Jêsus phán: “Nhà tiên tri không bị khinh dể, ngoại trừ giữa quê hương, bà con và gia đình mình.”
Ở đó Ngài không thể làm một việc quyền năng nào ngoài việc đặt tay trên một vài người đau ốm và chữa lành cho họ.
Ngài ngạc nhiên vì lòng vô tín của họ. Rồi Ngài đi giảng dạy khắp các làng gần đó.
Ngài gọi mười hai sứ đồ, bắt đầu sai đi từng đôi, và ban cho họ thẩm quyền trên uế linh.
Ngài truyền cho họ khi đi đường, ngoài cây gậy, đừng đem theo gì hết, không bánh, không bao bị, không tiền túi;
chỉ mang dép, không mặc hai áo.
Ngài dặn họ: “Khi các con vào một nhà nào, hãy cứ ở đó cho đến lúc ra đi.
Nếu có nơi nào người ta không tiếp và cũng không nghe các con thì hãy đi khỏi đó, phủi bụi nơi chân mình như một bằng chứng nghịch lại họ.”
Vậy, các sứ đồ ra đi, rao giảng rằng mọi người phải ăn năn.
Họ đã đuổi nhiều quỷ, xức dầu và chữa lành nhiều người bệnh.
Vua Hê-rốt nghe nói về Đức Chúa Jêsus, vì danh tiếng Ngài đã được nhiều người biết đến. Một số người nói: “Giăng Báp-tít đã từ cõi chết sống lại nên mới thực hiện được các phép lạ nầy.”
Một số khác thì bảo: “Đó là Ê-li.” Một số khác nữa thì nói: “Đó là nhà tiên tri, như một trong các nhà tiên tri đời xưa.”
Nhưng khi nghe vậy, Hê-rốt nói: “Đây chính là Giăng, người mà ta đã chém đầu, nay sống lại.”
Số là Hê-rốt đã sai người bắt Giăng, trói lại và giam trong ngục nhân việc vua đã cưới Hê-rô-đia, vợ Phi-líp em vua, làm vợ.
Vì Giăng đã can rằng: “Bệ hạ lấy vợ của em mình là điều trái luật pháp”
nên Hê-rô-đia căm ghét Giăng và muốn giết đi. Nhưng bà không thể giết được,
vì Hê-rốt sợ Giăng, biết ông là một người công chính và thánh thiện, nên vẫn che chở ông. Vua thích nghe Giăng nói, dù mỗi lần nghe xong lòng vua thường bối rối.
Vào dịp sinh nhật, Hê-rốt mở tiệc chiêu đãi các cận thần, các sĩ quan, và những nhân vật quan trọng trong miền Ga-li-lê.
Con gái Hê-rô-đia vào nhảy múa, làm hài lòng Hê-rốt và khách dự tiệc, nên vua nói với cô gái: “Hãy xin bất cứ điều gì con muốn, trẫm sẽ cho.”
Vua lại thề: “Bất kỳ điều gì con xin, trẫm cũng sẽ cho, dù một nửa vương quốc của trẫm.”
Cô gái đi ra hỏi mẹ: “Con nên xin điều gì?” Mẹ nàng nói: “Cái đầu của Giăng Báp-tít.”
Lập tức, nàng vội vàng trở vào và tâu với vua: “Con muốn bệ hạ cho con cái đầu Giăng Báp-tít để trên mâm ngay bây giờ.”
Vua đau lòng lắm; nhưng vì lời thề và vì khách dự tiệc, vua không muốn thất hứa.
Vua liền sai một đao phủ đi và truyền đem đầu Giăng đến.
Người ấy vào ngục chặt đầu Giăng, rồi để đầu trên mâm và trao cho cô gái. Cô gái trao cho mẹ mình.
Các môn đồ của Giăng nghe tin, đến lấy xác người, và chôn trong mộ.
Các sứ đồ tụ họp chung quanh Đức Chúa Jêsus, tường trình với Ngài mọi việc họ đã làm và dạy dỗ.
Ngài bảo các sứ đồ: “Các con hãy đi tẽ vào nơi thanh vắng, nghỉ ngơi một lúc.” Vì kẻ qua người lại quá đông, nên Ngài và sứ đồ không có thì giờ để ăn.
Vậy, Thầy trò cùng xuống thuyền đi tẽ vào nơi thanh vắng.
Nhiều người thấy thì nhận ra Đức Chúa Jêsus và các môn đồ nên từ khắp các thành, họ chạy bộ theo và đã đến đó trước.
Vừa ra khỏi thuyền, Đức Chúa Jêsus thấy đoàn dân đông thì cảm thương họ, vì họ như chiên không có người chăn. Ngài bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều.
Khi trời về chiều, các môn đồ đến thưa với Ngài: “Nơi nầy hoang vắng mà trời đã chiều rồi;
xin Thầy cho dân chúng về để họ đi vào các vùng quê, làng mạc lân cận mua thức ăn.”
Nhưng Ngài bảo: “Chính các con hãy cho họ ăn.” Môn đồ thưa rằng: “Chúng con phải đi mua đến hai trăm đơ-ni-ê bánh cho họ ăn sao?”
Ngài bảo: “Hãy đi xem các con có bao nhiêu bánh?” Sau khi xem xét, các môn đồ thưa: “Có năm cái bánh và hai con cá.”
Ngài bảo các môn đồ sắp xếp dân chúng ngồi thành từng nhóm trên cỏ xanh.
Họ ngồi xuống thành từng nhóm, nhóm một trăm, nhóm năm chục.
Đức Chúa Jêsus lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, tạ ơn, rồi bẻ bánh và trao cho các môn đồ để phân phát cho dân chúng. Ngài cũng chia hai con cá cho mọi người.
Ai nấy đều ăn no nê.
Họ thu lại được mười hai giỏ đầy những mẩu bánh và cá thừa.
Số người ăn bánh là năm nghìn người.
Ngay sau đó, Đức Chúa Jêsus giục các môn đồ xuống thuyền đi trước qua bờ bên kia, hướng về thành Bết-sai-đa, trong khi Ngài cho dân chúng ra về.
Sau khi từ biệt họ, Ngài đi lên núi để cầu nguyện.
Tối đến, thuyền ở giữa biển, còn Ngài thì ở một mình trên đất liền.
Ngài thấy các môn đồ chèo chống vất vả vì gió ngược nên khoảng canh tư đêm ấy, Ngài đi trên mặt biển mà đến với môn đồ. Ngài muốn vượt lên trước họ.
Nhưng khi thấy Ngài đi trên mặt biển, các môn đồ tưởng là ma nên la lên,
vì tất cả đều thấy Ngài và hoảng sợ. Nhưng Đức Chúa Jêsus liền phán với họ: “Hãy yên lòng, Ta đây, đừng sợ!”
Rồi Ngài bước lên thuyền với các môn đồ, và gió yên lặng. Họ vô cùng kinh ngạc,
vì không hiểu ý nghĩa của phép lạ hóa bánh, do lòng họ còn cứng cỏi.
Khi đã qua đến bờ bên kia, Đức Chúa Jêsus và các môn đồ đến đất Ghê-nê-xa-rết, neo thuyền tại đó.
Vừa ra khỏi thuyền, dân chúng liền nhận ra Ngài.
Họ chạy khắp vùng, hễ nghe Ngài ở đâu thì khiêng những người bệnh nằm trên giường đến đó.
Bất cứ nơi nào Đức Chúa Jêsus đến, hoặc làng mạc, thành thị hay thôn quê, người ta đều đem những người bệnh đặt tại các chợ, và nài xin Ngài cho họ ít ra cũng được chạm vào gấu áo của Ngài; những ai đã chạm đến đều được lành bệnh.
Bấy giờ có mấy người Pha-ri-si và thầy thông giáo từ thành Giê-ru-sa-lem đến, tụ họp chung quanh Đức Chúa Jêsus;
họ thấy một vài môn đồ Ngài dùng bữa mà tay không sạch, nghĩa là chưa rửa tay.
(Theo truyền thống của người xưa, người Pha-ri-si và người Giu-đa đều không ăn nếu chưa rửa tay;
khi ở chợ về, nếu chưa rửa họ cũng không dùng bữa. Họ lại còn giữ nhiều điều khác nữa như tẩy rửa chén tách, bình lọ và các đồ dùng bằng đồng).
Vì thế, những người Pha-ri-si và các thầy thông giáo hỏi Ngài: “Tại sao môn đồ Thầy không sống theo truyền thống của người xưa, cứ để tay bẩn mà dùng bữa vậy?”
Ngài đáp: “Ê-sai đã nói tiên tri về bọn đạo đức giả các ngươi thật là đúng: ‘Dân nầy lấy môi miệng tôn kính Ta, Nhưng lòng chúng nó cách xa Ta lắm.
Việc chúng thờ phượng Ta là vô ích, Giáo lý chúng dạy chỉ là những luật lệ của loài người.’
Các ngươi bỏ điều răn của Đức Chúa Trời mà giữ tập tục của loài người!”
Ngài cũng nói với họ: “Các ngươi khéo bỏ điều răn của Đức Chúa Trời để giữ lấy truyền thống của mình!
Vì Môi-se đã nói: ‘Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi’ và ‘Ai nguyền rủa cha mẹ thì phải bị xử tử’;
nhưng các ngươi lại bảo: ‘Nếu ai nói với cha mẹ rằng những gì con có thể giúp cha mẹ là co-ban’ (nghĩa là lễ vật đã dâng cho Đức Chúa Trời).
Vậy các ngươi không cho phép người ấy làm gì cho cha mẹ mình nữa.
Như thế, các ngươi cố bám giữ truyền thống của mình mà chối bỏ lời Đức Chúa Trời. Các ngươi còn làm nhiều việc khác tương tự như vậy.”
Sau đó, Ngài lại gọi dân chúng đến và phán: “Tất cả hãy nghe Ta và hiểu rằng:
Không có vật gì từ bên ngoài vào trong con người có thể làm ô uế người được; nhưng những gì ra từ bên trong con người mới làm ô uế người.”
Khi Ngài đã vào trong nhà và cách xa dân chúng rồi, các môn đồ hỏi Ngài về ẩn dụ ấy.
Ngài phán: “Vậy các con cũng không hiểu sao? Các con không biết rằng chẳng có vật gì từ bên ngoài vào có thể làm ô uế con người được sao?
Vì vật đó không đi vào lòng người, nhưng vào bụng, rồi bị thải ra nơi kín đáo.” Như vậy, Ngài ngụ ý rằng mọi thức ăn đều tinh sạch.
Ngài lại phán: “Điều gì ra từ con người mới làm ô uế con người.
Vì từ bên trong, từ lòng người mà sinh ra những ác ý như: tà dâm, trộm cướp, giết người,
ngoại tình, tham lam, độc ác, dối trá, phóng túng, ganh tị, vu khống, kiêu ngạo, ngông cuồng.
Tất cả những điều xấu ấy đều xuất phát từ bên trong và làm cho con người ô uế.”
Từ đó, Đức Chúa Jêsus lên đường đi đến địa phận thành Ty-rơ và thành Si-đôn. Ngài vào một nhà kia và không muốn ai biết mình ở đó, nhưng không thể giấu được.
Một phụ nữ kia có con gái bị uế linh ám, vừa nghe nói về Ngài, lập tức đến phủ phục dưới chân Ngài.
Bà là người Hi Lạp, gốc Sy-rô-phê-ni-xi. Bà xin Ngài đuổi quỷ ra khỏi con gái mình.
Đức Chúa Jêsus bảo bà: “Phải để cho con cái ăn no trước đã, vì lấy bánh của con cái mà ném cho chó ăn là điều không phải lẽ.”
Nhưng bà thưa rằng: “Lạy Chúa, đúng là vậy, nhưng mấy con chó dưới bàn cũng được ăn những miếng bánh vụn của con cái.”
Ngài phán: “Con về đi, bởi lời con vừa nói mà quỷ đã ra khỏi con gái con rồi.”
Về đến nhà, bà thấy con mình nằm trên giường, và quỷ đã ra khỏi.
Đức Chúa Jêsus lại rời địa phận thành Ty-rơ, đi ngang qua thành Si-đôn hướng đến biển Ga-li-lê và vào địa phận Đê-ca-bô-lơ.
Người ta đem đến cho Ngài một người điếc và ngọng, nài xin Ngài đặt tay trên người ấy.
Ngài đem người ấy ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào tai anh ta, và nhổ nước bọt thấm vào lưỡi anh ta.
Rồi Ngài ngước mắt lên trời, thở dài và phán: “Ép-pha-ta!” nghĩa là: “Hãy mở ra!”
Tức thì tai người ấy được mở ra, lưỡi được thong thả, và anh ta nói rõ ràng.
Đức Chúa Jêsus bảo họ đừng thuật chuyện nầy với ai, nhưng Ngài càng cấm, người ta càng nói.
Mọi người đều vô cùng ngạc nhiên và nói: “Ngài làm mọi việc thật tốt đẹp: Ngài khiến kẻ điếc nghe được, người câm nói được!”
Trong những ngày đó, lại có một đoàn dân đông tụ họp và họ không có gì để ăn, nên Đức Chúa Jêsus gọi các môn đồ đến và bảo:
“Ta cảm thương đoàn dân nầy, vì họ đã ở với Ta ba ngày và bây giờ không có gì ăn cả.
Nếu Ta để họ bụng đói ra về, chắc họ sẽ xỉu dọc đường vì trong họ có một số người từ những nơi xa đến.”
Môn đồ thưa rằng: “Giữa nơi hoang mạc nầy, làm sao có thể kiếm đủ bánh cho họ ăn?”
Ngài hỏi: “Các con có bao nhiêu bánh?” Họ thưa: “Có bảy cái.”
Ngài truyền cho đoàn dân ngồi xuống đất; lấy bảy cái bánh, tạ ơn, rồi bẻ ra trao cho các môn đồ để phân phát cho dân chúng.
Các môn đồ cũng có mấy con cá nhỏ; Đức Chúa Jêsus tạ ơn, rồi cũng truyền đem phân phát như vậy.
Ai nấy đều ăn no nê và họ thu lại được bảy giỏ đầy những mẩu bánh thừa.
Số người ăn khoảng chừng bốn nghìn người. Đức Chúa Jêsus cho dân chúng về,
còn Ngài lập tức xuống thuyền cùng các môn đồ đi sang vùng Đa-ma-nu-tha.
Có mấy người Pha-ri-si đến và tranh luận với Ngài, họ xin Ngài một dấu lạ từ trời để thử Ngài.
Đức Chúa Jêsus thở than trong lòng rằng: “Tại sao thế hệ nầy lại tìm kiếm dấu lạ? Thật, Ta bảo các ngươi, sẽ chẳng có một dấu lạ nào được ban cho thế hệ nầy cả.”
Rồi Ngài rời họ, trở lại thuyền và sang bờ bên kia.
Các môn đồ quên đem bánh theo; trong thuyền họ chỉ có một cái bánh thôi.
Ngài nhắc nhở họ: “Hãy thận trọng và đề phòng men của người Pha-ri-si và men của đảng Hê-rốt.”
Các môn đồ bàn luận với nhau: “Chắc tại chúng ta không có bánh.”
Biết điều đó, Đức Chúa Jêsus nói: “Sao các con lại bàn luận với nhau về việc các con không có bánh? Các con vẫn còn chưa biết, chưa hiểu sao? Lòng các con vẫn cứng cỏi sao?
Sao các con có mắt mà không thấy? Có tai mà không nghe? Các con không nhớ sao?
Khi Ta bẻ năm cái bánh cho năm nghìn người, các con thu được bao nhiêu giỏ đầy bánh thừa?” Họ thưa: “Mười hai giỏ.”
“Còn khi Ta bẻ bảy cái bánh cho bốn nghìn người, các con thu được bao nhiêu giỏ đầy bánh thừa?” Họ thưa: “Bảy giỏ.”
Ngài phán: “Các con vẫn còn chưa hiểu sao?”
Đức Chúa Jêsus và môn đồ đến làng Bết-sai-đa. Người ta đem cho Ngài một người mù và nài xin Ngài chạm vào anh.
Ngài nắm tay người mù, dắt anh ra khỏi làng, thoa nước miếng lên mắt và đặt tay trên anh, rồi hỏi: “Con có thấy gì không?”
Người mù ngước lên rồi thưa: “Con thấy người ta, nhưng trông họ như cây cối, đang di chuyển.”
Đức Chúa Jêsus lại đặt tay trên mắt anh; anh chăm chú nhìn, thị giác được phục hồi và anh thấy rõ mọi vật.
Đức Chúa Jêsus cho anh về và dặn: “Đừng trở vào trong làng.”
Đức Chúa Jêsus cùng các môn đồ đi khỏi đó, vào các làng gần thành Sê-sa-rê Phi-líp. Dọc đường, Ngài hỏi các môn đồ rằng: “Thiên hạ nói Ta là ai?”
Họ thưa: “Người thì nói Thầy là Giăng Báp-tít; người thì nói là Ê-li; người khác thì nói là một trong các nhà tiên tri.”
Ngài hỏi: “Còn các con thì nói Ta là ai?” Phi-e-rơ thưa rằng: “Thầy là Đấng Christ.”
Đức Chúa Jêsus truyền cho các môn đồ không được nói về Ngài với ai cả.
Bấy giờ, Ngài bắt đầu dạy các môn đồ rằng Con Người phải chịu nhiều đau khổ, phải bị các trưởng lão, các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo chối bỏ, phải bị giết, và sau ba ngày phải sống lại.
Ngài nói rõ ràng việc nầy với các môn đồ. Phi-e-rơ đem Ngài riêng ra, và trách Ngài.
Nhưng Đức Chúa Jêsus quay lại nhìn các môn đồ, và quở trách Phi-e-rơ: “Hỡi Sa-tan, hãy lui ra đằng sau Ta, vì ngươi chẳng nghĩ đến việc của Đức Chúa Trời, mà chỉ nghĩ đến việc loài người.”
Sau đó, Ngài gọi dân chúng và các môn đồ đến và nói: “Nếu ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình, vác thập tự giá mình mà theo Ta.
Vì ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai vì Ta và Tin Lành mà mất mạng sống, thì sẽ cứu được mạng sống mình.
Một người nếu được cả thế gian mà mất linh hồn mình thì có ích gì?
Người ấy sẽ lấy gì mà đổi lại linh hồn mình?
Vì nếu ai hổ thẹn về Ta và đạo Ta giữa thế hệ gian dâm tội lỗi nầy, thì Con Người cũng sẽ hổ thẹn về người ấy khi Ngài cùng với các thiên sứ thánh ngự đến trong vinh quang của Cha Ngài.”
Ngài phán với các môn đồ: “Thật, Ta bảo các con, một số trong những người đang đứng đây sẽ không chết trước khi thấy vương quốc Đức Chúa Trời đến với uy quyền.”
Sáu ngày sau, Đức Chúa Jêsus đem riêng Phi-e-rơ, Gia-cơ, và Giăng cùng với Ngài lên một ngọn núi cao, và Ngài hóa hình trước mặt họ.
Y phục Ngài trở nên rực sáng và trắng tinh đến nỗi chẳng có thợ phiếu nào trên thế gian nầy có thể phiếu trắng được như vậy.
Ê-li và Môi-se hiện ra nói chuyện với Đức Chúa Jêsus.
Phi-e-rơ thưa với Đức Chúa Jêsus: “Thưa Thầy, chúng ta ở đây tốt lắm; xin để chúng con dựng ba cái trại: một cái cho Thầy, một cái cho Môi-se và một cái cho Ê-li.”
Vì cả ba đều quá sợ hãi nên Phi-e-rơ không biết mình đang nói gì.
Rồi có một đám mây che phủ họ; từ trong đám mây có tiếng phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, hãy nghe lời Người!”
Bỗng nhiên, các môn đồ nhìn quanh, không thấy ai cả, chỉ còn một mình Đức Chúa Jêsus ở với họ mà thôi.
Khi cùng các môn đồ từ trên núi xuống, Ngài dặn họ không được nói lại với ai những điều mình đã thấy cho đến khi Con Người từ cõi chết sống lại.
Các môn đồ ghi nhớ lời ấy và hỏi nhau “từ cõi chết sống lại” nghĩa là gì?
Rồi họ hỏi Ngài: “Tại sao các thầy thông giáo lại nói rằng Ê-li phải đến trước?”
Ngài đáp: “Thật Ê-li phải đến trước để phục hồi mọi việc. Còn lời chép về Con Người rằng Ngài phải chịu nhiều đau khổ và bị ngược đãi thì thể nào?
Nhưng Ta nói cho các con biết, Ê-li đã đến rồi, và người ta đã đối xử với người theo ý họ, đúng như lời đã chép về người vậy.”
Khi Đức Chúa Jêsus và ba môn đồ trở lại chỗ các môn đồ khác thì thấy một đoàn dân rất đông đang vây quanh họ; có mấy thầy thông giáo đang tranh luận với họ.
Vừa thấy Ngài, cả đám đông rất ngạc nhiên, liền chạy đến chào đón Ngài.
Ngài hỏi họ: “Các ngươi tranh luận với các môn đồ về việc gì vậy?”
Một người trong đám đông trả lời: “Thưa Thầy, tôi đem con trai tôi đến cho Thầy. Cháu bị quỷ câm ám,
mỗi lần quỷ nhập vào thì vật cháu ngã xuống, làm cho sùi bọt mép, nghiến răng rồi cứng đờ người ra. Tôi đã nhờ các môn đồ Thầy đuổi quỷ ấy, nhưng họ không đuổi được.”
Đức Chúa Jêsus nói: “Hỡi thế hệ vô tín kia, Ta sẽ phải ở với các ngươi cho đến chừng nào? Ta sẽ còn chịu đựng các ngươi cho đến bao giờ? Hãy đem đứa trẻ đến cho Ta.”
Họ đem đứa trẻ đến cho Ngài. Vừa thấy Đức Chúa Jêsus, quỷ lập tức vật mạnh đứa trẻ, nó ngã xuống đất, lăn lộn, sùi bọt mép.
Đức Chúa Jêsus hỏi người cha: “Cháu bị thế nầy đã bao lâu rồi?” Người cha thưa: “Từ khi cháu còn bé.
Quỷ đã nhiều lần ném cháu vào lửa, vào nước, để giết cháu đi. Nhưng nếu Thầy có thể làm được gì, xin thương xót chúng tôi và giúp cho!”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Sao lại nói ‘nếu Thầy có thể làm được’? Ai tin thì mọi việc đều được cả.”
Cha đứa trẻ liền la lên rằng: “Tôi tin, xin giúp cho sự vô tín của tôi!”
Khi thấy đoàn dân đổ xô đến, Đức Chúa Jêsus quở trách quỷ và phán: “Quỷ câm và điếc kia, Ta ra lệnh cho mầy phải rời khỏi đứa trẻ nầy, không được nhập vào nó nữa!”
Quỷ rú lên, quật mạnh đứa trẻ rồi ra khỏi; đứa trẻ trông như một xác chết, nên nhiều người nói rằng: “Nó chết rồi!”
Nhưng Đức Chúa Jêsus nắm tay đứa trẻ, đỡ nó lên, và nó đứng dậy.
Khi Đức Chúa Jêsus đã vào trong nhà rồi, các môn đồ hỏi riêng Ngài: “Tại sao chúng con không thể đuổi được quỷ ấy?”
Ngài đáp: “Nếu không cầu nguyện thì chẳng ai đuổi thứ quỷ ấy ra được.”
Rời nơi đó, Đức Chúa Jêsus và các môn đồ đi ngang qua miền Ga-li-lê. Ngài không muốn ai biết việc nầy,
vì Ngài đang dạy các môn đồ rằng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người ta, họ sẽ giết Ngài; và ba ngày sau khi bị giết, Ngài sẽ sống lại.”
Nhưng các môn đồ không hiểu lời ấy, lại sợ không dám hỏi Ngài.
Đức Chúa Jêsus và các môn đồ đến thành Ca-bê-na-um. Khi đã vào trong nhà rồi, Ngài hỏi các môn đồ: “Lúc đi đường, các con bàn cãi với nhau việc gì vậy?”
Nhưng họ làm thinh, vì dọc đường họ đã cãi nhau xem ai là người cao trọng hơn hết.
Ngài ngồi xuống, gọi mười hai sứ đồ và nói: “Nếu ai muốn làm đầu, thì phải làm cuối và làm đầy tớ cho mọi người.”
Rồi Ngài đem một đứa trẻ đặt giữa các môn đồ; Ngài ẵm em bé trong tay và nói:
“Người nào vì danh Ta tiếp một đứa trẻ như thế nầy tức là tiếp Ta; còn ai tiếp Ta, thì không phải tiếp Ta, nhưng tiếp Đấng đã sai Ta.”
Giăng thưa với Ngài: “Thưa Thầy, chúng con đã thấy có người nhân danh Thầy mà đuổi quỷ, và chúng con đã cấm vì người ấy không theo chúng ta.”
Nhưng Đức Chúa Jêsus bảo: “Đừng cấm họ, vì không ai có thể vừa nhân danh Ta làm phép lạ lại vừa nói xấu Ta được.
Ai không chống chúng ta là ủng hộ chúng ta.
Còn ai nhân danh Ta mà cho các con một chén nước, vì các con thuộc về Đấng Christ. Thật, Ta bảo các con, người ấy sẽ không mất phần thưởng mình đâu.
Nhưng ai gây cho một trong những đứa bé nầy đã tin Ta sa vào tội lỗi thì thà buộc cối đá vào cổ người ấy mà ném xuống biển còn hơn.”
“Nếu tay con gây cho con phạm tội, hãy chặt nó đi! Vì thà cụt một tay mà vào sự sống, còn hơn đủ cả hai tay mà sa vào hỏa ngục, trong lửa chẳng hề tắt.
Nếu chân con gây cho con phạm tội, hãy chặt nó đi! Vì thà cụt một chân mà vào sự sống, còn hơn đủ cả hai chân mà bị ném vào hỏa ngục.
Còn nếu mắt con gây cho con phạm tội, hãy móc nó đi! Vì thà chột mắt mà vào vương quốc Đức Chúa Trời, còn hơn đủ cả hai mắt mà bị ném vào hỏa ngục,
là nơi sâu bọ chẳng hề chết và lửa không hề tắt.
Vì mỗi người sẽ bị muối bằng lửa.
Muối vốn là tốt, nhưng nếu muối mất mặn, thì làm thế nào cho mặn lại được? Các con phải có muối trong lòng mình, và sống hòa thuận với nhau.”
Từ đó Đức Chúa Jêsus đi vào miền Giu-đê và miền bên kia sông Giô-đanh. Đoàn dân đông lại tụ họp quanh Ngài, và như thường lệ, Ngài dạy dỗ họ.
Có mấy người Pha-ri-si đến hỏi để thử Ngài: “Đàn ông có được phép ly dị vợ không?”
Ngài hỏi: “Môi-se đã truyền dạy các ngươi điều gì?”
Họ thưa: “Môi-se cho phép người đàn ông viết giấy ly hôn rồi ly dị vợ.”
Đức Chúa Jêsus phán: “Chính vì sự cứng lòng của các ngươi mà Môi-se mới viết ra luật nầy.
Nhưng từ buổi sáng thế, ‘Đức Chúa Trời chỉ tạo dựng một nam và một nữ.’
‘Vì lý do đó mà người nam phải lìa cha mẹ mình và kết hợp với vợ,
và hai người trở nên một thịt.’ Như thế, vợ chồng sẽ không còn là hai nữa, mà chỉ là một.
Vậy, loài người không được phân rẽ những người mà Đức Chúa Trời đã phối hợp.”
Khi ở trong nhà, các môn đồ lại hỏi Ngài về vấn đề nầy;
Ngài phán: “Người nào ly dị vợ để cưới người khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ.
Còn nếu người đàn bà ly dị chồng để kết hôn với người khác thì cũng phạm tội ngoại tình.”
Người ta đem con trẻ đến với Đức Chúa Jêsus để được Ngài đặt tay trên chúng, nhưng các môn đồ trách họ.
Thấy vậy, Ngài giận và bảo các môn đồ: “Hãy để con trẻ đến cùng Ta, đừng ngăn cấm chúng, vì vương quốc Đức Chúa Trời thuộc về những ai giống như các con trẻ ấy.
Thật, Ta bảo các con, ai không tiếp nhận vương quốc Đức Chúa Trời như một đứa trẻ thì sẽ không vào đó được.”
Rồi Ngài ẵm những đứa trẻ ấy, đặt tay trên chúng và ban phước cho.
Khi Đức Chúa Jêsus vừa khởi hành, có một người chạy đến, quỳ trước mặt Ngài và hỏi: “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được hưởng sự sống đời đời?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Tại sao ngươi gọi Ta là nhân lành? Không ai là nhân lành cả, ngoài một mình Đức Chúa Trời.
Hẳn ngươi biết các điều răn: ‘Đừng giết người; đừng phạm tội ngoại tình; đừng trộm cắp; đừng làm chứng dối; đừng lừa đảo; hãy hiếu kính cha mẹ ngươi.’”
Người ấy nói: “Thưa Thầy, tôi đã tuân giữ mọi điều đó từ thuở niên thiếu.”
Đức Chúa Jêsus trìu mến nhìn anh và nói: “Ngươi còn thiếu một điều. Hãy đi, bán những gì mình có và phân phát cho người nghèo thì ngươi sẽ có kho báu ở trên trời; rồi hãy đến theo Ta.”
Nghe vậy, anh sa sầm nét mặt, rồi buồn bã bỏ đi, vì anh ta có quá nhiều của cải.
Đức Chúa Jêsus đưa mắt nhìn quanh rồi phán với các môn đồ: “Người giàu vào vương quốc Đức Chúa Trời thật khó biết bao!”
Các môn đồ ngạc nhiên về những lời nầy. Nhưng Đức Chúa Jêsus lại phán: “Hỡi các con, những ai nương cậy vào sự giàu có để được vào vương quốc Đức Chúa Trời thật vô cùng khó khăn!
Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào vương quốc Đức Chúa Trời.”
Các môn đồ vô cùng ngạc nhiên, nói với nhau: “Vậy thì ai có thể được cứu?”
Đức Chúa Jêsus nhìn họ và phán: “Loài người không thể làm được việc nầy, nhưng với Đức Chúa Trời thì khác; vì Đức Chúa Trời làm được mọi sự.”
Phi-e-rơ liền nói: “Thưa Thầy, chúng con đã từ bỏ tất cả mà theo Thầy.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Thật, Ta bảo các con, không một ai vì Ta và Tin Lành từ bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng,
mà bây giờ, ngay trong đời nầy, lại không nhận gấp trăm lần hơn về nhà cửa, anh em, chị em, mẹ, con cái, đất ruộng, cùng với sự bắt bớ, và sự sống đời đời trong đời sau.
Nhưng có nhiều người đầu sẽ trở nên cuối, và người cuối sẽ trở nên đầu.”
Đức Chúa Jêsus và các môn đồ đang trên đường lên thành Giê-ru-sa-lem, Ngài đi trước họ. Các môn đồ kinh ngạc, còn những người đi theo thì sợ hãi. Ngài lại đem mười hai sứ đồ riêng ra và nói cho họ những gì sẽ phải xảy đến cho mình.
Ngài nói: “Nầy, chúng ta lên thành Giê-ru-sa-lem, Con Người sẽ bị nộp cho các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo. Họ sẽ kết án tử hình Người, rồi giao cho dân ngoại.
Người ta sẽ chế nhạo Người, khạc nhổ trên Người, đánh đòn và giết chết Người; nhưng sau ba ngày, Người sẽ sống lại.”
Hai con trai của Xê-bê-đê là Gia-cơ và Giăng đến gần Đức Chúa Jêsus và nói: “Thưa Thầy, chúng con mong Thầy thực hiện điều chúng con cầu xin.”
Ngài hỏi: “Các con muốn Ta làm gì cho các con?”
Họ thưa: “Khi Thầy được vinh hiển, xin cho hai chúng con một người được ngồi bên phải, một người bên trái của Thầy.”
Nhưng Đức Chúa Jêsus nói: “Các con không biết điều mình xin. Các con có thể uống được chén Ta uống, và chịu được báp-têm Ta chịu không?”
Họ thưa: “Dạ được!” Đức Chúa Jêsus phán: “Các con sẽ uống chén Ta uống, và sẽ chịu báp-têm Ta chịu.
Nhưng việc ngồi bên phải hay bên trái Ta thì Ta không cho được, vị trí ấy dành cho những người đã được định sẵn.”
Nghe vậy, mười sứ đồ kia giận Gia-cơ và Giăng.
Đức Chúa Jêsus gọi họ đến và nói: “Các con biết rằng những người được tôn làm nhà cầm quyền dân ngoại thì thống trị dân; các quan chức cao cấp thì dùng quyền lực mà cai trị.
Nhưng giữa các con thì không phải vậy. Trái lại, ai muốn làm lớn trong các con thì phải làm đầy tớ,
còn ai muốn đứng đầu trong các con thì phải làm nô lệ cho mọi người.
Vì Con Người đã đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ, và hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người.”
Đức Chúa Jêsus và các môn đồ đến Giê-ri-cô. Khi Ngài cùng các môn đồ và đoàn dân đông rời khỏi thành, có một người mù tên là Ba-ti-mê, con trai của Ti-mê, ngồi ăn xin bên đường.
Nghe nói đây là Đức Chúa Jêsus, người Na-xa-rét, anh kêu lớn: “Lạy Đức Chúa Jêsus, Con vua Đa-vít, xin đoái thương con!”
Nhiều người rầy anh, bảo phải im lặng, nhưng anh càng kêu lớn hơn: “Lạy Con vua Đa-vít, xin đoái thương con!”
Đức Chúa Jêsus dừng lại và bảo: “Hãy gọi người ấy đến đây.” Họ gọi người mù và bảo: “Hãy vững lòng, đứng dậy, Ngài gọi anh đó.”
Người mù vứt bỏ áo choàng, đứng phắt dậy và đến với Đức Chúa Jêsus.
Đức Chúa Jêsus hỏi: “Con muốn Ta làm gì cho con?” Anh thưa: “Lạy Thầy, xin cho con được sáng mắt.”
Ngài phán: “Hãy đi, đức tin con đã chữa lành con.” Lập tức người mù được sáng mắt lại và đi theo Ngài.
Khi đến gần thành Giê-ru-sa-lem, cạnh làng Bết-pha-giê và Bê-tha-ni, ngang núi Ô-liu, Đức Chúa Jêsus sai hai môn đồ đi,
và bảo: “Hãy đi vào làng đối diện, vừa vào đó các con sẽ thấy ngay một con lừa con chưa ai cưỡi, đang buộc sẵn ở đó. Hãy mở nó ra và dắt về.
Nếu có ai hỏi các con: ‘Tại sao các ông làm vậy?’ thì hãy đáp: ‘Chúa cần đến nó và Ngài sẽ gửi trả lại ngay.’ ”
Hai người đi và thấy ở bên đường có một con lừa con đang buộc trước cửa nhà. Họ mở dây lừa ra.
Vài người trong số những người đứng đó hỏi: “Các ông mở lừa con đó làm gì?”
Hai người trả lời như Đức Chúa Jêsus đã dặn; và họ cho dắt lừa đi.
Họ dắt lừa con về cho Đức Chúa Jêsus, trải áo mình trên lưng nó, rồi Ngài cưỡi lên.
Nhiều người trải áo mình trên đường, có người trải cành cây vừa chặt ngoài đồng.
Người đi trước, kẻ theo sau đều tung hô rằng: “Hô-sa-na! Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến!
Phước cho vương quốc sắp đến của vua Đa-vít, tổ phụ chúng ta! Hô-sa-na trên nơi chí cao!”
Đức Chúa Jêsus vào thành Giê-ru-sa-lem và đi vào đền thờ. Ngài đưa mắt nhìn mọi việc chung quanh, rồi cùng với mười hai sứ đồ đi đến làng Bê-tha-ni vì lúc ấy trời đã tối.
Ngày hôm sau, khi rời Bê-tha-ni thì Ngài đói.
Từ xa, Ngài thấy một cây vả đầy lá nên đến xem thử có tìm được gì trên cây không. Nhưng khi đến gần, Ngài không thấy gì khác ngoài lá, vì bấy giờ chưa đến mùa vả.
Ngài phán với cây vả: “Không một ai còn ăn trái của mầy nữa!” Các môn đồ Ngài đều nghe lời ấy.
Đức Chúa Jêsus và các môn đồ đến thành Giê-ru-sa-lem. Ngài vào đền thờ, đuổi hết những kẻ bán, người mua trong đền thờ, lật bàn của những kẻ đổi tiền, xô ghế của những người bán bồ câu.
Ngài không cho phép bất cứ ai đem vật gì đi ngang qua đền thờ.
Rồi Ngài dạy và phán với họ: “Chẳng phải đã có lời chép rằng: ‘Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc’ hay sao? Nhưng các ngươi đã biến nơi ấy thành hang trộm cướp.”
Khi nghe được những lời nầy, các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo tìm cách giết Ngài. Họ sợ Ngài, vì cả đoàn dân đều thán phục sự dạy dỗ của Ngài.
Tối đến, Đức Chúa Jêsus và các môn đồ ra khỏi thành.
Sáng hôm sau, khi đi ngang qua đó, họ thấy cây vả đã khô đến tận rễ;
Phi-e-rơ nhớ lại chuyện hôm qua nên thưa với Ngài: “Thầy ơi, xem kìa! Cây vả mà Thầy quở đã chết khô rồi.”
Đức Chúa Jêsus phán: “Hãy có đức tin nơi Đức Chúa Trời.
Thật, Ta bảo các con, ai bảo hòn núi nầy: ‘Hãy nhấc lên, và lao xuống biển,’ nếu trong lòng người ấy không có chút nghi ngờ, nhưng tin điều mình nói sẽ xảy ra, thì điều đó sẽ được thực hiện.
Vì vậy Ta bảo các con, bất cứ điều gì các con xin trong lúc cầu nguyện, hãy tin rằng mình đã nhận được rồi, thì các con sẽ được điều ấy.
Khi các con đứng cầu nguyện, nếu có chuyện bất bình với ai thì hãy tha thứ, để Cha các con ở trên trời cũng tha thứ những vi phạm của các con.”
Đức Chúa Jêsus và các môn đồ trở lại thành Giê-ru-sa-lem. Khi Ngài đang đi trong đền thờ, các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo và các trưởng lão đến cùng Ngài,
và hỏi: “Bởi thẩm quyền nào mà Thầy làm những việc nầy, hay ai đã cho Thầy thẩm quyền để làm những việc ấy?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Ta cũng hỏi các ngươi một câu; hãy trả lời Ta thì Ta sẽ nói cho các ngươi biết Ta làm những việc nầy bởi thẩm quyền nào.
Báp-têm của Giăng đến từ trời hay từ loài người? Hãy trả lời cho Ta đi.”
Họ bàn luận với nhau: “Nếu chúng ta nói, ‘Từ trời’ thì ông ấy sẽ nói, ‘Vậy, tại sao các ngươi không tin Giăng?’
Còn nếu chúng ta nói, ‘Từ loài người’?” — Họ sợ dân chúng, vì mọi người đều cho rằng Giăng thật là một nhà tiên tri. —
Vì vậy, họ trả lời Đức Chúa Jêsus: “Chúng tôi không biết.” Đức Chúa Jêsus bảo họ: “Ta cũng sẽ không nói cho các ngươi biết bởi thẩm quyền nào Ta làm những việc nầy.”
Đức Chúa Jêsus bắt đầu dùng ẩn dụ nói với họ: “Người kia trồng một vườn nho, rào chung quanh, đào hầm ép rượu, xây một tháp canh, rồi cho những người trồng nho thuê, và đi qua một xứ khác.
Đến mùa, chủ vườn sai một đầy tớ đến gặp những người trồng nho để thu một phần hoa lợi từ vườn nho.
Nhưng chúng bắt đầy tớ, đánh đập rồi đuổi về tay không.
Người chủ lại sai một đầy tớ khác đến, chúng đánh vào đầu và nhục mạ anh ta.
Người chủ sai tiếp một đầy tớ khác đến thì họ giết đi. Nhiều đầy tớ khác cũng bị đối xử như vậy, người thì bị đánh, kẻ thì bị giết.
Chủ vườn chỉ còn một người, đó là con trai một yêu dấu của mình. Cuối cùng, ông sai con mình đi, tự nhủ rằng: ‘Chúng sẽ kính nể con trai ta!’
Nhưng bọn trồng nho đó bàn với nhau: ‘Đây là đứa con thừa kế. Nào, hãy giết nó đi thì gia tài của nó sẽ thuộc về chúng ta.’
Chúng bắt người con trai ấy, giết đi và ném ra ngoài vườn nho.
Vậy, chủ vườn nho sẽ làm gì? Ông sẽ đến diệt những kẻ trồng nho đó, rồi giao vườn nho cho những người khác.
Các ngươi chưa từng đọc lời Kinh Thánh nầy sao: ‘Hòn đá bị thợ xây loại ra, Đã trở nên đá góc nhà;
Đây là việc Chúa làm, Và ấy là sự diệu kỳ trước mắt chúng ta’?”
Các nhà lãnh đạo Do Thái giáo muốn tìm cách bắt Ngài, vì biết Ngài dùng ẩn dụ ấy ám chỉ họ. Nhưng họ lại sợ dân chúng nên bỏ Ngài mà đi.
Sau đó, họ sai mấy người thuộc phái Pha-ri-si và phe Hê-rốt đến gặp Đức Chúa Jêsus để gài bẫy Ngài trong lời nói.
Họ đến nói với Ngài: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân chính, không vị nể ai; vì Thầy không nhìn bề ngoài của con người, nhưng dạy đường lối Đức Chúa Trời cách trung thực. Vậy, việc nộp thuế cho Sê-sa có đúng luật không? Chúng tôi có phải nộp hay không?”
Biết được thái độ đạo đức giả của họ, Ngài bảo: “Tại sao các ngươi thử Ta? Hãy đem cho Ta xem một đồng đơ-ni-ê.”
Họ đem cho Ngài một đồng tiền. Ngài hỏi: “Hình và hiệu nầy của ai?” Họ trả lời: “Của Sê-sa.”
Đức Chúa Jêsus phán: “Hãy trả cho Sê-sa những gì của Sê-sa, và hãy trả cho Đức Chúa Trời những gì của Đức Chúa Trời.” Họ vô cùng kinh ngạc về Ngài.
Một số người thuộc phái Sa-đu-sê, là những người nói rằng không có sự sống lại, đến hỏi Ngài:
“Thưa Thầy, Môi-se đã ban cho chúng tôi luật nầy: ‘Nếu một người có anh qua đời, để vợ lại nhưng không có con, thì người ấy phải lấy vợ góa đó để có con nối dõi cho anh mình.’
Có bảy anh em kia, người anh cả cưới vợ, rồi chết, không có con.
Người thứ hai lấy vợ góa ấy, rồi cũng chết không có con; người thứ ba cũng vậy.
Cả bảy người đều không để lại đứa con nào. Sau cùng, người đàn bà cũng chết.
Lúc sống lại, người đàn bà đó sẽ là vợ của ai? Vì cả bảy người đều đã lấy nàng làm vợ.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Có phải do không hiểu biết Kinh Thánh và quyền năng của Đức Chúa Trời mà các ngươi đã sai lầm chăng?
Vì khi từ cõi chết sống lại, người ta không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng, nhưng sẽ như thiên sứ trên trời vậy.
Còn việc người chết được sống lại, các ngươi chưa đọc câu chuyện về bụi gai trong sách Môi-se sao? Vì sao Đức Chúa Trời đã phán với ông, ‘Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp’?
Ngài không phải là Đức Chúa Trời của kẻ chết, nhưng của người sống. Thật các ngươi sai lầm nghiêm trọng.”
Một trong các thầy thông giáo đến gần, nghe Đức Chúa Jêsus và người Sa-đu-sê tranh luận với nhau, thấy Đức Chúa Jêsus đối đáp hay, nên hỏi Ngài: “Trong các điều răn, điều nào quan trọng nhất?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Điều răn quan trọng nhất là, ‘Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy lắng nghe, Chúa, Đức Chúa Trời chúng ta là Chúa duy nhất.
Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết tâm trí, hết sức lực mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi.’
Điều thứ hai là: ‘Ngươi phải yêu người lân cận như chính mình.’ Không có điều răn nào lớn hơn hai điều nầy.”
Thầy thông giáo nói: “Thưa Thầy, thật đúng như Thầy nói, Đức Chúa Trời chỉ có một, ngoài Ngài chẳng có Đấng nào khác.
Thật vậy, kính mến Chúa hết lòng, hết trí, hết sức, và yêu người lân cận như chính mình, còn quan trọng hơn việc dâng mọi tế lễ toàn thiêu và các tế lễ khác.”
Thấy người ấy trả lời khôn ngoan, Đức Chúa Jêsus nói: “Ngươi không xa vương quốc Đức Chúa Trời đâu.” Sau đó không còn ai dám hỏi Ngài nữa.
Khi đang giảng dạy trong đền thờ, Đức Chúa Jêsus đặt câu hỏi: “Làm sao các thầy thông giáo lại có thể nói Đấng Christ là con Đa-vít?
Chính Đa-vít được Đức Thánh Linh cảm thúc, đã nói rằng: ‘Chúa phán với Chúa tôi: Hãy ngồi bên phải Ta, Cho đến khi Ta đặt các kẻ thù Con dưới chân Con.’
Chính Đa-vít gọi Ngài là Chúa, vậy làm sao Ngài là con vua ấy được?” Đoàn dân đông lắng nghe Ngài một cách thích thú.
Trong lúc dạy dỗ, Ngài nói: “Hãy đề phòng các thầy thông giáo, là những người ưa mặc áo dài đi dạo, thích được người ta chào mình nơi phố chợ,
muốn ngồi ghế quan trọng nhất trong các nhà hội và chỗ danh dự trong các buổi tiệc.
Họ nuốt nhà của các bà góa mà giả bộ cầu nguyện dài dòng. Họ sẽ bị phán xét nặng hơn.”
Đức Chúa Jêsus ngồi đối diện với thùng lạc hiến, và quan sát dân chúng khi họ bỏ tiền vào thùng.
Nhiều người giàu bỏ vào rất nhiều tiền. Cũng có một bà góa nghèo đến bỏ vào thùng hai đồng tiền nhỏ, trị giá một phần tư xu.
Ngài gọi các môn đồ đến và bảo: “Thật, Ta bảo các con, bà góa nghèo nầy đã bỏ tiền vào thùng lạc hiến nhiều hơn tất cả những người khác.
Vì những người khác lấy tiền dư bạc thừa mà dâng; còn bà góa nầy, rất nghèo túng nhưng đã dâng hết những gì mình có, là tất cả những gì để nuôi sống mình.”
Khi Đức Chúa Jêsus vừa ra khỏi đền thờ, một môn đồ thưa với Ngài: “Thưa Thầy, Thầy xem kìa, những tảng đá to lớn và các tòa nhà vĩ đại làm sao!”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Con thấy những tòa nhà nầy vĩ đại ư? Rồi đây sẽ không còn viên đá nào chồng trên viên đá nào nữa. Tất cả đều sẽ bị đổ xuống.”
Khi Ngài đang ngồi trên núi Ô-liu, đối diện với đền thờ, Phi-e-rơ, Gia-cơ, Giăng, và Anh-rê đến hỏi riêng Ngài:
“Xin Thầy nói cho chúng con biết lúc nào các điều ấy xảy đến, và có dấu hiệu nào để biết thời điểm kết thúc tất cả các việc ấy không?”
Đức Chúa Jêsus bắt đầu nói với họ: “Hãy cảnh giác, đừng để ai lừa dối các con.
Vì có nhiều kẻ sẽ mạo danh Ta mà đến và nói rằng: ‘Chính ta là đấng ấy!’ và chúng sẽ lừa dối nhiều người.
Khi các con nghe nói về chiến tranh và tin đồn về chiến tranh thì đừng bối rối; việc ấy phải xảy đến, nhưng chưa phải là cuối cùng đâu.
Vì dân nầy sẽ nổi lên nghịch lại dân khác, nước nọ chống với nước kia. Sẽ có động đất nhiều nơi, và đói kém xảy ra. Đây mới chỉ là khởi điểm của những khốn khổ mà thôi.
Về phần các con, phải cảnh giác vì họ sẽ nộp các con cho các tòa án; các con sẽ bị đánh đập trong các nhà hội; và vì Ta, các con sẽ phải đứng trước mặt các tổng đốc và các vua để làm chứng cho họ.
Nhưng trước hết, Tin Lành phải được rao giảng cho mọi dân tộc.
Khi họ giải nộp các con, đừng lo trước về điều mình sẽ nói, nhưng trong giờ đó, hãy nói theo lời sẽ được ban cho các con; vì không phải các con nói đâu, nhưng là Đức Thánh Linh.
Anh em sẽ nộp nhau để bị giết; cha sẽ nộp con; con cái sẽ nổi lên nghịch lại cha mẹ và khiến họ phải chết.
Các con sẽ bị mọi người ganh ghét vì danh Ta. Nhưng ai bền chí cho đến cuối cùng thì sẽ được cứu.
Nhưng khi các con thấy điều gớm ghiếc gây nên cảnh hoang tàn tại nơi không được phép gây ra (ai đọc phải hiểu), thì ai đang ở trong miền Giu-đê hãy trốn lên núi;
ai ở trên mái nhà đừng xuống hoặc chạy vào nhà để lấy bất cứ vật gì;
ai ở ngoài đồng chớ trở về lấy áo choàng.
Trong những ngày ấy, thật khốn thay cho phụ nữ mang thai và các bà còn cho con bú!
Hãy cầu nguyện cho việc đó không xảy ra trong mùa đông.
Vì trong những ngày ấy sẽ có hoạn nạn mà từ thuở khai thiên lập địa, lúc Đức Chúa Trời tạo dựng vũ trụ cho đến bây giờ cũng chưa từng có, và về sau cũng chẳng bao giờ có như vậy.
Nếu Chúa không rút ngắn các ngày ấy thì không một ai được cứu; nhưng vì những người Ngài đã chọn nên Ngài rút ngắn các ngày ấy.
Khi ấy, nếu có ai bảo các con: ‘Nầy, Đấng Christ ở đây!’ hay ‘Kìa, Ngài ở đó!’ thì đừng tin.
Những kẻ giả danh Đấng Christ và bọn tiên tri giả sẽ xuất hiện; chúng làm các dấu lạ, phép mầu để nếu có thể thì lừa gạt cả những người được chọn.
Hãy cảnh giác. Ta đã nói trước mọi chuyện cho các con rồi.
Trong những ngày ấy, sau kỳ hoạn nạn, Mặt trời sẽ tối tăm, Mặt trăng sẽ không chiếu sáng,
Các ngôi sao sẽ từ trời sa xuống, Và các quyền lực trên trời sẽ bị rúng động.
Bấy giờ người ta sẽ thấy Con Người lấy đại quyền, đại vinh ngự đến giữa đám mây.
Ngài sẽ sai các thiên sứ tập hợp những người được chọn khắp bốn phương, từ cùng trời đến cuối đất.
Hãy rút ra bài học từ cây vả, vừa lúc cây đâm chồi ra lá thì các con biết mùa hạ sắp đến.
Cũng vậy, khi các con thấy các điều đó xảy ra thì biết Con Người đã gần, đang ở ngay trước cửa.
Thật, Ta bảo các con, thế hệ nầy sẽ không qua đi trước khi mọi việc kia xảy đến.
Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Ta nói sẽ không bao giờ qua đâu.
Về ngày và giờ đó thì không ai biết được, cả các thiên sứ trên trời, hay là Con cũng vậy, chỉ một mình Cha mà thôi.
Hãy cảnh giác và tỉnh thức vì các con không biết giờ đó đến khi nào.
Cũng như một người kia sắp lên đường đi xa, khi rời nhà, giao quyền cho các đầy tớ, mỗi người một việc, và dặn người gác cửa phải tỉnh thức.
Vậy, hãy tỉnh thức vì các con không biết chủ nhà về lúc nào, hoặc chiều tối, nửa đêm, lúc gà gáy, hay tảng sáng,
kẻo chủ về thình lình, bắt gặp các con đang ngủ chăng.
Những gì Ta nói với các con, Ta cũng nói cho mọi người: Hãy tỉnh thức!”
Hai ngày trước lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men, các thầy tế lễ cả cùng các thầy thông giáo tìm cách để bắt và giết Đức Chúa Jêsus.
Họ nói: “Không nên ra tay trong ngày lễ, kẻo gây náo động trong dân chúng.”
Đức Chúa Jêsus ở tại làng Bê-tha-ni, trong nhà của Si-môn là người phong hủi. Khi Ngài đang ngồi tại bàn ăn thì có một phụ nữ vào, mang theo một bình bằng ngọc đựng dầu cam tùng nguyên chất, rất đắt tiền. Bà ấy đập bể bình và đổ dầu thơm lên đầu Ngài.
Có vài người tức giận nói với nhau: “Sao lại phung phí dầu thơm như vậy?
Vì dầu nầy có thể bán được hơn ba trăm đơ-ni-ê để cho người nghèo.” Họ nặng lời với bà.
Nhưng Đức Chúa Jêsus phán: “Hãy để mặc người. Tại sao các con gây phiền hà cho người ấy? Người đã làm một việc tốt cho Ta.
Vì các con luôn có người nghèo bên mình, muốn làm phước cho họ lúc nào cũng được; nhưng không phải lúc nào cũng có Ta đâu.
Người đã làm điều mình có thể làm, đã xức xác Ta để chuẩn bị cho việc chôn cất.
Thật, Ta bảo các con, trên khắp thế giới nầy, bất cứ nơi nào Tin Lành được rao giảng, việc người phụ nữ nầy làm sẽ được nhắc đến để tưởng nhớ người.”
Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, một trong mười hai sứ đồ, đến gặp các thầy tế lễ cả để phản nộp Đức Chúa Jêsus cho họ.
Nghe vậy họ mừng lắm, và hứa cho nó tiền bạc. Giu-đa tìm cơ hội để phản nộp Ngài.
Vào ngày thứ nhất của lễ Bánh Không Men, là ngày người ta giết chiên con lễ Vượt Qua, các môn đồ thưa với Đức Chúa Jêsus: “Thầy muốn ăn lễ Vượt Qua tại đâu để chúng con đi và chuẩn bị?”
Ngài sai hai môn đồ đi và dặn: “Hãy vào trong thành, có một người mang vò nước sẽ gặp các con. Hãy đi theo người ấy;
người ấy vào nhà nào, các con hãy đến nói với chủ nhà ấy rằng: ‘Thầy hỏi: Phòng khách để Ta và các môn đồ Ta ăn lễ Vượt Qua ở đâu?’
Chủ nhà sẽ chỉ cho các con một phòng lớn trên lầu đã được sắp đặt sẵn sàng. Hãy chuẩn bị cho chúng ta tại đó.”
Hai môn đồ đi vào thành phố và gặp mọi việc như lời Ngài đã nói, rồi họ chuẩn bị lễ Vượt Qua.
Buổi tối, Ngài đến với mười hai sứ đồ.
Đang dùng bữa, Đức Chúa Jêsus phán: “Thật, Ta bảo các con, một người trong các con đang ngồi ăn với Ta đây sẽ phản Ta.”
Các môn đồ buồn rầu lắm, lần lượt hỏi Ngài: “Có phải con không?”
Ngài đáp: “Ấy là một trong mười hai người, là người đang chấm bánh chung đĩa với Ta.
Vì Con Người đi như lời đã chép về Ngài, nhưng khốn thay cho kẻ phản bội Con Người! Thà nó đừng sinh ra còn hơn.”
Đang khi ăn, Đức Chúa Jêsus lấy bánh, cảm tạ, rồi bẻ ra trao cho các môn đồ và phán: “Hãy nhận lấy, đây là thân thể Ta.”
Ngài lấy chén, tạ ơn, rồi trao cho các môn đồ, và tất cả đều uống.
Ngài phán: “Đây là huyết Ta, huyết của giao ước đổ ra cho nhiều người.
Thật, Ta bảo các con, Ta sẽ không uống nước nho nầy nữa cho đến ngày Ta sẽ uống nước nho mới trong vương quốc Đức Chúa Trời.”
Sau khi hát thánh ca, Đức Chúa Jêsus và các môn đồ ra đi, lên núi Ô-liu.
Đức Chúa Jêsus bảo các môn đồ: “Tất cả các con đều sẽ vấp ngã; vì có lời chép rằng: ‘Ta sẽ đánh người chăn, Thì chiên sẽ bị tan tác.’
Nhưng sau khi Ta sống lại, Ta sẽ đến Ga-li-lê trước các con.”
Phi-e-rơ thưa: “Dù cho tất cả đều vấp ngã, nhưng con thì không.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Thật, Ta bảo con, hôm nay, chính đêm nay, trước khi gà gáy hai lượt, con sẽ chối Ta ba lần.”
Nhưng Phi-e-rơ càng quả quyết hơn: “Dù có phải chết với Thầy, con sẽ chẳng chối Thầy đâu.” Tất cả các môn đồ khác cũng đều nói như vậy.
Sau đó, Đức Chúa Jêsus và các môn đồ đi đến một nơi, gọi là Ghết-sê-ma-nê. Ngài bảo họ: “Hãy ngồi đây trong khi Ta cầu nguyện.”
Ngài đem Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng đi cùng. Ngài bắt đầu cảm thấy vô cùng sầu não và bối rối.
Ngài nói với họ: “Linh hồn Ta đau buồn cho đến chết, các con hãy ở đây, và tỉnh thức.”
Đi thêm một quãng nữa, Ngài sấp mình xuống đất và cầu nguyện để nếu có thể được thì xin giờ nầy qua khỏi Ngài.
Ngài thưa: “A-ba, lạy Cha, mọi việc Cha đều làm được. Xin Cha cất chén nầy khỏi Con, nhưng không theo ý Con mà theo ý Cha.”
Rồi Ngài trở lại, thấy ba người đang ngủ; Ngài nói với Phi-e-rơ: “Si-môn, con ngủ ư! Con không thể tỉnh thức được một giờ sao?
Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, để các con khỏi sa vào sự cám dỗ. Tâm linh thì tha thiết, mà xác thịt lại yếu đuối.”
Ngài lại đi và cầu nguyện như lời cầu nguyện trước.
Rồi Ngài trở lại và thấy họ vẫn ngủ, vì mắt họ đã đừ quá và họ không biết phải thưa với Ngài như thế nào.
Ngài trở lại lần thứ ba, và nói với các môn đồ: “Các con vẫn cứ ngủ và nghỉ ngơi được sao? Đủ rồi, giờ đã đến! Nầy, Con Người sắp bị phản nộp vào tay những kẻ có tội.
Hãy trỗi dậy, chúng ta đi. Kìa, kẻ phản Ta đã đến.”
Ngay khi Đức Chúa Jêsus còn đang nói, thì Giu-đa, một trong mười hai sứ đồ, đến. Cùng đi với nó có một đám đông cầm gươm và gậy, do các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo, và các trưởng lão sai đến.
Bấy giờ, kẻ phản bội đã cho chúng dấu hiệu: “Hễ tôi hôn ai, chính là người ấy; hãy bắt và giải đi cho cẩn thận.”
Vừa đến, Giu-đa lập tức tiến lại gần Ngài và nói: “Thưa Thầy!” rồi hôn Ngài.
Chúng liền ra tay bắt Ngài.
Một trong những người đứng cạnh đó rút gươm ra, đánh và chém đứt tai của đầy tớ thầy tế lễ thượng phẩm.
Đức Chúa Jêsus nói với họ: “Sao các ngươi đem gươm và gậy đến bắt Ta như bắt một tên cướp vậy?
Hằng ngày Ta ở giữa các ngươi, giảng dạy trong đền thờ, mà các ngươi không bắt Ta. Dù vậy, hãy để cho lời Kinh Thánh được ứng nghiệm.”
Tất cả đều bỏ Ngài chạy trốn.
Có một thanh niên đi theo Ngài, trên người chỉ khoác một tấm vải gai. Họ tóm lấy chàng,
nhưng chàng tuột bỏ tấm vải, mình trần chạy trốn.
Họ giải Đức Chúa Jêsus đến nhà thầy tế lễ thượng phẩm. Tất cả các thầy tế lễ cả, các trưởng lão và thầy thông giáo đều tụ họp tại đó.
Phi-e-rơ theo Ngài xa xa, vào đến sân dinh thầy tế lễ thượng phẩm, rồi ngồi với quân lính, sưởi ấm bên đống lửa.
Các thầy tế lễ cả và toàn thể Hội đồng Công luận đều tìm bằng chứng chống lại Đức Chúa Jêsus để giết Ngài, nhưng không tìm được gì cả.
Vì có nhiều người làm chứng dối chống lại Ngài, nhưng lời chứng của họ không khớp nhau.
Có mấy người đứng lên làm chứng dối nghịch lại Ngài rằng:
“Chúng tôi có nghe người nầy nói: ‘Ta sẽ phá hủy đền thờ do loài người xây dựng nầy; trong ba ngày Ta sẽ xây một đền thờ khác không phải bởi tay loài người.’ ”
Nhưng ngay ở điểm nầy, lời chứng của họ cũng không khớp nhau.
Thầy tế lễ thượng phẩm đứng lên giữa Hội đồng và hỏi Đức Chúa Jêsus: “Ngươi không trả lời gì về những cáo buộc mà các người nầy tố cáo ngươi sao?”
Nhưng Ngài vẫn yên lặng, không đáp một lời. Thầy tế lễ thượng phẩm lại hỏi: “Ngươi có phải là Đấng Christ, Con của Đấng Đáng Chúc Tụng không?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Chính Ta. Rồi đây các ngươi sẽ thấy Con Người Ngồi bên phải Đấng Quyền Năng, Và hiện đến giữa mây trời.”
Thầy tế lễ thượng phẩm xé áo mình và nói: “Chúng ta đâu cần tìm bằng chứng khác làm gì nữa?
Các ông đã nghe lời phạm thượng rồi đó! Các ông quyết định thế nào?” Tất cả đều kết án Ngài đáng tội chết.
Một số người bắt đầu khạc nhổ vào Ngài, bịt mắt Ngài lại rồi đấm Ngài và nói: “Hãy nói tiên tri đi!” Các lính canh cũng túm lấy và tát Ngài.
Lúc Phi-e-rơ đang ở dưới sân, một trong những đầy tớ gái của thầy tế lễ thượng phẩm đến gần,
thấy Phi-e-rơ đang sưởi thì nhìn vào mặt ông và nói: “Ông cũng đã ở với Jêsus, người Na-xa-rét.”
Nhưng Phi-e-rơ chối: “Tôi không biết, cũng không hiểu cô đang nói gì.” Rồi ông bỏ đi ra sân trước, thì gà gáy.
Đầy tớ gái đó thấy ông, lại nói với những người đứng gần: “Ông nầy cũng thuộc nhóm đó.”
Nhưng Phi-e-rơ lại chối một lần nữa. Một lúc sau, những người đứng gần lại nói với ông: “Chắc chắn anh thuộc nhóm đó rồi, vì anh là người Ga-li-lê.”
Nhưng Phi-e-rơ liền rủa và thề: “Tôi không hề quen biết với người mà các ông nói đó!”
Ngay lúc ấy, gà gáy lần thứ hai. Phi-e-rơ nhớ lại lời Đức Chúa Jêsus đã nói với mình: “Trước khi gà gáy hai lượt, con sẽ chối Ta ba lần.” Ông bật khóc nức nở.
Vừa tảng sáng, các thầy tế lễ cả họp bàn với các trưởng lão, các thầy thông giáo và cả Hội đồng Công luận; họ trói Đức Chúa Jêsus rồi giải nộp cho Phi-lát.
Phi-lát hỏi Ngài: “Ngươi có phải là Vua dân Do Thái không?” Đức Chúa Jêsus đáp: “Chính ngươi đã nói thế.”
Các thầy tế lễ cả cáo buộc Ngài nhiều điều.
Phi-lát lại hỏi Ngài: “Ngươi không đối đáp gì sao? Hãy xem, họ tố cáo ngươi nhiều quá!”
Nhưng Đức Chúa Jêsus không trả lời gì thêm, đến nỗi Phi-lát phải ngạc nhiên.
Vào dịp lễ, Phi-lát thường trả tự do cho một tù nhân mà dân chúng yêu cầu.
Bấy giờ có một người tên là Ba-ra-ba bị tù chung với những tên phiến loạn, là những kẻ đã can tội giết người trong lúc nổi dậy.
Dân chúng đã kéo đến và xin Phi-lát thực hiện điều ông thường làm cho họ.
Phi-lát hỏi: “Các ngươi có muốn ta tha Vua dân Do Thái cho các ngươi không?”
Vì ông biết rõ các thầy tế lễ cả đã nộp Ngài do lòng ghen ghét.
Nhưng các thầy tế lễ cả lại xúi giục dân chúng xin Phi-lát tha Ba-ra-ba.
Phi-lát hỏi tiếp: “Vậy thì các ngươi muốn ta xử thế nào với người mà các ngươi gọi là Vua dân Do Thái?”
Họ lại la lên: “Hãy đóng đinh nó trên cây thập tự!”
Phi-lát hỏi họ: “Nhưng người nầy đã làm điều ác gì?” Họ càng hét lớn hơn: “Hãy đóng đinh nó trên cây thập tự!”
Vì muốn làm vừa lòng dân chúng, Phi-lát đã tha Ba-ra-ba. Sau khi đánh đòn Đức Chúa Jêsus, Phi-lát giao Ngài cho chúng đem đi đóng đinh vào thập tự giá.
Quân lính giải Đức Chúa Jêsus vào trong dinh tổng đốc; cả đội binh đều được huy động về đó.
Họ khoác cho Ngài một chiếc áo điều và đội cho Ngài một mão gai đan sẵn,
rồi chào Ngài: “Lạy Vua dân Do Thái!”
Họ cũng lấy cây sậy đánh vào đầu Ngài, khạc nhổ lên Ngài, rồi quỳ lạy Ngài.
Sau khi đã chế nhạo Ngài, quân lính lột chiếc áo điều ra, mặc áo của Ngài vào và dẫn ra ngoài để đóng đinh vào thập tự giá.
Họ bắt một người qua đường vác thập tự giá của Ngài. Người nầy tên là Si-môn, người Sy-ren, là cha của A-léc-xan-đơ và Ru-phu, vừa từ miền quê lên.
Họ đem Đức Chúa Jêsus đến một nơi gọi là Gô-gô-tha, nghĩa là Đồi Sọ.
Họ cho Ngài uống rượu pha với mộc dược, nhưng Ngài không uống.
Khi đã đóng đinh Ngài vào thập tự giá rồi, họ chia nhau y phục của Ngài, bắt thăm để xem ai được phần nào.
Lúc họ đóng đinh Ngài vào khoảng chín giờ sáng.
Án Ngài được ghi trên bảng là: “VUA DÂN DO THÁI.”
Cùng với Ngài, họ cũng đóng đinh hai tên cướp: một tên bên phải, một tên bên trái.
Những kẻ đi qua đó đều chế giễu, lắc đầu và nói: “Ê! Ngươi là người có thể phá hủy đền thờ và xây lại trong ba ngày,
hãy tự cứu lấy mình và xuống khỏi thập tự giá đi!”
Các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo cũng chế nhạo Ngài như vậy. Họ nói với nhau: “Nó đã cứu người khác mà không thể tự cứu mình!
Hỡi Đấng Christ, Vua Y-sơ-ra-ên, bây giờ hãy xuống khỏi thập tự giá đi để chúng tôi thấy và tin!” Hai tên cướp cùng bị đóng đinh với Ngài cũng mắng nhiếc Ngài nữa.
Khoảng giữa trưa, bóng tối đã bao trùm khắp đất cho đến ba giờ chiều.
Đến ba giờ chiều, Đức Chúa Jêsus kêu lớn tiếng: “Ê-lô-i, Ê-lô-i, lam-ma-sa-bách-ta-ni?” nghĩa là: “Đức Chúa Trời của Con, Đức Chúa Trời của Con, sao Ngài lìa bỏ Con?”
Nghe vậy vài người đứng gần nói rằng: “Xem kìa, nó gọi Ê-li.”
Một người chạy đi lấy miếng bọt biển thấm đầy giấm, gắn trên đầu cây sậy, đưa cho Ngài uống và nói: “Hãy đợi xem Ê-li có đến đem nó xuống không.”
Nhưng Đức Chúa Jêsus kêu lên một tiếng lớn, rồi trút hơi thở cuối cùng.
Bức màn trong đền thờ bị xé làm đôi từ trên xuống dưới.
Viên đội trưởng đứng đối diện, thấy Ngài trút hơi thở cuối cùng như vậy thì nói: “Thật người nầy là Con Đức Chúa Trời!”
Cũng có những phụ nữ đứng nhìn từ xa; trong số nầy có Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ của Gia-cơ nhỏ và Giô-sép, cùng Sa-lô-mê,
là những người đã theo và phục vụ Đức Chúa Jêsus khi Ngài còn ở Ga-li-lê; cũng có nhiều phụ nữ khác, là những người đã cùng lên Giê-ru-sa-lem với Ngài.
Trời đã gần tối, mà hôm ấy lại là ngày Chuẩn Bị, tức là ngày trước ngày sa-bát,
nên Giô-sép, người A-ri-ma-thê, một nghị viên khả kính của Hội đồng Công luận, người hằng trông đợi vương quốc Đức Chúa Trời, đã mạnh dạn đến chỗ Phi-lát xin thi hài của Đức Chúa Jêsus.
Phi-lát ngạc nhiên là Ngài đã chết, nên gọi viên đội trưởng đến để hỏi xem Ngài đã chết thật chưa.
Khi đã nghe viên đội trưởng tường trình, Phi-lát giao thi hài cho Giô-sép.
Ông mua một tấm vải gai rồi đem Ngài xuống, dùng vải khâm liệm Ngài và đặt vào một mộ phần đã được đục sẵn trong đá. Rồi ông lăn một tảng đá chặn cửa mộ lại.
Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri mẹ Giô-sép đều thấy nơi an táng Ngài.
Ngày sa-bát qua rồi, Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ Gia-cơ, và Sa-lô-mê mua hương liệu để đi xức xác Đức Chúa Jêsus.
Ngày thứ nhất trong tuần lễ, từ sáng sớm, khi mặt trời vừa mọc, ba người đã đến mộ.
Họ nói với nhau: “Ai sẽ lăn tảng đá khỏi cửa mộ cho chúng ta?”
Nhưng khi nhìn lên, họ thấy tảng đá đã được lăn ra rồi; đó là một tảng đá rất lớn.
Vào trong mộ, họ thấy một thanh niên mặc áo dài trắng, ngồi bên phải, thì vô cùng kinh ngạc.
Nhưng người đó nói với họ: “Đừng kinh hoảng! Các ngươi tìm Đức Chúa Jêsus người Na-xa-rét, là Đấng đã chịu đóng đinh trên thập tự giá. Ngài sống lại rồi, không còn ở đây nữa. Hãy xem nơi đã an táng Ngài.
Hãy đi, báo cho các môn đồ Ngài và Phi-e-rơ rằng Ngài đang đến Ga-li-lê trước các ngươi. Tại đó, các ngươi sẽ thấy Ngài như Ngài đã phán với các ngươi.”
Vừa ra khỏi mộ, các bà đều chạy trốn vì quá kinh ngạc và run sợ. Họ chẳng dám nói gì với ai vì quá khiếp đảm. [
Khi Đức Chúa Jêsus sống lại vào sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần lễ, trước hết Ngài hiện ra cho Ma-ri Ma-đơ-len, là người đã được Ngài trừ khỏi bảy quỷ dữ.
Bà đi báo tin cho những người đã từng theo Ngài đang sầu than, khóc lóc.
Nhưng khi nghe rằng Ngài đang sống và chính bà đã thấy thì họ không tin.
Kế đó, Đức Chúa Jêsus trong một hình dạng khác đã hiện ra cho hai trong các môn đồ, khi họ đang trên đường về miền quê.
Hai người nầy trở lại báo tin cho các môn đồ khác, nhưng họ cũng không tin.
Sau đó, Ngài hiện ra cho mười một môn đồ khi họ đang dùng bữa. Ngài trách họ về sự vô tín và cứng lòng, vì họ không tin những người đã từng thấy Ngài sau khi Ngài sống lại.
Ngài phán với họ: “Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người.
Ai tin và chịu báp-têm sẽ được cứu; nhưng ai không tin sẽ bị kết tội.
Những người tin sẽ được các dấu lạ nầy kèm theo: Họ sẽ nhân danh Ta đuổi quỷ; sẽ nói những ngôn ngữ mới;
bắt rắn trong tay, hay nếu uống nhằm chất độc cũng không bị hại; họ đặt tay trên người bệnh thì người bệnh sẽ được lành.”
Sau khi phán bảo như vậy, Đức Chúa Jêsus được cất lên trời, ngồi bên phải Đức Chúa Trời.
Các môn đồ ra đi truyền giảng khắp nơi; Chúa cùng làm việc với họ và dùng các dấu lạ kèm theo để làm cho vững đạo.]
Thưa ngài Thê-ô-phi-lơ khả kính, có nhiều người đã cố gắng biên soạn một bản tường thuật về những việc đã được thực hiện giữa chúng ta,
đúng như những người đã từng chứng kiến và phục vụ đạo Chúa từ ban đầu truyền lại cho chúng ta.
Vì thế, sau khi cẩn thận tra cứu mọi việc từ đầu, tôi thiết tưởng cũng nên theo thứ tự mà viết cho ngài
để ngài biết những điều mình đã học là chắc chắn.
Trong đời Hê-rốt, vua xứ Giu-đê, có một thầy tế lễ thuộc ban A-bi-gia, tên là Xa-cha-ri; vợ là Ê-li-sa-bét, thuộc dòng dõi A-rôn.
Cả hai đều là người công chính trước mặt Đức Chúa Trời, vâng giữ mọi điều răn và lễ nghi của Chúa một cách trọn vẹn.
Họ không có con, vì Ê-li-sa-bét hiếm muộn và cả hai đều cao tuổi.
Chuyện xảy ra khi Xa-cha-ri theo phiên thứ của ban mình làm công tác tế lễ trước mặt Đức Chúa Trời.
Khi bắt thăm theo thông lệ của các thầy tế lễ, ông đã trúng thăm được vào đền thờ của Chúa để dâng hương.
Trong giờ dâng hương, cả đoàn dân đông đều ở ngoài cầu nguyện.
Bấy giờ có một thiên sứ của Chúa hiện đến với Xa-cha-ri, đứng bên phải bàn thờ dâng hương.
Thấy thiên sứ, Xa-cha-ri bối rối, kinh hãi.
Nhưng thiên sứ bảo ông: “Nầy, Xa-cha-ri, đừng sợ! Vì lời cầu nguyện của ngươi đã được nhậm. Ê-li-sa-bét, vợ ngươi, sẽ sinh một con trai; ngươi hãy đặt tên là Giăng.
Con trai ấy sẽ làm cho ngươi vui mừng hớn hở, và nhiều người sẽ hoan hỉ khi con trẻ ra đời.
Vì con trẻ ấy sẽ được tôn trọng trước mặt Chúa, không uống rượu nho hay thức uống có men, và sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ.
Con trẻ ấy sẽ đem nhiều người Y-sơ-ra-ên trở lại cùng Chúa là Đức Chúa Trời của họ;
con ấy sẽ lấy tinh thần và quyền năng của Ê-li mà đi trước Chúa, để đem lòng cha trở về với con cái, đem kẻ không vâng phục đến sự khôn ngoan của người công chính, và để chuẩn bị một dân tộc sẵn sàng cho Chúa.”
Xa-cha-ri thưa với thiên sứ: “Làm sao tôi biết việc nầy sẽ xảy ra? Vì tôi đã già, vợ tôi đã cao tuổi rồi.”
Thiên sứ đáp: “Ta là Gáp-ri-ên hằng đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Ta được sai đến nói với ngươi và báo tin mừng nầy cho ngươi.
Nầy, ngươi sẽ bị câm, không thể nói được, cho đến ngày các điều ấy xảy ra, vì ngươi không tin lời ta, là lời sẽ được ứng nghiệm đúng thời điểm.”
Trong lúc ấy, dân chúng đang đợi Xa-cha-ri; họ ngạc nhiên vì ông ở lâu trong đền thờ.
Lúc đi ra, Xa-cha-ri không nói được với dân chúng thì họ mới hiểu rằng ông đã thấy một khải tượng trong đền thờ. Ông ra dấu cho họ vì vẫn còn bị câm.
Khi những ngày phục vụ đã mãn, ông trở về nhà.
Sau những ngày ấy, vợ ông là Ê-li-sa-bét mang thai và ẩn mình trong năm tháng. Bà nói rằng:
“Chúa đã ban ơn cho tôi. Trong những ngày nầy, Ngài đoái thương tôi và cất đi sự hổ nhục của tôi giữa mọi người.”
Vào tháng thứ sáu, Đức Chúa Trời sai thiên sứ Gáp-ri-ên đến thành Na-xa-rét, thuộc miền Ga-li-lê,
gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người nam tên là Giô-sép, thuộc dòng vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri.
Thiên sứ đến gặp cô và nói: “Hỡi người được ơn, chúc mừng cô! Chúa ở cùng cô!”
Nhưng Ma-ri rất bối rối về những lời nầy và tự hỏi lời chào ấy có nghĩa gì.
Thiên sứ tiếp: “Hỡi Ma-ri, đừng sợ vì cô đã được ơn trước mặt Đức Chúa Trời.
Nầy, cô sẽ mang thai, sinh một con trai và đặt tên là JÊSUS.
Con trai ấy sẽ được tôn trọng, được gọi là Con của Đấng Chí Cao. Chúa là Đức Chúa Trời sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít, tổ phụ Ngài.
Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp; vương quốc Ngài mãi mãi trường tồn.”
Ma-ri thưa với thiên sứ: “Tôi chưa ăn ở với người nam nào thì làm sao có được điều đó?”
Thiên sứ đáp: “Đức Thánh Linh sẽ ngự trên cô, và quyền năng của Đấng Chí Cao sẽ phủ che cô; cho nên con thánh sinh ra sẽ được gọi là Con Đức Chúa Trời.
Kìa, Ê-li-sa-bét, người bà con của cô, cũng đã có thai một con trai trong lúc già nua. Người ấy vốn có tiếng là hiếm muộn mà nay đã mang thai được sáu tháng rồi.
Bởi vì không có việc gì Đức Chúa Trời chẳng làm được.”
Ma-ri thưa: “Tôi đây là tớ gái của Chúa. Xin điều ấy xảy đến cho tôi như lời ngài truyền!” Rồi thiên sứ rời khỏi Ma-ri.
Trong những ngày ấy, Ma-ri đứng dậy, vội vã đi về miền núi, đến một thành của Giu-đa,
vào nhà Xa-cha-ri và chào Ê-li-sa-bét.
Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng Ma-ri chào thì thai nhi trong bụng liền nhảy nhót. Ê-li-sa-bét được đầy dẫy Đức Thánh Linh;
bà reo lên rằng: “Cô thật có phước trong giới phụ nữ, thai nhi trong bụng cô cũng được phước.
Do đâu tôi được vinh hạnh nầy, là mẹ của Chúa đến thăm tôi?
Vì kìa, khi tai tôi vừa nghe tiếng cô chào thì thai nhi trong bụng tôi liền nhảy mừng.
Phước cho cô đã tin, vì lời Chúa phán với cô sẽ được ứng nghiệm!”
Ma-ri nói: “Linh hồn tôi tôn ngợi Chúa,
Tâm linh tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời là Cứu Chúa tôi,
Vì Ngài đã đoái thương thân phận hèn mọn của tớ gái Ngài. Nầy, từ nay về sau, mọi thế hệ sẽ khen tôi là người có phước;
Bởi Đấng Toàn Năng đã làm các việc lớn cho tôi. Danh Ngài là thánh,
Và Ngài thương xót những người kính sợ Ngài, Từ thế hệ nầy qua thế hệ kia.
Ngài đã dùng tay Ngài làm những việc quyền năng; Làm tan tác những kẻ có tư tưởng kiêu ngạo trong lòng.
Ngài đã truất ngôi những kẻ thống trị, Và cất nhắc những người khiêm nhường lên.
Ngài đã làm cho người đói được đầy thức ngon, Và đuổi kẻ giàu về tay không.
Ngài đã giúp đỡ Y-sơ-ra-ên, đầy tớ Ngài, Và nhớ lại sự thương xót của Ngài,
Như đã phán với tổ phụ chúng ta, Với Áp-ra-ham và dòng dõi người đến muôn đời.”
Ma-ri ở với Ê-li-sa-bét khoảng ba tháng, rồi trở về nhà mình.
Bấy giờ, đến ngày sinh nở, Ê-li-sa-bét sinh một bé trai.
Nghe tin Chúa đã tỏ lòng thương xót lớn lao với bà, láng giềng và bà con đều đến chung vui với bà.
Đến ngày thứ tám, họ đến cắt bì cho con trẻ và đặt tên là Xa-cha-ri theo tên cha.
Nhưng người mẹ nói rằng: “Không! Phải đặt tên cháu là Giăng.”
Họ nói: “Trong thân tộc của bà không ai có tên đó.”
Họ ra dấu hỏi người cha muốn đặt tên con là gì.
Xa-cha-ri bảo lấy bảng nhỏ và viết: “Tên nó là Giăng.” Mọi người đều ngạc nhiên.
Lập tức, miệng ông mở ra, lưỡi thong thả, ông nói và ca ngợi Đức Chúa Trời.
Cả xóm giềng đều sợ hãi, và người ta bàn tán với nhau về các việc ấy khắp miền đồi núi Giu-đê.
Mọi người nghe đều ghi nhớ trong lòng, và nói: “Con trẻ nầy về sau sẽ ra thể nào?” Vì thật tay Chúa đã ở cùng con trẻ ấy.
Xa-cha-ri, cha đứa trẻ ấy, được đầy dẫy Đức Thánh Linh nói tiên tri rằng:
“Ngợi tôn Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Vì Ngài đã thăm viếng và cứu chuộc dân Ngài,
Ngài đã dấy lên cho chúng ta, trong nhà Đa-vít, đầy tớ Ngài, Một Đấng Cứu Thế đầy quyền năng!
Như Ngài đã dùng miệng các nhà tiên tri thánh Phán hứa từ thuở xưa,
Ngài cứu chúng ta khỏi các kẻ thù, Và khỏi tay mọi người ghen ghét chúng ta.
Ngài tỏ lòng thương xót tổ phụ chúng ta, Và nhớ lại lời giao ước thánh của Ngài,
Như lời Ngài đã thề với Áp-ra-ham, Là tổ phụ chúng ta,
Rằng khi chúng ta đã được giải cứu khỏi tay kẻ nghịch thù, Ngài sẽ cho chúng ta được phục vụ Ngài không sợ hãi gì,
Trong sự thánh khiết và công chính Trước mặt Ngài trọn đời mình.
Hỡi con trẻ, người ta sẽ gọi con là nhà tiên tri của Đấng Chí Cao; Con sẽ đi trước mặt Chúa, dọn đường cho Ngài,
Để dân Ngài nhờ sự tha tội Mà biết sự cứu rỗi.
Bởi lòng thương xót của Đức Chúa Trời chúng ta, Mà ánh bình minh từ trên cao thăm viếng chúng ta,
Để soi sáng những người ngồi ở nơi tối tăm và trong bóng sự chết, Cùng dẫn bước chúng ta vào nẻo bình an.”
Con trẻ lớn lên, tâm linh mạnh mẽ, sống nơi hoang mạc cho đến ngày xuất hiện trước dân Y-sơ-ra-ên.
Lúc ấy, Sê-sa Au-gút-tơ ra chiếu chỉ kiểm tra dân số trong khắp thiên hạ.
Đây là cuộc kiểm tra đầu tiên được thực hiện trong thời Qui-ri-ni-u làm tổng đốc xứ Sy-ri.
Mọi người đều phải trở về nguyên quán để đăng ký.
Vì Giô-sép là dòng dõi nhà Đa-vít nên cũng từ thành Na-xa-rét, miền Ga-li-lê, lên thành Đa-vít, gọi là Bết-lê-hem, thuộc xứ Giu-đê,
để đăng ký tên mình và tên Ma-ri, người đã đính hôn với mình, đang có thai.
Đang khi hai người ở nơi đó thì ngày sinh nở của Ma-ri đã đến.
Nàng sinh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc con mình đặt nằm trong máng cỏ, vì quán trọ không còn chỗ cho họ.
Cũng trong vùng ấy, có mấy người chăn chiên trú ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên.
Một thiên sứ của Chúa hiện đến với họ, vinh quang của Chúa chói rạng chung quanh nên họ rất sợ hãi.
Nhưng thiên sứ bảo họ: “Đừng sợ! Nầy, ta báo cho các ngươi một tin lành, đây sẽ là niềm vui lớn cho mọi người.
Vì hôm nay tại thành Đa-vít, một Đấng Cứu Thế, là Đấng Christ, là Chúa đã được sinh ra cho các ngươi.
Đây là dấu hiệu để các ngươi nhận ra Ngài: Các ngươi sẽ gặp một con trẻ bọc bằng khăn nằm trong máng cỏ.”
Bỗng nhiên, có muôn vàn thiên binh cùng với thiên sứ ấy ngợi ca Đức Chúa Trời rằng:
“Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới đất, ân ban cho người!”
Sau khi các thiên sứ lìa họ lên trời rồi, các người chăn chiên nói với nhau rằng: “Chúng ta hãy đi đến thành Bết-lê-hem xem việc đã xảy ra mà Chúa cho chúng ta biết.”
Vậy, họ vội vàng đi đến đó, gặp Ma-ri, Giô-sép, và thấy con trẻ đang nằm trong máng cỏ.
Khi thấy vậy, họ liền thuật lại những lời thiên sứ nói về con trẻ đó.
Ai nghe chuyện các người chăn chiên kể cũng đều ngạc nhiên.
Còn Ma-ri thì ghi tạc mọi lời ấy và suy ngẫm trong lòng.
Các người chăn chiên trở về, tôn vinh và ngợi ca Đức Chúa Trời về mọi điều họ đã nghe và thấy, đúng như lời đã bảo trước với họ.
Khi được trọn tám ngày, lúc phải cắt bì cho con trẻ, thì họ đặt tên là Jêsus, là tên thiên sứ đã đặt trước khi con trẻ được thai dựng trong bụng mẹ.
Khi những ngày thanh tẩy theo luật Môi-se đã mãn, cha mẹ đem con trẻ lên thành Giê-ru-sa-lem để dâng cho Chúa,
như đã chép trong luật pháp của Chúa rằng: “Mọi con trai đầu lòng phải biệt ra thánh cho Chúa”,
và dâng một cặp chim gáy, hoặc chim bồ câu con, như luật pháp của Chúa đã truyền.
Lúc ấy, tại thành Giê-ru-sa-lem có một người công chính và đạo đức, tên là Si-mê-ôn. Ông trông đợi sự an ủi của dân Y-sơ-ra-ên, và Đức Thánh Linh ngự trên ông.
Đức Thánh Linh đã cho ông biết trước rằng ông sẽ không chết trước khi thấy Đấng Christ của Chúa.
Được Thánh Linh cảm thúc, ông vào đền thờ đúng lúc cha mẹ đem con trẻ là Jêsus đến để làm cho Ngài các thủ tục theo luật pháp.
Ông bồng ẵm con trẻ và ca ngợi Đức Chúa Trời rằng:
“Lạy Chúa, bây giờ xin Chúa cho đầy tớ Chúa qua đời bình an, Theo như lời Ngài;
Vì mắt con đã thấy sự cứu rỗi của Ngài,
Mà Ngài đã chuẩn bị trước mặt muôn dân,
Là ánh sáng soi đường cho các dân ngoại, Và là vinh quang của Y-sơ-ra-ên, tức dân Ngài.”
Cha mẹ con trẻ ngạc nhiên về những lời Si-mê-ôn nói về con trẻ.
Si-mê-ôn chúc phước cho hai vợ chồng và nói với Ma-ri, mẹ con trẻ rằng: “Con trẻ nầy đã được chỉ định để làm cho nhiều người trong Y-sơ-ra-ên vấp ngã hoặc trỗi dậy, và là một dấu hiệu gây nên sự chống đối.
Còn cô, một thanh gươm cũng sẽ đâm thấu tâm hồn cô, để tư tưởng sâu kín của nhiều người phải lộ ra.”
Cũng có nữ tiên tri An-ne, con gái của Pha-nu-ên, về bộ tộc A-se, tuổi đã cao. Sau khi kết hôn, bà đã sống với chồng được bảy năm,
rồi ở góa, đến nay đã tám mươi bốn tuổi. Bà chẳng hề rời khỏi đền thờ, cứ đêm ngày phục vụ Chúa, kiêng ăn và cầu nguyện.
Vào giờ ấy, bà cũng đến đó, ca ngợi Đức Chúa Trời và nói về con trẻ cho mọi người đang trông đợi sự giải cứu thành Giê-ru-sa-lem.
Khi đã hoàn tất mọi việc theo luật pháp của Chúa, Giô-sép và Ma-ri trở về thành của mình là Na-xa-rét thuộc miền Ga-li-lê.
Con trẻ lớn lên và mạnh mẽ; đầy dẫy sự khôn ngoan, và ân điển của Đức Chúa Trời ở trên Ngài.
Hằng năm đến kỳ lễ Vượt Qua, cha mẹ Đức Chúa Jêsus thường đi lên thành Giê-ru-sa-lem.
Khi được mười hai tuổi, Ngài cùng cha mẹ đi lên đó dự lễ theo thường lệ.
Khi các ngày lễ qua rồi, cha mẹ trở về, nhưng cậu bé Jêsus ở lại thành Giê-ru-sa-lem mà cha mẹ Ngài không hay biết.
Họ cứ tưởng là Ngài cùng đi trong đoàn lữ hành, nên sau một ngày đường mới tìm kiếm Ngài trong số bà con và những người quen biết.
Khi không thấy Ngài, ông bà liền trở lại thành Giê-ru-sa-lem để tìm.
Sau ba ngày, họ gặp Ngài trong đền thờ đang ngồi giữa các giáo sư Do Thái giáo, vừa nghe vừa hỏi.
Tất cả những người nghe Ngài đều kinh ngạc về sự hiểu biết và những lời đối đáp của Ngài.
Khi cha mẹ thấy Ngài, thì kinh ngạc và mẹ Ngài nói với Ngài: “Hỡi con, sao con làm cho hai ta ra nông nỗi nầy? Cha con và mẹ đã lo lắng tìm con!”
Ngài thưa: “Sao cha mẹ lại tìm kiếm con? Cha mẹ không biết rằng con phải lo việc Cha con sao?”
Nhưng hai người không hiểu lời Ngài vừa nói.
Ngài đi theo cha mẹ trở về Na-xa-rét và phục tùng họ. Mẹ Ngài ghi khắc mọi lời ấy trong lòng.
Đức Chúa Jêsus khôn ngoan càng thêm, thân hình càng lớn, càng được đẹp lòng Đức Chúa Trời và người ta.
Năm thứ mười lăm dưới triều Sê-sa Ti-be-rơ — khi Pôn-xơ Phi-lát làm tổng đốc xứ Giu-đê; Hê-rốt làm vua chư hầu xứ Ga-li-lê; Phi-líp, em vua ấy, làm vua chư hầu xứ Y-tu-rê và Tra-cô-nít; Ly-sa-ni-a làm vua chư hầu xứ A-by-len;
An-ne và Cai-phe làm thầy tế lễ thượng phẩm — thì có lời Đức Chúa Trời truyền cho Giăng, con Xa-cha-ri, trong hoang mạc.
Giăng đi khắp các vùng lân cận sông Giô-đanh, rao giảng báp-têm về sự ăn năn để được tha tội,
như lời đã chép trong sách tiên tri Ê-sai: “Có tiếng người kêu lên trong hoang mạc: Hãy dọn đường cho Chúa, làm thẳng các lối Ngài.
Mọi thung lũng phải lấp cho đầy, Mọi núi đồi phải ban cho thấp; Đường cong quẹo phải sửa cho ngay, Lối gập ghềnh phải làm cho phẳng;
Và cả nhân loại sẽ thấy ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời.”
Vì thế, Giăng nói với đoàn dân đến để ông làm báp-têm rằng: “Hỡi dòng giống rắn độc kia, ai đã báo cho các người biết để chạy trốn cơn thịnh nộ sắp đến?
Vậy, hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn; đừng tự nhủ: ‘Áp-ra-ham là tổ phụ chúng tôi’; vì tôi nói với các người, Đức Chúa Trời có thể khiến những viên đá nầy trở thành con cháu cho Áp-ra-ham được.
Cái rìu đã đặt kề gốc cây; cây nào không sinh quả tốt thì sẽ bị đốn và ném vào lửa.”
Dân chúng hỏi Giăng: “Vậy chúng tôi phải làm gì?”
Ông đáp: “Ai có hai áo hãy chia cho người không có; ai có thức ăn cũng nên làm như vậy.”
Cũng có những người thu thuế đến để chịu báp-têm, hỏi rằng: “Thưa thầy, chúng tôi phải làm gì?”
Ông bảo họ: “Đừng thu quá mức quy định.”
Binh lính cũng hỏi: “Còn chúng tôi phải làm gì?” Ông trả lời: “Đừng hăm dọa hoặc vu khống ai để tống tiền, nhưng hãy bằng lòng về đồng lương của mình.”
Tất cả dân chúng đang trông đợi và tự hỏi trong lòng: “Phải chăng Giăng là Đấng Christ?”
Vì vậy, Giăng trả lời với mọi người: “Tôi làm báp-têm cho các người bằng nước; nhưng có một Đấng uy quyền hơn tôi sẽ đến, tôi không đáng mở quai dép cho Ngài. Ngài sẽ làm báp-têm cho các người bằng Đức Thánh Linh và lửa.
Tay Ngài cầm nia để rê thật sạch sân lúa mình và thu lúa vào kho; nhưng rơm rạ thì đốt trong lửa chẳng hề tắt.”
Giăng cũng dùng nhiều lời khuyên bảo khác mà rao giảng Tin Lành cho dân chúng.
Nhưng khi Hê-rốt, vua chư hầu, bị Giăng quở trách về việc lấy Hê-rô-đia, vợ của em mình, và về tất cả các tội ác vua đã làm
thì vua lại phạm thêm một tội ác nữa, là bỏ tù Giăng.
Khi tất cả dân chúng đều chịu báp-têm, Đức Chúa Jêsus cũng chịu báp-têm. Lúc Ngài đang cầu nguyện thì trời mở ra,
và Đức Thánh Linh ngự xuống trong hình thể giống như chim bồ câu đậu trên Ngài; lại có tiếng từ trời phán: “Con là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta hoàn toàn!”
Đức Chúa Jêsus bắt đầu chức vụ khi Ngài độ ba mươi tuổi. Theo người ta tin thì Ngài là con Giô-sép, Giô-sép con Hê-li,
Hê-li con Mát-tát, Mát-tát con Lê-vi, Lê-vi con Mên-chi, Mên-chi con Gia-nê, Gia-nê con Giô-sép,
Giô-sép con Ma-ta-thia, Ma-ta-thia con A-mốt, A-mốt con Na-hum, Na-hum con Ếch-li, Ếch-li con Na-ghê,
Na-ghê con Ma-át, Ma-át con Ma-ta-thia, Ma-ta-thia con Sê-mê-in, Sê-mê-in con Giô-sếch, Giô-sếch con Giô-đa,
Giô-đa con Giô-a-nan, Giô-a-nan con Rê-sa, Rê-sa con Xô-rô-ba-bên, Xô-rô-ba-bên con Sa-la-thi-ên, Sa-la-thi-ên con Nê-ri,
Nê-ri con Mên-chi, Mên-chi con A-đi, A-đi con Cô-sam, Cô-sam con Ên-ma-đan, Ên-ma-đan con Ê-rơ,
Ê-rơ con Giô-suê, Giô-suê con Ê-li-ê-se, Ê-li-ê-se con Giô-rim, Giô-rim con Mát-thát, Mát-thát con Lê-vi,
Lê-vi con Si-mê-ôn, Si-mê-ôn con Giu-đa, Giu-đa con Giô-sép, Giô-sép con Giô-nam, Giô-nam con Ê-li-a-kim, Ê-li-a-kim con Mê-lê-a,
Mê-lê-a con Men-na, Men-na con Mát-ta-tha, Mát-ta-tha con Na-than, Na-than con Đa-vít,
Đa-vít con Gie-sê, Gie-sê con Ô-bết, Ô-bết con Bô-ô, Bô-ô con Sa-la, Sa-la con Na-ách-son, Na-ách-son con A-mi-na-đáp,
A-mi-na-đáp con Át-min, Át-min con A-rơ-ni, A-rơ-ni con Ếch-rôm, Ếch-rôm con Pha-rê, Pha-rê con Giu-đa,
Giu-đa con Gia-cốp, Gia-cốp con Y-sác, Y-sác con Áp-ra-ham, Áp-ra-ham con Tha-rê, Tha-rê con Na-cô,
Na-cô con Sê-rúc, Sê-rúc con Rê-hu, Rê-hu con Bê-léc, Bê-léc con Hê-be, Hê-be con Sa-la,
Sa-la con Cai-nam, Cai-nam con A-bác-sát, A-bác-sát con Sem, Sem con Nô-ê, Nô-ê con Lê-méc,
Lê-méc con Mê-tu-sê-la, Mê-tu-sê-la con Hê-nóc, Hê-nóc con Giê-rệt, Giê-rệt con Ma-ha-la-ên, Ma-ha-la-ên con Kê-nan,
Kê-nan con Ê-nót, Ê-nót con Sết, Sết con A-đam, A-đam con Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Jêsus đầy dẫy Đức Thánh Linh; Ngài từ sông Giô-đanh trở về và được Thánh Linh đưa vào trong hoang mạc.
Tại đó, Ngài chịu ma quỷ cám dỗ bốn mươi ngày. Trong những ngày ấy, Ngài không ăn gì cả; khi thời gian ấy đã mãn thì Ngài đói.
Ma quỷ nói với Ngài: “Nếu ngươi là Con Đức Chúa Trời, thì hãy khiến đá nầy trở nên bánh đi!”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Có lời chép: ‘Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi.’ ”
Ma quỷ đem Ngài lên, chỉ cho Ngài tất cả các vương quốc trên thế gian trong giây lát,
và nói: “Ta sẽ cho ngươi tất cả thẩm quyền và vinh quang của chúng, vì chúng đã được giao cho ta và ta muốn cho ai tùy ý.
Vậy, nếu ngươi thờ lạy ta, thì tất cả sẽ thuộc về ngươi.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Có lời chép: ‘Ngươi phải thờ phượng Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi, và chỉ phụng sự một mình Ngài mà thôi!’ ”
Ma quỷ cũng đem Ngài đến thành Giê-ru-sa-lem, đặt Ngài trên nóc đền thờ và nói: “Nếu ngươi là Con Đức Chúa Trời thì hãy lao mình xuống đi;
vì có lời chép: ‘Chúa sẽ truyền cho các thiên sứ gìn giữ ngươi,
Các đấng ấy sẽ đỡ nâng ngươi trên tay, e chân ngươi vấp phải đá chăng!’ ”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Có lời phán: ‘Ngươi đừng thách thức Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi.’ ”
Sau khi dùng hết cách cám dỗ Ngài, ma quỷ bỏ đi, chờ cơ hội khác.
Đức Chúa Jêsus trở về miền Ga-li-lê trong quyền năng Thánh Linh, và danh tiếng Ngài vang lừng khắp các miền lân cận.
Ngài dạy dỗ trong các nhà hội, mọi người đều ca ngợi Ngài.
Đức Chúa Jêsus đến thành Na-xa-rét, là nơi dưỡng dục Ngài. Theo thói quen, vào ngày sa-bát, Ngài đến nhà hội, đứng dậy để đọc.
Có người trao cho Ngài cuộn sách tiên tri Ê-sai, Ngài mở ra, tìm thấy chỗ có chép:
“Thánh Linh của Chúa ngự trên Ta, Vì Ngài đã xức dầu cho Ta để truyền giảng Tin Lành cho người nghèo.
Ngài đã sai Ta để công bố những người bị giam cầm được phóng thích, Người mù lòa được sáng mắt, Người bị áp bức được tự do; Và công bố năm thi ân của Chúa.”
Ngài cuốn sách lại, trả cho người phụ lễ, rồi ngồi xuống. Mọi người trong nhà hội đều chăm chú nhìn Ngài.
Ngài bắt đầu nói với họ: “Hôm nay lời Kinh Thánh mà các ngươi vừa nghe đã được ứng nghiệm.”
Mọi người đều làm chứng tốt về Ngài, và kinh ngạc trước những lời đầy ân huệ từ miệng Ngài. Họ hỏi: “Chẳng phải người nầy là con Giô-sép sao?”
Ngài phán: “Chắc các ngươi muốn nói với Ta câu tục ngữ nầy: ‘Hỡi thầy thuốc, hãy tự chữa lành mình! Mọi điều chúng tôi nghe ông đã làm tại thành Ca-bê-na-um, hãy làm tại đây, nơi quê hương ông.’ ”
Ngài lại phán: “Thật, Ta bảo các ngươi, không một nhà tiên tri nào được chấp nhận tại quê hương mình.
Thật, Ta bảo các ngươi, trong thời Ê-li, khi trời bị đóng chặt trong ba năm sáu tháng, cả xứ bị nạn đói lớn, và trong dân Y-sơ-ra-ên cũng có nhiều bà góa.
Tuy nhiên, Ê-li không được sai đến với một người nào trong số họ, ngoại trừ một bà góa ở Sa-rép-ta, xứ Si-đôn.
Trong thời tiên tri Ê-li-sê, ở Y-sơ-ra-ên cũng có nhiều người mắc bệnh phong hủi; nhưng không một ai trong họ được sạch, ngoại trừ Na-a-man, người Sy-ri.”
Mọi người trong nhà hội nghe những lời đó, thì nổi giận.
Họ đứng dậy kéo Ngài ra ngoài thành, đưa Ngài lên đỉnh núi, nơi người ta xây thành, để ném Ngài xuống.
Nhưng Ngài lánh khỏi họ và đi nơi khác.
Ngài xuống thành Ca-bê-na-um, thuộc miền Ga-li-lê, và giảng dạy trong ngày sa-bát.
Mọi người đều kinh ngạc về sự giảng dạy của Ngài vì lời Ngài đầy uy quyền.
Một người bị quỷ ám có mặt trong nhà hội la lớn: “Hỡi Jêsus ở Na-xa-rét!
Chúng tôi với Ngài có can hệ gì mà Ngài đến để tiêu diệt chúng tôi? Tôi biết Ngài là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời!”
Nhưng Đức Chúa Jêsus nghiêm trách nó: “Hãy im đi, và ra khỏi người nầy!” Quỷ liền quật ngã người ấy giữa đám đông, rồi lìa khỏi mà không làm gì hại đến anh ta.
Mọi người đều sợ hãi, nói với nhau: “Đạo gì vậy? Ông ấy lấy uy quyền và năng lực mà truyền lệnh cho các quỷ và chúng phải ra khỏi.”
Danh tiếng Ngài vang lừng khắp các vùng chung quanh.
Đức Chúa Jêsus rời nhà hội, vào nhà Si-môn. Bà gia của Si-môn đang sốt nặng; người ta xin Ngài chữa bệnh cho bà.
Ngài đến nghiêng mình về phía bà, quở cơn sốt và sốt lìa khỏi bà. Lập tức bà trỗi dậy và phục vụ mọi người.
Khi mặt trời lặn, người ta đem những người mắc đủ các chứng bệnh đến với Ngài. Ngài đặt tay lên từng người và chữa lành cho họ.
Các quỷ cũng ra khỏi nhiều người và la lớn: “Ngài là Con Đức Chúa Trời!” Nhưng Ngài quở trách và không cho phép chúng nói, vì chúng biết Ngài là Đấng Christ.
Vừa rạng sáng, Ngài đi vào nơi thanh vắng. Dân chúng đi tìm Ngài; khi gặp được, họ cố giữ Ngài lại, không cho rời khỏi họ.
Nhưng Ngài phán với họ: “Ta cũng phải công bố Tin Lành của vương quốc Đức Chúa Trời cho các thành phố khác nữa, vì Ta được sai đến với mục đích đó.”
Vậy, Ngài rao giảng trong các nhà hội miền Giu-đê.
Một lần kia, khi Đức Chúa Jêsus đứng trên bờ hồ Ghê-nê-xa-rết, dân chúng chen lấn chung quanh Ngài để nghe lời Đức Chúa Trời.
Ngài thấy hai chiếc thuyền đậu gần bờ; những người đánh cá đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới.
Ngài lên một trong hai chiếc thuyền đó, là chiếc của Si-môn, và bảo ông chèo ra khỏi bờ một chút; rồi Ngài ngồi trên thuyền giảng dạy cho dân chúng.
Khi giảng xong, Ngài bảo Si-môn: “Hãy chèo ra ngoài nước sâu, thả lưới để đánh cá.”
Si-môn thưa: “Thưa Thầy, chúng con đã làm việc suốt đêm mà không bắt được gì cả nhưng vâng lời Thầy, con sẽ thả lưới.”
Họ thả lưới xuống và bắt được nhiều cá đến nỗi đứt cả lưới.
Họ ra hiệu gọi các bạn ở thuyền khác đến giúp. Các bạn ấy đến chở cá đầy hai thuyền, đến nỗi gần chìm.
Thấy vậy, Si-môn Phi-e-rơ quỳ xuống ngang đầu gối Đức Chúa Jêsus và thưa: “Lạy Chúa, xin lìa khỏi con, vì con là người có tội.”
Vì Si-môn và tất cả những người ở đó với ông đều kinh ngạc về mẻ lưới vừa rồi; cả Gia-cơ và Giăng con Xê-bê-đê, bạn của Si-môn cũng vậy.
Đức Chúa Jêsus phán với Si-môn: “Đừng sợ, kể từ nay, con sẽ trở nên tay đánh lưới người.”
Họ đem thuyền vào bờ, bỏ mọi sự mà theo Ngài.
Khi Đức Chúa Jêsus đang ở trong thành kia, có một người mắc bệnh phong hủi đầy mình, thấy Ngài thì sấp mặt xuống đất van xin: “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể khiến con được sạch!”
Đức Chúa Jêsus giơ tay chạm đến người ấy và phán: “Ta muốn, hãy sạch đi!” Lập tức, bệnh phong hủi biến mất.
Ngài truyền dặn anh ta không được nói với ai và bảo: “Hãy đi trình diện với thầy tế lễ và dâng tế lễ về việc con được sạch, theo như Môi-se dạy, như một lời chứng cho mọi người.”
Danh tiếng Ngài ngày càng vang lừng; đông đảo quần chúng tụ họp để nghe Ngài và để được chữa lành bệnh.
Nhưng Ngài lánh vào nơi thanh vắng để cầu nguyện.
Một ngày kia, Đức Chúa Jêsus đang giảng dạy, có những người Pha-ri-si và các thầy dạy luật từ các làng trong miền Ga-li-lê, Giu-đê và từ thành Giê-ru-sa-lem đến ngồi tại đó. Quyền năng của Chúa ở với Ngài để chữa lành bệnh tật.
Kìa, có mấy người khiêng một người bại liệt trên giường đang tìm cách đưa người ấy vào trong nhà và đặt trước mặt Ngài.
Vì đông người quá, không thể đem người bại liệt vào được, nên họ trèo lên mái nhà, dỡ ngói ra, rồi dòng cả người lẫn giường xuống trước mặt Đức Chúa Jêsus, giữa đám đông.
Thấy đức tin của họ, Ngài phán: “Hỡi con, tội lỗi con đã được tha!”
Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si bắt đầu thắc mắc: “Người nầy là ai mà dám nói phạm thượng như thế? Ngoài Đức Chúa Trời, ai có quyền tha tội?”
Nhưng Đức Chúa Jêsus biết ý tưởng họ, nên phán rằng: “Tại sao các ngươi thắc mắc trong lòng như vậy?
Giữa hai cách nói: ‘Tội lỗi con đã được tha,’ hoặc: ‘Hãy đứng dậy bước đi,’ cách nào dễ hơn?
Nhưng để các ngươi biết rằng Con Người ở thế gian có thẩm quyền tha tội...” Ngài phán với người bại liệt: “Ta bảo con: Hãy đứng dậy, vác giường trở về nhà!”
Lập tức người bại liệt đứng dậy trước mặt họ, vác giường mình đã nằm, và đi về nhà, tôn vinh Đức Chúa Trời.
Mọi người đều kinh ngạc và tôn vinh Đức Chúa Trời. Họ sợ hãi nói: “Hôm nay chúng ta đã thấy những việc lạ thường!”
Sau đó, Đức Chúa Jêsus đi ra ngoài, thấy một người thu thuế, tên là Lê-vi, đang ngồi tại phòng thuế thì Ngài phán với ông: “Hãy theo Ta!”
Lê-vi bỏ hết mọi sự, đứng dậy đi theo Ngài.
Lê-vi mở tiệc lớn khoản đãi Ngài tại nhà mình; có nhiều người thu thuế và những người khác ngồi cùng bàn với Ngài.
Những người Pha-ri-si và các thầy thông giáo phàn nàn với môn đồ Ngài rằng: “Sao các ông lại ăn uống với phường thu thuế và bọn người tội lỗi?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc đâu, nhưng là người đau ốm.
Ta không đến để gọi người công chính, nhưng gọi kẻ có tội ăn năn.”
Họ nói với Ngài: “Môn đồ của Giăng cũng như môn đồ của người Pha-ri-si thường kiêng ăn cầu nguyện, nhưng môn đồ của Thầy lại ăn và uống!”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Các ngươi có thể bắt khách dự tiệc cưới kiêng ăn trong khi chàng rể còn ở với họ sao?
Nhưng đến lúc chàng rể được đem đi khỏi họ, thì trong những ngày ấy họ mới kiêng ăn.”
Ngài cũng kể cho họ một ẩn dụ: “Không ai xé một mảnh áo mới mà vá vào áo cũ. Làm như vậy, áo mới sẽ rách, và mảnh vải mới cũng không xứng hợp với áo cũ.
Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, rượu mới làm nứt bầu da, rượu đổ ra và bầu da cũng bị hỏng.
Nhưng rượu mới phải đổ vào bầu mới.
Cũng không ai đã uống rượu cũ lại đòi rượu mới, vì người ấy nói rằng: ‘Rượu cũ ngon hơn.’ ”
Vào ngày sa-bát, Đức Chúa Jêsus đi ngang qua cánh đồng lúa mì, các môn đồ Ngài ngắt vài bông lúa, lấy tay vò và ăn.
Có mấy người Pha-ri-si nói: “Tại sao các anh làm điều không được phép làm trong ngày sa-bát?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Các ngươi chưa đọc về điều vua Đa-vít đã làm khi người cùng những kẻ đi theo người bị đói sao?
Người vào nhà Đức Chúa Trời lấy bánh cung hiến ăn và cho những người đi theo ăn nữa, mặc dù bánh ấy chỉ thầy tế lễ mới được phép ăn.”
Rồi Ngài phán với họ: “Con Người là Chúa của ngày sa-bát.”
Một ngày sa-bát khác, Đức Chúa Jêsus vào nhà hội dạy dỗ. Tại đó, có một người bị teo bàn tay phải.
Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si theo dõi xem Ngài có chữa bệnh trong ngày sa-bát chăng để tìm cớ tố cáo Ngài.
Ngài biết ý tưởng họ nên phán với người teo tay rằng: “Hãy đứng dậy ra giữa đây.” Người ấy đứng dậy và đến đó.
Đức Chúa Jêsus phán với họ: “Ta hỏi các ngươi: Trong ngày sa-bát, được phép làm việc lành hay việc dữ, nên cứu người hay giết người?”
Sau khi nhìn khắp mọi người chung quanh, Ngài phán với người bệnh: “Hãy giơ tay ra.” Người ấy giơ ra thì tay được lành.
Nhưng họ giận dữ và bàn với nhau xem có thể làm gì với Đức Chúa Jêsus.
Trong những ngày đó, Đức Chúa Jêsus đi lên núi để cầu nguyện; Ngài thức thâu đêm cầu nguyện với Đức Chúa Trời.
Đến sáng hôm sau, Ngài gọi các môn đồ đến và chọn mười hai người trong số họ, gọi là sứ đồ:
Si-môn, Ngài đặt tên là Phi-e-rơ, và Anh-rê em Phi-e-rơ; Gia-cơ và Giăng; Phi-líp và Ba-thê-lê-my;
Ma-thi-ơ và Thô-ma; Gia-cơ, con của A-phê, và Si-môn gọi là Xê-lốt;
Giu-đa, con của Gia-cơ, và Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, sau trở thành kẻ phản bội Ngài.
Ngài đi xuống cùng các sứ đồ và đứng ở một chỗ đất bằng. Có nhiều môn đồ của Ngài cùng đoàn dân rất đông từ khắp miền Giu-đê, thành Giê-ru-sa-lem, và vùng duyên hải Ty-rơ, Si-đôn đến để nghe Ngài dạy và để được chữa lành bệnh.
Những người bị uế linh quấy phá đều được chữa lành.
Cả đoàn dân đều tìm cách chạm vào Ngài, vì quyền năng từ Ngài phát ra và chữa lành mọi người.
Đức Chúa Jêsus ngước mắt nhìn môn đồ và phán: “Phước cho các con là những người nghèo khó, Vì vương quốc Đức Chúa Trời thuộc về các con.
Phước cho các con là những người hiện đang đói, Vì sẽ được no đủ. Phước cho các con là những người hiện đang khóc lóc, Vì sẽ được vui cười.
Phước cho các con khi vì cớ Con Người mà bị người ta ghen ghét, xua đuổi, mắng nhiếc, loại bỏ tên các con như kẻ gian ác.
Trong ngày ấy, các con hãy hớn hở nhảy mừng, vì kìa, phần thưởng của các con ở trên trời là rất lớn; bởi vì tổ phụ họ cũng đối xử với các nhà tiên tri như vậy.
Nhưng khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có, Vì đã được an ủi rồi!
Khốn cho các ngươi là những người hiện đang no, Vì sẽ đói! Khốn cho các ngươi là những kẻ hiện đang cười, Vì sẽ đau thương và khóc lóc!
Khốn cho các ngươi, khi được mọi người khen tặng, Vì tổ phụ họ cũng đối xử với các kẻ tiên tri giả như vậy!
Nhưng Ta phán với các con là người nghe Ta: Hãy yêu kẻ thù mình, làm ơn cho kẻ ghét mình,
chúc phước cho kẻ rủa sả mình, và cầu nguyện cho kẻ sỉ nhục mình.
Ai vả các con má bên nầy, hãy đưa luôn má bên kia cho họ; còn nếu ai lấy áo ngoài của con, cũng đừng ngăn họ lấy luôn áo trong.
Ai xin, hãy cho; ai đoạt lấy của cải các con, đừng đòi lại.
Các con muốn người ta làm cho mình thể nào, hãy làm cho người ta thể ấy.
Nếu các con yêu mến những ai yêu mến mình, thì có ơn nghĩa gì đâu? Ngay cả kẻ tội lỗi cũng yêu mến những ai yêu mến họ.
Nếu các con làm ơn cho người làm ơn cho mình, thì có ơn nghĩa gì? Ngay cả kẻ tội lỗi cũng làm như vậy.
Nếu các con cho ai mượn mà mong họ trả lại, thì có ơn nghĩa gì? Ngay cả kẻ tội lỗi cũng cho kẻ tội lỗi mượn, để được nhận lại đủ số.
Nhưng các con hãy yêu kẻ thù mình, hãy làm ơn, và hãy cho mượn mà đừng mong trả lại. Như vậy, phần thưởng của các con sẽ lớn, và các con sẽ là con của Đấng Chí Cao, vì Ngài lấy lòng nhân từ đối đãi người vô ơn và kẻ độc ác.
Hãy thương xót như Cha các con hay thương xót.
Đừng xét đoán ai thì các con sẽ không bị xét đoán. Đừng lên án ai thì các con sẽ không bị lên án. Hãy tha thứ thì các con sẽ được tha thứ.
Hãy cho, các con sẽ được cho lại; người ta sẽ lấy đấu lớn đong đầy, nhận xuống, lắc cho đến khi đầy tràn, rồi đổ vào vạt áo các con; vì các con lường cho người ta mực nào, thì các con sẽ nhận lại mực ấy.”
Ngài cũng phán với họ một ẩn dụ: “Người mù có thể dắt người mù được không? Chẳng phải cả hai cùng ngã xuống hố sao?
Môn đồ không hơn thầy, nhưng nếu môn đồ được huấn luyện đầy đủ, thì sẽ giống như thầy mình.
Sao con thấy cái dằm trong mắt anh em mà lại không thấy cây đà trong mắt mình?
Sao con có thể nói với anh em rằng: ‘Anh ơi, để tôi lấy cái dằm trong mắt anh ra,’ còn con, thì không thấy cây đà trong mắt mình? Hỡi kẻ đạo đức giả, trước hết hãy lấy cây đà ra khỏi mắt mình đi, rồi mới thấy rõ mà lấy cái dằm khỏi mắt anh em được.
Không có cây lành nào lại sinh quả độc; không có cây độc nào lại sinh quả lành;
vì xem quả thì biết cây. Không ai hái trái vả nơi bụi gai, hay là hái trái nho nơi bụi tật lê.
Người tốt do lòng chứa điều thiện mà sinh điều thiện; kẻ xấu do lòng chứa điều ác mà sinh điều ác; bởi đầy dẫy trong lòng nên miệng mới nói ra.
Sao các con gọi Ta: ‘Chúa, Chúa!’ mà không làm theo lời Ta phán?
Ta sẽ chỉ cho các con biết người nào đến với Ta, nghe lời Ta và làm theo thì giống như ai.
Người ấy giống như một người kia xây nhà, đào xuống thật sâu và đặt nền trên vầng đá. Khi nước lụt dâng lên, dòng nước chảy xiết xô vào nhà ấy cũng không lay động được, vì nhà đã xây chắc chắn.
Nhưng ai nghe lời Ta mà không làm theo thì giống như một người kia xây nhà trên đất không có nền móng. Khi dòng nước chảy xiết xô vào, nhà ấy liền bị sụp và thiệt hại nặng nề.”
Sau khi rao giảng mọi lời ấy cho dân chúng nghe rồi, Đức Chúa Jêsus vào thành Ca-bê-na-um.
Một viên đội trưởng có người đầy tớ rất yêu quý đang đau nặng, gần chết.
Khi nghe nói về Đức Chúa Jêsus, ông phái mấy trưởng lão Do Thái xin Ngài đến chữa bệnh cho đầy tớ mình.
Họ đến với Đức Chúa Jêsus, nài xin rằng: “Đội trưởng thật đáng cho Thầy giúp đỡ
vì ông thương dân ta, và đã xây nhà hội cho chúng ta.”
Vậy, Đức Chúa Jêsus đi với họ. Khi Ngài gần tới nhà, viên đội trưởng phái các bạn mình đến thưa với Ngài: “Lạy Chúa, không dám phiền Chúa như thế, vì tôi không xứng đáng rước Chúa vào nhà.
Tôi cũng nghĩ mình không xứng đáng đến với Chúa. Chỉ xin Ngài phán một lời thì đầy tớ tôi sẽ được lành.
Vì chính tôi cũng ở dưới quyền người khác, tôi cũng có quân lính dưới quyền tôi. Tôi bảo người nầy: ‘Đi!’ thì nó đi; bảo người khác: ‘Đến!’ thì nó đến; và bảo đầy tớ của tôi: ‘Làm việc nầy!’ thì nó làm.”
Nghe những lời ấy, Đức Chúa Jêsus ngạc nhiên về viên đội trưởng, quay lại bảo đoàn dân đi theo Ngài rằng: “Ta bảo các ngươi, ngay trong dân Y-sơ-ra-ên, Ta cũng không thấy đức tin nào như vậy.”
Những người được phái đi trở về nhà thì thấy người đầy tớ đã lành mạnh rồi.
Ngày hôm sau, Đức Chúa Jêsus đi đến một thành gọi là Na-in; có nhiều môn đồ cùng đoàn dân đông đi với Ngài.
Khi Ngài đến gần cửa thành, người ta vừa khiêng ra một người chết, là con trai một của bà mẹ góa. Có nhiều người ở thành đó đi đưa đám tang với bà.
Chúa thấy và động lòng thương xót bà nên phán: “Đừng khóc!”
Ngài lại gần, chạm vào quan tài, và những người khiêng dừng lại. Ngài phán: “Hỡi chàng trai, Ta bảo ngươi trỗi dậy.”
Người chết vùng ngồi dậy và bắt đầu nói. Đức Chúa Jêsus giao anh ấy lại cho mẹ.
Mọi người đều sợ hãi và ca ngợi Đức Chúa Trời rằng: “Có đấng tiên tri lớn đã xuất hiện giữa chúng ta, và Đức Chúa Trời đã thăm viếng dân Ngài.”
Tin nầy vang ra khắp miền Giu-đê và các vùng lân cận.
Môn đồ của Giăng thuật lại cho ông tất cả các việc đó.
Ông gọi hai môn đồ và sai họ đến thưa với Chúa: “Thầy có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn phải đợi đấng khác?”
Họ đến với Đức Chúa Jêsus, thưa rằng: “Giăng Báp-tít sai chúng tôi đến hỏi Thầy: ‘Thầy có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn phải đợi đấng khác?’ ”
Chính giờ đó, Đức Chúa Jêsus chữa lành nhiều người bệnh, người tàn tật, người bị quỷ ám và khiến cho nhiều người mù được sáng.
Ngài trả lời với họ: “Hãy về thuật lại cho Giăng những điều các ngươi đã thấy và nghe: Người mù được sáng, người què được đi, người phong hủi được sạch, người điếc được nghe, người chết được sống lại, người nghèo được nghe Tin Lành.
Phước cho người nào không vấp phạm vì cớ Ta!”
Khi các sứ giả của Giăng đã đi rồi, Đức Chúa Jêsus bắt đầu nói với dân chúng về Giăng rằng: “Các ngươi đi xem gì nơi hoang mạc? Một cây sậy bị gió rung chăng?
Các ngươi ra xem gì nữa? Một người mặc áo sang trọng chăng? Kìa, những người mặc áo sang trọng và sống xa hoa thì ở trong cung vua!
Vậy thì, các ngươi còn đi xem gì nữa? Một nhà tiên tri chăng? Phải, Ta nói với các ngươi, có người còn hơn cả nhà tiên tri nữa.
Có lời chép về người ấy rằng: ‘Nầy, Ta sai sứ giả Ta đi trước mặt Con, Người sẽ dọn đường trước cho Con.’
Ta nói với các ngươi, trong những người do phụ nữ sinh ra, không có ai trổi hơn Giăng Báp-tít; nhưng người nhỏ nhất trong vương quốc Đức Chúa Trời còn cao trọng hơn ông ấy.”
Cả dân chúng và những người thu thuế đã chịu báp-têm của Giăng nghe Ngài giảng đều nhìn nhận Đức Chúa Trời là công chính.
Nhưng người Pha-ri-si và các luật gia không chịu Giăng làm báp-têm thì chối bỏ mục đích của Đức Chúa Trời dành cho họ.
“Vì vậy, Ta sẽ ví sánh những người của thế hệ nầy với gì, và họ giống ai?
Họ giống như trẻ con ngồi ngoài chợ, réo gọi nhau và nói: ‘Chúng tôi thổi sáo mà các bạn không nhảy múa, chúng tôi hát bài ai ca mà các bạn không khóc than.’
Vì Giăng Báp-tít đã đến, không ăn bánh, không uống rượu thì các ngươi nói: ‘Ông ta bị quỷ ám.’
Còn Con Người đến, ăn và uống thì các ngươi lại nói: ‘Kìa, đó là người ham ăn mê uống, bạn của người thu thuế và kẻ có tội.’
Nhưng sự khôn ngoan được biện minh nhờ kết quả của nó”
Một người Pha-ri-si mời Đức Chúa Jêsus dùng bữa với mình. Ngài vào nhà người Pha-ri-si ấy và ngồi vào bàn.
Có một người đàn bà tội lỗi ở thành đó nghe nói Ngài đang ngồi ăn tại nhà người Pha-ri-si, nên đem đến một bình bằng ngọc đựng đầy dầu thơm.
Nàng đứng đằng sau, nơi chân Đức Chúa Jêsus mà khóc, nước mắt thấm ướt cả chân Ngài; rồi nàng lấy tóc mình lau, hôn chân Ngài, và xức dầu thơm lên.
Người Pha-ri-si đã mời Ngài, thấy vậy, thầm nghĩ: “Nếu người nầy thật là nhà tiên tri, chắc đã biết người đàn bà chạm đến mình đó là ai, thuộc hạng người nào, vì nàng là kẻ tội lỗi.”
Đức Chúa Jêsus phán với ông: “Hỡi Si-môn, Ta có vài lời nói với ngươi.” Ông thưa: “Xin Thầy cứ nói.”
Ngài phán: “Một chủ nợ có hai con nợ: Một người nợ năm trăm đơ-ni-ê, người kia nợ năm chục.
Vì hai người đều không có gì để trả, nên chủ nợ tha cho cả hai. Vậy, trong hai người đó, ai thương chủ nợ hơn?”
Si-môn thưa: “Tôi nghĩ là người mà chủ đã tha nhiều nợ hơn.” Đức Chúa Jêsus phán: “Ngươi nhận xét đúng lắm.”
Ngài quay lại phía người đàn bà và phán với Si-môn: “Ngươi thấy người đàn bà nầy không? Ta vào nhà của ngươi, ngươi không cho nước rửa chân; nhưng chị ấy đã lấy nước mắt thấm ướt chân Ta, rồi lấy tóc mình mà lau.
Ngươi không hôn Ta, nhưng từ khi Ta vào nhà của ngươi, chị ấy luôn hôn chân Ta.
Ngươi không xức dầu cho đầu Ta, nhưng chị ấy lấy dầu thơm xức chân Ta.
Vì thế, Ta bảo ngươi, tội lỗi của người đàn bà nầy nhiều lắm, nhưng đã được tha hết, nên chị ấy yêu mến nhiều; còn người được tha ít thì yêu mến ít.”
Rồi Ngài phán với người đàn bà: “Tội lỗi con đã được tha.”
Các người ngồi cùng bàn với Ngài nói với nhau: “Người nầy là ai mà có quyền tha tội?”
Nhưng Ngài phán với người đàn bà: “Đức tin của con đã cứu con; hãy đi bình an.”
Sau đó, Đức Chúa Jêsus đi từ thành nầy đến thành kia, làng nầy đến làng khác, công bố và rao truyền Tin Lành của vương quốc Đức Chúa Trời. Mười hai sứ đồ cùng đi với Ngài.
Cũng có vài phụ nữ đi theo Ngài, là những người đã được chữa lành khỏi tà linh và bệnh tật: Ma-ri gọi là Ma-đơ-len, là người được Chúa giải cứu khỏi bảy quỷ dữ;
Gian-nơ vợ Chu-xa, quản gia của vua Hê-rốt; Su-xan-nơ và nhiều người nữ khác nữa đã dùng của cải mình để giúp cho Chúa và các môn đồ Ngài.
Khi đoàn dân đông tụ họp, và người ta từ các thành đến với Ngài thì Ngài dùng ẩn dụ phán với họ:
“Có một người đi ra gieo giống. Khi vãi giống, một số hạt rơi dọc đường, bị giày đạp và chim trời ăn hết;
một số khác rơi trên đá, khi mới mọc lên, liền héo đi, vì thiếu hơi ẩm;
một số khác rơi giữa bụi gai, cùng mọc lên với gai và bị gai làm cho nghẹt ngòi;
lại có một số khác nữa rơi trên đất tốt, mọc lên, kết quả gấp trăm lần.” Khi đang phán những lời đó, Ngài nói lớn: “Ai có tai để nghe, hãy lắng nghe!”
Môn đồ hỏi Ngài về ý nghĩa của ẩn dụ ấy.
Ngài đáp: “Các con đã được ban cho sự hiểu biết về những mầu nhiệm của vương quốc Đức Chúa Trời; nhưng với kẻ khác thì Ta dùng ẩn dụ mà nói để họ Xem mà không thấy, Nghe mà không hiểu.
Ẩn dụ đó có nghĩa như thế nầy: Hạt giống là đạo Đức Chúa Trời.
Những hạt rơi dọc đường là những người đã nghe đạo, nhưng về sau ma quỷ đến cướp lấy đạo đó khỏi lòng họ, e rằng họ tin mà được cứu chăng.
Những hạt rơi trên đá là người nghe đạo liền vui mừng nhận lấy; nhưng vì không có rễ, chỉ tin tạm thời nên khi gặp thử thách thì họ sa ngã.
Những hạt rơi giữa bụi gai là những người đã nghe đạo nhưng để cho sự lo lắng, giàu sang, vui thú đời nầy làm nghẹt ngòi nên không trưởng thành được.
Nhưng các hạt rơi trên đất tốt là những người nghe và giữ đạo với lòng chân thành và thiện ý, nhờ sự nhẫn nhục mà được kết quả.
Không ai đã thắp đèn lại lấy thùng đậy lại hay là đặt dưới gầm giường, nhưng để trên chân đèn, để cho ai vào nhà đều thấy ánh sáng.
Vì không có điều gì giấu kín mà sẽ không bị lộ ra, không có điều gì bí mật mà không bị người ta biết đến và đưa ra ánh sáng.
Vậy, hãy cẩn thận về cách các con nghe. Vì ai đã có sẽ được cho thêm, còn ai không có sẽ bị cất luôn điều họ nghĩ là mình có.”
Mẹ và các em Đức Chúa Jêsus đến tìm Ngài, nhưng vì đông người nên không đến gần Ngài được.
Có người báo cho Ngài biết: “Mẹ và anh em Thầy đang đứng ở ngoài muốn gặp Thầy.”
Nhưng Ngài đáp: “Mẹ Ta và anh em Ta chính là những người nghe và làm theo lời Đức Chúa Trời.”
Một ngày kia, Đức Chúa Jêsus xuống thuyền với các môn đồ và bảo: “Chúng ta hãy qua bên kia hồ.” Vậy, họ chèo thuyền đi.
Trong khi họ đang chèo thuyền thì Ngài ngủ. Một cơn bão nổi lên trên hồ, nước vào đầy thuyền, và họ đang gặp nguy hiểm.
Các môn đồ đến đánh thức Ngài và nói: “Thầy ơi, Thầy ơi, chúng ta chết mất!” Ngài thức dậy, quở gió và sóng, chúng liền ngừng lại và yên lặng như tờ.
Ngài phán với các môn đồ: “Đức tin các con ở đâu?” Môn đồ sợ hãi và kinh ngạc hỏi nhau: “Ngài là ai mà khiến cả gió lẫn nước cũng phải vâng lệnh Ngài?”
Ngài cùng môn đồ xuôi thuyền đến miền Giê-ra-sê, đối diện miền Ga-li-lê.
Khi Đức Chúa Jêsus lên bờ, có một người bị quỷ ám ở thành ấy đến gặp Ngài. Lâu nay anh không mặc quần áo, không ở trong nhà mà ở ngoài nghĩa địa.
Khi thấy Đức Chúa Jêsus, anh la lên, sấp mình xuống trước mặt Ngài và nói lớn: “Lạy Jêsus, Con Đức Chúa Trời Chí Cao, tôi có liên can gì đến Ngài đâu? Tôi van Ngài đừng làm khổ tôi.”
Vì Đức Chúa Jêsus đã truyền cho uế linh phải ra khỏi anh ta. Đã nhiều lần quỷ nhập vào anh ấy; mặc dù người ta xiềng, cùm và canh giữ, anh ấy vẫn bẻ xiềng tháo cùm và bị ma quỷ đưa vào nơi hoang mạc.
Đức Chúa Jêsus hỏi: “Ngươi tên gì?” Nó thưa: “Quân đoàn” vì nhiều quỷ đã ám vào anh ấy.
Các quỷ nài xin Ngài đừng đuổi chúng xuống vực sâu.
Bấy giờ, có một đàn heo rất đông đang ăn trên núi. Các quỷ xin Đức Chúa Jêsus cho chúng nó nhập vào đàn heo ấy; Ngài cho phép.
Vậy, các quỷ ra khỏi người ấy và nhập vào đàn heo. Đàn heo từ triền dốc lao xuống hồ và chết chìm.
Các người chăn heo thấy vậy, chạy trốn và loan tin ấy khắp thành thị, thôn quê.
Thiên hạ đổ ra xem việc mới xảy ra. Khi họ đến với Đức Chúa Jêsus, thấy người mà các quỷ mới vừa ra khỏi đang ngồi dưới chân Đức Chúa Jêsus, mặc áo quần, trí óc tỉnh táo thì sợ hãi lắm.
Những người đã chứng kiến sự việc thuật lại cho mọi người về chuyện người bị quỷ ám được chữa lành như thế nào.
Tất cả dân chúng quanh miền Giê-ra-sê xin Đức Chúa Jêsus lìa khỏi họ vì họ quá sợ hãi. Vậy, Ngài xuống thuyền trở về.
Người được Đức Chúa Jêsus đuổi quỷ xin ở lại với Ngài, nhưng Ngài cho anh về và bảo:
“Con hãy về nhà, thuật lại những việc lớn lao mà Đức Chúa Trời đã làm cho con.” Vậy người ấy đi, rao truyền khắp thành những điều lớn lao mà Đức Chúa Jêsus đã làm cho mình.
Khi Đức Chúa Jêsus trở về, đoàn dân đông đón rước Ngài vì mọi người đều trông đợi Ngài.
Có một viên quản lý nhà hội tên là Giai-ru đến phủ phục dưới chân Đức Chúa Jêsus và nài xin Ngài vào nhà mình,
vì ông có cô con gái duy nhất mười hai tuổi đang hấp hối. Khi Đức Chúa Jêsus đang đi, dân chúng lấn ép Ngài tứ phía.
Có một phụ nữ bị rong huyết đã mười hai năm; dù đã tốn hết tiền của cho nhiều thầy thuốc, nhưng không ai chữa được cho bà.
Bà đến đằng sau và chạm vào gấu áo Ngài thì lập tức máu cầm lại.
Đức Chúa Jêsus phán: “Ai đã chạm đến Ta?” Không một người nào nhận cả, nên Phi-e-rơ và đồng bạn nói: “Thưa Thầy, đoàn dân vây quanh và lấn ép Thầy đó!”
Đức Chúa Jêsus phán: “Có người nào đã chạm đến Ta, vì Ta nhận biết có năng lực từ Ta phát ra.”
Khi thấy mình không thể giấu được nữa, người phụ nữ run sợ đến phủ phục trước Ngài và tỏ thật trước mặt dân chúng lý do nào bà đã chạm đến Ngài và liền được chữa lành ra sao.
Đức Chúa Jêsus phán với bà: “Hỡi con gái Ta, đức tin con đã chữa lành con; hãy đi bình an!”
Trong khi Ngài còn đang nói, thì có người từ nhà viên quản lý nhà hội đến báo: “Con gái ông chết rồi; đừng làm phiền Thầy nữa.”
Đức Chúa Jêsus nghe vậy nên phán với Giai-ru: “Đừng sợ, chỉ cần tin thì con của ngươi sẽ được cứu sống.”
Khi đến nhà, Ngài không cho ai bước vào với Ngài ngoại trừ Phi-e-rơ, Gia-cơ, Giăng, và cha mẹ của đứa trẻ.
Mọi người đang khóc lóc, than vãn về nó; nhưng Ngài phán: “Đừng khóc, nó không phải chết đâu nhưng đang ngủ.”
Họ biết nó thật chết rồi nên nhạo cười Ngài.
Đức Chúa Jêsus cầm tay bé gái gọi lớn: “Con ơi, hãy trỗi dậy!”
Linh hồn trở lại, đứa bé liền trỗi dậy, và Ngài bảo cho nó ăn.
Cha mẹ đứa trẻ rất kinh ngạc, nhưng Ngài truyền cho họ không được nói với bất cứ ai về việc đã xảy ra.
Đức Chúa Jêsus gọi mười hai sứ đồ họp lại, ban quyền năng và thẩm quyền để đuổi quỷ và chữa bệnh.
Ngài sai họ đi rao giảng vương quốc Đức Chúa Trời và chữa lành người bệnh.
Ngài bảo họ: “Khi đi đường đừng đem theo gì cả, đừng đem gậy, túi xách, bánh, tiền bạc; cũng đừng đem hai áo choàng.
Các con vào nhà nào, hãy ở đó cho đến khi đi.
Nơi nào người ta không tiếp rước các con thì khi ra khỏi thành đó hãy phủi bụi khỏi chân mình như một lời chứng nghịch lại họ.”
Vậy, các sứ đồ ra đi, trải qua các làng mạc, rao giảng Tin Lành khắp nơi và chữa lành bệnh tật.
Bấy giờ, Hê-rốt là vua chư hầu nghe nói về các việc xảy ra thì rất hoang mang, bởi vì người nầy thì nói: “Giăng đã từ cõi chết sống lại;”
kẻ kia thì bảo: “Ê-li đã hiện ra;” còn người khác nữa lại nói: “Một trong các nhà tiên tri đời xưa đã sống lại.”
Hê-rốt nói: “Trẫm đã chém đầu Giăng rồi, vậy người nầy là ai mà trẫm được nghe đã làm những việc như thế?” Vua tìm cách gặp Đức Chúa Jêsus.
Các sứ đồ trở về trình với Đức Chúa Jêsus mọi việc họ đã làm. Ngài đem các sứ đồ đi riêng ra, đến một thành gọi là Bết-sai-đa.
Khi dân chúng biết được, thì đi theo Ngài. Đức Chúa Jêsus tiếp đón họ, giảng về vương quốc Đức Chúa Trời cho họ, và chữa lành cho những ai cần được chữa lành.
Lúc trời gần tối, mười hai sứ đồ đến thưa với Ngài: “Xin cho dân chúng về để họ đến các làng mạc và thôn quê chung quanh mà trọ và tìm thức ăn, vì chúng ta đang ở nơi hoang vắng.”
Nhưng Ngài phán: “Chính các con hãy cho họ ăn.” Các sứ đồ thưa: “Chúng con chỉ có năm cái bánh và hai con cá thôi, trừ phi phải đi mua thức ăn cho cả đoàn dân nầy.”
Vì có đến khoảng năm nghìn người nam, nên Ngài phán với các môn đồ: “Hãy bảo họ ngồi từng nhóm, mỗi nhóm năm mươi người.”
Các môn đồ làm theo lời và bảo mọi người ngồi xuống.
Đức Chúa Jêsus lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, tạ ơn và bẻ ra, trao cho các môn đồ để phân phát cho đoàn dân.
Mọi người đều ăn no nê. Họ thu lại được mười hai giỏ đầy những mẩu bánh thừa.
Khi Đức Chúa Jêsus đang cầu nguyện riêng, các môn đồ tụ họp quanh Ngài. Ngài hỏi họ: “Dân chúng nói Ta là ai?”
Họ thưa: “Người nầy nói là Giăng Báp-tít, kẻ khác nói là Ê-li; người khác nữa nói là một trong những nhà tiên tri đời xưa sống lại.”
Ngài lại hỏi họ: “Còn các con thì nói Ta là ai?” Phi-e-rơ thưa: “Thầy là Đấng Christ của Đức Chúa Trời.”
Đức Chúa Jêsus cấm và ra lệnh cho các môn đồ không nói điều ấy với bất cứ ai.
Đức Chúa Jêsus phán: “Con Người phải chịu nhiều điều đau khổ, phải bị các trưởng lão, các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo chối bỏ, phải bị giết, đến ngày thứ ba phải sống lại.”
Ngài phán với mọi người: “Nếu ai muốn theo Ta, phải từ bỏ chính mình, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo Ta.
Vì ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai vì Ta mà mất mạng sống thì sẽ cứu mạng sống mình.
Nếu người nào được cả thế gian mà chính mình bị mất hoặc thiệt thân thì có ích gì?
Vì nếu ai hổ thẹn về Ta và lời Ta thì Con Người sẽ hổ thẹn về người ấy khi Ngài ngự đến trong vinh quang của mình, của Cha và của các thiên sứ thánh.
Thật, Ta bảo các con, một vài người đang đứng đây sẽ không chết trước khi thấy vương quốc Đức Chúa Trời.”
Khoảng tám ngày sau khi phán các lời nầy, Đức Chúa Jêsus đem Phi-e-rơ, Giăng và Gia-cơ đi với Ngài lên núi để cầu nguyện.
Đang khi cầu nguyện, diện mạo Ngài đổi khác, áo Ngài trở nên trắng và rực sáng.
Và kìa, có hai người nói chuyện với Ngài, đó là Môi-se và Ê-li.
Họ hiện ra trong vinh quang và nói về sự chết của Ngài, là việc Ngài sắp làm ứng nghiệm tại thành Giê-ru-sa-lem.
Phi-e-rơ và các bạn ông quá buồn ngủ, nhưng khi chợt tỉnh, họ thấy vinh quang của Đức Chúa Jêsus và hai người đứng với Ngài.
Lúc hai người ấy rời khỏi Đức Chúa Jêsus, Phi-e-rơ thưa với Ngài rằng: “Thưa Thầy, chúng ta ở đây tốt lắm, xin cho chúng con dựng ba cái trại: một cho Thầy, một cho Môi-se và một cho Ê-li.” Ông nói nhưng không biết mình đang nói gì.
Khi Phi-e-rơ đang nói, có một đám mây kéo đến bao phủ họ; các môn đồ sợ hãi khi vào trong đám mây.
Rồi có tiếng từ trong đám mây phán rằng: “Đây là Con Ta, Người mà Ta đã chọn, hãy nghe lời Người.”
Khi tiếng ấy vừa dứt, thì chỉ còn lại một mình Đức Chúa Jêsus mà thôi. Trong những ngày ấy, các môn đồ giữ im lặng, không nói cho ai về những gì mình đã chứng kiến.
Hôm sau, khi Chúa cùng môn đồ từ núi xuống, có đoàn dân đông đến gặp Ngài.
Kìa, có một người trong đám đông kêu lên rằng: “Lạy Thầy, xin Thầy đoái thương con trai tôi, vì nó là con một của tôi.
Khi bị quỷ ám, cháu thình lình kêu la. Quỷ vật vã cháu đến sôi bọt mồm, làm mình mẩy bầm nát và ít khi nó chịu rời khỏi cháu.
Tôi đã xin các môn đồ Thầy đuổi quỷ ấy, nhưng họ đuổi không được.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Hỡi thế hệ vô tín và ngoan cố kia! Ta sẽ ở với các ngươi, chịu đựng các ngươi cho đến chừng nào? Hãy đem con trai ngươi lại đây!”
Khi đứa trẻ vừa lại gần, quỷ quật mạnh nó xuống đất, vật vã nó. Nhưng Đức Chúa Jêsus quở trách quỷ và chữa lành đứa trẻ ấy, rồi giao lại cho cha nó.
Mọi người đều kinh ngạc về quyền năng cao cả của Đức Chúa Trời. Trong lúc mọi người đang ngạc nhiên về mọi việc Đức Chúa Jêsus đã làm, thì Ngài phán với các môn đồ:
“Các con hãy nghe kỹ những lời nầy: Con Người sẽ bị nộp trong tay người ta.”
Nhưng các môn đồ không hiểu lời ấy. Đối với họ, lời ấy còn bị che khuất khiến họ không lĩnh hội được nhưng họ sợ, không dám hỏi Ngài.
Các môn đồ tranh luận với nhau, xem ai trong số họ là người cao trọng nhất.
Đức Chúa Jêsus biết ý tưởng trong lòng họ nên đem một đứa trẻ để bên cạnh mình
và phán với họ: “Người nào vì danh Ta mà tiếp đứa trẻ nầy tức là tiếp Ta, còn ai tiếp Ta tức là tiếp Đấng đã sai Ta. Vì người nào nhỏ nhất trong các con chính là người cao trọng nhất.”
Giăng thưa rằng: “Thưa Thầy, chúng con đã thấy một người nhân danh Thầy mà đuổi quỷ, chúng con đã cấm vì người ấy không theo chúng ta.”
Nhưng Đức Chúa Jêsus phán với ông: “Đừng ngăn cấm, vì ai không nghịch với các con là thuận với các con.”
Gần đến ngày Đức Chúa Jêsus được tiếp lên trời, Ngài quyết định đi đến thành Giê-ru-sa-lem.
Ngài sai các sứ giả đi trước mình. Họ đi vào một làng của người Sa-ma-ri để sửa soạn nhà trọ cho Ngài.
Nhưng người Sa-ma-ri không tiếp rước Ngài, vì Ngài đi về hướng thành Giê-ru-sa-lem.
Gia-cơ và Giăng là môn đồ của Ngài thấy vậy, thưa: “Lạy Chúa, Chúa có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy họ chăng?”
Nhưng Đức Chúa Jêsus quay lại quở trách hai người; [và nói: “Các con không biết linh nào xui giục mình;”]
rồi Ngài cùng các môn đồ đi qua làng khác.
Khi đang đi đường, một người thưa với Đức Chúa Jêsus: “Thầy đi đâu, con sẽ theo đó.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ gối đầu.”
Ngài phán với một người khác: “Hãy theo Ta.” Nhưng người ấy thưa: “Lạy Chúa, xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã.”
Nhưng Đức Chúa Jêsus phán: “Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết của họ; còn ngươi, hãy đi và rao giảng vương quốc Đức Chúa Trời.”
Một người khác nữa thưa: “Lạy Chúa, con sẽ theo Chúa, nhưng xin cho phép con về từ giã người nhà trước đã.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Ai đã cầm cày mà còn nhìn lại đằng sau thì không xứng hợp với vương quốc Đức Chúa Trời.”
Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi môn đồ khác và sai từng đôi một đi trước Ngài vào tất cả các thành và các nơi mà chính Ngài sẽ đi.
Ngài phán với họ: “Mùa gặt thì thật trúng, nhưng thợ gặt thì ít. Vậy, hãy cầu xin Chúa mùa gặt sai nhiều thợ gặt vào mùa gặt của Ngài.
Hãy đi! Nầy, Ta sai các con đi như chiên con giữa bầy muông sói.
Đừng đem túi tiền, bao bị, giày dép, và đừng chào ai dọc đường.
Nếu các con vào nhà nào, trước hết hãy nói: ‘Xin sự bình an ở với nhà nầy!’
Nếu nhà đó có người đáng hưởng bình an thì sự bình an của các con sẽ ở trên người đó; bằng không, sự bình an đó sẽ trở về với các con.
Hãy ở lại nhà đó, ăn uống với họ, vì người làm công đáng được tiền lương mình. Đừng bỏ nhà nầy sang nhà khác.
Khi các con vào thành nào mà người ta tiếp rước các con, hãy ăn đồ họ dọn cho các con.
Hãy chữa lành người bệnh ở đó và nói với họ rằng: ‘Vương quốc Đức Chúa Trời đã đến gần các người.’
Nhưng khi các con vào một thành mà họ không tiếp rước các con, hãy đi ra ngoài đường và nói:
‘Ngay cả bụi đất của thành các người dính vào chân, chúng tôi cũng phủi sạch để nghịch với các người; tuy nhiên, phải biết điều nầy: Vương quốc Đức Chúa Trời đã đến gần các người rồi.’
Ta bảo các con, đến ngày phán xét, thành Sô-đôm sẽ chịu phạt nhẹ hơn thành đó.
Khốn cho ngươi, thành Cô-ra-xin! Khốn cho ngươi, thành Bết-sai-đa! Vì nếu những phép lạ đã thực hiện giữa các ngươi mà đem thực hiện tại thành Ty-rơ và thành Si-đôn, thì chúng đã mặc áo sô, đội tro và ăn năn từ lâu rồi.
Vậy, đến ngày phán xét, thành Ty-rơ và thành Si-đôn sẽ chịu phạt nhẹ hơn các ngươi.
Còn ngươi, thành Ca-bê-na-um, ngươi sẽ được nhấc lên tận trời ư? Không, ngươi sẽ bị hạ xuống tận âm phủ!
Ai nghe các con, tức là nghe Ta; ai chối bỏ các con, tức là chối bỏ Ta. Ai chối bỏ Ta, tức là chối bỏ Đấng đã sai Ta.”
Bảy mươi môn đồ vui mừng trở về thưa rằng: “Lạy Chúa, trong danh Chúa, các quỷ phải chịu khuất phục chúng con.”
Đức Chúa Jêsus phán với họ: “Ta đã thấy quỷ Sa-tan từ trời sa xuống như chớp.
Nầy, Ta đã ban cho các con thẩm quyền để giày đạp rắn, bò cạp và mọi quyền lực của kẻ thù dưới chân. Chẳng điều gì làm hại các con được.
Tuy nhiên, đừng mừng vì các quỷ phục tùng các con, mà hãy mừng vì tên các con đã được ghi trên trời.”
Vào giờ đó, Đức Chúa Jêsus vui mừng trong Đức Thánh Linh và nói: “Thưa Cha là Chúa của trời và đất! Con ca ngợi Cha vì Cha đã giấu những điều nầy với người khôn ngoan và thông thái mà bày tỏ cho trẻ thơ! Thật vậy, thưa Cha, vì điều nầy đẹp ý Cha.
Cha đã giao mọi sự cho Con. Ngoài Cha, không ai biết Con; ngoài Con và người nào Con muốn bày tỏ thì cũng không ai biết Cha.”
Rồi Ngài quay lại phía các môn đồ mà phán riêng: “Phước cho mắt được thấy điều các con thấy!
Vì Ta bảo các con, có nhiều nhà tiên tri và vua chúa ước ao thấy điều các con thấy mà không được thấy, ước ao nghe điều các con nghe mà chẳng được nghe.”
Khi ấy, có một luật gia đứng dậy hỏi để thử Đức Chúa Jêsus rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được hưởng sự sống đời đời?”
Ngài đáp: “Trong luật pháp có chép điều gì? Ngươi đọc và hiểu thế nào?”
Người ấy thưa: “Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, hết tâm trí mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi; và yêu thương người lân cận như chính mình.”
Đức Chúa Jêsus phán: “Ngươi đáp phải lắm. Hãy làm điều đó thì ngươi sẽ sống.”
Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ mình là công chính nên thưa với Đức Chúa Jêsus: “Ai là người lân cận tôi?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Có một người từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô rơi vào tay bọn cướp. Chúng lột hết quần áo và đánh đập rồi bỏ đi, để mặc người đó dở sống dở chết.
Bấy giờ, có một thầy tế lễ tình cờ đi xuống đường đó, thấy nạn nhân thì đi tránh qua bên kia đường.
Tương tự như thế, một người Lê-vi cũng đến nơi, thấy rồi cũng tránh qua bên kia mà đi.
Nhưng có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần thấy nạn nhân thì động lòng thương xót
liền áp lại, lấy dầu và rượu xức vào vết thương, băng bó lại, rồi đỡ nạn nhân lên con vật của mình và đưa đến quán trọ để săn sóc.
Ngày hôm sau, ông lấy hai đơ-ni-ê đưa cho chủ quán và nói: ‘Hãy săn sóc người nầy, nếu tốn hơn nữa, khi trở về tôi sẽ hoàn lại.’
Theo ngươi nghĩ, trong ba người đó, ai là người lân cận với kẻ bị cướp?”
Luật gia thưa: “Ấy là người đã bày tỏ lòng thương xót đối với nạn nhân.” Đức Chúa Jêsus phán: “Hãy đi, làm theo như vậy.”
Khi cùng đi đường với các môn đồ, Đức Chúa Jêsus ghé vào một làng kia. Có một phụ nữ tên Ma-thê tiếp đón Ngài vào nhà mình.
Cô có người em gái tên Ma-ri ngồi dưới chân Chúa để lắng nghe lời Ngài.
Còn Ma-thê mải bận rộn với việc phục vụ, nên cô đến thưa với Ngài: “Lạy Chúa, em con đã bỏ mặc con phục vụ một mình, Chúa không để ý đến sao? Xin Chúa bảo nó giúp con!”
Chúa đáp: “Hỡi Ma-thê, Ma-thê, con lo lắng và bối rối về nhiều việc;
nhưng chỉ có một việc cần mà thôi. Ma-ri đã chọn phần tốt, là phần sẽ không ai đoạt lấy của nàng được.”
Đức Chúa Jêsus đang cầu nguyện ở một nơi kia. Khi cầu nguyện xong, một môn đồ thưa với Ngài: “Lạy Chúa, xin dạy chúng con cầu nguyện, như Giăng đã dạy các môn đồ mình vậy.”
Ngài phán với họ: “Khi các con cầu nguyện, hãy nói: ‘Lạy Cha! Nguyện Danh Cha được tôn thánh. Vương quốc Cha được đến.
Xin cho chúng con thức ăn ngày nào đủ cho ngày nấy.
Xin tha tội cho chúng con, vì chúng con cũng tha kẻ mắc lỗi với chúng con. Xin đừng để chúng con sa vào sự cám dỗ!’ ”
Rồi Ngài phán với họ: “Ai trong các con có một người bạn nửa đêm đến nói rằng: ‘Bạn ơi, cho tôi mượn ba cái bánh,
vì bạn tôi đi đường mới đến mà tôi không có gì để đãi anh ấy.’
Nếu người kia từ trong nhà trả lời: ‘Đừng quấy rầy tôi, cửa đóng rồi, con cái và tôi đã đi ngủ, không dậy lấy bánh cho anh được!’
Ta bảo các con, dù người ấy không vì tình bạn mà dậy lấy bánh cho, nhưng vì người bạn cứ nài nỉ mãi nên người ấy sẽ trỗi dậy và cho người bạn đủ sự cần dùng.
Vậy, Ta bảo các con: Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ, cửa sẽ mở cho các con.
Vì hễ ai xin thì được, ai tìm thì gặp, và ai gõ thì cửa sẽ được mở.
Trong các con có ai làm cha, khi con mình xin bánh mà cho đá chăng? Hay là xin cá mà cho rắn thay vì cá chăng?
Hay là xin trứng mà cho bò cạp chăng?
Vậy, nếu các con là người xấu còn biết cho con cái mình các vật tốt, huống chi Cha ở trên trời lại chẳng ban Đức Thánh Linh cho người xin Ngài sao!”
Đức Chúa Jêsus đuổi một quỷ câm; khi quỷ ra khỏi, người câm liền nói được. Dân chúng đều kinh ngạc.
Nhưng có một vài người trong họ nói: “Người nầy nhờ Bê-ên-xê-bun là quỷ vương mà đuổi quỷ.”
Một số người khác muốn thử Ngài, xin Ngài cho một dấu lạ từ trời.
Đức Chúa Jêsus biết ý tưởng họ nên phán: “Vương quốc nào tự chia rẽ thì sẽ bị sụp đổ, nhà nào tự chia rẽ thì sẽ suy vong.
Vậy, nếu Sa-tan tự chia rẽ thì vương quốc của nó làm sao tồn tại được? Vì các ngươi nói Ta nhờ Bê-ên-xê-bun mà đuổi quỷ.
Nếu Ta nhờ Bê-ên-xê-bun mà đuổi quỷ thì con cái các ngươi nhờ ai mà đuổi quỷ? Do đó, chính chúng nó sẽ là người xét xử các ngươi.
Nhưng nếu Ta nhờ ngón tay của Đức Chúa Trời mà đuổi quỷ, thì vương quốc Đức Chúa Trời đã đến với các ngươi rồi.
Khi một người có sức mạnh, vũ trang đầy đủ, canh giữ nhà mình thì của cải được an toàn.
Nhưng khi có người mạnh hơn đến tấn công, thắng được thì tước khí giới mà người kia nhờ cậy, và đem phân phát của cải đã chiếm được.
Ai không ở với Ta thì chống lại Ta, ai không liên kết với Ta thì tan tác.
Khi uế linh ra khỏi một người, nó đi qua các nơi khô cằn để tìm chỗ nghỉ, nhưng không tìm được, nó nói: ‘Ta sẽ trở về nhà ta, nơi ta vừa ra khỏi.’
Khi về đến, thấy nhà được quét dọn và sắp đặt ngăn nắp
thì nó đi rủ bảy quỷ khác dữ hơn cùng vào ở trong đó. Như vậy, tình trạng sau của người ấy còn tệ hại hơn trước.”
Trong khi Đức Chúa Jêsus phán những điều ấy, có một phụ nữ từ trong đoàn dân cất tiếng thưa: “Phước cho dạ đã cưu mang Ngài và vú đã cho Ngài bú!”
Nhưng Ngài đáp: “Những ai nghe và giữ lời Đức Chúa Trời còn có phước hơn!”
Khi dân chúng tụ họp lại đông hơn, Ngài bắt đầu phán: “Thế hệ nầy là thế hệ gian ác. Họ tìm kiếm một dấu lạ, nhưng sẽ không có một dấu lạ nào được ban cho họ ngoài dấu lạ của Giô-na.
Vì Giô-na là dấu lạ cho người Ni-ni-ve thế nào thì Con Người sẽ là dấu lạ cho thế hệ nầy thế ấy.
Trong ngày phán xét, nữ hoàng nam phương sẽ trỗi dậy chống lại những người của thế hệ nầy và lên án họ; vì từ nơi tận cùng trái đất, bà đến nghe lời khôn ngoan của Sa-lô-môn, và nầy, tại đây có Đấng vĩ đại hơn Sa-lô-môn!
Trong ngày phán xét, người Ni-ni-ve sẽ trỗi dậy cùng với thế hệ nầy và lên án họ, vì dân ấy đã nghe lời Giô-na rao giảng và ăn năn, và nầy, tại đây có Đấng vĩ đại hơn Giô-na!
Không ai thắp đèn mà để chỗ khuất hay ở dưới thùng, nhưng đặt trên chân đèn để những ai bước vào có thể thấy ánh sáng.
Mắt của con là đèn của thân thể. Khi mắt con tốt thì cả thân thể con cũng sáng, nhưng khi mắt bị hỏng thì cả thân thể con cũng tối.
Vậy, hãy cẩn thận, kẻo ánh sáng trong con trở nên bóng tối.
Nếu cả thân thể con đầy ánh sáng, không có phần nào tối tăm, thì nó sẽ được sáng hoàn toàn, cũng như ngọn đèn soi sáng cho con vậy.”
Khi Đức Chúa Jêsus phán xong, có một người Pha-ri-si mời Ngài về nhà dùng bữa. Ngài bước vào và ngồi vào bàn ăn.
Người Pha-ri-si nầy ngạc nhiên thấy Ngài không rửa tay trước bữa ăn.
Vì vậy, Chúa phán: “Người Pha-ri-si các ngươi rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy dẫy sự tham lam và gian ác.
Hỡi kẻ dại! Đấng đã tạo nên bên ngoài lại không tạo nên bên trong nữa sao?
Nhưng hãy rộng lòng bố thí những gì mình có, thì mọi sự sẽ trong sạch cho các ngươi.
Khốn cho các ngươi, người Pha-ri-si! Vì các ngươi nộp một phần mười bạc hà, hồi hương, cùng mọi thứ rau, nhưng lại lãng quên công lý và lòng kính mến Đức Chúa Trời! Các ngươi phải làm những điều nầy nhưng cũng không được lãng quên các điều kia.
Khốn cho các ngươi, người Pha-ri-si! Vì các ngươi thích chỗ tốt nhất trong nhà hội, và muốn được người ta chào giữa phố chợ!
Khốn cho các ngươi! Vì các ngươi giống như nấm mồ hoang và người ta bước lên trên mà không biết!”
Một luật gia liền nói: “Thưa Thầy, Thầy nói điều nầy là sỉ nhục cả chúng tôi nữa.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Khốn cho các ngươi nữa, là các luật gia! Vì các ngươi chất cho người ta gánh nặng khó mang, còn chính mình thì không động đến đầu ngón tay!
Khốn cho các ngươi! Vì các ngươi xây mộ của các nhà tiên tri mà tổ phụ mình đã giết!
Như vậy, các ngươi làm nhân chứng và tán thành việc làm của tổ phụ mình; vì họ đã giết các nhà tiên tri, còn các ngươi lại xây mộ cho các vị ấy.
Vì thế, sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời đã phán: ‘Ta sẽ sai các nhà tiên tri và sứ đồ đến với chúng nó. Chúng nó sẽ giết hại người nầy, bắt bớ kẻ kia.’
Như vậy, thế hệ nầy sẽ bị đòi nợ máu của tất cả các nhà tiên tri đã đổ ra từ buổi sáng thế,
tức là từ máu của A-bên cho đến máu của Xa-cha-ri, người đã bị giết giữa khoảng bàn thờ và nơi thánh. Phải, Ta bảo các ngươi, thế hệ nầy sẽ bị đòi nợ máu đó.
Khốn cho các ngươi, là các luật gia! Vì các ngươi đã nắm giữ chìa khóa của tri thức, chính các ngươi không vào nhưng lại ngăn trở những người khác muốn vào!”
Khi Đức Chúa Jêsus ra khỏi đó, các thầy thông giáo và người Pha-ri-si bắt đầu chống đối Ngài dữ dội và vặn hỏi Ngài đủ điều,
gài bẫy để bắt bẻ từng lời nói của Ngài.
Khi ấy, dân chúng tụ họp cả hàng vạn người, đến nỗi giày đạp lên nhau. Trước hết, Đức Chúa Jêsus bắt đầu phán với các môn đồ Ngài rằng: “Hãy đề phòng men của người Pha-ri-si, là thói đạo đức giả.
Không có điều gì che giấu mà chẳng bị phơi bày và không có điều gì bí mật mà chẳng bị tiết lộ.
Cho nên, những điều các con đã nói trong nơi tối sẽ được nghe trong nơi sáng; những điều các con đã nói trong phòng kín sẽ được công bố trên mái nhà.
Ta nói với các con là bạn hữu Ta: Đừng sợ những kẻ giết thân thể rồi sau đó không làm gì được nữa.
Nhưng Ta chỉ cho các con biết phải sợ ai: Phải sợ Đấng mà khi đã giết rồi, còn có quyền ném xuống hỏa ngục. Đúng vậy, Ta bảo các con, phải sợ Đấng ấy!
Chẳng phải năm con chim sẻ được bán với giá hai đồng tiền sao? Dù vậy, Đức Chúa Trời không bỏ quên một con nào hết.
Ngay cả tóc trên đầu các con cũng được đếm hết rồi. Đừng sợ, vì các con có giá trị hơn nhiều con chim sẻ.
Ta bảo các con, ai xưng nhận Ta trước mặt thiên hạ thì Con Người cũng sẽ xưng nhận người ấy trước mặt các thiên sứ của Đức Chúa Trời.
Nhưng ai chối bỏ Ta trước mặt thiên hạ thì người ấy cũng sẽ bị chối bỏ trước mặt các thiên sứ của Đức Chúa Trời.
Ai nói nghịch với Con Người thì sẽ được tha; nhưng ai xúc phạm đến Đức Thánh Linh thì sẽ không được tha đâu.
Khi người ta đem các con đến trước nhà hội, trước những người cai trị và các nhà cầm quyền thì đừng lo phải nói như thế nào hay nói những gì để bênh vực mình,
vì chính giờ đó, Đức Thánh Linh sẽ dạy các con những điều cần phải nói.”
Bấy giờ, một người trong đoàn dân thưa với Đức Chúa Jêsus: “Thưa thầy, xin bảo anh con chia gia tài cho con.”
Ngài đáp: “Nầy người kia, ai đặt Ta làm người xử kiện hay là người chia gia tài cho các ngươi?”
Ngài phán với họ: “Hãy cẩn thận, đề phòng mọi thứ tham lam, vì sự sống của con người không cốt tại của cải mình dư dật.”
Ngài lại kể cho họ một ẩn dụ: “Ruộng của một người giàu kia rất được mùa.
Anh ta thầm nghĩ: ‘Ta phải làm gì đây, vì không còn đủ chỗ để chứa hoa lợi.’
Anh ta nói: ‘Ta sẽ làm thế nầy: Ta sẽ phá những kho nầy và xây những cái khác lớn hơn, rồi ta sẽ thu trữ thóc lúa và của cải ta vào đó.
Ta sẽ nói với linh hồn ta rằng: Linh hồn ơi, mầy đã được nhiều của cải để dành cho nhiều năm. Hãy nghỉ ngơi, ăn uống, và vui vẻ.’
Nhưng Đức Chúa Trời phán với anh ta: ‘Hỡi kẻ dại! Chính đêm nay linh hồn ngươi sẽ bị đòi lại; vậy của cải ngươi đã dự trữ sẽ thuộc về ai?’
Ai thu trữ của cải cho mình mà không giàu có nơi Đức Chúa Trời thì cũng như vậy.”
Đức Chúa Jêsus phán với các môn đồ: “Vậy nên, Ta bảo các con, đừng vì sự sống mà lo đồ ăn, cũng đừng vì thân thể mà lo đồ mặc.
Vì sự sống quý hơn đồ ăn và thân thể quý hơn đồ mặc.
Hãy xem loài quạ: Chúng không gieo, không gặt, cũng không có vựa lẫm hay kho tàng, thế mà Đức Chúa Trời còn nuôi chúng. Các con còn quý trọng hơn loài chim rất nhiều!
Hơn nữa, có ai trong các con nhờ lo lắng mà làm cho đời mình dài thêm một khoảnh khắc không?
Vậy, nếu các con không thể làm được một việc nhỏ như thế, tại sao các con lại lo lắng về những việc khác?
Hãy xem hoa huệ lớn lên thể nào: Chúng chẳng làm việc khó nhọc, cũng không kéo chỉ; nhưng Ta bảo các con, dù vua Sa-lô-môn sang trọng đến đâu, cũng không được mặc đẹp như một trong những hoa nầy.
Hỡi kẻ ít đức tin, nếu hoa cỏ nay còn sống ngoài đồng, mai bị ném vào lò mà Đức Chúa Trời còn cho mặc đẹp như thế, huống chi là các con!
Vậy, các con đừng tìm kiếm đồ ăn, thức uống, cũng đừng quá lo lắng.
Vì mọi điều đó, các dân tộc trên thế gian vẫn thường tìm kiếm, và Cha các con đã biết mọi nhu cầu của các con rồi.
Nhưng hãy tìm kiếm vương quốc Đức Chúa Trời thì Ngài sẽ ban cho các con những điều ấy nữa.
Hỡi bầy nhỏ, đừng sợ, vì Cha các con đã bằng lòng ban vương quốc cho các con rồi.
Hãy bán của cải mình mà làm việc thiện. Hãy sắm cho mình những túi tiền không hư cũ và kho báu không hao hụt ở trên trời, nơi kẻ trộm không đến gần được, mối mọt không làm hư hại được.
Vì của cải các con ở đâu, thì lòng các con cũng ở đó.”
“Lưng các con phải thắt lại, đèn các con phải thắp lên.
Các con phải làm như những người đang chờ đợi chủ mình ở tiệc cưới về, để khi chủ về đến, gõ cửa thì mở ngay.
Phước cho những đầy tớ ấy, khi chủ về thấy họ đang thức canh! Thật, Ta bảo các con, chủ sẽ thắt lưng mình, mời các đầy tớ ngồi vào bàn tiệc và đến phục vụ họ.
Nếu canh hai, canh ba, chủ trở về thấy các đầy tớ như vậy thì thật là phước hạnh cho họ!
Hãy biết điều nầy: Nếu chủ nhà biết được kẻ trộm đến giờ nào thì sẽ không để cho nó xâm nhập nhà mình.
Các con cũng phải sẵn sàng, vì Con Người đến trong giờ các con không ngờ.”
Phi-e-rơ thưa: “Lạy Chúa, Chúa phán ẩn dụ nầy cho chúng con hay cũng cho mọi người?”
Chúa đáp: “Ai là người quản gia khôn ngoan và trung tín, được chủ giao quản lý nhà mình để cung cấp thức ăn đúng giờ?
Phước cho đầy tớ ấy khi chủ đến thấy làm như vậy!
Thật, Ta bảo các con, chủ sẽ giao cho đầy tớ ấy quản lý toàn bộ tài sản mình.
Nhưng nếu đầy tớ ấy tự nhủ: ‘Chủ ta chưa về ngay đâu,’ nên bắt đầu đánh đập tôi trai, tớ gái, rồi ăn uống say sưa.
Chủ nó sẽ đến trong ngày nó không ngờ, trong giờ nó không biết, sẽ trừng phạt nó nặng nề và cho nó đồng số phận với kẻ bất trung.
Đầy tớ nào đã biết ý chủ mình mà không chuẩn bị sẵn sàng và không làm theo ý chủ thì sẽ bị đòn nặng.
Nhưng đầy tớ nào không biết ý chủ mà làm việc đáng phạt thì sẽ bị đòn nhẹ. Vì ai đã được ban cho nhiều thì sẽ bị đòi lại nhiều; ai đã được giao cho nhiều hơn thì sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn.”
“Ta đã đến để ném lửa xuống đất. Nếu lửa cháy lên rồi, Ta còn ước ao gì nữa!
Có một báp-têm mà Ta phải chịu, Ta đau đớn biết bao cho đến chừng nào việc ấy được hoàn tất!
Các con tưởng Ta đến để đem bình an cho thế gian sao? Ta bảo các con, không phải, nhưng đem sự phân rẽ thì đúng hơn.
Vì từ nay, năm người ở chung một nhà sẽ phân rẽ nhau: ba người nghịch với hai, hai người nghịch với ba.
Họ sẽ phân rẽ nhau: cha nghịch với con trai, con trai nghịch với cha; mẹ nghịch với con gái, con gái nghịch với mẹ; mẹ chồng nghịch với nàng dâu, nàng dâu nghịch với mẹ chồng.”
Ngài lại phán với đoàn dân: “Khi thấy đám mây nổi lên ở phương tây, các ngươi liền nói: ‘Sẽ có mưa;’ thì quả có như vậy.
Lại khi gió nam thổi, các ngươi nói: ‘Sẽ nóng bức;’ thì quả có như vậy.
Hỡi bọn đạo đức giả! Các ngươi biết phân biệt hiện tượng của trời đất, vậy sao không biết phân biệt thời điểm hiện nay?
Tại sao các ngươi cũng không tự mình suy xét điều gì là đúng?
Khi ngươi đi với kẻ tố cáo mình đến trước người cai trị, dọc đường hãy cố gắng giải hòa với họ; đừng để họ kéo ngươi đến trước quan tòa, quan tòa giao cho viên cai ngục để bỏ tù ngươi.
Ta bảo ngươi, ngươi sẽ không bao giờ ra khỏi tù được cho đến khi trả nốt đồng tiền cuối cùng.”
Chính lúc ấy, có vài người ở đó thuật lại cho Đức Chúa Jêsus về việc Phi-lát giết những người Ga-li-lê, khiến máu của họ hòa lẫn với sinh tế họ đang dâng.
Ngài đáp: “Các ngươi tưởng những người Ga-li-lê đó phạm tội nặng hơn tất cả người Ga-li-lê khác vì họ bị đau khổ như thế sao?
Ta bảo các ngươi, không phải; nhưng nếu các ngươi chẳng ăn năn thì tất cả sẽ bị hư mất như vậy.
Hay là mười tám người kia bị tháp Si-lô-ê ngã xuống đè chết, các ngươi tưởng họ tội lỗi hơn mọi người khác cư ngụ ở thành Giê-ru-sa-lem sao?
Ta bảo các ngươi, không phải; nhưng nếu các ngươi chẳng ăn năn thì tất cả sẽ bị hư mất như vậy.”
Rồi Ngài kể ẩn dụ nầy: “Người kia trồng một cây vả trong vườn nho mình; ông đến tìm quả nhưng chẳng thấy quả nào.
Ông nói với người trồng nho: ‘Kìa đã ba năm nay ta đến hái quả nơi cây vả nầy nhưng chẳng thấy gì cả. Hãy đốn nó đi, tại sao để nó choán đất vô ích?’
Người trồng nho thưa: ‘Thưa chủ, xin để nó lại năm nầy nữa, chờ tôi đào đất chung quanh nó rồi đổ phân vào.
Có lẽ về sau nó sẽ kết quả; nếu không, chủ sẽ đốn.’ ”
Nhân ngày sa-bát, Đức Chúa Jêsus đang giảng dạy trong một nhà hội.
Tại đó, có người đàn bà bị tà linh ám làm cho bệnh tật suốt mười tám năm, lưng bị còng xuống không thể đứng thẳng được.
Khi thấy bà ấy, Đức Chúa Jêsus gọi lại và phán: “Nầy con, con đã được giải cứu khỏi bệnh tật rồi.”
Và Ngài đặt tay trên bà. Lập tức, bà đứng thẳng lên được, và ca ngợi Đức Chúa Trời.
Viên quản lý nhà hội thấy Đức Chúa Jêsus đã chữa bệnh trong ngày sa-bát thì nổi giận và nói với đoàn dân rằng: “Có sáu ngày phải làm việc, vậy hãy đến trong những ngày ấy để được chữa lành, đừng đến vào ngày sa-bát.”
Nhưng Chúa đáp: “Hỡi bọn đạo đức giả, vào ngày sa-bát, không phải tất cả các ngươi đều mở bò hoặc lừa của mình khỏi máng cỏ mà dẫn nó đi uống nước hay sao?
Còn bà nầy là con gái của Áp-ra-ham, bị Sa-tan trói buộc đã mười tám năm, lại không nên mở trói cho bà trong ngày sa-bát sao?”
Khi Ngài phán như vậy, tất cả những kẻ chống đối Ngài đều hổ thẹn, và cả dân chúng vui mừng về mọi việc diệu kỳ mà Ngài đã làm.
Vậy, Đức Chúa Jêsus phán: “Vương quốc Đức Chúa Trời giống như gì? Ta sẽ lấy gì mà so sánh với nó?
Vương quốc ấy giống như một hạt cải mà người kia lấy gieo trong vườn, nó mọc thành cây, và chim trời làm tổ trên cành nó.”
Ngài lại phán: “Ta sẽ so sánh vương quốc Đức Chúa Trời với gì?
Vương quốc ấy giống như men mà người phụ nữ kia lấy ủ vào ba đấu bột, cho đến chừng bột dậy cả lên.”
Đức Chúa Jêsus đi khắp các thành, các làng, vừa dạy dỗ vừa tiếp tục hành trình đến thành Giê-ru-sa-lem.
Có người thưa với Ngài: “Lạy Chúa, có phải chỉ có một số ít người được cứu chăng?”
Ngài phán với họ: “Hãy nỗ lực để vào cửa hẹp, vì Ta bảo các ngươi, nhiều người sẽ tìm cách vào đó mà vào không được.
Khi chủ nhà trỗi dậy và đóng cửa lại rồi, các ngươi ở ngoài gõ cửa kêu rằng: ‘Lạy Chúa, xin mở cho chúng tôi!’ Chủ sẽ trả lời: ‘Ta không biết các ngươi đến từ đâu.’
Bấy giờ các ngươi sẽ thưa: ‘Chúng tôi đã ăn uống trước mặt Chúa, và Chúa đã dạy dỗ trong các đường phố của chúng tôi.’
Nhưng Chủ sẽ nói với các ngươi: ‘Ta không biết các ngươi đến từ đâu. Tất cả những kẻ làm điều bất chính kia, hãy lui ra khỏi ta!’
Khi ấy, các ngươi sẽ thấy Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp cùng tất cả các nhà tiên tri đều ở trong vương quốc Đức Chúa Trời, còn các ngươi sẽ bị ném ra ngoài là nơi có khóc lóc và nghiến răng.
Rồi từ đông, tây, nam, bắc, người ta sẽ đến ngồi dự tiệc trong vương quốc Đức Chúa Trời.
Thật vậy, có những người cuối sẽ trở nên đầu, và những người đầu sẽ trở nên cuối.”
Chính giờ đó, có vài người Pha-ri-si đến thưa với Đức Chúa Jêsus: “Thầy nên đi khỏi chỗ nầy vì Hê-rốt muốn giết Thầy.”
Ngài đáp: “Hãy đi nói với con cáo ấy rằng: ‘Ngày nay, ngày mai, Ta đuổi quỷ chữa bệnh, đến ngày thứ ba, Ta sẽ hoàn tất công tác của Ta.
Tuy nhiên, ngày nay, ngày mai, và ngày kia Ta phải tiếp tục cuộc hành trình, vì một đấng tiên tri không thể chết bên ngoài Giê-ru-sa-lem.’
Hỡi Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem! Ngươi giết các nhà tiên tri và ném đá những người được sai đến với ngươi! Đã bao lần Ta muốn tụ họp con cái ngươi như gà mẹ túc con mình lại để ấp ủ dưới cánh mà các ngươi không muốn!
Nầy, nhà của các ngươi sẽ bị bỏ hoang. Ta bảo các ngươi, các ngươi sẽ không còn thấy Ta cho đến khi các ngươi nói rằng: ‘Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến!’ ”
Một ngày sa-bát, Đức Chúa Jêsus vào nhà một người lãnh đạo thuộc phái Pha-ri-si để dùng bữa; người ta chăm chú theo dõi Ngài.
Lúc ấy, trước mặt Ngài có một người mắc bệnh phù thũng.
Đức Chúa Jêsus nói với các luật gia và người Pha-ri-si rằng: “Trong ngày sa-bát, có được phép chữa bệnh hay không?”
Nhưng họ đều im lặng. Ngài đỡ lấy người bệnh, chữa lành rồi cho về.
Ngài phán với họ: “Ai trong các ngươi có đứa con hay là con bò ngã xuống giếng trong ngày sa-bát mà không lập tức kéo lên sao?”
Họ không thể trả lời được.
Khi thấy những người được mời đều chọn chỗ danh dự, Ngài kể cho họ một ẩn dụ:
“Khi người ta mời ngươi dự tiệc cưới, đừng ngồi chỗ cao nhất, e rằng trong những khách mời có ai tôn trọng hơn ngươi.
Người chủ tiệc sẽ đến nói với ngươi: ‘Hãy nhường chỗ cho người nầy ngồi,’ lúc ấy ngươi sẽ hổ thẹn vì phải xuống ngồi chỗ cuối cùng.
Nhưng khi ngươi được mời, hãy ngồi chỗ cuối, để khi người chủ tiệc đến nói với ngươi: ‘Bạn ơi, xin mời ngồi lên chỗ cao hơn’ thì ngươi sẽ được tôn trọng trước mặt những người cùng bàn với mình.
Bởi vì ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai tự hạ mình xuống sẽ được tôn lên.”
Ngài cũng phán với người mời Ngài rằng: “Khi ngươi đãi ăn trưa hoặc ăn tối, đừng mời bạn hữu, anh em, bà con hay xóm giềng giàu có, e họ cũng mời lại mà trả ơn cho ngươi.
Nhưng khi ngươi đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù
thì ngươi sẽ được phước, vì họ không thể trả ơn cho ngươi; đến ngày người công chính sống lại, ngươi sẽ được đền ơn.”
Một người ngồi cùng bàn với Đức Chúa Jêsus nghe những điều nầy, thì thưa với Ngài: “Phước cho người nào được ăn bánh trong vương quốc Đức Chúa Trời!”
Nhưng Ngài đáp: “Có một người dọn tiệc lớn, mời nhiều người đến dự.
Đến giờ ăn, ông sai đầy tớ mình đi nói với những người được mời rằng: ‘Hãy đến, mọi sự đã sẵn rồi.’
Nhưng tất cả đều xin cáo lỗi. Người thứ nhất nói: ‘Tôi có mua một đám ruộng, cần phải đi xem. Xin cho tôi cáo lỗi.’
Người khác nói: ‘Tôi có mua năm đôi bò cần phải đi xem. Xin cho tôi cáo lỗi.’
Người khác nữa nói: ‘Tôi mới cưới vợ, do đó, tôi không thể đi được.’
Đầy tớ trở về trình việc ấy cho chủ mình. Chủ nổi giận, bảo đầy tớ: ‘Hãy đi mau ra ngoài đường phố và các ngõ hẻm trong thành đem những người nghèo khó, tàn tật, đui mù và què quặt vào đây.’
Đầy tớ lại nói: ‘Thưa chủ, điều chủ dạy, tôi đã làm rồi, thế mà vẫn còn trống chỗ.’
Chủ nhà lại bảo đầy tớ: ‘Hãy ra ngoài đường và dọc hàng rào ép mời người ta vào cho đầy nhà ta.
Vì ta bảo các ngươi, trong những người đã được mời trước kia, sẽ không một ai được nếm bữa tiệc của ta.’ ”
Có đoàn dân đông cùng đi với Đức Chúa Jêsus; Ngài quay lại phán với họ:
“Nếu ai đến theo Ta mà không ghét cha mẹ, vợ con, anh em, chị em mình, và chính sự sống mình nữa thì không thể làm môn đồ Ta.
Ai không vác thập tự giá mình mà theo Ta, cũng không thể làm môn đồ Ta.
Ai trong các ngươi muốn xây một cái tháp mà trước hết không ngồi tính phí tổn để biết mình có đủ tiền hoàn thành nó chăng?
Nếu không, khi đã xây nền rồi mà lại không làm xong được thì mọi người thấy, sẽ chê cười
và nói rằng: ‘Người nầy khởi công xây cất mà không thể hoàn tất được!’
Hay là có vua nào đi đánh trận với vua khác, mà trước hết không ngồi xuống bàn luận xem mình đem đi mười nghìn quân có thể địch nổi vua kia với hai mươi nghìn quân chăng?
Nếu không địch nổi, khi vua kia còn ở xa thì ông sai sứ xin cầu hòa.
Như vậy, nếu ai trong các ngươi không bỏ mọi sự mình có, thì không thể làm môn đồ Ta.
Muối vốn là tốt, nhưng nếu muối mất vị mặn thì làm thế nào cho nó mặn lại được?
Muối ấy không thể dùng bón ruộng hoặc trộn phân, người ta phải vứt nó ra ngoài. Ai có tai để nghe, hãy lắng nghe!”
Bấy giờ, tất cả những người thu thuế và kẻ có tội đến gần Đức Chúa Jêsus để nghe Ngài giảng.
Những người Pha-ri-si và các thầy thông giáo phàn nàn rằng: “Người nầy tiếp những kẻ tội lỗi và ăn uống với chúng!”
Vì thế, Ngài kể cho họ ẩn dụ nầy:
“Có ai trong các ngươi có một trăm con chiên, nếu mất một con mà không để chín mươi chín con kia nơi đồng hoang để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất chăng?
Khi đã tìm được thì vui mừng vác nó lên vai.
Và lúc về đến nhà, người ấy gọi các bạn hữu và láng giềng đến mà nói: ‘Hãy chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên bị mất.’
Cũng vậy, Ta bảo các ngươi, thiên đàng sẽ vui mừng về một tội nhân ăn năn hơn là chín mươi chín người công chính không cần phải ăn năn.
Hay là có người phụ nữ nào có mười đồng bạc, nếu mất một đồng mà không thắp đèn, quét nhà, và cẩn thận tìm kiếm cho kỳ được sao?
Khi tìm được rồi, nàng gọi các bạn hữu và láng giềng đến mà nói: ‘Hãy chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng bạc bị mất.’
Cũng vậy, Ta bảo các ngươi, các thiên sứ của Đức Chúa Trời sẽ vui mừng về một tội nhân ăn năn.”
Ngài lại kể tiếp: “Một người kia có hai con trai.
Người em nói với cha: ‘Thưa cha, xin chia cho con phần tài sản thuộc về con.’ Và người cha đã chia gia tài cho chúng.
Chẳng bao lâu, người em tóm thu hết của cải và đi đến một nơi xa; ở đó, nó ăn chơi phóng đãng, phung phí tài sản mình.
Khi đã tiêu sạch của rồi, trong xứ xảy ra một nạn đói lớn và nó bắt đầu lâm vào cảnh túng thiếu.
Nó phải đi làm mướn cho một người dân bản xứ và bị sai ra đồng chăn heo.
Nó ước ao lấy vỏ đậu của heo ăn mà ăn cho no nhưng chẳng ai cho.
Bấy giờ nó mới tỉnh ngộ, tự nhủ: ‘Biết bao nhiêu người làm mướn cho cha ta được ăn bánh dư dật mà ở đây ta phải chết đói!
Ta sẽ đứng dậy trở về cùng cha và thưa với cha: Cha ơi, con đã phạm tội với trời và với cha,
không xứng đáng gọi là con của cha nữa. Xin cha xem con như người làm thuê của cha vậy.’
Nó liền đứng dậy, trở về với cha mình. Nhưng khi còn ở đàng xa, người cha thấy nó thì động lòng thương xót, chạy ra ôm lấy cổ nó mà hôn.
Người con thưa với cha: ‘Cha ơi, con đã phạm tội với trời và với cha, chẳng còn xứng đáng gọi là con của cha nữa.’
Nhưng người cha bảo các đầy tớ: ‘Hãy mau lấy áo tốt nhất mặc cho nó, đeo nhẫn vào tay, mang giày vào chân.
Hãy bắt con bê mập làm thịt. Chúng ta hãy ăn mừng!
Vì con ta đây đã chết mà bây giờ lại sống, đã mất mà bây giờ tìm lại được.’ Rồi họ bắt đầu ăn mừng.
Bấy giờ, người con cả đang ở ngoài đồng. Khi về gần đến nhà, nghe tiếng đàn ca nhảy múa,
anh ta gọi một đầy tớ mà hỏi xem có việc gì.
Đầy tớ thưa: ‘Em cậu đã trở về và cha cậu đã làm thịt con bê mập, vì ông thấy cậu ấy về được mạnh khỏe.’
Người con cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Người cha đi ra và khuyên dỗ chàng.
Nhưng anh thưa với cha: ‘Cha xem, đã bao nhiêu năm con phục vụ cha, chưa từng trái lệnh cha, mà cha chẳng bao giờ cho con một con dê con để chung vui với bạn hữu.
Nhưng khi đứa con kia của cha, là đứa đã phung phí hết tài sản của cha với gái mại dâm rồi trở về thì cha lại làm thịt con bê mập ăn mừng!’
Người cha đáp: ‘Con ơi, con luôn luôn ở với cha, tất cả của cha là của con.
Nhưng đáng phải dọn tiệc và vui mừng, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay tìm lại được.’”
Đức Chúa Jêsus lại phán với các môn đồ: “Một người giàu kia có một người quản gia bị tố cáo đã phung phí tài sản của chủ.
Vì vậy, chủ gọi anh ta đến và bảo: ‘Tôi nghe người ta tố cáo anh về điều gì đó! Hãy khai trình việc quản lý của anh, vì từ nay anh không được làm quản gia nữa!’
Người quản gia tự nhủ: ‘Chủ cách chức quản lý của ta, ta sẽ làm gì? Cuốc đất thì ta không đủ sức, còn đi ăn xin thì hổ thẹn.
Ta biết phải làm gì để khi bị cách chức có người tiếp rước ta về nhà.’
Vậy, anh ta gọi riêng từng con nợ của chủ đến và nói với người thứ nhất: ‘Anh mắc nợ chủ tôi bao nhiêu?’
Người ấy đáp: ‘Một trăm thùng dầu.’ Người quản gia nói: ‘Hãy cầm lấy giấy nợ, ngồi xuống đó viết mau: Năm chục.’
Rồi anh ta nói với người thứ nhì: ‘Anh mắc nợ bao nhiêu?’ Người ấy đáp: ‘Một trăm hộc lúa mì.’ Người quản gia bảo: ‘Hãy cầm lấy giấy nợ, viết: Tám chục.’
Ông chủ khen người quản gia bất chính ấy đã hành động khôn lanh như vậy. Vì con cái đời nầy khôn khéo hơn con cái sự sáng trong việc cư xử với người đồng loại.
Còn Ta bảo các con: Hãy dùng tiền của bất nghĩa mà kết bạn, để khi tiền của ấy hết đi, họ sẽ tiếp các con vào nhà đời đời.
Ai trung tín trong việc rất nhỏ cũng trung tín trong việc lớn, ai bất nghĩa trong việc rất nhỏ cũng bất nghĩa trong việc lớn.
Vậy nếu các con không trung tín về của cải bất nghĩa, ai sẽ đem của cải thật giao cho các con?
Nếu các con không trung tín về của cải người khác, ai sẽ giao cho các con của cải riêng của các con?
Không đầy tớ nào có thể làm tôi hai chủ vì sẽ ghét chủ nầy mà yêu chủ kia, hoặc trọng chủ nầy mà khinh chủ kia. Các con không thể nào vừa phục vụ Đức Chúa Trời, vừa phục vụ tiền tài được.”
Người Pha-ri-si là những kẻ ham tiền bạc nghe mọi điều đó thì chế nhạo Ngài.
Ngài phán với họ: “Các ngươi làm ra vẻ công chính trước mặt người ta, nhưng Đức Chúa Trời biết lòng các ngươi; vì điều người ta đề cao lại là điều ghê tởm trước mặt Đức Chúa Trời.
Luật pháp và lời tiên tri có đến thời của Giăng mà thôi. Từ ngày đó, Tin Lành về vương quốc Đức Chúa Trời được rao giảng và mọi người dùng sức mạnh mà vào đó.
Trời đất qua đi còn dễ hơn xóa một nét trong luật pháp.
Ai ly dị vợ mà cưới vợ khác thì phạm tội ngoại tình, còn ai cưới đàn bà bị chồng ly dị thì cũng phạm tội ngoại tình.”
“Có một người giàu mặc áo tía và áo vải gai mịn, hằng ngày tiệc tùng xa xỉ.
Lại có một người nghèo tên La-xa-rơ nằm ngoài cửa người giàu đó, mình đầy ghẻ chốc.
Anh ta ước ao được ăn những miếng vụn ở trên bàn người giàu rơi xuống. Cũng có mấy con chó đến liếm ghẻ của anh nữa.
Người nghèo chết, được thiên sứ đem đặt vào lòng Áp-ra-ham. Người giàu cũng chết và người ta đem đi chôn.
Người giàu nơi âm phủ bị đau đớn, ngước mắt lên thấy Áp-ra-ham ở xa xa và La-xa-rơ ở trong lòng người.
Người giàu kêu lên: ‘Tổ phụ Áp-ra-ham ơi, xin thương xót con, sai La-xa-rơ nhúng đầu ngón tay vào nước làm cho mát lưỡi con, vì con quá khốn khổ trong lửa nầy.’
Nhưng Áp-ra-ham trả lời: ‘Con ơi, hãy nhớ lại lúc còn sống, con đã được hưởng những điều lành rồi, còn La-xa-rơ phải chịu nhiều điều dữ; bây giờ, nó ở đây được an ủi, còn con phải bị khổ hình.
Hơn nữa, có một vực sâu lớn được phân định giữa chúng ta với con, đến nỗi ai muốn từ đây qua đó không được, mà ai muốn từ đó qua đây cũng không được.’
Người giàu nói: ‘Tổ phụ ơi! Thế thì xin sai La-xa-rơ đến nhà cha của con,
vì con có năm anh em, để anh ta cảnh cáo họ, kẻo họ cũng bị xuống nơi khổ hình nầy.’
Nhưng Áp-ra-ham trả lời: ‘Họ đã có Môi-se và các nhà tiên tri. Họ phải nghe lời các vị ấy!’
Người giàu lại nói: ‘Thưa tổ phụ Áp-ra-ham, không phải vậy đâu! Nhưng nếu có người chết sống lại đến cùng họ thì họ sẽ ăn năn.’
Áp-ra-ham đáp: ‘Nếu họ không chịu nghe Môi-se và các nhà tiên tri thì dù có người chết sống lại cũng không thuyết phục được họ.’”
Đức Chúa Jêsus phán với các môn đồ: “Không thể không có những điều gây vấp phạm, nhưng khốn thay cho người nào gây ra điều ấy!
Thà buộc cối đá vào cổ người ấy mà ném xuống biển còn hơn là để người ấy gây cho một trong những đứa bé nầy phạm tội.
Các con hãy giữ lấy mình. Nếu anh em con phạm tội, hãy quở trách! Nếu họ ăn năn, hãy tha thứ!
Dù trong một ngày, anh em con phạm lỗi với con bảy lần, và bảy lần trở lại cùng con mà nói: ‘Tôi ăn năn’ thì con cũng phải tha thứ.”
Các sứ đồ thưa với Chúa: “Xin thêm đức tin cho chúng con!”
Chúa đáp: “Nếu các con có đức tin bằng một hạt cải, các con có thể bảo cây dâu nầy rằng: ‘Hãy nhổ lên mà trồng xuống biển’ thì nó sẽ vâng lệnh các con.
Ai trong các con có đầy tớ đi cày hoặc đi chăn chiên, khi nó vừa ở ngoài đồng về mà bảo: ‘Hãy đến đây ngồi xuống ăn ngay đi!’
Trái lại, chẳng phải các con bảo nó rằng: ‘Hãy dọn cho ta ăn, thắt lưng phục vụ ta cho đến khi ta ăn uống xong, rồi anh mới ăn uống’ sao?
Đầy tớ vâng lệnh mà làm thì chủ có biết ơn nó chăng?
Các con cũng vậy, khi làm xong mọi việc được truyền phải làm thì hãy nói: ‘Chúng con là những đầy tớ vô dụng, điều chúng con đã làm chỉ là điều chúng con phải làm mà thôi.’”
Trên đường đến thành Giê-ru-sa-lem, Đức Chúa Jêsus đi qua ranh giới giữa miền Sa-ma-ri và Ga-li-lê.
Khi vào một làng kia, có mười người phong hủi đến đón Ngài. Họ đứng đằng xa
và kêu lớn: “Lạy Jêsus, lạy Thầy, xin thương xót chúng con!”
Khi thấy họ, Ngài phán: “Hãy đi trình diện với các thầy tế lễ.” Khi họ đang đi thì phong hủi được sạch.
Có một người trong họ thấy mình đã được chữa lành liền trở lại, lớn tiếng tôn vinh Đức Chúa Trời,
và đến phủ phục dưới chân Đức Chúa Jêsus mà tạ ơn Ngài. Người đó là người Sa-ma-ri.
Đức Chúa Jêsus phán: “Không phải mười người đều được sạch cả sao? Còn chín người kia ở đâu?
Chẳng ai trở lại tôn vinh Đức Chúa Trời ngoại trừ người ngoại quốc nầy sao?”
Rồi Ngài phán với anh ấy: “Hãy đứng dậy và đi, đức tin con đã chữa lành con!”
Người Pha-ri-si hỏi Đức Chúa Jêsus khi nào vương quốc Đức Chúa Trời mới đến, Ngài đáp: “Vương quốc Đức Chúa Trời không đến một cách rõ ràng để có thể quan sát được;
người ta sẽ không nói: Kìa nó ở đây hay ở đó! Vì vương quốc Đức Chúa Trời ở trong các ngươi.”
Ngài lại phán với các môn đồ: “Sẽ có thời kỳ các con ước ao được thấy một ngày của Con Người mà không thấy được.
Người ta sẽ nói với các con: ‘Ngài ở đây’ hay ‘Ngài ở đó’ thì đừng đi và đừng chạy theo họ.
Vì như chớp sáng lòe từ phương trời nầy đến phương trời kia, thì Con Người trong ngày của Ngài cũng như vậy.
Nhưng trước hết, Ngài phải chịu nhiều điều đau đớn và bị thế hệ nầy chối bỏ.
Trong thời Nô-ê thể nào thì trong ngày Con Người cũng thể ấy:
Người ta ăn uống, cưới gả, cho đến ngày Nô-ê vào tàu, rồi nước lụt tràn đến hủy diệt tất cả.
Thời Lót cũng vậy, người ta ăn uống, mua bán, trồng tỉa, xây dựng.
Nhưng đến ngày Lót ra khỏi Sô-đôm thì trời mưa lửa và diêm sinh, hủy diệt tất cả.
Ngày Con Người hiện ra cũng như vậy.
Trong ngày đó, ai ở trên mái nhà mà có của cải trong nhà thì đừng xuống lấy. Cũng vậy, ai ở ngoài đồng thì đừng trở về nhà.
Hãy nhớ lại vợ của Lót.
Ai tìm cách cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai mất mạng sống mình thì sẽ được lại.
Ta phán với các con, trong đêm đó, hai người nằm chung giường: một sẽ được đem đi, một bị bỏ lại.
Hai người nữ đang xay cối: một sẽ được đem đi, một bị bỏ lại.”
Các môn đồ thưa với Ngài: “Thưa Chúa, điều ấy sẽ xảy ra tại đâu?” Ngài đáp: “Xác chết ở đâu, kên kên sẽ bâu lại đó.”
Đức Chúa Jêsus kể cho môn đồ một ẩn dụ để cho họ thấy cần phải cầu nguyện luôn, chớ hề nản lòng.
Ngài phán: “Trong thành kia, có một quan tòa không kính sợ Đức Chúa Trời, cũng không vị nể ai cả.
Một bà góa trong thành đó cứ đến thưa với quan tòa: ‘Xin hãy xét xử cách công minh cho tôi để chống lại kẻ thù tôi.’
Quan tòa từ chối một thời gian. Nhưng sau đó, ông tự nhủ: ‘Dù ta không sợ Trời cũng chẳng nể người,
nhưng vì bà góa nầy quấy rầy ta, nên ta sẽ xét xử công minh cho bà, kẻo bà ta lại tiếp tục tới lui làm ta bực mình.’ ”
Chúa phán: “Các con có nghe lời quan tòa bất chính đó nói không?
Vậy, lẽ nào Đức Chúa Trời chẳng xét xử công minh cho những người được chọn của Ngài, là kẻ ngày đêm kêu xin Ngài, mà lại trì hoãn cứu giúp họ sao?
Ta bảo các con, Ngài sẽ mau chóng xét xử công minh cho họ. Tuy nhiên, khi Con Người đến, liệu Ngài còn thấy đức tin trên mặt đất chăng?”
Đức Chúa Jêsus lại kể ẩn dụ nầy cho một số người tự cho mình là công chính mà khinh bỉ những người khác:
“Có hai người lên đền thờ cầu nguyện: một người Pha-ri-si và một người thu thuế.
Người Pha-ri-si đứng dậy và cầu nguyện về mình như thế nầy: ‘Lạy Đức Chúa Trời, con tạ ơn Ngài, vì con không phải như những người khác: tham lam, bất nghĩa, gian dâm, cũng không phải như người thu thuế nầy.
Con kiêng ăn mỗi tuần hai lần, và nộp một phần mười về mọi lợi tức của con.’
Còn người thu thuế đứng xa xa, thậm chí không dám ngước mắt lên trời, chỉ đấm ngực thưa: ‘Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót con, vì con là một tội nhân!’
Ta bảo các con, người nầy trở về nhà mình, được xưng công chính chứ không phải người kia. Vì ai tự tôn cao sẽ bị hạ xuống, còn ai tự hạ xuống sẽ được tôn cao.”
Người ta cũng đem các trẻ em đến với Đức Chúa Jêsus để Ngài chạm đến chúng. Thấy vậy, các môn đồ trách những người đem đến.
Nhưng Đức Chúa Jêsus gọi họ lại mà phán rằng: “Hãy để các con trẻ đến cùng Ta, đừng ngăn cản chúng; vì vương quốc Đức Chúa Trời thuộc về những người giống như con trẻ ấy.
Thật, Ta phán với các con, ai không tiếp nhận vương quốc Đức Chúa Trời như một đứa trẻ thì sẽ chẳng vào đó được.”
Có một viên quan hỏi Đức Chúa Jêsus: “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được hưởng sự sống đời đời?”
Ngài đáp: “Tại sao ngươi gọi Ta là nhân lành? Chẳng có ai là nhân lành cả, trừ một mình Đức Chúa Trời.
Hẳn ngươi biết các điều răn nầy: ‘Chớ phạm tội ngoại tình, chớ giết người, chớ trộm cắp, chớ làm chứng dối, hãy hiếu kính cha mẹ ngươi.’ ”
Ông ấy thưa: “Tôi đã giữ các điều ấy từ thời niên thiếu.”
Khi Đức Chúa Jêsus nghe điều ấy thì Ngài phán: “Ngươi còn thiếu một điều: Hãy bán tất cả những gì ngươi có và phân phát cho người nghèo thì ngươi sẽ có kho báu ở trên trời, rồi hãy đến theo Ta.”
Nhưng khi nghe những điều nầy, ông ta trở nên buồn rầu, vì ông rất giàu có.
Đức Chúa Jêsus nhìn ông và phán: “Người giàu vào vương quốc Đức Chúa Trời thật khó biết bao!
Vì lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào vương quốc Đức Chúa Trời!”
Những người nghe điều đó nói rằng: “Vậy thì ai có thể được cứu?”
Ngài đáp: “Điều loài người không làm được thì Đức Chúa Trời làm được.”
Phi-e-rơ thưa: “Nầy, chúng con đã bỏ những gì mình có mà theo Thầy.”
Ngài đáp: “Thật, Ta bảo các con, không ai từ bỏ nhà cửa, cha mẹ, anh em, vợ con vì vương quốc Đức Chúa Trời
mà lại không được nhận gấp bội phần trong đời nầy, và được sự sống đời đời trong đời sau.”
Đức Chúa Jêsus đem mười hai sứ đồ riêng ra và phán với họ: “Nầy, chúng ta đi lên thành Giê-ru-sa-lem; mọi điều mà các nhà tiên tri đã viết về Con Người sẽ được ứng nghiệm.
Vì Ngài sẽ bị nộp cho dân ngoại, bị chế nhạo, bị sỉ nhục và bị khạc nhổ vào mặt.
Họ sẽ đánh đòn và giết Ngài đi; đến ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại.”
Nhưng các môn đồ không hiểu gì cả, vì những lời đó còn bị giấu kín đối với họ, và họ không biết Chúa muốn nói gì.
Khi Đức Chúa Jêsus đến gần thành Giê-ri-cô, có một người mù ngồi ăn xin bên vệ đường.
Nghe đoàn dân đi qua, anh hỏi thăm có chuyện gì.
Người ta cho anh biết Đức Chúa Jêsus, người Na-xa-rét đang đi qua.
Người mù liền kêu lên: “Lạy Jêsus, Con vua Đa-vít, xin thương xót con!”
Những người đi trước rầy anh, bảo im đi. Nhưng anh càng kêu lớn hơn: “Lạy Con vua Đa-vít, xin thương xót con!”
Đức Chúa Jêsus dừng lại, truyền đem người mù đến. Khi anh lại gần, Ngài hỏi:
“Con muốn Ta làm gì cho con?” Anh thưa: “Lạy Chúa, xin cho con được sáng mắt lại.”
Đức Chúa Jêsus phán: “Hãy sáng mắt lại! Đức tin của con đã chữa lành con.”
Lập tức, người mù được sáng mắt, đi theo Ngài và tôn vinh Đức Chúa Trời. Tất cả dân chúng thấy việc ấy đều ca ngợi Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Jêsus vào Giê-ri-cô, đi ngang qua thành phố.
Tại đó, có một người tên Xa-chê, làm trưởng ngành thuế vụ và giàu có.
Ông tìm cách xem Đức Chúa Jêsus là ai, nhưng không thấy được, vì đoàn dân thì đông mà ông lại thấp.
Vậy, Xa-chê chạy trước và trèo lên cây sung để nhìn Ngài, vì Ngài sắp đi qua đó.
Khi Đức Chúa Jêsus đến chỗ ấy thì ngước mắt lên và phán với ông: “Hỡi Xa-chê, hãy xuống mau, vì hôm nay Ta phải ở lại nhà của ngươi.”
Xa-chê vội vàng trèo xuống và mừng rỡ tiếp rước Ngài.
Mọi người thấy vậy đều phàn nàn: “Người nầy vào nhà kẻ tội lỗi mà trọ!”
Nhưng Xa-chê đứng trước mặt Chúa và thưa: “Lạy Chúa, nầy, tôi lấy phân nửa tài sản của tôi mà cho người nghèo; nếu có làm thiệt hại ai bất kỳ việc gì, tôi sẽ đền gấp tư.”
Đức Chúa Jêsus phán với ông: “Hôm nay sự cứu rỗi đã vào nhà nầy, vì người nầy cũng là con cháu Áp-ra-ham.
Bởi Con Người đã đến để tìm và cứu kẻ bị hư mất.”
Trong khi họ nghe những lời ấy, Đức Chúa Jêsus kể thêm một ẩn dụ, vì Ngài gần đến thành Giê-ru-sa-lem nên người ta tưởng rằng vương quốc Đức Chúa Trời sẽ xuất hiện ngay.
Vì thế, Ngài phán: “Có một nhà quý tộc đi đến một xứ xa để được phong vương, rồi sẽ trở về.
Ông gọi mười trong số những đầy tớ của ông đến, giao cho họ mười nén bạc và bảo: ‘Hãy làm lợi ra cho đến khi ta trở về.’
Nhưng thần dân của xứ ông ghét ông nên sai sứ giả theo sau ông và nói: ‘Chúng tôi không muốn người nầy cai trị chúng tôi!’
Sau khi được phong vương trở về, vua đòi các đầy tớ đã lãnh bạc đến để biết mỗi người đã làm lợi được bao nhiêu.
Đầy tớ thứ nhất đến trình: ‘Thưa chủ, nén bạc của chủ đã sinh lợi ra được mười nén.’
Chủ bảo: ‘Hỡi đầy tớ ngay lành của ta, được lắm; vì ngươi đã trung tín trong việc rất nhỏ, ngươi sẽ được cai quản mười thành.’
Người thứ hai đến trình: ‘Thưa chủ, nén bạc của chủ đã sinh lợi ra được năm nén.’
Chủ cũng bảo: ‘Ngươi được cai quản năm thành.’
Một đầy tớ khác đến trình: ‘Thưa chủ, đây nầy, nén bạc của chủ tôi đã gói trong khăn,
vì tôi sợ chủ, bởi chủ là người nghiêm khắc, lấy trong nơi không đặt, gặt trong chỗ không gieo.’
Chủ bảo: ‘Nầy tên đầy tớ gian ác! Cứ theo lời ngươi nói ra mà ta xét xử. Có phải ngươi đã biết ta là người nghiêm khắc, lấy trong nơi không đặt, gặt trong chỗ không gieo chăng?
Thế tại sao ngươi không giao bạc của ta cho người buôn bạc để khi ta về, sẽ lấy cả vốn lẫn lời?’
Rồi chủ nói với các người đứng đó: ‘Hãy lấy nén bạc của nó và cho người có mười nén.’
Họ nói: ‘Thưa chủ, người ấy đã có mười nén rồi!’
Ta bảo các ngươi: ‘Ai có sẽ được cho thêm, nhưng ai không có thì sẽ bị cất luôn cả điều họ có nữa.
Còn về phần những kẻ thù nghịch với ta, không muốn ta cai trị chúng, hãy đem chúng đến đây và giết trước mặt ta.’ ”
Sau khi phán những lời đó, Đức Chúa Jêsus đi trước, lên thành Giê-ru-sa-lem.
Khi đến gần Bết-pha-giê và Bê-tha-ni, bên cạnh núi gọi là Ô-liu, Đức Chúa Jêsus sai hai môn đồ đi
và dặn: “Hãy đi vào làng đối diện. Khi vào làng, các con sẽ thấy một lừa con buộc ở đó chưa hề có ai cưỡi. Hãy mở nó ra và dắt về đây.
Nếu có ai hỏi: ‘Tại sao các anh mở nó ra?’ các con cứ đáp: ‘Chúa cần nó.’ ”
Hai người được sai đi gặp mọi điều đúng như Chúa đã phán.
Đang khi họ mở lừa con, thì những người chủ nói với họ: “Sao các anh mở lừa con nầy ra?”
Họ nói: “Chúa cần nó.”
Rồi họ dắt lừa về cho Đức Chúa Jêsus, lấy áo mình trải trên lưng lừa con và nâng Ngài lên cưỡi.
Khi Đức Chúa Jêsus cưỡi lừa đi, có nhiều người trải áo trên đường.
Lúc đến gần dốc núi Ô-liu, cả đoàn môn đồ bắt đầu mừng rỡ và ca ngợi Đức Chúa Trời về tất cả những việc quyền năng mà họ đã thấy.
Họ tung hô: “Chúc tụng Vua nhân danh Chúa mà đến! Bình an ở trên trời, và vinh quang trên nơi chí cao!”
Có mấy người Pha-ri-si ở trong đoàn dân đông nói với Ngài: “Thưa Thầy, xin quở trách các môn đồ Thầy!”
Ngài đáp: “Ta bảo các ngươi, nếu họ nín lặng thì đá sẽ kêu lên.”
Khi đến gần, nhìn thấy thành phố, Đức Chúa Jêsus khóc về nó và phán:
“Ước gì, ngay hôm nay, ngươi biết được những điều làm cho ngươi bình an! Nhưng bây giờ những điều ấy bị che khuất khỏi mắt ngươi.
Vì sẽ có ngày, ngươi sẽ bị quân thù đắp lũy, bao vây và siết chặt bốn bề.
Họ sẽ tiêu diệt ngươi và con cái ở giữa ngươi nữa. Họ sẽ không để cho hòn đá nầy chồng trên hòn đá kia, vì ngươi không biết thời điểm mình được thăm viếng.”
Đức Chúa Jêsus vào đền thờ, bắt đầu đuổi những kẻ buôn bán ở đó ra,
và phán với họ: “Có lời chép rằng: ‘Nhà Ta sẽ là nhà cầu nguyện’, nhưng các ngươi đã biến nơi ấy thành hang trộm cướp.”
Hằng ngày Ngài giảng dạy trong đền thờ. Các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo, cùng những người lãnh đạo trong dân chúng tìm cách giết Ngài,
nhưng họ không biết phải làm thế nào, vì tất cả dân chúng đều say mê nghe Ngài.
Một hôm, khi Đức Chúa Jêsus đang dạy dỗ dân chúng trong đền thờ và rao giảng Tin Lành thì các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo, và các trưởng lão đến
hỏi Ngài rằng: “Hãy cho chúng tôi biết bởi thẩm quyền nào mà Thầy làm những việc nầy, hay ai đã cho Thầy thẩm quyền ấy?”
Ngài đáp: “Ta cũng hỏi các ngươi một câu. Hãy nói cho Ta:
Báp-têm của Giăng đến từ trời hay đến từ loài người?”
Họ bàn luận với nhau: “Nếu chúng ta nói: ‘Từ trời,’ thì ông ấy sẽ nói: ‘Vậy tại sao các ông không tin Giăng?’
Còn nếu chúng ta nói: ‘Từ loài người’ thì cả dân chúng sẽ ném đá chúng ta, vì họ đã tin chắc Giăng là một nhà tiên tri.”
Vì vậy, họ trả lời rằng họ không biết báp-têm ấy đến từ đâu.
Đức Chúa Jêsus đáp: “Ta cũng sẽ không nói cho các ngươi biết bởi thẩm quyền nào Ta làm những việc nầy.”
Đức Chúa Jêsus bắt đầu kể cho dân chúng ẩn dụ nầy: “Một người kia trồng một vườn nho và cho những người trồng nho thuê, rồi đi đến một xứ khác trong một thời gian dài.
Đến mùa, chủ sai một đầy tớ đến gặp những người trồng nho để nhận phần hoa lợi của vườn nho. Nhưng các người trồng nho đánh đầy tớ, rồi đuổi về tay không.
Chủ sai tiếp một đầy tớ khác, nhưng họ cũng đánh đập, nhục mạ và đuổi về tay không.
Chủ lại sai một đầy tớ thứ ba nữa, nhưng họ cũng đánh nó bị thương và đuổi đi.
Bấy giờ, chủ vườn nho nói: ‘Ta phải làm gì đây? Ta sẽ sai con trai yêu dấu của ta đến, có thể họ sẽ kính nể!’
Nhưng khi thấy con trai ấy, các người trồng nho bàn với nhau: ‘Đây là con thừa kế, hãy giết nó thì gia tài sẽ về tay chúng ta.’
Chúng ném con trai ấy ra ngoài vườn nho và giết đi. Vậy chủ vườn nho sẽ xử chúng ra sao?
Ông ta sẽ đến và diệt bọn trồng nho ấy, rồi giao vườn nho cho những người khác.” Khi nghe những lời ấy, họ nói: “Đời nào có chuyện đó!”
Đức Chúa Jêsus nhìn họ và nói: “Vậy thì lời chép nầy có nghĩa gì: ‘Hòn đá bị thợ xây nhà loại ra, Đã trở nên đá góc nhà.’
Ai ngã nhằm đá nầy thì sẽ bị giập nát, còn đá nầy rơi trúng ai thì sẽ nghiền nát người ấy.”
Chính giờ đó, các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo tìm cách bắt Ngài, vì biết Ngài dùng ẩn dụ ấy ám chỉ họ, nhưng họ lại sợ dân chúng.
Vậy, họ theo dõi Đức Chúa Jêsus và sai những thám tử giả vờ làm người thật thà, mong bắt bẻ Ngài trong lời nói để nộp Ngài cho nhà cầm quyền và tòa tổng đốc.
Những người đó hỏi Đức Chúa Jêsus: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy nói và dạy một cách đúng đắn, không thiên vị ai, nhưng dạy đường lối của Đức Chúa Trời cách trung thực.
Vậy, việc chúng tôi nộp thuế cho Sê-sa có đúng luật hay không?”
Biết rõ sự xảo trá của họ, Ngài bảo:
“Hãy cho Ta xem một đồng đơ-ni-ê. Đồng tiền nầy mang hình và hiệu của ai?” Họ đáp: “Sê-sa.”
Ngài phán: “Thế thì, hãy trả cho Sê-sa những gì của Sê-sa; hãy trả cho Đức Chúa Trời những gì của Đức Chúa Trời.”
Trước mặt dân chúng, họ không thể bắt bẻ Ngài một lời nào cả. Họ kinh ngạc trước câu giải đáp của Ngài nên đành nín lặng.
Có mấy người Sa-đu-sê, là những người nói rằng không có sự sống lại, đến với Đức Chúa Jêsus và hỏi:
“Thưa Thầy, Môi-se đã ghi luật nầy cho chúng tôi: ‘Nếu một người có anh qua đời để lại vợ nhưng không có con thì người ấy phải lấy vợ góa đó để có con nối dõi cho anh mình.’
Vậy, có bảy anh em kia, người anh cả cưới vợ rồi chết, không con.
Người thứ hai
rồi đến người thứ ba cũng lấy vợ đó; tất cả bảy người cũng vậy, đều chết đi, không có con.
Cuối cùng, người đàn bà ấy cũng chết.
Như vậy, lúc sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ của ai? Vì bảy người đều đã lấy nàng làm vợ.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Con cái đời nầy lấy vợ gả chồng,
còn những người được kể là xứng đáng dự phần đời sau và được sống lại từ cõi chết thì không lấy vợ hoặc gả chồng.
Họ sẽ không chết nữa, vì giống như các thiên sứ và là con của Đức Chúa Trời, tức là con của sự sống lại.
Còn về việc kẻ chết sống lại, ngay cả Môi-se cũng đã cho thấy trong câu chuyện về bụi gai, khi người gọi Chúa là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác và Đức Chúa Trời của Gia-cốp.
Vậy, Ngài không phải là Đức Chúa Trời của kẻ chết, nhưng của người sống; vì đối với Ngài, tất cả đều đang sống.”
Có mấy thầy thông giáo nói với Ngài: “Thưa Thầy, Thầy nói đúng lắm!”
Và họ không dám hỏi Ngài câu nào nữa.
Đức Chúa Jêsus hỏi họ: “Tại sao người ta lại nói Đấng Christ là con vua Đa-vít?
Vì chính vua Đa-vít đã nói trong sách Thi Thiên rằng: ‘Chúa phán với Chúa tôi: Hãy ngồi bên phải Ta,
Cho đến khi Ta đặt các kẻ thù của con làm bệ chân cho con.’
Như thế, vua Đa-vít gọi Ngài là Chúa, vậy làm sao Ngài lại là con vua ấy được?”
Khi dân chúng đang lắng nghe thì Chúa phán với các môn đồ:
“Hãy đề phòng các thầy thông giáo là những người ưa mặc áo dài đi dạo, thích được chào giữa phố chợ, muốn ngồi ghế quan trọng nhất trong các nhà hội và chỗ danh dự trong các bữa tiệc.
Họ làm bộ đọc lời cầu nguyện dài mà nuốt nhà của các bà góa. Họ sẽ bị đoán phạt nặng hơn.”
Đức Chúa Jêsus ngước mắt lên, thấy những người giàu đang bỏ tiền dâng của họ vào thùng lạc hiến.
Ngài cũng thấy một bà góa nghèo dâng vào hai đồng tiền.
Ngài phán: “Thật, Ta bảo các con, bà góa nghèo nầy đã dâng nhiều hơn tất cả những người khác.
Vì mọi người đều lấy của dư mình mà dâng, còn bà góa nầy rất nghèo túng nhưng đã dâng tất cả những gì bà ấy có để nuôi sống mình.”
Nhân có mấy người nói về việc đền thờ được trang hoàng bằng đá đẹp và lễ vật, Đức Chúa Jêsus phán:
“Sẽ có ngày tất cả những gì các con thấy đây sẽ bị sụp đổ hết, chẳng còn một hòn đá nào chồng trên hòn đá khác.”
Họ hỏi Ngài: “Thưa Thầy, khi nào các việc nầy sẽ xảy đến, và có điềm gì cho biết các việc ấy sắp xảy ra?”
Ngài đáp: “Hãy cảnh giác, đừng để ai lừa dối các con, vì có nhiều kẻ sẽ mạo danh Ta đến mà nói rằng: ‘Chính ta là đấng ấy và thời kỳ đã đến gần!’ Các con đừng theo họ.
Khi các con nghe nói về chiến tranh, loạn lạc thì đừng kinh hãi; vì những việc nầy phải xảy ra, nhưng chưa phải là cuối cùng liền đâu.”
Rồi Ngài phán tiếp: “Dân nầy sẽ nổi lên nghịch cùng dân khác, nước nọ chống lại nước kia;
sẽ có những trận động đất lớn, đói kém cùng dịch lệ ở nhiều nơi; sẽ có những việc khủng khiếp và dấu lạ lớn ở trên trời.
Nhưng trước khi những điều đó xảy ra, các con sẽ vì danh Ta mà bị người ta tra tay bắt bớ, giao nộp các con cho nhà hội và khám tù; các con sẽ bị kéo đến trước mặt các vua và tổng đốc.
Đây là cơ hội để các con làm chứng.
Vậy các con hãy nhớ kỹ trong trí, đừng lo nghĩ trước phải bênh vực mình thế nào,
vì Ta sẽ ban cho các con lời lẽ và sự khôn ngoan mà không kẻ thù nào có thể chống cự và phản bác được.
Các con sẽ bị cha mẹ, anh em, bà con, bạn hữu mình bắt nộp, và họ sẽ giết vài người trong các con.
Các con sẽ bị mọi người thù ghét vì danh Ta.
Nhưng một sợi tóc trên đầu các con cũng không mất đâu.
Nhờ sự kiên trì mà các con giữ được linh hồn mình.
Khi các con thấy thành Giê-ru-sa-lem bị quân lính bao vây thì biết rằng sự tàn phá thành ấy sắp đến.
Lúc ấy, ai ở trong miền Giu-đê hãy trốn lên núi; ai ở trong thành, hãy đi ra ngoài; ai ở ngoài đồng, đừng trở vào thành.
Vì đó là những ngày báo thù, để cho mọi lời đã chép được ứng nghiệm.
Trong những ngày ấy, khốn thay cho phụ nữ mang thai và các bà còn cho con bú! Vì sẽ có đại họa trên đất và cơn thịnh nộ giáng trên dân nầy.
Họ sẽ ngã dưới lưỡi gươm và sẽ bị đem đi làm nô lệ giữa các nước. Thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị dân ngoại giày đạp cho đến khi các thời kỳ dân ngoại được trọn.
Sẽ có các điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao; còn dưới đất, các dân sầu não rối loạn trước biển cả ba đào gầm thét.
Người ta ngất đi vì kinh hãi trong khi chờ đợi những gì sắp xảy ra cho thế giới vì các quyền lực trên trời sẽ bị rúng động.
Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người lấy đại quyền đại vinh mà ngự đến giữa đám mây.
Khi nào các việc đó bắt đầu xảy đến, hãy đứng thẳng, ngước đầu lên, vì sự cứu rỗi của các con đang đến gần.”
Ngài kể cho họ một ẩn dụ: “Hãy xem cây vả và tất cả các cây khác.
Khi nó mới nứt lộc, các con thấy thì biết rằng mùa hạ gần đến.
Cũng vậy, khi các con thấy những điều ấy xảy ra thì biết vương quốc Đức Chúa Trời đã cận kề.
Thật, Ta bảo các con, thế hệ nầy sẽ chẳng qua đi cho đến khi mọi sự kia xảy đến.
Trời đất sẽ qua đi, nhưng lời Ta nói sẽ không bao giờ qua đâu.
Vậy, hãy thận trọng! E rằng vì sự ăn uống quá độ, say sưa và sự lo lắng đời nầy làm cho lòng các con mê mẩn chăng; và Ngày ấy đến thình lình như bẫy sập trên các con,
cũng như trên tất cả mọi người ở khắp mặt đất.
Vậy, phải luôn luôn tỉnh thức và cầu nguyện để các con đủ sức tránh khỏi mọi điều sẽ xảy ra, và đứng trước mặt Con Người.”
Ban ngày, Đức Chúa Jêsus dạy dỗ trong đền thờ, còn đến tối Ngài đi ra và ở qua đêm trên núi Ô-liu.
Sáng sớm, cả dân chúng đến với Ngài trong đền thờ để nghe Ngài giảng dạy.
Lễ Bánh Không Men, tức là lễ Vượt Qua đã đến gần.
Các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo tìm cách để giết Đức Chúa Jêsus, vì họ sợ dân chúng.
Lúc ấy, quỷ Sa-tan nhập vào Giu-đa, gọi là Ích-ca-ri-ốt, là một trong số mười hai sứ đồ.
Nó đi và bàn tính với các thầy tế lễ cả cùng các viên chức quản lý về cách mà nó có thể nộp Ngài cho họ.
Họ mừng lắm và hứa sẽ cho nó tiền bạc.
Nó đã ưng thuận và tìm dịp để nộp Đức Chúa Jêsus trong lúc dân chúng không có ở đó.
Đến ngày lễ Bánh Không Men, là ngày người ta phải giết chiên con lễ Vượt Qua,
Đức Chúa Jêsus sai Phi-e-rơ và Giăng đi và phán: “Hãy đi sửa soạn lễ Vượt Qua để chúng ta cùng ăn.”
Hai người thưa: “Thầy muốn chúng con sửa soạn lễ ấy tại đâu?”
Ngài đáp: “Khi vào thành, có một người mang vò nước sẽ gặp các con; hãy theo người ấy vào nhà
và nói với chủ nhà: ‘Thầy hỏi ông rằng: Phòng khách mà Ta và các môn đồ sẽ ăn lễ Vượt Qua ở đâu?’
Chủ nhà sẽ chỉ cho các con một phòng lớn trên lầu, đồ đạc sẵn sàng, rồi các con hãy dọn ở đó.”
Hai môn đồ đi và gặp những điều đúng như Ngài đã phán, rồi họ sửa soạn lễ Vượt Qua.
Đến giờ, Ngài ngồi vào bàn và các sứ đồ cùng ngồi với Ngài.
Ngài phán với họ: “Ta rất muốn ăn lễ Vượt Qua nầy với các con trước khi Ta chịu đau đớn.
Vì Ta bảo các con, Ta sẽ không ăn lễ nầy nữa cho đến khi lễ ấy được hoàn tất trong vương quốc Đức Chúa Trời.”
Ngài cầm chén, tạ ơn rồi phán: “Hãy lấy và phân phát cho nhau.
Vì Ta nói cùng các con, từ nay Ta sẽ không uống nước nho nầy nữa cho tới khi vương quốc Đức Chúa Trời đến.”
Rồi Ngài lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra, phân phát cho các môn đồ và phán: “Nầy là thân thể Ta vì các con mà phó cho. Hãy làm điều nầy để nhớ đến Ta.”
Khi ăn xong, Ngài cũng làm như vậy, lấy chén trao cho các môn đồ và phán: “Chén nầy là giao ước mới trong huyết Ta vì các con mà đổ ra.
Nầy, bàn tay kẻ phản bội Ta đang để trên bàn với Ta.
Con Người đi theo như điều đã định, nhưng khốn thay cho kẻ phản Con Người!”
Các môn đồ bắt đầu hỏi xem ai trong số họ là người sẽ làm điều đó.
Các môn đồ lại tranh biện với nhau xem ai trong họ sẽ là người lớn hơn hết.
Nhưng Ngài phán với họ: “Các vua dân ngoại lấy quyền mà cai trị, các bậc cầm quyền được gọi là người ban ơn thí phước.
Về phần các con thì đừng như vậy, nhưng ai lớn nhất trong các con phải trở nên như kẻ nhỏ nhất, và ai là người lãnh đạo phải như người phục vụ.
Vì giữa người ngồi ăn với người phục vụ, ai là người lớn hơn? Có phải là người ngồi ăn không? Nhưng Ta ở giữa các con như người phục vụ vậy.
Các con đã gắn bó với Ta trong những thử thách của Ta,
nên Ta ban vương quốc cho các con cũng như Cha Ta đã ban cho Ta vậy,
để các con được ăn uống chung bàn với Ta trong vương quốc Ta và được ngồi trên ngôi để phán xét mười hai bộ tộc Y-sơ-ra-ên.”
“Hỡi Si-môn, Si-môn, nầy, Sa-tan đòi sàng sảy các con như lúa mì.
Nhưng Ta đã cầu nguyện cho con để con không thiếu đức tin. Vậy, khi con quay trở lại, hãy làm cho anh em con mạnh mẽ.”
Phi-e-rơ thưa: “Thưa Chúa, con sẵn sàng đồng tù đồng chết với Chúa.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Hỡi Phi-e-rơ, Ta bảo cho con biết, hôm nay khi gà chưa gáy, con sẽ ba lần chối không biết Ta.”
Ngài lại phán: “Khi Ta sai các con đi, không đem túi tiền, bao bị, giày dép gì cả, các con có thiếu gì không?” Các môn đồ thưa: “Không thiếu gì cả.”
Ngài phán: “Nhưng bây giờ, ai có túi bạc, hãy đem theo; ai có bao bị, cũng vậy; ai không có gươm, hãy bán áo ngoài mà mua.
Vì Ta bảo các con, lời Kinh Thánh nầy phải được ứng nghiệm trong Ta: ‘Ngài đã bị kể vào hàng kẻ phạm pháp.’ Thật vậy, lời chép về Ta đang được ứng nghiệm.”
Họ thưa rằng: “Lạy Chúa, có hai thanh gươm đây.” Ngài phán: “Thế là đủ.”
Sau đó, Đức Chúa Jêsus ra đi và lên núi Ô-liu theo như thói quen. Các môn đồ cùng đi theo Ngài.
Khi đã đến nơi, Ngài phán với các môn đồ: “Hãy cầu nguyện để các con khỏi sa vào sự cám dỗ.”
Ngài đi khỏi các môn đồ khoảng chừng ném một cục đá và quỳ xuống mà cầu nguyện
rằng: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén nầy khỏi Con! Dù vậy, xin ý Cha được nên, chứ không theo ý Con!”
Có một thiên sứ từ trời hiện đến và thêm sức cho Ngài.
Trong cơn rất đau thương, Ngài cầu nguyện càng khẩn thiết, mồ hôi trở nên như những giọt máu rơi xuống đất.
Cầu nguyện xong, Ngài đứng dậy trở lại với các môn đồ và thấy họ đang ngủ vì buồn rầu.
Ngài phán: “Sao các con ngủ? Hãy trỗi dậy cầu nguyện để các con khỏi sa vào sự cám dỗ.”
Khi Ngài còn đang nói, kìa, một đám đông kéo đến do Giu-đa, một trong mười hai sứ đồ, dẫn đầu. Nó lại gần Đức Chúa Jêsus để hôn Ngài.
Nhưng Đức Chúa Jêsus bảo: “Hỡi Giu-đa, con lấy cái hôn để phản Con Người sao?”
Những người ở với Ngài thấy việc sắp xảy ra liền nói: “Thưa Chúa, chúng con nên dùng gươm đánh chăng?”
Một người trong số họ đánh đầy tớ của thầy tế lễ thượng phẩm và chém đứt tai bên phải.
Nhưng Đức Chúa Jêsus phán: “Thôi! Dừng lại!” Rồi Ngài chạm vào tai đầy tớ ấy mà chữa lành cho anh.
Đức Chúa Jêsus phán với các thầy tế lễ cả, các viên chức bảo vệ đền thờ và các trưởng lão đến bắt Ngài, rằng: “Sao các ngươi đem gươm và gậy đến bắt Ta như bắt tên cướp vậy?
Hằng ngày Ta ở trong đền thờ với các ngươi mà các ngươi không ra tay bắt Ta. Nhưng đây là giờ của các ngươi và của quyền lực tối tăm vậy.”
Họ bắt Đức Chúa Jêsus dẫn đi và giải Ngài đến nhà thầy tế lễ thượng phẩm. Phi-e-rơ đi theo Ngài xa xa.
Họ nhóm lửa giữa sân rồi ngồi với nhau, Phi-e-rơ cũng ngồi giữa họ.
Một đầy tớ gái thấy Phi-e-rơ ngồi gần đống lửa thì nhìn ông chăm chăm và nói: “Ông nầy cũng ở với người ấy.”
Nhưng Phi-e-rơ liền chối và nói: “Nầy chị kia, tôi không biết ông ấy đâu!”
Một lúc sau, có người khác thấy Phi-e-rơ và nói: “Ông cũng thuộc về bọn đó!” Phi-e-rơ đáp: “Nầy anh, không phải đâu!”
Khoảng một giờ sau, có kẻ khác quả quyết rằng: “Chắc chắn ông nầy cũng ở với Jêsus, vì ông ta cũng là người Ga-li-lê.”
Nhưng Phi-e-rơ nói: “Nầy anh, tôi không biết anh nói gì!” Ngay lúc Phi-e-rơ còn đang nói thì gà gáy.
Chúa quay lại nhìn ông. Phi-e-rơ nhớ lại lời Chúa đã phán: “Hôm nay, khi gà chưa gáy, con sẽ chối Ta ba lần.”
Phi-e-rơ đi ra ngoài và khóc lóc đắng cay.
Những kẻ canh giữ Đức Chúa Jêsus chế nhạo và đánh Ngài.
Họ bịt mắt Ngài lại, rồi hỏi: “Hãy nói tiên tri đi! Ai đánh anh đó?”
Họ còn nói nhiều lời khác nhục mạ Ngài.
Đến sáng hôm sau, các trưởng lão trong dân, các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo nhóm lại, rồi họ giải Đức Chúa Jêsus đến Hội đồng Công luận.
Họ hỏi: “Nếu ngươi là Đấng Christ, hãy nói cho chúng ta biết.” Ngài đáp: “Nếu Ta nói, các ngươi sẽ không tin;
nếu Ta hỏi, thì các ngươi sẽ không trả lời.
Nhưng từ nay về sau, Con Người sẽ ngồi bên phải Đức Chúa Trời quyền năng.”
Tất cả đều hỏi: “Vậy ngươi là Con Đức Chúa Trời sao?” Ngài đáp: “Chính các ngươi đã nói như vậy.”
Họ nói: “Chúng ta đâu cần thêm chứng cớ gì nữa? Chính chúng ta đã nghe từ miệng nó nói ra rồi!”
Cả Hội đồng đứng dậy giải Ngài đến trước Phi-lát.
Họ bắt đầu tố cáo Ngài rằng: “Chúng tôi đã phát hiện người nầy xúi giục dân chúng nổi loạn, ngăn cấm chúng tôi nộp thuế cho Sê-sa, và xưng mình là Đấng Christ, là Vua.”
Phi-lát tra gạn Ngài: “Ngươi có phải là vua dân Do Thái không?” Đức Chúa Jêsus đáp: “Chính ngươi đã nói thế.”
Phi-lát nói với các thầy tế lễ cả và dân chúng: “Ta không thấy người nầy có tội gì.”
Nhưng họ cứ một mực nói: “Người nầy kích động dân chúng, giảng dạy khắp miền Giu-đê, bắt đầu từ miền Ga-li-lê cho đến tận nơi nầy.”
Khi nghe điều ấy, Phi-lát hỏi xem Ngài có thật là người Ga-li-lê chăng.
Khi biết được Ngài thuộc thẩm quyền của Hê-rốt, Phi-lát cho giải Ngài đến Hê-rốt, lúc ấy đang có mặt tại thành Giê-ru-sa-lem.
Hê-rốt thấy Đức Chúa Jêsus thì mừng lắm, vì lâu nay vua đã nghe nói về Ngài và mong gặp Ngài với hi vọng được xem Ngài làm phép lạ.
Vì thế, vua gạn hỏi Ngài nhiều câu, nhưng Ngài không trả lời gì cả.
Các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo đứng gần đó tố cáo Ngài kịch liệt.
Hê-rốt và quân lính khinh bỉ và chế giễu Ngài, mặc cho Ngài một chiếc áo sặc sỡ rồi giải giao Ngài cho Phi-lát.
Trước kia, Phi-lát và Hê-rốt thù hiềm nhau, nhưng trong ngày ấy họ trở nên bạn hữu.
Phi-lát triệu tập các thầy tế lễ cả, các nhà lãnh đạo và dân chúng lại mà nói rằng:
“Các ông đã đem nộp người nầy cho ta về tội xúi dân nổi loạn; nhưng ta đã tra hỏi trước mặt các ông, thì không thấy người ấy mắc một tội nào mà các ông đã tố cáo.
Hê-rốt cũng thấy vậy, vì đã giao người lại cho ta. Như thế, người nầy đã không làm điều gì đáng chết
nên ta sẽ đánh đòn rồi thả ra.”
Họ đồng thanh kêu lên: “Hãy giết người nầy đi và tha Ba-ra-ba cho chúng tôi!”
Ba-ra-ba bị tù vì tội nổi loạn trong thành và giết người.
Phi-lát muốn tha Đức Chúa Jêsus nên tiếp tục thuyết phục dân chúng.
Nhưng họ kêu lên: “Đóng đinh nó trên cây thập tự! Đóng đinh nó trên cây thập tự!”
Phi-lát lại nói với họ đến lần thứ ba: “Người nầy đã làm điều ác gì? Ta không tìm thấy người có tội gì đáng chết. Vì thế, ta sẽ đánh đòn rồi tha ra.”
Nhưng họ càng hét to hơn, đòi phải đóng đinh Ngài vào cây thập tự; và tiếng gào thét của họ đã thắng thế.
Vậy Phi-lát phán quyết theo lời đòi hỏi của họ.
Ông tha tên tù mà chúng đã xin, là kẻ dấy loạn và giết người, rồi giao Đức Chúa Jêsus cho họ theo ý họ muốn.
Khi giải Đức Chúa Jêsus đi, họ bắt một người Sy-ren, tên Si-môn, từ miền quê lên, và buộc anh phải vác cây thập tự theo sau Ngài.
Có đoàn dân rất đông đi theo Đức Chúa Jêsus và có nhiều phụ nữ đấm ngực than khóc Ngài.
Nhưng Đức Chúa Jêsus quay lại phán với họ: “Hỡi con gái Giê-ru-sa-lem, đừng khóc về Ta, mà hãy khóc về chính các ngươi và con cái các ngươi.
Vì nầy, những ngày sắp đến, người ta sẽ nói: ‘Phước cho đàn bà son sẻ, cho dạ không mang thai và vú không cho con bú!’
Rồi họ nói với núi: ‘Hãy đổ xuống chúng tôi!’ và nói với đồi: ‘Hãy che giấu chúng tôi!’
Vì nếu cây xanh mà người ta còn đối xử như thế thì cây khô sẽ ra sao?”
Họ cũng giải hai tên tội phạm khác để xử tử chung với Ngài.
Khi đến một chỗ gọi là Đồi Sọ, họ đóng đinh Ngài vào thập tự giá cùng với hai tên tội phạm: một tên bên phải, một tên bên trái Ngài.
Đức Chúa Jêsus cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết mình làm điều gì.” Rồi họ bắt thăm chia nhau áo choàng của Ngài.
Dân chúng thì đứng nhìn, còn những người lãnh đạo thì chế giễu Ngài rằng: “Nó đã cứu kẻ khác. Nếu nó thật là Đấng Christ, người được chọn của Đức Chúa Trời, thì hãy để nó tự cứu mình đi!”
Quân lính cũng chế giễu Ngài, lại gần đưa giấm cho Ngài uống
và nói: “Nếu ngươi là Vua dân Do Thái, hãy tự cứu mình đi!”
Phía trên đầu Ngài có dòng chữ: NGƯỜI NẦY LÀ VUA DÂN DO THÁI.
Một trong hai tên tội phạm bị treo cũng phỉ báng Ngài rằng: “Ông không phải là Đấng Christ sao? Hãy tự cứu lấy mình và cả chúng tôi nữa!”
Nhưng tên kia quở trách nó: “Mầy đang chịu cùng một hình phạt, còn chẳng sợ Đức Chúa Trời sao?
Chúng ta bị phạt là đúng, vì hình ta chịu xứng với việc ta làm; nhưng người nầy không hề làm một điều gì sai trái.”
Rồi anh ta nói: “Lạy Jêsus, khi Ngài vào vương quốc mình rồi, xin nhớ đến con!”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Thật, Ta bảo con, hôm nay con sẽ được ở với Ta trong Pa-ra-đi.”
Bấy giờ, khắp đất đều tối tăm từ khoảng giữa trưa cho đến ba giờ chiều.
Mặt trời trở nên tối; bức màn trong đền thờ bị xé làm đôi.
Đức Chúa Jêsus kêu lớn lên rằng: “Lạy Cha, Con xin giao linh hồn lại trong tay Cha!” Ngài vừa nói xong thì trút hơi thở cuối cùng.
Thấy sự việc đã xảy ra, viên đội trưởng tôn vinh Đức Chúa Trời rằng: “Thật người nầy là người công chính!”
Cả đoàn dân tập hợp lại để xem cảnh tượng nầy; khi thấy những gì đã xảy ra thì họ đấm ngực mà trở về.
Tất cả những người quen biết Đức Chúa Jêsus và các phụ nữ theo Ngài từ Ga-li-lê đều đứng đằng xa chứng kiến những việc ấy.
Có một người tên là Giô-sép, nghị viên Hội đồng Công luận, là người tốt và công chính,
không tán thành về quyết định và hành động của những người kia. Giô-sép quê ở thành A-ri-ma-thê thuộc miền Giu-đê là người đang trông đợi vương quốc Đức Chúa Trời.
Ông đi đến Phi-lát xin thi hài của Đức Chúa Jêsus.
Khi đã đem thi hài Ngài xuống, Giô-sép khâm liệm bằng vải gai, rồi đặt Ngài trong huyệt đã đục trong vầng đá, nơi chưa chôn ai hết.
Bấy giờ là ngày Chuẩn Bị và ngày sa-bát sắp đến.
Các phụ nữ cùng đi với Chúa từ miền Ga-li-lê cũng đi theo để xem mộ và cách họ an táng Ngài. Rồi họ trở về, chuẩn bị hương liệu và dầu thơm.
Ngày sa-bát họ nghỉ ngơi theo luật định.
Ngày thứ nhất trong tuần lễ, lúc tờ mờ sáng, các phụ nữ ấy lấy hương liệu đã chuẩn bị đem đến mộ Ngài.
Họ thấy tảng đá đã lăn khỏi cửa mộ,
nhưng khi bước vào thì không thấy thi hài của Đức Chúa Jêsus đâu cả.
Trong khi họ còn phân vân về việc ấy, bỗng có hai người nam mặc áo sáng chói đứng bên cạnh.
Đang lúc các bà sợ hãi, úp mặt xuống đất thì hai người ấy bảo họ: “Sao các ngươi tìm người sống giữa vòng kẻ chết?
Ngài không ở đây đâu, Ngài đã sống lại rồi! Hãy nhớ lại khi còn ở miền Ga-li-lê, Ngài phán với các ngươi
rằng: ‘Con Người phải bị nộp trong tay kẻ có tội, phải bị đóng đinh trên thập tự giá và ngày thứ ba phải sống lại.’ ”
Họ nhớ lại những lời Ngài đã phán.
Từ mộ trở về, họ thuật lại mọi điều ấy cho mười một sứ đồ và những người khác.
Những người đã thuật lại các điều ấy cho các sứ đồ là Ma-ri Ma-đơ-len, Gian-nơ, Ma-ri mẹ của Gia-cơ, và các phụ nữ cùng đi với họ.
Nhưng các sứ đồ không tin, cho những lời ấy là viển vông.
Dù vậy, Phi-e-rơ đứng dậy, chạy đến mộ và cúi xuống nhìn nhưng chỉ thấy vải liệm mà thôi. Ông trở về nhà, kinh ngạc về việc đã xảy ra.
Cũng trong ngày ấy, có hai môn đồ đi đến làng kia, gọi là Em-ma-út, cách thành Giê-ru-sa-lem khoảng mười hai ki-lô-mét.
Họ nói chuyện với nhau về những việc đã xảy ra.
Đang khi họ trò chuyện và bàn luận với nhau thì chính Đức Chúa Jêsus đến gần và đồng hành với họ.
Nhưng mắt hai người ấy bị che khuất, không nhận ra Ngài.
Ngài phán với họ: “Các bạn bàn luận gì với nhau trong lúc đi đường vậy?” Họ dừng lại với vẻ buồn bã.
Một trong hai người tên Cơ-lê-ô-pa, trả lời: “Có phải ông là khách lạ duy nhất ở thành Giê-ru-sa-lem không hay biết những việc đã xảy ra tại đó mấy hôm nay?”
Ngài hỏi: “Việc gì vậy?” Họ trả lời: “Ấy là việc đã xảy ra cho Jêsus người Na-xa-rét, một nhà tiên tri có quyền năng trong việc làm và lời nói trước mặt Đức Chúa Trời và cả dân chúng,
nhưng không hiểu vì sao các thầy tế lễ cả cùng các nhà lãnh đạo của chúng tôi đã nộp Ngài để kết án tử hình và đóng đinh Ngài trên thập tự giá.
Chúng tôi hi vọng Ngài là Đấng sẽ cứu chuộc dân Y-sơ-ra-ên. Dù sao, thì việc nầy cũng đã xảy ra được ba ngày rồi.
Hơn nữa, có mấy phụ nữ trong số chúng tôi đã làm cho chúng tôi kinh ngạc: Lúc tờ mờ sáng, họ đến mộ
nhưng không thấy xác Ngài, và họ trở về nói rằng có thiên sứ hiện đến cho biết Ngài đang sống.
Vài người trong số chúng tôi cũng đi thăm mộ và thấy mọi điều đúng như lời các bà ấy nói, còn Ngài thì họ không thấy.”
Bấy giờ Đức Chúa Jêsus phán với họ: “Các con thật dại dột và có lòng chậm tin lời các nhà tiên tri đã nói!
Chẳng phải Đấng Christ cần phải chịu thương khó như thế rồi mới bước vào vinh quang của mình sao?”
Rồi Ngài bắt đầu từ Môi-se đến tất cả các nhà tiên tri mà giải thích cho họ những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh.
Khi hai môn đồ đến gần làng họ định đi, thì Đức Chúa Jêsus dường như muốn đi xa hơn nữa.
Nhưng họ nài ép Ngài: “Xin ở lại với chúng tôi vì trời đã xế chiều và sắp tối rồi.” Vậy, Ngài vào ở lại với họ.
Đang khi ngồi ăn với hai người, Ngài lấy bánh, tạ ơn và bẻ ra trao cho họ.
Bấy giờ mắt họ mở ra và nhận biết Ngài, nhưng Ngài thoạt biến mất.
Hai người nói với nhau: “Trong lúc đi đường, Ngài nói chuyện và giải nghĩa Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bùng cháy sao?”
Ngay giờ đó, họ liền đứng dậy trở về thành Giê-ru-sa-lem, gặp mười một sứ đồ cùng các môn đồ khác đang nhóm lại,
và nói: “Chúa thật đã sống lại và hiện ra với Si-môn!”
Rồi hai môn đồ thuật lại việc đã xảy ra trong khi đi đường và họ đã nhận biết Ngài lúc bẻ bánh như thế nào.
Khi hai môn đồ còn đang nói về những việc ấy thì Đức Chúa Jêsus xuất hiện giữa họ và phán: “Bình an cho các con!”
Các môn đồ đều giật mình sửng sốt, tưởng thấy thần linh.
Ngài phán: “Tại sao các con bối rối, và lòng các con vẫn còn hoài nghi như thế?
Hãy nhìn tay và chân Ta, thật chính Ta! Hãy chạm đến Ta xem! Thần linh thì không có thịt xương, mà các con thấy Ta có đây!”
Nói xong, Ngài giơ tay và chân ra cho họ xem.
Trong khi các môn đồ chưa tin vì quá vui mừng và kinh ngạc thì Ngài phán với họ: “Ở đây các con có gì ăn không?”
Các môn đồ dâng cho Ngài một miếng cá nướng.
Ngài nhận lấy và ăn trước mặt họ.
Ngài phán: “Đây là những lời mà Ta đã phán với các con khi Ta còn ở với các con: Mọi điều đã chép về Ta trong Luật Pháp Môi-se, các sách Tiên Tri, cùng các Thi Thiên phải được ứng nghiệm.”
Bấy giờ, Ngài mở trí cho các môn đồ để hiểu Kinh Thánh.
Ngài phán: “Có lời chép rằng Đấng Christ phải chịu đau đớn, đến ngày thứ ba sẽ từ cõi chết sống lại;
người ta phải nhân danh Ngài mà rao giảng cho tất cả các nước về sự ăn năn để được tha tội, bắt đầu từ thành Giê-ru-sa-lem.
Các con là những nhân chứng về các việc đó. Ta đây, sẽ ban cho các con điều Cha Ta đã hứa;
còn về phần các con, hãy đợi trong thành cho đến khi được mặc lấy quyền năng từ trên cao.”
Sau đó, Ngài dẫn các môn đồ đến gần làng Bê-tha-ni và giơ tay lên ban phước cho họ.
Đang khi ban phước, Ngài lìa các môn đồ và được đem lên trời.
Các môn đồ thờ phượng Ngài, rồi trở về thành Giê-ru-sa-lem với niềm vui tràn ngập.
Họ tiếp tục ở trong đền thờ, chúc tụng Đức Chúa Trời.
Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở với Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời.
Từ ban đầu, Ngài ở với Đức Chúa Trời.
Muôn vật đều do Ngài tạo dựng, không một loài thọ tạo nào được tạo dựng mà không bởi Ngài.
Trong Ngài có sự sống, sự sống là ánh sáng cho loài người.
Ánh sáng soi trong bóng tối, nhưng bóng tối không tiếp nhận ánh sáng.
Có một người Đức Chúa Trời sai đến tên là Giăng.
Ông đến với tư cách một nhân chứng để làm chứng về ánh sáng hầu cho nhờ ông mọi người đều tin.
Chính ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng.
Đây là ánh sáng thật đã đến thế gian để soi sáng mọi người.
Ngôi Lời ở trong thế gian và thế gian đã được tạo dựng bởi Ngài, nhưng thế gian không nhận biết Ngài.
Ngài đến trong đất nước Ngài mà dân Ngài không tiếp nhận Ngài.
Nhưng bất cứ ai tiếp nhận Ngài, tức là tin danh Ngài, thì Ngài ban cho họ quyền trở nên con của Đức Chúa Trời,
là những người được sinh ra không phải bởi khí huyết, hoặc bởi ước muốn xác thịt, hoặc bởi ý người, nhưng bởi Đức Chúa Trời.
Ngôi Lời đã trở nên xác thể, sống giữa chúng ta, đầy ân điển và chân lý. Chúng ta đã chiêm ngưỡng vinh quang Ngài, thật là vinh quang của Con Một đến từ nơi Cha.
Giăng làm chứng về Ngài và công bố rằng: “Đây là Đấng mà tôi đã nói: ‘Đấng đến sau tôi vượt trội hơn tôi vì Ngài vốn có trước tôi.’ ”
Và từ nguồn sung mãn của Ngài, tất cả chúng ta đều nhận được ân điển càng thêm ân điển.
Vì luật pháp đã được ban bố bởi Môi-se, còn ân điển và chân lý thì đến từ Đức Chúa Jêsus Christ.
Chưa ai từng thấy Đức Chúa Trời, chỉ Con Một ở trong lòng Cha là Đấng đã bày tỏ Cha cho chúng ta biết.
Đây là lời chứng của Giăng: Khi những người Do Thái phái các thầy tế lễ và người Lê-vi từ thành Giê-ru-sa-lem đến hỏi ông rằng: “Ông là ai?”
thì ông thẳng thắn tuyên bố, không úp mở gì cả. Ông nói: “Tôi không phải là Đấng Christ.”
Họ lại hỏi: “Vậy thì ông là ai? Có phải là Ê-li không?” Ông đáp: “Không phải.” “Thế ông có phải là nhà tiên tri không?” Ông trả lời: “Không phải.”
Họ nói: “Thế thì ông là ai để chúng tôi trả lời cho những người đã sai phái chúng tôi? Ông tự xưng mình là ai?”
Ông trả lời: “Tôi là tiếng của người kêu lên trong hoang mạc: ‘Hãy làm cho thẳng con đường của Chúa’, như lời nhà tiên tri Ê-sai đã nói.”
Những người được phái đến thuộc nhóm Pha-ri-si,
hỏi ông rằng: “Nếu ông không phải là Đấng Christ, không phải là Ê-li, cũng không phải là nhà tiên tri, vậy thì tại sao ông lại làm báp-têm?”
Giăng đáp: “Tôi làm báp-têm bằng nước, nhưng có một Đấng đang ở giữa các ông mà các ông không nhận biết;
Đấng ấy đến sau tôi, mà tôi không xứng đáng mở quai dép Ngài.”
Những việc nầy xảy ra tại Bê-tha-ni bên kia sông Giô-đanh, nơi Giăng làm báp-têm.
Hôm sau, Giăng thấy Đức Chúa Jêsus đến với mình, thì nói rằng: “Kìa Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi của thế gian đi!
Đây là Đấng mà tôi đã nói: ‘Đấng đến sau tôi vượt trội hơn tôi, vì Ngài vốn trước tôi.’
Chính tôi vốn không biết Ngài, nhưng tôi đến làm báp-têm bằng nước để Ngài được bày tỏ cho dân Y-sơ-ra-ên.”
Giăng cũng làm chứng rằng: “Tôi đã thấy Thánh Linh từ trời giáng xuống như chim bồ câu đậu trên Ngài.
Chính tôi vốn không biết Ngài, nhưng Đấng đã sai tôi làm báp-têm bằng nước có phán với tôi: ‘Đấng mà ngươi sẽ thấy Thánh Linh giáng xuống, ngự lên trên, ấy là Đấng làm báp-têm bằng Đức Thánh Linh.’
Tôi đã thấy và làm chứng rằng, đây chính là Con Đức Chúa Trời.”
Hôm sau, Giăng lại đứng tại đó với hai trong số các môn đồ của mình.
Khi nhìn thấy Đức Chúa Jêsus đi ngang qua, ông nói: “Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời!”
Hai môn đồ nghe ông nói, liền đi theo Đức Chúa Jêsus.
Đức Chúa Jêsus quay lại, thấy họ đi theo thì hỏi: “Các ngươi tìm ai?” Họ thưa: “Ra-bi (nghĩa là Thầy), Thầy đang trọ ở đâu?”
Ngài phán: “Hãy đến xem.” Họ đến xem chỗ Ngài trọ, và ở lại với Ngài trong ngày đó. Lúc ấy vào khoảng bốn giờ chiều.
Một trong hai người đã nghe Giăng nói và đi theo Đức Chúa Jêsus, đó là Anh-rê, em của Si-môn Phi-e-rơ.
Trước tiên, ông tìm anh mình là Si-môn Phi-e-rơ và nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a” (nghĩa là Đấng Christ).
Ông đưa anh mình đến với Đức Chúa Jêsus. Đức Chúa Jêsus nhìn Si-môn và phán: “Ngươi là Si-môn, con của Giăng, ngươi sẽ được gọi là Sê-pha”, nghĩa là Phi-e-rơ.
Hôm sau, Đức Chúa Jêsus muốn đi qua miền Ga-li-lê. Ngài tìm Phi-líp và phán rằng: “Hãy theo Ta.”
Phi-líp là người Bết-sai-đa, cùng thành phố với Anh-rê và Phi-e-rơ.
Phi-líp tìm Na-tha-na-ên và nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng mà Môi-se đã chép trong luật pháp, và các nhà tiên tri cũng có ghi lại; ấy là Đức Chúa Jêsus, con của Giô-sép, ở thành Na-xa-rét.”
Na-tha-na-ên nói: “Có điều gì tốt ra từ Na-xa-rét được sao?” Phi-líp nói: “Hãy đến xem!”
Đức Chúa Jêsus thấy Na-tha-na-ên đến với Ngài thì nói về ông rằng: “Đây là một người Y-sơ-ra-ên thật, trong người không có điều dối trá.”
Na-tha-na-ên thưa: “Làm thế nào Thầy biết tôi?” Đức Chúa Jêsus đáp: “Trước khi Phi-líp gọi ngươi, Ta đã thấy ngươi ở dưới cây vả.”
Na-tha-na-ên thưa: “Thưa Thầy, Thầy là Con Đức Chúa Trời! Thầy là vua Y-sơ-ra-ên!”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Có phải vì Ta nói Ta thấy ngươi ở dưới cây vả nên ngươi mới tin? Ngươi sẽ thấy những việc vĩ đại hơn nữa.”
Rồi Ngài phán: “Thật, Ta bảo thật với các ngươi: Các ngươi sẽ thấy trời mở ra và thiên sứ của Đức Chúa Trời lên xuống trên Con Người.”
Vào ngày thứ ba, có một tiệc cưới tại thành Ca-na trong miền Ga-li-lê; mẹ của Đức Chúa Jêsus có mặt tại đó.
Đức Chúa Jêsus và các môn đồ Ngài cũng được mời dự tiệc.
Khi rượu đã cạn, mẹ của Đức Chúa Jêsus nói với Ngài: “Người ta không còn rượu nữa.”
Đức Chúa Jêsus trả lời: “Thưa bà, việc nầy có liên can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến.”
Mẹ Ngài nói với những người phục vụ rằng: “Người bảo gì thì hãy làm y như vậy.”
Tại đó có sáu cái chum bằng đá dùng vào việc tẩy sạch theo lễ nghi Do Thái, mỗi cái chứa được hai ba thùng nước.
Đức Chúa Jêsus bảo họ: “Hãy đổ nước đầy những chum nầy.” Họ đổ đầy tới miệng.
Rồi Ngài lại bảo: “Bây giờ hãy múc ra, đem đến cho người quản tiệc.” Vậy họ đem đến cho người ấy.
Khi người quản tiệc nếm nước đã biến thành rượu (nhưng không biết rượu đến từ đâu, còn những người phục vụ đã múc nước thì biết), ông gọi chàng rể
và nói: “Mọi người đều đãi rượu ngon trước, và khi người ta uống nhiều rồi mới đãi rượu kém hơn, nhưng anh thì giữ rượu ngon cho đến bây giờ.”
Đây là dấu lạ thứ nhất Đức Chúa Jêsus đã làm tại thành Ca-na, trong miền Ga-li-lê, và bày tỏ vinh quang Ngài nên các môn đồ tin Ngài.
Sau đó, Ngài cùng với mẹ, các em, và các môn đồ đi xuống thành Ca-bê-na-um và ở lại đó ít ngày.
Lễ Vượt Qua của dân Do Thái gần đến, Đức Chúa Jêsus đi lên thành Giê-ru-sa-lem.
Ngài thấy trong đền thờ có những kẻ bán bò, chiên, bồ câu, và những người đổi tiền đang ngồi.
Ngài bện một cái roi bằng dây, đuổi tất cả ra khỏi đền thờ, luôn cả chiên, bò; đổ tiền của người đổi tiền và lật bàn của họ.
Ngài bảo những người bán bồ câu rằng: “Hãy dẹp bỏ những thứ nầy khỏi đây, đừng làm cho nhà Cha Ta thành nhà buôn bán.”
Các môn đồ Ngài nhớ lại lời đã chép: “Lòng nhiệt thành về nhà Chúa thiêu đốt tôi.”
Người Do Thái hỏi Ngài: “Thầy có dấu lạ nào để chứng tỏ cho chúng tôi thấy Thầy có quyền làm điều nầy?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Hãy phá đền thờ nầy đi, trong ba ngày Ta sẽ dựng lại.”
Người Do Thái lại nói: “Người ta xây dựng đền thờ nầy mất bốn mươi sáu năm, mà Thầy thì sẽ dựng lại trong ba ngày sao?”
Nhưng Ngài nói về đền thờ của thân thể Ngài.
Vì vậy, khi Ngài từ cõi chết sống lại, các môn đồ nhớ Ngài đã nói điều nầy, thì tin Kinh Thánh và lời Đức Chúa Jêsus đã nói.
Đang lúc Đức Chúa Jêsus ở tại thành Giê-ru-sa-lem trong dịp lễ Vượt Qua, nhiều người thấy các dấu lạ Ngài làm thì tin danh Ngài.
Nhưng Đức Chúa Jêsus không phó thác mình cho họ, vì Ngài biết rõ mọi người.
Ngài không cần ai làm chứng về người nào cả, vì chính Ngài biết rõ mọi điều trong lòng người.
Trong số những người Pha-ri-si, có một người tên là Ni-cô-đem, một nhà lãnh đạo của dân Do Thái.
Ban đêm, ông đến với Đức Chúa Jêsus và nói: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là giáo sư từ Đức Chúa Trời đến. Nếu Đức Chúa Trời không ở cùng thì không ai làm được những dấu lạ mà Thầy đã làm.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Thật, Ta bảo thật ngươi, nếu một người không được sinh lại, thì không thể thấy vương quốc Đức Chúa Trời.”
Ni-cô-đem thưa rằng: “Người đã già thì sinh lại làm sao được? Có thể nào trở vào lòng mẹ và sinh ra lần thứ hai sao?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Thật, Ta bảo thật ngươi: Nếu một người không nhờ nước và Thánh Linh mà sinh ra thì không thể vào vương quốc Đức Chúa Trời.
Điều gì do xác thịt sinh ra là xác thịt, điều gì bởi Thánh Linh sinh ra là linh.
Đừng ngạc nhiên về điều Ta đã nói với ngươi: ‘Các ngươi phải sinh lại.’
Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng gió, nhưng không biết gió đến từ đâu và đi đâu. Người nào sinh bởi Thánh Linh thì cũng như vậy.”
Ni-cô-đem lại nói: “Làm thế nào điều ấy có thể xảy ra được?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Ngươi là giáo sư của dân Y-sơ-ra-ên mà không hiểu điều nầy sao?
Thật, Ta bảo thật ngươi: Chúng ta nói điều mình biết, làm chứng điều mình đã thấy, nhưng các ngươi không chấp nhận lời chứng của chúng ta.
Nếu Ta nói với các ngươi những điều thuộc về đất mà các ngươi còn không tin, huống chi Ta nói những điều thuộc về trời thì làm sao các ngươi tin được?
Chưa từng có ai lên trời, trừ ra Đấng từ trời xuống, là Con Người.
Như Môi-se treo con rắn lên trong hoang mạc thể nào thì Con Người cũng phải bị treo lên thể ấy,
để ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời.
Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.
Vì Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài đến thế gian không phải để kết án thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con mà được cứu.
Ai tin Con thì không bị kết án đâu, còn ai không tin thì đã bị kết án rồi, vì không tin đến danh Con Một của Đức Chúa Trời.
Sự kết án đó là như thế nầy: Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng loài người ưa thích bóng tối hơn ánh sáng, vì việc làm của họ là xấu xa.
Vì ai làm ác thì ghét ánh sáng và không đến với ánh sáng, e rằng công việc của mình phải bị phơi bày.
Nhưng ai làm theo chân lý thì đến với ánh sáng để các việc mình làm trong Đức Chúa Trời được thấy rõ.”
Sau đó, Đức Chúa Jêsus và các môn đồ đi đến miền Giu-đê. Ngài ở lại đó với họ và làm báp-têm.
Giăng cũng làm báp-têm tại Ạt-nôn, gần Sa-lim, vì ở nơi nầy có nhiều nước và người ta đến để chịu báp-têm.
Lúc ấy Giăng chưa bị cầm tù.
Bấy giờ, có sự tranh luận về nghi lễ tẩy sạch giữa các môn đồ của Giăng và một người Do Thái.
Họ đến với Giăng và nói: “Thưa thầy, người đã ở với thầy bên kia sông Giô-đanh, đã được thầy làm chứng tốt, bây giờ đang làm báp-têm và mọi người đều đến với ông ấy.”
Giăng trả lời: “Nếu không phải từ trời ban cho thì không ai có thể nhận được điều gì.
Chính anh em làm chứng cho tôi rằng tôi đã nói tôi không phải là Đấng Christ, nhưng tôi được sai đến trước Ngài.
Ai cưới cô dâu, người ấy là chàng rể; còn bạn của chàng rể đứng lắng nghe và rất vui mừng khi nghe tiếng của chàng rể. Đó chính là niềm vui trọn vẹn của tôi vậy.
Ngài phải được tôn cao, còn tôi phải hạ xuống.
Đấng đến từ trên cao thì trên tất cả. Người ra từ đất thì thuộc về đất, nói những việc thuộc về đất; nhưng Đấng đến từ trời thì trên tất cả.
Ngài làm chứng những gì Ngài đã thấy và nghe, nhưng không ai tiếp nhận lời chứng của Ngài.
Ai tiếp nhận lời chứng của Ngài thì xác nhận rằng Đức Chúa Trời là chân thật.
Vì Đấng mà Đức Chúa Trời đã sai đến thì rao truyền lời của Đức Chúa Trời, vì Đức Chúa Trời ban Thánh Linh cho Ngài không giới hạn.
Cha yêu thương Con và giao tất cả mọi sự trong tay Con.
Ai tin Con thì được sự sống đời đời, ai không chịu tin Con thì chẳng kinh nghiệm được sự sống đâu, nhưng cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người ấy.”
Khi Đức Chúa Jêsus biết được người Pha-ri-si có nghe nói Ngài thu nhận và làm báp-têm nhiều môn đồ hơn Giăng,
(Thật ra không phải chính Đức Chúa Jêsus làm báp-têm, nhưng là các môn đồ của Ngài),
thì Ngài rời miền Giu-đê trở về miền Ga-li-lê.
Nhưng Ngài phải đi ngang qua vùng Sa-ma-ri.
Vậy, Ngài đến một thành của vùng Sa-ma-ri, gọi là Si-kha, gần cánh đồng mà Gia-cốp đã cho con mình là Giô-sép.
Tại đó có cái giếng Gia-cốp. Vì đi đường mệt mỏi, nên Đức Chúa Jêsus ngồi lại bên giếng. Lúc ấy vào khoảng mười hai giờ trưa.
Một phụ nữ Sa-ma-ri đến múc nước. Đức Chúa Jêsus nói với bà: “Cho Ta xin nước uống.”
Lúc ấy, các môn đồ Ngài đã đi ra phố mua thức ăn.
Người phụ nữ Sa-ma-ri nói: “Sao ông là một người Do Thái mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho uống nước?” (Vì người Do Thái vốn không giao tiếp với người Sa-ma-ri.)
Đức Chúa Jêsus đáp: “Nếu chị biết quà tặng của Đức Chúa Trời, và Người đang nói với chị: ‘Cho Ta xin nước uống’ là ai thì chắc chắn chị sẽ nài xin Người, và Người sẽ cho chị nước sống.”
Người phụ nữ nói: “Thưa ông, ông không có gầu múc, mà giếng thì sâu, vậy ông lấy đâu ra nước sống ấy?
Tổ phụ chúng tôi là Gia-cốp đã cho chúng tôi giếng nầy; chính Gia-cốp, các con và bầy gia súc của người đều uống ở giếng nầy, vậy ông lớn hơn Gia-cốp sao?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Ai uống nước nầy sẽ còn khát mãi,
nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ khát nữa. Nước Ta cho sẽ trở thành một mạch nước trong người ấy, tuôn trào đến tận sự sống đời đời.”
Người phụ nữ nói: “Thưa ông, xin cho tôi nước ấy, để tôi không còn khát và khỏi đến đây múc nước nữa.”
Ngài bảo: “Hãy đi gọi chồng chị, rồi trở lại đây.”
Người phụ nữ thưa: “Tôi không có chồng.” Đức Chúa Jêsus nói: “Chị bảo rằng chị không có chồng là phải,
vì chị đã có năm đời chồng, còn người mà chị hiện có không phải là chồng chị; điều nầy chị đã nói thật.”
Người phụ nữ nói: “Thưa ông, tôi nhận biết ông là một nhà tiên tri.
Tổ phụ chúng tôi thờ phượng trên núi nầy, còn các ông thì nói rằng thành Giê-ru-sa-lem mới là chỗ đáng thờ phượng.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Nầy, người phụ nữ kia, hãy tin Ta, giờ sắp đến, các ngươi không còn thờ phượng Cha trên núi nầy hay tại thành Giê-ru-sa-lem nữa.
Các ngươi thờ phượng Đấng các ngươi không biết, còn chúng ta thờ phượng Đấng chúng ta biết, vì sự cứu rỗi đến từ người Do Thái.
Giờ sắp đến và đã đến rồi, khi những người thờ phượng chân thật sẽ thờ phượng Cha bằng tâm linh và chân lý; ấy là những người thờ phượng mà Cha tìm kiếm.
Đức Chúa Trời là thần linh, nên những người thờ phượng Ngài phải thờ phượng bằng tâm linh và chân lý.”
Người phụ nữ thưa: “Tôi biết rằng Đấng Mê-si-a (nghĩa là Đấng Christ) sẽ đến. Khi Ngài đến, Ngài sẽ công bố cho chúng tôi mọi điều.”
Đức Chúa Jêsus phán: “Ta, người đang nói với chị đây, chính là Đấng đó.”
Lúc ấy, các môn đồ đến. Họ kinh ngạc khi thấy Ngài nói chuyện với một phụ nữ; nhưng không một ai hỏi: “Thầy cần gì?” hay là: “Sao Thầy nói chuyện với phụ nữ nầy?”
Người phụ nữ bỏ vò nước của mình lại và đi vào thành, nói với mọi người rằng:
“Hãy đến xem một người đã nói đúng hết tất cả những gì tôi đã làm. Đó không phải là Đấng Christ sao?”
Họ ra khỏi thành và đến với Đức Chúa Jêsus.
Trong lúc đó, các môn đồ nài nỉ Ngài: “Thưa Thầy, xin hãy ăn.”
Nhưng Ngài đáp: “Ta có lương thực để ăn mà các con không biết.”
Vì vậy, các môn đồ nói với nhau: “Có ai đã đem gì cho Ngài ăn chăng?”
Đức Chúa Jêsus nói với họ: “Lương thực của Ta là làm theo ý muốn của Đấng đã sai Ta, và hoàn tất công việc của Ngài.
Chẳng phải các con nói: ‘Còn bốn tháng nữa là đến mùa gặt sao?’ Nhưng Ta nói với các con: ‘Hãy ngước mắt lên và xem những cánh đồng đã vàng sẵn sàng cho mùa gặt.
Người gặt nhận tiền công và thu chứa hoa lợi cho sự sống đời đời, để cả người gieo lẫn người gặt đều vui mừng.’
Ở chỗ nầy, câu nói: ‘Người nầy gieo, kẻ kia gặt,’ là rất đúng.
Ta đã sai các con gặt những gì mình không phải làm khó nhọc. Những người khác đã làm khó nhọc, còn các con thì vào chia sẻ công khó của họ.”
Nhiều người Sa-ma-ri ở thành đó tin Ngài, vì người phụ nữ đã làm chứng rằng: “Ngài đã nói ra hết mọi điều tôi đã làm.”
Vì vậy, khi đến với Ngài, những người Sa-ma-ri xin Ngài ở lại với họ, và Ngài đã ở lại đó hai ngày.
Qua lời của Ngài, số người tin càng đông hơn nữa.
Họ nói với người phụ nữ rằng: “Bây giờ không còn phải nhờ những gì chị nói mà chúng tôi tin, vì chính chúng tôi đã nghe, và biết rằng Ngài thật là Cứu Chúa của thế gian.”
Hai ngày sau, Đức Chúa Jêsus rời nơi ấy, đi đến miền Ga-li-lê.
(Vì chính Ngài đã xác nhận rằng, nhà tiên tri không được tôn trọng nơi quê hương mình.)
Khi đến miền Ga-li-lê, Ngài được dân Ga-li-lê tiếp đón, bởi họ đã chứng kiến tất cả những gì Ngài đã làm tại thành Giê-ru-sa-lem vào dịp lễ, vì chính họ cũng đi dự lễ.
Vậy, Ngài trở lại Ca-na trong miền Ga-li-lê, nơi Ngài đã hóa nước thành rượu. Một viên quan trong hoàng gia tại Ca-bê-na-um có người con trai bị bệnh.
Khi viên quan nầy nghe Đức Chúa Jêsus đã từ Giu-đê đến Ga-li-lê thì tìm Ngài, và cầu xin Ngài đến chữa cho con mình vì nó sắp chết.
Đức Chúa Jêsus nói với viên quan rằng: “Nếu không thấy dấu lạ và phép mầu, thì hẳn các ngươi không tin!”
Viên quan thưa: “Lạy Chúa, xin đến trước khi con tôi chết!”
Đức Chúa Jêsus bảo: “Hãy đi, con ngươi sẽ sống.” Viên quan tin lời Đức Chúa Jêsus nói với mình và đi.
Khi ông đang đi, các đầy tớ của ông đến gặp ông và nói: “Con trai của chủ sống!”
Viên quan hỏi họ con ông đã bình phục vào giờ nào. Họ trả lời: “Hôm qua, vào khoảng một giờ chiều, cậu hết sốt.”
Người cha nhận biết đó chính là giờ Đức Chúa Jêsus đã bảo mình rằng: “Con của ngươi sẽ sống”; nên chính ông, và cả nhà đều tin.
Đây là dấu lạ thứ hai Đức Chúa Jêsus đã làm, sau khi Ngài từ Giu-đê về Ga-li-lê.
Sau đó, vào một ngày lễ của dân Do Thái, Đức Chúa Jêsus đi lên thành Giê-ru-sa-lem.
Tại Giê-ru-sa-lem, gần cửa Chiên, có một hồ nước, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Bê-tết-đa. Hồ có năm vòm cửa.
Rất nhiều người đau ốm, mù lòa, què quặt, bại liệt nằm tại đó.
Có một người mắc bệnh đã ba mươi tám năm.
Đức Chúa Jêsus thấy người nầy nằm đó và biết bị bệnh đã lâu nên hỏi: “Ngươi có muốn được lành không?”
Người bệnh trả lời: “Thưa ông, không có ai giúp ném tôi xuống hồ lúc nước động, khi tôi đến thì người khác đã xuống trước tôi rồi.”
Đức Chúa Jêsus bảo: “Hãy đứng dậy, vác giường ngươi và đi.”
Người ấy liền được lành bệnh, vác giường và đi. Hôm ấy là ngày sa-bát.
Những người Do Thái nói với người được chữa lành: “Hôm nay là ngày sa-bát, anh không được phép vác giường.”
Nhưng anh ta đáp: “Người đã chữa lành cho tôi bảo tôi: ‘Hãy vác giường ngươi và đi.’ ”
Họ hỏi: “Ai là người bảo anh: ‘Hãy vác giường và đi’?”
Nhưng người được chữa lành không biết là ai, vì Đức Chúa Jêsus đã lẩn vào đám đông tại đó.
Sau đó, Đức Chúa Jêsus gặp người nầy trong đền thờ thì nói với anh ta: “Nầy, ngươi đã được lành bệnh rồi, đừng phạm tội nữa, e có điều càng tệ hơn xảy đến cho ngươi chăng.”
Người nầy đi nói với những người Do Thái rằng Đức Chúa Jêsus là người đã chữa bệnh cho mình.
Do đó, người Do Thái bắt bớ Đức Chúa Jêsus, vì Ngài làm những việc nầy trong ngày sa-bát.
Nhưng Ngài phán với họ: “Cha Ta vẫn đang làm việc cho đến bây giờ, Ta cũng làm việc như vậy.”
Vì thế, người Do Thái càng tìm cách giết Ngài, vì Ngài không chỉ phá luật ngày sa-bát mà còn gọi Đức Chúa Trời là Cha, tự cho mình bình đẳng với Đức Chúa Trời.
Bởi vậy, Đức Chúa Jêsus nói với họ: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, Con không thể tự mình làm điều gì, nhưng chỉ làm điều Con thấy Cha làm; vì bất cứ điều gì Cha làm, Con cũng làm như vậy.
Vì Cha yêu thương Con và bày tỏ cho Con mọi điều Cha làm. Cha sẽ còn bày tỏ cho Con những việc vĩ đại hơn những việc nầy nữa để các ngươi phải kinh ngạc.
Như Cha đã khiến những người chết sống lại thể nào thì Con cũng ban sự sống cho người nào Con muốn thể ấy.
Cha cũng không phán xét ai hết, nhưng giao trọn quyền phán xét cho Con,
để mọi người đều tôn kính Con cũng như tôn kính Cha vậy. Ai không tôn kính Con thì cũng không tôn kính Cha là Đấng đã sai Con đến.
Thật, Ta bảo thật các ngươi, ai nghe lời Ta và tin Đấng đã sai Ta thì được sự sống đời đời và không bị phán xét, nhưng vượt khỏi sự chết mà vào sự sống.
Thật, Ta bảo thật các ngươi, giờ sắp đến, và đã đến rồi, khi những người chết sẽ nghe tiếng Con Đức Chúa Trời, và những người nghe sẽ sống.
Vì như Cha có sự sống trong chính mình thể nào thì Cha cũng ban cho Con sự sống trong chính mình thể ấy.
Cha đã trao thẩm quyền thi hành sự phán xét cho Con, vì Con là Con Người.
Đừng kinh ngạc về điều nầy, vì giờ sắp đến, khi tất cả những người ở trong mồ mả sẽ nghe tiếng Ngài và bước ra;
ai đã làm điều lành thì sống lại để được sống, ai đã làm điều dữ thì sống lại để bị phán xét.
Ta không thể tự mình làm điều gì; Ta phán xét theo điều Ta nghe, và sự phán xét của Ta là công minh, vì Ta không tìm ý riêng mình, nhưng tìm ý của Đấng đã sai Ta.
Nếu Ta tự làm chứng cho mình thì lời chứng của Ta không đáng tin.
Có Đấng khác làm chứng cho Ta; Ta biết lời Đấng ấy làm chứng về Ta là thật.
Các ngươi phái người đến với Giăng, và Giăng đã làm chứng cho chân lý.
Không phải Ta cần nhờ vào lời chứng của loài người, nhưng Ta nói những điều nầy để các ngươi được cứu.
Giăng là ngọn đèn thắp sáng, còn các ngươi thì muốn tạm vui hưởng trong ánh sáng của người.
Nhưng Ta có một lời chứng vĩ đại hơn của Giăng; vì những công việc Cha giao cho Ta hoàn tất, chính những công việc Ta đang thực hiện đây, làm chứng rằng Cha đã sai Ta.
Chính Cha, Đấng đã sai Ta, cũng làm chứng cho Ta. Các ngươi chưa hề nghe tiếng Ngài, hoặc thấy hình dạng Ngài,
và lời Ngài cũng không ở trong các ngươi, vì các ngươi không tin Đấng Ngài đã sai đến.
Các ngươi tra cứu Kinh Thánh, vì nghĩ rằng trong đó có sự sống đời đời. Chính Kinh Thánh làm chứng về Ta,
vậy mà các ngươi không muốn đến với Ta để được sự sống đời đời.
Ta không cầu vinh quang nơi loài người,
nhưng Ta biết các ngươi không có tình yêu thương của Đức Chúa Trời ở trong chính mình.
Ta đã nhân danh Cha Ta mà đến, nhưng các ngươi không tiếp nhận Ta, nếu có ai khác nhân danh chính mình mà đến thì các ngươi sẽ tiếp nhận.
Các ngươi vẫn nhận vinh quang của nhau, không tìm cầu vinh quang đến từ Đức Chúa Trời duy nhất thì làm sao các ngươi tin được?
Đừng nghĩ rằng Ta sẽ tố cáo các ngươi trước mặt Cha. Người sẽ tố cáo các ngươi là Môi-se, người mà các ngươi đặt hi vọng.
Nếu các ngươi tin Môi-se thì cũng tin Ta, vì Môi-se viết về Ta.
Nhưng nếu các ngươi không tin những lời Môi-se viết thì làm thế nào các ngươi tin lời Ta được?”
Sau đó, Đức Chúa Jêsus đi qua bờ bên kia biển Ga-li-lê, tức là biển Ti-bê-ri-át.
Một đoàn người rất đông đi theo Ngài, vì họ đã từng thấy các dấu lạ Ngài làm cho những người bệnh.
Đức Chúa Jêsus lên núi và ngồi đó với các môn đồ.
Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua, là đại lễ của dân Do Thái.
Đức Chúa Jêsus ngước mắt lên, thấy một đoàn người rất đông đến với Ngài, Ngài nói với Phi-líp: “Chúng ta phải mua bánh ở đâu để cho những người nầy ăn?”
Ngài nói như vậy để thử Phi-líp chứ Ngài đã biết điều mình sẽ làm rồi.
Phi-líp thưa: “Hai trăm đơ-ni-ê bánh cũng không đủ cho mỗi người một ít.”
Anh-rê, em của Si-môn Phi-e-rơ, một trong các môn đồ, thưa rằng:
“Có một cậu bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng đông người như thế nầy thì ngần ấy có thấm vào đâu?”
Đức Chúa Jêsus bảo: “Hãy truyền cho mọi người ngồi xuống.” Chỗ nầy có nhiều cỏ. Vậy dân chúng ngồi xuống, số lượng ước chừng năm nghìn.
Đức Chúa Jêsus cầm bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người đã ngồi, cá cũng được phân phát như vậy, ai muốn bao nhiêu tùy ý.
Khi họ ăn đã no, Ngài bảo các môn đồ: “Hãy thu nhặt lại những miếng bánh thừa để không bị mất chút nào.”
Vậy, họ thu nhặt hết những miếng vụn của năm chiếc bánh lúa mạch mà người ta ăn còn thừa, chứa đầy mười hai giỏ.
Những người thấy dấu lạ Đức Chúa Jêsus đã làm thì nói: “Đây chính là Đấng tiên tri phải đến thế gian.”
Đức Chúa Jêsus nhận biết rằng họ sắp đến bắt ép Ngài làm vua nên lánh lên núi một mình.
Đến chiều tối, các môn đồ ra biển,
lên một chiếc thuyền, đi sang bờ bên kia, về hướng thành Ca-bê-na-um. Trời đã tối, nhưng Đức Chúa Jêsus vẫn chưa đến với họ.
Biển động vì gió thổi mạnh.
Khi họ chèo được khoảng năm hay sáu ki-lô-mét thì thấy Đức Chúa Jêsus đi trên mặt biển đến gần thuyền. Họ hoảng sợ.
Nhưng Ngài bảo rằng: “Ta đây, đừng sợ!”
Họ muốn rước Ngài vào thuyền thì lập tức thuyền cập bến, là nơi họ định đi.
Ngày hôm sau, dân chúng ở bờ biển bên kia nhận ra rằng ở đó chỉ có một chiếc thuyền, và Đức Chúa Jêsus không xuống thuyền với các môn đồ, chỉ có các môn đồ đi mà thôi.
Nhưng có những chiếc thuyền khác từ Ti-bê-ri-át đến đậu gần nơi họ đã ăn bánh sau khi Chúa tạ ơn.
Vậy, khi đoàn dân thấy Đức Chúa Jêsus không có ở đó, các môn đồ Ngài cũng không, thì họ lên thuyền đi đến thành Ca-bê-na-um để tìm Đức Chúa Jêsus.
Lúc gặp Ngài ở bờ biển bên kia, họ thưa rằng: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, các ngươi tìm Ta không phải vì đã thấy các dấu lạ, nhưng vì các ngươi đã được ăn bánh no nê.
Đừng làm việc vì thức ăn hay hư nát, mà vì thức ăn còn mãi đến sự sống đời đời, là thức ăn Con Người sẽ ban cho các ngươi; vì ấy là Đấng mà Đức Chúa Trời, là Cha, đã ấn chứng cho.”
Họ thưa: “Chúng tôi phải làm gì để được làm công việc của Đức Chúa Trời?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Công việc của Đức Chúa Trời là các ngươi tin Đấng mà Ngài đã sai đến.”
Họ lại nói: “Thế thì, Thầy làm dấu lạ gì để chúng tôi thấy và tin? Thầy làm công việc gì?
Tổ phụ chúng ta đã ăn ma-na trong hoang mạc, như lời đã chép: ‘Ngài cho họ ăn bánh từ trời.’ ”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, không phải Môi-se đã cho các ngươi bánh từ trời đâu; nhưng chính Cha Ta đã ban cho các ngươi bánh thật từ trời.
Vì bánh của Đức Chúa Trời là bánh từ trời xuống, ban sự sống cho thế gian.”
Họ nói: “Thưa Chúa, xin ban bánh ấy cho chúng tôi luôn luôn.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Ta là bánh của sự sống. Ai đến với Ta chẳng hề đói, ai tin Ta chẳng hề khát.
Nhưng Ta đã nói với các ngươi rằng: Các ngươi đã thấy Ta, mà vẫn không tin.
Tất cả những người Cha Ta ban cho Ta đều đến với Ta; ai đến với Ta, Ta sẽ không bỏ ra ngoài đâu.
Vì Ta từ trời xuống, không phải để làm theo ý Ta, mà làm theo ý Đấng đã sai Ta.
Đây là ý muốn của Đấng đã sai Ta: Tất cả những người Ngài đã ban cho Ta thì Ta sẽ không để mất một ai, nhưng Ta phải làm cho sống lại trong ngày cuối cùng.
Vì đây là ý muốn của Cha Ta: Tất cả những ai thấy Con và tin Con thì được sự sống đời đời, Ta sẽ làm cho người ấy sống lại trong ngày cuối cùng.”
Nhưng các người Do Thái phàn nàn về Ngài, vì Ngài nói: “Ta là bánh từ trời xuống.”
Họ nói: “Chẳng phải người nầy là Jêsus, con của Giô-sép sao? Cha mẹ ông ta, chúng ta biết cả, sao bây giờ ông ấy lại nói: ‘Ta từ trời xuống’?”
Đức Chúa Jêsus bảo họ: “Các ngươi đừng xầm xì với nhau nữa.
Nếu Cha, là Đấng đã sai Ta, không kéo đến thì không ai có thể đến với Ta, và Ta sẽ làm cho người ấy sống lại trong ngày cuối cùng.
Các sách tiên tri có chép: ‘Tất cả đều sẽ được Đức Chúa Trời dạy dỗ.’ Bất cứ ai đã nghe và học nơi Cha thì đến với Ta.
Chưa hề có ai đã thấy Cha, ngoại trừ Đấng từ Đức Chúa Trời đến; Đấng ấy đã thấy Cha.
Thật, Ta bảo thật các ngươi, ai tin thì được sự sống đời đời.
Ta là bánh của sự sống.
Tổ phụ các ngươi đã ăn ma-na trong hoang mạc rồi cũng chết.
Đây là bánh từ trời xuống, để ai ăn thì không chết.
Ta là bánh sự sống từ trời xuống; nếu ai ăn bánh nầy thì sẽ sống đời đời. Bánh mà Ta sẽ ban cho vì sự sống của thế gian chính là thịt Ta.”
Vì vậy, có cuộc tranh cãi giữa những người Do Thái với nhau. Họ nói: “Làm sao ông ta có thể lấy thịt mình cho chúng ta ăn được?”
Đức Chúa Jêsus bảo họ: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, nếu các ngươi không ăn thịt và uống huyết Con Người thì không có sự sống đời đời trong các ngươi đâu.
Ai ăn thịt và uống huyết Ta thì được sự sống đời đời; Ta sẽ khiến người ấy sống lại trong ngày cuối cùng.
Vì thịt Ta thật là thức ăn, huyết Ta thật là thức uống.
Ai ăn thịt Ta và uống huyết Ta thì ở trong Ta, và Ta ở trong người ấy.
Như Cha hằng sống đã sai Ta, và Ta nhờ Ngài mà sống thể nào thì người ăn Ta cũng sẽ nhờ Ta mà sống thể ấy.
Đây là bánh từ trời xuống, không như bánh tổ phụ các ngươi ăn rồi chết; người nào ăn bánh nầy sẽ sống đời đời.”
Đức Chúa Jêsus nói những điều nầy khi đang dạy dỗ trong nhà hội tại thành Ca-bê-na-um.
Nhiều môn đồ của Ngài nghe điều nầy thì nói: “Lời nầy khó quá, ai mà nghe được?”
Nhưng Đức Chúa Jêsus tự biết các môn đồ đang xầm xì về điều nầy nên nói rằng: “Điều nầy làm cho các con vấp phạm sao?
Vậy, nếu như các con thấy Con Người lên nơi Ngài vốn ở trước kia thì sao?
Chính thần linh làm cho sống, xác thịt chẳng ích gì. Những lời Ta nói với các con là thần linh và sự sống.
Nhưng có vài người trong các con không tin.” Vì ngay từ đầu, Đức Chúa Jêsus đã biết ai là những người không tin và ai là kẻ phản Ngài.
Ngài lại nói: “Vì vậy, Ta đã bảo các con rằng nếu Cha không ban cho thì không ai có thể đến với Ta được.”
Từ lúc ấy, nhiều môn đồ thối lui, không theo Ngài nữa.
Đức Chúa Jêsus nói với mười hai môn đồ: “Còn các con cũng muốn thối lui chăng?”
Si-môn Phi-e-rơ đáp: “Thưa Chúa, chúng con sẽ theo ai? Chúa có lời của sự sống đời đời.
Chúng con đã tin và nhận biết rằng Chúa là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Chẳng phải Ta đã chọn các con là mười hai môn đồ sao? Thế mà một người trong các con là quỷ?”
Ngài nói về Giu-đa, con của Si-môn Ích-ca-ri-ốt, là một trong mười hai môn đồ; chính người nầy về sau sẽ phản Ngài.
Sau các việc đó, Đức Chúa Jêsus đi trong miền Ga-li-lê; Ngài không muốn đi trong miền Giu-đê vì người Do Thái đang tìm giết Ngài.
Lễ Lều Tạm của dân Do Thái đã đến gần.
Vì vậy, các em của Đức Chúa Jêsus nói với Ngài rằng: “Anh hãy rời nơi nầy và đi qua miền Giu-đê để các môn đồ của anh được thấy công việc anh làm,
vì không ai muốn được mọi người biết đến mà lại làm việc âm thầm cả. Nếu anh làm những việc ấy thì hãy bày tỏ chính mình cho thiên hạ biết đi.”
Ngay cả các em Ngài cũng không tin Ngài.
Đức Chúa Jêsus nói với họ: “Thì giờ của anh chưa đến, nhưng thì giờ của các em thì luôn có sẵn.
Thế gian không thể ghét các em nhưng ghét anh, vì anh đã chứng minh cho thế gian biết rằng công việc của họ là xấu xa.
Các em hãy lên dự lễ, còn anh chưa lên dự lễ nầy vì thì giờ của anh chưa trọn.”
Nói xong, Ngài cứ ở lại miền Ga-li-lê.
Nhưng sau khi các em Ngài đã lên dự lễ rồi thì Ngài cũng lên, nhưng đi cách âm thầm chứ không công khai.
Những người Do Thái tìm Ngài trong kỳ lễ, và nói: “Ông ta ở đâu?”
Có nhiều tiếng xầm xì về Ngài giữa đám đông. Kẻ thì nói: “Ông ấy là người tốt;” người khác lại bảo: “Không, ông ta là kẻ lừa dối dân chúng.”
Nhưng vì sợ người Do Thái nên không ai dám nói về Ngài cách công khai.
Vào giữa kỳ lễ, Đức Chúa Jêsus đi lên đền thờ và dạy dỗ.
Những người Do Thái rất kinh ngạc nói rằng: “Người nầy chưa từng học, làm sao lại biết được Kinh Thánh?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Đạo lý của Ta không phải của riêng Ta, nhưng của Đấng đã sai Ta đến.
Nếu ai sẵn lòng làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời thì sẽ biết lời Ta dạy đến từ Đức Chúa Trời hay Ta tự nói theo ý mình.
Người nào tự nói theo ý mình thì tìm vinh quang cho riêng mình, còn ai tìm vinh quang cho Đấng đã sai mình là người chân thật, trong người ấy không có điều gì bất chính.
Chẳng phải Môi-se đã ban luật pháp cho các ngươi sao? Nhưng không một ai trong các ngươi tuân theo luật pháp. Tại sao các ngươi lại tìm giết Ta?”
Dân chúng trả lời: “Ông bị quỷ ám rồi! Nào có ai tìm giết ông đâu?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Ta đã làm một việc mà tất cả các ngươi đều kinh ngạc.
Môi-se đã ban bố luật cắt bì cho các ngươi (thật ra luật đó không phải bởi Môi-se mà bởi các tổ phụ), và các ngươi cắt bì cho người nam trong ngày sa-bát.
Nếu người nam phải chịu cắt bì trong ngày sa-bát để khỏi phạm luật Môi-se thì sao các ngươi lại nổi giận khi Ta chữa lành cả thân thể cho một người trong ngày sa-bát?
Đừng xét đoán theo bề ngoài, nhưng hãy xét đoán theo lẽ công chính.”
Có vài người dân thành Giê-ru-sa-lem nói rằng: “Đây chẳng phải là người mà người ta tìm giết sao?
Xem kìa, ông ta nói một cách công khai mà họ không nói gì ông ta cả! Phải chăng những người có thẩm quyền đã thật sự biết ông ta là Đấng Christ?
Nhưng khi Đấng Christ đến thì không ai biết Ngài từ đâu đến, còn ông nầy thì chúng ta biết đến từ đâu.”
Khi đang dạy dỗ trong đền thờ, Đức Chúa Jêsus công bố: “Các ngươi biết Ta và cũng biết Ta từ đâu đến! Ta không tự mình đến, nhưng Đấng đã sai Ta đến là chân thật mà các ngươi không biết Ngài.
Còn Ta thì biết Ngài vì Ta từ Ngài đến, và Ngài là Đấng đã sai Ta.”
Vậy họ tìm cách bắt Ngài, nhưng không ai tra tay trên Ngài được vì giờ Ngài chưa đến.
Nhưng có nhiều người trong dân chúng tin Ngài và nói rằng: “Khi Đấng Christ đến, Ngài sẽ làm nhiều dấu lạ hơn người nầy đã làm không?”
Người Pha-ri-si nghe những điều dân chúng xầm xì về Đức Chúa Jêsus nên họ và các thầy tế lễ cả sai các viên chức bảo vệ đền thờ đi bắt Ngài.
Vì vậy, Đức Chúa Jêsus nói rằng: “Ta còn ở với các ngươi ít lâu nữa, rồi Ta trở về với Đấng đã sai Ta.
Các ngươi sẽ tìm Ta nhưng không gặp; nơi Ta ở, các ngươi không thể đến được.”
Những người Do Thái nói với nhau: “Người nầy định đi đâu mà chúng ta không tìm được? Có phải ông ta định đến với những kiều bào lưu lạc giữa những người Hi Lạp và dạy người Hi Lạp chăng?
Ông ta có ý gì khi nói: ‘Các ngươi sẽ tìm Ta nhưng không gặp,’ và ‘nơi Ta ở, các ngươi không thể đến được’?”
Ngày cuối cùng là ngày rất quan trọng của kỳ lễ, Đức Chúa Jêsus đứng dậy và công bố rằng: “Nếu người nào khát, hãy đến với Ta mà uống.
Người nào tin Ta thì những dòng sông sự sống sẽ tuôn tràn từ lòng mình, đúng như Kinh Thánh đã nói.”
Ngài nói điều nầy chỉ về Thánh Linh mà những người tin Ngài sẽ nhận được; bởi Thánh Linh chưa giáng xuống, vì Đức Chúa Jêsus chưa được tôn vinh.
Khi đoàn dân nghe những lời nầy, một số người nói: “Đây thật là một nhà tiên tri.”
Một số khác nói: “Đây là Đấng Christ.” Nhưng một số khác nữa lại nói: “Đấng Christ mà lại đến từ miền Ga-li-lê sao?
Chẳng phải Kinh Thánh nói rằng Đấng Christ xuất thân từ dòng Đa-vít và đến từ Bết-lê-hem, là làng của Đa-vít sao?”
Như thế, vì Ngài mà dân chúng chia rẽ nhau.
Một số người trong dân chúng muốn bắt Ngài, nhưng không ai tra tay trên Ngài.
Vì vậy, các viên chức bảo vệ đền thờ trở về với các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si. Những người nầy hỏi họ: “Sao các anh không giải ông ta về đây?”
Những viên chức nầy trả lời: “Chưa bao giờ có người nào đã nói như người nầy.”
Những người Pha-ri-si nói với họ: “Các anh cũng bị lừa dối sao?
Có ai trong số các quan quyền hay những người Pha-ri-si tin ông ta chăng?
Còn đám dân chúng nầy chẳng biết luật pháp gì cả, thật đáng bị rủa sả!”
Ni-cô-đem, người trước đây đã đến với Đức Chúa Jêsus, là một người trong nhóm Pha-ri-si, nói với họ:
“Luật của chúng ta có kết tội một người mà trước đó chưa nghe lời khai và chưa biết người ấy làm gì không?”
Họ đáp: “Ông cũng là người Ga-li-lê sao? Ông hãy tra cứu thì sẽ thấy rằng không có một nhà tiên tri nào ra từ miền Ga-li-lê cả.” [
Rồi mọi người đều trở về nhà mình.
Còn Đức Chúa Jêsus lên núi Ô-liu.
Đến tảng sáng, Ngài trở lại đền thờ. Cả đoàn dân đều đến với Ngài; Ngài ngồi xuống giảng dạy cho họ.
Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si đem một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình, để người nầy đứng ở giữa
và nói với Ngài: “Thưa Thầy, người đàn bà nầy bị bắt quả tang đang ngoại tình.
Trong luật pháp, Môi-se truyền cho chúng ta phải ném đá những người như vậy. Còn Thầy thì nói thế nào?”
Họ nói như thế để thử Ngài, nhằm có cớ tố cáo Ngài. Đức Chúa Jêsus cúi xuống, dùng ngón tay viết trên đất.
Vì họ cứ hỏi mãi nên Ngài ngước lên và nói: “Ai trong các ngươi là người không có tội, hãy lấy đá ném vào chị ấy trước đi.”
Rồi Ngài lại cúi xuống viết trên đất.
Khi họ nghe điều nầy thì lần lượt bỏ đi, những người cao tuổi đi trước. Đức Chúa Jêsus ở lại một mình với người phụ nữ vẫn đang đứng giữa đó.
Đức Chúa Jêsus ngước lên nói với người phụ nữ: “Nầy chị kia, họ đâu cả rồi? Không ai kết án chị sao?”
Người phụ nữ đáp: “Thưa Chúa, không ai cả.” Đức Chúa Jêsus phán: “Ta cũng không kết án chị đâu; hãy đi, đừng phạm tội nữa.”]
Đức Chúa Jêsus lại nói với dân chúng rằng: “Ta là ánh sáng của thế gian, người nào theo Ta sẽ không đi trong bóng tối, nhưng có ánh sáng của sự sống.”
Những người Pha-ri-si nói: “Thầy tự làm chứng cho mình thì lời chứng của Thầy không đáng tin.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Cho dù Ta tự làm chứng cho mình đi nữa thì lời chứng của Ta vẫn đáng tin, vì Ta biết mình từ đâu đến và đang đi đâu. Nhưng các ngươi không biết Ta đến từ đâu và đang đi đâu.
Các ngươi xét đoán theo xác thịt, còn Ta không xét đoán ai hết.
Tuy nhiên, nếu Ta xét đoán thì sự xét đoán của Ta vẫn xác thực vì Ta không phải chỉ có một mình, nhưng Ta cùng Cha là Đấng đã sai Ta.
Trong luật pháp của các ngươi có chép rằng lời chứng của hai người là xác thực.
Ta tự làm chứng cho mình, và Cha là Đấng đã sai Ta cũng làm chứng cho Ta.”
Vì vậy, họ hỏi Ngài: “Cha của Thầy ở đâu?” Đức Chúa Jêsus đáp: “Các ngươi không biết Ta, cũng không biết Cha Ta. Nếu các ngươi biết Ta thì cũng biết Cha Ta nữa.”
Đức Chúa Jêsus phán những lời nầy tại nơi đặt các thùng tiền dâng, lúc đang giảng dạy trong đền thờ. Nhưng không ai bắt Ngài vì giờ Ngài chưa đến.
Ngài lại nói với họ: “Ta đi, các ngươi sẽ tìm Ta, và các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình. Nơi Ta đi, các ngươi không thể đến được.”
Những người Do Thái nói: “Liệu ông ta sẽ tự tử chăng, khi nói rằng: ‘Nơi Ta đi, các ngươi không đến được’?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Các ngươi ra từ dưới, còn Ta đến từ trên. Các ngươi ra từ thế gian nầy, còn Ta không ra từ thế gian nầy.
Vì thế, Ta đã bảo các ngươi rằng các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình; vì nếu các ngươi không tin Ta là Đấng Hằng Hữu thì các ngươi sẽ chết trong tội lỗi mình.”
Họ hỏi Ngài rằng: “Vậy Thầy là ai?” Đức Chúa Jêsus đáp: “Như Ta đã nói với các ngươi từ lúc đầu.
Ta có nhiều điều để nói và xét đoán về các ngươi; nhưng Đấng đã sai Ta đến là thật, và Ta công bố cho thế gian những gì Ta đã nghe nơi Ngài.”
Họ không hiểu rằng Ngài đang nói về Cha cho họ.
Vì vậy, Đức Chúa Jêsus nói rằng: “Khi các ngươi treo Con Người lên, lúc ấy các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đấng Hằng Hữu, và biết Ta không tự mình làm điều gì, nhưng chỉ công bố những điều Cha dạy Ta.
Đấng đã sai Ta vẫn ở với Ta, không để Ta một mình, vì Ta luôn luôn làm những điều đẹp lòng Ngài.”
Khi Ngài nói những điều nầy thì nhiều người tin Ngài.
Vậy, Đức Chúa Jêsus nói với những người Do Thái đã tin Ngài rằng: “Nếu các ngươi cứ ở trong lời của Ta, thì các ngươi thật là môn đồ Ta.
Các ngươi sẽ biết chân lý, và chân lý sẽ giải phóng các ngươi.”
Những người Do Thái nói: “Chúng tôi là dòng dõi Áp-ra-ham, chưa từng làm nô lệ ai, sao Thầy lại nói: ‘Các ngươi sẽ được tự do’?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, ai phạm tội là nô lệ cho tội lỗi.
Nô lệ thì không ở mãi trong nhà, nhưng con cái thì ở đó mãi mãi.
Vậy, nếu Con giải phóng các ngươi thì các ngươi thật sự được tự do.
Ta biết các ngươi là dòng dõi Áp-ra-ham, nhưng các ngươi lại tìm cách giết Ta, vì lời Ta không có chỗ trong các ngươi.
Ta nói những điều Ta thấy nơi Cha Ta, còn các ngươi làm những điều các ngươi nghe nơi cha mình.”
Họ trả lời: “Cha chúng tôi là Áp-ra-ham.” Đức Chúa Jêsus nói: “Nếu các ngươi là con Áp-ra-ham thì phải làm những điều Áp-ra-ham đã làm.
Nhưng bây giờ các ngươi tìm giết Ta, là người đã nói cho các ngươi chân lý nghe được từ Đức Chúa Trời. Áp-ra-ham đã không làm những việc như thế.
Các ngươi làm những công việc của cha mình.” Họ nói: “Chúng tôi không phải là con ngoại tình, chúng tôi chỉ có một Cha, là Đức Chúa Trời.”
Ngài bảo họ: “Nếu Đức Chúa Trời là Cha các ngươi, thì các ngươi phải yêu thương Ta; vì Ta ra từ Đức Chúa Trời và từ Ngài mà đến, bởi Ta không tự mình đến, nhưng chính Ngài đã sai Ta.
Tại sao các ngươi không thể hiểu điều Ta nói? Vì các ngươi không thể nghe được lời của Ta.
Các ngươi ra từ cha mình là ma quỷ, và muốn làm theo dục vọng của cha mình. Ngay từ đầu nó đã là kẻ giết người, và không đứng trong chân lý vì chân lý không ở trong nó. Khi nó nói dối thì nói theo bản tính của mình, vì nó là kẻ nói dối và là cha của sự nói dối.
Nhưng vì Ta nói chân lý nên các ngươi không tin Ta.
Có ai trong các ngươi kết tội Ta được không? Nếu Ta nói chân lý, sao các ngươi không tin Ta?
Ai ra từ Đức Chúa Trời thì nghe lời Đức Chúa Trời. Sở dĩ các ngươi không nghe, vì các ngươi không thuộc về Đức Chúa Trời.”
Những người Do Thái đáp: “Chúng tôi nói Thầy là người Sa-ma-ri và bị quỷ ám, không đúng lắm sao?”
Đức Chúa Jêsus trả lời: “Ta không bị quỷ ám, nhưng Ta tôn vinh Cha Ta, còn các ngươi thì làm nhục Ta.
Ta không tìm vinh quang cho riêng mình; đã có Đấng tìm điều ấy và xét đoán.
Thật, Ta bảo thật các ngươi, nếu người nào giữ lời Ta thì sẽ không bao giờ thấy sự chết.”
Những người Do Thái nói: “Bây giờ, chúng tôi biết rõ Thầy bị quỷ ám. Áp-ra-ham đã chết, các nhà tiên tri cũng vậy; thế mà Thầy nói: ‘Nếu người nào giữ lời Ta sẽ không bao giờ nếm trải sự chết.’
Có phải Thầy vĩ đại hơn Áp-ra-ham, tổ phụ chúng tôi, là người đã chết rồi chăng? Các nhà tiên tri cũng đã chết! Thầy tự cho mình là ai?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Nếu Ta tự tôn vinh mình thì vinh quang của Ta chẳng ra gì. Chính Cha tôn vinh Ta, Ngài là Đấng các ngươi gọi là Đức Chúa Trời của mình.
Các ngươi không biết Ngài nhưng Ta biết Ngài. Nếu Ta nói Ta không biết Ngài thì Ta cũng nói dối như các ngươi. Nhưng Ta thật biết Ngài và giữ lời Ngài.
Cha các ngươi là Áp-ra-ham vui mừng mong được thấy ngày của Ta; người đã thấy và mừng rỡ.”
Những người Do Thái nói: “Thầy chưa đầy năm mươi tuổi mà đã thấy Áp-ra-ham!”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, trước khi Áp-ra-ham hiện hữu, Ta hằng hữu.”
Họ liền nhặt đá để ném Ngài, nhưng Đức Chúa Jêsus lánh đi, và ra khỏi đền thờ.
Đang khi đi đường, Đức Chúa Jêsus thấy một người mù từ lúc mới sinh.
Các môn đồ hỏi Ngài: “Thưa Thầy, ai là người đã phạm tội, người nầy hay cha mẹ anh ta, khiến anh ta mới sinh ra đã bị mù?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Không phải vì anh nầy, hay cha mẹ anh đã phạm tội; nhưng để công việc của Đức Chúa Trời được tỏ ra trong anh ta.
Lúc còn ban ngày, chúng ta phải làm những công việc của Đấng đã sai Ta; đêm đến, không ai có thể làm việc được.
Đang lúc Ta còn ở thế gian, Ta là ánh sáng của thế gian.”
Nói xong, Ngài nhổ xuống đất, lấy nước bọt hòa thành bùn và bôi vào mắt người mù,
rồi bảo anh ta: “Hãy đi và rửa nơi hồ Si-lô-ê” (từ nầy có nghĩa là “được sai đi”). Vậy, anh ta đi và rửa, rồi trở lại thì thấy được.
Láng giềng và những người trước đây đã thấy anh ăn xin, nói rằng: “Đây có phải là người vẫn ngồi ăn xin đó không?”
Người thì nói: “Đúng là anh ta”; kẻ lại bảo: “Không phải, nhưng là một người nào đó giống anh ta.” Còn anh ta nói: “Chính tôi đây.”
Họ hỏi anh ta: “Thế thì, làm sao mắt anh lại mở ra được?”
Anh đáp: “Một người tên là Jêsus đã hòa bùn bôi vào mắt tôi, và bảo tôi hãy đi đến hồ Si-lô-ê mà rửa. Vậy tôi đã đi, rửa và thấy được.”
Họ lại hỏi: “Ông ấy ở đâu?” Anh đáp: “Tôi không biết.”
Họ dẫn người trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-si.
Ngày Đức Chúa Jêsus hòa bùn và mở mắt cho người mù là ngày sa-bát.
Những người Pha-ri-si lại hỏi anh được sáng mắt cách nào. Anh đáp: “Ông ấy bôi bùn vào mắt tôi, tôi rửa, rồi thấy được.”
Vài người trong nhóm Pha-ri-si nói: “Người nầy không phải đến từ Đức Chúa Trời, vì không giữ ngày sa-bát.” Số khác thì nói: “Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy?” Và giữa họ có sự chia rẽ.
Vì vậy, họ lại hỏi người mù: “Còn anh, anh nói gì về người đã làm cho anh sáng mắt?” Anh đáp: “Ông ấy là một nhà tiên tri.”
Tuy nhiên, người Do Thái không tin rằng người nầy trước đây đã mù mà nay lại thấy được, cho đến lúc họ gọi cha mẹ anh ta đến
và hỏi rằng: “Đây có phải là con trai ông bà, người mà ông bà nói đã bị mù từ lúc mới sinh không? Thế sao bây giờ anh ta lại thấy được?”
Cha mẹ anh ta trả lời: “Chúng tôi biết đây chính là con trai chúng tôi, cháu bị mù từ lúc mới sinh.
Nhưng bây giờ làm thế nào cháu thấy được thì chúng tôi không biết. Chúng tôi cũng không biết ai đã mở mắt cho cháu. Các ông cứ hỏi cháu, cháu đã đủ tuổi rồi, nó sẽ tự nói.”
Cha mẹ người mù nói vậy vì sợ người Do Thái, vì người Do Thái đã thỏa thuận rằng nếu ai xưng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ thì bị khai trừ khỏi nhà hội.
Vì vậy, cha mẹ người mù mới nói: “Cháu đủ tuổi rồi, cứ hỏi nó.”
Một lần nữa, những người Pha-ri-si lại gọi người trước đây đã bị mù, và nói: “Hãy tôn vinh Đức Chúa Trời! Chúng tôi biết người nầy là kẻ có tội.”
Anh trả lời: “Tôi không biết ông ấy có phải là kẻ có tội hay không. Nhưng tôi chỉ biết một điều, ấy là trước tôi đã mù mà bây giờ thấy được.”
Họ lại hỏi: “Ông ta đã làm gì cho anh? Ông ta đã mở mắt anh ra sao?”
Anh đáp: “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không chịu nghe. Tại sao các ông lại muốn nghe nữa? Có phải các ông cũng muốn trở nên môn đồ của ông ấy không?”
Họ lăng mạ anh ta và nói: “Mầy mới là môn đồ của ông ấy, chứ chúng ta là môn đồ của Môi-se.
Chúng ta biết Đức Chúa Trời đã phán với Môi-se, nhưng về người nầy thì chúng ta không biết từ đâu đến.”
Người mù trả lời: “Người đã mở mắt cho tôi mà các ông không biết từ đâu đến thì quả là một việc lạ.
Chúng ta biết Đức Chúa Trời không nghe những kẻ có tội, nhưng nếu ai kính sợ Ngài, và làm theo ý muốn Ngài thì Ngài nghe người ấy.
Từ xưa đến giờ, chưa hề nghe nói có ai mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh.
Nếu người nầy không đến từ Đức Chúa Trời thì không thể làm được gì cả.”
Họ trả lời: “Cả con người của mầy vốn sinh ra trong tội lỗi mà còn muốn dạy chúng ta sao?” Rồi họ đuổi anh ta ra ngoài.
Đức Chúa Jêsus nghe họ đã đuổi anh ta ra, nên khi gặp anh, Ngài hỏi: “Anh có tin Con Người không?”
Anh trả lời: “Thưa Chúa, người ấy là ai, để tôi có thể tin vào người?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Anh đã thấy người, và ấy là người đang nói với anh.”
Anh nói: “Thưa Chúa, tôi tin,” rồi thờ lạy Ngài.
Đức Chúa Jêsus nói: “Ta đến thế gian nầy để phán xét, khiến cho người mù được thấy, còn kẻ thấy lại hóa mù.”
Những người Pha-ri-si đang ở gần đó nghe vậy thì nói với Ngài: “Chúng tôi cũng mù cả sao?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Nếu các ngươi mù thì không có tội gì, nhưng vì các ngươi nói: ‘Chúng tôi thấy,’ nên tội các ngươi vẫn còn.”
“Thật, Ta bảo thật các ngươi, người nào không do cửa mà vào chuồng chiên, lại trèo vào bằng lối khác thì người ấy là kẻ trộm cướp.
Nhưng ai do cửa mà vào là người chăn chiên.
Người canh gác mở cửa và chiên nghe tiếng người chăn. Người chăn gọi tên chiên mình và dẫn ra ngoài.
Khi đã đem chiên ra hết thì người chăn đi trước, chiên theo sau vì chiên quen tiếng người chăn.
Chiên không theo người lạ, trái lại, chúng bỏ chạy vì chiên không quen tiếng người lạ.”
Đức Chúa Jêsus kể ẩn dụ nầy cho họ, nhưng họ không hiểu Ngài muốn nói gì.
Vì vậy, Đức Chúa Jêsus lại nói: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, Ta là cửa của chiên.
Tất cả những người đến trước Ta đều là quân trộm cướp, nhưng chiên không nghe chúng.
Ta là cái cửa, nếu ai do Ta mà vào thì sẽ được cứu rỗi. Họ sẽ vào ra và gặp đồng cỏ.
Kẻ trộm chỉ đến để cướp, giết, và hủy diệt; còn Ta đã đến để chiên được sự sống và sự sống sung mãn.
Ta là người chăn nhân lành, người chăn nhân lành vì bầy chiên hi sinh mạng sống mình.
Kẻ chăn thuê không phải là người chăn; chiên không thuộc về nó nên khi thấy muông sói đến, nó bỏ chiên chạy trốn. Muông sói vồ lấy chiên và làm cho tan lạc.
Vì là kẻ chăn thuê nên nó không quan tâm gì đến chiên.
Ta là người chăn nhân lành. Ta biết chiên Ta, và chiên Ta biết Ta;
cũng như Cha biết Ta, và Ta biết Cha vậy. Ta vì bầy chiên mà hi sinh mạng sống mình.
Ta còn có những chiên khác không thuộc về chuồng nầy; Ta cần phải đem chúng về nữa. Chiên ấy sẽ nghe tiếng Ta, rồi sẽ chỉ có một bầy và một người chăn mà thôi.
Sở dĩ Cha yêu thương Ta, là vì Ta hi sinh mạng sống mình để được nhận lại.
Không ai cất mạng sống Ta đi được, nhưng Ta tự nguyện hi sinh. Ta có quyền hi sinh mạng sống và có quyền lấy lại. Ta đã nhận mệnh lệnh nầy từ nơi Cha Ta.”
Vì những lời nầy, những người Do Thái lại có sự chia rẽ.
Nhiều người trong số họ nói: “Ông ta bị quỷ ám, ông ta điên; sao còn nghe ông ta làm gì?”
Một số khác thì nói: “Đây không phải là những lời nói của một người bị quỷ ám. Làm sao quỷ có thể mở mắt cho người mù?”
Khi ấy tại thành Giê-ru-sa-lem có lễ kỷ niệm Cung Hiến Đền Thờ. Bấy giờ là mùa đông,
Đức Chúa Jêsus đang đi trong khuôn viên đền thờ, dưới hành lang Sa-lô-môn thì
những người Do Thái vây quanh Ngài và hỏi: “Thầy để chúng tôi phải chờ đợi đến bao giờ? Nếu Thầy là Đấng Christ thì hãy nói rõ cho chúng tôi đi.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Ta đã nói cho các ngươi rồi nhưng các ngươi không tin; những việc Ta thực hiện trong danh Cha đều làm chứng cho Ta.
Nhưng các ngươi không tin, vì các ngươi không phải là chiên của Ta.
Chiên Ta nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta.
Ta ban cho chúng sự sống đời đời, chúng chẳng hư mất bao giờ, và chẳng ai cướp được chúng khỏi tay Ta.
Cha Ta, Đấng vĩ đại hơn tất cả, đã cho Ta những chiên ấy, và chẳng ai cướp được chúng khỏi tay Cha.
Ta với Cha là một.”
Những người Do Thái lại nhặt đá để ném Ngài.
Đức Chúa Jêsus nói với họ: “Ta đã bày tỏ cho các ngươi nhiều việc tốt đẹp từ Cha. Vậy, vì cớ gì mà các ngươi ném đá Ta?”
Những người Do Thái đáp: “Chúng tôi không ném đá ông vì một việc tốt đẹp, nhưng vì lời phạm thượng; bởi ông là con người mà tự cho mình là Đức Chúa Trời.”
Đức Chúa Jêsus trả lời: “Chẳng phải trong luật pháp của các ngươi có chép: ‘Ta đã nói các ngươi là thần,’ hay sao?
Nếu luật pháp gọi những người nhận được lời của Đức Chúa Trời là thần, và lời Kinh Thánh không thể hủy bỏ được
thì Ta đây, Đấng được Cha biệt ra thánh và sai đến thế gian, tại sao các ngươi lại bảo Ta phạm thượng, khi Ta nói: ‘Ta là Con Đức Chúa Trời’?
Nếu Ta không làm những công việc của Cha Ta thì các người đừng tin Ta.
Còn nếu Ta làm thì dù các ngươi không tin Ta, hãy tin các công việc của Ta, để các ngươi có thể biết và hiểu rằng Cha ở trong Ta và Ta ở trong Cha.”
Họ lại tìm cách bắt Ngài, nhưng Ngài thoát khỏi tay họ.
Đức Chúa Jêsus lại đi qua bên kia sông Giô-đanh, đến nơi Giăng đã làm báp-têm đầu tiên, và ở lại đó.
Nhiều người đến với Ngài. Họ nói rằng: “Giăng không làm dấu lạ nào, nhưng tất cả những điều Giăng nói về người nầy đều là thật.”
Tại đó có nhiều người tin Ngài.
Có một người bệnh tên là La-xa-rơ, quê ở Bê-tha-ni, làng của Ma-ri và chị là Ma-thê.
Ma-ri là người đã xức dầu thơm cho Chúa và dùng tóc mình lau chân Ngài; chính anh cô là La-xa-rơ đang bị bệnh.
Vậy, hai chị em sai người đến thưa với Đức Chúa Jêsus rằng: “Thưa Chúa, người Chúa yêu thương đang bệnh.”
Nhưng khi Đức Chúa Jêsus nghe điều nầy thì nói rằng: “Bệnh nầy không đến nỗi chết đâu, nhưng ấy là vì vinh quang của Đức Chúa Trời, để Con Đức Chúa Trời nhờ đó được tôn vinh.”
Đức Chúa Jêsus yêu thương Ma-thê, em gái cô ấy, và La-xa-rơ.
Tuy nhiên, khi nghe La-xa-rơ bệnh thì Ngài ở nán lại hai ngày nữa tại nơi Ngài đang ở.
Sau đó, Ngài bảo các môn đồ: “Chúng ta hãy trở về miền Giu-đê.”
Các môn đồ thưa rằng: “Thưa Thầy, người Do Thái đang tìm ném đá Thầy mà sao bây giờ Thầy còn trở lại nơi ấy?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Không phải mỗi ngày có mười hai giờ sao? Nếu ai đi trong ban ngày thì không vấp, vì thấy ánh sáng của thế giới nầy.
Nhưng nếu ai đi trong ban đêm thì bị vấp, vì không có ánh sáng.”
Sau khi nói điều nầy, Đức Chúa Jêsus lại bảo: “La-xa-rơ, bạn của chúng ta, đang ngủ nhưng Ta đi đánh thức anh ấy.”
Các môn đồ thưa: “Thưa Chúa, nếu anh ấy ngủ, chắc sẽ khỏi bệnh.”
Đức Chúa Jêsus nói về sự chết của La-xa-rơ, nhưng các môn đồ lại tưởng Ngài nói về giấc ngủ bình thường.
Vì thế, Đức Chúa Jêsus nói rõ ràng với họ: “La-xa-rơ đã chết rồi.
Nhưng vì các con, Ta mừng bởi không có Ta tại đó để các con tin. Bây giờ, chúng ta hãy đi đến với anh ấy.”
Do đó, Thô-ma gọi là Đi-đim nói với các môn đồ khác rằng: “Chúng ta hãy đi đến đó cùng chết với Ngài.”
Khi đến nơi, Đức Chúa Jêsus thấy La-xa-rơ đã được chôn trong mộ bốn ngày rồi.
Làng Bê-tha-ni cách thành Giê-ru-sa-lem khoảng ba ki-lô-mét,
nên có nhiều người Do Thái đến an ủi Ma-thê và Ma-ri về anh của họ.
Khi Ma-thê nghe Đức Chúa Jêsus đến thì đi đón Ngài, còn Ma-ri vẫn ngồi ở nhà.
Ma-thê thưa với Đức Chúa Jêsus: “Thưa Chúa, nếu Chúa có ở đây thì anh con không chết.
Nhưng con biết, ngay cả bây giờ, bất cứ điều gì Thầy xin Đức Chúa Trời thì Đức Chúa Trời sẽ ban cho Thầy.”
Đức Chúa Jêsus nói: “Anh con sẽ sống lại.”
Ma-thê thưa: “Con biết rằng anh con sẽ sống lại trong kỳ phục sinh vào ngày cuối cùng.”
Đức Chúa Jêsus nói với Ma-thê: “Ta là sự sống lại và sự sống. Người nào tin Ta thì sẽ sống, mặc dù đã chết rồi.
Còn ai sống mà tin Ta thì sẽ không bao giờ chết. Con tin điều đó không?”
Ma-thê đáp: “Vâng, thưa Chúa, con tin rằng Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, Đấng phải đến thế gian.”
Nói xong, Ma-thê đi về, gọi riêng em gái là Ma-ri và nói: “Thầy đã ở đây rồi, và cho gọi em đó.”
Khi nghe điều nầy, Ma-ri vội vàng đứng dậy đến gặp Ngài.
Lúc ấy, Đức Chúa Jêsus chưa vào làng mà vẫn còn đứng tại nơi Ma-thê đã đón Ngài.
Khi những người Do Thái đang ở trong nhà với Ma-ri, để an ủi cô, thấy cô vội vàng đứng dậy đi ra thì đi theo, vì nghĩ rằng cô đi đến mộ để khóc.
Khi đến chỗ Đức Chúa Jêsus, vừa thấy Ngài thì Ma-ri phủ phục dưới chân Ngài và nói: “Thưa Chúa, nếu có Chúa ở đây thì anh con không chết.”
Đức Chúa Jêsus thấy Ma-ri khóc, và những người Do Thái đi với cô cũng khóc, thì trong lòng bồi hồi, xúc động và hỏi: “Các con đã chôn anh ấy ở đâu?”
Họ đáp: “Thưa Chúa, xin hãy đến xem.”
Đức Chúa Jêsus khóc.
Vì vậy, những người Do Thái nói: “Xem kìa, ông ấy yêu thương La-xa-rơ biết chừng nào!”
Nhưng vài người trong số họ nói: “Ông ấy đã mở mắt người mù, lại không thể làm cho người nầy khỏi chết sao?”
Đức Chúa Jêsus lại xúc động hơn nữa, liền đi đến phần mộ. Đó là một cái hang có một tảng đá chận lại.
Đức Chúa Jêsus bảo: “Hãy dời tảng đá đi.” Ma-thê, em gái của người quá cố, thưa rằng: “Thưa Chúa, đã có mùi, vì anh ấy nằm ở đây đã bốn ngày rồi.”
Đức Chúa Jêsus lại bảo: “Ta đã chẳng nói với con rằng, nếu con tin thì sẽ thấy vinh quang của Đức Chúa Trời sao?”
Vậy, họ dời tảng đá đi. Đức Chúa Jêsus ngước mắt lên và nói: “Thưa Cha, Con tạ ơn Cha, vì đã nhậm lời Con.
Con biết Cha luôn nhậm lời Con, nhưng Con nói điều nầy vì những người đang đứng quanh đây, để họ tin rằng Cha đã sai Con đến.”
Nói xong, Ngài kêu lớn: “Hỡi La-xa-rơ, hãy ra!”
Người chết đi ra, chân tay buộc vải liệm, mặt phủ một tấm khăn. Đức Chúa Jêsus bảo họ: “Hãy mở cho anh ấy, và để anh ấy đi.”
Nhiều người Do Thái đến thăm Ma-ri, thấy điều Đức Chúa Jêsus làm thì tin Ngài.
Nhưng có vài người trong số đó đi đến với người Pha-ri-si, kể cho họ những gì Đức Chúa Jêsus đã làm.
Vì vậy, các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si họp Hội đồng Công luận, và nói rằng: “Chúng ta phải làm gì đây? Người nầy thực hiện quá nhiều dấu lạ.
Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục như thế nầy thì tất cả sẽ tin ông ta, rồi người Rô-ma sẽ đến đánh chiếm cả nơi nầy lẫn đất nước chúng ta.”
Nhưng một người trong số họ là Cai-phe, thầy tế lễ thượng phẩm trong năm ấy, nói với họ: “Các ông chẳng biết gì cả!
Các ông không hiểu rằng, thà để một người chết thay cho dân, còn hơn cả dân tộc phải bị hủy diệt.”
Ông ta không tự nói điều đó, nhưng vì là thầy tế lễ thượng phẩm trong năm ấy, nên ông ta nói tiên tri về Đức Chúa Jêsus sẽ vì dân chịu chết,
không phải chỉ vì dân tộc nầy mà thôi, nhưng cũng để quy tụ những con cái của Đức Chúa Trời bị tan lạc lại làm một.
Từ ngày ấy, họ lập mưu để giết Ngài.
Vì thế, Đức Chúa Jêsus không đi lại một cách công khai giữa những người Do Thái, nhưng đi trong vùng gần hoang mạc, đến một thành gọi là Ép-ra-im và ở lại đó với các môn đồ.
Lễ Vượt Qua của dân Do Thái gần đến, nhiều người từ các vùng quê đi lên thành Giê-ru-sa-lem để thanh tẩy trước kỳ lễ.
Bấy giờ, họ tìm Đức Chúa Jêsus và đứng bàn tán với nhau trong đền thờ: “Anh em nghĩ thế nào? Ông ấy không đến dự lễ sao?”
Còn các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si ra lệnh: nếu ai biết Đức Chúa Jêsus ở đâu thì phải báo cho họ biết, để họ bắt Ngài.
Sáu ngày trước lễ Vượt Qua, Đức Chúa Jêsus đến làng Bê-tha-ni là nơi ở của La-xa-rơ, người mà Ngài đã khiến từ cõi chết sống lại.
Họ dọn tiệc đãi Ngài tại đó. Ma-thê phục vụ, còn La-xa-rơ là một trong số những người cùng ngồi bàn với Ngài.
Ma-ri lấy một cân dầu cam tùng nguyên chất rất quý giá xức chân Đức Chúa Jêsus, rồi dùng tóc mình lau chân Ngài. Mùi dầu thơm tỏa khắp nhà.
Nhưng một trong các môn đồ của Đức Chúa Jêsus là Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, kẻ sau nầy phản Ngài, nói rằng:
“Sao không bán dầu thơm nầy lấy ba trăm đơ-ni-ê để cho người nghèo?”
Anh ta nói vậy không phải vì quan tâm đến người nghèo, nhưng vì vốn là một tên trộm cắp, lại giữ túi tiền, nên anh ta thường lấy trộm tiền mà người ta bỏ vào đó.
Đức Chúa Jêsus bảo: “Hãy để cô ấy yên, vì cô ấy đã để dành dầu thơm nầy cho ngày chôn cất Ta.
Các con luôn có người nghèo ở với mình, nhưng các con không có Ta mãi đâu.”
Một đám đông người Do Thái biết Đức Chúa Jêsus ở đó thì kéo đến, không phải chỉ vì Ngài mà thôi, nhưng cũng để xem La-xa-rơ, người mà Ngài đã khiến từ cõi chết sống lại.
Cho nên các thầy tế lễ cả cũng định giết luôn La-xa-rơ nữa,
vì do anh mà nhiều người Do Thái đã bỏ họ và tin Đức Chúa Jêsus.
Hôm sau, có đoàn người rất đông đến dự lễ. Khi nghe nói Đức Chúa Jêsus đang đến thành Giê-ru-sa-lem
thì họ lấy cành cọ, đi ra đón Ngài và tung hô rằng: “Hô-sa-na! Phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến, là Vua của Y-sơ-ra-ên.”
Đức Chúa Jêsus gặp một con lừa con thì cưỡi lên, như lời đã chép:
“Hỡi con gái Si-ôn, đừng sợ! Kìa, vua ngươi đến, cưỡi trên lừa con!”
Thoạt đầu, các môn đồ không hiểu những điều đó, nhưng khi Đức Chúa Jêsus đã được tôn vinh, lúc ấy họ mới nhớ lại những điều đó được chép về Ngài, và đã được thực hiện cho Ngài.
Đoàn người đã ở với Đức Chúa Jêsus lúc Ngài gọi La-xa-rơ ra khỏi mộ, và khiến anh ấy từ cõi chết sống lại, đều làm chứng về Ngài.
Sở dĩ đoàn người đi đón Ngài, là vì họ đã nghe nói Ngài thực hiện dấu lạ đó.
Vì thế, những người Pha-ri-si nói với nhau: “Các ông thấy không, các ông chẳng làm gì được cả. Hãy xem, cả thiên hạ đều theo ông ta.”
Lúc ấy, trong số những người đi lên thờ phượng vào dịp lễ có vài người Hi Lạp.
Những người nầy đến với Phi-líp, người ở thành Bết-sai-đa thuộc miền Ga-li-lê, và nói rằng: “Thưa ông, chúng tôi muốn gặp Đức Chúa Jêsus.”
Phi-líp đi nói với Anh-rê; rồi Anh-rê cùng Phi-líp đến thưa với Đức Chúa Jêsus.
Đức Chúa Jêsus đáp: “Giờ Con Người được tôn vinh đã đến.
Thật, Ta bảo thật các ngươi: Nếu hạt lúa mì không rơi xuống đất và chết đi, nó vẫn chỉ là một hạt thôi; nhưng nếu chết đi, nó được kết quả nhiều.
Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai ghét mạng sống mình trong đời nầy thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.
Nếu ai phục vụ Ta thì phải theo Ta; và Ta ở đâu, người phục vụ Ta cũng sẽ ở đó. Nếu ai phục vụ Ta thì Cha Ta sẽ tôn quý người.
Bây giờ linh hồn Ta phiền não. Ta sẽ nói gì đây? ‘Cha ơi, xin cứu Con khỏi giờ nầy! Nhưng cũng chính vì giờ nầy mà Con đã đến.
Cha ơi, xin hãy tôn vinh danh Cha!’” Lúc ấy có tiếng từ trời phán rằng: “Ta đã tôn vinh rồi, Ta sẽ còn tôn vinh nữa.”
Đoàn người đứng tại đó nghe được tiếng ấy thì nói: “Đó là tiếng sấm”. Một số khác lại bảo: “Ấy là một thiên sứ nói chuyện với Ngài.”
Đức Chúa Jêsus nói: “Không phải vì Ta mà tiếng nầy vang ra đâu, nhưng vì các ngươi.
Bây giờ là lúc thế gian bị phán xét, và kẻ cai trị thế gian nầy sẽ bị truất phế.
Còn Ta, khi Ta được treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người đến với Ta.”
Ngài nói vậy để chỉ cho thấy Ngài sẽ chết cách nào.
Đoàn dân thưa rằng: “Chúng tôi có nghe luật pháp nói Đấng Christ còn đời đời. Thế sao Thầy nói Con Người phải được treo lên? Vậy Con Người nầy là ai?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Ánh sáng còn ở với các ngươi ít lâu nữa. Hãy bước đi trong lúc các ngươi còn có ánh sáng, e bóng tối thình lình phủ vây các ngươi. Người nào đi trong bóng tối thì không biết mình đi đâu.
Trong lúc đang có ánh sáng, hãy tin vào ánh sáng để các ngươi trở nên con của ánh sáng.” Sau khi nói như vậy, Đức Chúa Jêsus đi, và tránh khỏi họ.
Mặc dù Ngài đã làm rất nhiều dấu lạ trước mặt họ, nhưng họ vẫn không tin Ngài,
để lời nhà tiên tri Ê-sai đã nói được ứng nghiệm: “Lạy Chúa, ai đã tin điều chúng tôi rao giảng, Và cánh tay Chúa đã được tỏ ra cho ai?”
Do đó, họ không thể tin, vì Ê-sai còn nói:
“Chúa đã khiến mắt họ đui mù, Lòng họ chai đá, Kẻo mắt họ thấy được, Lòng họ hiểu được và hối cải, Để Ta chữa lành cho.”
Ê-sai nói điều nầy, vì đã thấy vinh quang của Ngài và nói về Ngài.
Tuy nhiên, có nhiều người trong hàng lãnh đạo tin Ngài, nhưng vì người Pha-ri-si, nên họ không dám xưng nhận Ngài, sợ bị đuổi khỏi nhà hội.
Vì họ quý chuộng vinh quang của loài người hơn là vinh quang của Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Jêsus công bố rằng: “Người nào tin Ta, không phải chỉ tin Ta, nhưng tin Đấng đã sai Ta.
Còn người nào thấy Ta là thấy Đấng đã sai Ta.
Ta là ánh sáng đã đến thế gian, để người nào tin Ta thì không còn ở trong bóng tối.
Nếu người nào nghe lời Ta mà không vâng giữ thì không phải Ta phán xét người đó. Vì Ta đến không phải để phán xét thế gian, nhưng để cứu chuộc thế gian.
Người nào chối bỏ Ta, không chịu tiếp nhận lời Ta, thì đã có một quan tòa xét xử; chính lời Ta đã nói sẽ xét xử họ trong ngày cuối cùng.
Ta không nói theo ý riêng mình, nhưng chính Cha là Đấng đã sai Ta truyền cho Ta phải nói điều chi và công bố điều gì.
Ta biết rằng mệnh lệnh của Ngài là sự sống đời đời. Vì vậy, những điều Ta nói thì Ta nói đúng như Cha đã truyền dặn.”
Trước lễ Vượt Qua, Đức Chúa Jêsus biết giờ Ngài phải rời thế gian nầy để trở về với Cha đã đến. Ngài đã yêu thương những người thuộc về mình trong thế gian thì cứ yêu thương cho đến cuối cùng.
Đang bữa ăn tối, ma quỷ gieo ý định phản Ngài vào lòng Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, con của Si-môn.
Đức Chúa Jêsus biết rằng Cha đã giao mọi sự trong tay Ngài, và Ngài từ Đức Chúa Trời đến, cũng sắp về với Đức Chúa Trời,
nên đứng dậy khỏi bàn ăn, cởi áo ngoài ra, lấy khăn quấn ngang lưng,
rồi Ngài đổ nước vào chậu, và bắt đầu rửa chân cho các môn đồ. Ngài cũng lấy khăn đã quấn ngang lưng mà lau chân cho họ.
Khi Ngài đến với Si-môn Phi-e-rơ thì ông nói: “Thưa Chúa, Chúa mà lại rửa chân cho con sao?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Bây giờ, con chưa hiểu việc Ta làm, nhưng về sau sẽ hiểu.”
Phi-e-rơ thưa: “Con sẽ không bao giờ để Chúa rửa chân cho con đâu!” Đức Chúa Jêsus đáp: “Nếu Ta không rửa chân cho con thì con không có phần gì nơi Ta cả.”
Phi-e-rơ nói: “Thưa Chúa, không phải chỉ rửa chân thôi, mà luôn cả tay và đầu con nữa!”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Ai đã tắm rồi, chỉ cần rửa chân thì sạch tất cả. Các con đã được sạch rồi, nhưng không phải tất cả.”
Vì biết ai là kẻ sẽ phản Ngài nên Ngài mới nói: “Không phải tất cả các con đều tinh sạch.”
Sau khi đã rửa chân cho các môn đồ, Ngài mặc áo lại, rồi ngồi vào bàn và nói: “Các con có hiểu điều Ta đã làm cho các con không?
Các con gọi Ta là Thầy, là Chúa. Các con nói rất đúng, vì Ta thật như vậy.
Nhưng nếu Ta là Thầy, là Chúa, mà còn rửa chân cho các con thì các con cũng phải rửa chân cho nhau.
Vì Ta đã làm gương cho các con, để các con cũng làm như Ta đã làm cho các con.
Thật, Ta bảo thật các con: Đầy tớ không lớn hơn chủ, sứ giả không lớn hơn người sai phái mình.
Nếu các con biết những điều nầy và làm theo thì được phước.
Ta không nói về tất cả các con, Ta biết những người Ta đã chọn. Nhưng lời Kinh Thánh nầy phải được ứng nghiệm: ‘Kẻ ăn bánh của Ta, trở gót chống lại Ta.’
Bây giờ, Ta nói điều nầy với các con trước khi việc xảy ra, để khi việc xảy ra thì các con tin rằng Ta là Đấng Hằng Hữu.
Thật, Ta bảo thật các con, ai tiếp người Ta sai đến tức là tiếp Ta; còn ai tiếp Ta tức là tiếp Đấng đã sai Ta đến.”
Khi Đức Chúa Jêsus đã nói như vậy rồi, thì Ngài xúc động trong tâm linh và khẳng định rằng: “Thật, Ta bảo thật các con, một người trong các con sẽ phản Ta.”
Các môn đồ nhìn nhau, không rõ Ngài nói về ai.
Một trong các môn đồ, là người được Đức Chúa Jêsus yêu thương, đang tựa vào lòng Đức Chúa Jêsus.
Si-môn Phi-e-rơ ra hiệu cho môn đồ ấy hỏi xem Thầy muốn nói về ai.
Môn đồ nầy nghiêng mình trên ngực Đức Chúa Jêsus và hỏi: “Thưa Chúa, người ấy là ai?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Đó là người mà Ta sẽ trao miếng bánh Ta sắp nhúng đây.” Rồi Ngài nhúng một miếng bánh và trao cho Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, con của Si-môn.
Sau khi Giu-đa nhận lấy miếng bánh thì Sa-tan vào lòng anh ta. Đức Chúa Jêsus bảo Giu-đa: “Việc con làm, hãy làm nhanh đi.”
Nhưng không một ai ngồi tại bàn biết vì sao Ngài nói với anh ta như vậy.
Một vài người nghĩ rằng, vì Giu-đa giữ túi tiền nên Đức Chúa Jêsus bảo anh ta đi mua những thứ cần dùng cho kỳ lễ, hoặc ban phát điều gì cho người nghèo.
Khi đã nhận miếng bánh rồi, Giu-đa liền đi ra. Lúc ấy trời đã tối.
Khi Giu-đa đi ra rồi, Đức Chúa Jêsus nói: “Bây giờ Con Người được tôn vinh, và Đức Chúa Trời được tôn vinh nơi Con Người.
Nếu Đức Chúa Trời được tôn vinh nơi Con Người thì Đức Chúa Trời cũng sẽ tôn vinh Con Người trong chính Ngài, và sẽ tôn vinh ngay.
Hỡi các con bé nhỏ, Ta không còn ở với các con bao lâu nữa. Các con sẽ tìm Ta, và như Ta đã nói với người Do Thái rằng: ‘Nơi Ta đi các ngươi không thể đến được’, thì bây giờ Ta cũng nói với các con như vậy.
Ta ban cho các con một điều răn mới, ấy là các con phải yêu thương nhau. Như Ta đã yêu thương các con thể nào thì các con cũng hãy yêu thương nhau thể ấy.
Nếu các con yêu thương nhau, thì bởi đó, mọi người sẽ nhận biết các con là môn đồ Ta.”
Si-môn Phi-e-rơ thưa: “Thưa Chúa, Chúa đi đâu?” Đức Chúa Jêsus đáp: “Nơi Ta đi, bây giờ con không thể theo được, nhưng sau nầy con sẽ theo.”
Phi-e-rơ thưa: “Thưa Chúa, vì sao bây giờ con không thể theo Chúa? Con sẽ hi sinh mạng sống con vì Chúa!”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Con sẽ hi sinh mạng sống con vì Ta sao? Thật, Ta bảo thật với con: Trước khi gà gáy, con sẽ chối Ta ba lần!”
“Lòng các con đừng bối rối. Hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin Ta nữa.
Trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở; nếu không phải vậy, sao Ta lại nói với các con rằng Ta đi chuẩn bị cho các con một chỗ?
Khi Ta đi và đã chuẩn bị chỗ cho các con rồi, Ta sẽ trở lại đem các con đi với Ta, để Ta ở đâu thì các con cũng ở đó.
Các con biết Ta đi đâu, và biết đường đi nữa.”
Thô-ma nói: “Thưa Chúa, chúng con không biết Chúa đi đâu, làm sao biết đường được?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Ta là đường đi, chân lý và sự sống. Chẳng bởi Ta thì không ai được đến với Cha.
Nếu các con biết Ta thì cũng biết Cha Ta; từ bây giờ các con biết và đã thấy Ngài.”
Phi-líp thưa rằng: “Thưa Chúa, xin chỉ Cha cho chúng con thì đủ rồi.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Phi-líp ơi, Ta đã ở với các con lâu rồi, mà các con chưa biết Ta! Ai đã thấy Ta tức là đã thấy Cha. Tại sao con lại nói: ‘Xin chỉ Cha cho chúng con’?
Có phải con không tin rằng Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta chăng? Những lời Ta nói với các con không phải Ta tự nói, nhưng chính Cha là Đấng ở trong Ta đang làm những việc của Ngài.
Khi Ta nói Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta thì hãy tin Ta; bằng không, hãy tin qua chính các công việc Ta làm.
Thật, Ta bảo thật các con, người nào tin Ta cũng sẽ làm những việc Ta làm, và sẽ làm những việc lớn hơn nữa, vì Ta đi về với Cha.
Các con nhân danh Ta cầu xin bất cứ điều gì, Ta sẽ làm cho, để Cha được tôn vinh nơi Con.
Nếu các con nhân danh Ta cầu xin bất cứ điều gì, Ta sẽ làm cho.”
“Nếu các con yêu mến Ta thì sẽ vâng giữ các điều răn Ta.
Ta sẽ cầu xin Cha, Ngài sẽ ban cho các con một Đấng An Ủi khác để ở với các con đời đời,
tức là Thần Chân Lý mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì không thấy và không biết Ngài. Nhưng các con biết Ngài vì Ngài đang ở với các con, và sẽ ở trong các con.
Ta không để các con mồ côi đâu, Ta sẽ đến với các con.
Không bao lâu, thế gian sẽ chẳng còn thấy Ta nữa, nhưng các con sẽ thấy Ta. Vì Ta sống thì các con cũng sẽ sống.
Trong ngày đó, các con sẽ biết rằng Ta ở trong Cha Ta; các con ở trong Ta, và Ta ở trong các con.
Ai có các điều răn của Ta và vâng giữ, ấy là người yêu mến Ta. Người nào yêu mến Ta sẽ được Cha Ta yêu thương, Ta cũng sẽ yêu thương người, và bày tỏ chính Ta cho người.”
Giu-đa, không phải là Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, thưa rằng: “Thưa Chúa, vì sao Chúa sẽ bày tỏ chính mình cho chúng con mà không bày tỏ cho thế gian?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Nếu ai yêu mến Ta thì sẽ vâng giữ lời Ta, Cha Ta sẽ yêu thương người, Chúng Ta sẽ đến cùng người và ở với người.
Ai không yêu mến Ta thì không vâng giữ các lời Ta. Những lời các con nghe không phải là lời của Ta, nhưng của Cha là Đấng đã sai Ta đến.
Ta đã nói những điều nầy cho các con trong lúc Ta còn ở với các con.
Nhưng Đấng An Ủi, tức là Đức Thánh Linh mà Cha sẽ nhân danh Ta sai đến, Ngài sẽ dạy dỗ các con mọi điều, và nhắc các con nhớ tất cả những gì Ta đã phán với các con.
Ta để sự bình an lại cho các con. Ta ban sự bình an của Ta cho các con. Sự bình an Ta cho các con không giống như thế gian cho. Lòng các con chớ bối rối và đừng sợ hãi.
Các con đã nghe Ta nói: ‘Ta đi, và Ta sẽ trở lại với các con.’ Nếu các con yêu mến Ta thì nên vui mừng vì Ta đi về với Cha, bởi Cha cao trọng hơn Ta.
Bây giờ Ta nói điều nầy cho các con trước khi việc xảy ra, để khi việc xảy ra thì các con sẽ tin.
Ta sẽ không còn nói nhiều với các con nữa, vì kẻ cai trị thế gian nầy đang đến. Nó chẳng có quyền hành gì trên Ta,
nhưng Ta làm theo điều Cha đã truyền bảo, để thế gian biết rằng Ta yêu mến Cha. Hãy đứng dậy, chúng ta phải đi khỏi đây.”
“Ta là cây nho thật, Cha Ta là người trồng nho.
Bất cứ cành nào trong Ta không kết quả thì Ngài chặt đi, còn những cành nào kết quả thì Ngài tỉa sửa để được nhiều quả hơn.
Các con đã được tinh sạch nhờ lời Ta đã truyền dạy các con.
Hãy cứ ở trong Ta thì Ta sẽ ở trong các con. Như cành nho, nếu không ở trong cây nho thì tự nó không thể ra quả được. Nếu các con không cứ ở trong Ta thì cũng như vậy.
Ta là cây nho, các con là cành. Ai cứ ở trong Ta, và Ta trong người ấy thì sinh ra nhiều quả, vì ngoài Ta các con không làm gì được.
Nếu ai không cứ ở trong Ta thì bị ném ra ngoài như cành nho và bị héo, người ta nhặt lấy, ném vào lửa thì nó cháy.
Nếu các con cứ ở trong Ta và lời Ta cứ ở trong các con, hãy cầu xin bất cứ điều gì mình muốn, các con sẽ nhận được điều đó.
Bởi điều nầy Cha Ta được tôn vinh, ấy là các con kết quả nhiều và trở nên môn đồ Ta.
Như Cha đã yêu thương Ta thể nào, Ta cũng yêu thương các con thể ấy. Hãy cứ ở trong tình yêu thương của Ta.
Nếu các con vâng giữ các điều răn của Ta thì sẽ ở trong tình yêu thương của Ta, cũng như Ta đã vâng giữ các điều răn của Cha Ta và cứ ở trong tình yêu thương của Ngài.
Ta nói với các con những điều nầy để niềm vui của Ta ở trong các con, và niềm vui của các con được trọn vẹn.
Đây là điều răn của Ta: Các con hãy yêu thương nhau, như Ta đã yêu thương các con.
Không có tình yêu thương nào lớn hơn tình yêu thương vì bạn hữu mà hi sinh mạng sống mình.
Nếu các con làm theo điều Ta truyền dạy thì các con là bạn hữu Ta.
Ta không còn gọi các con là đầy tớ nữa, vì đầy tớ không biết điều chủ làm. Nhưng Ta gọi các con là bạn hữu, vì Ta đã bày tỏ cho các con biết tất cả những gì Ta đã nghe nơi Cha Ta.
Không phải các con đã chọn Ta, nhưng Ta đã chọn và bổ nhiệm các con, để các con đi, được kết quả, và quả của các con cứ còn mãi; để bất cứ điều gì các con nhân danh Ta cầu xin Cha thì Ngài ban cho các con.
Ta truyền dạy điều nầy cho các con để các con yêu thương nhau.
Nếu thế gian ghét các con thì hãy biết rằng thế gian đã ghét Ta trước các con.
Nếu các con thuộc về thế gian thì thế gian hẳn yêu thương những người thuộc về mình. Nhưng vì các con không thuộc về thế gian, và Ta đã lựa chọn các con từ giữa thế gian, nên thế gian ghét các con.
Hãy nhớ lời Ta đã nói với các con: ‘Đầy tớ không hơn chủ.’ Nếu họ bắt bớ Ta, họ cũng sẽ bắt bớ các con. Nếu họ vâng giữ lời Ta, họ cũng sẽ vâng giữ lời các con.
Nhưng vì danh Ta, họ sẽ làm mọi điều đó cho các con, vì họ không biết Đấng đã sai Ta đến.
Nếu Ta không đến và không nói với họ thì họ không có tội gì. Nhưng bây giờ họ không thể bào chữa cho tội của mình được.
Ai ghét Ta thì cũng ghét Cha Ta nữa.
Nếu Ta không làm giữa họ những việc mà chưa có người nào làm thì họ không có tội. Nhưng bây giờ họ đã thấy mà lại ghét cả Ta lẫn Cha Ta.
Như vậy lời đã chép trong luật pháp của họ được ứng nghiệm: ‘Chúng ghét Ta vô cớ.’
Nhưng khi Đấng An Ủi đến, là Đấng mà Ta sẽ từ Cha sai đến với các con, tức là Thần Chân Lý ra từ Cha, chính Ngài sẽ làm chứng về Ta.
Các con cũng làm chứng về Ta, vì các con đã ở với Ta từ lúc ban đầu.”
“Ta đã bảo các con những điều nầy để các con khỏi bị vấp ngã.
Họ sẽ khai trừ các con khỏi nhà hội; và sẽ đến giờ mà kẻ nào giết các con lại tưởng rằng mình đang phục vụ Đức Chúa Trời.
Họ sẽ làm những điều nầy vì họ không biết Cha, cũng không biết Ta nữa.
Nhưng Ta đã nói những điều nầy cho các con để khi đến giờ của họ, các con nhớ lại rằng Ta đã nói cho các con rồi. Ta không nói điều nầy với các con ngay từ đầu, vì Ta đang ở với các con.
Nhưng bây giờ Ta sắp về với Đấng đã sai Ta đến, và không ai trong các con hỏi Ta: ‘Thầy đi đâu?’
Nhưng vì Ta đã nói những điều nầy cho các con nên lòng các con đầy đau buồn.
Dù vậy, Ta nói thật với các con: Ta đi là ích lợi cho các con. Vì nếu Ta không đi thì Đấng An Ủi sẽ không đến với các con. Nhưng nếu Ta đi, Ta sẽ sai Ngài đến.
Khi Ngài đến, Ngài sẽ cáo trách thế gian về tội lỗi, về sự công chính và về sự phán xét.
Về tội lỗi, vì họ không tin Ta;
về sự công chính, vì Ta đi đến với Cha, và các con không còn thấy Ta nữa;
về sự phán xét, vì kẻ cai trị thế gian nầy đã bị phán xét.
Ta còn nhiều điều để nói với các con, nhưng bây giờ các con không thể hiểu nổi.
Khi Thần Chân lý đến, Ngài sẽ dẫn các con vào mọi chân lý; vì Ngài không tự mình nói, nhưng sẽ nói những gì mình nghe, và công bố cho các con những gì sẽ đến.
Ngài sẽ tôn vinh Ta, vì Ngài sẽ lấy những gì thuộc về Ta mà công bố cho các con.
Tất cả những gì Cha có là của Ta, vậy nên Ta nói rằng Ngài sẽ lấy những gì thuộc về Ta mà công bố cho các con.”
“Ít lâu nữa, các con sẽ không còn thấy Ta, và rồi ít lâu sau, các con sẽ lại thấy Ta.”
Vì vậy, vài môn đồ Ngài nói với nhau rằng: “Thầy bảo chúng ta: ‘Ít lâu nữa, các con sẽ không còn thấy Ta, và rồi, ít lâu sau các con sẽ lại thấy Ta, vì Ta về với Cha.’ Điều nầy có nghĩa gì?”
Họ nói: “‘Ít lâu’ có nghĩa gì? Chúng ta không hiểu Ngài muốn nói gì.”
Đức Chúa Jêsus biết các môn đồ muốn hỏi Ngài nên nói rằng: “Có phải các con đang hỏi nhau về câu nói: ‘Ít lâu nữa, các con sẽ không còn thấy Ta, và rồi ít lâu sau, các con sẽ thấy Ta’, có nghĩa là gì phải không?
Thật, Ta bảo thật các con, các con sẽ khóc lóc, than van, còn thế gian sẽ vui mừng. Các con sẽ đau buồn, nhưng sự đau buồn của các con sẽ trở thành vui mừng.
Người phụ nữ lúc sinh nở thì đau đớn, vì đã đến giờ của mình, nhưng khi đứa trẻ chào đời thì người ấy không còn nhớ đến sự đau đớn nữa, mà vui mừng vì một người đã được sinh ra trong thế gian.
Cũng vậy, bây giờ các con đau buồn, nhưng Ta sẽ gặp lại các con thì lòng các con vui mừng, và không ai có thể đoạt lấy niềm vui của các con.
Trong ngày đó, các con sẽ không hỏi Ta điều gì nữa. Thật, Ta bảo thật các con, bất cứ điều gì các con cầu xin Cha thì Ngài sẽ nhân danh Ta ban cho các con.
Đến bây giờ, các con chưa từng nhân danh Ta cầu xin điều gì. Hãy cầu xin đi, các con sẽ nhận được, để niềm vui của các con được trọn vẹn.
Ta đã dùng ẩn dụ để nói những điều nầy cho các con. Nhưng giờ đến, Ta không còn dùng ẩn dụ để nói với các con nữa, nhưng sẽ nói về Cha cho các con một cách rõ ràng.
Trong ngày ấy, các con sẽ nhân danh Ta mà cầu xin. Ta không nói rằng Ta sẽ vì các con mà cầu xin Cha đâu;
vì chính Cha yêu thương các con, bởi các con đã yêu mến Ta và tin rằng Ta từ Đức Chúa Trời đến.
Ta đã từ Cha đến thế gian, và Ta lại rời thế gian để về với Cha.”
Các môn đồ thưa rằng: “Bây giờ Thầy nói rõ ràng, không dùng ẩn dụ nữa.
Bây giờ chúng con biết rằng Thầy biết tất cả, không cần phải có ai hỏi Thầy. Vì thế, chúng con tin rằng Thầy đến từ Đức Chúa Trời.”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Bây giờ các con tin không?
Nầy giờ đến và đã đến rồi, khi các con sẽ tan lạc, ai đi đường nấy, bỏ Ta lại một mình. Nhưng Ta không ở một mình, vì Cha ở với Ta.
Ta đã bảo các con những điều nầy, để các con có sự bình an trong Ta. Các con sẽ có hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy vững lòng, Ta đã thắng thế gian rồi.”
Khi phán những lời nầy xong, Đức Chúa Jêsus ngước mắt lên trời và thưa rằng: “Cha ơi! Giờ đã đến, xin tôn vinh Con, để Con cũng tôn vinh Cha.
Vì Cha đã ban cho Con thẩm quyền trên mọi loài xác thịt, để ban sự sống đời đời cho tất cả những người Cha ban cho Con.
Sự sống đời đời là nhận biết Cha là Đức Chúa Trời duy nhất và chân thật, cùng Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng Cha đã sai đến.
Con đã tôn vinh Cha trên đất và hoàn tất công việc Cha giao cho Con làm.
Cha ơi! Bây giờ, xin lấy vinh quang Con vốn có với Cha trước khi tạo dựng thế gian mà tôn vinh Con trước mặt Cha.
Con đã bày tỏ danh Cha cho những người Cha ban cho Con từ giữa thế gian nầy. Họ thuộc về Cha, Cha ban họ cho Con, và họ đã vâng giữ lời Cha.
Bây giờ, họ biết rằng tất cả những gì Cha đã ban cho Con đều đến từ Cha.
Vì Con đã ban cho họ những lời Cha đã ban cho Con. Họ đã tiếp nhận, biết Con thật đến từ Cha và tin rằng Cha đã sai Con.
Con vì họ mà cầu xin, không phải vì thế gian mà Con cầu xin đâu, nhưng vì những người mà Cha đã ban cho Con, vì họ thuộc về Cha.
Tất cả những gì của Con là của Cha, tất cả những gì của Cha là của Con; và qua họ, Con được tôn vinh.
Con không còn ở thế gian nữa, Con về với Cha, nhưng họ vẫn ở thế gian. Cha Thánh ơi! Xin gìn giữ họ trong danh Cha, là danh Cha đã ban cho Con, để họ có thể trở nên một như Chúng Ta.
Trong lúc còn ở với họ, Con đã gìn giữ họ trong danh Cha, là danh Cha đã ban cho Con. Con đã bảo vệ họ, không để mất một ai, trừ đứa con của sự hư mất, để lời Kinh Thánh được ứng nghiệm.
Nhưng bây giờ Con về với Cha, và Con nói những điều nầy lúc còn trong thế gian, để sự vui mừng của Con được đầy trọn trong chính họ.
Con đã truyền lời Cha cho họ, và thế gian ghét họ vì họ không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian vậy.
Con không cầu xin Cha đem họ ra khỏi thế gian nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi điều ác.
Họ không thuộc về thế gian cũng như Con không thuộc về thế gian.
Xin Cha dùng chân lý thánh hóa họ. Lời của Cha là chân lý.
Như Cha đã sai Con vào thế gian thì Con cũng sai họ vào thế gian.
Con hiến dâng chính mình vì họ, để họ cũng được thánh hóa trong chân lý.
Cha ơi! Con không chỉ cầu xin cho những người nầy mà thôi, nhưng cũng cho những người nhờ lời họ mà tin Con nữa,
để tất cả đều trở nên một; như Cha ở trong Con và Con trong Cha để họ cũng ở trong Chúng Ta, nhờ đó thế gian tin rằng Cha đã sai Con đến.
Con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho Con, để họ trở nên một như Chúng Ta là một.
Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để họ được hiệp nhất trọn vẹn, nhờ đó thế gian biết rằng Cha đã sai Con đến, và Cha đã yêu thương họ như Cha đã yêu thương Con.
Cha ơi, Con muốn Con ở đâu thì những người Cha đã ban cho Con cũng ở đó với Con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha đã ban cho Con; vì Cha đã yêu thương Con từ trước khi sáng thế.
Cha công chính ơi, thế gian không biết Cha, nhưng Con đã biết Cha; và những người nầy biết rằng Cha đã sai Con đến.
Con đã bày tỏ danh Cha cho họ, và Con sẽ còn bày tỏ nữa, để tình yêu mà Cha đã yêu Con ở trong họ, và Con cũng ở trong họ nữa.”
Sau khi cầu nguyện, Đức Chúa Jêsus đi với các môn đồ sang bên kia suối Kết-rôn; tại đó có một khu vườn, Ngài cùng các môn đồ đi vào đó.
Giu-đa, kẻ phản Ngài, cũng biết chỗ nầy vì Đức Chúa Jêsus và các môn đồ thường nhóm họp tại đây.
Vậy, Giu-đa dẫn một toán lính cùng với thuộc hạ của các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si đến đó, cầm đèn, đuốc và vũ khí.
Đức Chúa Jêsus biết tất cả những gì sẽ xảy đến cho mình, nên bước tới và hỏi: “Các ngươi tìm ai?”
Họ đáp: “Jêsus, người Na-xa-rét.” Đức Chúa Jêsus nói: “Chính Ta đây!” Giu-đa, kẻ phản Ngài, cũng đứng đó với họ.
Khi Đức Chúa Jêsus nói: “Chính Ta đây” thì họ đều lùi lại và ngã xuống đất.
Ngài lại hỏi: “Các ngươi tìm ai?” Họ đáp: “Jêsus, người Na-xa-rét.”
Đức Chúa Jêsus nói: “Ta đã bảo các ngươi, chính Ta đây. Vậy, nếu các ngươi tìm bắt Ta thì hãy để cho những người nầy đi.”
Điều nầy ứng nghiệm lời Ngài đã nói: “Con không để mất một ai trong những người Cha đã ban cho Con.”
Si-môn Phi-e-rơ có một thanh gươm, liền rút ra, đánh đầy tớ của thầy tế lễ thượng phẩm, chém đứt tai phải của người nầy. Đầy tớ đó tên là Man-chu.
Đức Chúa Jêsus bảo Phi-e-rơ: “Hãy nạp gươm của con vào vỏ! Chén mà Cha đã ban cho Ta, Ta lại không uống sao?”
Lúc ấy, binh lính với viên chỉ huy và các thuộc hạ của người Do Thái bắt Đức Chúa Jêsus và trói lại.
Trước hết, họ giải Ngài đến An-ne, vì ông là nhạc gia của Cai-phe, người đang làm thầy tế lễ thượng phẩm trong năm đó.
Chính Cai-phe là người đã bàn với người Do Thái rằng: “Thà để một người chết vì toàn dân thì vẫn hơn.”
Si-môn Phi-e-rơ và một môn đồ khác đi theo Đức Chúa Jêsus. Môn đồ nầy quen biết thầy tế lễ thượng phẩm, nên vào với Đức Chúa Jêsus trong sân của thầy tế lễ thượng phẩm.
Còn Phi-e-rơ thì đứng bên ngoài, gần cửa. Vì vậy, môn đồ kia, người quen biết thầy tế lễ thượng phẩm, đi ra nói với người phụ nữ canh cửa, rồi đem Phi-e-rơ vào.
Người phụ nữ canh cửa nói với Phi-e-rơ: “Chẳng phải ông cũng là một trong các môn đồ của người ấy sao?” Phi-e-rơ đáp: “Không phải tôi.”
Vì trời lạnh nên các đầy tớ và các thuộc hạ nhóm một đống lửa than, rồi đứng sưởi ấm. Phi-e-rơ cũng đứng sưởi với họ.
Thầy tế lễ thượng phẩm hỏi Đức Chúa Jêsus về các môn đồ và sự dạy dỗ của Ngài.
Đức Chúa Jêsus đáp: “Ta đã nói rõ cho thiên hạ. Ta thường xuyên dạy trong các nhà hội và đền thờ, nơi tất cả người Do Thái tụ họp, chứ Ta chẳng nói điều gì lén lút cả.
Sao ngươi lại chất vấn Ta? Cứ hỏi những người đã nghe Ta, xem Ta đã nói gì với họ. Những người đó biết những điều Ta đã nói.”
Khi Ngài vừa nói xong, một kẻ trong nhóm thuộc hạ đang đứng đó lấy tay tát vào mặt Ngài và nói: “Ngươi dám trả lời thầy tế lễ thượng phẩm như thế sao?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Nếu Ta nói sai, hãy chỉ ra chỗ sai đi; còn nếu Ta nói đúng, tại sao ngươi lại đánh Ta?”
An-ne sai giải Đức Chúa Jêsus vẫn đang bị trói đến thầy tế lễ thượng phẩm Cai-phe.
Lúc Phi-e-rơ còn đang đứng sưởi, họ hỏi ông: “Anh cũng là một trong số các môn đồ của ông ta phải không?” Phi-e-rơ chối và trả lời: “Không phải tôi.”
Một người trong các đầy tớ của thầy tế lễ thượng phẩm, có họ hàng với người đã bị Phi-e-rơ chém đứt tai, nói: “Chẳng phải chính tôi đã thấy anh ở trong vườn với ông ta sao?”
Phi-e-rơ lại chối một lần nữa, tức thì gà gáy.
Vậy, họ giải Đức Chúa Jêsus từ nhà Cai-phe đến dinh tổng đốc. Lúc ấy vào buổi sáng sớm. Chính họ không vào trong dinh, để khỏi bị ô uế, và được ăn lễ Vượt Qua.
Vì thế, Phi-lát đi ra, đến với họ và nói: “Các ngươi tố cáo người nầy về việc gì?”
Họ trả lời: “Nếu người nầy không phải là kẻ làm ác thì chúng tôi không nộp cho quan.”
Phi-lát nói với họ: “Các ngươi cứ đem ông ta đi và xử theo luật của các ngươi.” Người Do Thái thưa: “Chúng tôi không được phép xử tử bất cứ ai.”
Điều nầy ứng nghiệm lời Đức Chúa Jêsus đã nói, khi đề cập đến việc Ngài phải chết cách nào.
Phi-lát trở lại dinh tổng đốc, gọi Đức Chúa Jêsus và hỏi: “Có phải ngươi là vua dân Do Thái không?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Ngươi tự mình nói điều nầy, hay có ai khác nói cho ngươi về Ta?”
Phi-lát trả lời: “Ta có phải là người Do Thái đâu? Dân tộc ngươi và mấy thầy tế lễ cả đã nộp ngươi cho Ta. Vậy ngươi đã làm gì?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Vương quốc của Ta không thuộc về thế gian nầy. Nếu vương quốc của Ta thuộc về thế gian nầy thì những người theo Ta đã chiến đấu, không để Ta bị nộp vào tay người Do Thái. Nhưng vương quốc của Ta không thuộc về thế gian nầy.”
Phi-lát nói: “Thế thì ngươi là vua sao?” Đức Chúa Jêsus đáp: “Chính ngươi nói Ta là vua. Đây là lý do tại sao Ta đã sinh ra, tại sao Ta đã giáng thế: Ấy là để làm chứng cho chân lý. Bất cứ ai thuộc về chân lý đều nghe tiếng Ta.”
Phi-lát hỏi: “Chân lý là gì?” Sau khi đã nói như vậy, Phi-lát lại đi ra gặp người Do Thái và nói: “Ta không tìm thấy người nầy có tội gì cả.
Nhưng theo thông lệ của các ngươi, cứ đến lễ Vượt Qua thì ta tha cho các ngươi một tên tù. Vậy, các ngươi có muốn ta tha vua dân Do Thái cho các ngươi không?”
Họ lại la lớn lên: “Đừng tha nó, hãy tha Ba-ra-ba!” Ba-ra-ba vốn là một tên cướp.
Bấy giờ, Phi-lát cho đem Đức Chúa Jêsus đi đánh đòn.
Bọn lính đan một chiếc mão gai, đội trên đầu Ngài, và mặc cho Ngài một chiếc áo điều.
Họ đến gần Ngài và nói: “Lạy vua dân Do Thái!” Rồi họ tát vào mặt Ngài.
Phi-lát trở ra một lần nữa và nói với dân chúng: “Đây nầy, ta dẫn ông ấy ra ngoài cho các ngươi, để các ngươi biết ta không tìm thấy ông ấy có tội gì cả.”
Vậy, Đức Chúa Jêsus đi ra, đầu đội mão gai, mình mặc áo điều. Phi-lát nói với họ: “Hãy xem người nầy.”
Nhưng khi các thầy tế lễ cả và những thuộc hạ thấy Ngài thì la lên: “Đóng đinh nó trên cây thập tự! Đóng đinh nó trên cây thập tự!” Phi-lát bảo chúng: “Các ngươi hãy tự đem ông ấy đi mà đóng đinh, vì ta không tìm thấy ông ấy có tội gì cả.”
Những người Do Thái đáp: “Chúng tôi có luật, chiếu theo luật ấy nó phải chết, vì nó tự xưng là Con Đức Chúa Trời.”
Khi nghe lời nầy, Phi-lát càng sợ hãi.
Ông lại trở vào dinh và nói với Đức Chúa Jêsus rằng: “Ngươi từ đâu đến?” Nhưng Đức Chúa Jêsus không trả lời.
Vì vậy, Phi-lát nói với Ngài: “Ngươi không nói gì với ta sao? Ngươi không biết rằng ta có quyền tha, cũng có quyền đóng đinh ngươi sao?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Nếu không do trên ban cho thì ngươi chẳng có quyền gì trên Ta; vì thế, kẻ nộp Ta cho ngươi còn nặng tội hơn.”
Từ đó, Phi-lát tìm cách tha Ngài, nhưng các người Do Thái la lên: “Nếu quan tha người nầy thì quan không phải là trung thần của Sê-sa, vì bất cứ ai tự xưng là vua đều là kẻ chống lại Sê-sa.”
Khi Phi-lát nghe những lời nầy thì đem Đức Chúa Jêsus ra, rồi ngồi vào chỗ xử án, tại nơi gọi là Chỗ Lát Đá, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Ga-ba-tha.
Bấy giờ là ngày Chuẩn Bị cho lễ Vượt Qua, vào khoảng giữa trưa. Phi-lát nói với những người Do Thái rằng: “Đây là vua của các ngươi!”
Họ gào lên: “Hãy trừ nó đi, trừ nó đi! Đóng đinh nó trên cây thập tự!” Phi-lát nói: “Ta sẽ đóng đinh vua các ngươi trên cây thập tự sao?” Các thầy tế lễ cả đáp: “Chúng tôi không có vua nào khác, ngoài Sê-sa.”
Phi-lát giao Đức Chúa Jêsus cho họ để đem đi đóng đinh trên thập tự giá. Vậy họ giải Đức Chúa Jêsus đi.
Đức Chúa Jêsus vác thập tự giá đi đến một nơi gọi là Đồi Sọ, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Gô-gô-tha.
Tại đó, họ đóng đinh Ngài. Có hai người khác cũng bị đóng đinh với Ngài, mỗi bên một người, còn Đức Chúa Jêsus ở giữa.
Phi-lát cũng sai viết một tấm bảng và treo trên thập tự giá. Trên tấm bảng có ghi rằng: “JÊSUS NGƯỜI NA-XA-RÉT, VUA DÂN DO THÁI.”
Vì nơi Đức Chúa Jêsus bị đóng đinh ở gần thành, và tấm bảng được ghi bằng tiếng Hê-bơ-rơ, La-tinh và Hi Lạp, nên có nhiều người Do Thái đọc.
Các thầy tế lễ cả của người Do Thái nói với Phi-lát: “Xin đừng viết: ‘Vua dân Do Thái,’ nhưng hãy viết: ‘Người nầy nói: Ta là vua dân Do Thái.’ ”
Phi-lát đáp: “Điều ta đã viết thì ta đã viết rồi.”
Khi đã đóng đinh Đức Chúa Jêsus vào thập tự giá rồi, những người lính lấy y phục của Ngài chia làm bốn phần, mỗi người một phần. Họ cũng lấy áo dài của Ngài, nhưng áo dài nầy là một tấm vải dệt từ trên xuống dưới, không có đường may.
Vậy, họ bảo nhau: “Đừng xé nó ra, nhưng hãy bắt thăm xem ai được.” Như vậy, điều nầy làm ứng nghiệm lời Kinh Thánh: “Họ chia nhau y phục của Ta, Bắt thăm lấy áo dài Ta.” Đó là việc bọn lính đã làm.
Đứng gần thập tự giá của Đức Chúa Jêsus có mẹ Ngài, chị của mẹ Ngài, với Ma-ri vợ Cơ-lê-ô-pa và Ma-ri Ma-đơ-len.
Đức Chúa Jêsus thấy mẹ Ngài và môn đồ Ngài yêu thương đang đứng gần thì nói với mẹ rằng: “Thưa bà, đó là con của bà!”
Rồi Ngài nói với môn đồ ấy: “Nầy là mẹ của con!” Từ giờ đó, môn đồ nầy đem bà về nhà mình.
Sau đó, Đức Chúa Jêsus biết mọi việc đã hoàn tất, và để cho lời Kinh Thánh được ứng nghiệm thì nói: “Ta khát.”
Tại đó, có một cái bình đựng đầy giấm nên họ lấy một miếng bọt biển nhúng đầy giấm, buộc vào cành bài hương, rồi đưa đến miệng Đức Chúa Jêsus.
Khi đã nhận lấy giấm, Đức Chúa Jêsus nói: “Mọi việc đã hoàn tất!” Rồi Ngài gục đầu xuống, trút linh hồn.
Hôm ấy là ngày Chuẩn Bị, nên những người Do Thái e ngại những xác chết vẫn còn bị treo trên thập tự giá trong ngày sa-bát, vì ngày sa-bát nầy rất trọng đại. Do đó, họ yêu cầu Phi-lát cho đánh gãy ống chân những người ấy, và hạ xuống.
Vậy, những người lính đến đánh gãy ống chân của người thứ nhất, rồi đến người kia, là người cùng bị đóng đinh với Ngài.
Nhưng khi đến chỗ Đức Chúa Jêsus, họ thấy Ngài đã chết rồi, nên không đánh gãy ống chân Ngài.
Nhưng có một tên lính lấy giáo đâm vào sườn Ngài, lập tức máu và nước chảy ra.
Người đã chứng kiến làm chứng về việc nầy — lời chứng của người là xác thực, và người ấy biết mình vẫn nói sự thật — để anh em cũng tin.
Những điều nầy xảy ra để được ứng nghiệm lời Kinh Thánh: “Chẳng một xương nào của Ngài sẽ bị gãy.”
Và thêm một lời Kinh Thánh khác: “Họ sẽ nhìn thấy người mình đã đâm.”
Sau đó, Giô-sép người A-ri-ma-thê, một môn đồ âm thầm theo Đức Chúa Jêsus vì sợ người Do Thái, xin Phi-lát cho nhận thi hài của Đức Chúa Jêsus. Phi-lát cho phép. Vậy, ông đến và nhận thi hài của Ngài.
Ni-cô-đem, người trước đây đã đến với Đức Chúa Jêsus trong ban đêm, cũng đến, đem theo một trăm cân mộc dược trộn với lô hội.
Họ lấy thi hài của Đức Chúa Jêsus và dùng vải gai với thuốc thơm quấn lại theo tục lệ khâm liệm của người Do Thái.
Tại nơi Đức Chúa Jêsus bị đóng đinh có một khu vườn, và trong khu vườn đó có một ngôi mộ mới, chưa chôn ai.
Vì hôm ấy là ngày Chuẩn Bị của người Do Thái, và ngôi mộ ấy ở gần, nên họ an táng Đức Chúa Jêsus tại đó.
Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, Ma-ri Ma-đơ-len đến mộ, thấy tảng đá đã được dời khỏi mộ.
Vậy, bà chạy đến với Si-môn Phi-e-rơ và môn đồ kia, là người Đức Chúa Jêsus yêu thương, và nói: “Người ta đã dời Chúa khỏi mộ, chúng tôi không biết họ để Ngài ở đâu?”
Phi-e-rơ với môn đồ kia bước ra, đi đến mộ.
Cả hai cùng chạy, nhưng môn đồ kia chạy nhanh hơn Phi-e-rơ và đến mộ trước.
Ông cúi xuống nhìn vào, thấy vải liệm nằm ở đó, nhưng không vào.
Si-môn Phi-e-rơ theo đến, bước vào trong mộ, thấy vải liệm nằm ở đó,
còn khăn che đầu Đức Chúa Jêsus thì không nằm chung với vải, nhưng cuốn lại để riêng ra một chỗ.
Lúc ấy, môn đồ kia đã đến mộ trước, cũng bước vào, thấy và tin.
Nhưng họ vẫn chưa hiểu lời Kinh Thánh chép rằng Ngài phải từ cõi chết sống lại.
Rồi các môn đồ trở về nhà.
Ma-ri đứng bên ngoài mộ mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ,
thấy hai thiên sứ mặc áo trắng ngồi tại chỗ đã đặt xác của Đức Chúa Jêsus, một vị ngồi đàng đầu, một vị đàng chân.
Hai thiên sứ hỏi: “Nầy bà, sao bà khóc?” Ma-ri trả lời: “Vì người ta đã dời Chúa tôi đi, tôi không biết họ để Ngài ở đâu!”
Vừa nói xong, bà quay lại, thấy Đức Chúa Jêsus đang đứng, nhưng bà không biết đó là Đức Chúa Jêsus.
Đức Chúa Jêsus hỏi bà: “Nầy bà, sao bà khóc? Bà tìm ai?” Ngỡ rằng đó là người làm vườn, nên bà nói: “Thưa ông, nếu ông đã dời Ngài đi, xin nói cho tôi biết ông đã đặt Ngài ở đâu để tôi sẽ đến đem về.”
Đức Chúa Jêsus gọi: “Ma-ri!” Bà quay lại dùng tiếng Hê-bơ-rơ thưa rằng: “Ra-bu-ni” (nghĩa là Thầy)!
Đức Chúa Jêsus bảo: “Đừng chạm đến Ta, vì Ta chưa lên với Cha! Nhưng hãy đi đến với anh em Ta, bảo họ rằng: Ta đang lên với Cha Ta và Cha các con, với Đức Chúa Trời Ta và Đức Chúa Trời các con.”
Ma-ri Ma-đơ-len đi báo cho các môn đồ rằng bà đã thấy Chúa, và Ngài đã nói cho bà những điều nầy.
Chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, cửa nơi các môn đồ ở đều đóng vì sợ người Do Thái. Đức Chúa Jêsus đến đứng giữa họ và nói: “Bình an cho các con!”
Nói xong, Ngài cho họ xem tay và sườn mình. Khi thấy Chúa, các môn đồ thật vui mừng.
Ngài lại nói với họ: “Bình an cho các con! Như Cha đã sai Ta thể nào, Ta cũng sai các con thể ấy.”
Nói xong, Ngài hà hơi trên họ và nói: “Hãy nhận lãnh Đức Thánh Linh.
Nếu các con tha tội cho ai thì tội của người ấy sẽ được tha; nếu các con cầm tội ai lại thì tội của người ấy sẽ bị cầm lại.”
Lúc Đức Chúa Jêsus đến thì Thô-ma gọi là Đi-đim, một trong mười hai sứ đồ, không có ở đó với họ.
Các môn đồ khác nói với ông: “Chúng tôi đã thấy Chúa.” Nhưng Thô-ma đáp: “Nếu tôi không thấy dấu đinh trong bàn tay Ngài, nếu tôi không đặt ngón tay tôi vào chỗ dấu đinh, và không đặt bàn tay tôi vào sườn Ngài thì tôi sẽ không tin.”
Tám ngày sau, các môn đồ lại họp trong nhà, Thô-ma cũng có ở đó với họ. Dù các cửa đều đóng, Đức Chúa Jêsus đến đứng giữa họ và nói: “Bình an cho các con!”
Rồi Ngài bảo Thô-ma: “Hãy đặt ngón tay con vào đây và xem bàn tay Ta. Hãy đưa bàn tay con ra và đặt vào sườn Ta. Đừng vô tín, nhưng hãy tin!”
Thô-ma thưa rằng: “Lạy Chúa của con và Đức Chúa Trời con!”
Đức Chúa Jêsus nói: “Có phải vì thấy Ta nên con tin chăng? Phước cho những người không thấy mà tin!”
Đức Chúa Jêsus còn làm nhiều dấu lạ khác trước mặt các môn đồ mà không ghi chép trong sách nầy.
Nhưng các việc nầy được ghi chép để anh em tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, và để khi anh em tin thì nhờ danh Ngài mà được sự sống.
Sau đó, Đức Chúa Jêsus lại hiện ra với các môn đồ Ngài bên bờ biển Ti-bê-ri-át. Việc Ngài hiện ra như sau:
Si-môn Phi-e-rơ, Thô-ma gọi là Đi-đim, Na-tha-na-ên, người thành Ca-na trong miền Ga-li-lê, các con trai của Xê-bê-đê, và hai môn đồ khác đang họp lại với nhau.
Si-môn Phi-e-rơ nói với họ: “Tôi đi đánh cá.” Những người kia đáp: “Chúng tôi đi với anh!” Họ đi ra, xuống thuyền, nhưng trong đêm ấy không bắt được gì cả.
Trời vừa sáng, Đức Chúa Jêsus đứng trên bờ, nhưng các môn đồ không biết đó là Đức Chúa Jêsus.
Đức Chúa Jêsus hỏi: “Các con ơi, không có con cá nào sao?” Họ đáp: “Thưa không.”
Ngài bảo: “Hãy thả lưới bên phải thuyền thì các con sẽ được.” Vậy, họ thả lưới xuống, được nhiều cá đến nỗi kéo lên không xuể.
Môn đồ được Đức Chúa Jêsus yêu thương nói với Phi-e-rơ: “Ấy là Chúa!” Khi Si-môn Phi-e-rơ nghe rằng ấy là Chúa thì mặc áo vào (vì đang ở trần), rồi nhảy xuống biển.
Các môn đồ khác đi vào bằng thuyền, kéo theo một tay lưới đầy cá, vì chỉ cách bờ khoảng chín chục mét.
Vừa bước lên bờ, họ thấy tại đó có lửa than với cá đang nướng ở trên, và có bánh nữa.
Đức Chúa Jêsus bảo họ: “Hãy đem một ít cá mà các con vừa đánh được lại đây.”
Si-môn Phi-e-rơ xuống thuyền, kéo tay lưới đầy một trăm năm mươi ba con cá lớn vào bờ. Dù nhiều cá như vậy, lưới vẫn không rách.
Đức Chúa Jêsus bảo: “Các con hãy lại dùng điểm tâm.” Không một ai trong các môn đồ dám hỏi Ngài: “Ông là ai?” Vì họ biết ấy là Chúa.
Đức Chúa Jêsus đến, lấy bánh trao cho họ, và cũng trao cá nữa.
Đây là lần thứ ba Đức Chúa Jêsus hiện ra với các môn đồ Ngài sau khi Ngài từ cõi chết sống lại.
Khi ăn xong, Đức Chúa Jêsus nói với Si-môn Phi-e-rơ rằng: “Si-môn, con của Giăng, con yêu Ta hơn những người nầy chăng?” Phi-e-rơ thưa: “Vâng, thưa Chúa, Chúa biết rằng con yêu Chúa.” Đức Chúa Jêsus bảo: “Hãy chăm sóc những chiên con của Ta.”
Ngài lại hỏi ông lần thứ hai: “Si-môn, con của Giăng ơi, con yêu Ta chăng?” Phi-e-rơ thưa: “Vâng, thưa Chúa, Chúa biết rằng con yêu Chúa.” Đức Chúa Jêsus bảo: “Hãy chăn chiên Ta.”
Ngài lại hỏi ông lần thứ ba: “Si-môn, con của Giăng ơi, con yêu Ta chăng?” Phi-e-rơ buồn vì Ngài hỏi mình đến ba lần: “Con yêu Ta chăng?” Ông thưa rằng: “Thưa Chúa, Chúa biết tất cả mọi sự; Chúa biết rằng con yêu Chúa.” Đức Chúa Jêsus bảo: “Hãy chăm sóc chiên Ta.
Thật, Ta bảo thật con, khi còn trẻ, con tự mình thắt lưng lấy, muốn đi đâu thì đi; nhưng lúc già, con sẽ đưa tay ra, để người khác thắt lưng cho và dẫn con đi đến nơi mình không muốn.”
Ngài nói điều nầy để chỉ về Phi-e-rơ sẽ chết cách nào để tôn vinh Đức Chúa Trời. Sau đó, Ngài bảo ông rằng: “Hãy theo Ta.”
Phi-e-rơ quay lại, thấy môn đồ Đức Chúa Jêsus yêu thương đang theo sau, là người trong bữa ăn tối đã nghiêng mình trên ngực Đức Chúa Jêsus mà hỏi: “Thưa Chúa, ai là kẻ phản Ngài?”
Khi thấy người ấy, Phi-e-rơ hỏi Đức Chúa Jêsus: “Thưa Chúa, còn người nầy thì sao?”
Đức Chúa Jêsus đáp: “Nếu Ta muốn người ấy cứ ở lại cho tới lúc Ta đến thì can hệ gì đến con? Phần con, hãy theo Ta.”
Vì vậy, có tiếng đồn ra trong các anh em rằng môn đồ nầy sẽ không chết. Nhưng Đức Chúa Jêsus không nói với Phi-e-rơ rằng: “Người nầy sẽ không chết,” mà chỉ nói: “Nếu Ta muốn người nầy cứ ở lại cho tới lúc Ta đến thì có can hệ gì đến con?”
Chính môn đồ ấy làm chứng về những việc nầy, và đã ghi chép lại. Chúng ta biết lời chứng của người ấy là xác thực.
Đức Chúa Jêsus còn làm nhiều việc khác nữa. Nếu cứ ghi chép hết từng việc, thì thiết nghĩ rằng cả thế gian cũng không thể chứa hết những sách được viết ra.
Thưa ngài Thê-ô-phi-lơ, trong sách thứ nhất, tôi đã viết về mọi điều Đức Chúa Jêsus đã làm và dạy từ ban đầu
cho đến ngày Ngài được cất lên trời, sau khi Ngài cậy Đức Thánh Linh mà răn dạy các sứ đồ Ngài đã chọn.
Ngài cũng dùng nhiều cách chứng tỏ cho các sứ đồ rằng Ngài đang sống sau khi đã chịu chết, và hiện đến với họ trong bốn mươi ngày, phán dạy về vương quốc Đức Chúa Trời.
Trong khi họp mặt với các sứ đồ, Ngài dặn họ: “Đừng ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem, nhưng phải ở đó chờ điều Cha đã hứa, là điều các con đã nghe Ta nói.
Vì Giăng đã làm báp-têm bằng nước, nhưng trong ít ngày nữa, các con sẽ được báp-têm bằng Đức Thánh Linh.”
Vậy, những người đang tụ họp tại đó thưa với Ngài rằng: “Lạy Chúa, có phải trong lúc nầy Chúa sẽ tái lập vương quốc Y-sơ-ra-ên chăng?”
Ngài đáp: “Kỳ hạn và thì giờ mà Cha đã tự quyền định lấy, đó là việc các con không cần biết.
Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các con thì các con sẽ nhận lấy quyền năng và làm chứng nhân cho Ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri cho đến cùng trái đất.”
Sau khi phán những điều ấy xong, Ngài được cất lên trong lúc các môn đồ đang nhìn xem Ngài. Có một đám mây tiếp Ngài khuất đi khỏi mắt họ.
Đang khi họ chăm chú nhìn lên trời lúc Ngài ngự lên, kìa, có hai người nam mặc áo trắng đứng gần họ
và nói: “Hỡi người Ga-li-lê, sao các ông cứ đứng nhìn lên trời như thế? Đức Chúa Jêsus nầy đã được cất lên trời khỏi các ông, cũng sẽ trở lại như cách các ông đã thấy Ngài lên trời vậy.”
Sau đó, các môn đồ từ núi gọi là Ô-liu trở về thành Giê-ru-sa-lem. Núi ấy gần Giê-ru-sa-lem, cách một quãng đường đi một ngày sa-bát.
Khi đã vào trong thành, họ lên một phòng cao, nơi họ đang trú ngụ. Những người đó là Phi-e-rơ, Giăng, Gia-cơ, Anh-rê, Phi-líp, Thô-ma, Ba-thê-lê-my, Ma-thi-ơ, Gia-cơ con của A-phê, Si-môn Xê-lốt, và Giu-đa con của Gia-cơ.
Tất cả những người ấy đều đồng tâm hiệp ý với các phụ nữ và Ma-ri là mẹ Đức Chúa Jêsus cùng các em trai Ngài mà cầu nguyện.
Trong những ngày ấy, Phi-e-rơ đứng dậy giữa các anh em (số người nhóm lại nơi đó khoảng một trăm hai mươi người) mà nói rằng:
“Thưa anh em, lời Kinh Thánh mà Đức Thánh Linh đã nhờ miệng vua Đa-vít nói tiên tri về Giu-đa, kẻ đã dẫn đường cho những kẻ bắt Đức Chúa Jêsus, phải được ứng nghiệm.
Vì nó vốn ở trong số chúng ta và đã dự phần trong chức vụ nầy.
Nó lấy tiền thưởng của tội ác mình mà mua một đám ruộng, rồi ngã nhào xuống đó, nứt bụng và đổ ruột ra.
Chuyện đó cả dân thành Giê-ru-sa-lem đều biết rõ, đến nỗi họ gọi ruộng ấy theo thổ âm mình là Hác-en-đa-ma, nghĩa là ruộng máu.
Trong sách Thi Thiên cũng có chép rằng: ‘Nguyền cho chỗ ở nó trở nên hoang vu, Đừng có ai cư trú ở đó’ và: ‘Nguyền cho có một người khác nhận lấy chức vụ nó.’
Vậy, trong những người từng ở với chúng ta trong suốt thời gian Chúa là Đức Chúa Jêsus đi lại giữa chúng ta,
từ khi Ngài được Giăng làm báp-têm cho đến ngày Ngài được cất lên khỏi giữa chúng ta, phải có một người cùng với chúng ta làm chứng về sự sống lại của Ngài.”
Các môn đồ cử ra hai người: Giô-sép tức là Ba-sa-ba, cũng gọi là Giúc-tu, và Ma-thia.
Rồi họ cầu nguyện rằng: “Lạy Chúa, Ngài là Đấng biết rõ lòng mọi người, xin tỏ ra cho chúng con biết trong hai người nầy, ai là người Chúa đã chọn
để thay thế nhiệm vụ và chức sứ đồ của Giu-đa, kẻ đã phản bội để đi đến nơi dành riêng cho nó.”
Họ bắt thăm trúng nhằm Ma-thia, và ông được bổ sung vào mười một sứ đồ.
Đến ngày lễ Ngũ Tuần, các môn đồ nhóm họp tại một chỗ.
Thình lình, có tiếng động từ trời đến như tiếng gió thổi ào ào, đầy khắp nhà môn đồ ngồi.
Các môn đồ thấy những lưỡi như lưỡi lửa xuất hiện, tản ra và đậu trên mỗi người trong họ.
Tất cả đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, bắt đầu nói các ngôn ngữ khác, theo như Thánh Linh cho họ nói.
Bấy giờ có những người Do Thái sùng đạo từ các dân trong thiên hạ về, đang lưu trú tại Giê-ru-sa-lem.
Khi nghe tiếng ấy, dân chúng kéo đến và sửng sốt vì mỗi người đều nghe các môn đồ nói tiếng bản xứ của mình.
Họ rất ngạc nhiên và hỏi nhau: “Tất cả những người đang nói đó không phải là người Ga-li-lê sao?
Vậy sao mỗi người chúng ta đều nghe họ nói tiếng bản xứ của mình?
Nào người Bạt-thê, Mê-đi, Ê-la-mít, kẻ ở tại Mê-sô-pô-ta-mi, Giu-đê, Cáp-pa-đốc, Pông, A-si-a,
Phi-ri-gi, Pam-phi-ly, Ai Cập, các vùng thuộc Li-by gần Sy-ren; nào du khách từ Rô-ma đến,
cả người Do Thái hoặc người theo đạo Do Thái, người Cơ-rết và Ả-rập nữa, chúng ta đều nghe họ dùng ngôn ngữ chúng ta mà nói về những việc quyền năng của Đức Chúa Trời.”
Mọi người đều kinh ngạc và bối rối, nói với nhau: “Việc nầy có nghĩa gì?”
Nhưng có kẻ lại chế giễu rằng: “Họ say rượu mới rồi đó.”
Nhưng Phi-e-rơ đứng với mười một sứ đồ, lên tiếng nói với dân chúng: “Thưa anh em là người Do Thái và tất cả những người ở Giê-ru-sa-lem! Hãy biết rõ điều nầy và lắng tai nghe lời tôi nói:
Những người nầy chẳng phải say như anh em tưởng đâu, vì bây giờ mới là chín giờ sáng ban ngày!
Nhưng đây là điều Chúa đã phán qua nhà tiên tri Giô-ên:
‘Đức Chúa Trời phán: Trong những ngày cuối cùng, Ta sẽ đổ Thánh Linh Ta trên mọi xác thịt; Con trai và con gái các ngươi sẽ nói tiên tri, Thanh niên sẽ thấy khải tượng, Và người già sẽ thấy chiêm bao.
Phải, trong những ngày đó, Ta sẽ đổ Thánh Linh Ta trên các đầy tớ trai và gái Ta, Và họ sẽ nói tiên tri;
Ta lại sẽ làm các phép mầu ở trên trời, Và dấu lạ ở dưới đất; tức là máu, lửa, và luồng khói;
Mặt trời sẽ trở nên tối tăm, Mặt trăng sẽ hóa ra máu, Trước ngày vĩ đại và vinh quang của Chúa đến.
Và ai cầu khẩn danh Chúa thì sẽ được cứu.’
Thưa đồng bào Y-sơ-ra-ên, xin hãy nghe tôi nói đây: Đức Chúa Jêsus người Na-xa-rét đã được Đức Chúa Trời xác chứng trước anh em bằng những việc quyền năng, các phép mầu và dấu lạ. Qua Ngài, Đức Chúa Trời đã thực hiện những điều đó giữa anh em như chính anh em đều biết rõ.
Ngài đã bị phản nộp theo kế hoạch đã định và sự biết trước của Đức Chúa Trời, các ông đã mượn tay những kẻ gian ác đóng đinh Ngài trên thập tự giá và giết đi.
Nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại, giải thoát Ngài khỏi nỗi thống khổ của sự chết, vì nó không thể cầm giữ Ngài được.
Bởi Đa-vít có nói về Ngài: ‘Tôi luôn thấy Chúa ở trước mặt tôi, Vì Ngài ở bên phải tôi, nên tôi không hề bị rúng động.
Do đó, lòng tôi vui vẻ, lưỡi tôi mừng rỡ, Và thể xác tôi cũng sẽ an nghỉ trong hi vọng.
Vì Chúa sẽ không bỏ linh hồn tôi nơi âm phủ, Cũng không để cho Đấng Thánh của Ngài thấy sự hư nát.
Chúa đã cho tôi biết con đường sự sống, Cũng sẽ khiến tôi tràn đầy niềm vui trước mặt Ngài.’
Thưa anh em, tôi có thể nói quả quyết với anh em rằng tổ phụ Đa-vít là người đã chết, được an táng và hiện nay ngôi mộ của người vẫn còn ở giữa chúng ta.
Nhưng người là một nhà tiên tri, biết Đức Chúa Trời đã thề hứa rằng Ngài sẽ đặt một người thuộc dòng dõi người ngồi trên ngai mình.
Do đó, người đã thấy trước và nói về sự sống lại của Đấng Christ rằng: Ngài chẳng bị bỏ nơi âm phủ, Thân thể Ngài chẳng thấy sự rữa nát.
Đức Chúa Trời đã khiến Đức Chúa Jêsus nầy sống lại; tất cả chúng tôi đều làm nhân chứng về điều đó.
Vậy sau khi đã được tôn cao ở bên phải Đức Chúa Trời và đã nhận lãnh lời hứa về Đức Thánh Linh từ nơi Cha, Ngài đổ Đức Thánh Linh ra như anh em đang thấy và nghe.
Vì vua Đa-vít chẳng hề lên trời, nhưng chính người có nói: ‘Chúa đã phán với Chúa tôi rằng: Hãy ngồi bên phải Ta,
Cho đến khi nào Ta đặt các kẻ thù con làm bệ chân cho con.’
Vì thế, cả nhà Y-sơ-ra-ên hãy biết chắc chắn rằng Đức Chúa Jêsus nầy, Đấng mà anh em đã đóng đinh trên thập tự giá, đã được Đức Chúa Trời tôn làm Chúa và Đấng Christ.”
Khi nghe điều ấy, lòng đau như cắt, họ liền hỏi Phi-e-rơ và các sứ đồ khác rằng: “Các anh ơi, chúng tôi phải làm gì đây?”
Phi-e-rơ trả lời: “Hãy ăn năn, mỗi người phải nhân danh Đức Chúa Jêsus nhận báp-têm để được tha tội mình, rồi sẽ nhận lãnh quà tặng là Đức Thánh Linh.
Vì lời hứa đó dành cho anh em, cho con cháu anh em, và cho tất cả mọi người ở xa, tức là tất cả những người mà Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta sẽ kêu gọi.”
Phi-e-rơ lại lấy nhiều lời làm chứng mà thúc giục họ rằng: “Anh em hãy cứu lấy mình thoát khỏi thế hệ gian tà nầy!”
Vậy, những người tiếp nhận lời đó đều nhận báp-têm, và trong ngày ấy, có độ ba nghìn người thêm vào Hội Thánh.
Các tín hữu chuyên tâm giữ lời dạy của các sứ đồ, mối thông công với anh em, lễ bẻ bánh, và sự cầu nguyện.
Mọi người đều kính sợ vì có nhiều phép mầu và dấu lạ được thực hiện qua các sứ đồ.
Tất cả tín hữu đều hiệp lại với nhau và lấy mọi vật làm của chung.
Họ bán hết tài sản, của cải mình có mà phân phát cho nhau tùy theo nhu cầu của mỗi người.
Ngày nào họ cũng chuyên tâm đến đền thờ; và từ nhà nầy đến nhà khác, họ bẻ bánh và dùng bữa cùng nhau với lòng vui vẻ, chân thành,
ca ngợi Đức Chúa Trời và được ơn trước mặt mọi người. Mỗi ngày, Chúa thêm số người được cứu vào Hội Thánh.
Bấy giờ, Phi-e-rơ và Giăng cùng lên đền thờ vào buổi cầu nguyện ba giờ chiều.
Có một người què từ lúc lọt lòng mẹ, hằng ngày được người ta đem đến đặt tại cửa đền thờ, gọi là Cửa Đẹp, để xin tiền những người vào đền thờ.
Thấy Phi-e-rơ và Giăng sắp bước vào đền thờ, anh ta xin hai ông bố thí.
Phi-e-rơ và Giăng nhìn thẳng vào anh rồi nói: “Hãy nhìn vào chúng tôi.”
Anh chăm chú nhìn hai ông với hi vọng sẽ nhận được chút gì.
Nhưng Phi-e-rơ nói với anh: “Tôi không có vàng bạc gì cả, nhưng điều tôi có thì tôi cho anh: Nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ người Na-xa-rét, hãy đứng dậy và bước đi!”
Phi-e-rơ nắm tay phải anh và đỡ dậy. Lập tức hai bàn chân và mắt cá anh trở nên cứng vững.
Anh liền nhảy lên, đứng thẳng và bước đi cùng hai ông vào đền thờ, vừa đi vừa nhảy, vừa ca ngợi Đức Chúa Trời.
Khi tất cả dân chúng thấy anh bước đi và ca ngợi Đức Chúa Trời,
họ nhận ra chính anh là người đã ngồi tại Cửa Đẹp của đền thờ để xin bố thí thì kinh ngạc và sửng sốt về việc đã xảy đến cho anh.
Trong lúc anh ta đang níu lấy Phi-e-rơ và Giăng, tất cả dân chúng lấy làm kinh ngạc và đổ xô đến với họ tại nơi gọi là hành lang Sa-lô-môn.
Thấy vậy, Phi-e-rơ liền nói với dân chúng: “Thưa đồng bào Y-sơ-ra-ên, tại sao anh em ngạc nhiên về việc nầy? Sao anh em nhìn chăm chúng tôi như thể chúng tôi đã nhờ quyền năng hay đạo đức riêng của mình mà khiến người nầy đi được?
Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác và Đức Chúa Trời của Gia-cốp, Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta đã tôn vinh đầy tớ Ngài là Đức Chúa Jêsus, Đấng mà anh em đã bắt nộp và chối bỏ trước mặt Phi-lát trong khi ông ấy có ý định tha Ngài.
Anh em đã chối bỏ Đấng Thánh và Đấng Công Chính mà lại xin tha cho mình một kẻ sát nhân.
Anh em đã giết Chúa của sự sống, nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ cõi chết sống lại; chúng tôi là những nhân chứng cho điều đó.
Chính đức tin trong danh Ngài đã làm cho người mà anh em thấy và biết đây được vững mạnh. Chính danh Ngài và đức tin nơi Ngài đã khiến người nầy hoàn toàn khỏe mạnh như tất cả anh em đã thấy.
Thưa anh em, bây giờ tôi biết anh em và những người lãnh đạo của anh em đã làm điều ấy vì thiếu hiểu biết.
Nhưng Đức Chúa Trời đã dùng cách ấy để làm ứng nghiệm lời Ngài đã báo trước qua môi miệng các nhà tiên tri rằng Đấng Christ của Ngài phải chịu đau đớn.
Vậy, anh em hãy ăn năn và trở về với Đức Chúa Trời để tội lỗi mình được xóa bôi,
hầu cho các thời kỳ tươi mới mà Chúa ban cho sẽ đến, và để Ngài sai Đấng Christ, tức là Đức Chúa Jêsus, Đấng đã được chỉ định trước, đến với anh em.
Đấng ấy phải được giữ lại trên trời cho đến thời kỳ muôn vật phục hồi, như Đức Chúa Trời đã phán qua miệng các nhà tiên tri thánh từ nghìn xưa.
Thật vậy, Môi-se có nói: ‘Chúa là Đức Chúa Trời các ngươi sẽ dấy lên trong anh em các ngươi một Đấng tiên tri như ta và các ngươi phải nghe theo mọi điều Ngài phán bảo.
Nếu ai không nghe Đấng tiên tri ấy sẽ bị khai trừ khỏi dân chúng.’
Tất cả các nhà tiên tri, từ Sa-mu-ên cho đến các vị kế tiếp, khi nói tiên tri cũng đều rao truyền những ngày nầy.
Anh em là con cháu của các nhà tiên tri và của giao ước Đức Chúa Trời đã lập với tổ phụ chúng ta khi Ngài phán với Áp-ra-ham: ‘Mọi dân tộc trên đất sẽ nhờ dòng dõi con mà được phước.’
Đức Chúa Trời đã dấy Đầy Tớ Ngài lên và phái Ngài đến với anh em trước tiên, để ban phước cho anh em bằng cách khiến mỗi người trong anh em lìa bỏ đường lối gian ác của mình.”
Trong khi Phi-e-rơ và Giăng đang nói với dân chúng thì các thầy tế lễ, viên quản lý đền thờ, và những người Sa-đu-sê kéo đến.
Họ bực tức vì hai ông dạy dỗ dân chúng và công bố rằng trong Đức Chúa Jêsus có sự sống lại từ cõi chết.
Họ bắt hai ông giam vào ngục cho đến ngày hôm sau, vì lúc ấy trời đã tối.
Mặc dù vậy, có nhiều người trong số họ đã nghe lời Chúa thì tin, và số nam tín hữu lên đến năm nghìn.
Ngày hôm sau, các nhà lãnh đạo, các trưởng lão, các thầy thông giáo họp tại Giê-ru-sa-lem,
cùng với An-ne là thầy tế lễ thượng phẩm, Cai-phe, Giăng, A-léc-xan-đơ và tất cả những người thuộc về gia đình thầy tế lễ thượng phẩm.
Họ bắt hai ông đến đứng giữa họ và tra hỏi: “Nhờ quyền năng nào hay là nhân danh ai mà các anh làm điều nầy?”
Bấy giờ Phi-e-rơ, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, nói rằng: “Thưa các vị lãnh đạo và quý trưởng lão!
Nếu hôm nay chúng tôi bị tra hỏi vì đã làm phước cho một người tàn tật, và bằng cách nào người nầy được chữa lành,
thì xin tất cả quý vị và toàn dân Y-sơ-ra-ên hãy biết rằng nhờ danh của Đức Chúa Jêsus Christ người Na-xa-rét, Đấng mà quý vị đã đóng đinh trên thập tự giá, và Đức Chúa Trời đã khiến sống lại từ cõi chết; chính nhờ danh ấy mà người nầy được lành mạnh và hiện đứng trước mặt quý vị đây.
Ngài là hòn đá bị các ông là những thợ xây nhà loại ra, Nhưng lại trở nên hòn đá góc nhà.
Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác, vì ở dưới trời chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta nhờ đó mà được cứu.”
Khi thấy sự dạn dĩ của Phi-e-rơ và Giăng, biết rõ hai ông là những người tầm thường, ít học, thì họ đều kinh ngạc và nhận ra rằng hai ông đã từng ở với Đức Chúa Jêsus.
Nhưng vì thấy người què được chữa lành đứng bên cạnh hai ông, nên họ không có lời gì để phản bác được.
Sau khi bảo hai ông rời khỏi Hội đồng, họ bàn luận với nhau
rằng: “Chúng ta phải làm gì với mấy người nầy? Vì mọi người ở Giê-ru-sa-lem đều biết họ thật đã làm một phép lạ hiển nhiên và chúng ta không thể chối cãi được.
Tuy nhiên, để việc đó không đồn ra trong dân chúng thêm nữa, chúng ta hãy cảnh cáo họ không được lấy danh đó giảng dạy cho bất cứ ai nữa.”
Vậy, họ gọi hai ông vào và cấm nhân danh Đức Chúa Jêsus mà nói hay dạy nữa.
Nhưng Phi-e-rơ và Giăng trả lời: “Xin các ông hãy suy xét, trước mặt Đức Chúa Trời có nên vâng lời các ông hơn là vâng lời Đức Chúa Trời chăng?
Vì chúng tôi không thể không nói về những điều mình đã thấy và nghe.”
Sau khi tiếp tục hăm dọa, họ thả hai ông ra, không tìm được cách nào để trừng phạt hai ông vì sợ dân chúng, bởi tất cả đều tôn vinh Đức Chúa Trời về việc đã xảy ra.
Người đàn ông đã được phép lạ chữa lành đó đã ngoài bốn mươi tuổi.
Sau khi được thả ra, hai ông đến với anh em mình và thuật lại mọi điều các thầy tế lễ cả và các trưởng lão đã nói.
Nghe xong, họ đồng một lòng lớn tiếng cầu nguyện với Đức Chúa Trời rằng: “Lạy Chúa, là Đấng dựng nên trời, đất, biển, cùng muôn vật trong đó,
Ngài đã dùng Đức Thánh Linh phán qua miệng của tổ phụ Đa-vít chúng tôi, là đầy tớ Ngài, rằng: ‘Vì sao các nước nổi giận, Và vì sao các dân lập mưu vô ích?
Các vua chúa trên mặt đất nổi lên, Các lãnh tụ họp lại, Nghịch với Chúa và Đấng được xức dầu của Ngài’
Thật vậy, Hê-rốt và Pôn-xơ Phi-lát cùng với các dân ngoại và dân Y-sơ-ra-ên đã tụ họp tại thành nầy để chống lại Đầy Tớ thánh Ngài là Đức Chúa Jêsus, Đấng mà Ngài đã xức dầu
để làm mọi việc tay Ngài và ý Ngài đã định trước.
Bây giờ, xin Chúa xem xét lời hăm dọa của họ và cho các đầy tớ Ngài dạn dĩ rao giảng lời Ngài.
Xin giơ tay Ngài ra để chữa lành và làm những phép mầu, dấu lạ qua danh Đầy Tớ thánh của Ngài là Đức Chúa Jêsus.”
Khi cầu nguyện xong thì nơi nhóm lại rúng động, mọi người đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, giảng lời Đức Chúa Trời một cách dạn dĩ.
Bấy giờ, cả cộng đồng tín hữu đều đồng tâm hiệp ý, không ai xem tài sản mình là của riêng nhưng kể mọi vật là của chung.
Các sứ đồ lấy quyền năng rất lớn mà làm chứng về sự sống lại của Chúa là Đức Chúa Jêsus, và Ngài đổ ân điển lớn lao trên mọi người.
Vì thế, không ai trong các tín hữu thiếu thốn, vì những người có ruộng đất hay nhà cửa đều bán đi, đem số tiền bán được
đặt dưới chân các sứ đồ; rồi tiền ấy được phân phát tùy theo nhu cầu của mỗi người.
Giô-sép, người mà các sứ đồ đặt tên là Ba-na-ba, nghĩa là con trai của sự an ủi, thuộc dòng Lê-vi, quê ở Síp,
bán đám ruộng của mình và đem tiền đặt nơi chân các sứ đồ.
Nhưng có một người tên là A-na-nia, cùng với vợ là Sa-phi-ra, bán tài sản mình.
Ông đồng ý với vợ giữ lại một phần tiền bán, rồi đem phần còn lại đặt dưới chân các sứ đồ.
Phi-e-rơ nói: “Nầy A-na-nia! Sao để Sa-tan đầy dẫy lòng anh, đến nỗi anh nói dối Đức Thánh Linh mà giữ lại một phần tiền bán ruộng đó?
Khi chưa bán ruộng đó, nó không phải là của anh sao? Khi bán rồi, tiền đó không thuộc quyền sử dụng của anh sao? Tại sao anh lại toan tính việc như thế trong lòng? Không phải anh nói dối loài người đâu mà là nói dối Đức Chúa Trời.”
Nghe những lời ấy xong, A-na-nia ngã xuống và tắt thở. Mọi người nghe điều đó đều kinh hãi.
Các thanh niên đứng dậy khâm liệm xác ông ta và đem đi chôn.
Khoảng ba giờ sau, vợ ông ấy bước vào, chưa hề biết việc mới xảy ra.
Phi-e-rơ nói với bà: “Hãy cho tôi biết, có phải chị đã bán đám ruộng với giá chừng ấy không?” Chị thưa: “Vâng, giá chừng ấy.”
Phi-e-rơ nói: “Sao anh chị dám đồng mưu để thử Thánh Linh của Chúa? Kìa, chân những người chôn chồng chị đang ở ngoài cửa, họ sẽ đem chị đi luôn.”
Chính lúc đó, chị ấy ngã xuống nơi chân Phi-e-rơ và tắt thở. Các thanh niên trở về thấy chị đã chết, liền khiêng đi chôn bên mộ chồng.
Cả Hội Thánh và tất cả những người nghe các việc nầy đều rất kinh hãi.
Bấy giờ, có nhiều phép mầu và dấu lạ được thực hiện giữa dân chúng bởi tay các sứ đồ. Tất cả các tín hữu đều hiệp ý nhóm nhau dưới hiên cửa Sa-lô-môn.
Không một ai khác dám tham dự với họ, nhưng dân chúng thì rất nể trọng.
Số người tin Chúa ngày càng thêm đông đảo, gồm cả nam lẫn nữ,
đến nỗi người ta phải đem những người bệnh để ngoài đường phố, đặt nằm trên giường và chõng để khi Phi-e-rơ đi ngang qua, bóng của ông ít ra cũng ngả trên một vài bệnh nhân.
Dân chúng ở các thành phố lân cận cũng tụ họp về Giê-ru-sa-lem, đem đến những người đau ốm, những kẻ bị tà linh hành hạ và tất cả đều được chữa lành.
Bấy giờ thầy tế lễ thượng phẩm và những kẻ theo ông, tức là phái Sa-đu-sê, đầy lòng ganh tị, đứng dậy
bắt các sứ đồ giam vào ngục.
Nhưng ban đêm có một thiên sứ của Chúa mở cửa ngục đem các sứ đồ ra và dặn rằng:
“Hãy đi, đứng nơi đền thờ và rao giảng cho dân chúng mọi lời của sự sống nầy.”
Nghe thế, các sứ đồ đi vào đền thờ vừa lúc rạng đông và bắt đầu dạy dỗ. Khi thầy tế lễ thượng phẩm và đoàn tùy tùng đến, họ triệu tập Hội đồng với tất cả trưởng lão của dân Y-sơ-ra-ên lại, rồi sai người vào ngục để giải các sứ đồ đến.
Nhưng các người thừa hành vào trong ngục, không thấy các sứ đồ tại đó, liền trở về trình
rằng: “Chúng tôi thấy ngục đóng rất cẩn thận và lính canh đứng trước cửa, nhưng lúc mở ra thì chẳng thấy một người nào ở trong đó.”
Viên quản lý đền thờ và các thầy tế lễ cả nghe những lời ấy thì bối rối về các sứ đồ và không biết việc nầy sẽ ra sao.
Nhưng có người đến báo với họ rằng: “Kìa, những người mà các ông đã bỏ tù, bây giờ đang ở trong đền thờ dạy dỗ dân chúng!”
Viên quản lý đền thờ với các nhân viên liền đi đến nơi và bắt các sứ đồ dẫn đi, nhưng không dùng bạo lực vì họ sợ bị dân chúng ném đá.
Họ giải các sứ đồ đi và đem đến Hội đồng. Thầy tế lễ thượng phẩm tra hỏi các sứ đồ rằng:
“Chúng tôi đã nghiêm cấm các anh lấy danh đó để dạy dỗ, thế mà các anh đã làm cho Giê-ru-sa-lem tràn ngập giáo lý của mình, lại còn muốn cho máu Người ấy đổ lại trên chúng tôi nữa chứ!”
Phi-e-rơ và các sứ đồ trả lời: “Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn vâng lời người ta.
Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta đã khiến Đức Chúa Jêsus sống lại, là Đấng mà các ông đã treo trên cây gỗ và giết đi.
Đức Chúa Trời đã đem Đấng ấy lên bên phải Ngài làm Vua và Cứu Chúa để ban sự ăn năn và sự tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên.
Chính chúng tôi là những nhân chứng cho các việc ấy cùng với Đức Thánh Linh mà Đức Chúa Trời đã ban cho những người vâng lời Ngài.”
Khi nghe những lời nầy thì họ giận điên lên và muốn giết các sứ đồ.
Nhưng có một người Pha-ri-si tên là Ga-ma-li-ên, giáo sư về luật pháp, được tất cả dân chúng kính trọng, đứng lên giữa Hội đồng và truyền lệnh đem các sứ đồ ra ngoài một lúc.
Rồi ông nói với họ: “Thưa đồng bào Y-sơ-ra-ên, hãy cẩn thận về cách quý vị đối xử với những người nầy.
Trước đây, Thêu-đa dấy lên, xưng hùng xưng bá, có độ bốn trăm người theo nó, nhưng nó bị giết, và tất cả những kẻ theo nó đều tan rã, không còn gì cả.
Sau nó cũng có Giu-đa, người Ga-li-lê, dấy lên vào thời kỳ kiểm tra dân số và lôi kéo nhiều người theo mình; nhưng rồi cũng chết, tất cả những kẻ theo nó cũng bị tan lạc.
Bây giờ tôi xin khuyên quý vị: Hãy tránh xa những người nầy, cứ để mặc họ, vì nếu mưu định và công việc nầy đến từ loài người thì sẽ bị thất bại;
nhưng nếu bởi Đức Chúa Trời mà ra thì quý vị không thể nào tiêu diệt họ được; trái lại, quý vị liều mình chiến đấu chống lại Đức Chúa Trời.” Vậy, họ nghe theo lời khuyên của Ga-ma-li-ên.
Họ gọi các sứ đồ trở vào, sai đánh đòn và cấm lấy danh Đức Chúa Jêsus mà giảng dạy, rồi thả hai ông ra.
Vậy, các sứ đồ rời khỏi Hội đồng, vui mừng vì họ đã được kể là xứng đáng chịu nhục vì danh Chúa.
Hằng ngày, trong đền thờ hoặc từ nhà nầy sang nhà khác, các sứ đồ cứ tiếp tục dạy dỗ và rao truyền Tin Lành của Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ.
Trong lúc đó, số môn đồ gia tăng; những người Do Thái nói tiếng Hi Lạp phàn nàn, trách móc người Do Thái nói tiếng A-ram, vì những góa phụ của họ đã bị bỏ bê trong việc cấp phát lương thực hằng ngày.
Mười hai sứ đồ triệu tập tất cả môn đồ lại và nói: “Bỏ việc giảng dạy lời Đức Chúa Trời để phục vụ bàn ăn là điều không phải.
Vậy, xin anh em hãy chọn trong số mình bảy người được tiếng tốt, đầy dẫy Thánh Linh và khôn ngoan, chúng tôi sẽ giao trách nhiệm nầy cho họ.
Còn chúng tôi sẽ cứ chuyên tâm về sự cầu nguyện và phục vụ lời Chúa.”
Tất cả mọi người đều hài lòng về các lời ấy; họ đã chọn Ê-tiên là người đầy đức tin và Đức Thánh Linh, Phi-líp, Bô-cô-rơ, Ni-ca-no, Ti-môn, Ba-mê-na và Ni-cô-la là người An-ti-ốt theo Do Thái giáo.
Họ trình diện bảy người ấy cho các sứ đồ; các sứ đồ cầu nguyện rồi đặt tay trên những người nầy.
Đạo của Đức Chúa Trời ngày càng phát triển; số môn đồ tại Giê-ru-sa-lem gia tăng gấp bội. Rất nhiều thầy tế lễ cũng vâng theo đạo nữa.
Ê-tiên được đầy ân điển và quyền năng, làm những phép mầu và dấu lạ rất lớn trong dân chúng.
Lúc ấy, có mấy hội viên của nhà hội gọi là nhà hội của những người tự do và những người quê ở Sy-ren, A-léc-xan-đờ-ri-a, cùng những người Do Thái ở Si-li-si và xứ A-si-a nổi lên tranh luận với Ê-tiên.
Nhưng họ không chống nổi lời lẽ khôn ngoan và Thánh Linh là Đấng đã ban cho ông những lời lẽ ấy,
nên ngầm xúi giục một số người vu cáo rằng: “Chúng tôi đã nghe nó nói những lời xúc phạm đến Môi-se và Đức Chúa Trời.”
Họ kích động dân chúng, các trưởng lão và các thầy thông giáo xông vào bắt và giải ông đến trước Hội đồng.
Họ đưa ra những nhân chứng dối, nói rằng: “Người nầy thường nói những lời xúc phạm đến nơi thánh và luật pháp.
Vì chúng tôi đã nghe nó nói rằng Jêsus người Na-xa-rét nầy sẽ phá hủy nơi đây và thay đổi tục lệ mà Môi-se đã truyền lại cho chúng ta.”
Tất cả những người ngồi tại Hội đồng đều nhìn chăm Ê-tiên và thấy mặt ông giống như mặt thiên sứ.
Thầy tế lễ thượng phẩm hỏi Ê-tiên: “Có đúng như vậy không?”
Ê-tiên trả lời: “Thưa các anh, các cha, xin hãy nghe tôi nói! Đức Chúa Trời vinh quang đã hiện ra cùng tổ phụ chúng ta là Áp-ra-ham khi ông còn ở tại Mê-sô-pô-ta-mi, trước khi đến định cư tại Cha-ran,
và phán rằng: ‘Hãy ra khỏi quê hương và bà con của con mà đi đến vùng đất Ta sẽ chỉ cho.’
Vậy, ông ra khỏi xứ Canh-đê và định cư tại Cha-ran. Sau khi thân phụ ông qua đời, Đức Chúa Trời khiến ông di chuyển từ nơi đó qua xứ mà quý vị hiện đang ở đây.
Ngài chẳng ban cho ông tài sản gì trong xứ nầy, dù một tấc đất lọt bàn chân cũng không, nhưng Ngài hứa cho ông và dòng dõi ông chiếm hữu vùng đất nầy, mặc dù bấy giờ ông chưa có con.
Đức Chúa Trời cho biết rằng dòng dõi ông sẽ là kiều dân nơi đất khách, người ta sẽ bắt họ làm nô lệ và bạc đãi họ trong bốn trăm năm.
Đức Chúa Trời phán: ‘Nhưng Ta sẽ phán xét dân tộc đã bắt họ làm nô lệ; sau đó, họ sẽ ra khỏi và thờ phượng Ta tại nơi nầy.’
Đức Chúa Trời ban cho ông giao ước qua lễ cắt bì. Vậy, khi Áp-ra-ham đã sinh một con trai là Y-sác thì cắt bì cho con trong ngày thứ tám. Y-sác cắt bì cho Gia-cốp và Gia-cốp cũng làm như vậy cho mười hai tổ phụ.
Các tổ phụ ganh tị với Giô-sép, nên bán ông qua Ai Cập; nhưng Đức Chúa Trời ở cùng ông.
Ngài giải cứu ông khỏi mọi hoạn nạn, ban cho ông ân điển và sự khôn ngoan trước mặt Pha-ra-ôn, vua Ai Cập; vua bổ nhiệm ông làm người lãnh đạo Ai Cập và cả hoàng gia.
Bấy giờ, có một nạn đói xảy ra trong cả nước Ai Cập và Ca-na-an, là một tai họa lớn khiến cho các tổ phụ của chúng ta không tìm được thực phẩm.
Khi Gia-cốp nghe ở Ai Cập có lúa mì, ông sai các tổ phụ chúng ta qua đó lần thứ nhất.
Đến lần thứ hai, Giô-sép mới tỏ cho anh em biết về mình; do đó, Pha-ra-ôn cũng biết gia đình Giô-sép nữa.
Giô-sép sai rước Gia-cốp là cha mình và cả nhà, tổng cộng là bảy mươi lăm người.
Vậy, Gia-cốp xuống Ai Cập rồi chết tại đó, các tộc trưởng chúng ta cũng vậy;
hài cốt họ được đem về Si-chem, và chôn trong mộ mà Áp-ra-ham đã bỏ tiền mua của các con trai Hê-mô ở Si-chem.
Khi gần đến thời kỳ Đức Chúa Trời làm ứng nghiệm lời hứa với Áp-ra-ham, dân số của chúng ta ở Ai Cập cứ tiếp tục gia tăng gấp bội,
cho đến khi có một vua khác lên ngôi cai trị Ai Cập và không biết đến Giô-sép.
Vua nầy mưu hại nòi giống chúng ta và ngược đãi các tổ phụ chúng ta, ép buộc họ phải vứt bỏ các trẻ sơ sinh, không để cho chúng sống.
Vào thời điểm đó, Môi-se ra đời, khôi ngô tuấn tú trước mặt Chúa và được nuôi tại nhà mình trong ba tháng.
Khi Môi-se bị đem đi bỏ thì được con gái Pha-ra-ôn nhận làm con và nuôi dưỡng như con ruột mình.
Môi-se được học tất cả sự khôn ngoan của người Ai Cập; ông có năng lực trong cả lời nói lẫn việc làm.
Lúc được bốn mươi tuổi, ông nẩy sinh ý định đi thăm các anh em mình là con cái của Y-sơ-ra-ên.
Khi thấy một người trong họ bị đối xử bất công, Môi-se liền bênh vực người bị hà hiếp và đánh chết người Ai Cập đó để báo thù.
Ông tưởng anh em mình hiểu rằng Đức Chúa Trời dùng tay mình giải cứu họ, nhưng họ không hiểu.
Ngày hôm sau, khi họ đang đánh lộn với nhau thì ông đến gần và giải hòa: ‘Nầy các anh, đã là anh em, sao lại xử tệ với nhau như thế?’
Kẻ đang ức hiếp người lân cận mình xô Môi-se ra và nói: ‘Ai đã lập anh làm người cai trị và làm quan tòa của chúng tôi?
Anh cũng muốn giết tôi như đã giết tên Ai Cập hôm qua sao?’
Môi-se vừa nghe lời đó thì chạy trốn và đến cư trú trong xứ Ma-đi-an. Ở đó, ông sinh được hai con trai.
Bốn mươi năm sau, một thiên sứ hiện ra với ông trong ngọn lửa nơi bụi gai đang cháy tại hoang mạc núi Si-na-i.
Môi-se thấy và kinh ngạc trước cảnh dị thường ấy nên tiến lại gần để xem cho rõ hơn thì ông nghe tiếng Chúa phán:
‘Ta là Đức Chúa Trời của tổ phụ con, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, của Y-sác và của Gia-cốp.’ Môi-se run sợ, chẳng dám nhìn.
Chúa lại phán: ‘Hãy cởi dép khỏi chân con vì chỗ con đang đứng là đất thánh.
Ta đã thấy rõ cảnh khốn khổ của dân Ta tại Ai Cập và đã nghe tiếng thở than của họ nên xuống giải cứu họ. Bây giờ hãy đến, Ta sẽ sai con đến Ai Cập.’
Chính Môi-se nầy là người họ đã từ chối và nói: ‘Ai đã lập ông làm người cai trị và quan tòa?’, thì nay Đức Chúa Trời đã sai ông làm người lãnh đạo và vị cứu tinh bởi một thiên sứ đã hiện ra với ông trong bụi gai.
Ông đã đem họ ra, làm những phép mầu, dấu lạ trong xứ Ai Cập, trên Biển Đỏ, và nơi hoang mạc trong bốn mươi năm.
Chính Môi-se nầy đã nói với con dân Y-sơ-ra-ên: ‘Đức Chúa Trời sẽ dấy lên trong vòng đồng bào của các anh em một nhà tiên tri giống như tôi.’
Chính ông là người đã ở giữa hội chúng tại nơi hoang mạc cùng với thiên sứ, đấng phán với ông trên núi Si-na-i và với các tổ phụ chúng ta; và ông cũng nhận lấy những lời sự sống để trao lại cho chúng ta.
Nhưng các tổ phụ chúng ta không chịu vâng lời ông, gạt ông ra và hướng lòng mình về Ai Cập.
Họ bảo A-rôn: ‘Xin hãy làm các thần đi trước chúng tôi vì về phần Môi-se là người đã dẫn chúng ta ra khỏi Ai Cập, chúng tôi không biết điều gì đã xảy đến cho ông ấy rồi.’
Trong những ngày đó, họ đúc một tượng bò con, dâng tế lễ cho hình tượng đó và vui mừng về công việc do tay mình làm nên.
Vì vậy, Đức Chúa Trời đã ngoảnh mặt với họ và phó mặc họ thờ lạy thiên binh, như có chép trong các sách tiên tri rằng: ‘Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, có phải các ngươi đã dâng sinh tế và lễ vật cho Ta Trong bốn mươi năm ở nơi hoang mạc không?
Thế mà các ngươi lại khiêng kiệu của thần Mo-lóc, Và ngôi sao của thần Rom-phan, Tức là những hình tượng mà các ngươi làm ra để thờ. Vì vậy, Ta cũng sẽ đày các ngươi qua bên kia Ba-by-lôn.’
Tổ phụ chúng ta đã có Lều Chứng Ước trong hoang mạc, như Chúa đã truyền lệnh cho Môi-se phải làm đúng theo kiểu mẫu mà ông đã thấy.
Tổ phụ chúng ta đã nhận lấy đền tạm ấy và cùng với Giô-suê đem nó vào xứ họ đã chiếm lấy của các dân mà Đức Chúa Trời đã đuổi khỏi họ. Đền tạm ấy tồn tại cho đến đời Đa-vít,
người được ơn trước mặt Đức Chúa Trời, và ông xin tìm một nơi ngự cho Đức Chúa Trời của Gia-cốp.
Sau đó, vua Sa-lô-môn xây cho Chúa một ngôi nhà.
Nhưng Đấng Chí Cao chẳng ở trong nhà bởi tay người ta làm ra, như nhà tiên tri đã nói:
‘Chúa phán: Trời là ngai Ta, Và đất là bệ chân Ta. Nhà nào các ngươi sẽ cất cho Ta, Nơi nào là chỗ cho Ta nghỉ ngơi?
Chẳng phải tay Ta đã dựng nên mọi vật nầy sao?’
Hỡi những người cứng cổ, lòng và tai chưa được cắt bì kia! Quý vị luôn luôn chống lại Đức Thánh Linh. Tổ phụ quý vị thế nào thì quý vị cũng thế ấy!
Có nhà tiên tri nào mà tổ phụ quý vị không bắt bớ? Họ còn giết những người nói tiên tri về sự hiện đến của Đấng Công Chính, là Đấng mà bây giờ quý vị đã phản bội và giết đi.
Quý vị đã nhận lãnh luật pháp truyền bởi các thiên sứ, nhưng lại không vâng giữ luật pháp ấy!”
Họ nghe những lời đó thì giận dữ trong lòng và nghiến răng với Ê-tiên.
Nhưng Ê-tiên, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, nhìn chăm lên trời, thấy vinh quang của Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jêsus đứng bên phải Đức Chúa Trời.
Ông nói: “Kìa, tôi thấy các tầng trời mở ra và Con Người đứng bên phải Đức Chúa Trời.”
Bấy giờ, họ la lớn, bịt tai lại và cùng nhau xông vào bắt Ê-tiên
kéo ra ngoài thành, rồi ném đá ông. Các nhân chứng lấy áo quần mình đặt nơi chân một thanh niên tên là Sau-lơ.
Khi họ đang ném đá thì Ê-tiên cầu nguyện rằng: “Lạy Chúa là Đức Chúa Jêsus, xin tiếp lấy linh hồn con.”
Rồi ông quỳ xuống, kêu lớn: “Lạy Chúa, xin đừng quy tội nầy cho họ!” Vừa dứt lời thì ông ngủ.
Sau-lơ tán thành về việc Ê-tiên bị giết. Trong ngày ấy, Hội Thánh ở Giê-ru-sa-lem gặp cơn bắt bớ dữ dội; ngoại trừ các sứ đồ, tất cả tín hữu đều bị tan lạc trong các miền Giu-đê và Sa-ma-ri.
Những người tin kính chôn cất Ê-tiên và than khóc ông rất nhiều.
Nhưng Sau-lơ tàn hại Hội Thánh, xông vào từng nhà bắt cả đàn ông lẫn đàn bà bỏ tù.
Vậy, những người bị tan lạc đi từ nơi nầy đến nơi khác truyền giảng Tin Lành.
Phi-líp đi xuống thành Sa-ma-ri rao giảng Đấng Christ cho dân chúng ở đó.
Đoàn dân nghe ông giảng và thấy các dấu lạ ông làm thì đồng lòng chăm chú nghe ông;
vì có những uế linh kêu lớn tiếng mà ra khỏi nhiều người bị ám; nhiều người bại và què cũng được chữa lành.
Vì thế, trong thành tràn ngập niềm vui.
Bấy giờ, trong thành đó có một người tên Si-môn, trước kia hành nghề ma thuật, tự cho mình là người vĩ đại, làm cho dân Sa-ma-ri kinh ngạc.
Mọi người từ trẻ đến già đều nghe theo ông, nói rằng: “Người nầy là quyền năng của Đức Chúa Trời, gọi là Đại Năng.”
Họ nghe theo ông vì lâu nay ông ta lấy ma thuật làm cho họ kinh ngạc.
Nhưng khi họ đã tin Phi-líp, người rao giảng Tin Lành về vương quốc Đức Chúa Trời và danh Đức Chúa Jêsus Christ cho họ, thì cả nam lẫn nữ đều nhận báp-têm.
Chính Si-môn cũng tin; sau khi nhận báp-têm, ông ở luôn với Phi-líp. Thấy những phép mầu và dấu lạ lớn được thực hiện, ông rất kinh ngạc.
Các sứ đồ ở Giê-ru-sa-lem nghe tin dân chúng Sa-ma-ri đã tiếp nhận đạo Đức Chúa Trời liền sai Phi-e-rơ và Giăng đến với họ.
Hai ông đến nơi, cầu nguyện cho những người nầy để họ nhận lãnh Đức Thánh Linh.
Vì Đức Thánh Linh chưa giáng xuống trên ai cả, họ chỉ nhân danh Chúa là Đức Chúa Jêsus nhận báp-têm mà thôi.
Phi-e-rơ và Giăng đặt tay trên họ, họ liền nhận lãnh Đức Thánh Linh.
Khi thấy các sứ đồ đặt tay lên thì Thánh Linh được ban xuống, Si-môn liền lấy tiền bạc dâng cho hai sứ đồ, và nói:
“Xin cũng cho tôi thẩm quyền ấy, để tôi đặt tay trên ai thì người ấy nhận lãnh Đức Thánh Linh.”
Nhưng Phi-e-rơ trả lời rằng: “Tiền bạc của anh cũng hư vong với anh, vì anh tưởng có thể lấy tiền bạc mua được sự ban tặng của Đức Chúa Trời!
Anh chẳng được dự phần hoặc chia sẻ trong việc nầy đâu, vì lòng anh không ngay thẳng trước mặt Đức Chúa Trời.
Vậy, hãy ăn năn việc ác của anh và cầu nguyện với Chúa, để may ra Ngài sẽ tha thứ ý tưởng ấy trong lòng anh.
Vì tôi thấy anh đang ở trong mật đắng và trong xiềng xích tội ác.”
Si-môn trả lời: “Xin hãy cầu nguyện Chúa cho tôi, để tôi không mắc phải điều quý ông nói đó.”
Sau khi đã làm chứng và giảng đạo Chúa, Phi-e-rơ và Giăng trở về Giê-ru-sa-lem, vừa đi vừa truyền giảng Tin Lành trong nhiều làng của người Sa-ma-ri.
Bấy giờ, có một thiên sứ của Chúa phán với Phi-líp: “Hãy đứng dậy đi về phía nam, theo con đường từ Giê-ru-sa-lem xuống Ga-xa. Đường ấy vắng vẻ.”
Ông đứng dậy và đi. Kìa, có một hoạn quan Ê-thi-ô-pi, làm quan lớn của Can-đác, nữ hoàng nước Ê-thi-ô-pi, quản lý cả kho tàng của bà. Ông đã đến Giê-ru-sa-lem để thờ phượng;
và khi trở về, ngồi trên xe ngựa, đọc sách tiên tri Ê-sai.
Thánh Linh phán với Phi-líp: “Hãy lại gần và theo cho kịp xe đó.”
Phi-líp chạy đến, nghe ông ta đang đọc sách tiên tri Ê-sai thì nói rằng: “Ông hiểu lời mình đang đọc đó không?”
Hoạn quan trả lời: “Nếu không có ai hướng dẫn, làm sao tôi hiểu được?” Rồi ông mời Phi-líp lên xe ngồi với mình.
Đoạn Kinh Thánh ông đang đọc như thế nầy: “Người đã bị dắt đi như chiên đến hàng làm thịt, Như chiên con câm lặng trước mặt kẻ hớt lông, Người chẳng hề mở miệng.
Trong khi Người bị sỉ nhục, công lý đã bị tước đoạt. Ai có thể nói đến dòng dõi Người? Vì sự sống Người đã bị cất khỏi đất rồi.”
Hoạn quan nói với Phi-líp: “Xin hỏi ông, nhà tiên tri đã nói điều nầy để chỉ về ai? Về chính mình hay về người nào khác?”
Phi-líp liền mở miệng, bắt đầu từ chỗ Kinh Thánh đó mà rao giảng Tin Lành về Đức Chúa Jêsus cho ông.
Khi hai người đang đi, gặp chỗ có nước, hoạn quan nói: “Nầy, nước đây, có điều gì ngăn trở tôi nhận báp-têm chăng?”
Ông bảo dừng xe lại, rồi cả hai đều xuống nước, và Phi-líp làm báp-têm cho hoạn quan.
Khi lên khỏi nước, Thánh Linh của Chúa đem Phi-líp đi; hoạn quan không thấy ông nữa, và cứ vui mừng tiếp tục cuộc hành trình.
Người ta thấy Phi-líp ở thành A-xốt; trên đường đi đến Sê-sa-rê, ông rao giảng Tin Lành cho tất cả các thành mình đã ghé qua.
Bấy giờ, Sau-lơ cứ hăm dọa và sát hại các môn đồ của Chúa. Ông đến với thầy tế lễ thượng phẩm,
xin thư giới thiệu đến các nhà hội ở Đa-mách để nếu gặp người nào thuộc về Đạo, bất kể nam nữ, thì bắt trói giải về Giê-ru-sa-lem.
Nhưng khi Sau-lơ đang đi đến gần thành Đa-mách, thình lình có ánh sáng từ trời chiếu lòa chung quanh ông.
Ông té xuống đất và nghe có tiếng phán với mình: “Hỡi Sau-lơ, Sau-lơ, sao ngươi bắt bớ Ta?”
Ông thưa: “Lạy Chúa, Chúa là ai?” Chúa phán: “Ta chính là Jêsus mà ngươi đang bắt bớ.
Nhưng hãy đứng dậy, vào trong thành, người ta sẽ bảo ngươi mọi điều phải làm.”
Những người cùng đi với ông đều đứng lại sững sờ, vì họ nghe tiếng nói mà không thấy ai hết.
Sau-lơ từ dưới đất đứng dậy, mắt tuy mở nhưng không thấy gì cả. Người ta cầm tay ông dắt vào thành Đa-mách.
Trong ba ngày, ông chẳng thấy, chẳng ăn và cũng chẳng uống gì cả.
Lúc ấy, tại thành Đa-mách có một môn đồ tên là A-na-nia. Chúa phán với ông trong một khải tượng rằng: “Hỡi A-na-nia!” Ông thưa: “Lạy Chúa, có con đây.”
Chúa phán: “Hãy đứng dậy, đi đến nhà Giu-đa ở đường gọi là Ngay Thẳng, tìm một người tên Sau-lơ quê ở Tạt-sơ. Kìa, người ấy đang cầu nguyện,
và trong khải tượng đã thấy một người tên là A-na-nia bước vào đặt tay trên mình để được sáng mắt lại.”
A-na-nia thưa: “Lạy Chúa, con có nghe nhiều người nói người nầy đã làm hại biết bao thánh đồ của Ngài ở Giê-ru-sa-lem.
Bây giờ người ấy ở đây, có trọn quyền của các thầy tế lễ cả ủy thác để bắt trói tất cả mọi người cầu khẩn danh Ngài.”
Nhưng Chúa phán: “Hãy đi, vì Ta đã chọn người nầy làm một công cụ cho Ta để đem danh Ta đến cho các dân ngoại, các vua, và con dân Y-sơ-ra-ên;
Ta lại sẽ cho người ấy biết phải chịu khổ vì danh Ta đến mực nào.”
A-na-nia ra đi; ông bước vào nhà rồi đặt tay trên Sau-lơ và nói: “Hỡi anh Sau-lơ, Chúa là Đức Chúa Jêsus, đã hiện ra với anh trên đường đi đến đây, sai tôi đến để cho anh được sáng mắt lại và được đầy dẫy Đức Thánh Linh.”
Lập tức có cái gì như cái vảy từ mắt Sau-lơ rơi xuống và ông được sáng mắt; rồi ông đứng dậy và nhận báp-têm.
Sau khi ăn uống xong, ông được phục hồi sức lực.
Sau-lơ ở lại một vài ngày với các môn đồ tại Đa-mách. Lập tức ông công bố trong các nhà hội rằng Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời.
Ai nghe vậy cũng đều kinh ngạc, nói rằng: “Đây chẳng phải là kẻ đã từng giết hại những người cầu khẩn danh ấy tại Giê-ru-sa-lem, và cũng đến đây để trói họ giải về cho các thầy tế lễ cả sao?”
Nhưng Sau-lơ càng thêm mạnh mẽ, biện bác với những người Do Thái sống ở Đa-mách, và minh chứng rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ.
Sau nhiều ngày, người Do Thái lập mưu giết Sau-lơ.
Nhưng có người báo tin cho Sau-lơ biết âm mưu của họ. Họ canh các cổng thành cả ngày lẫn đêm để giết cho được Sau-lơ.
Nhưng ban đêm, các môn đồ lấy thúng dòng ông xuống ngoài vách thành.
Khi đến Giê-ru-sa-lem, Sau-lơ muốn liên hệ với các môn đồ, nhưng tất cả đều nghi sợ, không tin ông là môn đồ thật.
Ba-na-ba giúp đem ông đến với các sứ đồ, thuật cho họ việc Chúa đã hiện ra phán với ông trên đường như thế nào, và ông đã mạnh dạn rao giảng danh Đức Chúa Jêsus tại thành Đa-mách ra sao.
Từ đó, Sau-lơ tới lui với môn đồ tại Giê-ru-sa-lem,
và nhân danh Chúa mà giảng một cách dạn dĩ. Ông cũng nói chuyện và tranh luận với những người Do Thái nói tiếng Hi Lạp, nên họ tìm cách giết ông.
Nghe tin đó, anh em liền đem ông xuống Sê-sa-rê, và đưa ông đi Tạt-sơ.
Vậy, Hội Thánh trong cả miền Giu-đê, Ga-li-lê và Sa-ma-ri được hưởng sự bình an, xây dựng, bước đi trong sự kính sợ Chúa; nhờ Đức Thánh Linh giúp đỡ, số tín hữu ngày càng gia tăng.
Bấy giờ, Phi-e-rơ đi khắp nơi, cũng đến với các thánh đồ tại thành Ly-đa nữa.
Tại đó, ông gặp một người bị bại liệt tên là Ê-nê, nằm trên giường đã tám năm rồi.
Phi-e-rơ nói với anh rằng: “Hỡi Ê-nê, Đức Chúa Jêsus Christ chữa lành cho anh; hãy đứng dậy, dọn dẹp giường đi!” Lập tức, anh ta đứng dậy.
Tất cả cư dân ở Ly-đa và Sa-rôn thấy vậy đều trở về cùng Chúa.
Tại thành Giốp-bê, có một nữ môn đồ tên là Ta-bi-tha, còn gọi là Đô-ca; bà làm nhiều việc thiện và hay bố thí.
Trong những ngày ấy, bà bị bệnh và chết. Người ta tắm rửa xác bà, rồi đặt trong một phòng cao.
Các môn đồ nghe tin Phi-e-rơ đang ở tại Ly-đa, gần Giốp-bê, nên sai hai người đến thỉnh cầu ông: “Xin mời ông đến gấp.”
Phi-e-rơ đứng dậy đi với hai người. Khi đến nơi, người ta dẫn Phi-e-rơ đến phòng cao. Tất cả các bà góa đều đứng bên ông mà khóc, và đưa cho ông xem bao nhiêu áo choàng và quần áo khác mà Đô-ca đã may cho họ lúc bà còn sống.
Phi-e-rơ bảo mọi người ra ngoài rồi quỳ gối cầu nguyện. Sau đó, ông quay sang thi thể và nói: “Hỡi Ta-bi-tha, hãy trỗi dậy!” Bà mở mắt thấy Phi-e-rơ, liền ngồi dậy.
Phi-e-rơ đưa tay ra đỡ bà dậy, rồi gọi các thánh đồ và các bà góa đến, chỉ cho họ thấy bà đang sống.
Việc ấy loan truyền khắp Giốp-bê nên có nhiều người tin theo Chúa.
Còn Phi-e-rơ ở lại Giốp-bê nhiều ngày với một người thợ thuộc da tên là Si-môn.
Tại thành Sê-sa-rê, có một người tên Cọt-nây, đội trưởng của binh đoàn I-ta-li-a.
Ông vốn là người đạo đức, cả gia đình đều kính sợ Đức Chúa Trời; ông hay bố thí cho dân chúng và thường xuyên cầu nguyện với Đức Chúa Trời.
Vào khoảng ba giờ chiều, trong một khải tượng, ông thấy rõ một thiên sứ của Đức Chúa Trời vào nhà mình và bảo: “Hỡi Cọt-nây!”
Ông sợ hãi nhìn chăm chăm thiên sứ và thưa: “Lạy Chúa, có việc gì vậy?” Thiên sứ đáp: “Lời cầu nguyện cùng sự bố thí của ngươi đã lên thấu Đức Chúa Trời và được Ngài ghi nhớ.
Bây giờ hãy sai người đến thành Giốp-bê mời Si-môn, cũng gọi là Phi-e-rơ.
Ông ấy đang ở với Si-môn, thợ thuộc da, nhà ở gần biển.”
Khi thiên sứ nói với ông đã đi rồi, Cọt-nây gọi hai trong số các đầy tớ của ông và một người lính tin kính dưới quyền mình,
thuật lại mọi điều cho họ nghe, rồi sai họ đến Giốp-bê.
Hôm sau, trong lúc ba người ấy đang đi đường, đến gần thành phố thì Phi-e-rơ lên mái nhà để cầu nguyện; lúc ấy, khoảng giữa trưa.
Ông đói và thèm ăn, nhưng trong khi người ta đang dọn bữa thì ông xuất thần.
Ông thấy trời mở ra, và có vật gì giống như tấm khăn lớn buộc bốn góc sa xuống đất,
trong đó có đủ các loài vật bốn chân, loài bò sát trên đất, và chim trời.
Lại có tiếng phán với ông rằng: “Hỡi Phi-e-rơ, hãy dậy, làm thịt mà ăn.”
Nhưng Phi-e-rơ thưa: “Lạy Chúa, không được! Vì con không bao giờ ăn vật gì ô uế hay không tinh sạch.”
Tiếng ấy lại phán với ông lần thứ hai rằng: “Vật gì Đức Chúa Trời đã làm cho tinh sạch thì đừng xem là ô uế.”
Việc đó xảy ra ba lần; rồi tấm khăn ấy được cất lên trời.
Trong khi Phi-e-rơ đang phân vân về ý nghĩa của khải tượng mình đã thấy, kìa, những người Cọt-nây sai đi đã tìm được nhà Si-môn và đang đứng trước cửa.
Họ gọi để hỏi xem có phải Si-môn tức Phi-e-rơ đang ở đây chăng.
Đang khi Phi-e-rơ ngẫm nghĩ về khải tượng ấy thì Thánh Linh phán với ông: “Kìa, có ba người đang tìm con.
Vậy, hãy đứng dậy, xuống đi với họ, chớ nghi ngờ vì Ta đã sai họ đó.”
Phi-e-rơ đi xuống với họ và nói: “Tôi chính là người các ông đang tìm. Các ông đến đây có việc gì?”
Họ trả lời: “Đội trưởng Cọt-nây là người công chính, kính sợ Đức Chúa Trời, được cả dân Do Thái làm chứng tốt. Ông ta được một thiên sứ thánh hướng dẫn, sai mời ông về nhà để nghe lời ông dạy.”
Phi-e-rơ mời họ vào nhà, cho trọ lại đó. Ngày hôm sau, Phi-e-rơ trỗi dậy đi với họ; có vài anh em từ Giốp-bê cùng đi theo.
Ngày sau đó, họ đến Sê-sa-rê. Cọt-nây cùng với bà con và các bạn thân họp lại tại nhà, đang chờ đợi họ.
Phi-e-rơ bước vào, Cọt-nây ra đón, quỳ dưới chân ông mà lạy.
Nhưng Phi-e-rơ đỡ ông dậy và nói: “Hãy đứng dậy, tôi cũng chỉ là người mà thôi.”
Sau khi nói chuyện với Cọt-nây, Phi-e-rơ bước vào trong nhà, thấy nhiều người nhóm lại.
Ông nói với họ: “Các ông biết người Do Thái vốn không được phép giao thiệp hay đến nhà người ngoại quốc; nhưng Đức Chúa Trời đã tỏ cho tôi biết rằng chẳng nên gọi một người nào là ô uế hay không tinh sạch.
Do đó, khi được mời thì tôi đến ngay, không ngần ngại gì. Vậy tôi xin hỏi vì lý do gì các ông mời tôi đến.”
Cọt-nây trả lời: “Bốn ngày trước đây, khoảng giờ nầy, tức ba giờ chiều, tôi đang ở nhà cầu nguyện thì thình lình có một người mặc áo sáng lòa hiện ra trước mặt tôi
và bảo: ‘Hỡi Cọt-nây, lời cầu nguyện ngươi đã được nhậm và việc bố thí ngươi đã được Đức Chúa Trời ghi nhớ.
Vậy, ngươi hãy sai người đến Giốp-bê mời Si-môn, gọi là Phi-e-rơ, đến đây. Ông ấy đang ở với Si-môn, thợ thuộc da, nhà gần biển.’
Lập tức tôi sai mời ông, và ông đã có lòng tốt đến đây. Vậy bây giờ, tất cả chúng tôi đang ở trước mặt Đức Chúa Trời để nghe mọi điều Chúa đã truyền dặn ông.”
Phi-e-rơ bắt đầu nói: “Thật, tôi nhận biết Đức Chúa Trời chẳng thiên vị ai,
nhưng trong tất cả các dân tộc, hễ ai kính sợ Chúa và làm điều công chính thì được Ngài chấp nhận.
Đức Chúa Trời đã gửi sứ điệp đến con cái Y-sơ-ra-ên, rao giảng Tin Lành bình an bởi Đức Chúa Jêsus Christ, tức là Chúa của mọi người.
Các ông biết rõ sự kiện xảy ra bắt đầu từ Ga-li-lê rồi tràn ra trong cả miền Giu-đê, sau khi Giăng rao giảng về báp-têm;
thể nào Đức Chúa Trời đã xức dầu cho Đức Chúa Jêsus người Na-xa-rét bằng Đức Thánh Linh và quyền năng, rồi Ngài đi khắp nơi làm việc nhân đức và chữa lành tất cả những người bị ma quỷ áp chế, vì Đức Chúa Trời ở cùng Ngài.
Chúng tôi là những nhân chứng về mọi điều Ngài đã làm ở Giu-đê và Giê-ru-sa-lem. Người ta đã treo Ngài trên cây gỗ mà giết đi.
Nhưng ngày thứ ba, Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại và hiện ra,
không phải cho cả dân chúng, mà cho chúng tôi là những nhân chứng Đức Chúa Trời đã chọn trước, tức là những người đã ăn uống với Ngài sau khi Ngài từ cõi chết sống lại.
Ngài đã truyền dạy chúng tôi phải rao giảng cho dân chúng, và minh chứng Ngài là Đấng Đức Chúa Trời đã lập lên để phán xét người sống và kẻ chết.
Tất cả các nhà tiên tri đều làm chứng rằng ai tin Ngài thì nhờ danh Ngài được tha tội.”
Khi Phi-e-rơ còn đang nói thì Đức Thánh Linh giáng trên mọi người nghe đạo.
Các tín hữu chịu cắt bì, là những người cùng đi với Phi-e-rơ, đều kinh ngạc vì quà tặng là Đức Thánh Linh cũng tuôn đổ trên các dân ngoại nữa.
Các tín hữu đó nghe họ nói tiếng lạ và ca ngợi Đức Chúa Trời.
Bấy giờ Phi-e-rơ nói: “Ai có thể từ chối báp-têm bằng nước cho những người đã nhận lãnh Đức Thánh Linh cũng như chúng ta chăng?”
Vậy, ông truyền làm báp-têm cho họ nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ. Rồi họ mời ông ở lại thêm vài ngày nữa.
Lúc ấy, các sứ đồ và các anh em ở Giu-đê nghe tin dân ngoại cũng đã tiếp nhận đạo Đức Chúa Trời.
Khi Phi-e-rơ lên Giê-ru-sa-lem, những tín hữu chịu cắt bì chỉ trích ông rằng:
“Ông đã vào nhà những kẻ không chịu cắt bì và ăn chung với họ!”
Nhưng Phi-e-rơ bắt đầu giải thích cho họ trình tự mọi việc
như sau: “Khi tôi đang cầu nguyện trong thành Giốp-bê thì chợt xuất thần và thấy một khải tượng: Có vật gì tựa như chiếc khăn lớn buộc bốn chéo từ trời sa xuống gần tôi.
Tôi chăm chú quan sát, thấy trong đó có các loài vật bốn chân, các thú rừng, các loài bò sát và chim trời.
Tôi nghe có tiếng phán: ‘Hỡi Phi-e-rơ, hãy trỗi dậy, làm thịt mà ăn.’
Tôi thưa: ‘Lạy Chúa, không thể được, vì những gì ô uế hay không tinh sạch chẳng bao giờ vào miệng con.’
Nhưng tiếng từ trời phán với tôi lần thứ hai: ‘Chớ xem là ô uế vật gì Đức Chúa Trời đã làm cho tinh sạch.’
Lời đó lặp lại ba lần, rồi tất cả đều được thu lên trời.
Ngay lúc ấy, ba người ở thành Sê-sa-rê được sai đến với tôi, cũng đã đến nhà tôi đang ở.
Thánh Linh bảo tôi phải đi với ba người ấy, đừng nghi ngờ gì cả. Sáu anh em đây cũng đồng đi với tôi, và chúng tôi bước vào nhà Cọt-nây.
Người ấy thuật lại cho chúng tôi thể nào ông ta đã thấy một thiên sứ đứng trong nhà ông và bảo: ‘Hãy sai người đến thành Giốp-bê mời Si-môn, cũng gọi là Phi-e-rơ.
Người ấy sẽ nói cho ngươi những lời để nhờ đó ngươi và cả nhà ngươi sẽ được cứu rỗi.’
Khi tôi bắt đầu nói thì Đức Thánh Linh giáng trên họ, cũng như lúc ban đầu Ngài đã giáng trên chúng ta.
Tôi nhớ lại lời Chúa đã phán: ‘Giăng đã làm báp-têm bằng nước, nhưng các con sẽ được báp-têm bằng Đức Thánh Linh.’
Vậy, nếu Đức Chúa Trời đã ban cho họ cùng một quà tặng như Ngài đã ban cho chúng ta khi chúng ta tin Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ, thì tôi là ai mà dám ngăn trở Đức Chúa Trời?”
Khi họ nghe những lời ấy thì ngưng chỉ trích. Họ tôn vinh Đức Chúa Trời rằng: “Như vậy, Đức Chúa Trời cũng đã ban sự ăn năn cho các dân ngoại để họ được sự sống!”
Bấy giờ, những người bị tản lạc do cơn bắt bớ xảy đến sau vụ Ê-tiên đi đến Phê-ni-xi, đảo Síp và An-ti-ốt, nhưng họ chỉ giảng đạo cho người Do Thái mà thôi.
Tuy nhiên, một vài người trong số họ quê ở đảo Síp và Sy-ren đến An-ti-ốt cũng giảng Tin Lành cho cả người Hi Lạp nữa, rao truyền Chúa là Đức Chúa Jêsus cho họ.
Tay Chúa ở với họ, nên có nhiều người tin nhận và trở lại cùng Chúa.
Nghe tin ấy, Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem cử Ba-na-ba đến An-ti-ốt.
Khi đến nơi và thấy ân điển Đức Chúa Trời thì ông vui mừng và thúc giục mọi người cứ vững lòng theo Chúa;
vì Ba-na-ba là người tốt, đầy dẫy Đức Thánh Linh và đức tin. Rất nhiều người tin theo Chúa.
Sau đó, Ba-na-ba đi đến Tạt-sơ để tìm Sau-lơ;
khi tìm được rồi, ông đưa Sau-lơ đến thành An-ti-ốt. Hai người nhóm họp với Hội Thánh và dạy dỗ nhiều người trong suốt một năm. Chính tại An-ti-ốt, người ta bắt đầu gọi các môn đồ là Cơ Đốc nhân.
Trong những ngày đó, có mấy nhà tiên tri từ Giê-ru-sa-lem xuống An-ti-ốt.
Một người trong số họ tên A-ga-bút đứng dậy bởi Thánh Linh báo trước rằng sẽ có nạn đói lớn xảy ra trên khắp đất; nạn đói nầy xảy ra dưới triều Cơ-lốt.
Các môn đồ quyết định mỗi người tùy khả năng, gửi quà cứu trợ cho các anh em đang sống tại Giu-đê.
Họ thực hiện việc ấy và gửi tặng phẩm đến các trưởng lão qua tay Ba-na-ba và Sau-lơ.
Đang lúc ấy, vua Hê-rốt ra tay bức hại một số người trong Hội Thánh.
Vua dùng gươm giết Gia-cơ là anh của Giăng;
Khi thấy điều đó vừa lòng người Do Thái, vua cũng sai bắt Phi-e-rơ nữa.
Bấy giờ là những ngày lễ Bánh Không Men. Vua bắt Phi-e-rơ bỏ vào ngục, giao cho bốn toán lính thay phiên canh giữ, và định sau lễ Vượt Qua sẽ đem ra xử trước dân chúng.
Vậy, Phi-e-rơ bị giam trong ngục, còn Hội Thánh cứ khẩn thiết cầu nguyện với Đức Chúa Trời cho ông.
Nhưng, ngay trong đêm trước khi Hê-rốt đưa Phi-e-rơ ra xử, Phi-e-rơ đang ngủ giữa hai tên lính, bị xích bằng hai xiềng và có lính canh giữ trước cửa ngục.
Thình lình, một thiên sứ của Chúa xuất hiện, và ánh sáng chiếu trong ngục tối. Thiên sứ đập vào sườn Phi-e-rơ đánh thức ông và nói: “Hãy mau trỗi dậy.” Xiềng liền rớt ra khỏi tay ông.
Thiên sứ bảo: “Hãy nịt lưng và mang dép vào.” Phi-e-rơ làm theo. Thiên sứ lại tiếp: “Hãy mặc áo ngoài và theo ta.”
Phi-e-rơ bước ra theo mà không biết rằng điều thiên sứ làm đó là thật, cứ tưởng là mình thấy khải tượng.
Khi qua khỏi vọng canh thứ nhất, rồi vọng canh thứ hai, họ đến cổng sắt dẫn vào thành phố. Cổng đó tự động mở ra trước mặt hai người và họ vượt qua, ra ngoài đường phố; thiên sứ lập tức lìa Phi-e-rơ.
Phi-e-rơ tỉnh lại và nói: “Bây giờ tôi biết chắc rằng Chúa đã sai thiên sứ Ngài giải cứu tôi thoát khỏi tay Hê-rốt và khỏi mọi điều dân Do Thái đang mong đợi.”
Khi nhận thức được điều đó, ông đến nhà Ma-ri, mẹ của Giăng, cũng gọi là Mác; ở đây có nhiều người đang nhóm lại cầu nguyện.
Ông gõ cửa cổng trước, một đầy tớ gái tên Rô-đơ đi ra nghe ngóng.
Nhận ra tiếng Phi-e-rơ, cô quá vui mừng đến nỗi quên cả mở cổng, mà chạy trở vào báo tin rằng Phi-e-rơ đang đứng trước cổng.
Họ bảo: “Cô điên rồi!” Nhưng nàng quả quyết đó là thật. Họ nói: “Chắc là thiên sứ của ông.”
Nhưng Phi-e-rơ cứ tiếp tục gõ; khi họ mở cổng, thấy Phi-e-rơ thì kinh ngạc.
Nhưng ông lấy tay ra hiệu bảo im lặng, rồi thuật lại cho họ cách nào Chúa đã cứu mình khỏi ngục; ông bảo: “Hãy cho Gia-cơ và anh em biết việc nầy.” Sau đó, ông ra đi và đến một nơi khác.
Đến sáng, có sự rối loạn lớn giữa bọn binh lính, vì họ không biết việc gì đã xảy ra cho Phi-e-rơ.
Hê-rốt sai truy lùng nhưng không tìm được Phi-e-rơ; vua tra hỏi những người lính canh, rồi ra lệnh giết chúng. Sau đó, vua rời Giu-đê xuống Sê-sa-rê và lưu lại tại đó.
Bấy giờ, Hê-rốt rất tức giận dân Ty-rơ và Si-đôn; vì vậy, họ đồng lòng đến chầu vua. Sau khi thuyết phục được viên cận thần của vua là Ba-la-tút, họ đến cầu hòa vì xứ họ lệ thuộc vào lương thực của xứ vua.
Đến ngày đã định, Hê-rốt mặc triều phục ngồi trên ngai truyền phán cho họ.
Dân chúng kêu lớn: “Đây là tiếng của một vị thần, không phải tiếng loài người đâu!”
Lập tức, một thiên sứ của Chúa đánh Hê-rốt vì vua không nhường vinh quang cho Đức Chúa Trời. Vua bị trùng đục mà chết.
Bấy giờ, đạo Đức Chúa Trời tiếp tục gia tăng và ngày càng phát triển.
Sau khi hoàn tất nhiệm vụ giao phó, Ba-na-ba và Sau-lơ rời Giê-ru-sa-lem trở về An-ti-ốt, dẫn theo Giăng, cũng gọi là Mác.
Trong Hội Thánh tại An-ti-ốt có các nhà tiên tri và giáo sư: Ba-na-ba, Si-mê-ôn gọi là Ni-giê, Lu-si-út người Sy-ren, Ma-na-hem là em nuôi vua Hê-rốt, và Sau-lơ.
Đang khi họ thờ phượng Chúa và kiêng ăn thì Đức Thánh Linh phán: “Hãy biệt riêng Ba-na-ba và Sau-lơ cho công tác Ta đã kêu gọi họ.”
Sau khi kiêng ăn và cầu nguyện, họ đặt tay trên hai người và sai đi.
Được Đức Thánh Linh sai phái, hai ông xuống Sê-lơ-xi, rồi từ đó đáp tàu đến đảo Síp.
Đến Sa-la-min, họ công bố lời Đức Chúa Trời trong các nhà hội của người Do Thái; cũng có Giăng phụ giúp.
Khi đi khắp đảo cho đến Pa-phô, tại đây họ gặp một thuật sĩ là kẻ tiên tri giả người Do Thái tên Ba-giê-xu;
người nầy đang ở với tổng đốc Sê-giút Phao-lút, là một người khôn ngoan. Tổng đốc sai mời Ba-na-ba và Sau-lơ đến, vì ông muốn nghe đạo Đức Chúa Trời.
Nhưng thuật sĩ ấy, tên Hi Lạp là Ê-ly-ma, chống đối hai ông, tìm mọi cách ngăn cản tổng đốc tin Chúa.
Bấy giờ, Sau-lơ cũng gọi là Phao-lô, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, nhìn thẳng vào tên thuật sĩ ấy và nói:
“Ngươi là con cái của ma quỷ, kẻ thù của mọi điều công chính, đầy xảo trá và độc ác! Ngươi cứ bẻ cong đường ngay thẳng của Chúa mãi sao?
Nầy, bây giờ tay Chúa trừng phạt ngươi; ngươi sẽ bị mù, không thấy mặt trời trong một thời gian.” Lập tức, sự mù lòa, tối tăm giáng trên Ê-ly-ma; anh ta đi quờ quạng, tìm người nắm tay dắt mình đi.
Quan tổng đốc thấy sự việc xảy ra thì tin, vì ông kinh ngạc về đạo lý của Chúa.
Phao-lô và các bạn đồng hành từ Pa-phô đáp tàu đến Pẹt-giê trong xứ Pam-phi-ly. Nhưng Giăng lìa họ, trở về Giê-ru-sa-lem.
Từ Pẹt-giê họ tiếp tục đi đến An-ti-ốt xứ Pi-si-đi. Đến ngày sa-bát, họ vào ngồi trong nhà hội.
Sau khi đọc sách luật pháp và tiên tri, các vị lãnh đạo nhà hội sai người nói với họ: “Thưa anh em, nếu có lời nào khích lệ dân chúng, xin hãy nói.”
Phao-lô đứng dậy, lấy tay ra hiệu rồi nói: “Thưa đồng bào Y-sơ-ra-ên và những người kính sợ Đức Chúa Trời, xin hãy nghe đây:
Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên nầy đã chọn tổ phụ chúng ta, làm cho dân nầy thịnh vượng trong lúc kiều ngụ tại Ai Cập; Ngài dùng cánh tay quyền năng dẫn họ ra khỏi xứ đó.
Ngài chịu đựng họ khoảng bốn mươi năm trong hoang mạc.
Khi đã tiêu diệt bảy dân trong đất Ca-na-an, Ngài cho họ làm chủ đất ấy
trong khoảng bốn trăm năm mươi năm. Sau đó, Ngài lập cho họ các quan xét cho đến đời tiên tri Sa-mu-ên.
Bấy giờ họ xin một vua, nên Đức Chúa Trời ban cho Sau-lơ, con trai của Kích, thuộc bộ tộc Bên-gia-min, cai trị họ trong bốn mươi năm.
Rồi Ngài bỏ vua đó, lập Đa-vít làm vua. Ngài làm chứng về ông rằng: ‘Ta đã tìm thấy Đa-vít con trai của Gie-sê, là người Ta hài lòng, người sẽ thi hành mọi ý muốn Ta.’
Từ dòng dõi Đa-vít, Đức Chúa Trời đã dấy lên cho Y-sơ-ra-ên một Cứu Chúa, tức là Đức Chúa Jêsus như Ngài đã hứa.
Trước khi Đức Chúa Jêsus đến, Giăng đã rao giảng báp-têm về sự ăn năn cho cả dân Y-sơ-ra-ên.
Khi sắp hoàn tất công tác mình, Giăng nói: ‘Các ông tưởng tôi là ai? Tôi không phải là Đấng các ông tưởng đâu, nhưng kìa, có Đấng đến sau tôi, tôi không xứng đáng cởi dép cho Ngài.’
Thưa anh em là con cháu của dòng dõi Áp-ra-ham, và những người kính sợ Đức Chúa Trời, sứ điệp cứu rỗi nầy được gửi đến cho chính chúng ta.
Vì dân chúng và các vị lãnh đạo của họ ở Giê-ru-sa-lem không nhận biết Đức Chúa Jêsus, cũng không hiểu các lời tiên tri mà người ta thường đọc mỗi ngày sa-bát. Tuy nhiên, khi kết án Ngài, họ đã làm cho những lời tiên tri ấy được ứng nghiệm.
Mặc dù chẳng tìm thấy lý do nào để lên án tử hình, họ vẫn yêu cầu Phi-lát giết Ngài.
Khi họ đã làm ứng nghiệm mọi điều chép về Ngài rồi thì hạ Ngài xuống khỏi thập tự giá và an táng trong mộ.
Nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại từ cõi chết.
Trong nhiều ngày, Ngài đã hiện ra cho những người theo Ngài từ Ga-li-lê lên Giê-ru-sa-lem; hiện nay họ đều làm chứng về Ngài cho dân chúng.
Còn chúng tôi thì rao truyền cho anh em Tin Lành mà Đức Chúa Trời đã hứa cho tổ phụ chúng ta
rằng Ngài đã làm ứng nghiệm lời hứa đó cho chúng ta, là con cháu của họ, bằng cách khiến Đức Chúa Jêsus sống lại, như đã chép trong Thi Thiên thứ hai: ‘Con là Con Ta, ngày nay Ta đã sinh ra Con.’
Ngài đã khiến Đức Chúa Jêsus sống lại từ cõi chết, không bao giờ bị rữa nát, như lời Ngài đã phán: ‘Ta sẽ ban cho các con phước hạnh thánh và chắc chắn mà Ta đã hứa với Đa-vít.’
Do đó, một Thi Thiên khác cũng có nói: ‘Chúa chẳng cho Đấng Thánh Ngài thấy sự rữa nát.’
Thế mà sau khi phục vụ cho mục đích của Đức Chúa Trời trong thời đại mình, vua Đa-vít đã qua đời, được chôn cất bên cạnh các tổ phụ mình và đã thấy sự rữa nát;
còn Đấng mà Đức Chúa Trời đã khiến sống lại thì chẳng thấy sự rữa nát.
Vậy, thưa anh em, hãy nhận biết rằng nhờ Đấng đó mà sự tha tội được công bố cho anh em;
nhờ Ngài, tất cả những người tin đều được xưng công chính về mọi điều mà luật pháp Môi-se không thể xưng công chính được.
Vì thế, hãy cẩn thận, đừng để mắc phải điều các nhà tiên tri đã nói:
‘Nầy kẻ ngạo mạn! Hãy kinh hãi và biến mất đi! Vì trong thời các ngươi, Ta sẽ làm một việc, Dù có ai thuật lại, các ngươi cũng chẳng tin!’”
Khi Phao-lô và Ba-na-ba bước ra, họ thỉnh cầu hai ông tiếp tục giảng luận các lời ấy vào ngày sa-bát sau.
Khi buổi nhóm đã tan, nhiều người Do Thái và người ngoại bang theo Do Thái giáo đi theo Phao-lô và Ba-na-ba. Hai ông nói chuyện và khích lệ họ cứ đứng vững trong ân điển của Đức Chúa Trời.
Ngày sa-bát sau, hầu hết dân trong thành họp lại để nghe lời Chúa.
Nhưng khi thấy đoàn dân ấy thì những người Do Thái đầy lòng ganh tị, chống đối lời giảng của Phao-lô và phỉ báng ông.
Song Phao-lô và Ba-na-ba mạnh dạn nói với họ: “Cần phải ưu tiên truyền đạo Đức Chúa Trời cho anh em; nhưng vì anh em đã từ chối, và tự xét mình không xứng đáng nhận sự sống đời đời, nên bây giờ chúng tôi mới quay sang các dân ngoại.
Vì Chúa có truyền phán với chúng tôi: ‘Ta lập ngươi làm ánh sáng cho các dân, để đem sự cứu rỗi đến tận cùng trái đất.’ ”
Khi nghe lời nầy, những người ngoại vui mừng, tôn vinh đạo Chúa; những người đã được định cho sự sống đời đời đều tin.
Đạo Chúa lan tràn khắp miền ấy.
Nhưng các người Do Thái kích động các phụ nữ sùng đạo thuộc giới thượng lưu và những người lãnh đạo trong thành phố, xúi giục họ bắt bớ Phao-lô và Ba-na-ba và đuổi hai ông ra khỏi lãnh thổ của họ.
Hai ông phủi bụi nơi chân để phản đối họ, rồi đi đến I-cô-ni.
Còn các môn đồ thì được tràn đầy niềm vui và Đức Thánh Linh.
Tại I-cô-ni, Phao-lô và Ba-na-ba cùng vào nhà hội Do Thái và giảng luận, khiến rất nhiều người Do Thái và người Hi Lạp tin Chúa.
Nhưng các người Do Thái không tin thì xúi giục, đầu độc tâm trí những người ngoại có ác cảm với anh em.
Dù vậy, hai sứ đồ ở lại đó một thời gian dài, giảng luận về Chúa một cách mạnh dạn; Chúa dùng tay họ làm các dấu lạ và phép mầu để thực chứng cho đạo ân điển của Ngài.
Nhưng dân chúng trong thành chia rẽ nhau: một phe theo người Do Thái, phe kia theo hai sứ đồ.
Lúc ấy, những người ngoại và người Do Thái cùng các nhà lãnh đạo của họ âm mưu ngược đãi và ném đá hai sứ đồ.
Được tin ấy, hai sứ đồ lánh qua Lít-trơ và Đẹt-bơ là các thành thuộc Ly-cao-ni và miền phụ cận,
rồi rao giảng Tin Lành tại đó.
Tại Lít-trơ có một người bị liệt đôi chân; anh ta bị què từ lúc lọt lòng mẹ, chưa bao giờ đi được.
Anh ta ngồi lắng nghe Phao-lô giảng. Phao-lô nhìn chăm chăm vào anh và thấy anh có đức tin để được chữa lành
nên nói lớn: “Hãy đứng thẳng chân lên!” Anh nhảy lên và bước đi.
Dân chúng thấy việc Phao-lô đã làm thì la lớn bằng tiếng Ly-cao-ni: “Các thần đã lấy hình người hiện xuống cùng chúng ta!”
Họ gọi Ba-na-ba là thần Giu-bi-tê, còn Phao-lô là thần Mẹt-cu-rơ vì ông là người thuyết giảng chính.
Thầy tế lễ của thần Giu-bi-tê có đền thờ ở bên ngoài thành đem bò đực và tràng hoa đến trước cửa, muốn cùng với dân chúng dâng một tế lễ cho các sứ đồ.
Nhưng hai sứ đồ là Ba-na-ba và Phao-lô hay điều đó thì xé áo mình, xông vào giữa đám đông và nói lớn:
“Thưa anh em! Sao anh em lại làm điều đó? Chúng tôi chỉ là loài người, giống như anh em. Chúng tôi giảng Tin Lành để anh em xây bỏ các thần hư không kia mà trở về với Đức Chúa Trời hằng sống, là Đấng đã dựng nên trời, đất, biển, và muôn vật trong đó.
Trong những thế hệ trước, Ngài để cho mọi dân tộc đi theo đường lối riêng của mình.
Dù vậy, Ngài luôn làm chứng về chính mình bằng cách ban phước lành, làm mưa từ trời xuống, ban cho mùa màng nhiều kết quả, thực phẩm dư dật, khiến lòng anh em tràn ngập niềm vui.”
Tuy đã nói hết lời, các sứ đồ cũng phải khó khăn lắm mới ngăn cản được dân chúng dâng tế lễ cho hai ông.
Bấy giờ, có mấy người Do Thái từ An-ti-ốt và I-cô-ni đến xúi giục dân chúng. Họ ném đá Phao-lô; tưởng ông đã chết, nên kéo ông ra ngoài thành.
Nhưng khi các môn đồ đang tụ họp quanh Phao-lô thì ông vùng dậy và đi vào thành. Hôm sau, Phao-lô đi cùng Ba-na-ba đến Đẹt-bơ.
Khi hai sứ đồ đã rao truyền Tin Lành trong thành đó và môn đồ hóa nhiều người thì trở về Lít-trơ, I-cô-ni, và An-ti-ốt.
Hai ông làm vững lòng các môn đồ, khích lệ họ giữ vững đức tin, và bảo rằng: “Chúng ta phải trải qua nhiều nỗi gian lao mới vào được vương quốc Đức Chúa Trời.”
Sau khi bổ nhiệm các trưởng lão trong mỗi Hội Thánh, hai sứ đồ cầu nguyện, kiêng ăn và giao phó các người ấy cho Chúa là Đấng mình tin cậy.
Hai sứ đồ vượt qua Pi-si-đi, đến Pam-phi-ly;
sau khi đã giảng đạo tại Pẹt-giê, họ xuống Át-ta-li.
Từ nơi đó, hai người đáp thuyền về An-ti-ốt, nơi trước đây họ được giao phó cho ân điển Đức Chúa Trời để làm công tác họ vừa hoàn tất.
Khi đến nơi, Phao-lô và Ba-na-ba triệu tập Hội Thánh, thuật lại mọi việc mà Đức Chúa Trời đã làm qua họ, và việc Ngài đã mở cửa đức tin cho các dân ngoại.
Hai ông ở lại đó một thời gian khá lâu với các môn đồ.
Có mấy người từ Giu-đê đến và dạy các anh em rằng: “Nếu anh em không chịu cắt bì theo luật Môi-se thì không thể được cứu.”
Bấy giờ, có sự bất đồng ý kiến và cuộc tranh luận dữ dội xảy ra giữa Phao-lô và Ba-na-ba với mấy người ấy. Vì thế, Phao-lô và Ba-na-ba cùng với vài người trong họ được chỉ định đi lên Giê-ru-sa-lem, đến với các sứ đồ và trưởng lão để hỏi về việc nầy.
Vậy, sau khi được Hội Thánh tiễn lên đường, họ trải qua Phê-ni-xi và Sa-ma-ri, thuật lại sự quy đạo của các dân ngoại, làm cho tất cả anh em đều rất vui mừng.
Khi đến Giê-ru-sa-lem, họ được Hội Thánh, các sứ đồ và trưởng lão tiếp đón, rồi họ thuật lại mọi điều Đức Chúa Trời đã làm qua họ.
Nhưng có mấy tín hữu thuộc phái Pha-ri-si đứng dậy nói: “Phải làm cắt bì cho những người ngoại, và truyền họ phải tuân giữ luật pháp Môi-se.”
Các sứ đồ và các trưởng lão họp lại để xem xét vấn đề nầy.
Sau khi bàn luận kỹ lưỡng, Phi-e-rơ đứng dậy nói với họ rằng: “Thưa anh em, anh em biết rằng từ những ngày đầu, Đức Chúa Trời đã chọn tôi trong số các anh em, để qua môi miệng tôi, những người ngoại được nghe sứ điệp Tin Lành và tin.
Đức Chúa Trời là Đấng biết lòng mọi người, đã chứng tỏ Ngài chấp nhận họ khi ban Đức Thánh Linh cho họ cũng như cho chúng ta.
Ngài chẳng phân biệt chúng ta với dân ngoại đâu, nhưng Ngài tẩy sạch lòng họ bởi đức tin.
Vậy bây giờ, tại sao anh em dám thử Đức Chúa Trời, gán cho các môn đồ cái ách mà tổ phụ chúng ta hoặc chính chúng ta cũng không thể mang nổi?
Trái lại, chúng ta tin rằng nhờ ân điển Chúa là Đức Chúa Jêsus, chúng ta được cứu cùng một cách như họ vậy.”
Cả hội nghị đều im lặng, lắng nghe Ba-na-ba và Phao-lô thuật lại những dấu lạ và phép mầu mà Đức Chúa Trời đã dùng hai ông thực hiện giữa các dân ngoại.
Khi họ dứt lời, Gia-cơ nói: “Thưa anh em, xin hãy nghe tôi!
Si-môn đã thuật lại thế nào Đức Chúa Trời lần đầu tiên thăm viếng các dân ngoại, để từ họ lấy ra một dân cho danh của Ngài.
Điều đó phù hợp với lời các nhà tiên tri đã chép:
‘Sau các việc nầy, Ta sẽ trở lại, Tái thiết nhà của Đa-vít đã bị sụp đổ. Ta sẽ trùng tu những nơi bị tàn phá Và phục hồi nó;
Để những người còn lại Và tất cả các dân ngoại được gọi bằng danh Ta, đều tìm kiếm Chúa. Chúa là Đấng đã thực hiện những việc ấy phán như vậy.
Đó là những việc được biết đến từ nghìn xưa.’
Vậy, tôi xét thấy không nên quấy rối những người trong dân ngoại đang trở về với Đức Chúa Trời;
nhưng chúng ta nên viết thư dặn họ giữ mình khỏi bị ô uế bởi các thần tượng và sự gian dâm, cũng đừng ăn thịt thú vật chết ngạt và huyết.
Vì từ các thế hệ xa xưa, trong mỗi thành, đều có những người giảng dạy luật pháp Môi-se và đọc luật ấy mỗi ngày sa-bát trong các nhà hội.”
Sau đó, các sứ đồ và trưởng lão cùng cả Hội Thánh quyết định chọn những người trong số họ và phái đi với Phao-lô và Ba-na-ba đến An-ti-ốt. Họ phái Giu-đe, cũng gọi Ba-sa-ba và Si-la, là hai người thuộc hàng lãnh đạo trong vòng anh em,
cùng với bức thư sau: “Anh em chúng tôi là các sứ đồ và trưởng lão gửi lời chào thăm đến anh em thuộc các dân ngoại tại An-ti-ốt, Sy-ri và Si-li-si!
Vì chúng tôi có nghe rằng một vài người trong chúng tôi, dù chẳng nhận chỉ thị nào nơi chúng tôi, đã nói những điều gây xáo trộn và làm rối trí anh em.
Vì thế, chúng tôi đã nhất trí chọn và cử những người nầy đi cùng hai người rất yêu dấu của chúng tôi là Ba-na-ba và Phao-lô, đến với anh em.
Hai người nầy vốn đã liều mình vì danh Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ.
Vậy chúng tôi đã phái Giu-đe và Si-la trực tiếp nói với anh em những điều chúng tôi viết trong thư.
Vì Đức Thánh Linh và chúng tôi đã đồng ý rằng chẳng nên chất thêm gánh nặng cho anh em, ngoại trừ những điều cần yếu nầy:
Phải kiêng của cúng thần tượng, huyết, thú vật chết ngạt, và chớ gian dâm. Anh em giữ mọi điều ấy là tốt. Kính chào tạm biệt!”
Vậy, những người ấy từ giã Hội Thánh, xuống An-ti-ốt, triệu tập hội chúng lại và trao bức thư.
Sau khi đọc thư, họ đều vui mừng về lời khích lệ ấy.
Giu-đe và Si-la là những nhà tiên tri, dùng nhiều lời giảng dạy để khích lệ và làm họ thêm vững mạnh.
Sau khi lưu lại đó ít lâu, họ được các anh em đưa tiễn một cách bình an để trở về cùng những người đã sai họ đi.
Nhưng Phao-lô và Ba-na-ba ở lại An-ti-ốt, hiệp với nhiều người khác giảng Tin Lành và dạy lời Chúa.
Sau đó ít lâu, Phao-lô nói với Ba-na-ba: “Chúng ta hãy trở lại thăm viếng anh em trong mỗi thành mà chúng ta đã rao giảng đạo Chúa, xem họ như thế nào.”
Ba-na-ba muốn đem theo Giăng cũng gọi là Mác.
Nhưng Phao-lô thì nghĩ không nên đem Mác theo, vì Mác đã lìa bỏ hai người tại Pam-phi-ly, không cùng họ tiếp tục công tác.
Do đó, có sự tranh luận gay gắt đến nỗi hai người phân rẽ nhau: Ba-na-ba đem Mác cùng đáp tàu đi đến đảo Síp.
Còn Phao-lô thì lên đường, sau khi đã chọn Si-la, và nhờ anh em giao phó mình cho ân điển Chúa.
Ông đi khắp Sy-ri và Si-li-si, làm cho các Hội Thánh được vững mạnh.
Phao-lô đến thành Đẹt-bơ và Lít-trơ. Tại đó, có một môn đồ tên là Ti-mô-thê, con trai của một nữ tín hữu người Do Thái, và cha là người Hi Lạp.
Anh em ở Lít-trơ và I-cô-ni đều làm chứng tốt về Ti-mô-thê.
Phao-lô muốn đem Ti-mô-thê theo nên ông làm lễ cắt bì cho anh, vì những người Do Thái ở các nơi ấy đều biết cha anh là người Hi Lạp.
Khi đi qua các thành, họ cũng dặn các tín hữu phải giữ các quy định của các sứ đồ và trưởng lão ở Giê-ru-sa-lem đã lập ra.
Vì thế, các Hội Thánh được vững mạnh trong đức tin, và số tín hữu cứ gia tăng mỗi ngày.
Họ đi qua khắp miền Phi-ri-gi và Ga-la-ti, vì Đức Thánh Linh ngăn trở họ truyền đạo tại A-si-a.
Khi đến gần My-si-a, họ cố gắng vào xứ Bi-thi-ni, nhưng Thánh Linh của Đức Chúa Jêsus không cho phép
nên họ đi ngang qua My-si-a và xuống Trô-ách.
Ban đêm, Phao-lô thấy một khải tượng: Có một người Ma-xê-đô-ni-a đứng trước mặt mình nài xin rằng: “Xin ông qua Ma-xê-đô-ni-a cứu giúp chúng tôi!”
Khi Phao-lô thấy khải tượng đó, lập tức chúng tôi tìm cách qua Ma-xê-đô-ni-a, vì kết luận rằng Đức Chúa Trời kêu gọi chúng tôi rao truyền Tin Lành ở đó.
Vậy, từ Trô-ách chúng tôi đáp tàu thẳng đến đảo Sa-mô-tra-xơ; hôm sau, đến Nê-a-pô-li;
từ nơi đó, chúng tôi đến Phi-líp, thành đầu tiên của tỉnh Ma-xê-đô-ni-a, thuộc địa Rô-ma. Chúng tôi lưu lại đó vài ngày.
Vào ngày sa-bát, chúng tôi ra ngoài cổng thành, gần bờ sông, là nơi chúng tôi tin rằng người ta họp lại để cầu nguyện. Chúng tôi ngồi xuống và giảng cho các phụ nữ đang tụ họp ở đó.
Có một phụ nữ lắng nghe chúng tôi, tên là Ly-đi, quê ở thành Thi-a-ti-rơ, chuyên bán vải sắc tía, là người thờ kính Đức Chúa Trời. Chúa mở lòng Ly-đi khiến bà chú ý đến lời Phao-lô nói.
Sau khi cùng nhận báp-têm với người nhà mình rồi, Ly-đi mời chúng tôi: “Nếu các ông xét tôi là trung thành với Chúa, xin hãy vào ở lại nhà tôi.” Rồi bà ép mời chúng tôi vào.
Một hôm, chúng tôi đang đi đến chỗ cầu nguyện thì gặp một đầy tớ gái bị quỷ Phi-tôn nhập vào và làm lợi nhiều cho chủ qua việc bói toán.
Cô ta đi theo Phao-lô và chúng tôi, la lớn: “Những người nầy là đầy tớ của Đức Chúa Trời Chí Cao, rao truyền cho các ngươi đạo cứu rỗi.”
Cô cứ làm như vậy trong nhiều ngày khiến Phao-lô rất bực mình nên quay lại nói với quỷ rằng: “Ta nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ ra lệnh cho mầy phải ra khỏi người nầy.” Ngay giờ đó, quỷ liền ra khỏi.
Nhưng khi các chủ nàng thấy chẳng còn hi vọng kiếm lợi được nữa liền bắt Phao-lô và Si-la, kéo đến quảng trường nộp cho nhà cầm quyền.
Khi dẫn đến trước các quan tòa, họ tố cáo: “Những người nầy là người Do Thái gây rối loạn thành phố chúng ta,
dạy dỗ các phong tục mà chúng ta không thể chấp nhận hay thực hành, vì chúng ta là người Rô-ma.”
Đoàn dân cũng nổi lên chống hai ông; các quan tòa ra lệnh xé áo và đánh đòn hai ông.
Sau khi đánh đòn, họ tống giam hai ông và dặn viên cai ngục phải canh giữ nghiêm ngặt.
Được lệnh ấy, viên cai ngục giam hai ông vào ngục tối và cùm chân lại.
Khoảng nửa đêm, Phao-lô và Si-la đang cầu nguyện và ca ngợi Đức Chúa Trời; các tù nhân đều lắng nghe.
Thình lình, có cơn động đất rất lớn, đến nỗi các nền ngục rúng động. Lập tức, tất cả các cửa mở tung, xiềng của các tù nhân đều rớt ra cả.
Viên cai ngục thức dậy thấy các cửa nhà giam đều mở toang, tưởng các tù nhân đã trốn hết nên rút gươm định tự sát.
Nhưng Phao-lô kêu lớn lên: “Chớ làm hại mình! Chúng tôi đều còn cả đây!”
Viên cai ngục gọi lấy đèn và chạy nhanh vào trong ngục, run rẩy quỳ dưới chân Phao-lô và Si-la.
Rồi ông đưa hai người ra ngoài và hỏi: “Thưa các ngài, tôi phải làm gì để được cứu?”
Hai ông trả lời: “Hãy tin Chúa là Đức Chúa Jêsus thì ông và cả gia đình ông sẽ được cứu.”
Hai sứ đồ truyền đạo Chúa cho ông và tất cả những người ở trong nhà ông nữa.
Trong đêm ấy, vào chính giờ đó, viên cai ngục đem hai ông ra rửa các vết thương; rồi lập tức, ông và cả gia đình đều nhận báp-têm.
Viên cai ngục mời hai ông lên nhà mình và dọn tiệc thết đãi. Ông và cả gia đình rất vui mừng vì đã tin Đức Chúa Trời.
Đến sáng, các quan tòa sai cảnh vệ nói với viên cai ngục: “Hãy trả tự do cho các người ấy.”
Vậy, viên cai ngục bảo Phao-lô: “Các quan tòa đã ra lệnh cho tôi trả tự do cho các ông; vì thế, hãy ra, và đi bình an.”
Nhưng Phao-lô nói với họ: “Chúng tôi là công dân Rô-ma, thế mà khi chưa định tội, họ đã đánh đòn chúng tôi giữa công chúng rồi tống giam vào ngục; bây giờ họ lại lén lút thả chúng tôi sao? Không thể được! Họ phải đích thân đến đây để thả chúng tôi!”
Các quan tòa nghe cảnh vệ trình lại các lời ấy thì sợ hãi vì biết hai ông là công dân Rô-ma.
Vậy, họ đến xin lỗi rồi đưa hai ông ra và yêu cầu rời khỏi thành.
Khi ra khỏi tù, hai sứ đồ vào nhà Ly-đi thăm viếng, khích lệ anh chị em rồi lên đường.
Phao-lô và Si-la đi qua Am-phi-pô-lít và A-pô-lô-ni-a rồi đến Tê-sa-lô-ni-ca, nơi có một nhà hội Do Thái.
Theo thói quen, Phao-lô đến nhà hội; trong ba ngày sa-bát, ông biện luận với họ,
lấy Kinh Thánh giải thích và chứng minh rằng Đấng Christ phải chịu thương khó, rồi sống lại từ cõi chết. Ông nói: “Đức Chúa Jêsus mà tôi rao truyền cho các ông đây chính là Đấng Christ.”
Một số người trong họ được thuyết phục đi theo Phao-lô và Si-la; cũng có rất nhiều người Hi Lạp vốn thờ kính Đức Chúa Trời, và không ít phụ nữ thuộc giới thượng lưu tin Chúa nữa.
Nhưng các người Do Thái ghen ghét, rủ bọn côn đồ ngoài đường phố, tập hợp đám đông và gây rối loạn trong thành. Chúng kéo đến nhà của Gia-sôn, tìm bắt Phao-lô và Si-la để đưa ra trước dân chúng.
Tìm không được, chúng kéo Gia-sôn và vài anh em đến trước chính quyền thành phố, tố cáo: “Những tên nầy đã gây rối loạn trong thiên hạ, bây giờ chúng cũng đến đây,
và Gia-sôn đã chứa chấp chúng! Cả bọn đều có hành động chống lại luật lệ Sê-sa, nói rằng có một vua khác, là Jêsus.”
Nghe những lời ấy, dân chúng và các nhà cầm quyền thành phố đều náo động.
Sau đó, nhà cầm quyền đòi Gia-sôn và các người khác nộp tiền thế chân theo luật định, rồi thả ra.
Ngay trong đêm đó, anh em đưa Phao-lô và Si-la đến Bê-rê; khi đến nơi, họ vào nhà hội Do Thái.
Những người Do Thái ở đây có tinh thần cởi mở hơn những người ở Tê-sa-lô-ni-ca; họ nhiệt thành tiếp nhận đạo, ngày nào cũng nghiên cứu Kinh Thánh để xét xem lời giảng có đúng không.
Vì thế, nhiều người trong số họ tin Chúa, có các bà thuộc giới thượng lưu Hi Lạp và cả các ông cũng nhiều.
Nhưng khi người Do Thái ở Tê-sa-lô-ni-ca hay tin Phao-lô cũng truyền đạo Đức Chúa Trời tại Bê-rê thì họ đến đó để quấy rối và kích động dân chúng.
Lập tức, anh em đưa Phao-lô đi về phía biển, còn Si-la và Ti-mô-thê ở lại Bê-rê.
Những người dẫn Phao-lô đưa ông đến A-thên rồi trở về, đem chỉ thị cho Si-la và Ti-mô-thê phải đến với ông càng sớm càng tốt.
Bấy giờ, Phao-lô đang đợi Si-la và Ti-mô-thê tại thành A-thên, ông tức giận khi thấy thành phố đầy dẫy những hình tượng.
Vậy, ông biện luận với người Do Thái và dân ngoại theo Do Thái giáo trong nhà hội, cũng như với những người qua kẻ lại ngoài quảng trường mỗi ngày.
Có mấy triết gia thuộc hai trường phái Khoái lạc và Khắc kỷ cũng tranh luận với ông. Kẻ thì hỏi: “Gã bẻm mép nầy muốn nói gì đó?” Người thì bảo: “Hình như ông ta rao giảng về các thần ngoại quốc” — vì Phao-lô truyền giảng Tin Lành về Đức Chúa Jêsus và sự sống lại.
Họ bắt ông đem đến A-rê-ô-pa và hỏi rằng: “Ông có thể cho chúng tôi biết rõ về giáo thuyết mới mà ông trình bày đó không?
Vì những điều ông giảng chúng tôi nghe lạ tai. Do đó, chúng tôi muốn biết những điều ấy có nghĩa gì.”
Thật vậy, tất cả người A-thên và ngoại kiều ở đây chỉ dành thì giờ để nói và nghe điều mới lạ mà thôi.
Bấy giờ, Phao-lô đứng giữa A-rê-ô-pa nói rằng: “Thưa quý vị là người A-thên, tôi nhận thấy trên mọi phương diện, quý vị thật là những người sùng đạo.
Vì khi đi khắp thành phố, quan sát các nơi thờ phượng của quý vị, tôi thấy một bàn thờ có khắc chữ: THỜ THẦN KHÔNG BIẾT. Vậy, Đấng quý vị thờ mà không biết đó, chính là Đấng tôi đang rao truyền cho quý vị đây.
Đức Chúa Trời là Đấng đã dựng nên thế giới và mọi vật trong đó, là Chúa của đất trời, không ngự trong các đền miếu bởi tay người làm nên.
Ngài cũng chẳng cần tay người phục vụ như thể Ngài cần điều gì, vì chính Ngài là Đấng ban sự sống, hơi thở và mọi thứ khác cho mọi người.
Từ một người, Ngài đã làm nên mọi dân tộc và khiến họ sống trên khắp mặt đất. Ngài ấn định thời kỳ và ranh giới cho họ cư trú,
để họ dò dẫm, tìm kiếm Đức Chúa Trời và có thể gặp được Ngài, mặc dù Ngài chẳng ở xa mỗi người trong chúng ta.
Vì ở trong Ngài, chúng ta được sống, hoạt động và hiện hữu, như một vài thi nhân của quý vị có nói: ‘Chúng ta cũng là dòng dõi của Ngài.’
Vậy, đã là dòng dõi Đức Chúa Trời, thì chúng ta đừng nghĩ rằng Đấng Thiêng Liêng giống như hình tượng bằng vàng, bạc, hay đá do nghệ thuật và trí tưởng tượng của con người làm ra.
Thế thì, Đức Chúa Trời đã bỏ qua các thời kỳ ngu dại đó; nhưng bây giờ, Ngài ra lệnh mọi người ở khắp mọi nơi phải ăn năn.
Vì Ngài đã ấn định một ngày mà Ngài sẽ lấy sự công chính phán xét thế gian bởi Người Ngài đã lập. Và để xác chứng cho mọi người thấy, Ngài đã khiến Người sống lại từ cõi chết.”
Khi nghe nói về sự sống lại từ cõi chết, một số người chế giễu, nhưng một số khác lại nói: “Chúng tôi muốn nghe ông nói chuyện nầy một lần nữa.”
Vậy, Phao-lô rời khỏi họ.
Nhưng có mấy người đi theo ông và tin nhận Chúa, trong số đó có Đê-ni là một thành viên hội đồng A-rê-ô-pa, và một phụ nữ tên Đa-ma-ri, cùng những người khác nữa.
Sau đó, Phao-lô rời A-thên đi Cô-rinh-tô.
Tại đó, ông gặp một người Do Thái tên A-qui-la, quê ở xứ Pông, cùng với vợ là Pê-rít-sin mới từ I-ta-li-a đến đây, vì vua Cơ-lốt đã ra lệnh cho tất cả người Do Thái phải rời khỏi Rô-ma. Phao-lô đến thăm họ;
vì cùng làm nghề may trại nên Phao-lô ở nhà hai người để làm việc với nhau.
Vào mỗi ngày sa-bát, Phao-lô giảng luận trong nhà hội, cố thuyết phục người Do Thái lẫn người Hi Lạp.
Khi Si-la và Ti-mô-thê từ Ma-xê-đô-ni-a đến thì Phao-lô chỉ chuyên lo việc giảng dạy, minh chứng cho người Do Thái rằng Đức Chúa Jêsus chính là Đấng Christ.
Nhưng vì họ chống đối và nói phạm thượng, nên ông giũ áo mà bảo họ rằng: “Máu các ông đổ lại trên đầu các ông! Còn tôi thì vô tội. Từ nay, tôi sẽ đi đến với các dân ngoại.”
Phao-lô rời khỏi đó, vào nhà một người tên Ti-ti-u Giút-tu, người kính thờ Đức Chúa Trời; nhà ông ở bên cạnh nhà hội.
Bấy giờ Cơ-rít-pu, viên quản lý nhà hội, cùng cả nhà ông đều tin Chúa. Cũng có nhiều người Cô-rinh-tô nghe Phao-lô giảng thì tin và nhận báp-têm.
Ban đêm, Chúa phán với Phao-lô trong một khải tượng: “Đừng sợ! Nhưng hãy nói và chớ làm thinh;
Ta ở cùng con, chẳng ai tấn công, làm hại con được đâu, vì Ta có nhiều người trong thành nầy.”
Phao-lô ở lại đó một năm sáu tháng, dạy lời Đức Chúa Trời cho họ.
Nhưng khi Ga-li-ôn đang làm tổng đốc tỉnh A-chai, người Do Thái hiệp lại tấn công Phao-lô và đưa ông ra tòa án.
Họ tố cáo: “Tên nầy xúi giục dân chúng thờ phượng Đức Chúa Trời một cách trái luật pháp.”
Khi Phao-lô sắp mở miệng trả lời thì Ga-li-ôn bảo dân Do Thái: “Hỡi người Do Thái, nếu đây là vấn đề phạm pháp hay tội ác thì ta có lý do để kiên nhẫn nghe các ngươi.
Nhưng vì đây là vấn đề tranh biện về ngôn từ, danh hiệu và luật pháp riêng của các ngươi nên hãy tự xử lấy; ta không muốn xét xử những việc đó đâu.”
Rồi ông đuổi họ ra khỏi tòa án.
Bấy giờ, họ bắt Sốt-then, viên quản lý nhà hội, đánh đòn trước tòa án, nhưng Ga-li-ôn chẳng quan tâm đến việc đó.
Phao-lô ở lại Cô-rinh-tô lâu ngày, rồi từ giã anh em, đáp tàu qua Sy-ri cùng với Pê-rít-sin và A-qui-la. Ở Sen-cơ-rê, ông xuống tóc vì có lời thề nguyện.
Khi họ đến Ê-phê-sô, Phao-lô chia tay các bạn mình, rồi vào nhà hội biện luận với những người Do Thái.
Họ mời ông ở lại một thời gian nữa, nhưng ông từ chối.
Ông giã từ họ và nói: “Nếu Đức Chúa Trời muốn, tôi sẽ trở lại với anh em.” Rồi ông xuống tàu rời Ê-phê-sô.
Khi đến Sê-sa-rê, ông lên Giê-ru-sa-lem chào thăm Hội Thánh, rồi lại xuống An-ti-ốt.
Sau khi ở đó ít lâu, ông lên đường, lần lượt đi khắp Ga-la-ti và Phi-ri-gi, làm cho tất cả môn đồ được vững mạnh.
Bấy giờ, có một người Do Thái tên A-pô-lô, quê ở A-léc-xan-đờ-ri-a, đến Ê-phê-sô. Ông có tài hùng biện và am hiểu Kinh Thánh.
Ông đã học đạo Chúa, có tinh thần sốt sắng rao giảng và dạy dỗ một cách chính xác những điều về Đức Chúa Jêsus, mặc dù ông chỉ biết báp-têm của Giăng mà thôi.
Ông bắt đầu giảng một cách dạn dĩ trong nhà hội. Khi Pê-rít-sin và A-qui-la nghe ông giảng, họ đem ông về nhà, giải nghĩa đạo Đức Chúa Trời cho ông kỹ càng hơn.
Khi A-pô-lô muốn đi qua A-chai, anh em khích lệ ông và viết thư dặn các môn đồ phải tiếp đãi ông tử tế. Khi đến nơi, ông giúp đỡ rất nhiều cho những người đã nhờ ân điển mà tin Chúa,
vì ông đã công khai phản bác người Do Thái một cách mạnh mẽ, dùng Kinh Thánh minh chứng rằng Đức Chúa Jêsus chính là Đấng Christ.
Trong khi A-pô-lô ở Cô-rinh-tô, thì Phao-lô đi đường xuyên nội địa, đến Ê-phê-sô. Gặp một số môn đồ ở đó,
ông hỏi họ: “Từ khi tin, anh em đã nhận lãnh Đức Thánh Linh chưa?” Họ trả lời: “Chúng tôi chưa từng nghe nói có Đức Thánh Linh nào cả.”
Ông lại hỏi: “Vậy anh em đã nhận báp-têm nào?” Họ đáp: “Báp-têm của Giăng.”
Phao-lô nói: “Giăng đã làm báp-têm về sự ăn năn tội, bảo dân chúng phải tin Đấng sẽ đến sau mình, nghĩa là tin Đức Chúa Jêsus.”
Nghe vậy, họ nhận báp-têm nhân danh Chúa là Đức Chúa Jêsus.
Khi Phao-lô đặt tay lên thì Đức Thánh Linh giáng trên họ; họ nói tiếng lạ và lời tiên tri.
Tổng cộng khoảng mười hai người.
Phao-lô vào nhà hội, giảng dạy một cách dạn dĩ, biện luận và thuyết phục người nghe về vương quốc Đức Chúa Trời suốt ba tháng.
Nhưng có mấy người ngoan cố, không chịu tin, lại còn gièm chê đạo Chúa trước mặt dân chúng nên ông rút lui khỏi họ, đem các môn đồ riêng ra, và hằng ngày thảo luận trong trường học của Ti-ra-nu.
Việc nầy tiếp tục trong hai năm, đến nỗi mọi người ở A-si-a, cả người Do Thái lẫn người Hi Lạp, đều được nghe đạo Chúa.
Đức Chúa Trời dùng tay Phao-lô làm các phép lạ phi thường,
đến nỗi người ta lấy khăn và áo choàng ông đã dùng đặt trên các bệnh nhân thì bệnh tật biến mất và tà linh bị trục xuất khỏi họ.
Bấy giờ có mấy thầy phù thủy người Do Thái đi từ nơi nầy đến nơi khác, cũng thử lấy danh Chúa là Đức Chúa Jêsus đuổi tà linh khỏi những kẻ bị ám. Họ nói: “Ta nhân danh Chúa là Đức Chúa Jêsus, Đấng mà Phao-lô rao giảng, truyền lệnh chúng bay.”
Những người làm việc nầy là bảy con trai của thầy tế lễ thượng phẩm Do Thái tên là Sê-va.
Nhưng quỷ nói với họ: “Ta biết Đức Chúa Jêsus và cũng biết rõ Phao-lô nữa, nhưng các ngươi là ai?”
Người bị quỷ ám xông vào họ, áp đảo và đánh bại cả bọn đến nỗi họ phải bỏ nhà chạy trốn, mình trần truồng và đầy thương tích.
Tất cả những người ở Ê-phê-sô, cả người Do Thái lẫn người Hi Lạp biết việc đã xảy ra thì sợ hãi; danh Chúa là Đức Chúa Jêsus càng được tôn kính.
Nhiều người đã tin, đến xưng tội và tỏ thật các việc họ đã làm.
Có một số người trước kia hành nghề phù thủy đem sách vở của họ đốt trước mặt mọi người. Người ta tính trị giá các sách đó lên đến năm mươi nghìn miếng bạc.
Vậy, nhờ quyền năng của Chúa, đạo Chúa cứ tăng trưởng và ngày càng vững mạnh.
Sau các việc ấy, Phao-lô quyết định trong lòng đi qua xứ Ma-xê-đô-ni-a và xứ A-chai rồi đến Giê-ru-sa-lem. Ông nói: “Sau khi đi đến đó, tôi cũng phải đến thăm Rô-ma nữa.”
Ông sai hai người phụ tá của mình là Ti-mô-thê và Ê-rát đi trước qua Ma-xê-đô-ni-a; ông thì ở lại A-si-a ít lâu nữa.
Vào thời điểm ấy, có một cuộc rối loạn lớn xảy ra liên quan đến đạo Chúa.
Một người thợ bạc tên Đê-mê-triu làm những khám thờ nữ thần Đi-anh bằng bạc, đem lại nhiều lợi tức cho các thợ thủ công.
Ông tập hợp những người thợ đó với các đồng nghiệp lại và nói: “Thưa các bạn, các bạn biết chúng ta được thịnh vượng là nhờ công việc nầy.
Như các bạn đã thấy và nghe, không những tại Ê-phê-sô mà hầu như cả A-si-a, tên Phao-lô nầy đã thuyết phục và làm cho nhiều người lầm lạc. Nó nói rằng các hình tượng bởi tay người làm ra chẳng phải là các thần.
Như vậy, chẳng những việc kinh doanh của chúng ta có nguy cơ bị mất uy tín, mà đền thờ của đại nữ thần Đi-anh cũng bị khinh thường; rồi sự vĩ đại của nữ thần được toàn A-si-a cùng cả thế giới tôn kính cũng sẽ tiêu tan.”
Nghe những lời ấy, họ nổi giận, kêu lớn: “Vĩ đại thay là nữ thần Đi-anh của người Ê-phê-sô!”
Cả thành đều rối loạn; họ cùng chạy ùa vào nhà hát, kéo theo Gai-út, A-ri-tạc, là người Ma-xê-đô-ni-a, bạn đồng hành với Phao-lô.
Phao-lô muốn đi ra trước mặt dân chúng, nhưng các môn đồ can ngăn ông.
Một vài người lãnh đạo ở A-si-a, là bạn của ông, cũng sai người đến khuyên ông đừng mạo hiểm vào nhà hát.
Trong khi ấy, đám đông thật là hỗn loạn: người thì kêu lên thể nầy, kẻ thì la lên thể khác, vì đa số đều không biết tại sao mình tụ họp ở đây.
Người Do Thái đẩy ông A-léc-xan-đơ ra phía trước và một vài người trong đám đông bảo ông lên tiếng. A-léc-xan-đơ lấy tay ra hiệu muốn bào chữa trước công chúng.
Nhưng vừa khi nhận ra ông là người Do Thái thì cả đoàn dân đồng thanh hô lớn trong suốt hai tiếng đồng hồ: “Vĩ đại thay là nữ thần Đi-anh của người Ê-phê-sô!”
Lúc ấy, ông thư ký thành phố bảo dân chúng yên lặng và tuyên bố: “Thưa đồng bào Ê-phê-sô, ai lại không biết thành Ê-phê-sô là người canh giữ đền thờ của đại nữ thần Đi-anh và tượng của nữ thần từ trời giáng xuống sao?
Những điều đó không ai có thể chối cãi, nên đồng bào hãy bình tĩnh, đừng làm điều gì vội vã.
Vì những người mà đồng bào đã giải đến đây không trộm cắp vật thánh cũng không phạm thượng với nữ thần chúng ta.
Vậy, nếu Đê-mê-triu và các thợ thủ công của ông ta có muốn kiện cáo ai thì đã có các tòa án và các thống đốc, hãy để họ kiện cáo nhau.
Còn nếu đồng bào yêu cầu việc gì nữa thì sẽ được giải quyết tại hội đồng hợp pháp.
Vì e rằng chúng ta sẽ bị truy tố về vụ nổi loạn hôm nay, và chúng ta không thể tìm lý do nào để bênh vực sự tụ họp ồn ào nầy.”
Nói xong, ông giải tán đám đông.
Khi sự rối loạn đã yên, Phao-lô mời các môn đồ đến để khích lệ họ, rồi chào từ giã mà lên dường đi Ma-xê-đô-ni-a.
Ông đi qua khắp các miền ấy, dùng nhiều lời khích lệ các tín hữu, rồi đến Hi Lạp
và ở lại đó ba tháng. Khi sắp xuống thuyền đi Sy-ri, Phao-lô bị người Do Thái lập mưu hãm hại, nên ông quyết định đi qua ngõ Ma-xê-đô-ni-a mà trở về.
Cùng đi với ông có Sô-ba-tê, con Pi-ru, quê ở Bê-rê; A-ri-tạc và Sê-cun-đu quê ở Tê-sa-lô-ni-ca; Gai-út quê ở Đẹt-bơ; Ty-chi-cơ và Trô-phim quê ở A-si-a và Ti-mô-thê.
Những người nầy đi trước và đợi chúng tôi tại Trô-ách.
Còn chúng tôi, sau kỳ lễ Bánh Không Men thì xuống thuyền rời thành Phi-líp; năm ngày sau, chúng tôi gặp họ ở Trô-ách, rồi ở lại đó bảy ngày.
Ngày thứ nhất trong tuần lễ, chúng tôi nhóm lại để bẻ bánh. Phao-lô giảng luận cho các môn đồ; vì phải lên đường ngày mai nên ông cứ giảng luôn cho đến nửa đêm.
Có nhiều đèn trong phòng cao nơi chúng tôi đang nhóm lại.
Một thanh niên tên Ơ-tích đang ngồi trên cửa sổ ngủ gục trong khi Phao-lô giảng rất dài. Vì ngủ quá say, anh ta từ tầng lầu thứ ba té xuống; khi người ta đỡ anh dậy thì thấy anh đã chết.
Nhưng Phao-lô bước xuống, nghiêng mình trên anh, ôm lấy anh và nói: “Đừng bối rối, anh ta vẫn còn sống!”
Phao-lô trở lên lầu bẻ bánh và ăn; ông nói chuyện rất lâu cho đến sáng mới lên đường.
Người ta đưa thanh niên ấy về nhà; anh vẫn còn sống nên mọi người đều được an ủi nhiều.
Chúng tôi đi trước, đáp thuyền đi A-sốt, là nơi chúng tôi sẽ đón Phao-lô; vì ông định đi đường bộ nên mới sắp đặt như thế.
Gặp nhau tại A-sốt, chúng tôi đón ông xuống thuyền và cùng nhau đi đến Mi-ti-len.
Rồi từ nơi đó, chúng tôi đi đường biển và ngày hôm sau thì đến ngang đảo Chi-ô. Qua ngày kế tiếp, chúng tôi ghé vào Sa-mốt và đi một ngày nữa thì tới Mi-lê.
Vì Phao-lô đã quyết định chỉ đi ngang qua Ê-phê-sô, chứ không dừng lại để khỏi mất thì giờ tại A-si-a. Ông đi vội vã để nếu có thể thì có mặt ở Giê-ru-sa-lem vào ngày lễ Ngũ Tuần.
Bấy giờ, từ Mi-lê, Phao-lô sai người đến Ê-phê-sô mời các trưởng lão trong Hội Thánh đến.
Khi họ đến, ông nói với họ: “Anh em đều biết, từ ngày đầu tiên đặt chân đến A-si-a, tôi đã luôn luôn cư xử với anh em như thế nào.
Tôi phục vụ Chúa một cách khiêm nhường, với nhiều nước mắt, và phải chịu nhiều thử thách do người Do Thái lập mưu hại tôi.
Tôi rao truyền mọi điều lợi ích cho anh em, chẳng giữ lại điều gì, và dạy dỗ anh em nơi công chúng, hay từ nhà nầy sang nhà kia;
tôi khuyến cáo cả người Do Thái lẫn người Hi Lạp về sự ăn năn đối với Đức Chúa Trời và đức tin nơi Đức Chúa Jêsus, Chúa chúng ta.
Kìa, nay tôi được Thánh Linh thúc giục đi đến Giê-ru-sa-lem, chẳng biết điều gì sẽ xảy đến cho tôi ở đó;
ngoại trừ Đức Thánh Linh đã báo trước cho tôi rằng trong mỗi thành, xiềng xích và hoạn nạn đang chờ đợi tôi.
Nhưng tôi chẳng kể sự sống mình là quý, miễn sao hoàn tất cuộc đua và chức vụ tôi đã nhận lãnh nơi Chúa là Đức Chúa Jêsus, để công bố Tin Lành về ân điển Đức Chúa Trời.
Bây giờ, tôi biết rằng trong tất cả anh em mà tôi đã rao giảng về vương quốc Đức Chúa Trời, chẳng một ai sẽ thấy mặt tôi nữa.
Do đó, hôm nay tôi xác quyết trước mặt anh em rằng tôi vô tội về máu của tất cả anh em.
Vì tôi đã công bố toàn bộ mục đích của Đức Chúa Trời cho anh em, không giữ lại điều gì.
Anh em hãy giữ chính mình và luôn cả bầy chiên mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn dắt Hội Thánh của Đức Chúa Trời mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình.
Tôi biết rằng sau khi tôi ra đi, sẽ có muông sói dữ tợn đột nhập vào trong anh em, chẳng tiếc bầy chiên đâu.
Ngay từ giữa anh em cũng sẽ dấy lên những người giảng những điều sai lạc để lôi cuốn các môn đồ theo họ.
Vậy, hãy tỉnh thức, nhớ lại rằng trong suốt ba năm, hằng đêm và ngày, tôi không ngừng đổ nước mắt mà khuyên dạy mọi người.
Bây giờ, tôi giao phó anh em cho Đức Chúa Trời và cho đạo ân điển của Ngài, là đạo có thể xây dựng và ban cơ nghiệp cho anh em cùng với tất cả những người được thánh hóa.
Tôi chẳng ham bạc vàng, hay là quần áo của ai hết.
Chính anh em biết hai bàn tay nầy đã cung ứng các nhu cầu của tôi và các bạn đồng lao của tôi.
Tôi đã từng chỉ dạy cho anh em trong mọi việc rằng chúng ta phải cần cù làm việc như thế để giúp đỡ những người đau yếu, và nhớ lại lời chính Chúa là Đức Chúa Jêsus đã phán: ‘Ban cho có phước hơn nhận lãnh.’ ”
Nói những lời ấy xong, Phao-lô quỳ xuống và cầu nguyện với tất cả anh em.
Mọi người đều khóc lóc và ôm lấy cổ Phao-lô mà hôn.
Họ đau buồn nhất là khi nghe ông nói rằng họ sẽ chẳng còn thấy mặt ông nữa. Rồi họ tiễn ông xuống tàu.
Chúng tôi từ giã họ, ra khơi và đi thẳng đến Cốt. Ngày hôm sau, chúng tôi đến Rô-đơ, và từ đó đến Pa-ta-ra.
Ở đó, chúng tôi gặp một chiếc tàu đi qua Phê-ni-xi nên xuống tàu và rời bến.
Khi nhìn thấy đảo Síp, chúng tôi đi qua hướng nam của đảo nầy, đi thẳng đến Sy-ri và cập bến ở Ty-rơ, vì tàu phải dỡ hàng hóa tại đó.
Sau khi tìm được các môn đồ, chúng tôi ở lại với họ bảy ngày. Các môn đồ được Thánh Linh cảm động, khuyên Phao-lô đừng lên Giê-ru-sa-lem.
Nhưng khi những ngày tạm trú đã qua, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình. Tất cả môn đồ cùng với vợ con họ đưa tiễn chúng tôi đến ngoài thành, rồi mọi người đều quỳ gối trên bờ biển mà cầu nguyện.
Sau khi từ giã nhau, chúng tôi xuống tàu còn các môn đồ trở về nhà.
Từ Ty-rơ, chúng tôi đi hết chặng đường thủy thì đến Pê-tô-lê-mai, chào thăm anh em và ở lại với họ một ngày.
Hôm sau, chúng tôi lên đường đi đến Sê-sa-rê, vào nhà Phi-líp, nhà truyền giảng Tin Lành và là một trong bảy chấp sự, rồi ở lại đó.
Ông có bốn người con gái đồng trinh, có ơn nói tiên tri.
Trong lúc chúng tôi ở lại đó mấy ngày, có một nhà tiên tri tên A-ga-bút từ Giu-đê xuống.
Ông đến thăm chúng tôi, lấy dây thắt lưng của Phao-lô trói chân tay mình và nói: “Đây là lời Đức Thánh Linh phán: ‘Tại Giê-ru-sa-lem, người Do Thái sẽ trói người có dây thắt lưng nầy như vậy và nộp vào tay người ngoại.’ ”
Khi nghe những lời ấy, các tín hữu nơi đó và chúng tôi đều xin Phao-lô đừng lên Giê-ru-sa-lem.
Nhưng Phao-lô trả lời: “Anh em khóc lóc làm gì cho đau lòng tôi? Vì tôi sẵn sàng không những bị trói, mà ngay cả chịu chết vì danh Chúa là Đức Chúa Jêsus tại Giê-ru-sa-lem nữa.”
Khi thấy không thể thuyết phục ông được nữa, chúng tôi đành ngừng lại và nói: “Xin ý Chúa được nên!”
Sau những ngày ở đó, chúng tôi sửa soạn để lên Giê-ru-sa-lem.
Có mấy môn đồ từ Sê-sa-rê cùng đi, dẫn chúng tôi vào nhà Ma-na-sôn quê ở đảo Síp, là một môn đồ kỳ cựu, và chúng tôi trọ ở đó.
Đến Giê-ru-sa-lem, chúng tôi được anh em tiếp đón vui vẻ.
Hôm sau, Phao-lô đi với chúng tôi đến thăm Gia-cơ. Tất cả các trưởng lão đều có mặt ở đó.
Sau khi chào thăm, Phao-lô thuật lại từng chi tiết mọi điều Đức Chúa Trời đã thực hiện giữa các dân ngoại qua chức vụ mình.
Khi nghe xong, họ ca ngợi Đức Chúa Trời, rồi nói với Phao-lô: “Anh ơi, anh thấy đó, có hàng vạn người Do Thái đã tin; tất cả đều sốt sắng về luật pháp.
Họ đã nghe đồn về anh rằng anh dạy những người Do Thái trong các dân ngoại phải bỏ luật Môi-se, đừng cắt bì cho con cái và đừng tuân giữ các tục lệ nữa.
Vậy, phải tính làm sao? Vì chắc chắn họ biết tin anh đã đến rồi.
Do đó, xin anh hãy làm theo điều chúng tôi dặn anh: Chúng tôi có bốn người đang mắc lời khấn nguyện.
Hãy đem theo bốn người nầy làm lễ thanh tẩy cùng với họ, và chịu tiền cho họ xuống tóc. Như thế, mọi người sẽ biết những tin đồn về anh là không đúng, và biết chính anh cũng tuân giữ luật pháp.
Còn về phần dân ngoại đã tin, chúng tôi đã viết thư cho họ biết về quyết định của chúng tôi, đó là: không ăn của cúng thần tượng, huyết, thú vật chết ngạt và chớ gian dâm.”
Phao-lô đem bốn người đi theo, và ngày hôm sau, cùng làm lễ thanh tẩy với họ; rồi ông vào đền thờ, cho họ biết khi nào kỳ thanh tẩy sẽ hoàn tất và lễ vật mà mỗi người trong họ phải dâng.
Khi bảy ngày sắp hết, các người Do Thái quê ở A-si-a thấy Phao-lô trong đền thờ nên xúi giục dân chúng bắt ông.
Họ la lớn: “Đồng bào Y-sơ-ra-ên ơi, hãy đến giúp chúng tôi với! Chính tên nầy giảng dạy khắp nơi, chống lại dân tộc, luật pháp và cả nơi nầy; hơn nữa, nó còn dẫn người Hi Lạp vào đền thờ, làm ô uế nơi thánh nầy.”
Nguyên do là trước đó họ đã thấy Trô-phim, người Ê-phê-sô, ở với Phao-lô trong thành phố nên tưởng rằng Phao-lô đã dẫn ông ấy vào đền thờ.
Cả thành đều náo động, dân chúng chạy lại bắt Phao-lô kéo ra khỏi đền thờ, và lập tức đóng các cửa lại.
Trong khi họ đang tìm cách giết ông thì viên chỉ huy đội quân Rô-ma được tin rằng cả thành Giê-ru-sa-lem đang nổi loạn.
Lập tức, ông đem quân lính và sĩ quan kéo đến chỗ đám đông. Vừa thấy viên chỉ huy và binh sĩ thì họ ngừng tay, không đánh đập Phao-lô nữa.
Viên chỉ huy đến gần, bắt Phao-lô và ra lệnh trói ông lại bằng hai dây xích, rồi hỏi ông là ai và đã làm những việc gì.
Trong đoàn dân, kẻ kêu lên thể nầy, người la lên thể khác; viên chỉ huy không thể biết được hư thực ra sao vì quá rối loạn nên ra lệnh giải về đồn.
Lúc Phao-lô bước lên thềm, quân lính phải khiêng ông đi vì đám đông quá hung bạo.
Đoàn dân kéo theo sau hét lên: “Hãy giết nó đi!”
Khi sắp được đem vào đồn, Phao-lô nói với viên chỉ huy: “Tôi có thể nói với ông đôi lời không?” Viên chỉ huy hỏi: “Anh biết nói tiếng Hi Lạp sao?
Vậy thì anh không phải là tên Ai Cập kia, trước đây ít lâu đã nổi loạn, kéo bốn nghìn quân khủng bố vào nơi hoang mạc sao?”
Phao-lô đáp: “Tôi là người Do Thái, quê ở Tạt-sơ, xứ Si-li-si, công dân của một thành phố quan trọng. Xin hãy cho phép tôi nói với dân chúng.”
Được phép rồi, Phao-lô đứng trên bậc thềm, giơ tay ra hiệu cho dân chúng. Khi mọi người yên lặng, ông nói bằng tiếng Hê-bơ-rơ rằng:
“Thưa các anh, các cha, xin hãy nghe tôi biện hộ đây!”
Khi nghe ông nói bằng tiếng Hê-bơ-rơ, họ càng im lặng hơn. Ông nói:
“Tôi là người Do Thái, sinh tại Tạt-sơ, xứ Si-li-si, nhưng được trưởng dưỡng trong thành phố nầy, học dưới chân Ga-ma-li-ên. Tôi được giáo dục một cách nghiêm ngặt về luật pháp của tổ tiên, đầy lòng nhiệt thành với Đức Chúa Trời cũng như tất cả quý vị hôm nay.
Tôi từng bắt bớ những người theo đạo nầy cho đến chết; bắt trói và bỏ tù bất kể đàn ông hay đàn bà.
Về điều đó, thầy tế lễ thượng phẩm và cả Hội đồng đều làm chứng cho tôi; tôi đã nhận từ tay họ các thư gửi cho anh em ở Đa-mách, và tôi đã đi đến đó để bắt trói những người theo đạo, dẫn về Giê-ru-sa-lem để trừng trị.
Đang khi đi đường gần đến Đa-mách, vào khoảng giữa trưa, thình lình có ánh sáng chói lòa từ trời chiếu xuống bao phủ tôi.
Tôi ngã xuống đất và nghe có tiếng phán với tôi: ‘Hỡi Sau-lơ, Sau-lơ, sao ngươi bắt bớ Ta?’
Tôi thưa: ‘Lạy Chúa, Chúa là ai?’ Ngài phán: ‘Ta là Jêsus người Na-xa-rét mà ngươi đang bắt bớ.’
Những người đi với tôi thấy ánh sáng ấy, nhưng không nghe tiếng của Đấng phán với tôi.
Tôi thưa: ‘Lạy Chúa, con phải làm gì?’ Chúa đáp: ‘Hãy trỗi dậy, đi đến Đa-mách, ở đó người ta sẽ nói cho con biết mọi điều Ta đã chỉ định cho con phải làm.’
Các bạn đồng hành nắm tay dắt tôi đến Đa-mách vì ánh sáng chói lòa đã làm cho tôi không thấy đường.
Trong thành đó có A-na-nia là người nhiệt thành vâng giữ luật pháp, được tất cả người Do Thái sống ở đó làm chứng tốt.
Ông đến tìm tôi, đứng bên cạnh và nói: ‘Hỡi anh Sau-lơ, hãy sáng mắt lại!’ Ngay chính giờ đó, tôi được sáng mắt và nhìn thấy A-na-nia.
Rồi ông nói: ‘Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta đã chọn anh để biết ý muốn Ngài, thấy Đấng Công Chính và nghe tiếng nói từ miệng Ngài.
Vì anh sẽ làm chứng cho Ngài trước mặt mọi người về những điều anh đã thấy và nghe.
Bây giờ, anh còn chờ đợi gì nữa? Hãy trỗi dậy, kêu cầu danh Chúa mà nhận báp-têm và tẩy sạch tội lỗi mình đi.’
Tôi trở về Giê-ru-sa-lem; đang khi cầu nguyện trong đền thờ thì tôi xuất thần
và thấy Đức Chúa Jêsus đang phán với tôi rằng: ‘Hãy nhanh lên, mau ra khỏi Giê-ru-sa-lem, vì họ sẽ không chấp nhận lời làm chứng của con về Ta đâu!’
Tôi thưa: ‘Lạy Chúa, chính họ biết con từng bỏ tù và đánh đòn những người tin Chúa trong các nhà hội nữa.
Lại khi Ê-tiên là người làm chứng cho Chúa bị đổ máu thì chính con cũng đứng bên cạnh, đồng tình với họ và giữ áo xống cho những kẻ giết ông ta.’
Chúa phán với tôi: ‘Hãy đi, vì Ta sẽ sai con đến cùng các dân ngoại ở nơi xa.’”
Họ chịu lắng nghe Phao-lô nói, nhưng đến câu nầy thì nổi lên hét lớn: “Hãy diệt hạng người ấy khỏi mặt đất! Nó chẳng đáng sống nữa!”
Họ hò hét, tung áo xống, vẩy bụi đất lên trời.
Viên chỉ huy ra lệnh dẫn Phao-lô vào trong đồn, dùng roi tra khảo ông để biết tại sao dân chúng la hét nghịch với ông như vậy.
Khi họ căng ông ra để đánh đòn thì Phao-lô nói với viên đội trưởng đang đứng gần đó: “Các ông được phép đánh đòn một công dân Rô-ma khi chưa thành án sao?”
Nghe như thế, đội trưởng đi thưa với viên chỉ huy rằng: “Ông định làm gì đây? Vì người nầy là công dân Rô-ma.”
Vậy, viên chỉ huy đến gặp Phao-lô và hỏi: “Hãy nói cho tôi biết, anh có phải là công dân Rô-ma không?” Ông trả lời: “Phải.”
Viên chỉ huy nói: “Tôi đã mua quyền công dân đó với giá rất cao.” Phao-lô nói: “Còn tôi thì mới sinh ra đã có quyền công dân ấy rồi.”
Lập tức, những kẻ chuẩn bị tra khảo ông đều rút lui và viên chỉ huy sợ hãi khi biết người mình đã trói đó là một công dân Rô-ma.
Hôm sau, viên chỉ huy muốn biết rõ lý do Phao-lô bị người Do Thái tố cáo nên sai mở trói cho Phao-lô, và ra lệnh cho các thầy tế lễ cả cùng toàn thể Hội đồng họp lại, rồi dẫn Phao-lô ra đứng trước mặt họ.
Phao-lô nhìn thẳng lên Hội đồng Công luận và nói: “Thưa anh em, trước mặt Đức Chúa Trời, tôi đã sống với cả lương tâm trong sáng cho đến ngày nay.”
Lúc ấy, thầy tế lễ thượng phẩm A-na-nia bảo mấy người đứng gần Phao-lô vả miệng ông.
Phao-lô nói: “Hỡi bức tường quét vôi trắng kia, Đức Chúa Trời sẽ đánh ông. Ông ngồi để xử đoán tôi theo luật pháp mà lại làm trái luật pháp, ra lệnh cho họ đánh tôi!”
Những người đứng gần đó nói: “Anh nguyền rủa cả thầy tế lễ thượng phẩm của Đức Chúa Trời sao!”
Phao-lô trả lời: “Thưa anh em, tôi không biết ông ấy là thầy tế lễ thượng phẩm; vì có chép rằng: ‘Chớ sỉ nhục người lãnh đạo dân mình.’ ”
Phao-lô biết có một số trong vòng họ là người Sa-đu-sê, một số khác là người Pha-ri-si, nên nói lớn trước Hội đồng Công luận: “Thưa các anh em, tôi là người Pha-ri-si, con của người Pha-ri-si. Chính vì niềm hi vọng về sự sống lại từ cõi chết mà tôi bị đưa ra xét xử.”
Ông vừa nói xong, người Pha-ri-si và người Sa-đu-sê bắt đầu tranh luận với nhau và Hội đồng bị chia rẽ.
Vì người Sa-đu-sê nói rằng không có sự sống lại, cũng không có thiên sứ hay thần linh gì cả; còn người Pha-ri-si thì lại thừa nhận tất cả.
Thế rồi cuộc cãi vã to tiếng nổi lên. Vài thầy thông giáo về dòng Pha-ri-si đứng dậy phản bác mạnh mẽ rằng: “Chúng tôi chẳng tìm thấy người nầy có tội ác gì cả. Biết đâu thần linh hoặc thiên sứ đã nói với ông ta điều gì?”
Vì cuộc tranh luận càng trở nên gay gắt, viên chỉ huy sợ Phao-lô bị dân chúng xé xác, nên ra lệnh cho binh sĩ xuống kéo ông ra khỏi họ và đem vào trong đồn.
Qua đêm sau, Chúa hiện đến với Phao-lô và phán: “Hãy can đảm! Con đã làm chứng cho Ta tại Giê-ru-sa-lem thể nào thì con cũng phải làm chứng cho Ta tại Rô-ma thể ấy.”
Đến sáng, người Do Thái lập mưu và thề với nhau rằng họ chẳng ăn chẳng uống cho đến khi giết được Phao-lô.
Có hơn bốn mươi người đã dự vào âm mưu đó.
Họ đến với các thầy tế lễ cả và các trưởng lão, nói rằng: “Chúng tôi đã thề với nhau chẳng ăn gì cả cho đến khi giết được Phao-lô.
Vậy bây giờ, xin quý vị và Hội đồng Công luận yêu cầu viên chỉ huy giải nó xuống, giả vờ như quý vị muốn điều tra về trường hợp của nó cho chính xác hơn; còn chúng tôi chuẩn bị sẵn sàng để giết nó trước khi nó đến đây.”
Nhưng, con trai của chị Phao-lô biết được âm mưu ấy, nên đi vào trong đồn báo trước cho Phao-lô.
Phao-lô gọi một viên đội trưởng và nói: “Hãy đem thanh niên nầy đến với ông chỉ huy vì anh ta có việc muốn trình báo.”
Vậy, viên đội trưởng đem chàng đi, dẫn đến viên chỉ huy và thưa: “Tên tù Phao-lô có xin tôi đem thanh niên nầy đến với quan vì anh ta có điều gì muốn trình.”
Viên chỉ huy nắm tay anh thanh niên, dẫn riêng ra ngoài và hỏi: “Cậu có việc gì cần trình báo cho tôi?”
Anh thưa: “Người Do Thái đã đồng mưu xin quan giải Phao-lô xuống Hội đồng Công luận vào ngày mai, giả vờ như họ muốn điều tra việc nầy cho kỹ càng hơn.
Nhưng xin quan chớ tin họ, vì có hơn bốn mươi người trong bọn họ âm mưu hại Phao-lô. Họ đã thề với nhau chẳng ăn uống gì cả cho đến khi giết được ông ta; bây giờ, họ đang sẵn sàng, chỉ đợi quan chấp thuận thôi.”
Viên chỉ huy cho chàng thanh niên ấy về và dặn: “Đừng cho ai biết em đã báo điều đó cho ta nhé!”
Viên chỉ huy trưởng gọi hai đội trưởng và dặn: “Vào chín giờ đêm nay, hãy chuẩn bị sẵn sàng hai trăm bộ binh, bảy mươi kỵ binh và hai trăm lính cầm giáo để đi đến Sê-sa-rê.
Cũng phải chuẩn bị ngựa để đưa Phao-lô đến tổng đốc Phê-lít một cách an toàn.”
Ông cũng viết cho tổng đốc một văn thư như sau:
“Cơ-lốt Ly-si-a kính gửi ngài tổng đốc Phê-lít. Kính chào ngài tổng đốc!
Người Do Thái đã bắt người nầy, định giết đi thì tôi kịp thời đem quân đến giải thoát, vì biết rằng đương sự cũng là công dân Rô-ma.
Tôi muốn biết rõ lý do họ tố cáo nên giải đương sự đến Hội đồng Công luận.
Tôi nhận thấy đương sự bị tố cáo về những vấn đề liên quan đến giáo luật của họ, nhưng không phạm một tội nào đáng chết hay đáng bị tù cả.
Nhưng tôi có nghe người ta âm mưu hãm hại đương sự nên lập tức giải đương sự đến trước quan, và tôi cũng ra lệnh cho các nguyên cáo phải đến trước mặt quan để trình bày cáo trạng.”
Vậy, quân lính tuân lệnh, đem Phao-lô đi trong ban đêm và giải đến An-ti-pa-tri.
Ngày hôm sau, kỵ binh tiếp tục đi với ông, còn các đơn vị khác quay trở về đồn.
Khi đến Sê-sa-rê, họ đưa thư và trình diện Phao-lô trước tổng đốc.
Sau khi đọc văn thư, tổng đốc hỏi Phao-lô ở tỉnh nào; khi biết ông quê ở Si-li-si
thì nói: “Khi nào các nguyên cáo đến đây, ta sẽ xử vụ của ngươi.” Rồi tổng đốc ra lệnh giam Phao-lô trong dinh Hê-rốt.
Năm ngày sau, thầy tế lễ thượng phẩm A-na-nia đi xuống Sê-sa-rê cùng với vài trưởng lão và một luật sư tên Tẹt-tu-lu để kiện Phao-lô trước mặt tổng đốc.
Khi Phao-lô đã được gọi vào, Tẹt-tu-lu bắt đầu tố cáo như sau:
“Thưa ngài tổng đốc Phê-lít! Nhờ ơn tổng đốc mà lâu nay chúng tôi được hưởng hòa bình; nhờ sự khôn ngoan của ngài mà nhiều cải cách đã được thực hiện cho dân tộc nầy. Ở đâu và lúc nào, chúng tôi cũng đều đón nhận những điều ấy với lòng tri ân sâu xa.
Nhưng để khỏi làm phiền quan thêm nữa, tôi xin ngài lấy lòng khoan nhân mà nghe lời trình bày ngắn gọn của chúng tôi:
Thật vậy, chúng tôi đã gặp người nầy như là đồ ôn dịch, đã gây rối loạn giữa vòng người Do Thái trên khắp thế giới và là đầu đảng của phái Na-xa-rét.
Nó cũng đã làm ô uế đền thờ nên chúng tôi đã bắt nó.
Xin chính ngài hãy tra hỏi nó để có thể biết mọi điều mà chúng tôi tố cáo.”
Những người Do Thái cũng đồng tình với lời cáo buộc và quả quyết thật đúng như vậy.
Khi tổng đốc ra hiệu bảo Phao-lô nói, ông thưa: “Tôi biết ngài làm thẩm phán trong nước nầy đã lâu năm nên tôi vui mừng tự biện hộ trước ngài.
Như ngài đã biết, tôi lên Giê-ru-sa-lem để thờ phượng chưa được mười hai ngày nay.
Người ta chẳng từng thấy tôi tranh cãi với ai hay xúi giục dân chúng nổi loạn bao giờ, hoặc trong đền thờ, hoặc nơi nhà hội, hay trong thành phố.
Bây giờ, họ cũng không thể đưa ra bằng chứng nào về điều họ tố cáo tôi trước mặt ngài.
Tôi thừa nhận trước ngài rằng tôi theo đạo mà họ gọi là một bè phái đó. Tôi thờ phượng Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi, tin mọi điều chép trong sách luật pháp và các sách tiên tri.
Tôi có cùng một hi vọng nơi Đức Chúa Trời như chính họ cũng có vậy, tức là sẽ có sự sống lại của cả người công chính lẫn người bất nghĩa.
Cũng vì cớ ấy, tôi luôn cố gắng để có lương tâm không bị cáo trách trước mặt Đức Chúa Trời và trước mặt con người.
Sau những năm xa vắng, bây giờ tôi mới trở về đất nước để đem phẩm vật cứu trợ và dâng tế lễ.
Họ gặp tôi đang làm lễ thanh tẩy trong đền thờ, chứ chẳng có tụ tập đám đông hoặc gây rối loạn gì cả.
Nhưng có một vài người Do Thái từ A-si-a có mặt ở đó; nếu họ có điều gì kiện tôi thì phải đến hầu trước mặt ngài để tố cáo đi.
Hoặc những người ở đây phải cho biết tôi đã phạm tội gì lúc tôi đứng trước Hội đồng Công luận;
có chăng chỉ là một câu tôi nói khi đứng giữa họ: ‘Chính vì sự sống lại của kẻ chết mà hôm nay tôi bị xử đoán trước mặt các ông.’ ”
Phê-lít vốn biết rõ về đạo mà Phao-lô nói đó nên cho hoãn phiên tòa và tuyên bố: “Khi nào viên chỉ huy Ly-si-a xuống, ta sẽ quyết định việc nầy.”
Tổng đốc ra lệnh cho đội trưởng canh giữ Phao-lô, nhưng phải cho ông được tự do hơn, và nếu có thân nhân ông đến săn sóc thì đừng ngăn cấm.
Mấy ngày sau, Phê-lít với vợ mình là Đơ-ru-si, người Do Thái, đến và sai gọi Phao-lô để nghe ông nói về đức tin trong Đấng Christ Jêsus.
Nhưng khi Phao-lô nói về sự công chính, sự tiết độ và sự phán xét tương lai, thì Phê-lít run sợ và nói: “Bây giờ anh hãy lui ra; khi nào có dịp tiện ta sẽ gọi lại!”
Đồng thời, Phê-lít cũng hi vọng Phao-lô đút lót tiền cho mình, nên thường đòi ông đến và nói chuyện với ông.
Hai năm sau, Pốt-tiu Phê-tu đến thay Phê-lít. Vì muốn được lòng dân Do Thái, Phê-lít cứ giam Phao-lô trong ngục.
Ba ngày sau khi được bổ nhiệm đến tỉnh hạt, Phê-tu từ Sê-sa-rê đi lên Giê-ru-sa-lem.
Tại đó, các thầy tế lễ cả và các nhà lãnh đạo Do Thái tố cáo Phao-lô trước mặt ông,
xin ông làm ơn cho giải Phao-lô trở về Giê-ru-sa-lem; vì họ định phục kích giết Phao-lô dọc đường.
Nhưng Phê-tu trả lời rằng Phao-lô đang bị giam tại Sê-sa-rê và chính ông sẽ sớm trở về đó.
Phê-tu nói tiếp: “Vậy, những người lãnh đạo của các ngươi hãy xuống với ta; nếu người ấy có tội gì thì cứ tố cáo.”
Phê-tu ở lại với họ khoảng tám hay mười ngày rồi đi xuống Sê-sa-rê; ngày hôm sau, ông ngồi tại tòa án và ra lệnh dẫn Phao-lô vào.
Phao-lô vừa đến thì các người Do Thái từ Giê-ru-sa-lem xuống, vây quanh ông và dùng nhiều lời tố cáo nặng nề để buộc tội ông, nhưng chẳng đưa ra được bằng chứng nào cả.
Phao-lô tự biện hộ: “Tôi chẳng làm điều gì chống lại luật pháp người Do Thái, hoặc chống lại đền thờ, hay chống đối Sê-sa cả.”
Nhưng Phê-tu muốn được lòng dân Do Thái nên hỏi Phao-lô: “Anh có muốn lên Giê-ru-sa-lem để ta xét xử về những cáo buộc nầy không?”
Phao-lô thưa: “Tôi đang đứng trước tòa án Sê-sa là nơi tôi phải chịu xét xử; vì tôi chẳng có tội gì với người Do Thái cả, như ngài đã biết rõ.
Nếu thật tôi có tội hay phạm điều gì đáng chết, tôi chẳng xin tha chết đâu; trái lại, nếu họ không có chứng cứ gì để buộc tội tôi thì không ai được nộp tôi cho họ. Tôi kêu nài đến Sê-sa.”
Sau khi bàn luận với các cố vấn, Phê-tu trả lời: “Anh đã khiếu nại lên Sê-sa, thì anh chắc sẽ đến hầu Sê-sa.”
Vài ngày sau, vua Ạc-ríp-pa và bà Bê-rê-nít đến Sê-sa-rê để chào Phê-tu.
Vì họ ở lại đó nhiều ngày, nên Phê-tu đem vụ Phao-lô trình bày với vua, nói rằng: “Ở đây có một tên tù mà tổng đốc Phê-lít đã để lại.
Lúc tôi đến Giê-ru-sa-lem, các thầy tế lễ cả và các trưởng lão dân Do Thái buộc tội anh ta và yêu cầu tôi kết án.
Tôi trả lời họ rằng người Rô-ma không có thông lệ giao nộp một bị cáo trước khi đương sự có dịp đối mặt với các nguyên cáo để biện hộ về lời buộc tội chống lại mình.
Vì thế, khi họ đến đây, để khỏi mất thời gian, tôi chủ trì phiên tòa ngay hôm sau và ra lệnh dẫn đương sự đến.
Các nguyên cáo đều đứng trước tòa, nhưng không thể cáo buộc được một tội nào như tôi tưởng.
Họ chỉ tranh luận về vài điều trong đạo riêng của họ và về một Jêsus nào đó đã chết, nhưng tên Phao-lô nầy quả quyết còn sống.
Vì chưa biết phải quyết định thế nào về những vấn đề ấy, nên tôi hỏi Phao-lô có muốn đi đến Giê-ru-sa-lem để được xét xử về vụ nầy tại đó không.
Nhưng khi Phao-lô khiếu nại, xin được dành vụ nầy cho hoàng đế phán quyết thì tôi ra lệnh giam anh ta cho đến khi giải nộp cho Sê-sa.”
Ạc-ríp-pa nói với Phê-tu: “Chính ta cũng muốn nghe người ấy.” Phê-tu thưa: “Ngày mai vua sẽ nghe.”
Vậy, ngày hôm sau, vua Ạc-ríp-pa và Bê-rê-nít đến một cách long trọng, vào phòng xử án cùng với các viên chỉ huy và những người lãnh đạo trong thành. Phê-tu ra lệnh dẫn Phao-lô đến.
Phê-tu nói: “Tâu vua Ạc-ríp-pa và tất cả quý vị có mặt tại đây: Quý vị đều thấy người nầy là người mà cả dân chúng Do Thái tại Giê-ru-sa-lem cũng như ở đây kêu nài tôi và la lên rằng không được để cho nó sống nữa.
Nhưng tôi thấy anh ta chẳng làm điều gì đáng tội chết; vì chính anh ta cũng đã khiếu nại việc nầy lên Sê-sa nên tôi đã quyết định giải nộp đương sự đến đó.
Nhưng vì tôi không có điều gì chắc chắn để trình lên hoàng đế nên đem đương sự đến trước mặt quý vị, đặc biệt là trước mặt vua Ạc-ríp-pa, để sau khi điều tra xong, tôi có dữ liệu mà viết tờ trình.
Vì tôi thiết nghĩ giải một tù phạm mà không nói rõ tội trạng thì thật là vô lý.”
Bấy giờ vua Ạc-ríp-pa bảo Phao-lô: “Anh được phép nói để tự bào chữa.” Phao-lô giơ tay ra, tự biện hộ như sau:
“Tâu vua Ạc-ríp-pa, hôm nay tôi may mắn được tự biện hộ trước mặt vua về mọi điều người Do Thái cáo buộc tôi;
vì vua đặc biệt biết rõ mọi phong tục cũng như những vấn đề tranh cãi của người Do Thái. Vậy, xin vua hãy kiên nhẫn nghe tôi.
Mọi người Do Thái đều biết nếp sống của tôi từ lúc còn trẻ, ở giữa dân tộc tôi và tại Giê-ru-sa-lem.
Nếu họ sẵn sàng làm chứng về điều nầy thì từ lâu họ thừa biết tôi đã sống theo phái Pha-ri-si, là phái nghiêm khắc nhất trong tôn giáo chúng tôi.
Nay tôi đứng đây để bị xét xử là vì hi vọng nơi lời hứa của Đức Chúa Trời cho tổ phụ chúng tôi.
Chính vì niềm hi vọng ấy mà mười hai bộ tộc chúng tôi lấy lòng nhiệt thành thờ phượng Đức Chúa Trời ngày đêm. Muôn tâu, và cũng chính vì niềm hi vọng ấy mà tôi bị người Do Thái tố cáo.
Tại sao quý vị ở đây lại không thể tin rằng Đức Chúa Trời khiến người chết sống lại?
Thật vậy, chính tôi trước đây đã nghĩ rằng phải tìm mọi cách để chống đối danh Jêsus người Na-xa-rét.
Tôi đã làm như vậy tại Giê-ru-sa-lem: Dựa vào thẩm quyền của các thầy tế lễ cả, tôi không những bỏ tù nhiều thánh đồ, mà khi họ bị kết án tử hình, tôi cũng bỏ phiếu tán đồng nữa.
Tôi thường đi khắp các nhà hội để trừng phạt họ và ép buộc họ chối bỏ đức tin; tôi tức giận đến nỗi đi tận các thành ngoại quốc để bắt bớ họ.
Vì thế, tôi đi lên Đa-mách với thẩm quyền và mệnh lệnh của các thầy tế lễ cả.
Trên đường đi, muôn tâu, vào lúc giữa trưa, tôi thấy có ánh sáng từ trên trời chói lọi hơn mặt trời, chiếu chung quanh tôi và những người cùng đi.
Khi tất cả chúng tôi ngã xuống đất, tôi nghe tiếng phán với tôi bằng tiếng Hê-bơ-rơ rằng: ‘Hỡi Sau-lơ, Sau-lơ, sao ngươi bắt bớ Ta? Đá vào mũi nhọn thì thật khó chịu cho ngươi.’
Tôi thưa: ‘Lạy Chúa, Chúa là ai?’ Chúa đáp: ‘Ta là Jêsus mà ngươi đang bắt bớ.
Nhưng hãy trỗi dậy và đứng lên, vì Ta đã hiện ra với ngươi để lập ngươi làm đầy tớ và nhân chứng về những điều ngươi đã thấy nơi Ta, và về những điều Ta sẽ hiện ra tỏ cho ngươi biết.
Ta sẽ giải cứu ngươi khỏi dân nầy và các dân ngoại là nơi Ta sai ngươi đến
để mở mắt họ, chuyển họ từ tối tăm qua sáng láng, từ quyền lực của Sa-tan trở về cùng Đức Chúa Trời; hầu cho bởi đức tin nơi Ta, họ nhận được sự tha tội và hưởng phần gia tài cùng với các thánh đồ.’
Tâu vua Ạc-ríp-pa, từ đó, tôi không dám chống cự với khải tượng từ trời;
nhưng trước hết, tôi rao giảng cho những người ở Đa-mách, kế đến tại Giê-ru-sa-lem và cả miền Giu-đê, rồi đến các dân ngoại rằng phải ăn năn và quay về với Đức Chúa Trời, làm công việc xứng đáng với sự ăn năn.
Vì lý do đó, người Do Thái đã bắt tôi trong đền thờ và toan giết tôi.
Nhưng tôi được Đức Chúa Trời phù hộ cho đến ngày nay, và vì vậy, tôi đứng đây làm chứng cho người lớn kẻ nhỏ, không nói gì khác hơn là điều các nhà tiên tri và Môi-se đã báo trước phải xảy ra:
tức là Đấng Christ phải chịu thương khó, và là người đầu tiên sống lại từ cõi chết, để rao truyền ánh sáng cho dân Do Thái cũng như các dân ngoại.”
Khi Phao-lô đang tự biện hộ thì Phê-tu nói lớn: “Phao-lô ơi, anh mất trí rồi! Anh học nhiều quá đến hóa điên mất!”
Nhưng Phao-lô đáp: “Bẩm quan lớn Phê-tu, tôi không mất trí đâu, nhưng tôi đang nói những lời chân thật và tỉnh táo.
Vì đức vua biết rõ những điều nầy nên tôi mạnh dạn tâu; bởi tôi tin chắc rằng chẳng có điều nào đức vua không biết, vì mọi việc đó không làm ra trong bóng tối đâu.
Tâu đức vua Ạc-ríp-pa, đức vua có tin các nhà tiên tri chăng? Tôi biết đức vua tin đó!”
Vua Ạc-ríp-pa nói với Phao-lô: “Đừng tưởng chỉ trong thời gian ngắn ngủi mà anh thuyết phục được ta trở thành một Cơ Đốc nhân.”
Phao-lô tâu: “Dù thời gian dài hay ngắn, tôi cầu xin Đức Chúa Trời rằng không những một mình đức vua mà tất cả những người nghe tôi hôm nay đều trở nên như tôi, ngoại trừ cái xiềng nầy thôi!”
Bấy giờ vua, tổng đốc, bà Bê-rê-nít và những người cùng ngồi đều đứng dậy.
Khi ra về, họ nói với nhau: “Người nầy chẳng làm điều gì đáng chết hoặc đáng bỏ tù cả.”
Vua Ạc-ríp-pa nói với Phê-tu: “Nếu người nầy chưa khiếu nại lên Sê-sa thì có thể tha được.”
Khi đã quyết định cho chúng tôi đi đường biển qua I-ta-li-a thì họ giao Phao-lô và mấy tù nhân khác cho một viên đội trưởng tên Giu-lơ, thuộc binh đoàn hoàng gia Au-gút-tơ.
Chúng tôi xuống một chiếc tàu từ A-tra-mít sắp đi đến các hải cảng dọc bờ biển A-si-a, và chúng tôi ra khơi. A-ri-tạc, người Ma-xê-đô-ni-a ở Tê-sa-lô-ni-ca, cùng đi với chúng tôi.
Ngày hôm sau, chúng tôi đến Si-đôn; Giu-lơ đối xử tử tế với Phao-lô, cho phép ông đi thăm các bạn hữu và để cho họ chăm sóc ông.
Rồi từ nơi đó, chúng tôi xuống tàu đi theo sát bờ đảo Síp, vì bấy giờ gió ngược.
Sau khi vượt qua hải phận Si-li-si và Pam-phi-ly, chúng tôi đến Mi-ra, thuộc Ly-si-a.
Ở đó, viên đội trưởng thấy có một chiếc tàu từ A-léc-xan-đờ-ri-a đi qua I-ta-li-a nên cho chúng tôi xuống tàu đó.
Tàu chạy chậm trong nhiều ngày và phải vất vả lắm mới đến gần thành Cơ-nít. Vì gió ngược không cho phép tàu tiếp tục đi xa hơn, nên chúng tôi áp sát bờ đảo Cơ-rết, đi ngang qua Sa-môn.
Chúng tôi đi dọc theo bờ biển với nhiều khó khăn và đến một nơi gọi là Mỹ Cảng, gần thành La-sê.
Chúng tôi đã mất nhiều thời gian và cuộc hành trình trở nên nguy hiểm vì đã qua kỳ Kiêng ăn, nên Phao-lô khuyên họ
rằng: “Thưa các ông, tôi thấy cuộc hành trình nầy chắc sẽ gặp nguy hiểm và thiệt hại lớn, chẳng những cho hàng hóa và chiếc tàu mà cả đến tính mạng chúng ta nữa.”
Nhưng viên đội trưởng tin lời người lái tàu và chủ tàu hơn là lời Phao-lô nói.
Vì hải cảng đó không tiện cho tàu đậu vào mùa đông nên đa số đều đồng ý nên rời khỏi đó; bằng mọi cách, phải đi đến Phê-nít là cảng của đảo Cơ-rết, về hướng tây nam và tây bắc, để nghỉ mùa đông ở đó.
Khi gió nam bắt đầu thổi nhẹ, họ tưởng có thể thực hiện được kế hoạch nên nhổ neo và đi dọc theo đảo Cơ-rết.
Nhưng chẳng bao lâu, một trận cuồng phong gọi là Ơ-ra-qui-lôn từ trên đảo quật xuống.
Tàu bị cuốn đi và không thể đương đầu nổi với sức gió nên chúng tôi đành bỏ mặc cho nó trôi giạt.
Khi tàu trôi qua phía nam của một đảo nhỏ gọi là Cơ-lô-đa, chúng tôi phải khó nhọc lắm mới bảo vệ được chiếc xuồng cứu sinh.
Sau khi kéo xuồng lên, họ dùng dây cáp buộc chặt quanh chiếc tàu; rồi vì sợ mắc cạn trên bãi Si-rơ-tơ nên họ hạ buồm xuống, để mặc cho gió đưa đi.
Ngày hôm sau, cơn bão vẫn tiếp tục thổi mạnh nên họ bắt đầu ném hàng hóa xuống biển.
Ngày thứ ba, họ tự tay mình ném những trang thiết bị trên tàu xuống biển.
Trong suốt nhiều ngày, không có mặt trời cũng chẳng có ngôi sao nào xuất hiện, và cơn bão thì cứ thổi mạnh. Cuối cùng, chúng tôi chẳng còn hi vọng được cứu nữa.
Vì họ nhịn đói đã lâu ngày, nên Phao-lô đứng ở giữa họ và nói: “Thưa các ông, nếu hôm trước các ông nghe lời tôi, đừng rời khỏi đảo Cơ-rết thì chúng ta đã tránh được thiệt hại và mất mát nầy.
Nhưng bây giờ, tôi khuyên các ông hãy vững lòng; trong các ông chẳng ai thiệt mạng cả, chỉ mất chiếc tàu mà thôi!
Vì đêm qua, một thiên sứ của Đức Chúa Trời, Đấng tôi thuộc về và phục vụ, đã hiện đến với tôi và phán:
‘Hỡi Phao-lô, đừng sợ! Con phải ứng hầu trước Sê-sa; và nầy, Đức Chúa Trời đã ban cho con tất cả những người cùng đi tàu với con.’
Vậy xin các ông hãy vững lòng, vì tôi tin chắc nơi Đức Chúa Trời rằng điều ấy sẽ xảy ra đúng như lời Ngài đã phán.
Nhưng chắc hẳn chúng ta sẽ bị trôi giạt vào một đảo nào đó.”
Đã đến đêm thứ mười bốn mà chúng tôi vẫn lênh đênh trên biển A-đờ-ri-a-tích. Vào lúc nửa đêm, các thủy thủ tưởng rằng họ đang đến gần đất liền.
Họ thả trái dò xuống thì thấy sâu hai chục sải; đi xa một ít nữa, họ lại thả trái dò thì thấy mười lăm sải.
Bấy giờ, sợ đụng phải chỗ có đá nên họ từ phía đuôi tàu thả bốn neo xuống, và cầu mong cho trời mau sáng.
Nhưng vì các thủy thủ đang tìm cách trốn khỏi tàu nên thả chiếc xuồng xuống biển, giả vờ đi thả neo trước mũi tàu.
Vì thế, Phao-lô nói với viên đội trưởng và binh sĩ: “Các ông không thể được cứu thoát, trừ phi những người nầy cứ ở trong tàu.”
Bấy giờ, những binh sĩ cắt dây buộc chiếc xuồng ấy, cho nó rơi xuống.
Khi trời sắp sáng, Phao-lô khuyên mọi người hãy ăn. Ông nói: “Các ông đã trông đợi liên tục mười bốn ngày nay, nhịn đói chẳng ăn chút nào.
Vậy, tôi khuyên các ông hãy ăn để bảo toàn mạng sống vì chẳng một sợi tóc nào trên đầu các ông sẽ mất cả.”
Nói xong, Phao-lô lấy bánh, đứng trước mặt mọi người, tạ ơn Đức Chúa Trời, rồi bẻ ra và bắt đầu ăn.
Bấy giờ mọi người được khích lệ và cũng ăn uống.
Chúng tôi có tất cả hai trăm bảy mươi sáu người trong tàu.
Sau khi ăn no nê, họ ném lúa mì xuống biển, làm cho nhẹ tàu.
Đến sáng, họ không nhận biết là đất nào, nhưng thấy có cái vịnh với bãi biển nên dự định nếu có thể thì cho tàu cập vào bờ.
Vậy, họ dứt dây neo bỏ xuống biển, đồng thời tháo dây buộc bánh lái; rồi họ giương buồm thuận theo chiều gió, chạy thẳng vào bờ.
Nhưng tàu chạy đụng phải bãi cát ngầm nên bị mắc cạn. Đầu tàu cắm xuống cát nằm bất động, còn đuôi tàu thì bị sóng đánh bể nát hết.
Bấy giờ quân lính định giết tất cả tù nhân để không một người nào có thể bơi vào bờ và trốn thoát.
Nhưng viên đội trưởng muốn cứu Phao-lô nên ngăn trở ý định đó. Ông ra lệnh cho ai biết bơi thì nhảy xuống trước và bơi vào bờ;
số còn lại theo sau, người thì cỡi trên ván, kẻ thì ôm mảnh vỡ của chiếc tàu. Thế là mọi người đều được lên bờ an toàn.
Sau khi được thoát nạn, chúng tôi mới biết rằng hòn đảo nầy tên là Man-tơ.
Dân địa phương tỏ ra đặc biệt tử tế với chúng tôi. Vì trời bắt đầu mưa và lạnh nên họ đốt lửa lên và tiếp đón tất cả chúng tôi.
Phao-lô lượm một bó củi ném vào đống lửa thì một con rắn lục từ trong bó củi bị nóng bò ra, quấn chặt vào tay ông.
Khi dân địa phương thấy con rắn đeo trên tay Phao-lô thì nói với nhau: “Thật người nầy là tay giết người! Cho nên dù thoát chết ngoài khơi mà công lý vẫn không cho phép sống!”
Nhưng Phao-lô rảy rắn lục vào lửa và chẳng bị đau đớn gì cả.
Họ tưởng ông sẽ bị sưng lên hoặc ngã xuống chết ngay; nhưng sau khi đợi một lúc, không thấy điều gì khác thường xảy ra, họ lại đổi ý và nói rằng ông là một vị thần.
Gần đó là lãnh địa của Púp-li-u, tù trưởng đảo ấy. Tù trưởng mời và tiếp đãi chúng tôi cách niềm nở trong ba ngày.
Lúc ấy, thân phụ của Púp-li-u đang nằm trên giường vì bị cảm sốt và kiết lỵ. Phao-lô đến thăm, cầu nguyện đặt tay trên ông và chữa lành.
Khi việc nầy xảy ra, tất cả những người đau yếu trên đảo đều đến với Phao-lô, và được chữa lành cả.
Họ tỏ lòng quý trọng chúng tôi; khi chúng tôi xuống tàu, họ còn cung cấp đồ cần dùng cho chúng tôi nữa.
Ba tháng sau, chúng tôi đáp tàu có tên Đi-ô-cua từ A-léc-xan-đờ-ri-a đến, là tàu đã trú mùa đông tại đảo nầy.
Chúng tôi đến Sy-ra-cu-sơ và ở lại đó ba ngày.
Từ nơi đó, chúng tôi chạy vòng và đến Rê-ghi-um. Ngày hôm sau, gió nam nổi lên nên sau hai ngày, chúng tôi đến Pu-xô-lơ.
Chúng tôi gặp các anh em ở đó; họ mời chúng tôi ở lại với họ bảy ngày. Thế là chúng tôi đã đến Rô-ma.
Các anh em ở đó nghe tin chúng tôi đến thì ra tận Phô-rum Áp-pi-u và chỗ Ba Quán để đón. Phao-lô thấy anh em thì cảm tạ Đức Chúa Trời và thêm can đảm.
Khi chúng tôi vào thành Rô-ma, Phao-lô được phép ở riêng với một người lính canh giữ.
Sau ba ngày, Phao-lô mời các bậc lãnh đạo của người Do Thái đến; khi họ họp lại, ông nói: “Thưa anh em, dù không làm điều gì chống lại dân tộc hoặc phong tục của tổ phụ chúng ta, tôi đã bị bắt tại Giê-ru-sa-lem và bị nộp vào tay người Rô-ma.
Sau khi tra xét tôi, họ muốn trả tự do cho tôi, vì thấy tôi không làm điều gì đáng chết.
Nhưng người Do Thái phản đối nên tôi buộc phải khiếu nại lên Sê-sa, chứ tôi không có ý tố cáo dân tộc mình đâu!
Vì lý do đó, tôi đã xin gặp và nói chuyện với anh em; chính vì niềm hi vọng của dân Y-sơ-ra-ên mà tôi mang xiềng xích nầy.”
Họ đáp: “Chúng tôi không nhận được thư nào từ Giu-đê nói về anh, và cũng chẳng có anh em nào đến đây báo cáo hay là nói xấu về anh nữa.
Tuy nhiên, chúng tôi muốn biết anh suy nghĩ thế nào, vì chúng tôi biết giáo phái nầy bị người ta chống đối khắp nơi.”
Sau khi định ngày gặp ông, họ đến thăm ông tại nhà trọ rất đông. Từ sáng đến chiều, ông cứ làm chứng và giải nghĩa cho họ về vương quốc Đức Chúa Trời, lấy luật pháp Môi-se và các lời tiên tri mà cố gắng thuyết phục họ về Đức Chúa Jêsus.
Một số người chịu thuyết phục bởi lời ông giảng, còn số khác không chịu tin.
Vì thế, họ bất đồng với nhau và ra về nên Phao-lô nói thêm lời nầy: “Đức Thánh Linh đã phán thật đúng lắm, khi Ngài dùng nhà tiên tri Ê-sai phán với tổ phụ anh em rằng:
‘Hãy đi đến với dân nầy và nói: Các ngươi nghe mà chẳng hiểu gì, Các ngươi nhìn mà không thấy chi.
Vì lòng dân nầy trở nên tối tăm, Tai họ nặng, Mắt họ nhắm. E rằng mắt họ thấy được, Tai họ nghe được, Lòng họ hiểu được, Và họ trở lại Để Ta chữa lành chăng.’
Vậy, hãy biết rằng sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời đã được truyền bá cho các dân ngoại và họ sẽ lắng nghe.”
Phao-lô ở trọn hai năm tại một nhà thuê. Ông tiếp đón mọi người đến thăm mình,
giảng về vương quốc Đức Chúa Trời, và dạy về Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ một cách tự do, không bị ai ngăn cấm.
Phao-lô, đầy tớ của Đấng Christ Jêsus, được kêu gọi làm sứ đồ và được biệt riêng cho Tin Lành của Đức Chúa Trời,
là Tin Lành mà Đức Chúa Trời phán hứa từ trước qua các nhà tiên tri của Ngài trong Kinh Thánh.
Ấy là Tin Lành về Con Ngài, là Đấng mà về mặt thể xác được sinh ra từ dòng vua Đa-vít;
về thần linh thánh khiết, thì bởi sự sống lại của Ngài từ cõi chết, được tuyên xưng là Con Đức Chúa Trời quyền năng, là Đức Chúa Jêsus Christ Chúa chúng ta.
Nhờ Ngài, chúng tôi đã nhận ân điển và chức sứ đồ, để vì danh Ngài đem mọi dân tộc đến sự vâng phục do đức tin.
Anh em cũng ở trong số những người được kêu gọi để thuộc về Đức Chúa Jêsus Christ.
Tôi kính gửi đến tất cả những người yêu dấu của Đức Chúa Trời tại thành Rô-ma, là những người được gọi làm thánh đồ. Cầu xin Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ ban ân điển và bình an cho anh em!
Trước hết, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, tôi tạ ơn Đức Chúa Trời tôi về tất cả anh em, vì đức tin anh em đã được đồn khắp thế giới.
Đức Chúa Trời, Đấng mà tôi hết lòng phục vụ qua việc rao giảng Tin Lành về Con Ngài, làm chứng cho tôi rằng tôi luôn nhắc đến anh em
mỗi khi cầu nguyện. Tôi nài xin Đức Chúa Trời, bởi ý muốn Ngài, mở đường cho tôi có dịp đến với anh em.
Vì tôi rất mong đến thăm anh em để chia sẻ với anh em sự ban cho thiêng liêng, nhờ đó anh em được vững mạnh;
nghĩa là để chúng ta có thể khích lệ nhau bằng đức tin của chúng ta, tức là của anh em và của tôi.
Thưa anh em, tôi muốn anh em biết rằng đã nhiều lần tôi định đến thăm anh em để gặt hái ít nhiều bông trái trong anh em, cũng như trong các dân ngoại khác; nhưng cho đến nay vẫn còn bị ngăn trở.
Tôi mắc nợ cả người Hi Lạp lẫn người bán khai, cả người thông thái lẫn người dốt nát.
Vì vậy, tôi cũng tha thiết được rao giảng Tin Lành cho anh em, là những người đang sống ở Rô-ma nữa.
Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì đây là quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu mọi người tin, trước là người Do Thái, sau là người Hi Lạp.
Vì trong Tin Lành nầy, sự công chính của Đức Chúa Trời được bày tỏ từ đức tin đến đức tin, như có lời chép: “Người công chính sẽ sống bởi đức tin.”
Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời từ trên trời được tỏ bày để chống lại mọi sự vô luân và gian ác của những kẻ dùng sự gian ác mà áp chế chân lý.
Vì những gì người ta có thể biết về Đức Chúa Trời thì đã rõ ràng, bởi Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho họ rồi.
Những gì về Đức Chúa Trời mà mắt trần không thấy được, tức là quyền năng đời đời và thần tính của Ngài, thì ngay từ buổi sáng thế người ta đã nhận thức rõ ràng khi quan sát các tạo vật của Ngài; cho nên họ không thể bào chữa được.
Vì mặc dù đã biết Đức Chúa Trời, họ vẫn không chịu tôn cao Ngài là Đức Chúa Trời và không tạ ơn Ngài, nhưng cứ suy luận viển vông; lòng dạ ngu muội của họ trở nên tăm tối.
Họ tự xưng mình là khôn ngoan, nhưng đã trở nên điên dại.
Họ đã đổi vinh quang của Đức Chúa Trời bất diệt để lấy hình tượng của loài người hư nát, hoặc của chim muông, thú vật, hay loài bò sát.
Vì thế, Đức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những tham dục của lòng mình, rơi vào sự nhơ nhuốc để làm nhục thân thể của nhau,
vì họ đã đổi chân lý của Đức Chúa Trời để lấy sự dối trá; họ thờ phượng và phục vụ tạo vật thay vì Đấng Tạo Hóa, là Đấng đáng được ca ngợi đời đời! A-men.
Chính vì lý do đó mà Đức Chúa Trời đã phó mặc họ cho tình dục đáng xấu hổ. Cả đến đàn bà cũng đã đổi cách quan hệ tự nhiên ra cách phản tự nhiên.
Đàn ông cũng vậy, bỏ cách quan hệ tự nhiên với phụ nữ mà un đốt tình dục lẫn nhau, đàn ông làm điều đồi bại với đàn ông, và chính họ phải chịu sự sửa phạt tương xứng với sự lầm lạc của mình.
Vì họ không lo nhận biết Đức Chúa Trời, nên Đức Chúa Trời đã phó mặc họ cho một tâm trí bại hoại để làm những điều bất xứng.
Họ đầy dẫy mọi điều bất chính, gian ác, tham lam, hiểm độc; lòng đầy ganh tị, giết người, gây gổ, dối trá, nham hiểm;
nói hành, vu khống, thù ghét Đức Chúa Trời, xấc xược, kiêu ngạo, khoe khoang, chuyên làm điều ác, không vâng lời cha mẹ;
dại dột, bội tín, không có tình người, không có lòng thương xót.
Họ thừa biết luật của Đức Chúa Trời định rằng những ai phạm các tội như thế là đáng chết. Vậy mà chẳng những họ làm những điều đó, lại còn tán thành cho người khác làm nữa.
Vậy, hỡi người kia, dù bạn là ai đi nữa, khi lên án người khác thì bạn không thể bào chữa cho mình được; vì trong khi lên án họ, bạn cũng tự lên án chính mình, bởi bạn lên án họ mà cũng làm các việc như họ.
Chúng ta biết rằng sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với những ai làm những việc như thế là hợp với chân lý.
Hỡi người kia, khi bạn lên án người khác làm những việc như vậy mà chính bạn cũng làm, thì bạn tưởng rằng mình sẽ thoát được sự phán xét của Đức Chúa Trời sao?
Hay là bạn coi thường sự dư dật của lòng nhân từ, nhịn nhục và khoan dung của Ngài? Bạn không nhận biết rằng lòng nhân từ của Đức Chúa Trời là để đem bạn đến sự ăn năn sao?
Nhưng tấm lòng cứng cỏi, không ăn năn của bạn đang tích lũy cho mình sự giận dữ trong ngày thịnh nộ, là khi sự phán xét công bằng của Đức Chúa Trời được bày tỏ,
vì Ngài sẽ báo ứng cho mỗi người tùy theo công việc họ làm.
Ai kiên tâm làm lành, tìm kiếm vinh quang, tôn trọng và bất tử thì Ngài ban cho sự sống đời đời.
Còn ai ích kỷ, không vâng phục chân lý, mà vâng phục sự bất chính thì chuốc lấy sự giận dữ và cơn thịnh nộ.
Hoạn nạn và khốn khổ sẽ giáng xuống cho mọi người làm ác, trước cho người Do Thái, sau cho người Hi Lạp.
Nhưng vinh quang, tôn trọng và bình an sẽ ban cho mọi người làm lành, trước cho người Do Thái, sau cho người Hi Lạp.
Vì Đức Chúa Trời không thiên vị ai cả.
Những ai không có luật pháp mà phạm tội, cũng sẽ không có luật pháp mà hư mất; còn những ai có luật pháp mà phạm tội, thì sẽ bị phán xét bởi luật pháp.
Vì chẳng phải người nghe đọc luật pháp được kể là công chính trước mặt Đức Chúa Trời, nhưng người làm theo luật pháp mới là người được xưng công chính.
Dân ngoại vốn không có luật pháp, nhưng tự nhiên làm những việc luật pháp dạy bảo thì mặc dù không có luật pháp, họ là luật pháp cho chính mình rồi.
Họ cho thấy rằng những gì luật pháp đòi hỏi đã được khắc ghi trong lòng họ; chính lương tâm họ cũng chứng thực điều đó, còn tư tưởng họ khi thì cáo buộc, khi thì biện hộ cho họ.
Vào Ngày ấy, Đức Chúa Trời sẽ phán xét những việc thầm kín của loài người qua Đấng Christ Jêsus, theo như Tin Lành của tôi.
Nhưng nếu bạn tự nhận mình là người Do Thái, ỷ lại luật pháp, tự hào về Đức Chúa Trời,
hiểu biết ý muốn Ngài và biết phân biệt điều hay lẽ phải, vì bạn đã được dạy dỗ từ trong luật pháp;
và nếu bạn tin chắc rằng mình là người dẫn đường cho kẻ mù, là ánh sáng cho những ai đang ở trong tăm tối,
là thầy kẻ ngu, là người dạy kẻ ấu trĩ. Bạn tưởng rằng biểu hiện của tri thức và chân lý nằm trong luật pháp,
vậy thì tại sao bạn dạy dỗ người khác mà không dạy dỗ chính mình? Bạn giảng đừng trộm cắp mà sao bạn lại trộm cắp?
Bạn nói rằng đừng phạm tội ngoại tình mà sao bạn lại ngoại tình? Bạn gớm ghét hình tượng mà sao bạn đi cướp bóc các đền miếu?
Bạn tự hào về luật pháp mà sao bạn vi phạm luật pháp, làm nhục Đức Chúa Trời?
Như có lời chép: “Vì các ngươi mà danh Đức Chúa Trời bị sỉ nhục giữa các dân ngoại.”
Nếu bạn vâng giữ luật pháp thì việc cắt bì thực sự có giá trị; nhưng nếu bạn vi phạm luật pháp thì dù bạn có cắt bì cũng như không.
Vậy, nếu một người không chịu cắt bì mà tuân giữ các điều răn của luật pháp, thì việc không chịu cắt bì của người đó lại không được kể như đã chịu cắt bì rồi sao?
Những người vốn không cắt bì về mặt thể xác nhưng tuân giữ luật pháp, sẽ đoán xét bạn, là người có luật pháp thành văn và sự cắt bì, mà lại vi phạm luật pháp.
Vì một người chỉ bề ngoài là người Do Thái thì không phải là người Do Thái thật, còn sự cắt bì về mặt thể xác bên ngoài thì không phải là sự cắt bì thật.
Nhưng một người bên trong là người Do Thái mới thực là người Do Thái; sự cắt bì thật phát xuất từ tấm lòng, bởi Thánh Linh, chứ không theo chữ nghĩa. Một người như vậy sẽ được khen ngợi, không phải từ loài người, mà từ Đức Chúa Trời.
Vậy thì làm người Do Thái có ích lợi gì không? Hay sự cắt bì có giá trị gì?
Ích lợi đủ mọi mặt. Trước hết, người Do Thái được ủy thác lời của Đức Chúa Trời.
Nhưng việc gì sẽ xảy ra nếu một vài người trong số họ không tin? Liệu sự vô tín của họ có vô hiệu hóa sự thành tín của Đức Chúa Trời không?
Chẳng hề như vậy! Đức Chúa Trời là chân thật, mặc dù mọi người đều giả dối, như có lời chép: “Để Chúa được nhìn nhận là công chính trong lời Ngài phán, Và đắc thắng khi bị xét đoán.”
Nhưng nếu sự không công chính của chúng ta chứng tỏ sự công chính của Đức Chúa Trời thì chúng ta sẽ nói làm sao? Có phải Đức Chúa Trời bất công khi Ngài giáng cơn giận trên chúng ta không? (Tôi nói theo cách nói của người đời)
Chẳng hề như vậy! Vì nếu vậy thì làm sao Đức Chúa Trời phán xét thế gian được?
Còn nếu nhờ sự dối trá của tôi mà chân lý của Đức Chúa Trời thêm vinh quang, thì tại sao tôi còn bị kết án như một tội nhân?
Vậy thì tại sao chúng ta không “làm điều ác để có điều lành?” — như một số người đã vu cáo rằng chúng tôi dạy như thế — Họ bị phán xét là đáng lắm.
Vậy thì sao? Chúng ta có điều gì tốt hơn không? Hoàn toàn không; vì chúng tôi đã xác nhận rằng cả người Do Thái và Hi Lạp đều ở dưới quyền lực của tội lỗi,
như có lời chép: “Chẳng có một ai công chính cả, Dù một người cũng không.
Chẳng có một người nào hiểu biết, Chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời.
Tất cả đều lầm lạc, đều trở nên vô ích; Chẳng có một ai làm điều lành, Dù một người cũng không.”
“Họng chúng nó như mồ mả mở toang;” “Chúng dùng lưỡi mình để dối gạt; Nọc rắn độc ẩn dưới môi của chúng.”
“Miệng chúng nó đầy những lời nguyền rủa và cay đắng.”
“Chúng nhanh chân để gây đổ máu,
Chúng gieo rắc sự tàn hại và khốn cùng,
Chẳng bao giờ biết con đường bình an.”
“Chẳng có sự kính sợ Đức Chúa Trời trước mắt chúng.”
Chúng ta biết rằng những điều luật pháp nói, là nói cho những ai ở dưới luật pháp để mọi miệng đều phải nín lặng, và cả thiên hạ đều chịu tội trước mặt Đức Chúa Trời;
vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà được kể là công chính trước mặt Ngài, vì nhờ luật pháp người ta nhận biết tội lỗi.
Nhưng bây giờ, sự công chính của Đức Chúa Trời đã được bày tỏ ngoài luật pháp. Điều nầy đã được luật pháp và các nhà tiên tri làm chứng.
Đó là sự công chính của Đức Chúa Trời, bởi đức tin nơi Đức Chúa Jêsus Christ, ban cho mọi người có lòng tin, không phân biệt ai cả;
vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất vinh quang của Đức Chúa Trời;
nhờ ân điển Ngài, bởi sự cứu chuộc trong Đấng Christ Jêsus, họ được xưng công chính mà không phải trả một giá nào.
Đức Chúa Trời đã lập Ngài làm sinh tế chuộc tội cho những ai có đức tin trong huyết Ngài. Việc nầy bày tỏ sự công chính của Đức Chúa Trời, vì Ngài lấy lòng nhẫn nhục mà bỏ qua những tội lỗi trong quá khứ.
Trong hiện tại, Ngài cũng chứng tỏ chính Ngài là công chính và xưng công chính cho người nào đặt lòng tin nơi Đức Chúa Jêsus.
Vậy thì có gì để khoe khoang không? Không có gì để khoe khoang cả. Dựa vào luật nào? Luật của việc làm chăng? Không phải, nhưng dựa vào luật của đức tin.
Vì chúng ta tin rằng một người được xưng công chính bởi đức tin chứ không phải bởi việc làm theo luật pháp.
Phải chăng Đức Chúa Trời chỉ là Đức Chúa Trời của dân Do Thái thôi? Chẳng phải Ngài cũng là Đức Chúa Trời của dân ngoại nữa sao? Phải, Ngài cũng là Đức Chúa Trời của dân ngoại nữa;
vì Đức Chúa Trời là một, là Đấng sẽ làm cho người chịu cắt bì được xưng công chính bởi đức tin, cũng làm cho người không chịu cắt bì được xưng công chính bởi đức tin nữa.
Vậy, chúng ta vì đức tin mà loại bỏ luật pháp hay sao? Không hề như vậy! Ngược lại, chúng ta làm vững bền luật pháp.
Vậy, chúng ta sẽ nói Áp-ra-ham, tổ phụ về phần xác của chúng ta, đã nhận được gì?
Nếu Áp-ra-ham đã được xưng công chính bởi việc làm thì ông có lý do để khoe mình, nhưng trước mặt Đức Chúa Trời thì không phải vậy.
Vì Kinh Thánh nói gì? “Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và nhờ đó ông được kể là công chính.”
Đối với người làm việc, tiền công không được kể là ân huệ, nhưng phải kể là nợ;
còn với người không làm việc, nhưng tin vào Đấng xưng công chính cho người có tội thì đức tin của người ấy được kể là công chính.
Vì vậy, khi đề cập về phước hạnh của người được Đức Chúa Trời nhìn nhận là công chính không bởi việc làm, Đa-vít nói:
“Phước cho người nào lỗi lầm được thứ tha, Tội lỗi được khỏa lấp!
Phước cho người mà Chúa không kể là có tội!”
Vậy phước hạnh đó chỉ dành cho những ai chịu cắt bì mà thôi hay cũng cho cả người không chịu cắt bì nữa? Vì chúng ta nói rằng bởi đức tin, Áp-ra-ham được kể là công chính.
Nhưng ông được kể là công chính như thế nào? Trước hay sau khi chịu cắt bì? Không phải là sau mà là trước khi chịu cắt bì.
Ông đã nhận dấu cắt bì như ấn chứng của sự công chính mà ông đã có được bởi đức tin từ lúc ông chưa chịu cắt bì. Như vậy ông trở thành cha của tất cả những người tin mà không cắt bì, họ cũng được kể là công chính,
và cũng làm cha những người chịu cắt bì, là những người không những chịu cắt bì thôi, nhưng còn noi dấu đức tin mà Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, đã có trước khi chịu cắt bì.
Lời hứa cho Áp-ra-ham và dòng dõi ông được nhận thế gian làm cơ nghiệp, không phải đến từ luật pháp nhưng nhờ sự công chính của đức tin.
Vì nếu nhờ luật pháp mà được hưởng cơ nghiệp thì đức tin trở thành vô ích và lời hứa cũng mất hiệu lực.
Vì luật pháp đem đến sự thịnh nộ, nhưng nơi nào không có luật pháp thì cũng không có sự phạm pháp.
Cho nên, bởi đức tin mà lời hứa do ân điển được bảo đảm cho cả dòng dõi Áp-ra-ham, không những cho dòng dõi dưới quyền luật pháp mà cho cả dòng dõi đức tin của Áp-ra-ham, cũng là tổ phụ của tất cả chúng ta,
như có lời chép: “Ta đã lập con làm cha của nhiều dân tộc.” Trước mặt Đức Chúa Trời, Đấng ông đã tin, là Đấng ban sự sống cho kẻ chết, và gọi những điều không có như đã có.
Ông đã hi vọng dù không còn lý do để hi vọng; ông vẫn tin và trở thành cha của nhiều dân tộc, theo như lời đã phán với ông rằng: “Dòng dõi con sẽ như thế.”
Ông thấy thân thể mình chết mòn vì đã gần một trăm tuổi, và thấy Sa-ra không thể sinh con được nữa, nhưng đức tin chẳng hề suy giảm.
Ông không để lòng vô tín làm cho mình nghi ngờ lời hứa của Đức Chúa Trời, nhưng càng mạnh mẽ trong đức tin và tôn vinh Đức Chúa Trời,
hoàn toàn tin chắc rằng Đức Chúa Trời có quyền năng để thực hiện những gì Ngài đã hứa.
Vì thế, đức tin của ông được kể là công chính.
Nhưng câu: “đức tin của ông được kể là công chính” không phải chỉ được ghi lại cho một mình ông
mà cũng cho chúng ta nữa. Đức tin sẽ được kể là công chính cho chúng ta, những người tin nơi Đấng đã làm cho Đức Chúa Jêsus, Chúa chúng ta, sống lại từ cõi chết,
Ngài đã bị nộp để chịu chết vì tội lỗi chúng ta, và sống lại để chúng ta được xưng công chính.
Vậy, khi đã được xưng công chính bởi đức tin, chúng ta được hòa thuận với Đức Chúa Trời qua Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ.
Nhờ Ngài, chúng ta bởi đức tin được bước vào trong ân điển nầy, là ân điển mà nhờ đó chúng ta đang đứng vững và vui mừng với hi vọng được hưởng vinh quang của Đức Chúa Trời.
Không những thế, chúng ta cũng vui mừng trong gian khổ nữa, vì biết rằng gian khổ sinh ra kiên nhẫn,
kiên nhẫn sinh ra nghị lực, nghị lực sinh ra hi vọng,
và hi vọng không làm chúng ta hổ thẹn, vì tình thương của Đức Chúa Trời tuôn đổ vào lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh là Đấng đã được ban cho chúng ta.
Đang khi chúng ta còn yếu đuối thì đúng kỳ hạn Đấng Christ chịu chết vì kẻ có tội.
Thật khó có ai chịu chết thay cho một người công chính, họa hoằn lắm mới có người dám chết thay cho một người lương thiện.
Nhưng Đức Chúa Trời bày tỏ lòng yêu thương của Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là tội nhân thì Đấng Christ đã chết thay cho chúng ta.
Vậy bây giờ chúng ta đã nhờ huyết Ngài được xưng công chính rồi, thì hẳn chúng ta sẽ càng nhờ Ngài mà được cứu khỏi cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời càng hơn.
Vì nếu khi chúng ta là kẻ thù nghịch mà nhờ sự chết của Con Ngài, chúng ta còn được hòa giải với Đức Chúa Trời thì huống chi nay đã được hòa giải rồi, chúng ta lại càng được cứu nhờ sự sống của Con Ngài là dường nào.
Không những thế, chúng ta lại còn vui mừng trong Đức Chúa Trời bởi Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ, nhờ Ngài mà bây giờ chúng ta nhận được sự hòa giải.
Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi đã vào trong thế gian, và bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã lan tràn đến mọi người vì mọi người đều đã phạm tội.
Vì tội lỗi đã có trong thế gian trước khi có luật pháp; nhưng khi chưa có luật pháp thì tội lỗi không được kể đến.
Tuy nhiên, sự chết đã ngự trị từ A-đam đến Môi-se, cả trên những người không phạm cùng một tội với A-đam, là người làm hình bóng về Đấng phải đến.
Nhưng tội lỗi không giống như sự ban cho thiên thượng. Vì nếu bởi tội của chỉ một người mà nhiều người phải chết thì ân điển của Đức Chúa Trời càng lớn hơn, và quà tặng bởi ân điển của một Người là Đức Chúa Jêsus Christ lại càng dư dật cho nhiều người khác nữa.
Tặng phẩm nầy không giống như hậu quả do tội lỗi của một người. Vì sự phán xét do một tội đã dẫn đến sự kết án; nhưng sự ban cho thiên thượng thì sau nhiều lần phạm tội lại dẫn đến sự xưng công chính.
Nếu chỉ vì tội của một người, mà qua người đó sự chết đã thống trị thể nào, thì cũng chỉ nhờ một Người là Đức Chúa Jêsus Christ, mà những ai nhận ân điển và quà tặng công chính cách dồi dào, sẽ càng thống trị trong sự sống thể ấy.
Vì thế, bởi sự phạm tội của chỉ một người mà mọi người bị kết án, thì cũng vậy, bởi hành động công chính của một Người mà mọi người được xưng công chính và được hưởng sự sống.
Vì, bởi sự không vâng phục của một người mà nhiều người trở thành tội nhân, thì cũng vậy, bởi sự vâng phục của một Người mà nhiều người sẽ trở nên công chính.
Luật pháp đã đến làm cho tội lỗi gia tăng; nhưng nơi nào tội lỗi gia tăng thì ân điển lại càng dư dật hơn.
Như thế, tội lỗi thống trị bằng sự chết, còn ân điển cai trị bằng sự công chính để đem lại sự sống đời đời qua Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta.
Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Chúng ta cứ tiếp tục sống trong tội lỗi để ân điển được dư dật sao?
Không hề như vậy! Chúng ta đã chết đối với tội lỗi thì làm sao cứ tiếp tục sống trong tội lỗi được?
Anh em không biết rằng tất cả chúng ta đều đã chịu báp-têm trong Đấng Christ Jêsus, tức là chịu báp-têm trong sự chết của Ngài sao?
Vậy, bởi báp-têm, chúng ta đã được chôn vào trong sự chết với Ngài, để rồi như Đấng Christ nhờ vinh quang của Cha được sống lại từ cõi chết thể nào thì chúng ta cũng được sống trong đời mới thể ấy.
Vì nếu chúng ta đã được hiệp nhất với Ngài trong sự chết giống như sự chết của Ngài, thì chắc chắn chúng ta cũng sẽ được hiệp nhất với Ngài trong sự sống lại giống như sự sống lại của Ngài.
Chúng ta biết rằng con người cũ của chúng ta đã cùng bị đóng đinh vào thập tự giá với Ngài, để con người tội lỗi bị tiêu diệt, và chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa.
Vì ai đã chết thì được giải thoát khỏi tội lỗi.
Nhưng nếu chúng ta đã cùng chết với Đấng Christ thì chúng ta tin rằng mình cũng sẽ cùng sống với Ngài.
Chúng ta biết rằng Đấng Christ đã sống lại từ cõi chết thì sẽ không bao giờ chết nữa; sự chết không còn cai trị Ngài.
Vì Ngài đã chết, là chết cho tội lỗi một lần đủ cả; nhưng Ngài sống, là sống cho Đức Chúa Trời.
Vậy, anh em cũng phải kể mình đã chết đối với tội lỗi và đang sống cho Đức Chúa Trời trong Đấng Christ Jêsus.
Vậy, đừng để tội lỗi cai trị trong thân thể hay chết của anh em, khiến anh em phải chiều theo dục vọng của nó.
Đừng hiến chi thể mình làm công cụ gian ác cho tội lỗi, nhưng hãy hiến chính mình cho Đức Chúa Trời như những con người từ cõi chết sống lại, và dâng chi thể mình làm công cụ công chính cho Đức Chúa Trời.
Vì tội lỗi sẽ không còn cai trị anh em đâu, bởi anh em không ở dưới luật pháp mà ở dưới ân điển.
Vậy thì sao? Có phải vì chúng ta không ở dưới luật pháp, nhưng ở dưới ân điển, nên chúng ta sẽ cứ phạm tội không? Chẳng hề như vậy!
Anh em không biết rằng nếu anh em đem thân làm nô lệ để vâng phục người nào thì anh em là nô lệ cho người mình vâng phục sao? Hoặc nô lệ của tội lỗi dẫn đến sự chết, hoặc nô lệ của sự vâng phục dẫn đến sự công chính.
Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời, vì anh em đã từng làm nô lệ cho tội lỗi mà nay thật lòng vâng phục tiêu chuẩn giáo huấn đã ủy thác cho anh em,
và anh em đã được giải phóng khỏi tội lỗi, trở thành nô lệ cho sự công chính.
Vì xác thịt anh em yếu đuối nên tôi nói theo cách loài người. Anh em đã từng hiến chi thể mình làm nô lệ cho sự ô uế và sự gian ác chất chồng thể nào, thì bây giờ, hãy hiến chi thể mình làm nô lệ cho sự công chính để được thánh hóa thể ấy.
Khi còn là nô lệ cho tội lỗi thì anh em được tự do đối với sự công chính.
Lúc ấy anh em thu được kết quả gì mà bây giờ anh em lại phải hổ thẹn? Sự cuối cùng của những điều đó là sự chết.
Nhưng bây giờ anh em đã được giải phóng khỏi tội lỗi và trở nên nô lệ của Đức Chúa Trời, thì kết quả mà anh em được là sự thánh hóa, và cuối cùng được sự sống đời đời.
Vì tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đấng Christ Jêsus, Chúa chúng ta.
Thưa anh em — tôi nói với những người biết luật pháp — anh em không biết rằng luật pháp chỉ cai trị người ta đang khi họ còn sống thôi sao?
Do đó, một phụ nữ có chồng, hễ chồng còn sống bao lâu thì người phụ nữ ấy còn bị luật pháp ràng buộc phải sống với chồng bấy lâu; nhưng nếu chồng chết thì người ấy không còn bị luật pháp ràng buộc với chồng nữa.
Vậy, nếu đang lúc chồng còn sống mà vợ đi lấy người đàn ông khác thì sẽ bị gọi là đàn bà ngoại tình. Nhưng nếu chồng chết, người vợ được giải phóng khỏi luật pháp, nếu có lấy người khác cũng không phải là đàn bà ngoại tình.
Cũng vậy, thưa anh em của tôi, nhờ thân thể của Đấng Christ mà anh em đã chết về luật pháp và nay thuộc về một người khác, là Đấng đã sống lại từ cõi chết, để chúng ta kết quả cho Đức Chúa Trời.
Khi chúng ta còn sống trong xác thịt, các tham dục của tội lỗi qua luật pháp, hành động trong chi thể chúng ta để kết quả cho sự chết.
Nhưng bây giờ chúng ta đã được thoát khỏi luật pháp, đã chết đối với điều đã giam cầm chúng ta, để chúng ta phục vụ theo cách mới của Thánh Linh, chứ không theo cách cũ của văn tự nữa.
Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Luật pháp là tội lỗi sao? Chẳng hề như vậy! Nhưng nếu không nhờ luật pháp thì tôi không biết đến tội lỗi. Nếu luật pháp không nói: “Ngươi chớ tham lam” thì tôi đã không biết tham lam là gì.
Nhưng tội lỗi đã nắm lấy cơ hội trong điều răn, khơi dậy trong tôi đủ mọi thứ tham dục, vì không có luật pháp thì tội lỗi chết.
Trước kia, không có luật pháp thì tôi sống; nhưng khi có điều răn thì tội lỗi lại sống,
còn tôi thì chết; lẽ ra điều răn đem sự sống đến cho tôi lại đưa tôi đến sự chết.
Vì tội lỗi nắm lấy cơ hội, dùng điều răn lừa dối tôi và nhân đó giết chết tôi.
Cho nên, luật pháp là thánh, điều răn cũng là thánh, công bình, và tốt đẹp.
Vậy, có phải điều tốt đẹp đem sự chết đến cho tôi không? Chẳng hề như vậy! Nhưng đó là tội lỗi đã dùng điều tốt đẹp làm cho tôi chết, để bản chất thật của tội lỗi được phơi bày, và qua điều răn, tội lỗi trở nên vô cùng tệ hại.
Chúng ta biết rằng luật pháp là thiêng liêng; nhưng tôi là người xác thịt đã bị bán cho tội lỗi.
Tôi không hiểu điều mình làm. Vì tôi không làm điều mình muốn mà lại làm điều mình ghét.
Nhưng nếu tôi làm điều mình không muốn thì tôi nhìn nhận luật pháp là tốt đẹp.
Bấy giờ không phải tôi làm điều đó nữa, nhưng chính tội lỗi ở trong tôi.
Vì tôi biết rằng điều thiện không ở trong tôi, nghĩa là trong xác thịt tôi. Tôi có ý muốn làm điều thiện, nhưng tôi không có khả năng để làm.
Vì tôi không làm điều thiện mình muốn, mà lại làm điều ác mình không muốn.
Nếu tôi làm điều mình không muốn thì không phải là tôi, mà chính tội lỗi trong tôi làm điều đó.
Bởi vậy, tôi khám phá ra luật nầy: Khi tôi muốn làm điều thiện thì điều ác bám theo tôi.
Vì trong thâm tâm, tôi rất vui thích luật pháp của Đức Chúa Trời;
nhưng tôi cảm biết trong chi thể tôi có một luật khác giao chiến với luật trong tâm trí tôi, bắt tôi phải làm nô lệ cho luật của tội lỗi, là luật ở trong chi thể tôi.
Khốn nạn cho tôi! Ai sẽ giải cứu tôi khỏi thân thể hay chết nầy?
Cảm tạ Đức Chúa Trời, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta! Như vậy, chính tôi dùng tâm trí mình phục luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng lấy xác thịt mình phục luật của tội lỗi.
Vậy bây giờ, những ai ở trong Đấng Christ Jêsus sẽ không bị kết tội nữa;
vì luật của Thánh Linh sự sống trong Đấng Christ Jêsus đã giải phóng tôi khỏi luật của tội lỗi và sự chết.
Vì điều gì luật pháp không thể làm được do xác thịt làm cho suy yếu thì Đức Chúa Trời đã làm rồi: Ngài đã sai chính Con Ngài mang lấy xác thịt giống như xác thịt tội lỗi để giải quyết tội lỗi; Ngài đã kết án tội lỗi trong xác thịt,
để sự công chính mà luật pháp đòi hỏi được thực hiện đầy đủ trong chúng ta, là những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Thánh Linh.
Thật thế, những ai sống theo xác thịt thì chú tâm vào những việc thuộc xác thịt; còn những ai sống theo Thánh Linh thì chú tâm vào những việc thuộc Thánh Linh.
Chú tâm vào xác thịt sinh ra sự chết, còn chú tâm vào Thánh Linh sinh ra sự sống và bình an;
vì tâm trí hướng về xác thịt thì thù nghịch với Đức Chúa Trời, bởi nó không thuận phục luật pháp của Đức Chúa Trời; thực ra, nó không có khả năng để thuận phục.
Người nào sống theo xác thịt thì không thể đẹp lòng Đức Chúa Trời.
Nhưng nếu Thánh Linh của Đức Chúa Trời thật sự ở trong anh em thì anh em không sống theo xác thịt, mà sống theo Thánh Linh; còn ai không có Thánh Linh của Đấng Christ thì người ấy chẳng thuộc về Ngài.
Vậy, nếu Đấng Christ ở trong anh em thì dù thân thể anh em chết vì tội lỗi, tâm linh anh em vẫn sống nhờ sự công chính.
Nếu Thánh Linh của Đấng đã khiến Đức Chúa Jêsus sống lại từ cõi chết ở trong anh em, thì Đấng đã khiến Đấng Christ sống lại từ cõi chết cũng sẽ nhờ Thánh Linh Ngài đang ở trong anh em mà ban sự sống cho thân thể hay chết của anh em.
Thưa anh em, chúng ta không mắc nợ xác thịt để sống theo xác thịt.
Vì nếu anh em sống theo xác thịt thì phải chết; nhưng nếu anh em nhờ Thánh Linh làm cho chết công việc của thân thể thì anh em sẽ sống.
Vì tất cả những ai được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dẫn dắt đều là con của Đức Chúa Trời.
Thật vậy, anh em đã không nhận lấy tinh thần làm nô lệ để cứ sống trong sự sợ hãi, nhưng đã nhận lấy tinh thần làm con nuôi, và nhờ đó, chúng ta gọi rằng: “A-ba! Cha!”
Chính Thánh Linh làm chứng với tâm linh chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời.
Nếu là con cái thì chúng ta cũng là người thừa kế, vừa là người thừa kế của Đức Chúa Trời vừa là người cùng thừa kế với Đấng Christ; nếu chúng ta thật sự cùng chịu khổ với Ngài thì chúng ta sẽ cùng được vinh quang với Ngài.
Tôi nghĩ rằng những đau khổ hiện tại không đáng so sánh với vinh quang tương lai sẽ được tỏ ra cho chúng ta.
Vì muôn vật nhiệt thành, thiết tha trông mong sự hiện ra của con cái Đức Chúa Trời.
Muôn vật đã bị lệ thuộc sự hư không, chẳng phải tự ý, nhưng bởi Đấng muốn chúng lệ thuộc, với hi vọng rằng
chính muôn vật rồi đây cũng sẽ được giải phóng khỏi thân phận nô lệ cho sự hư nát, để chung hưởng sự tự do trong vinh quang của con cái Đức Chúa Trời.
Vì chúng ta biết rằng tất cả tạo vật đều than thở và quặn thắt cho đến ngày nay;
không những muôn vật mà cả chúng ta là những người có Thánh Linh là trái đầu mùa, cũng than thở trong lòng đang khi mong đợi được làm con nuôi, là sự cứu chuộc thân thể chúng ta.
Trong niềm hi vọng đó, chúng ta được cứu. Nhưng khi đã thấy được điều mình hi vọng rồi thì không còn là hi vọng nữa. Vì ai lại hi vọng vào điều mình đã thấy?
Nhưng nếu đặt hi vọng vào điều mình không thấy thì chúng ta cứ kiên nhẫn chờ mong điều đó.
Cũng vậy, Thánh Linh giúp đỡ sự yếu đuối của chúng ta, vì chúng ta không biết phải cầu nguyện điều gì cho đúng, nhưng chính Thánh Linh dùng những sự thở than không thể diễn tả bằng lời mà cầu thay cho chúng ta.
Đấng dò xét lòng người, biết rõ ý tưởng của Thánh Linh, vì Thánh Linh theo ý muốn Đức Chúa Trời mà cầu thay cho các thánh đồ.
Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho những ai yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho những người được gọi theo ý định của Ngài.
Vì những người Ngài đã biết trước thì Ngài cũng định sẵn cho họ trở nên giống như hình ảnh Con Ngài, để Con ấy được làm Con trưởng giữa nhiều anh em.
Còn những người Ngài đã định sẵn thì Ngài cũng đã kêu gọi, những người Ngài đã kêu gọi thì Ngài cũng đã xưng công chính, và những người Ngài đã xưng công chính thì Ngài cũng đã làm cho vinh quang.
Vậy, chúng ta sẽ nói gì về những việc nầy? Nếu Đức Chúa Trời đứng về phía chúng ta thì còn ai nghịch với chúng ta?
Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì tất cả chúng ta mà phó Con ấy cho, thì Ngài lại không ban mọi sự cùng với Con ấy cho chúng ta sao?
Ai sẽ kiện những người được Đức Chúa Trời tuyển chọn khi mà Đức Chúa Trời là Đấng xưng công chính những người ấy?
Ai sẽ là người kết án họ khi mà Đấng Christ Jêsus là Đấng đã chết và cũng đã sống lại, Đấng đang ngồi bên phải Đức Chúa Trời và cầu thay cho chúng ta?
Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu thương của Đấng Christ? Có phải hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hay là gươm giáo không?
Như có lời chép: “Vì cớ Chúa mà chúng con bị giết hằng ngày; Chúng con bị coi như chiên đem đi làm thịt.”
Trái lại, trong mọi sự ấy chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà toàn thắng.
Vì tôi đoan chắc rằng dù sự chết, sự sống, các thiên sứ, các bậc cầm quyền, việc hiện tại, việc tương lai, các quyền lực,
chiều cao, chiều sâu, hoặc một tạo vật nào cũng không thể phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ Jêsus, Chúa chúng ta.
Trong Đấng Christ tôi nói sự thật, tôi không nói dối, lương tâm tôi cũng làm chứng cho tôi trong Đức Thánh Linh
rằng tôi buồn bã lắm, lòng đau xót triền miên.
Vì tôi ước ao có thể chính mình bị nguyền rủa và dứt bỏ khỏi Đấng Christ thay cho anh em là đồng bào của tôi;
tức là người Y-sơ-ra-ên, dân được hưởng danh phận con nuôi, vinh quang, lời giao ước, luật pháp, sự thờ phượng, và lời hứa;
là dân được sinh ra bởi các tổ phụ và từ dòng dõi nầy, về phần xác, đã sinh ra Đấng Christ, Đấng trên hết mọi sự, là Đức Chúa Trời đáng được chúc tụng đời đời. A-men.
Nói như vậy không có nghĩa là lời Đức Chúa Trời đã thất bại. Vì không phải tất cả những ai ra từ Y-sơ-ra-ên đều là người Y-sơ-ra-ên.
Cũng không phải tất cả những ai thuộc dòng dõi Áp-ra-ham đều là con cái của ông. Trái lại, như có chép: “Bởi Y-sác, con sẽ có một dòng dõi được gọi theo tên con;”
nghĩa là chẳng phải con cái theo phần xác là con cái Đức Chúa Trời, nhưng con cái của lời hứa mới được kể là dòng dõi thật.
Vì lời nầy chính là lời hứa: “Khoảng thời gian nầy Ta sẽ trở lại, và Sa-ra sẽ có một con trai.”
Không những thế, khi Rê-bê-ca mang thai đôi bởi một người là Y-sác, tổ phụ chúng ta;
dù hai con chưa được sinh ra, chưa làm điều lành hay điều dữ nào — để duy trì mục đích của Đức Chúa Trời trong việc lựa chọn, không tùy thuộc vào việc làm nhưng tùy thuộc Đấng kêu gọi —
thì người mẹ đã được bảo trước rằng: “Đứa lớn sẽ phục dịch đứa nhỏ.”
Như đã có chép: “Ta yêu Gia-cốp nhưng ghét Ê-sau.”
Vậy chúng ta sẽ nói thế nào? Có phải Đức Chúa Trời bất công không? Không hề như vậy!
Vì Ngài phán với Môi-se: “Ta sẽ nhân từ với người nào Ta muốn nhân từ, Ta sẽ thương xót người nào Ta muốn thương xót.”
Vậy điều đó không tùy thuộc vào ước muốn hay sự bôn ba của con người, mà bởi sự thương xót của Đức Chúa Trời.
Vì Kinh Thánh cũng nói với Pha-ra-ôn rằng: “Ta đã lập ngươi lên là để bày tỏ quyền năng của Ta trong ngươi, để danh Ta được truyền rao khắp đất.”
Như vậy, Đức Chúa Trời muốn thương xót ai thì thương xót, Ngài muốn làm cứng lòng ai thì làm.
Thế thì bạn sẽ hỏi tôi rằng: “Nếu vậy sao Ngài còn quở trách? Vì ai có thể chống lại ý muốn Ngài được?”
Thưa bạn, bạn là ai mà dám cãi lại Đức Chúa Trời? Làm sao sản phẩm được nắn nên lại có thể nói với người nắn nên nó rằng: “Sao ông đã nắn tôi như thế nầy?”
Người thợ gốm lại không có quyền trên đất sét, để từ trong cùng một đống đất mà nắn nên loại bình dùng vào việc sang trọng và loại khác dùng vào việc thấp hèn sao?
Nếu Đức Chúa Trời muốn bày tỏ cơn thịnh nộ và chứng tỏ quyền năng của Ngài, mà Ngài đã kiên nhẫn chịu đựng những chiếc bình đáng chịu thịnh nộ để bị hủy diệt, thì sao?
Nếu Ngài muốn chứng tỏ sự giàu có của vinh quang Ngài đối với những chiếc bình đáng thương xót, mà Ngài đã chuẩn bị cho sự vinh quang,
trong đó có chúng ta, là những người Ngài đã gọi, không chỉ từ trong dân Do Thái mà cũng từ trong dân ngoại, thì sao?
Như Ngài phán trong sách Ô-sê: “Ta sẽ gọi những người chẳng phải dân Ta là dân Ta, Những người không được yêu dấu là yêu dấu;”
“Và tại nơi Ta phán cùng họ: ‘Các ngươi không phải là dân Ta,’ Thì cũng chính tại đó họ sẽ được gọi là ‘con cái Đức Chúa Trời hằng sống.’ ”
Còn Ê-sai lên tiếng về dân Y-sơ-ra-ên rằng: “Dù số con cái Y-sơ-ra-ên đông như cát biển, chỉ một phần còn sót lại sẽ được cứu mà thôi;
vì Chúa sẽ nhanh chóng và dứt khoát làm ứng nghiệm lời Ngài trên đất.”
Ê-sai cũng đã báo trước: “Nếu Chúa vạn quân không chừa lại cho chúng ta người nối dõi, Thì chúng ta đã trở nên như thành Sô-đôm và giống như thành Gô-mô-rơ rồi.”
Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Các dân ngoại không tìm kiếm sự công chính thì lại được sự công chính; đó là sự công chính bởi đức tin;
còn dân Y-sơ-ra-ên đã cố dựa vào luật pháp để tìm kiếm sự công chính thì không làm trọn được luật pháp.
Tại sao? Vì họ không tìm kiếm bằng đức tin mà bằng việc làm. Họ đã vấp phải hòn đá ngăn trở,
như có chép: “Nầy, Ta đặt tại Si-ôn một hòn đá ngăn trở, là tảng đá làm cho chúng vấp ngã; Nhưng ai tin vào đó sẽ không bị hổ thẹn.”
Thưa anh em, sự ao ước của lòng tôi và lời khẩn cầu của tôi với Đức Chúa Trời là để dân Y-sơ-ra-ên được cứu rỗi.
Tôi làm chứng cho họ rằng họ có lòng nhiệt thành với Đức Chúa Trời, nhưng lòng nhiệt thành đó thiếu tri thức.
Do không nhận biết sự công chính của Đức Chúa Trời và tìm cách lập sự công chính riêng cho mình, nên họ không thuận phục sự công chính của Đức Chúa Trời;
vì Đấng Christ là sự cuối cùng của luật pháp, để mọi người tin đều được xưng công chính.
Môi-se viết về sự công chính đến từ luật pháp rằng ai làm theo những điều nầy thì sẽ nhờ đó mà sống.
Nhưng sự công chính đến từ đức tin nói thế nầy: “Đừng nói trong lòng mình rằng: ‘Ai sẽ lên trời?’ với hàm ý là để đem Đấng Christ xuống;
hay là: ‘Ai sẽ xuống vực sâu?’ với hàm ý là để đem Đấng Christ từ cõi chết lên.”
Nhưng lời ấy nói gì? “Đạo ở gần anh em, Trên môi miệng và trong lòng anh em,” Đó là đạo đức tin mà chúng tôi giảng dạy.
Vậy nếu miệng anh em xưng Đức Chúa Jêsus là Chúa, và lòng anh em tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ cõi chết sống lại thì anh em sẽ được cứu.
Vì ai tin trong lòng thì được xưng công chính, ai tuyên xưng nơi miệng thì được cứu rỗi.
Kinh Thánh nói: “Người nào tin Ngài sẽ không bị hổ thẹn.”
Không có sự phân biệt giữa người Do Thái và người Hi Lạp, vì cùng chung một Chúa là Chúa của mọi người, Đấng ban ơn dư dật cho mọi người kêu cầu Ngài.
Vì, “ai kêu cầu danh Chúa đều sẽ được cứu.”
Nhưng họ chưa tin Ngài thì kêu cầu sao được? Chưa nghe nói về Ngài thì làm thể nào mà tin? Không có người rao giảng thì nghe cách nào?
Nếu chẳng có ai được sai đi thì làm sao rao giảng? Như có lời chép: “Bàn chân của những người truyền rao Tin Lành thật xinh đẹp biết bao!”
Nhưng không phải mọi người đều vâng theo Tin Lành đâu; chính Ê-sai đã nói: “Lạy Chúa, ai chịu tin lời chúng con rao giảng?”
Như vậy, đức tin đến từ những điều người ta nghe, mà người ta nghe là khi lời của Đấng Christ được rao giảng.
Nhưng tôi xin hỏi: Có phải là họ chưa được nghe không? Thực ra thì họ đã nghe, vì: “Tiếng của các sứ giả đã vang ra khắp đất, Và lời của họ đã truyền đến tận cùng thế giới.”
Tôi lại hỏi: Phải chăng dân Y-sơ-ra-ên không hiểu? Trước hết, Môi-se đã nói: “Ta sẽ làm cho các ngươi ganh tị với những dân không phải là dân; Ta sẽ làm cho các ngươi tức giận với một dân ngu dốt.”
Ê-sai lại mạnh dạn nói rằng: “Những người không tìm kiếm Ta thì đã gặp được Ta; Ta đã tỏ mình ra cho những người chẳng cầu hỏi Ta.”
Nhưng về dân Y-sơ-ra-ên, Ngài phán: “Suốt ngày Ta dang tay hướng về một dân bất tuân và ngoan cố.”
Vậy tôi xin hỏi, Đức Chúa Trời có từ bỏ dân Ngài không? Chẳng hề như vậy! Vì chính tôi là người Y-sơ-ra-ên, dòng dõi Áp-ra-ham, thuộc bộ tộc Bên-gia-min.
Đức Chúa Trời không hề từ bỏ dân Ngài là dân mà Ngài đã biết trước. Anh em có biết Kinh Thánh chép về chuyện Ê-li đã phàn nàn dân Y-sơ-ra-ên trước mặt Đức Chúa Trời như thế nào không?
“Lạy Chúa, họ đã giết các nhà tiên tri Ngài, hủy phá bàn thờ Ngài; chỉ còn lại một mình con, và họ cũng tìm giết con.”
Nhưng Đức Chúa Trời đáp lại ông thế nào? “Ta đã để dành cho Ta bảy nghìn người nam chẳng hề quỳ gối trước thần Ba-anh.”
Ngày nay cũng vậy, có một phần còn sót lại được lựa chọn bởi ân điển.
Nhưng nếu bởi ân điển thì không cần đến việc làm nữa; nếu không, ân điển không còn là ân điển.
Vậy thì sao? Dân Y-sơ-ra-ên đã không đạt được điều mình tìm kiếm. Những người được chọn thì đã đạt được, nhưng số còn lại thì trở nên cứng lòng,
như có lời chép rằng: “Đức Chúa Trời đã cho họ một tâm linh mê muội, Mắt mù, tai điếc, cho đến ngày nay.”
Đa-vít còn nói: “Mong cho bàn tiệc của họ trở thành cạm bẫy và lưới bủa, Đá vấp chân và sự báo ứng cho họ;
Ước gì mắt họ bị mù để không còn thấy được, Và lưng họ cứ mãi cong khom!”
Vậy tôi xin hỏi, có phải dân Y-sơ-ra-ên đã vấp chân đến nỗi phải ngã nhào không? Chẳng hề như vậy! Nhưng do sự phạm tội của họ mà sự cứu rỗi đã đến với dân ngoại để khiến họ ganh đua.
Nếu sự phạm tội của họ đã làm giàu cho thế gian, và nếu sự thất bại của họ đã làm giàu cho dân ngoại thì sự sung mãn của họ sẽ càng làm giàu hơn biết chừng nào!
Tôi nói với anh em là các dân ngoại: Bao lâu tôi còn làm sứ đồ cho dân ngoại, tôi sẽ còn làm rạng rỡ chức vụ mình
để khơi dậy lòng ganh đua của đồng bào tôi, và cứu được một số người trong họ.
Vì nếu việc họ bị loại bỏ đã đem lại sự hòa giải cho cả thế gian, thì việc họ được tiếp nhận chẳng phải là sự sống đến từ cõi chết sao?
Nếu phần bột đầu tiên được dâng là thánh thì cả đống bột cũng thánh; nếu rễ là thánh thì các cành cũng thánh.
Nhưng nếu có một vài cành bị cắt đi, và bạn vốn là cây ô-liu hoang được ghép vào chỗ các cành ấy để được chia sẻ nhựa sống từ rễ cây ô-liu
thì đừng có kiêu hãnh với các cành đó. Nếu bạn kiêu hãnh thì hãy nhớ rằng không phải bạn chịu đựng cái rễ, nhưng là cái rễ chịu đựng bạn.
Bạn sẽ nói: “Các cành đã bị cắt đi, để ta được ghép vào.”
Đúng vậy. Các cành đó đã bị cắt đi vì lòng vô tín của chúng, còn bạn chỉ đứng vững được nhờ đức tin. Đừng kiêu ngạo, nhưng hãy sợ hãi.
Vì nếu Đức Chúa Trời đã không tiếc các cành tự nhiên thì Ngài cũng chẳng tiếc bạn đâu.
Vậy hãy nhìn biết sự nhân từ và sự nghiêm khắc của Đức Chúa Trời: Nghiêm khắc đối với những ai đã ngã, nhưng nhân từ đối với bạn, miễn là bạn tiếp tục giữ mình trong sự nhân từ của Ngài; nếu không, bạn cũng sẽ bị cắt bỏ.
Còn với người Do Thái, nếu họ không miệt mài trong sự vô tín thì cũng sẽ được ghép vào, vì Đức Chúa Trời có quyền ghép họ lại.
Vì nếu tự bản chất, bạn vốn là cây ô-liu hoang mà được cắt và ghép vào cây ô-liu tốt, trái với tự nhiên, huống chi họ vốn là những cành tự nhiên lại đáng được ghép vào chính cây ô-liu của mình càng hơn.
Thưa anh em, tôi muốn anh em hiểu sự mầu nhiệm nầy để anh em không tự cho mình là khôn ngoan, đó là: Một phần dân Y-sơ-ra-ên cứ cứng lòng cho đến khi số dân ngoại gia nhập đầy đủ.
Như vậy cả dân Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu, như có lời chép: “Đấng Giải Cứu sẽ đến từ Si-ôn, Cất bỏ sự vô đạo khỏi nhà Gia-cốp”;
“Và đây là giao ước Ta lập với họ, Khi Ta xóa bỏ tội lỗi họ.”
Theo Tin Lành, họ là kẻ thù của Đức Chúa Trời, điều đó có lợi cho anh em; nhưng theo sự lựa chọn, họ được yêu thương nhờ các tổ phụ mình;
vì các sự ban cho và sự kêu gọi của Đức Chúa Trời chẳng bao giờ thay đổi.
Như anh em trước kia không vâng phục Đức Chúa Trời, mà bây giờ được thương xót nhờ sự không vâng phục của họ,
thì cũng vậy, bây giờ họ đã không vâng phục để nhờ sự thương xót tỏ ra cho anh em, họ cũng được thương xót.
Vì Đức Chúa Trời đã nhốt mọi người trong chỗ không vâng phục, để thương xót mọi người.
Ôi! Sự giàu có, khôn ngoan và hiểu biết của Đức Chúa Trời thật sâu nhiệm biết bao! Sự phán xét của Ngài làm sao biết được, đường lối Ngài làm sao hiểu được!
“Vì ai biết được ý tưởng Chúa, Ai làm cố vấn cho Ngài?”
Hoặc “ai đã cho Chúa trước, Để được Ngài trả lại?”
Vì muôn vật đều từ Ngài, bởi Ngài, và hướng về Ngài. Vinh quang thuộc về Ngài đời đời vô cùng! A-men.
Vậy thưa anh em, bởi sự thương xót của Đức Chúa Trời, tôi nài xin anh em dâng thân thể mình làm sinh tế sống, thánh khiết và đẹp lòng Đức Chúa Trời, đó là sự thờ phượng phải lẽ của anh em.
Đừng khuôn rập theo đời nầy, nhưng phải được biến hóa bởi sự đổi mới của tâm trí mình, để phân biệt đâu là ý muốn tốt đẹp, vừa lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời.
Vì nhờ ân điển đã ban cho tôi, tôi nói với mỗi người trong anh em, đừng nghĩ quá cao về chính mình, nhưng phải suy nghĩ đúng mực, tùy theo lượng đức tin mà Đức Chúa Trời đã ban cho từng người.
Giống như trong một thân thể, chúng ta có nhiều chi thể, và các chi thể không có cùng một chức năng;
thì cũng vậy, chúng ta tuy nhiều người, nhưng chỉ là một thân trong Đấng Christ; mỗi chúng ta đều là các chi thể của nhau.
Chúng ta có các ân tứ khác nhau, tùy theo ân điển Chúa ban: Người được ân tứ nói tiên tri, hãy nói theo lượng đức tin;
người được ân tứ phục vụ, hãy phục vụ; người được ân tứ dạy dỗ, hãy dạy dỗ;
người được ân tứ khích lệ, hãy khích lệ; người được ân tứ ban phát, hãy ban phát rộng rãi; người được ân tứ lãnh đạo, hãy siêng năng lãnh đạo; người được ân tứ làm việc từ thiện, hãy vui vẻ mà làm.
Tình yêu thương phải thành thật. Hãy ghê tởm điều dữ, gắn bó với điều lành.
Hãy yêu thương nhau thân thiết như anh em; hãy hết lòng kính nhường nhau.
Hãy nhiệt thành, chớ lười biếng; phải có tinh thần sốt sắng; phải phục vụ Chúa.
Hãy vui mừng trong hi vọng, kiên nhẫn trong hoạn nạn, bền lòng mà cầu nguyện.
Hãy cung ứng nhu cầu cho các thánh đồ; hãy ân cần tiếp khách.
Hãy chúc phước cho kẻ bắt bớ anh em; hãy chúc phước, đừng nguyền rủa.
Hãy vui với kẻ vui, khóc với kẻ khóc.
Hãy sống hòa hợp với nhau; đừng có ý tưởng kiêu ngạo, nhưng hòa mình với những người thấp kém. Đừng tự cho mình là khôn ngoan.
Chớ lấy ác trả ác cho ai; phải chú tâm làm điều thiện trước mặt mọi người.
Nếu có thể được, hãy hết sức sống hòa thuận với mọi người.
Thưa anh em yêu dấu, đừng tự tay mình báo thù ai, nhưng hãy nhường cho cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời; vì có lời Chúa phán: “Sự trả thù thuộc về Ta, Ta sẽ báo ứng.”
Nhưng, “nếu kẻ thù anh em đang đói, hãy cho họ ăn; nếu đang khát, hãy cho họ uống; vì làm như vậy khác nào anh em đặt than lửa hồng trên đầu họ.”
Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy lấy điều thiện thắng điều ác.
Mọi người phải phục tùng nhà cầm quyền; vì chẳng có thẩm quyền nào mà không đến từ Đức Chúa Trời; các nhà cầm quyền hiện có đều do Đức Chúa Trời chỉ định.
Cho nên ai chống đối nhà cầm quyền là chống lại mệnh lệnh Đức Chúa Trời đã lập; và những người làm vậy sẽ chuốc lấy sự phán xét cho mình.
Vì nhà chức trách không phải để cho người lương thiện sợ, mà để cho người gian ác sợ. Bạn muốn khỏi phải sợ nhà cầm quyền chăng? Hãy làm điều tốt đẹp, và bạn sẽ được khen thưởng;
vì họ là đầy tớ của Đức Chúa Trời để làm ích lợi cho bạn. Nhưng nếu bạn làm điều gian ác thì hãy lo sợ, vì họ mang gươm không phải là vô cớ đâu; họ là đầy tớ của Đức Chúa Trời để thi hành sự trừng phạt đối với kẻ làm điều gian ác.
Cho nên phải phục tùng nhà cầm quyền, không những vì sợ bị trừng phạt nhưng cũng vì lương tâm nữa.
Cũng vì lý do đó mà anh em nộp thuế, vì nhà cầm quyền là đầy tớ của Đức Chúa Trời để lo công việc nầy.
Hãy trả cho mọi người điều mình mắc nợ: nộp thuế cho kẻ mình phải nộp; đóng lợi tức cho người mình phải đóng; sợ kẻ mình đáng sợ; tôn trọng người đáng tôn trọng.
Đừng mắc nợ ai điều gì, ngoại trừ món nợ yêu thương nhau; vì ai yêu người lân cận mình là đã làm trọn luật pháp.
Vì các điều răn: “Ngươi chớ phạm tội ngoại tình, chớ giết người, chớ trộm cướp, chớ tham lam,” và bất cứ điều răn nào khác, đều tóm tắt trong câu nầy: “Ngươi phải yêu người lân cận như mình.”
Tình yêu thương không làm hại người lân cận; vì vậy, yêu thương là làm trọn luật pháp.
Hãy làm như vậy, vì anh em biết mình đang sống trong thời kỳ nào. Đã đến giờ anh em phải thức dậy, vì hiện nay sự cứu rỗi đã gần với chúng ta hơn lúc chúng ta mới tin.
Đêm đã khuya, ngày gần đến; vậy chúng ta hãy lột bỏ những việc tối tăm mà mặc lấy áo giáp sáng láng.
Hãy sống một cách đàng hoàng như đi giữa ban ngày, đừng chè chén và say sưa, trụy lạc và phóng đãng, gây gổ và ganh tị.
Nhưng hãy mặc lấy Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ, đừng tìm cách làm thỏa mãn các dục vọng xác thịt.
Hãy tiếp nhận người yếu đức tin, đừng tranh luận với họ về các quan điểm.
Người nầy tin có thể ăn được mọi thứ; còn người yếu đuối chỉ ăn rau thôi.
Người ăn đừng khinh bỉ kẻ không ăn, và người không ăn đừng chỉ trích kẻ ăn; vì Đức Chúa Trời đã tiếp nhận người ấy.
Bạn là ai mà xét đoán đầy tớ của người khác? Nó đứng hay ngã, đó là việc của chủ nó. Nhưng nó sẽ đứng, vì Chúa có quyền cho nó đứng.
Người nầy cho rằng ngày nầy tốt hơn ngày kia, còn người khác thì coi mọi ngày đều như nhau; mỗi người hãy tin chắc ở trí mình.
Người giữ ngày là giữ vì Chúa; người ăn cũng ăn vì Chúa, vì họ tạ ơn Đức Chúa Trời; người không ăn cũng không ăn vì Chúa, và họ cũng tạ ơn Đức Chúa Trời.
Không người nào trong chúng ta vì chính mình mà sống, cũng chẳng có người nào trong chúng ta vì chính mình mà chết;
vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa, và nếu chúng ta chết, là chết cho Chúa. Cho nên dù sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa cả.
Chính vì vậy mà Đấng Christ đã chết và sống lại để làm Chúa của cả kẻ chết lẫn người sống.
Nhưng bạn, sao lại xét đoán anh em mình? Còn bạn, sao lại khinh bỉ anh em mình? Vì tất cả chúng ta đều sẽ ứng hầu trước tòa án của Đức Chúa Trời.
Vì có lời chép: “Chúa phán: Thật như Ta hằng sống, mọi đầu gối sẽ quỳ trước mặt Ta, Và mọi lưỡi sẽ ca ngợi Đức Chúa Trời.”
Như vậy, mỗi chúng ta sẽ tường trình về chính mình với Đức Chúa Trời.
Vậy chúng ta đừng xét đoán nhau nữa, nhưng tốt hơn cả là quyết định không đặt hòn đá làm vấp chân hoặc gây cản trở cho anh em mình.
Trong Đức Chúa Jêsus, tôi biết và tin quyết rằng chẳng có vật gì tự nó là ô uế; nhưng nó là ô uế đối với ai xem nó là ô uế.
Nếu vì một thức ăn mà bạn làm tổn thương anh em mình thì bạn đã không cư xử theo tình yêu thương rồi. Đừng vì một thức ăn làm hư mất người mà Đấng Christ đã chết thay.
Vậy đừng để việc tốt của anh em bị gièm chê.
Vì vương quốc Đức Chúa Trời không phải là chuyện ăn uống, nhưng là sự công chính, bình an, vui mừng trong Đức Thánh Linh.
Người nào phục vụ Đấng Christ theo cách ấy thì đẹp lòng Đức Chúa Trời và được loài người tôn trọng.
Vậy, chúng ta hãy theo đuổi những gì đem lại sự hòa thuận và xây dựng cho nhau.
Đừng vì một thức ăn mà hủy hoại công việc của Đức Chúa Trời. Thật ra mọi vật đều thanh sạch, nhưng ai vì một món ăn mà gây cho người khác vấp ngã thì thật là sai lầm.
Tốt nhất là không ăn thịt, không uống rượu hoặc làm điều gì gây vấp phạm cho anh em mình.
Bạn có đức tin thể nào thì hãy giữ cho mình thể ấy trước mặt Đức Chúa Trời. Phước cho người nào không tự lên án mình về những gì mình đã chấp nhận!
Nhưng người nào còn nghi ngại mà cứ ăn thì bị lên án rồi, vì không hành động bởi đức tin. Việc gì không đến từ đức tin đều là tội lỗi.
Chúng ta là người mạnh phải gánh vác những khiếm khuyết của người yếu, chứ không chỉ biết làm vừa lòng chính mình.
Mỗi người trong chúng ta nên làm vừa lòng người lân cận mình để giúp ích và xây dựng họ.
Vì Đấng Christ cũng không làm vừa lòng chính mình, như có lời chép: “Lời nhục mạ của những kẻ phỉ báng Ngài đã đổ trên con.”
Những gì đã được chép từ xưa đều nhằm dạy dỗ chúng ta, để nhờ sự kiên định và khích lệ của Kinh Thánh mà chúng ta có niềm hi vọng.
Cầu xin Đức Chúa Trời của sự kiên định và khích lệ giúp anh em sống hòa hợp với nhau theo gương Đấng Christ Jêsus,
để anh em đồng một lòng, một miệng mà tôn vinh Đức Chúa Trời, là Cha của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ.
Vậy, anh em hãy vì vinh quang của Đức Chúa Trời mà tiếp nhận nhau, cũng như Đấng Christ đã tiếp nhận anh em.
Tôi xin nói, Đấng Christ đã vì chân lý của Đức Chúa Trời mà trở thành đầy tớ của những người được cắt bì, để khẳng định những lời hứa đã ban cho các tổ phụ,
và khiến dân ngoại tôn vinh Đức Chúa Trời vì sự thương xót của Ngài. Như có lời chép: “Bởi đó, Con sẽ ca ngợi Chúa giữa muôn dân Và chúc tụng danh Ngài”
và có lời chép: “Hỡi dân ngoại, hãy cùng vui với dân Chúa,”
và rằng: “Hỡi tất cả dân ngoại, hãy ca ngợi Chúa Và muôn dân khá chúc tụng Ngài!”
Ê-sai cũng nói: “Từ Gie-sê sẽ ra một cái rễ, Là Đấng cai trị dân ngoại; Dân ngoại sẽ hi vọng nơi Ngài.”
Cầu xin Đức Chúa Trời là nguồn hi vọng làm cho anh em ngập tràn niềm vui và bình an trong đức tin, để nhờ năng quyền của Đức Thánh Linh, anh em được chứa chan hi vọng!
Thưa anh em, chính tôi tin chắc rằng anh em vốn giàu lòng nhân ái, đầy sự hiểu biết, và có khả năng khuyên bảo lẫn nhau.
Tuy nhiên, trong thư gửi cho anh em có một vài điểm tôi nói hơi mạnh, chẳng qua là để nhắc nhở anh em, vì Đức Chúa Trời đã ban ân điển cho tôi
được làm đầy tớ của Đấng Christ Jêsus giữa các dân ngoại, thi hành chức tế lễ cho Tin Lành của Đức Chúa Trời, để dân ngoại trở thành lễ vật đẹp lòng Chúa, được thánh hóa bởi Đức Thánh Linh.
Vậy, trong Đấng Christ Jêsus tôi có lý do để hãnh diện về công tác phục vụ Đức Chúa Trời.
Vì tôi không dám nói điều gì khác ngoài những gì mà Đấng Christ đã thực hiện qua tôi để khiến dân ngoại vâng phục Ngài. Bằng lời nói và việc làm,
bằng quyền năng của dấu lạ phép mầu, bằng uy lực của Thánh Linh Đức Chúa Trời, tôi đã công bố rộng rãi Tin Lành của Đấng Christ khắp nơi, từ Giê-ru-sa-lem và miền phụ cận cho đến xứ I-ly-ri.
Nhưng ước vọng của tôi là rao truyền Tin Lành ở những nơi mà danh Đấng Christ chưa được truyền đến, để khỏi xây trên nền của người khác,
như có lời chép: “Những người chưa được loan báo về Ngài, sẽ thấy Ngài, Những người chưa nghe về Ngài, sẽ hiểu biết Ngài.”
Đó là lý do đã nhiều lần ngăn trở tôi đến thăm anh em.
Nhưng bây giờ trong những miền nầy không còn chỗ cho tôi nữa; hơn nữa, đã nhiều năm nay, tôi rất ước ao đến thăm anh em.
Tôi hi vọng sẽ ghé thăm anh em trên đường đi Tây Ban Nha; và sau khi thấy thỏa lòng vì được ở với anh em một thời gian, tôi sẽ nhờ anh em đưa tôi qua đó.
Nhưng bây giờ, tôi đi Giê-ru-sa-lem để phục vụ các thánh đồ;
vì người Ma-xê-đô-ni-a và A-chai vui lòng quyên góp để giúp những người nghèo túng trong số các thánh đồ ở Giê-ru-sa-lem.
Họ vui lòng làm việc đó, nhưng thật ra họ cũng mắc nợ những người đó nữa; vì nếu người ngoại đã được chia sẻ của cải thuộc linh, thì họ cũng phải đem của cải vật chất mà giúp đỡ lại.
Vì vậy, sau khi làm xong việc nầy, tức là khi đã phân phát các phẩm vật cho họ rồi, tôi sẽ lên đường, ghé thăm anh em rồi đi Tây Ban Nha.
Tôi biết khi sang thăm anh em, tôi sẽ đến với ân phước dồi dào của Đấng Christ.
Thưa anh em, vì Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ và vì tình yêu thương bởi Thánh Linh, tôi nài xin anh em hãy cùng tôi chiến đấu trong lời cầu nguyện mà anh em vì tôi trình dâng lên Đức Chúa Trời,
để tôi được thoát khỏi những kẻ vô tín trong xứ Giu-đê, và chức vụ của tôi khi đến Giê-ru-sa-lem sẽ được các thánh đồ chấp nhận.
Như thế, nếu đẹp ý Đức Chúa Trời, tôi có thể vui mừng đến với anh em và cùng được nghỉ ngơi với anh em.
Cầu xin Đức Chúa Trời bình an ở với tất cả anh em! A-men.
Tôi xin giới thiệu với anh em, chị Phê-bê là người chị em chúng tôi, cũng là nữ chấp sự của Hội Thánh Sen-cơ-rê.
Hãy tiếp rước chị một cách xứng đáng trong Chúa như tiếp các thánh đồ, và giúp đỡ chị mỗi khi chị cần đến anh em; vì chính chị đã từng giúp nhiều người, và cả tôi nữa.
Xin cho tôi kính lời chào thăm Pê-rít-sin và A-qui-la, những người cùng làm việc với tôi trong Đấng Christ Jêsus,
là hai người liều chết để cứu mạng sống tôi; không phải chỉ có tôi mang ơn hai người, mà cả các Hội Thánh của dân ngoại nữa.
Cũng xin kính lời chào thăm Hội Thánh nhóm tại nhà hai người. Kính chào Ê-bai-nết, người bạn thân mến của tôi, và là trái đầu mùa cho Đấng Christ trong vùng A-si-a.
Kính chào Ma-ri, người đã làm việc vất vả vì anh em.
Kính chào An-trô-ni-cơ và Giu-ni-a là bà con và bạn đồng tù với tôi, cũng là hai người nổi bật trong số các sứ đồ và thuộc về Đấng Christ trước tôi.
Kính chào Am-li-a, người rất yêu quý của tôi trong Chúa.
Kính chào U-rơ-banh, bạn cùng làm việc với tôi trong Đấng Christ, và Ếch-ta-chy, người bạn thân mến của tôi.
Kính chào A-be-lơ, người được tiếp nhận trong Đấng Christ. Kính chào những người thuộc gia đình A-rích-tô-bu.
Kính chào Hê-rô-đi-ôn, người họ hàng của tôi. Kính chào những người trong gia đình Nạt-xít, là những người trong Chúa.
Kính chào Try-phe-nơ và Try-phô-sơ, là hai chị đã vất vả vì Chúa. Kính chào Pẹt-si-đơ, người chị tôi quý mến, đã làm việc nhọc nhằn cho Chúa.
Kính chào Ru-phu, người được Chúa chọn, và kính chào thân mẫu của anh cũng là thân mẫu tôi.
Kính chào A-sin-cơ-rích, Phơ-lê-gôn, Hẹt-me, Pa-trô-ba, Hẹt-ma, và các anh em ở với họ.
Kính chào Phi-lô-lô-gơ và Giu-li, hai chị em Nê-rê và em gái của anh ấy, Ô-lim, và tất cả thánh đồ ở với họ.
Hãy chào nhau bằng cái hôn thánh. Tất cả các Hội Thánh của Đấng Christ đều kính lời chào anh em.
Thưa anh em, tôi khuyên anh em hãy coi chừng những kẻ lập bè đảng và gây vấp phạm, chống lại sự dạy dỗ mà anh em đã học. Hãy tránh xa họ đi.
Vì những kẻ đó chẳng phục vụ Đấng Christ, Chúa chúng ta, nhưng phục vụ chính cái bụng của họ; họ dùng lời lẽ đường mật, dua nịnh để lừa dối những tấm lòng thật thà.
Mọi người đều biết lòng vâng phục của anh em; vì vậy, tôi vui mừng về anh em, mong rằng anh em khôn ngoan về điều lành và thanh sạch về điều dữ.
Đức Chúa Trời bình an sẽ sớm giày đạp Sa-tan dưới chân anh em. Cầu xin ân điển của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus ở với anh em!
Ti-mô-thê, người cùng làm việc với tôi kính chào anh em; Lu-si-út, Gia-sôn và Sô-xi-pa-tê, là những người bà con của tôi cũng chào anh em.
Tôi là Tẹt-tiu, người chép thư nầy, kính chào anh em trong Chúa.
Gai-út, người tiếp đãi tôi và cả Hội Thánh, kính chào anh em.
Ê-rát, người quản lý kho bạc thành phố, và Qua-rơ-tu, người anh em chúng ta, cũng chào anh em nữa.
Ngợi ca Đấng có quyền làm vững mạnh anh em theo Tin Lành của tôi và lời giảng của Đức Chúa Jêsus Christ, theo sự mặc khải về điều mầu nhiệm vốn đã được giấu kín từ nghìn xưa,
nhưng bây giờ, theo lệnh của Đức Chúa Trời hằng sống và qua các sách tiên tri, điều mầu nhiệm đã được tỏ bày cho mọi dân tộc đều biết, để đem họ đến đức tin vâng phục,
và qua Đức Chúa Jêsus Christ, Đức Chúa Trời là Đấng khôn ngoan duy nhất, được vinh quang đời đời vô cùng! A-men.
Phao-lô, bởi ý định của Đức Chúa Trời, được kêu gọi làm sứ đồ của Đấng Christ Jêsus, cùng với Sốt-then, anh em chúng ta,
kính gửi Hội Thánh Đức Chúa Trời tại Cô-rinh-tô và những người đã được thánh hóa trong Đấng Christ Jêsus, được gọi là thánh đồ, cùng với tất cả những người ở khắp mọi nơi đang kêu cầu danh Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa của họ và của chúng ta.
Cầu xin Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ ban ân điển và bình an cho anh em.
Tôi luôn vì anh em cảm tạ Đức Chúa Trời, bởi ân điển Ngài đã ban cho anh em trong Đấng Christ Jêsus;
vì trong Ngài, anh em được phong phú về mọi phương diện, cả lời nói lẫn tri thức —
như lời làm chứng về Đấng Christ cũng đã được xác lập trong anh em —
để anh em không thiếu bất cứ ân tứ thuộc linh nào, trong lúc chờ đợi sự hiện ra của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ.
Đức Chúa Trời sẽ giữ anh em bền vững cho đến cuối cùng, để không bị khiển trách trong ngày của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ.
Đức Chúa Trời là Đấng thành tín; Ngài đã gọi anh em vào sự tương giao với Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta.
Thưa anh em, nhân danh Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ, tôi khuyên tất cả anh em hãy đồng một tiếng nói, để trong anh em không có sự chia rẽ, mà hiệp nhất với nhau trong tâm trí và mục tiêu.
Thưa anh em, người nhà Cơ-lô-ê có tin cho tôi biết rằng trong anh em đang có sự bất hòa.
Điều tôi muốn nói là mỗi người trong anh em đều nói: “Tôi thuộc về Phao-lô;” hoặc: “Tôi thuộc về A-pô-lô;” hoặc: “Tôi thuộc về Sê-pha;” hoặc: “Tôi thuộc về Đấng Christ.”
Đấng Christ đã bị chia cắt rồi sao? Có phải Phao-lô đã bị đóng đinh vào thập tự giá vì anh em không? Hay có phải anh em nhân danh Phao-lô mà chịu báp-têm không?
Tôi cảm tạ Đức Chúa Trời vì ngoài Cơ-rít-pu và Gai-út ra, tôi chưa từng làm báp-têm cho một ai trong anh em,
để không ai có thể nói rằng anh em đã nhân danh tôi chịu báp-têm.
Tôi cũng đã làm báp-têm cho gia đình Sê-pha-na. Ngoài ra, tôi không nhớ mình đã làm báp-têm cho ai khác.
Vì Đấng Christ không sai tôi đến để làm báp-têm nhưng để rao giảng Tin Lành, không phải bằng tài hùng biện khôn khéo, kẻo quyền năng thập tự giá của Đấng Christ sẽ trở nên vô hiệu chăng.
Vì sứ điệp của thập tự giá đối với những người hư mất là điên rồ; nhưng với chúng ta, những người được cứu chuộc, thì đó là quyền năng của Đức Chúa Trời.
Bởi có lời chép: “Ta sẽ triệt hạ sự khôn ngoan của người khôn ngoan, Tiêu trừ sự thông thái của người thông thái.”
Người khôn ngoan ở đâu? Các thầy thông giáo ở đâu? Những người biện luận của đời nầy ở đâu? Chẳng phải Đức Chúa Trời đã làm cho sự khôn ngoan của thế gian ra điên rồ sao?
Vì Đức Chúa Trời, bởi sự khôn ngoan của Ngài, đã khiến thế gian không thể dùng khôn ngoan riêng của mình để hiểu biết Ngài, nên Ngài vui lòng dùng sự rao giảng bị xem là điên rồ của chúng ta để cứu những người tin.
Trong lúc người Do Thái đòi hỏi dấu lạ, người Hi Lạp tìm kiếm sự khôn ngoan
thì chúng tôi rao giảng Đấng Christ bị đóng đinh vào thập tự giá, điều mà người Do Thái cho là sai lầm, còn dân ngoại cho là điên rồ.
Nhưng đối với những người được kêu gọi, cả Do Thái lẫn Hi Lạp, thì Đấng Christ là quyền năng và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời.
Vì điều xem như điên rồ của Đức Chúa Trời còn khôn ngoan hơn loài người; điều xem như yếu đuối của Đức Chúa Trời còn mạnh hơn loài người.
Thưa anh em, hãy suy nghĩ lúc anh em được kêu gọi, trong anh em không có mấy người khôn ngoan theo tiêu chuẩn đời nầy, không mấy ai có quyền thế, cũng chẳng có mấy người thuộc dòng quý tộc.
Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những điều dại dột ở thế gian để làm hổ thẹn những người khôn ngoan; Đức Chúa Trời đã chọn những gì yếu đuối ở thế gian để làm hổ thẹn những người mạnh mẽ.
Đức Chúa Trời đã chọn những gì thấp kém, bị khinh chê ở thế gian, ngay cả những gì không có, để làm cho những gì đã có ra hư không,
để không một người nào có thể khoe khoang trước mặt Đức Chúa Trời.
Vì nhờ Ngài mà anh em được ở trong Đấng Christ Jêsus, Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn ngoan, công chính, thánh khiết và sự cứu chuộc cho chúng ta;
cho nên, như lời đã chép: “Ai tự hào, hãy tự hào trong Chúa.”
Thưa anh em, khi đến với anh em, tôi không dùng những lời cao siêu hay khôn ngoan để công bố sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời cho anh em.
Vì ở giữa anh em, tôi đã quyết định không biết gì khác ngoài Đức Chúa Jêsus Christ, và Đức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh vào thập tự giá.
Chính tôi đã ở giữa anh em trong sự yếu đuối, với lắm sợ hãi và run rẩy.
Ngôn từ và sứ điệp của tôi không dựa vào những lời lẽ khôn khéo để thuyết phục, nhưng chính là sự thể hiện quyền năng của Thánh Linh;
để đức tin của anh em không dựa trên sự khôn ngoan của loài người, mà trên quyền năng của Đức Chúa Trời.
Tuy nhiên, với những người trưởng thành, chúng tôi cũng rao giảng sự khôn ngoan, nhưng không phải sự khôn ngoan của đời nầy, hoặc của những nhà lãnh đạo đời nầy là những người sẽ phải qua đi.
Nhưng chúng tôi rao giảng sự khôn ngoan, mầu nhiệm và kín giấu của Đức Chúa Trời, điều đã được Đức Chúa Trời định sẵn từ trước các thời đại cho sự vinh quang của chúng ta.
Không có nhà lãnh đạo nào của đời nầy biết được điều đó, vì nếu biết, họ đã không đóng đinh Chúa vinh quang vào thập tự giá.
Nhưng, như điều đã chép: “Những gì mắt chưa thấy, tai chưa nghe, Và lòng chưa nghĩ đến Thì Đức Chúa Trời đã dành sẵn cho những người yêu mến Ngài.”
Nhưng Đức Chúa Trời đã bày tỏ những điều nầy cho chúng ta qua Thánh Linh. Vì Thánh Linh thấu suốt mọi sự, ngay cả những điều sâu nhiệm của Đức Chúa Trời.
Ai biết được tư tưởng của con người, nếu không phải là tâm linh ở trong chính người ấy? Cũng vậy, không ai có thể biết được ý tưởng của Đức Chúa Trời, ngoài Thánh Linh của Đức Chúa Trời.
Nhưng, chúng ta không nhận lấy linh của thế gian mà là Thánh Linh từ Đức Chúa Trời, để có thể hiểu được những ân tứ Đức Chúa Trời ban cho chúng ta.
Chúng tôi truyền đạt điều nầy, không nhờ những ngôn từ học hỏi được nơi sự khôn ngoan của loài người, nhưng nhờ sự chỉ dạy của Thánh Linh, dùng lời lẽ thuộc linh giãi bày những chân lý thuộc linh.
Người không có Thánh Linh không nhận được những điều từ Thánh Linh của Đức Chúa Trời, bởi người ấy xem những điều nầy là điên rồ và không thể hiểu được, vì phải được phán đoán cách thuộc linh.
Nhưng, người có Thánh Linh thì xét đoán mọi sự, còn chính người ấy thì không bị ai xét đoán.
“Vì ai đã biết được tâm trí của Chúa, Để chỉ bảo Ngài?” Nhưng chúng ta có tâm trí của Đấng Christ.
Thưa anh em, về phần tôi, tôi không thể nói với anh em như nói với những người thuộc linh, nhưng như với người xác thịt, như những trẻ sơ sinh trong Đấng Christ.
Tôi đã nuôi anh em bằng sữa chứ không bằng thức ăn cứng, vì anh em chưa thích ứng được. Ngay đến bây giờ anh em vẫn chưa thích ứng được,
vì anh em vẫn còn thuộc về xác thịt. Bởi trong anh em vẫn có sự ganh tị, tranh chấp; như vậy, chẳng phải anh em thuộc về xác thịt và cư xử như người đời sao?
Khi người nầy nói: “Tôi thuộc về Phao-lô,” người khác nói: “Tôi thuộc về A-pô-lô,” như vậy, anh em không phải là người đời sao?
Thế thì, A-pô-lô là ai? Phao-lô là ai? Họ chỉ là những đầy tớ, mà qua họ anh em đã tin, như Đức Chúa Trời đã chỉ định cho mỗi người.
Tôi đã trồng, A-pô-lô đã tưới, nhưng Đức Chúa Trời đã làm cho lớn lên.
Vậy nên, người trồng, kẻ tưới đều không là gì cả, nhưng chỉ có Đức Chúa Trời là Đấng làm cho lớn lên.
Người trồng, kẻ tưới đều như nhau; mỗi người sẽ nhận được tiền công tùy theo công sức của mình.
Vì chúng tôi là những người cùng làm việc cho Đức Chúa Trời; anh em là đồng ruộng của Đức Chúa Trời, là nhà của Đức Chúa Trời.
Theo ân điển của Đức Chúa Trời đã ban cho tôi, tôi đã đặt nền như một thợ lành nghề, còn người khác thì xây cất lên trên. Nhưng mỗi người phải thận trọng về cách mình xây trên nền ấy.
Vì chẳng ai có thể đặt một nền móng khác, ngoài nền đã được đặt là Đức Chúa Jêsus Christ.
Nếu ai dùng vàng, bạc, đá quý, gỗ, cỏ khô hay rơm rạ để xây trên nền ấy
thì công trình của mỗi người sẽ được tỏ ra. Ngày phán xét sẽ làm rõ công trình đó; nó sẽ bị phơi bày trong lửa, và lửa sẽ thử nghiệm giá trị công trình của mỗi người.
Nếu công trình của ai xây trên nền được tồn tại thì người ấy sẽ nhận được phần thưởng.
Còn nếu công trình của người nào bị thiêu hủy thì sẽ mất phần thưởng; về phần người ấy, sẽ được cứu nhưng dường như qua lửa.
Anh em không biết rằng anh em là đền thờ của Đức Chúa Trời, và Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự trong anh em sao?
Nếu người nào phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời thì Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt người ấy; vì đền thờ của Đức Chúa Trời là thánh, và đền thờ ấy chính là anh em.
Chớ ai tự lừa dối mình. Nếu người nào trong anh em tưởng mình là khôn ngoan theo cách đời nầy thì hãy trở nên dại dột để được khôn ngoan.
Vì sự khôn ngoan đời nầy là điên rồ trước mặt Đức Chúa Trời. Như có chép rằng: “Chúa bắt những người khôn ngoan Bằng chính sự xảo quyệt của họ.”
Và: “Chúa biết rằng những ý tưởng của người khôn ngoan Đều là vô ích.”
Vậy, đừng ai khoe khoang về loài người. Vì mọi sự đều thuộc về anh em:
dù Phao-lô, A-pô-lô hay Sê-pha; dù thế gian, sự sống hay sự chết, hiện tại hay tương lai; tất cả đều thuộc về anh em,
anh em thuộc về Đấng Christ, và Đấng Christ thuộc về Đức Chúa Trời.
Vậy, mọi người nên xem chúng tôi như những đầy tớ của Đấng Christ, những người quản trị các sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời.
Điều người ta đòi hỏi nơi người quản trị là phải đáng tin cậy.
Về phần tôi, dù bị anh em hoặc bất cứ tòa án nào của loài người xét đoán thì cũng chẳng quan trọng gì. Chính tôi cũng không tự xét đoán mình.
Vì tôi không thấy mình có gì sai trái, nhưng không vì thế mà tôi được xưng công chính. Đấng xét đoán tôi chính là Chúa.
Vậy, chớ nên xét đoán quá sớm, hãy đợi Chúa đến; Ngài sẽ đưa ra ánh sáng những gì hiện đang được che giấu trong bóng tối, và phơi bày những mưu định trong lòng. Lúc ấy, mỗi người sẽ nhận được sự khen ngợi từ Đức Chúa Trời.
Thưa anh em, vì lợi ích của anh em, tôi đã áp dụng những điều nầy cho chính tôi và A-pô-lô, để anh em học nơi chúng tôi ý nghĩa của câu: “Đừng vượt ra ngoài lời đã chép,” hầu cho không ai sinh lòng kiêu căng mà ủng hộ người nầy chống lại người kia.
Vì có ai thấy bạn trội hơn người khác chăng? Có điều gì bạn có mà không do nhận lãnh chăng? Nếu bạn đã nhận lãnh, thì sao còn khoe khoang như chưa từng nhận lãnh?
Anh em đã no đủ rồi! Anh em đã giàu có rồi! Anh em đã làm vua mà đâu có cần đến chúng tôi. Ước gì anh em làm vua để chúng tôi được cùng cai trị với anh em!
Vì tôi cảm nhận rằng, Đức Chúa Trời đã đặt các sứ đồ chúng tôi vào chỗ thấp kém nhất, như những người bị án tử hình, vì chúng tôi đã trở nên trò cười cho thế gian, thiên sứ và loài người.
Chúng tôi là những kẻ khờ dại vì cớ Đấng Christ, còn anh em được khôn ngoan trong Đấng Christ. Chúng tôi yếu đuối, còn anh em mạnh mẽ. Anh em được tôn trọng, còn chúng tôi bị khinh khi.
Cho đến giờ nầy, chúng tôi vẫn chịu đói khát, rách rưới, đánh đập và lang thang đây đó.
Chúng tôi làm việc khó nhọc bằng chính đôi tay mình. Khi bị nguyền rủa, chúng tôi chúc phước; khi bị bắt bớ, chúng tôi chịu đựng;
khi bị nói xấu, chúng tôi đáp lại cách ôn tồn. Cho đến bây giờ, chúng tôi trở nên như rác rưởi của thế gian, cặn bã của loài người.
Tôi viết những điều nầy không phải để làm anh em xấu hổ, nhưng để khuyên nhủ anh em như những người con yêu quý của tôi.
Cho dù anh em có hàng vạn người hướng dẫn trong Đấng Christ, nhưng anh em không có nhiều cha; vì nhờ Tin Lành, tôi đã sinh anh em ra trong Đấng Christ Jêsus.
Vậy, tôi nài khuyên anh em: Hãy bắt chước tôi.
Vì lẽ đó, tôi đã sai Ti-mô-thê, con yêu quý và trung tín của tôi trong Chúa, đến nhắc lại cho anh em đường lối của tôi trong Đấng Christ, như tôi vẫn dạy trong Hội Thánh khắp mọi nơi.
Có mấy kẻ tỏ ra kiêu căng, vì nghĩ rằng tôi sẽ không đến với anh em.
Nhưng nếu Chúa muốn thì không bao lâu nữa tôi sẽ đến với anh em; lúc ấy, tôi sẽ biết không những chỉ lời nói của những kẻ kiêu căng nầy, mà cả năng lực của họ nữa.
Vì vương quốc Đức Chúa Trời không chỉ bày tỏ bằng lời nói, mà bởi quyền năng.
Anh em muốn điều gì? Muốn tôi cầm roi đến với anh em, hay đến với tình yêu thương và tinh thần dịu dàng?
Có tin đồn rằng trong anh em có sự dâm loạn, một thứ dâm loạn đến nỗi ngay cả các dân ngoại cũng không có như thế; vì có kẻ đã ăn nằm với vợ kế của cha mình!
Thế mà anh em còn vênh vang! Đáng ra anh em phải than khóc và loại trừ kẻ làm điều đó ra khỏi anh em!
Vì tôi, thân tuy xa cách, nhưng tâm linh thì ở đó. Tôi đã lên án kẻ làm điều ấy, như thể tôi đang có mặt tại đó.
Khi anh em nhóm lại, tâm linh tôi cũng hiện diện cùng với quyền năng của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus; nhân danh Chúa là Đức Chúa Jêsus,
chúng ta phó kẻ như thế cho Sa-tan hủy hoại phần thân xác để phần tâm linh được cứu trong ngày của Chúa.
Sự kiêu căng của anh em chẳng có gì tốt đẹp cả. Anh em không biết rằng một chút men đủ làm dậy cả đống bột sao?
Hãy làm sạch men cũ đi, để anh em có thể trở thành một đống bột mới không men, như anh em thật sự là bánh không men vậy. Vì Đấng Christ, Chiên Con lễ Vượt Qua của chúng ta đã được dâng làm sinh tế rồi.
Vậy, chúng ta hãy kỷ niệm lễ Vượt Qua, chớ dùng men cũ, là men hiểm độc và gian ác, mà hãy dùng bánh không men của sự thành thật và chân lý.
Trong thư viết cho anh em, tôi đã dặn đừng giao tiếp với những kẻ gian dâm.
Tôi không có ý nói đến những kẻ gian dâm ở thế gian nầy, hay những kẻ tham lam và trộm cướp, hoặc những kẻ thờ thần tượng, vì nếu vậy thì anh em phải rời bỏ thế gian nầy.
Nhưng điều tôi viết cho anh em là đừng giao tiếp với bất cứ người nào tự xưng là anh em mà lại gian dâm, hoặc tham lam, hoặc thờ thần tượng, hoặc chưởi rủa, hoặc say sưa, hoặc trộm cướp, cũng không nên ăn chung với người như vậy.
Tôi xét xử những người ở ngoài để làm gì? Chẳng phải anh em nên xét xử những người ở trong sao?
Đức Chúa Trời sẽ xét xử những kẻ ở ngoài. “Hãy loại trừ những kẻ gian ác ra khỏi anh em.”
Khi trong anh em có người nầy tranh chấp với người khác, tại sao không đem đến trước các thánh đồ mà lại dám để cho kẻ không công chính xét xử?
Anh em không biết các thánh đồ sẽ xét xử thế gian sao? Nếu thế gian bị anh em xét xử thì tại sao anh em lại không thể xét xử những việc nhỏ nhặt?
Anh em không biết chúng ta sẽ xét xử các thiên sứ sao? Huống chi những việc đời thường!
Thế mà, tại sao khi có những vấn đề đời thường như vậy anh em lại đem đến cho những người mà Hội Thánh xem không ra gì xét xử?
Tôi nói thế để anh em xấu hổ! Chẳng lẽ trong anh em không có một người đủ khôn ngoan để phân xử giữa anh em mình sao?
Nhưng anh em kiện cáo nhau, rồi lại đem đến trước mặt những kẻ chẳng tin!
Thật vậy, chỉ việc kiện tụng nhau đã là một thất bại rồi. Thà rằng anh em cam chịu bất công có hơn không? Thà cam chịu bị lừa gạt có hơn không?
Nhưng chính anh em bất công, lừa gạt và lại đối xử như vậy với anh em mình!
Anh em không biết rằng những kẻ không công chính sẽ chẳng được thừa hưởng vương quốc Đức Chúa Trời sao?
Đừng tự lừa dối mình. Những kẻ tà dâm, kẻ thờ thần tượng, kẻ ngoại tình, kẻ đồng tính luyến ái, kẻ trộm cắp, kẻ tham lam, kẻ say sưa, kẻ chửi rủa, kẻ cướp giật, sẽ không được thừa hưởng vương quốc Đức Chúa Trời.
Trước đây anh em có đôi người như vậy. Nhưng trong danh Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ và trong Thánh Linh của Đức Chúa Trời chúng ta, anh em đã được thanh tẩy, được thánh hóa và được xưng công chính.
Tôi được phép làm mọi sự, nhưng không phải mọi sự đều có ích. Tôi được phép làm mọi sự, nhưng không làm nô lệ cho bất cứ điều gì.
“Đồ ăn vì bụng, bụng vì đồ ăn,” Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt cả cái nầy lẫn cái kia. Thân thể không vì dâm dục, nhưng vì Chúa, và Chúa vì thân thể;
Đức Chúa Trời đã khiến Chúa sống lại, cũng sẽ khiến chúng ta sống lại bởi quyền năng của Ngài.
Anh em không biết rằng thân thể của anh em là chi thể của Đấng Christ sao? Vậy thì, tôi có nên lấy chi thể của Đấng Christ làm thành chi thể của gái mại dâm không? Chẳng bao giờ!
Anh em không biết rằng, kẻ nào kết hợp với gái mại dâm thì sẽ trở nên một thân với nó sao? Vì có chép rằng: “Hai người sẽ trở nên một thịt.”
Còn ai kết hợp với Chúa thì sẽ trở nên một tâm linh với Ngài.
Hãy tránh sự gian dâm. Mọi tội mà người ta phạm đều ở ngoài thân thể, nhưng kẻ dâm dục thì phạm đến chính thân thể mình.
Anh em không biết rằng thân thể anh em là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, Đấng mà Đức Chúa Trời đã ban cho anh em sao? Anh em cũng không còn thuộc về chính mình nữa,
vì anh em đã được mua bằng giá rất cao. Vậy, hãy dùng thân thể anh em mà tôn vinh Đức Chúa Trời.
Còn về những vấn đề anh em đã viết trong thư như “đàn ông không lấy vợ là hay hơn.”
Nhưng để tránh tình trạng gian dâm, mỗi người đàn ông nên có vợ, mỗi người đàn bà nên có chồng.
Chồng phải làm tròn bổn phận đối với vợ, và vợ đối với chồng cũng vậy.
Vợ không có quyền trên thân thể mình, mà là chồng; chồng cũng không có quyền trên thân thể mình, mà là vợ.
Đừng từ chối nhau, trừ phi hai bên thỏa thuận tạm thời, để biệt riêng thì giờ cầu nguyện, nhưng sau đó trở lại với nhau, kẻo Sa-tan thừa lúc anh em thiếu tự chế mà cám dỗ anh em chăng.
Điều tôi nói đây là sự nhân nhượng chứ không phải là mệnh lệnh.
Tôi muốn mọi người được như tôi. Nhưng mỗi người được Đức Chúa Trời ban cho ân tứ riêng; người ân tứ nầy, kẻ ân tứ khác.
Tôi nói với những người còn độc thân và những quả phụ rằng, nếu ở được như tôi thì tốt.
Nhưng nếu họ không thể tự chế được thì nên lập gia đình, vì thà lập gia đình còn hơn bị dục tình un đốt.
Đối với những người đã lập gia đình, thì tôi, nhưng không phải tôi mà là Chúa, truyền lệnh nầy: Vợ không được bỏ chồng,
(nhưng nếu đã bỏ chồng, thì phải ở vậy, hoặc phải làm hòa lại với chồng). Chồng cũng không được ly dị vợ.
Còn với những người khác thì tôi, không phải là Chúa, nói rằng: Nếu anh em nào có vợ không tin Chúa, nhưng người nầy bằng lòng chung sống với mình, thì người ấy không được ly dị vợ.
Nếu một phụ nữ có chồng không tin Chúa, nhưng người nầy bằng lòng chung sống với mình, thì người ấy không được ly dị chồng.
Vì người chồng không tin Chúa sẽ nhờ vợ được thánh hóa; còn người vợ không tin Chúa sẽ nhờ chồng được thánh hóa. Nếu không, thì con cái anh em đã bị ô uế, nhưng hiện nay chúng đều được thánh hóa cả.
Nếu người không tin Chúa muốn phân rẽ thì cứ để người ấy phân rẽ. Trong trường hợp nầy, anh em hay chị em không bị ràng buộc gì. Vì Đức Chúa Trời đã gọi chúng ta sống trong hòa bình.
Hỡi người làm vợ, biết đâu chị em lại cứu được chồng mình? Hỡi người làm chồng, biết đâu anh em lại cứu được vợ mình?
Mỗi người phải sống theo ơn Chúa ban, và theo sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. Đây là điều tôi đã dạy trong tất cả các Hội Thánh.
Có ai đã chịu cắt bì mà được kêu gọi chăng? Đừng bỏ chứng cứ của sự cắt bì. Có ai chưa chịu cắt bì mà được kêu gọi chăng? Đừng tìm kiếm sự cắt bì.
Cắt bì hay không cắt bì đều chẳng có gì đáng kể; điều đáng kể là vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời.
Ai đang ở địa vị nào lúc được kêu gọi, hãy cứ ở địa vị đó.
Anh em là nô lệ khi được kêu gọi chăng? Đừng bận tâm; nhưng nếu anh em có thể được tự do thì hãy nắm lấy cơ hội.
Vì người nào được Chúa kêu gọi lúc còn là nô lệ thì trở nên người tự do trong Chúa. Cũng vậy, người tự do lúc được kêu gọi thì trở nên nô lệ của Đấng Christ.
Anh em đã được mua bằng giá rất cao; đừng trở nên nô lệ cho loài người.
Anh em ở địa vị nào lúc được kêu gọi, hãy cứ ở địa vị đó trước mặt Đức Chúa Trời.
Về vấn đề các trinh nữ, tôi không có mệnh lệnh của Chúa; nhưng bởi ơn thương xót của Chúa, tôi nêu ý kiến của mình như một người đáng tin cậy.
Vì những khó khăn hiện tại, tôi nghĩ, nếu một người cứ ở vậy thì vẫn tốt.
Có phải bạn đang bị ràng buộc với vợ? Đừng tìm cách thoát ra. Có phải bạn chưa bị ràng buộc với vợ? Đừng kiếm vợ.
Nhưng nếu bạn lấy vợ, bạn chẳng có tội gì; nếu một trinh nữ lấy chồng, nàng cũng chẳng có tội gì. Tuy nhiên, những người có gia đình thì sẽ gặp nhiều trở ngại thuộc đời nầy; tôi muốn anh em tránh khỏi điều đó.
Thưa anh em, tôi muốn nói rằng: Thời gian còn quá ngắn; nên từ bây giờ, những người có vợ, hãy sống như không có;
những người than khóc, hãy sống như không than khóc; những người vui mừng, hãy sống như không vui mừng; những người mua sắm, hãy sống như không có vật gì;
những người đang gắn bó với thế gian, hãy sống như không gắn bó, vì hình trạng của thế gian nầy sẽ qua đi.
Tôi muốn anh em khỏi bận tâm lo lắng. Người không lấy vợ thì chuyên lo việc Chúa, tìm cách làm vui lòng Chúa.
Nhưng người có vợ thì chăm lo việc đời, tìm cách làm hài lòng vợ,
và họ bị phân tâm. Đàn bà không lấy chồng, hoặc trinh nữ thì chuyên lo việc Chúa, tìm cách để cả thân thể và tâm linh được thánh sạch; nhưng người có chồng thì chăm lo việc đời, tìm cách làm hài lòng chồng.
Tôi nói điều nầy vì ích lợi cho anh em, không phải để ngăn trở anh em, nhưng muốn hướng anh em đến điều thích hợp và không phân tâm trong sự phục vụ Chúa.
Nếu có người nào nghĩ mình không thể xử sự một cách phải lẽ với người vợ hứa của mình, nếu tình dục mạnh, và cần kết hôn, thì hãy làm theo điều mình muốn. Hãy để họ kết hôn. Điều nầy không có tội gì.
Nhưng nếu ai xác lập trong lòng, không bị sự bó buộc nào, biết chế ngự ước muốn, và quyết định trong lòng cứ giữ nàng như người vợ hứa thì người ấy làm một việc tốt.
Như vậy, người kết hôn với người vợ hứa của mình là làm điều tốt; nhưng người không đi đến hôn nhân thì làm điều tốt hơn.
Chồng còn sống bao lâu thì vợ phải ràng buộc với chồng bấy lâu. Nếu chồng qua đời, vợ được tự do kết hôn với người mình muốn, miễn là ở trong Chúa.
Nhưng theo ý tôi, nếu cứ ở vậy thì có phước hơn. Tôi nghĩ rằng, tôi cũng có Thánh Linh của Đức Chúa Trời.
Liên quan đến vấn đề của cúng thần tượng, chúng ta biết rằng “tất cả chúng ta đều hiểu biết cả.” Nhưng sự hiểu biết sinh kiêu căng, còn tình yêu thương thì xây dựng.
Nếu có ai tưởng rằng mình biết điều gì thì người ấy chưa thật sự biết như cần phải biết.
Nhưng nếu ai yêu mến Đức Chúa Trời thì Ngài biết người ấy.
Vậy, về vấn đề của cúng thần tượng, chúng ta biết thần tượng trong thế gian không thật sự hiện hữu, chỉ có một Đức Chúa Trời chứ không có thần nào khác.
Mặc dù người ta cho rằng có các thần ở trên trời hay dưới đất — họ tin có nhiều “thần”, nhiều “chúa” —
nhưng với chúng ta thì chỉ có một Đức Chúa Trời là Cha, Đấng tạo dựng muôn vật, và chúng ta sống vì Ngài; cũng chỉ có một Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ, muôn vật nhờ Ngài mà có, chúng ta cũng nhờ Ngài mà hiện hữu.
Nhưng không phải mọi người đều có sự hiểu biết nầy. Một số người do quá quen thuộc với thần tượng nên khi ăn của cúng tế đó, thì xem như đã thật sự cúng cho thần tượng, và lương tâm yếu đuối của họ bị ô uế.
Thức ăn không làm cho chúng ta gần Đức Chúa Trời hơn; nếu không ăn cũng chẳng xấu, còn ăn cũng chẳng tốt hơn.
Nhưng phải thận trọng, kẻo quyền tự do của anh em gây cớ cho người yếu đuối vấp ngã.
Nếu một người có lương tâm yếu đuối thấy bạn, là người hiểu biết, ngồi ăn trong đền miếu thần tượng thì chẳng phải người ấy được khuyến khích ăn của cúng thần tượng sao?
Thế thì sự hiểu biết của bạn đã làm hư mất người yếu đuối ấy, là người anh em mà Đấng Christ đã chết thay cho.
Như vậy, khi phạm tội đối với anh em, làm tổn thương lương tâm yếu đuối của họ là bạn đã phạm tội với Đấng Christ.
Cho nên, nếu thức ăn tạo cớ vấp phạm cho anh em, thì tôi sẽ không bao giờ ăn thịt, để khỏi tạo cớ vấp phạm cho anh em tôi.
Tôi không được tự do sao? Tôi không phải là sứ đồ sao? Tôi đã chẳng từng thấy Đức Chúa Jêsus, Chúa chúng ta sao? Anh em không phải là thành quả của tôi trong Chúa sao?
Nếu tôi không phải là sứ đồ đối với người khác thì ít nữa cũng là sứ đồ đối với anh em; vì anh em là dấu ấn về chức vụ sứ đồ của tôi trong Chúa.
Đây chính là lời biện bạch của tôi đề kháng lại những kẻ phê phán tôi.
Có phải chúng tôi không có quyền ăn, uống sao?
Có phải chúng tôi không có quyền đem theo người vợ tin Chúa trong các chuyến đi, như các sứ đồ khác, cũng như các em của Chúa và Sê-pha sao?
Hay chỉ có tôi và Ba-na-ba là không có quyền được miễn làm việc kiếm sống sao?
Có ai ăn lương nhà mà đi đánh giặc chăng? Có ai trồng vườn nho mà không ăn trái? Hay có ai chăn bầy súc vật mà không dùng sữa của chúng chăng?
Tôi nói vậy, có phải là theo cách người đời không? Luật pháp cũng chẳng nói như thế sao?
Vì luật Môi-se có chép: “Chớ khớp miệng con bò đang đạp lúa.” Có phải Đức Chúa Trời lo cho bò không?
Hay vì chúng ta mà Ngài nói điều đó? Đúng là vì chúng ta mà có lời đó; vì người cày phải cày với hi vọng, người đập lúa phải đập lúa với hi vọng được chia phần.
Nếu chúng tôi đã gieo những điều thiêng liêng giữa anh em, thì việc gặt được vật chất từ anh em là việc quá đáng sao?
Nếu những người khác còn có quyền ấy trên anh em, huống chi là chúng tôi? Dù vậy, chúng tôi không dùng quyền nầy; nhưng chúng tôi cam chịu mọi sự, để không gây trở ngại cho Tin Lành của Đấng Christ.
Anh em không biết rằng, ai lo việc đền thờ thì ăn của dâng trong đền thờ, còn ai lo việc bàn thờ thì có phần nơi bàn thờ sao?
Cũng vậy, Chúa có truyền rằng ai rao giảng Tin Lành thì được nuôi sống bởi Tin Lành.
Nhưng tôi không hề sử dụng quyền ấy, cũng không viết thư nầy để đòi hỏi quyền ấy; vì tôi thà chết còn hơn để cho bất cứ ai tước đoạt mất niềm tự hào nầy.
Nếu tôi rao giảng Tin Lành, tôi chẳng có cớ gì để tự hào, vì tôi bị ràng buộc phải làm như vậy; nhưng, nếu tôi không rao giảng Tin Lành thì thật khốn khó cho tôi.
Nếu tôi tự nguyện làm việc nầy thì được thưởng; còn nếu không tự nguyện, chức vụ cũng vẫn ủy thác cho tôi.
Thế thì phần thưởng của tôi là gì? Ấy là khi rao giảng Tin Lành, tôi rao giảng không công, không đòi hỏi quyền lợi nào của người rao giảng Tin Lành.
Dù rằng với mọi người, tôi là người tự do, nhưng tôi đã tự trở thành nô lệ cho mọi người để có thể chinh phục thêm nhiều người.
Với người Do Thái, tôi trở nên như một người Do Thái để chinh phục được người Do Thái. Với những người ở dưới luật pháp — dù chính tôi không ở dưới luật pháp — tôi trở nên như một người ở dưới luật pháp để có thể chinh phục những người ở dưới luật pháp.
Với những người không có luật pháp — dù đối với Đức Chúa Trời, tôi không phải không có luật pháp, vì tôi ở dưới luật pháp của Đấng Christ — tôi trở nên như một người không luật pháp để có thể chinh phục những người không có luật pháp.
Với những người yếu đuối, tôi trở nên như một người yếu đuối để có thể chinh phục những người yếu đuối. Tôi đã trở nên mọi cách cho mọi người để có thể cứu được vài người, không cứ cách nào.
Tôi làm mọi sự vì Tin Lành để có thể cùng chia sẻ phước hạnh của Tin Lành.
Anh em không biết rằng trong cuộc chạy đua ở thao trường, tất cả đều chạy nhưng chỉ có một người đoạt giải sao? Vậy, hãy chạy thế nào để anh em có thể đoạt giải.
Tất cả các vận động viên phải tự kỷ luật trong mọi sự. Họ chịu vậy để được mão miện hay hư nát. Nhưng chúng ta chịu vậy để được mão miện không hay hư nát.
Cũng vậy, tôi chạy, chẳng phải là chạy không mục đích; tôi đánh, chẳng phải là đánh vào không khí.
Nhưng tôi đãi thân thể tôi cách nghiêm khắc, bắt nó phải phục, e rằng sau khi tôi giảng dạy cho người khác, mà chính mình lại bị loại bỏ chăng.
Thưa anh em, tôi chẳng muốn anh em không biết rằng tất cả tổ phụ chúng ta đều đã được ở dưới đám mây; tất cả đều vượt qua biển;
tất cả đều được báp-têm trong đám mây và trong biển để theo Môi-se;
tất cả cùng ăn một thức ăn thiêng liêng;
tất cả cùng uống một thức uống thiêng liêng; vì họ uống nơi một tảng đá thiêng liêng đi với họ; tảng đá ấy chính là Đấng Christ.
Dù vậy, phần nhiều trong số họ không đẹp lòng Đức Chúa Trời nên đã ngã chết trong hoang mạc.
Tất cả những điều nầy đã xảy ra như một lời cảnh cáo cho chúng ta, để chúng ta không chiều theo những ham muốn xấu xa như các tổ phụ.
Cũng đừng thờ thần tượng như một số người trong họ, như lời đã chép: “Dân chúng ngồi lại ăn uống, Rồi đứng dậy nhảy múa.”
Chúng ta chớ gian dâm như một số người trong họ, để chỉ trong một ngày có hai mươi ba nghìn người gục ngã.
Cũng chớ thách thức Chúa như một số người trong họ, để rồi bị rắn hủy diệt.
Và cũng đừng cằn nhằn như một số người trong họ, để phải chết bởi thiên sứ hủy diệt.
Tất cả những điều nầy xảy ra cho họ như một bài học, và được ghi chép lại để cảnh cáo chúng ta là những người đang sống ở cuối các thời đại.
Vậy nên, ai tưởng mình đứng, hãy giữ kẻo ngã.
Những thử thách đến với anh em, chẳng có điều nào quá sức loài người. Đức Chúa Trời là Đấng thành tín, Ngài không để anh em bị thử thách quá sức mình đâu! Nhưng trong thử thách, Ngài sẽ mở đường cho ra khỏi, để anh em có thể chịu được.
Vậy, thưa anh em quý mến, hãy xa lánh việc thờ thần tượng.
Tôi nói với anh em như nói với những người khôn ngoan; anh em hãy tự suy xét điều tôi nói.
Chén phước hạnh mà chúng ta tạ ơn chẳng phải là dự phần trong huyết của Đấng Christ sao? Bánh mà chúng ta bẻ ra chẳng phải là dự phần trong thân của Đấng Christ sao?
Vì chỉ có một cái bánh, và tất cả chúng ta cùng chia sẻ cái bánh ấy, nên chúng ta dù nhiều cũng chỉ là một thân thể.
Hãy xem dân Y-sơ-ra-ên theo huyết thống: Chẳng phải những người ăn thịt sinh tế đã dự phần với bàn thờ đó sao?
Tôi nói vậy có ý gì? Của cúng thần tượng có giá trị gì, hay chính thần tượng có ra gì không?
Không ra gì cả! Những gì người ngoại đạo cúng tế là cúng tế các quỷ, chứ không phải dâng lên cho Đức Chúa Trời. Vậy, tôi không muốn anh em dự phần với các quỷ.
Anh em không thể uống chén của Chúa và cũng uống chén của các quỷ. Anh em không thể dự tiệc của Chúa và cũng dự tiệc của các quỷ.
Hay chúng ta muốn làm cho Chúa phải ghen tuông? Chúng ta mạnh hơn Ngài sao?
“Mọi sự đều được phép làm,” nhưng không phải mọi sự đều có ích. “Mọi sự đều được phép làm,” nhưng không phải mọi sự đều xây dựng.
Đừng ai tìm lợi ích riêng cho mình, mà hãy tìm lợi ích cho người khác.
Tất cả những gì bán ở hàng thịt, anh em cứ ăn, đừng vì lương tâm mà thắc mắc;
vì “quả đất và mọi vật chứa trong đó đều thuộc về Chúa.”
Nếu có người không tin Chúa mời anh em, và anh em muốn đi thì cứ ăn tất cả những gì họ dọn ra, đừng vì lương tâm mà thắc mắc.
Nhưng, nếu có ai nói với anh em rằng: “Vật nầy đã cúng” thì đừng ăn, vì người ấy đã báo tin cho anh em và vì lương tâm nữa.
Tôi không nói về lương tâm anh em, nhưng về lương tâm người ấy. Vì tại sao sự tự do của tôi lại bị lương tâm kẻ khác xét đoán?
Nếu tôi tạ ơn rồi ăn thì tại sao tôi lại bị trách cứ về bữa ăn mà tôi đã tạ ơn?
Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hoặc làm bất cứ việc gì, hãy làm tất cả vì vinh quang của Đức Chúa Trời.
Đừng gây cớ vấp phạm cho người Do Thái, hay người Hi Lạp, hay là Hội Thánh của Đức Chúa Trời.
Hãy như tôi, gắng sức làm đẹp lòng mọi người trong mọi việc, không tìm lợi riêng cho mình, nhưng cho nhiều người để họ có thể được cứu.
Hãy noi gương tôi, như chính tôi noi gương Đấng Christ vậy.
Tôi khen anh em vì đã nhớ đến tôi trong mọi sự, và trung tín duy trì các truyền thống tôi đã dạy cho anh em.
Dù vậy, tôi muốn anh em hiểu rằng: Đấng Christ là đầu của người nam, người nam là đầu của người nữ, và Đức Chúa Trời là đầu của Đấng Christ.
Bất cứ người nam nào cầu nguyện hoặc nói tiên tri mà trùm đầu lại thì làm nhục đầu mình.
Nhưng, bất cứ người nữ nào cầu nguyện hoặc nói tiên tri mà không trùm đầu thì làm nhục đầu mình — giống như người ấy bị cạo đầu vậy.
Nếu người nữ không trùm đầu thì hãy cắt tóc đi. Nhưng nếu người nữ xem việc cắt tóc hay cạo đầu là xấu hổ thì hãy trùm đầu lại!
Người nam là hình ảnh và vinh quang của Đức Chúa Trời nên không được trùm đầu; nhưng người nữ là vinh quang của người nam.
Vì người nam không được tạo dựng từ người nữ, nhưng người nữ từ người nam.
Người nam cũng không được tạo dựng vì người nữ, nhưng người nữ vì người nam.
Bởi đó, vì các thiên sứ, người nữ phải đội trên đầu dấu hiệu của thẩm quyền.
Tuy nhiên, trong Chúa thì không phải nữ độc lập với nam, hoặc nam độc lập với nữ.
Vì như người nữ được tạo dựng từ người nam, thì cũng vậy, người nam do người nữ sinh ra; và mọi sự đều ra từ Đức Chúa Trời.
Anh em hãy tự suy xét xem, việc người nữ cầu nguyện với Đức Chúa Trời mà không trùm đầu thì có thích hợp không?
Không phải chính bản tính tự nhiên dạy anh em biết rằng người nam để tóc dài thì đáng xấu hổ,
còn người nữ để tóc dài thì lại là niềm tự hào của họ sao? Vì mái tóc dài được ban cho người như một khăn trùm.
Nếu có ai muốn tranh luận thì đó không phải là thói quen của chúng tôi; các Hội Thánh của Đức Chúa Trời cũng không có thói quen ấy nữa.
Còn về những lời chỉ dạy sau đây, tôi không thể khen anh em, vì sự nhóm họp của anh em không đem lại điều tốt hơn mà còn tệ hơn.
Trước hết, tôi nghe rằng, khi nhóm lại trong Hội Thánh thì anh em có sự chia rẽ; tôi tin điều nầy có phần đúng.
Việc bè phái trong anh em thì chắc không còn nghi ngờ gì nữa, nhưng có vậy mới nhận biết rõ ai là người chân thật.
Khi anh em nhóm họp lại không phải là để dự Tiệc Thánh của Chúa nữa.
Vì lúc anh em ăn, ai nấy đều vội vã ăn bữa riêng của mình, đến nỗi người nầy thì đói, còn kẻ kia thì no say.
Anh em không có nhà riêng để ăn uống sao? Hay là anh em khinh miệt Hội Thánh của Đức Chúa Trời, và sỉ nhục những người thiếu thốn? Tôi phải nói gì với anh em đây? Có nên khen anh em trong việc nầy chăng? Không, tôi không khen đâu!
Vì tôi có nhận nơi Chúa điều tôi đã dạy cho anh em: Ấy là trong đêm Chúa là Đức Chúa Jêsus bị phản nộp, Ngài lấy bánh,
tạ ơn, rồi bẻ ra và phán rằng: “Nầy là thân thể Ta vì các con mà phó cho, hãy làm điều nầy để nhớ đến Ta.”
Cùng một cách ấy, sau khi ăn bữa tối rồi, Ngài lấy chén và phán rằng: “Chén nầy là giao ước mới trong huyết Ta; hễ khi nào các con uống, hãy làm điều nầy để nhớ Ta.”
Vậy, mỗi lần anh em ăn bánh nầy, uống chén nầy thì rao giảng sự chết của Chúa cho đến lúc Ngài đến.
Vì thế, nếu ai ăn bánh, uống chén của Chúa một cách không xứng đáng thì sẽ mắc tội với thân và huyết của Chúa.
Vậy, mỗi người phải tự xét chính mình rồi mới ăn bánh, uống chén ấy.
Vì người nào không phân biệt thân Chúa mà ăn bánh, uống chén ấy tức là ăn uống sự phán xét cho chính mình.
Vì lý do đó mà trong anh em có nhiều người đau yếu, bệnh tật và có lắm kẻ ngủ.
Nếu chúng ta tự xét mình thì sẽ không bị phán xét.
Nhưng khi Chúa phán xét, Ngài sửa phạt chúng ta để chúng ta không bị kết án chung với thế gian.
Cho nên, thưa anh em của tôi, lúc anh em họp lại để ăn chung với nhau, hãy chờ đợi nhau.
Nếu có ai đói, hãy ăn ở nhà, để việc nhóm họp của anh em không chuốc lấy sự kết án. Còn các việc khác, khi tôi đến sẽ định đoạt.
Thưa anh em, tôi không muốn anh em không biết gì cả về các ân tứ thuộc linh.
Anh em biết rằng, khi còn là người ngoại đạo, anh em đã bị các thần tượng câm dẫn đi sai lạc.
Vì vậy, tôi muốn anh em hiểu rằng, không một ai được Thánh Linh của Đức Chúa Trời hướng dẫn mà lại nói: “Đức Chúa Jêsus đáng nguyền rủa!” Nếu Đức Thánh Linh không hướng dẫn thì cũng không ai xưng “Đức Chúa Jêsus là Chúa!”
Có nhiều ân tứ khác nhau, nhưng chỉ có một Thánh Linh.
Có nhiều lãnh vực phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa.
Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Chúa Trời, Đấng làm mọi việc trong mọi người.
Sự thể hiện của Thánh Linh được ban cho mỗi người là vì lợi ích chung.
Người nầy được Thánh Linh ban cho lời nói khôn ngoan; do cùng một Thánh Linh, người khác nhận được lời nói tri thức.
Cùng một Thánh Linh ban cho người nầy đức tin; do cùng một Thánh Linh, người khác nhận được ân tứ chữa bệnh.
Người thì được làm các phép lạ, người thì được nói tiên tri, người thì được phân biệt các thần linh, người thì được nói các thứ tiếng lạ, người thì được thông dịch các thứ tiếng ấy.
Tất cả những điều nầy là công việc của cùng một Thánh Linh; Ngài ban phát ân tứ cho từng người tùy theo ý Ngài.
Vì như chỉ có một thân nhưng có nhiều chi thể; các chi thể tuy nhiều, nhưng vẫn chỉ là một thân; Đấng Christ cũng vậy.
Vì chúng ta, dù là người Do Thái hay Hi Lạp, nô lệ hay tự do, tất cả đều đã chịu báp-têm trong một Thánh Linh để trở thành một thân thể; tất cả đều được uống chung một Thánh Linh.
Vì thân không phải chỉ có một chi thể mà gồm nhiều chi thể.
Nếu chân nói: “Vì tôi không phải là tay nên tôi không thuộc về thân” thì không vì thế mà chân không thuộc về thân.
Nếu tai nói: “Vì tôi không phải là mắt nên tôi không thuộc về thân” thì không vì thế mà mắt không thuộc về thân.
Nếu toàn thân đều là mắt thì làm thế nào mà nghe? Nếu toàn thân đều là tai thì làm thế nào mà ngửi?
Nhưng bây giờ, Đức Chúa Trời đã sắp đặt các chi thể của thân, mỗi chi thể theo ý Ngài muốn.
Nếu tất cả chỉ là một chi thể thì thân ở đâu?
Như vậy, chi thể thì nhiều, nhưng thân chỉ có một.
Mắt không thể nói với tay: “Tôi không cần anh;” đầu không thể nói với chân: “Tôi không cần anh.”
Trái lại, những chi thể nào trong thân xem như yếu đuối hơn, lại là rất cần thiết.
Những chi thể nào trong thân được nghĩ là kém tôn trọng thì chúng ta càng phải tôn trọng hơn; những chi thể nào không đẹp thì chúng ta càng phải trau dồi hơn;
còn những chi thể nào đã đẹp rồi thì không cần trau dồi. Nhưng Đức Chúa Trời đã sắp đặt thân thể như vậy, để chi thể nào kém quan trọng lại được tôn trọng hơn,
hầu cho không có sự chia rẽ nào trong thân, nhưng các chi thể có cùng mối quan tâm cho nhau.
Nếu một chi thể nào bị đau thì tất cả đều cùng đau; nếu một chi thể nào được tôn trọng thì tất cả đều cùng vui mừng.
Anh em là thân của Đấng Christ, và mỗi cá nhân là một chi thể.
Đức Chúa Trời đã sắp đặt trong Hội Thánh: thứ nhất là sứ đồ, thứ nhì là nhà tiên tri, thứ ba là giáo sư, kế đến là người làm phép lạ, rồi đến người được ân tứ chữa bệnh, người giúp đỡ, người quản trị, người nói các thứ tiếng lạ.
Có phải tất cả đều là sứ đồ sao? Tất cả đều là nhà tiên tri sao? Tất cả đều là giáo sư sao? Tất cả đều làm phép lạ sao?
Tất cả đều được ân tứ chữa bệnh sao? Tất cả đều nói được các thứ tiếng lạ sao? Tất cả đều thông dịch được tiếng lạ sao?
Hãy ước ao những ân tứ cao trọng hơn. Bây giờ tôi sẽ chỉ cho anh em con đường còn tuyệt diệu hơn nữa.
Dù tôi nói được các thứ tiếng loài người và thiên sứ, nhưng không có tình yêu thương thì tôi chỉ như cồng chiêng kêu lên hay là chập chõa vang tiếng.
Dù tôi được ơn nói tiên tri và biết hết các sự mầu nhiệm cùng mọi tri thức; dù tôi có tất cả đức tin đến nỗi dời núi được, nhưng không có tình yêu thương thì tôi chẳng ra gì.
Dù tôi phân phát cả gia tài để nuôi kẻ nghèo khó, lại bỏ thân mình để chịu đốt, nhưng không có tình yêu thương thì điều đó chẳng ích gì cho tôi.
Tình yêu thương hay nhịn nhục, tình yêu thương hay nhân từ; tình yêu thương không ghen tị, không khoe mình, không kiêu ngạo,
không cư xử trái lẽ, không kiếm tư lợi, không nhạy giận, không nuôi dưỡng điều dữ,
không vui về điều bất công, nhưng vui trong sự thật.
Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, hi vọng mọi sự, chịu đựng mọi sự.
Tình yêu thương không bao giờ suy tàn. Các lời tiên tri sẽ hết, ân tứ nói tiếng lạ sẽ ngưng, sự hiểu biết sẽ chấm dứt.
Vì chúng ta hiểu biết có giới hạn, nói tiên tri cũng có giới hạn;
nhưng khi sự toàn hảo đã đến, thì sự bất toàn sẽ qua đi.
Khi còn là trẻ con, tôi nói như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con, lý luận như trẻ con; nhưng khi đã trưởng thành, tôi bỏ những điều thuộc về trẻ con.
Hiện nay chúng ta chỉ thấy qua gương một cách mập mờ; đến lúc ấy, chúng ta sẽ thấy mặt đối mặt. Hiện nay tôi biết có giới hạn; đến lúc ấy, tôi sẽ biết như Chúa đã biết tôi vậy.
Nên bây giờ còn có ba điều nầy: Đức tin, hi vọng, tình yêu thương; nhưng điều cao trọng hơn cả là tình yêu thương.
Hãy theo đuổi tình yêu thương; hãy ao ước các ân tứ thuộc linh, nhất là ân tứ nói tiên tri.
Vì người nói tiếng lạ không nói với loài người, mà nói với Đức Chúa Trời nên không ai hiểu được, bởi người ấy nói những điều mầu nhiệm trong Thánh Linh.
Còn người nói tiên tri thì nói với con người để xây dựng, khích lệ và an ủi.
Người nói tiếng lạ tự xây dựng chính mình, nhưng người nói tiên tri xây dựng Hội Thánh.
Tôi ao ước tất cả anh em đều nói tiếng lạ, nhưng lại càng ao ước anh em nói tiên tri hơn. Người nói tiên tri thì cao trọng hơn người nói tiếng lạ, trừ phi có người thông dịch, để Hội Thánh được xây dựng.
Thưa anh em, nếu tôi đến với anh em, nói bằng các thứ tiếng lạ, và nếu lời nói của tôi không có sự mặc khải nào, không có sự tri thức nào, không có lời tiên tri nào, không có sự dạy dỗ nào thì có ích gì cho anh em?
Ngay cả những nhạc cụ không hồn, như sáo hay thụ cầm, nếu không phát ra âm thanh riêng biệt, làm sao nhận ra được tiếng sáo hay thụ cầm?
Nếu kèn trỗi tiếng không rõ ràng thì ai sẽ chuẩn bị chiến đấu?
Anh em cũng vậy, nếu lưỡi không nói những điều có thể hiểu được thì làm sao người ta hiểu điều anh em nói? Vì anh em chỉ nói vu vơ.
Trong thế gian nầy có nhiều thứ tiếng, mỗi thứ tiếng đều có ý nghĩa.
Vậy, nếu tôi không hiểu ý nghĩa của tiếng ấy thì người nói tiếng ấy sẽ xem tôi là người ngoại quốc, và tôi cũng xem họ là người ngoại quốc.
Anh em cũng vậy, vì khao khát những ân tứ thuộc linh, anh em hãy tìm kiếm cho được dư dật các ân tứ đó để xây dựng Hội Thánh.
Vì thế, người nói tiếng lạ, hãy cầu nguyện để thông dịch được tiếng ấy.
Vì nếu tôi cầu nguyện bằng tiếng lạ thì tâm linh tôi cầu nguyện, nhưng tâm trí tôi không nhận được kết quả gì.
Vậy tôi phải làm gì? Tôi sẽ cầu nguyện bằng tâm linh, nhưng cũng cầu nguyện bằng tâm trí; tôi sẽ hát bằng tâm linh, nhưng cũng hát bằng tâm trí.
Bằng không, nếu anh ca ngợi bằng tâm linh thì làm thế nào những người bình thường ngồi nghe có thể nói “A-men” với lời tạ ơn của anh được, nếu họ không hiểu anh nói gì?
Dù lời tạ ơn của anh thật tốt, nhưng không xây dựng cho người khác.
Cảm tạ Đức Chúa Trời, tôi nói được các thứ tiếng lạ nhiều hơn tất cả anh em.
Tuy nhiên, trong Hội Thánh, tôi thà nói năm lời bằng tâm trí để dạy dỗ người khác, hơn là cả vạn lời bằng tiếng lạ.
Thưa anh em, về sự hiểu biết, đừng nên như trẻ con; nhưng về điều ác, hãy nên như trẻ con. Về sự hiểu biết, hãy nên như người trưởng thành.
Trong luật pháp có chép: “Chúa phán: Ta sẽ phán với dân nầy qua những người nói tiếng khác, Và môi miệng người ngoại quốc; dù vậy, chúng sẽ không chịu nghe Ta.”
Thế thì, các tiếng lạ không phải là dấu hiệu cho người tin, mà cho người không tin; nhưng lời tiên tri không phải là dấu hiệu cho người không tin, mà cho người tin.
Vậy, khi cả Hội Thánh cùng nhóm lại, tất cả đều nói tiếng lạ, mà có người bình thường và người chưa tin bước vào thì họ không nói rằng anh em điên sao?
Nhưng nếu tất cả đều nói tiên tri, mà có người không tin và người bình thường bước vào thì họ sẽ bị thuyết phục và phán xét bởi tất cả các lời tiên tri.
Những điều ẩn giấu trong lòng họ được phơi bày; họ sẽ sấp mình xuống thờ lạy Đức Chúa Trời, và tuyên bố rằng: “Đức Chúa Trời thật đang ở giữa anh em.”
Thưa anh em, phải làm như thế nào đây? Khi anh em nhóm lại, người thì có bài thánh ca, người thì có lời dạy dỗ, người thì có sự mặc khải, người thì có tiếng lạ, người thì có sự thông dịch tiếng lạ. Hãy thực hiện tất cả để xây dựng Hội Thánh.
Nếu có người nói tiếng lạ, thì chỉ nên hai hoặc ba người là tối đa. Mỗi người nói theo thứ tự, và phải có người thông dịch.
Nếu không có ai thông dịch thì người nói phải yên lặng, chỉ nói với chính mình và với Đức Chúa Trời.
Cũng chỉ nên có hai hoặc ba người nói tiên tri mà thôi, còn những người khác thì cân nhắc điều họ nói.
Nhưng nếu có ai ngồi đó nhận được sự mặc khải thì người đang nói phải yên lặng.
Vì mỗi người trong anh em có thể lần lượt nói tiên tri để ai nấy đều được học hỏi, ai nấy đều được khích lệ.
Tâm linh của các nhà tiên tri phải thuận phục các nhà tiên tri.
Vì Đức Chúa Trời không phải là Đức Chúa Trời của sự hỗn loạn, nhưng của sự bình an. Như trong tất cả Hội Thánh của các thánh đồ,
phụ nữ phải giữ yên lặng trong Hội Thánh. Họ không được phép nói, nhưng phải thuận phục như luật pháp đã dạy.
Nếu muốn tìm biết điều gì, họ nên hỏi chồng mình ở nhà; vì phụ nữ nói giữa Hội Thánh là điều đáng xấu hổ.
Có phải lời Đức Chúa Trời phát xuất từ anh em, hay chỉ đến với riêng anh em thôi sao?
Nếu ai nghĩ rằng mình là nhà tiên tri, hay có các ân tứ thuộc linh, thì người ấy cần hiểu rằng, những gì tôi viết cho anh em đây, là mệnh lệnh của Chúa.
Nếu ai xem thường điều ấy thì đừng quan tâm đến họ.
Cho nên, thưa anh em, hãy ao ước ân tứ nói tiên tri, và đừng ngăn trở việc nói các tiếng lạ.
Nhưng hãy thực hiện mọi sự một cách thích hợp và trật tự.
Thưa anh em, tôi muốn nhắc lại cho anh em Tin Lành tôi đã rao giảng và anh em đã tiếp nhận, cũng như đang đứng vững trong đó.
Nhờ Tin Lành ấy, anh em được cứu rỗi nếu anh em giữ vững điều tôi đã rao giảng; bằng không, anh em có tin cũng vô ích.
Trước hết, tôi đã truyền đạt cho anh em điều chính tôi đã nhận lãnh, ấy là Đấng Christ chịu chết vì tội lỗi chúng ta theo lời Kinh Thánh.
Ngài đã bị chôn; đến ngày thứ ba, Ngài đã sống lại theo lời Kinh Thánh;
và Ngài đã hiện ra cho Sê-pha, rồi cho nhóm mười hai sứ đồ.
Sau đó, cùng một lúc, Ngài hiện ra cho hơn năm trăm anh em; phần lớn trong số nầy hiện vẫn còn sống, nhưng có vài người đã ngủ rồi.
Ngài cũng hiện ra cho Gia-cơ, sau đó cho tất cả các sứ đồ.
Sau hết, Ngài cũng hiện ra cho tôi như cho một thai sinh non vậy.
Vì tôi là hèn mọn nhất trong số các sứ đồ, không đáng được gọi là sứ đồ, bởi tôi đã bắt bớ Hội Thánh của Đức Chúa Trời.
Nhưng nhờ ân điển của Đức Chúa Trời mà tôi được như ngày nay, và ân điển của Ngài ban cho tôi không phải là vô ích. Trái lại, tôi làm việc nhiều hơn tất cả những người khác; nhưng nào phải tôi mà là ân điển của Đức Chúa Trời ở với tôi.
Vậy, dù tôi hay các sứ đồ thì đó là điều chúng tôi rao giảng và là điều anh em đã tin.
Như vậy, nếu anh em được nghe rao giảng Đấng Christ đã sống lại từ cõi chết, thì sao trong anh em có người lại nói rằng những người chết không sống lại?
Nếu người chết không sống lại thì Đấng Christ cũng đã không sống lại.
Và nếu Đấng Christ đã không sống lại thì sự rao giảng của chúng tôi là vô ích, và đức tin của anh em cũng vô ích.
Nếu người chết thật sự không sống lại thì chúng tôi bị xem như làm chứng dối về Đức Chúa Trời; vì chúng tôi đã làm chứng rằng Đức Chúa Trời đã khiến Đấng Christ sống lại, trong khi Ngài không khiến Đấng Christ sống lại.
Vì nếu người chết không sống lại thì Đấng Christ cũng không sống lại.
Và nếu Đấng Christ không sống lại thì đức tin của anh em cũng vô ích, và anh em vẫn còn ở trong tội lỗi mình.
Như vậy, những người ngủ trong Đấng Christ phải bị hư mất.
Nếu hi vọng của chúng ta trong Đấng Christ chỉ hướng về cuộc sống nầy mà thôi, thì trong tất cả mọi người, chúng ta là những người thảm hại hơn hết.
Nhưng bây giờ, Đấng Christ đã từ cõi chết sống lại, Ngài là trái đầu mùa của những kẻ ngủ.
Vì như do một người mà có sự chết thì cũng nhờ một người mà có sự sống lại từ cõi chết.
Như trong A-đam, mọi người đều chết; cũng vậy, trong Đấng Christ, mọi người đều sẽ sống lại.
Nhưng mỗi người theo thứ tự riêng của mình: Đấng Christ là trái đầu mùa; đến ngày Đấng Christ hiện ra, những người thuộc về Ngài sẽ sống lại.
Rồi sự cuối cùng sẽ đến, là lúc Ngài giao vương quốc lại cho Đức Chúa Trời là Cha, sau khi Ngài đã hủy diệt hết mọi thế lực cai trị, mọi thẩm quyền, mọi sức mạnh.
Vì Ngài phải cầm quyền, cho đến chừng Đức Chúa Trời “đặt mọi kẻ thù dưới chân Ngài.”
Kẻ thù cuối cùng bị hủy diệt là sự chết.
Vì Đức Chúa Trời đã đặt “muôn vật quy phục dưới chân Đấng Christ.” Nhưng khi nói “muôn vật quy phục dưới chân Đấng Christ” thì rõ ràng không bao gồm Đấng đặt muôn vật dưới chân Ngài.
Khi muôn vật đã quy phục Ngài thì bấy giờ chính Ngài là Con cũng quy phục Đấng đã làm cho muôn vật phục mình, để Đức Chúa Trời thực hiện mọi sự trong mọi người.
Nếu chẳng vậy thì những người nhận báp-têm thay cho người chết mong đợi gì? Nếu người chết thật không sống lại thì sao người ta lại nhận báp-têm thay cho họ?
Tại sao chính chúng tôi giờ nào cũng phải đối diện với hiểm nguy?
Thưa anh em, mỗi ngày tôi phải đối diện với sự chết. Tôi nói như vậy vì niềm tự hào của tôi về anh em trong Đấng Christ Jêsus, Chúa chúng ta.
Nói theo cách loài người, thử hỏi tôi được lợi gì nếu tôi chiến đấu với các thú dữ tại Ê-phê-sô? Nếu người chết không sống lại, thì chúng ta “Hãy ăn, hãy uống đi, Vì ngày mai chúng ta sẽ chết!”
Anh em chớ mắc lừa: “Bạn bè xấu làm hư tính nết tốt.”
Hãy hồi tâm và đừng phạm tội nữa, vì một số người trong anh em không biết Đức Chúa Trời. Tôi nói như vậy để anh em xấu hổ.
Nhưng có người sẽ nói: “Người chết sống lại cách nào? Họ lấy thân thể nào mà trở lại?”
Người khờ dại kia ơi! Vật gì anh gieo, nếu trước hết không chết đi, thì không sống lại được.
Còn vật anh gieo, không phải chính là hình thể sẽ mọc lên, nhưng đơn giản chỉ là một cái hạt, như hạt lúa mì hay vài thứ hạt khác.
Đức Chúa Trời ban cho hạt giống hình thể tùy ý Ngài muốn, mỗi loại hạt giống một hình thể riêng.
Không phải mọi thể xác đều giống nhau; thể xác của loài người khác, thể xác của loài thú khác, của loài chim khác, của loài cá khác.
Cũng có những hình thể thuộc về trời và hình thể thuộc về đất; nhưng vinh quang của những hình thể thuộc về trời khác với vinh quang của những hình thể thuộc về đất.
Vinh quang của mặt trời khác; vinh quang của mặt trăng khác; vinh quang của các vì sao khác; vinh quang của vì sao nầy với vinh quang của vì sao kia cũng khác.
Sự sống lại của những người chết cũng vậy. Thân thể gieo xuống là hư nát, nhưng sống lại là bất diệt;
gieo xuống là nhục, nhưng sống lại là vinh; gieo xuống là yếu đuối, nhưng sống lại là mạnh mẽ;
gieo xuống là thân thể vật chất, nhưng sống lại là thân thể thuộc linh. Nếu đã có thân thể vật chất thì cũng có thân thể thuộc linh.
Như có lời chép: “Người đầu tiên là A-đam đã trở nên một hữu thể sống, nhưng A-đam sau cùng là thần linh ban sự sống.”
Không phải con người thuộc linh đến trước mà là con người tự nhiên; sau đó là con người thuộc linh.
Người đầu tiên từ đất mà ra thì thuộc về đất; người thứ hai từ trời mà đến.
Những người thuộc về đất thì giống như người ra từ đất; những người thuộc về trời thì giống như Đấng đến từ trời.
Như chúng ta đã mang hình ảnh của người ra từ đất thì chúng ta cũng mang hình ảnh của Đấng đến từ trời.
Thưa anh em, tôi muốn nói rằng, thịt và máu không thể hưởng vương quốc Đức Chúa Trời được; sự hay hư nát không thể hưởng sự không hay hư nát được.
Nầy, tôi tỏ cho anh em một sự mầu nhiệm: Chúng ta sẽ không ngủ hết, nhưng tất cả sẽ được biến hóa
trong khoảnh khắc, trong nháy mắt, vào lúc tiếng kèn cuối cùng. Vì kèn sẽ thổi, người chết sẽ sống lại, không còn hư nát nữa, và chúng ta sẽ được biến hóa.
Vì bản chất hay hư nát nầy phải mặc lấy bản chất không hay hư nát; bản chất hay chết nầy phải mặc lấy bản chất không hay chết.
Khi bản chất hay hư nát mặc lấy bản chất không hay hư nát, bản chất hay chết mặc lấy bản chất không hay chết thì lúc ấy sẽ ứng nghiệm lời đã chép: “Sự chết bị nuốt mất trong sự đắc thắng.”
“Hỡi sự chết, sự đắc thắng của mầy ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mầy ở đâu?”
Cái nọc của sự chết là tội lỗi, sức mạnh của tội lỗi là luật pháp.
Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta sự đắc thắng nhờ Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ.
Vậy, thưa anh em quý mến của tôi, hãy vững vàng, chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu.
Về việc quyên góp tài chính cho các thánh đồ thì anh em hãy làm theo cách tôi đã chỉ dẫn cho các Hội Thánh miền Ga-la-ti.
Vào mỗi ngày đầu tuần, mỗi người trong anh em, tùy khả năng của mình, hãy dành ra một phần; đừng đợi khi tôi đến rồi mới quyên góp.
Khi đến, tôi sẽ phái những người mà anh em tín nhiệm mang thư của tôi và tặng phẩm của anh em đến thành Giê-ru-sa-lem.
Nếu thấy cần tôi phải đi, thì những người ấy sẽ cùng đi với tôi.
Tôi sẽ đến thăm anh em sau khi đi qua Ma-xê-đô-ni-a, vì tôi định qua Ma-xê-đô-ni-a.
Tôi sẽ lưu lại với anh em, có thể trọn cả mùa đông, để anh em đưa tôi đi đến nơi nào tôi muốn đi.
Nếu Chúa cho phép thì lần nầy tôi không chỉ muốn gặp anh em trên đường đi mà thôi, nhưng hi vọng sẽ lưu lại với anh em ít lâu.
Nhưng tôi sẽ lưu lại Ê-phê-sô cho đến lễ Ngũ Tuần,
vì một cánh cửa rộng lớn và hứa hẹn đã mở ra cho tôi, dù ở đó vẫn còn nhiều sự chống đối.
Nếu Ti-mô-thê có đến, hãy cố gắng giúp cho anh ấy cảm thấy thoải mái giữa anh em, vì anh ấy cũng làm việc cho Chúa như chính tôi vậy.
Vì vậy, đừng ai xem thường anh ấy. Hãy giúp anh ấy đi bình an, để anh ấy trở về với tôi; vì tôi đang trông đợi anh ấy cùng với các anh em khác.
Còn về anh em chúng ta là A-pô-lô, tôi đã cố thuyết phục anh ấy đi với các anh em khác đến thăm anh em, nhưng hiện nay anh ấy chưa muốn đi. Tuy nhiên, lúc có dịp tiện anh ấy sẽ đi.
Anh em hãy tỉnh thức, hãy đứng vững trong đức tin, hãy can đảm và mạnh mẽ.
Mọi điều anh em làm, hãy làm trong tình yêu thương.
Thưa anh em, tôi còn một lời dặn nữa, anh em biết gia đình Sê-pha-na là những trái đầu mùa tại vùng A-chai; họ đã hết lòng phục vụ các thánh đồ.
Tôi khuyên anh em hãy thuận phục những người như vậy, và cả những người đồng cam cộng khổ với họ.
Tôi rất vui vì Sê-pha-na, Phốt-tu-na và A-chai-cơ đến đây; họ đã bù lại sự thiếu vắng của anh em;
vì những người ấy đã làm tươi tỉnh tinh thần của tôi cũng như của anh em. Hãy biết quý trọng những người như vậy.
Các Hội Thánh tại vùng A-si-a chào thăm anh em, A-qui-la, Pê-rít-sin và Hội Thánh nhóm lại trong nhà họ gửi lời thăm anh em trong Chúa.
Tất cả anh em ở đây chào thăm anh em. Hãy lấy cái hôn thánh mà chào nhau.
Chính tôi, Phao-lô, tự tay viết lời chào thăm anh em.
Nếu có ai không kính yêu Chúa thì phải bị a-na-them! Ma-ra-na-tha!
Cầu xin ân điển của Chúa là Đức Chúa Jêsus ở với anh em!
Tình thương của tôi ở với tất cả anh em trong Đấng Christ Jêsus.
Phao-lô, bởi ý muốn Đức Chúa Trời được làm sứ đồ của Đấng Christ Jêsus, và Ti-mô-thê anh em chúng ta, kính gửi Hội Thánh của Đức Chúa Trời ở Cô-rinh-tô, cùng với tất cả thánh đồ ở khắp vùng A-chai.
Cầu xin Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ ban ân điển và bình an cho anh em.
Chúc tạ Đức Chúa Trời, Cha của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ, là Cha nhân từ và Đức Chúa Trời của mọi niềm an ủi.
Ngài an ủi chúng tôi trong mọi hoạn nạn, để chúng tôi có thể dùng chính sự an ủi mà Đức Chúa Trời đã an ủi chúng tôi để an ủi những người khác trong bất cứ hoạn nạn nào họ gặp!
Vì như sự đau đớn của Đấng Christ tràn đầy trong chúng tôi thể nào, thì nhờ Đấng Christ mà sự an ủi của chúng tôi cũng tràn đầy thể ấy.
Nếu chúng tôi chịu hoạn nạn, ấy là để anh em được an ủi và được cứu rỗi; hoặc nếu chúng tôi được an ủi, ấy là để anh em được an ủi, là sự an ủi mà anh em kinh nghiệm được khi nhẫn nhục chịu đựng những đau đớn mà chúng tôi đã chịu.
Niềm hi vọng của chúng tôi nơi anh em thật vững chắc, vì biết rằng khi anh em dự phần trong sự đau đớn thì cũng sẽ được dự phần trong sự an ủi.
Thưa anh em, tôi không muốn anh em không biết những hoạn nạn mà chúng tôi đã trải qua tại A-si-a. Chúng tôi bị đè nén quá mức, quá sức chịu đựng, đến nỗi không còn hi vọng sống.
Chúng tôi cảm thấy như mình đã phải nhận án tử hình; nhưng điều nầy đã khiến chúng tôi không còn nhờ cậy vào chính mình nữa, mà tin cậy nơi Đức Chúa Trời, Đấng khiến kẻ chết sống lại.
Chính Ngài đã giải cứu chúng tôi khỏi cái chết khủng khiếp như thế; Ngài đang giải cứu chúng tôi, và chúng tôi hi vọng Ngài sẽ tiếp tục giải cứu chúng tôi.
Anh em cũng hãy hỗ trợ chúng tôi bằng lời cầu nguyện, để nhờ lời cầu nguyện của nhiều người mà chúng tôi nhận được ơn; và qua đó, nhiều người sẽ vì chúng tôi mà dâng lời cảm tạ.
Điều làm cho chúng tôi hãnh diện, ấy là lương tâm chúng tôi làm chứng rằng chúng tôi đã lấy sự đơn thành và chân thật từ Đức Chúa Trời mà cư xử trong thế gian nầy, đặc biệt đối với anh em. Chúng tôi không dựa vào sự khôn ngoan của xác thịt, nhưng nương nhờ ân điển của Đức Chúa Trời.
Vì chúng tôi không viết cho anh em điều gì khác hơn những điều anh em có thể đọc và hiểu. Tôi hi vọng rằng anh em sẽ hiểu thấu đáo.
Như anh em đã hiểu chúng tôi phần nào: Chúng tôi là niềm tự hào của anh em, cũng như anh em là niềm tự hào của chúng tôi trong ngày của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus.
Với sự tin tưởng đó, tôi định đến thăm anh em trước, để anh em nhận được phước hạnh gấp đôi.
Tôi định đến thăm anh em trên đường đến Ma-xê-đô-ni-a; rồi từ Ma-xê-đô-ni-a trở lại nơi anh em, và nhờ anh em đưa tôi đến Giu-đê.
Có phải tôi nhẹ dạ khi dự tính như vậy không? Hay là tôi đã quyết định theo xác thịt, đến nỗi lúc thì nói “Có” lúc thì nói “Không” chăng?
Thật, như Đức Chúa Trời là thành tín, lời chúng tôi nói với anh em không phải lúc thì “Có” lúc thì “Không” đâu.
Vì Đức Chúa Jêsus Christ, Con Đức Chúa Trời, Đấng mà chúng tôi là Sin-vanh, Ti-mô-thê và tôi đã rao giảng giữa anh em, không phải lúc thì “Có” lúc thì “Không” đâu, nhưng trong Ngài thì luôn luôn “Có”.
Vì trong Ngài, tất cả mọi lời hứa của Đức Chúa Trời đều là “Có”. Do đó, cũng bởi Ngài mà chúng ta đều nói “A-men” để tôn vinh Đức Chúa Trời.
Chính Đức Chúa Trời, Đấng đã làm cho cả chúng tôi và anh em vững vàng trong Đấng Christ, đã xức dầu cho chúng tôi.
Ngài cũng đã đóng ấn Ngài trên chúng ta, và ban Thánh Linh của Ngài vào lòng chúng ta để làm bảo chứng.
Tôi cầu xin Đức Chúa Trời làm chứng cho linh hồn tôi rằng, chính vì nể anh em nên tôi chưa đến Cô-rinh-tô.
Không phải chúng tôi muốn khống chế đức tin anh em, nhưng chúng tôi muốn cùng xây dựng niềm vui cho anh em, vì anh em đã đứng vững trong đức tin.
Vậy, tôi quyết định không trở lại thăm để làm anh em đau buồn.
Vì nếu tôi làm cho anh em đau buồn, thì ai là người làm cho tôi vui, nếu không phải là những người tôi đã làm đau buồn?
Tôi đã viết cho anh em như thế, để khi đến thăm, tôi sẽ không đau buồn bởi chính những người đáng ra phải làm cho tôi vui. Vì tôi tin tưởng rằng tất cả anh em đều lấy niềm vui của tôi làm niềm vui của anh em.
Khi viết cho anh em, lòng tôi đau đớn, quặn thắt và nước mắt dầm dề; nào có phải để làm cho anh em đau buồn, nhưng để anh em biết rằng tình yêu của tôi đối với anh em sâu đậm thế nào.
Nếu người nào làm cho đau buồn, người ấy không chỉ làm đau buồn cho tôi, mà trong một giới hạn nào đó — không quá lời đâu — đã làm đau buồn cho tất cả anh em.
Người ấy đã bị đa số anh em trách phạt như vậy là đủ rồi.
Nhưng bây giờ, anh em nên tha thứ và an ủi người ấy thì hơn, để người ấy không bị chìm ngập trong sự đau buồn quá mức.
Vậy, tôi nài xin anh em hãy tỏ lòng yêu thương đối với người ấy.
Sở dĩ tôi viết cho anh em, là để thử xem anh em có vâng lời trong mọi việc không.
Nhưng anh em tha thứ cho ai thì tôi cũng tha thứ. Còn nếu tôi tha thứ điều gì thì cũng vì anh em mà tha thứ ở trước mặt Đấng Christ,
để Sa-tan không lợi dụng chúng ta được, vì chúng ta không lạ gì các mưu đồ của nó.
Khi tôi đến thành Trô-ách để rao giảng Tin Lành của Đấng Christ, dù Chúa đã mở cửa cho tôi tại đó,
nhưng tôi chẳng an tâm vì không gặp được Tít, người anh em của tôi. Vậy, tôi đã từ giã những người ở đó để qua Ma-xê-đô-ni-a.
Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời, là Đấng luôn dẫn đầu chúng tôi trong cuộc diễu hành chiến thắng trong Đấng Christ; và qua chúng tôi, Ngài làm cho hương thơm về sự hiểu biết Ngài lan tỏa khắp nơi.
Vì chúng tôi là hương thơm của Đấng Christ dâng lên Đức Chúa Trời, giữa những người được cứu rỗi và những kẻ bị hư mất.
Đối với những người bị hư mất, chúng tôi là mùi sự chết, dẫn đến sự chết; đối với những người được cứu rỗi, chúng tôi là mùi sự sống, dẫn đến sự sống. Ai là người đủ khả năng làm những việc nầy?
Vì, chúng tôi không buôn bán lời Đức Chúa Trời như nhiều người khác. Nhưng là người được Đức Chúa Trời sai phái, chúng tôi rao giảng một cách thành thật trong Đấng Christ, trước mặt Đức Chúa Trời.
Có phải chúng tôi lại bắt đầu tự đề cao mình không? Hay như một số người khác, chúng tôi cần có thư giới thiệu với anh em, hoặc thư của anh em giới thiệu chúng tôi chăng?
Chính anh em là thư giới thiệu của chúng tôi, được viết trong lòng chúng tôi, được mọi người biết và đọc.
Thật rõ ràng anh em là bức thư của Đấng Christ, được viết bởi chức vụ của chúng tôi, không phải viết bằng mực mà bằng Thánh Linh của Đức Chúa Trời hằng sống; không phải viết trên những bảng đá mà trên những bảng lòng của con người.
Nhờ Đấng Christ, chúng tôi tin chắc như vậy đối với Đức Chúa Trời.
Không phải chúng tôi có tài năng để nghĩ rằng mình có thể làm được gì, nhưng tài năng của chúng tôi đến từ Đức Chúa Trời.
Chính Ngài đã ban cho chúng tôi khả năng phục vụ giao ước mới, không phải giao ước bằng chữ viết, mà là giao ước trong Thánh Linh, vì văn tự đem lại sự chết, nhưng Thánh Linh ban cho sự sống.
Vì, nếu chức vụ đem đến sự chết, được khắc chữ trên những bảng đá mà còn đến trong vinh quang, khiến con dân Y-sơ-ra-ên không thể nhìn mặt Môi-se được, vì ánh hào quang trên mặt ông, dù là hào quang chóng qua,
thì chức vụ của Thánh Linh lại không đến trong vinh quang bội phần hơn sao?
Vì nếu chức vụ đem đến sự kết án mà còn được vinh quang, thì chức vụ đem đến sự công chính lại càng vinh quang hơn dường nào!
Thật vậy, trong trường hợp nầy, điều đã từng được vinh quang sẽ không còn vinh quang gì nữa trước sự vinh quang vượt trội nầy.
Vì nếu điều chóng qua còn có được vinh quang thì điều trường tồn lại càng được vinh quang hơn dường nào!
Vì có niềm hi vọng như vậy, nên chúng tôi rất dạn dĩ,
không giống như Môi-se, lấy màn che mặt mình để con dân Y-sơ-ra-ên không thấy sự kết thúc của hào quang chóng tàn.
Nhưng lòng họ vẫn cứng cỏi, vì cho đến ngày nay, khi họ đọc Cựu Ước, bức màn ấy vẫn chưa cất khỏi họ; vì chỉ trong Đấng Christ, bức màn ấy mới được cất bỏ.
Thật vậy, cho đến ngày nay, mỗi khi nghe đọc sách Môi-se thì bức màn lại che phủ lòng họ.
Nhưng khi một người trở lại với Chúa, thì màn ấy được cất đi.
Chúa là Thánh Linh, nơi nào có Thánh Linh của Chúa, nơi đó có tự do.
Tất cả chúng ta đều để mặt trần chiêm ngưỡng vinh quang Chúa, được biến đổi trở nên giống như hình ảnh Ngài, từ vinh quang đến vinh quang; vì điều nầy đến từ Chúa là Thánh Linh.
Thế thì, bởi sự thương xót của Đức Chúa Trời, chúng tôi nhận được chức vụ nầy, nên chúng tôi không nản lòng.
Chúng tôi khước từ những việc làm mờ ám và đáng xấu hổ; chúng tôi không dùng sự xảo quyệt hoặc giả mạo lời Đức Chúa Trời. Trái lại, khi thẳng thắn tỏ bày chân lý, chúng tôi để lương tâm của mọi người nhận định về chúng tôi trước mặt Đức Chúa Trời.
Nếu Tin Lành của chúng tôi có bị che khuất thì chỉ che khuất đối với những người bị hư mất.
Thần của đời nầy làm mù lòa tâm trí của những người vô tín, để họ không thấy ánh sáng Tin Lành vinh quang của Đấng Christ, là hình ảnh của Đức Chúa Trời.
Vì chúng tôi không rao giảng chính mình, mà rao giảng Đức Chúa Jêsus Christ là Chúa; và bản thân chúng tôi là đầy tớ của anh em vì Đức Chúa Jêsus.
Bởi Đức Chúa Trời là Đấng phán rằng: “Ánh sáng phải chiếu ra từ bóng tối,” đã soi sáng lòng chúng tôi, ban ánh sáng để hiểu biết vinh quang của Đức Chúa Trời trên gương mặt Đức Chúa Jêsus Christ.
Nhưng chúng tôi đựng báu vật nầy trong những bình đất, để bày tỏ rằng quyền năng tối thượng nầy đến từ Đức Chúa Trời, chứ không phải từ chúng tôi.
Chúng tôi bị chèn ép mọi cách, nhưng không bị nghiền nát; bị bối rối, nhưng không tuyệt vọng;
bị bắt bớ, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt.
Chúng tôi luôn mang sự chết của Đức Chúa Jêsus trong thân thể mình, để sự sống của Đức Chúa Jêsus cũng được biểu lộ trong thân thể chúng tôi.
Bởi trong khi sống, chúng tôi thường bị nộp cho sự chết vì cớ Đức Chúa Jêsus, để cho sự sống của Đức Chúa Jêsus được biểu lộ trong thân thể hay chết của chúng tôi.
Như vậy, sự chết hành động trong chúng tôi, còn sự sống thì hành động trong anh em.
Bởi có cùng một lòng tin như lời đã chép: “Tôi đã tin, nên tôi nói,” cũng vậy, chúng tôi tin, nên mới nói.
Vì chúng tôi biết rằng Đấng đã khiến Chúa là Đức Chúa Jêsus sống lại, cũng sẽ khiến chúng tôi sống lại với Đức Chúa Jêsus, và đem chúng tôi cùng với anh em vào trong sự hiện diện của Ngài.
Tất cả những điều nầy xảy đến là vì anh em, để ân điển càng đến với nhiều người hơn và càng có nhiều người dâng lời cảm tạ hơn, để đem lại vinh quang cho Đức Chúa Trời.
Vậy nên, chúng tôi không nản lòng, dù con người bên ngoài bị suy mòn dần nhưng con người bên trong ngày càng đổi mới hơn.
Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sẽ đem lại cho chúng ta vinh quang cao trọng và vĩnh cửu,
bởi chúng ta không chú tâm đến những điều thấy được, nhưng chú tâm đến những điều không thấy được. Vì những điều thấy được chỉ là tạm thời, còn những điều không thấy được là vĩnh cửu.
Vì chúng ta biết rằng nếu nhà tạm ở dưới đất của chúng ta bị phá hủy thì chúng ta có nhà vĩnh cửu ở trên trời, bởi Đức Chúa Trời xây dựng chứ không bởi tay con người.
Thật vậy, chúng ta thở than trong nhà tạm nầy, và tha thiết ước mong được mặc lấy nhà của chúng ta ở trên trời.
Vì được mặc nhà ấy vào, chúng ta sẽ không bị trần trụi.
Thật vậy, khi còn ở trong nhà tạm nầy, chúng ta thở than dưới những gánh nặng, không phải chúng ta muốn lột bỏ, nhưng muốn được mặc thêm vào, để cho những gì hay chết được nuốt mất bởi sự sống.
Đức Chúa Trời là Đấng đã chuẩn bị chúng ta cho điều nầy, và Ngài đã ban Thánh Linh làm bảo chứng cho chúng ta.
Vì vậy, chúng ta phải luôn mạnh dạn và biết rằng khi còn ở trong thân thể nầy, chúng ta cách xa Chúa,
vì chúng ta bước đi bằng đức tin, chứ không bởi mắt thấy.
Vậy, chúng ta luôn mạnh dạn và mong muốn rời bỏ thân thể nầy để được ở với Chúa thì hơn.
Cho nên, dù ở trong thân thể nầy, dù ra khỏi, chúng ta cũng làm hết sức để được đẹp lòng Chúa.
Vì tất cả chúng ta đều phải trình diện trước tòa án Đấng Christ để mỗi người nhận lãnh tùy theo điều thiện hoặc ác mình đã làm lúc còn trong thân xác.
Bởi vậy, do lòng kính sợ Chúa, chúng tôi cố thuyết phục những người khác. Đức Chúa Trời biết rõ chúng tôi, và tôi hi vọng lương tâm anh em cũng biết rõ chúng tôi.
Chúng tôi không tự đề cao mình với anh em một lần nữa, nhưng muốn dành cho anh em một cơ hội tự hào về chúng tôi, để anh em có thể đối đáp lại những người chỉ tự hào về vẻ bề ngoài, chứ không phải trong tâm hồn.
Vì nếu chúng tôi cuồng nhiệt, ấy là vì Đức Chúa Trời; nếu chúng tôi có điềm tĩnh, ấy là vì anh em.
Vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng tôi, và chúng tôi nghĩ rằng nếu một người đã chết vì mọi người, thì mọi người đều đã chết.
Và vì Ngài đã chết thay cho mọi người, để những người đang sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình.
Vì thế, từ nay chúng tôi không đánh giá một ai theo cách loài người nữa, dù chúng tôi đã từng đánh giá Đấng Christ theo cách loài người, nhưng bây giờ không còn đánh giá Ngài theo cách ấy đâu.
Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, người ấy là tạo vật mới, những gì cũ đã qua đi, nầy, mọi sự đều trở nên mới.
Mọi điều đó đến từ Đức Chúa Trời, Đấng đã cho chúng ta được hòa giải với Ngài qua Đấng Christ, và giao cho chúng tôi chức vụ hòa giải.
Ấy là, trong Đấng Christ, Đức Chúa Trời đã cho thế gian được hòa giải với Ngài, không kể tội lỗi cho loài người, và ủy thác cho chúng tôi sứ điệp hòa giải.
Vậy, chúng tôi là đại sứ của Đấng Christ, Đức Chúa Trời dùng chúng tôi để khuyên mời. Chúng tôi nhân danh Đấng Christ nài xin anh em hãy làm hòa với Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng không hề biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, để trong Đấng ấy chúng ta được trở nên công chính trước mặt Đức Chúa Trời.
Vì cùng làm việc với Đức Chúa Trời, chúng tôi nài xin anh em đừng nhận ân điển của Ngài một cách vô ích.
Vì Ngài phán rằng: “Ta đã nhậm lời ngươi trong thì thuận tiện, Ta đã phù hộ ngươi trong ngày cứu rỗi.” Kìa, hiện nay là thì thuận tiện; kìa, hiện nay là ngày cứu rỗi!
Chúng tôi không làm cớ vấp phạm cho ai, để chức vụ mình không bị chỉ trích.
Nhưng trong mọi sự, chúng tôi chứng tỏ mình là đầy tớ của Đức Chúa Trời: rất mực kiên trì trong hoạn nạn, gian khổ, tai ương,
đòn vọt, tù đày, loạn lạc, nhọc nhằn, mất ngủ, nhịn đói;
trong sự thanh sạch, tri thức, nhẫn nhục, nhân từ, trong Đức Thánh Linh, trong tình yêu thương chân thành,
trong lời nói chân thật, và trong quyền năng của Đức Chúa Trời; cầm vũ khí công chính trong cả tay phải lẫn tay trái;
dù vinh hay nhục, dù mang tiếng xấu hay được tiếng tốt. Chúng tôi bị đối xử như những kẻ lừa đảo, nhưng lại là người chân thật;
bị xem như những kẻ xa lạ, nhưng lại được mọi người biết đến; bị xem như gần chết, nhưng thật chúng tôi vẫn sống; xem như bị hình phạt, nhưng không bị giết chết;
xem như buồn bã, nhưng luôn vui mừng; xem như nghèo thiếu, nhưng lại làm cho nhiều người giàu có; xem như không có gì, nhưng lại có tất cả.
Thưa anh em tại Cô-rinh-tô, chúng tôi thật lòng nói với anh em lòng chúng tôi rộng mở.
Chúng tôi không hẹp hòi đối với anh em, nhưng chính lòng anh em hẹp hòi.
Hãy đối xử với chúng tôi như chúng tôi đối xử với anh em — tôi nói với anh em như nói với con cái mình — anh em cũng hãy mở rộng lòng mình!
Chớ mang ách chung với những kẻ chẳng tin. Vì công chính và gian ác có kết hợp nhau được chăng? Ánh sáng và bóng tối có dung hòa nhau được chăng?
Đấng Christ và Bê-li-an có thể hòa hợp được chăng? Hay người tin có phần gì chung với người không tin chăng?
Có thể nào hòa hợp đền thờ của Đức Chúa Trời với các thần tượng không? Vì chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống, như chính Đức Chúa Trời đã phán: “Ta sẽ sống trong họ và đi lại giữa họ; Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, Và họ sẽ làm dân Ta.”
Vì vậy, Chúa phán: “Hãy ra khỏi chúng nó, Hãy phân rẽ khỏi chúng nó, Đừng đá động đến đồ ô uế, Thì Ta sẽ tiếp nhận các ngươi.
Ta sẽ làm Cha các ngươi, Các ngươi sẽ làm con trai, con gái Ta, Chúa Toàn Năng phán vậy.”
Thưa anh em yêu dấu, vì có những lời hứa nầy, chúng ta hãy thanh tẩy chính mình khỏi mọi vết nhơ của thể xác và tâm linh, cũng hãy làm cho sự thánh hóa được trọn vẹn trong niềm kính sợ Đức Chúa Trời.
Hãy dành cho chúng tôi một chỗ trong lòng anh em. Chúng tôi đã không xử bất công với ai, không làm thiệt hại ai, không lợi dụng ai.
Tôi không nói điều nầy để lên án anh em, vì trước đây tôi đã nói rằng anh em luôn ở trong lòng tôi, cùng chết cùng sống với nhau.
Tôi rất tin tưởng anh em và rất tự hào về anh em. Tôi được tràn ngập niềm an ủi và chan chứa niềm vui giữa mọi hoạn nạn.
Vì khi đến Ma-xê-đô-ni-a, thể xác chúng tôi chẳng được an nghỉ chút nào, khốn khó vây quanh chúng tôi — tranh chiến bên ngoài, sợ hãi bên trong.
Nhưng Đức Chúa Trời, Đấng an ủi kẻ ngã lòng, đã an ủi tôi khi sai Tít đến;
không chỉ bởi việc Tít đến mà thôi, nhưng còn bởi sự an ủi mà anh ấy đã nhận từ nơi anh em nữa. Anh ấy đã nói với chúng tôi về sự mong đợi, nỗi lo buồn, và lòng nhiệt thành của anh em dành cho tôi, khiến tôi càng vui mừng hơn nữa.
Nếu bức thư của tôi có làm cho anh em đau buồn thì tôi cũng không hối tiếc. Mà nếu trước đó tôi có hối tiếc — vì tôi thấy bức thư ấy đã làm cho anh em đau buồn, dù chỉ trong ít lâu —
thì bây giờ tôi lại vui mừng. Tôi vui không phải vì anh em đã đau buồn, mà vì sự đau buồn của anh em đã đem lại sự ăn năn. Thật, anh em đã đau buồn theo ý Đức Chúa Trời; như thế, chúng tôi không gây thiệt hại gì cho anh em cả.
Vì sự đau buồn theo ý Đức Chúa Trời sinh ra sự ăn năn để được cứu rỗi; điều nầy không có gì phải hối tiếc; nhưng sự đau buồn theo thế gian thì dẫn đến sự chết.
Vậy, anh em hãy xem, sự đau buồn theo ý Đức Chúa Trời đã sinh ra trong anh em lòng nhiệt thành như thế nào! Không những thế mà cả sự cố gắng thanh minh, phẫn nộ, sợ sệt, mong đợi, sốt sắng, sửa phạt nữa! Anh em đã chứng tỏ cho mọi người rằng mình không có lỗi trong việc đó.
Thật vậy, nếu tôi đã viết thư cho anh em, đó không phải vì kẻ làm sai trái, cũng không phải vì người bị đối xử sai trái, nhưng để lòng nhiệt thành của anh em đối với chúng tôi được bày tỏ cho anh em trước mặt Đức Chúa Trời.
Đó là điều an ủi chúng tôi. Ngoài niềm an ủi đó, chúng tôi còn được vui mừng hơn nữa bởi niềm vui của Tít, vì tất cả anh em đã làm cho tâm trí anh ấy được thanh thản.
Nếu tôi có đôi chút tự hào về anh em với Tít thì tôi cũng không xấu hổ, vì như những gì chúng tôi đã nói với anh em là chân thật, sự tự hào của chúng tôi trước mặt Tít cũng được chứng tỏ là chân thật.
Và tình yêu thương của Tít đối với anh em càng thắm thiết hơn, khi anh ấy nhớ đến sự vâng lời của tất cả anh em cùng với sự sợ sệt, run rẩy khi anh em đón tiếp anh ấy.
Tôi vui mừng vì có thể hoàn toàn tin cậy anh em.
Thưa anh em, tôi muốn anh em biết ân điển của Đức Chúa Trời đã ban cho các Hội Thánh Ma-xê-đô-ni-a.
Họ đã trải qua nhiều hoạn nạn nhưng đầy sự vui mừng. Trong thiếu thốn ngặt nghèo thì lòng rộng rãi của họ lại càng dư dật.
Vì tôi làm chứng rằng họ đã tự nguyện quyên góp theo khả năng của mình, lại còn quá khả năng nữa,
và họ khẩn khoản thỉnh cầu chúng tôi làm ơn cho họ được dự phần trong sự trợ giúp các thánh đồ.
Họ đã làm quá sự mong đợi của chúng tôi; vì trước hết họ đã dâng mình cho Chúa và rồi cho chúng tôi, theo ý muốn của Đức Chúa Trời.
Vì vậy, chúng tôi đã khích lệ Tít cũng hãy hoàn tất công việc từ thiện nầy ở giữa anh em như anh ấy đã bắt đầu làm.
Vậy thì, như anh em đã vượt trội trong mọi việc: Đức tin, lời nói, tri thức, lòng nhiệt thành, và tình yêu thương đối với chúng tôi, thì anh em cũng nên vượt trội trong việc từ thiện nầy.
Tôi nói điều nầy không phải để ra lệnh cho anh em đâu, nhưng tôi chỉ nêu lên lòng nhiệt thành của những người khác để xem lòng yêu thương của anh em chân thành đến mức nào.
Vì anh em biết ân điển của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ, Ngài vốn giàu nhưng đã trở nên nghèo vì anh em, để bởi sự nghèo khó của Ngài, anh em trở nên giàu có.
Tôi góp ý về vấn đề nầy, đó là một ý kiến có ích cho anh em: vì từ năm trước, anh em không chỉ là những người đầu tiên thực hiện điều nầy mà còn ước muốn thực hiện nữa.
Vậy, bây giờ hãy hoàn tất điều nầy đi để ước muốn của anh em được đáp ứng bằng cách làm trọn điều nầy theo khả năng của anh em.
Nếu một người sẵn lòng dâng thì của dâng sẽ được chấp nhận, dựa trên điều họ có chứ không dựa trên điều họ không có.
Tôi không muốn những người khác được nhẹ bớt, còn anh em phải nặng thêm, nhưng muốn có sự quân bình.
Lúc nầy anh em đang dư dật thì hãy trợ giúp những người túng thiếu; để khi họ dư dật thì họ sẽ trợ giúp anh em lúc túng thiếu. Như vậy là công bằng.
Như có lời chép rằng: “Kẻ thu nhiều cũng không dư, Người thu ít cũng chẳng thiếu.”
Tạ ơn Đức Chúa Trời, Ngài cũng đã đặt vào lòng Tít mối quan tâm nhiệt thành như tôi có với anh em;
vì chẳng những anh ấy nhận lời yêu cầu của chúng tôi mà chính anh ấy cũng hăng hái tự nguyện đến thăm anh em.
Chúng tôi cũng cử một anh em cùng đi với Tít, đây là người được tất cả các Hội Thánh khen ngợi về công tác rao giảng Tin Lành.
Không những thế, người ấy cũng được các Hội Thánh chỉ định đi với chúng tôi trong công tác từ thiện nầy, là công việc mà chúng tôi đang tiến hành, vì vinh quang của chính Chúa và để biểu lộ lòng nhiệt thành của chúng tôi.
Chúng tôi thận trọng để tránh bất cứ lời than phiền nào về cách sử dụng số tiền quyên góp lớn lao nầy.
Vì chúng tôi cố gắng làm điều tốt đẹp, chẳng những ở trước mặt Chúa, mà cả trước mặt người ta nữa.
Chúng tôi cũng cử một anh em chúng tôi cùng đi với họ; đây là người chúng tôi đã thử nghiệm nhiều lần và thấy có lòng nhiệt thành trong nhiều vấn đề; nhưng hiện nay anh ấy càng nhiệt thành hơn nữa, vì anh ấy rất tin tưởng anh em.
Về phần Tít, anh ấy là người đồng sự và là người cùng cộng tác với tôi để giúp đỡ anh em; còn hai anh em kia là sứ giả của các Hội Thánh, và vinh quang của Đấng Christ.
Vì vậy, trước mặt các Hội Thánh, anh em hãy chứng tỏ tình yêu thương của anh em cũng như niềm tự hào của chúng tôi về anh em.
Về việc trợ giúp các thánh đồ, tôi không cần phải viết thêm cho anh em nữa.
Vì tôi biết nhiệt tâm của anh em, và tôi đã khoe về anh em với người ở Ma-xê-đô-ni-a rằng người A-chai đã sẵn sàng từ năm ngoái. Lòng nhiệt thành của anh em đã giục giã nhiều người.
Nhưng tôi đã phái các anh em nầy đi, để niềm tự hào của chúng tôi về anh em không trở thành vô ích, và để anh em có thể sẵn sàng, như lời tôi đã nói;
kẻo khi những người Ma-xê-đô-ni-a cùng đến với tôi, thấy anh em không sẵn sàng thì chúng tôi — nếu không muốn nói là cả anh em nữa — sẽ bị xấu hổ vì đã tin tưởng như thế.
Vì vậy, tôi nghĩ cần phải thúc giục vài người đến chỗ anh em trước và chuẩn bị sẵn phần quyên góp mà anh em đã hứa, để việc quyên góp nầy được sẵn sàng như một tặng phẩm tự nguyện chứ không do ép buộc.
Hãy nhớ rằng: Ai gieo ít thì gặt ít, ai gieo nhiều thì gặt nhiều.
Mỗi người nên quyên góp tùy theo lòng mình đã định, không miễn cưỡng hoặc do ép buộc, vì Đức Chúa Trời yêu mến người dâng hiến một cách vui lòng.
Đức Chúa Trời có quyền ban cho anh em ân điển sung mãn để đáp ứng mọi nhu cầu của anh em, lại còn có dư dật để làm mọi việc lành,
như có chép rằng: “Người ban phát rộng rãi, giúp đỡ kẻ nghèo khó; Sự công chính của người tồn tại mãi mãi.”
Đấng cung cấp hạt giống cho người gieo và bánh làm thức ăn sẽ cung cấp hạt giống cho anh em và làm cho sinh sôi nảy nở, cũng sẽ gia tăng bông trái công chính của anh em.
Anh em sẽ được phong phú trong mọi sự để làm mọi việc từ thiện; để qua chúng ta, người ta sẽ cảm tạ Đức Chúa Trời.
Vì sự trợ giúp nầy không những đáp ứng nhu cầu của các thánh đồ mà còn khiến nhiều người cảm tạ Đức Chúa Trời nữa.
Việc trợ giúp nầy là bằng chứng để họ tôn vinh Đức Chúa Trời, vì sự vâng phục Tin Lành của Đấng Christ mà anh em đã bày tỏ, và vì sự trợ giúp rộng rãi của anh em đối với họ và với mọi người.
Còn họ sẽ cầu nguyện cho anh em và quý mến anh em, vì ân điển kỳ diệu Đức Chúa Trời đã ban cho anh em.
Cảm tạ Đức Chúa Trời vì sự ban cho của Ngài không tả xiết!
Tôi, Phao-lô, lấy sự nhu mì và nhân từ của Đấng Christ mà khuyên nài anh em — tôi là người mềm yếu khi gặp mặt anh em, nhưng lại cứng rắn với anh em khi xa cách! —
Khi tôi có mặt, xin anh em đừng buộc tôi phải dùng biện pháp cứng rắn mà tôi định dùng đối với mấy kẻ cho rằng chúng tôi cư xử theo xác thịt.
Chúng tôi dù sống trong thân xác, nhưng không chiến đấu theo cách xác thịt.
Vũ khí chúng tôi dùng để chiến đấu không phải là những vũ khí xác thịt, mà là quyền năng của Đức Chúa Trời để phá đổ các thành lũy,
đánh hạ các lý luận và mọi sự kiêu căng chống lại sự hiểu biết Đức Chúa Trời, và buộc mọi ý tưởng phải thuận phục Đấng Christ.
Chúng tôi cũng sẵn sàng sửa trị mọi kẻ bất phục một khi anh em đã hoàn toàn thuận phục.
Anh em chỉ nhìn bề ngoài. Nếu có ai cho rằng mình thuộc về Đấng Christ thì chính họ hãy nghĩ lại xem, nếu họ thuộc về Đấng Christ thì chúng tôi cũng vậy.
Ngay cả khi chúng tôi có tự hào hơi thái quá về uy quyền Chúa ban cho chúng tôi, uy quyền để xây dựng chứ không phải để phá đổ anh em, thì tôi cũng không xấu hổ.
Tôi không muốn làm ra vẻ như đang cố dùng thư từ để đe dọa anh em.
Vì có người nói: “Khi viết thư thì ông ta nặng lời và gay gắt, nhưng khi có mặt thì lại yếu mềm và lời nói chẳng ra gì.”
Người nói như vậy phải biết rằng khi chúng tôi vắng mặt, lời trong thư thể nào, thì khi có mặt, chúng tôi cũng hành động thể ấy.
Dĩ nhiên, chúng tôi không dám sánh vai hoặc so mình với những người tự đề cao kia. Nhưng khi họ tự lấy mình đo mình, hay lấy chính mình so sánh mình, thì họ thiếu hiểu biết.
Về phần chúng tôi, chúng tôi không tự hào quá mức mà chỉ trong giới hạn Đức Chúa Trời đã giao cho chúng tôi; trong giới hạn đó có cả anh em.
Vì chúng tôi không vượt quá giới hạn của mình như thể chúng tôi chưa từng đến với anh em; nhưng thật ra chúng tôi là người đem Tin Lành của Đấng Christ đến với anh em trước tiên.
Chúng tôi không tự hào quá giới hạn, tức là tự hào về công việc do người khác làm. Nhưng hi vọng rằng đức tin của anh em gia tăng thì công việc của chúng tôi cũng sẽ phát triển giữa anh em, trong giới hạn đã được giao cho chúng tôi,
đến nỗi chúng tôi có thể rao giảng Tin Lành trong những vùng xa hơn mà không tự hào về những việc đã thực hiện trong phạm vi của người khác.
“Nhưng ai tự hào, hãy tự hào trong Chúa.”
Vì không phải ai tự đề cao mình là được chấp nhận, nhưng là người được Chúa đề cao.
Ước gì anh em chịu đựng sự điên rồ của tôi một chút! Phải, anh em nên chịu đựng.
Vì anh em, tôi ghen với cái ghen của Đức Chúa Trời, bởi tôi đã gả anh em cho một người chồng duy nhất, trình diện anh em như một trinh nữ tinh khiết cho Đấng Christ.
Nhưng tôi sợ rằng, như Ê-va bị con rắn dùng mưu mô lừa dối thể nào, thì tư tưởng của anh em cũng bị hư hỏng, mất sự chân thật và tinh sạch đối với Đấng Christ thể ấy.
Vì, nếu có ai đến rao giảng cho anh em một Jêsus khác với Đức Chúa Jêsus mà chúng tôi đã rao giảng, hoặc nếu anh em nhận một linh khác với Thánh Linh anh em đã nhận, hoặc tiếp nhận một tin lành khác với Tin Lành anh em đã tiếp nhận, thì chắc anh em cũng sẵn sàng chấp nhận!
Tôi nghĩ rằng, tôi chẳng thua kém gì các sứ đồ siêu đẳng kia đâu.
Lời nói của tôi có thể kém trôi chảy, nhưng tri thức thì không kém đâu. Tôi đã tỏ rõ điều nầy trong mọi trường hợp và giữa mọi người.
Tôi có lỗi gì khi hạ mình xuống để anh em được tôn cao? Hoặc khi tình nguyện rao giảng Tin Lành của Đức Chúa Trời cho anh em mà không đòi hỏi gì?
Tôi đã vơ vét từ các Hội Thánh khác bằng cách nhận trợ cấp của họ để phục vụ anh em.
Trong thời gian ở với anh em, gặp lúc thiếu thốn, tôi đã không phiền lụy một ai, vì các anh em ở Ma-xê-đô-ni-a đã đến cung ứng các nhu cầu của tôi. Bất cứ việc gì, tôi cũng đều giữ để khỏi làm gánh nặng cho anh em, và sẽ cứ làm như vậy.
Cũng như chân lý của Đấng Christ ở trong tôi, không một ai trong các khu vực A-chai nầy có thể làm cho tôi thôi tự hào về điều nầy.
Tại sao vậy? Vì tôi không yêu thương anh em chăng? Có Đức Chúa Trời biết!
Nhưng điều tôi đang làm, tôi sẽ tiếp tục làm, để loại bỏ cơ hội của những kẻ tìm cơ hội khoe khoang rằng họ cũng như chúng tôi.
Vì những kẻ như vậy là sứ đồ giả, những kẻ làm công lừa dối, mạo làm sứ đồ của Đấng Christ.
Nào có lạ gì, ngay cả Sa-tan cũng mạo làm thiên sứ sáng láng.
Vì vậy, những đầy tớ của nó mạo làm đầy tớ của sự công chính thì cũng chẳng lạ gì. Kết cuộc chúng sẽ nhận hậu quả xứng với việc chúng đã làm.
Tôi nhắc lại, đừng ai nghĩ tôi là kẻ điên rồ; nhưng nếu anh em đã nghĩ vậy thì hãy chấp nhận tôi như kẻ điên rồ, để tôi cũng được tự hào đôi chút.
Điều tôi đang nói không phải là những gì Chúa muốn tôi nói, nhưng nói như một kẻ điên rồ đầy tin tưởng tự hào.
Vì có nhiều kẻ tự hào theo lối xác thịt thì tôi cũng sẽ tự hào.
Vì anh em cho mình là những người khôn ngoan, lại vui lòng chịu đựng những kẻ điên rồ.
Phải, anh em thường chịu đựng nếu người ta bắt anh em làm nô lệ, ăn nuốt anh em, tước đoạt anh em, khinh dể hay tát vào mặt anh em.
Tôi lấy làm xấu hổ mà nói rằng chúng tôi đã tỏ ra nhu nhược trong việc nầy. Nhưng bất cứ người nào dám tự hào về điều gì, thì nói như một người điên, tôi cũng dám tự hào về điều đó.
Họ là người Hê-bơ-rơ chăng? Tôi cũng vậy. Họ là người Y-sơ-ra-ên chăng? Tôi cũng thế. Họ là dòng dõi Áp-ra-ham chăng? Tôi cũng vậy.
Họ là những đầy tớ của Đấng Christ chăng? — Tôi nói như một người điên — tôi còn hơn họ nữa! Tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn, tù tội nhiều hơn, đòn vọt vô kể, nhiều lần suýt bỏ mạng.
Năm lần bị người Do Thái đánh bằng roi, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn chục;
ba lần bị đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị chìm tàu, một đêm một ngày trôi giạt trên biển.
Trong nhiều cuộc hành trình, gặp nguy hiểm trên sông bến, nguy với trộm cướp, nguy với dân mình, nguy với dân ngoại, nguy trong thành phố, nguy ngoài hoang mạc, nguy trên biển cả, nguy với những kẻ giả danh anh em,
chịu khó chịu nhọc, lắm lúc thức đêm, chịu đói chịu khát, bao lần nhịn ăn, chịu rét mướt, trần truồng.
Chưa kể những việc khác, hằng ngày tôi phải lo lắng về tất cả các Hội Thánh.
Nào có ai yếu đuối mà tôi chẳng yếu đuối ư? Nào có ai vấp ngã mà lòng tôi chẳng như nung như đốt sao?
Nếu phải tự hào, tôi sẽ tự hào về những yếu đuối của tôi.
Đức Chúa Trời, Cha của Chúa là Đức Chúa Jêsus, là Đấng đáng ca ngợi đời đời, biết rằng tôi không nói dối.
Tại Đa-mách, viên tổng đốc thuộc quyền vua A-rê-ta cho canh giữ thành Đa-mách để bắt tôi.
Nhưng tôi đã được dòng xuống trong một cái thúng, từ một cửa sổ dọc tường thành, và tôi đã thoát khỏi tay ông ta.
Tôi phải tự hào, dù chẳng có ích lợi gì, nhưng tôi sẽ nói đến những khải tượng và mặc khải của Chúa.
Tôi biết một người trong Đấng Christ, cách đây mười bốn năm đã được cất lên đến tầng trời thứ ba (hoặc trong thân thể, hoặc ngoài thân thể người, tôi không biết, có Đức Chúa Trời biết).
Tôi biết người ấy (hoặc trong thân thể, hoặc ngoài thân thể người ấy, tôi không biết, có Đức Chúa Trời biết)
được đem lên nơi Pa-ra-đi; tại đó, người ấy được nghe những điều không thể nói ra, và cũng không ai được phép nói ra.
Về con người ấy, tôi sẽ tự hào; nhưng về chính mình thì tôi không tự hào, chỉ tự hào về những yếu đuối của tôi thôi.
Cho dù tôi muốn tự hào đi nữa thì tôi cũng không phải là kẻ điên rồ, vì tôi nói sự thật. Nhưng tôi tự kiềm chế không làm điều đó, để không ai nghĩ tốt về tôi hơn những gì họ thấy trong tôi và nghe nơi tôi.
Để giữ tôi khỏi kiêu ngạo về những mặc khải diệu kỳ nầy, một cái dằm đã đâm vào xác thịt tôi; một sứ giả của Sa-tan đã đánh tôi để tôi đừng kiêu ngạo.
Đã ba lần tôi cầu nguyện xin Chúa cho nó lìa xa tôi.
Nhưng Chúa phán: “Ân điển Ta đầy đủ cho con, vì sức mạnh của Ta trở nên trọn vẹn trong sự yếu đuối.” Vì vậy, tôi rất vui mừng tự hào về những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi.
Cho nên, vì cớ Đấng Christ, tôi vui chịu sự yếu đuối, sỉ nhục, túng ngặt, bắt bớ, khốn khó. Vì khi tôi yếu đuối chính là lúc tôi mạnh mẽ.
Tôi đã là kẻ điên rồ! Anh em đã buộc tôi phải như thế. Đúng ra anh em phải khen tôi; vì tuy không là gì cả, tôi cũng chẳng thua kém gì các sứ đồ siêu đẳng kia đâu.
Những dấu hiệu của một sứ đồ đã được thể hiện giữa anh em rồi: nào là sự chịu đựng, nào là các dấu lạ, các phép mầu, và các việc quyền năng.
Vì, ngoài việc chính tôi không phiền lụy đến anh em thì anh em có thua kém gì các Hội Thánh khác? Xin thứ lỗi cho tôi về sự thiếu công bằng nầy!
Đây là lần thứ ba tôi sẵn sàng đến thăm anh em; tôi cũng sẽ không phiền lụy đến anh em đâu, vì tôi không tìm kiếm của cải của anh em mà là tìm kiếm chính anh em. Thật vậy, không phải con cái phải tích trữ của cải cho cha mẹ, mà cha mẹ tích trữ cho con cái.
Tôi rất vui được tiêu phí tiền của, cạn kiệt sức lực vì linh hồn anh em. Nếu tôi yêu thương anh em càng nhiều, không lẽ anh em lại yêu thương tôi càng ít sao?
Chính tôi chưa từng phiền lụy đến anh em; nhưng cứ cho rằng tôi là người quỷ quyệt, đã dùng mưu mẹo mà bắt lấy anh em.
Vậy thì tôi có dùng một ai trong số những người tôi phái đến với anh em để lừa đảo anh em không?
Tôi đã giục Tít đi, và cử một anh em cùng đi với anh ấy. Tít có lừa đảo anh em không? Chẳng phải chúng tôi đồng bước đi trong cùng một tinh thần và cùng theo một đường lối đó sao?
Ngay từ đầu, anh em đã nghĩ rằng chúng tôi tự biện hộ cho mình trước mặt anh em. Thưa anh em yêu dấu, ấy là trước mặt Đức Chúa Trời và trong Đấng Christ mà chúng tôi nói, tất cả chỉ nhằm xây dựng anh em.
Vì tôi ngại rằng khi tôi đến thấy anh em không như tôi mong đợi, còn anh em cũng thấy chúng tôi không như anh em mong muốn. Tôi sợ rằng giữa anh em vẫn có sự cãi vã, ghen tị, nóng giận, ích kỷ, nói xấu, ngồi lê đôi mách, kiêu căng, hỗn loạn.
Tôi sợ rằng, lần sau đến với anh em, Đức Chúa Trời sẽ làm cho tôi bẽ mặt vì anh em, và tôi phải than khóc về nhiều người trước đây đã phạm tội mà vẫn không chịu ăn năn về những việc ô uế, gian dâm, trụy lạc họ đã phạm.
Đây là lần thứ ba tôi đến với anh em. “Mọi vấn đề sẽ được xác lập dựa trên lời của hai hoặc ba nhân chứng.”
Trong chuyến thăm anh em lần thứ hai, tôi đã cảnh báo với những kẻ trước đây đã phạm tội và với mọi người khác rồi. Bây giờ khi vắng mặt, tôi lại cảnh báo anh em rằng nếu tôi đến lần nữa, tôi sẽ không dung thứ đâu,
vì anh em đòi hỏi một bằng chứng cho thấy Đấng Christ phán qua tôi. Ngài không mềm yếu trong việc cư xử đối với anh em đâu, nhưng Ngài là Đấng đầy uy quyền giữa anh em.
Mặc dù Ngài đã chịu đóng đinh vào thập tự giá trong tình trạng yếu đuối, nhưng Ngài đang sống với quyền năng của Đức Chúa Trời. Chúng tôi cũng vậy, dù yếu đuối trong Ngài, nhưng nhờ quyền năng của Đức Chúa Trời chúng tôi sẽ sống với Ngài, để cư xử với anh em.
Hãy thử tra xét chính mình để xem anh em còn ở trong đức tin chăng! Hãy tự kiểm chứng mình đi. Anh em không nhận biết rằng Đức Chúa Jêsus Christ đang ở trong anh em sao? Trừ phi anh em không đạt tiêu chuẩn.
Tôi hi vọng anh em nhận biết rằng chúng tôi không phải không đạt tiêu chuẩn.
Nhưng tôi cầu xin Đức Chúa Trời để anh em không làm những gì sai trái, không phải để chứng tỏ chúng tôi đạt tiêu chuẩn, nhưng để anh em có thể làm những điều đúng, cho dù chúng tôi có thể bị xem như không đạt tiêu chuẩn.
Vì chúng tôi không thể làm điều gì nghịch lại chân lý mà chỉ thuận theo chân lý.
Chúng tôi vui mừng vì khi chúng tôi yếu đuối, anh em vẫn mạnh mẽ. Điều chúng tôi cầu xin, ấy là anh em đạt đến sự trọn vẹn.
Vậy nên, khi vắng mặt, tôi viết điều nầy để khi có mặt, tôi khỏi phải sử dụng một cách nghiêm khắc thẩm quyền mà Chúa đã ban cho tôi, là thẩm quyền để xây dựng chứ không phải để phá đổ.
Cuối cùng, thưa anh em, hãy vui mừng lên, hãy cố gắng đạt đến sự trọn vẹn, hãy khích lệ nhau, hãy đồng một tâm trí, hãy sống thuận hòa, thì Đức Chúa Trời của tình yêu thương và bình an sẽ ở cùng anh em.
Hãy lấy cái hôn thánh mà chào nhau. Tất cả thánh đồ chào thăm anh em.
Nguyện xin ân điển của Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ, tình yêu thương của Đức Chúa Trời, và sự tương giao của Đức Thánh Linh ở với tất cả anh em!
Phao-lô, là sứ đồ không đến từ loài người hay bởi một người nào, nhưng từ chính Đức Chúa Jêsus Christ và Đức Chúa Trời là Cha, Đấng đã khiến Ngài sống lại từ cõi chết,
cùng tất cả anh em đang ở với tôi, kính gửi các Hội Thánh miền Ga-la-ti.
Cầu xin Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ ban ân điển và bình an cho anh em.
Đức Chúa Jêsus Christ đã hi sinh chính mình vì tội lỗi chúng ta để cứu chúng ta khỏi đời gian ác nầy, đúng theo ý muốn Đức Chúa Trời, Cha chúng ta.
Nguyện Ngài được vinh quang đời đời vô cùng! A-men.
Tôi lấy làm ngạc nhiên khi thấy anh em vội bỏ Đấng đã gọi anh em bởi ân điển của Đấng Christ để theo một tin lành khác.
Không có tin lành nào khác đâu, mà chỉ có một số người quấy rối anh em và muốn xuyên tạc Tin Lành của Đấng Christ.
Nhưng nếu có ai, dù là chính chúng tôi hay thiên sứ từ trời, truyền cho anh em một tin lành khác với Tin Lành chúng tôi đã công bố thì người ấy đáng bị a-na-them!
Như chúng tôi đã nói với anh em trước đây, nay tôi xin lặp lại, nếu ai truyền cho anh em một tin lành khác với Tin Lành mà anh em đã nhận thì người ấy đáng bị nguyền rủa!
Còn bây giờ, tôi muốn được lòng loài người hay Đức Chúa Trời? Có phải tôi đang cố gắng làm đẹp lòng loài người không? Nếu tôi vẫn cố làm đẹp lòng loài người thì tôi chẳng phải là đầy tớ của Đấng Christ.
Thưa anh em, tôi muốn anh em biết rằng Tin Lành mà tôi đã công bố không đến từ loài người đâu;
vì tôi không nhận và cũng không học Tin Lành đó từ một người nào, nhưng bởi sự mặc khải của Đức Chúa Jêsus Christ.
Anh em hẳn đã nghe về lối sống của tôi trước đây khi tôi còn theo Do Thái giáo là thể nào. Tôi đã thẳng tay bắt bớ và cố tiêu diệt Hội Thánh của Đức Chúa Trời.
Trong Do Thái giáo, tôi vượt xa nhiều người Do Thái cùng thời với tôi, vì tôi đã quá hăng say với các truyền thống của tổ phụ mình.
Nhưng khi Đức Chúa Trời, Đấng đã biệt riêng tôi từ trong lòng mẹ và lấy ân điển gọi tôi,
vui lòng bày tỏ Con Ngài cho tôi để tôi rao truyền Tin Lành về Con Ngài giữa dân ngoại, thì lập tức tôi không bàn với loài người.
Tôi cũng không lên Giê-ru-sa-lem để gặp các vị sứ đồ trước tôi, nhưng tôi đi qua miền Ả-rập, sau đó trở lại Đa-mách.
Ba năm sau, tôi lên Giê-ru-sa-lem để làm quen với Sê-pha và ở lại với ông mười lăm ngày;
nhưng tôi không gặp một sứ đồ nào khác, ngoài Gia-cơ là em của Chúa.
Thật, trước mặt Đức Chúa Trời tôi không nói dối về những gì tôi viết cho anh em.
Sau đó, tôi đi qua các miền thuộc Sy-ri và Si-li-si.
Lúc ấy, các Hội Thánh của Đấng Christ ở Giu-đê chưa biết mặt tôi.
Họ chỉ nghe nói rằng: “Người đã bắt bớ chúng ta ngày trước bây giờ đang truyền giảng đức tin mà ông đã từng ra sức tiêu diệt.”
Vậy, vì tôi mà họ tôn vinh Đức Chúa Trời.
Mười bốn năm sau, tôi lại lên Giê-ru-sa-lem cùng với Ba-na-ba, có đem Tít đi nữa.
Theo sự mặc khải, tôi đi lên đó để trình bày với họ Tin Lành mà tôi đã rao giảng giữa các dân ngoại, nhưng chỉ trình bày riêng với những nhân vật được tôn trọng, kẻo tôi đã và đang chạy một cách vô ích chăng.
Ngay cả Tít, người cùng đi với tôi, dù là người Hi Lạp, cũng không bị ép phải chịu cắt bì.
Chúng tôi đã làm như vậy vì có mấy người giả làm anh em len lỏi vào giữa chúng tôi, theo dõi sự tự do mà chúng tôi có được trong Đấng Christ Jêsus để bắt chúng tôi làm nô lệ.
Chúng tôi không nhượng bộ họ một giây phút nào, để chân lý của Tin Lành được vững bền trong anh em.
Còn về những nhân vật được coi là tôn trọng (trước kia họ có là gì đi nữa thì cũng chẳng can hệ gì đến tôi; Đức Chúa Trời không thiên vị ai cả) thì họ cũng chẳng đóng góp thêm gì cho tôi.
Trái lại, khi họ thấy việc giảng Tin Lành cho người không được cắt bì đã giao cho tôi, cũng như việc giảng Tin Lành cho người được cắt bì đã giao cho Phi-e-rơ —
vì Đấng đã hành động trong Phi-e-rơ để sai ông làm sứ đồ cho những người được cắt bì, cũng hành động trong tôi để sai tôi làm sứ đồ cho dân ngoại —
và khi nhận biết ân điển đã ban cho tôi thì Gia-cơ, Sê-pha và Giăng, những người được tôn là cột trụ, đã trao tay phải giao kết với Ba-na-ba và tôi để chúng tôi đi đến với các dân ngoại, còn họ thì đến với những người được cắt bì.
Họ chỉ nhắc chúng tôi một việc là phải nhớ đến người nghèo khó, là việc mà tôi đã tích cực làm.
Nhưng khi Sê-pha đến An-ti-ốt, tôi đã công khai phản đối ông vì ông thật đáng trách.
Trước khi những người của Gia-cơ đến, ông vẫn ăn chung với người ngoại bang. Nhưng khi họ đến, ông lại rút lui và đứng riêng ra vì sợ những người được cắt bì.
Những người Do Thái khác cũng hành động thiếu thành thật như ông, đến nỗi chính Ba-na-ba cũng bị lôi cuốn theo cách đạo đức giả của họ.
Khi thấy họ không đi ngay thẳng theo chân lý của Tin Lành, tôi nói với Sê-pha trước mặt mọi người rằng: “Nếu anh là người Do Thái, mà sống theo cách dân ngoại, không theo cách người Do Thái thì làm sao anh ép dân ngoại sống theo cách người Do Thái?”
Chúng tôi sinh ra là người Do Thái, không phải là những kẻ có tội từ trong dân ngoại.
Nhưng chúng tôi biết rằng một người được xưng công chính không phải nhờ vào những công việc của luật pháp mà bởi đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ, nên chúng tôi đã tin Đấng Christ Jêsus để được xưng công chính bởi đức tin trong Đấng Christ, chứ không bởi công việc của luật pháp; vì chẳng một ai được xưng công chính bởi công việc của luật pháp.
Nhưng nếu đang khi chúng tôi tìm cách để được xưng công chính trong Đấng Christ mà chính chúng tôi lại bị xem là kẻ có tội, vậy chẳng lẽ Đấng Christ là người phục vụ cho tội lỗi sao? Chẳng hề như vậy!
Thật thế, nếu tôi xây dựng lại những gì mà chính mình đã phá hủy thì tôi chứng tỏ mình là người phạm pháp.
Vì bởi luật pháp, tôi đã chết đối với luật pháp để sống cho Đức Chúa Trời.
Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi. Hiện nay tôi sống trong thể xác, tức là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi và phó chính mình Ngài vì tôi.
Tôi không muốn vô hiệu hóa ân điển của Đức Chúa Trời; vì nếu nhờ luật pháp mà được công chính thì Đấng Christ chịu chết là vô ích.
Hỡi những người Ga-la-ti dại dột! Ai đã mê hoặc anh em là những người mà hình ảnh Đức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá đã được bày tỏ ra trước mắt?
Tôi chỉ muốn anh em cho tôi biết điều nầy: Anh em đã nhận lãnh Thánh Linh là nhờ vào công việc của luật pháp hay là bởi nghe và tin?
Sao anh em dại dột đến thế? Anh em đã bắt đầu với Thánh Linh, sao bây giờ lại kết thúc bằng xác thịt?
Anh em đã chịu biết bao khó nhọc để chẳng được gì sao? Nếu thế thì quả là vô ích!
Đấng đã ban Thánh Linh và làm nhiều phép lạ giữa anh em, là do anh em làm theo luật pháp, hay là bởi nghe và tin?
Như Áp-ra-ham “tin Đức Chúa Trời, và ông được kể là công chính.”
Vậy, anh em hãy nhận biết rằng những ai có đức tin là con cháu của Áp-ra-ham.
Kinh Thánh đã thấy trước rằng Đức Chúa Trời sẽ xưng dân ngoại là công chính bởi đức tin, nên đã rao truyền trước cho Áp-ra-ham Tin Lành nầy: “Mọi dân tộc sẽ nhờ con mà được phước.”
Vì thế, ai tin thì được hưởng phước với Áp-ra-ham là người có lòng tin.
Còn những ai nhờ cậy vào công việc của luật pháp thì bị rủa sả; vì có lời chép: “Đáng rủa thay là kẻ không bền chí tuân giữ mọi điều đã chép trong sách luật pháp!”
Thật rõ ràng rằng không một ai nhờ luật pháp mà được xưng công chính trước mặt Đức Chúa Trời cả, vì “người công chính sẽ sống bởi đức tin.”
Luật pháp không tùy thuộc vào đức tin; nhưng lại chép: “Người nào làm theo luật pháp thì sẽ nhờ đó mà sống.”
Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp khi Ngài chịu rủa sả thế cho chúng ta — vì có lời chép: “Đáng rủa thay cho kẻ bị treo trên cây gỗ” —
để trong Đấng Christ Jêsus phước lành dành cho Áp-ra-ham đến được với các dân ngoại, và bởi đức tin chúng ta nhận lãnh lời hứa về Thánh Linh.
Thưa anh em, tôi nói theo cách loài người: Khi một giao ước đã được lập, dù là của con người, thì không một ai được quyền hủy bỏ hay thêm bớt điều gì.
Về các lời hứa đã phán cho Áp-ra-ham và dòng dõi ông, Kinh Thánh không nói: “Và cho các dòng dõi” như dành cho nhiều người, nhưng nói: “Và cho dòng dõi con,” như chỉ về một người, đó là Đấng Christ.
Tôi muốn nói rằng: Luật pháp, là điều đến sau giao ước bốn trăm ba mươi năm, không thể nào hủy bỏ giao ước mà Đức Chúa Trời đã kết lập từ trước, cũng như vô hiệu hóa lời hứa được.
Vì nếu bởi luật pháp mà được hưởng cơ nghiệp thì không còn bởi lời hứa nữa. Nhưng Đức Chúa Trời đã dùng lời hứa để ban ơn cho Áp-ra-ham.
Vậy luật pháp để làm gì? Luật pháp đã được ban thêm vì có những vi phạm, và tồn tại cho đến khi người dòng dõi đến, tức là Đấng đã được hứa từ trước. Luật pháp được ban bố bởi các thiên sứ và qua một người trung gian.
Người trung gian thì không đại diện cho một bên, nhưng Đức Chúa Trời chỉ có một.
Như vậy luật pháp nghịch lại những lời hứa của Đức Chúa Trời sao? Chẳng hề như vậy! Vì nếu luật pháp được ban bố có thể đem lại sự sống thì sự công chính phải đến từ luật pháp.
Nhưng Kinh Thánh tuyên bố mọi sự đều bị nhốt dưới quyền lực tội lỗi, để bởi đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ, lời hứa được ban cho những kẻ tin.
Trước khi đức tin đến, chúng ta bị nhốt và canh giữ dưới luật pháp cho đến khi đức tin được bày tỏ.
Như thế, luật pháp là người hướng dẫn chúng ta đến Đấng Christ, để bởi đức tin chúng ta được xưng công chính.
Nhưng khi đức tin đến rồi, chúng ta không còn dưới quyền người hướng dẫn đó nữa.
Vì bởi đức tin trong Đấng Christ Jêsus, tất cả anh em đều là con Đức Chúa Trời.
Người nào trong anh em đã được báp-têm để thuộc về Đấng Christ đều mặc lấy Đấng Christ.
Tại đây không còn phân biệt người Do Thái hay người Hi Lạp, người nô lệ hoặc người tự do, nam giới hay nữ giới, vì tất cả anh em đều là một trong Đấng Christ Jêsus.
Nếu anh em thuộc về Đấng Christ thì anh em là dòng dõi Áp-ra-ham, tức là những người thừa kế theo lời hứa.
Tôi muốn nói rằng bao lâu người thừa kế còn thơ ấu, dù làm chủ toàn bộ tài sản, thì cũng không khác gì một nô lệ.
Người ấy còn phải ở dưới quyền của những người giám hộ và quản gia cho đến thời hạn mà người cha đã định.
Chúng ta cũng vậy, khi còn thơ ấu, chúng ta làm nô lệ cho các thần sơ đẳng trong thế gian.
Nhưng khi kỳ hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời sai Con Ngài đến, do một người nữ sinh ra, sinh ra dưới luật pháp,
để chuộc những người ở dưới luật pháp, và nhờ đó chúng ta được nhận làm con nuôi của Ngài.
Vì anh em là con, nên Đức Chúa Trời đã sai Thánh Linh của Con Ngài ngự vào lòng chúng ta kêu lên: “A-ba! Cha!”
Như vậy nhờ ơn Đức Chúa Trời, anh em không còn là nô lệ nữa mà là con; và nếu là con, thì anh em cũng là người thừa kế.
Trước kia, khi chưa biết Đức Chúa Trời, anh em làm nô lệ cho các thần vốn không phải là thần.
Nhưng bây giờ anh em đã nhận biết Đức Chúa Trời, hay đúng hơn là đã được Đức Chúa Trời biết đến, thì sao anh em còn trở lại với các thứ thần linh hèn yếu, nghèo nàn đó? Anh em muốn trở lại làm nô lệ cho chúng sao?
Anh em hãy còn giữ ngày, giữ tháng, giữ mùa, giữ năm!
Tôi lo ngại cho anh em, e rằng tôi đã lao nhọc vô ích vì anh em.
Thưa anh em, tôi xin anh em hãy trở nên giống tôi, vì tôi đã giống anh em. Anh em đã không đối xử tệ với tôi.
Anh em biết rằng lần đầu tiên tôi đến truyền giảng Tin Lành cho anh em với một thể xác đau yếu;
dù thể xác của tôi là một thử thách cho anh em, anh em cũng chẳng khinh khi hay miệt thị tôi, mà lại tiếp rước tôi như một thiên sứ của Đức Chúa Trời, như chính Đấng Christ Jêsus.
Vậy phước hạnh ấy của anh em đâu rồi? Vì tôi làm chứng cho anh em rằng, nếu có thể được, thì anh em cũng móc mắt mình mà cho tôi.
Vậy tôi trở nên kẻ thù của anh em vì nói sự thật với anh em sao?
Những người đó nhiệt tình với anh em không phải vì ý tốt đâu, nhưng họ muốn chia rẽ anh em với chúng tôi để anh em nhiệt tình với họ.
Lúc nào cũng nhiệt tình về điều tốt thì mới thật sự tốt, chứ không phải chỉ khi nào tôi có mặt giữa anh em mà thôi.
Các con của ta ơi, vì các con mà ta lại phải chịu đau đớn của sự sinh đẻ cho đến khi Đấng Christ thành hình trong các con!
Ước gì ta được ở với các con trong lúc nầy và lựa lời nói cho thích hợp, vì ta rất bối rối về các con.
Hãy nói cho tôi biết: Là những người muốn sống dưới luật pháp, anh em không nghe luật pháp nói gì sao?
Vì có lời chép rằng Áp-ra-ham có hai con trai: một là con của người nữ nô lệ, một là con của người nữ tự do.
Nhưng con của người nữ nô lệ sinh ra theo xác thịt, còn con của người nữ tự do sinh ra theo lời hứa.
Điều nầy ngụ ý rằng hai người nữ đó là hai giao ước. Một là giao ước tại núi Si-na-i, sinh con ra để làm nô lệ, đó là A-ga.
A-ga là núi Si-na-i trong miền Ả-rập, tương ứng với Giê-ru-sa-lem bây giờ, vì thành nầy cùng với con dân nó đều làm nô lệ.
Nhưng Giê-ru-sa-lem thiên thượng là tự do; đó là mẹ chúng ta.
Vì có lời chép: “Hỡi người nữ hiếm muộn, không sinh con, hãy vui lên! Hỡi người nữ chưa từng chịu đau đớn vì sinh đẻ, hãy cất tiếng reo mừng! Vì con của người vợ bị ruồng bỏ đông hơn con của người nữ có chồng.”
Thưa anh em, cũng như Y-sác, anh em là con của lời hứa.
Nhưng như thuở ấy, kẻ sinh ra theo xác thịt bắt bớ người sinh ra theo Thánh Linh, thì bây giờ cũng vậy.
Nhưng Kinh Thánh nói gì? “Hãy đuổi người nữ nô lệ và con trai nó đi, vì con trai của người nữ nô lệ sẽ không được chia gia sản với con trai của người nữ tự do.”
Vì vậy, thưa anh em, chúng ta không phải là con của người nữ nô lệ, nhưng là con của người nữ tự do.
Đấng Christ đã giải phóng để chúng ta được tự do. Vậy hãy đứng vững, đừng đặt mình dưới ách nô lệ một lần nữa.
Tôi, Phao-lô, nói với anh em rằng nếu anh em phải chịu cắt bì thì Đấng Christ không ích gì cho anh em cả.
Tôi lại xác quyết với tất cả những ai chịu cắt bì rằng họ buộc phải tuân giữ toàn bộ luật pháp.
Anh em nào muốn được xưng công chính bởi luật pháp thì đã lìa khỏi Đấng Christ, đánh mất ân điển rồi.
Còn chúng ta thì bởi đức tin và nhờ Thánh Linh mà trông đợi niềm hi vọng về sự công chính.
Vì trong Đấng Christ Jêsus, điều có giá trị không phải là cắt bì hay không cắt bì, nhưng là đức tin thể hiện qua tình yêu thương.
Anh em đang chạy giỏi như thế mà ai đã ngăn trở anh em vâng phục chân lý?
Sự xúi giục đó hẳn không đến từ Đấng gọi anh em.
Một ít men làm dậy cả đống bột.
Trong Chúa, tôi tin chắc rằng anh em sẽ không suy nghĩ khác với tôi; nhưng kẻ quấy rối anh em, bất kể là ai, sẽ phải bị hình phạt.
Thưa anh em, về phần tôi, nếu tôi còn rao giảng việc cắt bì thì tại sao tôi vẫn bị bắt bớ? Nếu đúng như thế, thập tự giá đâu còn là chướng ngại nữa.
Ước gì những kẻ gây rối cho anh em tự cắt mình đi là hơn!
Thưa anh em, anh em đã được gọi để hưởng tự do; chỉ có điều là đừng dùng tự do ấy như một cơ hội để sống cho xác thịt, nhưng hãy lấy lòng yêu thương mà phục vụ nhau.
Vì cả luật pháp được tóm tắt trong một lời nầy: “Ngươi hãy yêu người lân cận như mình.”
Nhưng nếu anh em cứ cắn nuốt nhau thì hãy coi chừng, kẻo anh em tiêu diệt lẫn nhau.
Vậy tôi nói, hãy bước đi theo Thánh Linh, đừng thỏa mãn những dục vọng xác thịt.
Vì xác thịt có những dục vọng trái ngược với Thánh Linh, và Thánh Linh có những ước muốn trái ngược với xác thịt; hai bên đối nghịch nhau như vậy, nên anh em không làm được điều mình muốn.
Nhưng nếu anh em được Thánh Linh dắt dẫn thì chẳng ở dưới luật pháp đâu.
Công việc của xác thịt thật rõ ràng, đó là: Gian dâm, ô uế, buông tuồng,
thờ hình tượng, phù phép, thù oán, gây gổ, ghen ghét, giận dữ, ích kỷ, bất bình, phe đảng,
ganh tị, say sưa, chè chén, và những việc tương tự khác. Tôi cảnh cáo anh em, như tôi đã từng cảnh cáo: Những ai làm các việc như thế sẽ không được hưởng vương quốc Đức Chúa Trời.
Nhưng trái của Thánh Linh là: Yêu thương, vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, khiêm nhu, tiết độ.
Không có luật pháp nào cấm các điều đó.
Vậy những người thuộc về Đấng Christ Jêsus đã đóng đinh xác thịt cùng với các đam mê và dục vọng mình trên thập tự giá rồi.
Nếu chúng ta nhờ Thánh Linh mà sống thì hãy bước theo Thánh Linh.
Chớ tìm kiếm hư danh mà khiêu khích và ganh ghét nhau.
Thưa anh em, nếu có người nào vô tình phạm lỗi, thì anh em là người thuộc linh, hãy lấy tinh thần khiêm nhu mà sửa đổi họ. Anh em phải thận trọng, kẻo chính mình cũng bị cám dỗ.
Hãy mang gánh nặng cho nhau; như vậy, anh em sẽ làm trọn luật pháp của Đấng Christ.
Vì nếu có ai tưởng mình quan trọng, trong khi mình chẳng là gì cả, thì chỉ tự lừa dối mình thôi.
Mỗi người hãy tự xem xét công việc mình rồi sẽ thấy lý do để tự hào là dựa vào chính mình, chứ không phải so sánh với người khác.
Vì mỗi người sẽ phải mang gánh nặng của riêng mình.
Người được dạy đạo hãy chia sẻ mọi thứ tốt đẹp với người dạy dỗ mình.
Đừng tự dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống gì, sẽ gặt giống ấy.
Kẻ gieo cho xác thịt sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; nhưng người gieo cho Thánh Linh sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời.
Chớ mệt mỏi trong khi làm việc thiện, vì nếu chúng ta không nản lòng thì đến mùa chúng ta sẽ gặt.
Vậy, đang lúc có cơ hội, chúng ta hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho anh em trong gia đình đức tin.
Hãy xem, những dòng chữ thật lớn mà chính tay tôi đã viết cho anh em.
Những kẻ muốn được lòng theo xác thịt đã cố ép buộc anh em chịu cắt bì. Họ làm vậy chẳng qua là để khỏi bị bắt bớ vì thập tự giá của Đấng Christ mà thôi.
Vì chính những kẻ đã chịu cắt bì đó cũng không tuân giữ luật pháp, nhưng họ muốn anh em chịu cắt bì để khoe khoang về xác thịt của anh em.
Còn với tôi, tôi chẳng khoe về điều gì ngoài thập tự giá của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ. Nhờ thập tự giá ấy, thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy.
Vì điều quan trọng không phải là cắt bì hay không cắt bì, mà là trở nên người mới.
Cầu xin sự bình an và sự thương xót giáng trên tất cả những ai noi theo nguyên tắc nầy, và trên cả dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời nữa!
Ước gì từ nay về sau, không ai gây phiền toái cho tôi nữa, vì tôi mang những dấu vết của Đức Chúa Jêsus trên thân thể tôi.
Thưa anh em, nguyện ân điển của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ ở với tâm linh anh em! A-men.
Phao-lô, theo ý muốn của Đức Chúa Trời được làm sứ đồ của Đấng Christ Jêsus, kính gửi các thánh đồ tại Ê-phê-sô, là những người trung tín trong Đấng Christ Jêsus.
Cầu xin ân điển và bình an từ Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và từ Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ được ban cho anh em.
Chúc tụng Đức Chúa Trời, Cha của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ, Ngài đã ban cho chúng ta trong Đấng Christ mọi phước hạnh thuộc linh ở các nơi trên trời.
Ngay cả trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, để chúng ta được thánh hóa và không chỗ chê trách trước mặt Ngài.
Trong tình yêu thương, Ngài đã định sẵn cho chúng ta địa vị làm con nuôi của Ngài bởi Đức Chúa Jêsus Christ, theo mục đích tốt đẹp của ý muốn Ngài,
để ca ngợi ân điển vinh quang mà Ngài đã ban tặng cho chúng ta trong Con yêu dấu của Ngài!
Vì trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội theo sự phong phú của ân điển Ngài,
là ân điển mà Ngài ban cho chúng ta một cách dư dật. Với tất cả sự khôn ngoan thông hiểu,
Ngài khiến chúng ta biết được sự mầu nhiệm của ý muốn Ngài, theo mục đích tốt đẹp mà Ngài đã định sẵn trong Đấng Christ,
để đến thời viên mãn, quy tụ muôn vật lại trong Đấng Christ, cả những vật trên trời và dưới đất.
Cũng trong Ngài, chúng ta được chọn làm người thừa hưởng cơ nghiệp được định sẵn theo kế hoạch của Đức Chúa Trời, Đấng hoàn thành mọi sự theo mục đích Ngài muốn,
để chúng ta, những người đầu tiên đặt hi vọng trong Đấng Christ, ca ngợi vinh quang của Ngài.
Trong Ngài, anh em là người đã nghe lời chân lý, là Tin Lành mà anh em được cứu rỗi. Cũng trong Ngài, anh em đã tin và được đóng ấn bằng Đức Thánh Linh như lời hứa.
Đấng ấy là bảo chứng của cơ nghiệp chúng ta cho đến khi những người thuộc về Ngài nhận được sự cứu chuộc, để ca ngợi vinh quang của Ngài.
Vậy nên, khi tôi nghe về đức tin của anh em trong Chúa là Đức Chúa Jêsus, và tình yêu thương của anh em đối với tất cả thánh đồ,
thì tôi vì anh em, không ngừng dâng lời cảm tạ, luôn nhắc đến anh em trong khi cầu nguyện.
Tôi nài xin Đức Chúa Trời của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ, là Cha vinh quang, ban cho anh em linh của sự khôn ngoan và sự mặc khải, để anh em nhận biết Ngài.
Tôi cũng xin Ngài soi sáng con mắt của lòng anh em, để anh em biết niềm hi vọng mà Chúa đã gọi anh em đến là gì, sự phong phú của cơ nghiệp vinh quang Ngài trong các thánh đồ là thể nào,
và đâu là quyền năng vĩ đại không dò lường được của Ngài đối với chúng ta là những người tin, theo sự tác động của quyền năng siêu việt của Ngài.
Đó là quyền năng Ngài đã thực hiện trong Đấng Christ khi khiến Đấng Christ từ cõi chết sống lại, và đặt ngồi bên phải Ngài trong các nơi trên trời,
vượt trên tất cả mọi quyền thống trị, mọi thẩm quyền, mọi thế lực, mọi chủ quyền, và mọi danh hiệu, không chỉ trong đời nầy mà cả đời sắp đến nữa.
Ngài đã đặt vạn vật dưới chân Đấng Christ và lập Đấng Christ làm đầu mọi sự vì Hội Thánh.
Hội Thánh là thân thể Ngài, là sự đầy dẫy của Đấng làm viên mãn mọi sự trong mọi loài.
Anh em đã chết vì những vi phạm và tội lỗi của mình,
là những gì mà anh em đã từng theo đuổi khi sống theo cách của thế gian, thuận theo kẻ cầm quyền chốn không trung, là thần hiện đang hành động trong những con cái không vâng phục.
Tất cả chúng ta đều ở trong số nầy, đã có lần sống theo những dục vọng của xác thịt, theo đuổi các đam mê của xác thịt và tâm trí. Như vậy, theo bản chất tự nhiên, chúng ta là con của sự thịnh nộ như mọi người khác.
Nhưng Đức Chúa Trời, là Đấng giàu lòng thương xót, vì yêu chúng ta bằng tình yêu cao cả,
nên ngay khi chúng ta đã chết vì những vi phạm thì Ngài khiến chúng ta cùng sống với Đấng Christ — ấy là nhờ ân điển mà anh em được cứu —
và trong Đấng Christ Jêsus, Đức Chúa Trời đã khiến chúng ta đồng sống lại và đồng ngồi với Ngài ở các nơi trên trời,
để tỏ bày cho các đời sắp đến biết sự phong phú vô hạn của ân điển Ngài, qua sự nhân từ của Ngài đối với chúng ta trong Đấng Christ Jêsus.
Vì nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em được cứu, điều nầy không đến từ anh em mà là tặng phẩm của Đức Chúa Trời;
cũng không do việc làm của anh em để không ai có thể tự hào.
Vì chúng ta là công trình của tay Ngài, được tạo dựng trong Đấng Christ Jêsus để thực hiện những việc lành mà Đức Chúa Trời đã chuẩn bị từ trước để chúng ta làm theo.
Vậy hãy nhớ lại rằng trước kia anh em là dân ngoại theo phần xác, bị những kẻ tự xưng là người được cắt bì trong thân xác, bởi tay con người, gọi anh em là kẻ không cắt bì.
Cũng hãy nhớ lúc ấy, ở trần gian nầy, anh em không có Đấng Christ, không có quyền công dân Y-sơ-ra-ên, xa lạ đối với giao ước của lời hứa, không có hi vọng, không có Đức Chúa Trời.
Nhưng trong Đấng Christ Jêsus, anh em là người trước kia xa cách, bây giờ đã được gần gũi nhờ huyết của Đấng Christ.
Vì Ngài là sự bình an của chúng ta, Ngài đã kết hợp cả hai nhóm thành một, phá đổ bức tường ngăn cách vốn gây thù địch.
Qua thân xác mình, Ngài đã hủy bỏ luật pháp với các điều răn và quy tắc, để từ hai nhóm, Ngài tạo dựng thành một nhân loại mới trong chính Ngài, như vậy sự bình an được thực hiện;
và qua thập tự giá, Ngài hòa giải cả hai cho Đức Chúa Trời trong một thân thể; bằng cách đó, sự thù địch bị tiêu diệt.
Vậy, Ngài đã đến rao giảng bình an cho anh em là những người ở xa, và bình an cho những người ở gần.
Vì nhờ Ngài mà cả hai nhóm chúng ta đều có thể đến với Đức Chúa Cha trong một Thánh Linh.
Như vậy, anh em không còn là người xa lạ hoặc là người tạm trú nữa, nhưng là người đồng hương với các thánh đồ và là thành viên trong gia đình của Đức Chúa Trời;
anh em được xây dựng trên nền của các sứ đồ và các nhà tiên tri mà chính Đấng Christ Jêsus là đá góc nhà.
Trong Ngài, cả ngôi nhà được kết hợp với nhau và trở thành một đền thờ thánh trong Chúa.
Trong Ngài, anh em cũng được xây dựng chung vào nhà đó, để trở nên nơi ngự của Đức Chúa Trời trong Thánh Linh.
Bởi lý do đó mà tôi, Phao-lô, làm tù nhân của Đấng Christ Jêsus, vì cớ anh em là những người ngoại.
Chắc hẳn anh em đã nghe rằng việc quản trị ân điển của Đức Chúa Trời đã ủy thác cho tôi để lo cho anh em,
và Ngài đã mặc khải cho tôi biết lẽ mầu nhiệm như thế nào, như tôi đã viết vắn tắt cho anh em.
Khi đọc đến điều đó, anh em có thể nhận thức được sự hiểu biết của tôi về mầu nhiệm của Đấng Christ,
là điều chưa từng tiết lộ cho con cái loài người trong các thế hệ trước, nhưng bây giờ được Thánh Linh bày tỏ cho các sứ đồ thánh và các nhà tiên tri của Ngài.
Sự mầu nhiệm đó là: Nhờ Tin Lành, dân ngoại được trở nên những người thừa kế, những chi thể của cùng một thân, và những người cùng chia sẻ lời hứa trong Đấng Christ Jêsus.
Tôi được trở nên người phục vụ Tin Lành bởi quà tặng ân điển của Đức Chúa Trời ban cho tôi qua sự vận hành của quyền năng Ngài.
Dù tôi là người hèn mọn nhất trong tất cả các thánh đồ, ân điển ấy cũng được ban cho tôi để rao giảng cho dân ngoại sự phong phú vô hạn của Đấng Christ,
và bày tỏ cho mọi người thấy kế hoạch mầu nhiệm đã được giữ kín qua các thời đại trong Đức Chúa Trời, Đấng tạo dựng muôn vật.
Bây giờ, qua Hội Thánh, sự khôn ngoan vô hạn của Đức Chúa Trời được bày tỏ cho những kẻ thống lĩnh, những quyền lực trong các nơi trên trời,
theo mục đích đời đời mà Ngài đã hoàn tất trong Đấng Christ Jêsus, Chúa chúng ta.
Trong Ngài và nhờ đức tin nơi Ngài, chúng ta dạn dĩ và tự tin mà đến gần Đức Chúa Trời.
Cho nên, tôi xin anh em chớ ngã lòng vì những hoạn nạn tôi đang chịu vì anh em; đó chính là vinh quang của anh em.
Vì lý do nầy, tôi quỳ gối trước mặt Cha;
nhờ Ngài mà mọi gia đình trên trời, dưới đất được đặt tên.
Tôi cầu xin Ngài, tùy sự phong phú của vinh quang Ngài, ban cho anh em năng lực bởi Thánh Linh Ngài, để con người bên trong của anh em trở nên mạnh mẽ;
và bởi đức tin, Đấng Christ ngự trong lòng anh em. Tôi cũng cầu nguyện để anh em đâm rễ và vững lập trong tình yêu thương;
để cùng với tất cả các thánh đồ, anh em có thể thấu hiểu chiều rộng, chiều dài, chiều cao, chiều sâu của tình yêu ấy,
và biết được tình yêu thương của Đấng Christ, là tình yêu vượt quá mọi sự hiểu biết, để anh em được tràn đầy mọi sự sung mãn của Đức Chúa Trời.
Đức Chúa Trời là Đấng hành động trong chúng ta bằng quyền năng Ngài, có thể làm trổi hơn bội phần mọi điều chúng ta cầu xin hoặc suy tưởng.
Nguyện Ngài được tôn vinh trong Hội Thánh và trong Đấng Christ Jêsus trải qua mọi thế hệ, cho đến đời đời vô cùng! A-men.
Vậy, là một tù nhân trong Chúa, tôi nài khuyên anh em hãy sống một đời sống xứng đáng với sự kêu gọi mà Chúa đã kêu gọi anh em.
Phải hết sức khiêm nhu, mềm mại và nhẫn nhục, hãy chịu đựng lẫn nhau trong tình yêu thương.
Cố gắng duy trì sự hiệp nhất của Thánh Linh bằng sợi dây hòa bình.
Chỉ có một thân thể, một Thánh Linh, cũng như anh em đã được kêu gọi đến cùng một hi vọng;
chỉ có một Chúa, một đức tin, một báp-têm;
chỉ có một Đức Chúa Trời, Cha của mọi người, Ngài ở trên mọi người, giữa mọi người và trong mọi người.
Nhưng ân điển đã được ban cho mỗi người chúng ta theo mức độ ban phát của Đấng Christ.
Vì vậy, có lời đã chép: “Ngài đã lên nơi cao, dẫn theo muôn vàn kẻ bị tù đày, Và ban các ân tứ cho loài người.”
Khi nói “Ngài đã lên” thì có nghĩa gì, nếu không phải là Ngài đã xuống trong các vùng thấp hơn ở dưới đất sao?
Đấng đã xuống tức là Đấng đã lên trên tất cả các tầng trời để làm đầy dẫy mọi sự.
Chính Ngài đã ban cho một số người làm sứ đồ, một số người làm nhà tiên tri, một số người khác làm nhà truyền giảng Tin Lành, một số người khác nữa làm mục sư và giáo sư,
để các thánh đồ được trang bị cho công tác phục vụ và xây dựng thân thể Đấng Christ,
cho đến khi tất cả chúng ta đều đạt đến sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự hiểu biết Con Đức Chúa Trời, để trở nên người trưởng thành, đạt đến tầm vóc đầy trọn của Đấng Christ.
Như vậy, chúng ta sẽ không còn là trẻ con, bị dồi dập và cuốn theo luồng gió học thuyết, bởi sự xảo quyệt của con người và những mánh khóe lừa dối của họ.
Nhưng Ngài muốn chúng ta nói ra sự thật trong tình yêu thương, để chúng ta được tăng trưởng trong mọi phương diện hướng đến Đấng Christ, là đầu;
nhờ Ngài mà cả thân thể kết hợp và gắn chặt với nhau bởi những dây liên kết hỗ trợ. Khi mỗi phần hoạt động một cách thích hợp thì thân thể được tăng trưởng, và tự gây dựng trong tình yêu thương.
Vậy, trong Chúa, tôi nói và khuyên nài anh em đừng tiếp tục sống như người ngoại nữa, vì họ sống theo ý tưởng hư không của mình.
Tâm trí họ tối tăm, xa lạ với sự sống của Đức Chúa Trời vì sự ngu muội ngự trị trong họ, và lòng họ chai cứng.
Họ đã mất cả ý thức, buông mình trong trụy lạc, tham muốn làm mọi thứ ô uế.
Nhưng đó không phải là những gì anh em học từ Đấng Christ.
Vì anh em đã nghe về Ngài và được dạy dỗ trong Ngài đúng như chân lý trong Đức Chúa Jêsus.
Vậy, anh em hãy lột bỏ người cũ thuộc về lối sống ngày trước, vốn bị hư hỏng bởi những ham muốn dối trá;
nhờ Thánh Linh đổi mới tâm trí anh em,
và mặc lấy người mới, là người đã được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời trong chân lý công chính và thánh khiết.
Như vậy, mỗi người trong anh em hãy loại bỏ sự giả dối, “Hãy nói thật với người lân cận,” vì chúng ta đều là chi thể của nhau.
Khi anh em nóng giận thì đừng phạm tội; đừng căm giận cho đến lúc mặt trời lặn,
đừng tạo một cơ hội nào cho ma quỷ.
Kẻ quen trộm cắp, đừng trộm cắp nữa; nhưng thà chịu khó, tự tay mình làm việc lương thiện để có thể giúp đỡ người thiếu thốn thì hơn.
Chớ có một lời độc ác nào ra từ miệng anh em, nhưng khi đáng nói, hãy nói những lời tốt đẹp, có tính xây dựng để đem ơn phước đến cho người nghe.
Anh em chớ làm buồn Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời; vì trong Ngài, anh em được ấn chứng cho đến ngày cứu chuộc.
Hãy loại bỏ khỏi anh em những sự cay đắng, phẫn nộ, tức giận, la lối, lăng mạ, cùng mọi điều hiểm độc.
Hãy cư xử với nhau cách nhân từ và dịu dàng, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh em trong Đấng Christ vậy.
Vậy, anh em hãy trở nên những người bắt chước Đức Chúa Trời như các con yêu dấu của Ngài.
Hãy bước đi trong tình yêu thương như Đấng Christ đã yêu thương chúng ta, xả thân Ngài vì chúng ta như một lễ vật và sinh tế tỏa ngát hương thơm dâng lên Đức Chúa Trời.
Còn sự gian dâm và mọi điều bất khiết, hoặc tham lam, thì không được nói đến giữa anh em; như vậy mới xứng đáng là các thánh đồ.
Đừng nói những lời tục tĩu, nhảm nhí, thô bỉ, là những điều không thích hợp; tốt hơn nên dâng lời cảm tạ Chúa.
Anh em phải biết rõ rằng kẻ gian dâm, bất khiết, hay tham lam — tham lam là thờ thần tượng — không một ai được thừa hưởng cơ nghiệp trong vương quốc của Đấng Christ và của Đức Chúa Trời.
Đừng để ai lấy những lời rỗng tuếch lừa dối anh em; chính vì những điều nầy mà cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời đổ xuống dòng dõi không vâng phục.
Vì vậy, đừng thông đồng với họ.
Trước kia anh em là bóng tối, nhưng bây giờ trong Chúa, anh em là ánh sáng. Hãy bước đi như các con của ánh sáng;
vì trái của ánh sáng là mọi điều nhân từ, công chính và chân thật.
Hãy xét xem điều gì đẹp lòng Chúa.
Đừng tham dự vào những công việc vô ích của sự tối tăm; tốt hơn, nên quở trách chúng;
vì dù chỉ nói đến những gì họ làm một cách lén lút cũng đã xấu hổ rồi.
Nhưng tất cả những gì được phơi bày dưới ánh sáng đều được sáng tỏ; vì bất cứ điều gì đã được sáng tỏ đều là ánh sáng.
Vì thế, có lời phán rằng: “Hỡi người đang ngủ, hãy thức dậy, Hãy vùng dậy từ giữa những người chết, Thì Đấng Christ sẽ chiếu sáng ngươi.”
Vậy, hãy xem xét cẩn thận về cách sống của anh em, đừng sống như người dại dột, nhưng sống như người khôn ngoan.
Hãy tận dụng thì giờ, vì những ngày là xấu.
Vì vậy, đừng trở nên như người dại dột, nhưng phải hiểu rõ thế nào là ý muốn của Chúa.
Đừng say rượu, vì rượu dẫn đến buông tuồng, nhưng phải đầy dẫy Thánh Linh.
Hãy dùng thi thiên, thánh ca, và những linh khúc mà đối đáp với nhau; hãy hết lòng ca hát, chúc tụng Chúa.
Trong mọi việc, hãy luôn nhân danh Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ mà dâng lời cảm tạ Đức Chúa Trời, là Cha.
Vì kính sợ Đấng Christ, hãy thuận phục nhau.
Hỡi người làm vợ, hãy thuận phục chồng như thuận phục Chúa.
Vì chồng là đầu vợ, cũng như Đấng Christ là đầu Hội Thánh, Hội Thánh là thân thể Ngài và chính Ngài là Cứu Chúa của Hội Thánh.
Vậy nên, như Hội Thánh thuận phục Đấng Christ thể nào thì vợ cũng phải thuận phục chồng trong mọi sự thể ấy.
Hỡi người làm chồng, hãy yêu vợ mình như Đấng Christ đã yêu Hội Thánh, xả thân vì Hội Thánh
để thánh hóa Hội Thánh sau khi dùng nước và lời Ngài thanh tẩy Hội Thánh,
nhằm trình diện trước mặt Ngài một Hội Thánh vinh hiển, không vết, không nhăn, không gì giống như vậy, nhưng thánh sạch và toàn hảo.
Cũng vậy, chồng phải yêu vợ như chính thân mình. Ai yêu vợ là yêu chính mình.
Vì không hề có người nào ghét chính thân mình, nhưng nuôi nấng, chăm sóc nó như Đấng Christ đối với Hội Thánh,
vì chúng ta là các chi thể của thân Ngài.
Chính vì lý do nầy, “người nam sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai trở nên một thịt.”
Sự mầu nhiệm nầy thật cao sâu, tôi muốn nói đến Đấng Christ và Hội Thánh.
Thế thì mỗi người trong anh em phải yêu vợ mình như chính mình, còn vợ thì phải kính trọng chồng.
Hỡi những người làm con, hãy vâng lời cha mẹ mình trong Chúa, vì đây là điều phải lẽ.
“Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi” — ấy là điều răn thứ nhất, có kèm theo lời hứa —
“để ngươi được phước và được sống lâu trên đất.”
Hỡi những người làm cha, đừng làm cho con cái mình tức giận, nhưng hãy nuôi nấng chúng trong kỷ luật và sự khuyên dạy của Chúa.
Hỡi những người nô lệ, hãy run sợ, lấy lòng thành thật vâng phục người chủ trần gian, như vâng phục Đấng Christ,
không phải chỉ vâng phục trước mặt, như những kẻ muốn được lòng người, mà như những nô lệ của Đấng Christ, hết lòng thực hiện ý muốn Đức Chúa Trời.
Hãy phục vụ với nhiệt tâm như phục vụ Chúa, chứ không phải phục vụ người ta,
vì biết rằng bất luận nô lệ hay tự do, mỗi người sẽ nhận được phần thưởng từ Chúa, tùy việc tốt mình đã làm.
Hỡi người làm chủ, hãy đối xử với các nô lệ của mình cùng một cách ấy; đừng đe dọa họ, vì biết rằng cả họ lẫn anh em đều có cùng một Chủ ở trên trời, và Ngài không thiên vị ai hết.
Cuối cùng, anh em phải mạnh mẽ trong Chúa và nhờ sức toàn năng của Ngài.
Hãy trang bị mọi khí giới của Đức Chúa Trời để anh em có thể đứng vững chống lại các mưu kế của ma quỷ.
Vì chúng ta chiến đấu, không phải chống lại thịt và máu, nhưng chống lại các quyền thống trị, các thế lực, các kẻ nắm quyền bá chủ thế giới mờ tối nầy, và các thần dữ ở các nơi trên trời.
Vì vậy, hãy trang bị mọi khí giới của Đức Chúa Trời, để trong ngày tai họa, anh em có thể chống cự lại; và khi chiến thắng mọi sự rồi, anh em được đứng vững vàng.
Vậy, hãy đứng vững, đeo thắt lưng bằng chân lý, mặc áo giáp công chính,
mang giày bằng sự sẵn sàng của Tin Lành bình an,
luôn luôn dùng đức tin làm thuẫn; nhờ đó anh em có thể dập tắt được mọi tên lửa của ma quỷ.
Hãy đội mũ của sự cứu rỗi và cầm gươm của Thánh Linh, là lời Đức Chúa Trời.
Hãy thường xuyên dùng mọi lời khẩn nguyện, nài xin, mà cầu nguyện trong Thánh Linh. Để đạt mục tiêu nầy, hãy kiên trì, tỉnh thức, và cầu nguyện cho tất cả các thánh đồ.
Cũng xin cầu nguyện cho tôi, để khi tôi mở miệng, Chúa cho tôi sứ điệp, và tôi dạn dĩ công bố sự mầu nhiệm của Tin Lành;
vì Tin Lành ấy, tôi là sứ giả trong xiềng xích. Xin hãy cầu nguyện để tôi có thể dạn dĩ công bố Tin Lành ấy như tôi phải nói.
Để anh em cũng biết được hiện tại tôi ra sao và đang làm gì thì Ty-chi-cơ, người anh em yêu dấu và người phục vụ trung thành trong Chúa, sẽ thuật mọi sự cho anh em.
Tôi phái anh ấy đến với anh em nhằm mục đích để anh em biết tình cảnh của chúng tôi ra sao, và để khích lệ lòng anh em.
Cầu xin sự bình an, tình yêu thương và đức tin từ Đức Chúa Trời là Cha, và từ Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ ở với anh em.
Cầu xin ân điển ở với tất cả những người yêu mến Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ bằng tình yêu bất diệt.
Phao-lô và Ti-mô-thê, đầy tớ của Đấng Christ Jêsus, kính gửi toàn thể thánh đồ trong Đấng Christ Jêsus tại thành Phi-líp cùng quý giám mục và chấp sự.
Cầu xin Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ ban ân điển và bình an cho anh em.
Mỗi khi nhớ đến anh em thì tôi cảm tạ Đức Chúa Trời tôi.
Trong mỗi lời cầu nguyện cho tất cả anh em, tôi luôn cầu nguyện với niềm vui mừng,
vì từ ngày đầu cho đến bây giờ, anh em đã cộng tác với tôi trong việc rao truyền Tin Lành.
Tôi tin chắc rằng Đấng đã bắt đầu làm việc lành trong anh em sẽ làm trọn việc ấy cho đến ngày của Đấng Christ Jêsus.
Tôi nghĩ đến tất cả anh em như thế là phải, vì anh em ở trong lòng tôi. Dù khi bị xiềng xích, hoặc lúc bênh vực và biện minh cho Tin Lành, tất cả anh em đều dự phần ân điển đã ban cho tôi.
Vì Đức Chúa Trời làm chứng cho tôi rằng tôi thương mến tất cả anh em bằng tình yêu thương của Đấng Christ Jêsus.
Điều tôi cầu xin, ấy là tình yêu thương của anh em ngày càng gia tăng, cùng với sự hiểu biết và mọi nhận thức sâu sắc,
giúp anh em phân biệt điều gì là tốt nhất, để trong ngày của Đấng Christ anh em được tinh sạch, không chỗ chê trách,
được đầy trái công chính bởi Đức Chúa Jêsus Christ để tôn vinh và ca ngợi Đức Chúa Trời.
Thưa anh em, tôi muốn anh em biết rằng những điều xảy đến cho tôi đã thật sự giúp ích cho sự tiến triển của Tin Lành,
đến nỗi tất cả lính canh trong dinh tổng đốc và mọi người khác đều biết tôi vì Đấng Christ mà bị xiềng xích;
phần đông anh em nhân việc tôi bị xiềng xích lại càng vững tin hơn trong Chúa, và mạnh dạn rao truyền lời Chúa không chút sợ hãi.
Thật, có vài người rao giảng Đấng Christ vì ganh tị và tranh cạnh, nhưng cũng có những người vì ý tốt mà rao giảng.
Những người nầy rao giảng vì lòng yêu thương, biết rằng tôi được chỉ định để bênh vực Tin Lành;
còn những người kia rao giảng Đấng Christ vì ích kỷ, không thành thật và tưởng rằng như thế sẽ gây đau khổ thêm cho sự xiềng xích của tôi.
Nhưng có hề gì! Dù thế nào đi nữa, hoặc giả vờ hay thành thật thì Đấng Christ vẫn được rao giảng. Đó là điều tôi vui mừng, và sẽ còn vui mừng nữa!
Vì tôi biết rằng nhờ sự cầu nguyện của anh em và nhờ Thánh Linh của Đức Chúa Jêsus Christ giúp đỡ, thì điều nầy sẽ đem lại sự cứu rỗi cho tôi.
Điều tôi mong mỏi và hi vọng là sẽ không bị hổ thẹn về điều gì cả, nhưng thừa lòng can đảm, để bây giờ cũng như trong mọi lúc, dù sống hay chết, thì Đấng Christ vẫn được tôn vinh trong đời sống tôi.
Vì đối với tôi, sống là Đấng Christ, còn chết là ích lợi.
Nhưng nếu tôi còn sống trong thân xác mà công việc tôi vẫn kết quả thì tôi không biết phải chọn điều nào.
Tôi bị giằng co giữa hai đàng: Tôi muốn ra đi và về ở với Đấng Christ là điều tốt hơn rất nhiều.
Nhưng tôi còn ở lại trong thân xác, ấy là điều cần thiết hơn cho anh em.
Tin chắc điều nầy, tôi biết rằng tôi sẽ còn ở lại và tiếp tục ở với tất cả anh em để giúp anh em tăng trưởng và vui mừng trong đức tin.
Như thế khi tôi trở lại thăm, anh em sẽ có nhiều lý do để hãnh diện về tôi trong Đấng Christ Jêsus.
Điều cốt yếu là anh em phải sống xứng đáng với Tin Lành của Đấng Christ, để khi đến thăm anh em hay lúc vắng mặt, tôi đều nghe rằng anh em vẫn đứng vững, đồng tâm chí, đồng lòng cùng chiến đấu vì đức tin của Tin Lành,
và không hề sợ hãi bất cứ điều gì từ những kẻ chống đối. Đó là bằng chứng cho thấy họ sẽ bị hủy diệt, còn anh em thì được cứu rỗi; và điều nầy đến từ Đức Chúa Trời.
Vì qua Đấng Christ, anh em đã được ban ơn không phải chỉ để tin Ngài mà thôi, nhưng còn được chịu khổ vì Ngài nữa,
bởi anh em đang tham gia cùng một trận chiến mà anh em đã thấy nơi tôi, và hiện nay vẫn còn nghe nơi tôi.
Vậy, nếu trong Đấng Christ có sự khích lệ nào, nếu trong tình yêu thương có sự an ủi nào, nếu trong Thánh Linh có sự thông công nào, nếu có lòng yêu thương và cảm thông
thì anh em hãy hiệp ý với nhau, đồng tình yêu thương, đồng tâm trí, đồng tư tưởng mà làm cho tôi vui mừng trọn vẹn.
Đừng làm điều gì vì lòng ích kỷ, hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, xem người khác đáng tôn trọng hơn mình.
Mỗi người trong anh em đừng chỉ quan tâm đến lợi ích riêng của mình, nhưng phải quan tâm đến lợi ích của người khác nữa.
Hãy có đồng một tâm trí như Đấng Christ Jêsus đã có,
Ngài vốn có hình của Đức Chúa Trời, Nhưng không xem sự bình đẳng với Đức Chúa Trời Là điều nên nắm giữ;
Ngài đã từ bỏ chính mình, Mang lấy hình đầy tớ, Và trở nên giống như loài người.
Ngài đã hiện ra như một người, Tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, Thậm chí chết trên cây thập tự.
Chính vì thế mà Đức Chúa Trời đã tôn Ngài lên rất cao, Và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh,
Để khi nghe đến danh Đức Chúa Jêsus, Mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất Đều phải quỳ xuống,
Và mọi lưỡi đều phải xưng nhận Đức Chúa Jêsus Christ là Chúa, Mà tôn vinh Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha.
Vậy, thưa anh em yêu dấu của tôi, như anh em vẫn luôn vâng phục, không chỉ khi tôi có mặt, mà cả bây giờ, lúc tôi vắng mặt, lại càng vâng phục hơn nữa; hãy lấy lòng sợ sệt run rẩy mà hoàn tất sự cứu rỗi của chính mình.
Vì Đức Chúa Trời là Đấng đang hành động trong anh em, để anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt của Ngài.
Hãy làm mọi việc không một tiếng cằn nhằn hay lưỡng lự,
để anh em trở nên không chỗ trách được và thanh sạch, là con cái toàn hảo của Đức Chúa Trời giữa một thế hệ xảo quyệt và sa đọa; giữa thế hệ đó, anh em hãy chiếu rạng như ánh sáng trong thế gian;
hãy giữ vững lời hằng sống, để trong ngày của Đấng Christ tôi có thể tự hào rằng mình đã không chạy vô ích và khó nhọc uổng công.
Cho dù tôi có phải bị đổ ra như làm lễ quán rưới trên sinh tế và lễ vật của đức tin anh em thì tôi cũng thỏa lòng và cùng vui với tất cả anh em.
Anh em cũng vậy, hãy vui mừng và cùng vui với tôi.
Nhờ Chúa là Đức Chúa Jêsus, tôi mong sớm phái Ti-mô-thê đến với anh em, để chính tôi cũng được khích lệ khi biết tin tức về anh em.
Vì không có ai đồng tâm tình với tôi để thật sự lo lắng cho anh em như Ti-mô-thê.
Ai nấy chỉ quan tâm đến lợi ích riêng của mình chứ không quan tâm đến lợi ích của Đức Chúa Jêsus Christ.
Nhưng anh em đã biết phẩm chất của Ti-mô-thê, anh ấy đã cùng tôi phục vụ Tin Lành như con với cha vậy.
Vì thế, tôi hi vọng sẽ phái Ti-mô-thê đi, ngay khi tôi biết được tình trạng của tôi thế nào.
Nhưng trong Chúa, tôi tin rằng chính tôi cũng sẽ sớm đến nữa.
Tôi nghĩ cần gửi Ép-pa-phô-đích về với anh em. Anh ấy là một anh em, một đồng lao và một chiến hữu của tôi, cũng là sứ giả và người phục vụ mà anh em gửi đến để lo cho nhu cầu của tôi.
Vì anh ấy rất mong gặp lại tất cả anh em, và lo lắng vì anh em đã nghe tin anh ấy lâm bệnh.
Thật, anh ấy đã mắc bệnh gần chết, nhưng Đức Chúa Trời đã đoái thương anh, không phải chỉ đoái thương anh ấy thôi, mà còn cả tôi nữa, để tôi khỏi bị đau buồn chồng chất.
Vì vậy, tôi vội gửi anh ấy về, để anh em được vui mừng khi gặp lại anh ấy, còn tôi cũng bớt lo lắng.
Thế thì, anh em hãy vui mừng trong Chúa mà tiếp đón anh ấy, và hãy kính trọng những người như vậy;
bởi anh ấy đã vì công việc của Đấng Christ mà suýt chết, liều mạng sống mình để chu toàn những việc mà anh em không thể giúp tôi được.
Cuối cùng, thưa anh em của tôi, hãy vui mừng trong Chúa! Tôi không ngại mà nhắc lại những điều nầy với anh em, vì đó là sự an toàn cho anh em.
Hãy coi chừng loài chó, hãy coi chừng những kẻ làm công gian ác, hãy coi chừng những kẻ chịu cắt bì giả!
Vì chúng ta là những người được cắt bì thật, những người phục vụ Đức Chúa Trời bởi Thánh Linh, hãnh diện trong Đấng Christ Jêsus, và không để lòng tin cậy vào xác thịt.
Dù bản thân tôi có lý do để tin cậy xác thịt. Nếu có ai nghĩ rằng mình có lý do để tin cậy vào xác thịt thì tôi lại càng có lý do hơn:
Tôi được cắt bì ngày thứ tám, thuộc dòng dõi Y-sơ-ra-ên, bộ tộc Bên-gia-min, là người Hê-bơ-rơ, con của người Hê-bơ-rơ; về luật pháp, tôi là một người Pha-ri-si;
về lòng sốt sắng, tôi là kẻ bắt bớ Hội Thánh; về sự công chính theo luật pháp thì tôi không chỗ trách được.
Nhưng vì cớ Đấng Christ, tôi xem những lợi lộc mình có như là lỗ.
Hơn thế, tôi cũng xem tất cả mọi sự như là lỗ, vì sự nhận biết Đấng Christ Jêsus, Chúa tôi, là quý hơn hết. Vì Ngài, tôi đành chịu lỗ tất cả, và xem những điều đó như rác rưởi, để được Đấng Christ,
và được ở trong Ngài. Được vậy không phải nhờ sự công chính của tôi dựa trên luật pháp mà nhờ đức tin nơi Đấng Christ, là sự công chính đến từ Đức Chúa Trời dựa trên đức tin,
để tôi được biết Ngài, quyền năng phục sinh của Ngài, được chia sẻ sự thương khó của Ngài, và trở nên giống như Ngài trong sự chết của Ngài;
hi vọng rằng tôi có thể đạt được sự sống lại từ cõi chết.
Ấy không phải là tôi đã đoạt giải, hoặc đã trở nên toàn hảo rồi đâu, nhưng tôi đang theo đuổi để đoạt cho được, vì chính tôi đã được Đấng Christ đoạt lấy rồi.
Thưa anh em, tôi không nghĩ rằng mình đã đoạt được rồi;
nhưng tôi cứ làm một điều: quên đi những gì ở đằng sau, vươn tới những gì ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà theo đuổi để đoạt giải về sự kêu gọi trên cao của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ Jêsus.
Vậy, tất cả những người trưởng thành phải có ý nghĩ nầy, còn nếu anh em nghĩ điều gì khác thì Đức Chúa Trời cũng sẽ bày tỏ cho anh em.
Tuy nhiên, chúng ta đạt đến mức độ nào thì cứ bước đi như vậy.
Thưa anh em, hãy cùng nhau bắt chước tôi, và hãy chú tâm đến những người sống theo mẫu mực mà anh em thấy trong chúng tôi.
Vì tôi đã thường nói điều nầy với anh em, bây giờ tôi lại khóc mà nói nữa: Có nhiều người đã sống như kẻ thù của thập tự giá Đấng Christ.
Kết cuộc của họ là hư mất. Họ lấy bụng mình làm chúa mình, lấy xấu hổ làm vinh quang, và chỉ nghĩ đến những việc thế gian.
Nhưng chúng ta là công dân trên trời; từ nơi ấy, chúng ta trông đợi Chúa và Cứu Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ.
Ngài sẽ biến hóa thân thể thấp hèn của chúng ta trở nên giống như thân thể vinh quang của Ngài, dùng quyền năng khiến muôn vật quy phục Ngài.
Vậy, thưa anh em yêu dấu của tôi, là những người thân mến và thương nhớ, là niềm vui và mão triều thiên của tôi, hãy cứ đứng vững trong Chúa!
Tôi khuyên Ê-vô-đi và khuyên Sin-ty-cơ nên hiệp ý trong Chúa.
Tôi cũng xin anh, người bạn đồng lao chân thành, hãy giúp những phụ nữ nầy; họ đã sát cánh với tôi chiến đấu vì Tin Lành, cùng với Cơ-lê-măn và các bạn đồng lao khác của tôi; tên của họ đã được ghi vào sách sự sống rồi.
Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn, tôi lại còn nói nữa: Hãy vui mừng đi!
Hãy cho mọi người biết tính nhu mì của anh em. Chúa đã gần rồi!
Đừng lo lắng gì cả, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện, nài xin cùng sự tạ ơn mà trình dâng những nhu cầu của mình cho Đức Chúa Trời.
Sự bình an của Đức Chúa Trời, vượt trên mọi sự hiểu biết, sẽ gìn giữ lòng và trí anh em trong Đấng Christ Jêsus.
Cuối cùng, thưa anh em, hễ điều gì chân thật, điều gì đáng trọng, điều gì công chính, điều gì thanh sạch, điều gì đáng yêu chuộng, điều gì đáng biểu dương; nói chung là điều gì đức hạnh, đáng khen ngợi thì anh em phải nghĩ đến.
Những gì anh em đã học, đã nhận, đã nghe và đã thấy trong tôi, hãy làm đi, thì Đức Chúa Trời của sự bình an sẽ ở với anh em.
Tôi hiện rất vui mừng trong Chúa, vì cuối cùng, anh em lại quan tâm đến tôi. Thật ra anh em vẫn quan tâm nhưng không có dịp bày tỏ.
Tôi nói vậy không phải do thiếu thốn đâu, vì tôi đã học sống thỏa lòng trong mọi cảnh ngộ.
Tôi biết thế nào là thiếu thốn, thế nào là dư dật. Trong mọi nơi, mọi tình huống tôi đã học bí quyết để sống, dù no hay đói, dù dư hay thiếu.
Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban năng lực cho tôi.
Tuy nhiên, anh em góp phần giúp tôi trong cơn hoạn nạn là làm điều tốt đẹp.
Hỡi người thành Phi-líp, chính anh em biết rằng trong giai đoạn đầu của Tin Lành, lúc tôi rời Ma-xê-đô-ni-a, ngoài anh em ra, không một Hội Thánh nào dự phần vào việc chi thu của tôi.
Vì ngay tại Tê-sa-lô-ni-ca, anh em đã một hai lần gửi cho tôi những thứ cần dùng.
Ấy không phải tôi cầu mong quà biếu, nhưng cầu mong kết quả thêm vào thành tích của anh em.
Tôi đã có đầy đủ và đang dư dật. Tôi đã nhận đầy đủ quà tặng của anh em từ Ép-pa-phô-đích như một lễ vật tỏa hương thơm, một sinh tế được Đức Chúa Trời vui nhận và đẹp lòng.
Đức Chúa Trời tôi sẽ cung ứng mọi nhu cầu của anh em theo sự giàu có vinh quang của Ngài trong Đấng Christ Jêsus.
Cầu xin vinh quang thuộc về Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta đời đời vô cùng! A-men.
Hãy chào tất cả các thánh đồ trong Đấng Christ Jêsus. Các anh em ở với tôi chào anh em.
Tất cả các thánh đồ chào anh em, đặc biệt là những người thuộc nhà Sê-sa.
Cầu xin ân điển của Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ ở với tâm linh anh em!
Phao-lô, theo ý muốn của Đức Chúa Trời làm sứ đồ của Đấng Christ Jêsus, cùng Ti-mô-thê là anh em,
kính gửi các thánh đồ và anh em trung tín trong Đấng Christ tại Cô-lô-se: Cầu xin Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, ban ân điển và bình an cho anh em.
Khi cầu nguyện cho anh em, chúng tôi luôn cảm tạ Đức Chúa Trời, Cha của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ.
Vì chúng tôi đã nghe về đức tin của anh em trong Đấng Christ Jêsus và lòng yêu thương của anh em đối với tất cả các thánh đồ,
bởi niềm hi vọng đã dành sẵn cho anh em ở trên trời, điều mà trước kia anh em đã nghe trong lời chân lý, là Tin Lành đã đến với anh em.
Tin Lành nầy đang kết quả và phát triển trên khắp thế giới cũng như giữa anh em, từ ngày anh em đã nghe và hiểu ân điển thực sự của Đức Chúa Trời.
Anh em đã học điều đó nơi Ê-pháp-ra, bạn đồng lao quý mến của chúng tôi. Anh ấy là người thay mặt anh em làm người phục vụ trung thành của Đấng Christ,
và là người đã tỏ cho chúng tôi biết lòng yêu thương của anh em trong Thánh Linh.
Vì thế, từ ngày nghe được điều nầy, chúng tôi không ngừng cầu nguyện cho anh em, xin Đức Chúa Trời ban cho anh em sự hiểu biết tường tận về ý muốn của Ngài trong mọi sự khôn ngoan và thông hiểu thuộc linh
để sống một cách xứng đáng cho Chúa, đẹp lòng Ngài hoàn toàn, kết quả trong tất cả việc lành, và tăng trưởng trong sự hiểu biết Đức Chúa Trời.
Nhờ quyền năng vinh quang của Ngài mà anh em được đầy năng lực để có thể kiên trì chịu đựng mọi sự một cách vui vẻ,
và dâng lời cảm tạ Đức Chúa Cha, là Đấng đã làm cho anh em xứng đáng dự phần cơ nghiệp của các thánh đồ trong ánh sáng.
Ngài đã giải thoát chúng ta khỏi quyền lực của bóng tối, và đem chúng ta vào vương quốc của Con yêu dấu Ngài;
trong Con ấy, chúng ta được sự cứu chuộc là sự tha tội.
Chính Ngài là hình ảnh của Đức Chúa Trời vô hình, là Đấng sinh ra trước tất cả mọi loài thọ tạo.
Vì trong Ngài mọi vật trên trời, dưới đất, vật thấy được hoặc vật không thấy được đều được tạo dựng. Hoặc ngôi vua, hoặc quyền thống trị, hoặc các lãnh tụ, hoặc giới cầm quyền đều được tạo dựng bởi Ngài và vì Ngài.
Ngài có trước muôn vật, và muôn vật được giữ vững trong Ngài.
Ngài là đầu của thân thể, tức là Hội Thánh. Ngài là khởi đầu, là Đấng sinh trước nhất từ những người chết, để trong mọi sự Ngài đều đứng đầu.
Vì Đức Chúa Trời đã vui lòng đặt để mọi sự viên mãn của mình ở trong Ngài,
và nhờ Ngài mà hòa giải muôn vật với chính mình, bởi huyết Ngài trên thập tự giá đem bình an đến cho cả những vật dưới đất và những vật trên trời.
Còn anh em ngày trước vốn xa cách Đức Chúa Trời, trở nên thù nghịch với Ngài bởi những ý tưởng và hành động xấu xa của anh em,
nhưng bây giờ Đức Chúa Trời đã hòa giải qua sự chết thân xác của Con Ngài, để trình diện anh em một cách thánh sạch, không tì vết, không chỗ chê trách được trước mặt Ngài;
miễn là anh em tiếp tục đứng vững trong đức tin, không nao núng, không chuyển dời khỏi niềm hi vọng của Tin Lành mà anh em đã nghe, là Tin Lành đã được rao giảng cho mọi tạo vật dưới trời; và tôi, Phao-lô, đã trở nên người phục vụ Tin Lành ấy.
Hiện nay tôi vui mừng trong sự gian khổ vì anh em, và cũng vì thân thể Ngài là Hội Thánh, mà đem thân xác mình hoàn tất phần còn lại trong sự thương khó của Đấng Christ.
Tôi đã trở nên người phục vụ Hội Thánh, theo trách nhiệm mà Đức Chúa Trời đã ủy thác cho tôi để rao giảng lời Ngài cho anh em một cách đầy trọn;
tức là sự mầu nhiệm đã được giấu kín trải qua các thời đại và các thế hệ, nhưng bây giờ được giãi bày cho các thánh đồ của Ngài.
Vì Đức Chúa Trời muốn họ bày tỏ sự phong phú và vinh quang của mầu nhiệm nầy giữa dân ngoại như thế nào, ấy là Đấng Christ ở trong anh em, là niềm hi vọng vinh quang.
Chính Ngài là Đấng chúng tôi rao giảng. Chúng tôi dùng tất cả sự khôn ngoan để cảnh cáo mọi người, dạy dỗ mọi người, hầu trình diện mọi người cách toàn hảo trong Đấng Christ.
Chính vì điều nầy mà tôi ra sức làm việc và chiến đấu với cả năng lực mà Ngài hành động một cách mạnh mẽ trong tôi.
Thật vậy, tôi muốn anh em biết tôi đã vì anh em, vì những người ở Lao-đi-xê và vì tất cả những người chưa thấy mặt tôi về phần xác mà chiến đấu cam go như thế nào,
để lòng họ được khích lệ, hiệp nhất trong yêu thương, cũng như có được sự hiểu biết phong phú và chắc chắn để nhận biết sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời, tức là Đấng Christ;
trong Ngài ẩn chứa mọi kho tàng của sự khôn ngoan và tri thức.
Tôi nói điều nầy để không ai dùng lập luận hấp dẫn mà lừa dối anh em.
Vì dù thân tôi xa cách, nhưng tâm linh vẫn ở với anh em, vui mừng khi thấy anh em có trật tự và đức tin vững vàng trong Đấng Christ.
Vậy, anh em đã tiếp nhận Đấng Christ Jêsus là Chúa thể nào thì hãy bước đi trong Ngài thể ấy;
hãy đâm rễ, lập nền trong Ngài; hãy mạnh mẽ trong đức tin như anh em đã được dạy dỗ, và càng gia tăng trong sự cảm tạ.
Hãy thận trọng, đừng để ai gài bẫy anh em bằng triết học và lời giả dối rỗng tuếch theo truyền thống của loài người, theo các thần linh của thế gian, mà không theo Đấng Christ.
Vì sự đầy trọn của thần tính hiện diện trong thân thể hữu hình của Ngài
nên anh em cũng nhận được sự đầy trọn trong Ngài, Đấng làm đầu mọi quyền thống trị và thế lực.
Trong Ngài, anh em cũng nhận cắt bì, không phải do tay con người thực hiện, nhưng là sự cắt bì bởi Đấng Christ, tức là sự lột bỏ bản tính xác thịt của chúng ta.
Anh em đã được chôn với Ngài trong báp-têm thì cũng được sống lại với Ngài bởi đức tin nơi quyền năng của Đức Chúa Trời, Đấng đã khiến Ngài sống lại từ cõi chết.
Khi trước anh em đã chết bởi tội lỗi và xác thịt không cắt bì thì Đức Chúa Trời đã khiến anh em cùng sống với Đấng Christ, vì đã tha thứ mọi tội lỗi của chúng ta.
Ngài đã hủy bỏ giấy nợ chống lại chúng ta với những luật lệ ràng buộc chúng ta. Ngài loại bỏ bằng cách đóng đinh nó vào thập tự giá.
Ngài đã phế bỏ các quyền thống trị, các thế lực, dùng thập tự giá chiến thắng chúng, và bêu chúng ra giữa thiên hạ.
Vì thế, đừng để ai xét đoán anh em về đồ ăn, thức uống, về ngày lễ, ngày trăng mới, hoặc ngày sa-bát,
Những điều nầy chỉ là bóng của những gì sắp đến, còn hình thật là Đấng Christ.
Đừng để bị lừa mà mất phần thưởng bởi những kẻ cố làm bộ khiêm nhường và thờ lạy các thiên sứ. Họ dựa vào các sự hiện thấy đặc biệt, bởi tâm trí xác thịt mà kiêu ngạo vô cớ.
Họ không liên hệ chặt chẽ với Đầu để nhờ Ngài mà toàn thân được nuôi dưỡng, được kết hợp với nhau bởi những khớp xương, dây liên kết, và tăng trưởng theo ý muốn Đức Chúa Trời.
Nếu anh em đã chết với Đấng Christ, thoát khỏi các thần linh của thế gian, thì tại sao anh em lại vẫn sống như mình còn thuộc về thế gian? Tại sao vẫn thuận phục những luật lệ:
“Chớ lấy, chớ nếm, chớ sờ”
khi mà tất cả những thứ ấy đều hư hoại nếu đã dùng đến? Chúng chỉ là những luật lệ và giáo huấn của loài người.
Thật những điều ấy, bề ngoài có vẻ khôn ngoan vì thờ lạy theo ý mình, cùng với sự hạ mình và khắc khổ thân thể, nhưng chẳng có giá trị gì trong việc chế ngự dục vọng của xác thịt.
Vậy nếu anh em đã được sống lại với Đấng Christ, hãy tìm kiếm những điều ở trên trời, nơi Đấng Christ ngồi bên phải Đức Chúa Trời.
Hãy chú tâm vào những điều ở trên trời, đừng chú tâm đến những điều ở dưới đất,
vì anh em đã chết, sự sống của mình đã giấu với Đấng Christ trong Đức Chúa Trời.
Khi nào Đấng Christ là sự sống của anh em hiện ra, lúc ấy anh em cũng sẽ hiện ra với Ngài trong vinh quang.
Vậy hãy giết chết những dục vọng trần tục như gian dâm, bất khiết, tình dục dâm đãng, ước muốn xấu xa và tham lam; vì tham lam là một hình thức thờ hình tượng;
bởi những điều nầy, cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời giáng trên những con không vâng phục.
Lúc trước, anh em đã từng sống trong những điều nầy và cư xử như vậy.
Nhưng bây giờ, hãy từ bỏ tất cả những điều ấy, tức là thịnh nộ, buồn giận, độc ác, phạm thượng, và lời nói tục tĩu từ miệng anh em.
Chớ nói dối nhau vì đã lột bỏ người cũ cùng các công việc của nó
mà mặc lấy người mới, là người đang được đổi mới trong nhận thức, theo hình ảnh Đấng tạo dựng người ấy.
Tại đây không còn phân biệt người Hi Lạp hay người Do Thái, người nhận cắt bì hay không nhận cắt bì, người dã man, người Sy-the, người nô lệ hay tự do; nhưng Đấng Christ là tất cả và trong tất cả.
Anh em là những người được tuyển chọn của Đức Chúa Trời, là người thánh và rất yêu dấu. Vậy, hãy mặc lấy lòng thương xót, nhân từ, khiêm nhường, mềm mại, nhịn nhục.
Nếu một người trong anh em có điều gì phàn nàn với người khác thì hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau; như Chúa đã tha thứ anh em thể nào thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy.
Nhưng trên hết những điều nầy, phải mặc lấy tình yêu thương, vì là dây liên kết của sự toàn hảo.
Hãy để sự bình an của Đấng Christ ngự trị lòng anh em, là bình an mà anh em đã được gọi đến trong một thân thể, và hãy tỏ lòng biết ơn.
Cũng hãy để lời của Đấng Christ sống sung mãn trong lòng anh em; hãy dùng tất cả sự khôn ngoan để dạy và khuyên bảo nhau, dùng thi thiên, thánh ca, linh khúc để hát cho Đức Chúa Trời với lòng biết ơn.
Bất cứ điều gì anh em nói hay làm, hãy thực hiện mọi sự trong danh Chúa là Đức Chúa Jêsus, nhờ Ngài mà tạ ơn Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha.
Hỡi những người làm vợ, hãy thuận phục chồng mình, như thế mới thích hợp là người ở trong Chúa.
Hỡi những người làm chồng, hãy yêu vợ mình, đừng cay nghiệt với nàng.
Hỡi những người làm con, hãy vâng phục cha mẹ trong mọi sự, vì điều nầy đẹp lòng Chúa.
Hỡi những người làm cha, đừng chọc giận con cái mình, e chúng nản lòng chăng.
Hỡi những nô lệ, hãy vâng phục chủ về phần xác trong mọi sự, không chỉ vâng phục trước mặt, như kẻ cố làm đẹp lòng người, nhưng vì kính sợ Chúa, vâng phục với lòng chân thành.
Khi làm bất cứ việc gì, hãy hết lòng mà làm, như làm cho Chúa chứ không phải làm cho người ta,
vì biết rằng anh em sẽ nhận được cơ nghiệp từ Chúa làm phần thưởng. Anh em đang phục vụ Đấng Christ là Chúa.
Ai làm điều sai trái sẽ phải bị báo trả tùy theo điều sai trái mình đã làm, không thiên vị ai cả.
Hỡi những người làm chủ, hãy đối xử phải lẽ và công bằng với các nô lệ mình, vì biết rằng anh em cũng có một Chủ ở trên trời.
Hãy thành tâm cầu nguyện, phải tỉnh thức trong lúc cầu nguyện và tạ ơn.
Cũng hãy cầu nguyện cho chúng tôi, xin Đức Chúa Trời mở cửa cho chúng tôi rao giảng lời Ngài, công bố sự mầu nhiệm của Đấng Christ. Chính vì sự mầu nhiệm đó mà tôi bị xiềng xích.
Cũng xin cầu nguyện để tôi có thể bày tỏ rõ ràng điều tôi phải nói.
Hãy cư xử một cách khôn ngoan với những người ngoại, và tận dụng thì giờ.
Lời nói của anh em phải luôn có ân hậu và nêm thêm muối, để anh em biết phải đối đáp thế nào với mỗi người.
Ty-chi-cơ sẽ nói cho anh em về mọi việc của tôi. Anh ấy là anh em quý mến, một người phục vụ trung thành, và là một đồng lao trong Chúa.
Chính vì điều nầy tôi phái anh ấy đến với anh em để anh em biết được tình trạng của chúng tôi, và khích lệ lòng anh em.
Cùng đi với anh ấy có Ô-nê-sim, người anh em trung thành và quý mến, là người đồng hương với anh em. Họ sẽ nói cho anh em biết mọi việc ở đây.
A-ri-tạc, người bạn tù của tôi, gửi lời chào thăm anh em; Mác, anh em họ của Ba-na-ba cũng vậy. Về Mác, anh em đã nhận được những chỉ dẫn rồi, nếu Mác đến chỗ anh em, hãy tiếp đón anh ấy.
Jêsus, gọi là Giúc-tu, cũng gửi lời chào thăm anh em. Trong số những người chịu cắt bì, chỉ có những người nầy cùng làm việc với tôi vì vương quốc Đức Chúa Trời, và họ là niềm an ủi cho tôi.
Ê-pháp-ra, người đồng hương với anh em, một đầy tớ của Đấng Christ Jêsus chào thăm anh em; anh ấy còn vì anh em chiến đấu trong sự cầu nguyện, để anh em trở nên trọn vẹn và hoàn thành mọi ý muốn của Đức Chúa Trời.
Vì tôi làm chứng cho anh ấy rằng, anh ấy đã làm việc khó nhọc vì anh em và vì những người ở Lao-đi-xê và Hi-ê-ra-pô-li.
Lu-ca, là vị bác sĩ yêu quý, chào thăm anh em; Đê-ma cũng vậy.
Hãy chào thăm những anh em ở Lao-đi-xê và Nim-pha cùng Hội Thánh nhóm trong nhà bà.
Sau khi đã đọc thư nầy giữa anh em, hãy chuyển cho Hội Thánh Lao-đi-xê cùng đọc; đồng thời cũng hãy đọc thư của Hội Thánh Lao-đi-xê gửi đến nữa.
Sau cùng, hãy nói với A-chíp: “Phải thận trọng và chu toàn chức vụ đã nhận nơi Chúa.”
Chính tay tôi, Phao-lô, viết lời chào thăm nầy. Hãy nhớ đến xiềng xích của tôi. Cầu xin ân điển ở cùng anh em.
Phao-lô, Sin-vanh và Ti-mô-thê gửi đến Hội Thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca ở trong Đức Chúa Trời, là Cha, và trong Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ. Cầu xin ân điển và bình an ban cho anh em!
Chúng tôi luôn cảm tạ Đức Chúa Trời về tất cả anh em, thường nhắc đến anh em trong khi cầu nguyện.
Trước mặt Đức Chúa Trời, là Cha, chúng tôi hằng nhớ đến công việc của đức tin anh em, công lao của lòng yêu thương, sự kiên nhẫn trong hi vọng của anh em nơi Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ.
Thưa anh em, những người yêu dấu của Đức Chúa Trời, chúng tôi biết Ngài đã chọn anh em;
vì Tin Lành chúng tôi đã truyền cho anh em không chỉ bằng lời nói, nhưng cũng bằng quyền năng, bằng Đức Thánh Linh và niềm xác tín sâu xa nữa. Anh em biết rõ khi còn ở giữa anh em, chúng tôi đã sống vì anh em như thế nào.
Anh em đã theo gương của chúng tôi và của Chúa, vì anh em đã tiếp nhận đạo giữa nhiều hoạn nạn với niềm vui của Đức Thánh Linh.
Vì vậy, anh em đã trở nên gương tốt cho tất cả tín hữu ở Ma-xê-đô-ni-a và A-chai.
Vì đạo Chúa từ anh em đã vang ra không những trong miền Ma-xê-đô-ni-a và A-chai thôi, mà đức tin của anh em trong Đức Chúa Trời cũng đã lan truyền khắp nơi, đến nỗi chúng tôi không cần phải nói thêm gì nữa.
Vì chính họ đã thuật lại việc anh em đã tiếp đãi chúng tôi, và thể nào anh em đã quay về với Đức Chúa Trời, từ bỏ thần tượng để phục vụ Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật,
và để chờ đợi Con Ngài từ trời, là Đức Chúa Jêsus mà Ngài đã khiến sống lại từ cõi chết, là Đấng giải cứu chúng ta khỏi cơn thịnh nộ sắp đến.
Thưa anh em, chính anh em biết rằng việc chúng tôi đến thăm anh em không phải là vô ích.
Nhưng như anh em biết, dù đã chịu đau khổ và sỉ nhục tại Phi-líp, chúng tôi vẫn mạnh dạn trong Đức Chúa Trời để rao truyền cho anh em Tin Lành của Đức Chúa Trời giữa nhiều chống đối.
Vì sự rao giảng của chúng tôi không xuất phát từ sự sai lầm, cũng không có ý đồ xấu xa hoặc để lừa dối ai.
Trái lại, chúng tôi đã được Đức Chúa Trời thử nghiệm và ủy thác Tin Lành, nên chúng tôi cứ thế mà rao giảng, không phải để làm vừa lòng loài người, nhưng để làm vừa lòng Đức Chúa Trời là Đấng dò xét tấm lòng chúng tôi.
Như anh em biết, và có Đức Chúa Trời chứng giám, chúng tôi không bao giờ dùng những lời dua nịnh, hoặc vì động cơ tư lợi mà làm;
chúng tôi cũng không tìm kiếm vinh quang từ loài người, hoặc từ anh em, hoặc từ người khác; dù rằng với tư cách là sứ đồ của Đấng Christ, chúng tôi có thể đòi hỏi anh em tôn trọng chúng tôi.
Nhưng giữa anh em, chúng tôi đã cư xử dịu dàng như một người vú săn sóc các con mình.
Chúng tôi trìu mến anh em đến nỗi sẵn sàng chia sẻ với anh em, không chỉ Tin Lành của Đức Chúa Trời mà cả chính mạng sống chúng tôi nữa, bởi vì anh em đã trở nên những người yêu dấu của chúng tôi.
Thưa anh em, hẳn anh em còn nhớ nỗi lao nhọc và vất vả của chúng tôi; trong khi rao giảng Tin Lành cho anh em, chúng tôi làm việc ngày đêm để không trở thành gánh nặng cho một ai trong anh em.
Anh em làm chứng, và Đức Chúa Trời cũng chứng giám rằng đối với anh em là những tín hữu, chúng tôi đã cư xử cách thanh sạch, công chính và không có gì đáng trách.
Anh em cũng biết, chúng tôi đã đối xử với từng người trong anh em như cha đối với con,
khích lệ, an ủi, và khuyên nài anh em sống một cách xứng đáng với Đức Chúa Trời, là Đấng gọi anh em vào vương quốc và vinh quang của Ngài.
Bởi vậy, chúng tôi không ngớt cảm tạ Đức Chúa Trời, vì khi anh em nghe và tiếp nhận lời Đức Chúa Trời từ chúng tôi, anh em không tiếp nhận lời ấy như lời của loài người, nhưng đích thực là lời của Đức Chúa Trời, lời tác động trong anh em là những tín hữu.
Thưa anh em, anh em đã noi gương các Hội Thánh của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ Jêsus tại Giu-đê, vì anh em cũng cùng chịu những nỗi khổ từ chính đồng bào mình như các Hội Thánh ấy đã chịu từ người Do Thái,
những người đã giết Chúa là Đức Chúa Jêsus, giết các nhà tiên tri, và bắt bớ chúng tôi. Họ làm buồn lòng Đức Chúa Trời và thù nghịch với mọi người,
ngăn cấm chúng tôi rao giảng để cứu dân ngoại. Họ luôn làm cho tội lỗi mình đầy dẫy thêm. Nhưng cuối cùng, cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời đã giáng trên họ.
Thưa anh em, về phần chúng tôi, tuy xa cách anh em ít lâu, xa mặt chứ không cách lòng, chúng tôi vẫn thiết tha mong được gặp lại anh em, mặt đối mặt.
Vì vậy, chúng tôi, nhất là tôi, Phao-lô, đã hai lần muốn đi đến cùng anh em, nhưng Sa-tan đã ngăn trở chúng tôi.
Vì niềm hi vọng, sự vui mừng, và mão triều thiên đáng hãnh diện của chúng tôi trước mặt Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus khi Ngài quang lâm là gì, nếu không phải là chính anh em?
Vâng, chính anh em là vinh quang và niềm vui của chúng tôi!
Vì không thể chờ đợi lâu hơn được nên chúng tôi sẵn lòng ở lại một mình tại A-thên
và gửi Ti-mô-thê, anh em chúng tôi, người phục vụ Đức Chúa Trời trong việc rao giảng Tin Lành của Đấng Christ, đến cùng anh em để xây dựng và khích lệ anh em trong đức tin,
để không một người nào trong anh em bị nao núng trước những hoạn nạn nầy; vì chính anh em đã biết ấy là điều đã định trước cho chúng ta.
Khi còn ở với anh em, chúng tôi đã nói trước rằng chúng ta sẽ phải chịu gian khổ; và như anh em biết, điều đó đã xảy đến rồi.
Vì vậy, không thể đợi lâu hơn được, tôi đã gửi Ti-mô-thê đi để biết đức tin của anh em như thế nào, e rằng kẻ cám dỗ đã cám dỗ anh em, và công lao của chúng tôi trở thành vô ích.
Nhưng nay Ti-mô-thê vừa từ chỗ anh em trở về, đã thuật cho chúng tôi tin tức tốt đẹp về đức tin và tình yêu thương của anh em. Anh ấy cũng nói rằng anh em luôn giữ kỷ niệm tốt về chúng tôi, và ao ước gặp chúng tôi, cũng như chúng tôi ước ao gặp anh em vậy.
Thưa anh em, như vậy trong mọi gian khổ và hoạn nạn, chúng tôi đã được an ủi qua đức tin của anh em.
Vì hiện nay chúng tôi sống là nhờ anh em đứng vững trong Chúa.
Làm sao chúng tôi có đủ lời để cảm tạ Đức Chúa Trời về anh em, về tất cả niềm vui mà qua anh em chúng tôi có được trước mặt Đức Chúa Trời chúng ta?
Đêm ngày chúng tôi khẩn thiết cầu xin Ngài cho phép chúng tôi được gặp mặt anh em, và bổ sung những gì còn khiếm khuyết trong đức tin anh em.
Cầu xin chính Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và Đức Chúa Jêsus, Chúa chúng ta, dẫn đường chúng tôi đến với anh em!
Xin Chúa khiến anh em càng gia tăng và chan chứa tình yêu thương với nhau và với mọi người, như chúng tôi đối với anh em,
nhờ đó Ngài làm cho tâm hồn anh em được vững mạnh, thánh khiết, không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, khi Đức Chúa Jêsus, Chúa chúng ta, quang lâm cùng với tất cả thánh đồ của Ngài!
Cuối cùng, thưa anh em, trong Chúa là Đức Chúa Jêsus, chúng tôi nài xin và khuyến giục anh em rằng anh em đã học nơi chúng tôi phải sống thế nào cho vui lòng Đức Chúa Trời, và anh em đang sống như thế thì hãy tiếp tục sống ngày càng tốt hơn.
Vì anh em biết những giáo huấn nào mà chúng tôi đã nhân danh Chúa là Đức Chúa Jêsus truyền cho anh em.
Vì ý muốn của Đức Chúa Trời là anh em phải được thánh hóa, tức là phải lánh xa sự gian dâm;
mỗi người phải biết gìn giữ thân thể mình cho thánh sạch và tôn trọng,
đừng sa vào tình dục phóng đãng như người ngoại, là những kẻ không nhận biết Đức Chúa Trời.
Trong vấn đề nầy, chớ có ai vi phạm, hay lợi dụng anh em mình; vì Chúa là Đấng trừng phạt tất cả những điều đó, như chúng tôi đã nói trước và khuyến cáo anh em rồi.
Vì Đức Chúa Trời không gọi chúng ta đến sự ô uế đâu, nhưng đến sự thánh hóa.
Cho nên, ai từ chối điều chúng tôi nói thì không phải là từ chối con người đâu, nhưng là từ chối Đức Chúa Trời, Đấng đã ban Đức Thánh Linh của Ngài cho anh em.
Về tình huynh đệ thì chẳng cần ai viết cho anh em, vì chính anh em đã được Đức Chúa Trời dạy phải yêu thương nhau;
thật sự anh em cũng đang làm như vậy với tất cả anh em khắp miền Ma-xê-đô-ni-a. Nhưng thưa anh em, chúng tôi khuyên anh em càng yêu thương hơn nữa.
Hãy tập sống trầm lặng, chăm lo công việc riêng của mình và lao động bằng chính tay mình, như chúng tôi đã dặn bảo anh em;
như vậy, nếp sống anh em được người ngoại cảm phục, và anh em không lệ thuộc vào ai cả.
Thưa anh em, chúng tôi không muốn anh em không biết về những người đã ngủ, để anh em không đau buồn như người khác không có hi vọng.
Vì nếu chúng ta tin Đức Chúa Jêsus đã chết và sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những người ngủ trong Đức Chúa Jêsus đến với Ngài.
Đây là điều chúng tôi nhờ lời Chúa mà nói với anh em: Chúng ta là những người đang sống mà còn ở lại cho đến ngày Chúa quang lâm, thì sẽ không đi trước những người đã ngủ.
Vì khi có hiệu lệnh ban ra, với tiếng gọi của thiên sứ trưởng, cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời thì chính Chúa từ trên trời sẽ giáng lâm. Bấy giờ, những người chết trong Đấng Christ sẽ sống lại trước tiên.
Kế đến, chúng ta là người đang sống mà còn ở lại sẽ cùng được cất lên với những người ấy trong đám mây để gặp Chúa tại không trung, và chúng ta sẽ ở với Chúa mãi mãi.
Vậy, anh em hãy dùng những lời nầy mà an ủi nhau.
Thưa anh em, về thì giờ và thời điểm, thì không cần phải viết cho anh em;
vì chính anh em biết rõ rằng ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm trong ban đêm vậy.
Khi người ta nói: “Hòa bình và an ninh” thì sự hủy diệt bất thần ập đến, như cơn đau chuyển dạ xảy đến cho người phụ nữ mang thai, họ không sao tránh khỏi.
Nhưng thưa anh em, anh em không ở trong bóng tối đến nỗi Ngày ấy đến bất ngờ cho anh em như kẻ trộm.
Vì tất cả anh em đều là con của ánh sáng và con của ban ngày. Chúng ta không thuộc về ban đêm, cũng không phải thuộc về bóng tối.
Vậy, chúng ta không ngủ như người khác mà phải tỉnh thức và tiết độ.
Vì người ngủ thì ngủ ban đêm, kẻ say thì say ban đêm.
Nhưng chúng ta thuộc về ban ngày nên hãy tiết độ, mặc áo giáp bằng đức tin và tình yêu thương, lấy hi vọng về sự cứu rỗi làm mũ trận.
Vì Đức Chúa Trời không định cho chúng ta chịu cơn thịnh nộ, nhưng cho hưởng sự cứu rỗi trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta,
là Đấng đã chết vì chúng ta để chúng ta hoặc thức hoặc ngủ đều được sống với Ngài.
Vậy, anh em hãy khích lệ nhau và xây dựng nhau, như anh em vẫn làm.
Thưa anh em, chúng tôi xin anh em hãy kính trọng những người đang làm việc vất vả giữa anh em, là những người vì Chúa mà hướng dẫn và khuyên bảo anh em.
Hãy lấy lòng yêu thương mà tôn kính họ vì công việc họ làm. Hãy sống hòa thuận với nhau.
Thưa anh em, xin anh em hãy khuyên nhủ kẻ lười biếng, khích lệ người ngã lòng, nâng đỡ kẻ yếu đuối, kiên nhẫn với mọi người.
Hãy cẩn trọng, đừng lấy ác báo ác, nhưng luôn tìm dịp làm điều tốt đẹp cho nhau cũng như cho mọi người.
Hãy vui mừng mãi mãi,
cầu nguyện không thôi;
hãy cảm tạ Chúa trong mọi hoàn cảnh, vì đó là ý muốn của Đức Chúa Trời đối với anh em trong Đấng Christ Jêsus.
Chớ dập tắt Thánh Linh;
chớ khinh dể các lời tiên tri.
Hãy xem xét mọi việc. Điều gì tốt đẹp thì giữ lấy;
mọi hình thức gian ác thì phải tránh xa.
Cầu xin chính Đức Chúa Trời bình an thánh hóa anh em một cách toàn diện. Cầu xin tâm linh, linh hồn, và thân thể anh em được giữ vẹn toàn, không chỗ trách được khi Chúa chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ quang lâm!
Đấng đã kêu gọi anh em là thành tín, chính Ngài sẽ làm việc đó.
Thưa anh em, xin cầu nguyện cho chúng tôi.
Hãy chào tất cả anh em bằng cái hôn thánh.
Nhân danh Chúa, tôi yêu cầu anh em hãy đọc thư nầy cho tất cả anh em được nghe.
Cầu xin ân điển của Chúa chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ, ở với anh em!
Phao-lô, Sin-vanh và Ti-mô-thê gửi cho Hội Thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca ở trong Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và trong Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ:
Cầu xin Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ ban ân điển và bình an cho anh em!
Thưa anh em, chúng tôi phải luôn cảm tạ Đức Chúa Trời về anh em; và điều nầy rất đúng, vì đức tin anh em tăng trưởng rất nhiều, và tình yêu thương của mỗi người trong anh em đối với nhau càng ngày càng gia tăng.
Chúng tôi cũng tự hào về anh em trong các Hội Thánh của Đức Chúa Trời, về sự kiên nhẫn và đức tin anh em trong tất cả những bắt bớ và hoạn nạn mà anh em đang chịu.
Đây là chứng cứ về sự phán xét công minh của Đức Chúa Trời, để anh em trở nên xứng đáng với vương quốc Đức Chúa Trời, chính vì vương quốc đó mà anh em chịu khổ.
Theo sự công minh của Đức Chúa Trời, Ngài hẳn sẽ lấy hoạn nạn báo trả những kẻ gây hoạn nạn cho anh em;
và cho anh em là những người chịu hoạn nạn được an nghỉ với chúng tôi, trong ngày Chúa là Đức Chúa Jêsus từ trời hiện đến giữa ngọn lửa hừng, với các thiên sứ đầy uy lực của Ngài.
Ngài sẽ trừng phạt những kẻ không chịu nhận biết Đức Chúa Trời và không vâng phục Tin Lành của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus.
Họ sẽ chịu hình phạt hủy diệt đời đời, phân cách khỏi sự hiện diện của Chúa và vinh quang của quyền năng Ngài
khi Ngài đến trong Ngày ấy, để được tôn vinh giữa các thánh đồ và được chiêm ngưỡng bởi tất cả những người tin, trong đó có anh em, vì anh em đã tin lời chứng của chúng tôi trước mặt anh em.
Vì vậy, chúng tôi luôn cầu nguyện cho anh em, để Đức Chúa Trời chúng ta làm cho anh em được xứng đáng với sự kêu gọi của Ngài, và nhờ quyền năng Ngài mà hoàn tất mọi khát vọng tốt đẹp và công việc của đức tin anh em;
đến nỗi danh của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus được tôn vinh trong anh em, và anh em trong Ngài, tùy theo ân điển của Đức Chúa Trời chúng ta và của Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ.
Thưa anh em, về sự quang lâm của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ, và về cuộc hội ngộ giữa chúng ta với Ngài, chúng tôi xin anh em
đừng vội dao động tinh thần hay hoảng sợ bởi tà linh, bởi lời nói hoặc thư từ nào dường như do chúng tôi gửi đến, nói rằng ngày của Chúa đã đến rồi.
Đừng để ai lừa dối anh em bằng bất cứ cách nào. Vì sự bội đạo phải đến trước, và con người gian ác, đứa con của sự hủy diệt, phải xuất hiện;
tức là kẻ đối kháng, tự tôn mình lên trên tất cả những gì người ta gọi là thần hoặc đối tượng thờ lạy, đến nỗi nó vào ngồi trong đền Đức Chúa Trời, tự xưng mình là Đức Chúa Trời.
Anh em không nhớ rằng khi còn ở với anh em tôi đã nói về việc nầy rồi sao?
Và anh em biết rõ điều hiện đang cầm giữ để nó chỉ được xuất hiện đúng thời điểm của nó.
Vì thế lực bí ẩn của tội ác đã và đang hoành hành; nhưng Đấng đang cầm giữ nó vẫn hành động cho đến khi Người được cất đi.
Bấy giờ kẻ gian ác sẽ xuất hiện, và Chúa là Đức Chúa Jêsus sẽ giết chết nó bằng hơi thở của miệng Ngài, hủy diệt nó bằng hào quang khi Ngài quang lâm.
Nhờ tác động của Sa-tan, kẻ gian ác sẽ đến với tất cả quyền năng cũng như những phép mầu, dấu lạ giả dối;
nó dùng mọi mưu chước gian ác để lừa gạt những kẻ hư mất, vì họ không tiếp nhận tình thương của chân lý để được cứu rỗi.
Vì thế, Đức Chúa Trời phó mặc họ cho sự lầm lạc, khiến họ tin vào điều giả dối,
để rồi tất cả những người không tin chân lý, nhưng ưa thích sự gian ác đều sẽ bị kết án.
Thưa anh em là những người yêu dấu của Chúa, chúng tôi buộc phải luôn luôn cảm tạ Đức Chúa Trời về anh em, vì từ ban đầu Ngài đã chọn để ban sự cứu rỗi cho anh em, qua sự thánh hóa bởi Thánh Linh và lòng tin vào chân lý.
Cũng vì thế, Ngài đã dùng Tin Lành của chúng tôi kêu gọi anh em, để anh em được hưởng vinh quang của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ.
Vậy, thưa anh em, hãy đứng vững và vâng giữ những điều dạy dỗ mà chúng tôi đã truyền cho anh em, hoặc bằng lời nói, hoặc bằng thư từ.
Cầu xin chính Chúa chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ và Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, Đấng đã yêu chúng ta, và bởi ân điển ban cho chúng ta sự an ủi đời đời cùng niềm hi vọng tốt đẹp,
khích lệ lòng anh em, khiến anh em được vững vàng trong mọi việc làm và lời nói thiện lành!
Sau cùng, thưa anh em, hãy cầu nguyện cho chúng tôi, để đạo Chúa được truyền bá nhanh chóng và được tôn trọng như đã có giữa anh em,
và để chúng tôi được giải thoát khỏi những kẻ xấu xa và gian ác; vì không phải tất cả đều có đức tin.
Chúa là thành tín, Ngài sẽ làm cho anh em mạnh mẽ và bảo vệ anh em khỏi kẻ gian ác.
Trong Chúa, chúng tôi tin chắc rằng anh em đang và sẽ làm những việc chúng tôi đã dạy bảo.
Cầu xin Chúa hướng dẫn lòng anh em đến với tình yêu của Đức Chúa Trời và sự kiên nhẫn của Đấng Christ!
Thưa anh em, nhân danh Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ, chúng tôi khuyên anh em phải xa lánh bất cứ người anh em nào sống bê tha, không theo các điều dạy dỗ mà anh em đã nhận từ chúng tôi.
Bởi chính anh em biết phải làm sao để noi gương chúng tôi; vì khi ở với anh em, chúng tôi không sống bê tha,
chẳng ăn bám của ai. Trái lại, chúng tôi đêm ngày làm lụng vất vả, khó nhọc, để không làm gánh nặng cho một người nào trong anh em.
Không phải chúng tôi không có quyền hưởng trợ cấp, nhưng muốn làm gương để anh em noi theo.
Ngay khi còn ở với anh em, chúng tôi cũng đã khuyên bảo anh em rằng: Nếu ai không muốn làm việc, thì cũng đừng ăn.
Vì chúng tôi nghe rằng trong anh em có người sống lười biếng, không chịu làm việc mà lại hay xen vào chuyện người khác.
Trong Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ, chúng tôi truyền bảo và khuyên nài những người đó phải yên lặng làm việc để nuôi sống chính mình.
Thưa anh em, chớ nản lòng khi làm việc thiện.
Nếu có ai không vâng theo điều chúng tôi nói trong thư nầy, hãy lưu ý và đừng giao du với họ, để họ biết hổ thẹn.
Tuy nhiên, đừng xem họ như kẻ thù; trái lại, hãy khuyên nhủ như anh em vậy.
Cầu xin chính Chúa bình an ban bình an cho anh em trong mọi lúc và bằng mọi cách! Xin Chúa ở với tất cả anh em!
Chính tôi, Phao-lô, tự tay viết lời chào thăm nầy. Đây là chữ ký của tôi trong mọi bức thư; tôi thường ký như vậy.
Cầu xin ân điển của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ ở với tất cả anh em!
Phao-lô, sứ đồ của Đấng Christ Jêsus theo mệnh lệnh của Đức Chúa Trời, Cứu Chúa chúng ta, và của Đấng Christ Jêsus, niềm hi vọng của chúng ta,
thân gửi Ti-mô-thê, con thật của ta trong đức tin: Cầu xin Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và Đấng Christ Jêsus, Chúa chúng ta, ban ân điển, sự thương xót và bình an cho con!
Như ta đã khuyên con lúc ta đi Ma-xê-đô-ni-a, con hãy ở lại Ê-phê-sô để truyền bảo một số người không được dạy một giáo lý nào khác,
cũng đừng bận tâm đến những chuyện huyễn hoặc và những gia phả bất tận, là những thứ gây ra tranh cãi hơn là mở mang công việc của Đức Chúa Trời trong đức tin.
Mục đích của việc răn bảo là tình yêu thương đến từ tấm lòng trong sạch, lương tâm trong sáng và đức tin chân thành.
Một số người đi chệch mục đích đó, đã sa vào những cuộc tranh luận rỗng tuếch;
họ muốn làm thầy dạy luật mà không hiểu lời mình nói hoặc điều mình quả quyết.
Chúng ta biết luật pháp là tốt nếu được sử dụng đúng đắn,
và biết rằng luật pháp được đặt ra không phải cho người công chính, mà cho những kẻ phạm pháp và phản nghịch, những kẻ vô luân và tội lỗi, những kẻ bất khiết và phàm tục, những kẻ giết cha mẹ và giết người,
những kẻ tà dâm và đồng tính luyến ái, những kẻ buôn người, nói dối, khai man, và tất cả những gì chống lại với giáo lý chân chính.
Đó là điều dạy dỗ từ Tin Lành vinh quang của Đức Chúa Trời hạnh phước, mà ta đã được giao phó.
Ta cảm tạ Đấng ban năng lực cho ta là Đấng Christ Jêsus, Chúa chúng ta, vì Ngài đã xét ta là trung tín và chỉ định ta phục vụ Ngài;
dù trước đây ta vốn là kẻ phạm thượng, bắt bớ, xấc láo. Nhưng ta đã nhận ơn thương xót, vì lúc ấy ta đã hành động một cách ngu muội do lòng vô tín.
Thật ân điển của Chúa chúng ta đã chan chứa trên ta cùng với đức tin và tình yêu thương trong Đấng Christ Jêsus.
Đây là lời chắc chắn và hoàn toàn đáng tiếp nhận: Đấng Christ Jêsus đã đến trong thế gian để cứu vớt tội nhân; trong những tội nhân đó, ta là người đứng đầu.
Sở dĩ ta nhận được ơn thương xót là để Đấng Christ Jêsus tỏ bày sự nhẫn nhục trọn vẹn của Ngài đối với ta, là tội nhân hàng đầu, dùng ta làm gương cho những ai sẽ tin Ngài để được sự sống đời đời.
Nguyện sự tôn kính và vinh quang đời đời vô cùng thuộc về Vua muôn đời, bất tử, vô hình, tức là Đức Chúa Trời duy nhất! A-men.
Ti-mô-thê con ta ơi, ta truyền mệnh lệnh nầy cho con, theo các lời tiên tri về con từ trước, để nhờ những lời đó mà con chiến đấu dũng cảm,
giữ vững đức tin và lương tâm trong sáng. Có người vì đã chối bỏ lương tâm đó mà sụp đổ đức tin,
trong số họ có Hy-mê-nê và A-léc-xan-đơ mà ta đã phó mặc cho Sa-tan để họ học tập đừng phạm thượng nữa.
Vậy, trước hết ta khuyên dặn con phải dâng lời khẩn nguyện, cầu xin, cảm tạ và cầu thay cho mọi người,
cho các vua, cho tất cả những người lãnh đạo, để chúng ta được sống yên ổn, bình an với tất cả lòng tin kính và đạo đức.
Đó là điều tốt đẹp và hài lòng Đức Chúa Trời, Cứu Chúa chúng ta,
là Đấng muốn mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lý.
Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jêsus, cũng là người.
Ngài đã phó chính mình làm giá chuộc mọi người, là lời chứng được ban cho đúng thời điểm.
Vì lời chứng ấy, ta đã được cử làm người truyền giảng và sứ đồ (ta nói thật, không nói dối), làm giáo sư cho các dân ngoại, để dạy họ về đức tin và chân lý.
Vậy, ta muốn những người đàn ông khắp mọi nơi đều đưa tay thánh sạch lên trời mà cầu nguyện, không giận dữ và cãi cọ.
Ta cũng muốn rằng phụ nữ nên ăn mặc đứng đắn, trang điểm giản dị và lịch sự, không bới tóc cầu kỳ hay đeo vàng, ngọc hoặc dùng quần áo đắt tiền,
nhưng làm các việc thiện, là điều phù hợp với người phụ nữ tin kính.
Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với thái độ hoàn toàn thuận phục.
Ta không cho phép người nữ dạy dỗ hay cai trị người nam mà phải yên lặng.
Vì A-đam được tạo dựng trước, rồi mới đến Ê-va;
cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng là người nữ bị lừa gạt và phạm tội.
Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong lúc sinh con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.
Đây là lời đáng tin cậy: Nếu có người mong được làm giám mục, người đó đã ước ao một điều cao đẹp.
Vậy, giám mục cần phải không chỗ trách được, chỉ một chồng một vợ, tiết chế, sáng suốt, khả kính, hiếu khách, có tài dạy dỗ,
không nghiện rượu, không thô bạo nhưng hòa nhã, không gây gổ, và không tham tiền.
Người ấy phải khéo quản trị gia đình mình, dạy dỗ con cái luôn biết thuận phục và lễ phép;
vì người nào không biết quản trị gia đình mình thì làm sao chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?
Tân tín hữu không được làm giám mục, vì có thể do kiêu căng mà rơi vào án phạt dành cho ma quỷ.
Người giám mục còn phải được người ngoại đạo làm chứng tốt, để khỏi rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.
Các chấp sự cũng phải nghiêm trang, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi phi nghĩa,
nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sáng.
Họ cũng phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được làm chấp sự.
Phụ nữ cũng vậy, phải nghiêm trang, không nói xấu, nhưng tiết chế và trung tín trong mọi việc.
Các chấp sự phải là người chỉ một chồng một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình.
Vì những người thi hành tốt chức chấp sự sẽ đạt được vị trí cao trọng và mạnh dạn trong đức tin nơi Đấng Christ Jêsus.
Ta mong sớm đến thăm con, nhưng vẫn viết những điều nầy,
để nếu ta có chậm đến thì con cũng biết cách cư xử trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, rường và cột của chân lý.
Phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của lòng tin kính thật quá lớn lao: Đấng đã được tỏ bày trong thân xác, Được Thánh Linh tuyên xưng công chính, Được các thiên sứ ngắm nhìn, Được rao giảng giữa muôn dân, Được mọi người tin nhận, Được cất lên trong vinh quang.
Thánh Linh phán rõ ràng rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người chối bỏ đức tin, chạy theo các thần lừa dối và giáo lý của ma quỷ,
bởi luận điệu đạo đức giả của những kẻ nói dối mà lương tâm đã chai lì.
Họ cấm cưới gả, và bắt kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo ra cho những ai tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn.
Vì mọi vật do Đức Chúa Trời tạo dựng đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ, miễn là được tiếp nhận với lòng biết ơn;
vì nhờ lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.
Nếu con giãi bày những điều nầy cho anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jêsus, được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã tin theo.
Hãy tránh xa những chuyện hoang đường phàm tục, chuyện bịa của các bà già, nhưng hãy tự luyện tập lòng tin kính;
vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi đôi phần, còn sự tin kính ích lợi mọi mặt, vì có lời hứa cho đời nầy và cả đời sau nữa.
Đó là lời chắc chắn, hoàn toàn đáng tin nhận.
Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, vì chúng ta đã đặt hi vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, là Cứu Chúa của mọi người, đặc biệt là của những người tin.
Đó là những điều con phải khuyên bảo và dạy dỗ.
Đừng để người ta khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, lòng yêu thương, đức tin và sự trong sạch mà làm gương cho các tín hữu.
Con hãy chú trọng đến việc đọc Kinh Thánh trong các buổi nhóm, việc khuyên bảo và dạy dỗ cho đến khi ta đến.
Đừng xao lãng ân tứ trong con, là ân tứ đã ban cho con qua lời tiên tri khi hội đồng trưởng lão đặt tay trên con.
Hãy thực hành và chú tâm vào những việc nầy, để mọi người thấy sự tiến bộ của con.
Hãy cẩn trọng với chính con và sự giảng dạy của con; phải kiên trì trong mọi việc đó, vì làm như vậy, thì con và những người nghe con đều được cứu.
Đừng nặng lời quở trách người già cả, nhưng hãy an ủi họ như cha, cư xử với các thanh niên như anh em,
các bà cao tuổi như mẹ, các thiếu nữ như chị em, với tất cả sự thanh khiết.
Hãy kính trọng những quả phụ thật sự góa bụa.
Nếu một quả phụ có con hoặc cháu, thì trước hết con cháu phải học bày tỏ lòng hiếu thảo với chính gia đình mình và báo đáp công ơn cha mẹ; vì điều đó đẹp lòng Đức Chúa Trời.
Bà nào thực sự góa bụa, sống một mình, đặt hi vọng nơi Đức Chúa Trời thì cứ bền lòng ngày đêm cầu nguyện nài xin.
Nhưng quả phụ nào sống xa hoa trụy lạc thì dù sống cũng như chết.
Hãy truyền bảo họ những điều nầy để họ không bị chê trách.
Nếu ai không cấp dưỡng cho bà con mình, nhất là cho chính gia đình mình thì người ấy đã chối bỏ đức tin, còn tệ hơn người không tin nữa.
Để được ghi tên vào sổ quả phụ, người đàn bà đó phải không dưới sáu mươi tuổi, chỉ có một đời chồng,
phải được tiếng khen về các việc nhân đức như nuôi dạy con cái, tiếp đãi khách lạ, rửa chân cho các thánh đồ, cứu giúp người hoạn nạn, và dấn thân làm mọi việc thiện.
Nhưng hãy từ chối ghi tên những quả phụ còn trẻ; vì khi nhục dục làm cho họ xa rời Đấng Christ thì họ muốn tái giá;
như thế, họ sẽ bị lên án vì đã vi phạm lời hứa nguyện ban đầu.
Thêm vào đó, họ còn học thói ăn không ngồi rồi, la cà từ nhà nầy sang nhà khác; đã thế, họ còn ngồi lê đôi mách, xen vào chuyện người khác, nói những điều không đáng nói.
Vì vậy, ta muốn những quả phụ trẻ nên lấy chồng, sinh con, quản trị gia đình mình, không tạo cơ hội cho kẻ thù bêu xấu.
Vì đã có một vài quả phụ lầm lạc đi theo Sa-tan.
Nếu nữ tín hữu nào có quả phụ trong nhà mình thì phải giúp đỡ họ, đừng thêm gánh nặng cho Hội Thánh, để Hội Thánh có thể giúp đỡ những người thực sự góa bụa.
Các trưởng lão khéo lãnh đạo Hội Thánh thì càng phải được kính trọng nhiều hơn, nhất là những người chịu khó nhọc trong việc truyền đạo và dạy dỗ.
Vì Kinh Thánh dạy: “Chớ khớp miệng con bò đang đạp lúa,” và “Người làm công đáng được nhận tiền công.”
Đừng chấp nhận lời tố cáo chống lại một trưởng lão nếu không có hai hoặc ba nhân chứng.
Hãy công khai khiển trách những kẻ cứ tiếp tục phạm tội, để những người khác phải sợ.
Trước mặt Đức Chúa Trời và Đấng Christ Jêsus cùng các thiên sứ được chọn, ta khuyến cáo con hãy giữ những lời răn dạy nầy, không nên thành kiến, cũng đừng làm việc gì vì thiên vị.
Đừng vội đặt tay trên ai cả, cũng đừng nhúng tay vào tội lỗi của người khác. Hãy giữ mình cho trong sạch.
Vì dạ dày của con và vì con thường hay đau yếu nên con không chỉ uống nước mà hãy dùng một ít rượu.
Tội lỗi của một số người thật rõ ràng, ngay cả trước khi bị xét xử; nhưng cũng có người về sau tội lỗi họ mới lộ ra.
Các việc lành cũng vậy: Có việc lộ ra, lại có việc không lộ ra, nhưng về sau cũng không giấu mãi được.
Tất cả những người dưới ách nô lệ phải tôn trọng chủ mình mọi mặt để danh Đức Chúa Trời và sự dạy dỗ của chúng ta không bị xúc phạm.
Những ai có chủ là tín hữu, thì đừng lấy cớ họ là anh em mà thiếu tôn trọng họ, nhưng càng phải phục vụ tận tâm hơn, vì người được phục vụ đó là tín hữu và anh em yêu dấu. Đó là những điều con phải dạy và khuyên bảo họ.
Nếu có người dạy giáo lý khác, không phù hợp với lời chân chính và giáo lý tin kính của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ
thì đó là kẻ kiêu ngạo, không hiểu biết gì; nhưng mắc bệnh ham tranh luận, cãi lẽ về chữ nghĩa, gây ra sự ganh ghét, bất đồng, phỉ báng, nghi kỵ xấu xa;
sự tranh cãi triền miên giữa những kẻ có tâm trí hư hoại, đánh mất chân lý, xem sự tin kính như là phương tiện trục lợi.
Sự tin kính cùng sự thỏa lòng chính là nguồn lợi lớn.
Vì khi chào đời chúng ta chẳng đem gì theo thì lúc lìa đời cũng không thể mang gì đi được;
vì vậy, có cơm ăn, áo mặc thì phải thỏa lòng.
Còn những ai ham giàu có thì rơi vào sự cám dỗ, mắc vào cạm bẫy, sa vào những tham muốn dại dột và nguy hại, là những điều nhận chìm con người trong sự hủy diệt và hư mất.
Vì lòng tham tiền bạc là cội rễ của mọi điều ác, một số người vì đeo đuổi nó mà lìa bỏ đức tin, tự chuốc lấy nhiều nỗi đau nhức nhối.
Nhưng hỡi con là người của Đức Chúa Trời, hãy tránh xa những điều đó và tìm kiếm điều công chính, tin kính, đức tin, yêu thương, kiên nhẫn, mềm mại.
Hãy vì đức tin mà chiến đấu dũng cảm, giành lấy sự sống đời đời, là sự sống mà con đã được gọi đến, và vì đó mà con có lời tuyên xưng tốt đẹp trước mặt nhiều nhân chứng.
Trước mặt Đức Chúa Trời là Đấng ban sự sống cho muôn loài, và trước mặt Đấng Christ Jêsus là Đấng có lời tuyên xưng tốt đẹp khi làm chứng trước Pôn-xơ Phi-lát, ta khuyên con
phải giữ điều răn dạy nầy một cách trọn vẹn, không chỗ trách được, cho đến ngày Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ hiện đến,
là điều mà Đấng Chủ Tể hạnh phước và duy nhất, là Vua của các vua, Chúa của các chúa sẽ tỏ bày vào đúng thời điểm của Ngài,
là Đấng duy nhất không hề chết, ngự giữa ánh sáng không ai có thể đến gần được, là Đấng chưa người nào thấy hoặc có thể thấy được. Cầu xin sự tôn kính và quyền năng đời đời thuộc về Ngài! A-men.
Hãy khuyên bảo những người giàu ở thế gian nầy đừng kiêu ngạo và đừng đặt hi vọng vào của cải không chắc chắn, nhưng hãy đặt hi vọng nơi Đức Chúa Trời, là Đấng mỗi ngày ban mọi vật một cách dư dật để chúng ta vui hưởng.
Họ phải làm việc thiện, làm nhiều việc phước đức, có lòng rộng rãi, sẵn sàng chia sẻ;
như vậy, họ tích lũy cho tương lai mình một nền tảng vững bền để nắm chắc sự sống thật.
Ti-mô-thê ơi, hãy giữ lấy những gì đã được giao phó cho con, tránh những lời nhảm nhí phàm tục và các cuộc tranh cãi về những điều nhầm tưởng là tri thức;
vì muốn có thứ tri thức đó mà có người đã đánh mất đức tin. Cầu xin ân điển ở với anh em!
Phao-lô, sứ đồ của Đấng Christ Jêsus, bởi ý muốn Đức Chúa Trời, theo lời hứa ban sự sống trong Đấng Christ Jêsus,
thân gửi Ti-mô-thê, con rất yêu dấu của ta: Cầu xin Đức Chúa Trời, là Cha, và Đấng Christ Jêsus, Chúa chúng ta, ban ân điển, sự thương xót và bình an cho con!
Ta cảm tạ Đức Chúa Trời, là Đấng ta phục vụ với lương tâm trong sáng như tổ phụ ta đã làm; cả ngày lẫn đêm, ta luôn nhớ đến con trong khi cầu nguyện.
Khi nhớ đến nước mắt con, ta ước ao sớm đến thăm con để lòng được tràn ngập niềm vui.
Ta cũng nhớ đến đức tin chân thành của con, là đức tin trước đã sống trong Lô-ít, bà ngoại con, và trong Ơ-nít, mẹ con; ta tin chắc rằng đức tin ấy nay đang sống trong con.
Vì vậy, ta nhắc con hãy nhen lại ân tứ của Đức Chúa Trời mà con đã nhận lãnh qua sự đặt tay của ta;
vì Đức Chúa Trời không ban cho chúng ta tinh thần nhút nhát, nhưng tinh thần mạnh mẽ, có tình yêu thương và tự chủ.
Vậy, con chớ hổ thẹn khi làm chứng về Chúa chúng ta, cũng đừng hổ thẹn về ta, người tù của Ngài; nhưng hãy cậy quyền năng Đức Chúa Trời, cùng ta chịu khổ vì Tin Lành.
Đức Chúa Trời đã cứu chúng ta, đã gọi chúng ta bằng sự kêu gọi thánh, không phải do việc làm của chúng ta, nhưng theo mục đích riêng của Ngài và ân điển mà Ngài ban cho chúng ta từ muôn đời trước trong Đấng Christ Jêsus.
Ân điển ấy bây giờ mới được thể hiện qua sự hiện đến của Đấng Christ Jêsus, Cứu Chúa chúng ta, Đấng đã tiêu diệt sự chết, dùng Tin Lành làm sáng tỏ sự sống và sự bất diệt.
Chính vì Tin Lành nầy mà ta đã được lập làm người truyền giảng, sứ đồ và giáo sư;
đó chính là lý do mà ta chịu khổ. Nhưng ta không hổ thẹn vì biết ta đã tin Đấng nào, và ta đoan chắc rằng Đấng ấy có quyền năng bảo vệ điều ta đã ủy thác cho đến Ngày ấy.
Với đức tin và tình yêu trong Đấng Christ Jêsus, hãy giữ những điều dạy dỗ chân chính mà con đã học nơi ta làm mẫu mực.
Hãy nhờ Đức Thánh Linh, Đấng đang ngự trong chúng ta, mà gìn giữ điều tốt đẹp đã được ủy thác cho con.
Con biết rằng tất cả những người trong miền A-si-a đã lìa bỏ ta; trong số ấy có cả Phy-ghen và Hẹt-mô-ghen.
Cầu xin Chúa thương xót gia đình Ô-nê-si-phô-rơ, vì ông ấy đã nhiều lần nâng đỡ ta, không hề hổ thẹn khi ta bị xiềng xích;
trái lại, khi vừa đến Rô-ma, ông ấy đã vội vã tìm ta, và đã tìm được.
Cầu xin Chúa cho ông ấy tìm được sự thương xót của Chúa trong Ngày đó! Con biết rõ khi ở Ê-phê-sô ông ấy đã hết lòng phục vụ ta.
Vậy hỡi con, hãy nhờ ân điển trong Đấng Christ Jêsus mà làm cho mình mạnh mẽ.
Những điều con đã nghe nơi ta trước mặt nhiều nhân chứng hãy ủy thác cho những người đáng tin cậy, là những người có khả năng dạy dỗ người khác.
Hãy cùng ta chịu khổ như một người lính dũng cảm của Đấng Christ Jêsus.
Không một người lính nào đang làm nhiệm vụ mà còn vướng víu việc đời, vì mục tiêu của người ấy là làm vừa lòng người chiêu mộ mình.
Cũng vậy, một vận động viên sẽ không được lãnh mão miện nếu không tranh tài đúng luật lệ.
Người nông dân làm lụng khó nhọc thì phải được ưu tiên hưởng hoa lợi.
Hãy suy nghĩ điều ta nói, vì Chúa sẽ ban cho con sự hiểu biết trong mọi việc.
Hãy nhớ rằng Đức Chúa Jêsus Christ thuộc dòng dõi Đa-vít, Ngài đã sống lại từ cõi chết theo như Tin Lành mà ta rao giảng.
Vì Tin Lành đó mà ta bị bạc đãi, đến nỗi mang xiềng xích như một tên tội phạm. Nhưng đạo của Đức Chúa Trời không bao giờ bị xiềng xích.
Vậy nên, vì những người được chọn, ta cam chịu mọi sự để họ cũng nhận được sự cứu rỗi trong Đấng Christ Jêsus, với vinh quang đời đời.
Lời nầy là chắc chắn: Nếu chúng ta đã chết với Ngài, Thì cũng sẽ sống với Ngài;
Nếu chúng ta chịu gian khổ, Thì sẽ cùng cai trị với Ngài; Nếu chúng ta chối bỏ Ngài, Thì Ngài cũng sẽ chối bỏ chúng ta;
Nếu chúng ta thất tín, Thì Ngài vẫn thành tín; Vì Ngài không thể tự chối bỏ mình được.
Hãy nhắc nhở họ những điều nầy; trước mặt Đức Chúa Trời, hãy khuyến cáo họ phải tránh sự tranh cãi về chữ nghĩa, đó là điều vô bổ, chỉ làm tổn hại cho người nghe mà thôi.
Hãy chuyên tâm để được đẹp lòng Đức Chúa Trời như người làm công không có gì đáng thẹn, thẳng thắn giảng dạy lời chân lý.
Hãy tránh những lời nhảm nhí phàm tục; vì những kẻ ăn nói như thế sẽ càng ngày càng tiến sâu vào con đường không tin kính,
và lời nói của họ như chứng hoại thư lây lan. Trong số đó có Hy-mê-nê và Phi-lết,
họ đi chệch khỏi chân lý khi nói rằng sự sống lại đã qua rồi. Họ làm đảo lộn đức tin của một số người.
Tuy nhiên, nền tảng vững chắc của Đức Chúa Trời vẫn đứng vững, với lời được ấn chứng rằng: “Chúa biết những người thuộc về Ngài;” và: “Người nào kêu cầu danh Chúa thì phải tránh xa điều bất chính.”
Trong một ngôi nhà lớn, không chỉ có bình bằng vàng, bình bằng bạc, mà cũng có bình bằng gỗ bằng đất nữa; thứ thì dùng vào việc sang, thứ thì dùng vào việc hèn.
Vì vậy, nếu ai thanh tẩy mình khỏi những điều ô uế đó thì sẽ trở nên chiếc bình sang trọng, được thánh hóa, hữu dụng cho chủ và sẵn sàng cho mọi việc lành.
Hãy tránh xa những dục vọng của tuổi trẻ, và theo đuổi sự công chính, đức tin, yêu thương, hòa thuận với những người kêu cầu Chúa bằng tấm lòng thanh sạch.
Hãy từ chối những cuộc tranh luận điên dại và ngu xuẩn, vì như con biết, chúng chỉ sinh ra sự cãi cọ mà thôi.
Đầy tớ của Chúa không được ham tranh cãi, nhưng phải thân thiện với mọi người, có tài dạy dỗ, nhịn nhục,
sửa dạy những người chống đối mình cách hòa nhã, mong muốn Đức Chúa Trời giúp họ ăn năn, nhận biết chân lý,
và tỉnh ngộ để thoát khỏi cạm bẫy của ma quỷ, vì họ đã bị ma quỷ bắt giữ để làm theo ý nó.
Con hãy biết rằng trong những ngày cuối cùng, sẽ có những thời kỳ khó khăn.
Vì người ta sẽ trở nên vị kỷ, tham tiền, khoe khoang, kiêu ngạo, lộng ngôn, không vâng lời cha mẹ, bạc bẽo, bất khiết,
không có tình người, bất nhân, vu khống, ngông cuồng, dữ tợn, ghét điều lành,
bội bạc, nông nổi, tự phụ, ham thích lạc thú hơn là yêu mến Đức Chúa Trời,
giữ hình thức tin kính, nhưng chối bỏ quyền năng của sự tin kính đó. Con hãy tránh xa những loại người như thế.
Trong bọn họ có những kẻ lẻn vào nhà người ta, quyến dụ những phụ nữ sa đọa trong tội lỗi, bị đủ thứ tình dục thôi thúc,
học hoài mà không bao giờ nhận biết chân lý.
Trước kia Gian-nét và Giam-be chống đối Môi-se thể nào thì những người nầy cũng chống đối chân lý thể ấy. Đó là những người có tâm trí băng hoại và đức tin yếu đuối.
Nhưng họ sẽ không tiến xa hơn được, vì cũng như trường hợp hai người kia, sự điên dại của họ sẽ được tỏ rõ cho mọi người.
Về phần con, con đã theo sát các lời dạy dỗ, cách cư xử, mục đích sống, đức tin, lòng kiên nhẫn, tình yêu thương, lòng kiên định của ta;
cũng như trong những cơn bắt bớ, nỗi khổ đau đã xảy đến cho ta tại thành An-ti-ốt, I-cô-ni và Lít-trơ. Ta đã chịu những sự bắt bớ đó, nhưng Chúa luôn giải cứu ta khỏi tất cả.
Thật, tất cả những người muốn sống cuộc đời tin kính trong Đấng Christ Jêsus đều sẽ bị bắt bớ.
Còn những kẻ hung ác, kẻ lừa đảo thì sẽ càng ngày càng tệ hại hơn, lừa dối người rồi bị người lừa dối lại.
Về phần con, hãy giữ vững những gì con đã học và tin quyết, vì con biết mình đã học những điều đó với ai,
và từ thuở ấu thơ con đã biết Kinh Thánh vốn có thể khiến con khôn ngoan để được cứu bởi đức tin trong Đấng Christ Jêsus.
Cả Kinh Thánh đều được Đức Chúa Trời cảm thúc, có ích cho sự dạy dỗ, khiển trách, sửa trị và huấn luyện trong sự công chính,
để người của Đức Chúa Trời được toàn vẹn và sẵn sàng cho mọi việc lành.
Trước mặt Đức Chúa Trời và Đấng Christ Jêsus, là Đấng sẽ phán xét người sống và kẻ chết, và vì sự hiện đến của Ngài và vương quốc Ngài, ta khuyến cáo con:
Hãy truyền giảng lời Chúa, hãy kiên trì dù trong thuận cảnh hay nghịch cảnh, hãy thuyết phục, khiển trách, khích lệ với tất cả lòng nhẫn nhục và tinh thần dạy dỗ.
Vì sẽ đến một thời điểm người ta không chịu nghe giáo lý chân chính, nhưng theo tư dục mà quy tụ nhiều giáo sư quanh mình để được nghe những lời êm tai;
họ bịt tai không nghe chân lý mà hướng đến những chuyện hoang đường.
Nhưng về phần con, hãy tiết độ trong mọi sự, chịu đựng gian khổ, làm công việc của nhà truyền giảng Tin Lành và chu toàn chức vụ của mình.
Về phần ta, ta đang bị đổ ra như làm lễ quán, giờ qua đời của ta gần rồi.
Ta đã chiến đấu trong một trận chiến anh dũng, đã hoàn tất cuộc chạy đua, đã giữ được đức tin.
Từ nay mão triều thiên công chính đã dành sẵn cho ta; Chúa là thẩm phán công minh sẽ ban mão ấy cho ta trong Ngày đó, nhưng không chỉ cho ta mà cũng cho tất cả những ai yêu mến sự hiện đến của Ngài.
Hãy cố gắng đến với ta thật sớm;
vì Đê-ma, do ham mê đời nầy, đã lìa bỏ ta và đi qua Tê-sa-lô-ni-ca; Cơ-rết-xen sang Ga-la-ti, còn Tít thì đi Đa-ma-ti rồi.
Chỉ còn một mình Lu-ca ở với ta. Hãy đem Mác đi theo với con, vì Mác rất hữu ích cho chức vụ của ta.
Ta đã sai Ty-chi-cơ đi Ê-phê-sô.
Khi con đến, nhớ đem chiếc áo choàng mà ta để lại tại nhà Ca-bút, thành Trô-ách, và sách vở nữa, nhất là những cuộn sách bằng giấy da.
A-léc-xan-đơ, thợ đúc đồng, đã làm hại ta nhiều lắm; Chúa sẽ báo trả hắn tùy theo việc hắn đã làm.
Cả con cũng phải cảnh giác người đó, vì hắn quyết liệt chống đối lời rao giảng của chúng ta.
Khi ta biện hộ cho mình lần thứ nhất, không có ai ủng hộ ta cả; tất cả đều bỏ rơi ta. Xin Chúa đừng chấp trách họ!
Nhưng Chúa đã đứng bên ta và ban năng lực cho ta để ta có thể rao truyền Tin Lành một cách chu toàn cho tất cả dân ngoại đều nghe, và ta đã được giải cứu khỏi hàm sư tử.
Chúa sẽ giải cứu ta khỏi mọi điều ác và đem ta vào vương quốc thiên đàng của Ngài. Cầu xin vinh quang thuộc về Ngài đời đời vô cùng! A-men.
Kính gửi lời chào Pê-rít-sin và A-qui-la, cùng gia quyến Ô-nê-si-phô-rơ.
Ê-rát còn ở Cô-rinh-tô, còn Trô-phim đang bị đau nên ta để ở lại Mi-lê.
Con hãy cố gắng đến trước mùa đông. Ơ-bu-lu, Pu-đen, Li-nút, Cơ-lau-đia cùng tất cả anh em gửi lời chào thăm con.
Cầu xin Chúa ở với tâm linh con! Cầu xin ân điển ở với anh em!
Phao-lô, đầy tớ của Đức Chúa Trời và sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, có nhiệm vụ đưa người được Đức Chúa Trời chọn lựa đến đức tin và sự hiểu biết chân lý, là điều phù hợp với lòng tin kính,
trong niềm hi vọng về sự sống đời đời là sự sống mà Đức Chúa Trời, Đấng không bao giờ nói dối, đã hứa từ muôn đời trước,
và vào đúng thời điểm, Ngài đã bày tỏ lời của Ngài qua việc rao giảng mà ta đã được ủy thác theo lệnh của Đức Chúa Trời, Cứu Chúa chúng ta.
Mến gửi Tít, con thật của ta trong đức tin chung: Cầu xin Đức Chúa Trời là Cha và Đấng Christ Jêsus, Cứu Chúa chúng ta, ban ân điển và bình an cho con!
Ta đã để con ở lại Cơ-rết là để con chỉnh đốn những việc còn dang dở, và bổ nhiệm các trưởng lão trong mỗi thành như ta đã hướng dẫn con.
Trưởng lão phải là người không có gì đáng trách; một chồng một vợ; con cái phải tin Chúa, không bị tố cáo là phóng đãng hay vô kỷ luật.
Vì là người quản lý nhà Đức Chúa Trời, giám mục phải không chê trách được; người ấy phải không kiêu căng, không nóng tính, không nghiện rượu, không hung bạo và không tham lợi bất chính;
trái lại, phải hiếu khách, yêu mến việc thiện, lịch thiệp, chính trực, thánh khiết, tự chủ,
giữ vững lời đáng tin cậy đã được dạy dỗ, để có thể dùng giáo lý chân chính mà khuyên nhủ cũng như phản bác những kẻ chống đối.
Có nhiều người vô kỷ luật, nhất là những người chủ trương cắt bì, hay huênh hoang và lừa dối; con cần phải làm cho họ câm miệng lại.
Vì lợi lộc thấp hèn, họ đã dạy những điều không nên dạy, gây đổ vỡ toàn bộ gia đình người khác.
Một người trong họ, một nhà tiên tri của chính họ, đã nói: “Người Cơ-rết luôn là những kẻ nói dối, những con thú dữ, những kẻ ham ăn mà lười biếng.”
Lời chứng nầy là thật. Vì vậy, con hãy nghiêm khắc khiển trách họ, để họ được mạnh mẽ trong đức tin,
không chú tâm vào những chuyện hoang đường của người Do Thái cũng như các điều răn dạy của những người khước từ chân lý.
Với người trong sạch, mọi sự đều trong sạch; nhưng với những kẻ bại hoại và vô tín thì không điều gì là trong sạch cả. Trái lại, cả tâm trí và lương tâm họ đều đã bị băng hoại.
Họ tự nhận là người biết Đức Chúa Trời, nhưng hành động của họ lại từ chối Ngài. Họ thật đáng ghét, không vâng lời, không thể làm được một việc gì tốt đẹp cả.
Nhưng phần con, con hãy dạy những điều phù hợp với giáo lý chân chính.
Hãy khuyên các cụ ông phải tiết chế, nghiêm trang, khôn ngoan, vững vàng trong đức tin, trong yêu thương và kiên nhẫn.
Các cụ bà cũng vậy, phải cư xử một cách thánh khiết, không nói xấu, không nghiện rượu. Các cụ phải biết dạy điều hay lẽ phải
để huấn luyện các phụ nữ trẻ biết yêu chồng, thương con,
tiết độ, trong trắng, đảm đang việc nhà, hiền thục, thuận phục chồng, để đạo của Đức Chúa Trời không bị xúc phạm.
Con cũng hãy khuyên nhủ các thanh niên phải biết tự chủ.
Trong mọi việc, chính con phải gương mẫu qua các việc lành và tỏ ra trung thực, nghiêm trang khi dạy dỗ;
lời nói phải đúng đắn, không ai chỉ trích được, để những kẻ chống đối phải hổ thẹn, không thể nói xấu chúng ta điều gì.
Hãy khuyên các đầy tớ thuận phục chủ mình, làm hài lòng chủ trong mọi sự, không được bướng bỉnh,
không ăn cắp, nhưng phải bày tỏ lòng trung thành trọn vẹn, để trong mọi lãnh vực, đạo lý của Đức Chúa Trời, Cứu Chúa chúng ta, được rạng rỡ.
Vì ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời dành cho mọi người đã được bày tỏ.
Ân điển đó dạy chúng ta từ bỏ sự không tin kính và dục vọng trần gian để sống một cách tiết độ, công chính và tin kính trong đời nầy,
đang khi chờ đợi niềm hi vọng phước hạnh và sự xuất hiện vinh quang của Đức Chúa Trời vĩ đại, cũng là Cứu Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ,
là Đấng đã hi sinh vì chúng ta để chuộc chúng ta khỏi mọi gian ác, và tinh luyện chúng ta thành một dân thuộc riêng về Ngài, là dân sốt sắng làm các việc lành.
Con hãy dạy những điều đó, lấy uy quyền mà khuyên nhủ và quở trách. Đừng để một ai khinh dể con.
Hãy nhắc nhở các tín hữu phải tuân phục các người lãnh đạo và chính quyền, phải vâng lời và sẵn sàng làm mọi việc lành,
không xúc phạm ai, tránh gây gổ, nhưng hãy dịu dàng và cư xử hết sức nhã nhặn với mọi người.
Vì chính chúng ta trước đây cũng ngu muội, không vâng phục, bị lừa dối, nô dịch cho đủ thứ dục vọng và lạc thú, sống trong sự gian ác, ghen tị, đáng ghét và coi thường nhau.
Nhưng khi lòng khoan dung và nhân ái của Đức Chúa Trời, Cứu Chúa chúng ta, được bày tỏ thì Ngài cứu chúng ta,
không phải bởi việc công chính chúng ta đã làm, nhưng bởi lòng thương xót của Ngài, qua việc thanh tẩy của sự tái sinh và đổi mới của Đức Thánh Linh,
là Đấng mà Ngài đã tuôn đổ dồi dào trên chúng ta bởi Đức Chúa Jêsus Christ, Cứu Chúa chúng ta,
để chúng ta nhờ ân điển Ngài mà được xưng công chính, trở nên người thừa kế niềm hi vọng về sự sống đời đời.
Đây là lời chắc chắn. Ta muốn con nhấn mạnh những điều đó, để những ai đã tin Đức Chúa Trời sẽ chú tâm vào việc lành. Đó là điều tốt đẹp và ích lợi cho mọi người.
Nhưng hãy tránh những cuộc tranh cãi dại dột, những vấn đề gia phả, những sự bất hòa và những tranh luận về luật pháp; vì những điều nầy đều vô ích và chẳng có giá trị gì.
Sau khi đã khiển trách kẻ gây bè phái một đôi lần rồi thì hãy xa lánh họ;
vì con biết rằng kẻ cứ lầm lạc và phạm tội như thế, thì đã tự kết án mình rồi.
Khi ta sai A-tê-ma hoặc Ty-chi-cơ đến cùng con thì hãy cố gắng đến ngay với ta tại Ni-cô-pô-li, vì ta định ở đó qua mùa đông.
Hãy cố lo liệu cho luật sư Xê-na và cho A-pô-lô khi họ ra đi, đừng để họ thiếu thứ gì cả.
Anh em tín hữu chúng ta phải học tập chú tâm vào việc lành, để cung ứng những trường hợp có nhu cầu cấp bách, chứ đừng sống một cuộc đời không kết quả.
Tất cả những người đang ở với ta gửi lời thăm con. Kính lời chào thăm những người yêu thương chúng ta trong đức tin. Cầu xin ân điển ở với tất cả anh em!
Phao-lô, người tù của Đấng Christ Jêsus, và Ti-mô-thê, người anh em, kính gửi Phi-lê-môn, người rất quý mến và là bạn đồng lao của chúng tôi,
đồng kính gửi Áp-bi, người chị em của chúng tôi, A-chíp, người bạn cùng chiến đấu, và Hội Thánh tại nhà anh ấy:
Cầu xin Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ ban ân điển và bình an cho anh em.
Tôi luôn cảm tạ Đức Chúa Trời tôi, mỗi khi nhắc đến anh trong lời cầu nguyện,
vì tôi được nghe về đức tin của anh nơi Chúa là Đức Chúa Jêsus, và lòng yêu thương của anh đối với tất cả các thánh đồ.
Tôi cầu nguyện rằng sự chia sẻ đức tin của anh sẽ nâng cao sự hiểu biết về mọi điều tốt đẹp mà chúng ta có được trong Đấng Christ.
Thưa anh, tình yêu thương của anh đã đem lại niềm vui và sự an ủi sâu xa cho tôi, vì nhờ anh mà lòng của các thánh đồ được tươi mới.
Cho nên, dù trong Đấng Christ, tôi có quyền truyền cho anh điều phải làm,
nhưng vì tình yêu thương, tôi muốn nài xin anh thì hơn. Tôi, Phao-lô, đã già rồi và hiện nay đang bị tù vì Đấng Christ Jêsus,
nài xin anh giúp Ô-nê-sim, người con mà tôi đã sinh ra trong vòng xiềng xích.
Trước kia, người nầy không ích lợi gì cho anh, nhưng bây giờ thì ích lợi cho cả anh và tôi.
Tôi gửi người nầy về cho anh như gửi chính tấm lòng của tôi vậy.
Tôi muốn giữ người nầy lại với tôi, để thay anh chăm lo cho tôi trong lúc tôi vì Tin Lành mà chịu xiềng xích.
Nhưng tôi không muốn làm điều gì khi chưa được anh đồng ý, để việc lành anh làm không bởi ép buộc mà do tự nguyện.
Có lẽ vì điều nầy mà Ô-nê-sim đã xa anh một thời gian, để anh có thể nhận lại người nầy mãi mãi,
không phải như một nô lệ nữa, nhưng hơn hẳn một nô lệ, là một anh em quý mến. Đối với tôi, người nầy đặc biệt quý mến, nhưng đối với anh, lại càng quý mến hơn, cả về phần xác lẫn phần trong Chúa.
Vậy, nếu anh xem tôi là bạn đồng lao, xin hãy tiếp nhận người nầy như chính mình tôi vậy.
Nếu người nầy có làm thiệt hại anh, hoặc mắc nợ điều gì thì anh cứ tính cho tôi.
Tôi, Phao-lô, chính tay tôi viết điều nầy, tôi sẽ hoàn trả cho anh. Còn chuyện anh nợ tôi về chính bản thân mình thì không nhắc đến.
Phải, thưa anh, xin anh cho tôi có được niềm vui nầy trong Chúa, và làm tươi tỉnh tâm hồn tôi trong Đấng Christ.
Tôi viết cho anh với niềm tin tưởng là anh sẽ ưng thuận, và biết rằng anh sẽ làm quá điều tôi yêu cầu.
Nhân thể, hãy chuẩn bị cho tôi một chỗ trọ, vì tôi hi vọng nhờ lời cầu nguyện của anh em, tôi sẽ được trở về với anh em.
Ê-pháp-ra, người bạn tù của tôi trong Đấng Christ Jêsus, chào thăm anh;
Mác, A-ri-tạc, Đê-ma và Lu-ca, những bạn đồng lao của tôi cũng vậy.
Cầu xin ân điển của Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ ở với tâm linh anh em!
Đời xưa, Đức Chúa Trời đã dùng các nhà tiên tri phán dạy tổ phụ chúng ta nhiều lần, nhiều cách.
Nhưng trong những ngày cuối cùng nầy, Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài, là Con mà Ngài đã lập lên làm Đấng thừa kế muôn vật; cũng qua Con ấy, Ngài đã sáng tạo vũ trụ.
Con là ánh sáng rực rỡ của vinh quang Đức Chúa Trời và là hình ảnh trung thực của bản thể Ngài. Con dùng lời quyền năng của Ngài mà nâng đỡ muôn vật. Sau khi tẩy sạch tội lỗi, Ngài ngồi bên phải Đấng Tôn Nghiêm ở trên trời.
Ngài được tôn cao hơn các thiên sứ bao nhiêu thì danh Ngài trở nên cao trọng hơn danh các thiên sứ bấy nhiêu.
Vì Đức Chúa Trời có bao giờ phán với thiên sứ nào rằng: “Ngươi là Con Ta, Ngày nay Ta đã sinh ngươi”? Hoặc có khi nào phán: “Ta sẽ làm Cha người, Người sẽ làm Con Ta”?
Nhưng khi đưa Con đầu lòng vào trần gian, Ngài phán: “Tất cả các thiên sứ của Đức Chúa Trời phải thờ phượng Con.”
Về các thiên sứ thì Ngài phán: “Đức Chúa Trời làm cho các thiên sứ Ngài như gió, Và các đầy tớ Ngài như ngọn lửa.”
Nhưng nói về Con thì có lời phán: “Lạy Đức Chúa Trời, ngôi Ngài trường tồn vĩnh cửu, Quyền bính của vương quốc Chúa là quyền bính chính trực.
Người yêu sự công chính, ghét điều gian ác; Cho nên, Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của Người, đã xức dầu vui mừng cho Người, Khiến Người vượt trội hơn các bạn hữu mình.”
Lại có lời phán: “Lạy Chúa, ban đầu Chúa lập nền trái đất, Và các tầng trời là công việc của tay Chúa.
Trời đất sẽ tiêu tan, nhưng Chúa vẫn trường tồn; Trời đất sẽ cũ mòn như chiếc áo.
Ngài sẽ cuốn chúng lại như áo choàng, Và chúng sẽ đổi thay như chiếc áo. Nhưng Chúa vẫn y nguyên, Và các năm của Chúa không bao giờ cùng.”
Đức Chúa Trời có bao giờ phán với thiên sứ nào rằng: “Hãy ngồi bên phải Ta, Cho đến khi Ta đặt các kẻ thù làm bệ cho chân ngươi”?
Không phải tất cả thiên sứ là các thần phục vụ, được sai xuống để phục vụ những người thừa hưởng sự cứu rỗi hay sao?
Cho nên, chúng ta càng phải chú ý kỹ hơn về điều mình đã nghe, kẻo bị trôi lạc chăng.
Vì nếu lời thiên sứ rao truyền là chắc chắn, và mọi sự vi phạm hay bất tuân đều bị báo ứng thích đáng,
thì làm sao chúng ta tránh khỏi hình phạt nếu chúng ta xem thường ơn cứu rỗi lớn dường ấy? Đó là ơn cứu rỗi được Chúa công bố từ ban đầu, rồi những người đã nghe xác chứng cho chúng ta.
Đức Chúa Trời cũng đã làm chứng bằng những dấu lạ, phép mầu và nhiều việc quyền năng cùng những ân tứ của Đức Thánh Linh được ban phát theo ý muốn Ngài.
Thật, Đức Chúa Trời không đặt thế giới tương lai mà chúng ta đang nói đó phục dưới quyền các thiên sứ.
Nhưng có một chỗ trong Kinh Thánh đã làm chứng rằng: “Loài người là gì mà Chúa nhớ đến? Con người là ai mà Chúa lại quan tâm?
Chúa đã đặt Người thấp hơn các thiên sứ trong một thời gian ngắn; Chúa đội cho Người mão triều vinh quang và tôn trọng,
Đặt mọi vật phục dưới chân Người.” Khi đặt mọi vật phục Đức Chúa Jêsus như vậy, Đức Chúa Trời chẳng để một vật nào không phục Ngài. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta chưa thấy mọi vật phục Ngài.
Nhưng chúng ta thấy Đức Chúa Jêsus, Đấng bị đặt thấp hơn các thiên sứ trong một thời gian ngắn, bây giờ được đội mão triều vinh quang và tôn trọng vì sự chết mà Ngài đã chịu, để nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, Ngài đã nếm sự chết vì mọi người.
Vì muôn vật hiện hữu là do Đức Chúa Trời và vì Đức Chúa Trời, nên khi muốn đem nhiều con cái đến vinh quang, Ngài đã khiến Đấng làm cội nguồn ơn cứu rỗi của họ phải trải qua đau khổ để được toàn hảo là điều thích hợp.
Vì Đấng thánh hóa và những người được thánh hóa đều bởi một Cha mà ra. Vì lý do đó, Đức Chúa Jêsus không thẹn mà gọi họ là anh em,
khi Ngài phán: “Con sẽ truyền danh Chúa cho anh em Con; Và ca ngợi Ngài giữa hội chúng.”
Ngài lại phán: “Ta sẽ tin cậy nơi Chúa.” Rồi Ngài cũng phán: “Nầy, Ta cùng với con cái mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ta.”
Vì con cái thì cùng chung huyết nhục, nên chính Đức Chúa Jêsus cũng mang lấy huyết nhục giống như họ, để qua sự chết, Ngài tiêu diệt kẻ cầm quyền sự chết là ma quỷ,
và giải phóng mọi người vì sợ chết mà sống trong nô lệ suốt đời.
Vì rõ ràng, không phải Ngài giúp đỡ các thiên sứ, nhưng giúp đỡ dòng dõi Áp-ra-ham.
Vì thế, Ngài phải trở nên giống như anh em mình trong mọi phương diện, để trở nên thầy tế lễ thượng phẩm đầy lòng thương xót và trung tín trong sự phục vụ Đức Chúa Trời, hầu chuộc tội cho chúng dân.
Vì chính Ngài đã chịu khổ trong khi bị cám dỗ nên có thể giúp đỡ những ai bị cám dỗ.
Do đó, thưa anh em thánh, là những người hưởng ơn kêu gọi trên trời, hãy suy nghĩ đến sứ giả và thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta xưng nhận là Đức Chúa Jêsus.
Ngài đã trung tín với Đấng đã lập Ngài, cũng như Môi-se trung tín trong cả nhà Đức Chúa Trời vậy.
Nhưng Đức Chúa Jêsus đáng được vinh quang hơn Môi-se bội phần, chẳng khác nào người xây nhà được tôn trọng hơn chính ngôi nhà.
Thật vậy, nhà nào cũng phải do một người nào đó xây dựng nên, nhưng Đức Chúa Trời là Đấng đã tạo dựng muôn vật.
Môi-se đã trung tín trong cả nhà Đức Chúa Trời như một đầy tớ, để làm chứng về những điều sẽ được công bố.
Nhưng Đấng Christ thì trung tín như con trai quản trị nhà Đức Chúa Trời. Chúng ta là nhà của Ngài, miễn là chúng ta giữ vững lòng tin cậy và niềm tự hào về hi vọng của chúng ta cho đến cuối cùng.
Cho nên, như Đức Thánh Linh phán: “Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài,
Thì chớ cứng lòng như lúc nổi loạn, Trong ngày thử thách ở hoang mạc,
Là nơi tổ phụ các ngươi thấy công việc Ta làm trong bốn mươi năm, Mà còn thử Ta!
Vì thế, Ta giận thế hệ đó, Và phán: ‘Lòng chúng nó lầm lạc luôn, Không nhận biết đường lối Ta.’
Nên Ta đã thề trong cơn thịnh nộ: ‘Chúng sẽ chẳng bước vào sự an nghỉ của Ta!’ ”
Thưa anh em, hãy cẩn trọng, kẻo ai trong anh em có lòng dữ và chẳng tin mà xây bỏ Đức Chúa Trời hằng sống chăng.
Nhưng hằng ngày anh em hãy khuyên bảo nhau, đang khi còn gọi là “ngày nay,” để không một ai trong anh em bị tội lỗi lừa dối mà cứng lòng.
Vì nếu chúng ta cứ giữ vững lòng tin quyết ban đầu của mình cho đến cuối cùng thì chúng ta được dự phần với Đấng Christ,
như có chép rằng: “Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, Thì chớ cứng lòng như lúc nổi loạn.”
Ai là kẻ nghe tiếng Ngài rồi nổi loạn? Không phải là những người được Môi-se dẫn ra khỏi Ai Cập sao?
Đức Chúa Trời đã giận ai trong bốn mươi năm? Chẳng phải là giận những kẻ phạm tội mà thây họ đã ngã trong hoang mạc sao?
Ngài cũng đã thề với ai rằng họ không được vào sự an nghỉ của Ngài? Không phải là với những người không vâng lời Ngài sao?
Vậy, chúng ta thấy những người ấy không thể vào đó được vì vô tín.
Vì thế, trong khi lời hứa cho vào sự an nghỉ của Chúa vẫn còn đó, chúng ta hãy lo sợ để không một ai trong chúng ta không đạt được tiêu chuẩn.
Vì Tin Lành được rao giảng cho chúng ta cũng giống như cho họ; nhưng lời họ đã nghe không đem lại ích lợi gì, vì trong khi nghe, họ không tiếp nhận lời ấy với đức tin.
Về phần chúng ta là những người đã tin thì bước vào sự an nghỉ, như Đức Chúa Trời đã phán: “Như Ta đã thề trong cơn thịnh nộ: ‘Chúng sẽ chẳng hề bước vào sự an nghỉ của Ta!’ ” Mặc dù công việc của Ngài đã hoàn tất từ khi sáng tạo thế giới.
Vì có chỗ Ngài phán về ngày thứ bảy rằng: “Ngày thứ bảy, Đức Chúa Trời nghỉ các công việc Ngài.”
Về điều nầy, Ngài lại phán: “Chúng sẽ chẳng hề bước vào sự an nghỉ của Ta.”
Như vậy, vẫn còn một số người sẽ được vào sự an nghỉ đó. Còn những người trước đây đã nghe Tin Lành nhưng không được vào đó vì không vâng lời.
Hơn nữa, sau một thời gian rất lâu, trong một Thi Thiên của Đa-vít, Chúa lại định một ngày nữa gọi là “ngày nay,” như đã dẫn ở trên: “Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, Thì chớ cứng lòng.”
Vì nếu Giô-suê đã cho họ an nghỉ, thì Đức Chúa Trời không còn nói về một ngày khác nữa.
Thế thì vẫn còn một ngày an nghỉ sa-bát cho con dân Đức Chúa Trời.
Vì ai bước vào sự an nghỉ của Đức Chúa Trời thì nghỉ công việc mình, cũng như Đức Chúa Trời đã nghỉ công việc của Ngài vậy.
Cho nên, chúng ta phải nỗ lực bước vào sự an nghỉ đó, để không có một người nào trong chúng ta sa ngã vì theo gương những kẻ không vâng lời.
Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống động và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, xuyên thấu đến nỗi phân chia hồn với linh, khớp với tủy, phán đoán các tư tưởng và ý định trong lòng.
Chẳng loài thọ tạo nào có thể che giấu được trước mặt Chúa, nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mắt Đấng mà chúng ta phải khai trình.
Do đó, vì chúng ta có một thầy tế lễ thượng phẩm vĩ đại đã vượt qua các tầng trời là Đức Chúa Jêsus, Con Đức Chúa Trời, nên hãy giữ vững những điều chúng ta xưng nhận.
Vì chúng ta không có một thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thông sự yếu đuối chúng ta, nhưng có một thầy tế lễ bị cám dỗ đủ mọi cách như chúng ta, song chẳng phạm tội.
Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ân điển, để nhận được sự thương xót và tìm được ân điển giúp đỡ chúng ta kịp thời.
Mỗi thầy tế lễ thượng phẩm được chọn lựa trong loài người và được bổ nhiệm để thay cho loài người mà phục vụ Đức Chúa Trời, để dâng lễ vật và sinh tế vì tội lỗi.
Vì chính ông cũng bị bao vây trong sự yếu đuối nên có thể cảm thông với những kẻ u tối, lầm lạc.
Vì lý do đó, ông buộc phải dâng sinh tế vì tội lỗi của chính mình, cũng như vì tội lỗi của dân chúng.
Không một ai tự chọn cho mình vinh dự ấy, mà phải được Đức Chúa Trời kêu gọi, giống như A-rôn vậy.
Cũng vậy, Đấng Christ không tự tôn mình làm thầy tế lễ thượng phẩm, nhưng bởi Đấng đã phán với Ngài rằng: “Con là Con Ta, Ngày nay Ta đã sinh ra Con.”
Trong một chỗ khác, Ngài cũng phán: “Con làm thầy tế lễ đời đời Theo ban Mên-chi-xê-đéc.”
Khi còn sống trong thân xác, Đấng Christ đã lớn tiếng dâng những lời cầu nguyện và nài xin đầy nước mắt lên Đấng có quyền cứu mình khỏi chết; và bởi lòng thành kính, Ngài được nhậm lời.
Mặc dù là Con, Ngài cũng đã học tập vâng lời qua những khổ đau mình đã chịu;
và khi đã hoàn tất, Ngài trở nên cội nguồn của ơn cứu rỗi đời đời cho mọi người vâng lời Ngài,
và được Đức Chúa Trời chỉ định làm thầy tế lễ thượng phẩm theo ban Mên-chi-xê-đéc.
Chúng tôi có nhiều điều cần nói về vấn đề nầy nhưng rất khó giải thích, vì anh em đã trở nên chậm hiểu.
Đáng lẽ, bây giờ anh em phải làm thầy rồi; thế mà anh em vẫn cần người ta dạy những điều sơ học của lời Đức Chúa Trời cho anh em. Anh em vẫn còn phải uống sữa thay vì dùng thức ăn đặc.
Ai chỉ uống sữa thì chưa hiểu đạo công chính, vì còn thơ ấu.
Nhưng thức ăn đặc dành cho người trưởng thành, là cho những người nhờ thực hành mà luyện tập khả năng phân biệt điều lành và điều dữ.
Vậy, chúng ta phải bỏ qua các điều sơ học về đạo Đấng Christ mà tiến tới sự trưởng thành; đừng đặt lại những vấn đề nền tảng nữa, như: sự ăn năn các công việc chết, đức tin nơi Đức Chúa Trời,
sự dạy dỗ về các báp-têm, sự đặt tay, sự sống lại từ cõi chết và sự phán xét đời đời.
Nếu Đức Chúa Trời cho phép thì chúng ta sẽ làm điều đó.
Vì những người đã được soi sáng một lần, đã từng nếm sự ban tặng từ trời, đã dự phần về Đức Thánh Linh,
đã nếm sự tốt đẹp của lời Đức Chúa Trời, và quyền năng của thời đại sẽ đến;
nếu vấp ngã thì không thể nào phục hồi để ăn năn được, vì chính họ đóng đinh Con Đức Chúa Trời một lần nữa, và công khai sỉ nhục Ngài.
Vì đám đất nào thấm nhuần mưa móc mà sinh hoa mầu, có ích cho người cày cấy, thì đất đó hưởng phước lành của Đức Chúa Trời.
Nhưng nếu đất nào chỉ sinh gai góc và chà chuôm thì vô giá trị và bị rủa sả, cuối cùng phải bị đốt.
Thưa anh em yêu dấu, dù nói thế, nhưng chúng tôi vẫn tin chắc về những việc tốt hơn từ nơi anh em, là những việc đi chung với sự cứu rỗi.
Vì Đức Chúa Trời không phải là bất công mà quên công việc và lòng yêu thương của anh em đã bày tỏ ra vì danh Ngài khi phục vụ các thánh đồ, và vẫn còn đang phục vụ nữa.
Nhưng chúng tôi mong ước rằng mỗi người trong anh em cứ bày tỏ lòng nhiệt thành như vậy để giữ vững niềm hi vọng cho đến cuối cùng;
đến nỗi anh em không lười biếng, nhưng cứ bắt chước những người bởi đức tin và lòng kiên nhẫn mà hưởng được lời hứa.
Khi Đức Chúa Trời hứa với Áp-ra-ham, vì không thể chỉ đấng nào lớn hơn, nên Ngài chỉ chính mình mà thề với ông rằng:
“Chắc chắn Ta sẽ ban phước cho con và khiến dòng dõi con gia tăng bội phần.”
Áp-ra-ham đã kiên nhẫn đợi chờ như vậy, nên mới nhận được điều đã hứa.
Thật vậy, người ta thường lấy danh một đấng lớn hơn mình mà thề, và mọi cuộc tranh chấp kết thúc với một lời thề để xác định.
Cũng vậy, khi Đức Chúa Trời muốn bày tỏ rõ ràng hơn cho những người thừa hưởng lời hứa biết được mục đích không thay đổi của Ngài, thì Ngài xác nhận bằng một lời thề;
để nhờ hai điều chẳng thay đổi đó — hai điều ấy Đức Chúa Trời không thể nói dối — mà chúng ta là những người chạy đến ẩn náu nơi Ngài, được sự an ủi lớn và nắm chắc niềm hi vọng đã đặt trước mặt mình.
Chúng ta giữ niềm hi vọng nầy như cái neo của linh hồn, vững vàng, chắc chắn và thấu vào phía trong màn,
là nơi Đức Chúa Jêsus, Đấng Tiên Phong, đã bước vào vì chúng ta, và đã trở nên thầy tế lễ thượng phẩm đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc.
Mên-chi-xê-đéc nầy là vua của Sa-lem, thầy tế lễ của Đức Chúa Trời chí cao, đã đón và chúc phước cho Áp-ra-ham khi người chiến thắng các vua trở về;
Áp-ra-ham đã lấy một phần mười về mọi của cải mình có mà dâng cho vua. Tên vua ấy, trước hết có nghĩa là “vua công chính”, và cũng là vua của Sa-lem, nghĩa là “vua hòa bình”.
Người không cha, không mẹ, không gia phả, không có ngày sinh ra, cũng không có ngày qua đời, nhưng giống Con Đức Chúa Trời, làm thầy tế lễ đời đời.
Thử nghĩ xem, chính tổ phụ Áp-ra-ham đã lấy một phần mười chiến lợi phẩm mà dâng cho vua, thì vua ấy vĩ đại biết bao!
Theo một mệnh lệnh trong luật pháp, con cháu Lê-vi chịu chức tế lễ thì được nhận một phần mười từ trong dân chúng, tức là từ các anh em mình, dù chính họ cũng từ Áp-ra-ham mà ra.
Nhưng vua vốn không phải là dòng dõi Lê-vi, cũng nhận một phần mười của Áp-ra-ham và chúc phước cho ông là người có lời hứa.
Người bậc cao chúc phước cho người bậc thấp, đó là điều không chối cãi được.
Trong trường hợp nầy, những người nhận một phần mười là người phàm phải chết; trong trường hợp kia, người ấy được chứng nhận là đang sống.
Có thể nói rằng Lê-vi là người nhận một phần mười, cũng qua Áp-ra-ham mà dâng một phần mười,
vì lúc Mên-chi-xê-đéc đi đón Áp-ra-ham, thì Lê-vi còn ở trong lòng tổ phụ.
Nếu chức tế lễ Lê-vi có thể đạt được sự toàn hảo (vì trên căn bản của chức tế lễ ấy mà luật pháp được ban cho dân chúng), thì tại sao còn cần phải lập lên một thầy tế lễ khác, theo ban Mên-chi-xê-đéc chứ không theo ban A-rôn?
Chức tế lễ đã thay đổi thì luật pháp cũng cần phải thay đổi.
Vì Đấng mà những lời đó nói đến lại thuộc một bộ tộc khác, và trong bộ tộc đó chưa từng có ai phục vụ nơi bàn thờ.
Vì rõ ràng Chúa chúng ta sinh ra từ Giu-đa, một bộ tộc mà Môi-se không nói gì về chức tế lễ.
Điều nầy càng rõ hơn, khi chúng ta thấy một thầy tế lễ khác được lập lên, giống như Mên-chi-xê-đéc,
là thầy tế lễ không theo luật của điều răn loài người, mà theo quyền năng của sự sống bất diệt.
Vì có lời làm chứng cho Ngài rằng: “Con làm thầy tế lễ đời đời Theo ban Mên-chi-xê-đéc.”
Như vậy, một mặt điều răn cũ bị để qua một bên vì yếu kém và vô hiệu
(bởi luật pháp không thể khiến điều gì toàn hảo được); mặt khác, có một niềm hi vọng tốt hơn được ban cho, để qua đó chúng ta đến gần Đức Chúa Trời.
Điều nầy đã được xác lập bằng một lời thề. Những thầy tế lễ khác được lập lên mà không có lời thề nào cả,
nhưng Đức Chúa Jêsus đã được lập lên bằng lời thề, khi Đức Chúa Trời phán với Ngài rằng: “Chúa đã thề, và sẽ không đổi ý; Con là thầy tế lễ đời đời.”
Vì lời thề đó, Đức Chúa Jêsus đã trở thành Đấng bảo đảm cho một giao ước tốt hơn.
Xưa nay số lượng thầy tế lễ rất nhiều, vì họ phải chết nên không thể tiếp tục chức vụ.
Nhưng Đức Chúa Jêsus giữ lấy chức tế lễ vĩnh viễn vì Ngài tồn tại đời đời.
Bởi đó, Ngài có thể cứu toàn vẹn những người nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những người ấy.
Thật vậy, Ngài là thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta cần đến: thánh khiết, vô tội, không ô uế, biệt riêng khỏi kẻ có tội, được tôn cao hơn các tầng trời.
Không như những thầy tế lễ thượng phẩm khác, Ngài không cần phải dâng sinh tế mỗi ngày, trước vì tội mình, sau vì tội dân. Ngài dâng chính mình Ngài làm sinh tế một lần đủ cả.
Vì luật pháp lập những người vốn yếu đuối làm thầy tế lễ thượng phẩm; còn lời thề có sau luật pháp thì lập Con, là Đấng được toàn hảo đời đời.
Điểm chính yếu mà chúng ta đang nói là: Chúng ta có một thầy tế lễ thượng phẩm cao quý, ngồi bên phải ngai của Đấng Tôn Nghiêm ở trên trời,
là người phục vụ trong nơi thánh, là đền tạm thật, do Chúa dựng lên chứ không phải do con người.
Tất cả thầy tế lễ thượng phẩm được lập lên là để dâng lễ vật và sinh tế; do đó, thầy tế lễ thượng phẩm nầy cũng cần phải dâng vật gì.
Nếu Ngài còn ở dưới đất, thì Ngài chẳng phải là thầy tế lễ, vì ở dưới đất có những thầy tế lễ dâng lễ vật theo luật pháp dạy.
Sự phục vụ của họ là mô phỏng và là cái bóng của những thực thể trên trời; vì khi Môi-se sắp dựng đền tạm thì được Đức Chúa Trời phán dặn: “Hãy cẩn thận, làm mọi việc theo kiểu mẫu đã chỉ cho con trên núi.”
Nhưng bây giờ Đấng Christ đã nhận lãnh một chức vụ cao trọng hơn, vì Ngài là Đấng Trung Gian của giao ước tốt hơn, bởi giao ước ấy được lập lên trên lời hứa tốt hơn.
Vì nếu giao ước thứ nhất đã hoàn hảo rồi thì không cần lập giao ước thứ hai.
Nhưng Đức Chúa Trời khiển trách dân Do Thái khi Ngài phán: “Nầy, những ngày đến, Khi Ta sẽ lập một giao ước mới với nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa,
Không giống như giao ước Ta đã lập với các tổ phụ họ, Trong ngày Ta cầm tay họ dẫn ra khỏi Ai Cập. Vì họ không trung tín giữ giao ước Ta, Nên Ta bỏ mặc họ,” Chúa phán vậy.
Chúa lại phán: “Đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên: Sau những ngày đó, Ta sẽ đặt luật pháp Ta trong trí họ, Và ghi tạc vào lòng họ. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời họ, Và họ sẽ làm dân Ta.
Họ sẽ không phải dạy bảo đồng bào Và anh em mình rằng: ‘Hãy nhận biết Chúa.’ Vì tất cả đều sẽ biết Ta, Từ người nhỏ nhất cho đến người lớn nhất.
Vì Ta sẽ tỏ lòng thương xót đối với sự gian ác của họ, Và không còn ghi nhớ tội lỗi họ nữa.”
Đã gọi là giao ước mới thì Ngài đã kể giao ước trước là cũ; điều gì lỗi thời, cũ kỹ chẳng bao lâu sẽ tiêu mất đi.
Vậy, giao ước thứ nhất cũng có những quy định về việc thờ phượng và một Nơi Thánh dưới đất.
Vì một đền tạm đã được dựng lên thì trong phần thứ nhất gọi là nơi thánh có chân đèn, bàn và bánh cung hiến.
Phía sau bức màn thứ hai, có một lều gọi là Nơi Chí Thánh,
gồm có bàn thờ dâng hương bằng vàng và Hòm Giao Ước, bọc toàn bằng vàng. Trong hòm có một chiếc bình bằng vàng đựng ma-na, cây gậy trổ hoa của A-rôn, và các bảng giao ước.
Phía trên Hòm Giao Ước có các chê-ru-bim vinh quang che phủ nắp thi ân. Nhưng bây giờ không thể kể chi tiết các vật đó.
Các vật ấy đã được sắp đặt như vậy, và hằng ngày các thầy tế lễ vào phần thứ nhất trong đền tạm để cử hành các nghi lễ thờ phượng.
Nhưng trong phần thứ hai thì chỉ một mình thầy tế lễ thượng phẩm vào đó mỗi năm một lần, và phải đem theo máu để dâng tế lễ chuộc tội cho chính mình và cho dân chúng.
Đức Thánh Linh dùng điều nầy để chỉ ra rằng một khi đền tạm thứ nhất vẫn còn thì đường vào Nơi Chí Thánh chưa được mở.
Điều nầy biểu tượng cho thời hiện tại, theo đó các lễ vật và sinh tế được dâng không có khả năng làm cho lương tâm của người thờ phượng toàn hảo được,
mà chỉ liên quan đến đồ ăn, thức uống và các lễ thanh tẩy khác nhau, là các luật lệ buộc xác thịt phải tuân thủ cho đến thời kỳ cải cách.
Nhưng khi Đấng Christ đã đến như một thầy tế lễ thượng phẩm của những điều tốt đẹp sau nầy, thì qua đền tạm lớn hơn và toàn hảo hơn — không do tay người làm nên, nghĩa là không thuộc về những vật của đời nầy —
Ngài đã bước vào nơi Chí Thánh một lần đủ cả, không dùng máu dê đực và bò con, nhưng dùng chính huyết mình để đem đến sự cứu chuộc đời đời cho chúng ta.
Vì nếu máu của dê đực và bò đực cùng tro của bò cái tơ mà người ta rảy trên kẻ bị ô uế còn thánh hóa họ để được thanh sạch về phần xác thịt,
thì huống chi huyết của Đấng Christ, là Đấng nhờ Thánh Linh đời đời, dâng chính mình không tì vết cho Đức Chúa Trời, sẽ tẩy sạch lương tâm anh em khỏi công việc chết, để phục vụ Đức Chúa Trời hằng sống bội phần hơn là dường nào!
Vì lý do đó, Ngài là Đấng Trung Gian của giao ước mới; nhờ đó, những người được kêu gọi có thể nhận lãnh cơ nghiệp đời đời đã hứa cho mình, vì Ngài lấy cái chết để chuộc tội lỗi họ đã phạm dưới giao ước thứ nhất.
Vì nơi nào có chúc thư thì cần phải chứng minh người lập chúc thư ấy đã qua đời.
Chúc thư chỉ có hiệu lực sau khi chết; vì nếu người lập chúc thư còn sống thì nó không có giá trị gì.
Do đó, ngay cả giao ước thứ nhất cũng không hiệu lực nếu không có máu.
Vì khi Môi-se công bố mọi điều răn của luật pháp cho dân chúng, ông lấy máu của bò con và dê đực, với nước, dây nhung đỏ tía và nhánh bài hương rảy trên cuộn sách cùng trên cả dân chúng
và nói: “Đây là máu của giao ước mà Đức Chúa Trời đã truyền dạy các ngươi.”
Và cùng cách ấy, ông lấy máu đó rảy trên đền tạm cùng tất cả khí dụng thờ phượng.
Theo luật pháp, hầu hết mọi vật đều nhờ huyết mà được tinh sạch; không đổ huyết thì không có sự tha thứ.
Vậy, nếu những mô phỏng về các vật trên trời cần phải nhờ các sinh tế ấy mà được sạch, thì chính các vật trên trời phải nhờ sinh tế tốt hơn để được sạch.
Vì Đấng Christ không vào nơi thánh bởi tay người làm ra, là bản sao của nơi thánh thật, nhưng vào chính thiên đàng, để bây giờ Ngài thay cho chúng ta đến trước mặt Đức Chúa Trời.
Ngài cũng không dâng chính mình nhiều lần như thầy tế lễ thượng phẩm mỗi năm vào Nơi Chí Thánh dâng máu không phải là máu của mình.
Vì nếu vậy, từ buổi sáng thế đến nay, Ngài đã phải chịu khổ nhiều lần rồi. Nhưng bây giờ, Ngài đã hiện ra một lần đủ cả vào cuối các thời đại để dâng mình làm sinh tế cất tội lỗi đi.
Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét.
Cũng vậy, Đấng Christ đã dâng mình chỉ một lần để xóa bỏ tội lỗi của nhiều người; Ngài lại sẽ hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội lỗi đi nữa, nhưng để ban ơn cứu rỗi cho những người trông đợi Ngài.
Vì luật pháp chỉ là bóng của những điều tốt đẹp đến sau, chứ không phải là hình thật của sự vật; cho nên, những người đến gần Đức Chúa Trời không bao giờ toàn hảo nhờ các sinh tế được dâng liên tục năm nầy qua năm khác.
Nếu được thì họ đã ngưng dâng sinh tế rồi, vì những người thờ phượng đã được thanh tẩy một lần đủ cả; như thế, họ đâu còn cảm biết tội lỗi nữa?
Nhưng các sinh tế đó chẳng qua là để nhắc nhở hằng năm về tội lỗi.
Vì máu của bò đực và dê đực không thể cất tội lỗi đi được.
Do đó, khi Đấng Christ vào thế gian, Ngài phán: “Chúa không muốn sinh tế, cũng chẳng muốn lễ vật, Nhưng Chúa đã chuẩn bị một thân thể cho tôi.
Chúa chẳng vui lòng về tế lễ toàn thiêu Và tế lễ chuộc tội.
Bấy giờ, tôi nói: ‘Lạy Đức Chúa Trời, nầy tôi đến, Trong sách có chép về tôi. Tôi đến để làm theo ý muốn Chúa.’ ”
Trên kia Ngài phán: “Chúa không muốn, cũng không vui về những sinh tế, lễ vật, tế lễ toàn thiêu và tế lễ chuộc tội” (đó là những lễ vật theo luật pháp), rồi sau lại nói: “Nầy, tôi đến để làm theo ý muốn Chúa.”
Vậy, Chúa đã bỏ điều trước để lập điều sau.
Theo ý muốn đó, chúng ta được thánh hóa nhờ sự dâng thân thể của Đức Chúa Jêsus Christ một lần đủ cả.
Mỗi thầy tế lễ hằng ngày đứng phục vụ và thường xuyên dâng cùng một loại sinh tế, là điều không bao giờ có thể cất tội lỗi đi được.
Nhưng Đấng Christ đã vì tội lỗi dâng một sinh tế chuộc tội duy nhất và đời đời, rồi ngồi bên phải Đức Chúa Trời;
và từ đó, Ngài chờ đợi cho đến khi những kẻ thù của Ngài bị đặt làm bệ cho chân Ngài.
Vì nhờ một sinh tế duy nhất, Ngài làm cho những người được thánh hóa trở nên toàn hảo mãi mãi.
Đức Thánh Linh cũng làm chứng cho chúng ta như vậy; vì sau khi nói:
Chúa phán: “Nầy là giao ước Ta sẽ lập với họ: Sau những ngày đó, Ta sẽ đặt luật pháp Ta trong lòng họ Và ghi tạc vào trí họ.”
Ngài lại phán: “Ta sẽ chẳng còn nhớ đến tội lỗi và việc ác của họ nữa.”
Nơi nào có sự tha thứ thì không cần dâng tế lễ vì tội lỗi nữa.
Vậy, thưa anh em, vì chúng ta nhờ huyết Đức Chúa Jêsus được dạn dĩ vào Nơi Chí Thánh,
bởi con đường mới và sống mà Ngài đã mở cho chúng ta ngang qua cái màn, nghĩa là ngang qua thân xác Ngài;
lại vì chúng ta có một thầy tế lễ vĩ đại được lập lên cai trị nhà Đức Chúa Trời,
nên chúng ta hãy lấy lòng chân thật với niềm tin vững chắc, lòng được tẩy sạch khỏi lương tâm ác, thân thể rửa bằng nước tinh khiết mà đến gần Chúa.
Chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng về niềm hi vọng không chuyển lay của chúng ta, vì Đấng đã hứa với chúng ta là thành tín.
Chúng ta hãy quan tâm khích lệ nhau về lòng yêu thương và các việc lành.
Chớ bỏ sự nhóm lại như mấy kẻ quen làm, nhưng phải khuyên bảo nhau; nếu anh em thấy ngày của Chúa càng gần chừng nào thì càng phải làm như vậy chừng nấy.
Vì nếu chúng ta đã nhận biết chân lý rồi, mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có sinh tế nào chuộc tội được nữa,
nhưng chỉ kinh khiếp đợi chờ sự phán xét và lửa hừng sẽ đốt cháy những kẻ chống nghịch mà thôi.
Ai đã vi phạm luật pháp Môi-se, nếu có hai ba người làm chứng, thì chết đi không thương xót.
Phương chi kẻ giày đạp Con Đức Chúa Trời, coi thường huyết của giao ước, tức là huyết đã thánh hóa mình, lại còn xúc phạm Thánh Linh của ân điển, thì anh em nghĩ người ấy không đáng bị trừng phạt nặng nề hơn sao?
Vì chúng ta biết Đấng đã phán: “Sự trả thù thuộc về Ta, Ta sẽ báo ứng.” Và lại phán: “Chúa sẽ phán xét dân mình.”
Sa vào tay Đức Chúa Trời hằng sống thì thật là kinh khiếp!
Nhưng hãy nhớ lại những ngày đầu tiên, sau khi được soi sáng, anh em chịu đựng cuộc chiến đấu lớn với nhiều gian khổ:
Khi thì công khai chịu sỉ nhục và gặp hoạn nạn; khi thì chia sẻ nỗi niềm với những người bị ngược đãi như vậy.
Vì anh em đã cảm thương với những người bị tù, và vui lòng chấp nhận để của cải mình bị cướp đoạt, bởi anh em biết mình có của cải quý hơn và còn lại mãi.
Vậy, chớ bỏ lòng tin quyết của mình, vì nó sẽ đem lại phần thưởng lớn.
Anh em cần phải kiên nhẫn để sau khi đã làm theo ý muốn Đức Chúa Trời thì nhận được điều đã hứa cho mình.
Vì “Chỉ còn ít lâu nữa thôi Thì Đấng đang đến sẽ đến; Ngài không chậm trễ đâu.
Người công chính của ta sẽ sống bởi đức tin, Còn nếu lui đi Thì linh hồn ta chẳng vui chút nào.”
Nhưng chúng ta không phải là kẻ thối lui để bị hư mất đâu, mà là người giữ đức tin để linh hồn được cứu rỗi.
Đức tin là sự xác quyết về những điều mình đang hi vọng, là bằng chứng của những điều mình chẳng xem thấy.
Thật vậy, nhờ đức tin mà người xưa đã được lời chứng tốt.
Bởi đức tin, chúng ta biết rằng vũ trụ đã được dựng nên bởi lời của Đức Chúa Trời, đến nỗi những vật thấy được hình thành từ những vật không thấy được.
Bởi đức tin, A-bên đã dâng cho Đức Chúa Trời một sinh tế tốt hơn của Ca-in, và ông được chứng nhận là công chính khi Đức Chúa Trời chấp nhận lễ vật ấy. Cũng nhờ đó, mặc dù chết rồi, ông vẫn còn nói.
Bởi đức tin, Hê-nóc được cất lên và không trải qua sự chết; người ta không thấy ông nữa, vì Đức Chúa Trời đã tiếp ông lên. Bởi trước khi được tiếp lên, ông được chứng nhận là đã sống hài lòng Đức Chúa Trời.
Không có đức tin thì không thể nào làm hài lòng Đức Chúa Trời; vì người nào đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng Ngài thực hữu, và Ngài là Đấng ban thưởng cho những ai tìm kiếm Ngài.
Bởi đức tin, Nô-ê được Chúa cảnh báo về những việc chưa thấy, và ông thành tâm kính sợ, đóng một chiếc tàu để cứu cả nhà mình. Bởi đó, ông lên án thế gian và trở nên người thừa kế sự công chính đến từ đức tin vậy.
Bởi đức tin, Áp-ra-ham vâng lời Chúa gọi, đi đến xứ mình sẽ nhận làm cơ nghiệp; ông đi mà không biết mình đi đâu.
Bởi đức tin, ông cư trú trong đất hứa như trên đất ngoại quốc, ở trong các trại với Y-sác và Gia-cốp, là những người đồng thừa kế một lời hứa như ông.
Vì ông chờ đợi một thành có nền móng do Đức Chúa Trời thiết kế và xây dựng.
Bởi đức tin, chính Sa-ra dù hiếm muộn và cao tuổi vẫn còn có khả năng sinh sản, vì bà tin rằng Đấng đã hứa với mình là thành tín.
Vì thế, cũng từ một người xem như đã chết, lại sinh ra muôn vàn con cháu, đông như sao trên trời, như cát bãi biển, không thể đếm được.
Tất cả những người ấy đều chết trong đức tin, chưa nhận lãnh những điều đã hứa cho mình; chỉ trông thấy và chào mừng những điều ấy từ đằng xa, xưng mình là kiều dân và lữ khách trên đất.
Vì những người nói như thế, chứng tỏ rằng họ đang đi tìm một quê hương.
Nếu họ đã nghĩ đến quê hương mà mình từ đó đi ra, thì họ cũng đã có cơ hội trở về.
Nhưng họ mong ước một quê hương tốt hơn, tức là quê hương trên trời, nên Đức Chúa Trời không hổ thẹn mà xưng mình là Đức Chúa Trời của họ, vì Ngài đã chuẩn bị cho họ một thành.
Bởi đức tin, Áp-ra-ham dâng Y-sác trong khi bị thử nghiệm. Ông sẵn sàng hiến dâng đứa con một đã nhận được theo lời hứa,
là đứa con mà Đức Chúa Trời có phán: “Chính qua Y-sác, con sẽ có một dòng dõi được gọi bằng tên con.”
Ông tự nghĩ rằng Đức Chúa Trời có quyền khiến kẻ chết sống lại, nói theo nghĩa bóng, ông thật đã nhận lại con mình từ cõi chết.
Bởi đức tin, Y-sác chúc phước cho Gia-cốp và Ê-sau về những việc tương lai.
Bởi đức tin, Gia-cốp lúc gần qua đời đã chúc phước cho hai con của Giô-sép, và nương trên đầu gậy mình mà thờ lạy.
Bởi đức tin, Giô-sép lúc gần qua đời đã nói về việc con cháu Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập và truyền dặn về hài cốt mình.
Bởi đức tin, khi Môi-se mới sinh ra, cha mẹ ông đem đi giấu trong ba tháng, vì thấy đứa con khôi ngô, nên không sợ chiếu chỉ của vua.
Bởi đức tin, Môi-se lúc đã khôn lớn, từ bỏ danh hiệu mình là con trai của công chúa Pha-ra-ôn,
thà cùng con dân Đức Chúa Trời chịu hà hiếp hơn là hưởng thụ lạc thú chóng qua của tội lỗi.
Ông coi sự sỉ nhục về Đấng Christ là quý hơn châu báu Ai Cập, vì ông trông mong sự ban thưởng.
Bởi đức tin, ông lìa Ai Cập không sợ vua giận; vì ông kiên trì như thể thấy Đấng không thấy được.
Bởi đức tin, ông giữ lễ Vượt Qua và rưới máu, để thiên sứ hủy diệt không đụng đến con đầu lòng dân Y-sơ-ra-ên.
Bởi đức tin, dân Y-sơ-ra-ên vượt qua Biển Đỏ như đi trên đất khô, còn người Ai Cập cố đi qua, thì bị nhận chìm.
Bởi đức tin, các tường thành Giê-ri-cô đổ xuống sau khi dân Y-sơ-ra-ên đi vòng quanh bảy ngày.
Bởi đức tin, kỹ nữ Ra-háp không chết với kẻ chẳng tin, vì nàng đã tiếp rước các thám tử một cách hòa nhã.
Tôi còn nói gì nữa? Vì nếu tôi muốn nói về Ghi-đê-ôn, Ba-rác, Sam-sôn, Giép-thê, Đa-vít, Sa-mu-ên và các nhà tiên tri thì không đủ thì giờ.
Những người ấy bởi đức tin đã chinh phục các vương quốc, thực thi công lý, nhận được những lời hứa, bịt mồm sư tử,
tắt ngọn lửa hừng, thoát khỏi lưỡi gươm, thắng bệnh tật, trở nên dũng cảm trong chiến trận, khiến quân ngoại xâm chạy trốn.
Có các phụ nữ nhận lại thân nhân mình từ cõi chết sống lại; có kẻ thà bị tra tấn mà không chịu giải cứu để được sự sống lại tốt hơn.
Có những người khác bị chế giễu, đánh đập, lại còn bị xiềng xích và lao tù nữa.
Họ đã bị ném đá, bị cưa đôi, bị giết bằng gươm; lưu lạc rày đây mai đó, mặc bằng da chiên, da dê, bị thiếu thốn, bị hà hiếp và ngược đãi.
Thế gian không xứng đáng cho họ ở. Họ phải lưu lạc trong hoang mạc, trên núi cao, trong hang động, trong những hầm hố dưới đất.
Tất cả những người ấy dù đã được chứng nhận tốt nhờ đức tin, nhưng chưa nhận lãnh điều đã hứa cho mình.
Vì Đức Chúa Trời đã cung cấp điều tốt hơn cho chúng ta, để ngoài chúng ta ra, họ không đạt đến sự toàn hảo được.
Cho nên, vì chúng ta được nhiều người chứng kiến vây quanh như đám mây rất lớn, chúng ta cũng nên vứt bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi dễ vấn vương mà kiên trì theo đuổi cuộc đua đã bày ra cho chúng ta.
Hãy nhìn xem Đức Chúa Jêsus, Đấng khởi nguyên và hoàn tất của đức tin, là Đấng vì niềm vui đặt trước mặt mình, vui chịu thập tự giá, khinh điều sỉ nhục, và hiện đang ngồi bên phải ngai Đức Chúa Trời.
Vậy, anh em hãy nghĩ đến Đấng đã chịu sự chống đối của những kẻ tội lỗi dường ấy, để không chán nản hay ngã lòng.
Anh em chống cự với tội lỗi còn chưa đến nỗi phải đổ máu.
Anh em đã quên lời khuyên dành cho anh em như khuyên con, rằng: “Hỡi con ta, chớ xem thường sự sửa phạt của Chúa, Và khi Chúa khiển trách, chớ ngã lòng.
Vì Chúa sửa phạt người Ngài yêu thương, Những ai được nhận làm con thì Ngài cho roi cho vọt.”
Anh em chịu sửa phạt, ấy là Đức Chúa Trời đối đãi anh em như con; vì có người con nào mà cha không sửa phạt?
Nhưng nếu anh em không chịu sửa phạt như mọi người con đều phải chịu, thì anh em là con ngoại tình, chứ không phải con thật.
Hơn nữa, cha về phần xác sửa phạt mà chúng ta còn kính sợ, huống chi Cha về phần hồn, chúng ta lại chẳng thuận phục bội phần hơn để được sống hay sao?
Vì cha về phần xác theo ý mình sửa phạt chúng ta tạm thời, nhưng Đức Chúa Trời vì ích lợi cho chúng ta mà sửa phạt, để chúng ta được dự phần trong sự thánh khiết của Ngài.
Tất cả sự sửa phạt lúc nầy dường như chỉ làm cho đau đớn chứ không phải là vui mừng, nhưng về sau sinh ra bông trái công chính và bình an cho những người đã chịu luyện tập như vậy.
Vậy, hãy giơ bàn tay yếu đuối của anh em lên và làm vững mạnh đầu gối lỏng lẻo nữa.
Hãy làm đường thẳng cho chân anh em, để người què khỏi bị trẹo chân mà lại được chữa lành.
Hãy tìm cách sống hòa thuận với mọi người và đeo đuổi sự thánh khiết; vì nếu không thánh khiết thì chẳng ai thấy được Chúa.
Hãy cẩn trọng kẻo có ai hụt mất ân điển của Đức Chúa Trời, kẻo rễ đắng đâm ra, gây rối và làm ô uế nhiều người trong anh em chăng.
Hãy coi chừng, chớ có ai gian dâm, hoặc phàm tục như Ê-sau, chỉ vì một món ăn mà bán quyền con trưởng.
Thật vậy, anh em biết rằng về sau, ông muốn được chúc phước nhưng bị từ chối; mặc dù ông khóc lóc cầu xin cũng không còn cơ hội để thay đổi điều cha mình đã làm rồi.
Anh em không đến gần một hòn núi có thể đụng đến được, cũng không đến gần ngọn lửa hừng, hoặc chỗ tối tăm, u ám hay cơn gió lốc,
hoặc tiếng kèn vang hay tiếng nói mà ai nghe đều nài xin đừng tiếp tục nói với mình nữa;
vì họ không chịu nổi lời phán nầy: “Dù thú vật đến gần núi nầy cũng sẽ bị ném đá.”
Cảnh trạng đó rất kinh khiếp, đến nỗi Môi-se nói rằng: “Tôi kinh hãi và run rẩy.”
Nhưng anh em đã đến gần núi Si-ôn, gần thành của Đức Chúa Trời hằng sống, tức là Giê-ru-sa-lem trên trời, gần muôn nghìn thiên sứ đang quây quần vui vẻ,
gần Hội Thánh của những con trưởng được ghi tên trong các tầng trời. Anh em đến gần Đức Chúa Trời là Đấng Phán xét mọi người, gần các linh hồn người công chính được trọn lành,
gần Đức Chúa Jêsus, Đấng Trung Gian của giao ước mới, tức là gần huyết rưới ra, là huyết tốt hơn huyết của A-bên vậy.
Hãy cẩn trọng, đừng từ chối Đấng phán với mình. Vì nếu họ từ chối người truyền lời cảnh cáo ở dưới đất mà còn không tránh khỏi, huống chi chúng ta chống cự Đấng truyền lời cảnh cáo từ trên trời, thì lại càng không thể tránh khỏi được.
Tiếng Đấng ấy bấy giờ rung chuyển quả đất, nhưng hiện nay phán rằng: “Còn một lần nữa, Ta sẽ không những làm rúng động đất thôi, mà còn làm rúng động cả trời nữa.”
Những chữ: “Còn một lần nữa” chứng tỏ các vật hay bị rung chuyển, tức là những vật đã được dựng nên, sẽ bị loại bỏ, để những vật không hề rung chuyển được tồn tại.
Cho nên, vì chúng ta nhận được một vương quốc không hề rúng động, chúng ta hãy biết ơn và lấy lòng kính sợ mà phục vụ Đức Chúa Trời một cách vui lòng Ngài;
vì Đức Chúa Trời chúng ta là ngọn lửa thiêu đốt.
Hãy luôn giữ tình huynh đệ.
Chớ quên tỏ lòng hiếu khách vì khi làm điều đó, có người đã tiếp đãi thiên sứ mà không biết.
Hãy nhớ những người đang bị cầm tù như chính mình cũng bị cầm tù với họ; và cũng hãy nhớ những người bị ngược đãi, vì mình cũng có thân thể giống như họ.
Mọi người phải tôn trọng hôn nhân, đừng làm ô uế chốn loan phòng; vì Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt kẻ gian dâm và ngoại tình.
Chớ tham tiền, hãy hài lòng với những gì mình có, vì chính Đức Chúa Trời có phán: “Ta sẽ chẳng lìa con, chẳng bỏ con đâu.”
Như vậy, chúng ta có thể nói cách mạnh dạn: “Chúa giúp đỡ tôi, tôi sẽ không sợ. Người đời làm gì tôi được?”
Hãy nhớ những người dắt dẫn mình, là người đã truyền giảng lời Đức Chúa Trời cho mình. Hãy xét xem kết quả cuộc đời họ và bắt chước đức tin họ.
Đức Chúa Jêsus Christ hôm qua, ngày nay, và cho đến đời đời không hề thay đổi.
Đừng để các loại giáo huấn khác lạ lôi cuốn mình; vì tấm lòng nhờ ân điển được vững mạnh là tốt, chứ không phải nhờ các quy định về thức ăn, là điều không ích lợi cho những người tuân giữ chúng.
Chúng ta có một bàn thờ mà người phục vụ trong đền tạm không được phép ăn gì tại đó.
Vì máu của sinh vật được thầy tế lễ thượng phẩm đem vào Nơi Chí Thánh để làm lễ chuộc tội, còn xác của nó thì đốt bên ngoài trại quân.
Vì lý do đó, Đức Chúa Jêsus đã chịu khổ ngoài cổng thành để lấy huyết mình thánh hóa dân chúng.
Vậy nên chúng ta hãy đi với Ngài ra bên ngoài trại quân để đồng chịu sỉ nhục với Ngài.
Vì tại đây, chúng ta không có thành nào bền vững, nhưng chúng ta đang tìm kiếm một thành sẽ đến.
Vậy nhờ Đức Chúa Jêsus, chúng ta hằng dâng sinh tế bằng lời ngợi ca cho Đức Chúa Trời, nghĩa là bông trái của môi miệng tuyên xưng danh Ngài.
Chớ quên làm việc lành và chia sẻ cho người khác, vì các tế lễ như thế làm hài lòng Đức Chúa Trời.
Hãy vâng lời những người lãnh đạo anh em và thuận phục họ, bởi họ canh giữ linh hồn anh em như người sẽ phải khai trình. Hãy giúp họ vui vẻ làm xong nhiệm vụ mà không phàn nàn, vì điều đó không ích lợi gì cho anh em.
Hãy cầu nguyện cho chúng tôi, vì chúng tôi biết chắc mình có lương tâm tốt, muốn ăn ở trọn lành trong mọi sự.
Tôi lại nài xin anh em cầu nguyện để tôi sớm được trở lại cùng anh em.
Cầu xin Đức Chúa Trời bình an, là Đấng bởi huyết giao ước đời đời mà đem Đấng Chăn Chiên Lớn là Đức Chúa Jêsus, Chúa chúng ta, ra khỏi cõi chết,
cung ứng cho anh em mọi ơn lành để làm theo ý muốn Ngài, và thực hiện điều đẹp ý Ngài trong chúng ta qua Đức Chúa Jêsus Christ. Nguyện vinh quang quy về Ngài đời đời vô cùng! A-men.
Thưa anh em, xin hãy vui lòng nhận lấy những lời khuyên bảo nầy, vì tôi chỉ viết vắn tắt cho anh em.
Tôi muốn anh em biết rằng anh em chúng ta là Ti-mô-thê đã được trả tự do. Nếu anh ấy đến sớm, tôi sẽ cùng anh ấy đi thăm anh em.
Kính chào tất cả các vị lãnh đạo của anh em và tất cả thánh đồ. Các thánh đồ ở I-ta-li-a gửi lời chào thăm anh em.
Cầu xin ân điển ở với tất cả anh em!
Gia-cơ, đầy tớ của Đức Chúa Trời và của Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ, kính gửi mười hai bộ tộc đang sống tản lạc khắp nơi. Chúc anh em an vui!
Thưa anh em của tôi, hãy xem sự thử thách trăm chiều xảy đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn,
vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sinh ra kiên nhẫn.
Nhưng sự kiên nhẫn phải phát huy hết hiệu lực của nó, để chính anh em được trưởng thành, hoàn hảo, không thiếu sót điều gì.
Nếu người nào trong anh em thiếu sự khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời thì Ngài sẽ ban cho, vì Đức Chúa Trời là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không lời phiền trách.
Nhưng phải cầu xin bằng đức tin, không chút nghi ngờ, vì kẻ hay nghi ngờ giống như sóng biển, bị gió dập dồi và cuốn đi đây đó.
Người như thế đừng tưởng mình sẽ nhận được điều gì từ nơi Chúa,
vì đó là một người phân tâm, không ổn định trong mọi đường lối của mình.
Anh em nào ở chỗ thấp kém, hãy tự hào về vị trí cao trọng của mình.
Còn người giàu, hãy tự hào về vị trí thấp kém của mình, vì người sẽ qua đi như hoa cỏ.
Mặt trời mọc lên với sức nóng thiêu đốt làm cho cỏ khô, hoa rụng, sắc đẹp phai tàn. Người giàu cũng sẽ khô héo giữa những toan tính mình như vậy.
Phước cho người chịu đựng sự thử thách; vì khi đã chịu nổi sự thử nghiệm, họ sẽ nhận mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho những người yêu mến Ngài.
Đang lúc bị cám dỗ đừng ai nói: “Tôi bị Đức Chúa Trời cám dỗ”; vì Đức Chúa Trời không thể nào bị điều ác cám dỗ, và chính Ngài cũng không cám dỗ ai.
Nhưng mỗi người bị cám dỗ bởi chính dục vọng mình lôi cuốn và quyến dụ.
Rồi khi dục vọng đã cưu mang thì sinh ra tội lỗi; tội lỗi đã trưởng thành thì sinh ra sự chết.
Thưa anh em yêu dấu của tôi, đừng để bị lừa dối:
Mọi ơn lành tốt đẹp và tặng phẩm toàn hảo đều đến từ thiên thượng, được ban xuống từ Cha của sự sáng; trong Ngài không có sự thay đổi, cũng chẳng có bóng của sự chuyển dịch.
Ngài đã dùng lời chân lý sinh chúng ta theo ý định của Ngài, để chúng ta trở thành một loại trái đầu mùa trong các tạo vật của Ngài.
Thưa anh em yêu dấu của tôi, anh em phải biết điều nầy: Mọi người đều phải mau nghe, chậm nói, chậm giận;
vì cơn giận của loài người không thực hiện sự công chính của Đức Chúa Trời.
Vậy, hãy loại bỏ mọi điều ô uế và gian ác đang lan tràn, lấy lòng nhu mì tiếp nhận lời đã trồng trong anh em, là lời có thể cứu chuộc linh hồn anh em.
Hãy làm theo lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình.
Vì nếu người nào nghe lời mà không làm theo thì giống như người kia soi mặt mình trong gương,
ngắm rồi bỏ đi và quên ngay mặt mình như thể nào.
Nhưng người nào xem xét kỹ càng luật pháp toàn hảo nầy, là luật pháp đem lại sự tự do, và bền tâm suy xét, không phải chỉ nghe rồi quên đi, nhưng thực hành luật đó, thì sẽ được phước trong công việc mình.
Nếu có ai tưởng mình là người tin đạo mà không kiềm giữ lưỡi mình, nhưng tự dối lòng, thì sự tin đạo của người ấy thật vô ích.
Sự tin đạo thuần khiết, không hoen ố trước mặt Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, là thăm viếng trẻ mồ côi, người góa bụa trong cơn hoạn nạn của họ, và giữ mình khỏi sự ô uế của thế gian.
Thưa anh em của tôi, anh em đã tin Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa vinh quang của chúng ta, thì đừng thiên vị ai cả.
Giả sử có một người đeo nhẫn vàng, ăn mặc sang trọng vào nhà hội của anh em, và có một người nghèo, ăn mặc rách rưới, cũng vào nữa;
anh em chú ý đến người ăn mặc sang trọng và nói: “Xin vui lòng ngồi chỗ nầy;” còn với người nghèo thì nói: “Hãy đứng đó,” hoặc, “Hãy ngồi dưới chân tôi đây.”
Như thế, có phải anh em đã phân biệt đối xử và lấy ý xấu mà xét đoán không?
Thưa anh em yêu dấu của tôi, hãy nghe đây: Chẳng phải Đức Chúa Trời đã chọn lựa người nghèo ở thế gian nầy để làm cho họ giàu trong đức tin, và thừa kế vương quốc mà Ngài đã hứa cho những người yêu mến Ngài sao?
Vậy mà anh em lại khinh dể người nghèo! Chẳng phải kẻ giàu đã ức hiếp anh em, kéo anh em đến trước tòa án sao?
Chẳng phải họ là kẻ xúc phạm đến danh cao quý mà anh em đã kêu cầu sao?
Nếu anh em thực sự giữ trọn luật pháp của Vua, theo lời Kinh Thánh: “Hãy yêu người lân cận như mình” thì anh em cư xử đúng.
Nhưng nếu anh em tỏ ra thiên vị thì anh em phạm tội, bị luật pháp kết án như một người phạm pháp.
Vì người nào giữ trọn cả luật pháp mà vi phạm một điều, thì cũng bị kể như đã phạm tất cả.
Vì Đấng đã phán: “Chớ phạm tội ngoại tình,” cũng phán: “Chớ giết người.” Vậy, nếu bạn không phạm tội ngoại tình nhưng phạm tội giết người thì bạn là kẻ phạm pháp.
Vậy anh em hãy nói và làm như những người sẽ chịu phán xét theo luật pháp của sự tự do.
Vì người không bày tỏ lòng thương xót sẽ bị phán xét một cách không thương xót; nhưng sự thương xót chiến thắng sự phán xét.
Thưa anh em của tôi, nếu một người bảo mình có đức tin nhưng không có hành động thì có ích gì không? Đức tin đó có cứu người ấy được không?
Nếu gặp một anh em hoặc chị em không có áo che thân, thiếu thức ăn qua ngày,
mà một người trong anh em lại nói với họ: “Hãy đi bình an, hãy sưởi cho ấm và ăn cho no,” nhưng không cung ứng những nhu cầu cho thân thể họ thì có ích gì không?
Đức tin cũng vậy, nếu đức tin không có hành động thì tự nó chết.
Nhưng có người sẽ nói: “Bạn có đức tin, còn tôi có hành động.” Hãy chỉ cho tôi đức tin không có hành động của bạn đi, rồi tôi sẽ cho bạn thấy đức tin bằng hành động của tôi.
Bạn tin rằng chỉ có một Đức Chúa Trời, bạn tin đúng; ngay cả ma quỷ cũng tin như vậy và run sợ.
Người khờ khạo kia ơi, bạn có muốn biết rằng đức tin không có hành động là vô ích không?
Chẳng phải Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, đã được xưng công chính bởi hành động khi ông dâng con mình là Y-sác trên bàn thờ sao?
Bạn thấy đó, đức tin đi đôi với hành động, và nhờ hành động mà đức tin trở nên trọn vẹn.
Như thế, lời Kinh Thánh đã được ứng nghiệm: “Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và nhờ đó ông được kể là công chính” và được gọi là bạn của Đức Chúa Trời.
Anh em thấy đó, người ta được xưng công chính bởi hành động chứ không chỉ bởi đức tin mà thôi.
Cũng vậy, chẳng phải kỹ nữ Ra-háp đã được xưng công chính bởi hành động, khi bà tiếp rước các sứ giả và đưa họ đi bằng một con đường khác sao?
Xác không có hồn thì chết, đức tin không có hành động cũng chết như vậy.
Thưa anh em của tôi, trong anh em không nên có nhiều người tự lập làm thầy, vì anh em biết rằng hễ là thầy, chúng ta sẽ phải chịu phán xét nghiêm khắc hơn.
Tất cả chúng ta đều vấp phạm nhiều cách. Ai không vấp phạm trong lời nói, đó là người trọn vẹn, có thể kiềm chế được cả thân thể mình.
Nếu chúng ta tra hàm thiếc vào miệng ngựa để bắt chúng vâng lời thì chúng ta điều khiển được toàn thân chúng.
Hãy nhìn những chiếc tàu: Dù chúng thật lớn và bị trôi giạt bởi gió mạnh, nhưng chỉ một bánh lái rất nhỏ cũng đủ điều khiển chúng theo ý người cầm lái.
Cũng vậy, cái lưỡi là một bộ phận nhỏ nhưng khoe khoang những việc lớn. Một tia lửa nhỏ có thể làm bùng cháy cả một cánh rừng rộng lớn biết bao!
Cái lưỡi cũng là ngọn lửa. Trong các chi thể của chúng ta, lưỡi là thế giới của tội ác, làm ô uế toàn thân, đốt cháy cả cuộc đời, và chính nó cũng bị lửa địa ngục đốt cháy.
Mọi loài thú vật và chim muông, loài bò sát và sinh vật biển đều có thể chế ngự được, và đã từng bị loài người chế ngự rồi;
nhưng không ai chế ngự được cái lưỡi, một vật xấu xa không sao kiểm soát được, đầy dẫy những chất độc chết người.
Chúng ta dùng lưỡi để chúc tụng Chúa, Cha chúng ta, và cũng dùng nó để nguyền rủa loài người, là loài được tạo dựng theo hình ảnh Đức Chúa Trời.
Từ một miệng mà ra cả sự chúc tụng lẫn nguyền rủa sao? Thưa anh em của tôi, đừng như vậy.
Dòng suối xuất phát từ một mạch lại có thể chảy ra cả nước ngọt lẫn nước đắng được sao?
Thưa anh em của tôi, cây vả có thể ra trái ô-liu hoặc cây nho có thể ra trái vả được không? Dòng nước mặn cũng không thể chảy ra nước ngọt được.
Trong anh em, ai là người khôn ngoan, hiểu biết? Hãy dùng lối sống tốt đẹp của mình mà bày tỏ những việc mình làm xuất phát từ sự khiêm nhu của lòng khôn ngoan.
Nhưng nếu anh em ghen ghét một cách đắng cay và tranh cạnh trong lòng, thì chớ khoe khoang hay dùng lời dối trá chống lại chân lý.
Sự khôn ngoan đó không đến từ thiên thượng, nhưng thuộc về thế gian, xác thịt và ma quỷ.
Vì ở đâu có sự ghen ghét và tranh cạnh thì ở đó có sự xáo trộn và đủ mọi việc ác.
Nhưng sự khôn ngoan từ thiên thượng thì trước hết là thanh sạch, rồi hiếu hòa, dịu dàng, nhường nhịn, đầy lòng thương xót và bông trái tốt lành, không chút thành kiến hay giả dối.
Những người giải hòa thì gặt hái bông trái công chính đã gieo trong hòa bình.
Những sự tranh chiến, xung đột giữa anh em đến từ đâu? Chẳng phải từ những dục vọng đang giao tranh trong chi thể anh em sao?
Anh em tham lam mà chẳng được, nên anh em giết người. Anh em thèm muốn mà không thể đạt được, nên xung đột và tranh chiến. Anh em không có gì cả vì anh em không cầu xin.
Anh em cầu xin mà không nhận được vì anh em cầu xin với dụng ý xấu, để dùng cho dục vọng riêng của mình.
Nầy những kẻ ngoại tình kia! Anh em không biết rằng kết bạn với thế gian là thù nghịch với Đức Chúa Trời sao? Cho nên, người nào muốn kết bạn với thế gian, thì người ấy tự biến mình thành kẻ thù của Đức Chúa Trời.
Hay anh em cho là vô nghĩa khi Kinh Thánh nói: “Thánh Linh mà Đức Chúa Trời khiến ở trong lòng chúng ta thương mến chúng ta đến nỗi ghen tuông?”
Nhưng ân điển Ngài ban cho càng lớn hơn, nên Kinh Thánh nói: “Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ân điển cho người khiêm nhường.”
Vậy, hãy thuận phục Đức Chúa Trời. Hãy kháng cự ma quỷ thì nó sẽ chạy trốn anh em.
Hãy đến gần Đức Chúa Trời thì Ngài sẽ đến gần anh em. Hỡi các tội nhân, hãy rửa sạch tay mình; hỡi kẻ hai lòng, hãy thanh tẩy lòng mình đi;
hãy sầu thảm, hãy than van, khóc lóc; hãy đổi cười ra khóc, đổi vui ra buồn.
Hãy hạ mình xuống trước mặt Chúa thì Ngài sẽ nhấc anh em lên.
Hỡi anh em, đừng nói xấu nhau. Ai nói xấu anh em mình hoặc xét đoán anh em mình, tức là nói xấu luật pháp và xét đoán luật pháp. Nhưng nếu bạn xét đoán luật pháp thì bạn không phải là người chấp hành luật pháp, mà là người xét đoán luật pháp.
Chỉ có một Đấng ban bố luật pháp và phán xét, là Đấng có quyền cứu chuộc và tiêu diệt. Còn bạn là ai mà dám xét đoán người lân cận mình?
Bây giờ, hỡi anh em là những người đang nói: “Hôm nay hoặc ngày mai chúng ta sẽ đến thành phố kia, ở đó một năm, buôn bán và kiếm lời”.
Nhưng anh em không biết ngày mai sẽ thế nào, sự sống của anh em là gì? Vì anh em chỉ như hơi nước, xuất hiện trong giây lát rồi lại tan ngay.
Đúng ra anh em phải nói: “Nếu Chúa muốn và chúng ta còn sống thì sẽ làm việc nọ việc kia.”
Nhưng anh em lại kiêu căng tự phụ! Mọi thứ kiêu căng như thế đều là xấu.
Vậy, ai biết điều tốt cần phải làm mà không làm, thì phạm tội.
Bây giờ, hỡi anh em là những người giàu có! Hãy khóc lóc, kêu van vì sự cùng khốn sẽ đổ xuống trên anh em.
Tài sản anh em đã bị mục nát, áo quần bị mối mọt ăn.
Vàng bạc anh em đã bị gỉ sét, chất gỉ sét đó sẽ là bằng chứng chống lại anh em và sẽ ăn thịt anh em như lửa đốt. Anh em đã lo tích trữ cho những ngày cuối cùng!
Nầy, tiền công của những thợ gặt thuê trong ruộng anh em, mà anh em đã gian lận, đang kêu oan; và tiếng kêu của những thợ gặt ấy đã thấu đến tai của Chúa toàn năng.
Anh em đã sống xa hoa, hoan lạc trên đất nầy; anh em đã nuôi béo lòng mình trong ngày tàn sát;
anh em đã kết án và giết người công chính mà người ấy không kháng cự anh em.
Vì vậy, thưa anh em, hãy kiên nhẫn cho đến ngày Chúa quang lâm. Hãy xem người nông dân chờ đợi sản vật quý báu của đất, kiên nhẫn cho đến khi nhận được mưa đầu mùa và cuối mùa.
Anh em cũng vậy, hãy kiên nhẫn. Hãy vững lòng, vì ngày Chúa quang lâm đã gần rồi.
Thưa anh em, đừng phiền trách nhau, để anh em khỏi bị phán xét; kìa, Đấng phán xét đang đứng trước cửa.
Thưa anh em, hãy noi gương chịu khổ và kiên nhẫn của các nhà tiên tri, là những người đã nhân danh Chúa mà nói.
Nầy, chúng ta gọi những người kiên định là có phước. Anh em đã nghe nói về sự kiên định của Gióp, và thấy được mục đích của Chúa; vì Chúa đầy lòng xót thương và nhân từ.
Nhưng trên hết, thưa anh em của tôi, chớ thề thốt, đừng chỉ trời, chỉ đất hoặc bất cứ vật gì khác mà thề; nhưng phải thì nói phải, không thì nói không, để anh em khỏi bị phán xét.
Có ai trong anh em bị đau khổ chăng? Người ấy hãy cầu nguyện. Có ai vui mừng chăng? Hãy ca ngợi.
Có ai trong anh em đau ốm chăng? Người ấy hãy mời các trưởng lão Hội Thánh đến; họ sẽ nhân danh Chúa cầu nguyện và xức dầu cho người bệnh.
Sự cầu nguyện bởi đức tin sẽ cứu người bệnh, Chúa sẽ đỡ người ấy dậy; nếu người bệnh có phạm tội, cũng sẽ được tha.
Vậy, hãy xưng tội cùng nhau và cầu nguyện cho nhau để anh em được lành bệnh. Lời cầu nguyện của người công chính có quyền năng và rất linh nghiệm.
Ê-li là người có cùng bản chất như chúng ta. Ông nhiệt thành cầu xin cho đừng mưa thì không có mưa rơi xuống đất trong ba năm rưỡi.
Rồi ông cầu nguyện lại, trời bèn mưa, và đất sinh sản hoa màu.
Thưa anh em của tôi, trong anh em nếu có ai lầm lạc cách xa chân lý, và có người khác đem họ trở lại,
thì phải biết rằng ai đem một tội nhân từ con đường lầm lạc trở lại, là cứu linh hồn người đó khỏi sự chết và che lấp vô số tội lỗi.
Phi-e-rơ, sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, kính gửi những người kiều ngụ rải rác trong các xứ Pông, Ga-la-ti, Cáp-pa-đốc, A-si-a và Bi-thi-ni, là những người được chọn lựa
theo sự biết trước của Đức Chúa Trời là Cha, và được thánh hóa bởi Thánh Linh, để vâng phục Đức Chúa Jêsus Christ và dự phần trong sự rảy huyết Ngài. Cầu xin ân điển và bình an càng gia tăng trên anh em!
Chúc tụng Đức Chúa Trời, Cha của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ! Bởi lòng thương xót dư dật của Ngài, chúng ta được tái sinh để có một hi vọng sống, nhờ sự sống lại từ cõi chết của Đức Chúa Jêsus Christ,
và hưởng một cơ nghiệp không hư hoại, không hoen ố, không suy tàn, để dành trong các tầng trời cho anh em,
là những người nhờ đức tin được gìn giữ bởi quyền năng của Đức Chúa Trời, để nhận sự cứu rỗi là điều sẵn sàng bày tỏ ra trong thời kỳ cuối cùng!
Hãy vui mừng về điều ấy, dù bây giờ anh em còn chịu đau buồn trong ít lâu bởi muôn vàn thử thách;
để đức tin của anh em sau khi được thử nghiệm sẽ quý hơn vàng — dù vàng đã được thử lửa, vẫn có thể hư hoại — đem lại sự ca ngợi, vinh quang và tôn trọng khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện đến.
Dù chưa thấy Ngài, anh em vẫn yêu mến Ngài, dù chưa gặp Ngài anh em vẫn tin Ngài, và hân hoan trong niềm vui rạng ngời, khôn tả;
vì anh em nhận được thành quả của đức tin, là sự cứu rỗi linh hồn mình.
Về sự cứu rỗi đó, các nhà tiên tri đã tìm tòi, tra xét, và đã báo trước về ân điển dành sẵn cho anh em.
Họ tra xem để biết vào thời điểm nào và hoàn cảnh nào mà Thánh Linh Đấng Christ trong họ đã chỉ dẫn, khi Ngài báo trước sự thương khó của Đấng Christ và vinh quang theo sau.
Các nhà tiên tri đã được tỏ cho biết rằng họ không phục vụ chính mình, mà phục vụ anh em về những điều hiện nay đã công bố cho anh em bởi những người, nhờ Đức Thánh Linh là Đấng từ trời sai xuống, giảng Tin Lành cho anh em. Chính các thiên sứ cũng ước ao được nhìn thấy những điều ấy.
Vậy, anh em hãy chuẩn bị tâm trí, hãy tiết độ, đặt hi vọng hoàn toàn vào ân điển sẽ ban cho anh em khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra.
Như con cái biết vâng lời, anh em đừng chiều theo những dục vọng lúc trước, khi anh em còn mê muội.
Nhưng, như Đấng gọi anh em là thánh thì anh em cũng phải thánh trong mọi cách ăn nết ở của mình,
vì có lời chép: “Các con phải thánh, vì Ta là thánh.”
Nếu anh em xưng Ngài là Cha, Đấng không thiên vị và phán xét mỗi người theo công việc họ làm, thì hãy đem lòng kính sợ mà sống trong thời kỳ ở trọ nầy.
Vì anh em biết rằng không phải nhờ vào những vật dễ hư hoại như bạc hoặc vàng mà anh em được chuộc khỏi lối sống phù phiếm từ tổ tiên mình truyền lại,
nhưng bởi huyết báu của Đấng Christ, như huyết của chiên con không khuyết tật, không tì vết,
đã được định sẵn trước khi tạo dựng vũ trụ, nhưng vì anh em mà được bày tỏ vào thời kỳ cuối cùng nầy.
Nhờ Ngài mà anh em tin vào Đức Chúa Trời, là Đấng đã khiến Ngài sống lại từ cõi chết và ban cho Ngài vinh quang, để đức tin và hi vọng của anh em được đặt nơi Đức Chúa Trời.
Nhờ vâng phục chân lý, anh em đã thanh tẩy linh hồn mình để có được tình huynh đệ chân thành. Hãy hết lòng yêu thương nhau tha thiết.
Anh em đã được tái sinh, không phải bởi hạt giống dễ hư hoại, nhưng bởi hạt giống không hề hư hoại, đó là lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời.
Vì, “Mọi xác thịt giống như cỏ, Và mọi vinh quang của nó giống như hoa cỏ. Cỏ khô, hoa rụng,
Nhưng lời Chúa tồn tại đời đời.” Lời đó là Tin Lành đã được công bố cho anh em.
Vậy, anh em hãy từ bỏ mọi điều độc ác, xảo trá, đạo đức giả, ghen tị và mọi chuyện vu cáo.
Anh em hãy khao khát sữa thiêng liêng thuần khiết như trẻ sơ sinh, để nhờ đó anh em được lớn lên trong sự cứu rỗi,
nếu anh em đã nếm biết Chúa là ngọt ngào.
Hãy đến gần Ngài là hòn đá sống bị loài người loại ra, nhưng được Đức Chúa Trời chọn lựa và quý trọng.
Hãy để Ngài sử dụng anh em như những hòn đá sống mà xây nên ngôi nhà thiêng liêng, và nhờ Đức Chúa Jêsus Christ mà làm chức tế lễ thánh, để dâng sinh tế thiêng liêng, đẹp lòng Đức Chúa Trời.
Vì Kinh Thánh chép: “Nầy, Ta đặt tại Si-ôn một hòn đá, Hòn đá góc nhà đã được chọn lựa và quý trọng; Ai tin đá ấy sẽ không bị hổ thẹn.”
Vậy, với anh em là người đã tin, thì Ngài là quý giá; nhưng với những kẻ không tin, thì: “Hòn đá bị thợ xây loại ra Đã trở nên đá góc nhà,”
và là “Hòn đá gây cho vấp chân, Tảng đá làm cho vấp ngã;” Họ bị vấp ngã vì không vâng giữ đạo, như đã định sẵn cho họ rồi.
Nhưng anh em là dòng giống được tuyển chọn, là chức tế lễ hoàng gia, là dân tộc thánh, là dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời, để anh em rao truyền công đức vĩ đại của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đưa vào vùng ánh sáng diệu kỳ của Ngài.
Trước kia anh em không phải là một dân, nhưng bây giờ là dân Đức Chúa Trời; trước kia không được thương xót, mà bây giờ được thương xót.
Thưa anh em yêu dấu, anh em như người khách lạ, kẻ tha hương; tôi khuyên nài anh em phải cữ kiêng những dục vọng xác thịt, là điều chống nghịch với linh hồn.
Hãy ăn ở ngay lành giữa dân ngoại, để dù họ có nói xấu anh em là người gian ác, họ vẫn thấy được việc lành của anh em và tôn vinh Đức Chúa Trời trong ngày Ngài thăm viếng.
Vì Chúa, hãy thuận phục mọi thẩm quyền của loài người, hoặc với vua là người nắm quyền tối cao,
hoặc các tổng đốc là những người được vua phái đến để trừng phạt kẻ làm ác và khen thưởng người làm lành.
Vì ý muốn của Đức Chúa Trời là anh em làm điều lành để làm câm lặng lời ngây ngô của những kẻ ngu dại.
Là đầy tớ của Đức Chúa Trời, anh em hãy sống như những người tự do, nhưng đừng dùng sự tự do của mình làm màn che sự gian ác.
Hãy tôn trọng mọi người, yêu thương anh em cùng niềm tin, kính sợ Đức Chúa Trời, tôn trọng vua.
Là những đầy tớ, anh em hãy tuân phục chủ mình với cả lòng kính sợ, không chỉ với những người chủ hiền lành, tốt bụng mà cả người chủ khó tính nữa.
Nếu vì nhận biết Đức Chúa Trời mà anh em chịu đau đớn, khốn khổ một cách bất công thì đó là một ơn phước.
Nếu làm điều sai quấy mà anh em bị đánh đập và cam chịu thì có gì đáng khoe đâu? Nhưng nếu anh em làm lành mà chịu đau khổ thì đây là một ơn phước trước mặt Đức Chúa Trời.
Anh em đã được kêu gọi đến điều đó, vì Đấng Christ cũng đã chịu khổ cho anh em, lưu lại cho anh em một gương để anh em noi dấu chân Ngài;
“Ngài không hề phạm tội, Nơi miệng Ngài không thấy điều dối trá.”
Khi bị nguyền rủa, Ngài không nguyền rủa lại; lúc chịu đau khổ, Ngài không hề hăm dọa, nhưng phó thác chính mình cho Đấng phán xét công minh.
Ngài mang tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, để chúng ta chết đối với tội lỗi và sống cho sự công chính; nhờ những vết thương của Ngài mà anh em được chữa lành.
Vì anh em như chiên đi lạc, nhưng bây giờ đã trở về với Đấng Chăn Chiên và Giám Mục của linh hồn mình.
Cũng vậy, những người làm vợ hãy thuận phục chồng mình, để nếu có người chồng nào dù không vâng giữ đạo, nhưng qua cách cư xử của vợ, họ được cảm hóa mà không phải dùng đến lời nói,
vì họ đã thấy sự trong sạch và tin kính trong đời sống của chị em.
Đừng chú trọng sự trang điểm bề ngoài như làm tóc cầu kỳ, đeo vàng, mặc áo quần lòe loẹt;
nhưng hãy trang điểm con người bề trong thầm kín bằng vẻ đẹp không phai tàn của tinh thần dịu dàng, yên lặng; đó là điều quý giá trước mặt Đức Chúa Trời.
Vì các thánh nữ thuở xưa, những người hi vọng nơi Đức Chúa Trời và thuận phục chồng mình, cũng đều trang điểm như thế;
như Sa-ra vâng phục Áp-ra-ham, gọi ông là chúa. Nếu chị em làm điều lành, không để điều gì làm cho mình lo sợ, thì đã là con gái của Sa-ra vậy.
Những người làm chồng cũng vậy, hãy tỏ ra hiểu biết khi chung sống với vợ mình, quý trọng vợ như phái yếu hơn, vì họ sẽ cùng anh em thừa hưởng ân điển sự sống, để không có điều gì ngăn trở sự cầu nguyện của anh em.
Cuối cùng, tất cả anh em phải có tinh thần hiệp nhất, cảm thông, yêu mến anh em trong Chúa, có lòng nhân từ và tâm tình khiêm nhu.
Đừng lấy ác trả ác hoặc lấy rủa sả trả rủa sả; trái lại, hãy chúc phước, vì đó là điều mà anh em được kêu gọi, để thừa hưởng phước lành.
Vì, “Ai muốn yêu sự sống Và thấy những ngày tốt đẹp, Thì hãy giữ lưỡi mình khỏi điều ác, Và môi mình khỏi nói lời xảo quyệt;
Hãy lánh điều dữ, làm điều lành, Tìm sự hòa bình và đuổi theo,
Vì mắt Chúa đoái xem người công chính, Và tai Ngài lắng nghe lời cầu nguyện của họ. Nhưng mặt Chúa đối nghịch kẻ làm ác.”
Nếu anh em nhiệt thành làm điều lành thì có ai làm hại anh em?
Nhưng nếu vì sự công chính mà anh em chịu khổ thì anh em thật có phước. Đừng sợ điều họ sợ, cũng đừng nao núng;
nhưng hãy tôn cao Đấng Christ là thánh, là Chúa trong lòng anh em. Luôn sẵn sàng để trả lời những kẻ chất vấn về niềm hi vọng trong anh em, nhưng phải ôn tồn và trân trọng.
Khi bị nói xấu, anh em phải giữ lương tâm mình trong sáng, để những kẻ xuyên tạc cách cư xử tốt đẹp của anh em trong Đấng Christ phải hổ thẹn.
Vì nếu đó là ý muốn của Đức Chúa Trời thì thà làm điều thiện mà chịu khổ còn hơn làm điều ác.
Chính Đấng Christ cũng đã vì tội lỗi chịu chết một lần đủ cả, là Đấng công chính thay cho kẻ bất chính, để đem chúng ta đến cùng Đức Chúa Trời; Ngài đã chịu chết về phần thể xác, nhưng được sống về phần tâm linh;
bởi tâm linh đó, Ngài đã đi giảng cho các tâm linh bị tù,
là những kẻ thuở trước không vâng phục Đức Chúa Trời, khi Ngài nhẫn nhục chờ đợi trong thời Nô-ê, suốt thời gian chiếc tàu được đóng. Trong tàu chỉ một số ít, tổng số là tám người, được cứu khỏi nước.
Báp-têm ngày nay là biểu tượng của điều đó để cứu anh em; báp-têm không phải là sự cất bỏ ô uế khỏi thân thể, mà là lời nguyện ước với Đức Chúa Trời từ một lương tâm trong sáng, qua sự sống lại của Đức Chúa Jêsus Christ,
là Đấng đã lên trời, đang ngự bên phải Đức Chúa Trời, được các thiên sứ, các chủ quyền và mọi thế lực suy phục.
Vậy, vì Đấng Christ đã chịu khổ trong thể xác, thì anh em cũng hãy lấy tư tưởng ấy làm vũ khí; vì người nào đã chịu khổ trong thể xác thì đã đoạn tuyệt với tội lỗi,
để bao lâu còn sống trong thể xác thì anh em không sống theo những dục vọng con người, mà theo ý muốn Đức Chúa Trời.
Ngày trước anh em đã phí thời gian để làm những việc dân ngoại thích làm, như sống phóng đãng, tham dục, say sưa, cuồng loạn, trác táng, thờ hình tượng gớm ghiếc.
Khi thấy anh em không còn dự vào sự trụy lạc phóng túng ấy nữa thì họ ngạc nhiên và nói xấu anh em.
Nhưng họ sẽ phải khai trình với Đấng sẵn sàng phán xét người sống và kẻ chết.
Vì lý do đó, Tin Lành cũng đã được giảng ra cả cho kẻ chết, để sau khi bị phán xét theo loài người về phần thể xác, họ được sống theo Đức Chúa Trời về phần tâm linh.
Sự cuối cùng của muôn vật đã gần; vậy hãy tỉnh táo và tiết độ để cầu nguyện.
Trước hết, hãy yêu thương nhau tha thiết; vì tình yêu thương che lấp vô số tội lỗi.
Hãy tiếp đãi nhau không chút cằn nhằn.
Mỗi người hãy dùng ân tứ mình đã nhận mà phục vụ nhau, như người quản lý trung tín khéo sử dụng ân điển của Đức Chúa Trời nhiều cách khác nhau.
Nếu có ai giảng luận thì hãy giảng như rao truyền lời của Đức Chúa Trời; nếu có ai phục vụ thì hãy phục vụ bằng sức mạnh của Đức Chúa Trời ban cho, để trong mọi sự Đức Chúa Trời được tôn vinh qua Đức Chúa Jêsus Christ. Nguyện vinh quang và quyền năng thuộc về Ngài đời đời vô cùng. A-men.
Thưa anh em yêu dấu, khi lửa thử thách đến để thử nghiệm anh em thì đừng ngạc nhiên như mình gặp một việc khác thường.
Nhưng anh em dự phần trong sự thương khó của Đấng Christ bao nhiêu thì hãy vui mừng bấy nhiêu; để khi vinh quang của Ngài được bày tỏ, anh em cũng được vui mừng, hoan hỉ.
Nếu anh em bị sỉ nhục vì danh Đấng Christ thì anh em có phước, vì Thánh Linh vinh quang của Đức Chúa Trời ngự trên anh em.
Đừng có ai trong anh em chịu khổ như kẻ giết người, kẻ trộm cắp, kẻ phạm pháp, hoặc kẻ ưa xen vào chuyện người khác.
Trái lại, nếu có ai vì làm Cơ Đốc nhân mà chịu khổ thì đừng hổ thẹn; nhưng hãy vì danh ấy mà tôn vinh Đức Chúa Trời.
Vì thời kỳ phán xét đã đến, bắt đầu từ nhà Đức Chúa Trời; nếu bắt đầu từ chúng ta thì sự cuối cùng của những kẻ không vâng phục Tin Lành Đức Chúa Trời sẽ thế nào?
Và “Nếu người công chính còn khó được cứu rỗi, Thì những kẻ bất kính và kẻ có tội sẽ ra sao?”
Vậy, những người chịu khổ theo ý muốn Đức Chúa Trời, hãy tiếp tục làm lành và phó thác linh hồn mình cho Đấng Tạo Hóa thành tín.
Tôi gửi lời khuyên nhủ đến các trưởng lão trong anh em, vì tôi cũng là một trưởng lão, là nhân chứng về sự thương khó của Đấng Christ, và cũng là người sẽ được dự phần trong vinh quang sắp được bày tỏ.
Hãy chăn bầy của Đức Chúa Trời đã giao phó cho anh em, không vì ép buộc nhưng do tự nguyện, không vì lợi lộc thấp hèn mà với cả nhiệt tâm,
không dùng quyền uy cai trị những người được giao cho mình, nhưng làm gương tốt cho cả bầy.
Rồi khi Đấng Chăn Chiên tối cao xuất hiện, anh em sẽ được lãnh mão triều thiên vinh quang không phai tàn.
Cũng vậy, các thanh niên hãy thuận phục các trưởng lão. Mọi người hãy mặc lấy sự khiêm nhường mà đối đãi với nhau; vì Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho người khiêm nhường.
Vậy, hãy hạ mình dưới cánh tay quyền năng của Đức Chúa Trời, để đến thời điểm thích hợp Ngài sẽ nhấc anh em lên.
Hãy trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài, vì Ngài luôn chăm sóc anh em.
Hãy tiết độ và tỉnh thức; kẻ thù anh em là ma quỷ, như sư tử gầm thét, đang rình rập chung quanh anh em, tìm người để cắn nuốt.
Hãy đứng vững trong đức tin mà kháng cự nó, vì biết rằng anh em cùng niềm tin trên khắp thế giới cũng đang chịu hoạn nạn như mình.
Và sau khi anh em phải chịu khổ ít lâu, Đức Chúa Trời của mọi ân điển, Đấng đã gọi anh em đến vinh quang đời đời của Ngài trong Đấng Christ, chính Ngài sẽ phục hồi, củng cố, xây dựng và ban sức lực cho anh em.
Nguyện quyền tể trị thuộc về Ngài đời đời vô cùng! A-men.
Tôi nhờ Sin-vanh, người tôi xem như một anh em tín cẩn, viết đôi dòng để khích lệ và làm chứng với anh em rằng đây là ân điển thật của Đức Chúa Trời. Hãy đứng vững trong ân điển đó.
Hội Thánh tại Ba-by-lôn, những người cùng được chọn như anh em, gửi lời chào anh em; con tôi là Mác cũng vậy.
Hãy lấy cái hôn yêu thương mà chào đón nhau. Cầu xin sự bình an ở với tất cả anh em là những người ở trong Đấng Christ!
Si-môn Phi-e-rơ, đầy tớ và sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, kính gửi những người nhờ sự công chính của Đức Chúa Trời chúng ta và của Cứu Chúa Jêsus Christ, đã nhận lãnh cùng một đức tin quý giá như chúng tôi.
Cầu xin ân điển và bình an tràn đầy trên anh em nhờ sự nhận biết Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jêsus, Chúa chúng ta!
Quyền năng của Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta mọi điều liên quan đến sự sống và sự tin kính, qua sự nhận biết Ngài là Đấng đã kêu gọi chúng ta bằng vinh quang và nhân đức của Ngài.
Cũng bởi vinh quang nhân đức ấy, Ngài ban cho chúng ta những lời hứa lớn lao và cao quý, để nhờ đó anh em có thể tránh khỏi sự băng hoại trong thế gian gây nên bởi tham dục, và trở nên người dự phần vào bản tính thiên thượng.
Chính vì lý do đó mà anh em phải cố gắng hết sức để thêm cho đức tin mình lòng nhân đức, thêm cho nhân đức sự tri thức,
thêm cho tri thức tính tiết chế, thêm cho tiết chế tính kiên nhẫn, thêm cho kiên nhẫn lòng tin kính,
thêm cho lòng tin kính tình huynh đệ, thêm cho tình huynh đệ tình yêu thương.
Vì nếu anh em có những điều nầy và có dư dật, thì sẽ không sợ mình thiếu hiệu năng hoặc không kết quả trong sự nhận biết Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ.
Vì ai thiếu những điều ấy là người cận thị, người mù, quên rằng mình đã được thanh tẩy khỏi những tội lỗi cũ.
Vậy, thưa anh em, hãy cố gắng hơn nữa để xác định sự kêu gọi và sự chọn lựa của mình; làm như vậy anh em sẽ không hề vấp ngã;
và nhờ đó, con đường vào vương quốc đời đời của Chúa và Cứu Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ được rộng mở cho anh em.
Vì vậy, tôi sẽ luôn nhắc nhở anh em về những điều nầy, dù anh em đã biết và đang đứng vững trong chân lý mà mình đã nhận.
Tôi nghĩ, bao lâu tôi còn ở trong nhà tạm nầy thì tôi cần phải nhắc nhở để thức tỉnh anh em,
vì tôi biết rằng đã đến lúc tôi sớm phải lìa nhà tạm nầy, như điều Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ đã bày tỏ cho tôi.
Nhưng tôi sẽ cố gắng để sau khi tôi ra đi, anh em vẫn luôn nhớ lại những điều nầy.
Khi trình bày cho anh em biết quyền năng và sự quang lâm của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ, chúng tôi không dựa vào những huyền thoại khéo bịa đặt, nhưng chúng tôi tận mắt chứng kiến vẻ uy nghi của Ngài.
Vì Ngài đã tiếp nhận sự tôn trọng và vinh quang từ Đức Chúa Trời là Cha, khi có tiếng từ Đấng Tôn Nghiêm Vinh Quang phán với Ngài: “Đây là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta hoàn toàn.”
Chính chúng tôi đã nghe tiếng ấy phán từ trời khi chúng tôi ở với Ngài trên núi thánh.
Do vậy, lời tiên tri chúng ta có càng được xác quyết hơn. Anh em nên chú ý vào lời nầy như ngọn đèn soi sáng nơi tối tăm, cho đến khi ban ngày lộ ra và sao mai mọc trong lòng anh em.
Trước hết, anh em phải hiểu rằng không có lời tiên tri nào trong Kinh Thánh được giải thích theo ý riêng của một người nào,
vì không có lời tiên tri nào đến bởi ý người, nhưng người ta được Đức Thánh Linh cảm thúc nói ra từ Đức Chúa Trời.
Nhưng đã có nhiều kẻ tiên tri giả xuất hiện trong dân chúng, và cũng sẽ có các giáo sư giả trong anh em; họ sẽ bí mật truyền bá các tà giáo nguy hại, lại chối bỏ Chúa là Đấng đã chuộc mình, nhanh chóng chuốc lấy cho mình sự diệt vong.
Nhiều người sẽ đi theo sự phóng túng của họ; vì họ mà con đường chân lý bị xúc phạm.
Vì lòng tham, họ dùng những lời lẽ dối trá để trục lợi anh em; án phạt dành cho họ từ lâu nay vẫn còn hiệu lực, và sự diệt vong dành cho họ chẳng hề ngơi nghỉ.
Vì nếu Đức Chúa Trời chẳng dung thứ các thiên sứ khi họ phạm tội, nhưng ném vào hỏa ngục và giam giữ trong nơi tối tăm để chờ ngày phán xét;
nếu Ngài chẳng dung thứ thế gian xưa, nhưng dùng trận lụt lớn tiêu diệt thế giới vô đạo đó, chỉ giữ lại Nô-ê, người truyền giảng về sự công chính, và bảy người khác;
nếu Ngài đã đoán phạt các thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ, khiến họ ra đống tro tàn để làm gương cho những kẻ muốn sống vô đạo đức;
và nếu Ngài đã giải cứu Lót, là người công chính rất đau buồn về cách sống phóng túng của những kẻ vô luân
(vì người công chính nầy sống giữa họ, ngày lại ngày linh hồn công chính của ông bị dằn vặt bởi những hành động vô luân của họ),
thì Chúa biết làm thế nào để giải cứu những người tin kính khỏi sự thử thách, và giữ kẻ bất chính dưới hình phạt cho đến khi phán xét,
nhất là những kẻ chiều theo dục vọng xấu xa của xác thịt, khinh dể quyền bính. Bọn họ vốn lì lợm và kiêu căng, không sợ xúc phạm đến các bậc uy linh;
trong khi các thiên sứ, dù có sức mạnh và quyền năng hơn, cũng không dùng lời lẽ xúc phạm mà tố cáo các bậc đó trước mặt Chúa.
Nhưng, như những con thú vô tri, sống theo bản năng, được sinh ra để bị săn bắt và làm thịt, những người nầy xúc phạm cả đến những điều mà họ không biết, sẽ cùng bị diệt vong như thú vật,
và nhận tiền công cho hành vi bất chính của mình. Họ xem việc chè chén giữa ban ngày là lạc thú. Họ là những dấu dơ, vết bẩn, thích thú với đủ kiểu lừa dối khi ngồi ăn uống chung với anh em;
cặp mắt họ chứa đầy tư tưởng ngoại tình, phạm tội không biết chán. Họ dụ dỗ những người nhẹ dạ; tâm địa họ quen thói tham lam. Họ là những đứa con đáng nguyền rủa!
Họ đã bỏ con đường ngay thẳng nên bị lạc lối, đi theo con đường của Ba-la-am, con trai Bô-sô, là kẻ ham thích tiền công của tội ác.
Nhưng ông ta đã bị quở trách vì sự sai phạm của mình; một con lừa câm nói tiếng người đã ngăn cản sự điên rồ của nhà tiên tri đó.
Họ là những dòng suối không có nước, những đám sương mù bị bão cuốn đi; sự tối tăm mờ mịt đã dành cho họ.
Vì họ nói những lời khoe khoang rỗng tuếch, dùng những tham muốn đồi bại của xác thịt mà dụ dỗ những người vừa thoát khỏi tay những kẻ sống trong lầm lạc.
Họ hứa đem tự do đến cho người khác, nhưng chính mình lại làm nô lệ cho sự băng hoại; vì bất cứ điều gì đánh bại được một người thì người ấy trở thành nô lệ cho điều đó.
Vì nếu nhờ sự nhận biết Chúa và Cứu Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ mà họ đã thoát khỏi sự ô uế của thế gian, nhưng nay lại bị lôi cuốn và phải quy phục những điều đó một lần nữa, thì tình trạng cuối cùng của họ còn tệ hại hơn lúc đầu.
Thà họ không biết con đường công chính còn hơn là đã biết mà còn quay lưng lại với điều răn thánh đã được truyền dạy cho mình.
Điều xảy đến cho họ thật đúng với câu tục ngữ: “Chó liếm lại đồ nó đã mửa” và “Heo tắm sạch, lại lăn lóc trong vũng bùn.”
Thưa anh em yêu dấu, đây là thư thứ hai tôi viết cho anh em. Trong cả hai thư, tôi đều nhắc nhở để khơi dậy trong anh em một tâm trí chân thực,
để khắc ghi những lời tiên báo của các nhà tiên tri thánh cũng như những điều răn của Chúa và Cứu Chúa chúng ta do các sứ đồ truyền lại.
Trước hết, anh em phải biết điều nầy: Trong những ngày cuối cùng, những kẻ nhạo báng sẽ đến với lời lẽ giễu cợt, sống theo dục vọng cá nhân.
Họ sẽ nói: “Lời hứa về sự quang lâm của Chúa ở đâu? Vì từ khi các tổ phụ chúng ta qua đời, mọi vật vẫn y nguyên như lúc bắt đầu cuộc sáng thế.”
Họ cố ý không biết rằng các tầng trời đã hiện hữu từ rất lâu bởi lời Đức Chúa Trời, trái đất được hình thành từ nước và do nước;
cũng bởi nước mà thế giới thời ấy đã bị ngập lụt và bị hủy diệt.
Nhưng cũng bởi lời ấy mà trời đất hiện nay đã được dành cho lửa, và được giữ lại cho đến ngày phán xét và hủy diệt những kẻ vô luân.
Thưa anh em yêu dấu, đừng quên rằng, trước mặt Chúa một ngày như nghìn năm, nghìn năm như một ngày.
Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như một số người nghĩ đâu, nhưng Ngài kiên nhẫn đối với anh em, không muốn một người nào chết mất mà muốn mọi người đều ăn năn.
Tuy nhiên, ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm; bấy giờ các tầng trời sẽ biến đi trong tiếng vang rền, các nguyên tố sẽ bị tan chảy trong lửa, đất và mọi công trình trên đó đều sẽ bị thiêu hủy.
Vì mọi vật đều phải bị tiêu tan như thế, nên anh em càng phải sống cuộc đời thánh khiết và tin kính
trong lúc nóng lòng trông đợi ngày của Đức Chúa Trời mau đến. Đó là Ngày mà các tầng trời sẽ bị thiêu đốt và hủy diệt, các nguyên tố sẽ bị tan chảy trong lửa!
Nhưng theo lời hứa của Ngài, chúng ta trông đợi trời mới đất mới là nơi sự công chính ngự trị.
Vậy, thưa anh em yêu dấu, trong khi trông đợi những điều đó, anh em phải cố hết sức để Ngài thấy anh em không tì vết, không có gì đáng trách và sống trong sự bình an.
Hãy nhớ rằng sự kiên nhẫn của Chúa chúng ta là vì sự cứu chuộc của anh em. Cũng như Phao-lô, người anh yêu dấu của chúng ta, đã viết cho anh em theo sự khôn ngoan được ban cho mình.
Trong tất cả các thư tín, ông đều đề cập đến những điều nầy. Các thư của ông có một vài điều khó hiểu mà những kẻ dốt nát và không vững vàng đã xuyên tạc, như họ đã làm với các phần khác trong Kinh Thánh, để chuốc lấy sự hủy diệt cho chính mình.
Thưa anh em yêu dấu, anh em đã biết trước điều nầy; vậy, hãy thận trọng, kẻo anh em cũng bị lôi cuốn theo sự lầm lạc của những kẻ gian ác đó mà đánh mất lòng kiên quyết của mình.
Nhưng hãy tăng trưởng trong ân điển và sự hiểu biết Chúa và Cứu Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ. Cầu xin vinh quang thuộc về Ngài, từ nay cho đến đời đời! A-men.
Nói về lời sự sống, là điều đã có từ ban đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều mắt chúng tôi đã thấy, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến.
Sự sống nầy đã được bày tỏ; chúng tôi đã thấy và làm chứng, nên chúng tôi công bố cho anh em sự sống đời đời vốn ở với Đức Chúa Cha, và đã được bày tỏ cho chúng tôi.
Chúng tôi lấy điều đã thấy, đã nghe mà công bố cho anh em để anh em có được sự tương giao với chúng tôi; còn chúng tôi vẫn có sự tương giao với Đức Chúa Cha, và với Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ.
Chúng tôi viết điều nầy cho anh em để niềm vui của chúng ta được trọn vẹn.
Đây là sứ điệp chúng tôi đã nghe nơi Ngài và công bố cho anh em: Đức Chúa Trời là ánh sáng, trong Ngài không có bất cứ bóng tối nào.
Nếu chúng ta nói mình được tương giao với Ngài mà vẫn bước đi trong bóng tối thì chúng ta nói dối và không làm theo chân lý.
Nhưng nếu chúng ta bước đi trong ánh sáng, cũng như chính Ngài ở trong ánh sáng, thì chúng ta được tương giao với nhau, và huyết của Đức Chúa Jêsus, Con Ngài, tẩy sạch mọi tội của chúng ta.
Nếu chúng ta nói mình không có tội thì chúng ta tự lừa dối mình, và chân lý không ở trong chúng ta.
Còn nếu chúng ta xưng tội mình thì Ngài là thành tín, công chính sẽ tha tội cho chúng ta và tẩy sạch chúng ta khỏi mọi điều bất chính.
Nhưng nếu chúng ta nói mình chẳng từng phạm tội thì chúng ta cho Ngài là người nói dối, và lời Ngài không ở trong chúng ta.
Hỡi các con bé nhỏ của ta, ta viết cho các con những điều nầy để các con không phạm tội. Nhưng nếu có ai phạm tội thì chúng ta có Đấng biện hộ với Đức Chúa Cha là Đức Chúa Jêsus Christ, Đấng công chính.
Chính Ngài là tế lễ chuộc tội chúng ta, không những vì tội của chúng ta mà thôi, nhưng còn vì tội của cả thế gian nữa.
Bởi điều nầy chúng ta biết rằng mình đã nhận biết Ngài: Ấy là chúng ta vâng giữ các điều răn của Ngài.
Người nào nói: “Tôi biết Ngài,” mà không vâng giữ các điều răn của Ngài là người nói dối, và sự chân thật không ở trong người ấy.
Nhưng ai vâng giữ lời Ngài thì sự kính mến Đức Chúa Trời thật là hoàn hảo trong người ấy. Nhờ đó, chúng ta biết mình ở trong Ngài.
Ai nói mình ở trong Ngài thì phải bước đi như chính Ngài đã bước đi.
Thưa anh em yêu dấu, đây không phải là điều răn mới tôi viết cho anh em, nhưng là điều răn cũ mà anh em đã có từ ban đầu. Điều răn cũ nầy là lời anh em đã nghe.
Tuy nhiên, tôi cũng viết cho anh em một điều răn mới, là điều chân thật trong Ngài và trong anh em, vì bóng tối đã tan rồi và ánh sáng thật đang chiếu sáng.
Người nào nói mình ở trong ánh sáng mà ghét anh em mình thì còn ở trong bóng tối.
Ai yêu thương anh em mình thì ở trong ánh sáng, nơi người ấy không có điều gì gây cho vấp phạm.
Nhưng ai ghét anh em mình thì ở trong bóng tối, bước đi trong bóng tối và không biết mình đi đâu, vì bóng tối đã làm mù mắt người.
Hỡi các con bé nhỏ, ta viết cho các con vì tội các con đã nhờ danh Ngài mà được tha thứ.
Thưa các phụ lão, tôi viết cho các ông vì các ông đã biết Đấng hiện hữu từ ban đầu. Hỡi các bạn trẻ, tôi viết cho các bạn vì các bạn đã chiến thắng ma quỷ.
Hỡi các con bé nhỏ, ta viết cho các con vì các con biết Đức Chúa Cha. Thưa các phụ lão, tôi viết cho các ông vì các ông biết Đấng hiện hữu từ ban đầu. Hỡi các bạn trẻ, tôi viết cho các bạn vì các bạn mạnh mẽ, lời Đức Chúa Trời ở trong các bạn, và các bạn đã chiến thắng ma quỷ.
Chớ yêu thế gian cùng những gì trong thế gian. Nếu ai yêu thế gian thì sự kính yêu Đức Chúa Cha không ở trong người ấy.
Vì mọi sự trong thế gian như dục vọng của xác thịt, ham muốn của mắt, và sự kiêu ngạo về cuộc sống, đều không đến từ Đức Chúa Cha mà đến từ thế gian.
Thế gian với những dục vọng của nó đều qua đi, nhưng ai làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời thì còn lại đời đời.
Hỡi các con bé nhỏ, đây là giờ cuối cùng! Các con đã nghe nói kẻ chống Đấng Christ phải đến, và hiện nay có nhiều kẻ chống Đấng Christ đã đến. Do đó, chúng ta biết đây là giờ cuối cùng.
Chúng phát xuất từ chúng ta, nhưng không thuộc về chúng ta. Vì nếu chúng thuộc về chúng ta thì phải ở với chúng ta; điều nầy xảy ra để minh chứng rằng tất cả những kẻ ấy không thuộc về chúng ta.
Nhưng các con đã được xức dầu bởi Đấng Thánh, và tất cả các con đều có sự hiểu biết.
Ta viết cho các con, không phải vì các con không biết chân lý, mà vì các con đã biết chân lý và hiểu rằng chẳng có điều gì dối trá ra từ chân lý.
Ai là kẻ nói dối nếu chẳng phải là kẻ không thừa nhận Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ? Ấy là kẻ chống Đấng Christ, kẻ không thừa nhận Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con!
Ai không thừa nhận Con thì cũng không có Cha; ai xưng nhận Con thì cũng có Cha.
Về phần các con, hãy giữ điều các con đã nghe từ ban đầu ở trong các con. Nếu điều đã nghe từ ban đầu luôn ở trong các con thì các con sẽ ở trong Con và trong Cha.
Và sự sống đời đời là điều chính Ngài đã hứa cho chúng ta.
Ta viết cho các con những điều nầy liên quan đến những kẻ lừa dối các con.
Về phần các con, sự xức dầu mà các con đã nhận từ Ngài ở trong các con, và các con không cần ai dạy mình cả. Vì sự xức dầu của Ngài dạy các con mọi điều, và sự xức dầu ấy là thật, không phải giả dối; hãy cứ ở trong Ngài, như sự xức dầu ấy đã dạy các con.
Và bây giờ, hỡi các con bé nhỏ, hãy ở trong Ngài, để khi Ngài hiện ra, chúng ta có thể dạn dĩ, không hổ thẹn trước mặt Ngài lúc Ngài đến.
Nếu các con biết Ngài là công chính thì hãy biết rằng người nào làm điều công chính đều ra từ Ngài.
Hãy xem Đức Chúa Cha đã ban cho chúng ta tình yêu thương lớn dường nào, đến nỗi chúng ta được gọi là con cái của Đức Chúa Trời, và chúng ta thật là con cái Ngài! Sở dĩ thế gian không biết chúng ta, vì thế gian không biết Ngài.
Thưa anh em yêu dấu, hiện bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời; còn chúng ta sẽ như thế nào thì chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì chúng ta sẽ thấy Ngài như Ngài vốn có vậy.
Ai có niềm hi vọng như vậy nơi Ngài thì phải giữ mình thanh sạch, như Ngài là thanh sạch.
Còn ai phạm tội là hành động trái luật pháp; vì tội lỗi là trái luật pháp.
Nhưng anh em biết rằng Ngài đã hiện ra để cất tội lỗi đi; trong Ngài không có tội lỗi nào cả.
Ai ở trong Ngài thì không phạm tội; còn ai phạm tội thì không hề thấy hoặc biết Ngài.
Hỡi các con bé nhỏ, đừng để ai lừa dối các con. Ai làm điều công chính là người công chính, như chính Ngài là Đấng công chính.
Ai phạm tội thì thuộc về ma quỷ; vì ma quỷ đã phạm tội từ lúc ban đầu. Sở dĩ Con Đức Chúa Trời đã hiện ra là để hủy phá công việc của ma quỷ.
Ai do Đức Chúa Trời sinh ra thì không phạm tội, vì hạt giống của Đức Chúa Trời ở trong người ấy; người ấy không thể cứ phạm tội, vì đã được Đức Chúa Trời sinh ra.
Điều nầy cho biết ai là con cái Đức Chúa Trời, và ai là con cái ma quỷ: Ai không làm điều công chính thì không thuộc về Đức Chúa Trời, ai không yêu thương anh em mình cũng vậy.
Sứ điệp mà các con đã nghe từ lúc ban đầu, đó là: Chúng ta phải yêu thương nhau.
Đừng như Ca-in là người thuộc về ma quỷ và đã giết em mình. Tại sao Ca-in giết em? Vì những việc làm của ông ấy là xấu xa, còn những việc của em ông là công chính.
Thưa anh em, nếu thế gian ghét anh em thì đừng ngạc nhiên.
Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết mà đến sự sống, vì chúng ta yêu thương anh em. Ai không yêu thương thì ở trong sự chết.
Ai ghét anh em mình là kẻ giết người, và anh em biết rằng không một kẻ giết người nào có sự sống đời đời ở trong nó.
Bởi điều nầy, chúng ta biết được tình yêu thương: Ấy là Ngài đã hi sinh mạng sống vì chúng ta. Vậy, chúng ta cũng phải hi sinh mạng sống vì anh em mình.
Nếu ai có của cải đời nầy, thấy anh em mình đang túng thiếu mà chẳng động lòng thương thì làm thế nào tình yêu thương của Đức Chúa Trời ở trong người ấy được?
Hỡi các con bé nhỏ, chớ yêu thương bằng lời nói và miệng lưỡi, mà phải yêu bằng việc làm và sự chân thật.
Bởi điều nầy, chúng ta biết mình thuộc về chân lý, và được an tâm trước mặt Ngài
mỗi khi lòng chúng ta lên án chúng ta. Vì Đức Chúa Trời còn vĩ đại hơn lòng chúng ta, và Ngài biết hết mọi sự.
Thưa anh em yêu dấu, nếu lòng của chúng ta không lên án chúng ta thì chúng ta được vững tâm đến với Đức Chúa Trời;
và bất cứ điều gì chúng ta xin đều nhận được, vì chúng ta vâng giữ các điều răn của Ngài và làm điều đẹp lòng Ngài.
Và đây là điều răn của Ngài: Chúng ta phải tin danh Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ và yêu thương nhau, như Ngài đã truyền dạy chúng ta.
Ai vâng giữ các điều răn Ngài thì ở trong Ngài, và Ngài ở trong người ấy. Chúng ta biết Ngài đang ở trong chúng ta là nhờ Thánh Linh mà Ngài đã ban cho chúng ta.
Thưa anh em yêu dấu, đừng tin tất cả các thần linh, nhưng hãy thử xem các thần linh đó có phải đến từ Đức Chúa Trời không, vì có nhiều kẻ tiên tri giả đã xuất hiện trong thế gian.
Bởi điều nầy, anh em nhận biết Thánh Linh của Đức Chúa Trời: Thần linh nào thừa nhận Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thân xác thì thần linh đó đến từ Đức Chúa Trời;
thần linh nào không thừa nhận như thế về Đức Chúa Jêsus thì không phải đến từ Đức Chúa Trời. Đó là thần linh của kẻ chống Đấng Christ mà anh em nghe nói sắp đến, và bây giờ đã ở trong thế gian rồi.
Các con bé nhỏ ơi, các con thuộc về Đức Chúa Trời và đã chiến thắng chúng, vì Đấng ở trong các con vĩ đại hơn kẻ ở trong thế gian.
Chúng thuộc về thế gian nên nói những việc thế gian, và thế gian nghe chúng.
Chúng ta thuộc về Đức Chúa Trời. Ai biết Đức Chúa Trời thì nghe chúng ta, còn ai không thuộc về Đức Chúa Trời thì không nghe chúng ta. Bởi điều nầy, chúng ta nhận biết được thần linh của chân lý và thần linh của sự sai lầm.
Thưa anh em yêu dấu, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu thương đến từ Đức Chúa Trời. Ai yêu thương thì sinh bởi Đức Chúa Trời và nhận biết Đức Chúa Trời.
Ai không yêu thương thì không nhận biết Đức Chúa Trời; vì Đức Chúa Trời là tình yêu thương.
Tình yêu thương của Đức Chúa Trời đối với chúng ta đã được bày tỏ trong điều nầy: Đức Chúa Trời đã sai Con Một của Ngài đến trần gian để chúng ta nhờ Con ấy mà được sống.
Tình yêu thương ở trong điều nầy: Không phải chúng ta đã yêu thương Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu thương chúng ta và sai Con Ngài làm tế lễ chuộc tội chúng ta.
Thưa anh em yêu dấu, nếu Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta như thế, chúng ta cũng phải yêu thương nhau.
Chưa hề có ai thấy Đức Chúa Trời; nếu chúng ta yêu thương nhau thì Đức Chúa Trời ở trong chúng ta, và tình yêu thương của Ngài được trọn vẹn trong chúng ta.
Bởi điều nầy, chúng ta biết mình ở trong Ngài và Ngài ở trong chúng ta, vì Ngài đã ban Thánh Linh của Ngài cho chúng ta.
Chúng tôi đã thấy và làm chứng rằng Đức Chúa Cha đã sai Con Ngài làm Cứu Chúa của thế gian.
Bất cứ ai xưng nhận Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời thì Đức Chúa Trời ở trong người ấy, và người ấy ở trong Đức Chúa Trời.
Chúng ta nhận biết và tin vào tình yêu thương của Đức Chúa Trời đối với chúng ta. Đức Chúa Trời là tình yêu thương; ai ở trong tình yêu thương thì ở trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời ở trong người ấy.
Bởi điều nầy, tình yêu thương được trọn vẹn trong chúng ta để chúng ta được vững tâm trong ngày phán xét; vì Ngài thể nào thì chúng ta cũng thể ấy trong thế gian nầy.
Không hề có sự sợ hãi trong tình yêu thương, nhưng tình yêu thương trọn vẹn thì loại bỏ sự sợ hãi. Vì sợ hãi có liên quan đến hình phạt, và ai sợ hãi thì không được trọn vẹn trong tình yêu thương.
Chúng ta yêu thương vì Chúa đã yêu thương chúng ta trước.
Nếu có ai nói: “Tôi yêu thương Đức Chúa Trời” mà lại ghét anh em mình thì người ấy là kẻ nói dối. Vì người nào không yêu thương anh em mình thấy thì không thể yêu thương Đức Chúa Trời mà mình không thấy được.
Chúng ta đã nhận nơi Ngài điều răn nầy: Ai yêu thương Đức Chúa Trời thì cũng phải yêu thương anh em mình.
Ai tin Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ thì sinh bởi Đức Chúa Trời; ai yêu thương Đấng sinh thành thì cũng yêu thương người được Đấng ấy sinh ra.
Bởi điều nầy, chúng ta biết mình yêu thương con cái Đức Chúa Trời: Đó là chúng ta yêu Đức Chúa Trời và làm theo các điều răn của Ngài.
Yêu Đức Chúa Trời tức là chúng ta vâng giữ các điều răn của Ngài; điều răn của Ngài không phải là nặng nề.
Vì ai sinh bởi Đức Chúa Trời thì chiến thắng thế gian; điều làm cho chúng ta chiến thắng thế gian chính là đức tin của chúng ta.
Ai là người chiến thắng thế gian, nếu không phải là người tin Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời?
Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng đã đến bởi nước và huyết, không phải chỉ bởi nước mà thôi, nhưng bởi nước và huyết.
Chính Thánh Linh làm chứng, vì Thánh Linh là chân lý.
Có ba bằng chứng: Thánh Linh, nước và huyết; cả ba đều hiệp nhất.
Nếu chúng ta nhận lời chứng của loài người, thì lời chứng của Đức Chúa Trời còn cao trọng hơn; vì đây là lời của Đức Chúa Trời làm chứng về Con Ngài.
Ai tin Con Đức Chúa Trời thì có lời chứng ấy trong chính mình. Còn ai không tin Đức Chúa Trời thì cho Ngài là người nói dối, vì không tin lời mà Đức Chúa Trời đã làm chứng về Con Ngài.
Đây là lời chứng: Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống nầy ở trong Con Ngài.
Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống; ai không có Con Đức Chúa Trời thì không có sự sống.
Tôi viết điều nầy cho anh em, là những người đã tin đến danh Con Đức Chúa Trời, để anh em biết mình có sự sống đời đời.
Đây là sự vững tâm mà chúng ta có được trước mặt Ngài: Ấy là nếu chúng ta cầu xin điều gì theo ý muốn Ngài thì Ngài nghe chúng ta.
Và nếu chúng ta biết Ngài nghe bất cứ điều gì chúng ta cầu xin thì chúng ta biết là mình đã nhận được điều cầu xin rồi.
Nếu ai thấy anh em mình phạm tội, mà tội ấy không đến nỗi chết, thì hãy cầu xin, và Đức Chúa Trời sẽ ban sự sống cho người ấy, tức là cho những người mà tội không đến nỗi chết. Cũng có tội dẫn đến sự chết; tôi không bảo anh em phải cầu xin cho tội nầy.
Mọi điều không công chính đều là tội, nhưng cũng có tội không đến nỗi chết.
Chúng ta biết rằng ai sinh bởi Đức Chúa Trời thì không phạm tội, vì Đấng sinh bởi Đức Chúa Trời gìn giữ người ấy, và ma quỷ không đụng đến người ấy được.
Chúng ta biết mình thuộc về Đức Chúa Trời, còn cả thế gian đều ở dưới quyền ma quỷ.
Chúng ta biết Con Đức Chúa Trời đã đến và ban sự hiểu biết cho chúng ta để chúng ta biết Ngài là Đấng chân thật; chúng ta ở trong Đấng chân thật, tức là ở trong Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ. Chính Ngài là Đức Chúa Trời chân thật và là sự sống đời đời.
Các con bé nhỏ ơi, hãy giữ mình khỏi hình tượng!
Trưởng lão kính gửi bà, người được chọn, cùng các con của bà là những người tôi quý mến trong chân lý; không phải chỉ riêng tôi mà tất cả những người hiểu biết chân lý cũng vậy,
vì chân lý ở trong chúng ta và sẽ ở với chúng ta đời đời.
Cầu xin ân điển, sự thương xót, và bình an từ Đức Chúa Trời là Cha, và từ Đức Chúa Jêsus Christ, là Con của Cha, ở với chúng ta trong chân lý và tình yêu thương.
Tôi rất mừng khi thấy một số các con của bà đi theo chân lý, đúng như điều răn chúng ta đã nhận từ Đức Chúa Cha.
Thưa bà, bây giờ tôi nài xin bà điều nầy, không phải tôi viết cho bà một điều răn mới, mà là điều răn chúng ta đã nhận từ ban đầu, ấy là chúng ta hãy yêu thương lẫn nhau.
Tình yêu thương đó là chúng ta bước theo các điều răn của Ngài. Đây là điều răn anh em đã nghe từ ban đầu để bước theo.
Vì nhiều kẻ lừa dối đã đến trong thế gian, là những kẻ không thừa nhận rằng Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thân xác. Đó là kẻ lừa dối và kẻ chống Đấng Christ.
Hãy coi chừng, để anh em không bị mất những gì mình đã thực hiện được, nhưng nhận được phần thưởng đầy đủ.
Ai đi quá xa và không tiếp tục ở trong sự dạy dỗ của Đấng Christ thì không có Đức Chúa Trời. Còn ai tiếp tục ở trong sự dạy dỗ thì có cả Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.
Nếu ai đến với anh em mà không đem theo sự dạy dỗ nầy thì chớ tiếp đón người ấy vào nhà và đừng chào hỏi.
Vì ai chào hỏi người ấy là dự phần vào các việc ác của người.
Tôi có nhiều điều để viết cho anh em, nhưng tôi không muốn dùng giấy và mực. Tôi mong đến thăm và đối diện trò chuyện với anh em để sự vui mừng của chúng ta được trọn vẹn.
Các con của người chị em được chọn của bà, chào thăm bà.
Trưởng lão gửi đến Gai-út thân mến, người mà tôi quý mến trong chân lý.
Thưa anh quý mến, tôi cầu nguyện cho anh được thịnh vượng mọi mặt, được khỏe mạnh phần xác, cũng như được thịnh vượng về phần hồn.
Tôi rất vui mừng khi các anh em đến đây làm chứng rằng anh luôn trung thành với chân lý, như anh vẫn bước theo chân lý.
Không gì làm cho tôi vui mừng hơn là nghe các con tôi bước theo chân lý.
Thưa anh quý mến, anh thật trung tín trong công việc anh làm cho các anh em, nhất là cho các khách lạ.
Họ đã làm chứng về lòng yêu thương của anh trước Hội Thánh. Mong anh giúp họ tiếp tục cuộc hành trình một cách xứng đáng với Đức Chúa Trời thì tốt lắm.
Họ đã ra đi vì danh Ngài, và không nhận gì từ người ngoại hết.
Vì thế, chúng ta phải giúp đỡ những người nầy, để chúng ta có thể trở thành những người cộng tác với họ vì chân lý.
Tôi đã viết đôi điều cho Hội Thánh; nhưng Đi-ô-trép, người thích đứng đầu, không chấp nhận chúng tôi.
Cho nên, nếu tôi đến, tôi sẽ nhắc lại những gì anh ta đã làm, là những lời độc ác chống chúng ta. Như thế vẫn chưa hài lòng, anh ta còn không tiếp rước các anh em, và ai muốn tiếp rước thì anh ta ngăn cản và đuổi ra khỏi Hội Thánh.
Thưa anh quý mến, đừng bắt chước điều dữ, nhưng hãy bắt chước điều lành. Ai làm điều lành thì thuộc về Đức Chúa Trời; còn ai làm điều dữ thì không hề thấy Đức Chúa Trời.
Mọi người đều làm chứng tốt về Đê-mê-triu, chính chân lý cũng vậy. Chúng tôi cũng làm chứng về anh ấy, và anh biết rằng lời chứng của chúng tôi là xác thực.
Tôi còn nhiều điều để viết cho anh, nhưng tôi không muốn viết bằng bút và mực.
Tôi hi vọng sớm gặp anh, và chúng ta sẽ đối mặt trò chuyện với nhau.
Cầu xin sự bình an ở với anh. Các bạn hữu chào thăm anh. Xin gửi lời chào thăm đến các bạn hữu theo đích danh từng người.
Giu-đe, đầy tớ của Đức Chúa Jêsus Christ và là em của Gia-cơ, gửi cho những người được kêu gọi, được Đức Chúa Trời, là Cha, yêu thương, và được Đức Chúa Jêsus Christ gìn giữ.
Cầu xin sự thương xót, bình an và tình yêu thương càng gấp bội cho anh em.
Thưa anh em yêu dấu, tôi hết sức mong muốn viết cho anh em về sự cứu rỗi chung của chúng ta; tôi nghĩ cần viết để khích lệ anh em chiến đấu vì đức tin, là đức tin đã truyền cho các thánh đồ một lần đủ cả.
Vì có mấy kẻ len lỏi vào giữa anh em, là những kẻ trước kia đã bị định cho sự phán xét, là những kẻ bất kính, những kẻ đã biến ân điển của Đức Chúa Trời chúng ta ra sự suy đồi đạo đức, chối bỏ Đấng Chủ Tể duy nhất và Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ.
Mặc dù anh em đã biết tất cả những điều nầy, tôi vẫn muốn nhắc anh em rằng Chúa đã giải cứu dân Ngài ra khỏi đất Ai Cập, nhưng sau đó lại hủy diệt những người không tin.
Còn các thiên sứ không giữ vị trí, từ bỏ chỗ riêng của mình, thì Ngài dùng xiềng để giữ họ trong chỗ tối tăm cho đến kỳ phán xét trong ngày trọng đại.
Như Sô-đôm, Gô-mô-rơ và các thành phụ cận cũng hành động giống như họ, buông mình vào những việc gian dâm và chạy theo tình dục không tự nhiên, thì đã bị hình phạt bằng lửa đời đời để làm gương.
Tuy nhiên, cùng một cách ấy, trong giấc mơ, những kẻ nầy đã làm ô uế thân xác mình, chối bỏ thẩm quyền, và nói phạm thượng đến các đấng vinh quang.
Ngay cả khi thiên sứ trưởng Mi-ca-ên tranh luận với ma quỷ lúc tranh chấp xác của Môi-se cũng không dám lấy lời phạm thượng nào để phán xét, mà chỉ nói: “Cầu Chúa quở trách ngươi.”
Nhưng những kẻ nầy thì xúc phạm đến bất cứ những gì họ không biết, còn những gì biết bằng bản năng như thú vật vô tri thì họ lại dùng để hủy hoại mình.
Khốn thay cho họ vì đã theo con đường của Ca-in; vì lợi lộc đã sa vào lỗi lầm của Ba-la-am; và bị hủy diệt vì sự phản loạn như Cô-ra.
Những kẻ nầy là những vết nhơ trong bữa tiệc yêu thương của anh em; họ cứ ung dung chè chén say sưa với nhau, và chỉ biết lo cho chính mình. Họ là những đám mây không nước bị gió đùa đi; họ là những cây không quả vào cuối thu, chết hai lần, bị nhổ bật rễ.
Họ như sóng cuồng của biển, sôi bọt nhơ nhuốc của mình; họ như những vì sao lạc mà bóng tối mù mịt đã dành cho họ đời đời.
Cũng chính vì những người nầy mà Hê-nóc là cháu bảy đời của A-đam đã nói tiên tri rằng: “Kìa, Chúa đến với muôn vàn đấng thánh
để thi hành sự phán xét trên tất cả mọi người, và kết án tất cả những kẻ bất kính về mọi việc bất kính mà họ đã phạm, với tất cả mọi lời xấc xược mà những tội nhân bất kính đã nói nghịch với Ngài.”
Họ là những kẻ hay cằn nhằn, bất mãn, chạy theo các dục vọng của mình, miệng nói huênh hoang, tâng bốc người ta để trục lợi.
Nhưng thưa anh em yêu dấu, hãy nhớ những lời các sứ đồ của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ đã nói trước.
Họ đã nói với anh em: “Trong thời kỳ cuối cùng sẽ có những kẻ nhạo báng, chạy theo những dục vọng bất kính của mình.”
Chúng là những kẻ gây bè kết đảng, những con người xác thịt, không có Thánh Linh.
Nhưng thưa anh em yêu dấu, hãy xây dựng chính mình trên đức tin rất thánh của anh em. Hãy cầu nguyện trong Đức Thánh Linh.
Hãy giữ mình trong tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Hãy chờ đợi sự thương xót của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ để được sự sống đời đời.
Hãy thương xót một số người hay nghi ngờ;
hãy giải cứu một số người khác, kéo họ ra khỏi lửa; còn với những người khác nữa, hãy có lòng thương xót lẫn sợ hãi, ghét cả đến chiếc áo bị xác thịt làm ô uế.
Cầu xin Đấng có quyền năng giữ anh em khỏi vấp ngã và khiến anh em đứng trước vinh quang Ngài một cách không tì vết và vui mừng,
là Đức Chúa Trời duy nhất, Cứu Chúa chúng ta, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta, được tôn vinh, uy nghiêm, năng lực và thẩm quyền từ muôn đời trước, hiện nay và cho đến đời đời! A-men.
Sự mặc khải của Đức Chúa Jêsus Christ mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài để bày tỏ cho các đầy tớ Ngài những việc sắp phải xảy đến. Ngài sai thiên sứ đến tỏ cho Giăng, đầy tớ Ngài,
là người đã làm chứng cho lời của Đức Chúa Trời và cho lời chứng của Đức Chúa Jêsus Christ, tức là tất cả những gì ông đã thấy.
Phước cho người đọc cùng những người nghe lời tiên tri nầy và vâng giữ những điều đã ghi chép trong đó, vì thì giờ đã gần rồi.
Giăng gửi đến bảy Hội Thánh tại A-si-a: Cầu chúc anh em nhận được ân điển và bình an từ ĐẤNG HIỆN CÓ, ĐÃ CÓ VÀ ĐANG ĐẾN, từ bảy LINH ở trước ngai của Ngài,
và từ Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng làm chứng thành tín, Đấng sinh trước nhất từ cõi chết và Chúa của các vua trên đất! Đấng yêu thương chúng ta đã lấy huyết mình giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi,
và làm cho chúng ta trở nên vương quốc, trở nên các thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời, là Cha Ngài, đáng được tôn vinh và uy quyền đời đời! A-men.
Kìa, Ngài đến với các đám mây! Mọi mắt sẽ thấy Ngài, cả những kẻ đã đâm Ngài; tất cả các bộ tộc trên mặt đất đều sẽ than khóc vì cớ Ngài. Thật đúng như vậy! A-men.
Chúa là Đức Chúa Trời, ĐẤNG HIỆN CÓ, ĐÃ CÓ VÀ ĐANG ĐẾN, là Đấng Toàn Năng phán rằng: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga.”
Tôi là Giăng, một người anh của anh em, người cùng chia sẻ hoạn nạn, vương quốc và sự nhẫn nhục với anh em trong Đức Chúa Jêsus, hiện đang ở tại đảo gọi là Pát-mô, vì lời của Đức Chúa Trời và lời chứng của Đức Chúa Jêsus.
Vào ngày của Chúa, tôi được Thánh Linh cảm hóa và nghe phía sau tôi có một tiếng lớn như tiếng kèn
bảo rằng: “Hãy viết những điều con thấy vào một quyển sách và gửi cho bảy Hội Thánh tại Ê-phê-sô, Si-miệc-nơ, Pẹt-găm, Thi-a-ti-rơ, Sạt-đe, Phi-la-đen-phi-a và Lao-đi-xê.”
Tôi quay lại để xem tiếng đã nói với tôi. Vừa quay lại, tôi thấy bảy chân đèn bằng vàng,
giữa những chân đèn có ai giống như Con Người mặc áo dài, thắt đai bằng vàng ngang ngực.
Đầu và tóc Ngài trắng như lông chiên, trắng như tuyết; mắt Ngài như ngọn lửa;
chân như đồng đánh bóng đã được luyện trong lò; tiếng Ngài như tiếng nhiều dòng nước.
Tay phải Ngài cầm bảy ngôi sao; từ miệng Ngài lộ ra một thanh gươm hai lưỡi thật sắc; mặt Ngài như mặt trời chiếu sáng cực độ.
Khi thấy Ngài, tôi ngã quỵ xuống chân Ngài như chết vậy. Nhưng Ngài đặt tay phải của Ngài trên tôi và bảo: “Đừng sợ, Ta là Đấng Đầu Tiên và là Đấng Cuối Cùng,
là Đấng Sống; Ta đã chết, hiện nay Ta sống đời đời, cầm chìa khóa của Sự chết và Âm phủ.
Vậy, hãy ghi chép lại những gì con đã thấy, những gì hiện có và những gì sau nầy sẽ xảy đến.
Đây là sự mầu nhiệm về bảy ngôi sao mà con thấy trong tay phải Ta, và bảy chân đèn bằng vàng: Bảy ngôi sao là các thiên sứ của bảy Hội Thánh, còn bảy chân đèn là bảy Hội Thánh.”
“Hãy viết cho thiên sứ của Hội Thánh Ê-phê-sô rằng: Đây là lời phán của Đấng cầm bảy ngôi sao trong tay phải, và đi giữa bảy chân đèn bằng vàng:
‘Ta biết các công việc của con, sự khó nhọc của con, sự kiên trì của con. Ta biết con không thể dung chịu những kẻ xấu, và đã thử những người tự xưng là sứ đồ mà không phải là sứ đồ, và con đã nhận ra rằng họ là những kẻ nói dối.
Con kiên trì, chịu đựng vì danh Ta không chút mệt mỏi.
Nhưng điều Ta trách con, ấy là con đã bỏ lòng kính mến ban đầu.
Vậy, hãy nhớ lại con đã sa sút từ đâu! Hãy ăn năn và làm lại những công việc ban đầu. Nếu không ăn năn, Ta sẽ đến với con và truất bỏ chân đèn của con khỏi chỗ nó.
Tuy nhiên, con được điều nầy: Ấy là con ghét những công việc của nhóm Ni-cô-la, mà Ta cũng ghét nữa.’
Ai có tai, hãy nghe lời Thánh Linh phán với các Hội Thánh: ‘Người nào thắng, Ta sẽ cho ăn trái cây sự sống trong Pa-ra-đi của Đức Chúa Trời.’”
“Hãy viết cho thiên sứ của Hội Thánh Si-miệc-nơ rằng: Đây là lời phán của Đấng Đầu Tiên và Cuối Cùng, Đấng đã chết và đã sống lại:
‘Ta biết sự hoạn nạn và nghèo khó của con, nhưng thật ra con giàu có! Ta biết những lời phỉ báng của những kẻ tự xưng là người Do Thái mà thật sự không phải, nhưng chúng thuộc về nhà hội của Sa-tan.
Con đừng sợ những gian khổ mình sắp trải qua. Nầy, ma quỷ sắp ném một số người trong các con vào ngục tù để thử thách các con; và các con sẽ bị hoạn nạn trong mười ngày. Hãy trung tín cho đến chết, rồi Ta sẽ ban cho con mão triều thiên của sự sống.’
Ai có tai, hãy nghe lời Thánh Linh phán với các Hội Thánh: ‘Người nào thắng sẽ không bị hại bởi sự chết thứ hai.’”
“Hãy viết cho thiên sứ của Hội Thánh Pẹt-găm rằng: Đây là lời phán của Đấng có thanh gươm hai lưỡi thật sắc:
‘Ta biết nơi con ở; chỗ đó là ngai của Sa-tan. Con đã giữ vững danh Ta và không chối bỏ đức tin nơi Ta, ngay cả trong những ngày An-ti-pa, chứng nhân trung thành của Ta bị giết tại chỗ các con, nơi Sa-tan cư ngụ.
Nhưng Ta có vài điều trách con: Nơi con ở có những kẻ đi theo sự dạy dỗ của Ba-la-am, người đã dạy Ba-lác đặt đá vấp chân trước mặt các con cái Y-sơ-ra-ên để họ ăn của cúng thần tượng và phạm tội gian dâm.
Con lại cũng có những kẻ theo sự dạy dỗ của Ni-cô-la.
Vậy, hãy ăn năn đi! Nếu không, Ta sẽ nhanh chóng đến với con, dùng thanh gươm từ miệng Ta mà giao chiến với chúng.’
Ai có tai, hãy nghe lời Thánh Linh phán với các Hội Thánh: ‘Người nào thắng, Ta sẽ ban cho ma-na đang giấu kín; Ta sẽ cho người ấy một viên sỏi trắng, trên đó có viết một tên mới, ngoài người nhận thì không ai biết được.’”
“Hãy viết cho thiên sứ của Hội Thánh Thi-a-ti-rơ rằng: Đây là lời phán của Con Đức Chúa Trời, Đấng có mắt như ngọn lửa và chân như đồng đánh bóng:
‘Ta biết công việc của con, lòng yêu thương, đức tin, sự phục vụ và sự nhẫn nhục của con; các công việc sau nầy của con nhiều hơn những công việc ban đầu.
Nhưng có điều Ta trách con, ấy là con dung túng cho Giê-sa-bên, người phụ nữ tự xưng mình là nhà tiên tri, dạy dỗ và quyến dụ các đầy tớ Ta phạm tội gian dâm và ăn của cúng thần tượng.
Ta đã cho người nữ nầy thì giờ để ăn năn, nhưng nó không muốn ăn năn điều gian dâm của nó.
Nầy, Ta sẽ ném nó trên giường bệnh, và ném những kẻ phạm tội gian dâm với nó vào hoạn nạn lớn, nếu nó không ăn năn những việc làm của mình.
Ta sẽ đánh chết các con của nó. Lúc ấy, tất cả các Hội Thánh sẽ biết rằng Ta là Đấng dò biết lòng dạ loài người; Ta sẽ báo trả cho mỗi người trong các con tùy những công việc của các con.
Nhưng Ta nói với những người còn lại của các con tại Thi-a-ti-rơ, là những người không nhận giáo lý đó, không biết đến điều mà họ gọi là những sự thâm hiểm của Sa-tan, rằng: Ta không đặt trên các con gánh nặng nào khác.
Tuy nhiên, các con chỉ cần giữ vững điều mình có cho tới khi Ta đến.
Người nào thắng và giữ các công việc của Ta cho đến cuối cùng thì Ta sẽ ban cho người ấy thẩm quyền trên các nước;
người ấy sẽ cai trị các nước bằng một cây gậy sắt, và đập vỡ chúng như đồ gốm, cũng như Ta đã nhận thẩm quyền ấy từ Cha Ta.
Ta sẽ ban cho người ấy ngôi sao mai.
Ai có tai, hãy nghe lời Thánh Linh phán với các Hội Thánh!’”
“Hãy viết cho thiên sứ của Hội Thánh Sạt-đe rằng: Đây là lời phán của Đấng có bảy linh của Đức Chúa Trời, và bảy ngôi sao: ‘Ta biết các công việc của con; con có tiếng là sống, nhưng lại là chết.
Vậy, hãy tỉnh thức và làm cho vững những gì còn lại, tức là những gì gần chết, vì Ta không thấy các công việc của con là trọn vẹn trước mặt Đức Chúa Trời Ta.
Hãy nhớ lại con đã nhận và nghe thế nào; hãy giữ lấy và ăn năn đi. Nếu con không tỉnh thức thì Ta sẽ đến như kẻ trộm; và con sẽ không biết giờ nào Ta thình lình đến với con.
Nhưng ở Sạt-đe, con còn có vài người chưa làm ô uế y phục mình; họ sẽ mặc áo trắng và đi với Ta, vì họ thật xứng đáng.
Người nào thắng sẽ được mặc áo trắng như vậy; Ta sẽ không xóa tên người ấy khỏi sách sự sống, và sẽ công bố tên người ấy trước mặt Cha Ta và trước mặt các thiên sứ của Ngài.
Ai có tai, hãy nghe lời Thánh Linh phán với các Hội Thánh.’ ”
“Hãy viết cho thiên sứ của Hội Thánh Phi-la-đen-phi-a: Đây là lời phán của Đấng Thánh và Chân Thật, là Đấng có chìa khóa của Đa-vít, là Đấng mở thì không ai đóng được, đóng thì không ai mở được:
‘Ta biết các công việc của con. Nầy, Ta đã mở trước mặt con một cái cửa không ai có thể đóng được, vì con có ít năng lực mà vẫn vâng giữ lời Ta và không chối danh Ta.
Nầy, Ta ban cho con một số người thuộc về nhà hội của Sa-tan, những kẻ tự xưng là người Do Thái mà thực sự không phải, vì chúng nói dối. Nầy, Ta sẽ khiến chúng đến phủ phục dưới chân con, và chúng sẽ biết rằng Ta đã yêu thương con.
Vì con đã vâng giữ lời Ta dạy về lòng kiên nhẫn nên Ta cũng sẽ giữ con khỏi giờ thử thách, là giờ sắp đến trong khắp thế gian, để thử nghiệm những người sống trên đất.
Ta đến nhanh chóng; hãy giữ vững điều con đang có để không ai đoạt mất mão triều thiên của con.
Người nào thắng, Ta sẽ cho làm cột trụ trong đền thờ của Đức Chúa Trời Ta; và người ấy sẽ không ra khỏi đó nữa. Ta sẽ viết trên người ấy: danh của Đức Chúa Trời Ta, danh của thành Đức Chúa Trời Ta — là Giê-ru-sa-lem mới ở trên trời, từ Đức Chúa Trời mà xuống — và danh mới của Ta.
Ai có tai, hãy nghe lời Thánh Linh phán với các Hội Thánh.’ ”
“Hãy viết cho thiên sứ của Hội Thánh Lao-đi-xê rằng: Đây là lời phán của Đấng A-men, Đấng làm chứng thành tín và chân thật, là cội nguồn công cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời:
‘Ta biết các công việc của con; con không lạnh cũng không nóng. Ước gì con nóng hay lạnh thì hơn.
Vậy, vì con hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên Ta sẽ nhả con ra khỏi miệng Ta.’
Con nói: ‘Tôi giàu, tôi đã phát đạt rồi, tôi không cần gì nữa.’ Nhưng con không biết rằng mình đang cùng khổ, đáng thương, nghèo ngặt, đui mù và lõa lồ.
Vì thế, Ta khuyên con hãy mua vàng đã được thử lửa của Ta để con trở nên giàu có; mua những áo trắng và mặc vào để sự lõa lồ của con không bị lộ ra, và mua thuốc xức mắt xức vào mắt con để con thấy được.
Những người Ta yêu thì Ta quở trách, sửa phạt; vậy, hãy sốt sắng và ăn năn đi!
Nầy, Ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng Ta mà mở cửa cho thì Ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người và người với Ta.
Người nào thắng, Ta sẽ cho ngồi với Ta trên ngai Ta, như chính Ta đã thắng và ngồi với Cha Ta trên ngai của Ngài.
Ai có tai, hãy nghe lời Thánh Linh phán với các Hội Thánh.”
Sau đó, tôi nhìn xem, kìa, có một cánh cửa mở ở trên trời! Tiếng thứ nhất mà tôi đã nghe, giống như tiếng kèn, nói với tôi rằng: “Hãy lên đây, Ta sẽ chỉ cho con thấy những gì phải xảy ra sau nầy.”
Lập tức, tôi được Thánh Linh cảm hóa; kìa, có một chiếc ngai ở trên trời; trên ngai có một Đấng đang ngồi!
Đấng ngồi trên ngai trông giống như bích ngọc và mã não; chung quanh ngai có cầu vồng giống như lục bửu thạch.
Quanh ngai có hai mươi bốn ngai khác, trên những ngai ấy có hai mươi bốn trưởng lão đang ngồi mặc áo trắng, đầu đội mão triều thiên bằng vàng.
Từ ngai phát ra những tia chớp, tiếng nói và tiếng sấm; có bảy ngọn đèn cháy sáng trước ngai, đó là bảy linh của Đức Chúa Trời.
Trước ngai dường như có biển thủy tinh trong như pha lê; giữa ngai và chung quanh ngai có bốn sinh vật mà phía trước và phía sau đầy những mắt.
Sinh vật thứ nhất giống như sư tử, sinh vật thứ nhì giống như bò đực, sinh vật thứ ba có mặt giống mặt người, và sinh vật thứ tư giống như đại bàng đang bay.
Bốn sinh vật ấy, mỗi con có sáu cánh, chung quanh và bên trong mình đầy những mắt; ngày đêm nói luôn không dứt: “Thánh thay, thánh thay, thánh thay, Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng, ĐẤNG ĐÃ CÓ, HIỆN CÓ VÀ ĐANG ĐẾN!”
Mỗi khi các sinh vật dâng vinh quang, tôn trọng và cảm tạ lên cho Đấng ngồi trên ngai, là Đấng sống đời đời,
thì hai mươi bốn trưởng lão phủ phục trước mặt Đấng ngồi trên ngai và thờ lạy Đấng sống đời đời. Họ ném mão triều thiên của mình trước ngai, và nói:
“Lạy Đức Chúa Trời là Chúa của chúng con, Chúa đáng được vinh quang, tôn trọng và uy quyền, Vì Chúa đã tạo dựng muôn vật, Và do ý muốn của Chúa mà muôn vật hiện hữu và được tạo dựng.”
Rồi tôi nhìn thấy trong tay phải của Đấng ngồi trên ngai một quyển sách viết cả trong lẫn ngoài, được niêm bằng bảy ấn.
Tôi cũng thấy một thiên sứ đầy uy lực lớn tiếng công bố rằng: “Ai là người xứng đáng mở quyển sách và tháo các ấn nầy?”
Không một ai ở trên trời, dưới đất hoặc bên dưới đất có thể mở hoặc nhìn vào quyển sách.
Tôi khóc nức nở, vì không ai xứng đáng mở hoặc nhìn vào quyển sách.
Nhưng một trong các trưởng lão nói với tôi: “Đừng khóc, kìa, Sư tử của bộ tộc Giu-đa, hậu tự của Đa-vít, đã đắc thắng nên có thể mở quyển sách và mở bảy ấn ra.”
Tôi thấy Chiên Con như đã bị giết đang đứng giữa ngai, vây quanh bởi bốn sinh vật và các trưởng lão. Chiên Con có bảy sừng và bảy mắt, tức là bảy linh của Đức Chúa Trời sai đi khắp đất.
Chiên Con đến, lấy quyển sách nơi tay phải của Đấng ngồi trên ngai.
Khi Chiên Con lấy quyển sách, bốn sinh vật và hai mươi bốn trưởng lão phủ phục trước mặt Chiên Con; mỗi người cầm một chiếc thụ cầm và những bát bằng vàng đựng đầy hương, tức là lời cầu nguyện của các thánh đồ.
Họ hát một bài ca mới rằng: “Ngài xứng đáng lấy quyển sách Và mở các ấn ra, vì Ngài đã bị giết, Lấy huyết mình chuộc cho Đức Chúa Trời Những người thuộc mọi bộ tộc, mọi ngôn ngữ, mọi dân, mọi nước,
Và làm cho họ trở nên vương quốc và thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời chúng ta, Và họ sẽ trị vì trên đất.”
Tôi nhìn xem, và nghe tiếng của nhiều thiên sứ chung quanh ngai, các sinh vật và các trưởng lão. Có muôn muôn, nghìn nghìn thiên sứ
đồng hát lớn tiếng rằng: “Chiên Con đã bị giết Xứng đáng được uy quyền, giàu có, khôn ngoan, Uy lực, tôn trọng, vinh quang và ca ngợi!”
Tôi nghe mọi tạo vật trên trời, dưới đất, bên dưới đất, trong biển, và tất cả mọi vật trong các nơi ấy đều nói rằng: “Chúc cho Đấng ngồi trên ngai và Chiên Con Được ca ngợi, tôn trọng, vinh quang và uy lực cho đến đời đời!”
Bốn sinh vật đều nói: “A-men!” Và các trưởng lão phủ phục và thờ lạy.
Tôi nhìn xem khi Chiên Con mở ấn thứ nhất trong bảy ấn và tôi nghe một trong bốn sinh vật nói tiếng như sấm rằng: “Hãy đến!”
Tôi nhìn xem, kìa là một con ngựa trắng. Người cưỡi ngựa có một cây cung và được ban cho một mão triều thiên. Người đi ra như một người chinh phục và chiến thắng.
Khi Chiên Con mở ấn thứ nhì, tôi nghe sinh vật thứ nhì nói rằng: “Hãy đến!”
Một con ngựa khác màu hồng hiện ra. Người cưỡi ngựa được quyền cất sự hòa bình khỏi mặt đất để người ta giết hại lẫn nhau; người cũng được ban cho một thanh gươm lớn.
Khi Chiên Con mở ấn thứ ba, tôi nghe sinh vật thứ ba bảo: “Hãy đến!” Tôi nhìn xem, kìa là một con ngựa ô. Người cưỡi ngựa tay cầm chiếc cân.
Tôi nghe dường như có tiếng ở giữa bốn sinh vật nói rằng: “Một đơ-ni-ê một đấu lúa mì; một đơ-ni-ê ba đấu lúa mạch; nhưng dầu và rượu thì chớ động đến.”
Khi Chiên Con mở ấn thứ tư, tôi nghe sinh vật thứ tư nói: “Hãy đến!”
Tôi nhìn xem, kìa là một con ngựa xanh xám. Người cưỡi ngựa tên là Sự Chết, và Âm phủ theo sau nó. Họ được quyền trên một phần tư đất để giết bằng gươm giáo, đói kém, dịch bệnh và các thú dữ trên đất.
Khi Chiên Con mở ấn thứ năm, tôi thấy dưới bàn thờ có linh hồn của những người đã bị giết vì lời Đức Chúa Trời và vì lời làm chứng của họ.
Họ kêu lớn tiếng rằng: “Lạy Chúa là Đấng thánh và chân thật, còn bao lâu nữa Chúa mới xét đoán, và vì máu chúng tôi mà báo thù những kẻ ở trên đất?”
Mỗi người trong số họ được ban cho một áo dài trắng, và được bảo phải an nghỉ ít lâu nữa, cho đến lúc đủ số những bạn đồng lao và anh em của họ phải bị giết như họ.
Khi Chiên Con mở ấn thứ sáu, tôi thấy một cơn động đất lớn; mặt trời trở nên tối như tấm vải lông đen, mặt trăng trở nên đỏ như máu,
các vì sao trên trời rơi xuống đất như những trái xanh từ cây vả rụng xuống trong cơn gió mạnh.
Bầu trời biến mất như quyển sách cuốn lại, tất cả các núi, các đảo đều bị dời khỏi chỗ mình.
Các vua trên đất, những người có địa vị cao, các tướng lĩnh, những người giàu có, những kẻ quyền thế, các nô lệ, những người tự do đều trốn trong các hang và giữa các tảng đá trên núi.
Họ nói với núi và các tảng đá rằng: “Hãy đổ xuống trên chúng tôi và giấu chúng tôi khỏi mặt của Đấng ngồi trên ngai và khỏi cơn thịnh nộ của Chiên Con;
vì ngày thịnh nộ lớn của các Đấng ấy đã đến, ai có thể đứng nổi?”
Sau đó, tôi thấy bốn thiên sứ đứng ở bốn góc đất cầm bốn ngọn gió lại để không có gió thổi trên đất, trên biển hoặc trên bất cứ cây cối nào.
Tôi lại thấy một thiên sứ khác đến từ hướng mặt trời mọc, cầm ấn của Đức Chúa Trời hằng sống. Thiên sứ nầy lớn tiếng gọi bốn thiên sứ đã được ban cho quyền làm hại đất cùng biển
và bảo rằng: “Đừng làm hại đất, biển và những cây cối, cho đến lúc chúng ta đã đóng ấn trên trán các đầy tớ của Đức Chúa Trời chúng ta.”
Tôi nghe số người được đóng ấn là: Một trăm bốn mươi bốn nghìn. Những người được đóng ấn đến từ các bộ tộc của dân Y-sơ-ra-ên.
Trong bộ tộc Giu-đa: Mười hai nghìn người được đóng ấn; Trong bộ tộc Ru-bên: Mười hai nghìn; Trong bộ tộc Gát: Mười hai nghìn;
Trong bộ tộc A-se: Mười hai nghìn; Trong bộ tộc Nép-ta-li: Mười hai nghìn; Trong bộ tộc Ma-na-se: Mười hai nghìn;
Trong bộ tộc Si-mê-ôn: Mười hai nghìn; Trong bộ tộc Lê-vi: Mười hai nghìn; Trong bộ tộc Y-sa-ca: Mười hai nghìn;
Trong bộ tộc Sa-bu-lôn: Mười hai nghìn; Trong bộ tộc Giô-sép: Mười hai nghìn; Trong bộ tộc Bên-gia-min: Mười hai nghìn người được đóng ấn.
Sau đó tôi nhìn xem, kìa, có một đoàn người rất đông không ai đếm được, từ các nước, các bộ tộc, các dân tộc, các thứ tiếng, đứng trước ngai và trước Chiên Con, mặc áo dài trắng, tay cầm lá kè.
Họ lớn tiếng kêu rằng: “Sự cứu rỗi thuộc về Đức Chúa Trời của chúng ta, Đấng ngồi trên ngai, và thuộc về Chiên Con.”
Tất cả các thiên sứ đứng quanh ngai, quanh các trưởng lão và bốn sinh vật, phủ phục trước ngai và thờ lạy Đức Chúa Trời,
nói rằng: “A-men! Nguyện sự chúc tụng, vinh quang, khôn ngoan, cảm tạ, tôn kính, quyền năng và uy lực quy về Đức Chúa Trời chúng ta đời đời. A-men!”
Một trong các trưởng lão nói với tôi rằng: “Những người mặc áo dài trắng ấy là ai, và họ từ đâu đến?”
Tôi thưa rằng: “Thưa chúa, chúa biết.” Trưởng lão ấy nói với tôi: “Đây là những người đã ra khỏi cơn đại nạn, đã giặt và tẩy trắng áo mình trong huyết của Chiên Con.
Vì vậy, họ được ở trước ngai Đức Chúa Trời, ngày đêm phục vụ trong đền thờ của Ngài; và Đấng ngồi trên ngai sẽ che phủ họ.
Họ sẽ không còn đói hoặc khát nữa, cũng không có mặt trời hoặc cơn nắng gắt nào hại đến họ.
Vì Chiên Con ở giữa ngai sẽ chăn giữ và dẫn họ đến những suối nước sự sống. Đức Chúa Trời sẽ lau hết nước mắt khỏi mắt họ.”
Khi Chiên Con mở ấn thứ bảy, trên trời yên lặng khoảng nửa giờ.
Tôi thấy bảy thiên sứ đứng trước mặt Đức Chúa Trời, và họ được trao cho bảy chiếc kèn.
Một thiên sứ khác cầm bình hương bằng vàng đến đứng bên bàn thờ. Vị nầy được ban cho nhiều hương để dâng lên cùng với những lời cầu nguyện của các thánh đồ trên bàn thờ bằng vàng ở trước ngai.
Khói hương từ tay thiên sứ với những lời cầu nguyện của các thánh đồ bay lên trước mặt Đức Chúa Trời.
Rồi thiên sứ lấy bình hương, bỏ đầy lửa nơi bàn thờ vào và ném xuống đất thì có những tiếng sấm, tiếng nói, những tia chớp và động đất.
Sau đó, bảy thiên sứ cầm bảy chiếc kèn chuẩn bị thổi.
Thiên sứ thứ nhất thổi kèn thì có mưa đá và lửa trộn lẫn với máu đổ xuống đất. Một phần ba đất bị thiêu cháy, một phần ba cây cối bị thiêu cháy, và tất cả cỏ xanh đều bị thiêu cháy.
Thiên sứ thứ nhì thổi kèn thì có vật gì giống như quả núi lớn cháy rực bị ném xuống biển. Một phần ba biển biến thành máu,
một phần ba sinh vật trong biển bị chết, và một phần ba tàu thuyền bị phá hủy.
Thiên sứ thứ ba thổi kèn thì một ngôi sao lớn cháy như đuốc từ trời rơi xuống. Ngôi sao ấy rơi vào một phần ba các sông và các nguồn nước.
Tên ngôi sao ấy là Ngải Cứu. Một phần ba nước hóa ra ngải cứu; nhiều người chết bởi nước nầy, vì nó đã trở thành đắng.
Thiên sứ thứ tư thổi kèn thì một phần ba mặt trời, một phần ba mặt trăng và một phần ba các ngôi sao bị va chạm mạnh đến nỗi một phần ba của chúng trở nên tối, khiến một phần ba ban ngày không có ánh sáng, và ban đêm cũng vậy.
Rồi tôi nhìn xem, và nghe một chim đại bàng đang bay giữa trời, kêu lớn: “Khốn thay! Khốn thay! Khốn thay cho những cư dân trên đất khi tiếng kèn mà ba thiên sứ khác sắp thổi lên.”
Thiên sứ thứ năm thổi kèn, tôi thấy một ngôi sao từ trời rơi xuống đất; ngôi sao ấy được trao cho chìa khóa của vực sâu.
Khi ngôi sao mở vực sâu thì có khói từ vực sâu bay lên như khói của một lò lửa lớn; mặt trời và không gian bị u ám bởi khói của vực sâu ấy.
Từ luồng khói đó có những châu chấu bay ra khắp đất, và chúng được ban cho năng lực giống như năng lực của bọ cạp trên đất vậy.
Chúng được bảo đừng làm hại cỏ trên đất, các loại tươi xanh và cây cối mà chỉ làm hại những người không có ấn của Đức Chúa Trời ở trên trán.
Chúng không được phép giết chết, nhưng được phép hành hạ họ trong năm tháng. Sự đau đớn do chúng gây ra giống như sự đau đớn của người bị bò cạp chích.
Trong những ngày ấy, người ta sẽ tìm kiếm sự chết mà không gặp; họ mong được chết nhưng sự chết tránh xa.
Hình dạng của những châu chấu giống như ngựa sẵn sàng cho chiến trận. Trên đầu chúng có cái gì giống như mão miện bằng vàng; mặt chúng như mặt người;
tóc như tóc phụ nữ; răng như răng sư tử.
Chúng có giáp che ngực như giáp bằng sắt; tiếng cánh của chúng như tiếng của nhiều chiến xa do ngựa kéo đang xông vào chiến trường.
Chúng có đuôi và nọc giống như bò cạp; những đuôi nầy có sức mạnh làm hại loài người trong năm tháng.
Vua của chúng là sứ giả của vực sâu, có tên trong tiếng Hê-bơ-rơ là A-ba-đôn, và trong tiếng Hi Lạp là A-pô-li-ôn.
Khổ nạn thứ nhất đã qua. Nầy, còn hai khổ nạn nữa đang đến.
Thiên sứ thứ sáu thổi kèn, tôi nghe có tiếng từ bốn góc bàn thờ bằng vàng ở trước mặt Đức Chúa Trời.
Tiếng ấy nói với thiên sứ thứ sáu đang cầm kèn rằng: “Hãy thả bốn thiên sứ đang bị trói tại sông lớn Ơ-phơ-rát ra.”
Vậy, bốn thiên sứ được thả ra; họ đã sẵn sàng cho giờ, ngày, tháng, năm ấy để giết chết một phần ba loài người.
Số kỵ binh là hai trăm triệu. Đó là số của họ mà tôi đã nghe.
Trong khải tượng, tôi thấy ngựa và những người cưỡi ngựa như thế nầy: Họ mặc giáp che ngực màu lửa, màu xanh ngọc và màu lưu huỳnh; đầu ngựa như đầu sư tử; miệng chúng phun ra lửa, khói và lưu huỳnh.
Một phần ba loài người bị giết vì ba tai nạn nầy, đó là: lửa, khói và lưu huỳnh ra từ miệng ngựa.
Vì sức mạnh của ngựa ở trong miệng và đuôi của chúng; đuôi chúng giống như đầu rắn và chúng dùng đầu ấy gây tội ác.
Phần còn lại của loài người, những người không bị giết bởi các tai nạn nầy, vẫn không ăn năn những công việc của tay họ, cũng không từ bỏ việc thờ lạy các quỷ, các hình tượng bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng, bằng đá, bằng gỗ là những hình tượng không thể thấy, nghe hoặc đi được.
Họ cũng không ăn năn những tội giết người, tà thuật, gian dâm, trộm cướp của mình.
Sau đó, tôi thấy một thiên sứ khác đầy uy lực từ trời xuống, có một đám mây bao phủ. Trên đầu thiên sứ có một chiếc cầu vồng; mặt thiên sứ như mặt trời và chân như trụ lửa.
Thiên sứ cầm trong tay một quyển sách nhỏ đã mở. Thiên sứ đặt chân phải trên biển, chân trái trên đất liền
và kêu lên một tiếng lớn như tiếng gầm của sư tử. Khi thiên sứ kêu lên thì bảy tiếng sấm vang vọng.
Sau khi bảy tiếng sấm vang lên, tôi định ghi lại thì nghe có tiếng từ trời: “Hãy niêm những điều bảy tiếng sấm đã nói, đừng ghi lại!”
Thiên sứ mà tôi đã thấy đứng trên biển và trên đất liền giơ tay phải lên trời,
nhân danh Đấng sống đời đời, Đấng tạo dựng trời và mọi vật trên trời, đất và mọi vật trên đất, biển và mọi vật trong biển, mà thề rằng: “Sẽ không còn trì hoãn nữa!
Nhưng đến những ngày thiên sứ thứ bảy thổi kèn thì sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời sẽ hoàn tất, như Ngài đã công bố cho các đầy tớ Ngài là các nhà tiên tri.”
Tiếng từ trời mà tôi đã nghe lại bảo tôi: “Hãy đi lấy quyển sách đã mở trong tay vị thiên sứ đang đứng trên biển và đất liền.”
Vậy, tôi đi đến với thiên sứ và xin người quyển sách nhỏ. Thiên sứ bảo: “Hãy lấy và ăn đi! Trong bụng ngươi sẽ đắng, nhưng miệng thì ngọt như mật.”
Tôi lấy quyển sách nhỏ khỏi tay thiên sứ và ăn. Nó ngọt như mật trong miệng tôi; nhưng khi ăn rồi, bụng tôi lại đắng.
Rồi tôi được bảo: “Ngươi còn phải nói tiên tri về nhiều dân tộc, nhiều nước, nhiều thứ tiếng, và nhiều vua nữa.”
Bấy giờ tôi được ban cho một cây thước đo giống như cây gậy và được bảo: “Hãy đứng dậy đo đền thờ của Đức Chúa Trời và bàn thờ cùng với những người thờ phượng trong đó.
Nhưng sân ngoài thì chừa ra, đừng đo; vì nó đã được giao cho dân ngoại, và họ sẽ giày đạp thành thánh trong bốn mươi hai tháng.
Ta sẽ cho hai chứng nhân của Ta mặc áo vải sô và nói tiên tri trong một nghìn hai trăm sáu mươi ngày.”
Hai người nầy là hai cây ô-liu và hai chân đèn đứng trước mặt Chúa của đất.
Nếu ai muốn làm hại hai người nầy thì lửa ra từ miệng họ sẽ thiêu đốt những kẻ thù của họ; bất cứ ai muốn làm hại họ thì sẽ bị giết như vậy.
Họ có quyền đóng trời lại để mưa không rơi xuống trong những ngày họ nói tiên tri; họ cũng có quyền trên nước để biến nước thành máu, và dùng mọi thứ tai họa làm hại đất bất cứ lúc nào họ muốn.
Khi hai người đã làm chứng xong thì con thú từ vực sâu đi lên, giao chiến và đánh bại họ rồi giết đi.
Xác hai người sẽ nằm trên đại lộ của thành phố lớn, gọi theo nghĩa bóng là Sô-đôm và Ai Cập, nơi Chúa của họ đã bị đóng đinh trên thập tự giá.
Mọi người thuộc các dân, các bộ tộc, các thứ tiếng, các nước sẽ nhìn xem xác của họ trong ba ngày rưỡi, và không chịu cho chôn trong mồ.
Dân trên đất vui mừng về họ, hớn hở gửi quà cho nhau, vì hai nhà tiên tri nầy đã làm khổ cư dân trên đất.
Sau ba ngày rưỡi, sinh khí từ Đức Chúa Trời đến nhập vào hai người và họ đứng thẳng dậy, khiến những kẻ xem thấy vô cùng sợ hãi.
Hai người nghe một tiếng lớn từ trời bảo rằng: “Hãy lên đây!” Hai người lên trời trong đám mây; và những kẻ thù đều xem thấy.
Vào giờ ấy, có một cơn động đất lớn; một phần mười thành phố đổ xuống; bảy nghìn người chết trong cơn động đất. Những người còn lại đều kinh hoàng và dâng vinh quang cho Đức Chúa Trời trên trời.
Khổ nạn thứ nhì đã qua; nầy, khổ nạn thứ ba đến mau chóng.
Thiên sứ thứ bảy thổi kèn, có tiếng lớn từ trời nói rằng: “Vương quốc của thế gian thuộc về Chúa chúng ta, Và Đấng Christ của Ngài. Ngài sẽ trị vì đời đời.”
Hai mươi bốn trưởng lão đang ngồi trên ngai trước mặt Đức Chúa Trời đều phủ phục xuống đất, thờ lạy Đức Chúa Trời,
và nói rằng: “Lạy Chúa, là Đức Chúa Trời Toàn Năng, ĐẤNG HIỆN CÓ VÀ ĐÃ CÓ, Chúng con cảm tạ Ngài vì Ngài đã nắm quyền tối cao, Và đã trị vì.
Các dân tộc giận dữ; Nhưng cơn thịnh nộ của Ngài đã đến, Là thời điểm phán xét kẻ chết, Ban thưởng cho các đầy tớ Ngài, các nhà tiên tri, các thánh đồ, Và những người kính sợ danh Ngài, Cả bé lẫn lớn, Và hủy diệt những kẻ hủy diệt quả đất.”
Đền thờ của Đức Chúa Trời ở trên trời mở ra, bên trong thấy có Hòm Giao Ước của Ngài, rồi có những tia chớp, tiếng nói, tiếng sấm, động đất và mưa đá lớn.
Rồi một dấu lạ lớn xuất hiện ở trên trời: Một phụ nữ mình được bao phủ bằng mặt trời, chân đứng trên mặt trăng, đầu đội mão miện bằng mười hai ngôi sao.
Nàng có thai và kêu la đau đớn, quặn thắt vì sắp sinh.
Trên trời cũng xuất hiện một dấu lạ khác: Một con rồng lớn màu đỏ có bảy đầu, mười sừng, và trên bảy đầu có bảy mão miện.
Đuôi kéo theo một phần ba các ngôi sao trên trời và ném xuống đất. Rồng đứng trước người phụ nữ sắp sinh, để khi nàng sinh thì ăn nuốt con của nàng.
Người phụ nữ sinh một con trai; con trai ấy sẽ dùng gậy sắt mà cai trị các dân tộc. Nhưng con nàng được tiếp lên đến Đức Chúa Trời, tận ngai của Ngài.
Còn người phụ nữ thì chạy trốn vào hoang mạc; tại đó, Đức Chúa Trời đã chuẩn bị cho nàng một chỗ để được nuôi dưỡng trong một nghìn hai trăm sáu mươi ngày.
Lúc ấy có một trận chiến xảy ra ở trên trời: Mi-ca-ên và các thiên sứ của mình giao chiến với con rồng; con rồng với các sứ giả của nó cũng đánh trả.
Nhưng chúng không thắng được, và không còn tìm thấy chỗ của chúng ở trên trời nữa.
Con rồng lớn bị ném xuống, tức là con rắn xưa, được gọi là ma quỷ hay Sa-tan, kẻ lừa dối cả nhân loại. Nó đã bị ném xuống đất; các sứ giả của nó cũng bị ném xuống với nó.
Tôi nghe trên trời có tiếng lớn nói rằng: “Bây giờ sự cứu rỗi, quyền năng, Vương quốc của Đức Chúa Trời chúng ta, Và thẩm quyền Đấng Christ của Ngài đã đến, Vì kẻ tố cáo anh em chúng ta, ngày đêm tố cáo họ trước mặt Đức Chúa Trời, Đã bị ném xuống rồi.
Họ đã chiến thắng nó nhờ huyết Chiên Con, Và nhờ lời làm chứng của họ; Họ chẳng tiếc sự sống của mình cho đến chết.
Vì vậy, hỡi các tầng trời, và những người ở trong đó, Hãy vui mừng đi! Nhưng khốn thay cho đất và biển, Vì ma quỷ biết thì giờ của nó không còn bao lâu, Nên giận hoảng mà xuống với các ngươi.”
Khi rồng thấy mình bị ném xuống đất thì đuổi theo người phụ nữ đã sinh con trai.
Nhưng người phụ nữ được ban cho đôi cánh đại bàng để bay đến chỗ của nàng trong hoang mạc, nơi nàng sẽ được nuôi dưỡng một thì, các thì, và nửa thì, tránh xa con rắn.
Con rắn phun nước từ miệng ra như sông đằng sau người phụ nữ để cuốn nàng đi.
Nhưng đất tiếp cứu người phụ nữ bằng cách há miệng ra và nuốt dòng sông mà con rồng đã phun ra từ miệng nó.
Con rồng nổi giận với người phụ nữ và đi giao chiến với phần còn lại của dòng dõi nàng, là những người vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và có lời chứng của Đức Chúa Jêsus.
Rồi con rồng đứng trên bãi cát của biển.
Sau đó, tôi thấy một con thú từ biển lên. Nó có mười sừng, bảy đầu; trên các sừng có mười mão miện, trên các đầu có danh hiệu phạm thượng.
Con thú tôi xem thấy giống con beo; chân như chân gấu, miệng như miệng sư tử. Con rồng đã ban cho nó quyền lực, ngai báu và thẩm quyền lớn.
Một trong những đầu của nó dường như bị trọng thương; nhưng vết thương đã được lành, và cả thế gian đều kinh ngạc mà đi theo con thú ấy.
Người ta thờ lạy con rồng vì nó đã ban thẩm quyền cho con thú. Họ cũng thờ lạy con thú và nói rằng: “Ai giống như con thú, ai có thể giao chiến với nó?”
Con thú được ban cho cái miệng nói những lời ngạo mạn, phạm thượng; nó được phép thực thi quyền hạn trong bốn mươi hai tháng.
Nó mở miệng nói những lời xúc phạm đến Đức Chúa Trời, xúc phạm đến danh Ngài, đền tạm của Ngài và những người ở trên trời.
Nó được phép giao chiến với các thánh đồ và chiến thắng họ. Nó cũng được ban cho quyền hành trên các bộ tộc, các dân, các thứ tiếng, và các nước.
Tất cả những người sống trên mặt đất sẽ thờ lạy nó, tức là những người không có tên ghi trong sách sự sống của Chiên Con đã bị giết từ buổi sáng thế.
Ai có tai, hãy lắng nghe!
Nếu ai phải bị lưu đày, Người ấy sẽ đi lưu đày. Nếu ai phải bị giết bằng gươm, Người ấy sẽ bị giết bằng gươm. Đây là lòng kiên nhẫn và đức tin của các thánh đồ.
Tôi lại thấy một con thú khác từ đất lên. Nó có hai sừng như sừng chiên con, và nói như con rồng.
Nó thực thi tất cả quyền hành của con thú thứ nhất ngay trước mặt con thú ấy, và khiến đất cùng dân cư trên đất thờ lạy con thú thứ nhất, là con thú bị trọng thương được chữa lành.
Nó thực hiện những dấu lạ lớn, đến nỗi khiến lửa từ trời rơi xuống đất trước mặt người ta.
Nó lừa dối dân cư trên đất bằng những dấu lạ mà nó được phép làm trước mặt con thú; và bảo họ tạc tượng con thú đã bị thương bằng gươm mà vẫn sống.
Nó cũng được phép ban hơi thở cho tượng con thú để tượng ấy nói được, và khiến bất cứ ai không thờ lạy tượng con thú ấy đều phải bị giết chết.
Nó cũng khiến mọi người, cả bé lẫn lớn, giàu lẫn nghèo, tự do lẫn nô lệ đều phải có một dấu trên tay phải hoặc trên trán,
để không ai có thể mua hay bán được nếu không có dấu ấy, tức là tên con thú hay số của tên nó.
Trong trường hợp nầy cần có sự khôn ngoan. Ai là người hiểu biết hãy tính ra số của con thú, vì đó là con số tiêu biểu cho tên một người; số của nó là sáu trăm sáu mươi sáu.
Tôi nhìn xem, kìa, Chiên Con đứng trên núi Si-ôn cùng với một trăm bốn mươi bốn nghìn người có danh Chiên Con và danh Cha của Chiên Con ghi trên trán mình.
Tôi nghe một tiếng từ trời như tiếng nhiều dòng nước và như tiếng sấm lớn. Tiếng tôi nghe giống như tiếng thụ cầm đang dạo bởi các nhạc sĩ.
Họ hát một bài ca mới trước ngai, trước bốn sinh vật và các trưởng lão. Không ai có thể học được bài ca đó, trừ ra một trăm bốn mươi bốn nghìn người đã được cứu chuộc khỏi đất.
Những người ấy không bị ô uế với phụ nữ vì họ còn trinh khiết. Chiên Con đi đâu thì những người nầy theo đó. Họ đã được cứu chuộc từ giữa loài người để làm trái đầu mùa cho Đức Chúa Trời và Chiên Con.
Trong miệng họ không tìm thấy sự dối trá nào; họ là những người không tì vết.
Rồi tôi thấy một thiên sứ khác bay giữa bầu trời, có Tin Lành đời đời để công bố cho dân cư trên đất, cho tất cả các nước, các bộ tộc, các thứ tiếng, các dân tộc.
Thiên sứ nói lớn rằng: “Hãy kính sợ Đức Chúa Trời và tôn vinh Ngài, vì giờ phán xét của Ngài đã đến. Hãy thờ phượng Đấng tạo dựng trời, đất, biển và các nguồn nước.”
Một thiên sứ khác, là vị thứ hai theo sau, nói rằng: “Ba-by-lôn vĩ đại đã sụp đổ, đã sụp đổ rồi! Nó đã khiến tất cả các nước uống rượu cuồng loạn vô luân của nó.”
Một thiên sứ khác, là vị thứ ba theo sau, nói lớn tiếng rằng: “Nếu người nào thờ lạy con thú cùng hình tượng nó và nhận dấu trên trán hay trên tay mình,
thì người ấy sẽ uống rượu thịnh nộ không pha của Đức Chúa Trời rót vào chén thịnh nộ của Ngài, sẽ bị đau đớn trong lửa và lưu huỳnh trước mặt các thiên sứ thánh và trước mặt Chiên Con.
Khói sự đau đớn của họ cứ bay lên đời đời. Những người thờ lạy con thú cùng hình tượng nó, và bất cứ ai nhận dấu của tên nó thì ngày hay đêm đều không được an nghỉ.”
Đây là lòng nhẫn nhục của các thánh đồ, là những người giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và đức tin nơi Đức Chúa Jêsus.
Tôi nghe có tiếng từ trời bảo rằng: “Hãy viết đi: Từ nay trở đi, phước cho những người chết là chết trong Chúa!” Thánh Linh phán: “Thật vậy, họ được nghỉ ngơi khỏi những khổ nhọc của mình và những công việc của họ đi theo họ.”
Rồi tôi nhìn xem, kìa, có một đám mây trắng; trên mây có ai giống như Con Người đang ngồi, đầu đội mão triều thiên bằng vàng, tay cầm một lưỡi liềm bén.
Một thiên sứ khác từ đền thờ đi ra, cất tiếng lớn gọi Đấng ngồi trên mây: “Hãy đưa lưỡi liềm của Ngài ra và gặt đi vì giờ gặt đã đến, mùa màng trên đất đã chín rồi.”
Đấng ngồi trên mây ném lưỡi liềm của mình xuống đất và cả mặt đất đều bị gặt.
Tôi thấy một thiên sứ khác từ đền thờ trên trời đi ra cũng có một lưỡi liềm bén.
Rồi một thiên sứ khác nữa, có quyền trên lửa, từ bàn thờ đi ra, lớn tiếng gọi vị có lưỡi liềm bén rằng: “Hãy đưa lưỡi liềm của anh ra và cắt những chùm nho ở mặt đất đi, vì nho đã chín rồi.”
Thiên sứ ném lưỡi liềm xuống mặt đất, cắt những chùm nho từ dây nho, và ném vào thùng ép lớn của cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời.
Chúng phải bị giày đạp trong thùng ép ấy bên ngoài thành, rồi có máu từ thùng ép chảy ra; ngập đến hàm thiếc ngựa, và trải dài khoảng ba trăm cây số.
Tôi thấy một dấu lạ khác ở trên trời vừa vĩ đại, vừa diệu kỳ: Bảy thiên sứ cầm bảy tai họa cuối cùng, bởi những tai họa nầy, cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời kết thúc.
Tôi thấy một cái gì giống như biển thủy tinh hòa với lửa, những người chiến thắng con thú và hình tượng nó cùng số của tên nó đang đứng bên biển thủy tinh, với những chiếc thụ cầm của Đức Chúa Trời trên tay.
Họ hát bài ca Môi-se, đầy tớ của Đức Chúa Trời, và bài ca Chiên Con rằng: “Lạy Đức Chúa Trời Toàn Năng, Công việc của Ngài thật vĩ đại và diệu kỳ! Lạy Vua của muôn đời, Đường lối của Ngài là công chính và chân thật!
Lạy Chúa, ai sẽ không kính sợ Chúa, Và không tôn vinh danh Ngài? Vì chỉ một mình Chúa là thánh. Mọi dân tộc sẽ đến Thờ phượng trước mặt Chúa, Vì những việc công chính của Ngài đã được bày tỏ.”
Sau đó, tôi thấy đền thờ là Lều Chứng Ước ở trên trời mở ra.
Bảy thiên sứ cầm bảy tai họa từ đền thờ đi ra, mình mặc áo vải gai tinh sạch rực rỡ, thắt đai bằng vàng ngang ngực.
Một trong bốn sinh vật trao cho bảy thiên sứ bảy bát bằng vàng đựng đầy sự thịnh nộ của Đức Chúa Trời, là Đấng hằng sống đời đời.
Đền thờ đầy khói từ vinh quang của Đức Chúa Trời và quyền năng Ngài; không ai có thể vào đền thờ cho đến lúc bảy tai nạn của bảy thiên sứ đã hoàn tất.
Bấy giờ, tôi nghe một tiếng lớn từ đền thờ bảo bảy thiên sứ rằng: “Hãy đi đổ bảy bát thịnh nộ của Đức Chúa Trời xuống đất.”
Thiên sứ thứ nhất đi đổ bát mình xuống đất thì có những ung nhọt độc và đau nhức xuất hiện trên những người có dấu con thú và thờ lạy hình tượng nó.
Thiên sứ thứ hai đổ bát mình trên biển thì biển trở nên như máu người chết; và tất cả sinh vật trong biển đều chết hết.
Thiên sứ thứ ba đổ bát mình trên các sông và các nguồn nước thì chúng biến thành máu.
Tôi nghe thiên sứ của nước nói rằng: “Lạy Đấng Thánh, ĐẤNG HIỆN CÓ, ĐÃ CÓ, Ngài là công chính, Vì Ngài đã xét đoán những điều nầy;
Bởi chúng đã làm đổ máu những thánh đồ và các nhà tiên tri, Nên Ngài đã cho chúng uống máu. Thật là đáng lắm!”
Rồi tôi nghe tiếng từ bàn thờ nói rằng: “Thật vậy, lạy Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng, Những sự phán xét của Ngài đều chân thật và công minh.”
Thiên sứ thứ tư đổ bát mình trên mặt trời thì mặt trời được phép dùng lửa thiêu đốt loài người.
Loài người bị hơi nóng dữ dội thiêu đốt và xúc phạm đến danh Đức Chúa Trời, là Đấng có quyền trên các tai họa nầy, nhưng họ cũng không ăn năn để tôn vinh Ngài.
Thiên sứ thứ năm đổ bát mình trên ngai con thú, vương quốc của nó liền bị tối, và người ta cắn lưỡi vì đau đớn.
Họ xúc phạm đến Đức Chúa Trời trên trời vì sự đau đớn và ung nhọt của mình, nhưng không ăn năn những việc mình làm.
Thiên sứ thứ sáu đổ bát mình trên sông Ơ-phơ-rát, sông liền cạn khô để chuẩn bị lối đi cho các vua phương đông.
Tôi thấy từ miệng con rồng, miệng con thú và miệng kẻ tiên tri giả có ba tà linh giống như ếch nhái đi ra.
Chúng là linh của ma quỷ, thực hiện các dấu lạ, và đi đến với các vua của cả thế gian để tụ họp họ lại cho chiến trận vào ngày trọng đại của Đức Chúa Trời Toàn Năng.
“Kìa, Ta đến như kẻ trộm, phước cho người nào tỉnh thức và giữ gìn y phục mình để khỏi đi lõa lồ, không bị người ta thấy sự xấu hổ của mình!”
Chúng tụ họp các vua tại một chỗ mà tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Ha-ma-ghê-đôn.
Thiên sứ thứ bảy đổ bát mình trong không khí thì có một tiếng lớn từ ngai trong đền thờ nói rằng: “Xong rồi!”
Liền có những tia chớp, tiếng nói, tiếng sấm và động đất lớn; động đất lớn đến nỗi từ khi có loài người trên đất chưa từng có như vậy.
Thành phố vĩ đại bị chia làm ba; còn các thành phố của các dân tộc đều đổ xuống. Đức Chúa Trời nhớ đến Ba-by-lôn vĩ đại, để cho nó uống chén rượu thịnh nộ lôi đình của Ngài.
Tất cả các đảo đều chạy trốn, các núi biến mất.
Những hạt mưa đá lớn, nặng khoảng bốn mươi ki-lô-gam, từ trời rơi xuống loài người, loài người xúc phạm đến Đức Chúa Trời bởi tai họa mưa đá ấy, vì đó là một tai họa khủng khiếp.
Bấy giờ, một trong bảy vị thiên sứ cầm bảy bát tiến đến và bảo tôi: “Hãy đến đây, ta sẽ chỉ cho ngươi thấy sự phán xét đại kỹ nữ đang ngồi trên các dòng nước kia.
Các vua trên đất đã phạm tội tà dâm với nó, và cư dân trên đất cũng say vì rượu gian dâm của nó.”
Tôi được Thánh Linh cảm hóa, và thiên sứ đưa tôi vào hoang mạc. Tại đó, tôi thấy một phụ nữ ngồi trên một con thú màu đỏ sậm có bảy đầu, mười sừng, và trên mình mang đầy những danh hiệu phạm thượng.
Người phụ nữ mặc áo màu tía và đỏ tươi, trang sức bằng vàng, đá quý và ngọc trai, tay cầm một chén bằng vàng đầy những sự ghê tởm, ô uế của sự gian dâm của mình.
Trên trán nó có ghi một tên đầy bí ẩn: “BA-BY-LÔN VĨ ĐẠI, MẸ CỦA CÁC KỸ NỮ VÀ NHỮNG SỰ GHÊ TỞM CỦA ĐẤT.”
Tôi thấy người phụ nữ ấy say máu các thánh đồ và máu các chứng nhân của Đức Chúa Jêsus. Khi thấy thì tôi vô cùng kinh ngạc.
Nhưng thiên sứ nói với tôi rằng: “Sao ngươi kinh ngạc? Ta sẽ nói cho ngươi biết về sự bí ẩn của người phụ nữ và con thú bảy đầu, mười sừng đã chở nó.
Con thú ngươi thấy trước đã có, bây giờ không có, sắp từ vực sâu đi lên và đi đến chỗ hủy diệt. Những cư dân trên đất không có tên ghi trong sách sự sống từ lúc tạo dựng thế giới sẽ kinh ngạc khi thấy con thú; vì nó trước đã có, bây giờ không có, và sẽ xuất hiện.
Trong trường hợp nầy cần có một tâm trí khôn ngoan. Bảy đầu là bảy ngọn núi mà người phụ nữ ngồi lên.
Chúng cũng là bảy vị vua: Năm vị đã bị đổ, một vị còn trị vì, vị còn lại chưa đến. Khi đến, vị ấy chỉ được tồn tại một thời gian ngắn.
Con thú trước đã có, bây giờ không có, là vị vua thứ tám; nó cũng thuộc trong số bảy vua, và đang đi đến chỗ hủy diệt.
Mười sừng mà ngươi đã thấy là mười vua chưa nhận được vương quốc, nhưng họ sẽ nhận được vương quyền cùng với con thú trong một giờ.
Chúng đồng lòng giao thế lực và thẩm quyền của mình cho con thú.
Chúng sẽ giao chiến với Chiên Con và Chiên Con sẽ chiến thắng chúng, vì Chiên Con là Vua của các vua, Chúa của các chúa; và những người ở với Ngài, tức là những người được kêu gọi, được tuyển chọn và trung tín, cũng sẽ chiến thắng.”
Rồi thiên sứ nói với tôi: “Những dòng nước mà ngươi thấy kỹ nữ ngồi lên trên là các dân tộc, các nhóm người, các nước và các thứ tiếng.
Mười sừng mà ngươi đã thấy và con thú sẽ ghét kỹ nữ. Chúng sẽ ruồng bỏ và làm cho nó lõa lồ; chúng sẽ ăn thịt kỹ nữ và thiêu cháy nó trong lửa.
Vì Đức Chúa Trời đã khiến chúng quyết tâm thực hiện ý định của Ngài bằng cách đồng lòng với nhau giao vương quốc của mình cho con thú, cho đến khi lời Đức Chúa Trời được ứng nghiệm.
Người phụ nữ mà ngươi đã thấy là một thành phố vĩ đại thi hành quyền lực trên các vua khắp thế gian.”
Sau đó, tôi thấy một thiên sứ khác có thẩm quyền lớn từ trời xuống; cả đất đều rực sáng bởi vinh quang của thiên sứ ấy.
Thiên sứ kêu lớn tiếng: “Ba-by-lôn vĩ đại đã sụp đổ, đã sụp đổ rồi! Nó đã trở nên sào huyệt của các quỷ, Hang ổ của các tà linh, Và các loài chim ô uế, đáng ghét.
Vì tất cả các dân tộc đã uống rượu cuồng loạn vô luân của nó, Các vua trên đất đã phạm tội tà dâm với nó, Các thương gia trên đất đã làm giàu bởi sự quá xa hoa của nó.”
Rồi tôi nghe một tiếng khác đến từ trời, bảo rằng: “Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi Ba-by-lôn! Kẻo các con tham gia vào tội lỗi của nó, Và cùng chịu chung tai họa với nó chăng;
Vì tội lỗi nó chất cao đến tận trời. Và Đức Chúa Trời nhớ đến tội ác nó.
Hãy đối xử với nó như nó đã đối xử, Hãy báo trả cho nó gấp đôi những việc nó đã làm. Hãy pha cho nó gấp đôi chén mà nó đã pha.
Nó đã tự tôn vinh mình và sống xa hoa bao nhiêu, Thì hãy làm cho nó bị khổ ải, sầu muộn bấy nhiêu. Vì nó nói trong lòng rằng: ‘Ta ngồi như một nữ hoàng! Ta không phải là góa phụ, Ta sẽ không bao giờ biết sầu muộn.’
Vì vậy, trong một ngày các tai họa sẽ đến với nó: Nào chết chóc, nào sầu muộn, nào đói kém. Nó sẽ bị thiêu cháy bằng lửa, Vì Chúa, Đấng phán xét nó, là Đức Chúa Trời đầy uy quyền.”
Các vua trên đất, những người đã phạm tội tà dâm và sống xa hoa với nó, sẽ khóc lóc, kêu than khi thấy khói từ lửa thiêu cháy nó.
Vì sợ sự khổ ải của nó nên họ đứng xa, và nói: “Khốn thay! Khốn thay! Thành phố vĩ đại, Ba-by-lôn thành phố cường thịnh! Chỉ trong một giờ, sự phán xét ngươi đã đến rồi!”
Các thương gia trên đất cũng khóc lóc và sầu muộn vì nó, bởi không còn ai mua hàng hóa của họ nữa.
Hàng hóa gồm vàng, bạc, đá quý, ngọc trai; vải gai mịn, vải màu tía, lụa và vải màu điều; các loại gỗ thơm; các sản phẩm bằng ngà, bằng gỗ quý, bằng đồng, bằng sắt, bằng cẩm thạch;
quế, gia vị, hương liệu, mộc dược và nhũ hương; rượu và dầu, bột mì và lúa mì; súc vật và chiên, ngựa và xe ngựa; nô lệ và cả linh hồn con người.
Họ nói: “Những quả ngon mà linh hồn ngươi ao ước đã rời xa ngươi; tất cả những xa hoa, hào nhoáng bị diệt mất khỏi ngươi và sẽ không bao giờ còn tìm thấy nó nữa.”
Các thương gia buôn bán những hàng hóa nầy, những người đã làm giàu nhờ Ba-by-lôn sẽ đứng xa vì sợ sự khổ ải của nó; họ sẽ khóc lóc, sầu muộn,
mà nói rằng: “Khốn thay! Khốn thay! Thành phố vĩ đại kia đã từng mặc vải gai mịn, màu tía, màu điều, trang điểm với vàng, đá quý và ngọc trai!
Vì trong một giờ, sự giàu có lớn của nó đã bị tiêu hủy.” Các thuyền trưởng, các hành khách, các thủy thủ và tất cả các người buôn bán trên biển đều đứng xa;
khi thấy khói từ lửa thiêu cháy nó thì họ kêu lên: “Chưa bao giờ có thành phố nào vĩ đại như thành phố nầy!”
Họ lấy bụi rắc trên đầu mình, khóc lóc, kêu than, sầu muộn, mà nói: “Khốn thay! Khốn thay! Thành phố vĩ đại nầy, nơi bởi sự giàu có của nó đã làm giàu cho tất cả những người có tàu trên biển; thế mà chỉ trong một giờ đã trở nên hoang tàn!
Hỡi trời, hãy vui mừng vì nó! Các thánh đồ, các sứ đồ, các nhà tiên tri cũng hãy vui mừng đi! Vì Đức Chúa Trời đã kết án nó theo cách nó đã đối xử với các ngươi.”
Bấy giờ, một thiên sứ đầy uy lực lấy một tảng đá như cối xay lớn ném xuống biển và nói: “Ba-by-lôn, thành phố vĩ đại sẽ bị ném xuống như vậy, và sẽ không ai tìm thấy nó nữa.
Không ai còn nghe thấy nơi ngươi tiếng người chơi thụ cầm, tiếng kẻ ca hát, tiếng người thổi sáo, kẻ thổi kèn nữa. Nơi ngươi sẽ không tìm thấy một người thợ của bất cứ ngành nghề nào; và tiếng cối xay cũng sẽ không còn nghe thấy nữa.
Ánh sáng đèn sẽ không chiếu sáng nơi ngươi nữa; tiếng cô dâu chú rể cũng sẽ không còn được nghe thấy nơi ngươi, vì các thương gia của ngươi là những người quyền thế trên đất, và vì mọi dân tộc đều bị tà thuật của ngươi lừa dối.
Và tại thành nầy, người ta tìm thấy máu của các nhà tiên tri, các thánh đồ và tất cả những người bị giết trên đất.”
Sau đó, tôi nghe ở trên trời như có tiếng lớn của một đoàn người đông đảo nói rằng: “Ha-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh quang và quyền năng thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta.
Vì những sự phán xét của Ngài là chân thật và công minh. Ngài đã phán xét đại kỹ nữ, kẻ đã dùng sự dâm loạn của mình làm hư hỏng đất; và Ngài đã báo thù về máu của các đầy tớ Ngài do kỹ nữ ấy làm đổ ra.”
Họ nói lần thứ hai: “Ha-lê-lu-gia! Khói của nó bay lên đời đời!”
Hai mươi bốn trưởng lão và bốn sinh vật phủ phục và thờ lạy Đức Chúa Trời là Đấng ngồi trên ngai, và nói: “A-men! Ha-lê-lu-gia!”
Có tiếng từ ngai bảo rằng: “Tất cả các đầy tớ của Đức Chúa Trời chúng ta, những người kính sợ Ngài, cả nhỏ lẫn lớn, hãy ca ngợi Ngài!”
Rồi tôi nghe có tiếng như tiếng của một đoàn người đông đảo, như tiếng của nhiều dòng nước, như tiếng sấm lớn, nói rằng: “Ha-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta trị vì.
Chúng ta hãy vui mừng hớn hở, hãy tôn vinh Ngài, vì lễ cưới Chiên Con đã đến và Vợ Ngài đã chuẩn bị mình sẵn sàng.
Nàng đã được ban cho áo bằng vải gai mịn sáng chói và tinh khiết để mặc vào!” (vải gai mịn là những việc công chính của các thánh đồ).
Thiên sứ nói cùng tôi rằng: “Hãy viết: Phước cho những người dự tiệc cưới Chiên Con!” Thiên sứ lại nói: “Đây là những lời chân thật của Đức Chúa Trời.”
Tôi phủ phục dưới chân thiên sứ để thờ lạy, nhưng thiên sứ bảo: “Đừng làm như vậy, ta là bạn đồng lao với ngươi và các anh em ngươi, là những người giữ lời chứng của Đức Chúa Jêsus. Hãy thờ lạy Đức Chúa Trời. Vì lời chứng của Đức Chúa Jêsus là tinh thần của lời tiên tri.”
Bấy giờ tôi thấy trời mở ra, và kìa, có một con ngựa trắng! Đấng cưỡi ngựa có tên là THÀNH TÍN VÀ CHÂN THẬT; Ngài phán xét và chiến đấu trong sự công chính.
Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu Ngài có nhiều mão triều thiên, trên có đề một danh mà ngoài Ngài không ai biết được.
Ngài mặc áo đã được nhúng trong máu. Danh Ngài được gọi là LỜI ĐỨC CHÚA TRỜI.
Các đạo quân trên trời đều mặc vải gai mịn, trắng và tinh khiết, cưỡi ngựa trắng đi theo Ngài.
Từ miệng Ngài có một lưỡi gươm bén dùng để đánh các nước; Ngài sẽ cai trị họ bằng một cây gậy sắt. Ngài giày đạp thùng ép nho của cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời Toàn Năng.
Trên áo và trên đùi Ngài có ghi một danh: VUA CỦA CÁC VUA, CHÚA CỦA CÁC CHÚA.
Rồi tôi thấy một thiên sứ đứng trong mặt trời, lớn tiếng gọi các loài chim chóc bay giữa trời: “Hãy đến, hãy tụ họp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời,
để ăn thịt các vua, thịt các tướng lĩnh, thịt những người có thế lực, thịt ngựa và những người cưỡi ngựa, thịt của tất cả mọi người, cả tự do lẫn nô lệ, cả nhỏ lẫn lớn.”
Tôi thấy con thú và các vua trên đất cùng với quân đội của họ tập trung lại để tranh chiến với Đấng cưỡi ngựa và quân đội của Ngài.
Nhưng con thú bị bắt, và tiên tri giả — kẻ đã thực hiện những dấu lạ trước mặt con thú, để lừa dối những người đã nhận dấu của con thú và những người thờ lạy hình tượng nó — cũng bị bắt. Cả hai đều bị quăng sống xuống hồ lửa lưu huỳnh đang bừng cháy.
Những người còn lại đều bị giết bằng thanh gươm ra từ miệng của Đấng cưỡi ngựa; tất cả chim chóc đều ăn thịt họ no nê.
Rồi tôi thấy một thiên sứ từ trời xuống, tay cầm chìa khóa của vực sâu và một cái xiềng lớn.
Người bắt con rồng, tức là con rắn xưa, là ma quỷ, là Sa-tan, và xiềng nó lại một nghìn năm.
Người ném nó xuống vực sâu, đóng cửa vực và niêm phong lại, để nó không còn lừa dối các nước nữa, cho đến khi một nghìn năm chấm dứt. Sau đó, Sa-tan phải được thả ra một thời gian ngắn.
Tôi thấy các ngai, và những người ngồi trên ngai được ban cho quyền xét xử. Tôi cũng thấy linh hồn của những người bị chết chém vì làm chứng cho Đức Chúa Jêsus và lời Đức Chúa Trời, và linh hồn của những người không thờ lạy con thú cùng hình tượng nó, không nhận dấu của nó trên trán hoặc trên tay mình. Những người ấy đều được sống lại và trị vì với Đấng Christ một nghìn năm.
Những người chết còn lại không được sống lại cho đến khi một nghìn năm ấy chấm dứt. Đây là sự sống lại thứ nhất.
Phước thay và thánh thay là những người được dự phần trong sự sống lại thứ nhất! Sự chết thứ hai không có quyền gì trên họ, nhưng họ sẽ làm thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và của Đấng Christ; họ sẽ trị vì với Ngài một nghìn năm.
Khi một nghìn năm chấm dứt, Sa-tan sẽ được thả ra khỏi chỗ giam cầm;
nó sẽ đi ra lừa dối các dân ở bốn phương trên đất, là dân Gót và Ma-gót, để tập trung chúng lại cho chiến tranh. Quân số của chúng đông như cát bờ biển.
Chúng tràn ra khắp đất, vây trại của các thánh đồ và thành được yêu quý. Nhưng lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng.
Còn ma quỷ là kẻ lừa dối họ bị ném vào hồ lửa lưu huỳnh, trong đó đã có con thú và kẻ tiên tri giả. Họ sẽ bị đau đớn cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời.
Bấy giờ tôi thấy một ngai lớn và trắng với Đấng ngồi trên ngai. Trước mặt Ngài đất trời đều trốn hết, không còn tìm thấy chỗ nào cho chúng.
Tôi thấy những người chết, cả lớn lẫn nhỏ, đều đứng trước ngai, và các sách được mở ra. Một sách khác là sách sự sống cũng được mở. Những người chết bị phán xét tùy theo công việc họ làm, căn cứ trên những điều đã ghi trong các sách ấy.
Biển giao lại những người chết mình chứa; Sự chết và Âm phủ cũng giao lại những người chết mình giữ. Mỗi người sẽ bị phán xét tùy theo công việc mình đã làm.
Rồi Sự chết và Âm phủ bị ném xuống hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai.
Người nào không được ghi tên vào sách sự sống thì bị ném xuống hồ lửa.
Khi ấy tôi thấy trời mới đất mới; vì trời thứ nhất và đất thứ nhất đã qua đi, và biển cũng không còn nữa.
Tôi cũng thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem mới, từ nơi Đức Chúa Trời ở trên trời xuống, chuẩn bị sẵn như cô dâu trang điểm chờ chồng mình.
Tôi nghe một tiếng lớn từ ngai nói rằng: “Kìa, đền tạm của Đức Chúa Trời ở với loài người! Ngài sẽ ở với họ và họ sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với họ.
Ngài sẽ lau ráo nước mắt trên mắt họ. Sẽ không có sự chết, cũng không có tang chế, than khóc, hoặc đau đớn nữa; vì những sự thứ nhất đã qua rồi.”
Đấng ngồi trên ngai phán: “Nầy, Ta sẽ làm mới lại tất cả muôn vật.” Ngài lại phán: “Hãy viết đi, vì những lời nầy là đáng tin cậy và chân thật.”
Rồi Ngài phán với tôi: “Xong rồi! Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Khởi Nguyên và Tận Cùng. Người nào khát, Ta sẽ cho uống nước miễn phí từ nguồn nước sự sống.
Người nào thắng sẽ nhận được những điều nầy làm cơ nghiệp; Ta sẽ làm Đức Chúa Trời người, và người sẽ làm con Ta.
Còn những kẻ hèn nhát, kẻ chẳng tin, kẻ đáng ghê tởm, kẻ giết người, kẻ gian dâm, kẻ hành nghề ma thuật, kẻ thờ thần tượng, và tất cả những kẻ nói dối, thì phần của chúng là hồ lửa lưu huỳnh đang bừng cháy. Đó là sự chết thứ hai.”
Một trong bảy thiên sứ đã cầm bảy bát đựng đầy bảy tai họa cuối cùng đến nói với tôi rằng: “Hãy đến, ta sẽ chỉ cho ngươi thấy Cô Dâu là Vợ của Chiên Con.”
Tôi được Thánh Linh cảm hóa và thiên sứ đưa tôi đến một ngọn núi lớn rất cao, và chỉ cho tôi thấy thành thánh là Giê-ru-sa-lem từ nơi Đức Chúa Trời ở trên trời xuống,
chói sáng vinh quang của Đức Chúa Trời; sự chói sáng của thành giống như một viên ngọc quý, như bích ngọc trong suốt.
Thành có tường lớn và cao với mười hai cửa. Tại các cửa có mười hai thiên sứ, và trên các cửa có viết tên mười hai bộ tộc của dân Y-sơ-ra-ên.
Phía đông của thành có ba cửa, phía bắc có ba cửa, phía nam có ba cửa, phía tây có ba cửa.
Tường thành có mười hai nền, trên đó có mười hai tên là tên mười hai sứ đồ của Chiên Con.
Thiên sứ đang nói với tôi có cây thước là một cây gậy bằng vàng để đo thành, các cửa và tường thành.
Thành hình vuông, chiều dài và chiều rộng bằng nhau. Thiên sứ đo thành bằng cây gậy và đo được hai nghìn bốn trăm cây số; chiều dài, chiều rộng và chiều cao đều bằng nhau.
Thiên sứ cũng đo tường thành, được sáu mươi lăm mét, theo thước đo của loài người, cũng là thước đo của thiên sứ.
Tường thành xây bằng bích ngọc, còn thành thì bằng vàng ròng trong như thủy tinh.
Các nền của tường thành được trang trí bằng mọi loại đá quý. Nền thứ nhất bằng bích ngọc, nền thứ nhì bằng ngọc lam bửu, nền thứ ba bằng ngọc mã não, nền thứ tư bằng ngọc lục cẩm,
nền thứ năm bằng hồng mã não, nền thứ sáu bằng hoàng ngọc, nền thứ bảy bằng ngọc hoàng bích, nền thứ tám bằng ngọc thủy thương, nền thứ chín bằng ngọc hồng bích, nền thứ mười bằng ngọc phỉ túy, nền thứ mười một bằng ngọc hồng bửu, và nền thứ mười hai bằng ngọc tử bửu.
Mười hai cửa làm bằng mười hai viên ngọc trai, mỗi cửa là một viên ngọc nguyên khối. Đường trong thành bằng vàng ròng trong như thủy tinh.
Tôi không thấy đền thờ nào trong thành, vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng và Chiên Con là đền thờ của thành.
Thành không cần mặt trời hay mặt trăng chiếu sáng, vì vinh quang của Đức Chúa Trời chiếu sáng thành, và Chiên Con là đèn của thành.
Các dân sẽ bước đi nhờ ánh sáng của thành; các vua trên đất sẽ đem vinh quang mình vào đó.
Những cửa thành suốt ngày không đóng, vì tại đó không có ban đêm.
Người ta sẽ đem vinh quang và sự tôn trọng của các dân vào đó.
Tất cả những kẻ ô uế, kẻ làm điều ghê tởm, kẻ nói dối đều không được vào thành, ngoại trừ những người được ghi trong sách sự sống của Chiên Con.
Khi ấy thiên sứ chỉ cho tôi thấy sông nước sự sống, trong như pha lê, ra từ ngai Đức Chúa Trời và ngai Chiên Con,
chảy qua giữa đường phố của thành. Hai bên bờ sông có cây sự sống ra quả mười hai mùa, mỗi tháng ra quả một lần; và lá cây dùng để chữa lành cho các dân.
Sẽ chẳng còn có sự nguyền rủa nữa. Ngai của Đức Chúa Trời và ngai Chiên Con sẽ ở trong thành, và các đầy tớ Ngài sẽ phục vụ Ngài.
Họ sẽ được thấy mặt Ngài, và danh Ngài sẽ ở trên trán họ.
Đêm sẽ không còn nữa và người ta không còn cần đến ánh sáng đèn hay mặt trời, vì Chúa là Đức Chúa Trời sẽ chiếu sáng họ. Và họ sẽ trị vì đời đời.
Bấy giờ thiên sứ nói với tôi rằng: “Những lời nầy là đáng tin cậy và chân thật. Chúa là Đức Chúa Trời của tâm linh các nhà tiên tri, đã sai thiên sứ của Ngài đến bày tỏ cho các đầy tớ Ngài những điều sắp phải xảy ra.
Kìa, Ta đến mau chóng. Phước cho người vâng giữ những lời tiên tri trong sách nầy!”
Tôi là Giăng, người đã nghe và thấy những điều nầy. Khi nghe và thấy xong, tôi phủ phục dưới chân vị thiên sứ đã bày tỏ những điều nầy cho tôi để thờ lạy.
Nhưng thiên sứ bảo tôi: “Đừng làm thế! Ta là bạn đồng lao với ngươi, với anh em ngươi là các nhà tiên tri, và với những người vâng giữ lời trong sách nầy. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời.”
Rồi thiên sứ lại bảo tôi: “Đừng niêm phong những lời tiên tri trong sách nầy vì thì giờ đã gần rồi.
Kẻ nào bất chính cứ làm điều bất chính, kẻ nào ô uế vẫn cứ ô uế, còn người công chính cứ làm điều công chính, người thánh thiện cứ sống thánh thiện!”
“Nầy, Ta đến mau chóng, đem phần thưởng theo với Ta, để thưởng cho mỗi người tùy theo việc họ đã làm.
Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Đầu Tiên và Cuối Cùng, là Khởi Nguyên và Tận Cùng.”
Phước cho những người giặt áo mình để có quyền đến nơi cây sự sống, và được vào thành qua các cửa.
Những lũ chó, những kẻ hành nghề ma thuật, những kẻ gian dâm, những kẻ giết người, những kẻ thờ thần tượng, cùng những kẻ ưa thích và thực hiện sự giả dối đều ở ngoài.
“Ta là Jêsus, đã sai thiên sứ Ta đến để làm chứng những điều nầy cho các con trước mặt các Hội Thánh. Ta là Cội Rễ và Hậu Tự của Đa-vít, là Sao Mai sáng chói.”
Thánh Linh và Cô Dâu cùng nói: “Hãy đến!” Người nào nghe cũng hãy nói: “Hãy đến!” Ai khát, hãy đến! Người nào muốn, hãy đến nhận nước sự sống miễn phí.
Tôi khẳng định với tất cả những người nghe lời tiên tri trong sách nầy rằng: Nếu ai thêm gì vào những lời nầy, thì Đức Chúa Trời sẽ thêm cho người ấy những tai họa đã ghi trong sách nầy.
Còn nếu ai bớt điều gì trong các lời của sách tiên tri nầy, thì Đức Chúa Trời sẽ cất lấy phần của người ấy về cây sự sống và thành thánh đã được ghi trong sách nầy.
Đấng làm chứng cho những điều nầy phán: “Phải, Ta đến mau chóng.” A-men. Lạy Chúa là Đức Chúa Jêsus, xin hãy đến!
Cầu xin ân điển của Chúa là Đức Chúa Jêsus ở với mọi người!